- Tổng quan
- Nội dung
- Tiêu chuẩn liên quan
- Lược đồ
- Tải về
Tiêu chuẩn TCVN I-1:2017/SĐ3:2025 Bộ tiêu chuẩn quốc gia về thuốc - Phần 1: Phương pháp kiểm nghiệm thuốc
| Số hiệu: | TCVN I-1:2017/SĐ3:2025 | Loại văn bản: | Tiêu chuẩn Việt Nam |
| Cơ quan ban hành: | Bộ Khoa học và Công nghệ | Lĩnh vực: | Y tế-Sức khỏe , Thực phẩm-Dược phẩm |
| Trích yếu: | Bộ tiêu chuẩn quốc gia về thuốc - Phần 1: Phương pháp kiểm nghiệm thuốc | ||
|
Ngày ban hành:
Ngày ban hành là ngày, tháng, năm văn bản được thông qua hoặc ký ban hành.
|
20/11/2025 |
Hiệu lực:
|
Đã biết
|
| Người ký: | Đang cập nhật |
Tình trạng hiệu lực:
Cho biết trạng thái hiệu lực của văn bản đang tra cứu: Chưa áp dụng, Còn hiệu lực, Hết hiệu lực, Hết hiệu lực 1 phần; Đã sửa đổi, Đính chính hay Không còn phù hợp,...
|
Đã biết
|
TÓM TẮT TIÊU CHUẨN VIỆT NAM TCVN I-1:2017/SĐ3:2025
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải tiêu chuẩn Việt Nam TCVN I-1:2017/SĐ3:2025
TIÊU CHUẨN QUỐC GIA
SỬA ĐỔI 3:2025 TCVN I-1:2017
BỘ TIÊU CHUẨN QUỐC GIA VỀ THUỐC -
PHẦN 1: PHƯƠNG PHÁP KIỂM NGHIỆM THUỐC
Set of national standards for medicines -
Part 1: General methods for quality control of medicines
Lời nói đầu
SỬA ĐỔI 3:2025 TCVN 1-1:2017 do Hội đồng Dược điển Việt Nam biên soạn, Bộ Y tế đề nghị, Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia thẩm định, Bộ Khoa học và Công nghệ công bố.
SỬA ĐỔI 3:2025 TCVN 1-1:2017 thay thế 23 tiêu chuẩn trong bộ TCVN 1-1:2017 như sau:
1. Quy định chung
2. Phụ lục 1.1 Cao thuốc
3. Phụ lục 1.10 Thuốc đặt
4. Phụ lục 1.12 Thuốc mềm dùng trên da và niêm mạc
5. Phụ lục 1.14 Thuốc dùng tại mắt
6. Phụ lục 1.15 Thuốc dùng tại mũi
7. Phụ lục 1.16 Thuốc dùng tại tai
8. Phụ lục 1.17 Thuốc hít
9. Phụ lục 2.1 Các thuốc thử chung
10. Phụ lục 2.2 Các dung dịch chuẩn độ
11. Phụ lục 2.3 Các dung dịch đệm
12. Phụ lục 4.2 Phương pháp quang phổ hồng ngoại
13. Phụ lục 5 Các kỹ thuật tách sắc ký
14. Phụ lục 10.3 Định lượng nước
15. Phụ lục 10.12 Xác định hàm lượng ethanol
16. Phụ lục 10.13 Xác định hàm lượng methanol và propan-2-ol
17. Phụ lục 10.14 Xác định dung môi tồn dư
18. Phụ lục 11.1 Giới hạn cho phép về thể tích của các thuốc dạng lỏng
19. Phụ lục 11.2 Phép thử độ đồng đều hàm lượng
20. Phụ lục 11.3 Phép thử độ đồng đều khối lượng
21. Phụ lục 11.8 Xác định giới hạn tiểu phân
22. Phụ lục 12.2 Quy định chung về kiểm tra chất lượng dược liệu
23. Phụ lục 14 Hướng dẫn đánh giá sinh khả dụng và tương đương sinh học in vivo thuốc generic
Lời giới thiệu
Tiêu chuẩn quốc gia về thuốc là văn bản kỹ thuật về tiêu chuẩn hóa và kiểm nghiệm chất lượng thuốc.
Danh pháp, thuật ngữ trong Bộ tiêu chuẩn quốc gia về thuốc được viết theo quy định của Hội đồng Dược điển Việt Nam, Bộ Y tế. Các thuật ngữ dược phẩm được viết dựa trên nguyên tắc việt hóa tên chung quốc tế Latin (DCI Latin) một cách hợp lý nhằm giữ các ký tự cho sát với thuật ngữ quốc tế. Tên hợp chất hữu cơ được viết theo danh pháp do Hiệp hội quốc tế hóa học thuần túy và ứng dụng (I.U.P.A.C) quy định. Trong một số trường hợp cá biệt, các thuật ngữ tiếng Việt đã quen dùng đối với một số nguyên tố, hóa chất hay tên dược liệu vẫn tiếp tục sử dụng.
BỘ TIÊU CHUẨN QUỐC GIA VỀ THUỐC
PHẦN 1: PHƯƠNG PHÁP KIỂM NGHIỆM THUỐC
Set of national standards for medicines -
Part 1: General methods for quality control of medicines
1 Phạm vi áp dụng
Bộ tiêu chuẩn này quy định các phương pháp kiểm nghiệm thuốc; áp dụng để kiểm tra, đánh giá chất lượng thuốc thành phẩm, nguyên liệu làm thuốc, vắc xin và sinh phẩm y tế, dược liệu và thuốc từ dược liệu đăng ký lưu hành trong nước.
2 Tài liệu viện dẫn
Các tài liệu viện dẫn sau rất cần thiết cho việc áp dụng tiêu chuẩn này. Đối với các tài liệu viện dẫn có ghi năm công bố thì áp dụng phiên bản được nêu. Đối với các tài liệu không ghi năm công bố thì áp dụng phiên bản mới nhất, bao gồm cả sửa đổi bổ sung (nếu có).
TCVN 1-1:2017, Bộ tiêu chuẩn quốc gia về thuốc - Phần 1: Phương pháp kiểm nghiệm thuốc; gồm Quy định chung và các phụ lục như sau:
Phụ lục 1: Từ phụ lục 1.1 đến phụ lục 1.24;
Phụ lục 2: Từ phụ lục 2.1 đến phụ lục 2.5;
Phụ lục 3: Từ phụ lục 3.1 đến phụ lục 3.6;
Phụ lục 4: Từ phụ lục 4.1 đến phụ lục 4.4;
Phụ lục 5: Từ phụ lục 5.1 đến phụ lục 5.7;
Phụ lục 6: Từ phụ lục 6.1 đến phụ lục 6.11;
Phụ lục 7: Từ phụ lục 7.1 đến phụ lục 7.11;
Phụ lục 8: Từ phụ lục 8.1 đến phụ lục 8.3;
Phụ lục 9: Từ phụ lục 9.1 đến phụ lục 9.10;
Phụ lục 10: Từ phụ lục 10.1 đến phụ lục 10.19;
Phụ lục 11: Từ phụ lục 11.1 đến phụ lục 11.8;
Phụ lục 12: Từ phụ lục 12.1 đến phụ lục 12.20;
Phụ lục 13: Từ phụ lục 13.1 đến phụ lục 13.10;
Phụ lục 14;
Phụ lục 15: Từ phụ lục 15.1 đến phụ lục 15.41;
Phụ lục 16: Từ phụ lục 16.1 đến phụ lục 16.2;
Phụ lục 17: Từ phụ lục 17.1 đến phụ lục 17.8;
Phụ lục 18.
TCVN II:2012, Bộ tiêu chuẩn quốc gia về thuốc - Phần 1: Phương pháp kiểm nghiệm thuốc, gồm các phụ lục như sau: Phụ lục 1.25; phụ lục 4.5; phụ lục 6.12; phụ lục 12.21 và phụ lục 12.22.
TCVN III:2014, Bộ tiêu chuẩn quốc gia về thuốc - Phần 1: Phương pháp kiểm nghiệm thuốc, gồm các phụ lục như sau: Phụ lục 15.42 và phụ lục 15.43.
TCVN IV:2015, Bộ tiêu chuẩn quốc gia về thuốc - Phần 1: Phương pháp kiểm nghiệm thuốc, gồm phụ lục 10.20.
TCVN V:2017, Bộ tiêu chuẩn quốc gia về thuốc - Phần 1: Phương pháp kiểm nghiệm thuốc và chuyên mục, gồm các phụ lục như sau: Phụ lục 1.26; phụ lục 6.13; phụ lục 10.21; phụ lục 10:22; phụ lục 11.9; phụ lục 11.10; phụ lục 12.23; phụ lục 13.11; phụ lục 15.44; phụ lục 15.45; phụ lục 15.46 và phụ lục 15.47.
TCVN VI:2017, Bộ tiêu chuẩn quốc gia về thuốc - Phần 1: Phương pháp kiểm nghiệm thuốc và chuyên mục, gồm các phụ lục như sau: Phụ lục 1.27; phụ lục 4.6; phụ lục 4.7; phụ lục 4.8 và phụ lục 12.24. TCVN VIII:2022, Bộ tiêu chuẩn quốc gia về thuốc - Phần 1: Phụ lục 17 đồ đựng cấp 1 dùng cho chế phẩm dược; gồm các phụ lục như sau: 17.3.4; 17.9.8; 17.9.9; 17.9.10.
3 Chữ viết tắt
Tên hóa chất, thuốc thử in nghiêng kèm theo các chữ viết tắt sau đây trong ngoặc đơn biểu thị thuốc thử đó phải đạt yêu cầu quy định tại Phụ lục 2.
| Chữ viết tắt | Ý nghĩa |
| CĐ | Chuẩn độ |
| TT | Thuốc thử |
| TT1,TT2, TT3... | Thuốc thử 1, thuốc thử 2, thuốc thử 3... |
| tt/tt | Thể tích/thể tích |
PHƯƠNG PHÁP KIỂM NGHIỆM THUỐC
QUY ĐỊNH CHUNG
Các quy định chung dưới đây áp dụng cho toàn bộ các chuyên luận và các phụ lục của Dược điển Việt Nam lần xuất bản thứ sáu.
1. Dược điển Việt Nam được viết tắt là DĐVN, sau đây được viết ngắn gọn là Dược điển. Dược điển Việt Nam lần xuất bản thứ sáu được viết tắt là DĐVN VI.
2. Tiêu đề của mỗi chuyên luận (tên chuyên luận) là tên tiếng Việt của chuyên luận đó.
Chuyên luận nguyên liệu hóa dược: Tên chuyên luận có thể là danh pháp hóa học tiếng Việt của nguyên liệu đó theo quy định thuật ngữ của Dược điển. Dưới tiêu đề có thể có tên thông dụng khác.
Chuyên luận dược liệu: Tên tiếng Việt được lập bằng cách lấy tên thông dụng của cây, con kèm bộ phận dùng làm thuốc để trong dấu ngoặc đơn hoặc là tên thông dụng của vị thuốc được dùng trong y học cổ truyền. Sau tên tiếng Việt là tên Latin của dược liệu đó. Dưới các tên tiếng Việt và tên Latin có thể có tên thông dụng khác của dược liệu.
Chuyên luận cao dược liệu, dầu và tinh dầu: Tên chuyên luận là tên tiếng Việt của dạng cao và dược liệu dùng để chiết xuất ra cao, dầu, tinh dầu đó. Sau tên tiếng Việt là tên Latin của cao dược liệu, dầu, tinh dầu.
Chuyên luận thuốc cổ truyền: Tên chuyên luận là tên tiếng Việt của bài thuốc.
Chuyên luận vắc xin, huyết thanh: Tên chuyên luận là tên tiếng Việt, sau tên tiếng Việt là tên Latin của vắc xin, huyết thanh đó.
3. Mỗi chuyên luận của Dược điển Việt Nam (chuyên luận riêng hay phụ lục) là một tiêu chuẩn về chất lượng thuốc hoặc phương pháp kiểm nghiệm thuốc của Việt Nam, hay còn gọi là Tiêu chuẩn quốc gia về thuốc (TCVN).
Mỗi chuyên luận riêng đều có liên quan đến các chuyên luận chung và phụ lục. Một thuốc đáp ứng tiêu chuẩn Dược điển Việt Nam khi thuốc đáp ứng các yêu cầu trong chuyên luận riêng tương ứng đồng thời đáp ứng các quy định trong các chuyên luận chung và phụ lục có liên quan.
4. Nguyên tử lượng các nguyên tố trong Dược điển Việt Nam VI là các giá trị đã được thừa nhận ghi trong Bảng nguyên tử lượng các nguyên tố 2023 do Hiệp hội Quốc tế về Hóa học thuần túy và ứng dụng (IUPAC) công bố.
5. Các đơn vị đo lường dùng trong Dược điển Việt Nam VI đều tuân theo Luật Đo lường ban hành ngày 11/11/2011 và Nghị định của Chính phủ số 86/2012/NĐ-CP ngày 19/10/2012 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đo lường.
6. Một số đơn vị đo lường chính được viết tắt như sau:
| Mét: m | Giờ: h |
| Decimét: dm | Phút: min |
| Centimét: cm | Giây: s |
| Milimét: mm | Pascan: Pa |
| Micrômét: μm | KilôPascan: kPa |
| Nanômét: nm | Pascan giây: Pa.S |
| Lít: l hoặc L | Milimét thủy ngân: mmHg |
| Mililít: ml hoặc mL | Ampe: A |
| Micrôlít: μl hoặc μL | Miliampe: mA |
| Kilôgam: kg | Vôn: V |
| Gam: g | Milivôn: mV |
| Centigam: cg | Mol: mol |
| Miligam: mg | Milimol: mmol |
| Micrôgam: μg | Đương lượng: Eq |
| Nanôgam: ng | Mili đương lượng: mEq |
| Độ Celsius: °C | Mol trên lít: mol/l, Mol/L, M Becơren: Bq |
7. Nếu không có chỉ dẫn khác, mọi nhiệt độ được ghi trong Dược điển Việt Nam VI đều được biểu thị bằng độ bách phân Celsius, ký hiệu là "°C".
8. Nhiệt độ tiêu chuẩn được quy định là 20 °C, nhiệt độ bình thường của phòng thí nghiệm (nhiệt độ phòng) được quy định là 15 °C đến 30 °C. Nếu không có chỉ dẫn gì khác, tất cả thử nghiệm đối với thuốc phải thực hiện ở nhiệt độ phòng (15 °C đến 30 °C) và những nhận xét kết quả phải thực hiện ngay sau khi thao tác. Tuy nhiên khi đánh giá kết quả một thử nghiệm bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ thì phải thực hiện ở điều kiện nhiệt độ tiêu chuẩn (20 °C).
9. Nhiệt độ nước: Nước cách thủy là nước có nhiệt độ 98 °C đến 100 °C, trừ khi có chỉ dẫn khác; cụm từ “trong cách thủy" có nghĩa là dụng cụ ngâm trong nước đun sôi, "trên cách thủy" có nghĩa là dụng cụ chỉ tiếp xúc với hơi nước đun sôi.
Nước nóng: 70 °C đến 80 °C.
Nước ấm: 40 °C đến 50 °C.
Nước lạnh: 2 °C đến 10 °C.
Nước đá: 0 °C.
10. Nhiệt độ nơi bảo quản:
Đông lạnh: Dưới -10 °C.
Trong tủ lạnh: 2 °C đến 8 °C.
Mát: 8 °C đến 15 °C.
Nhiệt độ phòng có điều nhiệt: 20 °C đến 25 °C (là nhiệt độ được duy trì bằng máy điều hòa nhiệt độ). Nhiệt độ phòng: 15 °C đến 30 °C (là nhiệt độ thường hay nhiệt độ phổ biến ở nơi làm việc).
Ấm: 35 °C đến 40 °C.
Nóng: Trên 40 °C.
11. Áp suất được biểu thị bằng số đơn vị kilôPascan (kPa).
1 kPa = 7,5006 Torr.
1 Torr là áp suất dưới cột thủy ngân 1 mm.
Nếu ghi "chân không" mà không có chỉ dẫn gì khác thì có nghĩa là áp suất từ 1,5 kPa đến 2,5 kPa.
12. Khái niệm “cân chính xác" là cân tới 0,1 mg, 0,01 mg hoặc 0,001 mg tùy theo độ nhạy của loại cân phân tích dùng để cân sao cho sai số của phép cân không quá 0,1%.
Lượng cân được cần có độ đúng phù hợp theo mức độ chính xác đã được quy định. Độ chính xác đó tương ứng với cộng hoặc trừ 5 đơn vị sau chữ số cuối cùng (ví dụ: cân 0,25 g được hiểu là cân lượng trong khoảng từ 0,245 g đến 0,255 g).
13. Khái niệm “cân khoảng” là cân để lấy một lượng không quá ± 10 % lượng chỉ định trong phép thử. Khái niệm “sấy đến khối lượng không đổi” và “nung đến khối lượng không đổi” nghĩa là hai lần cân liên tiếp không khác nhau quá 0,5 mg. Lần cân thứ hai tiến hành sau một thời gian sấy hoặc nung thêm (thường 1 h là thích hợp) tùy theo tính chất và lượng cân.
Khái niệm “đã cân trước” (đối với chén nung, bình, vại...) nghĩa là dụng cụ được xử lý đến khối lượng không đổi. Nếu trong chuyên luận có quy định phải cân một cắn hay một tủa (sấy khô, nung, đun bốc hơi) trong những dụng cụ thì có nghĩa là những dụng cụ này được sấy hoặc nung đến khối lượng không đổi.
Khái niệm “cắn không đáng kể” hay “cắn không thể cân được” là cắn không nặng quá 0,5 mg.
14. Khi đo thể tích, nếu chữ số sau dấu thập phân là 0 hoặc tận cùng bằng 0 thì thể tích đó phải đong, đo chính xác (ví dụ 10,0 ml hoặc 0,50 ml). Khái niệm “đong, đo chính xác” để lấy một thể tích dung dịch hay chất lỏng là phải đong đo bằng pipet, bình định mức hay buret chuẩn. Còn “đong, đo” được hiểu là dùng ống đong hoặc những phương tiện khác thích hợp để đo thể tích. Những thể tích cỡ micrôlít được đo bằng micrô pipet hay micrô xi lanh.
Để đếm giọt, dùng ống đếm giọt chuẩn, 20 giọt nước tinh khiết của ống này ở 20 °C có khối lượng từ 0,90 g đen 1,10 g.
15. "Nước" có nghĩa là nước tinh khiết. Nước tinh khiết được sử dụng trong tất cả các thử nghiệm.
16. Một dung dịch, nếu không ghi rõ dung môi sử dụng thì được hiểu là dung dịch trong nước tinh khiết hay nước cất.
17. Khái niệm "ngay" và "ngay lập tức" dùng trong thử nghiệm thuốc có nghĩa là thao tác này phải thực hiện trong vòng 30 s sau thao tác trước đó.
18. Thử định tính là phép thử để nhận biết một thuốc hay những thành phần chính của thuốc dựa trên tính chất vật lý, hóa học hay sinh học đặc trưng.
Các phép thử đưa ra trong mục Định tính không nhằm mục đích xác nhận đầy đủ về cấu trúc hóa học hay thành phần của thuốc mà chỉ nhằm mục đích xác định, ở một mức độ đảm bảo chấp nhận được, rằng sản phẩm đúng như mô tả trên nhãn.
Một số chuyên luận có thể đưa ra hai nhóm định tính: Nhóm I và Nhóm II. Có thể chọn một trong hai nhóm, tuy nhiên Nhóm I có độ tin cậy cao hơn và có thể áp dụng trong tất cả các trường hợp; Nhóm II chỉ có thể áp dụng trong trường hợp chế phẩm đáp ứng tất cả các yêu cầu khác của chuyên luận.
Yêu cầu về phép thử định tính đối với dược liệu, cao dược liệu và thuốc cổ truyền được nêu tại Phụ lục 12.2 Quy định chung về kiểm tra chất lượng dược liệu.
19. Dược điển cung cấp phổ hấp thụ hồng ngoại của một số dược chất và tá dược tại phần Phổ hấp thụ hồng ngoại, nhằm sử dụng làm phổ đối chiếu cho phép thử định tính bằng hồng ngoại. Phổ của mẫu thử được coi là tương đồng với phổ đối chiếu khi có các cực tiểu truyền qua (cực đại hấp thụ) tại các dải phổ chính tương ứng về vị trí, độ lớn tương đối và hình dạng như trên phổ đối chiếu. Có thể sử dụng phần mềm kết nối với thiết bị đo để tính hệ số tương đồng của phổ mẫu thử với phổ đối chiếu.
Đối với mẫu chiết từ chế phẩm thuốc, phổ hồng ngoại thu được khó có thể có sự tương đồng chặt chẽ với phổ đối chiếu, tuy nhiên phải có được sự tương đồng gần giống giữa hai phổ này.
20. Thử tinh khiết hay kiểm tra tạp chất là tập hợp các phép thử nhằm phát hiện những tạp chất hay tạp nhiễm trong thuốc đồng thời đưa ra các giới hạn, chủng loại và lượng tạp chất có trong thuốc.
Các loại tạp chất thường gặp trong thuốc gồm có: tạp chất hữu cơ, tạp chất vô cơ và dung môi tồn dư. Các tạp chất hữu cơ có thể phát sinh trong quá trình sản xuất, bảo quản thuốc như: tạp chất từ nguyên liệu, sản phẩm phụ, sản phẩm trung gian, sản phẩm phân hủy, thuốc thử...Tạp chất vô cơ thường xuất hiện trong quy trình sản xuất, có nguồn gốc từ thuốc thử, chất xúc tác, các tạp nguyên tố, muối vô cơ và các vật liệu khác (vd: vật liệu lọc)...
21. Giới hạn tạp chất có thể được biểu thị bằng nồng độ phần trăm hoặc phần triệu theo khối lượng. Phép thử sắc ký thường dùng nồng độ phần trăm, các phép thử khác thường dùng nồng độ phần triệu nhưng khi giới hạn vượt quá 500 phần triệu thì được biểu thị bằng phần trăm.
22. Các chỉ số vật lý như tỷ trọng tương đối, khoảng chưng cất, điểm nóng chảy, điểm đông đặc, góc quay cực riêng, chỉ số khúc xạ, độ nhớt, chỉ số iod, chỉ số add, chỉ số xà phòng hóa...ngoài tính chất đặc trưng cho chế phẩm thuốc còn phản ánh độ tinh khiết của thuốc.
23. Thuật ngữ thường sử dụng trong phép thử tạp chất bằng phương pháp sắc ký:
Tạp định danh (Identified impurity): là tạp chất có cấu trúc hóa học đã được xác định rõ.
Tạp chưa định danh (unidentified impurity): là tạp chất chưa rõ cấu trúc và chỉ được xác định bằng phân tích định tính (ví dụ thời gian lưu).
Tạp xác định (specified impurity): là tạp chất được liệt kê riêng và có tiêu chí giới hạn cụ thể trong chuyên luận. Tạp xác định có thể là tạp định danh hoặc tạp chưa định danh.
Tạp không xác định (unspecified impurity): hay còn gọi là tạp bất kỳ hay tạp đơn, là tạp chất không được liệt kê riêng và không có giới hạn riêng, chỉ có giới hạn chung cho các tạp chất này.
Ngưỡng báo cáo: là giới hạn mà trên giới hạn này tạp chất phải được báo cáo.
24. Định lượng là phép thử nhằm xác định thành phần, hàm lượng hoặc hoạt tính của dược chất trong chế phẩm bằng các phương pháp vật lý, hóa học hay sinh học.
25. Đối với các kháng sinh được định lượng bằng phương pháp vi sinh vật thì hoạt lực kháng sinh được tính theo đơn vị quốc tế (IU - International Units) theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới.
26. Việc sử dụng các chất chuẩn hoặc chất đối chiếu cho các phép thử mô tả trong DĐVN tuân theo các quy định tại Phụ lục 2.5. Có thể dùng chất đối chiếu thứ cấp hay chuẩn làm việc khi kiểm tra mẫu thông thường nhưng phải đảm bảo chất chuẩn/đối chiếu đó được chuẩn hóa bởi chất đối chiếu chính thức được quy định.
Trong một số trường hợp, phép thử có nêu tên thương mại của nguyên vật liệu dùng cho phép thử (như hóa chất, thuốc thử, chất đối chiếu, thiết bị...), điều này chỉ mang tính chất thông tin, không phải là quy định phải tuân thủ.
27. Trong thử nghiệm, nếu phép thử quy định mẫu thử phải so sánh với mẫu trắng thì phải chuẩn bị mẫu trắng như mẫu thử nhưng không cho chất cần thử và phải tiến hành song song cùng điều kiện như mẫu thử. Cũng tương tự như vậy khi thử nghiệm được yêu cầu tiến hành song song với mẫu đối chiếu.
28. Nguyên tắc làm tròn kết quả các phép thử có giới hạn bằng số: Kết quả quan sát được hoặc sau khi tính toán có thể cần phải làm tròn để phù hợp với yêu cầu giới hạn đã đưa ra (làm tròn đến chữ số có nghĩa đã nêu). Các giới hạn bằng số, có thể là phần trăm hay con số tuyệt đối, được coi là có nghĩa tính đến chữ số cuối cùng được hiển thị. Khi làm tròn đến chữ số có nghĩa cuối cùng, số đó được tăng lên 1 đơn vị khi chữ số ngay sau nó bằng hoặc lớn hơn 5; số đó giữ nguyên khi chữ số ngay sau nó nhỏ hơn 5.
Ví dụ: Giới hạn tạp ≤ 3 ppm, kết quả 3,5 ppm được làm tròn thành 4 ppm → kết luận không đạt; kết quả 3,4 ppm được làm tròn thành 3 ppm → kết luận đạt.
Giới hạn định lượng ≥ 98,0 %, kết quả 97,96 làm tròn thành 98,0 % → kết luận đạt; kết quả 97,92 % làm tròn thành 97,9 % → kết luận không đạt.
Chỉ làm tròn số liệu khi tính kết quả cuối cùng để đưa ra báo cáo/kết luận. Các phép tính trung gian, ví dụ tính độ dốc đường tuyến tính, có thể được làm tròn để báo cáo nhưng số liệu gốc phải được giữ nguyên nếu có yêu cầu tính toán bổ sung.
29. Hàm lượng tiêu chuẩn: Hàm lượng tiêu chuẩn của một chất quy định trong một chuyên luận được thể hiện tính theo công thức hóa học có thể có giới hạn trên 100 % của chất đó, giới hạn trên này áp dụng với kết quả định lượng tính theo hàm lượng tương đương của công thức hóa học chất đó quy định. Ví dụ: Ghi giới hạn hàm lượng từ 98,5 % đến 102,0 % C12H22CaO14.H2O nghĩa là kết quả định lượng không được ít hơn 98,5 % và không nhiều hơn 102,0 % tính theo hàm lượng tương đương của C12H22CaO14.H2O.
Nếu trong chuyên luận riêng không ghi giới hạn trên thì có nghĩa là giới hạn trên không quá 101,0 %.
30. Trong các phép thử có quy định giới hạn bằng con số tính toán (ví dụ hàm lượng phần trăm), nếu không có quy định khác thì các kết quả được tính trên nguyên trạng.
Nếu giới hạn hàm lượng có yêu cầu tính theo chất khan, đã làm khô, đã nung hay không có dung môi thì phải tiến hành các phép thử Định lượng nước, Mất khối lượng do làm khô, Mất khối lượng do nung hay Dung môi tồn dư tương ứng trong chuyên luận để lấy kết quả tính.
31. Cách biểu thị hàm lượng phần trăm (%) của một chất được hiểu, tùy từng trường hợp cụ thể, có thể là một trong hai cách sau:
Phần trăm theo khối lượng (kl/kl) biểu thị số gam chất đó trong 100 g chế phẩm.
Phần trăm theo thể tích (tt/tt) biểu thị số mililít chất đó trong 100 ml chế phẩm.
Nếu không có chỉ dẫn khác, hàm lượng phần triệu (ppm) được hiểu là tính theo khối lượng (kl/kl).
32. Trong các chuyên luận, ở mục mô tả hoặc tính chất, thuật ngữ "trắng" có nghĩa là trắng hoặc gần như trắng; "không màu" có nghĩa là không có màu hoặc gần như không màu; "không mùi" có nghĩa là không có mùi hoặc thực tế không có mùi. Trừ khi có các chỉ dẫn khác, cách thử màu sắc hoặc mùi được tiến hành như sau:
a) Màu:
Chất rắn: Lấy 1 g chất thử cho lên trên một tờ giấy trắng hoặc mặt kính đồng hồ không màu đặt lên trên tờ giấy trắng rồi quan sát.
Chất lỏng: Cho chất thử vào trong một ống nghiệm không màu, đường kính bên trong 15 mm, đặt trước một nền trắng cách ống 30 mm, nhìn ngang ống dưới ánh sáng ban ngày.
b) Mùi:
Chất rắn: Trên một mặt kính đồng hồ, đường kính từ 6 cm đến 8 cm, lấy từ 0,5 g đến 2,0 g chất thử trải thành lớp mỏng, sau 15 min, xác định mùi bằng cảm quan.
Chất lỏng: Lấy 2 ml chất thử cho vào mặt kính đồng hồ như trên rồi xác định mùi bằng cảm quan.
33. Cách biểu thị nồng độ phần trăm (%) của dung dịch, tùy theo từng trường hợp, có thể được dùng theo 1 trong 4 cách sau đây:
Phần trăm khối lượng trên khối lượng (% kl/kl) biểu thị số gam chất tan trong 100 g dung dịch.
Phần trăm khối lượng trên thể tích (% kl/tt) biểu thị số gam chất tan trong 100 ml dung dịch.
Phần trăm thể tích trên thể tích (% tt/tt) biểu thị số mililít chất tan trong 100 ml dung dịch.
Phần trăm thể tích trên khối lượng biểu thị số mililít chất tan trong 100 g dung dịch.
Nếu không có chỉ dẫn khác, dung dịch chất rắn trong chất lỏng được biểu thị theo phần trăm khối lượng trên thể tích (% kl/tt), dung dịch chất lỏng trong chất lỏng được biểu thị theo phần trăm thể tích trên thể tích (% tt/tt) và dung dịch chất khí trong chất lỏng được biểu thị theo phần trăm khối lượng trên khối lượng (% kl/kl).
Ví dụ: Dung dịch natri clorid 10 % là dung dịch trong nước có chứa 10 g natri clorid (NaCl) trong 100 ml; Ethanol 70 % là dung dịch ethanol trong nước chứa 70 ml ethanol (C2H6O) trong 100 ml.
34. Ethanol không có chỉ dẫn khác thì có nghĩa là ethanol tuyệt đối.
Khái niệm "alcol" không có chỉ dẫn khác có nghĩa là ethanol 96 % (tt/tt).
35. Ether có nghĩa là ether ethylic.
Các ether dầu hỏa: Khi viết kèm thông số về nhiệt độ thì giới hạn này được hiểu là khoảng sôi. Ví dụ: Ether dầu hỏa (30 °C đến 40 °C) nghĩa là ether dầu hỏa có khoảng sôi từ 30 °C đến 40 °C.
36. Trong chuyên luận, tên các hóa chất, thuốc thử, dung dịch thử, chất chỉ thị, dung dịch chuẩn độ, dung dịch mẫu, dung dịch đệm được trình bày bằng chữ nghiêng và có chữ (TT) nếu có trong Phụ lục 2.1. Các thuốc thử chung; 2.3. Các dung dịch đệm và 2.4. Các dung dịch mẫu hoặc có chữ (CĐ) nếu có trong Phụ lục 2.2. Các dung dịch chuẩn độ.
37. Hỗn hợp của các chất lỏng được ghi theo ký hiệu 10:1, hoặc 50 : 9 :1, v.v... có nghĩa là hỗn hợp các chất đó thứ tự theo thể tích. Thí dụ: clorotorm - methanol - amoniac (50 : 9 : 1) có nghĩa là lấy lần lượt 50 ml cloroform trộn đều với 9 ml methanol và 1 ml amoniac thành một hỗn hợp. Trong chuyên luận, tên các chất lỏng trong hỗn hợp được in nghiêng và không có chữ (TT) đi kèm sau.
38. Các chất chỉ thị mà màu chuyển trong khoảng pH tương đối giống nhau có thể thay thế cho nhau, nhưng khi có nghi ngờ hoặc tranh cãi về mức độ tương đương của chỉ thị thì phải dùng chỉ thị được chỉ ra trong phép thử.
Với phép định lượng hoặc phép thử chuẩn độ bằng phương pháp acid base, lượng dung dịch chỉ thị phù hợp là 0,1 ml, nếu không có chỉ dẫn khác.
Dung môi dùng trong các phép định lượng hoặc phép thử có dùng đến chỉ thị cần được trung hòa trước với chỉ thị đó, trừ khi có sử dụng mẫu trắng.
39. Một chất được coi là hòa tan hay hòa trộn được trong một dung môi có nghĩa là chất đó hòa tan hoặc trộn với một tỷ lệ nhất định dung môi tạo thành dung dịch hoặc hỗn hợp trong, đồng nhất, không còn những phần tử của chất thử.
Độ tan của một chất thường được nêu trong mục Tính chất, nhằm mục đích cung cấp thông tin về tính chất tan. Các thuật ngữ sử dụng để miêu tả độ tan được chỉ ra trong bảng dưới đây. Nếu không có chỉ dẫn khác, độ tan được hiểu là mức độ hòa tan của chất đó (đã được tán nhỏ thành bột nếu là chất rắn) trong một dung môi ở 20 °C ± 5 °C, trong 30 min, cứ cách 5 min lại lắc mạnh 30 s.
| Độ tan | Thể tích dung môi (ml) cần để hòa tan 1 g hoặc 1 ml chất thử |
| Rất tan Dễ tan Tan Hơi tan Khó tan Rất khó tan Thực tế không tan, không tan | Dưới 1 Từ 1 đến 10 Từ 10 đến 30 Từ 30 đến 100 Từ 100 đến 1000 Từ 1000 đến 10000 Trên 10000 |
40. Độ acid hay độ kiềm của dung dịch, nếu không có chỉ dẫn gì khác, được xác định bằng giấy quỳ. Muốn xác định những tính chất này chính xác hơn thì phải đo pH bằng máy đo pH.
41. Bình hút ẩm: Cụm từ "trong bình hút ẩm" có nghĩa là dùng một bình kín có kích thước thích hợp, bên trong chứa silica gel hoặc một chất làm khô khác để giữ cho không khí trong bình có độ ẩm thấp. Bình hút ẩm chân không: Là bình hút ẩm chứa một chất làm khô thích hợp và có áp suất không quá 2,5 kPa, nếu không có chỉ dẫn khác.
42. Những yêu cầu cơ bản về bảo quản thuốc được ghi ở mục "Bảo quản". Thuốc cần được bảo quản trong điều kiện ngăn ngừa nhiễm tạp từ môi trường và giảm thiểu tối đa sự phân hủy thuốc. Điều kiện bảo quản thông thường là trong đồ đựng kín và ở nhiệt độ phòng. Khi có khuyến cáo đặc biệt về bảo quản, bao gồm cả về đồ đựng hoặc giới hạn nhiệt độ, yêu cầu này được ghi rõ trong chuyên luận riêng.
Bảo quản tránh ẩm có nghĩa là bảo quản trong đồ đựng kín hoàn toàn (Phụ lục 17).
Bảo quản tránh ánh sáng là bảo quản trong các điều kiện sau: trong đồ đựng tối màu (đồ đựng hấp thụ ánh sáng); đồ đựng có vỏ bọc ngăn ánh sáng; để ở nơi không có ánh sáng tác động đến thuốc.
Điều kiện nhiệt độ phòng: từ 15 °C đến 30 °C (là nhiệt độ phổ biến ở nơi làm việc). Các điều kiện nhiệt độ khác xem tại mục 10 của Quy định chung này.
Yêu cầu về đồ đựng được quy định tại Phụ lục 17. Đồ đựng cấp 1 dùng cho chế phẩm dược.
43. Thuật ngữ “Dược liệu” đề cập đến trong Dược điển bao gồm:
Dược liệu thô: Bộ phận dùng làm thuốc của cây hay con, được lưu hành trên thị trường. Việc thu thập xử lý dược liệu tại chỗ chỉ bao hàm riêng bộ phận dùng. Phần mô tả dược liệu cũng chỉ đề cập đến bộ phận dùng làm thuốc, không mô tả toàn bộ con vật hay toàn bộ cây cung cấp dược liệu đó.
Vị thuốc: Dược liệu thô thái phiến, phơi khô hoặc dược liệu thô được rửa sạch, ủ mềm, thái phiến, phơi khô (dược liệu sơ chế) và vị thuốc cổ truyền. Đây là dạng thuốc có thể sử dụng trực tiếp trong y học cổ truyền hoặc sản xuất các chế phẩm thuốc cổ truyền.
Dầu thực vật, Tinh dầu: Đề cập đến các thành phần, nhóm thành phần hoạt chất trong dược liệu được sử dụng làm thuốc, thu được từ thực vật.
Khoáng chất: Các chất khoáng đạt tiêu chuẩn dùng làm thuốc.
44. Thuật ngữ “Cao dược liệu” hay “Cao thuốc” xem Phụ lục 1.1.
45. Một chuyên luận dược liệu, thuốc cổ truyền, cao dược liệu có thể có các mục sau: (1) Tên chuyên luận (Tiêu đề); (2) Nguồn gốc; (3) Công thức thành phần; (4) Bào chế; (5) Mô tả, vi phẫu, bột; (6) Nhận dạng/định tính; (7) Các phép thử (độ ẩm, tro, tạp chất...); (8) Chất chiết được; (9) sắc ký đồ đặc trưng hoặc dấu vân tay; (10) Định lượng hoạt chất hoặc chất đánh dấu; (11) Chế biến; (12) Tính vị và quy kinh; (13) Công năng và chủ trị; (14) Cách dùng và liều lượng; (15) Kiêng kỵ (16) Dạng dùng; (17) Ghi chú.
46. Tên các chuyên luận dược liệu là tên tiếng Việt (xem mục 2). Tên chuyên luận vị thuốc là tên dược liệu kèm theo dạng chế biến, ví dụ: Đương quy thái phiến, Đương quy tẩm rượu...) hoặc tên dược liệu kèm theo câu “đã chế biến”, ví dụ: Hà thủ ô đỏ đã chế biến.
47. Vị thuốc có thể được trình bày thành một chuyên luận riêng hoặc được quy định trong phần Chế biến của dược liệu thô tương ứng. Trong chuyên luận vị thuốc, với các chỉ tiêu chất lượng giống dược liệu thô thì chỉ cần ghi tên chỉ tiêu và câu chỉ dẫn sang chuyên luận dược liệu thô tương ứng; với những nội dung, yêu cầu chất lượng khác với dược liệu thô thì ghi cụ thể giới hạn chỉ tiêu và phương pháp thử. Sự sắp xếp trên nhằm giảm độ dài của chuyên luận riêng trong dược điển, nhưng chuyên luận của dược liệu và vị thuốc vẫn phải được coi là chuyên luận độc lập.
48. Tên vị thuốc có thể trùng với tên dược liệu và có cùng tiêu chuẩn với dược liệu đó, ví dụ: Thỏ ty tử.
49. Nguồn gốc dược liệu, bao gồm các thông tin về bộ phận dùng, tên Latinh và họ của cây thuốc, động vật làm thuốc, trạng thái của dược liệu; mùa thu hoạch, cách thu hoạch và xử lý ban đầu để thu được dược liệu. Một dược liệu có thể có có nhiều nguồn gốc khác nhau cần được mô tả riêng rẽ theo các đặc tính phân biệt. Ưu tiên tập trung mô tả chi tiết những loài chính và bổ sung thêm những khác biệt của các loài còn lại.
50. Tiêu chuẩn chất lượng đối với dược liệu thô và vị thuốc thường được xây dựng dựa trên sản phẩm khô. Tiêu chuẩn chất lượng của dược liệu tươi cũng được quy định nếu đem dùng tươi.
51. Khái niệm “Dược liệu khô kiệt” là dược liệu được điều chỉnh khối lượng bằng cách trừ đi khối lượng nước được xác định bằng phương pháp sấy hoặc cất với dung môi ghi trong chuyên luận riêng.
52. Các giới hạn hàm lượng phần trăm (%) của một chất trong các chuyên luận dược liệu và thuốc cổ truyền, nếu không có chỉ dẫn khác, được hiểu là tính theo khối lượng
53. Các phương pháp làm khô trong xử lý dược liệu tại nơi thu hoạch và trong chế biến dược liệu được mô tả như sau:
“Làm khô" bao gồm các phương pháp sấy, phơi dưới ánh sáng mặt trời, hoặc phơi âm can.
“Làm khô ở nhiệt độ thấp” là phơi khô hoặc sấy khô ở nhiệt độ không quá 60 °C.
“Phơi khô" là phơi khô dưới ánh nắng mặt trời.
“Phơi âm can” là phơi trong bóng râm, ngoài không khí. Dùng cho các dược liệu không thích hợp với cách sấy và phơi dưới ánh nắng mặt trời.
“Phơi khô dưới nắng to” hoặc “phơi trong thời gian ngắn” là những yêu cầu làm khô trong một khoảng thời gian ngắn đối với một số dược liệu.
“Sấy khô” là" sấy trong tủ sấy ở nhiệt độ thích hợp. Nếu sử dụng phương pháp sấy đặc biệt, cần chỉ rõ phương pháp đó trong chuyên luận riêng.
54. Mục Bào chế trong chuyên luận chế phẩm thuốc cổ truyền không tương đương với quy trình sản xuất. Mục này chủ yếu ghi lại các bước chính và các thông số kỹ thuật cần thiết trong quy trình. Thường là tên dung môi chiết và các bước như chiết, tách, cô đặc, sấy khô và làm rõ các điều kiện cần thiết.
55. Nước dùng dùng trong bào chế dược liệu, thuốc cổ truyền là nước sạch, nước uống đạt theo tiêu chuẩn vệ sinh y tế.
56. Nội dung các mục Mô tả, Định tính và Định lượng được đề cập chi tiết tại Phụ lục 12.2 Quy định chung về kiểm tra chất lượng dược liệu.
57. Các nội dung trong mục Tính vị và Quy kinh là bản tóm tắt các đặc tính của thuốc dựa trên lý thuyết và kinh nghiệm của y học cổ truyền. Trong đó, thuật ngữ như "rất độc", "độc" và "hơi độc" được sử dụng theo ghi chép về dược liệu của các y văn trước đây. Nội dung này được sử dụng làm tài liệu tham khảo cảnh báo cho sử dụng thuốc trên lâm sàng.
58. Các nội dung trong mục Công năng và Chủ trị thường dựa trên lý thuyết về y học cổ truyền hoặc y học dân tộc và kinh nghiệm sử dụng thuốc trên lâm sàng đối với vị thuốc và chế phẩm thuốc cổ truyền. Nội dung này có ý nghĩa như một hướng dẫn cho sử dụng thuốc trên lâm sàng, không mang tính bắt buộc.
59. Mục Cách dùng và Liều lượng, khi được ghi là “dạng thuốc sắc” nếu không có chỉ dẫn khác, là thuốc được dùng bằng cách sắc (Phụ lục 1.23) và dùng theo đường uống. Liều dùng đề cập đến là liều hàng ngày cho người lớn, có thể dùng liều theo chỉ dẫn của bác sĩ khi cần thiết.
60. Mục Kiêng kỵ hoặc Lưu ý đề cập đến các chống chỉ định chính và phản ứng bất lợi xảy ra khi dùng thuốc, không bao gồm các các tác dụng phụ thường gặp khi dùng thuốc theo kinh nghiệm của các thầy thuốc y học cổ truyền.
61. Mục Bảo quản trong chuyên luận dược liệu, cao dược liệu và thuốc cổ truyền, khi không có bất kỳ yêu cầu cụ thể nào tức là thuốc phải được để ở nơi khô ráo và sạch sẽ và bảo quản ở nhiệt độ thường (15 °C đến 30 °C).
62. Các thành phần nguyên liệu và tá dược được ghi trong công thức chế phẩm thuốc cổ truyền phải tuân thủ các quy định của Dược điển; các nguyên liệu và tá dược không có trong Dược điển thì phải tuân theo các quy định hiện hành của Bộ Y tế.
63. Các thành phần nguyên liệu trong công thức thuốc cổ truyền là các vị thuốc cần được chế biến như sao, hấp, luộc,... hoặc chế biến bằng cách thêm các nguyên liệu phụ thì ghi tên sản phẩm đã chế biến trong đơn thuốc hoặc ghi và hướng dẫn cách chế biến trong mục Bào chế] của chuyên luận thuốc cổ truyền; Nếu thuốc có hai phương pháp chế biến trở lên thì cần ghi rõ phương pháp chế sau tên dược liệu thô. Một số dược liệu có độc tính cao phải được chỉ rõ là để sử dụng ở dạng thô hay dạng đã chế biến để tranh nhầm lẫn.
64. Trừ khi có quy định khác, tất cả các vị thuốc trong các công thức thuốc cổ truyền phải được chế biến theo các phương pháp tương ứng được quy định trong Dược điển. Lượng thuốc thành phần trong công thức chế phẩm thuốc cổ truyền là lượng thuốc sau khi cắt, nghiền, nghiền thành bột hoặc chế biến như được quy định tại Phụ lục 12.20 Phương pháp chế biến đông dược.
KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT
| DĐVN VI | Dược điển việt Nam lần xuất bản thứ sáu |
| TCVN | Tiêu chuẩn quốc gia về thuốc |
| P.t.l | Phân tử lượng |
| TT | Thuốc thử |
| ĐC | Chất đối chiếu |
| CĐ | Chuẩn độ |
| SD | Độ lệch chuẩn (Standard Deviation) |
| RSD | Độ lệch chuẩn tương đối (Relative Standard Devlation) |
| ppm | Phần triệu (parts-per-million) |
| ppb | Phần tỷ (parts-per-billion) |
| g | Gia tốc trọng trường (biểu thị tốc độ ly tâm) |
| r/min hoặc rpm | Vòng/phút |
| IU hoặc đvqt | Đơn vị quốc tế (International Unit) |
| EU | Đơn vị nội độc tố (Endotoxin Unit) |
| Nước BET | Nước để thử nội độc tố |
| NMSL | Nước muối sinh lý |
| BCG | Bacillus Calmette - Guérin |
| CFU | Đơn vị hình thành khuẩn lạc |
| Lf/mg PN | Đơn vị lên bông trong 1 mg nitrogen protein |
| Lf/mg N | Đơn vị lên bông trong 1 mg nitrogen toàn phần |
| Kf | Thời gian xuất hiện hiện tượng lên bông (tính theo phút) khi được theo dõi trong phản ứng lên bông. |
| Lf | Lượng độc tố hoặc giải độc tố khi trộn với 1 IU kháng độc tố sẽ xuất hiện lên bông trong thời gian ngắn nhất. |
| L+ | Lượng độc tố tối thiểu khi kết hợp với 1 IU kháng độc tố có thể giết chết một động vật thí nghiệm có trọng lượng xác định trong 4 ngày (Liều L+ phụ thuộc vào từng loại động vật thí nghiệm). |
| L+/10 | Lượng độc tố tối thiểu khi kết hợp với 0,1 l.U kháng độc tố có thể giết một động vật thí nghiệm có trọng lượng xác định trong 4 ngày |
| Lr | Lượng độc tố tối thiểu khi kết hợp với một lượng kháng độc tố cố định (thường là 0,002 l.U kháng độc tố) trong thể tích 0,2 ml sẽ gây phản ứng da tại chỗ có thể nhìn thấy được (chỉ đối với bạch cầu) |
| LD50 | Lượng độc tố giết 50 % của một nhóm động vật trong vòng 4 ngày (LD50 khác nhau tùy theo từng loại động vật thí nghiệm). |
| MLD | Liều gây chết nhỏ nhất, là lượng độc tố có thể giết chết các súc vật trong vòng 4 ngày (MLD khác nhau tùy theo loại động vật thí nghiệm). Nói chung, MLD đã được thay thế bằng LD50. |
| ED50 | Liều vaccin bảo vệ được 50 % động vật đã được gây miễn dịch chống lại một liều thử thách của vi khuẩn độc hoặc độc tố. |
| ABV | Đơn vị kết hợp kháng độc tố (Antitoxin Binding Value), là giá trị xác định lượng độc tố thêm vào giải độc tố thành một hỗn hợp (xác định kiểm tra trên động vật thí nghiệm). |
| CPE | Tác động gây bệnh tế bào (Cytopathic effect) |
| MEM | Môi trường nuôi cấy cơ bản (Minimum Essential Medium) |
| FCS | Huyết thanh bào thai bê (Foetal Calf Serum) |
| CCID50 | Lượng virus gây nhiễm 50 % tế bào (Cell culture infectious dose) |
| Me | - CH3 (methyl) |
| Et | - CH2CH3 (ethyl) |
| Pri | - CH(CH3)2 (iso-propyl) |
| Prn | - CH2CH2CH3 (n-propyl) |
| Bui | - CH2CH(CH3)2 (iso-butyl) |
| Bus | - CH (CH3)CH2CH3 (sec-butyl) |
| Bun | - CH2CH2CH2CH3 (n-butyl) |
| But | - C(CH3)3 (terf-butyl) |
| Ph | - C6H5 (phenyl) |
| Ac | - COCH3 (acetyl) |
PHỤ LỤC 1.1 CAO THUỐC
Định nghĩa
Cao thuốc (cao dược liệu) là các chế phẩm lỏng (Cao lỏng), bán rắn (Cao đặc và Nhựa dầu) hoặc rắn (Cao khô) được điều chế bằng cách cô hoặc sấy đến thể chất quy định các dịch chiết thu được từ dược liệu thực vật hay động vật với các dung môi thích hợp.
Cao thuốc được phân loại dựa theo thể chất như đã nêu trên, đồng thời có thể phân loại cao dựa vào thành phần có tác dụng điều trị đã biết hoặc các chất được dùng làm chất đánh dấu trong kiểm tra chất lượng như sau:
Cao chuẩn hóa (Standardised extracts): Cao có một hay nhiều thành phần có tác dụng điều trị đã biết được điều chỉnh đến hàm lượng quy định bằng các tá dược trơ hay trộn lẫn các lô sản phẩm.
Cao định chuẩn (Quantified extracts): Cao có một hay nhiều chất đánh dấu có hoạt tính được điều chỉnh đến khoảng hàm lượng quy định bằng cách trộn lẫn các lô sản phẩm.
Cao thuốc khác: Cao thuốc có các thành phần hóa học không được điều chỉnh đến một hàm lượng cụ thể. Để kiểm soát chất lượng, có thể dùng một hay nhiều thành phần của cao làm chất đánh dấu phân tích. Hàm lượng tối thiểu của những chất đánh dấu phân tích này được quy định trong chuyên luận riêng.
Ghi chú:
Đặc tính của một cao thuốc được xác định chủ yếu bởi chất lượng dược liệu, quy trình sản xuất (dung môi, phương pháp chiết,...) và bởi các thông số chất lượng của cao.
Thành phần có tác dụng điều trị đã biết: Là các chất hoặc nhóm chất có cấu trúc hóa học xác định, được công nhận là có đóng góp đáng kể vào tác dụng điều trị của dược liệu hoặc chế phẩm từ dược liệu.
Chất đánh dấu: Là các chất hoặc các nhóm chất trong dược liệu có cấu trúc hóa học xác định, được dùng cho mục đích kiểm tra chất lượng nhưng không nhất thiết liên quan đến tác dụng điều trị. Khi hàm lượng các chất đánh dấu này trong dược liệu hoặc cao dược liệu đã được xác định, chúng được dùng để tính lượng dược liệu hoặc cao dược liệu có trong các chế phẩm thuốc. Có 2 loại chất đánh dấu:
Chất đánh dấu có hoạt tính: các chất hoặc các nhóm chất được cho là có tác dụng sinh học.
Chất đánh dấu phân tích: các chất hoặc nhóm chất chỉ phục vụ cho mục đích phân tích, không liên quan đến việc các chất này có tác dụng sinh học hay không.
Cao nguyên bản (cao thật): là cao không có tá dược, ngay cả khi tá dược được thêm vào vì lý do kỹ thuật thì đó không phải là cao nguyên bản. Tuy nhiên, với một số chế phẩm cao lỏng và cao đặc, cao nguyên bản có thể chứa một lượng nhất định dung môi chiết.
Tỷ lệ dược liệu/cao (DER): là tỷ lệ giữa lượng dược liệu dùng trong sản xuất cao và lượng cao thu được. Chữ số (là một khoảng) trước dấu hai chấm biểu thị lượng dược liệu tương đối, chữ số sau dấu hai chấm là lượng cao tương đối. Hai loại tỷ lệ DER
Tỷ lệ dược liệu/cao nguyên bản (DERg): là tỷ lệ giữa lượng dược liệu dùng trong sản xuất cao và lượng cao nguyên bản thu được.
Tỷ lệ dược liệu/cao tổng số (DERt): là tỷ lệ giữa lượng dược liệu dùng trong sản xuất cao và tổng lượng cao thu được (bao gồm cả tá dược).
Ví dụ: DERg = 2,5-4,5 : 1 tức là cần 2,5 đến 4,5 phần dược liệu để có được 1 phần cao nguyên bản. Khi cần thêm tá dược trong quá trình sản xuất, như sản xuất cao khô, DERg Và DERt có giá trị khác nhau; khi sản xuất cao khô mà không cần thêm tá dược thì DERg bằng DERt. Nhựa dầu thường được sản xuất không cần tá dược, do đó DERg bằng DERt. Đối với các chế phẩm cao đặc và cao lỏng, luôn có một lượng dung môi chiết còn lại, ví dụ thường có từ 20 % đến 30 % nước trong cao đặc, dịch cồn trong cồn thuốc, do đó cao nguyên bản chính là cao tổng số .
Tỷ lệ dược liệu dung môi (DES): là tỷ lệ giữa lượng dược liệu tính theo khối lượng và lượng dung môi chiết ban đầu tính theo khối lượng hoặc thể tích.
Sản xuất
Dược liệu, dung môi và các vật liệu khác sử dụng để sản xuất cao phải có chất lượng phù hợp và phải đáp ứng yêu cầu của mỗi chuyên luận có liên quan trong Dược điển hoặc đáp ứng yêu cầu của tiêu chuẩn cơ sở. Nếu có thuyết minh phù hợp, dược liệu dùng để sản xuất cao có thể có giới hạn kim loại nặng vượt quá quy định trong chuyên luận riêng hoặc tiêu chuẩn cơ sở, miễn là cao thuốc thu được, đạt các yêu cầu về kim loại nặng (xem mục Kim loại nặng trong Yêu cầu chất lượng chung dưới đây).
Các lô dược liệu khác nhau, khi đã đáp ứng yêu cầu của chuyên luận trong dược điển hoặc tiêu chuẩn cơ sở, có thể được gộp lại trước khi chiết để có được đủ lượng dược liệu cho sản xuất cao; hoặc để đạt được một khoảng xác định về hàm lượng của một hay nhiều thành phần trong dược liệu được chiết xuất khi sản xuất cao chuẩn hóa và cao định chuẩn. Các dược liệu trước khi chiết xuất được xử lý sơ bộ như xay nhỏ đến kích thước thích hợp, bất hoạt men hoặc loại chất béo. Ngoài ra, các thành phần bất lợi (như các chất có độc tính), hoặc các tạp chất (như các chất không tan) cần được loại bỏ ở giai đoạn thích hợp trong quá trình sản xuất.
Có thể sử dụng dung môi thu hồi từ quá trình sản xuất miễn là quá trình thu hồi được kiểm tra và theo dõi để đảm bảo dung môi đạt tiêu chuẩn thích hợp trước khi sử dụng lại hoặc hòa trộn với các vật liệu được chấp nhận khác.
Nước dùng để điều chế cao là nước tinh khiết (thường dùng nước RO).
Khi cần cô đặc dịch chiết tới thể chất mong muốn, phải dùng các phương pháp thích hợp, thường dưới áp suất giảm và ở nhiệt độ thấp để làm giảm tối đa sự biến chất các thành phần trong cao.
Tinh dầu được tách ra trong quy trình điều chế cao có thể được hoàn lại ở một giai đoạn thích hợp trong quy trình sản xuất cao.
Có thể thêm các tá dược thích hợp ở các giai đoạn khác nhau của quy trình điều chế cao vì các lý do kỹ thuật (thí dụ, để cải thiện tính đồng nhất hay thể chất của cao). Đối với cao chuẩn hóa, các tá dược trơ được thêm vào để điều chỉnh hàm lượng cho một hay nhiều thành phần. Đối với cao định chuẩn và các cao thuốc khác, không được thêm tá dược trơ để điều chỉnh hàm lượng các thành phần cần định lượng. Chỉ thêm các tá dược vào cao vì các lý do kỹ thuật và nhà sản xuất phải thuyết minh và công bố hàm lượng các tá dược này ở một giới hạn (%) cố định. Trong một số trường hợp, tá dược có thể được thêm vào ở một khoảng phần trăm hẹp (thí dụ, Silicon dioxyd từ 0,1 - 0,5 % để cải thiện độ trơn chảy của cao).
Các chất ổn định thích hợp, các chất chống oxy hóa và các chất bảo quản kháng khuẩn có thể được thêm vào cao khi có thuyết minh và được cho phép.
Khi chiết xuất bằng một dung môi thích hợp sẽ thu được sản phẩm tương ứng với hàm lượng đặc trưng của các thành phần chọn lọc. Quy trình điều chế cao chuẩn hóa và cao định chuẩn có thể áp dụng quy trình tinh chế để làm tăng hàm lượng các thành phần chọn lọc này đến giá trị mong muốn, các sản phẩm này được gọi là “cao tinh chế".
Yêu cầu chất lượng chung
Định tính
Cao thuốc được định tính bằng các phương pháp thích hợp.
Giới hạn nhiễm vi sinh vật
Đáp ứng yêu cầu Giới hạn nhiễm vi sinh vật tại Phụ lục 13.6.
Kim loại nặng
Không được quá 20 phần triệu nếu không có chỉ dẫn khác.
Cách tiến hành: Lấy 1,0 g chế phẩm tiến hành thử theo phương pháp 3, Phụ lục 9.4.8. Dùng 2 ml dung dịch chì mẫu 10 phần triệu Pb (TT) để chuẩn bị mẫu đối chiếu.
Nếu có yêu cầu, tiến hành các phép thử kim loại nặng theo Phụ lục 9.4.11.
Các yêu cầu khác
Nếu có yêu cầu, tiến hành các phép thử: Aflatoxin B1 (Phụ lục 12.21), ochratoxin A và dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật (Phụ lục 12.17).
Định lượng
Các thành phần trong cao thuốc được định lượng bằng phương pháp thích hợp và giới hạn các thành thành phần được quy định trong chuyên luận riêng.
Cao chuẩn hóa
Giới hạn một hàm lượng: quy định hàm lượng các thành phần dựa trên một giá trị xác định với dung sai kèm theo. Dung sai chấp nhận thường trong khoảng từ ± 5 % đến ± 10 % tùy theo bản chất của cao và phương pháp định lượng áp dụng.
Giới hạn khoảng hàm lượng: cao được sản xuất một cách ổn định để đạt một hàm lượng được lựa chọn từ khoảng hàm lượng xác định có tính đến dung sai chấp nhận. Khi một chuyên luận riêng về cao chuẩn hóa có quy định khoảng hàm lượng, dung sai chấp nhận được ghi trong chuyên luận đó.
Cao định chuẩn
Hàm lượng các thành phần định lượng phải ở trong khoảng giá trị quy định trong chuyên luận riêng.
Các cao khác
Hàm lượng các thành phần phải không thấp hơn mức tối thiểu quy định trong chuyên luận riêng. Khi có thuyết minh phù hợp, có thể chọn các thành phần thay thế khác để định lượng bằng phương pháp phân tích đã được thẩm định, để phù hợp hơn đối với các tính chất vật lý và hóa học của thành phẩm có chứa cao. Khi thay thế các thành phần được chọn để định lượng, phải thiết lập giá trị tối thiểu phù hợp cho các thành phần này.
Ghi nhãn
Theo quy định hiện hành và các thông tin sau:
- Tên dược liệu (tên bộ phận dùng của cây thuốc, bao gồm tên khoa học); nếu sử dụng dược liệu tươi để điều chế dịch chiết thì cần ghi rõ điều này.
- Dạng cao thuốc; ví dụ cao lỏng, bán rắn (cao đặc, nhựa dầu,...) hay cao khô; ghi rõ Cao chuẩn hóa, cao định chuẩn, Cao tinh chế hay cao thuốc khác (tên cao thuốc do nhà sản xuất đặt).
- Đối với cao chuẩn hóa, ghi hàm lượng xác định của thành phần có hoạt tính điều trị (tác dụng điều trị) đã biết.
- Đối với cao định chuẩn, ghi khoảng hàm lượng chất đánh dấu có hoạt tính.
- Tên dung môi chiết ban đầu hoặc các dung môi để chiết xuất (ví dụ ethanol 60 % tt/tt).
- Tên và lượng các tá dược có trong cao (ví dụ chất pha loãng, chất ổn định, chất bảo quản kháng khuẩn, chất chống oxy hóa).
- Đối với cao định chuẩn và các cao thuốc khác, ghi rõ tỷ lệ dược liệu và cao nguyên bản (DERg). Với cao đặc, nhựa dầu hay cao khô biểu thị tỷ lệ này theo khối lượng/khối lượng, với cao lỏng biểu thị theo khối lượng/khối lượng hoặc khối lượng/thể tích.
- Nếu cần, ghi hàm lượng phần trăm cắn sau khi bay hơi.
- Điều kiện bảo quản.
Các chế phẩm chiết lỏng
Là các chế phẩm lỏng bao gồm nhiều loại sản phẩm mang các tính chất đặc trưng tùy thuộc vào dung môi chiết, phương pháp chiết và tỷ lệ dược liệu/dung môi hoặc tỷ lệ dược liệu/cao lỏng. Các chế phẩm này sử dụng dung môi chiết là ethanol, nước, glycerin, propylen glycol và dầu béo. Các chế phẩm chiết lỏng bao gồm cồn thuốc (Phụ lục 1.2), Rượu thuốc (Phụ lục 1.22) và Cao lỏng.
Cao lỏng
Định nghĩa
Cao lỏng định chuẩn và các cao lỏng khác là các chế phẩm dịch chiết. Nếu không có chỉ dẫn khác, một phần khối lượng hay thể tích cao lỏng tương ứng với một phần khối lượng của dược liệu khô kiệt dùng để điều chế cao thuốc.
Cao lỏng chuẩn hóa chỉ yêu cầu xác định hàm lượng các thành phần có tác dụng điều trị đã biết.
Sản xuất
Chiết xuất dược liệu bằng ethanol có nồng độ thích hợp và/hoặc nước cùng với các thành phần khác (như glycerin hoặc dung dịch amoniac) hoặc hòa tan cao đặc hay cao khô (điều chế từ dược liệu với cùng dung môi để điều chế cao lỏng bằng cách chiết xuất trực tiếp) trong ethanol có nồng độ theo yêu cầu hay nước.
Khi cao lỏng chứa ethanol, phải kiểm tra hàm lượng 2-propanol, không được quá 0,05 % (tt/tt) (Phụ lục 10.13), trừ khi có chứng minh từ nguồn cung ứng ethanol và quy trình sản xuất cao đảm bảo giới hạn này luôn được tuân thủ.
Trừ cao lỏng chuẩn hóa, cao lỏng điều chế từ cao đặc hay cao khô không được chứa bất cứ tá dược nào khác với tá dược có trong cao lỏng điều chế bằng cách chiết xuất trực tiếp. Tuy nhiên, một số ngoại lệ có thể được chấp nhận khi cao đặc dùng để điều chế cao lỏng có chứa chất ổn định, chất chống oxy hóa hay chất bảo quản kháng khuẩn.
Cao lỏng có thể được điều chỉnh để đáp ứng yêu cầu về hàm lượng dung môi và được lọc nếu cần.
Yêu cầu chất lượng
Đạt các yêu cầu theo quy định trong chuyên luận riêng, các yêu cầu chung đối với cao thuốc và các yêu cầu sau đây:
Độ tan: Cao lỏng phải tan hoàn toàn trong dung môi đã sử dụng để điều chế cao.
Độ trong, mùi vị, độ đồng nhất và màu sắc: Có màu sắc đúng như mô tả trong chuyên luận riêng, có mùi và vị đặc trưng của dược liệu sử dụng. Cao phải đồng nhất, không có váng mốc, không có cặn bã dược liệu và vật lạ.
Cách tiến hành: Lấy riêng phần phía trên của một đơn vị đóng gói thuốc (chai, lọ,...) chỉ để lại khoảng 10 ml đến 15 ml. Chuyển phần còn lại trong đồ đựng vào một bát sứ men trắng, nghiêng bát cho chúng chảy trên thành bát tạo thành một lớp dễ quan sát. Quan sát dưới ánh sáng thường, thuốc phải đạt các yêu cầu quy định. Nếu không đạt, phải thử lại lần thứ hai với một đơn vị đóng gói khác, nếu không đạt, coi như lô thuốc không đạt chỉ tiêu này.
pH: Nếu có yêu cầu, phải đạt quy định trong chuyên luận riêng.
Tỷ trọng tương đối (Phụ lục 6.5): Nếu có yêu cầu, phải đạt quy định trong chuyên luận riêng.
Hàm lượng cồn (Phụ lục 10.12): Đối với cao lỏng chiết xuất bằng ethanol, tiến hành xác định hàm lượng cồn. phải đạt theo quy định trong chuyên luận riêng.
Methanol (Phụ lục 10.13): Không được quá 0,05 % (tt/tt) đối với cao lỏng chiết xuất bằng ethanol, trừ khi có chỉ dẫn khác hoặc có thuyết minh phù hợp.
Cắn sau khi bay hơi: Phải đạt quy định trong chuyên luận riêng.
Cách tiến hành: Lấy khoảng 2 g hoặc 2 ml cao lỏng cho nhanh vào một đĩa đáy bằng có đường kính khoảng 50 mm đã được sấy khô và xác định khối lượng. Làm bay hơi đến khô trên cách thủy và sấy khô ở 100 - 105 °C trong 3 h. Để nguội trong bình hút ẩm có chứa diphosphor pentoxyd (TT) và cân.
Tính phần trăm khối lượng hay số gam cắn trong 1 L chế phẩm.
Bảo quản
Tránh ánh sáng hoặc theo quy định trong chuyên luận riêng.
Cao đặc
Định nghĩa
Cao đặc là chế phẩm bán rắn thu được khi bay hơi hoặc bay hơi từng phần dung môi dùng để chiết xuất cao.
Yêu cầu chất lượng
Đạt các yêu cầu theo quy định trong chuyên luận riêng, các yêu cầu chung đối với cao thuốc và các yêu cầu sau đây:
Cắn sau khi bay hơi: nếu có yêu cầu, phải đạt quy định trong chuyên luận riêng.
Dung môi tồn dư (Phụ lục 10.14): Phải đáp ứng các yêu cầu quy định trong Phụ lục 10.14, trừ khi có chỉ dẫn khác hoặc có thuyết minh phù hợp.
Bảo quản
Trong đồ đựng kín, tránh ánh sáng hoặc theo quy định trong chuyên luận riêng.
Nhựa dầu
Định nghĩa
Nhựa dầu là chế phẩm bán rắn gồm có nhựa trong dung dịch tinh dầu và/hoặc dầu béo thu được do làm bay hơi dung môi dùng để chiết xuất. Chuyên luận này áp dụng cho nhựa dầu sản xuất bằng cách chiết xuất, không phải nhựa dầu tự nhiên.
Yêu cầu chất lượng
Đạt các yêu cầu theo quy định trong chuyên luận riêng và các yêu cầu chung đối với cao thuốc và các yêu cầu sau đây:
Nước (Phụ lục 12.13): Phải đạt yêu cầu quy định trong chuyên luận riêng.
Dung môi tồn dư (Phụ lục 10.14): Phải đáp ứng các yêu cầu quy định trong phụ lục 10.14, trừ khi có chỉ dẫn khác hoặc có thuyết minh phù hợp.
Bảo quản
Trong đồ đựng kín, tránh ánh sáng hoặc theo quy định trong chuyên luận riêng.
Cao khô
Định nghĩa
Cao khô là chế phẩm rắn thu được bằng cách bay hơi dung môi dùng để chiết xuất.
Cao khô thường có độ ẩm không quá 5 %. Các giới hạn khác có thể được áp dụng khi có thuyết minh phù hợp.
Yêu cầu chất lượng
Đạt các yêu cầu theo quy định trong chuyên luận riêng và các yêu cầu chung đối với cao thuốc và các yêu cầu sau đây:
Mất khối lượng do làm khô (Phụ lục 9.6): Nếu có yêu cầu, phải đạt các giới hạn theo quy định.
Nước (Phụ lục 10.3): Tiến hành nếu phép thử Mất khối lượng do làm khô không thực hiện được. Phải đạt các giới hạn theo quy định.
Dung môi tồn dư (Phụ lục 10.14): Phải đáp ứng các yêu cầu quy định trong Phụ lục 10.14, trừ khi có chỉ dẫn khác hoặc khi có thuyết minh phù hợp.
Bảo quản
Trong đồ đựng kín, tránh ánh sáng hoặc theo quy định trong chuyên luận riêng.
PHỤ LỤC 1.10 THUỐC ĐẶT
Định nghĩa
Thuốc đặt là dạng thuốc rắn phân liều, chứa một hoặc nhiều dược chất, dùng để đặt vào các hốc tự nhiên của cơ thể nhằm phát huy tác dụng tại chỗ hoặc toàn thân. Thuốc có hình dạng, kích thước và thể chất phù hợp với mục đích sử dụng.
Khi đặt vào vị trí thích hợp trên cơ thể, thuốc đặt thường mềm, chảy ra ở thân nhiệt hoặc hòa tan hay phân tán trong niêm dịch để giải phóng dược chất và phát huy tác dụng.
Thuốc đặt có thể chứa các tá dược như tá dược độn, chất hấp phụ, chất diện hoạt, chất làm trơn, chất bảo quản kháng khuẩn, chất màu,...
Phụ lục này đề cập đến hai loại thuốc đặt thường gặp:
- Thuốc đặt trực tràng
- Thuốc đặt âm đạo
Sản xuất
Các biện pháp thích hợp phải được áp dụng trong quá trình sản xuất, đóng gói, bảo quản và phân phối nhằm đảm bảo mức độ nhiễm vi sinh vật của thuốc nằm trong giới hạn cho phép theo quy định tại Phụ lục 13.6 Thử giới hạn nhiễm vi sinh vật.
Đối với thuốc có sử dụng chất bảo quản kháng khuẩn trong công thức, cần chứng minh sự cần thiết cũng như hiệu quả của chất bảo quản được lựa chọn, sử dụng phương pháp thích hợp và tiêu chuẩn đánh giá quy định tại Phụ lục 13.8 Xác định hiệu quả kháng khuẩn của chất bảo quản.
Khi sản xuất các thuốc đặt có chứa các tiểu phân phân tán, cần có các biện pháp để đảm bảo kích thước các tiểu phân được kiểm soát phù hợp với mục đích sử dụng.
Yêu cầu chất lượng chung
Độ đồng đều đơn vị liều (Phụ lục 11.9)
Thuốc đặt phải đáp ứng yêu cầu của phép thử Độ đồng đều đơn vị liều. Phép thử này cũng có thể được thay thế bằng các phép thử Độ đồng đều hàm lượng và/hoặc phép thử Độ đồng đều khối lượng được đề cập dưới đây khi được chứng minh là phù hợp. Không yêu cầu thực hiện phép thử này với các thành phần dược liệu có trong thuốc.
Độ đồng đều hàm lượng (Phụ lục 11.2)
Nếu không có chỉ dẫn khác, các thuốc đặt có hàm lượng dược chất dưới 2 mg hoặc dưới 2 % so với khối lượng thuốc phải đáp ứng yêu cầu của phép thử Độ đồng đều hàm lượng, phương pháp 1. Đối với thuốc đặt có từ 2 dược chất trở lên, chỉ yêu cầu thử độ đồng đều hàm lượng với thành phần dược chất nào có hàm lượng nhỏ như quy định ở trên.
Độ đồng đều khối lượng (Phụ lục 11.3)
Thuốc đặt phải đáp ứng yêu cầu của phép thử Độ đồng đều khối lượng. Nếu phép thử độ đồng đều hàm lượng đã được tiến hành với tất cả các dược chất có trong thuốc thì không phải thử độ đồng đều khối lượng.
Định tính, Định lượng và các yêu cầu chất lượng khác
Phải đáp ứng yêu cầu chất lượng chung của từng loại thuốc và theo quy định trong chuyên luận riêng.
Bảo quản -Ghi nhãn
Thuốc phải được bảo quản trong đồ đựng kín.
Một số dạng thuốc dễ chảy mềm được bảo quản ở nơi mát hoặc trong tủ lạnh.
Một số dạng thuốc có thể cần tránh ẩm.
Ghi nhãn theo quy định.
Nếu thuốc có sử dụng chất bảo quản, cần ghi rõ tên chất bảo quản.
THUỐC ĐẶT TRỰC TRÀNG
Thuốc đạn đặt trực tràng
Thuốc đạn đặt trực tràng có hình dạng, kích thước và tính chất phù hợp để đặt tại trực tràng. Thuốc thường có hình nón ở một đầu (hình đạn) hoặc cả hai đầu. Thuốc chứa một hoặc nhiều dược chất được phân tán hoặc hòa tan trong tá dược nền phù hợp. Tá dược nền có thể có vai trò quan trọng trong quá trình giải phóng dược chất.
Thuốc đạn đặt trực tràng có thể được bào chế bằng cách nén hoặc đổ khuôn. Dược chất được nghiền nếu cần và rây để có độ mịn thích hợp.
Khi được bào chế bằng phương pháp đổ khuôn, hỗn hợp thuốc được làm nóng chảy và đổ vào khuôn rồi để nguội tạo thành thuốc đặt. Nhiều loại tá dược khác nhau dùng cho phương pháp bào chế này bao gồm: chất béo rắn, các macrogol, bơ ca cao, dầu thực vật hydrogen hóa, các hỗn hợp gelatin như hỗn hợp gelatin-glycerin-nước,... Các chế phẩm dùng tá dược thân dầu cần đáp ứng yêu cầu về thời gian hóa mềm của sản phẩm.
Độ rã (Phụ lục 11.5)
Trừ thuốc đạn giải phóng biến đổi hoặc tác dụng tại chỗ kéo dài, thuốc đạn đặt trực tràng phải đáp ứng yêu cầu của phép thử Độ rã của thuốc đạn và thuốc trứng. Nếu không có chỉ dẫn khác, trường hợp thuốc đạn có tá dược nền là chất béo, thời gian rã là trong vòng 30 min; trường hợp thuốc đạn có tá dược nền tan được trong nước, thời gian rã là trong vòng 60 min.
Nang đặt trực tràng
Nang đặt trực tràng là nang mềm bên trong chứa thuốc lỏng hoặc mềm, nang có hình dạng thuôn dài phù hợp với đường dùng trực tràng, vỏ nang có bề mặt đồng nhất và nhẵn mịn, có thể có phủ một lớp chất làm trơn. Thuốc đáp ứng định nghĩa thuốc nang mềm tại chuyên luận Thuốc nang (Phụ lục 1.13).
Độ rã (Phụ lục 11.5)
Trừ thuốc nang giải phóng biến đổi hoặc tác dụng tại chỗ kéo dài, nang đặt trực tràng phải đáp ứng yêu cầu của Phép thử độ rã của thuốc đạn và thuốc trứng. Nếu không có chỉ dẫn khác, thời gian rã là trong vòng 30 min.
Băng tẩm thuốc đặt trực tràng
Băng tẩm thuốc đặt trực tràng là các chế phẩm đơn liều dạng rắn được đưa vào phần dưới của trực tràng trong một khoảng thời gian nhất định để giải phóng ra dược chất, thông thường nhằm phát huy tác dụng tại chỗ. Thuốc bao gồm một vật liệu thích hợp như celulose, colagen hoặc Silicon được tẩm một hoặc nhiều dược chất và được đóng gói đơn liều.
THUỐC ĐẶT ÂM ĐẠO
Thuốc trứng
Thuốc trứng có hình dạng, kích thước và tính chất phù hợp để đặt tại âm đạo, thuốc có thể có hình trứng hoặc hình cầu. Thuốc chứa một hoặc nhiều dược chất được phân tán hoặc hòa tan trong tá dược nền phù hợp. Thuốc trứng thường được điều chế bằng cách đổ khuôn. Dược chất được nghiền nếu cần và rây để có độ mịn thích hợp.
Phương pháp bào chế và tá dược dùng cho thuốc trứng tương tự như cách bào chế thuốc đạn đặt trực tràng bằng phương pháp đổ khuôn.
Độ rã (Phụ lục 11.5)
Trừ loại thuốc trứng được bào chế để có tác dụng tại chỗ kéo dài, thuốc trứng phải đáp ứng yêu cầu của Phép thử độ rã của thuốc đạn và thuốc trứng. Nếu không có chỉ dẫn khác, thời gian rã là trong vòng 60 min.
Viên nén đặt âm đạo
Viên nén đặt âm đạo là thuốc viên nén có hình dạng và kích thước phù hợp dùng để để đặt tại âm đạo. Thuốc phải đáp ứng các yêu cầu tại chuyên luận Thuốc viên nén (Phụ lục 1.20).
Độ rã
Trừ viên nén được bào chế để có tác dụng tại chỗ kéo dài, viên nén đặt âm đạo phải đáp ứng yêu cầu của Phép thử độ rã của thuốc đạn và thuốc trứng. Nếu không có chỉ dẫn khác, thời gian rã là trong vòng 30 min.
Nang đặt âm đạo
Nang đặt âm đạo là thuốc nang cứng hoặc nang mềm bên trong chứa thuốc lỏng hoặc mềm, có hình dạng và kích thước phù hợp để đặt vào âm đạo nhằm phát huy tác dụng tại chỗ. vỏ nang có bề mặt đồng nhất và nhẵn mịn.
Thuốc phải đáp ứng các yêu cầu tại chuyên luận Thuốc nang (Phụ lục 1.13).
Độ rã (Phụ lục 11.5)
Trừ thuốc nang tác dụng tại chỗ kéo dài, nang đặt âm đạo phải đáp ứng yêu cầu của Phép thử độ rã của thuốc đạn và thuốc trứng. Nếu không có chỉ dẫn khác, thời gian rã là trong vòng 30 min.
Băng tẩm thuốc đặt âm đạo
Băng tẩm thuốc đặt âm đạo là các chế phẩm đơn liều dạng rắn được đưa vào âm đạo trong một khoảng thời gian nhất định để giải phóng ra dược chất, thông thường nhằm phát huy tác dụng tại chỗ. Thuốc bao gồm một vật liệu thích hợp được tẩm một hoặc nhiều dược chất và được đóng gói đơn liều.
Hệ phân phối thuốc đường âm đạo
Hệ phân phối thuốc đường âm đạo là các chế phẩm đơn liều dạng rắn có hình dạng thích hợp, ví dụ như hình vòng tròn hoặc hình xoắn ốc, có khả năng giải phóng dược chất trong một khoảng thời gian kéo dài để đặt vào âm đạo nhằm phát huy tác dụng toàn thân. Các loại băng tẩm thuốc đặt âm đạo hoặc miếng xốp tẩm thuốc không thuộc nhóm này.
PHỤ LỤC 1.12 THUỐC MỀM DÙNG TRÊN DA VÀ NIÊM MẠC
Định nghĩa
Thuốc mềm dùng trên da và niêm mạc là các chế phẩm có thể chất mềm và đồng nhất để dùng trên da và niêm mạc nhằm phát huy tác dụng tại chỗ hoặc toàn thân, hoặc với mục đích để làm mềm hay để bảo vệ da và niêm mạc. Thuốc có thể chứa một hoặc nhiều dược chất được hòa tan hoặc phân tán vào một tá dược nền đơn giản hoặc hỗn hợp. Thành phần của tá dược nền có thể có ảnh hưởng đến tác dụng của chế phẩm.
Các tá dược nền có thể ở dạng một pha hoặc nhiều pha. Tùy thuộc bản chất của tá dược nền được sử dụng, thuốc có thể có đặc tính thân nước hoặc kỵ nước. Ngoài ra, trong thuốc có thể có thêm các chất bảo quản và các tá dược khác như chất chống oxy hóa, chất ổn định, chất nhũ hóa, chất làm đặc, chất làm tăng tính thẩm. Các tá dược này không được gây ảnh hưởng bất lợi đến tác dụng điều trị dự kiến của thuốc cũng như không gây độc tính hay kích ứng không mong muốn tại chỗ khi dùng ở nồng độ sử dụng trong công thức.
Các thuốc mềm dùng tại mắt phải vô khuẩn.
Các thuốc mềm dùng trên vùng da bị tổn thương nặng phải vô khuẩn.
Thuốc mềm dùng trên da và niêm mạc có thể phân thành các loại sau:
- Thuốc mỡ;
- Thuốc kem;
- Thuốc gel;
- Thuốc bột nhão;
- Thuốc đắp.
Theo đường dùng, thuốc mềm dùng trên niêm mạc lại bao gồm các thuốc dùng tại miệng, mắt, mũi, tai, trực tràng và âm đạo.
Tùy thuộc vào cấu trúc, các loại mỡ, kem và gel thể hiện tính vừa nhớt vừa đàn hồi và đặc tính phi Newton, ví dụ với các kiểu chảy dẻo, chảy giả dẻo hoặc thixotropic ở tốc độ trượt cao.
Sản xuất
Đối với các thuốc mềm dùng trên da và niêm mạc không có yêu cầu vô khuẩn, phải áp dụng các biện pháp thích hợp trong quá trình sản xuất, đóng gói, bảo quản và phân phối để đảm bảo mức độ nhiễm vi sinh vật của thuốc nằm trong giới hạn cho phép theo quy định tại Phụ lục 13.6 Thử giới hạn nhiễm vi sinh vật.
Đối với các thuốc mềm dùng trên da và niêm mạc có yêu cầu vô khuẩn, phải sử dụng nguyên liệu và phương pháp pha chế được thiết kế phù hợp nhằm đảm bảo thu được chế phẩm vô khuẩn đồng thời phòng tránh việc phát sinh các tạp nhiễm cũng như sự phát triển của vi sinh vật trong chế phẩm. Liên quan đến các phương pháp sản xuất thuốc vô khuẩn, tham khảo Phụ lục 16.1 Các phương pháp tiệt khuẩn.
Đối với các thuốc mềm dùng trên da và niêm mạc phải sử dụng chất bảo quản kháng khuẩn trong công thức pha chế, cần chứng minh sự cần thiết cũng như hiệu quả kháng khuẩn của chất bảo quản được lựa chọn, sử dụng phương pháp thích hợp và tiêu chuẩn đánh giá quy định tại Phụ lục 13.8 Xác định hiệu quả kháng khuẩn của chất bảo quản. Không yêu cầu thực hiện phép thử này với mục đích để kiểm tra chất lượng thuốc.
Đối với các thuốc mềm dùng tại mắt, tham khảo yêu cầu về thiết lập và chứng minh đặc tính kháng khuẩn của thuốc tại Phụ lục 1.14 Thuốc dùng tại mắt.
Đối với các thuốc mềm dùng trên da và niêm mạc đóng gói đơn liều, lượng thuốc được đóng gói phải đảm bảo đủ để có thể lấy ra được lượng thuốc ghi trên nhãn từ đồ đựng
Khi sản xuất các thuốc mềm dùng trên da và niêm mạc, phải thực hiện các biện pháp thích hợp để đảm bảo thu được các đặc tính lưu biến của chế phẩm như mong muốn. Khi cần, có thể thực hiện một số phép thử không bắt buộc như xác định thể chất bằng xuyên thấu kế, xác định độ nhớt biểu kiến, đánh giá khả năng giải phóng dược chất bằng phép thử thích hợp.
Khi sản xuất các thuốc mềm dùng trên da và niêm mạc có chứa các tiểu phân được phân tán, cần áp dụng các biện pháp để kiểm soát kích thước các tiểu phân sao cho phù hợp với mục đích sử dụng.
Khi sản xuất các thuốc mềm dùng trên da có định liều được đóng gói đa liều và có tác dụng toàn thân, phải đảm bảo yêu cầu độ đồng đều liều trong một đơn vị đóng gói và giữa các đơn vị đóng gói.
Phép thử đánh giá độ đồng đều liều trong một đơn vị đóng gói (intra-container) được quy định trong mục Yêu cầu chất lượng chung.
Phép thử đánh giá độ đồng đều liều giữa các đơn vị đóng gói (Inter-container) được quy định dưới đây.
Độ đồng đều liều phân phối giữa các đơn vị đóng gói.
Trừ khi có chỉ dẫn khác, các thuốc mềm dùng trên da và niêm mạc có định liều đóng gói đa liều và có tác dụng toàn thân phải đáp ứng yêu cầu của phép thử này.
Chuẩn bị chế phẩm và lấy mẫu thuốc theo hướng dẫn sử dụng.
Quy trình tham khảo: Định lượng 10 liều thuốc được lấy riêng biệt từ 10 đơn vị đóng gói, trong đó 3 liều là các liều đầu tiên của 3 đơn vị đóng gói, 4 liều là các liều ở giữa của 4 đơn vị đóng gói khác và 3 liều là các liều cuối của 3 đơn vị đóng gói còn lại. có thể áp dụng một quy trình thử khác nếu chứng minh được sự phù hợp.
Có thể áp dụng tiêu chí đánh giá của Độ đồng đều liều trong một đơn vị đóng gói hoặc tiêu chí phù hợp khác.
Yêu cầu chất lượng chung
Độ đồng nhất
Cắt rời hai đầu của đồ đựng và cắt dọc theo thân đồ đựng để bộc lộ được thuốc ở bên trong (với các đồ đựng làm từ vật liệu mềm có thể cắt được như chất dẻo hoặc lá nhôm). Với các đồ đựng có miệng rộng, có thể mở nắp để quan sát trực tiếp thuốc bên trong. Kiểm tra bằng cảm quan, thuốc phải không được có các thay đổi về màu sắc, thể chất và hình thức vật lý so với các mô tả từ nhà sản xuất, đặc biệt không được có hiện tượng kết tinh, vón cục hay tách lớp.
Độ đồng đều đơn vị liều (Phụ lục 11.9)
Trừ khi có chỉ dẫn khác, các thuốc mềm dùng trên da và niêm mạc có tác dụng toàn thân đóng gói đơn liều phải đáp ứng yêu cầu của phép thử Độ đồng đều đơn vị liều. Tiến hành lấy thuốc ra khỏi mỗi đơn vị đóng gói để thử theo hướng dẫn sử dụng. Phép thử này cũng có thể được thay thế bằng phép thử Độ đồng đều hàm lượng được đề cập dưới đây nếu được chứng minh là phù hợp. Không yêu cầu thực hiện phép thử này với các thành phần dược liệu có trong thuốc.
Độ đồng đều hàm lượng (Phụ lục 11.2)
Lấy 10 đơn vị đóng gói để thử. Định lượng riêng biệt lượng thuốc đã trộn kỹ được lấy ra nhiều nhất có thể từ mỗi đơn vị đóng gói ở điều kiện sử dụng thông thường và tính kết quả so với hàm lượng quy định trên nhãn. Chế phẩm đáp ứng yêu cầu của Phương pháp 1.
Độ đồng đều liều phân phối trong một đơn vị đóng gói
Các thuốc mềm dùng trên da và niêm mạc có định liều đóng gói đa liều và có tác dụng toàn thân phải đáp ứng yêu cầu của phép thử được mô tả dưới đây. Đối với các thuốc mà công thức sử dụng tá dược nền một pha và tất cả các dược chất đều được hòa tan trong tá dược nền, thì phép thử này có thể được thay thế bằng phép thử Độ đồng đều khối lượng liều phân phối trong một đơn vị đóng gói được đề cập bên dưới khi được chứng minh là phù hợp.
Cách tiến hành: Sử dụng một thiết bị có khả năng thu giữ toàn bộ lượng thuốc được lấy ra khỏi đồ đựng thuốc để làm thiết bị thu mẫu. Lấy 1 đơn vị đóng gói để thử. Lấy thuốc theo hướng dẫn sử dụng, chuyển vào thiết bị thu mẫu, lượng thuốc tương đương một liều khuyến cáo tối thiểu. Định lượng toàn bộ lượng thuốc thu được. Nếu thuốc chứa nhiều dược chất, tiến hành định lượng tất cả các dược chất có trong thuốc. Lặp lại quy trình với 2 liều nữa.
Tiếp tục lấy thuốc ra khỏi đồ đựng và loại bỏ lượng thuốc này đến khi số lần lấy thuốc còn lại trong đồ đựng là (n/2 + 1), trong đó n là tổng số lần lấy thuốc của một đơn vị đóng gói ghi trên nhãn. Lặp lại việc lấy thuốc vào thiết bị thu mẫu và định lượng từng liều thuốc theo quy trình nêu trên với 4 liều tiếp theo.
Tiếp tục lấy thuốc ra khỏi đồ đựng và loại bỏ lượng thuốc này đến khi trong đồ đựng chỉ còn lại số lần lấy thuốc tương đương 3 liều. Tiến hành chuyển thuốc vào thiết bị thu mẫu và định lượng từng liều thuốc theo quy trình nêu trên với 3 liều cuối cùng này.
Trừ khi có chỉ dẫn khác, chế phẩm đạt yêu cầu nếu kết quả định lượng của 9 trong số 10 liều có giá trị nằm trong khoảng 75 % đến 125 % giá trị trung bình của 10 liều và tất cả các liều đều có giá trị nằm trong khoảng 65 % đến 135 % giá trị trung bình của 10 liều. Nếu có 2 hoặc 3 liều có giá trị nằm ngoài khoảng 75 % đến 125 % nhưng trong khoảng 65 % đến 135 % giá trị trung bình của 10 liều, lặp lại toàn bộ thử nghiệm trên với 2 đơn vị đóng gói nữa. Không quá 3 liều trong tổng số 30 liều được thử có giá trị nằm ngoài khoảng 75 % đến 125 % và không có liều nào có giá trị nằm ngoài khoảng 65 % đến 135 % giá trị trung bình của 30 liều. Trừ khi có chỉ dẫn khác, giá trị trung bình của các liều được thử phải nằm trong khoảng 85 % đến 115 % hàm lượng 1 liều công bố trên nhãn.
Có thể áp dụng một quy trình thử khác quy trình này nếu chứng minh được sự phù hợp.
Độ đồng đều khối lượng liều phân phối trong một đơn vị đóng gói
Các thuốc mềm dùng trên da và niêm mạc có định liều đóng gói đa liều, công thức sử dụng tá dược nền một pha và tất cả các dược chất đều được hòa tan trong tá dược nền đáp ứng yêu cầu của phép thử sau:
Lấy một đơn vị đóng gói, cân và lấy thuốc ra khỏi đồ đựng theo hướng dẫn sử dụng, số lần lấy thuốc tương đương một liều khuyến cáo tối thiểu.
Cân lại đồ đựng. Tính sự chênh lệch khối lượng giữa 2 lần cân để xác định khối lượng của liều đã lấy. Lặp lại các thao tác này với 2 liều nữa.
Tiếp tục lấy thuốc ra khỏi đồ đựng và loại bỏ lượng thuốc này đến khi số lần lấy thuốc còn lại trong đồ đựng là (n/2 + 1), trong đó n là tổng số lần lấy thuốc của một đơn vị đóng gói ghi trên nhãn. Cân đồ đựng và xác định khối lượng của từng liều với 4 liều tiếp theo bằng quy trình được mô tả ở trên.
Tiếp tục lấy thuốc ra khỏi đồ đựng và loại bỏ lượng thuốc này đến khi trong đồ đựng chỉ còn lại số lần lấy thuốc tương đương 3 liều. Cân đồ đựng và xác định khối lượng của từng liều với 3 liều cuối cùng này bằng quy trình mô tả ở trên.
Trừ khi có chỉ dẫn khác, chế phẩm đạt yêu cầu của phép thử nếu khối lượng của 9 trong số 10 liều có giá trị nằm trong khoảng 75 % đến 125 % khối lượng trung bình của 10 liều và tất cả các liều đều có khối lượng nằm trong khoảng 65 % đến 135 % khối lượng trung bình của 10 liều. Nếu có 2 hoặc 3 liều có khối lượng nằm ngoài khoảng 75 % đến 125 % nhưng trong khoảng 65 % đến 135 % khối lượng trung bình của 10 liều, lặp lại toàn bộ quy trình thử trên với 2 đơn vị đóng gói nữa. Không có quá 3 liều trong tổng số 30 liều được thử có khối lượng nằm ngoài khoảng 75 % đến 125 % và không có liều nào có khối lượng nằm ngoài khoảng 65 % đến 135 % khối lượng trung bình của 30 liều. Trừ khi có chỉ dẫn khác, khối lượng trung bình của các liều đem thử phải nằm trong khoảng 85 % đến 115 % khối lượng liều phân phối dự kiến.
Có thể áp dụng một quy trình thử khác nếu chứng minh được sự phù hợp.
Tổng số lần lấy thuốc của một đơn vị đóng gói
Thuốc mềm dùng trên da và niêm mạc có định liều đóng gói đa liều đáp ứng yêu cầu của phép thử sau: Lấy 1 đơn vị đóng gói và tiến hành lấy thuốc ra khỏi đồ đựng theo hướng dẫn sử dụng cho đến khi hết thuốc trong đồ đựng. Đếm số lần lấy thuốc. Tổng số lần lấy thuốc ra khỏi đồ đựng không được ít hơn số lần lấy thuốc của một đơn vị đóng gói ghi trên nhãn.
Độ đồng đều khối lượng (Phụ lục 11.3)
Các thuốc mềm dùng trên da và niêm mạc đóng gói đa liều phải đáp ứng yêu cầu tại phương pháp 4 của phép thử Độ đồng đều khối lượng.
Thử vô khuẩn (Phụ lục 13.7)
Các thuốc mềm dùng trên da và niêm mạc có yêu cầu vô khuẩn phải đáp ứng yêu cầu của phép thử Thử vô khuẩn.
Các dụng cụ dùng để lấy thuốc được đóng gói riêng kèm theo thuốc mềm dùng tại mắt nếu có cũng phải đáp ứng yêu cầu của phép thử này. Sử dụng kỹ thuật vô khuẩn để lấy dụng cụ ra khỏi đồ đựng và chuyển vào ống chứa môi trường nuôi cấy. Dụng cụ phải được ngâm ngập trong môi trường nuôi cấy. Ủ và đánh giá kết quả theo quy định.
Định tính, Định lượng và các yêu cầu chất lượng khác
Phải đạt yêu cầu chất lượng chung của từng loại thuốc và theo quy định trong chuyên luận riêng.
Bảo quản
Các thuốc mềm dùng trên da và niêm mạc trong công thức có sử dụng nước hoặc các thành phần dễ bay hơi khác phải được bảo quản trong đồ đựng kín hoàn toàn. Các thuốc mềm dùng trên da và niêm mạc có yêu cầu vô khuẩn phải được bảo quản trong đồ đựng vô khuẩn, kín hoàn toàn, chống đánh tráo.
Ghi nhãn
Nhãn phải đáp ứng các quy định hiện hành.
Nếu thuốc có sử dụng chất bảo quản, ghi rõ tên chất bảo quản.
Nếu thuốc là chế phẩm vô khuẩn, ghi rõ thông tin này trên nhãn.
Đối với các thuốc đóng gói đa liều, phải ghi rõ thời hạn sử dụng thuốc sau khi mở nắp.
CÁC LOẠI THUỐC MỀM DÙNG TRÊN DA VÀ NIÊM MẠC THEO DẠNG BÀO CHẾ
Thuốc mỡ
Thuốc mỡ dùng trên da và niêm mạc là các chế phẩm mềm gồm các chất lỏng hoặc chất rắn được phân tán trong tá dược nền một pha. Thuốc mỡ có thể được đóng gói đơn liều hoặc đa liều.
Thuốc mỡ kỵ nước
Các thuốc mỡ kỵ nước chỉ có khả năng hấp thụ một lượng nhỏ nước. Các tá dược nền điển hình được sử dụng trong công thức bào chế các thuốc mỡ loại này là các parafin lỏng nhẹ, parafin lỏng, parafin cứng, các loại dầu thực vật, các loại mỡ động vật, các glycerid tổng hợp, các loại sáp và polyalkylsiloxan lỏng.
Thuốc mỡ nhũ hóa thân nước
Các thuốc mỡ nhũ hóa thân nước có thể hấp thụ một lượng nước lớn hơn và nhờ vậy có thể tạo ra các loại nhũ tương kiểu nước trong dầu hoặc dầu trong nước sau khi được làm đồng nhất, tùy thuộc vào bản chất của chất nhũ hóa được sử dụng. Các chất nhũ hóa có thể được sử dụng với mục đích này là các chất nhũ hóa nước trong dầu (như cồn sáp lanolin, ester của sorbitan, monoglycerid và alcol béo) hoặc các chất nhũ hóa dầu trong nước (như các alcol béo Sulfat, polysorbat, macrogol cetostearyl ether hoặc ester của acid béo với macrogol). Các tá dược nền được sử dụng là các tá dược dùng trong thuốc mỡ kỵ nước.
Thuốc mỡ thân nước
Các thuốc mỡ thân nước sử dụng tá dược nền có thể trộn lẫn được với nước, thường có thành phần là hỗn hợp các macrogol lỏng và rắn (các polyethylen glycol). Chúng có thể chứa một lượng nước thích hợp.
Thuốc kem
Thuốc kem dùng trên da và niêm mạc là các chế phẩm mềm có hình thức đồng nhất thường bao gồm một pha thân dầu và một pha thân nước, một trong hai pha được phân tán mịn vào pha còn lại. Thuốc kem được đóng gói đơn liều hoặc đa liều.
Thuốc kem thân dầu
Các thuốc kem thân dầu có pha liên tục hay môi trường phân tán là pha thân dầu, sử dụng các chất nhũ hóa nước trong dầu (như cồn sáp lanolin, ester của sorbitan và monoglycerid).
Thuốc kem thân nước
Các thuốc kem thân nước có pha liên tục hay môi trường phân tán là pha nước, sử dụng các chất nhũ hóa dầu trong nước (như các loại xà phòng natri hay trolamin, alcol béo sultat, polysorbat và ester của các alcol béo và acid béo polyoxyl), được phối hợp thêm với các chất nhũ hóa nước trong dầu nếu cần.
Thuốc gel
Thuốc gel dùng trên da và niêm mạc là các chế phẩm mềm sử dụng tá dược nền một pha dạng lỏng được gel hóa bằng các tác nhân tạo gel thích hợp. Dược chất được hòa tan hoặc phân tán trong tá dược nền. Thuốc gel được đóng gói đơn liều hoặc đa liều.
Thuốc gel thân dầu
Các thuốc gel thân dầu (còn gọi là các oleogel) có tá dược nền thường bao gồm paratin lỏng phối hợp với polyethylen hoặc các dầu béo, được gel hóa bằng keo silic hoặc các loại xà phòng nhôm hoặc kẽm.
Thuốc gel thân nước
Các thuốc gel thân nước (còn gọi là các hydrogel) có tá dược nền thường bao gồm nước, glycerol hoặc polyethylen glycol được gel hóa với các tác nhân tạo gel thích hợp như các poloxamer, tinh bột, dẫn chất celulose, carbomer và nhôm magnesi silicat.
Thuốc bột nhão
Thuốc bột nhão dùng trên da và niêm mạc là các chế phẩm mềm có chứa một tỷ lệ lớn chất rắn được nghiền mịn hoặc rất mịn và phân tán trong tá dược nền. Thuốc bột nhão được đóng gói đơn liều hoặc đa liều.
Thuốc đắp
Thuốc đắp dùng trên da là các chế phẩm mềm có chứa dược chất ở dạng rắn hoặc lỏng được được phân tán trong tá dược nền thân nước có khả năng giữ nhiệt. Chúng thường được phết thành lớp mỏng trên một miếng băng thích hợp và được làm nóng trước khi đắp lên da.
CÁC LOẠI THUỐC MỀM DÙNG TRÊN DA VÀ NIÊM MẠC THEO VỊ TRÍ DÙNG THUỐC
Thuốc mềm dùng trên da
Thuốc mềm dùng trên da là các chế phẩm ở dạng mỡ, kem, gel, bột nhão hay thuốc đắp để bôi hoặc đắp lên da nhằm phát huy tác dụng tại chỗ hoặc toàn thân. Thuốc được đóng gói ở dạng đơn liều hoặc đa liều.
Thuốc mềm dùng tại mắt
Thuốc mềm dùng tại mắt hay thuốc tra mắt dạng mềm là các chế phẩm vô khuẩn ở dạng mỡ, kem hoặc gel với thể chất đồng nhất dùng để tra vào kết mạc hoặc mí mắt nhằm phát huy tác dụng tại chỗ. Thuốc được đóng gói đơn liều hoặc đa liều với khối lượng nhỏ trong đồ đựng vô khuẩn.
Thuốc mềm dùng tại mắt đáp ứng yêu cầu tại Phụ lục 1.14 Thuốc dùng tại mắt.
Thuốc mềm dùng tại mũi
Thuốc mềm dùng tại mũi là các chế phẩm ở dạng mỡ, kem hoặc gel được đưa vào khoang mũi nhằm phát huy tác dụng tại chỗ hoặc toàn thân. Thuốc được đóng gói đơn liều hoặc đa liều trong đồ đựng được thiết kế phù hợp để đưa thuốc vào khoang mũi và tránh được hiện tượng thuốc bị nhiễm bẩn trong quá trình sử dụng.
Thuốc mềm dùng tại mũi phải đáp ứng yêu cầu tại Phụ lục 1.15 Thuốc dùng tại mũi.
Thuốc mềm dùng tại tai
Thuốc mềm dùng tại tai là các chế phẩm ở dạng mỡ, kem hoặc gel được đưa vào ống tai ngoài thông qua một dụng cụ thích hợp được gắn vào đồ đựng hoặc bằng cách tẩm thuốc vào một nút bông để đặt vào ống tai ngoài nhằm phát huy tác dụng tại chỗ. Thuốc được đóng gói đơn liều hoặc đa liều. Dụng cụ lấy thuốc đi kèm được thiết kế phù hợp để tránh hiện tượng thuốc bị nhiễm bẩn trong quá trình sử dụng.
Thuốc mềm dùng tại tai phải đáp ứng yêu cầu tại Phụ lục 1.16 Thuốc dùng tại tai.
Thuốc mềm dùng tại niêm mạc miệng
Thuốc mềm dùng tại niêm mạc miệng là các chế phẩm ở dạng mỡ, kem, gel hoặc bột nhão ưa nước được dùng tại khoang miệng hoặc một vị trí cụ thể tại khoang miệng như răng (các loại thuốc mỡ, kem, gel và bột nhão nha khoa) hay lợi (các loại thuốc mỡ, gel, kem và bột nhão bôi lợi) hay các vị trí niêm mạc miệng khác (như các thuốc dán vào niêm mạc miệng) nhằm phát huy tác dụng tại chỗ hoặc toàn thân. Thuốc được đóng gói đơn liều hoặc đa liều.
Thuốc mềm dùng tại âm đạo
Thuốc mềm dùng tại âm đạo là các chế phẩm ở dạng mỡ, kem hoặc gel được dùng tại âm đạo nhằm phát huy tác dụng tại chỗ. Thuốc thường được đóng đơn liều trong đồ đựng có kèm một dụng cụ thích hợp để đưa thuốc vào âm đạo.
Thuốc mềm dùng tại trực tràng
Thuốc mềm dùng tại trực tràng là các chế phẩm ở dạng mỡ, kem hoặc gel được dùng tại trực tràng nhằm phát huy tác dụng tại chỗ. Thuốc thường được đóng đơn liều trong đồ đựng có kèm một dụng cụ thích hợp để đưa thuốc vào trực tràng.
PHỤ LỤC 1.14 THUỐC DÙNG TẠI MẮT
Định nghĩa
Thuốc dùng tại mắt là các chế phẩm vô khuẩn được đưa vào nhãn cầu và/hoặc kết mạc, hoặc được đặt vào trong túi kết mạc nhằm phát huy tác dụng tại chỗ. Thuốc có thể ở dạng lỏng, dạng mềm hoặc dạng rắn, có chứa một hoặc nhiều dược chất trong các dung môi hoặc môi trường phân tán thích hợp. Ngoài ra, thuốc có thể có thêm các tá dược như chất điều chỉnh độ đẳng trương hoặc độ nhớt, chất điều chỉnh hoặc ổn định pH, chất làm tăng độ tan, chất ổn định, chất kháng khuẩn, chất chống oxy hóa.
Các tá dược này không được gây ảnh hưởng bất lợi đến tác dụng điều trị dự kiến của thuốc cũng như không gây độc tính hay kích ứng không mong muốn tại chỗ khi dùng ở nồng độ sử dụng trong công thức.
Các thuốc dùng tại mắt sử dụng trong các trường hợp mắt bị tổn thương hoặc trong quá trình phẫu thuật mắt không được chứa chất bảo quản và được đóng gói đơn liều, trừ khi có chứng minh phù hợp.
Thuốc dùng tại mắt có thể được phân thành các loại sau:
- Thuốc nhỏ mắt;
- Thuốc rửa mắt;
- Thuốc bột để pha thuốc nhỏ mắt, thuốc rửa mắt;
- Thuốc tra mắt dạng mềm (Thuốc mềm dùng tại mắt);
- Thuốc đặt vào mắt.
Sản xuất
Thuốc dùng tại mắt phải được pha chế, sản xuất bằng các nguyên liệu và phương pháp phù hợp nhằm đảm bảo thu được chế phẩm vô khuẩn đồng thời phòng tránh được việc phát sinh các tạp nhiễm cũng như sự phát triển của vi sinh vật trong chế phẩm. Liên quan đến các phương pháp sản xuất thuốc vô khuẩn, tham khảo Phụ lục 16.1. Các phương pháp tiệt khuẩn.
Trong quá trình phát triển một thuốc dùng tại mắt, cần chứng minh đặc tính kháng khuẩn của thuốc. Đặc tính này có thể là chính tác dụng kháng khuẩn của thuốc hoặc của chất bảo quản thích hợp được thêm vào, hoặc bởi đồ đựng thích hợp, nhờ đó đem lại sự bảo vệ cần thiết, tránh được các tác dụng phụ phát sinh do hiện tượng thuốc bị nhiễm vi sinh vật hoặc tăng sinh vi sinh vật trong quá trình bảo quản và sử dụng thuốc. Đối với các thuốc dùng tại mắt đóng gói đa liều, phải chứng minh đặc tính kháng khuẩn của thuốc được duy trì trong suốt hạn dùng, bao gồm cả hạn dùng sau khi mở.
Cần chứng minh sự cần thiết cũng như hiệu quả kháng khuẩn của chất bảo quản được lựa chọn, sử dụng phương pháp thích hợp và tiêu chuẩn đánh giá quy định tại Phụ lục 13.8 Xác định hiệu quả kháng khuẩn của chất bảo quản. Không yêu cầu thực hiện phép thử này với mục đích để kiểm tra chất lượng thuốc.
Các thuốc dùng tại mắt không chứa chất bảo quản kháng khuẩn và công thức bào chế cũng không mang lại đặc tính kháng khuẩn như mong muốn phải đóng gói đơn liều, hoặc trong trường hợp đóng gói đa liều, phải sử dụng các đồ đựng có khả năng bảo vệ được thuốc khỏi bị nhiễm vi sinh vật sau khi mở nắp.
Khi sản xuất các loại thuốc dùng tại mắt có chứa các tiểu phân phân tán, cần có các biện pháp để kiểm soát kích thước các tiểu phân sao cho phù hợp với mục đích sử dụng.
Đối với các thuốc dùng tại mắt dạng lỏng hoặc dạng mềm đóng gói đơn liều, lượng thuốc được đóng gói phải đảm bảo đủ để có thể lấy ra được lượng thuốc ghi trên nhãn.
Yêu cầu chất lượng chung
Thử vô khuẩn (Phụ lục 13.7)
Thuốc dùng tại mắt phải đáp ứng yêu cầu của phép thử Thử vô khuẩn.
Các dụng cụ dùng để lấy thuốc được đóng gói riêng kèm theo nếu có cũng phải đáp ứng yêu cầu của phép thử này. Sử dụng kỹ thuật vô khuẩn để lấy dụng cụ ra khỏi đồ đựng và chuyển vào ống chứa môi trường nuôi cấy. Dụng cụ phải được ngâm ngập trong môi trường nuôi cấy. Ủ và đánh giá kết quả theo quy định.
Định tính, Định lượng và các yêu cầu chất lượng khác
Phải đạt yêu cầu chất lượng chung của từng loại thuốc và theo quy định trong chuyên luận riêng.
Bảo quản
Bảo quản trong đồ đựng vô khuẩn, kín hoàn toàn, chống đánh tráo.
Ghi nhãn
Nhãn phải đáp ứng các quy định hiện hành.
Nếu thuốc có sử dụng chất bảo quản, ghi rõ tên chất bảo quản.
Đối với các thuốc dùng tại mắt đóng gói đa liều, phải ghi rõ thời hạn sử dụng thuốc sau khi mở nắp. Thời hạn này thường không quá 4 tuần - trừ khi một thời hạn dài hơn đã được chứng minh là phù hợp.
Đối với các thuốc dùng tại mắt được đóng gói để sử dụng trong một lần, cần ghi rõ thuốc chỉ để sử dụng một lần (loại bỏ phần thuốc còn thừa nếu không sử dụng hết).
Đối với các thuốc đặt dùng tại mắt, tùy từng trường hợp cụ thể, cần ghi rõ hàm lượng dược chất trong 1 đơn vị đóng gói hoặc hàm lượng dược chất được giải phóng trong mỗi khoảng thời gian xác định.
Thuốc nhỏ mắt
Thuốc nhỏ mắt là các chế phẩm dạng lỏng dùng để nhỏ vào mắt. Thuốc có thể ở dạng dung dịch (trong nước hoặc trong dầu), hỗn dịch hoặc nhũ tương, thường được đóng gói đa liều với thể tích tối đa là 10 ml, trừ khi việc đóng gói ở thể tích lớn hơn được chứng minh là phù hợp. Đồ đựng được thiết kế để khi dùng có thể lấy được thuốc liên tiếp ở dạng giọt, có thể bằng cách gắn trực tiếp với một ống có đầu nhỏ giọt hoặc được đậy bằng một cụm gồm nắp vặn làm từ vật liệu thích hợp kết hợp cùng với một ống nhỏ giọt và một núm cao su hoặc núm nhựa. Cụm nắp vặn kèm ống nhỏ giọt và núm cao su hoặc nhựa này cũng có thể được đóng gói vô khuẩn và cung cấp riêng kèm theo, cần đảm bảo tính tương thích của các thành phần nhựa và cao su trước khi sử dụng các vật liệu này để làm hệ bao bì đóng thuốc.
Đối với các thuốc nhỏ mắt trong công thức phải sử dụng đồng thời cả chất chống oxy hóa và chất bảo quản kháng khuẩn, cần đảm bảo tính tương thích giữa các chất này.
Đối với các thuốc nhỏ mắt được dùng trong quá trình phẫu thuật, cần đặc biệt thận trọng khi phải sử dụng các tá dược đệm trong công thức để đảm bảo bản chất và nồng độ sử dụng của các tá dược này là phù hợp.
Khi quan sát ở các điều kiện thích hợp, thuốc nhỏ mắt dạng dung dịch phải trong và không có các tiểu phân. Thuốc nhỏ mắt dạng nhũ tương có thể có hiện tượng bị tách lớp nhưng phải trở lại trạng thái phân tán đồng nhất ngay sau khi lắc. Thuốc nhỏ mắt dạng hỗn dịch có thể có hiện tượng các tiểu phân bị lắng xuống đáy nhưng các tiểu phân này phải dễ dàng được phân tán trở lại khi lắc, tạo thành hỗn dịch đồng nhất và duy trì được trạng thái ổn định này trong khoảng thời gian đủ để lấy được đúng liều dùng của thuốc.
Thể tích (Phụ lục 11.1)
Nếu không có chỉ dẫn khác, thuốc nhỏ mắt phải đáp ứng yêu cầu của phép thử Giới hạn cho phép về thể tích của các thuốc dạng lỏng.
Xác định giới hạn tiểu phân không nhìn thấy bằng mắt thường (Phụ lục 11.8, mục A)
Trừ khi có chỉ dẫn khác, các thuốc nhỏ mắt để dùng trong quá trình phẫu thuật, điều trị sơ cứu hoặc điều trị mắt bị tổn thương phải đáp ứng các giới hạn tiểu phân sau đây, tùy thuộc việc áp dụng phương pháp 1 hay phương pháp 2 để thử:
Phương pháp 1 (Dùng thiết bị đếm tiểu phân cản ánh sáng): Số lượng trung bình các tiểu phân có trong các đơn vị đóng gói đem thử là không được lớn hơn 1000/ml đối với các tiểu phân có kích thước bằng hoặc lớn hơn 10 μm và không được lớn hơn 100/ml đối với các tiểu phân có kích thước bằng hoặc lớn hơn 25 μm.
Phương pháp 2 (Dùng kính hiển vi đếm tiểu phân); số lượng trung bình các tiểu phân có trong các đơn vị đóng gói đem thử là không được lớn hơn 3000/đơn vị đóng gói đối với các tiểu phân có kích thước bằng hoặc lớn hơn 10 μm và không được lớn hơn 300/đơn vị đóng gói đối với các tiểu phân có kích thước bằng hoặc lớn hơn 25 μm.
Các giới hạn nêu trên có thể cao hơn trong trường hợp thuốc ở dạng nhũ tương, hệ phân tán keo hoặc chế phẩm liposom.
Kích thước tiểu phân
Trừ khi có chỉ dẫn khác, các thuốc nhỏ mắt dạng hỗn dịch phải đáp ứng yêu cầu của phép thử sau: Lắc kỹ thuốc trước khi thử. Chuyển một lượng thuốc thích hợp vào buồng đếm hoặc sử dụng micropipet để nhỏ một lượng thuốc thích hợp lên lam kính (thông thường tương ứng với 10 μg dược chất) và quét toàn bộ mẫu thử dưới kính hiển vi. Nên tiến hành quét mẫu ở độ phóng đại thấp (ví dụ ở 50x) để xác định các tiểu phân có kích thước lớn hơn 25 μm trước, sau đó tiến hành đo kích thước các tiểu phân này ở độ phóng đại lớn hơn (ví dụ từ 200x đến 500x). Dựa trên lượng dược chất có trong lượng mẫu đem thử, tính toán số lượng các tiểu phân quan sát được trong mỗi 10 μg dược chất. Không có quá 20 tiểu phân có kích thước lớn hơn 25 μm, trong đó không có quá 2 tiểu phân có kích thước lớn hơn 50 μm và không có tiểu phân nào có kích thước lớn hơn 90 μm.
Thuốc rửa mắt
Thuốc rửa mắt là các chế phẩm vô khuẩn dạng lỏng trong môi trường nước được dùng để rửa mắt, ngâm mắt hoặc để thấm vào băng băng mắt. Các thuốc rửa mắt đóng gói đa liều chỉ được đóng với thể tích tối đa là 200 ml, trừ khi việc đóng gói ở thể tích lớn hơn được chứng minh là phù hợp.
Khi quan sát ở các điều kiện thích hợp, thuốc rửa mắt dạng dung dịch phải trong và không có các tiểu phân.
Thể tích (Phụ lục 11.1)
Nếu không có chỉ dẫn khác, thuốc rửa mắt phải đáp ứng yêu cầu của phép thử Giới hạn cho phép về thể tích của các thuốc dạng lỏng.
Xác định giới hạn tiểu phân không nhìn thấy bằng mắt thường (Phụ lục 11.8, mục A)
Trừ khi có chỉ dẫn khác, các thuốc rửa mắt để dùng trong quá trình phẫu thuật, như điều trị sơ cứu hoặc điều trị mắt bị tổn thương phải đáp ứng các giới hạn tiểu phân sau đây, tùy thuộc việc áp dụng phương pháp 1 hay phương pháp 2 để thử:
Phương pháp 1 (Dùng thiết bị đếm tiểu phân cản ánh sáng): Trường hợp thuốc được đóng với thể tích ít hơn hoặc bằng 100 ml, số lượng trung bình các tiểu phân có trong các đơn vị đóng gói đem thử không được lớn hơn 6000/đơn vị đóng gói đối với các tiểu phân có kích thước bằng hoặc lớn hơn 10 μm và không được lớn hơn 600/đơn vị đóng gói đối với các tiểu phân có kích thước bằng hoặc lớn hơn 25 μm. Trường hợp thuốc được đóng với thể tích lớn hơn 100 ml, số lượng trung bình các tiểu phân có trong các đơn vị đóng gói đem thử không được lớn hơn 25/ml đối với các tiểu phân có kích thước bằng hoặc lớn hơn 10 μm và không được lớn hơn 3/ml đối với các tiểu phân có kích thước bằng hoặc lớn hơn 25 μm.
Phương pháp 2 (Dùng kính hiển vi đếm tiểu phân): Trường hợp thuốc được đóng với thể tích ít hơn hoặc bằng 100 ml, số lượng trung bình các tiểu phân có trong các đơn vị đóng gói đem thử không được lớn hơn 3000/đơn vị đóng gói đối với các tiểu phân có kích thước bằng hoặc lớn hơn 10 μm và không được lớn hơn 300/đơn vị đóng gói đối với các tiểu phân có kích thước bằng hoặc lớn hơn 25 μm. Trường hợp thuốc được đóng với thể tích lớn hơn 100 ml, số lượng trung bình các tiểu phân có trong các đơn vị đóng gói đem thử không được lớn hơn 12/ml đối với các tiểu phân có kích thước bằng hoặc lớn hơn 10 μm và không được lớn hơn 2/ml đối với các tiểu phân có kích thước bằng hoặc lớn hơn 25 μm.
Thuốc bột để pha thuốc nhỏ mắt, thuốc rửa mắt
Thuốc bột để pha thuốc nhỏ mắt, thuốc rửa mắt là các chế phẩm rắn trước khi dùng phải được hòa tan hoặc phân tán trong một chất lỏng vô khuẩn thích hợp theo chỉ dẫn. Các thuốc này có thể có thêm các tá dược nhằm chống lại sự kết tụ của các tiểu phân sau khi được pha. Sau khi được hòa tan hoặc phân tán, tùy thuộc loại thuốc thu được sau khi pha, thuốc phải đáp ứng các yêu cầu của thuốc nhỏ mắt hoặc thuốc rửa mắt tương ứng.
Độ đồng đều đơn vị liều (Phụ lục 11.9)
Thuốc bột để pha thuốc nhỏ mắt, thuốc rửa mắt đóng gói đơn liều phải đáp ứng yêu cầu của phép thử Độ đồng đều đơn vị liều. Phép thử này cũng có thể được thay thế bằng phép thử Độ đồng đều hàm lượng và/hoặc phép thử Độ đồng đều khối lượng được đề cập dưới đây khi được chứng minh là phù hợp. Không yêu cầu thực hiện phép thử này với các thành phần dược liệu có trong thuốc.
Độ đồng đều hàm lượng (Phụ lục 11.2)
Trừ khi có chỉ dẫn khác, thuốc bột để pha thuốc nhỏ mắt, thuốc rửa mắt đóng gói đơn liều có hàm lượng dược chất nhỏ hơn 2 mg hoặc nhỏ hơn 2 % so với khối lượng bột thuốc trọng một liều phải đáp ứng yêu cầu tại Phương pháp 1 của phép thử Độ đồng đều hàm lượng. Đối với thuốc có từ 2 dược chất trở lên, chỉ yêu cầu thử độ đồng đều hàm lượng với thành phần dược chất nào có hàm lượng nhỏ như quy định ở trên.
Độ đồng đều khối lượng (Phụ lục 11.3)
Thuốc bột để pha thuốc nhỏ mắt, thuốc rửa mắt đóng gói đơn liều phải đáp ứng yêu cầu của phép thử Độ đồng đều khối lượng. Thuốc đã thử Độ đồng đều hàm lượng của tất cả các thành phần dược chất thì không phải thử Độ đồng đều khối lượng.
Thuốc tra mắt dạng mềm
Thuốc tra mắt dạng mềm hay thuốc mềm dùng tại mắt là các chế phẩm vô khuẩn ở dạng mỡ, kem hoặc gel với thể chất đồng nhất dùng để tra vào kết mạc hoặc mí mắt nhằm phát huy tác dụng tại chỗ. Thuốc đáp ứng các yêu cầu quy định tại Phụ lục 1.12 Thuốc mềm dùng trên da và niêm mạc.
Thuốc được đóng gói đơn liều hoặc đa liều với khối lượng nhỏ trong đồ đựng vô khuẩn được thiết kế phù hợp có kèm theo một ống thông vô khuẩn dùng để tra thuốc vào mắt được gắn liền với đồ đựng hoặc được cung cấp kèm theo đồ đựng. Đồ đựng phải kín để thuốc không bị nhiễm vi sinh vật và có hình dạng thích hợp để đảm bảo sự thuận tiện trong quá trình sử dụng mà không gây nhiễm khuẩn vào thuốc ở bên trong. Khối lượng thuốc tối đa được đóng trong mỗi đơn vị đóng gói là 10 g, trừ khi chứng minh được việc đóng gói ở khối lượng lớn hơn là phù hợp.
Kích thước tiểu phân
Các thuốc tra mắt dạng mềm có chứa các tiểu phân rắn được phân tán phải đáp ứng yêu cầu của phép thử sau: Phết nhẹ nhàng một lượng chế phẩm tương ứng với ít nhất 10 μg dược chất lên lam kính thành một lớp mỏng và quét toàn bộ mẫu dưới kính hiển vi. Nên tiến hành quét mẫu ở độ phóng đại thấp (ví dụ ở 50x) để xác định các tiểu phân có kích thước lớn hơn 25 μm trước, sau đó tiến hành đo kích thước các tiểu phân này ở độ phóng đại lớn hơn (ví dụ từ 200x đến 500x). Dựa trên lượng dược chất có trong lượng mẫu đem thử, tính toán số lượng các tiểu phân quan sát được trong mỗi 10 μg dược chất. Không có quá 20 tiểu phân có kích thước lớn hơn 25μm, trong đó không có quá 2 tiểu phân có kích thước lớn hơn 50 μm và không có tiểu phân nào có kích thước lớn hơn 90 μm.
Thuốc đặt vào mắt
Thuốc đặt vào mắt là các chế phẩm đơn liều dạng rắn hoặc mềm có kích thước và hình dạng thích hợp để đặt vào trong túi kết mạc. Thuốc thường bao gồm một nhân chứa dược chất được đặt vào một chất mang hoặc được bao bởi một màng kiểm soát tốc độ giải phóng dược chất. Dược chất, với tính chất tan ít hoặc nhiều trong nước mắt, được giải phóng trong một khoảng thời gian xác định. Thuốc được đóng gói trong đồ đựng vô khuẩn và đơn liều.
Độ đồng đều đơn vị liều (Phụ lục 11.9)
Thuốc đặt vào mắt phải đáp ứng yêu cầu của phép thử Độ đồng đều đơn vị liều. Phép thử này cũng có thể được thay thế bằng phép thử Độ đồng đều hàm lượng được đề cập dưới đây khi được chứng minh là phù hợp. Không yêu cầu thực hiện phép thử này với các thành phần dược liệu có trong thuốc.
Độ đồng đều hàm lượng (Phụ lục 11.2)
Khi được áp dụng, thuốc đặt vào mắt phải đáp ứng yêu cầu tại Phương pháp 2 của phép thử Độ đồng đều hàm lượng.
Khả năng giải phóng dược chất
Tiến hành một phép thử thích hợp để chứng minh khả năng giải phóng dược chất phù hợp.
PHỤ LỤC 1.15 THUỐC DÙNG TẠI MŨI
Định nghĩa
Thuốc dùng tại mũi là các chế phẩm được đưa vào khoang mũi nhằm phát huy tác dụng tại chỗ hoặc toàn thân. Thuốc có thể ở dạng lỏng, dạng mềm hoặc dạng rắn, có chứa một hoặc nhiều dược chất trong các dung môi hoặc môi trường phân tán thích hợp. Ngoài ra, thuốc có thể có thêm các tá dược như chất điều chỉnh độ đẳng trương hoặc độ nhớt, chất điều chỉnh hoặc ổn định pH, chất làm tăng độ tan, chất ổn định, chất kháng khuẩn phù hợp. Các tá dược này không được gây ảnh hưởng bất lợi đến tác dụng điều trị dự kiến của thuốc cũng như không gây độc tính hay kích ứng không mong muốn tại chỗ khi dùng ở nồng độ sử dụng trong công thức.
Thuốc dùng tại mũi được đóng gói đơn liều hoặc đa liều, có thể kèm theo một dụng cụ để lấy thuốc nếu cần, được thiết kế phù hợp để tránh được hiện tượng thuốc bị nhiễm bẩn trong quá trình sử dụng. Các thuốc dùng tại mũi đóng gói đa liều có dung môi hoặc môi trường phân tán là nước phải có chất bảo quản thích hợp ở nồng độ thích hợp, trừ khi bản thân chế phẩm đã có đủ đặc tính kháng khuẩn cần thiết hoặc chứng minh được chế phẩm vẫn đảm bảo đạt yêu cầu chỉ tiêu vi sinh vật mà không cần chất bảo quản.
Các thuốc dùng tại mũi được sử dụng khi mũi bị tổn thương đặc biệt ở niêm mạc mũi hoặc dùng trước khi phẫu thuật phải vô khuẩn. Các thuốc này không được chứa chất bảo quản và phải đóng gói đơn liều, trừ khi chứng minh được việc sử dụng chất bảo quản và/hoặc đóng gói đa liều là phù hợp.
Thuốc dùng tại mũi có thể được phân thành các loại sau:
- Thuốc nhỏ mũi;
- Thuốc xịt mũi;
- Thuốc bột dùng tại mũi;
- Thuốc mềm dùng tại mũi;
- Thuốc rửa mũi;
- Que đặt vào mũi.
Sản xuất
Phải áp dụng các biện pháp thích hợp trong toàn bộ quá trình sản xuất, đóng gói, bảo quản và phân phối các thuốc dùng tại mũi nhằm đảm bảo mức độ nhiễm vi sinh vật của thuốc nằm trong giới hạn cho phép theo quy định tại Phụ lục 13.6 Thử giới hạn nhiễm vi sinh vật.
Đối với các thuốc dùng tại mũi có yêu cầu vô khuẩn, phải sử dụng nguyên liệu và phương pháp pha chế phù hợp nhằm đảm bảo thu được chế phẩm vô khuẩn đồng thời phòng tránh được việc phát sinh các tạp nhiễm cũng như sự phát triển của vi sinh vật trong chế phẩm. Liên quan đến các phương pháp sản xuất thuốc vô khuẩn, tham khảo Phụ lục 16.1 Các phương pháp tiệt khuẩn.
Đối với các thuốc dùng tại mũi phải sử dụng chất bảo quản kháng khuẩn trong công thức pha chế, cần chứng minh sự cần thiết cũng như hiệu quả kháng khuẩn của chất bảo quản được lựa chọn, sử dụng phương pháp thích hợp và tiêu chuẩn đánh giá quy định tại Phụ lục 13.8 Xác định hiệu quả kháng khuẩn của chất bảo quản. Không yêu cầu thực hiện phép thử này với mục đích để kiểm tra chất lượng thuốc.
Đối với các thuốc dùng tại mũi dạng mềm hoặc dạng lỏng đóng gói đơn liều, lượng thuốc được đóng gói phải đảm bảo đủ để có thể lấy ra được lượng thuốc ghi trên nhãn.
Khi sản xuất các loại thuốc dùng tại mũi có chứa các tiểu phân được phân tán, cần có các biện pháp để kiểm soát kích thước các tiểu phân sao cho phù hợp với mục đích sử dụng.
Khi sản xuất các loại thuốc xịt mũi hoặc thuốc bột dùng tại mũi có định liều được đóng gói đa liều, phải đảm bảo yêu cầu độ đồng đều liều trong một đơn vị đóng gói và giữa các đơn vị đóng gói.
Phép thử đánh giá độ đồng đều liều trong một đơn vị đóng gói (intra-container) được quy định trong yêu cầu chất lượng của Thuốc xịt mũi.
Phép thử đánh giá độ đồng đều liều giữa các đơn vị đóng gói (inter-container) được quy định dưới đây.
Độ đồng đều liều phân phối giữa các đơn vị đóng gói
Trừ khi có chỉ dẫn khác, thuốc xịt mũi có định liều đóng gói đa liều phải đáp ứng yêu cầu của phép thử này.
Chuẩn bị và sử dụng chế phẩm thuốc xịt mũi theo đúng hướng dẫn sử dụng.
Quy trình tham khảo: Định lượng 10 liều thuốc được lấy riêng biệt từ 10 đơn vị đóng gói, trong đó 3 liều là các liều đầu tiên của 3 đơn vị đóng gói, 4 liều là các liều ở giữa của 4 đơn vị đóng gói khác và 3 liều là các liều cuối của 3 đơn vị đóng gói còn lại. Xác định các liều ở giữa và cuối dựa trên Tổng số liều phân phối ghi trên nhãn
Có thể áp dụng một quy trình thử khác nếu chứng minh được sự phù hợp.
Sử dụng thiết bị thu mẫu phù hợp như mô tả ở Phụ lục 1.17 Thuốc hít.
Yêu cầu chất lượng chung
Thử vô khuẩn (Phụ lục 13.7)
Các thuốc dùng tại mũi có yêu cầu vô khuẩn phải đáp ứng yêu cầu của phép thử Thử vô khuẩn.
Định tính, Định lượng và các yêu cầu chất lượng khác
Phải đạt yêu cầu chất lượng chung của từng loại thuốc và theo quy định trong chuyên luận riêng.
Bảo quản
Các thuốc dùng tại mũi có yêu cầu vô khuẩn phải được bảo quản trong đồ đựng vô khuẩn, kín, chống can thiệp.
Ghi nhãn
Nhãn phải đáp ứng các quy định hiện hành.
Nếu thuốc có sử dụng chất bảo quản, ghi rõ tên chất bảo quản.
Nếu thuốc là chế phẩm vô khuẩn, ghi rõ thông tin này trên nhãn.
Đối với các thuốc dùng tại mũi đóng gói đa liều, nhãn phải ghi:
- Thời hạn sử dụng thuốc sau khi mở nắp.
- Nếu cần, hàm lượng của một liều phân phối (liều xịt), liều này có thể là liều được định sẵn (metered dose) hoặc là liều được chia trước (pre-metered dose), nếu được chứng minh là phù hợp).
- Tổng số liều phân phối (liều xịt) của một đơn vị đóng gói, nếu có.
Thuốc nhỏ mũi
Thuốc nhỏ mũi là các chế phẩm dạng lỏng dùng để nhỏ vào khoang mũi. Thuốc có thể ở dạng dung dịch, hỗn dịch hoặc nhũ tương, thường được đóng gói đa liều trong các đồ đựng bằng thủy tinh hoặc bằng nhựa thích hợp, được gắn với một ống có đầu nhỏ giọt hoặc được đậy bằng một nắp vặn làm từ vật liệu thích hợp kết hợp cùng với một ống nhỏ giọt và một núm cao su hoặc núm nhựa. Cụm nắp vặn kèm ống nhỏ giọt và núm cao su hoặc nhựa này cũng có thể được cung cấp riêng kèm theo.
Thuốc nhỏ mũi dạng nhũ tương có thể có hiện tượng bị tách lớp nhưng phải trở lại trạng thái phân tán đồng nhất ngay sau khi lắc. Thuốc nhỏ mũi dạng hỗn dịch có thể có hiện tượng các tiểu phân bị lắng xuống đáy nhưng các tiểu phân này phải dễ dàng được phân tán trở lại khi lắc, tạo thành hỗn dịch đồng nhất và duy trì được trạng thái ổn định này trong khoảng thời gian đủ để lấy được đúng liều dùng của thuốc.
Độ đồng đều đơn vị liều (Phụ lục 11.9)
Trừ khi có chỉ dẫn khác, thuốc nhỏ mũi đóng gói đơn liều phải đáp ứng yêu cầu của phép thử Độ đồng đều đơn vị liều. Phép thử này cũng có thể được thay thế bằng phép thử Độ đồng đều hàm lượng và/hoặc phép thử Độ đồng đều khối lượng được đề cập dưới đây khi được chứng minh là phù hợp. Không yêu cầu thực hiện phép thử này với các thành phần dược liệu có trong thuốc.
Độ đồng đều khối lượng
Thuốc nhỏ mũi ở dạng dung dịch đóng gói đơn liều phải đáp ứng yêu cầu của phép thử sau: Lấy 10 đơn vị đóng gói. Cân riêng biệt lượng thuốc được lấy ra nhiều nhất có thể từ mỗi đơn vị đóng gói. Xác định khối lượng trung bình và so sánh khối lượng của từng đơn vị với khối lượng trung bình. Không quá 2 đơn vị có khối lượng chênh lệch quá 10 % và không có đơn vị nào có khối lượng chênh lệch quá 20 % so với khối lượng trung bình.
Độ đồng đều hàm lượng (Phụ lục 11.2)
Thuốc nhỏ mũi ở dạng hỗn dịch và nhũ tương đóng gói đơn liều phải đáp ứng yêu cầu tại Phương pháp 1 của phép thử Độ đồng đều hàm lượng. Lắc kỹ từng đơn vị đóng gói, lấy ra lượng thuốc nhiều nhất có thể trong từng đơn vị đóng gói để định lượng.
Thể tích (Phụ lục 11.1)
Thuốc nhỏ mũi phải đáp ứng yêu cầu của phép thử Giới hạn cho phép về thể tích của các thuốc dạng lỏng.
Thuốc xịt mũi
Thuốc xịt mũi là các chế phẩm dạng lỏng dùng để xịt vào khoang mũi. Thuốc có thể ở dạng dung dịch, hỗn dịch hoặc nhũ tương, thường được đóng gói đa liều trong các đồ đựng được gắn với thiết bị phun sương hoặc trong đồ đựng có áp suất thích hợp được gắn với đầu phun có hoặc không có van định liều kèm theo. Với kiểu phun sương và kích thước các giọt được phun thích hợp, thuốc sẽ được lắng đọng ở khoang mũi.
Đồ đựng của thuốc xịt mũi có áp suất phải đáp ứng yêu cầu về đồ đựng có áp suất tại Phụ lục 1.17 Thuốc hít.
Thuốc xịt mũi dạng nhũ tương có thể có hiện tượng bị tách lớp nhưng phải trở lại trạng thái phân tán đồng nhất ngay sau khi lắc. Thuốc xịt mũi dạng hỗn dịch có thể có hiện tượng các tiểu phân bị lắng xuống đáy nhưng các tiểu phân này phải dễ dàng được phân tán trở lại khi lắc, tạo thành hỗn dịch đồng nhất và duy trì được trạng thái ổn định này trong khoảng thời gian đủ để lấy được đúng liều dùng của thuốc.
Độ đồng đều liều phân phối trong một đơn vị đóng gói
Thuốc xịt mũi có định liều đóng gói đa liều phải đáp ứng yêu cầu của phép thử được mô tả dưới đây. Đối với các thuốc dạng dung dịch, phép thử này cũng có thể được thay thế bằng phép thử Độ đồng đều khối lượng liều phân phối trong một đơn vị đóng gói được đề cập bên dưới khi được chứng minh là phù hợp.
Cách tiến hành: Sử dụng một thiết bị có khả năng thu giữ toàn bộ lượng thuốc của một liều được giải phóng ra khỏi đồ đựng thuốc để làm thiết bị thu mẫu (xem mô tả thiết bị thu mẫu tại Phụ lục 1.17 Thuốc hít). Lấy một đơn vị đóng gói để thử. Tiến hành xịt thuốc ra khỏi đồ đựng theo hướng dẫn sử dụng vào thiết bị thu mẫu, số lần xịt tương đương một liều khuyến cáo tối thiểu. Đối với các bình xịt có áp suất, các lần xịt thuốc cần cách nhau tối thiểu 5 s để tránh hiện tượng bình bị lạnh quá mức. Định lượng toàn bộ lượng thuốc hứng được từ thiết bị thu mẫu. Nếu thuốc chứa nhiều dược chất, tiến hành định lượng tất cả các dược chất có trong thuốc. Lặp lại quy trình xịt thuốc vào dụng cụ thu giữ mẫu và định lượng với 2 liều nữa.
Tiếp tục xịt thuốc ra khỏi đồ đựng và loại bỏ lượng thuốc này đến khi số lần xịt thuốc còn lại trong đồ đựng là (n/2 + 1), trong đó n là tổng số liều xịt của một đơn vị đóng gói ghi trên nhãn. Lặp lại việc xịt thuốc vào thiết bị thu mẫu và định lượng từng liều thuốc theo quy trình nêu trên với 4 liều tiếp theo.
Tiếp tục xịt thuốc ra khỏi đồ đựng và loại bỏ lượng thuốc này đến khi trong đồ đựng chỉ còn lại số lần xịt thuốc tương đương 3 liều. Tiến hành xịt thuốc vào thiết bị thu mẫu và định lượng từng liều thuốc theo quy trình nêu trên với 3 liều cuối cùng này.
Trừ khi có chỉ dẫn khác, chế phẩm đạt yêu cầu của phép thử nếu kết quả định lượng của 9 trong số 10 liều có giá trị nằm trong khoảng 75 % đến 125 % giá trị trung bình của 10 liều và tất cả các liều đều có giá trị nằm trong khoảng 65 % đến 135 % giá trị trung bình của 10 liều. Nếu có 2 hoặc 3 liều có giá trị nằm ngoài khoảng 75 % đến 125 % nhưng trong khoảng 65 % đến 135 % giá trị trung bình của 10 liều, lặp lại toàn bộ thử nghiệm trên với 2 đơn vị đóng gói nữa. Không quá 3 liều trong tổng số 30 liều được thử có giá trị nằm ngoài khoảng 75 % đến 125 % và không có liều nào có giá trị nằm ngoài khoảng 65 % đến 135 % giá trị trung bình của 30 liều. Trừ khi có chỉ dẫn khác, giá trị trung bình của các liều được thử phải nằm trong khoảng 85 % đến 115 % hàm lượng 1 liều công bố trên nhãn.
Độ đồng đều khối lượng liều phân phối trong một đơn vị đóng gói
Thuốc xịt mũi có định liều ở dạng dung dịch đóng gói đa liều phải đáp ứng yêu cầu của phép thử sau: Lấy một đơn vị đóng gói, cân và tiến hành xịt thuốc ra khỏi đồ đựng theo hướng dẫn sử dụng - số lần xịt tương đương một liều khuyến cáo tối thiểu. Cân lại đồ đựng. Tính sự chênh lệch khối lượng giữa 2 lần cân để xác định khối lượng của liều đã lấy. Lặp lại các thao tác này với 2 liều nữa.
Tiếp tục xịt thuốc ra khỏi đồ đựng và loại bỏ lượng thuốc này đến khi số lần xịt thuốc còn lại trong đồ đựng là (n/2 + 1), trong đó n là tổng số liều xịt của một đơn vị đóng gói ghi trên nhãn. Cân đồ đựng và xác định khối lượng của từng liều với 4 liều tiếp theo bằng quy trình được mô tả ở trên.
Tiếp tục xịt thuốc ra khỏi đồ đựng và loại bỏ lượng thuốc này đến khi trong đồ đựng chỉ còn lại số lần xịt thuốc tương đương 3 liều. Cân đồ đựng và xác định khối lượng của từng liều với 3 liều cuối cùng này bằng quy trình mô tả ở trên.
Trừ khi có chỉ dẫn khác, chế phẩm đạt yêu cầu của phép thử nếu khối lượng của 9 trong số 10 liều có giá trị nằm trong khoảng 75 % đến 125 % khối lượng trung bình của 10 liều và tất cả các liều đều có khối lượng nằm trong khoảng 65 % đến 135 % khối lượng trung bình của 10 liều. Nếu có 2 hoặc 3 liều có khối lượng nằm ngoài khoảng 75 % đến 125 % nhưng trong khoảng 65 % đến 135 % khối lượng trung bình của 10 liều, lặp lại toàn bộ quy trình thử trên với 2 đơn vị đóng gói nữa. Không có quá 3 liều trong tổng số 30 liều được thử có khối lượng nằm ngoài khoảng 75 % đến 125 % và không có liều nào có khối lượng nằm ngoài khoảng 65 % đến 135 % khối lượng trung bình của 30 liều. Trừ khi có chỉ dẫn khác, khối lượng trung bình của các liều đem thử phải nằm trong khoảng 85 % đến 115 % khối lượng liều phân phối dự kiến.
Độ đồng đều khối lượng đối với thuốc đóng gói đơn liều
Thuốc xịt mũi ở dạng dung dịch đóng gói đơn liều phải đáp ứng yêu cầu của phép thử sau: Lấy 1 đơn vị đóng gói, cân và tiến hành xịt thuốc ra khỏi đồ đựng hiện theo hướng dẫn sử dụng - số lần xịt tương đương một liều khuyến cáo tối thiểu. Cân lại đồ đựng. Tính sự chênh lệch khối lượng giữa 2 lần cân để xác định khối lượng của liều đã lấy. Lặp lại các thao tác trên với 9 đơn vị đóng gói nữa.
Chế phẩm đạt yêu cầu của phép thử nếu có 8 trong 10 giá trị thu được nằm trong khoảng 75 % đến 125 % giá trị trung bình và tất cả các giá trị thu được đều nằm trong khoảng 65 % đến 135 % giá trị trung bình.
Tổng số liều xịt của một đơn vị đóng gói
Thuốc xịt mũi đóng gói đa liều phải đáp ứng yêu cầu của phép thử sau: Lấy 1 đơn vị đóng gói và xịt thuốc ra khỏi đồ đựng cho đến khi hết thuốc trong đồ đựng, cách xịt thuốc theo đúng hướng dẫn sử dụng. Đếm số liều xịt thuốc. Tổng số liều xịt ra khỏi đồ đựng không được ít hơn tổng số liều xịt của một đơn vị đóng gói ghi trên nhãn.
Tỷ lệ rò rỉ
Thuốc xịt mũi có định liều được đóng trong đồ đựng có áp suất phải đáp ứng yêu cầu của phép thử sau: Lấy một số đơn vị đóng gói thích hợp để thử, ví dụ 1 đơn vị đóng gói. Bỏ nhãn và ghi ngày giờ chính xác đến nửa giờ gần nhất. Cân chính xác đồ đựng và ghi lại khối lượng theo miligam (m1, mg). Để đồ đựng ở tư thế thẳng đứng ở nhiệt độ (25,0 ± 2,0 °C) trong trong ít nhất 3 ngày, sau đó cân lại đồ đựng, ghi khối lượng (m2, mg) và ghi ngày giờ chính xác đến nửa giờ gần nhất. Xác định thời gian giữa 2 lần cân (t) tính bằng giờ. Tính tổng khối lượng hao hụt (mg) trong toàn bộ thời hạn sử dụng của thuốc (D - tính bằng tháng) theo công thức sau:
trong đó, 730 là số giờ trong 1 tháng.
Trừ khi có chỉ dẫn khác, chế phẩm đáp ứng yêu cầu của phép thử nếu tổng khối lượng hao hụt trong toàn bộ thời hạn sử dụng không quá 10 % (kl/kl) khối lượng thuốc công bố trên nhãn.
Thuốc bột dùng tại mũi
Đáp ứng các yêu cầu quy định tại Phụ lục 1.7 Thuốc bột, mục Thuốc bột dùng tại mũi.
Thuốc mềm dùng tại mũi
Đáp ứng các yêu cầu quy định tại Phụ lục 1.12 Thuốc mềm dùng trên da và niêm mạc.
Thuốc rửa mũi
Thuốc rửa mũi là các chế phẩm dạng lỏng dùng để rửa sạch khoang mũi, thường ở dạng dung dịch đẳng trương trong nước.
Thể tích (Phụ lục 11.1)
Thuốc rửa mũi phải đáp ứng yêu cầu của phép thử Giới hạn cho phép về thể tích của các thuốc dạng lỏng.
Que đặt vào mũi
Que đặt vào mũi là các chế phẩm dạng rắn có hình que hoặc hình nón dùng để đặt vào khoang mũi. Thuốc chứa một hoặc nhiều dược chất, có thể không có tá dược hoặc cũng có thể dược chất được hòa tan hay phân tán trong tá dược nền thích hợp, thường với mục đích để khi được đặt vào khoang mũi, thuốc sẽ tan hoặc chảy ra ở nhiệt độ cơ thể và giải phóng dược chất. Thuốc có thể được đóng gói đơn liều hoặc đa liều.
Độ đồng đều đơn vị liều (Phụ lục 11.9)
Que đặt vào mũi đơn liều phải đáp ứng yêu cầu của phép thử Độ đồng đều đơn vị liều. Phép thử này cũng có thể được thay thế bằng phép thử Độ đồng đều hàm lượng và/hoặc Độ đồng đều khối lượng được đề cập bên dưới nếu được chứng minh là phù hợp. Không yêu cầu thực hiện phép thử này với các thành phần dược liệu có trong thuốc.
Độ đồng đều hàm lượng (Phụ lục 11.2)
Trừ khi có chỉ dẫn khác, que đặt vào mũi đơn liều có hàm lượng dược chất dưới 2 mg hoặc dưới 2 % so với khối lượng của đơn vị liều phải đáp ứng yêu cầu tại Phương pháp 1 của phép thử Độ đồng đều hàm lượng. Đối với thuốc có từ 2 dược chất trở lên, chỉ yêu cầu thử độ đồng đều hàm lượng với thành phần dược chất nào có hàm lượng nhỏ như quy định ở trên.
Độ đồng đều khối lượng (Phụ lục 11.3)
Que đặt vào mũi đơn liều phải đáp ứng yêu cầu của phép thử Độ đồng đều khối lượng. Thuốc đã thử độ đồng đều hàm lượng của tất cả các thành phần dược chất thì không phải thử độ đồng đều khối lượng.
PHỤ LỤC 1.16 THUỐC DÙNG TẠI TAI
Định nghĩa
Thuốc dùng tại tai là các chế phẩm được đưa vào ống tai ngoài nhằm phát huy tác dụng tại chỗ. Thuốc có thể ở dạng lỏng, dạng mềm hoặc dạng rắn, có chứa một hoặc nhiều dược chất trong các dung môi hoặc môi trường phân tán thích hợp. Ngoài ra, thuốc có thể có thêm các tá dược như chất điều chỉnh độ đẳng trương hoặc độ nhớt, chất điều chỉnh hoặc ổn định pH, chất làm tăng độ tan, chất ổn định hoặc chất kháng khuẩn. Các tá dược này không được gây ảnh hưởng bất lợi đến tác dụng điều trị dự kiến của thuốc cũng như không gây độc tính hay kích ứng tại chỗ khi dùng ở nồng độ sử dụng trong công thức.
Thuốc dùng tại tai được đóng gói đơn liều hoặc đa liều, có thể kèm theo một dụng cụ để đưa được thuốc vào ống tai nếu cần, được thiết kế phù hợp để tránh được hiện tượng thuốc bị nhiễm bẩn trong quá trình sử dụng.
Các thuốc dùng tại tai đóng gói đa liều có dung môi hoặc môi trường phân tán là nước phải có chất bảo quản thích hợp ở nồng độ thích hợp, trừ khi bản thân chế phẩm đã có đủ đặc tính kháng khuẩn cần thiết hoặc hoặc chứng minh được chế phẩm vẫn đảm bảo đạt yêu cầu chỉ tiêu vi sinh vật mà không cần chất bảo quản.
Các thuốc dùng tại tai được sử dụng khi tai bị tổn thương, đặc biệt trong trường hợp màng nhĩ bị thủng, hoặc dùng trước khi phẫu thuật phải vô khuẩn. Các thuốc này không được chứa chất bảo quản và phải đóng gói đơn liều, trừ khi chứng minh được việc sử dụng chất bảo quản và/hoặc đóng gói đa liều là phù hợp.
Thuốc dùng tại tai có thể được phân thành các loại sau:
- Thuốc nhỏ tai;
- Thuốc xịt tai;
- Thuốc mềm dùng tại tai;
- Thuốc bột dùng tại tai;
- Thuốc rửa tai;
- Băng tẩm thuốc đặt trong tai.
Sản xuất
Phải áp dụng các biện pháp thích hợp trong toàn bộ quá trình sản xuất, đóng gói, bảo quản và phân phối các thuốc dùng tại tai nhằm đảm bảo mức độ nhiễm vi sinh vật của thuốc nằm trong giới hạn cho phép theo quy định tại Phụ lục 13.6 Thử giới hạn nhiễm vi sinh vật.
Đối với các thuốc dùng tại tai có yêu cầu vô khuẩn, phải sử dụng nguyên liệu và phương pháp pha chế được thiết kế phù hợp nhằm đảm bảo thu được chế phẩm vô khuẩn đồng thời phòng tránh việc phát sinh các tạp nhiễm cũng như sự phát triển của vi sinh vật trong chế phẩm. Liên quan đến các phương pháp sản xuất thuốc vô khuẩn, tham khảo Phụ lục 16.1 Các phương pháp tiệt khuẩn.
Đối với các thuốc dùng tại tai phải sử dụng chất bảo quản kháng khuẩn trong công thức pha chế, cần chứng minh sự cần thiết cũng như hiệu quả kháng khuẩn của chất bảo quản được lựa chọn, sử dụng phương pháp thích hợp và tiêu chuẩn đánh giá quy định tại Phụ lục 13.8 Xác định hiệu quả kháng khuẩn của chất bảo quản. Không yêu cầu thực hiện phép thử này với mục đích để kiểm tra chất lượng thuốc.
Đối với các thuốc rửa tai đóng gói đơn liều, lượng thuốc được đóng gói phải đảm bảo có thể lấy ra được đủ lượng thuốc danh định khi dùng.
Khi sản xuất các loại thuốc dùng tại tai có chứa các tiểu phân được phân tán, cần có các biện pháp để kiểm soát kích thước tiểu phân sao cho phù hợp với mục đích sử dụng.
Yêu cầu chất lượng chung
Độ đồng đều đơn vị liều (Phụ lục 11.9)
Các thuốc dùng tại tai đóng gói đơn liều phải đáp ứng yêu cầu của phép thử Độ đồng đều đơn vị liều. Phép thử này cũng có thể được thay thế bằng phép thử Độ đồng đều hàm lượng và/hoặc phép thử Độ đồng đều khối lượng được đề cập dưới đây khi được chứng minh là phù hợp. Không yêu cầu thực hiện phép thử này với các thành phần dược liệu có trong thuốc.
Độ đồng đều khối lượng
Thuốc dùng tại tai ở dạng dung dịch đóng gói đơn liều phải đáp ứng yêu cầu của phép thử sau: Lấy 10 đơn vị đóng gói. Cân riêng biệt lượng thuốc được lấy ra nhiều nhất có thể từ mỗi đơn vị đóng gói. Xác định khối lượng trung bình và so sánh khối lượng của từng đơn vị với khối lượng trung bình. Không quá 2 đơn vị có khối lượng chênh lệch quá 10 % và không có đơn vị nào có khối lượng chênh lệch quá 20 % so với khối lượng trung bình.
Độ đồng đều hàm lượng (Phụ lục 11.2)
Trừ khi có chỉ dẫn khác, thuốc dùng tại tai ở dạng hỗn dịch và nhũ tương đóng gói đơn liều phải đáp ứng yêu cầu tại Phương pháp 1 của phép thử Độ đồng đều hàm lượng. Lắc kỹ từng đơn vị đóng gói, lấy ra lượng thuốc nhiều nhất có thể trong từng đơn vị đóng gói để định lượng.
Thử vô khuẩn (Phụ lục 13.7)
Các thuốc dùng tại tai có yêu cầu vô khuẩn phải đáp ứng yêu cầu của phép thử Thử vô khuẩn.
Định tính, Định lượng và các yêu cầu chất lượng khác
Phải đạt yêu cầu chất lượng chung của từng loại thuốc và theo quy định trong chuyên luận riêng.
Bảo quản
Các thuốc dùng tại tai có yêu cầu vô khuẩn phải được bảo quản trong đồ đựng vô khuẩn, kín hoàn toàn, chống đánh tráo.
Ghi nhãn
Nhãn phải đáp ứng các quy định hiện hành.
Nếu thuốc có sử dụng chất bảo quản, ghi rõ tên chất bảo quản.
Nếu thuốc là chế phẩm vô khuẩn, ghi rõ thông tin này trên nhãn.
Đối với các thuốc dùng tại tai đóng gói đa liều, phải ghi rõ thời hạn sử dụng thuốc sau khi mở nắp. Thời hạn này.thường không quá 4 tuần, trừ khi một thời hạn dài hơn đã được chứng minh là phù hợp. Đối với các thuốc xịt tai đóng gói đa liều, nhãn phải ghi:
- Hàm lượng của một liều phân phối (liều xịt), nếu có, liều này có thể là liều được định sẵn (metered dose), hoặc là liều được chia trước (pre-metered dose) nếu được chứng minh là phù hợp).
- Tổng số liều phân phối (liều xịt) của một đơn vị đóng gói, nếu có.
Thuốc nhỏ tai
Thuốc nhỏ tai là các chế phẩm dạng lỏng dùng để nhỏ vào ống tai ngoài. Thuốc nhỏ tai cũng có thể được dùng bằng cách tẩm thuốc vào một nút bông và đặt nút bông đã tẩm thuốc vào ống tai ngoài. Các cách dùng này phải đảm bảo không gây ra các tác dụng không mong muốn trên màng nhĩ. Thuốc có thể ở dạng dung dịch, hỗn dịch hoặc nhũ tương, sử dụng các dung môi hoặc môi trường phân tán thích hợp như nước, các glycol hoặc các loại dầu béo.
Thuốc thường được đóng gói đa liều trong các đồ đựng bằng thủy tinh hoặc bằng nhựa thích hợp, được gắn với một ống có đầu nhỏ giọt hoặc được đậy bằng một nắp vặn làm từ vật liệu thích hợp kết hợp cùng với một ống nhỏ giọt và một núm cao su hoặc núm nhựa. Cụm nắp vặn kèm ống nhỏ giọt và núm cao su hoặc nhựa này cũng có thể được cung cấp riêng kèm theo.
Thuốc nhỏ tai dạng nhũ tương có thể có hiện tượng bị tách lớp nhưng phải trở lại trạng thái phân tán đồng nhất ngay sau khi lắc. Thuốc nhỏ tai dạng hỗn dịch có thể có hiện tượng các tiểu phân bị lắng xuống đáy nhưng các tiểu phân này phải dễ dàng được phân tán trở lại khi lắc, tạo thành hỗn dịch đồng nhất và duy trì được trạng thái ổn định này trong khoảng thời gian đủ để lấy được đúng liều dùng của thuốc.
Thể tích (Phụ lục 11.1)
Các thuốc nhỏ tai phải đáp ứng yêu cầu của phép thử Giới hạn cho phép về thể tích của các thuốc dạng lỏng.
Thuốc xịt tai
Thuốc xịt tai là các chế phẩm dạng lỏng dùng để phun sương và xịt vào ống tai ngoài mà không gây ra các tác dụng không mong muốn trên màng nhĩ. Thuốc có thể ở dạng dung dịch, hỗn dịch hoặc nhũ tương, sử dụng các dung môi hoặc môi trường phân tán thích hợp như nước, các glycol hoặc các loại dầu béo. Thuốc thường được đóng gói đa liều trong các đồ đựng được gắn với thiết bị phun sương hoặc trong đồ đựng có áp suất cao thích hợp được gắn với đầu phun có hoặc không có van định liều kèm theo. Đồ đựng của thuốc xịt tai có áp suất phải đáp ứng yêu cầu về đồ đựng có áp suất.
Thuốc xịt tai dạng nhũ tương có thể có hiện tượng bị tách lớp nhưng phải trở lại trạng thái phân tán đồng nhất ngay sau khi lắc. Thuốc xịt tai dạng hỗn dịch có thể có hiện tượng các tiểu phân bị lắng xuống đáy nhưng các tiểu phân này phải dễ dàng được phân tán trở lại khi lắc, tạo thành hỗn dịch đồng nhất và duy trì được trạng thái ổn định này trong khoảng thời gian đủ để lấy được đúng liều dùng của thuốc.
Độ đồng đều liều phân phối trong một đơn vị đóng gói
Thuốc xịt tai có định liều đóng gói đa liều phải đáp ứng yêu cầu của phép thử được mô tả dưới đây. Đối với các thuốc dạng dung dịch, phép thử này cũng có thể được thay thế bằng phép thử Độ đồng đều khối lượng liều phân phối trong một đơn vị đóng gói được đề cập bên dưới khi được chứng minh là phù hợp.
Cách tiến hành: Sử dụng một thiết bị có khả năng thu giữ toàn bộ lượng thuốc của một liều được giải phóng ra khỏi đồ đựng thuốc để làm thiết bị thu mẫu (xem mô tả thiết bị thu mẫu tại Phụ lục 1.17 Thuốc hít). Lấy một đơn vị đóng gói để thử. Xịt thuốc vào thiết bị thu mẫu, số lần xịt tương đương một liều khuyến cáo tối thiểu. Tiến hành xịt thuốc từ đồ đựng theo hướng dẫn sử dụng. Đối với các bình xịt có áp suất, các lần xịt thuốc cần cách nhau tối thiểu 5 s để tránh hiện tượng bình bị lạnh quá mức. Định lượng toàn bộ lượng thuốc hứng được từ thiết bị thu mẫu. Nếu thuốc chứa nhiều dược chất, tiến hành định lượng tất cả các dược chất có trong thuốc. Lặp lại quy trình xịt thuốc vào thiết bị thu mẫu và định lượng với 2 liều nữa.
Tiếp tục xịt thuốc ra khỏi đồ đựng và loại bỏ lượng thuốc này đến khi số lần xịt thuốc còn lại trong đồ đựng là (n/2 + 1), trong đó n là tổng số liều xịt của một đơn vị đóng gói ghi trên nhãn. Lặp lại việc xịt thuốc vào thiết bị thu mẫu và định lượng từng liều thuốc theo quy trình nêu trên với 4 liều tiếp theo.
Tiếp tục xịt thuốc ra khỏi đồ đựng và loại bỏ lượng thuốc này đến khi trong đồ đựng chỉ còn lại số lần xịt thuốc tương đương 3 liều. Tiến hành xịt thuốc vào thiết bị thu mẫu và định lượng từng liều thuốc theo quy trình nêu trên với 3 liều cuối cùng này.
Trừ khi có chỉ dẫn khác, chế phẩm đạt yêu cầu của phép thử nếu kết quả định lượng của 9 trong số 10 liều có giá trị nằm trong khoảng 75 % đến 125 % giá trị trung bình của 10 liều và tất cả các liều đều có giá trị nằm trong khoảng 65 % đến 135 % giá trị trung bình của 10 liều. Nếu có 2 hoặc 3 liều có giá trị nằm ngoài khoảng 75 % đến 125 % nhưng trong khoảng 65 % đến 135 % giá trị trung bình của 10 liều, lặp lại toàn bộ thử nghiệm trên với 2 đơn vị đóng gói nữa. Không quá 3 liều trong tổng số 30 liều được thử có giá trị nằm ngoài khoảng 75 % đến 125 % và không có liều nào có giá trị nằm ngoài khoảng 65 % đến 135 % giá trị trung bình của 30 liều. Trừ khi có chỉ dẫn khác, giá trị trung bình của các liều được thử phải nằm trong khoảng 85 % đến 115 % hàm lượng 1 liều công bố trên nhãn.
Mục lục
Lời nói đầu
Lời giới thiệu
1 Phạm vi áp dụng
2 Tài liệu viện dẫn
3 Chữ viết tắt
Phương pháp kiểm nghiệm thuốc
Quy định chung
Phụ lục 1.1 Cao thuốc
Phụ lục 1.10 Thuốc đặt
Phụ lục 1.12 Thuốc mềm dùng trên da và niêm mạc
Phụ lục 1.14 Thuốc dùng tại mắt
Phụ lục 1.15 Thuốc dùng tại mũi
Phụ lục 1.16 Thuốc dùng tại tai
Phụ lục 1.17 Thuốc hít
Phụ lục 2.1 Các thuốc thử chung
Phụ lục 2.2 Các dung dịch chuẩn độ
Phụ lục 2.3 Các dung dịch đệm
Phụ lục 4.2 Phương pháp quang phổ hồng ngoại
Phụ lục 5 Các kỹ thuật tách sắc ký
Phụ lục 10.3 Định lượng nước
Phụ lục 10.12 Xác định hàm lượng ethanol
Phụ lục 10.13 Xác định hàm lượng methanol và propan-2-ol
Phụ lục 10.14 Xác định dung môi tồn dư
Phụ lục 11.1 Giới hạn cho phép về thể tích của các thuốc dạng lỏng
Phụ lục 11.2 Phép thử độ đồng đều hàm lượng
Phụ lục 11.3 Phép thử độ đồng đều khối lượng
Phụ lục 11.8 Xác định giới hạn tiểu phân
Phụ lục 12.2 Quy định chung về kiểm tra chất lượng dược liệu
Phụ lục 14 Hướng dẫn đánh giá sinh khả dụng và tương đương sinh học in vivo thuốc generic
Độ đồng đều khối lượng liều phân phối trong một đơn vị đóng gói
Thuốc xịt tai ở dạng dung dịch có định liều đóng gói đa liều phải đáp ứng yêu cầu của phép thử sau:
Lấy một đơn vị đóng gói, cân và xịt thuốc ra khỏi đồ đựng - số lần xịt tương đương một liều khuyến cáo tối thiểu. Thao tác xịt thuốc từ đồ đựng được thực hiện theo hướng dẫn sử dụng. Cân lại đồ đựng. Tính sự chênh lệch khối lượng giữa 2 lần cân để xác định khối lượng của liều đã lấy. Lặp lại các thao tác này với 2 liều nữa.
Tiếp tục xịt thuốc ra khỏi đồ đựng và loại bỏ lượng thuốc này đến khi số lần xịt thuốc còn lại trong đồ đựng là (n/2 + 1), trong đó n là tổng số liều xịt của một đơn vị đóng gói ghi trên nhãn. Cân đồ đựng và xác định khối lượng của từng liều với 4 liều tiếp theo bằng quy trình được mô tả ở trên.
Tiếp tục xịt thuốc ra khỏi đồ đựng và loại bỏ lượng thuốc này đến khi trong đồ đựng chỉ còn lại số lần xịt thuốc tương đương 3 liều. Cân đồ đựng và xác định khối lượng của từng liều với 3 liều cuối cùng này bằng quy trình mô tả ở trên.
Trừ khi có chỉ dẫn khác, chế phẩm đạt yêu cầu của phép thử nếu khối lượng của 9 trong số 10 liều có giá trị nằm trong khoảng 75 % đến 125 % khối lượng trung bình của 10 liều và tất cả các liều đều có khối lượng nằm trong khoảng 65 % đến 135 % khối lượng trung bình của 10 liều. Nếu có 2 hoặc 3 liều có khối lượng nằm ngoài khoảng 75 % đến 125 % nhưng trong khoảng 65 % đến 135 % khối lượng trung bình của 10 liều, lặp lại toàn bộ quy trình thử trên với 2 đơn vị đóng gói nữa. Không có quá 3 liều trong tổng số 30 liều được thử có khối lượng nằm ngoài khoảng 75 % đến 125 % và không có liều nào có khối lượng nằm ngoài khoảng 65 % đến 135 % khối lượng trung bình của 30 liều. Trừ khi có chỉ dẫn khác, khối lượng trung bình của các liều đem thử phải nằm trong khoảng 85 % đến 115 % khối lượng liều phân phối dự kiến.
Tổng số liều xịt của một đơn vị đóng gói
Thuốc xịt tai đóng gói đa liều phải đáp ứng yêu cầu của phép thử sau: Lấy 1 đơn vị đóng gói và xịt thuốc ra khỏi đồ đựng cho đến khi hết thuốc trong đồ đựng, cách xịt thuốc theo đúng hướng dẫn sử dụng. Đếm số lần xịt thuốc. Tổng số lần xịt thuốc ra khỏi đồ đựng không được ít hơn tổng số liều xịt ghi trên nhãn.
Tỷ lệ rò rỉ
Trừ khi có chỉ dẫn khác, thuốc xịt tai có định liều được đóng trong đồ đựng có áp suất phải đáp ứng yêu cầu của phép thử sau:
Lấy một số đơn vị đóng gói thích hợp để thử, ví dụ 1 đơn vị đóng gói. Bỏ nhãn và ghi ngày giờ chính xác đến nửa giờ gần nhất. Cân chính xác đồ đựng và ghi lại khối lượng theo miligam (m1, mg). Để đồ đựng ở tư thế thẳng đứng ở nhiệt độ (25,0 ± 2,0 °C) trong ít nhất 3 ngày, sau đó cân lại đồ đựng, ghi khối lượng (m2, mg) và ghi ngày giờ chính xác đến nửa giờ gần nhất. Xác định thời gian giữa 2 lần cân (t) tính bằng giờ. Tính tổng khối lượng hao hụt (mg) trong toàn bộ thời hạn sử dụng của thuốc (D - tính bằng tháng) theo công thức sau:
![]()
trong đó, 730 là số giờ trong 1 tháng.
Trừ khi có chỉ dẫn khác, chế phẩm đáp ứng yêu cầu của phép thử nếu tổng khối lượng hao hụt trong toàn bộ thời hạn sử dụng không quá 10 % (kl/kl) khối lượng thuốc công bố trên nhãn.
Thuốc mềm dùng tại tai
Đáp ứng các yêu cầu quy định tại Phụ lục 1.12 Thuốc mềm dùng trên da và niêm mạc.
Thuốc bột dùng tại tai
Đáp ứng các yêu cầu quy định tại Phụ lục 1.7 Thuốc bột, mục Thuốc bột dùng tại tai.
Thuốc rửa tai
Thuốc rửa tai là các chế phẩm dạng lỏng được dùng để làm sạch ống tai ngoài. Thuốc thường là các dung dịch trong nước có pH nằm trong giới hạn pH sinh lý.
Thể tích (Phụ lục 11.1)
Thuốc rửa tai phải đáp ứng yêu cầu của phép thử Giới hạn cho phép về thể tích của các thuốc dạng lỏng.
Băng tẩm thuốc đặt trong tai
Băng tẩm thuốc đặt trong tai là các chế phẩm dạng rắn dùng để đặt vào ống tai ngoài trong một khoảng thời gian xác định. Thuốc thường bao gồm một vật liệu thích hợp như cellulose, collagen hoặc silicon được tẩm một hoặc nhiều dược chất và được đóng gói đơn liều.
PHỤ LỤC 1.17 THUỐC HÍT
Định nghĩa
Thuốc hít là các chế phẩm mà khi sử dụng thuốc sẽ được chuyển thành dạng hơi hoặc dạng khí dung để đưa dược chất vào phổi nhằm phát huy tác dụng tại chỗ hoặc toàn thân.
Thuốc hít có thể ở dạng lỏng, bán rắn hoặc rắn, chứa một hoặc nhiều dược chất được hòa tan hoặc phân tán trong chất dẫn thích hợp. Tùy thuộc vào dạng bào chế, thuốc hít có thể chứa chất bảo quản và các tá dược khác như chất đẩy, đồng dung môi, chất độn, chất mang, chất trợ tan và chất ổn định, v..v. Các tá dược không được gây ảnh hưởng đến chức năng hoặc gây tổn thương, kích ứng niêm mạc đường hô hấp.
Thuốc hít dạng hỗn dịch hoặc nhũ tương phải dễ dàng phân tán đều khi lắc và duy trì được trạng thái phân tán đều đủ để phân liều chính xác.
Thuốc hít được đóng gói đa liều hoặc đơn liều.
Thuốc hít khi sử dụng được chuyển thành dạng khí dung (tiểu phân rắn hoặc giọt lỏng phân tán trong khí) bằng cách sử dụng một trong các thiết bị sau:
- Thuốc hít sử dụng thiết bị khí dung (nebuliser) - sau đây gọi là Thuốc hít khí dung.
- Thuốc hít sử dụng dụng cụ hít (inhaler) hay ống hít hoặc bộ hít, gồm các loại: Thuốc hít định liều có áp suất, thuốc hít định liều không có áp suất hoặc thuốc bột hít.s
Thuốc hít đóng gói trong đồ đựng có áp suất thường là chế phẩm đa liều và có thể có các thành phần sau:
- Chất đẩy: có thể là khí hóa lỏng dưới áp suất hoặc khí nén hoặc chất lỏng có nhiệt độ sôi thấp. Khí hóa lỏng có thể là hợp chất fluor của hydrocarbon, hydrocarbon phân tử lượng thấp (như butan, propan); khí nén như carbon dioxyd, nitrogen, dinitrogen monoxyd. Có thể dùng hỗn hợp các khí này để tối ưu hóa luồng khí dung, đạt được áp suất, liều lượng và đặc tính phun xịt mong muốn.
- Đồ đựng: phải kín và chịu được áp suất bên trong, phải tương thích với các thành phần của thuốc. Đồ đựng có thể làm từ vật liệu kim loại, thủy tinh, nhựa hoặc kết hợp các vật liệu này.
- Dụng cụ hít/xịt: Gồm van giữ cho đồ đựng thuốc được kín khi không sử dụng và kiểm soát lượng thuốc giải phóng ra khỏi đồ đựng khi sử dụng. Đặc tính phun khí dung phụ thuộc vào loại thiết bị, đặc biệt là đường kính, số lượng và vị trí của các đầu lỗ phun. Một số van giải phóng thuốc liên tục, một số khác giải phóng một lượng thuốc xác định (van định liều) sau mỗi lần hít/xịt. Vật liệu làm van phải tương thích với thuốc.
Phân loại
Thuốc hít có thể được phân thành các loại như sau:
- Thuốc hít hóa hơi;
- Thuốc hít khí dung (Thuốc hít sử dụng thiết bị khí dung);
- Thuốc hít định liều có áp suất;
- Thuốc hít định liều không có áp suất;
- Thuốc bột hít.
Sản xuất
Thuốc hít có chứa chất bảo quản trong thành phần cần chứng minh sự cần thiết cũng như hiệu quả của chất kháng khuẩn được lựa chọn, sử dụng phương pháp thích hợp và tiêu chuẩn đánh giá quy định tại Phụ lục 13.8 Xác định hiệu quả kháng khuẩn của chất bảo quản.
Phải áp dụng các biện pháp thích hợp trong toàn bộ quá trình sản xuất, đóng gói, bảo quản và phân phối thuốc hít nhằm đảm bảo mức độ nhiễm vi sinh vật của thuốc nằm trong giới hạn cho phép quy định tại Phụ lục 13.6 Thử giới hạn nhiễm vi sinh vật.
Trong quá trình sản xuất thuốc hít đóng gói đa liều, phải đảm bảo yêu cầu độ đồng đều liều trong một đơn vị đóng gói và giữa các đơn vị đóng gói.
Phép thử đánh giá độ đồng đều liều trong một đơn vị đóng gói (intra-inhaler) được quy định trong yêu cầu chất lượng của từng loại thuốc hít trong phụ lục này.
Phép thử đánh giá độ đồng đều liều giữa các đơn vị đóng gói (inter-inhaler) được quy định dưới đây.
Độ đồng đều liều phân phối giữa các đơn vị đóng gói
Áp dụng phép thử đối với Thuốc hít đóng gói đa liều trừ khi có chỉ dẫn khác.
Chuẩn bị và sử dụng chế phẩm thuốc hít theo đúng hướng dẫn sử dụng.
Quy trình tham khảo: Định lượng 10 liều thuốc được lấy riêng biệt từ 10 đơn vị đóng gói, trong đó 3 liều là các liều đầu tiên của 3 đơn vị đóng gói, 4 liều là các liều ở giữa của 4 đơn vị đóng gói khác và 3 liều là các liều cuối của 3 đơn vị đóng gói còn lại. Xác định các liều ở giữa và cuối dựa trên Tổng số liều phân phối ghi trên nhãn
Có thể áp dụng một quy trình thử khác nếu chứng minh được sự phù hợp.
Ghi nhãn
Nhãn phải đáp ứng các quy định hiện hành.
Nếu thuốc hít có sử dụng chất bảo quản, cần ghi rõ tên chất bảo quản.
Nhãn thuốc hít cần ghi rõ:
- Liều phân phối (delivered dose) hay liều hít (liều xịt): là lượng thuốc thu được từ mỗi lần hít hay xịt thuốc, tùy theo chế phẩm, liều này có thể là liều được định sẵn (metered dose) hoặc là liều được chia trước (pre-metered dose), nếu được chứng minh là phù hợp.
- Số liều phân phối (hay số lần xịt thuốc) để tạo thành 1 liều khuyến cáo tối thiểu, nếu có.
- Tổng số liều phân phối (hay tổng số liều xịt) của một đơn vị đóng gói.
Thuốc hít hóa hơi
Thuốc hít hóa hơi là những chế phẩm dạng lỏng, bán rắn hoặc rắn để hít, thường được cho vào nước nóng khi dùng và hơi được tạo ra để hít. Các chế phẩm lỏng có thể là dung dịch, hỗn dịch hoặc nhũ tương.
Thuốc hít khí dung
Thuốc hít khí dung là các chế phẩm được chuyển thành dạng khí dung để hít bằng thiết bị khí dung. Thiết bị khí dung tạo khí dung từ chất lỏng bằng cách sử dụng khí nén, sóng siêu âm, rây rung hoặc các phương pháp khác. Thiết bị này cho phép thuốc được hít vào phổi, dược chất trong liều thuốc được giải phóng với tốc độ thích hợp trong một khoảng thời gian kéo dài qua nhiều lần hít liên tục, dưới dạng các tiểu phân/giọt có kích thước phù hợp để lắng đọng ở phổi.
Thiết bị khí dung có thể được kích hoạt bằng hơi thở hoặc bằng các biện pháp khác để đồng bộ hóa hoặc điều chỉnh hoạt động của thiết bị khí dung theo nhịp thở của bệnh nhân.
Thuốc lỏng để tạo khí dung
Thuốc lỏng để tạo khí dung có thể là dạng dung dịch, hỗn dịch hoặc nhũ tương.
Thuốc có thể ở dạng đậm đặc và được pha loãng với lượng dung môi phù hợp theo hướng dẫn trước khi sử dụng.
pH của thuốc lỏng để tạo khí dung nằm trong khoảng từ 3 đến 10.
Thuốc lỏng để tạo khí dung được đóng gói đa liều có thể chứa chất bảo quản ở nồng độ thích hợp trừ trường hợp chế phẩm có đặc tính tự kháng khuẩn.
Thuốc lỏng để tạo khí dung được đóng gói đa liều nhưng không chứa chất bảo quản và cũng không có đủ đặc tính kháng khuẩn phải vô khuẩn và đựng trong đồ đựng chống nhiễm vi sinh vật trong suốt quá trình bảo quản và sử dụng.
Thuốc lỏng để tạo khí dung được đóng gói đơn liều phải vô khuẩn và không có chất bảo quản, trừ khi các yêu cầu này đã được chứng minh là không cần thiết.
Trong quá trình sản xuất phải kiểm tra đánh giá một số yêu cầu về đặc tính của thuốc hít khí dung như tốc độ phân phối dược chất, tổng lượng dược chất được phân phối và phân bố kích thước tiểu phân/giọt theo các phương pháp mô tả trong Phụ lục 11.12 Xác định đặc tính của thuốc hít sử dụng thiết bị khí dung. Có thể sử dụng các thiết bị và/hoặc quy trình khác khi có chứng minh là phù hợp.
Các phép thử dưới đây áp dụng cho Thuốc lỏng để tạo khí dung, chuẩn bị chế phẩm theo đúng hướng dẫn sử dụng.
Độ đồng đều đơn vị liều (Phụ lục 11.9)
Thuốc lỏng để tạo khí dung được đóng gói đơn liều phải đáp ứng yêu cầu của Phép thử độ đồng đều đơn vị liều. Phép thử này cũng có thể được thay thế bằng phép thử Độ đồng đều hàm lượng hoặc Độ đồng đều khối lượng được trình bày dưới đây khi được chứng minh là phù hợp. Phép thử này không áp dụng với thành phần dược liệu có trong thuốc.
Độ đồng đều hàm lượng (Phụ lục 11.2)
Trừ khi có chỉ dẫn khác, thuốc hít dạng nhũ tương hoặc hỗn dịch để tạo khí dung được đóng gói đơn liều phải đáp ứng yêu cầu phép thử sau: sau khi lắc, lấy ra lượng thuốc nhiều nhất có thể trong mỗi đơn vị đóng gói và xác định hàm lượng thuốc trong mỗi đơn vị đóng gói bằng phương pháp phù hợp. Chế phẩm phải đáp ứng yêu cầu của Phương pháp 1, Phụ lục 11.2.
Độ đồng đều khối lượng
Thuốc hít dung dịch để tạo khí dung được đóng gói đơn liều phải đáp ứng yêu cầu phép thử sau: Lấy 20 đơn vị đóng gói. Cân riêng biệt lượng thuốc được lấy ra nhiều nhất có thể từ mỗi đơn vị đóng gói. Xác định khối lượng trung bình. Không quá 2 đơn vị có khối lượng chênh lệch quá 10 % và không có đơn vị nào có khối lượng chênh lệch quá 20 % so với khối lượng trung bình.
Đánh giá khí động học của khí dung được tạo thành từ thiết bị khí dung
Với thuốc hít hỗn dịch để tạo khí dung, xác định khí động học của khí dung bằng thiết bị và quy trình được mô tả trong Phụ lục 11.12 Xác định đặc tính của thuốc hít sử dụng thiết bị khí dung, có thể sử dụng các thiết bị và/hoặc quy trình khác nếu được chứng minh là phù hợp.
Bột pha thuốc lỏng để tạo khí dung
Bột pha thuốc lỏng để tạo khí dung là các chế phẩm thuốc rắn dùng để pha với một lượng dung môi theo hướng dẫn trước khi dùng.
Thuốc được đóng gói thành phẩm, khi hoàn nguyên sẽ nhanh chóng tạo thành dung dịch trong suốt hoặc hỗn dịch đồng nhất đáp ứng các yêu cầu chất lượng của Thuốc lỏng để tạo khí dung.
Độ đồng đều đơn vị liều (Phụ lục 11.9)
Bột pha thuốc lỏng để tạo khí dung được đóng gói đơn liều phải đáp ứng yêu cầu của Phép thử độ đồng đều đơn vị liều. Phép thử này cũng có thể được thay thế bằng phép thử Độ đồng đều hàm lượng hoặc Độ đồng đều khối lượng được trình bày dưới đây khi được chứng minh là phù hợp. Phép thử này không áp dụng với thành phần dược liệu có trong thuốc.
Độ đồng đều hàm lượng (Phụ lục 11.2)
Trừ khi có chỉ dẫn khác, bột pha thuốc lỏng để tạo khí dung đóng gói đơn liều có hàm lượng dược chất nhỏ hơn 2 mg hoặc nhỏ hơn 2 % so với khối lượng của 1 đơn vị liều, hoặc có khối lượng của 1 đơn vị liều nhỏ hơn hoặc bằng 40 mg phải đáp ứng yêu cầu của Phương pháp 1, Phụ lục 11.2. Đối với thuốc có từ 2 dược chất trở lên, chỉ yêu cầu thử độ đồng đều hàm lượng với thành phần dược chất nào có hàm lượng nhỏ như quy định ở trên.
Độ đồng đều khối lượng
Bột pha thuốc lỏng để tạo khí dung được đóng gói đơn liều phải đáp ứng yêu cầu phép thử sau: Lấy 20 đơn vị đóng gói. Cân riêng biệt lượng thuốc được lấy ra nhiều nhất có thể từ mỗi đơn vị. Xác định khối lượng trung bình. Không quá 2 đơn vị có khối lượng chênh lệch quá 10 % và không có đơn vị nào có khối lượng chênh lệch quá 20 % so với khối lượng trung bình. Phép thử này không cần thực hiện nếu đã tiến hành thử Độ đồng đều hàm lượng cho tất cả các dược chất.
Thuốc hít định liều có áp suất
Thuốc hít định liều có áp suất là các dung dịch, hỗn dịch hoặc nhũ tương để hít được đựng trong đồ đựng có van định liều và chịu áp lực tạo ra bởi chất đẩy thích hợp, chất đẩy có thể đóng vai trò như một dung môi.
Liều phân phối (liều xịt) là liều thuốc được giải phóng ra từ mỗi lần xịt. Đối với một số chế phẩm liều phân phối ghi trên nhãn là liều được định sẵn. Liều được định sẵn thường được xác định bằng cách cộng lượng thuốc lắng đọng trên dụng cụ hít vào liều phân phối. Liều được định sẵn cũng có thể được xác định trực tiếp.
Quá trình sản xuất phải kiểm soát kích thước các hạt khí dung sao cho một tỷ lệ thuốc thích hợp lắng đọng được trong phổi. Các đặc tính của tiểu phân mịn của thuốc hít định liều có áp suất được xác định theo Phụ lục 11.11 Đánh giá khí động học các tiểu phân của thuốc hít.
Các phép thử dưới đây áp dụng cho thuốc hít định liều có áp suất. Với chế phẩm được kích hoạt bằng hơi thở, các điều kiện thử có thể thay đổi để đảm bảo dụng cụ hít được kích hoạt khi thử nghiệm. Chuẩn bị và sử dụng dụng cụ hít theo đúng hướng dẫn dùng thuốc.
Độ đồng đều liều phân phối trong một đơn vị đóng gói
Thuốc hít định liều có áp suất thường được sử dụng theo cách để van ở vị trí phía dưới. Với loại thuốc hít hoạt động theo cách để van ở vị trí phía trên, sử dụng các phép thử tương đương để đảm bảo thu được đầy đủ liều phân phối.
Sử dụng thiết bị có khả năng giữ lại đầy đủ liều phân phối để định lượng.
Có thể sử dụng thiết bị như Hình 1.17.1 và quy trình thử như sau:
Thiết bị này bao gồm một đế đỡ màng lọc có giá đỡ dạng lưới hở (ví dụ lưới bằng thép không gỉ), một ống thu mẫu được kẹp hoặc xoáy ren để vặn khít vào đế đỡ màng lọc và một bộ tiếp hợp ống ngậm để đảm bảo kín khí giữa ống thu mẫu và phần ống ngậm của dụng cụ hít. Sử dụng bộ tiếp hợp ống ngậm phù hợp để đảm bảo mặt trước phần ống ngậm của dụng cụ hít phải ngang bằng với mặt trước của ống thu mẫu hoặc thụt vào 2,5 mm trong ống thu mẫu.
Đầu nối chân không được kết nối với hệ thống bao gồm nguồn hút chân không và bộ điều chỉnh lưu lượng.
Nguồn hút chân không được điều chỉnh để hút không khí qua tất cả các bộ phận đã lắp ráp hoàn chỉnh, bao gồm màng lọc và dụng cụ hít đang thử nghiệm, ở mức 28,3 L/min (± 5 %). Khí phải được hút liên tục qua thiết bị trong suốt quá trình lấy mẫu để tránh thất thoát thuốc ra ngoài môi trường.
Đế đỡ màng lọc được thiết kế để chứa các đĩa chứa màng lọc có đường kính 25 mm. Màng lọc và các vật liệu khác được sử dụng để làm các bộ phận trong thiết bị thu mẫu phải tương thích với dược chất và dung môi được sử dụng để chiết dược chất ra khỏi màng lọc.
Một đầu của ống thu mẫu được thiết kế để gắn chặt màng lọc vào đế đỡ màng lọc. Khi lắp ráp, các mối nối giữa các bộ phận của thiết bị thu mẫu phải kín khí, để khi kết nối đế đỡ màng lọc với nguồn hút chân không, toàn bộ không khí được hút qua ống thu mẫu đều đi qua dụng cụ hít.
Trừ khi có chỉ dẫn khác trong hướng dẫn sử dụng, lắc dụng cụ hít trong 5 s và xịt bỏ 1 lần. Tiến hành xịt, nhấn giữ van trong thời gian đủ dài để đảm bảo xịt hết hoàn toàn, số lần xịt đủ để tạo thành 1 liều khuyến cáo tối thiểu. Định lượng dược chất trong liều thu được. Lặp lại quy trình trên với 2 liều nữa.
Xịt bỏ thuốc, đợi ít nhất 5 s giữa các lần xịt, cho đến khi còn lại (n/2 + 1) liều xịt, trong đó n là tổng số liều xịt ghi trên nhãn. Thu và định lượng 4 liều tiếp theo như quy trình được mô tả ở trên.
Xịt bỏ thuốc, đợi ít nhất 5 s giữa các lần xịt, cho đến khi còn lại 3 liều cuối. Thu và định lượng 3 liều cuối theo quy trình được mô tả ở trên.
Đối với chế phẩm có chứa nhiều hơn 1 dược chất, tiến hành thử Độ đồng đều liều phân phối của chế phẩm cho từng dược chất.
Trừ khi có chỉ dẫn khác, chế phẩm đạt yêu cầu của phép thử nếu kết quả định lượng của 9 trong số 10 liều có giá trị nằm trong khoảng 75 % đến 125 % giá trị trung bình của 10 liều và tất cả các liều đều có giá trị nằm trong khoảng 65 % đến 135 % giá trị trung bình của 10 liều. Nếu có 2 hoặc 3 liều có giá trị nằm ngoài khoảng 75 % đến 125 % nhưng trong khoảng 65 % đến 135 % giá trị trung bình của 10 liều, lặp lại toàn bộ thử nghiệm trên với 2 đơn vị đóng gói nữa. Không quá 3 liều trong tổng số 30 liều được thử có giá trị nằm ngoài khoảng 75 % đến 125 % và không có liều nào có giá trị nằm ngoài khoảng 65 % đến 135 % giá trị trung bình của 30 liều. Trừ khi có chỉ dẫn khác, giá trị trung bình của các liều được thử phải nằm trong khoảng 85 % đến 115 % hàm lượng 1 liều công bố trên nhãn.

