Theo tài liệu hướng dẫn của Cục Thuế, việc doanh nghiệp bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc giấy phép hoạt động không đồng nghĩa với việc doanh nghiệp đã giải thể hoặc mã số thuế đã tự động chấm dứt hiệu lực.
Trường hợp này áp dụng đối với doanh nghiệp, tổ chức, chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh hoặc đơn vị phụ thuộc bị cơ quan có thẩm quyền thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động, giấy phép thành lập và hoạt động hoặc giấy phép tương ứng.
Việc thu hồi có thể phát sinh từ hành vi vi phạm pháp luật về đăng ký doanh nghiệp, điều kiện kinh doanh, quản lý thuế hoặc theo quyết định xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Dù bị thu hồi giấy chứng nhận hoặc giấy phép, người nộp thuế vẫn phải tiếp tục giải quyết nghĩa vụ thuế, hóa đơn, tiền chậm nộp, tiền phạt và các nghĩa vụ tài chính khác.

Đối với doanh nghiệp đăng ký theo cơ chế liên thông, sau khi có quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc quyết định giải thể của Tòa án, cơ quan đăng ký kinh doanh cập nhật và công khai tình trạng doanh nghiệp đang làm thủ tục giải thể, đồng thời gửi thông tin cho cơ quan thuế và cơ quan thi hành án dân sự theo Nghị định 168/2025/NĐ-CP.
Doanh nghiệp phải rà soát chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh; bổ sung hồ sơ khai thuế, hồ sơ quyết toán nếu thuộc diện phải nộp; xử lý hóa đơn, nợ thuế, tiền phạt, nghĩa vụ hải quan, số thuế nộp thừa và thuế giá trị gia tăng chưa được khấu trừ.
Đối với tổ chức đăng ký thuế trực tiếp, hồ sơ chấm dứt hiệu lực mã số thuế được nộp tại cơ quan thuế, gồm mẫu 24/ĐKT và bản sao quyết định thu hồi giấy phép hoặc giấy tờ pháp lý tương ứng theo Thông tư 90/2026/TT-BTC.
Trường hợp bị cưỡng chế thu hồi giấy chứng nhận do nợ thuế, cơ quan thuế tiếp tục theo dõi, đôn đốc hoặc áp dụng biện pháp xử lý cho đến khi nghĩa vụ được giải quyết dứt điểm. Vì vậy, quyết định thu hồi giấy chứng nhận không thay thế thủ tục giải thể và cũng không xóa các khoản thuế còn nợ.
RSS