Yêu cầu rà soát chính sách tiền lương của công chức, viên chức giáo dục, y tế và nhiều ngành

Kế hoạch ban hành kèm theo Quyết định 124/QĐ-BCĐCCTLBHXH yêu cầu các cơ quan tiến hành tổng kết, đánh giá chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động thuộc từng ngành, lĩnh vực cụ thể.

Theo mục 2.1 Phần I Kế hoạch ban hành kèm Quyết định 124/QĐ-BCĐCCTLBHXH, nội dung đánh giá bao gồm mức lương tối thiểu, mức lương cơ sở, bảng lương, các chế độ phụ cấp lương và cơ chế tiền lương đối với các đối tượng thuộc phạm vi quản lý. Các cơ quan phải làm rõ những bất cập, phân tích nguyên nhân và đề xuất, kiến nghị cụ thể.

Yêu cầu rà soát chính sách tiền lương của công chức, viên chức giáo dục, y tế và nhiều ngành
Yêu cầu rà soát chính sách tiền lương của công chức, viên chức giáo dục, y tế và nhiều ngành (Ảnh: Đỗ Văn Chính - LuatVietnam)

Ban Tổ chức Trung ương được giao đánh giá chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức khu vực Đảng, Mặt trận và các đoàn thể. Ủy ban Công tác đại biểu đánh giá chính sách đối với cán bộ, đại biểu Quốc hội, công chức, viên chức và người lao động trong các cơ quan của Quốc hội.

Bộ Nội vụ thực hiện đánh giá chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức trong cơ quan hành chính nhà nước và chính sách tiền lương tại khu vực doanh nghiệp. Bộ Quốc phòng và Bộ Công an thực hiện nội dung liên quan đến lực lượng vũ trang.

Đối với các ngành chuyên môn, Bộ Giáo dục và Đào tạo được giao đánh giá chính sách tiền lương đối với công chức, viên chức ngành giáo dục và đào tạo; Bộ Y tế đánh giá chính sách đối với công chức, viên chức ngành y tế; Bộ Khoa học và Công nghệ phụ trách lĩnh vực khoa học và công nghệ, thông tin và truyền thông.

Kế hoạch cũng phân công Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Bộ Nông nghiệp và Môi trường; Bộ Xây dựng; Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Kiểm toán Nhà nước và Thanh tra Chính phủ đánh giá chính sách tiền lương đối với công chức, viên chức thuộc ngành mình quản lý. Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao phụ trách chính sách tiền lương của ngành Tòa án và Kiểm sát.

Theo Kế hoạch, các nhiệm vụ đánh giá nêu trên có thời gian hoàn thành trong tháng 8/2026. Kết quả được gửi Bộ Nội vụ tổng hợp, phục vụ xây dựng Đề án cải cách chính sách tiền lương và bảo hiểm xã hội.

1900 6192 để được giải đáp qua tổng đài
090 222 9061 để sử dụng dịch vụ Luật sư tư vấn (CÓ PHÍ)
Đánh giá bài viết:
Bài viết đã giải quyết được vấn đề của bạn chưa?
Rồi Chưa

Tin cùng chuyên mục

Hai Thông tư về tái cơ cấu doanh nghiệp, xử lý nợ tiếp tục có hiệu lực từ ngày 30/10/2026

Hai Thông tư về tái cơ cấu doanh nghiệp, xử lý nợ tiếp tục có hiệu lực từ ngày 30/10/2026

Hai Thông tư về tái cơ cấu doanh nghiệp, xử lý nợ tiếp tục có hiệu lực từ ngày 30/10/2026

Ngày 15/10/2026, Bộ Tài chính ban hành Quyết định 2965/QĐ-BTC công bố 04 thông tư của Bộ trưởng Bộ Tài chính tiếp tục có hiệu lực. Trong đó, hai thông tư hướng dẫn tái cơ cấu doanh nghiệp và bàn giao, tiếp nhận, xử lý nợ, tài sản.

Công văn 2471 BTCTW: Hồ sơ vị trí việc làm phải có bản mô tả công việc và khung năng lực của từng vị trí

Công văn 2471 BTCTW: Hồ sơ vị trí việc làm phải có bản mô tả công việc và khung năng lực của từng vị trí

Công văn 2471 BTCTW: Hồ sơ vị trí việc làm phải có bản mô tả công việc và khung năng lực của từng vị trí

Công văn 2471-CV/BTCTW của Ban Tổ chức Trung ương về việc đề nghị cung cấp hồ sơ, tài liệu về chức năng, nhiệm vụ, vị trí việc làm được ban hành ngày 15/10/2026.

Người nghỉ hưu trốn tránh bồi thường thiệt hại do gây lãng phí bị trừ dần vào lương hưu 

Người nghỉ hưu trốn tránh bồi thường thiệt hại do gây lãng phí bị trừ dần vào lương hưu 

Người nghỉ hưu trốn tránh bồi thường thiệt hại do gây lãng phí bị trừ dần vào lương hưu 

Theo Nghị định 267/2026/NĐ-CP, người đã nghỉ hưu nhưng chưa hoàn thành nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do gây lãng phí và cố tình trì hoãn, trốn tránh việc bồi thường có thể bị trừ 20% lương hưu hằng tháng để thực hiện nghĩa vụ này.

Hàng kinh doanh tạm nhập, tái xuất chỉ được lưu lại Việt Nam không quá 60 ngày kể từ ngày hoàn thành thủ tục hải quan tạm nhập

Hàng kinh doanh tạm nhập, tái xuất chỉ được lưu lại Việt Nam không quá 60 ngày kể từ ngày hoàn thành thủ tục hải quan tạm nhập

Hàng kinh doanh tạm nhập, tái xuất chỉ được lưu lại Việt Nam không quá 60 ngày kể từ ngày hoàn thành thủ tục hải quan tạm nhập

Ngày 22/7/2026, Chính phủ ban hành Nghị định 292/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Quản lý ngoại thương, có hiệu lực từ ngày 05/9/2026.