Hình 1.17.1 - Thiết bị thu mẫu cho thuốc hít định liều có áp suất
(Kích thước tính bằng mm)
Lượng dược chất ở dạng hạt mịn
Sử dụng thiết bị và quy trình được mô tả ở Phụ lục 11.11 Đánh giá khí động học các tiểu phân của thuốc hít (thiết bị C, D hoặc E) để xác định lượng dược chất ở dạng hạt mịn.
Tổng số liều phân phối của một đơn vị đóng gói
Lấy 1 dụng cụ hít và xịt dần cho đến khi hết, khoảng thời gian giữa mỗi lần xịt ít nhất là 5 s. Ghi lại số liều đã xịt. Tổng số liều đã xịt từ chế phẩm thuốc hít không nhỏ hơn tổng số liều ghi trên nhãn (phép thử này có thể kết hợp với phép thử về Độ đồng đều liều).
Tỷ lệ rò rỉ
Lấy một số lượng chế phẩm thuốc hít phù hợp, ví dụ 1 dụng cụ hít, bỏ nhãn và ghi ngày giờ chính xác đến nửa giờ gần nhất. Cân chính xác dụng cụ hít và ghi lại khối lượng làm tròn đến miligam (m1, mg). Để dụng cụ hít ở tư thế thẳng đứng ở nhiệt độ (25,0 ± 2,0) °C trong ít nhất 3 ngày, sau đó cân lại dụng cụ hít, ghi khối lượng (m2, mg) và ghi ngày giờ chính xác đến nửa giờ gần nhất. Xác định thời gian giữa hai lần cân (t) tính bằng giờ.
Tính tổng khối lượng hao hụt (mg) trong toàn bộ thời hạn sử dụng của dụng cụ hít (D - tính bằng tháng), sử dụng biểu thức sau:
![]()
Trừ khi có chỉ dẫn khác, chế phẩm đáp ứng yêu cầu của phép thử nếu tổng khối lượng hao hụt trong toàn bộ thời hạn sử dụng không quá 10 % (kl/kl) khối lượng thuốc danh định được đóng trong đồ đựng.
Thuốc hít định liều không có áp suất
Thuốc hít định liều không có áp suất là dung dịch, hỗn dịch hoặc nhũ tương được dụng cụ hít chuyển từ dạng lỏng thành dạng khí dung bằng cách sử dụng một hoặc nhiều tia chất lỏng, rung siêu âm hoặc các phương pháp khác. Thể tích chất lỏng cần chuyển thành khí dung được chia liều trước hoặc định liều bằng dụng cụ hít để liều phân phối từ dụng cụ hít có thể được hít vào trong một hoặc nhiều lần.
Thuốc hít định liều không có áp suất được đóng gói đa liều có thể chứa chất bảo quản ở nồng độ thích hợp trừ trường hợp chế phẩm có đặc tính tự kháng khuẩn.
Thuốc hít định liều không có áp suất được đóng gói đa liều, nhưng không chứa chất bảo quản và cũng không có đủ đặc tính kháng khuẩn phải vô khuẩn và đựng trong đồ đựng chống nhiễm khuẩn trong suốt quá trình bảo quản và sử dụng.
Thuốc hít định liều không có áp suất được đóng gói đơn liều phải vô khuẩn và không có chất bảo quản, trừ trường hợp các yêu cầu này đã được chứng minh là không cần thiết.
Quá trình sản xuất cần phải kiểm soát kích thước tiểu phân của khí dung hình thành để một tỷ lệ thuốc thích hợp lắng đọng được trong phổi. Các đặc tính của tiểu phân mịn của thuốc hít định liều không có áp suất được xác định theo Phụ lục 11.11 Đánh giá khí động học các tiểu phân của thuốc hít. Ngoài ra, có thể sử dụng phương pháp phân tích nhiễu xạ laser nếu được thẩm định phù hợp, đối chiếu với phương pháp mô tả ở Phụ lục 11.11 (thiết bị C, D hoặc E).
Các phép thử dưới đây áp dụng cho thuốc hít định liều không có áp suất. Với chế phẩm được kích hoạt bằng hơi thở, các điều kiện thử có thể thay đổi để đảm bảo dụng cụ hít được kích hoạt khi thử nghiệm. Chuẩn bị và sử dụng dụng cụ hít theo đúng hướng dẫn dùng thuốc.
Độ đồng đều liều phân phối trong một đơn vị đóng gói
Sử dụng thiết bị có khả năng giữ lại đầy đủ liều xịt để định lượng. Có thể sử dụng thiết bị được mô tả trong phép thử Độ đồng đều liều phân phối trong một đơn vị đóng gói của Thuốc hít định liều có áp suất.
Xịt thuốc vào thiết bị thu mẫu. Lặp lại số lần xịt đủ để tạo thành 1 liều khuyến cáo tối thiểu. Định lượng dược chất trong liều thu được. Lặp lại quy trình với 2 liều nữa.
Xịt bỏ thuốc, cho đến khi còn lại (n/2 + 1) liều xịt, trong đó n là tổng số liều xịt ghi trên nhãn. Thu và định lượng 4 liều tiếp theo như quy trình được mô tả ở trên.
Tiếp tục xịt bỏ thuốc, cho đến khi còn lại 3 liều cuối. Thu và định lượng 3 liều cuối theo quy trình được mô tả ở trên.
Đối với chế phẩm có chứa nhiều hơn 1 dược chất, tiến hành thử Độ đồng đều liều phân phối của chế phẩm cho từng dược chất.
Trừ khi có chỉ dẫn khác, chế phẩm đạt yêu cầu của phép thử nếu kết quả định lượng của 9 trong số 10 liều có giá trị nằm trong khoảng 75 % đến 125 % giá trị trung bình của 10 liều và tất cả các liều đều có giá trị nằm trong khoảng 65 % đến 135 % giá trị trung bình của 10 liều. Nếu có 2 hoặc 3 liều có giá trị nằm ngoài khoảng 75 % đến 125 % nhưng trong khoảng 65 % đến 135 % giá trị trung bình của 10 liều, lặp lại toàn bộ thử nghiệm trên với 2 đơn vị đóng gói nữa. Không quá 3 liều trong tổng số 30 liều được thử có giá trị nằm ngoài khoảng 75 % đến 125 % và không có liều nào có giá trị nằm ngoài khoảng 65 % đến 135 % giá trị trung bình của 30 liều. Trừ khi có chỉ dẫn khác, giá trị trung bình của các liều được thử phải nằm trong khoảng 85 % đến 115 % hàm lượng 1 liều công bố trên nhãn.
Có thể sử dụng thiết bị và quy trình thử khác, khi được chứng minh là phù hợp.
Lượng dược chất ở dạng hạt mịn
Sử dụng thiết bị và quy trình được mô tả ở Phụ lục 11.11 Đánh giá khí động học các tiểu phân của thuốc hít (thiết bị C, D hoặc E) để xác định lượng dược chất ở dạng hạt mịn.
Sử dụng quy trình tương tự như đối với thuốc hít có áp suất và điều chỉnh phương pháp phù hợp cho thuốc hít không có áp suất. Tùy thuộc vào các đặc tính của thuốc hít định liều không có áp suất, có thể phải kiểm soát độ ẩm tương đối và/hoặc nhiệt độ trong quá trình thử nghiệm.
Tổng số liều phân phối của một đơn vị đóng gói
Lấy 1 dụng cụ hít và xịt dần cho đến khi hết thuốc. Ghi lại số liều đã xịt. Tổng số liều đã xịt từ dụng cụ hít không nhỏ hơn số liều ghi trên nhãn (phép thử này có thể kết hợp với phép thử về Độ đồng đều liều phân phối).
Thuốc bột hít
Thuốc bột hít là chế phẩm dạng rắn để hít bằng dụng cụ hít bột.
Thuốc bột hít được đóng gói đơn liều hoặc đa liều. Thuốc bột hít có liều được chia trước dùng dụng cụ hít nạp bột hít đóng trong nang cứng hoặc dạng bào chế phù hợp khác. Thuốc bột hít định liều bằng dụng cụ có khoang chứa bột thuốc bên trong, tại đó mỗi liều sẽ được tạo ra bằng cơ chế đo lường bên trong dụng cụ hít.
Để thuận tiện cho việc sử dụng bột hít, các dược chất có thể được kết hợp với các tá dược thích hợp như chất mang.
Liều phân phối là liều được giải phóng ra từ dụng cụ hít. Đối với một số chế phẩm, liều ghi trên nhãn là liều được định sẵn hoặc liều được chia trước. Liều được định sẵn thường được xác định bằng cách cộng lượng thuốc lắng đọng trên dụng cụ hít với liều phân phối. Liều được định sẵn cũng có thể được xác định trực tiếp.
Quá trình sản xuất cần phải kiểm soát kích thước tiểu phân của khí dung để một tỷ lệ thuốc thích hợp lắng đọng được trong phổi. Đặc tính của các tiểu phân mịn của thuốc bột hít được xác định theo Phụ lục 11.11 Đánh giá khí động học các tiểu phân của thuốc hít.
Các phép thử dưới đây áp dụng cho thuốc bột hít. Chuẩn bị chế phẩm và dụng cụ hít theo đúng hướng dẫn dùng thuốc.
Độ đồng đều liều phân phối trong một đơn vị đóng gói
Sử dụng thiết bị có khả năng giữ lại đầy đủ liều phân phối để định lượng.
Có thể sử dụng thiết bị thu mẫu được mô tả trong phép thử Độ đồng đều liều phân phối trong một đơn vị đóng gói của Thuốc hít định liều có áp suất với điều kiện kích thước của ống thu mẫu và màng lọc có thể đáp ứng được lưu lượng khí yêu cầu. Ống thu thích hợp được mô tả trong Bảng 1.17.1. Nối ống thu mẫu vào một hệ thống hút chân không theo sơ đồ mô tả trong Hình 1.17.2 và Bảng 1.17.1.

