1. Khung năng lực ngoại ngữ dùng cho Việt Nam
Theo khoản 1 Điều 1 Thông tư 33/2026/TT-BGDĐT, Khung năng lực ngoại ngữ dùng cho Việt Nam được ban hành kèm theo Thông tư này.
Tại Mục I Khung năng lực ngoại ngữ dùng cho Việt Nam ban hành kèm theo Thông tư 33/2026/TT-BGDĐT, KNLNNVN được phát triển trên cơ sở tham chiếu, ứng dụng Khung tham chiếu chung Châu Âu (CEFR) và được chia thành 3 cấp gồm Sơ cấp, Trung cấp và Cao cấp. Ngoài Bậc 1 đến Bậc 6 thuộc 3 cấp này, Khung còn quy định Tiền Bậc 1, tương ứng với Pre A1 của CEFR, cụ thể:
|
KNLNNVN |
CEFR |
|
Tiền Bậc 1 |
Pre A1 |
|
Sơ cấp - Bậc 1 |
A1 |
|
Sơ cấp - Bậc 2 |
A2 |
|
Trung cấp - Bậc 3 |
B1 |
|
Trung cấp - Bậc 4 |
B2 |
|
Cao cấp - Bậc 5 |
C1 |
|
Cao cấp - Bậc 6 |
C2 |

2. Mục đích sử dụng Khung năng lực ngoại ngữ dùng cho Việt Nam
Theo Điều 3 Thông tư 33/2026/TT-BGDĐT, Khung năng lực ngoại ngữ dùng cho Việt Nam được sử dụng với các mục đích sau:
- Làm căn cứ thống nhất về yêu cầu năng lực cho tất cả các ngoại ngữ được giảng dạy trong hệ thống giáo dục quốc dân.
- Làm cơ sở để các cơ sở giáo dục, cơ quan, tổ chức nghiên cứu, tham khảo, vận dụng trong xây dựng chương trình, biên soạn hoặc lựa chọn giáo trình, sách giáo khoa, kế hoạch giảng dạy, kiểm tra, đánh giá năng lực ngoại ngữ ở từng cấp học, trình độ đào tạo, chuẩn đầu ra bảo đảm sự liên thông trong đào tạo ngoại ngữ giữa các cấp học và trình độ đào tạo.
- Làm cơ sở cho giáo viên, giảng viên lựa chọn và triển khai nội dung, cách thức giảng dạy, kiểm tra, đánh giá, chuẩn đầu ra để người học đạt được yêu cầu của chương trình đào tạo.
- Giúp người học hiểu được nội dung, yêu cầu đối với từng trình độ năng lực ngoại ngữ và tự đánh giá năng lực của mình.
- Tạo điều kiện thuận lợi cho việc hợp tác, trao đổi giáo dục, công nhận văn bằng, chứng chỉ với các quốc gia ứng dụng Khung tham chiếu chung Châu Âu (CEFR).
- Làm căn cứ để công nhận các cấp độ của chứng chỉ năng lực ngoại ngữ của nước ngoài tương đương với các bậc của Khung năng lực ngoại ngữ dùng cho Việt Nam để sử dụng trong tuyển sinh, đào tạo các trình độ của giáo dục đại học.
3. Ngoại ngữ trong chương trình giáo dục được quy định thế nào?
Theo khoản 3 Điều 11 Luật Giáo dục 2019, số 43/2019/QH14, ngoại ngữ quy định trong chương trình giáo dục là ngôn ngữ được sử dụng phổ biến trong giao dịch quốc tế.
Việc tổ chức dạy ngoại ngữ trong cơ sở giáo dục phải bảo đảm để người học được học liên tục, hiệu quả.
Bên cạnh đó, theo khoản 1 Điều 8 Luật Giáo dục 2019, chương trình giáo dục phải quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng và yêu cầu cần đạt về phẩm chất, năng lực của người học; đồng thời quy định cách thức đánh giá kết quả giáo dục đối với từng môn học, cấp học hoặc trình độ đào tạo.
Riêng đối với năng lực ngoại ngữ, Điều 3 Thông tư 33/2026/TT-BGDĐT xác định Khung năng lực ngoại ngữ dùng cho Việt Nam là căn cứ thống nhất về yêu cầu năng lực đối với các ngoại ngữ được giảng dạy trong hệ thống giáo dục quốc dân, đồng thời làm cơ sở cho việc xây dựng chương trình, tổ chức giảng dạy, kiểm tra và đánh giá năng lực ngoại ngữ.
RSS