Nghị quyết 34/2026/QH16 quy định riêng các chỉ tiêu trong công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp và những nhiệm vụ Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải tổ chức thực hiện. Vậy Viện kiểm sát nhân dân phải thực hiện những chỉ tiêu, nhiệm vụ nào theo Nghị quyết 34/2026/QH16?
- 1. Viện kiểm sát nhân dân phải thực hiện những chỉ tiêu, nhiệm vụ nào theo Nghị quyết 34/2026/QH16?
- 1.1. Các chỉ tiêu trong công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp
- 1.2. Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải thực hiện những nhiệm vụ nào?
- 1.3. Các chỉ tiêu, nhiệm vụ của Viện kiểm sát có thể được điều chỉnh không?
- 2. Ai có trách nhiệm cụ thể hóa các chỉ tiêu, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân?
- 3. Các chỉ tiêu, nhiệm vụ của Viện kiểm sát theo Nghị quyết 34/2026/QH16 áp dụng từ ngày nào?
1. Viện kiểm sát nhân dân phải thực hiện những chỉ tiêu, nhiệm vụ nào theo Nghị quyết 34/2026/QH16?
1.1. Các chỉ tiêu trong công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp
Khoản 1 Điều 3 Nghị quyết 34/2026/QH16 quy định các chỉ tiêu trong công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân như sau:
- Tỷ lệ thụ lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố được kiểm sát đạt 100%;
- Kiểm sát 100% số vụ án hình sự ngay từ khi khởi tố;
- Bảo đảm các quyết định phê chuẩn áp dụng biện pháp ngăn chặn đúng quy định của pháp luật. Kiên quyết không phê chuẩn việc áp dụng biện pháp ngăn chặn khi chưa đủ căn cứ; kịp thời hủy bỏ, thay thế biện pháp ngăn chặn theo quy định của luật;
- Không để xảy ra trường hợp trả hồ sơ để yêu cầu điều tra bổ sung không đúng quy định của pháp luật;
- Tỷ lệ ra quyết định truy tố đúng thời hạn theo quy định của pháp luật đạt 100%, bảo đảm giải quyết khẩn trương đối với các vụ án liên quan đến tội phạm có tổ chức, xuyên quốc gia, có yếu tố nước ngoài; tội phạm về an ninh quốc gia, tội phạm mạng; tội phạm về tham nhũng, chức vụ, kinh tế, buôn lậu, rửa tiền, sở hữu trí tuệ, xâm hại trẻ em, ma túy, môi trường, các tội phạm khác về trật tự xã hội và các vụ án được dư luận xã hội quan tâm;
- Bảo đảm tỷ lệ truy tố bị can đúng tội đạt trên 96%, đối với vụ án xâm hại trẻ em đạt 100%;
- Nâng cao trách nhiệm và tăng tỷ lệ kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát ngang cấp trên tổng số kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát. Tỷ lệ kháng nghị phúc thẩm được Tòa án chấp nhận đạt trên 70%; tỷ lệ kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm được Tòa án chấp nhận đạt trên 75%;
- Tăng số lượng và chất lượng giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm hằng năm; giải quyết kịp thời đơn sắp hết thời hạn kháng nghị. Bảo đảm việc giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm đúng thời hạn, có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Hạn chế đến mức thấp nhất việc trả lời đơn không có căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm, sau đó người có thẩm quyền lại kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm;
- Không để xảy ra trường hợp bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội;
- Kiểm sát 100% việc phân loại và ra quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án dân sự;
- Tỷ lệ kiến nghị của Viện kiểm sát được cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan chấp nhận đạt trên 85% tổng số kiến nghị của Viện kiểm sát đã được cơ quan, tổ chức, cá nhân trả lời, xử lý.

1.2. Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải thực hiện những nhiệm vụ nào?
Khoản 2 Điều 3 Nghị quyết 34/2026/QH16 quy định về các nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Theo đó, Viện kiểm sát nhân dân tối cao có trách nhiệm tổ chức thực hiện các chỉ tiêu tại khoản 1 Điều 3 Nghị quyết 34/2026/QH16 và đồng thời thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp bằng việc áp dụng đồng bộ các giải pháp.
- Kiểm sát chặt chẽ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và hoạt động điều tra; kịp thời đề ra yêu cầu điều tra để giải quyết vụ án khẩn trương, đúng pháp luật.
- Phối hợp với Cơ quan điều tra thường xuyên rà soát các trường hợp tạm đình chỉ giải quyết nguồn tin về tội phạm và tạm đình chỉ điều tra; yêu cầu xác minh, phục hồi giải quyết, phục hồi điều tra khi lý do tạm đình chỉ không còn. Đối với trường hợp sắp hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, phải kịp thời áp dụng biện pháp theo quy định để không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội.
- Tăng cường chống lạm dụng bắt người, tạm giữ, tạm giam; phòng, chống oan, sai, bỏ lọt tội phạm; bảo đảm truy tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
- Nâng cao chất lượng tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa hình sự và chất lượng phát biểu tại phiên tòa, phiên họp dân sự, hành chính; tăng cường kiểm sát việc giải quyết vụ việc dân sự, vụ án hành chính; bảo đảm kiến nghị, kháng nghị phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm có căn cứ, đúng pháp luật.
- Tăng hiệu quả thu hồi tiền, tài sản trong các vụ án tham nhũng, kinh tế; kịp thời yêu cầu áp dụng biện pháp bảo đảm thu hồi tài sản và kiểm sát việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp này.
- Kịp thời phát hiện, kiến nghị xử lý trường hợp không chấp hành, chấp hành không đầy đủ bản án, quyết định của Tòa án hoặc chậm thi hành án, nhất là trong thi hành án hành chính.
- Kịp thời kiến nghị, yêu cầu cơ quan, tổ chức áp dụng biện pháp khắc phục nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội phạm, vi phạm pháp luật.
- Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật.
Như vậy, bên cạnh việc thực hiện các chỉ tiêu, nhiệm vụ của Viện kiểm sát còn tập trung vào kiểm sát chặt chẽ hoạt động tố tụng, chống oan sai và bỏ lọt tội phạm, nâng cao chất lượng tranh tụng, thu hồi tài sản trong các vụ án tham nhũng, kinh tế và kiểm sát việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án.
1.3. Các chỉ tiêu, nhiệm vụ của Viện kiểm sát có thể được điều chỉnh không?
Khoản 2 Điều 8 Nghị quyết 34/2026/QH16 quy định:
“Trong trường hợp cần thiết để đáp ứng yêu cầu thực tiễn, Quốc hội xem xét, quyết định điều chỉnh chỉ tiêu, nhiệm vụ quy định tại Nghị quyết này; trong thời gian Quốc hội không họp, Ủy ban Thường vụ Quốc hội có thể xem xét, điều chỉnh chỉ tiêu, nhiệm vụ quy định tại Nghị quyết này và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.”
Theo quy định này, các chỉ tiêu, nhiệm vụ đối với công tác của Viện kiểm sát nhân dân có thể được điều chỉnh khi cần thiết để đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
Quốc hội xem xét, quyết định việc điều chỉnh. Trong thời gian Quốc hội không họp, Ủy ban Thường vụ Quốc hội có thể xem xét, điều chỉnh và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.
2. Ai có trách nhiệm cụ thể hóa các chỉ tiêu, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân?
Khoản 1 Điều 7 Nghị quyết 34/2026/QH16 quy định:
“Căn cứ Nghị quyết này, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Tư pháp cụ thể hóa các chỉ tiêu, nhiệm vụ, trong đó lượng hóa tối đa và có thể giao chỉ tiêu với yêu cầu cao hơn nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác, đáp ứng yêu cầu và mục tiêu phấn đấu hằng năm của cả ngành, báo cáo Quốc hội để giám sát.”
Theo đó, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có trách nhiệm cụ thể hóa các chỉ tiêu, nhiệm vụ theo Nghị quyết 34/2026/QH16 trong phạm vi ngành Kiểm sát.
Các chỉ tiêu, nhiệm vụ phải được lượng hóa tối đa và có thể được giao với yêu cầu cao hơn nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác, đáp ứng yêu cầu và mục tiêu phấn đấu hằng năm của ngành.
Đồng thời, khoản 2 Điều 7 Nghị quyết 34/2026/QH16 quy định Viện kiểm sát nhân dân tối cao cùng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao và Kiểm toán nhà nước có trách nhiệm tổ chức thực hiện và hằng năm báo cáo Quốc hội về kết quả thực hiện Nghị quyết. Số liệu, thông tin báo cáo được tính từ ngày 01/01 đến hết ngày 31/12 hằng năm.
3. Các chỉ tiêu, nhiệm vụ của Viện kiểm sát theo Nghị quyết 34/2026/QH16 áp dụng từ ngày nào?
Khoản 1 Điều 8 Nghị quyết 34/2026/QH16 quy định:
“Nghị quyết này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2027. Nghị quyết số 96/2019/QH14 ngày 27 tháng 11 năm 2019 của Quốc hội về công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật, công tác của Viện kiểm sát nhân dân, của Tòa án nhân dân và công tác thi hành án hết hiệu lực kể từ ngày Nghị quyết này có hiệu lực thi hành.”
Theo đó, các chỉ tiêu, nhiệm vụ đối với Viện kiểm sát nhân dân theo Nghị quyết 34/2026/QH16 được áp dụng từ ngày 01/01/2027, là thời điểm Nghị quyết có hiệu lực thi hành.
Cũng từ ngày này, Nghị quyết 96/2019/QH14 về công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật, công tác của Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân và công tác thi hành án hết hiệu lực.
Trên đây là thông tin về “Viện kiểm sát nhân dân phải thực hiện những chỉ tiêu, nhiệm vụ nào theo Nghị quyết 34/2026/QH16?”. Trọng tâm của các quy định là bảo đảm chất lượng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp, phòng chống oan sai và bỏ lọt tội phạm, nâng cao chất lượng truy tố, kháng nghị, thu hồi tài sản và kiểm sát thi hành án.
RSS