Thông tư 89/2026/TT-BGDĐT sửa đổi quy định đánh giá học sinh tiểu học tại Thông tư 27/2020/TT-BGDĐT và học sinh THCS, THPT tại Thông tư 22/2021/TT-BGDĐT. Dưới đây là những thay đổi đáng chú ý.
- 1. Lớp 5, 9, 12 kiểm tra cuối kỳ theo đề chung ở một số môn do Sở lựa chọn
- 2. Giáo viên tiểu học phải ký số xác nhận kết quả trên Học bạ số
- 3. Kiểm tra trên máy tính gặp sự cố phải được xử lý trong tối đa 7 ngày làm việc
- 4. Học sinh có học tập và rèn luyện Chưa đạt được đánh giá lại học tập sau khi rèn luyện hè đạt yêu cầu
- 5. Học sinh hoàn thành chấp hành kỷ luật phải được đánh giá lại kết quả rèn luyện
- 6. Học sinh khuyết tật được điều chỉnh câu hỏi, thời gian và hình thức kiểm tra
- 7. Không kiểm tra lại học sinh đã hoàn thành tiểu học khi bàn giao chuyển cấp
- 8. Đánh giá chương trình nâng cao môn chuyên không được tăng số lần kiểm tra định kỳ
1. Lớp 5, 9, 12 kiểm tra cuối kỳ theo đề chung ở một số môn do Sở lựa chọn
Theo Điều 7 và khoản 2 Điều 20 Thông tư 89/2026/TT-BGDĐT, Sở Giáo dục và Đào tạo chủ trì xây dựng, thẩm định, cung cấp đề kiểm tra chung đối với một số môn học đánh giá bằng điểm số của học sinh lớp 5, lớp 9 và lớp 12.
Với lớp 5, đề chung được áp dụng vào cuối học kỳ I và cuối năm học. Với lớp 9, lớp 12, thời điểm áp dụng là cuối học kỳ I và cuối học kỳ II. Các môn kiểm tra theo đề chung do Sở lựa chọn và thông báo cho cơ sở giáo dục trước khi tổ chức thực hiện.
Trước đây, điểm c khoản 2 Điều 12 và khoản 3 Điều 15 Quy định ban hành kèm Thông tư 27/2020/TT-BGDĐT giao các tổ chuyên môn ra đề kiểm tra định kỳ cho các khối lớp, hiệu trưởng chỉ đạo việc ra đề. Đối với cấp trung học, Điều 16 Thông tư 22/2021/TT-BGDĐT chưa có quy định riêng giao Sở cung cấp đề kiểm tra chung cho lớp 9, lớp 12.

2. Giáo viên tiểu học phải ký số xác nhận kết quả trên Học bạ số
Điều 4 Thông tư 89/2026/TT-BGDĐT sửa đổi khoản 2 Điều 10 Quy định ban hành kèm Thông tư 27/2020/TT-BGDĐT, xác định hồ sơ đánh giá từng năm học của mỗi học sinh tiểu học gồm Học bạ số và Bảng tổng hợp kết quả đánh giá giáo dục của lớp.
Đồng thời, điểm a Điều 9 Thông tư 89 quy định sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 1 Điều 16 về trách nhiệm của giáo viên chủ nhiệm cấp tiểu học như sau:
“a) Đánh giá, tổng hợp kết quả giáo dục học sinh trong lớp; hoàn thành hồ sơ đánh giá học sinh; cập nhật nhận xét, kết quả tổng hợp chung của lớp để lập Học bạ số; thực hiện ký số xác nhận Học bạ số của lớp chủ nhiệm sau khi giáo viên bộ môn đã hoàn thành ký số môn học; nghiệm thu, bàn giao kết quả giáo dục học sinh cho lớp học sau; bảo đảm dữ liệu đánh giá học sinh đầy đủ, chính xác, kịp thời, thống nhất với hồ sơ quản lý của nhà trường.”.
Như vậy, giáo viên môn học chịu trách nhiệm hoàn toàn về tính chính xác, đầy đủ của dữ liệu kết quả học tập thuộc môn học, hoạt động giáo dục được phân công và trực tiếp ký số xác nhận kết quả môn học trên Học bạ số. Giáo viên chủ nhiệm ký số xác nhận Học bạ số của lớp sau khi giáo viên bộ môn đã hoàn thành ký số môn học.
Trước đây, khoản 2 Điều 10 và Điều 16 Quy định ban hành kèm Thông tư 27 quy định hồ sơ gồm Học bạ và Bảng tổng hợp kết quả đánh giá giáo dục của lớp, nhưng chưa quy định cụ thể trách nhiệm và trình tự ký số như trên. Việc sử dụng hồ sơ điện tử đã được đề cập tại điểm b khoản 1 Điều 14 Quy định này và khoản 2 Điều 16 Thông tư 22/2021/TT-BGDĐT.
