
Theo khoản 1 Điều 5 Thông tư 87/2026/TT-BCA, cơ sở lưu trú có trách nhiệm khai báo tạm trú cho người nước ngoài bằng một trong hai hình thức: qua môi trường điện tử hoặc bằng Phiếu khai báo tạm trú. Người trực tiếp thực hiện khai báo có thể là chủ sở hữu cơ sở lưu trú, người đại diện theo pháp luật của cơ sở lưu trú hoặc người được ủy quyền theo khoản 3 Điều 3 Thông tư 87/2026/TT-BCA.
Đáng chú ý, khoản 2 Điều 7 Thông tư 87/2026/TT-BCA quy định việc khai báo phải được thực hiện ngay khi người nước ngoài đến cơ sở lưu trú. Theo đó, người khai báo truy cập hệ thống khai báo tạm trú điện tử, đăng nhập tài khoản đã được cấp và thực hiện khai báo thông tin của người nước ngoài, không chờ đến cuối ngày hoặc sau một khoảng thời gian nhất định mới khai báo.
Các thông tin phải khai báo được quy định tại khoản 3 Điều 7 Thông tư 87/2026/TT-BCA, gồm: họ tên; giới tính; ngày, tháng, năm sinh; quốc tịch; số hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị đi lại quốc tế; thời hạn chứng nhận tạm trú, gia hạn tạm trú hoặc thẻ tạm trú do cơ quan có thẩm quyền cấp; thời gian dự kiến tạm trú tại cơ sở lưu trú. Công an cấp xã tiếp nhận thông tin khai báo qua hệ thống điện tử 24 giờ trong ngày, 07 ngày trong tuần (Theo khoản 1 Điều 8 Thông tư 87/2026/TT-BCA).
Trường hợp khai báo bằng Phiếu khai báo tạm trú, người khai báo phải ghi đầy đủ, chính xác thông tin theo mẫu NA17 và gửi ngay bằng phương thức liên lạc phù hợp đến Công an cấp xã. Sau đó, Phiếu phải được chuyển trực tiếp đến Công an cấp xã trong thời hạn 12 giờ kể từ khi người nước ngoài đến cơ sở lưu trú; đối với địa bàn vùng sâu, vùng xa, thời hạn là 24 giờ (Theo khoản 1 và khoản 2 Điều 9 Thông tư 87/2026/TT-BCA).
RSS