Quy định mới về điều kiện đặt tên quỹ từ thiện từ 10/12/2024

Nghị định 136/2024/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 93/2019/NĐ-CP về tổ chức, hoạt động của quỹ xã hội, quỹ từ thiện đã được ban hành ngày 23/10/2024.

Theo khoản 3 Điều 1 Nghị định 136/2024/NĐ-CP sửa đổi khoản 2 Điều 7 Nghị định 93/2019/NĐ-CP, tên của quỹ phải đáp ứng các điều kiện sau:

- Quỹ phải có tên bằng tiếng Việt, có thể được dịch ra tiếng nước ngoài, phù hợp với tôn chỉ, mục đích, phạm vi, lĩnh vực hoạt động chính của quỹ;

- Không trùng lặp/gây nhầm lẫn với tên của quỹ khác đã được đăng ký hợp pháp trước đó;

- Không vi phạm truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức và thuần phong mỹ tục của dân tộc;

- Không gắn với tên riêng của anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa, lãnh đạo và nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các chức sắc tổ chức tôn giáo, tín ngưỡng, các sáng lập viên thành lập quỹ, thành viên Hội đồng quản lý quỹ và người có quan hệ gia đình với sáng lập viên, thành viên Hội đồng quản lý quỹ;

- Không gây hiểu nhầm, dẫn đến mâu thuẫn, nguy cơ xung đột quan điểm, lợi ích giữa các tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo, cộng đồng các dân tộc tại Việt Nam.

Đồng thời, không trái với quy định tại các điều ước, thỏa thuận, hiệp định, công ước quốc tế mà Việt Nam tham gia hoặc là thành viên; không ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia của Việt Nam.

Quy định mới về điều kiện đặt tên quỹ từ thiện từ 10/12/2024
Quy định mới về điều kiện đặt tên quỹ từ thiện từ 10/12/2024 (Ảnh minh họa)
Theo quy định hiện hành thì điều kiện khi đặt tên của quỹ xã hội, quỹ từ thiện được thực hiện theo khoản 2 Điều 7 Nghị định 93/2019/NĐ-CP. Theo đó:
  • - Không trùng lắp hoặc gây nhầm lẫn với tên hoặc biểu tượng của quỹ khác đã được đăng ký trước đó;
  • - Không vi phạm truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức và thuần phong mỹ tục của dân tộc;
  • - Quỹ phải có tên bằng tiếng Việt và có thể được dịch ra tiếng quốc tế theo quy định của pháp luật.

Nghị định 136/2024/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 10/12/2024.

1900 6192 để được giải đáp qua tổng đài
090 222 9061 để sử dụng dịch vụ Luật sư tư vấn (CÓ PHÍ)
Đánh giá bài viết:
Bài viết đã giải quyết được vấn đề của bạn chưa?
Rồi Chưa

Tin cùng chuyên mục

Thông tư 53/2026/TT-NHNN: AI tự động thanh toán cho khách hàng cá nhân không được vượt 100 triệu đồng/ngày

Thông tư 53/2026/TT-NHNN: AI tự động thanh toán cho khách hàng cá nhân không được vượt 100 triệu đồng/ngày

Thông tư 53/2026/TT-NHNN: AI tự động thanh toán cho khách hàng cá nhân không được vượt 100 triệu đồng/ngày

Thông tư 53/2026/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về an toàn, quản lý rủi ro và điều kiện triển khai đối với việc ứng dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo trong ngành Ngân hàng được ban hành ngày 30/9/2026.

Doanh nghiệp trong khu thương mại tự do được xét ưu tiên hải quan không theo điều kiện kim ngạch xuất nhập khẩu

Doanh nghiệp trong khu thương mại tự do được xét ưu tiên hải quan không theo điều kiện kim ngạch xuất nhập khẩu

Doanh nghiệp trong khu thương mại tự do được xét ưu tiên hải quan không theo điều kiện kim ngạch xuất nhập khẩu

Đây là một trong những chính sách nêu tại Nghị định 378/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phát triển đô thị ban hành và hiệu lực ngày 01/10/2026.

Tiêu chí xác định hệ thống AI có rủi ro cao trong lĩnh vực ngân hàng từ 15/11/2026

Tiêu chí xác định hệ thống AI có rủi ro cao trong lĩnh vực ngân hàng từ 15/11/2026

Tiêu chí xác định hệ thống AI có rủi ro cao trong lĩnh vực ngân hàng từ 15/11/2026

Từ ngày 15/11/2026, việc phân loại hệ thống trí tuệ nhân tạo (AI) trong lĩnh vực ngân hàng được thực hiện theo mức độ rủi ro cao, trung bình và thấp. Trong đó, Thông tư 53/2026/TT-NHNN quy định cụ thể các tiêu chí để xác định hệ thống AI có rủi ro cao trong một số hoạt động ngân hàng.

Cá nhân làm tiếp thị liên kết trên sàn thương mại điện tử áp dụng thuế suất thuế TNCN 5%

Cá nhân làm tiếp thị liên kết trên sàn thương mại điện tử áp dụng thuế suất thuế TNCN 5%

Cá nhân làm tiếp thị liên kết trên sàn thương mại điện tử áp dụng thuế suất thuế TNCN 5%

Nội dung được Cục Thuế hướng dẫn tại Công văn 7403/CT-TMĐT của Cục Thuế về nghĩa vụ thuế đối với cá nhân cung cấp sản phẩm và dịch vụ nội dung thông tin số và tiếp thị liên kết trong thương mại điện tử