5 điều kiện công nhận hạt nhân tổ hợp công nghiệp an ninh quốc gia từ 13/02/2026

Ngày 13/02/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định 60/2026/NĐ-CP quy định về tổ hợp công nghiệp an ninh quốc gia, có hiệu lực thi hành từ ngày ban hành.

Theo Điều 5 Nghị định 60/2026/NĐ-CP, cơ sở công nghiệp an ninh nòng cốt được công nhận là hạt nhân tổ hợp công nghiệp an ninh quốc gia khi đáp ứng đầy đủ 05 điều kiện sau:

 1 - Về sản phẩm, dịch vụ

Chủ trì nghiên cứu, thiết kế, sản xuất thành công ít nhất một loại sản phẩm, dịch vụ thuộc danh mục sản phẩm, dịch vụ công nghiệp an ninh, có công nghệ hiện đại, tính ưu việt, được sử dụng rộng rãi trong nước.

2 - Về năng lực công nghệ

Có khả năng ứng dụng, phát triển hoặc tạo ra công nghệ chiến lược, công nghệ nền, công nghệ lõi trong nghiên cứu, thiết kế, chế tạo, sản xuất, sửa chữa, cải hoán, cải tiến, hiện đại hóa sản phẩm, dịch vụ công nghiệp an ninh.

3 - Về tổ chức nghiên cứu

Có đơn vị nghiên cứu, phát triển sản phẩm, dịch vụ công nghiệp an ninh trong cơ cấu tổ chức.

4 - Về cơ sở vật chất

Có cơ sở vật chất, trang thiết bị đáp ứng yêu cầu nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ, thiết kế, chế tạo, sản xuất, hoàn chỉnh, cung ứng, sửa chữa, cải hoán, cải tiến, hiện đại hóa sản phẩm, dịch vụ công nghiệp an ninh.

5 - Về nhân lực

Có nhân lực bảo đảm hoạt động quản lý, điều hành, nghiên cứu, thiết kế, chế tạo, sản xuất và hoàn chỉnh sản phẩm, dịch vụ công nghiệp an ninh.

5 điều kiện công nhận hạt nhân tổ hợp công nghiệp an ninh quốc gia
Có 5 điều kiện công nhận hạt nhân tổ hợp công nghiệp an ninh quốc gia (Ảnh minh họa)

Theo khoản 2 Điều 6 Nghị định 60/2026/NĐ-CP, hồ sơ đề nghị công nhận là hạt nhân tổ hợp công nghiệp an ninh quốc gia gồm:

- Văn bản đề nghị công nhận theo Mẫu số 01 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định 60/2026/NĐ-CP;

- Tài liệu về tên, loại hình, địa chỉ, địa bàn hoạt động, ngành nghề, lĩnh vực hoạt động; các sản phẩm, dịch vụ công nghiệp an ninh được giao nhiệm vụ, đặt hàng hoặc chỉ định thầu trong 05 năm gần nhất;

- Báo cáo thuyết minh và tài liệu chứng minh (nếu có) đáp ứng các điều kiện quy định tại Điều 5.

Hồ sơ được nộp trực tiếp, qua dịch vụ bưu chính hoặc trên môi trường điện tử; không phải nộp các thành phần hồ sơ đã được số hóa, lưu trữ trong các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành và liên thông điện tử.

1900 6192 để được giải đáp qua tổng đài
090 222 9061 để sử dụng dịch vụ Luật sư tư vấn (CÓ PHÍ)
Đánh giá bài viết:
Bài viết đã giải quyết được vấn đề của bạn chưa?
Rồi Chưa

Tin cùng chuyên mục

Thông tư 165/2026/TT-BTC: ​Từ 18/12/2026, đưa tài sản mã hóa vào giao dịch phải công bố thông tin trước ít nhất 7 ngày

Thông tư 165/2026/TT-BTC: ​Từ 18/12/2026, đưa tài sản mã hóa vào giao dịch phải công bố thông tin trước ít nhất 7 ngày

Thông tư 165/2026/TT-BTC: ​Từ 18/12/2026, đưa tài sản mã hóa vào giao dịch phải công bố thông tin trước ít nhất 7 ngày

Thông tư 165/2026/TT-BTC ngày 31/10/2026 của Bộ Tài chính hướng dẫn một số nội dung về chế độ báo cáo, công bố thông tin trên thị trường tài sản mã hóa, có hiệu lực từ ngày 18/12/2026. 

Thông tư 92/2026/TT-BGDĐT: Từ 15/12/2026, hồ sơ công nhận chứng chỉ được nộp trực tuyến qua Cổng Dịch vụ công quốc gia

Thông tư 92/2026/TT-BGDĐT: Từ 15/12/2026, hồ sơ công nhận chứng chỉ được nộp trực tuyến qua Cổng Dịch vụ công quốc gia

Thông tư 92/2026/TT-BGDĐT: Từ 15/12/2026, hồ sơ công nhận chứng chỉ được nộp trực tuyến qua Cổng Dịch vụ công quốc gia

Theo Thông tư 92/2026/TT-BGDĐT ngày 30/10/2026, từ ngày 15/12/2026, đơn vị cấp chứng chỉ hoặc đơn vị được ủy quyền cung cấp thông tin và tải bản quét hồ sơ đề nghị công nhận chứng chỉ lên Cổng Dịch vụ công quốc gia.

Công văn 8232/CT: Chưa có quy định xử phạt riêng việc chậm thông báo tài khoản ngân hàng

Công văn 8232/CT: Chưa có quy định xử phạt riêng việc chậm thông báo tài khoản ngân hàng

Công văn 8232/CT: Chưa có quy định xử phạt riêng việc chậm thông báo tài khoản ngân hàng

Ngày 30/10/2026, Cục Thuế ban hành Công văn 8232/CT-PC về giải quyết vướng mắc trong xử phạt vi phạm hành chính thuế, trong đó hướng dẫn việc xử phạt đối với hành vi chậm thông báo hoặc không thông báo số tài khoản ngân hàng, số hiệu ví điện tử của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh.