Thuê lao động là người sau cai nghiện ma túy, doanh nghiệp được vay vốn tối đa 2 tỷ đồng

Từ ngày 01/5/2026, theo Quyết định 08/2026/QĐ-TTg, cơ sở sản xuất kinh doanh có sử dụng lao động là người sau cai nghiện ma túy được vay vốn từ Ngân hàng Chính sách xã hội để phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh và tạo việc làm.

Theo Điều 3 Quyết định 08/2026/QĐ-TTg, đối tượng vay vốn không chỉ là người sau cai nghiện ma túy mà còn bao gồm các cơ sở sản xuất kinh doanh như doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, tổ hợp tác, hộ kinh doanh… nếu có sử dụng lao động là người sau cai nghiện.

Để được vay vốn, cơ sở phải đáp ứng các điều kiện tại khoản 2 Điều 4 Quyết định 08/2026/QĐ-TTg, gồm:

  • Thành lập và hoạt động hợp pháp; có ít nhất 10% tổng số lao động là người sau cai nghiện ma túy và có hợp đồng lao động theo quy định (trừ trường hợp đặc thù trong hộ kinh doanh);
  • Các lao động này phải có tên trong danh sách do Công an cấp xã lập hoặc có quyết định quản lý sau cai nghiện (thời gian không quá 10 năm);
  • Đồng thời phải có phương án sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm khả thi.

Đáng chú ý, theo điểm b khoản 2 Điều 7, cơ sở sản xuất kinh doanh được vay tối đa 02 tỷ đồng/cơ sở, nhưng không vượt quá 200 triệu đồng/người lao động tại cơ sở. 

Cơ sở sản xuất sử dụng lao động là người sau cai nghiện ma túy được vay tối đa 2 tỷ đồng
Cơ sở sản xuất sử dụng lao động là người sau cai nghiện ma túy được vay tối đa 2 tỷ đồng (Ảnh minh họa)

Về cơ chế vay, theo Điều 5, Ngân hàng Chính sách xã hội thực hiện cho vay trực tiếp đối với cơ sở sản xuất kinh doanh.

Thời hạn vay tối đa 120 tháng (10 năm), căn cứ vào khả năng trả nợ và phương án sử dụng vốn. Lãi suất áp dụng bằng lãi suất cho vay hộ nghèo theo từng thời kỳ, lãi suất nợ quá hạn bằng 130% lãi suất cho vay.

Đối với nghĩa vụ bảo đảm, theo Điều 11, nếu khoản vay trên 200 triệu đồng, cơ sở phải thực hiện bảo đảm tiền vay theo quy định của pháp luật và Ngân hàng Chính sách xã hội.

1900 6192 để được giải đáp qua tổng đài
090 222 9061 để sử dụng dịch vụ Luật sư tư vấn (CÓ PHÍ)
Đánh giá bài viết:
Bài viết đã giải quyết được vấn đề của bạn chưa?
Rồi Chưa

Tin cùng chuyên mục

Từ 01/7/2026, người làm việc theo hợp đồng trong ĐVSNCL được hưởng tiền thưởng theo thỏa thuận

Từ 01/7/2026, người làm việc theo hợp đồng trong ĐVSNCL được hưởng tiền thưởng theo thỏa thuận

Từ 01/7/2026, người làm việc theo hợp đồng trong ĐVSNCL được hưởng tiền thưởng theo thỏa thuận

Từ ngày 01/7/2026, người làm việc theo hợp đồng trong đơn vị sự nghiệp công lập được them quyền lợi khi Nghị định 235/2026/NĐ-CP cho phép tiền thưởng được xác định theo thỏa thuận trong hợp đồng, bên cạnh tiền lương, thù lao và các chế độ khác.

Từ 01/7/2026, người đứng đầu đơn vị sự nghiệp không được xếp loại cao hơn đơn vị mình quản lý

Từ 01/7/2026, người đứng đầu đơn vị sự nghiệp không được xếp loại cao hơn đơn vị mình quản lý

Từ 01/7/2026, người đứng đầu đơn vị sự nghiệp không được xếp loại cao hơn đơn vị mình quản lý

Nghị định 233/2026/NĐ-CP bổ sung nguyên tắc mới khi đánh giá viên chức quản lý. Theo đó, mức xếp loại của người đứng đầu không được cao hơn mức xếp loại của đơn vị do mình quản lý.

Từ 01/7/2026, viên chức được quản lý theo bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm

Từ 01/7/2026, viên chức được quản lý theo bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm

Từ 01/7/2026, viên chức được quản lý theo bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm

So với Nghị định 106/2020/NĐ-CP trước đây, Nghị định 232/2026/NĐ hiệu lực từ 01/7/2026 đã thay đổi căn bản phương thức quản lý vị trí việc làm khi lần đầu tiên quy định việc quản lý viên chức theo bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm.

Kết quả đánh giá viên chức gắn với tiền thưởng, thu nhập tăng thêm từ 01/7/2026

 Kết quả đánh giá viên chức gắn với tiền thưởng, thu nhập tăng thêm từ 01/7/2026

Kết quả đánh giá viên chức gắn với tiền thưởng, thu nhập tăng thêm từ 01/7/2026

Một điểm mới đáng chú ý tại Nghị định 233/2026/NĐ-CP là kết quả đánh giá, xếp loại viên chức không chỉ phục vụ công tác cán bộ mà còn được sử dụng để xác định tiền thưởng và thu nhập tăng thêm của viên chức.