Theo đó, từ ngày 01/7/2026, dữ liệu như ảnh khuôn mặt, vân tay, mống mắt, ADN và các dữ liệu sinh trắc học khác chỉ được khai thác trong 06 trường hợp theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm quyền riêng tư và tăng cường bảo vệ dữ liệu cá nhân.
Cụ thể, theo khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 14 Thông tư 117 2026 TT BCA, ngoài thông tin định danh cơ bản, thông tin sinh trắc học chỉ được cơ quan, tổ chức, cá nhân khai thác khi được pháp luật cho phép và phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của mình. Dữ liệu sinh trắc học bao gồm ảnh khuôn mặt, vân tay, mống mắt, ADN và các dữ liệu sinh trắc học khác.

Đáng chú ý, Thông tư quy định dữ liệu sinh trắc học chỉ được khai thác trong 06 trường hợp, gồm:
(1) Phục vụ xác thực danh tính;
(2) Giải quyết thủ tục hành chính;
(3) Bảo đảm an ninh quốc gia;
(4) Bảo đảm trật tự, an toàn xã hội;
(5) Phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật;
(6) Theo yêu cầu bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
Ngoài các trường hợp này, việc khai thác dữ liệu sinh trắc học không được thực hiện.
Thông tư cũng yêu cầu mọi hoạt động khai thác dữ liệu sinh trắc học phải được ghi nhận, kiểm soát và lưu vết trên hệ thống kỹ thuật để xác định rõ cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân thực hiện cũng như mục đích khai thác. Đây là cơ sở để tăng cường tính minh bạch, đồng thời phục vụ công tác kiểm tra, giám sát và xử lý khi có vi phạm xảy ra.
Một điểm đáng chú ý khác là cơ quan quản lý ưu tiên sử dụng kết quả xác thực (đúng hoặc không đúng, trùng khớp hoặc không trùng khớp) thay vì cung cấp trực tiếp dữ liệu sinh trắc học gốc. Bên cạnh đó, dữ liệu sinh trắc học phải được mã hóa, phân quyền truy cập và áp dụng các biện pháp kỹ thuật nhằm bảo đảm an toàn tuyệt đối trong quá trình khai thác, truyền nhận và lưu trữ.
RSS