Dữ liệu có thể được chia sẻ theo hợp đồng, văn bản thỏa thuận hoặc quyền đã phân cho từng bên. Vậy chia sẻ dữ liệu ngoài phạm vi, mục đích được phép bị phạt bao nhiêu tiền?
- 1. Chia sẻ dữ liệu ngoài phạm vi, mục đích được phép bị phạt bao nhiêu tiền?
- 2. Chia sẻ dữ liệu cốt lõi, dữ liệu quan trọng hoặc dữ liệu quốc gia ngoài mục đích được cấp quyền bị phạt thế nào?
- 3. Ngoài tiền phạt, hành vi chia sẻ dữ liệu ngoài phạm vi, mục đích còn bị xử lý ra sao?
- 3.1. Hình thức xử phạt bổ sung
- 3.2. Về biện pháp khắc phục hậu quả
- 4. Khi nào áp dụng mức phạt hành vi chia sẻ dữ liệu ngoài phạm vi, mục đích tại Nghị định 363/2026/NĐ-CP?
1. Chia sẻ dữ liệu ngoài phạm vi, mục đích được phép bị phạt bao nhiêu tiền?
Điểm b khoản 1 Điều 13 Nghị định 363/2026/NĐ-CP quy định:
"Điều 13. Vi phạm quy định về kết nối, chia sẻ, điều phối dữ liệu
1. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
….b) Chia sẻ, cung cấp dữ liệu ngoài phạm vi, mục đích được phép theo hợp đồng, văn bản thỏa thuận hoặc phạm vi được phân quyền."
Như vậy, đối với cá nhân có hành vi vi phạm về việc chia sẻ hoặc cung cấp dữ liệu vượt quá phạm vi, mục đích được cho phép theo hợp đồng, văn bản thỏa thuận hoặc phạm vi được phân quyền sẽ bị phạt tiền từ 20 triệu đến 40 triệu đồng.
Theo khoản 2 Điều 6 Nghị định 363/2026/NĐ-CP, mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt đối với cá nhân. Do đó, tổ chức thực hiện hành vi chia sẻ dữ liệu ngoài phạm vi, mục đích được phép bị phạt từ 40 triệu đồng đến 80 triệu đồng.

2. Chia sẻ dữ liệu cốt lõi, dữ liệu quan trọng hoặc dữ liệu quốc gia ngoài mục đích được cấp quyền bị phạt thế nào?
Điểm a khoản 3 Điều 13 Nghị định 363/2026/NĐ-CP quy định phạt tiền từ 80 triệu đồng đến 100 triệu đồng đối với hành vi :
“Chia sẻ, cung cấp dữ liệu cốt lõi, dữ liệu quan trọng hoặc dữ liệu quốc gia khi chưa được phép hoặc ngoài mục đích được cấp quyền.”
Quy định này áp dụng đối với trường hợp chủ thể thực hiện việc chia sẻ, cung cấp các loại dữ liệu nêu trên nhưng chưa được cấp phép hoặc sử dụng dữ liệu ngoài mục đích đã được cấp quyền.
Khung phạt từ 80 triệu đồng đến 100 triệu đồng nêu trên là mức phạt áp dụng đối với cá nhân. Theo khoản 2 Điều 6 Nghị định 363/2026/NĐ-CP, mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt đối với cá nhân, trừ trường hợp nghị định có quy định khác. Do đó, tổ chức thực hiện hành vi này bị phạt từ 160 triệu đồng đến 200 triệu đồng.
3. Ngoài tiền phạt, hành vi chia sẻ dữ liệu ngoài phạm vi, mục đích còn bị xử lý ra sao?
3.1. Hình thức xử phạt bổ sung
Theo khoản 4 Điều 13 Nghị định 363/2026/NĐ-CP, hành vi chia sẻ dữ liệu ngoài phạm vi, mục đích còn bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung như sau:
- Đình chỉ hoạt động kết nối, chia sẻ, khai thác, sử dụng dữ liệu từ 01 đến 06 tháng.
- Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính.
Như vậy, ngoài khoản tiền phạt từ 20 triệu đến 40 triệu đồng đối với cá nhân hoặc 40 triệu đến 80 triệu đồng đối với tổ chức, người vi phạm còn bị áp dụng hai hình thức xử phạt bổ sung liên quan đến hoạt động dữ liệu và tang vật, phương tiện vi phạm.
3.2. Về biện pháp khắc phục hậu quả
Theo điểm d khoản 5 Điều 13 Nghị định 363/2026/NĐ-CP, người thực hiện các hành vi chia sẻ dữ liệu ngoài phạm vi, mục đích được phép có thể bị buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm.
Như vậy, trong trường hợp việc chia sẻ, cung cấp dữ liệu trái phạm vi hoặc mục đích được phép mang lại cho người vi phạm một khoản lợi bất hợp pháp thì khoản lợi này phải được xác định và nộp lại theo quy định.
4. Khi nào áp dụng mức phạt hành vi chia sẻ dữ liệu ngoài phạm vi, mục đích tại Nghị định 363/2026/NĐ-CP?
Theo Điều 34, Nghị định 363/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 11/11/2026.
Do đó, đối với các hành vi vi phạm hành chính liên quan đến dữ liệu xảy ra trước và sau thời điểm này, cần xác định thời điểm thực hiện và tình trạng của hành vi để áp dụng quy định xử phạt phù hợp.
Cụ thể, khoản 1 Điều 35 Nghị định 363/2026/NĐ-CP quy định nguyên tắc chuyển tiếp đối với các hành vi vi phạm xảy ra trước thời điểm Nghị định có hiệu lực như sau:
- Đối với hành vi đã kết thúc trước ngày 11/11/2026: Trường hợp hành vi vi phạm đã chấm dứt trước ngày Nghị định 363/2026/NĐ-CP có hiệu lực nhưng sau đó mới được phát hiện hoặc đang trong quá trình xem xét, giải quyết, việc xử lý vi phạm được thực hiện theo quy định pháp luật có hiệu lực tại thời điểm hành vi được thực hiện. Như vậy, không áp dụng Nghị định 363/2026/NĐ-CP để xử lý đối với hành vi đã hoàn thành trước ngày Nghị định này có hiệu lực.
- Đối với hành vi bắt đầu trước nhưng vẫn tiếp diễn sau ngày 11/11/2026: Trường hợp hành vi vi phạm được bắt đầu trước ngày 11/11/2026 nhưng vẫn đang được thực hiện tại thời điểm Nghị định 363/2026/NĐ-CP có hiệu lực thì hành vi được xác định là đang diễn ra dưới thời gian áp dụng của Nghị định mới. Khi đó, Nghị định 363/2026/NĐ-CP được áp dụng để xử lý hành vi vi phạm theo quy định.
Trên đây là thông tin về “Chia sẻ dữ liệu ngoài phạm vi, mục đích được phép bị phạt bao nhiêu tiền?”. Vui lòng xem chi tiết Nghị định 363/2026/NĐ-CP trên LuatVietnam.vn và các tính năng liên quan như Tình trạng hiệu lực, Lược đồ văn bản để đối chiếu quy định khi áp dụng.
RSS