Quá hạn thanh toán không được khấu trừ thuế GTGT

Công văn 434/VLO-QLDN2 của Thuế tỉnh Vĩnh Long về việc chậm thanh toán theo hợp đồng hoặc phụ lục hợp đồng được ban hành ngày 21/8/2025.

Ngày 11/8/2025 Thuế tỉnh Vĩnh Long có Công văn số 326/VLO-QLDN2 về việc khấu trừ thuế giá trị gia tăng (GTGT) để trả lời Công văn số 4678/NĐDH-TCKT ngày 28/7/2025 của Công ty Nhiệt điện Duyên Hải - Chi nhánh Tổng Công ty Phát Điện 1 về việc điều kiện khấu trừ thuế theo Nghị định số 181/2025/NĐ-CP. 

Tuy nhiên, Công ty vẫn còn vướng mắc do chưa nắm rõ quy định mới của chính sách thuế về việc khấu trừ thuế GTGT của hàng hóa trả chậm, do đó Thuế tỉnh Vĩnh Long tiếp tục có ý kiến tại Công văn 434/VLO-QLDN2 như sau: 

Tại điểm g khoản 2 Điều 26 Nghị định số 181/2025/NĐ-CP quy định về khấu trừ thuế GTGT đầu vào đối với hàng hóa, dịch vụ mua trả chậm, trả góp như sau: 

“g) Đối với hàng hóa, dịch vụ mua trả chậm, trả góp có giá trị hàng hóa, dịch vụ mua từ 05 triệu đồng trở lên, cơ sở kinh doanh căn cứ vào hợp đồng mua hàng hóa, dịch vụ bằng văn bản, hóa đơn giá trị gia tăng và chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt của hàng hóa, dịch vụ mua trả chậm, trả góp để khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào. Trường hợp chưa có chúng từ thanh toán không dùng tiền mặt do chưa đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng, phụ lục hợp đồng thì cơ sở kinh doanh vẫn được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào. Trường hợp đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng, phụ lục hợp đồng, cơ sở kinh doanh không có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thì cơ sở kinh doanh phải kê khai, điều chỉnh giảm số thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ đối với phần giá trị hàng hóa, dịch vụ không có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt vào kỳ tính thuế phát sinh nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng, phụ lục hợp đồng”. 

Quá hạn thanh toán không được khấu trừ thuế GTGT
Quá hạn thanh toán không được khấu trừ thuế GTGT (Ảnh minh họa)

Căn cứ quy định trên thì đối với hàng hóa, dịch vụ mua trả chậm, trả góp có giá trị hàng hóa, dịch vụ mua từ 05 triệu đồng trở lên, mà đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng hoặc phụ lục hợp đồng, cơ sở kinh doanh không có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt:

Thì cơ sở kinh doanh phải kê khai, điều chỉnh giảm số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ đối với phần giá trị hàng hóa, dịch vụ không có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt vào kỳ tính thuế phát sinh nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng hoặc phụ lục hợp đồng. 

Bên cạnh đó, theo trình bày của Công ty Nhiệt điện Duyên Hải, hàng hóa, dịch vụ mua trả chậm đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng hoặc phụ lục hợp đồng Công ty không có chứng từ thanh toán và Công ty đã kê khai điều chỉnh giảm thuế GTGT đầu vào đã khấu trừ nhưng sau đó (sau thời hạn thỏa thuận trả chậm theo hợp đồng hoặc phụ lục hợp đồng) Công ty có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thì trường hợp này cũng không được kê khai khấu trừ thuế GTGT đầu vào. 

1900 6192 để được giải đáp qua tổng đài
090 222 9061 để sử dụng dịch vụ Luật sư tư vấn (CÓ PHÍ)
Đánh giá bài viết:
Bài viết đã giải quyết được vấn đề của bạn chưa?
Rồi Chưa

Tin cùng chuyên mục

​Hướng dẫn 7-HD/BTCTW: Không tự động thay đổi lương, phụ cấp sau rà soát vị trí việc làm

​Hướng dẫn 7-HD/BTCTW: Không tự động thay đổi lương, phụ cấp sau rà soát vị trí việc làm

​Hướng dẫn 7-HD/BTCTW: Không tự động thay đổi lương, phụ cấp sau rà soát vị trí việc làm

Ngày 19/10/2026, Ban Tổ chức Trung ương ban hành Hướng dẫn 7-HD/BTCTW về rà soát, hoàn thiện vị trí việc làm, xác định nhu cầu nhân lực và xây dựng phương án biên chế trong hệ thống chính trị. 

​Quy định 227: Yêu cầu xem xét bố trí công tác khác khi cán bộ có 2 quý liên tiếp không hoàn thành nhiệm vụ

​Quy định 227: Yêu cầu xem xét bố trí công tác khác khi cán bộ có 2 quý liên tiếp không hoàn thành nhiệm vụ

​Quy định 227: Yêu cầu xem xét bố trí công tác khác khi cán bộ có 2 quý liên tiếp không hoàn thành nhiệm vụ

Cán bộ bị xếp loại không hoàn thành nhiệm vụ từ hai quý liên tiếp sẽ được cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định ngay việc phân công, bố trí công tác khác phù hợp với năng lực hoặc vị trí, chức vụ thấp hơn theo Quy định 227-QĐ/TW.

Từ 10/11/2026, thanh niên xung phong không có giấy tờ xác nhận được dùng giấy chứng nhận của Tỉnh đoàn để làm hồ sơ mai táng phí

Từ 10/11/2026, thanh niên xung phong không có giấy tờ xác nhận được dùng giấy chứng nhận của Tỉnh đoàn để làm hồ sơ mai táng phí

Từ 10/11/2026, thanh niên xung phong không có giấy tờ xác nhận được dùng giấy chứng nhận của Tỉnh đoàn để làm hồ sơ mai táng phí

Thông tư 21/2026/TT-BNV sửa đổi, bổ sung quy định về chế độ, chính sách đối với cựu chiến binh và chế độ bảo hiểm y tế, trợ cấp mai táng đối với thanh niên xung phong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, ban hành ngày 22/9/2026.

3 Thông tư liên tịch về thi hành án dân sự hết hiệu lực từ 01/11/2026

3 Thông tư liên tịch về thi hành án dân sự hết hiệu lực từ 01/11/2026

3 Thông tư liên tịch về thi hành án dân sự hết hiệu lực từ 01/11/2026

Thông tư liên tịch 11/2026/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC quy định về một số thủ tục thi hành án dân sự, miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước và phối hợp liên ngành trong thi hành án dân sự, ban hành ngày 24/8/2026. 

Từ 10/11/2026, được nộp hồ sơ hưởng trợ cấp mai táng đối với cựu chiến binh qua Cổng Dịch vụ công quốc gia

Từ 10/11/2026, được nộp hồ sơ hưởng trợ cấp mai táng đối với cựu chiến binh qua Cổng Dịch vụ công quốc gia

Từ 10/11/2026, được nộp hồ sơ hưởng trợ cấp mai táng đối với cựu chiến binh qua Cổng Dịch vụ công quốc gia

Ngày 22/9/2026, Bộ Nội vụ ban hành Thông tư 21/2026/TT-BNV sửa đổi, bổ sung một số quy định về chế độ, chính sách đối với cựu chiến binh và chế độ bảo hiểm y tế, trợ cấp mai táng đối với thanh niên xung phong thời kỳ kháng chiến chống Pháp.

Đề xuất doanh nghiệp có doanh thu không quá 10 tỷ đồng được lựa chọn phương pháp tính thuế từ 01/7/2027

Đề xuất doanh nghiệp có doanh thu không quá 10 tỷ đồng được lựa chọn phương pháp tính thuế từ 01/7/2027

Đề xuất doanh nghiệp có doanh thu không quá 10 tỷ đồng được lựa chọn phương pháp tính thuế từ 01/7/2027

Đây là nội dung đáng chú ý được nêu tại dự thảo Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, ngày 17/10/2026 của Chính phủ trình tại Kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa XVI.