Đối với THCS, THPT, Điều 22 Thông tư 89 bổ sung hướng dẫn riêng về Học bạ số, đồng thời xác định các hướng dẫn ghi bằng bút, sửa bằng mực đỏ, ký và đóng dấu trực tiếp chỉ áp dụng với Học bạ giấy được tiếp tục sử dụng trong thời gian chuyển tiếp.
Theo quy định mới, việc sử dụng Học bạ giấy, tạo lập Học bạ số và số hóa dữ liệu hiện có thực hiện theo quy định, lộ trình của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo. Nhà trường tổ chức kiểm tra theo đề chung ở các môn được Sở ra đề; tiếp tục ra đề đối với những môn học, thời điểm kiểm tra và khối lớp còn lại. Nhà trường tổ chức coi, chấm, tổng hợp kết quả và chịu trách nhiệm về kết quả kiểm tra, đánh giá học sinh.
3. Kiểm tra trên máy tính gặp sự cố phải được xử lý trong tối đa 7 ngày làm việc
Điều 15 Thông tư 89/2026/TT-BGDĐT bổ sung khoản 6 Điều 7 Thông tư 22/2021/TT-BGDĐT, quy định cụ thể việc tổ chức kiểm tra, đánh giá định kỳ trên máy tính.
Theo đó, khi sự cố kỹ thuật ảnh hưởng đến kết quả làm bài, nhà trường phải tổ chức kiểm tra lại cho học sinh bị ảnh hưởng hoặc chuyển sang kiểm tra trên giấy trong thời hạn không quá 7 ngày làm việc kể từ ngày xảy ra sự cố. Đề kiểm tra phải tương đương về nội dung, mức độ yêu cầu, bảo đảm quyền lợi của học sinh và tính khách quan, trung thực của kết quả.
Nhà trường phải đáp ứng các điều kiện về cơ sở vật chất, hạ tầng công nghệ thông tin, phần mềm kiểm tra, đánh giá; thông báo trước hình thức kiểm tra và yêu cầu kỹ thuật đến học sinh, cha mẹ học sinh. Phương án dự phòng cũng phải được chuẩn bị và thông báo cho học sinh trước khi kiểm tra.
Bài làm, kết quả kiểm tra điện tử có giá trị pháp lý tương đương bài làm giấy khi đáp ứng yêu cầu về tính toàn vẹn, xác thực, bảo mật, lưu trữ, khả năng truy cập và truy xuất theo pháp luật về giao dịch điện tử.
Trước đây, khoản 1 Điều 7 Thông tư 22 đã cho phép kiểm tra định kỳ trên giấy hoặc máy tính. Vì vậy, điểm mới của Thông tư 89 là bổ sung điều kiện tổ chức, yêu cầu đối với dữ liệu và trách nhiệm xử lý sự cố.
4. Học sinh có học tập và rèn luyện Chưa đạt được đánh giá lại học tập sau khi rèn luyện hè đạt yêu cầu
Điều 19 Thông tư 89/2026/TT-BGDĐT sửa đổi Điều 14 Thông tư 22/2021/TT-BGDĐT, làm rõ điều kiện đánh giá lại kết quả học tập đối với học sinh có cả kết quả học tập và rèn luyện cả năm ở mức Chưa đạt.
Cụ thể, sau khi hoàn thành rèn luyện trong kỳ nghỉ hè và được đánh giá từ mức Đạt trở lên, học sinh được ghi nhận có kết quả rèn luyện cả năm từ mức Đạt trở lên và thuộc đối tượng được đánh giá lại kết quả học tập.
Học sinh chưa hoàn thành rèn luyện hè hoặc có kết quả rèn luyện hè chưa đạt thì chưa đủ điều kiện được đánh giá lại học tập trong trường hợp nêu trên.
Các môn được đánh giá lại gồm môn đánh giá bằng nhận xét ở mức Chưa đạt và môn đánh giá bằng nhận xét kết hợp điểm số có điểm trung bình cả năm dưới 5,0. Kết quả đánh giá lại từng môn được sử dụng thay thế kết quả học tập cả năm của môn đó để xét lên lớp.
Trước đây, Điều 14 Thông tư 22 đã quy định điều kiện rèn luyện cả năm từ Đạt trở lên để được đánh giá lại học tập; khoản 3 Điều 13 cũng cho phép sử dụng kết quả đánh giá lại sau rèn luyện hè thay kết quả rèn luyện cả năm. Quy định mới làm rõ trực tiếp mối liên hệ giữa hai nội dung này.