Hình 1.17.2 - Thiết bị để đánh giá Độ đồng đều liều phân phối của thuốc bột hít
Bảng 1.17.1 - Thông số kỹ thuật của thiết bị đánh giá dùng cho thuốc bột hít được mô tả trong Hình 1.17.2
| Ký hiệu | Bộ phận | Mô tả |
| A | Ống thu mẫu | Có khả năng thu giữ đầy đủ liều phân phối, ví dụ: ống thu như mô tả trong Hình 1.17.1 với kích thước: đường kính trong 34,85 mm x chiều dài 12 cm (ví dụ: sản phẩm mã XX40 047 00, Millipore Corporation, Bedford, MA 01732, USA với ống thoát cải tiến, đường kính trong ≥ 8 mm, lắp vừa với màng lọc Gelman mã 61631) hoặc tương đương |
| B | Màng lọc | Màng lọc 47 mm, ví dụ: Màng lọc sợi thủy tinh A/E (Gelman Sciences, Ann Arbor, MI 48106, USA) hoặc tương đương |
| C | Khớp nối | Đường kính trong ≥ 8 mm, ví dụ: khớp nối kim loại ngắn, có nhánh đường kính nhỏ để gắn bộ phận P3 |
| D | Ống chân không | Một đoạn ống thích hợp có đường kính trong ≤ 8 mm và thể tích bên trong 25 ± 5 ml |
| E | Van điện từ 2 chiều | Van điện từ 2 chiều, 2 cổng, có một lỗ cản khí tối thiểu với đường kính trong ≥ 8 mm và thời gian mở ≤ 100 ms. (ví dụ: loại 256-A08, Bürkert GmbH, D-74653 Ingelfingen hoặc tương đương) |
| F | Bơm hút chân không | Máy bơm phải có khả năng tạo ra lưu lượng khí cần thiết qua thiết bị đã được lắp ráp với dụng cụ hít qua bộ tiếp hợp ống ngậm (ví dụ: loại bơm mã hiệu 1023, 1423 hoặc 2565, Gast Manufacturing Inc., Benton Harbor, MI 49022, USA hoặc tương đương). Kết nối máy bơm với van điện từ 2 chiều bằng ống chân không và các khớp nối ngắn và/hoặc rộng (đường kính trong ≤ 10 mm) để giảm yêu cầu về công suất máy bơm. |
| G | Bộ hẹn giờ | Bộ hẹn giờ có khả năng điều khiển van điện từ 2 chiều trong khoảng thời gian cần thiết (ví dụ: loại G814, RS Components International, Corby, NN17 9RS, UK hoặc tương đương). |
| P1 | Vòi gắn áp kế | Đường kính trong 2,2 mm, đường kính ngoài 3,1 mm, ngang bằng với bề mặt bên trong của ống thu mẫu, ở giữa và không có gờ, cách đầu vào 59 mm. Vòi gắn áp kế P1 không bao giờ được mở thông với khí quyển. Chênh lệch áp suất được đo tại P1 |
| P2 P3 | Áp kế | Đo áp suất tuyệt đối. |
| H | Van điều tiết lưu lượng | Van điều tiết có Cv tối đa ≥ 1, (ví dụ: loại 8FV12LNSS, Parker Hannifin plc., Barnstaple, EX31 1NP, UK hoặc tương đương). |
Trừ khi có chỉ dẫn khác, xác định lưu lượng khí và thời gian thử bằng cách sử dụng ống thu mẫu, hệ thống hút chân không đã lắp ráp, áp kế vi sai và lưu lượng kế thể tích thích hợp đã được hiệu chuẩn dòng khí ra theo quy trình sau.
Chuẩn bị dụng cụ hít theo hướng dẫn sử dụng và kết nối với đầu vào của thiết bị thu mẫu bằng bộ tiếp hợp ống ngậm để đảm bảo kín khí. Sử dụng bộ tiếp hợp ống ngậm thích hợp để đảm bảo mặt trước phần ống ngậm của dụng cụ hít phải ngang bằng với mặt trước của ống thu mẫu. Kết nối một cổng của áp kế vi sai với điểm đọc áp suất P1 trong Hình 1.17.2 và để cổng còn lại mở thông với khí quyển. Bật bơm hút chân không, mở van điện từ 2 chiều và điều chỉnh van điều tiết lưu lượng cho đến khi chênh áp qua dụng cụ hít, hiển thị trên áp kế vi sai, là 4,0 kPa (40,8 cm H2O).
Tháo dụng cụ hít và bộ tiếp hợp ống ngậm, không chạm vào van điều tiết lưu lượng, kết nối lưu lượng kế với đầu vào của thiết bị thu mẫu. Sử dụng lưu lượng kế đã được hiệu chuẩn để đo lưu lượng thể tích khí ra hoặc tính lưu lượng thể tích khí ra (Qout) theo định luật khí lý tưởng. Đối với lưu lượng kế được hiệu chuẩn để đo lưu lượng thể tích khí vào (Qin), sử dụng công thức sau:
![]()
Trong đó:
P0: Áp suất khí quyển
∆P: Độ sụt áp trên thiết bị đo
Nếu lưu lượng khí trên 100 l/min, chỉnh van điều tiết lưu lượng để lưu lượng khí đạt 100 L/min (± 5 %). Ghi lại lưu lượng thể tích khí ra khỏi đồng hồ và đây là lưu lượng thử nghiệm, Qout, tính theo L/min. Xác định thời gian thử, T, tính bằng giây, là khoảng thời gian để hút được 4 L không khí từ phần ống ngậm của dụng cụ hít với mức lưu lượng khí Qout.
Đảm bảo đạt đến dòng tới hạn trong van điều tiết lưu lượng bằng quy trình sau: Khi dụng cụ hít ở vị trí thử và hệ thống hút chân không vận hành ở mức lưu lượng khí Qout, đo áp suất tuyệt đối ở cả hai phía của van điều tiết (tại các điểm đọc áp suất P2 và P3 trong Hình 1.17.2). Tỷ lệ P3/P2 nhỏ hơn hoặc bằng 0,5 cho biết đã có dòng tới hạn. Nếu chưa đạt được dòng tới hạn, dùng máy bơm mạnh hơn và đánh giá lại lưu lượng khí thử.
Thuốc bột hít có liều được chia trước: Kết nối dụng cụ hít với thiết bị thu mẫu bằng bộ tiếp hợp ống ngậm để đảm bảo kín khí. Hút không khí qua dụng cụ hít theo các điều kiện đã được xác định trước. Lặp lại quy trình cho đến khi thu được liều khuyến cáo tối thiểu. Định lượng dược chất trong liều thu được. Lặp lại quy trình trên với 9 liều nữa.
Thuốc bột hít định liều bằng dụng cụ: Kết nối dụng cụ hít với thiết bị thu mẫu bằng bộ tiếp hợp ống ngậm để đảm bảo kín khí. Hút không khí qua dụng cụ hít theo các điều kiện đã được xác định trước. Lặp lại quy trình cho đến khi thu được liều khuyến cáo tối thiểu. Định lượng dược chất trong liều thu được. Lặp lại quy trình trên với 2 liều nữa. Tiếp tục hút bỏ thuốc cho đến khi còn lại (n/2 + 1) liều phân phối trong đó n là tổng số liều phân phối ghi trên nhãn. Nếu cần, nắm tay vào dụng cụ hít để loại bỏ nguy cơ tích điện. Thu và định lượng 4 liều tiếp theo như quy trình được mô tả ở trên.Tiếp tục hút bỏ cho đến khi còn lại 3 liều cuối. Nếu cần, nắm tay vào dụng cụ hít để loại bỏ nguy cơ tích điện. Thu và định lượng 3 liều cuối này theo quy trình được mô tả ở trên.
Đối với chế phẩm có chứa nhiều hơn 1 dược chất, tiến hành thử Độ đồng đều liều phân phối cho từng dược chất.
Trừ khi có chỉ dẫn khác, chế phẩm đạt yêu cầu của phép thử nếu kết quả định lượng của 9 trong số 10 liều có giá trị nằm trong khoảng 75 % đến 125 % giá trị trung bình của 10 liều và tất cả các liều đều có giá trị nằm trong khoảng 65 % đến 135 % giá trị trung bình của 10 liều. Nếu có 2 hoặc 3 liều có giá trị nằm ngoài khoảng 75 % đến 125 % nhưng trong khoảng 65 % đến 135 % giá trị trung bình của 10 liều, lặp lại toàn bộ thử nghiệm trên với 2 đơn vị đóng gói nữa. Không quá 3 liều trong tổng số 30 liều được thử có giá trị nằm ngoài khoảng 75 % đến 125 % và không có liều nào có giá trị nằm ngoài khoảng 65 % đến 135 % giá trị trung bình của 30 liều, có thể nới rộng khoảng giới hạn chấp nhận này nếu được chứng minh là phù hợp nhưng giới hạn trên không được phép lớn hơn 150 % và giới hạn dưới không được phép nhỏ hơn 50 % giá trị trung bình của các liều được thử. Trừ khi có chỉ dẫn khác, giá trị trung bình của các liều được thử phải nằm trong khoảng 85 % đến 115 % hàm lượng 1 liều công bố trên nhãn.
Lượng dược chất ở dạng hạt mịn
Sử dụng thiết bị và quy trình được mô tả ở Phụ lục 11.11 Đánh giá khí động học các tiểu phân của thuốc hít (thiết bị C, D hoặc E) để tính toán lượng dược chất ở dạng hạt mịn.
Tổng số liều phân phối của một đơn vị đóng gói với thuốc hít đa liều
Lấy 1 dụng cụ hít và hút bỏ từng liều, với mức lưu lượng khí đã định trước, cho đến khi hết thuốc. Ghi lại số liều đã lấy ra được. Tổng số liều lấy ra từ dụng cụ hít không nhỏ hơn tổng số liều phân phối công bố trên nhãn (phép thử nghiệm này có thể kết hợp với phép thử về Độ đồng đều liều phân phối).
PHỤ LỤC 2.1 CÁC THUỐC THỬ CHUNG
Acid adipic
C6H10O4 = 146,1
Hình lăng trụ, dễ tan trong methanol, tan trong aceton, thực tế không tan trong ether dầu hỏa.
Điểm chảy: Khoảng 152 °C.
Acid 3,5-dinitrobenzoic
Acid dinitrobenzoic
C7H4N2O6 = 212,1
Tinh thể gần như không màu. Khó tan trong nước, rất tan trong ethanol 96 %.
Điểm chảy: Khoảng 206 °C.
Acid ascorbic
Vitamin C, acid L-ascorbic
C6H8O6 = 176,1
Xem chuyên luận "Acid ascorbic"
Dung dịch acid ascorbic
Hòa tan 50 mg acid ascorbic (TT) trong 0,5 ml nước và pha loãng thành 50 ml bằng dimethylformamid (TT).
Acid folic
C19H19N7O6 = 441,4
Xem chuyên luận "Acid folic".
Acid hydriodic
HI = 127,9
Chuẩn bị bằng cách chưng cất acid hydriodic trên phospho đỏ, cho khí carbon dioxyd hoặc nitơ qua dụng cụ chưng cất trong quá trình cất. Sử dụng hỗn hợp (55 % đến 58 % HI) không màu hoặc gần như không màu, chưng cất ở điểm sôi cố định giữa 126 °C và 127 °C.
Đựng acid trong các lọ nhỏ có nắp thủy tinh, màu nâu đã được thổi sạch trước bằng carbon dioxyd hoặc nitơ, bịt kín bằng parafin.
Bảo quản ở nơi tối.
Acid lactic
C3H6O3 = 90,1
Là các sản phẩm ngưng tụ của hỗn hợp acid 2-hydroxypropanoic, ví dụ như acid lactoyl-lactic và các acid polylactic, và nước. Sự cân bằng giữa acid lactic và các acid polylactic phụ thuộc vào nồng độ và nhiệt độ. Thường là hỗn hợp racemic (acid (RS)-lactic).
C3H6O3 phải từ 88,0 % kl/kl đến 92,0 % kl/kl.
Tính chất: Chất lỏng dạng siro không màu hoặc hơi vàng. Có thể hòa trộn được với nước và ethanol 96 %.
Acid mandelic
Acid 2-hydroxy-2-phenylacetic
C8H8O3 = 152,1
Mảnh kết tinh màu trắng, tan trong nước.
Điểm chảy: 118 °C đến 121 °C.
Dung dịch acid sulfanilic
Dung dịch acid sulphanilic
Hòa tan 0,33 g acid sulfanilic (TT) trong 75 ml nước, đun nóng nhẹ nếu cần và pha loãng thành 100 ml bằng acid acetic băng (TT).
Dung dịch acid sulfanilic TT1
Dung dịch acid sulphanilic TT1
Hòa tan 0,5 g acid sulfanilic (TT) trong hỗn hợp chứa 75 ml acid acetic loãng (TT) và 75 ml nước.
Acid thioglycolic
C2H4O2S = 92,1
Chất lỏng không màu hoặc gần như không màu. Phân tán được trong nước, tan trong ethanol 96 %.
Độ nhạy: Trộn 1 ml chế phẩm với 2 ml amoniac (TT) và pha loãng thành 20 ml bằng nước. Thêm 1 ml dung dịch thu được vào hỗn hợp gồm 20 ml nước và 0,1 ml dung dịch sắt (III) clorid (TT) 1 %, sau đó thêm 5 ml amoniac (TT): tạo thành màu hồng rõ ràng.
Adenin sulfat
(C5H5N5)2.H2SO4.2H2O = 404,4
Tinh thể hoặc bột kết tinh màu trắng. Sau khi sấy ở 110 °C, nóng chảy ở 200 °C kèm phân hủy.
1 g tan trong khoảng 160 ml nước, khó tan trong ethanol 96 %. Tan trong các dung dịch natri hydroxyd. Dung dịch của chế phẩm không tạo tủa với dung dịch iod 0,1 N (TT), thuốc thử Mayer (TT), nhưng tạo tủa với dung dịch acid picric (TT) 1 %.
Mất khối lượng do làm khô (Phụ lục 9.6): Không được quá 10,0 % (105 °C, đến khối lượng không đổi).
Tro sulfat (Phụ lục 9.9, phương pháp 2): Không đáng kể (dùng 100 mg).
Albumin huyết thanh bò
Albumin huyết thanh bò chứa khoảng 96 % protein.
Dùng loại tinh khiết phân tích.
Bột màu trắng hoặc màu vàng nâu nhạt.
Albumin huyết thanh người
Albumin huyết thanh người chứa khoảng 96 % protein.
Dùng loại tinh khiết phân tích.
Amoniac TT1 (Amoniac đậm đặc TT1)
Hàm lượng NH3: ít nhất là 30,0 % (kl/kl) NH3 (17,03).
Chất lỏng trong, không màu.
Tỷ trọng ở 20 °C: nhỏ hơn 0,892.
Định lượng: Thêm 50,0 ml dung dịch acid hydrocloric 1 N (CĐ) vào một bình nón có nút mài, sau đó cân khối lượng của bình. Thêm 2 ml amoniac TT1 vào bình và cân lại khối lượng bình. Chuẩn độ dung dịch trong bình bằng dung dịch natri hydroxyd 1 N (CĐ), dùng 0,5 ml dung dịch hỗn hợp đỏ methyl (TT) làm chỉ thị. 1 ml dung dịch acid hydrocloric 1 N (CĐ) tương đương với 17,03 mg NH3.
Bảo quản: Tránh khí carbon dioxyd của khí quyển và ở nhiệt độ dưới 20 °C.
4-Aminoantipyrin
C11H13N3O = 203,24
Bột kết tinh màu vàng nhạt.
500 mg tan hoàn toàn trong 30 ml nước và tạo thành dung dịch trong.
Khoảng nóng chảy: từ 108 °C đến 110 °C.
2-Aminoethyl diphenylborinat
Acid diphenylborinic ethanolamin ester
C14H16BNO = 225,1
Bột kết tinh màu trắng.
Khoảng nóng chảy: từ 192 °C đến 194 °C.
Amoni citrat
Diamoni hydrogen citrat
C6H14N2O7 = 226,2
Bột kết tinh màu trắng hoặc gần như trắng hoặc tinh thể không màu. Dễ tan trong nước, khó tan trong ethanol 96 %.
pH: khoảng 4,3 (dùng dung dịch 22,6 g/l).
Dung dịch anisaldehyd trong acid sulfuric TT1
Hòa tan 0,5 ml anisaldehyd (TT) trong 50 ml acid acetic (TT), thêm 1 ml acid sulfuric (TT) và trộn đều. Chuẩn bị dung dịch ngay trước khi dùng.
Dung dịch anisaldehyd trong acid sulfuric TT2
Lấy 0,5 ml anisaldehyd (TT), thêm 0,1 ml acid acetic băng (TT), 0,5 ml acid sulfuric (TT), 9 ml ethanol (TT) và trộn đều. Chuẩn bị dung dịch ngay trước khi dùng.
Antithrombin III
Dùng loại tinh khiết phân tích.
Bản mỏng octadecylsilyl silica gel F254
Được điều chế bằng thủy tinh, kim loại hoặc nhựa có gắn một lớp mỏng octadecylsilyl silica gel có chứa chất chỉ thị huỳnh quang có cực đại hấp thụ ở 254 nm.
1,4-Benzoquinon
p-Benzoquinon, quinon, cyclohexa-2,5-dien-1,4-dion
Dung dịch p-benzoquinon
Hòa tan 0,5 g p-benzoquinon (TT) trong 2,5 ml acid acetic băng (TT) và pha loãng với ethanol 96 % (TT) thành 50 ml. Dung dịch dùng trong ngày.
Biotin
C10H16N2O3S = 244,3
Xem chuyên luận "Biotin".
Bột đậu tương thủy phân bởi papain
Chất dinh dưỡng thu được khi thủy phân bột đậu nành bằng men papain, sau đó được tinh chế và cô đặc lại, chứa carbohydrat lên men.
Mất khối lượng do làm khô (Phụ lục 9.6): Không được quá 7,0 % (100 °C, đến khối lượng không đổi). Tro sulfat (Phụ lục 9.9, phương pháp 2): Không được quá 75 mg (15,0 %) (Nung 500 mg với 1 ml acid sulfuric (TT)).
Nitrogen (Phụ lục 10.9): Không nhỏ hơn 8,5 %. Sử dụng mẫu thử đã sấy khô ở 105 °C đến khối lượng không đổi.
Nitơ amin: 1,8 % - 3,2 %.
Tổng số vi sinh vật hiếu khí: Không được quá 104 CFU/g.
Cadmi nitrat tetrahydrat
Cd(NO3)2.4H2O = 308,5
Tinh thể hệ trục thoi, dễ hút ẩm. Rất tan trong nước, tan trong aceton và ethanol 96 %.
Điểm chảy: Khoảng 59,5 °C.
Calci pantothenat
C18H32CaN2O10 = 476,5
Xem chuyên luận "Calci pantothenat".
Cao nấm men
Chất giống pepton, tan trong nước của tế bào nấm Saccharomyces thu được trong điều kiện tối ưu, được tinh chế và làm khô tới khi thu được bột có màu vàng đỏ tới nâu, có mùi đặc trưng nhưng không có mùi thối. Hòa tan trong nước tạo thành dung dịch có màu vàng đến nâu, có tính acid nhẹ.
Mất khối lượng do làm khô (Phụ lục 9.6): Không được quá 6,0 % (105 °C, đến khối lượng không đổi). Tro sulfat (Phụ lục 9.9, phương pháp 2): Không được quá 75 mg (15,0 %) (Nung 500 mg với 1 ml acid sulfuric (TT)).
Clorid: Không được quá 5 % clorid, tính theo natri clorid.
Nitrogen (Phụ lục 10.9): 7,2 - 13,0 %. Sử dụng mẫu thử đã sấy khô ở 105 °C đến khối lượng không đổi.
Nitơ amin: 6,0 % - 6,9 %.
Tổng số vi sinh vật hiếu khí: Không được quá 104 CFU/g.
Cao thịt bò
Bột mịn màu be đến màu nâu nhạt. Cao thịt bò được chiết xuất bằng cách đun thịt bò nạc với nước và làm bay hết hơi nước trong điều kiện nhiệt độ thấp, thường dưới chân không, sau đó sấy khô.
Mất khối lượng do làm khô (Phụ lục 9.6): Không được quá 6 %.
Tro sulfat (Phụ lục 9.9, phương pháp 2): Không được quá 18,0 %.
Clorid: Không được quá 7 % clorid, tính theo natri clorid.
Nitrogen (Phụ lục 10.9): 8,0 % - 18,0 %.
Nitơ amin: 2,0 % - 2,3 %.
Tổng số vi sinh vật hiếu khí: Không được quá 104 CFU/g.
Casein thủy phân bởi pancreatin
Trypton, pepton từ casein
Bột màu vàng xám, có mùi đặc trưng nhưng không có mùi thối. Dễ tan trong nước, không tan trong ethanol 96 % và ether.
Mất khối lượng do làm khô (Phụ lục 9.6): Không được quá 7 % (100 °C, đến khối lượng không đổi).
Tro sulfat (Phụ lục 9.9, phương pháp 2): Không được quá 75 mg (15,0 %) (Nung 500 mg với 1 ml acid sulfuric (TT)).
Nitrogen (Phụ lục 10.9): 9,0 % - 14,0 %.
Nitơ amin: 3,5 % - 7,0 %.
Tổng số vi sinh vật hiếu khí: Không được quá 104 CFU/g.
Cesi clorid
CsCl = 168,4
Bột màu trắng hoặc gần như trắng, rất tan trong nước, dễ tan trong methanol, không tan trong aceton.
Cetyltrimethylamoni bromid
Hexadecyltrimethylmoni bromid
C19H42BrN = 364,46
Để sử dụng trong sắc ký, phải dùng loại phù hợp, hàm lượng không dưới 99,0 %.
Cloramphenicol
C11H12Cl2N2O5 = 323,1
Xem chuyên luận "Cloramphenicol".
4-Cloroanilin
Cloroanilin
C6H6ClN = 127,6
Dạng tinh thể. Tan trong nước nóng, dễ tan trong ethanol 96 %.
Điểm chảy: Khoảng 71 °C.
Clorobutanol
Clorobutanol khan, 1,1,1-tricloro-2-methylpropan-2-ol
C4H7Cl3O = 177,5
Bột kết tinh màu trắng hoặc gần như trắng hoặc tinh thể không màu, dễ thăng hoa. Khó tan trong nước, rất tan trong ethanol 96 %, tan trong glycerin 85 %.
Cystein hydroclorid
Cystein hydroclorid monohydrat
C3H8ClNO2S.H2O = 175,6.
Bột kết tinh màu trắng hoặc gần như trắng, hoặc tinh thể không màu. Dễ tan trong nước, hơi tan trong ethanol 96 % (TT).
Hàm lượng: Phải chứa từ 98,5 % đến 101,0 % C3H8ClNO2S, tính theo chế phẩm đã làm khô.
Góc quay cực riêng ở 20 °C: +5,5° đến +7,0° (tính theo chế phẩm đã làm khô). Hòa tan 2,00 g trong dung dịch acid hydrocloric 6 M (TT), thêm vừa đủ 25,0 ml bằng dung dịch acid hydrocloric 6 M (TT).
Deuteri oxyd
D2O; 2H2O = 20,03
Tỷ lệ deuteri hóa: ít nhất 99,7 %.
Tỷ trọng ở 20 °C: Khoảng 1,11.
Chỉ số khúc xạ ở 20 °C: Khoảng 1,328.
Điểm sôi: Khoảng 101 °C.
Dung dịch diclorofluorescein 0,1 %
Hòa tan 100 mg diclorofluorescein (TT) trong 60 ml ethanol 96 % (TT), thêm 2,5 ml dung dịch natri hydroxyd 0,1 N (TT), trộn đều và pha loãng thành 100 ml bằng nước.
N,N-Dimethyl-L-phenylalanin
Acid (2S)-2-(dimethylamino)-3-phenylpropanoic
C11H15NO2 = 193,2
Điểm chảy: Khoảng 226 °C.
Dinatri hydrophosphat dihydrat
Dinatri hydro-orthophosphat dihydrat
Na2HPO4.2H2O = 178,0
Dinatri hydrophosphat heptahydrat
Na2HPO4.7H2O = 268,07
Dinitrobenzen
1,3-Dinitrobenzen
C6H4N2O4 = 168,1
Tinh thể hoặc bột kết tinh màu vàng nhạt. Thực tế không tan trong nước, khó tan trong ethanol 96 %.
Điểm chảy: Khoảng 90 °C.
Dung dịch dinitrobenzen
Dung dịch chứa 1 % dinitrobenzen (TT) trong ethanol 96 % (TT).
D-Dopa
Acid (2R)-2-amino-3-(3,4-dihydroxyphenyl)propanoic, 3-hydroxy-D-tyrosin; 3,4-dihydroxy-D-phenylalanin
C9H11NO4 = 197,2
Góc quay cực riêng ở 20 °C: từ +9,5° đến +11,5°. Dùng dung dịch chế phẩm 1 % trong dung dịch acid hydrocloric 1 M (TT) để đo.
Điểm chảy: Khoảng 277 °C.
End-capped octodecylsilyl silica gel dùng cho sắc ký
Silica gel rất mịn (3 μm -10 μm), được biến đổi hóa học ở bề mặt bằng liên kết của các nhóm octadecylsilyl. Để giảm thiểu bất kỳ tương tác nào với các hợp chất bazơ, silica gel được khóa cẩn thận để bao phủ hầu hết các nhóm silanol còn sót lại. Kích thước hạt được đặt sau tên của thuốc thử trong các thử nghiệm được sử dụng.
Bột mịn, đồng nhất, màu trắng hoặc gần như trắng. Thực tế không tan trong nước và ethanol 96 %.
Esculin
6-(β-D-Glucopyranosyloxy)-7-hydroxy-2H-cromen-2-on
C15H16O9.3/2 H2O = 367,3
Bột trắng hoặc gần như trắng, hoặc tinh thể không màu. Hơi tan trong nước và ethanol 96 %. Dễ tan trong nước nóng và ethanol 96 % nóng.
(9-Fluorenyl)methyl cloroformat
Fluoren-9-ylmethyl cloromethanoat
C15H11ClO2 = 258,7
Điểm chảy: Khoảng 63 °C.
Fructose
Laevulose, D-fructose
C6H12O6 = 180,2
Bột kết tinh màu trắng hoặc gần như trắng. Rất tan trong nước, tan trong ethanol 96 %.
D-Glucose
Glucose, dextrose
C6H12O6 = 180,2
Xem chuyên luận "Glucose khan".
Glucose monohydrat
Dextrose monohydrat
C6H12O6.H2O = 198,2
Xem chuyên luận "Glucose ngậm một phân tử nước".
Guaiacol
2-Methoxyphenol,1-hydroxy-2-methoxybenzen
C7H8O2 = 124,1
Khối tinh thể hoặc chất lỏng không màu hoặc vàng nhạt, dễ hút ẩm. Khó tan trong nước, rất tan trong methylen clorid, dễ tan trong ethanol 96 %.
Điểm sôi: Khoảng 205 °C.
Điểm chảy: Khoảng 28 °C.
Hạt hút ẩm rây phân tử
Thành phần là natri aluminosilicat. Trên thị trường có ở dạng hạt hoặc bột với kích thước lỗ 0,4 nm.
Khi tái sử dụng, nên tái chế các hạt hút ẩm rây phân tử theo hướng dẫn của nhà sản xuất.
Heli dùng cho sắc ký
He = 4,003
Hàm lượng He không nhỏ hơn 99,995 %.
Hỗn hợp acid cromic
Hòa tan 200 g natri dicromat (TT) hoặc kali dicromat (TT) vào khoảng 100 ml nước, làm lạnh trong nước đá rồi thêm từ từ 1500 ml acid sulfuric (TT), vừa thêm vừa khuấy. Việc pha chế phải được thực hiện trong cốc bằng thủy tinh boro-silicat và cần đeo kính bảo hộ khi thêm acid.
4-Hydroxybenzaldehyd
p-Hydroxybenzaldehyd
C7H6O2 = 122,2
Dùng loại tinh khiết phân tích
Tinh thể hình kim không màu.
Điểm chảy: Khoảng 118 °C.
Iodoethan
C2H5I = 156,0
Hàm lượng không nhỏ hơn 99,0 %.
Chất lỏng không màu hoặc màu vàng nhạt, sậm màu khi tiếp xúc với không khí và ánh sáng, tạo hỗn hợp đồng nhất khi trộn cùng ethanol 96 % và hầu hết các dung môi hữu cơ.
Tỷ trọng ở 20 °C: Khoảng 1,95.
Chỉ số khúc xạ ở 20 °C: Khoảng 1,513.
Điểm sôi: Khoảng 72 °C.
Bảo quản trong đồ đựng kín, tránh ánh sáng.
Iodomethan
Methyl iodid
CH3I = 141,9
Hàm lượng không nhỏ hơn 99,0 %.
Isopropyl iodid
2-iodopropan
C3H7I = 170,0
Hàm lượng không nhỏ hơn 99 %.
Lactose monohydrat
C12H22O11.H2O = 360,3
Xem chuyên luận "Lactose".
Lecithin
L-α-Lecithin; L-α-phosphatidylcholin hydrogenated
Hàm lượng không nhỏ hơn 98 %.
L-Asparagin
C4H8N2O3.H2O = 150,13
Tinh thể không màu. 1 g tan trong 50 ml nước, tan trong acid và kiềm, không tan trong ethanol 96 % và ether. Dung dịch trung tính hoặc dung dịch kiềm là đồng phân tả tuyền. Dung dịch acid là đồng phân hữu tuyền.
Góc quay cực riêng: từ +31° đến +33°. Hòa tan 5 g (đã được sấy khô ở 105 °C trong 5 h) trong 100 ml dung dịch acid hydrocloric 10 % (TT), đo ở 25 °C.
Tro sulfat (Phụ lục 9.9, phương pháp 2): Không được quá 0,1 %
Clorid: Không được quá 0,03 mg clorid (0,003 %). Dùng 1,0 g chế phẩm.
Sulfat (Phụ lục 9.4.14): Không được quá 0,05 mg (0,005 %). Dùng 1,0 g chế phẩm.
Kim loại nặng: Không được quá 0,002 %.
Nitrogen (Phụ lục 10.9): Từ 18,4 % đến 18,8 %.
L-Cystin
C6H12N2O4S2 = 240,3
Bột kết tinh trắng hoặc gần như trắng. Thực tế không tan trong nước và ethanol 96 %. Tan trong dung dịch hydroxyd kiềm loãng.
Góc quay cực riêng ở 20 °C: -218° đến -224°, đo trong dung dịch acid hydrocloric 1 M (TT).
Điểm chảy: 250 °C, kèm phân hủy.
L-Lysin
Acid 2,6-diaminohexanoic
C6H14N2O2 = 146,2
Tinh thể hình kim hoặc hình phiến lục giác. Tan trong nước, rất khó tan trong ethanol 96 %, không tan trong ether.
Góc quay cực riêng: +25,5° đến +26,0°. Dùng dung dịch chứa chế phẩm nồng độ 20 mg/ml trong dung dịch acid hydrocloric 10 % (TT), đo ở 25 °C.
Nitrogen (Phụ lục 10.9): 18,8 % - 19,44 %, tương ứng với không được dưới 98,5 % C6H14N2O2, cần sấy trước chế phẩm ở 105 °C trong 2 h trước khi thử.
L-Tyrosin
Acid 2-amino-3-(4-hydroxyphenyl)propionic; tyrosin
C9H11NO3 = 181,2
Dùng loại tinh khiết phân tích.
L-Tryptophan
C11H12N2O2 = 204,2
Bột kết tinh màu trắng đến vàng nhạt hoặc tinh thể không màu. Khó tan trong nước, rất khó tan trong ethanol 96 %.
Góc quay cực riêng ở 20 °C: khoảng -30°, dùng dung dịch chế phẩm nồng độ 10 g/l để đo.
Maltose monohydrat
4-O-α-D-Glucopyranosyl-D-glucopyranose monohydrat
C12H22O11.H2O = 360,3
Maltotriose
α-D-Glucopyranosyl-(1→4)-α-D-glucopyranosyl-(1→4)-D-glucose
C18H32O16 = 504,4
Bột kết tinh màu trắng hoặc gần như trắng. Rất tan trong nước.
Điểm chảy: Khoảng 134 °C.
D-Manitol
C6H14O6 = 182,2
Xem chuyên luận "Manitol".
Melamin
1,3,5-Triazin-2,4,6-triamin
C3H6N6 = 126,1
Bột màu trắng hoặc gần như trắng, vô định hình. Rất khó tan trong nước và ethanol 96 %.
4-Methylpentan-2-ol
4-Methyl-2-pentanol
C6H14O = 102,2
Chất lỏng trong, không màu, dễ bay hơi.
Tỷ trọng ở 20 °C: Khoảng 0,802.
Chỉ số khúc xạ ở 20 °C: Khoảng 1,411.
Điểm sôi: Khoảng 132 °C.
1-Methylimidazol
1-Methyl-1H-imidazol
C4H6N2 = 82,1
Chất lỏng không màu hoặc màu vàng nhạt.
Chỉ số khúc xạ ở 20 °C: Khoảng 1,495.
Điểm sôi: Khoảng từ 195 °C đến 197 °C.
Bảo quản trong đồ đựng kín, tránh ánh sáng.
1-Methylimidazol TT1
Đáp ứng các yêu cầu của thuốc thử 1-methylimidazol và yêu cầu sau:
Hàm lượng C4H6N2 không nhỏ hơn 95,0 %.
2- Methylimidazol
C4H6N2 = 82,1
Bột kết tinh màu trắng hoặc gần như trắng.
Điểm chảy: Khoảng 145 °C.
Mesityl oxyd
4-Methylpent-3-en-2-on
C6H10O = 98,1
Dầu lỏng không màu. Tan trong 30 phần nước, tạo hỗn hợp đồng nhất khi trộn với hầu hết các dung môi hữu cơ.
Tỷ trọng ở 20 °C: Khoảng 0,858.
Điểm sôi: Khoảng 129 °C đến 130 °C.
Muối mật
Là chất cô đặc từ mật bò, thành phần chính là muối natri desoxycholat được xác định theo acid cholic. Tan trong nước và ethanol 96 %. Dung dịch tạo nhiều bọt khi lắc.
Các chất không hòa tan: Hòa tan 5 g chế phẩm trong 100 ml ethanol 80 %, làm ấm nếu cần. Lọc qua phễu lọc đã được cân bì trước trong vòng 15 min, rửa màng lọc bằng ethanol 80 % cho tới khi hết màu, sau đó sấy khô ở 105 °C trong 1 h, sau đó cân lại bộ phễu lọc.
Yêu cầu: lượng cắn còn lại không được lớn hơn 0,1 %.
Định lượng: Lượng acid cholic không nhỏ hơn 45 %.
Dung dịch acid cholic chuẩn: Cân chính xác khoảng 50,0 mg acid cholic chuẩn, hòa tan trong vừa đủ 100 ml dung dịch acid acetic 3,6 M (TT), lắc kỹ, bảo quản ở 2 °C - 8 °C.
Dung dịch muối mật: Cân chính xác khoảng 1,0 g chế phẩm, hòa tan trong 50 ml dung dịch acid acetic 3,6 M (TT), lọc nếu cần và cho vào bình định mức 100 ml, rửa bình chứa mẫu ban đầu và bộ lọc bằng dung dịch acid acetic 3,6 M (TT), thêm dung dịch acid acetic 3,6 M (TT) vừa đủ đến vạch, lắc đều. Pha loãng 10 ml dung dịch thu được thành 100 ml bằng dung dịch acid acetic 3,6 M (TT) và lắc đều.
Chuẩn bị 02 ống nghiệm. Hút vào ống thứ nhất 1 ml dung dịch acid cholic chuẩn, hút vào ống còn lại 1 ml dung dịch muối mật. Thêm vào mỗi ống đúng 1,0 ml dung dịch furfural 1 % mới pha, đặt 2 ống trong nước đá trong 5 min, sau đó thêm vào mỗi ống đúng 13,0 ml dung dịch acid sulfuric (trộn cẩn thận 50 ml acid sulfuric (TT) với 65 ml nước). Lắc đều các thành phần trong ống, đun cách thủy ở 70 °C trong 10 min. Sau đó nhúng ngay 2 ống vào nước đá trong 2 min, và đo độ hấp thụ (Phụ lục 4.1) của từng dung dịch ở bước sóng 670 nm. Tính hàm lượng của acid cholic (C24H40O5) theo mg trong muối mật theo công thức: 500 x (AU/AS)
Trong đó: AU là độ hấp thụ của dung dịch muối mật.
AS là độ hấp thụ của dung dịch acid cholic chuẩn.
Dinatri edetat
Natri edetat, dinatri dihydro ethylendiamintetra-acetat dihydrat
C10H14N2Na2O8.2H2O = 372,2
Natri deoxycholat
Muối natri của acid deoxycholic
C24H39NaO4 = 414,6
Natri heptansulfonat monohydrat
Muối natri của acid 1-heptansulfonic monohydrat, muối natri của acid 1-heptansulphonic monohydrat, natri heptansulphonat monohydrat
C7H15NaO3S.H2O = 220,3
Bột kết tinh màu trắng hoặc gần như trắng. Tan trong nước, rất khó tan trong ethanol.
Hàm lượng: Không nhỏ hơn 96 %, tính theo chế phẩm khan.
Nước (Phụ lục 10.3): Không lớn hơn 8 %. Dùng 0,300 g chế phẩm.
Định lượng: Hòa tan 0,150 g chế phẩm trong 50 ml acid acetic khan (TT). Chuẩn độ bằng dung dịch acid percloric 0,1 N (CĐ). Xác định điểm tương đương bằng phương pháp chuẩn độ đo điện thế (Phụ lục 10.2). 1 ml dung dịch acid percloric 0,1 N (CĐ) tương đương với 20,22 mg C7H15NaO3S.
Dung dịch natri hydroxyd đậm đặc
Hòa tan 42 g natri hydroxyd (TT) trong nước và pha loãng thành 100 ml với cùng dung môi.
Natri decansulfonat
C10H21NaO3S = 244,3
Bột kết tinh hoặc dạng vảy màu trắng hoặc gần như trắng. Dễ tan trong nước, tan trong methanol.
Natri dihydrophosphat monohydrat
NaH2PO4.H2O = 138,0
Dùng loại tinh khiết phân tích.
Tinh thể không màu hoặc bột màu trắng. Rất tan trong nước, rất khó tan trong ethanol 96 %.
Natri hexansulfonat
Muối natri của acid hexansulfonic, muối natri của acid hexansulphonic, natri hexansulphonat
C6H13NaO3S = 188,2
Bột màu trắng hoặc gần như trắng. Dễ tan trong nước.
Natri pyruvat
Muối natri của acid 2-oxopropanoic.
C3H3NaO3 = 110,0.
Bột màu trắng hoặc vàng nhạt. Tan trong nước (100 mg/ml).
Điểm chảy: lớn hơn 300 °C.
Natri resazurin
C12H6NNaO4 = 251,2
Bột kết tinh màu tím nâu. Hòa tan 1 g trong 100 ml nước tạo thành dung dịch có màu tím đậm. Hydrosulfid và các hợp chất khác chứa nhóm thiol làm mất màu dung dịch natri resazurin do tạo thành dihydroresorufin. Khi lắc dung dịch đã mất màu trong không khí, màu hồng sẽ xuất hiện do sự hình thành resorufin.
Natri tetraborat
Borax, dinatri tetraborat, natri borat
Na2B4O7.10H2O = 381,4
Bột kết tinh màu trắng hoặc gần như trắng, tinh thể hoặc khối tinh thể không màu, dễ lên hoa.
Tan trong nước, rất tan trong nước sôi, dễ tan trong glycerin.
Natri thioglycolat
Natri mercaptoacetat
C2H3NaO2S = 114,1
Bột cốm hoặc tinh thể màu trắng hoặc gần như trắng, dễ hút ẩm. Dễ tan trong nước và methanol, khó tan trong ethanol 96 %.
Bảo quản trong đồ đựng kín.
Natri trimethylsilylpropionat deuteri hóa
C6H9D4NaO2Si; C6H92H4NaO2Si = 172,3
Tỷ lệ deuteri hóa: ít nhất 98 %.
Bột màu trắng hoặc gần như trắng.
Nhựa trao đổi anion base mạnh
Nhựa loại gel dạng hydroxyd chứa nhóm amino bậc 4 [-CH2N+(CH3)3,typ 1] gắn với màng polymer chứa polystyren được liên kết chéo với 8 % divinylbenzen.
Hạt màu nâu, trong suốt có chứa 50 % nước, kích thước tiểu phân từ 0,2 mm đến 1,0 mm. Tổng hệ số trao đổi ít nhất là 1,2 mEq/ml.
Nhựa trao đổi cation mạnh (dạng canxi)
Nhựa dạng canxi với các nhóm acid sulfonic gắn với màng polymer chứa polystyren được liên kết chéo với 8 % divinylbenzen.
Niacin
C6H5NO2 = 123,1
Hàm lượng Niacin (C6H5NO2) từ 98,0 % đến 102,0 % tính theo chế phẩm đã làm khô.
Dung dịch ninhydrin TT3
Hòa tan 4 g ninhydrin (TT) trong 1000 ml hỗn hợp gồm 5 thể tích acid acetic khan (TT) và 95 thể tích butanol (TT).
Niken nitrat hexahydrat
Ni(NO3)2.6H2O = 290,8
Nước TT1
Được điều chế từ nước cất bằng cách chưng cất nhiều lần. Loại bỏ carbon dioxyd bằng cách đun sôi trong bình làm bằng thủy tinh silica nung chảy hoặc thủy tinh borosilicat ít nhất 15 min trước khi sử dụng và để nguội. Có thể sử dụng bất kỳ phương pháp thích hợp nào khác. Bình đun sôi đã được sử dụng cho thử nghiệm hoặc đã được đổ đầy nước và giữ trong nồi hấp ở 121 °C trong ít nhất 1 h trước khi sử dụng lần đầu. Khi được kiểm tra ngay trước khi sử dụng, nước (TT1) trung tính với dung dịch đỏ methyl (TT) tức là nó sẽ tạo ra màu đỏ cam (không phải đỏ tím hoặc vàng) tương ứng với độ pH 5,5 ± 0,1 khi thêm 0,05 ml dung dịch đỏ methyl (TT) vào 50 ml nước cần kiểm tra.
Độ dẫn điện: tối đa 1 μS·cm-1, được xác định ở 25 °C bằng máy đo độ dẫn điện (xem trong chuyên luận Nước tinh khiết).
Nước không có tiểu phân
Lọc nước qua màng lọc 0,22 μm.
Octan
n-Octan
C8H18 = 114,2
Dùng loại tinh khiết phân tích.
Hàm lượng không nhỏ hơn 99 %.
Pepton từ thịt
Bột màu vàng đỏ đến nâu, có mùi đặc trưng nhưng không có mùi thối. Tan trong nước tạo thành dung dịch màu vàng nâu có phản ứng acid nhẹ. Không tan trong ethanol 96 % và ether.
Mất khối lượng do làm khô (Phụ lục 9.6): Không được quá 7,0 % (105 °C, đến khối lượng không đổi). Tro sulfat (Phụ lục 9.9, phương pháp 2): Không được quá 75 mg (15,0 %) (Nung 500 mg với 1 ml acid sulfuric (TT)).
Nitrogen (Phụ lục 10.9): 12 % - 18 %. Dùng mẫu thử đã sấy khô ở 105 °C đến khối lượng không đổi.
Phản ứng đông protein: Đun sôi dịch lọc (nồng độ 1/20). Yêu cầu: không được tạo tủa.
Tổng số vi sinh vật hiếu khí: Không quá 104 CFU/g.
Pepton thủy phân từ mô động vật
Bột màu nâu, có mùi đặc trưng nhưng không có mùi thối. Tan trong nước, không tan trong ethanol 96 % và ether. Sau hấp tiệt khuẩn, dung dịch 2 % trong suốt và trung tính.
Mất khối lượng do làm khô (Phụ lục 9.6): Không được quá 7,0 % (100 °C đến khối lượng không đổi).
Tro sulfat (Phụ lục 9.9, phương pháp 2): Không được quá 75 mg (15,0 %) (Nung 500 mg với 1 ml acid sulfuric (TT)).
Nitrogen (Phụ lục 10.9): 9,0 % - 14,0 %. Dùng mẫu thử đã sấy khô ở 105 °C đến khối lượng không đổi.
Nitơ amin: 2,7 % - 3,7 %.
Tổng số vi sinh vật hiếu khí: Không quá 104 CFU/g.
Piperazin hydrat
Xem chuyên luận Piperazin hydrat.
Polyethylen glycol 400
Macrogol 400
Xem chuyên luận "Các macrogols".
Polyethylen glycol 6000
Macrogol 6000
Xem chuyên luận "Các macrogols".
Polyethylen Glycol 20 000
Macrogol 20 000
Xem chuyên luận "Các macrogols".
Proteose pepton
Sử dụng loại phù hợp cho môi trường nuôi cấy vi sinh vật.
Pyridoxal hydroclorid
C8H9NO3.HCl = 203,6
Tinh thể hoặc bột kết tinh màu trắng đến hơi vàng. Dễ bị đổi màu khi tiếp xúc với không khí hoặc ánh sáng mặt trời. 1 g hòa tan trong khoảng 2 ml nước và trong khoảng 25 ml ethanol 96 % (TT). Không tan trong aceton, cloroform và ether. Dung dịch trong nước có tính acid (pH khoảng 3).
Khoảng nóng chảy: từ 171 °C đến 175 °C, kèm phân hủy.
Mất khối lượng do làm khô (Phụ lục 9.6): Không được quá 0,5 % (105 °C, 2 h).
Tro sulfat (Phụ lục 9.9, phương pháp 2): Không được quá 0,1 %.
Nitrogen (Phụ lục 10.9): 6,7 % - 7,1 %. Dùng mẫu thử đã sấy khô ở 105 °C trong 2 h.
Hàm lượng clorid: 17,2 % - 17,7 %. Cân chính xác khoảng 500 mg đã sấy khô ở 105 °C trong 2 h, hòa tan trong 50 ml nước. Thêm 3 ml acid nitric (TT) và 50,0 ml dung dịch bạc nitrat 0,1 N (CĐ) sau đó thêm 5 ml nitrobenzen (TT), lắc đều trong 2 min, thêm dung dịch sắt amoni sulfat (TT) 8 % và chuẩn độ lượng bạc nitrat dư bằng dung dịch amoni thiocyanat 0,1 N (CĐ). 1 ml dung dịch bạc nitrat 0,1 N (CĐ) tương ứng với 3,545 mg Cl.
Pyridoxamin dihydroclorid
C8H12N2O2.2HCl = 241,11
Tinh thể hoặc bột kết tinh màu trắng đến hơi vàng. Dễ bị đổi màu khi tiếp xúc với không khí hoặc ánh sáng mặt trời. 1 g hòa tan trong khoảng 1 ml nước và khoảng 60 ml ethanol 96 % (TT). Không tan trong cloroform và ether. Dung dịch trong nước có tính acid.
Khoảng nóng chảy: Khoảng từ 225 °C đến 230 °C, kèm phân hủy.
Mất khối lượng do làm khô (Phụ lục 9.6): Không được quá 0,5 % (105 °C, 2 h).
Tro sulfat (Phụ lục 9.9, phương pháp 2): Không được quá 0,15 %.
Nitrogen (Phụ lục 10.9): 11,3 % - 11,8 %. Dùng mẫu thử đã sấy khô ở 105 °C trong 2 h.
Hàm lượng Clorid: 29,1 % - 29,6 %. Tiến hành tương tự như chỉ tiêu Hàm lượng Clorid của Pyridoxal hydroclorid.
Pyridoxin hydroclorid
C8H11NO3.HCl = 205,6
Xem chuyên luận "Pyridoxin hydroclorid".
Pyrogallol
Benzen-1,2,3-triol
C6H3(OH)3 = 126,1
Dùng loại tinh khiết hóa học.
Riboflavin
C17H20N4O6 = 376,36
Xem chuyên luận "Riboflavin".
Sắt amoni citrat
Vảy mỏng trong suốt màu đỏ đậm, hoặc dạng hạt nhỏ hoặc bột màu vàng nâu. Dễ bị chảy rữa và ảnh hưởng bởi ánh sáng. Rất tan trong nước, không tan trong ethanol 96 %.
Định lượng: 16,5 % - 18,5 %.
Cân chính xác khoảng 1 g chế phẩm, hòa tan trong 25 ml nước trong bình nón nút mài, thêm 5 ml acid hydrocloric (TT) và 4 g kali iodid (TT), đậy nút, để yên trong tối 15 min. Thêm 100 ml nước, chuẩn độ iod giải phóng ra bằng dung dịch natri thiosulfat 0,1 N (CĐ), thêm 3 ml dung dịch hồ tinh bột (TT) khi gần điểm kết thúc phản ứng. Tiến hành song song mẫu trắng và hiệu chỉnh nếu cần.
1 ml dung dịch natri thiosulfat 0,1 N (CĐ) tương ứng với 5,585 mg Fe.
Sắt (III) citrat: Hòa tan 250 mg chế phẩm trong 25 ml nước, thêm 1 ml dung dịch kali ferocyanid 10 % (TT). Không tạo thành kết tủa màu xanh.
Tartrat: Hòa tan 1 g chế phẩm trong 10 ml nước, thêm 1 ml dung dịch kali hydroxyd (TT) 6,5 %, đun sôi để tạo tủa sắt hydroxyd, thêm dung dịch kali hydroxyd (TT) 6,5 % nếu cần để kết tủa toàn bộ sắt, lọc và acid hóa nhẹ dịch lọc bằng acid acetic băng (TT). Thêm 2 ml acid acetic băng (TT), để yên trong 24 h. Không được tạo thành tinh thể trắng.
Chì (Phụ lục 9.4.8): Hòa tan 1,0 g trong 30 ml nước, thêm 5 ml dung dịch acid nitric 0,8 M (TT), đun sôi từ từ trong 5 min, làm lạnh và pha loãng thành 50 ml bằng nước.
Yêu cầu: Trong 20 ml dung dịch không được quá 0,008 mg Pb (0,002 %).
Dung dịch sắt (III) clorid - acid sulfamic
Thuốc thử sắt (III) clorid - acid sulfamic
Dung dịch chứa 1,0 % sắt (III) clorid (TT) và 1,6 % acid sulfamic (TT).
Sucrose
C12H22O11 = 342,3
Bột kết tinh trắng hoặc gần như trắng, hoặc tinh thể bóng không màu hoặc trắng hoặc gần như trắng. Rất tan trong nước, khó tan trong ethanol 96 %, thực tế không tan trong ethanol khan.
Tetrahydrofuran dùng cho sắc ký
Đáp ứng yêu cầu của tetrahydrofuran và các yêu cầu sau:
Tỷ trọng ở 4 °C: 0,8892.
Điểm sôi: Khoảng 66 °C.
Hàm lượng C4H8O: Không nhỏ hơn 99,8 %.
Tetrabutylamoni hydrosulfat TT1
Tetrabutylamoni hydrosulphat TT1
Đáp ứng các yêu cầu của tetrabutylamoni hydrosulfat (TT) và yêu cầu sau:
Độ hấp thụ: Độ hấp thụ của dung dịch 50 g/L đo ở bước sóng từ 215 nm đến 300 nm không được lớn hơn 0,02.
Dung dịch tetrabutylamoni hydroxyd 0,1 M trong 2-propanol
Chuẩn bị như mô tả dung dịch tetrabutylamoni hydroxyd 0,1 M dùng 2-propanol (TT) thay cho toluen (TT) và tiến hành chuẩn độ như mô tả.
Thạch
Bột khô được chiết xuất từ Gelidium sp và các loài tảo khác thuộc lớp Rhodophyceae.
Dùng loại phù hợp cho các phép thử vi sinh.
Thiamin hydroclorid
Xem chuyên luận "Thiamin hydroclorid".
Dung dịch thủy ngân acetat 6 %
Hòa tan 6,0 g thủy ngân (II) acetat (TT) trong acid acetic khan (TT), để nguội, thêm acid acetic khan (TT) vừa đủ 100 ml.
Bảo quản trong lọ kín, tránh ánh sáng trực tiếp.
Thrombin người
Thrombin người đã được làm khô. Là chế phẩm chứa enzym chuyển đổi fibrinogen thành fibrin. Được sản xuất từ huyết tương người dạng lỏng và được kết tủa bằng muối và dung môi hữu cơ thích hợp trong các điều kiện được kiểm soát về độ pH, cường độ ion và nhiệt độ.
Bột màu trắng vàng. Dễ tan trong dung dịch natri clorid 9 g/L tạo thành dung dịch đục, màu vàng nhạt. Bảo quản trong đồ đựng kín, vô trùng, dưới khí nitrogen. Tránh ánh sáng, ở nhiệt độ dưới 25 °C.
Thuốc thử Dragendorff
Dung dịch (1): Hoà tan 0,85 g bismuth nitrat base (TT) trong hỗn hợp gồm 10 ml acid acetic băng (TT) và 40 ml nước.
Dung dịch (2): Hòa tan 20 g kali iodid (TT) trong vừa đủ 50 ml nước.
Trộn đều 50 ml dung dịch (1) và 50 ml dung dịch (2), thêm 200 ml acid acetic băng (TT) và 100 ml nước, lắc đều.
Thuốc thử Dragendorff TT1
Dung dịch (1): Hoà tan 0,85 g bismuth nitrat base (TT) trong hỗn hợp gồm 10 ml acid acetic băng (TT) và 40 ml nước.
Dung dịch (2): Hòa tan 8 g kali iodid (TT) trong 20 ml nước.
Trộn đều hai dung dịch trên.
Thuốc thử Dragendorff TT2
Dung dịch (1): Hoà tan 0,85 g bismuth nitrat base (TT) trong hỗn hợp gồm 10 ml acid acetic băng (TT) và 40 ml nước.
Dung dịch (2): Hòa tan 8 g kali iodid (TT) trong 20 ml nước.
Ngay trước khi dùng, trộn đều 5 ml dung dịch (1) và 5 ml dung dịch (2), thêm 20 ml acid acetic băng (TT), sau đó thêm nước vừa đủ 100 ml.
Thuốc thử Dragendorff TT3
Hòa tan 1 ml thuốc thử Dragendorff (TT1) trong 2 ml dung dịch acid hydrocloric 0,6 M (TT), pha loãng thành 10 ml bằng nước.
Thuốc thử Dragendorff TT4
Dung dịch (1): Hoà tan 1,7 g bismuth nitrat base (TT) trong hỗn hợp gồm 20 ml acid acetic băng (TT) và 80 ml nước, làm nóng nếu cần và để nguội.
Dung dịch (2): Hòa tan 35,0 g kali iodid (TT) trong 105 ml nước.
Trộn đồng thể tích dung dịch (1) và (2) để tạo thành dung dịch gốc. Bảo quản dung dịch gốc này trong chai thủy tinh tối màu, trong tủ lạnh và dùng trong vài tháng.
Pha loãng 10 ml dung dịch gốc thành 100 ml bằng nước và thêm 10 ml acid acetic băng (TT), sau đó thêm 120 mg iod (TT) vào dung dịch thu được và hòa tan bằng cách lắc mạnh.
Bảo quản dung dịch thu được trong tủ lạnh và dùng trong 2 tuần.
Thuốc thử Dragendorff TT5
Dung dịch (1): Hoà tan 1,7 g bismuth nitrat base (TT) trong hỗn hợp gồm 20 ml acid tartaric (TT) và 80 ml nước.
Dung dịch (2): Hòa tan 16,0 g kali iodid (TT) trong 40 ml nước.
Trộn đồng thể tích dung dịch (1) và (2) để tạo thành dung dịch gốc. Lấy 5 ml dung dịch gốc thu được trộn đều với 50 ml dung dịch acid tartaric (TT) 20 %.
Triethylamin TT2
N,N-Diethylethanamin TT2
C6H15N = 101,2
Đáp ứng các yêu cầu của triethylamin (TT) và các yêu cầu sau:
Hàm lượng: Không nhỏ hơn 99,5 %, xác định bằng phương pháp sắc ký khí.
Nước: Không được quá 0,2 %.
Thích hợp dùng cho phương pháp rửa giải gradient trong sắc ký lỏng, sử dụng loại mới cất xong hoặc, từ lọ mới mở.
Trinitrophenol
Xem Acid picric.
Dung dịch xanh bromothymol TT4
Hòa tan 100 mg xanh bromothymol (TT) trong hỗn hợp đồng thể tích của ethanol 96 % (TT) và nước, pha loãng thành 100 ml với cùng dung môi. Lọc nếu cần.
Xanthin
C5H4N4O2 = 152,1
Bột kết tinh trắng. Phân hủy khi đun nóng. Khó tan trong nước và ethanol 96 %, tan trong dung dịch natri hydroxyd, hơi tan trong dung dịch acid hydrocloric loãng.
Khi tiến hành phản ứng Murexid cho màu đỏ tía với amoniac nhưng màu không mất đi mà chuyển sang màu tím khi thêm dung dịch hydroxyd kiềm.
Mất khối lượng do làm khô (Phụ lục 9.6): Không quá 1 % (105 °C, 2 h).
Tro sulfat (Phụ lục 9.9, phương pháp 2): Không đáng kể (Dùng 100 mg).
Xanh brilliant
Cl 42040; basic green 1; malachite green G
C27H34N2O4S = 482,6
Tinh thể màu vàng kim lấp lánh. Tan trong nước và trong ethanol 96 %. Cực đại hấp thụ ở 623 nm.
o-Xylen
1,2-Dimethylbenzen
C8H10 = 106,2
Chất lỏng trong, không màu, dễ bắt lửa. Thực tế không tan trong nước, tạo hỗn hợp đồng nhất khi trộn cùng ethanol 96 %.
Tỷ trọng ở 20 °C: Khoảng 0,881.
Chỉ số khúc xạ ở 20 °C: Khoảng 1,505.
Điểm sôi: Khoảng 144 °C.
Điểm chảy: Khoảng -25 °C.
Xylose
C5H10O5 = 150,1
Sử dụng loại có chất lượng phù hợp.
PHỤ LỤC 2.2 CÁC DUNG DỊCH CHUẨN ĐỘ (CĐ)
Quy định chung
Dung dịch chuẩn độ là dung dịch có nồng độ chính xác, biết trước dùng trong phân tích định lượng thể tích.
Nồng độ của dung dịch chuẩn độ thường được biểu thị bằng:
Nồng độ đương lượng gam (N): số đương lượng gam của chất tan trong 1000 ml dung dịch.
Nồng độ mol (M): số mol của chất tan trong 1000 ml dung dịch.
Tỷ số giữa nồng độ thực và nồng độ lý thuyết là hệ số hiệu chỉnh K, không được nằm ngoài giới hạn 1,00 ± 0,10. Nên dùng các dung dịch chuẩn độ với K trong khoảng từ 0,970 đến 1,030. Nồng độ dung dịch chuẩn độ được xác định với số lần chuẩn độ thích hợp và độ lệch chuẩn tương đối của các kết quả thu được không được quá 0,2 %.
Phương pháp chung để pha chế các dung dịch chuẩn độ
Đối với mỗi loại dung dịch chuẩn độ, phương pháp pha chế và chuẩn hóa những dung dịch ở các nồng độ hay được sử dụng nhất sẽ được mô tả dưới đây. Các dung dịch đậm đặc hơn được pha chế và chuẩn hóa bằng cách tăng lượng thuốc thử lên tương ứng. Các dung dịch nước có nồng độ loãng hơn được điều chế bằng cách pha loãng chính xác một dung dịch đậm đặc hơn với nước không có carbon dioxyd (TT). Hệ số hiệu chỉnh của những dung dịch này chính là hệ số hiệu chỉnh của dung dịch đã dùng để pha loãng. Các dung dịch nước có nồng độ mol nhỏ hơn 0,1 M phải được pha chế với nước không có carbon dioxyd (TT).
Khi pha chế các dung dịch kém bền vững như kali permanganat, natri thiosulfat, phải dùng nước mới đun sôi để nguội. Đối với dung dịch chuẩn độ được dùng trong định lượng mà điểm tương đương được xác định bằng phương pháp điện hóa thì kỹ thuật xác định điểm tương đương này cũng phải được dùng trong chuẩn hóa dung dịch đó.
Tất cả các dung dịch chuẩn độ phải được pha chế, chuẩn hóa và sử dụng ở nhiệt độ 25 °C. Nếu nhiệt độ khi định lượng khác với nhiệt độ lúc chuẩn hóa thì thể tích dung dịch chuẩn độ sẽ được hiệu chỉnh lại.
Dưới đây là phương pháp pha chế và chuẩn hóa các dung dịch chuẩn độ được dùng:
Pha chế từ chất chuẩn gốc
Cân chính xác một lượng chất chuẩn gốc tương ứng với lượng chất lý thuyết tính theo nồng độ và thể tích dung dịch chuẩn độ cần pha, hòa tan trong dung môi chỉ dẫn vừa đủ thể tích.
Pha gần đúng rồi chuẩn hóa bằng chất chuẩn gốc hoặc bằng dung dịch chuẩn độ có hệ số K đã biết
Chất chuẩn gốc: Các hóa chất loại tinh khiết phân tích dưới đây, sau khi làm khô trong những điều kiện chỉ dẫn, được dùng làm chất chuẩn gốc để xác định K của dung dịch chuẩn độ:
Acid benzoic (C7H6O2): Để 24 h trong bình hút ẩm chứa silicagel khan.
Acid sulfanilic (C6H7NO3S): Sấy ở 100 °C đến 105 °C đến khối lượng không đổi.
Arsen trioxyd (As2O3): Để 24 h trong bình hút ẩm chứa silicagel khan.
Kali bromat (KBrO3): Sấy ở 180 °C đến khối lượng không đổi.
Kali dicromat (K2Cr2O7): Sấy ở 150 °C đến khối lượng không đổi.
Kali hydrophtalat (C8H5O4K): Sấy ở 110 °C đến khối lượng không đổi.
Kali iodat (KIO3): Sấy ở 130 °C đến khối lượng không đổi.
Kẽm hạt (Zn): Sử dụng loại có hàm lượng Zn không ít hơn 99,9 %.
Natri carbonat khan (Na2CO3): Nung ở 270 °C đến 300 °C đến khối lượng không đổi.
Natri clorid (NaCl): Thêm 2 thể tích acid hydrocloric (TT) vào 1 thể tích dung dịch natri clorid bão hòa (TT). Thu các tinh thể tạo thành, rửa bằng acid hydrocloric (TT1). Loại acid bằng cách đun trên cách thủy và sau đó sấy tinh thể đến khối lượng không đổi ở 300 °C.
Sắt (II) ethylendiamoni sulfat (Fe(C2H10N2)(SO4)2.4H2O = 382,1)
Ethylendiamoni sắt(II) disulfat tetrahydrat; Ethylendiamoni tetraaquabis(sulfato)sắt(II).
Hàm lượng: Không nhỏ hơn 99,5 %.
Tromethamin (Trometamol) (C4H11NO3 = 121,1)
2-Amino-2-(hydroxymethyl)propan-1,3-diol; tris(hydroxymethyl)aminomethan.
Hàm lượng: Không nhỏ hơn 99,5 %.
Trước khi dùng sấy theo chỉ dẫn trên nhãn hoặc sấy ở 105 °C trong 3 h.
Cách xác định K:
Chuẩn hóa bằng chất chuẩn gốc: Cân chính xác một lượng chất chuẩn gốc, hòa tan trong dung môi chỉ dẫn, chuẩn độ bằng dung dịch chuẩn độ mới pha, tính K theo công thức:
![]()
Trong đó:
a là lượng chất chuẩn gốc đã cân (g);
T là độ chuẩn lý thuyết của chất chuẩn gốc (g/ml);
V là số ml dung dịch chuẩn độ đã dùng.
Chuẩn hóa bằng dung dịch chuẩn độ có hệ số K0 đã biết.
Trong trường hợp này, K được tính theo công thức:
![]()
Trong đó:
C0 là nồng độ lý thuyết của dung dịch chuẩn độ dùng để chuẩn hóa;
K0 là hệ số hiệu chỉnh của dung dịch chuẩn độ dùng để chuẩn hóa;
V0 là số ml dung dịch chuẩn độ dùng để chuẩn hóa đã dùng;
C là nồng độ lý thuyết của dung dịch chuẩn độ cần pha;
V là số ml dung dịch chuẩn độ cần xác định hệ số K đã dùng.
Ghi chú: Nếu K nằm ngoài giới hạn quy định, cần pha loãng hay làm đậm đặc dung dịch. Khi cần pha loãng, tích (K -1) nhân với 1000 là số ml dung môi cần thêm vào 1000 ml dung dịch. Trong trường hợp cần làm đậm đặc, tích (1 - K) nhân với số g hóa chất cần lấy để pha 1000 ml dung dịch là số g hóa chất phải thêm vào 1000 ml dung dịch. Sau khi thêm dung môi hay hóa chất, xác định lại K của dung dịch thu được.
Pha loãng những dung dịch chuẩn độ có nồng độ cao
Pha loãng một cách chính xác dung dịch chuẩn độ có nồng độ cao thành dung dịch có nồng độ thấp hơn 2 lần, 5 lần, 10 lần, v.v. bằng dung môi tương ứng. Hệ số hiệu chỉnh của dung dịch chuẩn độ pha được chính là hệ số hiệu chỉnh của dung dịch đã dùng để pha loãng. Những dung dịch chuẩn độ có nồng độ nhỏ hơn 0,1 N chỉ được điều chế theo cách này ngay trước khi dùng.
Dùng ống chuẩn pha sẵn
Ống chuẩn pha sẵn (fixanal) chứa lượng hóa chất hay dung dịch hóa chất đủ để pha thành một thể tích dung dịch chuẩn độ quy định. Dùng dung môi pha chế theo chỉ dẫn ghi trên nhãn ống, thu được dung dịch chuẩn độ có K đã biết.
Cách pha chế một số dung dịch chuẩn độ
Dung dịch acid acetic 0,1 N
1 ml dung dịch chứa 0,00601 g acid acetic (C2H4O2).
Điều chế: Lấy 6,0 g acid acetic băng (TT) pha loãng với nước vừa đủ 1000,0 ml.
Chuẩn độ: Lấy 25,0 ml dung dịch acid acetic đã điều chế, chuẩn độ bằng dung dịch natri hydroxyd 0,1 N (CĐ), dùng 0,5 ml dung dịch phenolphtalein (TT) làm chỉ thị.
Hệ số hiệu chỉnh được tính theo công thức (2).
Dung dịch acid hydrocloric 1 N
1 ml dung dịch chứa 0,03646 g acid hydrocloric (HCl).
Điều chế: Lấy 85 ml acid hydrocloric đậm đặc (TT) pha loãng với nước vừa đủ 1000,0 ml.
Chuẩn độ bằng 1 trong 2 cách sau:
1. Cân chính xác khoảng 0,95 g chất chuẩn gốc tromethamin, hòa tan trong 50 ml nước. Chuẩn độ bằng dung dịch acid hydrocloric đã điều chế, xác định điểm tương đương bằng phương pháp chuẩn độ đo điện thế (Phụ lục 10.2) hoặc dùng 0,1 ml dung dịch da cam methyl (TT) làm chỉ thị, chuẩn độ đến khi chuyển màu đỏ ánh vàng. 1 ml dung dịch acid hydrocloric 1 N (CĐ) tương đương với 121,1 mg C4H11NO3.
2. Cân chính xác khoảng 0,50 g chất chuẩn gốc natri carbonat khan, hòa tan trong 50 ml nước, thêm 2 giọt dung dịch da cam methyl (TT). Chuẩn độ bằng dung dịch acid hydrocloric đã điều chế cho đến khi chuyển sang màu hồng cam. Đun sôi 2 min, để nguội, chuẩn độ tiếp đến màu hồng cam. Hệ số hiệu chỉnh được tính theo công thức (1), trong đó T = 0,053 g/ml.
Dung dịch acid hydrocloric 0,5 N
1 ml dung dịch chứa 0,01823 g acid hydrocloric (HCl).
Điều chế: Lấy 42 ml acid hydrocloric đậm đặc (TT) pha loãng với nước vừa đủ 1000,0 ml.
Chuẩn độ:Tiến hành như mô tả trong Dung dịch acid hydrocloric 1 N:
1. Dùng 0,475 g chất chuẩn gốc tromethamin. 1 ml dung dịch acid hydrocloric 0,5 N (CĐ) tương đương với 60,55 mg C4H11NO3.
2. Dùng 0,25 g chất chuẩn gốc natri carbonat khan. Hệ số hiệu chỉnh được tính theo công thức (1), trong đó T = 0,0265 g/ml.
Dung dịch acid hydrocloric 0,1 N
1 ml dung dịch chứa 0,003646 g acid hydrocloric (HCl).
Điều chế: Lấy 8,5 ml acid hydrocloric đậm đặc (TT) pha loãng với nước vừa đủ 1000,0 ml.
Chuẩn độ: Tiến hành như mô tả trong Dung dịch acid hydrocloric 1 N:
1. Dùng 0,20 g chất chuẩn gốc tromethamin. 1 ml dung dịch acid hydrocloric 0,1 N (CĐ) tương đương với 12,11 mg C4H11NO3.
2. Dùng 0,10 g chất chuẩn gốc natri carbonat khan. Hệ số hiệu chỉnh được tính theo công thức (1), trong đó T = 0,0053 g/ml.
Dung dịch acid hydrocloric 0,1 N trong methanol
1 ml dung dịch chứa 0,003646 g acid hydrocloric (HCl).
Điều chế: Trong bình định mức 1000 ml, thêm từ từ 40 ml nước vào 8,5 ml acid hydrocloric đậm đặc (TT), để nguội và thêm methanol (TT) đến vạch.
Chuẩn độ: Tiến hành như mô tả trong Dung dịch acid hydrocloric 1 N:
1. Dùng 0,50 g chất chuẩn gốc tromethamin, hòa tan trong 50 ml nước, thêm 2 giọt lục bromocresol (TT) làm chỉ thị, chuẩn độ bằng dung dịch acid hydrocloric trong methanol 0,1 N đã điều chế đến khi xuất hiện màu vàng nhạt. 1 ml dung dịch acid hydrocloric trong methanol 0,1 N (CĐ) tương đương với 12,11 mg C4H11NO3.
2. Dùng 0,10 g chất chuẩn gốc natri carbonat khan. Hệ số hiệu chỉnh được tính theo công thức (1), trong đó T = 0,0053 g/ml.
Dung dịch acid percloric 0,1 N
1 ml dung dịch chứa 0,01005 g acid percloric (HClO4).
Điều chế: Lấy 900 ml acid acetic băng (TT), thêm 8,5 ml acid percloric (TT), trộn đều và thêm 30 ml anhydrid acetic (TT). Thêm acid acetic băng (TT) vừa đủ 1000,0 ml. Lắc đều, để yên 24 h. Xác định hàm lượng nước theo Phụ lục 10.3 mà không thêm methanol, và nếu cần thì điều chỉnh hàm lượng nước trong khoảng từ 0,1 % đến 0,2 % bằng anhydrid acetic hoặc nước. Sau đó, để yên 24 h.
Chuẩn độ: Cân chính xác khoảng 0,170 g chất chuẩn gốc kali hydrophtalat, hòa tan trong 50 ml acid acetic khan (TT) trong một bình nón có nút mài, đun nóng nhẹ nếu cần. Để nguội, tránh không khí xâm nhập. Chuẩn độ bằng dung dịch acid percloric đã điều chế, phát hiện điểm tương đương bằng phương pháp chuẩn độ đo điện thế (Phụ lục 10.2) hoặc dùng 0,05 ml dung dịch tím tinh thể (TT) làm chỉ thị, chuẩn độ đến khi chuyển màu từ tím sang xanh lơ. Song song tiến hành một mẫu trắng.
Hệ số hiệu chỉnh được tính theo công thức (1), trong đó T = 0,02042 g/ml.
Ghi nhiệt độ khi tiến hành chuẩn hóa. Nếu nhiệt độ khi định lượng khác với nhiệt độ lúc chuẩn hóa dung dịch, thể tích dung dịch chuẩn độ acid percloric dùng trong định lượng được hiệu chỉnh theo công thức sau:
Vc = V[1+0,0011(t1−t2)]
Trong đó:
t1 là nhiệt độ khi chuẩn hóa;
t2 là nhiệt độ khi định lượng;
V là thể tích đã dùng khi định lượng;
Vc là thể tích hiệu chỉnh.
Các dung dịch acid percloric nồng độ loãng hơn được điều chế bằng cách pha loãng dung dịch acid percloric 0,1 N (CĐ) với acid acetic khan (TT).
Dung dịch acid sulfuric 1 N
1 ml dung dịch chứa 0,04904 g acid sulfuric (H2SO4).
Điều chế: Rót cẩn thận 28 ml acid sulfuric (TT) vào 200 ml nước, lắc đều, làm nguội đến nhiệt độ phòng và pha loãng với nước vừa đủ 1000,0 ml, trộn đều.
Chuẩn độ: Tiến hành như mô tả trong Dung dịch acid hydrocloric 1 N.
1. Dùng 0,950 g chất chuẩn gốc tromethamin. 1 ml dung dịch acid sulfuric 1 N (CĐ) tương đương với 121,1 mg C4H11NO3.
2. Dùng 0,50 g chất chuẩn gốc natri carbonat khan. Hệ số hiệu chỉnh được tính theo công thức (1), trong đó T = 0,053 g/ml.
Dung dịch acid sulfuric 0,5 N
1 ml dung dịch chứa 0,02452 g acid sulfuric (H2SO4).
Điều chế: Rót cẩn thận 14 ml acid sulfuric (TT) vào 200 ml nước, lắc đều, làm nguội đến nhiệt độ phòng và pha loãng với nước vừa đủ 1000,0 ml, trộn đều.
Chuẩn độ: Tiến hành như mô tả trong Dung dịch acid hydrocloric 0,5 N.
1. Dùng 0,475 g chất chuẩn gốc tromethamin. 1 ml dung dịch acid sulfuric 0,5 N (CĐ) tương đương với 60,55 mg C4H11NO3.
2. Dùng 0,25 g chất chuẩn gốc natri carbonat khan. Hệ số hiệu chỉnh được tính theo công thức (1), trong đó T = 0,0265 g/ml.
Dung dịch acid sulfuric 0,1 N
1 ml dung dịch chứa 0,004904 g acid sulfuric (H2SO4).
Điều chế: Pha loãng 100,0 ml dung dịch acid sulfuric 1 N (CĐ) với nước vừa đủ 1000,0 ml.
Chuẩn độ: Tiến hành như mô tả trong Dung dịch acid hydrocloric 0,1 N.
1. Dùng 0,20 g chất chuẩn gốc tromethamin. 1 ml dung dịch acid sulfuric 0,1 N (CĐ) tương đương với 12,11 mg C4H11NO3.
2. Dùng 0,10 g chất chuẩn gốc natri carbonat khan. Hệ số hiệu chỉnh được tính theo công thức (1), trong đó T = 0,0053 g/ml.
Dung dịch amoni ceri nitrat 0,1 M
1 ml dung dịch chứa 0,05482 g amoni ceri (IV) nitrat (NH4)2[Ce(NO3)6].
Điều chế: Lắc dung dịch chứa 56 ml acid sulfuric (TT) và 54,82 g amoni ceri (IV) nitrat (TT) trong 2 min và thêm nước 5 lần, mỗi lần 100 ml, lắc cẩn thận mỗi lần thêm. Sau đó thêm nước vừa đủ 1000,0 ml. Sau 10 ngày, xác định nồng độ chính xác của dung dịch bằng 1 trong 2 cách sau:
1. Thêm 2 g kali iodid (TT) và 150 ml nước vào 25,0 ml dung dịch amoni ceri nitrat 0,1 M đã điều chế. Chuẩn độ ngay lập tức bằng dung dịch natri thiosulfat 0,1 M (CĐ), dùng 1 ml dung dịch hồ tinh bột (TT) làm chỉ thị. 1 ml dung dịch natri thiosulfat 0,1 M (CĐ) tương đương với 54,82 mg (NH4)2[Ce(NO3)6].
2. Cân chính xác khoảng 0,300 g chất chuẩn gốc sắt (II) ethylendiamoni sulfat, hòa tan trong 50 ml dung dịch acid sulfuric 1 N (CĐ). Chuẩn độ bằng dung dịch amoni ceri nitrat 0,1 M đã điều chế, xác định điểm tương đương bằng phương pháp chuẩn độ đo điện thế (Phụ lục 10.2) hoặc dùng 0,1 ml ferroin (TT) làm chỉ thị. 1 ml dung dịch amoni ceri nitrat 0,1 M (CĐ) tương đương với 38,21 mg Fe(C2H10N2)(SO4)2.4H2O. Bảo quản tránh ánh sáng.
Dung dịch amoni ceri nitrat 0,01 M
1 ml dung dịch chứa 0,005482 g amoni ceri (IV) nitrat (NH4)2[Ce(NO3)6].
Điều chế: Thêm 30 ml acid sulfuric (TT) vào 100 ml dung dịch amoni ceri nitrat 0,1 M (CĐ) trong khi đang làm lạnh và thêm nước vừa đủ 1000,0 ml.
Dung dịch amoni ceri sulfat 0,1 M (Dung dịch amoni và ceri sulfat 0,1 M)
1 ml dung dịch chứa 0,06326 g amoni ceri sulfat [(2(NH4)2SO4.Ce(SO4)2.2H2O)].
Điều chế: Hòa tan 65,0 g amoni ceri sulfat (TT) trong hỗn hợp 30 ml acid sulfuric (TT) và 500 ml nước, để nguội và thêm nước vừa đủ 1000,0 ml.
Chuẩn độ bằng 1 trong 2 cách sau:
1. Lấy 25,0 ml dung dịch amoni ceri sulfat đã điều chế, thêm 2 g kali iodid (TT) và 150 ml nước. Chuẩn độ ngay lập tức bằng dung dịch natri thiosulfat 0,1 N (CĐ), dùng dung dịch hồ tinh bột (TT) làm chỉ thị. Hệ số hiệu chỉnh được tính theo công thức (2).
2. Cân chính xác khoảng 0,300 g chất chuẩn gốc sắt (II) ethylendiamoni sulfat, hòa tan trong 50 ml dung dịch acid sulfuric 1 N (TT). Chuẩn độ bằng dung dịch amoni ceri sulfat 0,1 M đã điều chế, xác định điểm tương đương bằng phương pháp chuẩn độ đo điện thế (Phụ lục 10.2) hoặc dùng 0,1 ml ferroin (TT) làm chỉ thị. 1 ml dung dịch amoni ceri sulfat 0,1 M (CĐ) tương đương với 38,21 mg Fe(C2H10N2)(SO4)2.4H2O. Bảo quản trong lọ thủy tinh nâu, tránh ánh sáng.
Dung dịch amoni sulfocyanid 0,1 N (Dung dịch amoni thiocyanat 0,1 N)
1 ml dung dịch chứa 0,007612 g amoni sulfocyanid (NH4SCN).
Điều chế: Hòa tan 7,612 g amoni sulfocyanid (TT) trong nước vừa đủ 1000,0 ml.
Chuẩn độ: Lấy 20,0 ml dung dịch bạc nitrat 0,1 N (CĐ), thêm 25 ml nước, 2 ml dung dịch acid nitric 2 M (TT), 2 ml dung dịch sắt (III) amoni sulfat (TT) và chuẩn độ bằng dung dịch amoni sulfocyanid đã điều chế cho đến màu hồng cam. Hệ số hiệu chỉnh được tính theo công thức (2).
Dung dịch bạc nitrat 0,1 N
1 ml dung dịch chứa 0,01699 g bạc nitrat (AgNO3).
Điều chế: Hòa tan 17,0 g bạc nitrat (TT) trong nước và pha loãng vừa đủ 1000,0 ml.
Chuẩn độ: Cân chính xác khoảng 100 mg chất chuẩn gốc natri clorid, hòa tan trong 50 ml nước, thêm vài giọt dung dịch kali cromat 5 % (TT). Chuẩn độ bằng dung dịch bạc nitrat đã điều chế đến khi xuất hiện tủa màu đỏ nhạt hoặc xác định điểm tương đương bằng phương pháp chuẩn độ đo điện thế (Phụ lục 10.2). Hệ số hiệu chỉnh được tính theo công thức (1), trong đó T = 0,005844 g/ml.
Bảo quản trong lọ thủy tinh nâu, tránh ánh sáng.
Dung dịch bari clorid 0,1 M
1 ml dung dịch chứa 0,02443 g bari clorid (BaCl2.2H2O)
Điều chế: Hòa tan 24,4 g bari clorid (TT) trong nước vừa đủ 1000,0 ml.
Chuẩn độ: Lấy 10,0 ml dung dịch bari clorid đã điều chế, thêm 60 ml nước, 3 ml amoniac 13,5 M (TT) và 0,5 mg đến 1,0 mg đỏ tía phtalein (TT). Chuẩn độ bằng dung dịch Trilon B 0,1 M (CĐ). Khi dung dịch bắt đầu nhạt màu, thêm 50 ml ethanol 96 % (TT) và chuẩn độ cho đến khi mất màu tím xanh. Hệ số hiệu chỉnh được tính theo công thức (2).
Dung dịch bismuth nitrat 0,01 M
1 ml dung dịch chứa 0,004851 g bismuth nitrat pentahydrat [Bi(NO3)3.5H2O].
Điều chế: Hòa tan 4,86 g bismuth nitrat pentahydrat (TT) trong 60 ml dung dịch acid nitric loãng (TT) và pha loãng thành 1000,0 ml bằng nước.
Chuẩn độ: Lấy 25,0 ml dung dịch bismuth nitrat đã điều chế, thêm 50 ml nước và chuẩn độ bằng dung dịch natri edetat 0,01 M (CĐ), dùng 0,05 ml dung dịch da cam xylenol (TT) làm chỉ thị.
Dung dịch brom 0,1 N
1 ml dung dịch chứa 0,00799 g brom (Br2).
Điều chế: Hòa tan 2,7835 g chất chuẩn gốc kali bromat và 13 g kali bromid (TT) trong nước vừa đủ 1000,0 ml.
Bảo quản dung dịch trong lọ thủy tinh nâu, tránh ánh sáng.
Dung dịch ceri sulfat 0,1 M
1 ml dung dịch chứa 0,04043 g ceri sulfat [Ce(SO4)2.4H2O].
Điều chế: Hòa tan 40,4 g ceri sulfat (TT) trong hỗn hợp gồm 50 ml acid sulfuric (TT) và 500 ml nước, để nguội và thêm nước vừa đủ 1000,0 ml.
Chuẩn độ: Tiến hành như mô tả trong Dung dịch amoni ceri sulfat 0,1 M, dùng 25,0 ml dung dịch ceri sulfat đã điều chế. Hệ số hiệu chỉnh được tính theo công thức (2).
Bảo quản trong lọ thủy tinh nâu, tránh ánh sáng.
Dung dịch chì nitrat 0,1 M
1 ml dung dịch chứa 0,03312 g chì nitrat [Pb(NO3)2].
Điều chế: Hòa tan 33,0 g chì nitrat (TT) trong nước vừa đủ 1000,0 ml.
Chuẩn độ: Lấy 20,0 ml dung dịch chì nitrat đã điều chế, thêm 300 ml nước và chuẩn độ bằng phương pháp chuẩn độ complexon cho chì (Phụ lục 10.5). Hệ số hiệu chỉnh được tính theo công thức (2).
Dung dịch chì nitrat 0,1 N (Dung dịch chì nitrat 0,05 M)
1 ml dung dịch chứa 0,01656 g chì nitrat [Pb(NO3)2].
Điều chế: Hòa tan 16,6 g chì nitrat (TT) trong nước vừa đủ 1000,0 ml.
Chuẩn độ: Lấy 50,0 ml dung dịch chì nitrat đã điều chế, thêm 300 ml nước và chuẩn độ bằng phương pháp chuẩn độ complexon cho chì (Phụ lục 10.5). Hệ số hiệu chỉnh được tính theo công thức (2).
Dung dịch iod 0,1 N
1 ml dung dịch chứa 0,01269 g iod (I2).
Điều chế: Hòa tan 20 g kali iodid (TT) trong 50 ml nước, thêm 12,7 g iod (TT), lắc cho tan và thêm nước vừa đủ 1000,0 ml.
Chuẩn độ: Lấy 25,0 ml dung dịch iod đã điều chế, thêm 1 ml dung dịch acid acetic 2 M (TT) và 30 ml nước. Chuẩn độ ngay lập tức bằng dung dịch natri thiosulfat 0,1 N (CĐ), dùng dung dịch hồ tinh bột (TT) làm chỉ thị hoặc xác định điểm tương đương bằng phương pháp chuẩn độ đo điện thế (Phụ lục 10.2). Hệ số hiệu chỉnh được tính theo công thức (2).
Bảo quản trong lọ thủy tinh nâu, tránh ánh sáng.
Dung dịch kali bromat 0,1 N (Dung dịch kali bromat 0,0167 M)
1 ml dung dịch chứa 0,002784 g kali bromat (KBrO3).
Điều chế: Hòa tan 2,7840 g chất chuẩn gốc kali bromat trong nước vừa đủ 1000,0 ml.
Dung dịch kali dicromat 0,1 N (Dung dịch kali dicromat 0,0167 M)
1 ml dung dịch chứa 0,004903 g kali dicromat (K2Cr2O7).
Điều chế: Hòa tan 4,9033 g chất chuẩn gốc kali dicromat trong nước vừa đủ 1000,0 ml.
Có thể sử dụng dung dịch chuẩn độ được điều chế từ thuốc thử kali dicromat (TT). Tiến hành điều chế theo quy trình sau: Hòa tan 4,9 g kali dicromat (TT) trong nước vừa đủ 1000,0 ml. Tiến hành chuẩn độ dung dịch thu được như sau: Lấy 20,0 ml dung dịch đã điều chế, thêm 1 g kali iodid (TT) và 7 ml dung dịch acid hydrocloric 2 M (TT), 250 ml nước và tiến hành chuẩn độ bằng dung dịch natri thiosulfat 0,1 N (CĐ) đến khi màu chuyển từ xanh lam đến xanh lục nhạt, dùng 3 ml dung dịch hồ tinh bột (TT) làm chỉ thị. 1 ml dung dịch natri thiosulfat 0,1 N (CĐ) tương đương với 4,9 mg K2Cr2O7.
Dung dịch kali hydrophtalat 0,1 M
1 ml dung dịch chứa 0,02042 g kali hydrophtalat (C8H5O4K).
Điều chế: Hòa tan 20,42 g chất chuẩn gốc kali hydrophtalat trong khoảng 800 ml acid acetic khan (TT), đun trên cách thủy cho tới khi tan hoàn toàn, tránh ẩm. Làm lạnh tới 20 °C, thêm acid acetic khan (TT) vừa đủ 1000,0 ml.
Dung dịch kali hydroxyd 1 N
1 ml dung dịch chứa 0,05611 g kali hydroxyd (KOH).
Điều chế: Hòa tan 60 g kali hydroxyd (TT) trong nước không có carbon dioxyd (TT) vừa đủ 1000,0 ml. Chuẩn độ: Lấy 20,0 ml dung dịch acid hydrocloric 1 N (CĐ) và chuẩn độ bằng dung dịch kali hydroxyd đã điều chế, dùng 0,5 ml dung dịch phenolphtalein (TT) làm chỉ thị. Hệ số hiệu chỉnh được tính theo công thức (2).
Dung dịch kali hydroxyd 0,1 N
1 ml dung dịch chứa 0,00561 g kali hydroxyd (KOH).
Điều chế: Hòa tan 6 g kali hydroxyd (TT) trong nước không có carbon dioxyd (TT) vừa đủ 1000,0 ml. Chuẩn độ: Tiến hành như mô tả trong Dung dịch kali hydroxyd 1 N, dùng 20,0 ml dung dịch acid hydrocloric 0,1 N (CĐ). Hệ số hiệu chỉnh được tính theo công thức (2).
Dung dịch kali hydroxyd 0,5 N trong ethanol
1 ml dung dịch chứa 0,02805 g kali hydroxyd (KOH).
Điều chế: Hòa tan 30 g kali hydroxyd (TT) trong 50 ml nước và thêm ethanol 96 % không có aldehyd (TT) vừa đủ 1000,0 ml. Để yên 24 h và gạn nhanh phần dung dịch trong sang lọ thủy tinh màu.
Chuẩn độ: Tiến hành như mô tả trong Dung dịch kali hydroxyd 1 N, dùng 20,0 ml dung dịch acid hydrocloric 0,5 N (CĐ). Hệ số hiệu chỉnh được tính theo công thức (2).
Bảo quản trong lọ thủy tinh nâu, tránh ánh sáng.
Dung dịch kali hydroxyd 0,1 N trong ethanol
1 ml dung dịch chứa 0,00561 g kali hydroxyd (KOH).
Điều chế: Hòa tan 6 g kali hydroxyd (TT) trong 50 ml nước và thêm ethanol 96 % không có aldehyd (TT) vừa đủ 1000,0 ml.
Chuẩn độ: Tiến hành như mô tả trong Dung dịch kali hydroxyd 0,1 N. Hệ số hiệu chỉnh được tính theo công thức (2).
Bảo quản trong lọ thủy tinh nâu, tránh ánh sáng.
Dung dịch kali iodat 0,05 M
1 ml dung dịch chứa 0,0107 g kali iodat (KIO3).
Điều chế: Hòa tan 10,700 g chất chuẩn gốc kali iodat trong nước vừa đủ 1000,0 ml.
Có thể sử dụng dung dịch chuẩn độ được điều chế từ thuốc thử kali iodat (TT). Tiến hành điều chế theo quy trình sau: Hòa tan 10,70 g kali iodat (TT) trong nước vừa đủ 1000,0 ml. Và tiến hành chuẩn độ dung dịch thu được như sau: Lấy 3,0 ml dung dịch đã điều chế, thêm 40,0 ml nước, 1 g kali iodid (TT) và 5 ml dung dịch acid sulfuric loãng (TT) và tiến hành chuẩn độ bằng dung dịch natri thiosulfat 0,1 N (CĐ). Xác định điểm tương đương bằng phương pháp chuẩn độ đo điện thế (Phụ lục 10.2) hoặc dùng 1 ml dung dịch hồ tinh bột (TT) làm chỉ thị, thêm vào gần cuối quá trình chuẩn độ. 1 ml dung dịch natri thiosulfat 0,1 N (CĐ) tương đương với 3,567 mg KIO3.
Dung dịch kali iodat 0,1 N (Dung dịch kali iodat 1/60 M)
1 ml dung dịch chứa 0,003567 g kali iodat (KIO3).
Điều chế: Hòa tan 3,5670 g chất chuẩn gốc kali iodat trong nước vừa đủ 1000,0 ml.
Dung dịch kali permanganat 0,1 N (Dung dịch kali permanganat 0,02 M)
1 ml dung dịch chứa 0,00316 g kali permanganat (KMnO4).
Điều chế: Hòa tan 3,20 g kali permanganat (TT) trong 1000,0 ml nước, đun nóng trên cách thủy 1 h, để nguội và lọc qua phễu thủy tinh xốp.
Chuẩn độ ngay trước khi dùng theo 1 trong 2 cách sau:
1. Lấy 20,0 ml dung dịch kali permanganat đã điều chế, thêm 2 g kali iodid (TT) và 10 ml dung dịch acid sulfuric loãng (TT). Chuẩn độ bằng dung dịch natri thiosulfat 0,1 N (CĐ), dùng 1 ml dung dịch hồ tinh bột (TT) làm chỉ thị. Song song tiến hành một mẫu trắng. Hệ số hiệu chỉnh tính theo công thức (2).
2. Cân chính xác khoảng 0,300 g chất chuẩn gốc sắt (II) ethylendiamoni sulfat, hòa tan trong 50 ml dung dịch acid sulfuric 1 N (CĐ). Chuẩn độ bằng dung dịch kali permanganat đã điều chế, xác định điểm tương đương bằng phương pháp chuẩn độ đo điện thế (Phụ lục 10.2) hoặc chuẩn độ đến khi dung dịch chuyển thành màu hồng.
1 ml dung dịch kali permanganat 0,1 N (CĐ) tương đương với 38,21 mg Fe(C2H10N2)(SO4)2.4H2O.
Bảo quản trong lọ thủy tinh nâu, tránh ánh sáng.
Dung dịch kẽm clorid 0,05 M
1 ml dung dịch chứa 0,006815 g kẽm clorid (ZnCl2).
Điều chế: Hòa tan 6,82 g kẽm clorid (TT) trong nước. Nếu cần, thêm từng giọt dung dịch acid hydrocloric 2 M (TT) cho đến khi hết đục và thêm nước vừa đủ 1000,0 ml.
Chuẩn độ: Lấy 20,0 ml dung dịch kẽm clorid đã điều chế, thêm 5 ml dung dịch acid acetic 2 M (TT) và chuẩn độ bằng phương pháp chuẩn độ complexon cho kẽm (Phụ lục 10.5). Hệ số hiệu chỉnh tính theo công thức (2).
Dung dịch kẽm sulfat 0,1 M
1 ml dung dịch chứa 0,02875 g kẽm sulfat (ZnSO4.7H2O).
Điều chế: Hòa tan 29,0 g kẽm sulfat (TT) trong nước vừa đủ 1000,0 ml.
Chuẩn độ: Lấy 20,0 ml dung dịch kẽm sulfat đã điều chế, thêm 5 ml dung dịch acid acetic 2 M (TT) và chuẩn độ bằng phương pháp chuẩn độ complexon cho kẽm (Phụ lục 10.5). Hệ số hiệu chỉnh tính theo công thức (2).
Dung dịch lithi methoxyd 0,1 M
1 ml dung dịch chứa 0,003797 g lithi methoxyd (CH3OLi).
Điều chế: Hòa tan từng lượng nhỏ 0,694 g lithi (TT) trong 150 ml methanol khan (TT), thêm toluen (TT) vừa đủ 1000,0 ml.
Xác định độ chuẩn ngay trước khi dùng theo cách sau: Lấy 10 ml dimethylformamid (TT), thêm 0,05 ml dung dịch xanh thymol 0,3 % trong methanol (TT) và chuẩn độ bằng dung dịch lithi methoxyd đã điều chế tới màu xanh lam. Ngay lập tức thêm 0,2 g chất chuẩn gốc acid benzoic, lắc cho tan hoàn toàn và chuẩn độ bằng dung dịch lithi methoxyd đã điều chế cho tới khi màu xanh lam xuất hiện trở lại. Tránh carbon dioxyd từ môi trường xung quanh trong suốt quá trình chuẩn độ. Số ml dung dịch lithi methoxyd đã điều chế dùng cho lần chuẩn độ sau là thể tích dung dịch chuẩn độ đã dùng (V). Hệ số hiệu chỉnh tính theo công thức (1), trong đó T = 0,01221 g/ml.
Nên bảo quản trong lọ có gắn buret tự động, trong điều kiện tránh carbon dioxyd và tránh ẩm.
Dung dịch magnesi clorid 0,1 M
1 ml dung dịch chứa 0,02033 g magnesi clorid (MgCl2.6H2O)
Điều chế: Hòa tan 20,33 g magnesi clorid (TT) trong nước vừa đủ 1000,0 ml.
Chuẩn độ: Lấy 25,0 ml dung dịch magnesi clorid đã điều chế và chuẩn độ bằng phương pháp chuẩn độ complexon cho magnesi (Phụ lục 10.5). Hệ số hiệu chỉnh tính theo công thức (2).
Dung dịch magnesi sulfat 0,05 M
1 ml dung dịch chứa 0,01233 g magnesi sulfat (MgSO4.7H2O).
Điều chế: Hòa tan 12,5 g magnesi sulfat (TT) trong nước vừa đủ 1000,0 ml.
Chuẩn độ: Lấy 25,0 ml dung dịch magnesi sulfat đã điều chế và chuẩn độ bằng phương pháp complexon cho magnesi (Phụ lục 10.5). Hệ số hiệu chỉnh tính theo công thức (2).
Dung dịch natri arsenit 0,1 M
1 ml dung dịch chứa 0,01299 g natri arsenit (NaAsO2).
Điều chế: Hòa tan 4,946 g chất chuẩn gốc arsen trioxyd trong hỗn hợp gồm 20 ml dung dịch natri hydroxyd 10 M (TT) và 20 ml nước, pha loãng với nước thành 400 ml và thêm dung dịch acid hydrocloric 2 M (TT) cho đến khi trung tính với giấy quỳ. Hòa tan 2 g natri hydrocarbonat (TT) trong dung dịch thu được và thêm nước vừa đủ 500 ml.
Dung dịch natri hydroxyd 1 N
1 ml dung dịch chứa 0,0400 g natri hydroxyd (NaOH).
Điều chế: Hòa tan 45,0 g natri hydroxyd (TT) trong 50 ml nước. Đậy kín bình bằng nút cao su, để yên qua đêm, gạn phần dung dịch trong ở trên và pha loãng với nước không có carbon dioxyd (TT) vừa đủ 1000,0 ml
Nếu có yêu cầu dùng natri hydroxyd không có carbonat thì điều chế dung dịch natri hydroxyd như sau: Hòa tan natri hydroxyd (TT) trong nước để thu được dung dịch có nồng độ từ 400 - 600 g/L và để yên. Gạn lấy phần dịch trong phía trên, cẩn thận để tránh sự xâm nhập của khí carbon dioxyd, pha loãng với nước không có carbon dioxyd (TT) để có được nồng độ mong muốn. Dung dịch natri hydroxyd thu được phải đáp ứng phép thử sau: Chuẩn độ 20,0 ml dung dịch acid hydrocloric có cùng nồng độ với dung dịch natri hydroxyd đã pha, sử dụng 0,1 ml dung dịch phenolphthalein (TT) làm chỉ thị. Tại điểm tương đương, thêm một lượng acid vừa đủ để làm mất màu hồng và cô đặc dung dịch còn 20 ml bằng cách đun sôi. Trong quá trình đun sôi, thêm một lượng acid vừa đủ để làm mất màu hồng và màu hồng không được xuất hiện trở lại sau khi đun sôi kéo dài. Thể tích dung dịch acid sử dụng không được vượt quá 0,1 ml. Chuẩn độ theo 1 trong 2 cách sau:
1. Lấy 20,0 ml dung dịch natri hydroxyd đã điều chế, thêm loại chỉ thị sẽ dùng trong phép định lượng mà dung dịch natri hydroxyd 1 N được sử dụng làm dung dịch chuẩn độ và chuẩn độ bằng dung dịch acid hydrocloric 1 N (CĐ). Hệ số hiệu chỉnh tính theo công thức (2).
2. Cân chính xác khoảng 1,5 g chất chuẩn gốc kali hydrophtalat, hòa tan trong 50 ml nước. Chuẩn độ bằng dung dịch natri hydroxyd đã điều chế, xác định điểm tương đương bằng phương pháp chuẩn độ đo điện thế (Phụ lục 10.2) hoặc dùng 0,1 ml dung dịch phenolphthalein (TT) làm chỉ thị.
1 ml dung dịch natri hydroxyd 1 N (CĐ) tương đương với 204,2 mg C8H5KO4.
Dung dịch natri hydroxyd 0,5 N
1 ml dung dịch chứa 0,0200 g natri hydroxyd (NaOH).
Điều chế: Pha loãng 500 ml dung dịch natri hydroxyd 1 N (CĐ) thành 1000,0 ml bằng nước không có carbon dioxyd (TT).
Chuẩn độ: Tiến hành như mô tả trong Dung dịch natri hydroxyd 1 N:
1. Chuẩn độ bằng dung dịch acid hydrocloric 0,5 N (CĐ). Hệ số hiệu chỉnh tính theo công thức (2).
2. Dùng 0,75 g chất chuẩn gốc kali hydrophtalat. 1 ml dung dịch natri hydroxyd 0,5 N (CĐ) tương đương với 102,1 mg C8H5KO4.
Dung dịch natri hydroxyd 0,1 N
1 ml dung dịch chứa 0,0040 g natri hydroxyd (NaOH).
Điều chế: Pha loãng 100,0 ml dung dịch natri hydroxyd 1 N (CĐ) thành 1000,0 ml bằng nước không có carbon dioxyd (TT).
Chuẩn độ: Tiến hành như mô tả trong Dung dịch natri hydroxyd 1 N:
1. Chuẩn độ bằng dung dịch acid hydrocloric 0,1 N (CĐ). Hệ số hiệu chỉnh tính theo công thức (2).
2. Dùng 0,150 g chất chuẩn gốc kali hydrophtalat. 1 ml dung dịch natri hydroxyd 0,1 N (CĐ) tương đương với 20,42 mg C8H5KO4.
Dung dịch natri hydroxyd 0,1 N trong ethanol
1 ml dung dịch chứa 0,0040 g natri hydroxyd (NaOH).
Điều chế: Thêm 3,3 g dung dịch natri hydroxyd 10 M (TT) vào 250 ml ethanol (TT).
Chuẩn độ: Hòa tan 0,2 g chất chuẩn gốc acid benzoic trong hỗn hợp gồm 10 ml ethanol 96 % (TT) và 2 ml nước. Chuẩn độ bằng dung dịch natri hydroxyd trong ethanol đã điều chế, dùng 0,2 ml dung dịch thymolphtalein (TT) làm chỉ thị hoặc xác định điểm tương đương bằng phương pháp chuẩn độ đo điện thế (Phụ lục 10.2). Hệ số hiệu chỉnh được tính theo công thức (1), trong đó T = 0,01221 g/ml.
Dung dịch natri methoxyd 0,1 M
1 ml dung dịch chứa 0,005402 g natri methoxyd (CH3ONa).
Điều chế: Lấy 175 ml methanol khan (TT), làm lạnh trong nước đá và thêm từng lượng nhỏ 2,5 g natri (TT) mới cắt. Khi natri tan hết, thêm toluen (TT) vừa đủ 1000,0 ml, lắc đều.
Xác định độ chuẩn ngay trước khi dùng: Tiến hành như mô tả trong Dung dịch lithi methoxyd 0,1 N, chuẩn độ bằng dung dịch natri methoxyd đã điều chế. Hệ số hiệu chỉnh tính theo công thức (1), trong đó T = 0,01221 g/ml.
Nên bảo quản trong lọ có gắn buret tự động, trong điều kiện tránh carbon dioxyd và tránh ẩm.
Dung dịch natri nitrit 0,1 M
1 ml dung dịch chứa 0,0069 g natri nitrit (NaNO2).
Điều chế: Hòa tan 7,30 g natri nitrit (TT) trong nước vừa đủ 1000,0 ml.
Xác định độ chuẩn ngay trước khi dùng theo cách sau: Hòa tan 0,3 g chất chuẩn gốc acid sulfanilic trong 50 ml dung dịch acid hydrocloric 2 M (TT), thêm 3 g kali bromid (TT), làm lạnh trong nước đá và chuẩn độ bằng dung dịch natri nitrit đã điều chế, xác định điểm tương đương bằng phương pháp chuẩn độ đo ampe (Phụ lục 10.1). Hệ số hiệu chỉnh được tính theo công thức (1), trong đó T = 0,01732 g/ml.
Bảo quản trong lọ thủy tinh nâu, tránh ánh sáng.
Dung dịch natri periodat 0,1 M
1 ml dung dịch chứa 0,02139 g natri periodat (NaIO4).
Điều chế: Hòa tan 21,4 g natri periodat (TT) trong khoảng 500 ml nước và thêm nước vừa đủ 1000,0 ml. Chuẩn độ theo 1 trong 2 cách sau:
1. Lấy 20,0 ml dung dịch natri periodat đã điều chế cho vào bình nón nút mài, thêm 5 ml acid percloric (TT), đậy nắp bình, lắc. Điều chỉnh tới pH 6,4 bằng dung dịch bão hòa natri hydrocarbonat (TT), thêm 10 ml dung dịch kali iodid (TT), đậy nắp bình, lắc và để yên 2 min. Chuẩn độ bằng dung dịch natri arsenit 0,1 M (CĐ) cho đến màu vàng nhạt, thêm 2 ml dung dịch hồ tinh bột (TT) và chuẩn độ chậm cho tới mất màu hoàn toàn. Hệ số hiệu chỉnh tính theo công thức (2).
2. Lấy 5,0 ml dung dịch natri periodat đã điều chế cho vào bình nón nút mài, thêm 100 ml nước. Thêm 10 ml dung dịch kali iodid (TT), và 5 ml dung dịch acid hydrocloric 7 M (TT) đậy nắp bình, lắc và để yên 2 min. Chuẩn độ bằng dung dịch natri thiosulfat 0,1 M (CĐ) cho đến màu vàng nhạt, thêm 2 ml dung dịch hồ tinh bột (TT) và chuẩn độ chậm cho tới mất màu hoàn toàn hoặc xác định điểm tương đương bằng phương pháp chuẩn độ đo điện thế (Phụ lục 10.2). Hệ số hiệu chỉnh tính theo công thức (2).
Dung dịch natri thiosulfat 0,1 N
1 ml dung dịch chứa 0,02482 g natri thiosulfat (Na2S2O3.5H2O).
Điều chế: Hòa tan 25,0 g natri carbonat (TT) và 0,2 g natri carbonat (TT) trong nước không có carbon dioxyd (TT) vừa đủ 1000,0 ml.
Chuẩn độ: Lấy 20,0 ml dung dịch kali bromat 0,1 N (CĐ), thêm 40 ml nước, 10 ml dung dịch kali iodid (TT) và 5 ml dung dịch acid hydrocloric 7 M (TT). Chuẩn độ bằng dung dịch natri thiosulfat đã điều chế, dùng 1 ml dung dịch hồ tinh bột (TT) làm chỉ thị, thêm vào khi gần kết thúc chuẩn độ. Hệ số hiệu chỉnh tính theo công thức (2).
Dung dịch tetrabutylamoni hydroxyd 0,1 M
1 ml dung dịch chứa 0,02595 g tetrabutylamoni hydroxyd (C16H37NO).
Điều chế: Hòa tan 40,0 g tetrabutylamoni iodid (TT) trong 90 ml methanol khan (TT), thêm 20 g bạc oxyd (TT) đã được nghiền mịn và lắc mạnh trong 1 h. Ly tâm vài ml hỗn hợp và thử phản ứng iodid của dung dịch trong ở trên. Nếu phản ứng dương tính, thêm 2 g bạc oxyd (TT) và lắc 30 min. Lặp lại quy trình này cho đến khi hỗn hợp không còn iodid. Lọc hỗn hợp qua phễu lọc thủy tinh xốp, rửa bình và phễu lọc 3 lần, mỗi lần với 50 ml toluen (TT). Thêm dịch rửa vào dịch lọc và thêm toluen (TT) vừa đủ 1000,0 ml. Cho luồng khí nitrogen không có carbon dioxyd sục 5 min qua dung dịch.
Xác định độ chuẩn ngay trước khi dùng: Tiến hành như mô tả trong Dung dịch lithi methoxyd 0,1 N, chuẩn độ bằng dung dịch tetrabutylamoni hydroxyd đã điều chế. Hệ số hiệu chỉnh được tính theo công thức (1), trong đó T = 0,01221 g/ml.
Nên bảo quản trong lọ có gắn buret tự động, trong điều kiện tránh carbon dioxyd và tránh ẩm.
Dung dịch tetrabutylamoni hydroxyd 0,1 M trong 2-propanol
Chuẩn bị như mô tả dung dịch tetrabutylamoni hydroxyd 0,1 M dùng 2-propanol (TT) thay cho toluen (TT) và tiến hành chuẩn độ như mô tả.
Dung dịch thủy ngân (II) nitrat 0,02 M
1 ml dung dịch chứa 0,006852 g thủy ngân (II) nitrat [Hg(NO3)2.H2O].
Điều chế: Hòa tan 6,85 g thủy ngân (II) nitrat (TT) trong 20 ml dung dịch acid nitric 1 M (TT) và thêm nước vừa đủ 1000,0 ml.
Chuẩn độ: Cân chính xác khoảng 0,15 g chất chuẩn gốc natri clorid vào bình định mức 100 ml, thêm 50 ml nước, lắc tan hoàn toàn và thêm nước vừa đủ 100,0 ml, lắc đều. Lấy 10,0 ml dung dịch thu được, thêm 40 ml nước. Chuẩn độ bằng dung dịch thủy ngân (II) nitrat đã điều chế, xác định điểm tương đương bằng phương pháp chuẩn độ đo điện thế (Phụ lục 10.2), dùng điện cực chỉ thị platin hoặc thủy ngân và điện cực so sánh thủy ngân - thủy ngân (I) sulfat. Hệ số hiệu chỉnh được tính theo công thức (1), trong đó T = 0,002338 g/ml.
Dung dịch Trilon B 0,05 M (Dung dịch natri edetat 0,05 M)
1 ml dung dịch chứa 0,01861 g Trilon B (C10H14N2O8Na2.2H2O).
Điều chế: Hòa tan 18,8 g Trilon B (TT) trong nước vừa đủ 1000,0 ml.
Chuẩn độ bằng 1 trong 2 cách sau:
1. Cân chính xác khoảng 1,64 g chất chuẩn gốc kẽm hạt, hòa tan trong 20 ml dung dịch acid sulfuric loãng (TT), thêm nước vừa đủ 500 ml. Lấy 25,0 ml dung dịch thu được, thêm 5 ml dung dịch đệm amoniac pH 10,0 (TT), khoảng 0,1 g hỗn hợp đen eriocrom T (TT) và 70 ml nước. Chuẩn độ bằng dung dịch Trilon B đã điều chế cho đến khi chuyển màu sang xanh lam. Hệ số hiệu chỉnh được tính theo công thức (1) trong đó T = 0,003269 g/ml.
2. Cân chính xác khoảng 0,100 g chất chuẩn gốc kẽm hạt, thêm 4 ml dung dịch acid hydrocloric 7 M (TT), thêm 0,1 ml nước brom (TT). Đun sôi để loại bỏ lượng brom dư, để nguội và pha loãng thành 100 ml bằng nước. Tiếp tục pha loãng 20,0 ml dung dịch thu được thành 200 ml bằng nước, thêm khoảng 50 mg hỗn hợp da cam xylenol (TT) và thêm hexamin (TT) cho đến khi dung dịch chuyển sang màu hồng - tím, sau đó thêm tiếp 2 g hexamin (TT). Tiến hành chuẩn độ bằng dung dịch Trilon B 0,05 M đã điều chế cho đến khi màu hồng - tím chuyển thành màu vàng. 1 ml dung dịch Trilon B 0,05 M tương đương với 3,269 mg Zn.
Dung dịch Trilon B 0,1 M (Dung dịch natri edetat 0,1 M)
1 ml dung dịch chứa 0,03722 g Trilon B (C10H14N2O8Na2.2H2O).
Điều chế: Hòa tan 37,5 g Trilon B (TT) trong nước vừa đủ 1000,0 ml.
Chuẩn độ bằng 1 trong 2 cách sau:
1. Chuẩn độ theo cách 1 của Dung dịch Trilon B 0,05 M. Hệ số hiệu chỉnh được tính theo công thức (1), trong đó T = 0,00654 g/ml.
2. Cân chính xác khoảng 0,120 g chất chuẩn gốc kẽm hạt, thêm 4 ml dung dịch acid hydrocloric 1 M (TT). Thêm dung dịch natri hydroxyd loãng (TT) cho đến khi dung dịch có tính acid yếu và tiến hành chuẩn độ bằng dung dịch Trilon B 0,1 M đã điều chế bằng phương pháp complexon cho kẽm (Phụ lục 10.5). 1 ml dung dịch Trilon B 0,1 M tương đương với 6,538 mg Zn.
PHỤ LỤC 2.3 CÁC DUNG DỊCH ĐỆM
Các dung dịch đệm được pha trong nước không có carbon dioxyd
Dung dịch đệm amoni nitrat pH 9,5
Trộn đều 94 ml amoniac (TT), 21,5 ml acid nitric (TT) và 884 ml nước, điều chỉnh đến pH 9,5 bằng acid nitric (TT) hoặc amoniac (TT).
Dung dịch đệm phosphat pH 7,0 TT6
Hòa tan 3,56 g dinatri hydrophosphat dihydrat (TT) trong 950 ml nước dùng cho sắc ký (TT). Điều chỉnh đến pH 7,0 bằng acid phosphoric (TT) và pha loãng thành 1000 ml bằng nước dùng cho sắc ký (TT).
Dung dịch đệm phosphat pH 7,0 TT7
Hòa tan 35 g dikali hydrophosphat (TT) trong 900 ml nước. Điều chỉnh đến pH 7,0 bằng dung dịch acid phosphoric loãng (TT) và pha loãng thành 1000 ml bằng nước.
Dung dịch đệm phosphat pH 3,25
Hòa tan 1,36 g kali dihydrophosphat (TT) trong 1000 ml nước, điều chỉnh đến pH (3,25 ± 0,05) bằng dung dịch acid phosphoric loãng (TT).
PHỤ LỤC 4.2 PHƯƠNG PHÁP QUANG PHỔ HỒNG NGOẠI
NGUYÊN TẮC
Quang phổ hồng ngoại (infrared - IR), hay quang phổ hấp thụ hồng ngoại, quang phổ IR, dựa trên tương tác giữa bức xạ IR với chất phân tích. Sự tương tác với bức xạ hồng ngoại làm cho phân tử chất phân tích sẽ hấp thụ bức xạ IR ở các tần số thích hợp để tăng trạng thái dao động của các nhóm chức hoặc kích thích các dao động nội phân tử và liên phân tử lên mức cao hơn tạo ra một phổ hấp thụ IR với các dải đặc trưng tương ứng với các nhóm chức của phân tử.
Vùng bước sóng IR có thể được chia ra thành 3 phân vùng là hồng ngoại gần (cận hồng ngoại), hồng ngoại giữa và hồng ngoại xa với các dải bước sóng lần lượt là 0,8 - 2,5 μm, 2,5 - 25 μm và 25 - 1000 μm. Tuy nhiên, trong quang phổ IR số sóng hay được sử dụng hơn bước sóng, và được tính toán theo công thức sau:

Trong đó
là số sóng tính theo cm-1 và λ là bước sóng tính theo μm. Theo đó, dải từ 12500 - 4000 cm-1 là hồng ngoại gần, dải từ 4000 - 400 cm-1 là hồng ngoại giữa và dải từ 400 - 10 cm-1 là hồng ngoại xa. Chuyên luận này chỉ đề cập đến phổ hồng ngoại giữa, dải từ 4000 - 400 cm-1 (2,5 - 25 μm), nên hồng ngoại được nhắc đến ở tất cả các nội dung sau đây được hiểu là hồng ngoại giữa, ở vùng hồng ngoại này, các dao động phân tử cơ bản của các nhóm chức xuất hiện trên phổ dưới dạng các dải hấp thụ. Vùng số sóng dưới 1500 cm-1 còn được gọi là "vùng vân tay", vì vùng phổ này rất phức tạp và chứa nhiều thông tin đặc trưng cho phân tử chất phân tích.
Vùng hồng ngoại gần là nơi xuất hiện tín hiệu của các bội tần và sự kết hợp tín hiệu của các dao động cơ bản, chủ yếu của các liên kết C-H, N-H và O-H tạo nên. Vùng hồng ngoại xa là nơi xuất hiện tín hiệu của các dải hấp thụ liên quan tới cấu trúc mạng tinh thể, liên kết hydro, các dao động biến dạng góc của các nguyên tử có nguyên tử khối lớn và chuyển động xoay của phân tử.
ỨNG DỤNG
Vì các dải hấp thụ trên phổ IR đặc trưng cho các nhóm chức cấu thành hợp chất, phương pháp quang phổ IR được sử dụng rộng rãi để định tính các hợp chất và cung cấp thông tin về cấu trúc của chúng. Phương pháp này cũng có thể được sử dụng nhằm mục đích định lượng, các ứng dụng định lượng đòi hỏi thiết lập một mối quan hệ toán học giữa cường độ bức xạ được mẫu hấp thụ và nồng độ của thành phần cần định lượng trong mẫu.
Quang phổ IR được sử dụng rộng rãi trong lĩnh vực dược để phân tích hóa học và vật lý trong phòng thí nghiệm, và có nhiều ứng dụng đa dạng trong quy trình sản xuất. Quang phổ IR cho phép ứng dụng Công nghệ phân tích quy trình (Process Analytical Technology - PAT) như là một phần của chiến lược kiểm soát tiên tiến.
Phân tích hóa học:
- Định tính dược chất, tá dược, chế phẩm, sản phẩm trung gian, hóa chất và vật liệu bao gói.
- Kiểm tra chất lượng dược chất, tá dược, chế phẩm, sản phẩm trung gian và vật liệu bao gói, bao gồm so sánh phổ giữa các lô và đánh giá khi thay đổi nhà cung cấp.
- Định lượng dược chất trong nền mẫu, xác định hàm lượng nước và dung môi.
- Định lượng tạp chất (VD: trong các loại khí, vật liệu vô cơ).
- Theo dõi phản ứng (VD: trong tổng hợp hữu cơ).
Phân tích vật lý:
- Xác định các dạng thù hình của chất rắn như tính đa hình.
HẠN CHẾ
Những hạn chế cần chú ý khi sử dụng quang phổ IR bao gồm:
- Có thể phải sử dụng thêm kỹ thuật phân tích bổ sung khác để định tính một chất.
- Không phân biệt được các đồng phân đối quang tinh khiết của một chất.
- Có thể không phải là phương pháp phù hợp cho phân tích vết.
- Điều kiện chuẩn bị mẫu (VD: sử dụng lực cơ học, dung môi) có thể làm thay đổi dạng kết tinh của một chất có tính đa hình.
- Trường hợp các mẫu không đồng nhất, lượng mẫu hạn chế có thể gây khó khăn cho quy trình phân tích.
CÁC CHẾ ĐỘ ĐO
Đo phổ IR dựa trên quá trình cho bức xạ xuyên qua hoặc chiếu vào một mẫu và đo mức suy giảm của bức xạ ra khỏi mẫu ở các bước sóng khác nhau. Hai quá trình này tương ứng với hai chế độ đo chính là truyền qua (transmission) và phản xạ toàn phần suy giảm (attenuated total reflection - ATR). Ngoài ra, với các ứng dụng cụ thể còn có các chế độ đo khác như khuếch tán (diffuse) và phản xạ bề mặt (specular reflection).
CHẾ ĐỘ TRUYỀN QUA
Chế độ này dựa trên việc xác định độ truyền qua hay còn gọi là độ truyền quang (transmittance - T), là khả năng của mẫu truyền bức xạ IR tại một bước sóng (số sóng) cụ thể. Độ truyền qua được xác định như sau:

Trong đó:
I0: cường độ của bức xạ tới.
I: cường độ của bức xạ truyền qua.
Phổ thu được thể hiện sự thay đổi của độ truyền qua (T) trên trục y theo bước sóng hoặc số sóng trên trục x. Phổ có thể được biểu diễn theo độ hấp thụ (absorbance - A) trên trục y. Độ hấp thụ (A) có quan hệ với độ truyền qua (T) theo công thức sau:
![]()
Trong đó:
a: hệ số hấp thụ mol của mẫu (cm2.mol-1).
b: độ dày của mẫu (cm),
c: nồng độ mẫu (mol.cm-3).
CHẾ ĐỘ PHẢN XẠ TOÀN PHẦN SUY GIẢM (ATR)
Chế độ ATR dựa trên hiện tượng phản xạ nội bộ toàn phần. Mẫu có chỉ số khúc xạ n2 được tiếp xúc với một tinh thể (kim cương, germani, kẽm selenid hoặc vật liệu thích hợp khác) có chỉ số khúc xạ n1 lớn hơn n2. Một chùm tia IR được truyền qua tinh thể. Khi góc α tạo bởi tia tới và bề mặt tiếp xúc giữa mẫu và tinh thể vượt quá góc tới hạn αc, về lý thuyết toàn bộ bức xạ tới sẽ được phản xạ (phản xạ nội bộ toàn phần). Tuy nhiên, có một phần nhỏ bức xạ không tuân theo quy luật trên, chúng xâm nhập vào mẫu và bị hấp thụ một phần năng lượng. Do đó, bức xạ phản xạ toàn phần bị suy giảm so với bức xạ ban đầu và tạo ra một phổ hấp thụ đặc trưng cho mẫu phân tích. Trong thực tế, quá trình phản xạ nội bộ có thể được tiến hành liên tục nhiều lần để khuếch đại cường độ hấp thụ, mặc dù một số thiết bị chỉ cho phép thu tín hiệu phản xạ một lần duy nhất.
Độ sâu xâm nhập dp thường cỡ vài micromet và được tính toán cho một bước sóng λ, cụ thể theo công thức sau:

Trong đó:
dp: Độ sâu xâm nhập.
λ: bước sóng, α: góc tới.
n1, n2: chỉ số khúc xạ của vật liệu làm tinh thể và mẫu.
Do mối quan hệ giữa các thông số này, trong chế độ ATR cường độ hấp thụ lớn hơn tại vùng bước sóng lớn hơn (số sóng nhỏ hơn) và có xảy ra hiện tượng dịch chuyển các dải phổ so với phổ ở chế độ truyền qua. Do đó, không nên so sánh trực tiếp phổ ATR với phổ truyền qua khi định tính các chất.
THIẾT BỊ
Máy quang phổ IR phổ biến nhất là máy quang phổ biến đổi Fourier (Fourier - transform Infrared hay FT-IR) có cấu tạo bao gồm:
- Một nguồn sáng đa sắc thích hợp (ví dụ: thanh gốm dẫn điện).
- Một giao thoa kế.
- Một bộ phận mang mẫu.
- Một bộ phận phát hiện (detector).
- Một phần mềm thích hợp để điều khiển máy quang phổ, đánh giá phổ và xử lý dữ liệu.
Có thể sử dụng các loại máy quang phổ dựa trên những nguyên lý khác nếu đáp ứng các yêu cầu về kiểm soát hiệu năng của thiết bị.
Máy quang phổ IR cũng có thể được sử dụng kết hợp với kính hiển vi để nghiên cứu một phần nhỏ của mẫu hoặc hình ảnh hóa học của mẫu.
Quang phổ IR có thể được kết nối với các kỹ thuật phân tích khác như phân tích nhiệt hay sắc ký.
KIỂM SOÁT HIỆU NĂNG THIẾT BỊ
Độ đúng của thang số sóng và độ phân giải phổ là các thông số tối quan trọng và cần được kiểm tra. Các phép thử mô tả dưới đây có thể được sử dụng để kiểm tra hiệu năng và thẩm định thiết bị. Cũng có thể sử dụng các phép thử này để đánh giá tính phù hợp của hệ thống.
Các thông số này được kiểm tra bằng cách sử dụng các vật liệu chuẩn thích hợp. Các vật liệu chuẩn này được lựa chọn và sử dụng tùy thuộc vào chế độ đo (ví dụ: truyền qua hay ATR).
Với phân tích định lượng, cần xác lập các tiêu chí đánh giá thích hợp để kiểm soát cường độ hấp thụ.
THANG SỐ SÓNG
Thang số sóng thường được kiểm tra bằng cách sử dụng một lớp phim polystyren thể hiện các dải hấp thụ IR tại các số sóng trong Bảng 4.2.1.
Bảng 4.2.1 - Vị trí dải và các giới hạn dao động chấp nhận được của phim polystyren dùng để kiểm tra độ đúng của số sóng
| Vị trí dải (cm-1) | Dao động cho phép (cm-1) | |
| Truyền qua | ATR | |
| 906,6 | 906,1 | ± 1,0 |
| 1028,3 | 1027,7 | ± 1,0 |
| 1601,2 | 1601,0 | ± 1,0 |
| 3060,0 | 3059,7 | ± 1,0 |
Với các chế độ đo không phải truyền qua hay ATR, vật liệu đối chiếu do người sử dụng máy xác định.
ĐỘ PHÂN GIẢI PHỔ
Phổ đo ở chế độ truyền qua
Độ phân giải phổ thường được kiểm tra bằng cách sử dụng một phim polystyren dày khoảng 35 μm.
Tiêu chí chấp nhận (xem Hình 1). Chênh lệch giữa các giá trị độ hấp thụ tại cực tiểu hấp thụ ở 2870 cm-1 (A) và cực đại hấp thụ ở 2849,5 cm-1 (B) phải lớn hơn 0,33; chênh lệch giữa các giá trị độ hấp thụ tại cực tiểu hấp thụ ở 1589 cm-1 (C) và cực đại hấp thụ ở 1583 cm-1 (D) phải lớn hơn 0,08.
Phổ đo ở chế độ ATR
Cần xác định các tiêu chí đánh giá thích hợp cho kiểm tra độ phân giải phổ theo tiêu chuẩn của từng máy quang phổ.
Với các chế độ đo không phải truyền qua hay ATR, vật liệu đối chiếu do người sử dụng máy xác định.

Hình 4.2.1 - Phổ hấp thụ IR đặc trưng của polystyren dùng để đánh giá độ phân giải phổ.
QUY TRÌNH ĐO PHỔ
CHUẨN BỊ MẪU VÀ ĐƯA MẪU VÀO MÁY
Quy trình chuẩn bị mẫu và đưa mẫu vào máy thay đổi tùy theo trạng thái vật lý của mẫu và chế độ đo. Chế độ truyền qua được áp dụng với các mẫu trong suốt như các chất lỏng tinh khiết, dung dịch, chất khí hay bột nhão được chuẩn bị phù hợp hoặc đĩa muối halogen kim loại kiềm được chuẩn bị phù hợp. Đối với chất lỏng và chất khí, có thể sử dụng buồng đo có độ dày cố định hoặc điều chỉnh được, có vách trong suốt với bức xạ IR. Với đĩa muối halogen kim loại kiềm, sử dụng những bộ phận đựng mẫu chuyên biệt.
Chế độ đo phản xạ như ATR thích hợp để đo nhiều loại mẫu ở trạng thái rắn và lỏng.
Lưu ý, một số phương thức chuẩn bị mẫu (ví dụ tạo bột nhão và đĩa ở chế độ truyền qua hay mẫu rắn ở chế độ ATR) có bước nghiền và/hoặc sử dụng áp lực có thể gây ra các thay đổi cấu trúc tinh thể không mong muốn.
Chế độ truyền qua
Chuẩn bị mẫu đo bằng một trong các phương pháp dưới đây tùy thuộc vào trạng thái của mẫu (rắn, lỏng hay khí).
Nếu không có chỉ dẫn khác, các dải đo được trên phổ của mẫu thử phải có độ truyền qua tối thiểu không dưới 5 %.
Chất lỏng: Đo phổ chất lỏng dưới dạng một lớp phim giữa hai tấm phẳng trong suốt với bức xạ IR hoặc trong buồng đo có độ dày phù hợp và trong suốt với bức xạ IR.
Chất lỏng hoặc chất rắn được pha thành dung dịch: Chuẩn bị một dung dịch chất cần đo trong một dung môi thích hợp. Chọn nồng độ và buồng đo có độ dày phù hợp để thu được phổ đạt yêu cầu. Nói chung, khoảng nồng độ từ 10 - 100 g/L với buồng đo có độ dày từ 0,5 - 0,1 mm cho kết quả tốt. Độ hấp thụ của dung môi thường được hiệu chỉnh bằng cách đo lần lượt phổ của dung môi và dung dịch mẫu thử rồi trừ các dải hấp thụ của dung môi khỏi phổ của dung dịch mẫu thử.
Chất rắn phân tán trong nền rắn (đĩa): Nghiền mịn chất cần đo, cần cân nhắc tới những thay đổi có thể xảy ra (ví dụ dạng tinh thể) và trộn với một lượng thích hợp kali bromid (TT) hoặc kali clorid (TT) đã được nghiền mịn và làm khô, trừ khi có chỉ dẫn cụ thể khác. Thông thường, một hỗn hợp gồm vài miligam (1 - 2 mg) chất cần đo phổ trong vài trăm miligam (300 - 400 mg) muối halogen là đủ để tạo thành một đĩa đường kính 10-15 mm và cho một phổ có cường độ thích hợp. Nếu chất cần đo phổ là muối clorid, khuyến cáo sử dụng kali clorid (TT), cẩn thận nghiền mịn hỗn hợp, rải đều lên một khuôn thích hợp và nén bằng một lực thích hợp. Lực nén khoảng 800 MPa thường là đủ để tạo thành đĩa.
Với chất không ổn định trong điều kiện khí quyển bình thường hay chất dễ hút ẩm, có thể cần dập đĩa trong chân không. Một số yếu tố có thể dẫn tới đĩa tạo thành không đạt yêu cầu như nghiền chưa đủ mịn hay quá nhiều, độ ẩm hoặc tạp chất trong môi trường phân tán. Chẳng hạn, nước có mặt trong mẫu hoặc trong kali bromid có thể làm đĩa bị đục và tạo ra phổ truyền qua có cường độ thấp, cần loại bỏ đĩa nếu đánh giá cảm quan cho thấy đĩa không trong suốt một cách đồng nhất hay trong trường hợp phổ đo được không có một dải hấp thụ đặc trưng, độ truyền qua thấp hơn 60 % hoặc độ hấp thụ cao hơn 0,22 tại số sóng khoảng 2000 cm-1 (bước sóng khoảng 5 μm) mà không có hiệu chỉnh nền, trừ khi có yêu cầu cụ thể khác.
Chất rắn phân tán trong một chất lỏng (bột nhão). Nghiền mịn một lượng nhỏ chất cần phân tích với một lượng tối thiểu parafin lỏng (TT) hay chất lỏng thích hợp khác. Một hỗn hợp gồm vài miligam (5-10 mg) chất cần phân tích trong một giọt parafin lỏng (TT) thường đủ để tạo ra một bột nhão phù hợp. Ép bột nhão giữa hai tấm phẳng trong suốt với bức xạ IR. Bột nhão bị loại bỏ nếu cảm quan cho thấy không trong suốt một cách đồng nhất hoặc nếu phổ đo được có các đặc điểm như:
- Độ truyền qua thấp tại 4000 cm-1.
- Đường nền dốc mạnh giữa 4000 và khoảng 2500 cm-1.
- Tỷ lệ cường độ tương đối giữa một số dải hấp thụ thấp hơn dự kiến.
Chất rắn nấu chảy: Nếu có chỉ dẫn tại chuyên luận riêng, dùng khối chất rắn nấu chảy tạo thành một lớp phim và gắn cố định lên một khung thích hợp.
Dung dịch bay hơi: Nếu có chỉ dẫn tại chuyên luận riêng, hòa tan chất cần phân tích trong một dung môi thích hợp. Bay hơi dung môi trên một giá mang thích hợp để tạo thành phim và gắn cố định lớp phim lên một khung thích hợp.
Chất khí: Sử dụng một buồng đo thích hợp trong suốt với bức xạ IR. Hút không khí ra khỏi buồng đo, sử dụng một đường dẫn khí giữa buồng đo và bình chứa chất khí cần kiểm tra, mở van khóa hoặc van kim để nạp khí cần đo vào buồng đo tới áp suất mong muốn.
Nếu cần, điều chỉnh áp suất trong buồng đo theo áp suất khí quyển bằng một chất khí trong suốt với bức xạ IR (như nitrogen hoặc argon), hoặc dùng không khí không có carbon dioxyd.
Cần tuân thủ một quy trình đo phù hợp để hiệu chỉnh ảnh hưởng của hơi nước, carbon dioxyd hay các khí khác trong không khí.
Chế độ ATR
ATR phù hợp cho mẫu lỏng và rắn, không đòi hỏi quy trình chuẩn bị mẫu ngoại trừ các xử lý đơn giản như nghiền mịn các tinh thể lớn hoặc các mẫu thô. Tiến hành đo phổ như sau tùy thuộc thể chất mẫu (lỏng hay rắn).
Mẫu lỏng: Đưa mẫu tiếp xúc với tinh thể.
Mẫu rắn: Đảm bảo chất cần phân tích tiếp xúc gần và đồng nhất với toàn bộ bề mặt tinh thể bằng cách sử dụng áp lực hoặc hòa tan chất cần phân tích trong một dung môi thích hợp, sau đó phủ dung dịch này lên bề mặt tinh thể và bay hơi đến khô.
PHƯƠNG PHÁP
Quang phổ IR được sử dụng chủ yếu để định tính các chất, nhưng cũng có thể được dùng để định lượng.
Phân tích định lượng (dựa trên định luật Lambert-Beer) không được mô tả ở đây.
Quy trình đo được thực hiện trên mẫu đã được chuẩn bị phù hợp. Sau đó dữ liệu được xử lý và đánh giá để định tính hay định lượng các chất.
Chất lượng phổ có thể được cải thiện nhờ tiền xử lý bằng toán học. Trong thực tế, việc tiền xử lý phổ bị hạn chế bởi việc chuẩn hóa phổ và việc loại trừ các dải hấp thụ do carbon dioxyd và hơi nước gây nên. Do đó, cần áp dụng cùng cách tiền xử lý cho cả phổ của mẫu thử và phổ của mẫu đối chiếu.
Định tính
Nếu không có chỉ dẫn khác, chuẩn bị chất cần phân tích theo cách phù hợp và đo phổ trong khoảng từ 4000 đến 650 cm-1.
Phép thử định tính được thực hiện bằng cách so sánh phổ của chất cần phân tích với phổ thu được từ một chất đối chiếu hay với một phổ đối chiếu.
Phổ của một chất đối chiếu có thể được ghi lại để sử dụng ngay hoặc lưu trữ trong thư viện phổ để tham khảo sau này. Có thể sử dụng phổ đã lưu trữ với điều kiện đảm bảo khả năng truy xuất nguồn gốc của lô chất đối chiếu đã sử dụng.
Trong mọi trường hợp, các phổ cần phải được đo theo cùng một quy trình, trong cùng điều kiện tiến hành và đặc biệt là phải cùng chế độ đo.
Khi so sánh phổ đo được ở trạng thái rắn cho thấy có sự khác biệt, có thể xử lý chất cần phân tích và chất đối chiếu theo cùng một cách để chúng kết tinh lại hoặc tạo ra cùng dạng tinh thể, hay tiến hành như mô tả trong chuyên luận, sau đó đo lại phổ. Tuy nhiên, quy trình này chỉ thực hiện khi chuyên luận không quy định dạng cụ thể của một chất có tính chất đa hình.
Có thể phải dùng kết hợp vài quy trình so sánh phổ, cần ghi hồ sơ, biện giải cho phương pháp đã sử dụng và các tiêu chí chấp nhận cụ thể để đưa ra kết luận của phép định tính.
Có thể so sánh phổ bằng cách chồng phổ (trên toàn bộ phổ hay tại vùng quan tâm được chỉ ra trong chuyên luận riêng) hoặc bằng cách sử dụng các tính toán từ phần mềm. Chẳng hạn, có thể thực hiện:
- So sánh trực quan dựa trên vị trí dải và cường độ tương đối trừ khi có quy định cụ thể khác - các cực tiểu truyền qua (hay cực đại hấp thụ) trên phổ của chất cần phân tích tương ứng về vị trí và cường độ tương đối so với trên phổ đối chiếu.
- Tính hệ số tương quan giữa hai phổ - giá trị này được phần mềm tính toán và ngưỡng định tính do người dùng xác lập.
- Đánh giá bằng các phương pháp toán hóa (chemometric) (ví dụ: khoảng cách Euclid, khoảng cách Mahalanobis hoặc các phương pháp phân loại); các phương pháp này yêu cầu người phân tích thiết lập, đánh giá và thẩm định mô hình toán hóa.
Tạp chất trong chất khí
Để phân tích các tạp chất, sử dụng một buồng đo trong suốt với bức xạ IR và có độ dài quang trình thích hợp (ví dụ từ 1 m - 20 m). Làm đầy buồng đo theo hướng dẫn ở mục Chất khí. Để phát hiện và định lượng các tạp chất, tiến hành theo hướng dẫn trong chuyên luận riêng.
QUANG PHỔ CẬN HỒNG NGOẠI
Quang phổ cận hồng ngoại (near-intrared - NIR) là một kỹ thuật với phạm vi ứng dụng rộng, đa dạng trong phân tích dược. Phổ NIR nằm trong khoảng bước sóng từ 780 nm tới 2500 nm (số sóng từ 12800 cm-1 tới 4000 cm-1). Phổ NIR chủ yếu được tạo ra bởi các bội tần của liên kết C-H, N-H, O-H, S-H và sự kết hợp của các dao động cơ bản ở vùng hồng ngoại giữa (MIR). Phổ NIR chứa những thông tin phức hợp về hóa học và vật lý có thể được trích xuất ra nhờ quy trình xử lý dữ liệu thích hợp bằng toán học. Các dải hấp thụ NIR yếu hơn nhiều so với các dao động cơ bản ở vùng MIR tạo ra chúng. Vì độ hấp thụ ở vùng NIR thấp, bức xạ có thể xâm nhập sâu tới vài milimet vào trong các vật liệu, bao gồm cả chất rắn. Hơn nữa, nhiều vật liệu như thủy tinh tương đối trong suốt với vùng bức xạ này.
Bên cạnh các quy trình lấy mẫu và đo mẫu thông thường, quy trình đo có thể được thực hiện trực tiếp ngay trên mẫu. Đo phổ NIR có thể được thực hiện ngoài dây chuyền sản xuất (off-line), đo trực tiếp tại chỗ trong phân xưởng (at-line), đo liên tục trên dây chuyền sản xuất đang hoạt động (in-line) hoặc đo mẫu gián đoạn trên dây truyền sản xuất (on-line) áp dụng trong Công nghệ phân tích quy trình (PAT).
Khi định tính phổ bằng NIR, có thể yêu cầu sử dụng đến các phương pháp toán hóa tích hợp để xử lý phổ.
Trong trường hợp đáp ứng được các yêu cầu về độ đặc hiệu, có thể định tính hoặc đánh giá đặc tính trạng thái rắn bằng cách so sánh trực tiếp phổ NIR chưa xử lý hay tiền xử lý của mẫu phân tích với phổ của mẫu đối chiếu.
Quang phổ NIR có ứng dụng rộng trong phân tích hóa học, vật lý và phân tích quy trình, ví dụ:
Phân tích hóa học:
- Định tính dược chất, tá dược, chế phẩm, sản phẩm trung gian trong quy trình sản xuất, vật liệu hóa học và vật liệu bao gói.
- Đánh giá chất lượng dược chất, tá dược, chế phẩm, sản phẩm trung gian trong quy trình sản xuất và vật liệu bao gói, bao gồm so sánh phổ giữa các lô và đánh giá khi thay đổi nhà cung cấp.
- Định lượng dược chất trong nền mẫu, xác định các chỉ số hóa học như chỉ số hydroxyl, xác định hàm lượng nước tuyệt đối, xác định mức độ hydroxyl hóa và kiểm soát hàm lượng dung môi.
Phân tích vật lý:
- Dạng tinh thể và khả năng kết tinh, tính đa hình, solvat hóa, kích thước tiểu phân.
- Độ rã, độ cứng.
- Các đặc tính của màng bao phim.
Phân tích quy trình:
- Giám sát các hoạt động như tổng hợp, kết tinh, trộn, sấy, tạo hạt và bao nhằm mục đích kiểm soát quy trình.
- Kiểm soát và phát hiện điểm dừng.
Quy trình đo phổ NIR chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố hóa học và vật lý; độ tái lặp và ý nghĩa của kết quả phụ thuộc vào việc kiểm soát các yếu tố này và các kết quả đo thường chĩ có giá trị đối với một mô hình hiệu chuẩn xác định.
THIẾT BỊ
Việc đo phổ NIR dựa vào việc đưa ánh sáng truyền qua hoặc đi vào mẫu và đo mức suy giảm của tia ló (truyền qua hoặc phản xạ). Các máy quang phổ dùng đo phổ NIR gồm một nguồn sáng thích hợp (như đèn thạch anh-wolfram có độ ổn định cao), một bộ đơn sắc hoặc giao thoa kể, và một detector.
Các bộ đơn sắc thông dụng gồm các bộ lọc có thể điều chỉnh quang âm (acousto-optic tunable filter - AOTF), cách tử hay lăng kính. Nhiều máy quang phổ NIR có thiết kế một chùm tia, một số máy sử dụng kỹ thuật nội chuẩn có thiết kế hai chùm tia (như thiết bị chuỗi diod).
Vật liệu làm detector có thể là Silicon, chi sulfid, indi gali arsenid. Bộ phận chứa mẫu gồm nhiều loại, ví dụ như: cóng đo (cuvet), đầu dò sợi quang, buồng nhúng truyền qua, lọ borosilicat trung tính, giá đựng mẫu quay hoặc nằm ngang. Lựa chọn bộ phận chứa mẫu dựa vào mục đích sử dụng, đặc biệt chú ý hệ thống chứa mẫu phải tương thích với loại mẫu cần phân tích. Hệ thống máy quang phổ NIR thường bao gồm các bộ phận xử lý và đánh giá dữ liệu (ví dụ: phần mềm và máy tính).
Thường biểu thị đơn vị bước sóng (λ) theo nm và số sóng (v) theo cm-1 tùy thuộc vào kỹ thuật đo và thiết bị. Chuyển đổi giữa nm và cm-1 được thực hiện theo công thức sau:
![]()
CÁC CHẾ ĐỘ ĐO
Chế độ truyền qua
Độ truyền qua (T) là mức độ giảm của cường độ bức xạ tại bước sóng cụ thể khi bức xạ truyền qua mẫu. Mẫu được đặt trên quang trục giữa nguồn sáng và detector, cấu hình này giống với cấu hình của nhiều máy quang phổ thông thường. Phổ NIR có thể biểu thị trực tiếp dưới dạng độ truyền qua (T) và/hoặc độ hấp thụ (A) (trục y) so với bước sóng hoặc số sóng (trục x).
![]()
Trong đó:
lo: cường độ của bức xạ tới.
I: cường độ của bức xạ truyền qua.
![]()
Chế độ phản xạ khuếch tán
Chế độ phản xạ khuếch tán đo độ phản xạ, tỷ lệ giữa cường độ ánh sáng phản xạ từ mẫu (I) với cường độ ánh sáng phản xạ từ một bề mặt nền hay bề mặt phản xạ đối chiều (lr).
Tùy thuộc vào thành phần hóa học và đặc tính vật lý của mẫu, bức xạ NIR có thể thâm nhập một khoảng nhất định vào trong mẫu, tại đây bức xạ có thể bị hấp thụ bởi các bội tần và sự kết hợp các dao động cơ bản của các chất phân tích có mặt trong mẫu. Bức xạ không bị hấp thụ bị phản xạ một phần từ mẫu tới detector. Phồ phản xạ NIR thường thu được từ tính toán và biểu diễn dưới dạng đồ thị log10(1/R) (trục y) theo bước sóng hay số sóng (trục x).
![]()
Trong đó:
I: cường độ ánh sáng phản xạ khuếch tán từ mẫu.
Ir: cường độ ánh sáng phản xạ từ nền hoặc bề mặt phản xạ đối chiếu.

Chế độ truyền qua phản xạ
Chế độ này là sự kết hợp giữa độ truyền qua và độ phản xạ. Khi đo độ truyền qua phản xạ (T*), một tấm gương hay một bề mặt phản xạ khuếch tán được dùng để phản xạ bức xạ truyền qua trở lại qua mẫu, qua đó làm tăng gấp đôi quang trình. Phần bức xạ không được hấp thụ được phản xạ lại từ mẫu tới detector. Phổ có thể được thể hiện trực tiếp dưới dạng đồ thị của độ truyền qua phản xạ T* và/hoặc độ hấp thụ A (trục y) theo bước sóng hoặc số sóng (trục x).

Trong đó:
I: cường độ bức xạ truyền qua phản xạ đo được từ mẫu.
IT: cường độ bức xạ truyền qua phản xạ của vật liệu đổi chiếu làm nền.
![]()
CHUẨN BỊ MẪU/ĐƯA MẪU VÀO MÁY
Quy trình chuẩn bị mẫu và đưa mẫu vào máy có thể thay đổi tùy thuộc chế độ đo. Các yêu cầu sau đây cần thiết cho tất cả kỹ thuật đưa mẫu:
- Tối ưu hóa thời gian đo và số lần quét để tối ưu hóa tỷ số tín hiệu trên nhiễu.
- Lựa chọn chế độ đo thích hợp nhất cho mẫu dự định đo (truyền qua, phản xạ khuếch tán hay truyền qua phản xạ).
- Lựa chọn hướng đặt mẫu phù hợp nhất (ví dụ: để giảm thiểu tác động của các chỗ lồi lõm trên bề mặt viên nén).
- Lựa chọn dụng cụ thích hợp (ví dụ: buồng đo truyền qua hay đầu dò nhúng).
- Tối ưu hóa độ dày buồng đo trong các chế độ truyền qua và truyền qua phản xạ.
- Lựa chọn vật liệu đối chiếu nền thích hợp về mặt quang phổ.
- Chứng minh rằng vật liệu đối chiếu nền là tin cậy theo thời gian và kết quả đo trên nền có thể tái lập và bền vững theo thời gian.
- Khi đo phổ trên vật liệu hay mẫu đang di chuyển (phân tích trong quy trình sản xuất), cần thu được phổ mang tính đại diện (ví dụ: bằng cách điều chỉnh thời gian đo, số lần quét, cộng các phổ riêng lẻ, tăng kích thước chùm tia, v.v.).
- Đảm bảo cảm biến không bị nhiễm bẩn.
- Cần chứng minh được các điều kiện đo (thời gian, kích thước chùm tia) phù hợp với lượng mẫu tối thiểu.
Trong một số điều kiện phân tích quy trình không thể tháo đầu dò để thu thập dự liệu đối chiếu nền; khi đó cần xem xét tới một số lựa chọn như kỹ thuật nội chuẩn, đo đối chiếu nền bằng một detector thứ hai, v.v. Chỉ những phổ được đo trên nền có cùng đặc tính quang học mới có thể so sánh trực tiếp với nhau.
Chế độ truyền qua
Việc đo độ truyền qua (T) phụ thuộc vào một phổ truyền qua nền để tính toán. Các nền đối chiếu có thể là không khí, một đĩa polymer, một buồng đo rỗng, một dung môi hay một mẫu đối chiếu trong một số trường hợp đặc biệt. Chế độ này thường áp dụng cho mẫu lỏng (pha loãng hoặc không pha loãng), mẫu phân tán, dung dịch và chất rắn (bao gồm viên nén và nang). Để đo truyền qua mẫu rắn, cần sử dụng một dụng cụ đựng mẫu thích hợp. Mẫu lỏng được đo trong buồng đo có chiều dài quang trình thích hợp (thường là 0,5 - 4 mm), trong suốt với bức xạ NIR, hoặc sử dụng một đầu dò sợi quang có cấu tạo phù hợp để nhúng vào mẫu.
Chế độ phản xạ khuếch tán
Chế độ này thường áp dụng cho mẫu rắn. Mẫu được đo trực tiếp, hoặc đựng trong một dụng cụ thích hợp, hoặc qua tiếp xúc trực tiếp với một đầu dò sợi quang. Để theo dõi quy trình, vật liệu có thể được phân tích qua một cửa sổ giao diện được đánh bóng (ví dụ đá saphia), hoặc sử dụng đầu dò tích hợp đo liên tục ngay trên dây chuyền sản xuất (in-line), cần đảm bảo điều kiện đo cho độ tái lặp tốt nhật có thể giữa các mẫu. Quét bức xạ phản xạ trên nền đối chiếu để ghi nhận đường nền, sau đó đo độ phản xạ của mẫu phân tích. Các vật liệu đổi chiếu phản xạ thường sử dụng gồm gốm, nhựa dẻo nhiệt và vàng. Có thể sử dụng các vật liệu thích hợp khác.
Chế độ truyền qua phản xạ
Chế độ này thường áp dụng cho chất lỏng, hỗn dịch và các vật liệu nhựa trong suốt. Một gương phản xạ được đặt sau mẫu để tăng gấp đôi chiều dài quang trình. Thiết kế này có thể kết hợp trong máy đo có hệ thống phản xạ và đầu dò sợi quang với cách bố trí nguồn sáng và detector ở cùng một phía so với mẫu. Mẫu được đo qua một buồng đo có gương hoặc một bộ phận phản xạ khuếch tán thích hợp làm bằng kim loại hay một vật liệu trơ (như titan dioxyd khô) không hấp thụ ở vùng NIR. Có thể đo mẫu lỏng sử dụng các đầu dò truyền qua phản xạ tích hợp vào dây chuyền sản xuất.
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI ĐÁP ỨNG PHỔ
Môi trường
Nhiệt độ và độ ẩm môi trường cần được kiểm soát trước khi tiến hành đo phổ.
Vùng đo mẫu
Vùng đo mẫu hoặc đầu dò tiếp xúc với mẫu cần được làm sạch, loại bỏ nhiễm bẩn còn lưu lại trước khi đo. Tương tự, không được có mẫu đo hay bụi bẩn tích tụ trên giao diện tiếp xúc với mẫu của thiết bị đo liên tục (in-line) hoặc gián đoạn (on-line) trên dây chuyền sản xuất.
Nhiệt độ mẫu
Thông số này quan trọng khi đo phổ mẫu chất lỏng, chênh lệch vài độ có thể dẫn tới thay đổi về phổ gây ảnh hưởng đáng kể tới kết quả phân tích. Nhiệt độ cũng là một thông số quan trọng khi đo phổ các chất rắn và mẫu bột cỏ chứa nước.
Hơi ẩm và dung môi tồn dư
Hơi ẩm và dung môi tồn dư trong mẫu sẽ tạo ra các dải hấp thụ đáng kể ở phân vùng IR gần.
Độ dày mẫu
Độ dày mẫu cần được đánh giá hay kiểm soát, nhất là khi phân tích viên nén và nang ở chế độ truyền qua vì đây là yếu tố gây biến thiên đáp ứng phổ. Để đo mẫu bột nén, thường khi độ dày lớp mẫu tới 5 mm là đạt tới độ dày tới hạn (VD: trong một lọ đựng mẫu).
Các đặc tính quang học của mẫu
Với mẫu rắn, cần xem xét đến đặc tính tán xạ trên bề mặt và toàn khối của mẫu. Với các mẫu không đồng nhất về mặt vật lý, hóa học hay quang học có thể cần tăng kích thước chùm tia hoặc đo mẫu tại nhiều vị trí hay xoay mẫu đễ thu được phổ mang tính đại diện cho mẫu. Một số yếu tố như mức độ nén hoặc kích thước tiểu phân của mẫu dạng bột và độ hoàn thiện bề mặt của mẫu khi đo có thể dẫn tới khác biệt đáng kể về phổ.
Các dạng của trạng thái rắn
Các dạng của trạng thái rắn (đa hình, ngậm nước, solvat hay vô định hình) ảnh hưởng đến phổ dao động. Do đó có thể phân biệt các dạng kết tinh khác nhau và dạng vô định hình của một chất rắn dựa vào phổ NIR của các dạng này. Trường hợp đồng thời tồn tại nhiều dạng kết tinh, cần đảm bảo rằng các mẫu chuẩn hóa có đủ các dạng kết tinh liên quan đến mẫu dự định đo.
Tuổi của mẫu
Mẫu có thể thay đổi đặc tính hóa học, vật lý hay quang học theo thời gian. Tùy thuộc điều kiện bảo quản, các mẫu rắn có thể hấp thụ nước hay phản hấp thụ nước, và một phần chất ở dạng vô định hình có thể kết tinh. Vật liệu sử dụng để chuẩn hóa trong NIR cần mang tính đại diện cho mẫu dự kiến phân tích cũng như các thay đổi về nền mẫu.
TIỀN XỬ LÝ DỮ LIỆU PHỔ NIR
Trong nhiều trường hợp, nhất là với phổ đo theo chế độ phản xạ, cần thực hiện tiền xử lý phổ bằng toán học trước khi xây dựng mô hình phân loại hay chuẩn hóa.
Mục đích của tiền xử lý là để giảm dao động đường nền, giảm tác động của những dao động đã biết tới các mô hình toán học được sử dụng ở bước kể tiếp để xử lý phổ, hoặc để đơn giản hóa dữ liệu trước khi sử dụng. Trong một số trường hợp, phổ có thể được chuẩn hóa hay hiệu chỉnh các giá trị phân tán bằng các thuật toán phù hợp (ví dụ như: Standard Normal Variate (SNV) transformation).
Các kỹ thuật tiền xử lý phổ có thể bao gồm sử dụng hàm cửa sổ, giảm nhiễu và tính đạo hàm bậc nhất hoặc đạo hàm bậc hai của phổ. Không khuyến cáo sử dụng đạo hàm bậc cao hơn vì làm tăng nhiễu phổ.
KIỂM SOÁT HIỆU NĂNG MÁY QUANG PHỔ
Sử dụng máy theo hướng dẫn của nhà sản xuất và định kỳ tiến hành đánh giá hiệu năng theo theo mức độ sử dụng máy và ứng dụng. Với các ứng dụng đo liên tục (in-line) hay gián đoạn (on-line) trực tiếp trên dây chuyền sản xuất, cần có căn cứ khoa học khi sử dụng các phương thức thay thể để kiểm soát hiệu măng máy, chẳng hạn như sử dụng chuẩn tích hợp trong máy hay các kênh đo/đầu dò riêng biệt để đánh giá hiệu năng máy.
Có thể cần kiểm tra tính phù hợp của hệ thống trước khi quét mẫu, và phải kiểm tra các thuộc tính của máy có khả năng tác động tới sự phù hợp của kết quả đo cuối cùng (cơ bản là về nhiễu nền quang học và độ đúng của bước sóng). Tần suất tiến hành kiểm tra hiệu năng cần dựa trên đánh giá rủi ro theo loại máy và môi trường hoạt động. Ví dụ, máy hoạt động trong môi trường khắc nghiệt với dao động đáng kể về nhiệt độ, độ ẩm cần kiểm tra hiệu năng thường xuyên, cần xem xét tới trường hợp các hệ thống không thể di chuyển, tháo rời như đầu dò liên tục trực tiếp trên dây chuyền sản xuất hay buồng đo kiểu dòng chảy.
Một số dụng cụ được thiết kế riêng theo yêu cầu khách hàng cần có phép thử kiểm tra hiệu năng phù hợp.
Đánh giá và hiệu chuẩn thang bước sóng hoặc thang số sóng (ngoại trừ máy sử dụng kính lọc). Đánh giá thang bước sóng sử dụng, thường từ 780 đến 2500 nm (12800 cm-1 tới 4000 cm-1) hoặc trong dải phổ dự kiến đo, bằng một hoặc nhiều bước sóng chuẩn thích hợp có các cực đại hay cực tiểu đặc trưng trong dải bước sóng sử dụng. Ví dụ: methylen clorid, talc, các loại đèn tạo bước sóng chuẩn hoặc hỗn hợp oxyd đất hiếm là các vật liệu đối chiếu phù hợp. Có thể sử dụng các chuẩn thích hợp khác. Ghi phổ và xác định vị trí của ít nhất 3 cực trị hấp thụ phân bố trên dải sử dụng.
Máy quang phổ NIR chuyển dạng Fourier có một dải tần số tuyến tính, vì vậy kiểm tra bước sóng tại một tần số là đủ.
Đánh giá và hiệu chuẩn độ tuyến tính quang
Độ tuyến tính quang được đánh giá bằng các vật liệu chuẩn độ truyền qua hoặc chuẩn độ phản xạ với tỷ lệ phần trăm độ truyền qua hoặc độ phản xạ đã biết. Trong chế độ đo độ phản xạ, các chuẩn polyme có phụ gia carbon, cần đảm bảo rằng độ hấp thụ của vật liệu đối chiếu sử dụng tương ứng với dải làm việc tuyến tính dự kiến của phương pháp. Những lần đánh giá độ tuyến tính quang tiếp theo có thể sử dụng các giá trị độ hấp thụ đo được ban đầu làm giá trị tham chiểu. Các mô hình chuẩn hóa phi tuyến tính và các đáp ứng phi tuyến tính có thể được dùng nếu người sử dụng am hiểu.
Phổ thu được từ các chuẩn độ phản xạ và chuẩn độ truyền qua có thể bị biến thiên do những khác biệt giữa điều kiện thực nghiệm khi chúng được hiệu chuẩn tại nhà máy sản xuất và khi sử dụng thực tế. Do vậy, các giá trị tỷ lệ phần trăm độ phản xạ được cung cấp với một bộ chuẩn có thể sẽ không có ích trong việc thiết lập một đường hồi quy “tuyệt đối” cho một máy quang phổ cụ thể. Khi các chuẩn không thay đổi về hóa học hoặc vật lý và cùng nền đối chiếu với nền được sử dụng để thu được các giá trị trong chứng chỉ của chuẩn, những lần đo tiếp theo trên cùng các chuẩn này với điều kiện tương tự, bao gồm cả độ chính xác về vị trí đặt mẫu, sẽ cung cấp thông tin về độ ổn định dài hạn của đáp ứng quang. Dung sai ± 2 % của độ hấp thụ được chấp nhận là ổn định, việc đánh giá này chỉ cần thiết khi muốn sử dụng phổ mà không cần qua bước tiền xử lý.
Khuyến cáo về các điều kiện sử dụng để kiểm soát hiệu năng máy cho các chế độ đo khác nhau được tóm tắt trong Bảng 4.2.2.
Bảng 4.2.2 - Kiểm soát hiệu năng máy quang phổ
| Chế độ đo | Phản xạ | Truyền qua phản xạ | Truyền qua |
| Đánh giá thang bước sóng (ngoại trừ thiết bị dùng kính lọc) | Dao động cho phép so với giá trị chuẩn: ± 1,0 nm tại 780 nm (± 16 cm-1 tại 12800 cm-1 ) ± 1,0 nm tại 1200 nm (± 8 cm-1 tại 8300 cm-1 ) +1,0 nm tại 1600 nm (± 6 cm-1 tại 6250 cm-1 ) ± 1,5 nm tại 2000 nm (± 4 cm-1 tại 5000 cm-1 ) ± 1,5 nm tại 2500 nm (± 2 cm-1 tại 4000 cm-1 ) Với vật liệu đối chiếu sử dụng, áp dụng giới hạn dao động cho phép tại bước sóng hay số sóng gần nhất với mỗi đỉnh sử dụng. Với các máy chuỗi diod, thường độ phân giải pixel (bước sóng giữa các pixel) có thể lên tới 10 nm. Độ phân giải pixel cần tương thích để khớp với độ phân giải phổ. Thuật toán để tìm các đỉnh có vai trò rất quan trọng với độ đúng bước sóng, về thực hành, ± 2 nm là phù hợp cho độ đúng bước sóng đỉnh. Hoặc tham khảo tiêu chuẩn của nhà sản xuất máy để đưa ra giới hạn chấp nhận. | ||
| Máy để bàn/di động | Đo talc (TT) qua một môi trường thích hợp hoặc bằng đầu dò sợi quang. Talc có các đỉnh đặc trưng tại 948 nm, 1391 nm và 2312 nm, phù hợp cho hiệu chuẩn. Ngoài ra cũng có thể sử dụng các chuẩn thích hợp khác cho phép đảm bảo độ đúng bước sóng trong vùng làm việc của phương pháp. Chẳng hạn, do một chuẩn nội polystyren nếu tích hợp, hoặc đo một chuẩn của NIST hay chuẩn có thể truy xuất nguồn gốc khác, và đánh giá 3 đỉnh trong dải bước sóng hiệu chuẩn | Sử dụng trực tiếp một hỗn dịch của 1,2 g titan dioxyd (TT) khô trong 4 ml methylen clorid (TT) với một buồng đo hay một đầu dò. Titan dioxyd không hấp thụ trong vùng NIR. Phổ được ghi với độ rộng dải danh định tối đa của máy là 10 nm tại 2500 nm (16 cm-1 tại 4000 cm-1). Methylen clorid có những đỉnh hấp thụ đặc trưng tại 1155 nm, 1366 nm, 1417 nm, 1690 nm, 1838 nm, 1894 nm, 2068 nm và 2245 nm. Chọn 3 đỉnh trong dải bước sóng để hiệu chuẩn. Có thể sử dụng các chuẩn thích hợp khác, như một chuẩn truyền qua phản xạ dạng lỏng trộn với titan dioxyd hoặc một môi trường phản xạ khác. | Có thể sử dụng methylen clorid (TT) có những đỉnh hấp thụ đặc trưng tại 1155 nm, 1366 nm, 1417 nm, 1690 nm, 1838 nm, 1894 nm, 2068 nm và 2245 nm. Chọn 3 đỉnh trong dải bước sóng để hiệu chuẩn. Có thể sử dụng các chuẩn thích hợp khác. |
| Máy đo tại dây chuyền sản xuất | Nếu về mặt thực hành không thể đo một vật liệu đối chiếu có thể truy xuất nguồn gốc tại điểm đo mẫu, sử dụng chuẩn nội như polystyren, sợi thủy tinh hoặc dung môi và/hoặc hơi nước. Hoặc có thể sử dụng một kênh/đầu dò thứ hai bên ngoài. Với máy biến đổi Fourier, có thể hiệu chuẩn thang số sóng bằng một dải hấp thụ hẹp và tách biệt của hơi nước, như dải hấp thụ tại 7306,74 cm-1 , hoặc 7299,45 cm-1 , hoặc 7299,81 cm-1 hay một dải hấp thụ hẹp của một vật liệu đối chiếu có chứng chỉ. | ||
| Đánh giá độ lặp lại của bước sóng (ngoại trừ máy dùng kính lọc) | Độ lệch chuẩn của bước sóng phải phù hợp với các thông số kỹ thuật của nhà sản xuất máy, nếu không phải được giải thích hợp lý về mặt khoa học. | ||
| Máy để bàn/di động | Đánh giá độ lặp lại bước sóng bằng một chuẩn ngoại hay chuẩn nội thích hợp | ||
| Máy đo tại dây chuyền sản xuất | Đánh giá độ lặp lại bước sóng bằng một chuẩn ngoại hay chuẩn nội thích hợp | ||
| Đánh giá độ tuyến tính quang và độ ổn định đáp ứng(1) | Đo 4 chuẩn quang trên dải hấp thụ làm việc của phương pháp | ||
| Máy để bàn/di động | Phân tích 4 chuẩn độ phản xạ, chằng hạn trong dải từ 10 % - 99 %, bao gồm 10 %, 20 %, 40 % và 80 %. Trong một số trường hợp 2 % có thể phù hợp. So sánh độ hấp thụ đo được với các giá trị độ hấp thụ đối chiếu, chẳng hạn bằng hồi quy tuyến tính. Giới hạn chấp nhận là 1,00 ± 0,05 cho độ dốc đường hồi quy và 0,00 ± 0,05 cho hệ số chắn trong lần đầu tiên đánh giá độ tuyến tính quang của một máy quang phổ. Những lần đánh giá độ tuyến tính quang tiếp theo có thể sử dụng các giá trị độ hấp thụ đo được lần đầu làm giá trị đối chiếu. | Đo truyền qua phản xạ có thể sử dụng các chuẩn độ phản xạ hay độ truyền qua cùng các tiêu chí thích hợp. | Phân tích 4 chuẩn độ truyền qua để bao phủ các giá trị độ hấp thụ trong dải độ hấp thụ làm việc của các dữ liệu được mô hình hóa. So sánh các giá trị độ hấp thụ đo được với các giá trị độ hấp thụ đối chiểu, chẳng hạn bằng hồi quy tuyến tính. Giới hạn chấp nhận là 1,00 ± 0,05 cho độ dốc đường hồi quy và 0,00 ± 0,05 cho hệ số chắn trong lần đầu tiên đánh giá độ tuyến tính quang của một máy quang phổ. Những lần đánh giá độ tuyến tính quang tiếp theo có thể sử dụng các giá trị độ hấp thụ đo được lần đầu làm giá trị đối chiếu. |
| Máy đo tại dây chuyền sản xuất | Nếu không thể đo các chuẩn quang về độ phản xạ và độ truyền qua tại điểm đo mẫu, sử dụng các chuẩn quang được tích hợp sẵn trong máy. Máy đo tại dây chuyền sản xuất có thể sử dụng các chuẩn quang nội để đánh giá độ tuyến tính quang. Trong những trường hợp như vậy tuân theo các giới hạn đánh giá của nhà sản xuất máy. | ||
| Đánh giá nhiễu quang (1) | Xác định nhiễu quang tại một vùng quang có ý nghĩa của phổ bằng cách sử dụng một chuẩn độ phản xạ thích hợp, chẳng hạn như tấm gốm phản xạ trắng hay các chuẩn polyme có phụ gia carbon. Làm theo phương pháp và tiêu chuẩn của nhà sản xuất máy. | |
| Máy để bàn/di động | Quét chuẩn độ phản xạ có thông lượng thấp (VD: 5 % hoặc 10 %, chuẩn polyme có phụ gia carbon) trên một dải bước sóng thích hợp tương ứng với khuyến cáo của nhà sản xuất máy và tính toán nhiễu quang dưới dạng nhiễu từ đỉnh tới đỉnh. | Quét chuẩn độ truyền qua có thông lượng cao (VD: 90 % hay 99 %, chuẩn polyme có phụ gia carbon) trên một dải bước sóng thích hợp tương ứng với khuyến cáo của nhà sản xuất máy và tính toán nhiễu quang dưới dạng nhiễu từ đỉnh tới đỉnh. |
| Máy đo tại dây chuyền sản xuất | Như trên, hoặc nếu không thể về mặt thực hành, sử dụng chuẩn tích hợp trong máy để đánh giá nhiễu và tiêu chuẩn của nhà sản xuất máy. | Như trên, hoặc nếu không thể về mặt thực hành, sử dụng chuẩn tích hợp trong máy để đánh giá nhiễu và tiêu chuẩn của nhà sản xuất máy. |
(1) Không yêu cầu đánh giá độ tuyến tỉnh quang và đánh giá độ nhiễu quang với các máy quang phổ sử dụng các phương pháp để thực hiện thử định tính đơn giản không sử dụng độ hấp thụ quang như một phần của mô hình phân tích (VD: đánh giá tương quan đơn giản với các bước sóng hấp thụ).
PHÂN TÍCH ĐỊNH TÍNH (THỬ ĐỊNH TÍNH VÀ XÁC ĐỊNH ĐẶC TRƯNG)
Thiết lập một thư viện phổ đối chiếu
Ghi phổ của một số lượng thích hợp các mẫu đại diện của chất đã biết, có thể truy xuất nguồn gốc, và thể hiện những biến đổi điển hình cho chất cần phần tích (VD: các dạng của trạng thái rắn, kích thước tiểu phân, V.V.). Các thư viện được thiết lập sử dụng mẫu đại diện trong các điều kiện môi trường thích hợp. Bộ phổ thu được thể hiện các thông tin có thể được dùng để định tính mẫu cần phân tích.
Bộ sưu tập phổ trong thư viện có thể đại diện theo các cách khác nhau được xác định bởi kỹ thuật toán sử dụng cho việc định tính. Những cách này có thể là:
- Tất cả các phổ đơn lẻ đại diện cho chất cần định tính.
- Một phổ trung bình của các lô đã đo cho mỗi hợp chất hóa học.
- Nếu cần thiết, một mô tả về sự biến thiên trong phổ của chất.
Số lượng chất trong thư viện phụ thuộc vào ứng dụng cụ thể. Tất cả phổ trong thư viện được sử dụng cần có chung:
- Khoảng phổ và số điểm dữ liệu.
- Kỹ thuật đo.
- Cách tiền xử lý dữ liệu.
Nếu thiết lập các nhóm thành phần (thư viện thành phần), các tiêu chí trên được áp dụng độc lập cho mỗi nhóm. Các thư viện thành phần được thẩm định riêng rẽ. Phải lưu giữ các dữ liệu phổ gốc sử dụng để thiết lập thư viện phổ. Cần thận trọng khi thực hiện bất cứ biến đổi toán học nào, bởi có thể tạo nên các đặc trưng giả hay làm mất thông tin cốt yếu (quan trọng với các phương pháp định tính). Độ thích hợp của thuật toán sử dụng cần được chứng mình bằng thẩm định phương pháp đạt yêu cầu và trong mọi trường hợp cần lưu hồ sơ giải thích cho sự hợp lý của việc sử dụng biến đổi.
So sánh trực tiếp phổ của chất cần phân tích và phổ đối chiếu
So sánh trực tiếp phổ của chất cần phân tích và phổ của một chất đối chiếu nhằm mục đích định tính hóa học hay định tính vật lý có thể không đòi hỏi phải dùng thư viện phổ đối chiếu khi độ đặc hiệu cho phép.
Đánh giá dữ liệu
So sánh trực tiếp phổ đại diện của chất cần phân tích được thực hiện với phổ đổi chiếu đơn lẻ hoặc phồ đối chiếu trung bình của tất cả các chất trong cơ sở dữ liệu dựa trên mối tương quan toán học của chúng hay các thuật toán thích hợp khác.
Có thể sử dụng một bộ phổ đối chiếu đã biết và độ biến thiên quanh giá trị trung bình của bộ phổ này với một thuật toán để phân loại; hoặc có thể so sánh trực quan bằng cách chồng dữ liệu phổ nếu độ đặc hiệu cho phép.
Hiện có sẵn các kỹ thuật khác nhau, như PCA (principal component analysis), cluster analysis và SIMCA (soft independent modelling by class analogy).
Độ tin cậy của kỹ thuật được chọn cho một ứng dụng cụ thể cần được thẩm định như sau:
Thẩm định mô hình
Các phương pháp định tính sử dụng so sánh phổ trực tiếp cần được thẩm định theo các quy trình thẩm định phương pháp định tính.
Các thông số cần thẩm định với phương pháp định tính là độ thô và độ đặc hiệu.
PHÂN TÍCH GIỚI HẠN
So sánh tương đối các phổ
Không cần lập một đường chuẩn khi so sánh một tập hợp phổ nhằm mục đích phân tích giới hạn, chẳng hạn như độ hấp thụ cực đại hay cực tiểu tại đó một chất phân tích hấp thụ. Ngoài ra, có thể kiểm soát điểm dừng của quá trình sấy trong quy trình sản xuất bằng việc định tính ở một bước sóng hấp thụ đặc trưng, cần chứng minh dải phổ và phương thức tiền xử lý (nếu có) là phù hợp với mục đích.
Độ đặc hiệu
Cần chứng minh khả năng phân biệt tương đối của phép thử giới hạn. Mức độ đặc hiệu của phép thử phụ thuộc vào ứng dụng và các yếu tố nguy cơ được kiểm soát. Dao động về nồng độ nền trong dải làm việc của phương pháp không được ảnh hưởng tới quy trình đo.
PHÂN TÍCH XU HƯỚNG
So sánh tương đối các phổ
Không nhất thiết phải có một đường chuẩn khi so sánh một tập hợp phổ cho mục đích phân tích xu hướng, ví dụ, phương pháp tiếp cận khối chuyển động để ước tính các thông số thống kê như trung bình, trung vị và độ lệch chuẩn đã được áp dụng trong phân tích dữ liệu để theo dõi mức độ đồng nhất của quy trình trộn, cần sử dụng khoảng phổ và thuật toán thích hợp cho phân tích xu hướng.
Độ đặc hiệu.
Cần chứng minh khả năng phân biệt tương đối cho phân tích xu hướng. Mức độ đặc hiệu của phép thử phụ thuộc vào ứng dụng và các yếu tố nguy cơ được kiểm soát. Dao động về nồng độ nền trong dải làm việc của phương pháp không được ảnh hưởng tới quy trình phân tích xu hướng.
PHÂN TÍCH ĐỊNH LƯỢNG
Thiết lập một thư viện phổ đối chiếu cho một mô hình đường chuẩn
Đường chuẩn được thiết lặp bằng quy trình xây dựng một mô hình toán để liên hệ giữa đáp ứng phổ từ một mẫu được thu nhận bằng một thiết bị phân tích với các đặc tính của mẫu. Có thể sử dụng bất cứ mô hình hồi quy nào có thể được xác định rõ ràng bằng biểu thức toán học và cho kết quả phù hợp. Ghi phổ trong khoảng cần đo của một số lượng thích hợp mẫu đại diện với các giá trị của thuộc tính quan tâm đã có sẵn hay sẽ được thiết lập sau này (VD: hàm lượng nước). Số lượng mẫu để thiết lập mô hình đường chuẩn sẽ phụ thuộc vào mức độ phức tạp của nền mẫu và các yếu tố ảnh hưởng (VD: nhiệt độ, kích thước tiểu phân, v.v.). Tất cả mẫu phải cho kết quả định lượng nằm trong một khoảng làm việc của đường Chuẩn được xác định bởi mục đích dự kiến của phương pháp.
Các thuật toán hay được sử dụng là hồi quy tuyến tính đa biến (multiple linear regression - MLR), hồi quy thành phần chính (principal component regression - PCR), và hồi quy bình phương nhỏ nhất riêng phần (partial least square regression - PLS). Với mô hình đường chuẩn thiết lặp bằng PLS hoặc PCR, các hệ số hồi quy và/hoặc trọng số cần được lập biểu đồ và các vùng có hệ số hồi quy hoặc trọng số lớn cần được so sánh với phổ của chất phân tích. Biểu đồ dự đoán tổng bình phương của sai số phần dư (predicted residual error sum of squares - PRESS) (hay tương tự) rất có ích trong việc hỗ trợ tối ưu hóa số yếu tố của PCR hay PLS.
Tiền xử lý dữ liệu
Lựa chọn bước sóng hoặc loại trừ một số dải bước sóng có thể làm tăng độ đúng và độ thô của mô hình hồi quy. Có thể áp dụng các kỹ thuật nén bước sóng (trung bình hóa bước sóng) khi tiền xử lý dữ liệu.
Thẩm định các thông số mô hình
Các đặc tính hiệu năng về phân tích cần chứng minh khi thẩm định các phương pháp NIR cũng tương tự như các đặc tính yêu cầu cho mọi quy trình phân tích. Các tiêu chí chấp nhận cụ thể cho mỗi thông số thẩm định cần phù hợp với mục đích sử dụng của phương pháp. Các thông số thẩm định cho phương pháp định lượng gồm độ đúng, độ tuyến tính, độ chính xác (lặp lại và chính xác trung gian), độ vững chắc và độ đặc hiệu.
ĐÁNH GIÁ MÔ HÌNH LIÊN TỤC TRONG QUÁ TRÌNH SỬ DỤNG
Các mô hình NIR đã được thẩm định để sử dụng cần phải liên tục đánh giá hiệu năng trong quá trình sử dụng và theo dõi các thông số thẩm định.
CHUYỂN CƠ SỞ DỮ LIỆU
Khi các cơ sở dữ liệu được chuyển sang một máy mới, cần xem xét đến khoảng phổ, số điểm dữ liệu, độ phân giải phổ và các thông số khác, cần áp dụng các quy trình và tiêu chí để chứng minh mô hình vẫn còn giá trị với cơ sở dữ liệu mới hay máy mới.
PHỤ LỤC 5 CÁC KỸ THUẬT TÁCH SẮC KÝ
Các kỹ thuật tách sắc ký là những phương pháp tách trong đó các thành phần của mẫu được phân bổ vào hai pha: một pha tĩnh và một pha động. Pha tĩnh có thể là một chất rắn, cũng có thể là một chất lỏng được giữ trên một chất rắn hay một gel. Pha tĩnh có thể được nhồi vào cột, hoặc trải thành một lớp, hay phân tán thành một lớp phim, v.v... Pha động có thể là chất khí, chất lỏng hay chất lưu siêu tới hạn (còn được gọi là chất lỏng siêu tới hạn). Sự tách sắc ký có thể dựa trên các cơ chế khác nhau như hấp phụ, phân bố khối lượng (hay phân chia), trao đổi ion, hoặc dựa trên sự khác nhau về tính chất lý hóa của các phân tử như kích thước, khối lượng, thể tích, v.v...
Phụ lục này chỉ đề cập đến các định nghĩa và phép tính các thông số thông thường trong kỹ thuật sắc ký, các yêu cầu thường được áp dụng cho sự phù hợp của hệ thống sắc ký. Nguyên lý, thiết bị và phương pháp tách được trình bày trong các phép thử chung sau đây:
• Phương pháp sắc ký giấy (Phụ lục 5.1)
• Phương pháp sắc ký khí (Phụ lục 5.2)
• Phương pháp sắc ký lỏng (Phụ lục 5.3)
• Phương pháp sắc ký lớp mỏng (Phụ lục 5.4)
• Phương pháp sắc ký rây phân tử (Phụ lục 5.5)
ĐỊNH NGHĨA
Các định nghĩa sau đây được dùng trong các chuyên luận để tính toán các thông số về sự phù hợp của hệ thống và các tiêu chuẩn chấp nhận. Một số thiết bị có phần mềm của nhà sản xuất dùng để tính toán một vài thông số như tỷ số tín hiệu trên nhiễu và độ phân giải có thể được sử dụng. Trong trường hợp này, người sử dụng có trách nhiệm đảm bảo rằng các phương pháp tính toán dùng trong phần mềm đó phù hợp với yêu cầu của bộ tiêu chuẩn này; nếu không, phải điều chỉnh cho phù hợp.
Sắc đồ
Sắc đồ là một đồ thị hay một cách trình bày khác mô tả sự thay đổi đáp ứng của detector (hay nồng độ của chất hay một đại lượng khác làm thước đo nồng độ của chất) theo thời gian, thể tích hay khoảng cách. Một sắc đồ lý tưởng có dạng một chuỗi các pic kiểu Gauss trên một đường nền (Hình 5.1).
Pic
Pic, hay còn gọi là đỉnh, là phần sắc đồ ghi lại đáp ứng của detector khi một chất (hoặc 2 hay nhiều chất không tách ra khỏi nhau) được rửa giải khỏi cột.
Pic có thể được xác định bằng diện tích pic, hoặc chiều cao pic (h) và chiều rộng pic ở nửa chiều cao (wh), hoặc chiều cao pic (h) và chiều rộng pic giữa các điểm uốn (wi). ở các pic có dạng hình Gauss (Hình 5.1), có mối quan hệ biểu thị bằng phương trình sau:
wh = 1,18 x wi
Thời gian lưu (tR)
Thời gian tính từ thời điểm tiêm mẫu đến thời điểm xuất hiện đỉnh pic đáp ứng (Hình 5.1, đường nền tính bằng phút hoặc giây).
Thể tích lưu (VR)
Là thể tích pha động cần thiết để rửa giải một chất. Thể tích lưu có thể tính được từ thời gian lưu và tốc độ dòng (ml/min) theo công thức:
VR = tR x F
Trong đó:
F là lưu lượng dòng (hay tốc độ dòng) của pha động (ml/min).

Hình 5.1
Thời gian chết (tM) (hold-up time)
Là thời gian cần thiết để rửa giải một chất không bị lưu giữ (Hình 5.1, đường nền biểu thị bằng phút). Trong phương pháp sắc ký rây phân tử (xem Hình 5.2), thời gian chết được ký hiệu là t0.
Thể tích chết (VM) (hold-up volume)
Là thể tích pha động cần thiết để rửa giải một chất không bị lưu giữ. Nó có thể được tính từ thời gian chết (tM) và tốc độ dòng F (số ml pha động trong 1 min) theo công thức sau:
VM = tM x F
Trong phương pháp sắc ký rây phân tử (xem Hình 5.2), thể tích chết được ký hiệu là Vo.

Hình 5.2
Hệ số phân bố khối lượng
Hệ số phân bố khối lượng (Dm) hay còn gọi là thừa số dung lượng (k'), hoặc thừa số lưu giữ (k), được định nghĩa và tính theo công thức sau:
![]()
trong đó:
KC là hằng số phân bố hay còn gọi là hệ số phân bố cân bằng;
VS là thể tích pha tĩnh;
VM là thể tích pha động;
ms là lượng chất trong pha tĩnh;
mM là lượng chất trong pha động.
Thừa sổ lưu giữ k của một chất có thể được xác định trên sắc đồ theo công thức:
![]()
Thời gian toàn bộ của pha động (tt)
Trong phương pháp Sắc ký rây phân tử, thời gian toàn bộ của pha động là thời gian lưu của một chất mà kích thước phần tử nhỏ hơn kích thước các lỗ nhỏ nhất của gel (Hình 5.2).
Thể tích toàn bộ của pha động (Vt)
Trong phương pháp sắc ký rây phân tử, thể tích toàn bộ của pha động là thể tích lưu của một chất mà kích thước phân tử nhỏ hơn kích thước các lỗ nhỏ nhất của gel. Nó có thể được tính từ thời gian toàn bộ của pha động (tt) và tốc độ dòng F (ml/min) theo công thức sau:
Vt = t1 x F
Thời gian lưu của chất không bị lưu giữ (to)
Trong phương pháp sắc ký rây phân tử, thời gian lưu của chất không bị lưu giữ là thời gian lưu của một chất mà kích thước phân tử lớn hơn kích thước các lỗ lớn nhất của gel (Hình 5.2).
Thể tích lưu của chất không bị lưu giữ (Vo)
Trong phương pháp sắc ký rây phân tử, thể tích lưu của chất không bị lưu giữ là thể tích lưu của một chất mà kích thước phân tử lớn hơn kích thước các lỗ lớn nhất của gel. Có thể tính thể tích lưu của chất không bị lưu giữ từ thời gian lưu của chất không bị lưu giữ (to) và tốc độ dòng F (ml/min) theo công thức sau:
V0 = t0 x F
Hằng số phân bố (Ko)
Trong phương pháp sắc ký rây phân tử, đặc tính rửa giải của một chất trong một cột sắc ký cụ thể có thể được biểu thị dưới dạng hằng số phân bố (còn gọi là hệ số phân bố) Ko và được tính theo công thức:

Thừa số chậm (RF)
Thừa số chậm RF, hay còn gọi là hệ số di chuyển Rf, được dùng trong sắc ký trên mặt phẳng (sắc ký lớp mỏng, sắc ký giấy) là tỷ số giữa khoảng cách từ điểm chấm mẫu đến tâm của vết sắc ký và khoảng cách di chuyển của dung môi tính từ điểm chấm mẫu (Hình 5.3).

Trong đó:
b là quãng đường di chuyển của chất phân tích;
a là quãng đường di chuyển của tuyến dung môi.

Hình 5.3
Số đĩa lý thuyết (N)
Tùy thuộc vào kỹ thuật sử dụng, hiệu năng của cột (hay hiệu lực biểu kiến của cột) biểu thị dưới dạng số đĩa lý thuyết, có thể tính được từ những dữ liệu thu được dưới điều kiện đẳng nhiệt, đẳng dòng hoặc đẳng mật độ (isodense), theo công thức sau, trong đó các giá trị tR và Wh có cùng đơn vị đo:
![]()
Trong đó:
tR là thời gian lưu của pic tương ứng với chất phân tích;
wh là chiều rộng pic ở nửa chiều cao pic.
Số đĩa lý thuyết thay đổi theo chất, theo cột, nhiệt độ cột, pha động và thời gian lưu.
Thể tích lưu trú (D) (Dwell volume)
Thể tích lưu trú (còn gọi là thể tích trễ gradient) là thể tích dung môi chảy qua từ điểm các pha động gặp nhau đến điểm đầu vào của cột, có thể được xác định bằng cách sau:
Cột: Thay cột sắc ký bằng một ống mao quản thích hợp (ví dụ ống 1 m x 0,12 mm).
Pha động: Pha động A: Nước dùng cho sắc ký (TT).
Pha động B: Dung dịch chứa aceton (TT) 0,1 % (tt/tt) trong nước dùng cho sắc ký (77).
| Thời gian (min) | Pha động A (%tt/tt) | Pha động B (%tt/tt) |
| 0 - 20 | 100 → 0 | 0 → 100 |
| 20 - 30 | 0 | 100 |
Tốc độ dòng: Đặt tốc độ dòng sao cho có áp suất ngược thích hợp (back-pressure) (ví dụ 2 ml/min).
Phát hiện: Quang phổ tử ngoại ở 265 nm.
Xác định thời điểm (t0,5) tính bằng phút khi độ hấp thụ tăng lên đạt 50 % (Hình 5.4).
D = tD x F
Trong đó:
tD = t0,5 - 0,5tG (tính bằng min);
tG là thời gian gradient đã xác định trước (= 20 min);
F là tốc độ dòng (tính bằng ml/min).

Hình 5.4
Ghi chú: Với hệ thống có tiêm mẫu tự động, thể tích lưu trú bao gồm cả thể tích vòng tiêm mẫu.
Hệ số đối xứng (As)
Hệ số đối xứng của một pic (Hình 5.5) được tính theo công thức sau:
![]()
Trong đó:
W0,05 là chiều rộng của pic ở 1/20 chiều cao của pic;
d là khoảng cách tính từ đường thẳng đứng đi qua đỉnh pic đến cạnh phía trước của pic ở 1/20 chiều cao của pic.
Khi AS = 1,0 thì pic hoàn toàn đối xứng. Khi AS>1,0 thì pic bị kéo đuôi. Khi AS<1,0 thì pic bị doãng về phía trước.

Hình 5.5
Độ phân giải (RS)
Độ phân giải (RS) giữa hai pic của hai chất (Hình 5.1) được tính theo công thức sau:

Trong đó:
tR2 > tR1
tR1, tR2 là thời gian lưu của các pic tương ứng;
wh1, wh2 là chiều rộng pic ở nửa chiều cao pic.
Trong kỹ thuật sắc ký trên mặt phẳng, phương pháp định lượng bằng đo mật độ, khoảng cách di chuyển được dùng thay cho thời gian lưu và độ phân giải giữa các pic của 2 chất có thể được tính theo công thức sau:

Trong đó:
RF2> RF1
RF1, RF2 là thừa số chậm của các pic tương ứng;
Wh1, Wh2 là chiều rộng pic ở nửa chiều cao pic;
a là khoảng cách di chuyển của tuyến dung môi.
Tỷ số đỉnh - hõm (p/v)
Tỷ số đỉnh - hõm (p/v) có thể được dùng như một thông số về tính phù hợp của hệ thống trong phép thử các tạp chất liên quan khi hai pic không được tách đến đường nền (Hình 5.6).

Trong đó:
Hp là chiều cao của đỉnh pic nhỏ so với đường nền ngoại suy;
Hv là chiều cao của đáy hõm tách hai pic lớn và nhỏ so với đường nền ngoại suy.

Hình 5.6
Độ lưu giữ tương đối (r)
Độ lưu giữ tương đối (r) có thể ước lượng theo công thức sau:
![]()
Trong đó:
tRI là thời gian lưu của pic chất được quan tâm;
tRst là thời gian lưu của pic chất đối chiếu (thường là pic tương ứng với chất cần thử);
tM là thời gian chết.
Độ lưu giữ tương đối chưa hiệu chỉnh (rG) được tính theo công thức:

Trừ khi có hướng dẫn khác, các giá trị độ lưu giữ tương đối cho trong các chuyên luận là độ lưu giữ tương đối chưa hiệu chỉnh.
Trong sắc ký trên mặt phẳng, các thừa số chậm RFst và RFi được dùng thay cho các thời gian lưu tRst và tRi.
Tỷ số tín hiệu trên nhiễu (S/N)
Nhiễu có ảnh hưởng đến độ chụm và độ đúng của phép định lượng. Tỷ số tín hiệu trên nhiễu được tính theo công thức:
![]()
trong đó:
H là chiều cao pic (Hình 5.7) tương ứng với chất được khảo sát trên sắc ký đồ thu được từ dung dịch chất đối chiếu; chiều cao này đo từ đỉnh pic đến đường nền ngoại suy được xác định trên một khoảng bằng ít nhất 5 lần chiều rộng của pic ở nửa chiều cao pic;
h là khoảng dao động (Hình 5.8) của nhiễu đường nền trên sắc ký đồ thu được sau khi tiêm một mẫu trắng; khoảng dao động này được xác định trên một quãng đường bằng ít nhất 5 lần chiều rộng của pic ở nửa chiều cao pic trên sắc đồ thu được từ dung dịch đối chiếu và nếu có thể thì quãng đường này phân bố đều hai bên vị trí nơi pic xuất hiện.

Hình 5.7 Sắc ký đồ dung dịch đối chiếu

Hình 5.8 Sắc ký đồ dung dịch mẫu trắng
Độ lặp lại của hệ thống
Độ lặp lại của đáp ứng được biểu thị dưới dạng phần trăm độ lệch chuẩn tương đối (RSD %) của một dãy kết quả của ít nhất 3 lần tiêm hoặc nạp liên tiếp dung dịch chất đối chiếu, và được tính theo công thức:

trong đó:
là các giá trị đơn lẻ dưới dạng diện tích pic, hay chiều cao pic, hoặc tỷ số các diện tích trong phương pháp nội chuẩn;
là trung bình của các giá trị đơn lẻ;
n là số các giá trị đơn lẻ.
TÍNH PHÙ HỢP CỦA HỆ THỐNG
Nội dung này chỉ dành cho sắc ký lỏng và sắc ký khí.
Các bộ phận khác nhau của thiết bị sắc ký cần phải được kiểm tra hiệu chỉnh để có thể đạt được hiệu năng theo yêu cầu khi tiến hành phép thử hay định lượng.
Các phép thử tính phù hợp của hệ thống là phần không thể thiếu của một quy trình phân tích và để đảm bảo hệ thống sắc ký có hiệu năng phù hợp. Số đĩa lý thuyết của cột, thừa số lưu giữ (hệ số phân bố khối lượng), độ lặp lại của hệ thống, tỷ số tín hiệu/nhiễu, độ phân giải/tỷ số đỉnh-hõm và hệ số đối xứng là những thông số thường được dùng để đánh giá hiệu năng của hệ thống sắc ký.
Với trường hợp sắc ký phức tạp (như cho chế phẩm sinh học), khi có chỉ rõ trong chuyên luận riêng, tính phù hợp của hệ thống sắc ký có thể được đánh giá bằng cách so sánh dữ liệu trực quan.
Các yếu tố có thể ảnh hưởng đến đặc tính sắc ký bao gồm:
- Thành phần và nhiệt độ pha động, lực ion và pH của thành phần nước trong pha động.
- Tốc độ dòng, kích thước cột, nhiệt độ cột và áp suất.
- Các đặc tính của pha tĩnh bao gồm loại chất mang, kích thước lỗ xốp, cỡ hạt, kiểu các hạt, diện tích bề mặt riêng.
- Pha đảo và các biến đổi bề mặt khác của pha tĩnh, mức độ biến đổi hoá học của pha tĩnh (được biểu thị bởi end-capping, carbon loading, v.v...].
Các giá trị thời gian lưu và độ lưu giữ tương đối nêu ra trong chuyên luận riêng chỉ với mục đích cung cấp thông tin, trừ khi có chỉ dẫn khác. Không có giới hạn chấp nhận áp dụng cho độ lưu giữ tương đối (thời gian lưu giữ tương đối).
Việc tuân thủ các tiêu chí về tính phù hợp của hệ thống là bắt buộc trong suốt quy trình sắc ký. Không có phân tích mẫu nào được chấp nhận khi tính phù hợp của hệ thống chưa được chứng minh.
Các yêu cầu sau đây phải được đáp ứng cùng với các yêu cầu khác được chỉ ra trong chuyên luận riêng. Khi có yêu cầu cụ thể về tính phù hợp của hệ thống được nêu trong chuyên luận riêng, chúng sẽ thay thế các yêu cầu tương ứng được đề cập trong Phụ lục này.
Độ lặp của hệ thống
Độ lặp của hệ thống áp dụng cho trường hợp định lượng dược chất hoặc tá dược:
Dạng hợp chất tinh khiết với giá trị xác định là 100 %, nếu không có yêu cầu nào đặc biệt, độ lệch chuẩn tối đa được phép (RSD(%)max) cho các lần tiêm lặp lại của dung dịch đối chiếu được tính theo công thức sau:

Trong đó:
K là một hằng số (= 0,349) thu được từ biểu thức
![]()
Là biểu thị độ lệch chuẩn tương đối yêu cầu cho 6 lần tiêm với B = 1,0;
B là giới hạn trên được cho trong chuyên luận riêng trừ đi 100 %;
n là số lần tiêm lặp lại dung dịch đối chiếu (3 ≤ n ≤ 6);
là giá trị t-Student ở mức xác xuất 90 % (hai phía) với bậc tự do n -1.
Nếu không có chỉ dẫn gì khác, RSD(%)max không được vượt quá giá trị tương ứng ghi trong Bảng 5.1. Yêu cầu này không áp dụng cho phép thử các tạp chất liên quan.
Bảng 5.1 - Yêu cầu về độ lặp lại
|
| Số lần tiêm lặp lại (n) | |||
|
| 3 | 4 | 5 | 6 |
| B (%) | Độ lệch chuẩn tương đối được phép tối đa (%) | |||
| 2,0 | 0,41 | 0,59 | 0,73 | 0,85 |
| 2,5 | 0,52 | 0,74 | 0,92 | 1,06 |
| 3,0 | 0,62 | 0,89 | 1,10 | 1,27 |
Độ nhạy của hệ thống
Tỷ lệ tín hiệu trên nhiễu được sử dụng để xác định độ nhạy của hệ thống. Giới hạn định lượng (tương ứng với tỷ lệ tín hiệu trên nhiễu bằng 10) phải bằng hoặc nhỏ hơn ngưỡng báo cáo.
Để xác định tỷ lệ tín hiệu trên nhiễu, tiêm dung dịch chất cần kiểm tra ở nồng độ tương ứng với ngưỡng báo cáo (ví dụ: 0,05 %). Hoặc, trường hợp định lượng tạp chất không xác định, sử dụng dung dịch đối chiếu dùng cho định lượng tạp (ví dụ: dung dịch 0,10 % của nồng độ dung dịch thử) và ngoại suy đáp ứng của pic ở ngưỡng báo cáo (ví dụ: một nửa diện tích pic của dung dịch đối chiếu 0,10 %).
Hệ số đối xứng
Yêu cầu hệ số đối xứng của pic chính trên sắc ký đồ thu được từ dung dịch đối chiếu phải trong khoảng từ 0,8 đến 1,8, trừ khi có chỉ dẫn khác đối với các pic định lượng.
ĐIỀU CHỈNH CÁC ĐIỀU KIỆN SẮC KÝ
Các điều kiện sắc ký được mô tả trong chuyên luận đều đã được thẩm định khi xây dựng chuyên luận. Dưới đây liệt kê các thông số sắc ký và mức độ có thể điều chỉnh mà không làm thay đổi căn bản quy trình phân tích trong dược điển. Những thay đổi khác với những điểm đã được quy định yêu cầu phải thẩm định lại phương pháp.
Điều chỉnh nhiều thông số có thể gây tác động tích lũy đến hiệu năng của hệ thống và người dùng phải đánh giá đúng tình trạng này. Điều này đặc biệt quan trọng trong các trường hợp đã có thông tin rõ ràng, cụ thể về đặc điểm phân tách của mẫu. Trong những trường hợp đó, cần tiến hành đánh giá nguy cơ. Mọi điều chỉnh phải được thực hiện trên cơ sở là quy trình dược điển.
Nếu có điều chỉnh quy trình dược điển, có thể phải tiến hành thêm đánh giá tính phù hợp. Để đánh giá tính phù hợp của quy trình đã điều chỉnh, cần đánh giá các đặc tính phân tích liên quan có nguy cơ bị tác động bởi sự thay đổi.
Khi quy trình phân tích đã được điều chỉnh theo các yêu cầu nêu dưới đây thì không được phép điều chỉnh thêm nếu không thẩm định lại phù hợp.
Khi đánh giá tính phù hợp của quy trình đã điều chỉnh, phải tuân thủ các yêu cầu về độ phù hợp hệ thống của phép thử hoặc phép định lượng đã đặt ra.
Việc điều chỉnh các điều kiện rửa giải gradient (HPLC) hoặc chương trình nhiệt độ (GC) thì khắt khe hơn so với rửa giải đẳng dòng (HPLC) hoặc đẳng nhiệt (GC), vì nó có thể dẫn tới sự chuyển dịch các pic đến một giai đoạn khác của quá trình gradient hoặc ở nhiệt độ rửa giải khác, điều này có khả năng gây ra sự đồng rửa giải một phần hoặc hoàn toàn của các pic liền kề hoặc sự đảo ngược pic, dẫn đến việc xác định không đúng vị trí các pic, làm che lấp pic hoặc làm chuyển dịch pic khiến quá trình rửa giải các chất xảy ra ngoài khảng thời gian đã định.
Đối với một số thông số, việc điều chỉnh được xác định rõ ràng trong chuyên luận để đảm bảo tính phụ hợp của hệ thống.
Sắc ký lớp mỏng
Thành phần của pha động: các thành phần dung môi nhỏ có thể điều chỉnh ± 30 % tương đốl hay ± 2 % tuyệt đối so với tỷ lệ ban đầu tùy theo khoảng giá trị nào lớn hơn; không thành phần dung môi nào được thay đổi tỷ lệ lớn hơn 10 % tuyệt đối. Thành phần dung môi nhỏ là thành phần chiếm tỷ lệ trong pha động nhỏ hơn hoặc bằng (100/n) % trong đó n là tổng số loại dung môi có trong pha động.
Ví dụ một dung môi thành phần nhỏ chiếm 10 % pha động thì thay đổi 30 % tương đối nghĩa là sau khi thay đổi tỷ lệ chiếm được phép trong khoảng 7 -13 % pha động, trong khi 2 % tuyệt đổi nghĩa là sau khi thay đổí tỷ lệ chiếm phải trong khoảng 8 -12 % pha động; như vậy, khoảng theo tỷ lệ tương đối lớn hơn. Nếu thành phần dung môi nhỏ là 5 % thì thay đổi 30 % tương đối nghĩa là trong khoảng 3,5 - 6,5 % và thay đổi 2 % tuyệt đối nghĩa là trong khoảng 3-7 %, trong trường hợp này khoảng theo tỷ lệ tuyệt đối lớn hơn.
pH của thành phần nước trong pha động: Chỉ điều chỉnh thay đổi ± 0,2 đơn vị pH trừ khi có chỉ dẫn khác trong chuyên luận.
Nồng độ muối trong thành phần đệm của pha động được thay đổi ±10 %.
Thể tích mẫu chấm sắc ký điều chỉnh trong khoảng 10 % đến 20 % của thể tích quy định nếu sử dụng bản mỏng cỡ hạt nhỏ (2 μm đến 10 μm).
Sắc ký lỏng rửa giải đẳng dòng
Thông số cột và tốc độ dòng
Pha tĩnh: Không thay đổi bản chất của nhóm thế trong pha tĩnh (ví dụ không thay C18 bằng C8); các đặc tính hóa lý khác của pha tĩnh (như chất mang, sự biến đổi bề mặt và mức độ biến đổi óa học) phải tương tự nhau; được phép thay đổi từ cột hạt xốp hoàn toàn (TPP) sang cột hạt xốp bề mặt (SPP) miễn là đáp ứng được các yêu cầu nêu trên.
Chiều dài cột và kích thước hạt: kích thước hạt và/hoặc chiều dài của cột có thể thay đổi miễn là tỷ lệ giữa chiều dài cột (L) và kích thước hạt (dp) không đổi hoặc trong khoảng từ -25 % đến + 50 % của tỷ lệ L/dp của cột chỉ ra ban đầu trong chuyên luận. Để áp dụng điều chỉnh kích thước hạt từ cột hạt xốp hoàn toàn đến cột hạt xốp bề mặt, có thể sử dụng các kết hợp khác của L và dp với điều kiện là số đĩa lý thuyết (N) nằm trong khoảng từ -25 % đến + 50 % so với cột quy định.
Những thay đổi này có thể chấp nhận được miễn là các yêu cầu về tính phù hợp của hệ thống được đáp ứng và độ chọn lọc cũng như thứ tự rửa giải của các tạp xác định cần kiểm soát được chứng minh là tương đương.
Đường kính trong: Đường kính trong của cột có thể được điều chỉnh ngay cả khi không có sự thay đổi về kích thước hạt và/hoặc chiều dài của cột.
Cần chú ý khi việc điều chỉnh dẫn đến thể tích pic nhỏ hơn, do kích thước hạt nhỏ hơn hoặc đường kính trong nhỏ hơn, tình huống này cần điều chỉnh để giảm thiểu sự mở rộng dải ngoài cột bởi các yếu tố như kết nối thiết bị, thể tích buồng đo mẫu và tốc độ bơm mẫu, thể tích tiêm.
Khi kích thước hạt thay đổi, cần điều chỉnh tốc độ dòng, vì các cột có hạt nhỏ hơn sẽ yêu cầu vận tốc tuyến tính cao hơn để có cùng hiệu suất (chiều cao đĩa lý thuyết giảm). Khi đường kính cột và kích thước hạt thay đổi, tốc độ dòng được điều chỉnh theo công thức sau:
![]()
Trong đó:
F1 là tốc độ dòng được chỉ ra trong chuyên luận, tính theo ml/min.
F2 là tốc độ dòng hiệu chỉnh, tính theo ml/min.
dc1 là đường kính trong của cột ghi trong chuyên luận, tính bằng mm.
dc2 là đường kính trong của cột được sử dụng, tính bằng mm.
dp1 là kích thước hạt của cột ghi trong chuyên luận, tính bằng mm.
dp2 là kích thước hạt của cột được sử dụng, tính bằng mm.
Khi thay đổi từ các hạt ≥ 3 μm thành hạt < 3 μm trong rửa giải đẳng dòng, có thể tăng tốc độ dòng với điều kiện là hiệu suất của cột không giảm quá 20 %. Tương tự, khi thay đổi từ các hạt < 3 μm thành hạt ≥ 3 μm, giảm tốc độ dòng để tránh giảm hiệu suất của cột hơn 20 %.
Sau khi điều chỉnh do thay đổi chiều dài cột, kích thước hạt và đường kính trong cột, tốc độ dòng có thể thay đổi thêm tối đa ± 50 %.
Nhiệt độ cột: ± 10 °C khi có quy định nhiệt độ tiến hành sắc ký, trừ khi có chỉ dẫn khác.
Có thể cần phải điều chỉnh thêm các điều kiện của quy trình phân tích (pha động, nhiệt độ, pH...) trong phạm vi cho phép được mô tả trong phần Tính phù hợp của hệ thống và Điều chỉnh các điều kiện sắc ký trong Phụ lục này.
Pha động
Thành phần pha động: Lượng thành phần dung môi nhỏ có thể điều chỉnh ± 30 % tương đối (xem ví dụ trong phần sắc ký lớp mỏng); không thành phần dung môi nào được thay đổi lớn hơn 10 % tuyệt đối. pH của thành phần nước trong pha động: ± 0,2 đơn vị pH trừ khi có chỉ dẫn khác trong chuyên luận. Nồng độ muối trong thành phần đệm của pha động: ± 10 %.
Tốc độ dòng: ± 50 % khi chiều dài cột, kích thước hạt và đường kính trong cột không thay đổi.
Bước sóng của detector. Không được điều chỉnh.
Thể tích tiêm
Khi chiều dài cột và đường kính trong cột thay đổi, có thể sử dụng công thức sau để điều chỉnh thể tích tiêm:

Trong đó:
Vinj1 là thể tích tiêm được chỉ ra trong chuyên luận, tính theo μl.
Vinj2 là thể tích tiêm hiệu chỉnh, tính theo μl.
L1 là chiều dài cột ghi trong chuyên luận, tính bằng mm.
L2 là chiều dài cột được sử dụng, tính bằng mm.
dc1 là đường kính trong của cột ghi trong chuyên luận, tính bằng mm.
dc2 là đường kính trong của cột được sử dụng, tính bằng mm.
Công thức này không thể áp dụng khi thay đổi từ cột hạt xốp hoàn toàn (TPP) sang cột hạt xốp bề mặt (SPP).
Ngay cả khi không có bất kỳ thay đổi nào về thông số cột, thể tích tiêm vẫn có thể thay đổi miễn là các tiêu chí về Tính phù hợp của hệ thống vẫn đảm bảo trong giới hạn chấp nhận đã được thiết lập. Khi giảm thể tích tiêm, cần đặc biệt chú ý đến (giới hạn) phát hiện và độ lặp lại đáp ứng của pic cần xác định. Được phép tăng thể tích tiêm miễn là độ tuyến tính và độ phân giải của các pic cần xác định vẫn đạt yêu cầu.
Sắc ký lỏng rửa giải gradient
Việc điều chỉnh các điều kiện cho hệ thống sắc ký rửa giải gradient đòi hỏi thận trọng hơn so với hệ thống sắc ký đẳng dòng.
Thông số cột và tốc độ dòng
Pha tĩnh: Không thay đổi bản chất của nhóm thế trong pha tĩnh (ví dụ không thay C18 bằng C8); các đặc tính hóa lý khác của pha tĩnh (chất mang, biến đổi bề mặt và mức độ biến đổi hóa học) phải tương tự nhau; được phép thay đổi từ cột hạt xốp hoàn toàn (TPP) sang cột hạt xốp bề mặt (SPP) miễn là đáp ứng được các yêu cầu nêu trên.
Chiều dài cột và kích thước hạt: kích thước hạt và/hoặc chiều dài của cột có thể thay đổi miễn là tỷ lệ giữa chiều dài cột (L) và kích thước hạt (dp) không đổi hoặc trong khoảng từ -25 % đến + 50 % của tỷ lệ Ưdp của cột chỉ ra trong chuyên luận. Để áp dụng điều chỉnh kích thước hạt từ cột hạt xốp hoàn toàn thành hạt xốp bề mặt, có thể kết hợp L và dp miễn là tỷ lệ (tR/Wh)2 nằm trong khoảng -25 % đến +50 % so với cột chỉ ra trong chuyên luận, đối với tất cả các pic được sử dụng để xác định thông số phù hợp của hệ thống.
Những thay đổi này có thể chấp nhận được miễn là các yêu cầu về tính phù hợp của hệ thống được đáp ứng và độ chọn lọc cũng như thứ tự rửa giải của các tạp xác định cần kiểm soát được chứng minh là tương đương.
Đường kính trong: Đường kính trong của cột có thể được điều chỉnh ngay cả khi không có sự thay đổi về kích thước hạt và/hoặc chiều dài của cột.
Cần chú ý khi việc điều chỉnh dẫn đến thể tích pic nhỏ hơn, do kích thước hạt nhỏ hơn hoặc đường kính trong nhỏ hơn, tình huống này cần điều chỉnh để giảm thiểu sự mở rộng dải ngoài cột bởi các yếu tố như kết nối thiết bị, thể tích buồng đo mẫu và tốc độ bơm mẫu và thể tích tiêm.
Khi kích thước hạt thay đổi, cần điều chỉnh tốc độ dòng, vì các cột có hạt nhỏ hơn sẽ yêu cầu vận tốc tuyến tính cao hơn để có cùng hiệu suất (chiều cao đĩa lý thuyết giảm). Khi đường kính cột và kích thước hạt thay đổi, tốc độ dòng được điều chỉnh theo công thức sau:
![]()
Trong đó:
F1 là tốc độ dòng được chỉ ra trong chuyên luận, tính theo ml/min.
F2 là tốc độ dòng hiệu chỉnh, tính theo ml/min.
dc1 là đường kính trong của cột ghi trong chuyên luận, tính bằng mm.
dc2 là đường kính trong của cột được sử dụng, tính bằng mm.
dp1 là kích thước hạt của cột ghi trong chuyên luận, tính bằng mm.
dp2 là kích thước hạt của cột được sử dụng, tính bằng mm.
Sự thay đổi về kích thước cột (chiều dài cột, kích thước hạt, đường kính trong) dẫn tới thay đổi về thể tích cột, tác động đến thể tích gradient là yếu tố kiểm soát độ chọn lọc. Gradient dung môi được điều chỉnh theo thể tích cột bằng cách thay đổi thể tích gradient sao cho tỷ lệ với thể tích cột. Điều này áp dụng cho mọi giai đoạn gradient. Vì thể tích gradient là thời gian gradient (tG) nhân với tốc độ dòng (F), thời gian gradient cho từng đoạn gradient cần được điều chỉnh để duy trì tỷ lệ cố định giữa thể tích gradient và thể tích cột (được biểu thị bằng L x dc2). Do đó, thời gian gradient mới (tG2) có thể được tính toán từ thời gian gradient ban đầu (tG1), tốc độ dòng chảy và thông số cột theo công thức sau:
![]()
Tóm lại, sự thay đổi các điều kiện rửa giải gradient yêu cầu 3 bước:
(1) Điều chỉnh chiều dài cột và kích thước hạt theo L/dp;
(2) Điều chỉnh tốc độ dòng cho các thay đổi về kích thước hạt và đường kính cột; và
(3) Điều chỉnh thời gian gradient của từng giai đoạn cho các thay đổi về chiều dài cột, đường kính và tốc độ dòng.
Ví dụ sau đây minh họa điều chỉnh các điều kiện sắc ký lỏng rửa giải gradient:
| Thông số | Giá trị ban đầu | Giá trị sau khi thay đổi | Ghi chú |
| Chiều dài cột (L) (mm) | 150 | 100 |
|
| Đường kính cột (dc) (mm) | 4,6 | 2,1 |
|
| Kích thước hạt (dp) (μm) | 5 | 3 |
|
| L/dp | 30,0 | 33,3 | (1) |
| Tốc độ dòng (F) (ml/min) | 2,0 | 0,7 | (2) |
| Hệ số điều chỉnh gradient (tG2/tG1) |
| 0,4 | (3) |
| Điều kiện gradient | |||
| B (%) | Thời gian (min) | Thời gian (min) |
|
| 30 | 0 | 0 |
|
| 30 | 3 | (3 x 0,4) = 1,2 |
|
| 70 | 13 | [1,2 + (10 x 0,4)] = 5,2 |
|
| 30 | 16 | [5,2 + (3 x 0,4)] = 6,4 |
|
(1) L/dp tăng 11 % nằm trong khoảng -25 % đến +50 %;
(2) Dùng công thức F2 = F1 x [(dc22 x dp1)/(dc12 x dp2)];
(3) Dùng công thức tG2 = tG1 x (F1/F2) x [(L2 x dc22)/(L1 x dc12)].
Nhiệt độ cột: ± 5 °C khi có quy định nhiệt độ tiến hành sắc ký, trừ khi có chỉ dẫn khác.
Có thể cần điều chỉnh thêm các điều kiện của quy trình phân tích (pha động, nhiệt độ, pH...) trong phạm vi cho phép được mô tả trong phần Tính phù hợp của hệ thống và Điều chỉnh các điều kiện sắc ký trong Phụ lục này.
Pha động
Thành phần pha động/gradient: Việc điều chỉnh thành phần của pha động và gradient có thể được chấp nhận với điều kiện:
- Đáp ứng được tiêu chí về tính phù hợp của hệ thống.
- Thời gian lưu của các pic chính nằm trong khoảng ± 15 % so với thời gian lưu thu được ở điều kiện ban đầu. Yêu cầu này không áp dụng khi thay đổi chiều dài cột, kích thước hạt và đường kính trong cột.
- Thành phần của pha động và gradient đảm bảo có sự lưu giữ nhất định các pic ra sớm và rửa giải hoàn toàn các pic ra muộn.
pH của thành phần nước trong pha động: ± 0,2 đơn vị pH trừ khi có chỉ dẫn khác trong chuyên luận.
Nồng độ muối trong thành phần đệm của pha động: ± 10 %.
Khi không thể đạt được tính phù hợp của hệ thống, tốt hơn nên cân nhắc về thể tích lưu trú hoặc thay đổi cột.
Thể tích lưu trú
Cấu hình của các thiết bị sử dụng có thể làm thay đổi đáng kể đến độ phân giải, thời gian lưu và thời gian lưu tương đối được quy định. Nếu điều này xảy ra, có thể là do thay đổi thể tích lưu trú. Các chuyên luận thường đưa vào một giai đoạn đẳng dòng trước khi bắt đầu chương trình gradient để có thể điều chỉnh thời điểm gradient phù hợp; điều này giúp loại bỏ sự khác nhau giữa thể tích lưu trú của hệ thống thiết bị được sử dụng khi phát triển phương pháp và hệ thống đang sử dụng thực tế. Người dùng có trách nhiệm điều chỉnh khoảng thời gian của giai đoạn đẳng dòng cho phù hợp với thiết bị phân tích sử dụng. Nếu có thông tin về thể tích lưu trú được sử dụng trong quá trình xây dựng chuyên luận, thì các điểm thời gian (t - min) được nêu trong bảng gradient có thể được thay thế bằng các điểm thời gian điều chỉnh (tc - min), được tính theo phương trình sau:
![]()
Trong đó:
D: thể tích lưu trú (ml).
Do: thể tích lưu trú đã dùng khi phát triển phương pháp ban đầu (ml).
F: tốc độ dòng (ml/min).
Giai đoạn đẳng dòng bổ sung cho mục đích trên đây có thể bỏ qua nếu các số liệu thẩm định để áp dụng phương pháp không có giai đoạn này.
Bước sóng của detector. Không được điều chỉnh.
Thể tích tiêm
Khi thay đổi chiều dài cột và đường kính trong cột, có thể sử dụng công thức sau để điều chỉnh thể tích tiêm:

Trong đó:
Vinj1 là thể tích tiêm được chỉ ra trong chuyên luận, tính theo μl.
Vinj2 là thể tích tiêm hiệu chỉnh, tính theo μl.
L1 là chiều dài cột ghi trong chuyên luận, tính bằng mm.
L2 là chiều dài cột được sử dụng, tính bằng mm.
dc1 là đường kính trong của cột ghi trong chuyên luận, tính bằng mm.
dc2 là đường kính trong của cột được sử dụng, tính bằng mm.
Công thức này không thể áp dụng khi thay đổi từ cột hạt xốp hoàn toàn (TPP) sang cột hạt xốp bề mặt (SPP).
Ngay cả khi không có bất kỳ thay đổi nào về thông số cột, thể tích tiêm vẫn có thể thay đổi miễn là các tiêu chí về Tính phù hợp của hệ thống vẫn đảm bảo trong giới hạn chấp nhận được đã thiết lập. Khi giảm thể tích tiêm, cần đặc biệt chú ý đến (giới hạn) phát hiện và độ lặp lại đáp ứng của pic cần xác định. Được phép tăng thể tích tiêm miễn là độ tuyến tính và độ phân giải của các pic cần xác định vẫn đạt yêu cầu.
Sắc ký khí
Các thông số về cột
Pha tĩnh:
Kích thước hạt có thể giảm tối đa 50 %; không được phép tăng lên (cột nhồi);
Bề dày lớp phim: từ -50 % đến +100 % (cột mao quản).
Kích thước cột:
Chiều dài: từ -70 % đến +100 %
Đường kính trong: + 50 %.
Nhiệt độ cột: ±10 %.
Chương trình nhiệt độ: Cho phép điều chỉnh nhiệt độ như đã nêu ở trên; cho phép điều chỉnh tốc độ gia nhiệt và thời gian duy trì nhiệt độ lên tới ± 20 %.
Tốc độ dòng: ± 50 %.
Thể tích tiêm và tỷ lệ chia dòng: Có thể thay đổi với điều kiện tính phù hợp của hệ thống vẫn nằm trong giới hạn chấp nhận đã thiết lập. Khi thể tích tiêm giảm hoặc tỷ lệ chia dòng tăng lên, cần đặc biệt chú ý đến (giới hạn) phát hiện và độ lặp lại của (các) đáp ứng pic. Cho phép tăng thể tích tiêm hoặc giảm tỷ lệ chia dòng.với điều kiện là độ tuyến tính và độ phân giải của (các) pic vẫn thỏa mãn.
Nhiệt độ buồng tiêm và nhiệt độ đường dẫn trong điều kiện head-space: ± 10°C, miễn là không xảy ra hiện tượng phân hủy hoặc ngưng tụ.
ĐỊNH LƯỢNG
Phương pháp chuẩn ngoại
Sử dụng đường chuẩn: Chuẩn bị các dung dịch đối chiếu trong khoảng nồng độ đã được chứng minh là tuyển tính và tiến hành tiêm một thể tích cố định các dung dịch đối chiếu này. Dựa vào sắc ký đồ thu được, vẽ đường chuẩn xác định mối tương quan giữa diện tích pic hoặc chiều cao pic thu được (trục tung) và lượng (nồng độ, khối lượng, v.v...) của chất đối chiếu (trục hoành). Phương trình của đường chuẩn thường được xây dựng bằng phương pháp hồi quy tuyến tính.
Sau đó, chuẩn bị dung dịch thử theo quy trình trong chuyên luận riêng. Tiến hành sắc ký dung dịch thử trong cùng điều kiện với các dung dịch đối chiếu để chuẩn bị đường chuẩn. Từ diện tích pic hoặc chiều cao pic của chất cần phân tích, xác định hàm lượng chất cần phân tích trong dung dịch thử bằng phương trình đường chuẩn đã xây dựng.
Sử dụng điểm chuẩn: Trong chuyên luận riêng, chuẩn bị một dung dịch đối chiếu có nồng độ nằm trong khoảng tuyến tính của phương pháp và dung dịch thử có nồng độ chất cần phân tích gần với nồng độ của dung dịch đối chiếu. Tiến hành sắc ký trong các điều kiện đã nêu trong chuyên luận, tính lượng chất cần phân tích dựa vào các đáp ứng pic thu được. Trong phương pháp này, tất cả các quy trình, chẳng hạn như quy trình tiêm, phải thực hiện trong các điều kiện không đổi.
Phương pháp chuẩn nội
Sử dụng đường chuẩn: Trong phương pháp chuẩn nội, chất chuẩn nội là chất ổn định có thời gian lưu gần với thời gian lưu của chất phân tích và pic chuẩn nội tách biệt rõ ràng với tất cả các pic khác trong sắc kỷ đồ.
Chuẩn bị các dung dịch đối chiếu có chứa một lượng chất chuẩn nội cố định và các lượng khác nhau của chất chuẩn của chất cần phân tích. Dựa vào sắc ký đồ thu được khi tiêm một thể tích cố định các dung dịch đối chiếu, tính tỷ lệ giữa diện tích pic hoặc chiều cao pic của chất chuẩn với chất chuẩn nội. Xây dựng đường chuẩn xác định mối tương quan giữa tỷ lệ diện tích hoặc chiều cao pic này (trục tung) so với lượng chất chuẩn (hoặc tỷ lệ giữa lượng chất chuẩn/lượng chất chuẩn nội) (trục hoành). Phương trình của đường chuẩn thường được xây dựng bằng phương pháp hồi quy tuyến tính.
Chuẩn bị dung dịch thử theo quy trình trong chuyên luận riêng, có chứa cùng lượng chất chuẩn nội như trong dung dịch đối chiếu đã dùng để xây dựng đường chuẩn.
Tiến hành sắc ký dung dịch thử trong điều kiện như dung dịch đối chiếu. Từ tỷ lệ diện tích pic hoặc chiều cao pic của chất cần phân tích so với chất chuẩn nội, xác định hàm lượng chất cần phân tích trong dung dịch thử bằng phương trình đường chuẩn đã xây dựng.
Sử dụng điểm chuẩn: Trong chuyên luận riêng, chuẩn bị một dung dịch đổi chiếu có nồng độ nằm trong khoảng tuyến tính của phương pháp và dung dịch thử có nồng độ chất cần phân tích gần với nồng độ của dung dịch đối chiếu (cả hai đều chứa một lượng cố định chất chuẩn nội). Tiến hành sắc ký trong các điều kiện đã nêu trong chuyên luận, tính lượng chất cần phân tích bằng cách so sánh các tỷ lệ thu được.
Phương pháp chuẩn hóa
Trong trường hợp đã chửng minh được tính tuyến tính của các pic, các chuyên luận riêng có thể quy định hàm lượng phần trăm của chất cần phân tích được tính bằng cách xác định diện tích của pic tương ứng theo tỷ lệ phần trăm trên tổng diện tích tất cả các pic, ngoại trừ những pic do dung môi hoặc thuốc thử, pic của pha động hoặc nền mẫu và những pic nhỏ hơn hoặc bằng ngưỡng báo cáo.
CÁC VẤN ĐỀ KHÁC
Đáp ứng của detector
Độ nhạy của detector là tín hiệu đầu ra tính trên một đơn vị nồng độ hay một đơn vị khối lượng chất có trong pha động đi vào detector. Hệ số đáp ứng tương đối của detetor, thường được gọi là hệ số đáp ứng, biểu thị độ nhạy của một detector đối với một chất khi so sánh với một chất khác. Hệ số hiệu chỉnh là nghịch đảo của hệ số đáp ứng. Trong các phép thử Tạp chất liên quan, phải sử dụng hệ số hiệu chỉnh nêu trong chuyên luận riêng để tính toán (khi hệ số đáp ứng nằm ngoài phạm vi 0,8 -1,2).
Các pic gây nhiễu
Bỏ qua các pic do dung môi và thuốc thử hoặc phát sinh từ pha động hoặc nền mẫu.
Xác định pic
Việc lấy tích phân tính diện tích pic của bất kỳ tạp chất nào có pic không tách biệt hoàn toàn khỏi pic chính thường được thực hiện bằng phương pháp kẻ tiếp tuyến (tangential skim) (Hình 5.9).
Ngưỡng báo cáo
Khi phép thử Tạp chất liên quan quy định giới hạn về tổng tạp chất hoặc định lượng một tạp chất, điều quan trọng là phải chọn ngưỡng báo cáo thích hợp và chọn các điều kiện tích phân phù hợp để tính diện tích pic. Trong các phép thử như vậy, ngưỡng báo cáo thường là 0,05 %.
Tính phù hợp của hệ thống
Nếu không có chỉ dẫn khác trong chuyên luận riêng, độ lệch chuẩn tương đối tối đa cho phép đối với 6 lần tiêm lặp lại dung dịch đối chiếu không được quá 2,0 %. Yêu cầu này chỉ áp dụng cho phép thử Định lượng của các thuốc thành phẩm hóa dược.

