Quy định có hiệu lực từ 22/12/2026 nêu tại Nghị định 401/2026/NĐ-CP của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực công nghiệp công nghệ số.
“Triển khai thử nghiệm có kiểm soát sản phẩm, dịch vụ ứng dụng công nghệ số không đúng sản phẩm, dịch vụ, thời gian, không gian, đối tượng, phạm vi, phương án, kế hoạch thử nghiệm đã được cấp phép, gia hạn, điều chỉnh”.
Như vậy, mức phạt này áp dụng đối với việc triển khai thử nghiệm không đúng các nội dung đã được cấp phép, gia hạn hoặc điều chỉnh, bao gồm cả sản phẩm, dịch vụ thử nghiệm và thời gian, không gian, đối tượng, phạm vi, phương án, kế hoạch thực hiện.

Cùng mức phạt từ 150 - 200 triệu đồng là hành vi tiếp tục triển khai thử nghiệm sau khi đã có quyết định tạm dừng, quyết định kết thúc thử nghiệm trước thời hạn hoặc sau khi đã được chứng nhận hoàn thành thử nghiệm.
Khoản 6 Điều 12 còn quy định mức phạt này đối với hành vi không bổ sung biện pháp kiểm soát rủi ro khi có nguy cơ xảy ra sự cố mất an toàn; không báo cáo, giải trình các vấn đề phát sinh theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền cấp phép; không khuyến cáo rủi ro cho người tham gia trước và trong quá trình thử nghiệm. Hành vi không có cơ chế quản lý dữ liệu thử nghiệm có kiểm soát cũng thuộc khung phạt trên.
Theo điểm b khoản 7 Điều 12, tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi vi phạm nêu trên còn bị buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm.
Về đối tượng áp dụng, mức phạt nêu trên đối với tổ chức; cá nhân bị phạt bằng một nửa đối với cùng hành vi. Do đó, cá nhân thử nghiệm sai nội dung được cấp phép bị phạt từ 75 - 100 triệu đồng.
Tuy nhiên, khoản 5 Điều 3 quy định không xử phạt vi phạm hành chính đối với trường hợp được miễn, loại trừ trách nhiệm hành chính trong hoạt động thử nghiệm có kiểm soát sản phẩm, dịch vụ ứng dụng công nghệ số theo Điều 22 Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo 2025, số 93/2025/QH15.
RSS