Riêng với lớp 9, lớp 12, Điều 18 Thông tư 89 bổ sung yêu cầu bố trí linh hoạt thời gian kiểm tra, đánh giá lại trong kỳ nghỉ hè, bảo đảm không ảnh hưởng tiến độ tuyển sinh. Sở Giáo dục và Đào tạo hướng dẫn thời gian hoàn thành trước thời điểm xác nhận hoàn thành chương trình THCS hoặc xét công nhận tốt nghiệp THPT và thời điểm tiếp nhận học sinh đầu cấp.

5. Học sinh hoàn thành chấp hành kỷ luật phải được đánh giá lại kết quả rèn luyện
Theo Điều 16 Thông tư 89/2026/TT-BGDĐT bổ sung khoản 3 Điều 8 về đánh giá kết quả rèn luyện của học sinh tại Thông tư 22/2021/TT-BGDĐT như sau:
Điều 16. Bổ sung khoản 3 vào Điều 8 như sau:
“3. Đối với học sinh trong thời hạn chấp hành kỷ luật: Giáo viên chủ nhiệm phối hợp với gia đình động viên, giúp đỡ học sinh rèn luyện. Sau khi hoàn thành việc chấp hành quyết định kỷ luật và được nhà trường công nhận hoàn thành, giáo viên chủ nhiệm có trách nhiệm đánh giá lại kết quả rèn luyện của học sinh trên cơ sở mức độ đáp ứng yêu cầu cần đạt về phẩm chất và sự tiến bộ của học sinh theo quy định tại Điều này, làm căn cứ xếp loại kết quả rèn luyện học kỳ hoặc cả năm học, ghi nhận sự cố gắng, tiến bộ của học sinh trong học kỳ hoặc năm học.”.
Như vậy, trong thời hạn học sinh chấp hành kỷ luật, giáo viên chủ nhiệm phối hợp với gia đình động viên, giúp đỡ học sinh rèn luyện.
Sau khi học sinh hoàn thành việc chấp hành quyết định kỷ luật và được nhà trường công nhận hoàn thành, giáo viên chủ nhiệm có trách nhiệm đánh giá lại kết quả rèn luyện của học sinh.
Việc đánh giá dựa trên mức độ đáp ứng yêu cầu cần đạt về phẩm chất và sự tiến bộ của học sinh. Kết quả được dùng làm căn cứ xếp loại rèn luyện học kỳ hoặc cả năm học, ghi nhận sự cố gắng, tiến bộ trong thời gian tương ứng.
Trước đây, khoản 1 và khoản 2 Điều 8 Thông tư 22 quy định căn cứ, cách tổ chức đánh giá và bốn mức rèn luyện gồm Tốt, Khá, Đạt, Chưa đạt, nhưng chưa có khoản riêng về đánh giá lại sau khi học sinh hoàn thành chấp hành kỷ luật.
Quy định mới yêu cầu đánh giá lại trên cơ sở quá trình rèn luyện, không quy định học sinh đương nhiên được xếp loại Đạt, Khá hoặc Tốt sau khi chấp hành xong kỷ luật.
6. Học sinh khuyết tật được điều chỉnh câu hỏi, thời gian và hình thức kiểm tra
Điều 2 Thông tư 89/2026/TT-BGDĐT sửa đổi Điều 8 Quy định ban hành kèm Thông tư 27/2020/TT-BGDĐT, cụ thể hóa nguyên tắc, nội dung, hình thức, phương pháp và công cụ đánh giá học sinh khuyết tật.
Theo đó, giáo viên có thể điều chỉnh số lượng câu hỏi, thời gian làm bài phù hợp với thể lực và tình trạng khuyết tật; tăng cường quan sát, đánh giá qua sản phẩm hoặc hồ sơ học tập. Việc đánh giá dựa trên sự tiến bộ của chính học sinh, không so sánh kết quả với học sinh khác.
Đối với học sinh khuyết tật nhìn, trường hợp cần thiết có thể chuyển đề, bài làm sang chữ nổi Braille hoặc sử dụng công nghệ hỗ trợ, file âm thanh, phần mềm đọc màn hình. Việc đánh giá cũng có thể thực hiện qua vấn đáp, thực hành hoặc hình thức phù hợp do người đứng đầu cơ sở giáo dục quyết định trên cơ sở đề xuất của tổ chuyên môn.
Đối với học sinh khuyết tật nghe, nói, nội dung kiểm tra kỹ năng nghe, nói hoặc vấn đáp có thể được thay bằng bài viết, bài trắc nghiệm, bài thực hành thông qua sử dụng ngôn ngữ ký hiệu hoặc hình thức phù hợp theo quy định.
Môn học, hoạt động giáo dục được miễn trong kế hoạch giáo dục cá nhân được miễn kiểm tra, đánh giá và ghi “Miễn” trong Học bạ số.
Các quy định này được áp dụng cho học sinh khuyết tật cấp trung học thông qua nội dung dẫn chiếu tại Điều 17 Thông tư 89, phù hợp với chương trình, nội dung giáo dục và hình thức đánh giá của cấp học.
Trước đây, Điều 8 Quy định ban hành kèm Thông tư 27 và Điều 11 Thông tư 22 đã quy định đánh giá học sinh khuyết tật theo phương thức hòa nhập, chuyên biệt hoặc kế hoạch giáo dục cá nhân. Thông tư 89 cụ thể hóa hơn các biện pháp điều chỉnh và cách ghi nhận kết quả.
7. Không kiểm tra lại học sinh đã hoàn thành tiểu học khi bàn giao chuyển cấp
Điều 6 Thông tư 89/2026/TT-BGDĐT sửa đổi khoản 2 và khoản 3 Điều 12 Quy định ban hành kèm Thông tư 27/2020/TT-BGDĐT, xác định việc nghiệm thu, bàn giao kết quả giáo dục khi chuyển cấp là hoạt động chuyển giao dữ liệu quản lý giữa nhà trường và cơ quan quản lý giáo dục địa phương.
Trong hoạt động này, không tổ chức khảo sát, kiểm tra, đánh giá lại kết quả học tập đối với học sinh đã được công nhận hoàn thành chương trình tiểu học khi chuyển cấp.
Nhà trường vẫn tổ chức kiểm tra, đánh giá định kỳ cuối năm lớp 5; chấm, nhận xét, tổng hợp kết quả; hoàn thiện hồ sơ và dữ liệu Học bạ số; xác nhận hoàn thành chương trình tiểu học và bàn giao theo quy định.
Trước đây, điểm b khoản 2 Điều 12 Quy định ban hành kèm Thông tư 27 yêu cầu việc coi, chấm bài kiểm tra lớp 5 có sự tham gia của giáo viên THCS trên cùng địa bàn. Nội dung sửa đổi không còn nêu yêu cầu này, đồng thời bổ sung trách nhiệm bảo đảm kết quả đánh giá đầy đủ, chính xác, kịp thời, thống nhất giữa hồ sơ, Học bạ số và dữ liệu quản lý.
Cũng theo Điều 6 Thông tư 89, tuyển sinh vào lớp 6 thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.
8. Đánh giá chương trình nâng cao môn chuyên không được tăng số lần kiểm tra định kỳ
Điều 14 Thông tư 89/2026/TT-BGDĐT bổ sung khoản 4 Điều 6 về đánh giá thường xuyên đối với học sinh THCS, THPT tại Thông tư 22/2021/TT-BGDĐT:
Điều 14. Bổ sung khoản 4 vào Điều 6 như sau:
“4. Đối với nội dung giáo dục quy định tại Chương trình giáo dục phổ thông và Chương trình giáo dục nâng cao dành cho môn chuyên trong lớp chuyên của trường trung học phổ thông chuyên, việc đánh giá thường xuyên và đánh giá định kỳ được thực hiện theo kế hoạch giáo dục của tổ chuyên môn và kế hoạch giáo dục của nhà trường, bảo đảm không làm tăng số lần đánh giá định kỳ so với quy định chung tại Thông tư này.”.
Theo đó, việc đánh giá nội dung thuộc Chương trình giáo dục phổ thông và Chương trình giáo dục nâng cao dành cho môn chuyên trong lớp chuyên của trường THPT chuyên.
Việc đánh giá thường xuyên, định kỳ được thực hiện theo kế hoạch giáo dục của tổ chuyên môn và nhà trường, nhưng không được làm tăng số lần đánh giá định kỳ so với quy định chung.
Theo khoản 2 và khoản 3 Điều 7 Thông tư 22, trong mỗi học kỳ, môn đánh giá bằng nhận xét có một lần đánh giá giữa kỳ và một lần cuối kỳ; môn đánh giá bằng nhận xét kết hợp điểm số có một điểm đánh giá giữa kỳ và một điểm cuối kỳ.
Đồng thời, Điều 12 và Điều 13 Thông tư 89 bổ sung rõ Chương trình giáo dục nâng cao dành cho các môn chuyên vào phạm vi áp dụng và căn cứ xác định mức độ hoàn thành nhiệm vụ rèn luyện, học tập của học sinh.
Trước đây, Điều 3 Thông tư 22 chỉ nêu yêu cầu cần đạt trong Chương trình giáo dục phổ thông khi quy định mục đích đánh giá, dù khoản 1 Điều 7 đã có quy định thời gian làm bài kiểm tra đối với môn chuyên tối đa 120 phút.
Trên đây là điểm mới tại Thông tư 89/2026/TT-BGDĐT về đánh giá học sinh các cấp từ 01/12/2026.
RSS