Miễn 2 loại thuế với hàng nhập khẩu để tài trợ chống dịch

Ngày 11/9/2021, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 106/NQ-CP về chính sách thuế đối với hàng hóa nhập khẩu để tài trợ phục vụ chống dịch.

Tại Điều 1 Nghị quyết nêu rõ, hàng hóa của tổ chức, cá nhân Việt Nam nhập khẩu để tài trợ cho Chính phủ, Bộ Y tế, UBND các tỉnh, thành phố, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các tỉnh, thành phố phục vụ công tác phòng, chống dịch Covid-19 được áp dụng chính sách thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng như hàng hóa nhập khẩu trong trường hợp viện trợ nhân đạo, viện trợ không hoàn lại.

Theo đó, khoản 4 Điều 2 Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu quy định hàng hóa viện trợ nhân đạo, hàng hóa viện trợ không hoàn lại thuộc trường hợp không phải chịu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.

Ngoài ra, với hàng hóa nhập khẩu trong trường hợp viện trợ nhân đạo, viện trợ không hoàn lại cũng thuộc đối tượng không phải chịu thuế giá trị gia tăng theo khoản 19 Điều 5 Luật Thuế giá trị gia tăng 2008.

Như vậy, theo Nghị quyết, sẽ không thu thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng đối với hàng hóa được nhập khẩu để phục vụ công tác phòng, chống dịch Covid-19.

mien 2 loai thue voi hang nhap khau de tai tro chong dich
Miễn 2 loại thuế với hàng nhập khẩu để tài trợ chống dịch (Ảnh minh họa)


Về hồ sơ, thủ tục áp dụng chính sách thuế đối với hàng hóa này được Chính phủ giao Bộ Y tế, UBND các tỉnh, thành phố, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các tỉnh, thành phố ban hành văn bản phê duyệt, tiếp nhận hàng hóa theo đề nghị của tổ chức, cá nhân, bảo đảm công khai, minh bạch. Cơ quan hải quan căn cứ văn bản phê duyệt thực hiện thủ tục không thu thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng theo quy định, không để xảy ra việc trục lợi chính sách.

Ngoài ra, với các trường hợp hàng hóa đã nhập khẩu để tài trợ phục vụ phòng, chống dịch Covid-19 trước ngày Nghị quyết này có hiệu lực, được phê duyệt, tiếp nhận hàng hóa tài trợ cho công tác phòng, chống dịch Covid-19 theo quy định thì được áp dụng chính sách thuế nêu trên.

Trường hợp đã nộp thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng thì được xử lý số thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng đã nộp theo quy định pháp luật quản lý thuế về xử lý tiền thuế nộp thừa.

Nghị quyết này có hiệu lực kể từ ngày ký ban hành. 

Nếu gặp vướng mắc, bạn đọc liên hệ 1900.6192 để được hỗ trợ, giải đáp.

1900 6192 để được giải đáp qua tổng đài
090 222 9061 để sử dụng dịch vụ Luật sư tư vấn (CÓ PHÍ)
Đánh giá bài viết:
(1 đánh giá)
Bài viết đã giải quyết được vấn đề của bạn chưa?
Rồi Chưa

Tin cùng chuyên mục

Thông tư 165/2026/TT-BTC: ​Từ 18/12/2026, đưa tài sản mã hóa vào giao dịch phải công bố thông tin trước ít nhất 7 ngày

Thông tư 165/2026/TT-BTC: ​Từ 18/12/2026, đưa tài sản mã hóa vào giao dịch phải công bố thông tin trước ít nhất 7 ngày

Thông tư 165/2026/TT-BTC: ​Từ 18/12/2026, đưa tài sản mã hóa vào giao dịch phải công bố thông tin trước ít nhất 7 ngày

Thông tư 165/2026/TT-BTC ngày 31/10/2026 của Bộ Tài chính hướng dẫn một số nội dung về chế độ báo cáo, công bố thông tin trên thị trường tài sản mã hóa, có hiệu lực từ ngày 18/12/2026. 

Thông tư 92/2026/TT-BGDĐT: Từ 15/12/2026, hồ sơ công nhận chứng chỉ được nộp trực tuyến qua Cổng Dịch vụ công quốc gia

Thông tư 92/2026/TT-BGDĐT: Từ 15/12/2026, hồ sơ công nhận chứng chỉ được nộp trực tuyến qua Cổng Dịch vụ công quốc gia

Thông tư 92/2026/TT-BGDĐT: Từ 15/12/2026, hồ sơ công nhận chứng chỉ được nộp trực tuyến qua Cổng Dịch vụ công quốc gia

Theo Thông tư 92/2026/TT-BGDĐT ngày 30/10/2026, từ ngày 15/12/2026, đơn vị cấp chứng chỉ hoặc đơn vị được ủy quyền cung cấp thông tin và tải bản quét hồ sơ đề nghị công nhận chứng chỉ lên Cổng Dịch vụ công quốc gia.

Công văn 8232/CT: Chưa có quy định xử phạt riêng việc chậm thông báo tài khoản ngân hàng

Công văn 8232/CT: Chưa có quy định xử phạt riêng việc chậm thông báo tài khoản ngân hàng

Công văn 8232/CT: Chưa có quy định xử phạt riêng việc chậm thông báo tài khoản ngân hàng

Ngày 30/10/2026, Cục Thuế ban hành Công văn 8232/CT-PC về giải quyết vướng mắc trong xử phạt vi phạm hành chính thuế, trong đó hướng dẫn việc xử phạt đối với hành vi chậm thông báo hoặc không thông báo số tài khoản ngân hàng, số hiệu ví điện tử của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh.