Theo Công văn 2696/CT-CS, căn cứ khoản 25 Điều 3 Luật Quản lý thuế 2019, nghĩa vụ thuế được xác định dựa trên bản chất thực tế của hoạt động phát sinh. Vì vậy, dù các bên ký hợp đồng ủy quyền nhưng nếu người được ủy quyền có quyền chuyển nhượng bất động sản hoặc có quyền như người sở hữu thì khoản thu nhập phát sinh vẫn được xác định là thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản theo khoản 5 Điều 3 Luật Thuế thu nhập cá nhân và khoản 5 Điều 3 Nghị định 65/2013/NĐ-CP.

Theo điểm e khoản 5 Điều 2 Thông tư 111/2013/TT-BTC, thu nhập từ việc ủy quyền quản lý bất động sản mà người được ủy quyền có quyền chuyển nhượng hoặc quyền như người sở hữu cũng thuộc diện thu nhập chịu thuế từ chuyển nhượng bất động sản.
Về nghĩa vụ kê khai, cá nhân có thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản phải thực hiện kê khai thuế theo từng lần phát sinh, kể cả trường hợp được miễn thuế theo điểm a khoản 3 Điều 26 Thông tư 111/2013/TT-BTC.
Đối với người nộp thuế, theo điểm b.2 khoản 3 Điều 1 Thông tư 111/2013/TT-BTC, trường hợp ủy quyền mà người được ủy quyền có quyền chuyển nhượng hoặc quyền như người sở hữu thì người ủy quyền là người nộp thuế.
Đồng thời, theo hướng dẫn tại Công văn 2696/CT-CS, người được ủy quyền thực hiện kê khai, nộp thuế đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản, còn người ủy quyền có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ thuế liên quan đến hoạt động ủy quyền theo quy định.
Việc miễn thuế TNCN được thực hiện theo khoản 1 Điều 4 Luật Thuế thu nhập cá nhân và Điều 4 Nghị định 65/2013/NĐ-CP đối với các trường hợp chuyển nhượng giữa vợ chồng, cha mẹ với con, ông bà với cháu, anh chị em ruột.
Cục Thuế yêu cầu cơ quan thuế khi xử lý hồ sơ phải căn cứ hồ sơ thực tế, xác định đúng bản chất giao dịch để xác định nghĩa vụ thuế của người nộp thuế theo đúng quy định.
RSS