Hình 5.9
PHỤ LỤC 10.3 ĐỊNH LƯỢNG NƯỚC
Nếu không có chỉ dẫn khác trong chuyên luận riêng, áp dụng Phương pháp 1 và chuẩn độ trực tiếp.
PHƯƠNG PHÁP 1 (Định lượng nước bằng thuốc thử Karl Fischer)
Phương pháp chuẩn độ trực tiếp
Nguyên tắc
Phương pháp định lượng nước bằng chuẩn độ dựa trên phản ứng toàn lượng của nước với lưu huỳnh dioxyd và iod trong dung môi khan phù hợp có thêm một base hữu cơ có vai trò làm chất đệm.
Dung dịch chuẩn độ đầu tiên được sử dụng là thuốc thử Karl Fischer, trong đó lưu huỳnh dioxyd và iod được hòa tan trong pyridin và methanol. Mẫu có thể được chuẩn độ trực tiếp với thuốc thử này, hoặc gián tiếp bằng phương pháp chuẩn độ thừa trừ. Phép cân bằng phản ứng hóa học không thật sự chính xác, độ tái lặp của kết quả chuẩn độ phụ thuộc vào các yếu tố như tỷ lệ tương đối giữa các thành phần của thuốc thử, bản chất của dung môi trơ dùng để hòa tan mẫu và kỹ thuật sử dụng trong từng phép chuẩn độ cụ thể. Do đó, để đạt được độ đúng mong muốn, cần chuẩn hóa kỹ thuật dựa trên thực nghiệm. Độ chính xác của phương pháp phụ thuộc rất nhiều vào độ ẩm của môi trường, vì vậy phải loại bỏ sự xâm nhập ẩm của môi trường vào hệ thống.
Quá trình chuẩn độ nước thường sử dụng methanol khan làm dung môi hòa tan mẫu thử. Trong một số trường hợp, có thể sử dụng các dung môi thích hợp khác cho các mẫu thử đặc biệt hoặc không theo thường quy. Khi đó, khuyến cáo nên thêm vào dung môi ít nhất 20 % methanol hay các alcol bậc một khác.
Thiết bị
Có thể sử dụng bất kỳ thiết bị chuẩn độ nào cho phép loại trừ hơi ẩm hiệu quả và xác định được điểm kết thúc. Khi chuẩn độ trực tiếp một dung dịch không màu, có thể quan sát điểm kết thúc bằng mắt thường, là khi có sự chuyển màu từ màu vàng sáng sang màu vàng cam (màu hổ phách). Với mẫu thử chuẩn độ thừa trừ, tại điểm kết thúc có quá trình chuyển màu ngược lại. Tuy nhiên, điểm kết thúc thường được xác định bằng phương pháp đo điện bằng một thiết bị sử dụng một mạch điện và một cặp điện cực platin nhúng vào dung dịch cần chuẩn độ. Tại điểm kết thúc của quá trình chuẩn độ, thuốc thử hơi dư sẽ làm tăng cường độ dòng và được phát hiện bằng các điện cực trong khoảng thời gian không dưới 30 s. Thời gian sẽ ngắn nhất với những chất hòa tan trong thuốc thử. Với một số thiết bị chuẩn độ tự động, thay đổi đột ngột về cường độ dòng hoặc hiệu điện thế tại điểm kết thúc sẽ làm đóng van kiểm soát buret cung cấp dung dịch chuẩn độ.
Các thiết bị sẵn có trên thị trường thường gồm một hệ thống khép kín với một hoặc hai buret tự động và một bình chuẩn độ được đậy chặt, có lắp các điện cực cần thiết và thiết bị khuấy từ. Không khí trong hệ thống được làm khô bằng một chất hút ẩm thích hợp, có thể loại hơi ẩm trong bình chuẩn độ bằng cách sục một luồng khí nitrogen khô hay không khí khô.
Thuốc thử
Chuẩn bị thuốc thử Karl Fischer như sau: Thêm 125 g iod (TT) vào một dung dịch gồm 670 ml methanol khan (TT) và 170 ml pyridin (TT) và làm mát. Rót 100 ml pyridin (TT) vào một ống đong 250 ml, giữ lạnh pyridin trong nước đá, sục lưu huỳnh dioxyd (TT) vào cho tới khi thể tích đạt 200 ml. Từ từ thêm dung dịch này vào hỗn hợp chứa iod đã được làm mát, vừa thêm vừa lắc. Tiếp tục lắc để hòa tan iod, chuyển dung dịch vào thiết bị chuẩn độ, để dung dịch ổn định qua đêm trước khi chuẩn hóa thuốc thử.
Khi mới chuẩn bị, 1 ml dung dịch thuốc thử này tương đương với khoảng 5 mg nước, nhưng thuốc thử sẽ từ từ bị biến đổi, do đó cần tiến hành chuẩn lại trong vòng 1 h trước khi sử dụng hoặc chuẩn lại hàng ngày nếu sử dụng liên tục. Bảo vệ thuốc thử tránh ánh sáng khi sử dụng. Bảo quản thuốc thử trong đồ đựng thủy tinh nút mài thích hợp, kín, hoàn toàn tránh ánh sáng và bảo quản lạnh. Để định lượng nước ở mức độ vết (dưới 1 %), nên sử dụng một thuốc thử có hệ số đương lượng nước không lớn hơn 2,0 để có thể tích dung dịch chuẩn độ tiêu thụ đủ lớn. Có thể sử dụng thuốc thử Karl Fischer thương mại có tính ổn định sẵn có trên thị trường. Các thuốc thử này có thể sử dụng các dung môi hay base không phải là pyridin và các alcol không phải là methanol. Có thể có các loại dung dịch thuốc thử đơn hoặc thuốc thử được tạo thành tại chỗ bằng cách phối hợp hai dung dịch riêng rẽ. Khi cần pha loãng thuốc thử, tiến hành pha loãng theo hướng dẫn của nhà sản xuất. Có thể dùng methanol hoặc một dung môi thích hợp khác như ethylen glycol hoặc monoethyl ether làm dung môi pha loãng.
Chuẩn bị mẫu thử
Nếu không có chỉ dẫn tại chuyên luận riêng, cân chính xác hoặc lấy chính xác một lượng mẫu ước tính chứa từ 2 mg đến 250 mg nước. Lượng nước tùy thuộc vào hệ số đương lượng nước của thuốc thử và phương pháp xác định điểm kết thúc. Trong phần lớn trường hợp, có thể ước tính lượng mẫu tối. thiểu M (mg) theo công thức sau:
M = FCV/KF
Trong đó:
F (mg/ml): hệ số đương lượng nước của thuốc thử.
C (%): tỷ lệ phần trăm thể tích thuốc thử tiêu thụ so với tổng thể tích buret (C thường từ 30 % đến 100 % với chuẩn độ tay, và từ 10 % đến 100 % với phương pháp xác định điểm kết thúc bằng thiết bị).
V (ml): thể tích buret.
KF (%): giới hạn hay hàm lượng nước ước tính trong mẫu.
Ghi chú: Khuyến cáo giá trị FCV nên lớn hơn hoặc bằng 200 khi tính toán để đảm bảo lượng nước tối thiểu được chuẩn độ lớn hơn hoặc bằng 2 mg.
Với mẫu thuốc khí dung có chất đẩy, để mẫu đông lạnh trong ít nhất 2 h, mở đồ đựng và thử trên 10,0 ml mẫu đã được trộn kỹ. Khi chuẩn độ mẫu, xác định điểm kết thúc tại nhiệt độ không dưới 10 °C: Với thuốc nang, lấy bột thuốc trộn đồng nhất từ không ít hơn 4 nang.
Với viên nén, dùng bột của không ít hơn 4 viên nén đã được nghiền mịn trong điều kiện môi trường mà nhiệt độ và độ ẩm không ảnh hưởng tới kết quả.
Khi mẫu thử có tính chất hút ẩm, thực hiện cân và chuyển mẫu rắn vào bình chuẩn độ nhanh nhất có thể và chú ý tránh hơi ẩm từ môi trường hẩp thụ vào mẫu. Nếu mẫu rắn có khối lượng hạn chế như sản phẩm đông khô hay bột đựng trong lọ, dùng một bơm tiêm khô bơm một thể tích chính xác methanol khan (TT) hay một dung môi phù hợp khác vào đồ đựng mẫu đã cân khối lượng rồi lắc để hòa tan mẫu. Dùng cùng bơm tiêm hút dung dịch từ trong đồ đựng mẫu ra và chuyển vào bình chuẩn độ được chuẩn bị theo hướng dẫn ở phần Định lượng nước trong mẫu thử. Dùng một thể tích chính xác methanol khan (TT) hoặc dung môi phù hợp khác để tráng đồ đựng, hút phần dịch tráng này chuyển vào bình chuẩn độ và tiến hành chuẩn độ ngay. Lấy một lượng dung môi bằng tổng lượng dung môi đã dùng để hòa tan mẫu và tráng rửa đồ đựng mẫu cũng như bơm tiêm, xác định hàm lượng nước theo hướng dẫn ở phần Chuẩn hóa dung dịch nước cho chuẩn độ thừa trừ ở Phương pháp chuẩn độ thừa trừ. Lượng nước có trong mẫu bằng lượng nước xác định được từ phép chuẩn độ mẫu phân tích ở trên trừ đi lượng nước trong dung môi, các kết quả tính theo mg. Sấy khô đồ đựng mẫu và nắp ở 100 °C trong 3 h, để nguội trong bình hút ẩm và cân. Khối lượng mẫu thử là chênh lệch khối lượng thu được so với khối lượng đồ đựng ban đầu.
Trong điều kiện thích hợp, có thể tách nước từ mẫu bằng cách làm nóng mẫu trong một buồng sấy ngoài, được kết nối với bình chuẩn độ và đẩy lượng hơi nước này vào bình chuẩn độ bằng một khí mang trơ và khô như nitrogen tinh khiết, cần lưu ý và hiệu chỉnh độ trôi do khí mang đến kết quả của phép thử. Chú ý lựa chọn điều kiện làm nóng để tránh tạo thành nước từ quá trình phân hủy mẫu, khi đó phương pháp này không còn phù hợp.
Xác định đương lượng nước của thuốc thử
Cho một thể tích methanol khan (TT) hoặc dung môi thích hợp khác vào bình chuẩn độ đủ để làm ngập điện cực, và cho thêm đủ thuốc thử để tạo ra màu đặc trưng tại điểm kết thúc hay đáp ứng điện cực phù hợp.
Có thể chuẩn hóa thuốc thử bằng nước tinh khiết, chất đối chiếu natri tartrat dihydrat hoặc các chất đối chiếu có chứng chỉ phân tích được liên kết chuẩn tới một chuẩn quốc gia. Hệ số đương lượng của thuốc thử, thể tích thuốc thử khuyến cáo khi chuẩn độ, dung tích buret và lượng chất chuẩn dùng để chuẩn hóa là các yếu tố cần cân nhắc khi lựa chọn thuốc thử nào và với lượng bao nhiêu. Khi sử dụng nước tinh khiết hay các chuẩn nước, thêm nhanh một lượng tương đương với từ 2 mg đến 250 mg nước. Tính hệ số đương lượng nước F của thuốc thử, tính bằng mg nước/ml thuốc thử, theo công thức sau:
F = W/V
Trong đó:
W (mg): khối lượng nước chứa trong lượng chuẩn sử dụng.
V (ml): thể tích thuốc thử dùng khi chuẩn độ.
Với natri tartrat dihydrat, thêm nhanh khoảng 20 mg đến 125 mg nari tartrat dihydrat (C4H4Na2O6.2H2O) được cân chính xác vào bình chuẩn độ và chuẩn độ đến điểm kết thúc. Hệ số đương lượng nước F, tính bằng mg nước/ml thuốc thử, được tính theo công thức:
F = (W/V) x (36,04/230,08)
Trong đó:
36,04: 2 lần phân tử lượng của nước
230,08: phân tử lượng của natri tartrat dihydrat
W (mg): khối lượng natri tartrat dihydrat chuẩn độ.
V (ml): thể tích thuốc thử tiêu thụ trong lần chuẩn độ thứ hai.
Chú ý: Do độ tan của natri tartrat dihydrat trong methanol chỉ có mức độ nên có thể cần bổ sung thêm methanol cho những lần chuẩn độ natri tartrat dihydrat tiếp theo.
Định lượng nước trong mẫu thử
Nếu không có chỉ dẫn khác trong chuyên luận riêng, cho methanol khan (TT) hoặc dung môi thích hợp khác vào bình chuẩn độ đủ ngập điện cực (khoảng 30 ml đến 40 ml) rồi chuẩn độ nước trong dung môi nếu có bằng thuốc thử tới điểm kết thúc phát hiện bằng phương pháp đo điện hay mắt thường. Bỏ qua thể tích thuốc thử tiêu thụ vì không sử dụng trong tính toán kết quả. Nhanh chóng thêm mẫu thử chuẩn bị như ở phần Chuẩn bị mẫu thử, khuấy hòa tan mẫu rồi chuẩn độ bằng thuốc thử tới điểm kết thúc phát hiện bằng đo điện hay mắt thường. Tính lượng nước X (tính bằng mg) có trong mẫu theo công thức:
X = SxF
trong đó:
S (ml): thể tích thuốc thử tiêu thụ trong lần chuẩn độ thứ hai.
F (mg/ml): hệ số đương lượng nước của thuốc thử.
Phương pháp chuẩn độ thừa trừ
Nguyên tắc
Nguyên tắc như phương pháp chuẩn độ trực tiếp. Trong chuẩn độ thừa trừ, một lượng dư thuốc thử được thêm vào mẫu thử, cần có đủ thời gian để phản ứng xảy ra hoàn toàn và phần thuốc thử còn thừa được chuẩn độ bằng một dung dịch nước chuẩn trong một dung môi như methanol. Quy trình chuẩn độ thừa trừ được áp dụng với các chất có nước trong phân tử chậm giải phóng khi chuẩn độ trực tiếp, gây kéo dài thời gian chuẫn độ và khó phát hiện điềm kết thúc.
Thiết bị, thuốc thử, chuẩn bị mẫu thử
Thực hiện như Phương pháp chuẩn độ trực tiếp
Chuẩn hóa dung dịch nước cho chuẩn độ thừa trừ
Chuẩn bị một dung dịch nước bằng cách pha loãng 2 ml nước với methanol khan (TT) hoặc dung môi thích hợp khác thành 1000 ml. Chuẩn hóa dung dịch này bằng cách lấy 25,0 ml chuẩn độ với thuốc thử đã được chuẩn hóa như hướng dẫn ở phần Xác định đương lượng nước của thuốc thử. Tính hàm lượng nước W, tính bằng mg/ml, của dung dịch nước chuẩn theo công thức sau:
W = VxF/25
Trong đó:
V (ml): thể tích thuốc thử tiêu thụ.
F (mg/ml): hệ số đương lượng nước của thuốc thử.
Xác định hàm lượng nước của dung dịch nước chuẩn hàng tuần, và chuẩn hóa thuốc thử dùng để xác định hàm lượng nước định kỳ theo yêu cầu.
Định lượng nước trong mẫu thử
Khi yêu cầu áp dụng phương pháp chuẩn độ thừa trừ được chỉ ra ở chuyên luận riêng, cho methanol khan (TT) hoặc dung môi thích hợp khác vào bình chuẩn độ sao cho đủ ngập điện cực (khoảng 30 ml đến 40 ml) rồi chuẩn độ bằng thuốc thử tới điểm kết thúc phát hiện bằng đo điện hay mắt thường. Thêm nhanh mẫu thử được chuẩn bị như ở phần Chuẩn bị mẫu thử, khuấy đều để hòa tan, rồi thêm một thể tích dư chính xác thuốc thử. Dành đủ thời gian để phản ứng xảy ra hoàn toàn, phần thuốc thử còn thừa được chuẩn độ bằng dung dịch nước chuẩn đến điểm kết thúc phát hiện bằng đo điện hay mắt thường. Tính hàm lượng nước A, tính theo mg, trong mẫu theo công thức sau:
A = FxV1-WxV2
Trong đó:
F (mg/ml): hệ số đương lượng nước của thuốc thử;
V1 (ml): thể tích thuốc thử dư thêm vào sau khi cho mẫu vào bình chuẩn độ;
V2 (ml): thể tích dung dịch nước chuẩn đã tiêu thụ để định lượng thuốc thử còn dư;
W (mg/ml): hàm lượng nước của dung dịch nước chuẩn tính được ở trên.
PHƯƠNG PHÁP 2 (Phương pháp chuẩn độ đo điện tích)
Nguyên tắc
Phương pháp chuẩn độ đo điện tích có nguyên tắc tương tự Phương pháp 1. Khác với Phương pháp 1, iod không được thêm vào trong dung dịch chuẩn độ mà được tạo ra bằng kỹ thuật điện hóa trong buồng phản ứng. Buồng phản ứng thường gồm một ngăn anod lớn và một ngăn cathod nhỏ được ngăn cách bằng một màng ngăn, có thể sử dụng các loại buồng phản ứng thích hợp khác, ví dụ loại không có màng ngăn. Mỗi ngăn có một điện cực platin dẫn dòng điện qua buồng phản ứng. lod tạo ra tại anod lập tức phản ứng với nước có mặt trong ngăn. Khi tất cả nước đã phản ứng hết, iod dư được phát hiện bằng đo điện, chỉ ra điểm kết thúc. Hơi ẩm trong hệ thống được loại bỏ bằng quá trình điện phân trước khi chuẩn độ.
Không cần thay dung dịch Karl Fischer sau mỗi lần chuẩn độ vì có thể thực hiện các lần chuẩn độ liên tiếp với cùng một dung dịch thuốc thử.
Phương pháp này yêu cầu mỗi thành phần trong mẫu thử phải tương thích với các thành phần khác và không xảy ra phản ứng phụ nào.
Mẫu dạng dung dịch thường được đưa vào buồng phản ứng bằng cách tiêm qua một màng ngăn. Mẫu dạng khí được đưa vào buồng phản ứng qua một ống dẫn khí phù hợp.
Độ chính xác của phương pháp chủ yếu phụ thuộc vào mức độ ngăn chặn sự xâm nhập độ ẩm từ một trường vào hệ thống. Vì thế, cần thận trọng khi đưa mẫu rắn vào buồng phản ứng, chẳng hạn phải thực hiện phép thử trong một hộp có lồng găng tay và trong môi trường khí trơ khô. Kiểm soát hệ thống bằng cách theo dõi độ trôi đường nền, tuy nhiên vẫn phải thực hiện hiệu chỉnh mẫu trắng khi có dùng dung môi để đưa mẫu vào hệ thống.
Phương pháp này đặc biệt phù hợp cho các chất trơ về hỏa học như hydrocarbon, alcol và ether. So sánh với chuẩn độ thể tích với thuốc thử Karl Fischer, phương pháp chuẩn độ đo điện tích là phương pháp vi phân tích.
Trong điều kiện thích hợp, có thể tách nước từ mẫu bằng cách làm nóng mẫu trong một buồng sấy ngoài, được kết nối với bình chuẩn độ và đẩy lượng hơi nước này vào buồng phản ứng bằng một khí mang trơ và khô như nitrogen tinh khiết, cần lưu ý và hiệu chỉnh độ trôi do khí mang đến kết quả của phép thử. Chú ý lựa chọn điều kiện làm nóng đề tránh tạo thành nước từ quá trình phân hủy mẫu, khi đó phương pháp này không còn phù hợp.
Thiết bị
Có thể sử dụng thiết bị sẵn có trên thị trường bao gồm một hệ thống kín tuyệt đối với các điện cực cần thiết và một bộ phận khuấy từ. Bộ vi xử lý của thiết bị kiểm soát quá trình phân tích và hiển thị kết quả. Hiệu chỉnh máy trước khi sử dụng là không cần thiết vì dòng điện tiêu thụ được đo bằng giá trị tuyệt đối.
Thuốc thử
Xem các khuyến cáo của nhà sản xuất.
Chuẩn bị mẫu thử
Với mẫu là chất rắn có thể hòa tan, cân chính xác một lượng mẫu thích hợp rồi hòa tan bằng methanol khan (TT) hoặc dung môi khan thích hợp khác.
Với mẫu là chất rắn không thể hòa tan, cân chính xác một lượng mẫu thích hợp rồi chiết bằng một dung môi khan thích hợp, tiêm dịch chiết vào ngăn anod. Hoặc có thể sử dụng kỹ thuật bay hơi để giải phỏng và làm bay hơi nước bằng cách làm nóng mẫu trong một ống có luồng khí trơ khô thổi qua, luồng khí sau đó được đưa vào buồng đo.
Với những mẫu không cần hòa tan, có thể cân chính xác một lượng mẫu thích hợp đưa trực tiếp vào buồng đo.
Với mẫu ở thể lỏng có thể trộn lẫn với methanol khan (TT) hay dung môi thích hợp khác bằng cách cân chính xác một lượng mẫu thích hợp và thêm một lượng dung môi phù hợp.
Định lượng nước trong mẫu thử
Dùng một dụng cụ khô để tiêm hay đưa trực tiếp một lượng cân chính xác mẫu hay mẫu đã được chuẩn bị ước tính có chứa từ 0,5 mg đến 5 mg nước hay theo khuyến cáo của nhà sản xuất thiết bị vào ngăn anod và tiến hành chuẩn độ đo điện tích, phát hiện điểm dừng bằng phương pháp đo điện. Đọc trực tiếp lượng nước có trong mẫu đem chuẩn độ được hiển thị trên thiết bị, tính toán hàm lượng phần trăm nước có trong mẫu. Tiến hành chuẩn độ mẫu trắng và hiệu chỉnh trong trường hợp cần thiết.
PHỤ LỤC 10.12 XÁC ĐỊNH HÀM LƯỢNG ETHANOL
Sử dụng phương pháp 1 hoặc phương pháp 2 trừ khi có chỉ dẫn khác trong chuyên luận riêng.
PHƯƠNG PHÁP 1
Tiến hành phương pháp sắc ký khí (Phụ lục 5.2), sử dụng các dung dịch sau:
Dung dịch (1): Dung dịch chứa 5,0 % (tt/tt) ethanol (TT) và 5,0 % (tt/tt) propanol (TT) (chuẩn nội) trong nước.
Dung dịch (2): Pha loãng một thể tích chể phẩm thử bằng nước để thu được dung dịch chứa từ 4,0 % đến 6,0 % (tt/tt) ethanol.
Dung dịch (3): Chuẩn bị như dung dịch (2) nhưng thêm vừa đủ chất chuẩn nội để thu được nồng độ cuối cùng của chuẩn nội trong dung dịch là 5,0 % (tt/tt).
Điều kiện sắc ký: Có thể áp dụng điều kiện sắc ký như sau:
Cột (1,5 m x 4 mm) đã nhồi hạt xốp polymer (100 mesh đến 120 mesh) (Porapak Q hoặc Chromosorb 101 là phù hợp).
Nhiệt độ cột: 150 °C.
Nhiệt độ buồng tiêm và detector: 170 °C.
Tính hàm lượng phần trăm ethanol dựa vào tỷ lệ diện tích pic ethanol so với pic chuẩn nội thu được trên sắc ký đồ của dung dịch (1) và dung dịch (3).
PHƯƠNG PHÁP 2
Với những chế phẩm được phép sử dụng cồn công nghiệp có chứa methanol, xác định hàm lượng ethanol giống như phương pháp 1 nhưng chuẩn bị dung dịch (2) bằng cách pha loãng một thể tích chế phầm thử với nước để thu được dung dịch có nồng độ tổng cộng của methanol và ethanol từ 4,0 % đến 6,0 % (tt/tt).
Xác định hàm lượng methanol bằng phương pháp sắc ký khí như đã mô tả ở phương pháp 1 nhưng chuẩn bị các dung dịch như sau:
Dung dịch (1): Dung dịch chứa 0,25 % (tt/tt) methanol (T) và 0,25 % (tt/tt) propanol (TT) (chuẩn nội) trong nước.
Dung dịch (2): Pha loãng một thể tích chế phẩm thử bằng nước để thu được dung dịch chứa từ 0,2 % đến 0,3 % (tt/tt) methanol.
Dung dịch (3): Chuẩn bị như dung dịch (2) nhưng thêm vừa đủ chất chuẩn nội để thu được nồng độ cuối cùng của chuẩn nội trong dung dịch này là 0,25 %.
Tổng lượng ethanol và methanol phải ở trong giới hạn quy định cho phép và tỷ số giữa lượng methanol và lượng ethanol tìm được phải tương ứng với tỷ lệ này của cồn công nghiệp có chứa methanol đã sử dụng.
PHƯƠNG PHÁP 3
Phương pháp này dùng cho những chế phẩm và các nguyên liệu dạng lỏng chứa ethanol.
Hàm lượng ethanol có trong một chất lỏng được biểu thị bằng số thể tích ethanol trong 100 thể tích chất lỏng đó ở 20 °C ± 0,1 °C và được hiểu là phần trăm ethanol tính theo thể tích/thể tích (tt/tt). Hàm lượng cũng có thể được biểu thị bằng gam ethanol trong 100 g chất lỏng và được hiểu là phần trăm ethanol tính theo khối lượng/khối lượng (kl/kl).
Phương pháp A
Phương pháp này dùng cho những chế phẩm có chứa các chất tan có khả năng phân tách khỏi ethanol khi chưng cất. Khi cất, nếu trong mẫu thử ngoài ethanol và nước còn có lẫn các chất bay hơi khác thì hướng dẫn thích hợp sẽ được quy định trong chuyên luận riêng.
Liên quan giữa tỷ trọng ở 20 °C ± 0,1 °C, tỷ trọng tương đối (đã hiệu chỉnh ở chân không) và hàm lượng ethanol của hỗn hợp nước và ethanol được ghi trong Bảng 10.12 - Liên quan giữa tỷ trọng, tỷ trọng tương đối và hàm lượng ethanol (Tham khảo theo Khuyến cáo Quốc tế số 22, Tổ chức Quốc tế về Đo lường hợp pháp (1972)).
Thiết bị
Thiết bị (Hình 10.12) bao gồm một bình cầu thủy tinh đáy tròn (A) gắn với một đầu cất có bộ phận bẫy hơi (B), bộ phận này được nối với một ống sinh hàn (C) đặt thẳng đứng. Tiếp theo là một ống dẫn (D) gắn vào phần dưới của ống sinh hàn để dẫn dịch cất vào bình hứng (là bình định mức dung tích 100 ml hoặc 250 ml). Trong suốt quá trình cất, bình hứng này được nhúng trong cốc (E) chứa hỗn hợp đá và nước đá. Một miếng lót đường kính 6 cm đặt dưới bình cất (A) để bảo vệ mẫu không bị cháy.

Hình 10.12- Dụng cụ để xác định hàm lượng ethanol (Kích thước tính bằng mm)
Phương pháp
Phương pháp pycnomet (Phụ lục 6.5)
Đong chính xác 25,0 ml chế phẩm ở 20 °C ± 0,1 °C chuyển vào bình cất. Thêm 100 ml đến 150 ml nước cất và vài hạt đá bọt. Lắp hệ thống chưng cất. Chưng cất và hứng ít nhất 90 ml dịch cất vào bình định mức 100 ml. Điều chỉnh nhiệt độ dịch cất tới 20 °C ± 0,1 °C, pha loãng thành 100 ml bằng nước cất ở 20 °C ± 0,1 °C. Xác định tỷ trọng tương đối ở 20 °C ± 0,1 °C bằng pycnomet.
Hàm lượng ethanol tính theo phần trăm tt/tt gấp 4 lần trị số chỉ ra trong cột 3 ở Bảng 10.12 - Liên quan giữa tỷ trọng, tỷ trọng tương đổi và hàm lượng ethanol. Biểu thị kết quả với một chữ số ở phần thập phân.
Phương pháp dùng tỷ trọng kế (Phụ lục 6.5)
Đong chính xác 50,0 ml chế phẩm ở 20 °C ± 0,1 °C chuyển vào bình cất. Thêm 200 ml đến 250 ml nước cất và vài hạt đá bọt. Lắp hệ thống chưng cất. Chưng cất và hứng ít nhất 180 ml dịch cất vào bình định mức 250 ml. Điều chỉnh nhiệt độ dịch cất tới 20 °C ± 0,1 °C; pha loãng thành 250 ml bằng nước cất ở 20 °C ± 0,1 °C.
Chuyển dịch cất vào một ống đong hình trụ có đường kính lớn hơn đường kính bầu của tỷ trọng kế ít nhất 6 mm. Nếu thể tích dịch cất không đủ, tăng gấp đôi lượng chế phẩm thử và pha loãng dịch cất thành 500,0 ml bằng nước cất ở 20 °C ± 0,1 °C.
Hàm lượng ethanol tính theo phần trăm tt/tt gấp 5 lần trị số chỉ ra trong cột 3 ở Bảng 10.12 - Liên quan giữa tỷ trọng, tỷ trọng tương đối và hàm lượng ethanol. Biểu thị kết quả với một chữ số ở phần thập phân.
Bảng 10.12 - Liên quan giữa tỷ trọng, tỷ trọng tương đối và hàm lượng ethanol
| ρ20 (kg·m-3) | Tỷ trọng tương đối của dịch cất đo trong không khí ở 20 °C
| Hàm lượng ethanol tính theo % (tt/tt) ở 20 °C | ρ20 (kg·m-3) | Tỷ trọng tương đối của dịch cất đo trong không khí ở 20 °C
| Hàm lượng ethanol tính theo % (tt/tt) ở 20 °C |
| - 1 | 2 | 3 | 1 | 2 | 3 |
| 968,0 | 0,9697 | 25,09 | 983,5 | 0,9853 | 11,02 |
| 968,5 | 0,9702 | 24,64 | 984,0 | 0,9858 | 10,60 |
| 969,0 | 0,9707 | 24,19 | 984,5 | 0,9863 | 10,18 |
| 969,5 | 0,9712 | 23,74 | 985,0 | 0,9868 | 9,76 |
| 970,0 | 0,9717 | 23,29 | 985,5 | 0,9873 | 9,35 |
| 970,5 | 0,9722 | 22,83 | 986,0 | 0,9878 | 8,94 |
| 971,0 | 0,9727 | 22,37 | 986,5 | 0,9883 | 8,53 |
| 971,5 | 0,9733 | 21,91 | 987,0 | 0,9888 | 8,13 |
| 972,0 | 0,9738 | 21,45 | 987,5 | 0,9893 | 7,73 |
| 972,5 | 0,9743 | 20,98 | 988,0 | 0,9898 | 7,34 |
| 973,0 | 0,9748 | 20,52 | 988,5 | 0,9903 | 6,95 |
| 973,5 | 0,9753 | 20,05 | 989,0 | 0,9908 | 6,56 |
| 974,0 | 0,9758 | 19,59 | 989,5 | 0,9913 | 6,17 |
| 974,5 | 0,9763 | 19,12 | 990,0 | 0,9918 | 5,79 |
| 975,0 | 0,9768 | 18,66 | 990,5 | 0,9923 | 5,42 |
| 975,5 | 0,9773 | 18,19 | 991,0 | 0,9928 | 5,04 |
| 976,0 | 0,9778 | 17,73 | 991,5 | 0,9933 | 4,67 |
| 976,5 | 0,9783 | 17,25 | 992,0 | 0,9938 | 4,30 |
| 977,0 | 0,9788 | 16,80 | 992,5 | 0,9943 | 3,94 |
| 977,5 | 0,9793 | 16,34 | 993,0 | 0,9948 | 3,58 |
| 978,0 | 0,9798 | 15,88 | 993,5 | 0,9953 | 3,22 |
| 978,5 | 0,9803 | 15,43 | 994,0 | 0,9958 | 2,86 |
| 979,0 | 0,9808 | 14,97 | 994,5 | 0,9963 | 2,51 |
| 979,5 | 0,9813 | 14,52 | 995,0 | 0,9968 | 2,16 |
| 980,0 | 0,9818 | 14,07 | 995,5 | 0,9973 | 1,82 |
| 980,5 | 0,9823 | 13,63 | 996,0 | 0,9978 | 1,47 |
| 981,0 | 0,9828 | 13,18 | 996,5 | 0,9983 | 1,13 |
| 981,5 | 0,9833 | 12,74 | 997,0 | 0,9988 | 0,80 |
| 982,0 | 0,9838 | 12,31 | 997,5 | 0,9993 | 0,46 |
| 982,5 | 0,9843 | 11,87 | 998,0 | 0,9998 | 0,13 |
| 983,0 | 0,9848 | 11,44 |
|
|
|
Phương pháp B
Phương pháp sắc ký khí tiêm pha hơi (head-space) (Phụ lục 5.2).
Dung dịch chuẩn nội: Pha loãng 1,0 ml propanol (TT1) thành 100,0 ml bằng nước. Pha loãng 1,0 ml dung dịch thu được thành 20,0 ml bằng nước.
Dung dịch thử: Pha loãng một thể tích thích hợp mẫu thử có chứa 0,4 g ethanol thành 50,0 ml bằng nước. Pha loãng 1,0 ml dung dịch thu được thành 20,0 ml bằng nước. Lấy 2,0 ml dung dịch thu được, thêm 1,0 ml dung dịch chuẩn nội và pha loãng thành 20,0 ml bằng nước. Chuyển 2,0 ml dung dịch thu được vào lọ tiêm mẫu.
Dung dịch đối chiếu (1): Pha loãng 5,0 ml ethanol (TT) thành 100,0 ml bằng nước. Pha loãng 25,0 ml dung dịch thu được thành 100,0 ml bằng nước. Tiếp tục pha loãng 1,0 ml dung dịch thu được thành 20,0 ml bằng nước.
Dung dịch đối chiếu (2): Trộn đều 0,5 ml dung dịch đối chiếu (1) và 1,0 ml dung dịch chuẩn nội và pha loằng thành 20,0 ml bằng nước. Chuyển 2,0 ml dung dịch thu được vào lọ tiêm mẫu.
Dung dịch đối chiếu (3): Trộn đều 1,0 ml dung dịch đối chiếu (1) và 1,0 ml dung dịch chuẩn nội và pha loãng thành 20,0 ml bằng nước. Chuyển 2,0 ml dung dịch thu được vào lọ tiêm mẫu.
Dung dịch đối chiếu (4): Trộn đều 1,5 ml dung dịch đối chiếu (1) và 1,0 ml dung dịch chuẩn nội và pha loãng thành 20,0 ml bằng nước. Chuyển 2,0 ml dung dịch thu được vào lọ tiêm mẫu.
Dung dịch đối chiếu (5): Pha loãng 1,0 ml methanol (TT2) thành 100,0 ml bằng nước. Pha loãng 1,0 ml dung dịch thu được thành 20,0 ml bằng nước.
Dung dịch đối chiếu (6): Trộn đều 1,0 ml dung dịch chuẩn nội, 2,0 ml dung dịch đối chiếu (1) và 2,0 ml dung dịch đối chiếu (5) và pha loãng thành 20,0 ml bằng nước. Chuyển 2,0 ml dung dịch thu được vào lọ tiêm mẫu.
(chú ý: Đậy ngay các lọ tiêm mẫu bằng nút cao su phủ polytetrafluoroetylen và cố định bằng nắp nhôm)
Điều kiện sắc ký:
Cột silica nung chảy (30 m x 0,53 mm) được phủ pha tĩnh cyanopropyl(3)phenyl(3)methyl(94)polysiloxan (độ dày phim 3 μm).
Khí mang: Heli dùng cho sắc ký.
Tỷ lệ chia dòng: 1 : 50.
Tốc độ dòng: 3 ml/min.
Điều kiện tiêm pha hơi tĩnh như sau: nhiệt độ cân bằng 85 °C, thời gian cân bằng 20 min.
Nhiệt độ:

Detector ion hóa ngọn lửa.
Thể tích tiêm: 1,0 ml pha hơi của các dung dịch thử, dung dịch đối chiếu (2), (3), (4) và (6), mỗi dung dịch ít nhất 3 lần.
Thứ tự rửa giải: Methanol, ethanol, propanol.
Thời gian lưu tương đối so với ethanol (thời gian lưu khoảng 5,3 min): methanol khoảng 0,8, propanol khoảng 1,6.
Kiểm tra tính phù hợp của hệ thống: Trên sắc ký đồ của dung dịch đối chiếu (6), độ phân giải giữa pic methanol và pic ethanol ít nhất là 5.
Lập đường chuẩn với trục hoành là nồng độ ethanol trong các dung dịch đối chiếu (2), (3), (4) và (6) và trục tung là tỷ lệ trung bình giữa diện tích pic ethanol với diện tích pic chuẩn nội trong sắc ký đồ của các dung dịch đối chiếu tương ứng.
Tính hàm lượng phần trăm của ethanol trong chế phẩm cần kiểm tra dựa vào đường chuẩn lập được.
Phương pháp C
Phương pháp sắc ký khí (Phụ lục 5.2).
Dung dịch chuẩn nội: Pha loãng 1,0 ml propanol (TT1) thành 100,0 ml bằng nước.
Dung dịch thử: Pha loãng một thể tích thích hợp mẫu thử có chứa 1 g ethanol thành 50,0 ml bằng nước. Lấy 1,0 ml dung dịch thu được, thêm 1,0 ml dung dịch chuẩn nội và pha loãng thành 20,0 ml bằng nước.
Dung dịch đối chiếu (1): Pha loãng 1,0 ml ethanol (TT) thành 50,0 ml bằng nước.
Dung dịch đối chiếu (2): Pha loãng 1,0 ml methanol (TT2) thành 100,0 ml bằng nước. Pha loãng 1,0 ml dung dịch thu được thành 20,0 ml bằng nước.
Dung dịch đối chiếu (3): Trộn đều 1,0 ml dung dịch chuẩn nội, 1,0 ml dung dịch đối chiếu (1) và 2,0 ml dung dịch đối chiếu (2) và pha loãng thành 20,0 ml bằng nước.
Điều kiện sắc ký:
Cột silica nung chảy (30 m x 0,53 mm) được phủ pha tĩnh cyanopropyl(3)phenyl(3)methyl(94)polysiloxan (độ dày phim 3 μm).
Khí mang: Heli dùng cho sắc ký.
Tỷ lệ chia dòng: 1 : 50.
Tốc độ dòng: 3 ml/min.
Nhiệt độ:

Detector ion hóa ngọn lửa.
Thể tích tiêm: 1,0 μl dung dịch thử, dung dịch đối chiếu (3), mỗi dung dịch ít nhất 3 lần.
Thứ tự rửa giải: methanol, ethanol, propanol.
Thời gian lưu tương đổi so với ethanol (thời gian lưu khoảng 5,3 min): methanol khoảng 0,8, propanol khoảng 1,6.
Kiểm tra tính phù hợp của hệ thống: Trên sắc ký đồ của dung dịch đối chiếu (3), độ phân giải giữa pic methanol và pic ethanol ít nhất là 5.
Tính hàm lượng phần trăm ethanol (tt/tt) có trong chế phẩm thử theo công thức sau:

Trong đó:
A1, A2 lần lượt là diện tích pic ethanol thu được trên sắc ký đồ của dung dịch thử và dung dịch đối chiếu (3).
l1, I2 lần lượt là diện tích pic chuẩn nội thu được trên sắc ký đồ của dung dịch thử và dung dịch đối chiếu (3).
V1 là thể tích của mẫu thử trong dung dịch thử (ml).
PHỤ LỤC 10.13 XÁC ĐỊNH HÀM LƯỢNG METHANOL VÀ PROPAN-2-OL
Phương pháp A
Phương pháp sắc ký khí tiêm pha hơi (head-space) (Phụ lục 5.2).
Dung dịch chuẩn nội: Pha loãng 1,0 ml propanol (TT1) thành 100,0 ml bằng nước. Pha loãng 1,0 ml dung dịch thu được thành 20,0 ml bằng nước.
Dung dịch thử. Trộn đều 1,0 ml dung dịch chuẩn nội và 4,0 ml mẫu thử và pha loãng thành 20,0 ml bằng nước. Chuyển 2,0 ml dung dịch thu được vào lọ tiêm mẫu.
Dung dịch đối chiếu (1): Trộn đều 1,0 ml methanol (TT2) và 1,0 ml propan-2-ol (TT2) và pha loãng thành 100,0 ml bằng nước. Pha loãng 1,0 ml dung dịch thu được thành 20,0 ml bằng nước.
Dung dịch đối chiếu (2): Pha loãng 5,0 ml ethanol (TT) thành 100,0 ml bằng nước. Pha loãng 25,0 ml dung dịch thu được thành 100,0 ml bằng nước. Pha loãng 1,0 ml dung dịch thu được thành 20,0 ml bằng nước.
Dung dịch đối chiếu (3): Trộn đều1,0 ml dung dịch chuẩn nội, 2,0 ml dung dịch đối chiếu (1) và 2,0 ml dung dịch đối chiếu (2) và pha loãng thành 20,0 ml bằng nước. Chuyển 2,0 ml dung dịch thu được vào lọ tiêm mẫu.
(chú ý: Đậy ngay các lọ tiêm mẫu bằng nút cao su phủ polytetrafluoroetylen và cố định bằng nắp nhôm)
Điều kiện sắc ký:
Cột silica nung chảy (30 m x 0,53 mm) được phủ pha tĩnh cyanopropyl(3)phenyl(3)methyl(94)polysiloxan (độ dày phim 3 μm).
Khí mang: Heli dùng cho sắc ký.
Tỷ lệ chia dòng: 1 : 50.
Tốc độ dòng: 3 ml/min.
Điều kiện tiêm pha hơi tĩnh như sau: nhiệt độ cân bằng 85 °C, thời gian cân bằng 20 min.
Nhiệt độ:

Detector ion hóa ngọn lửa.
Thể tích tiêm: 1,0 ml pha hơi của các dung dịch thử, dung dịch đối chiếu (3), mỗi dung dịch ít nhất 3 lần.
Thứ tự rửa giải: Methanol, ethanol, propan-2-ol, propanol.
Thời gian lưu tương đối so với ethanol (thời gian lưu khoảng 5,3 min): methanol khoảng 0,8; propan-2-ol khoảng 1,2; propanol khoảng 1,6.
Kiểm tra tính phù hợp của hệ thống: Trên sắc ký đồ của dung dịch đối chiếu (3), độ phân giải giữa pic methanol và pic ethanol ít nhất là 5.
Tính phần trăm thể tích/thể tích của methanol (hoặc propan-2-ol) có trong chế phẩm thử theo công íhức sau:
![]()
Trong đó:
A1, A2 lần lượt là diện tích pic methanol (hoặc propan-2-ol) thu được trên sắc ký đồ của dung dịch thử và dung dịch đối chiếu (3).
I1, I2 lần lượt là diện tích pic chuẩn nội thu được trên sắc ký đồ của dung dịch thử và dung dịch đối chiếu (3).
Phương pháp B
Phương pháp sắc ký khí (Phụ lục 5.2).
Dung dịch chuẩn nội: Pha loãng 1,0 ml propanol (TT1) thành 100,0 ml bằng nước.
Dung dịch thử. Trộn đều 1,0 ml dung dịch chuẩn nội và 4,0 ml mẫu thử và pha loãng thành 20,0 ml bằng nước.
Dung dịch đối chiếu (1): Trộn đều 1,0 ml methanol (TT1) và 1,0 ml propan-2-ol (TT2) và pha loãng thành 100,0 ml bằng nước. Pha loãng 1,0 ml dung dịch thu được thành 20,0 ml bằng nước.
Dung dịch đối chiếu (2): Pha loãng 1,0 ml ethanol (TT) thành 50,0 ml bằng nước.
Dung dịch đối chiếu (3): Trộn đều 1,0 ml dung dịch chuẩn nội, 1,0 ml dung dịch đối chiếu (2) và 2,0 ml dung dịch đối chiếu (1) và pha loãng thành 20,0 ml bằng nước.
Điều kiện sắc ký:
Cột silica nung chảy (30 m x 0,53 mm) được phủ pha tĩnh cyanopropyl(3)phenyl(3)methyl(94) polysiloxan (độ dày phim 3 μm).
Khí mang: Heli dùng cho sắc ký.
Tỷ lệ chia dòng: 1 : 50.
Tốc độ dòng: 3 ml/min.
Nhiệt độ:

Detector ion hóa ngọn lửa.
Thể tích tiêm: 1,0 μl dung dịch thử, dung dịch đổi chiếu (3), mỗi dung dịch ít nhất 3 lần.
Thứ tự rửa giải: Methanol, ethanol, propan-2-ol, propanol.
Thời gian lưu tương đối so với ethanol (thời gian lưu khoảng 5,3 min): methanol khoảng 0,8; propan-2-ol khoảng 1,2; propanol khoảng 1,6.
Kiểm tra tính phù hợp của hệ thống: Trên sắc ký đồ của dung dịch đối chiếu (3), độ phân giải giữa pic methanol và pic ethanol ít nhất là 5.
Tính phần trăm thể tích/thể tích của methanol (hoặc propan-2-ol) có trong chế phẩm thử theo công thức sau:
![]()
Trong đó:
A1, A2 lần lượt là diện tích pic methanol (hoặc propan-2-ol) thu được trên sắc ký đồ của dung dịch thử và dung dịch đối chiếu (3).
I1, l2 lần lượt là diện tích pic chuẩn nội thu được trên sắc ký đồ của dung dịch thử và dung dịch đối chiếu (3).
PHỤ LỤC 10.14 XÁC ĐỊNH DUNG MÔI TỒN DƯ
Quy trình mô tả trong phụ lục này được áp dụng để xác định dung môi tồn dư trong các trường hợp:
1. Định tính dung môi nhóm 1 và dung môi nhóm 2 tồn dư trong dược chất, tá dược, hay dược phẩm;
2. Thử giới hạn dung môi nhóm 1 và dung môi nhóm 2 khi chúng tồn tại trong dược chất, tá dược, hay dược phẩm;
3. Định lượng dung môi nhóm 2 khi lượng tồn dư lớn hơn 1000 ppm (0,1 %) hoặc định lượng dung môi nhóm 3 tồn dư khi có yêu cầu.
Các dung môi tồn dư nhóm 1, nhóm 2, nhóm 3 được liệt kê tại các bảng trong Phụ lục 10.14.1 Quy định đối với tạp chất là dung môi tồn dư.
Chuyên luận này giới thiệu 3 cách pha mẫu thử và các điều kiện kỹ thuật tiêm pha hơi các mẫu thử hóa hơi lên hệ thống sắc ký khí. Sử dụng hai hệ sắc ký, hệ sắc ký A thường được chọn trước, còn hệ sắc ký B thường được dùng để củng cố kết quả phát hiện. Việc chọn cách pha mẫu thử tùy thuộc vào độ tan của mẫu thử. Trong một số ít trường hợp cách pha mẫu tùy thuộc dung môi tồn dư cần kiểm tra. Các dung môi tồn dư sau đây không dễ dàng phát hiện được bằng các điều kiện tiêm pha hơi ghi trong chuyên luận này: formamid, 2-ethoxyethanol, 2-methoxyethanol, ethylen glycol, N-methylpyrrolidon và sulfolan. Phải áp dụng các qui tr\ình khác thích hợp để kiểm tra sự tồn dư của các dung môi trên.
Khi dùng qui trình của chuyên luận này để định lượng các dung môi tồn dư, phải tiến hành thẩm định qui trình.
TIẾN HÀNH
Thực nghiệm bằng phương pháp sắc ký khí (Phụ lục 5.2) với kỹ thuật tiêm pha hơi tĩnh (static head- space injection).
Pha mẫu thử
Cách 1: Dùng để kiểm tra dung môi tồn dư trong các chất tan trong nước.
Dung dịch mẫu thử (1): Hòa tan 0,200 g mẫu thử trong nước và pha loãng thành 20,0 ml với nước.
Cách 2: Dùng để kiểm tra dung môi tồn dư trong các chất không tan trong nước.
Dung dịch mẫu thử (2): Hòa tan 0,200 g mẫu thử trong N,N-dimethylformamid (DMF) (TT) và pha loãng thành 20,0 ml với cùng dung môi.
Cách 3: Dùng để kiểm tra N,N-dimethylacetamid và/hoặc N,N-dimethylformamid khi biết rõ hoặc nghi ngờ có một hoặc cả hai dung môi này tồn dư trong mẫu thử.
Dung dịch mẫu thử (3): Hòa tan 0,200 g mẫu thử trong 1,3-dimethyl-2-imidazolidinon (DMI) và pha loãng thành 20,0 ml với cùng dung môi.
Khi không có cách pha mẫu nào nêu trên phù hợp với mẫu thử, thì cách pha mẫu thử và điều kiện tiêm pha hơi tĩnh áp dụng phải được chứng minh là phù hợp.
Dung dịch dung môi (a): Hòa tan 1,0 ml dung dịch dung môi tồn dư nhóm 1 chuẩn trong 9 ml dimethyl sulfoxid (TT) và pha loãng thành 100,0 ml với nước. Pha loãng 1,0 ml dung dịch thu được thành 100,0 ml với nước. Tiếp tục pha loãng 1,0 ml dung dịch thu được thành 10,0 ml với nước.
Các dung dịch đối chiếu pha tương ứng với các giới hạn sau: benzen 2 ppm; carbon tetraclorid 4 ppm; 1,2-dicloroethan 5 ppm; 1,1-dicloroethen 8 ppm; 1,1,1-tricloroethan 10 ppm.
Dung dịch dung môi (b): Hòa tan một lượng thích hợp dung môi tồn dư nhóm 2 trong dimethyl sulfoxid (TT) và pha loãng thành 100,0 ml với cùng dung môi. Tiếp tục pha loãng với nước để thu được dung dịch có nồng độ bằng 1/20 giới hạn quy định tại Bảng 10.14.1-2 trong Phụ lục 10.14.1 Quy định đối với tạp chất là dung môi tồn dư.
Dung dịch dung môi (c): Hòa tan 1,00 g dung môi hoặc các dung môi có trong mẫu thử với dimethyl sulfoxid (TT) hoặc nước (nếu thích hợp) và pha loãng thành 100,0 ml với nước. Tiếp tục pha loãng với nước để thu được dung dịch có nồng độ bằng 1/20 giới hạn quy định tại Bảng 10.14.1-1 hoặc Bảng 10.14.1-2. trong Phụ lục 10.14.1 Quy định đối với tạp chất là dung môi tồn dư.
Dung dịch mẫu trắng: Chuẩn bị như cách pha dung dịch dung môi (c) nhưng không thêm dung môi cần xác định (để kiểm tra pic nhiễu).
Dung dịch thử: Lấy 5,0 ml dung dịch mẫu thử và 1,0 ml dung dịch mẫu trắng cho vào một lọ đựng mẫu tiêm.
Dung dịch đối chiếu (a) (nhóm 1): Lấy 1,0 ml dung dịch dung môi (a) và 5,0 ml chất pha loãng thích hợp vào một lọ đựng mẫu tiêm.
Dung dịch đối chiếu (a1) (nhóm 1): Lấy 1,0 ml dung dịch dung môi (a) và 5,0 ml dung dịch mẫu thử vào một lọ đựng mẫu tiêm.
Dung dịch đối chiếu (b) (nhóm 2): Lấy 1,0 ml dung dịch dung môi (b) và 5,0 ml chat pha loãng thích hợp vào một lọ đựng mẫu tiêm.
Dung dịch đối chiếu (c): Lấy 1,0 ml dung dịch dung môi (c) và 5,0 ml dung dịch mẫu thử vào một lọ đựng mẫu tiêm.
Dung dịch đối chiếu (d): Lấy 1,0 ml dung dịch mẫu trắng và 5,0 ml chất pha loãng thích hợp vào một lọ đựng mẫu tiêm.
Đóng kín các lọ đụng mẫu tiêm nói trên bằng nút cao su có bao lớp polytetrafluoroethylen và giữ bởi một vòng chụp ngoài bằng nhôm. Lắc mạnh để có một dung dịch đồng nhất
Các điều kiện tiêm pha hơi tĩnh có thể dùng:
| Thông số hoạt động | Cách pha mẫu | ||
|
| 1 | 2 | 3 |
| Nhiệt độ cân bằng (°C) | 80 | 105 | 80 |
| Thời gian cân bằng (min) | 60 | 45 | 45 |
| Nhiệt độ dồng chảy (°C) | 85 | 110 | 105 |
| Khí mang | Nitrogen hoặc heli dùng cho sắc ký khí ở áp suất thích hợp | ||
| Thời gian điều áp (s) | 30 | 30 | 30 |
| Thể tích tiêm (ml) | 1 | 1 | 1 |
Điều kiện sắc ký
Hệ sắc ký A
Cột mao quản silica nung chảy hoặc cột có nòng rỗng, dài 30 m, đường kính trong 0,32 mm hoặc 0,53 mm được phủ bằng cyanopropyl(3)phenyl(3)methyl(94)polysiloxan (dày 1,8 μm hoặc 3 μm).
Khí mang: Nitrogen dùng cho sắc ký khí hoặc heli dùng cho sắc ký khí, tỷ lệ chia dòng 1 : 5, tốc độ dòng khoảng 35 cm/s.
Detector ion hóa ngọn lửa [có thể dùng detector khối phổ hoặc để phát hiện dung môi tồn dư nhóm 1 ở dạng hợp chất clor hóa có thể dùng detector thu (bắt) điện tử].
Duy trì nhiệt độ cột ở 40 °C, trong 20 min, sau đó gia tăng nhiệt độ với tốc độ 10 °C/min cho đến khi đạt 240 °C, giữ ở 240 °C trong 20 min. Nhiệt độ buồng tiêm 140 °C, nhiệt độ detector 250 °C.
Khi có ảnh hưởng của nền mẫu, sử dụng hệ sắc ký sau:
Hệ sắc ký B
Cột mao quản silica nung chảy hoặc cột có nòng rỗng, dài 30 m, đường kính trong 0,32 mm hoặc 0,53 mm, được phủ macrogol 20 000 (dày 0,25 μm).
Khí mang: Nitrogen dùng cho sắc ký khí hoặc heli dùng cho sắc ký khỉ, tỷ lệ chia dòng 1 : 5, tốc độ dòng khoảng 35 cm/s.
Detector ion hóa ngọn lửa [có thể dùng detector khối phổ hoặc để phát hiện dung môi tồn dư nhóm 1 ở dạng hợp chất clor hóa có thể dùng detector thu (bắt) điện tử].
Duy trì nhiệt độ cột ở 50 °C trong 20 min, sau đó gia tăng nhiệt độ với tốc độ 6 °C/min cho đến khi đạt 165 °C. Giữ ở 165 °Ctrong 20 min. Nhiệt độ buồng tiêm ở 140 °C, nhiệt độ detector ở 250 °C.
Phân tích trên hệ A
Tiêm 1 ml pha hơi của dung dịch đối chiếu (a), ghi sắc ký đồ ở các điều kiện sao cho có thể xác định được tỷ lệ tín hiệu/nhiễu của 1,1,1-tricloroethan. Tỷ lệ tín hiệu/nhiễu của 1,1,1-tricloroethan không được nhỏ hơn 5; xem sắc ký đồ tại Hình 10.14.1.
Tiêm 1 ml pha hơi của dung dịch đối chiếu (a1). Pic của các dung môi nhóm 1 thường được phát hiện. Tiêm 1 ml pha hơi của dung dịch đối chiếu (b), ghi sắc ký đồ ở các điều kiện sao cho hệ số phân giải giữa acetonitril và dicloromethan có thể xác định được. Hệ sắc ký A sẽ thích hợp nếu hệ số phân giải giữa acetonitril và dicloromethan không nhỏ hơn 1,0 và sắc ký đồ có dạng như Hình 10.14.2.
Tiêm 1 ml pha hơi của dung dịch thử lên cột phân tích của hệ A. Nếu sắc ký đồ thu được không có pic nào tương ứng với một trong các pic của những dung môi tồn dư trong sắc ký đồ cho bởi các dung dịch đối chiếu (a) và (b) thì mẫu thử đạt yêu cầu. Nếu sắc ký đồ của mẫu thử có pic tương ứng với pic của một trong những dung môi tồn dư trong sắc ký đồ cho bởi các dung dịch đối chiếu (a) và (b), thì phải tiếp tục phân tích trên hệ B.
Phân tích trên hệ B
Tiêm 1 ml pha hơi của dung dịch đối chiếu (a) ghi sắc ký đồ ở các điều kiện sao cho có thể xác định được tỷ lệ tín hiệu/nhiễu của benzen. Tỷ lệ tín hiệu/nhiễu của benzen không được nhỏ hơn 5. Xem sắc ký đo tại Hình 10.14.3.
Tiêm 1 ml pha hơi của dung dịch đối chiếu (a1). Pic của các dung môi nhóm 1 thường được phát hiện. Tiêm 1 ml pha hơi của dung dịch đối chiếu (b), ghi sắc ký đồ ở các điều kiện sao cho hệ số phân giải giữa acetonitril và 1,1,2-tricloroethen có thể xác định được. Hệ sắc ký B sẽ thích hợp nếu hệ số phân giải giữa acetonitril và 1,1,2-tricloroethen không nhỏ hơn 1,0 và sắc ký đồ có dạng như Hình 10.14.4.
Tiêm 1 ml pha hơi của dung dịch thử. Nếu sắc ký đồ thu được không có pic nào tương ứng với một trong các pic của dung môi tồn dư trong sắc ký đồ cho bởi các dung dịch đối chiếu (a) và (b) thì mẫu thử đạt yêu cầu. Nếu sắc ký đồ của mẫu thử có pic tương ứng với một trong những pic của dung môi tồn dư trong sắc ký đồ cho bởi các dung dịch đối chiếu (a) và (b) và phù hợp với kết quả phân tích trên hệ A thì tiến hành như sau:
Tiêm 1 ml pha hơi của dung dịch đối chiếu (c) lên cột phân tích của hệ A hoặc hệ B. Điều chỉnh độ nhạy của hệ thống sao cho chiều cao của pic dung môi tồn dư (hay của các dung môi tồn dư) không dưới 50 % của thang đo.
Tiêm 1 ml pha hơi của dung dịch đối chiếu (d) lên cột. Phải không có pic nhiễu nào được phát hiện. Tiêm 1 ml pha hơi của dung dịch thử và 1 ml pha hơi của dung dịch đối chiếu (c) lên cột. Tiêm lặp lại 2 lần nữa.
Diện tích pic trung bình của dung môi tồn dư trong sắc ký đồ của dung dịch thử không được lớn hơn 1/2 diện tích trung bình của pic tương ứng trong sắc ký đồ của dung dịch đối chiếu (c). Thử nghiệm chỉ có giá trị nếu độ lệch chuẩn tương đối của các hiệu số giữa ba cặp diện tích pic của chất phân tích thu được từ dung dịch đối chiếu (c) và dung dịch thử nhỏ hơn 15 %.
Sơ đồ quy trình được thể hiện trong Hình 10.14.5 - Sơ đồ các bước tiến hành định tính và thử giới hạn các dung môi tồn dư.
Khi hàm lượng dung môi tồn dư thuộc nhóm 2 hoặc nhóm 3 ở mức 0,1 % hoặc lớn hơn thì có thể tiến hành định lượng bằng phương pháp thêm chuẩn.

| 1. 1,1-dicloroethylen | 3. carbon tetraclorid | 5. 1,2-dicloroethan |
| 2. 1,1,1-tricloroethan | 4. Benzen |
|
Hình 10.14.1 - Sắc ký đồ các dung môi nhóm 1 phân tích trên hệ thống A sử dụng detector ion hóa ngọn lửa

| 1. methanol | 8. cloroform | 15. methylisobutylketon | 19. xylen mix |
| 2. acetonitril | 9. cyclohexan | 16. toluen | a. ethylbenzen |
| 3. dicloromethan | 10. 1,2-dimethoxyethan | 17. methylbutylketon | b. p-xylen |
| 4. hexan | 11. 1,1,2-tricloroethen | 18. clorobenzen | c. m-xylen |
| 5.1,2-dicloroethen | 12. methylcyclohexan | 20. cumen | d. o-xylen |
| 6. nitromethan | 13.1,4-dioxan | 21. tetralin |
|
| 7. tetrahydrofuran | 14. pyridin |
|
|
Hình 10.14.2 - Sắc ký đồ các dung môi nhóm 2 (dung dịch dung môi (b)) phân tích trên hệ thống A sử dụng detector ion hóa ngọn lửa

| 1. 1,1-dicloroethylen | 3. carbon tetraclorid | 5. 1,2-dicloroethan |
| 2. 1,1,1-tricloroethan | 4. Benzen |
|
Hình 10.14.3 - Sắc ký đồ các dung môi nhóm 1 phân tích trên hệ thống B sử dụng detector ion hóa ngọn lửa

| 1. methanol | 8. cloroform | 15. methylisobutylketon | 19. xylen mix |
| 2. acetonitril | 9. cyclohexan | 16. toluen | a. ethylbenzen |
| 3. dicloromethan | 10. 1,2-dimethoxyethan | 17. methylbutylketon | b. p-xylen |
| 4.hexan | 11. 1,1,2-tricloroethen | 18. clorobenzen | c. m-xylen |
| 5.1,2-dicloroethen | 12. methylcyclohexan | 20. cumen | d. o-xylen |
| 6. nitromethan | 13. 1,4-dioxan | 21. tetralin (tR = 27 min) |
|
| 7. tetrahydrofuran | 14. pyridin |
|
|
Hình 10.14.4 - Sắc ký đồ các dung môi nhóm 2 (dung dịch dung môi (b)) phân tích trên hệ thống B sử dụng detector ion hóa ngọn lửa

Hình 10.14.5 - Sơ đồ các bước tiến hành định tính và thử giới hạn các dung môi tồn dư
10.14.1 QUY ĐỊNH ĐỐI VỚI TẠP CHẤT LÀ DUNG MÔI TỒN DƯ
(Theo tài liệu CPMP/ICH/82260/2006)
1. MỞ ĐẦU
Mục tiêu của Quy định này là đề ra lượng dung môi cho phép tồn dư trong dược phẩm, nhằm bảo đảm sự an toàn của người bệnh. Quy định khuyến cáo dùng các dung môi ít độc và đưa ra những giới hạn độc tính có thể chấp nhận được đối với một số dung môi.
Dung môi tồn dư trong dược phẩm là các chất hữu cơ bay hơi, được sử dụng hoặc sinh ra trong quá trình sản xuất các dược chất, tá dược hoặc trong quá trình bào chế các dược phẩm. Các dung môi này không loại bỏ được hoàn toàn trong quá trình sản xuất. Sự chọn lọc dung môi thích hợp dùng trong tổng hợp các dược chất có thể nâng cao sản lượng hoặc quyết định các đặc tính như dạng tinh thể, độ tinh khiết, độ tan của sản phẩm. Vì vậy, đôi khi dung môi là một yếu tố quyết định trong quy trình tổng hợp.
Quy định này không đề cập đến các dung môi dùng với vai trò tá dược hoặc các solvat.
Tuy nhiên hàm lượng dung môi trong các sản phẩm loại này phải được xác định và chứng minh hợp lý. Vì các dung môi tồn dư không có tác dụng điều trị, các dung môi này phải được loại bỏ đến mức tối đa để đạt được các yêu cầu kỹ thuật của sản phẩm, việc thực hành tốt sản xuất (GMP) hoặc các yêu cầu chất lượng khác. Dược phẩm phải chứa một mức dung môi tồn dư không được cao hơn các dữ liệu an toàn.
Phải tránh dùng dung môi Nhóm 1 (Bảng 10.14.1-1), trừ khi đánh giá lợi ích của việc sử dụng chúng được xác định ưu việt hơn hẳn các nguy cơ. Các dung môi Nhóm 2 (Bảng 10.14.1-2) có độc tính ít nguy hiểm hơn cũng phải dùng hạn chế, để bảo vệ người bệnh khỏi nguy cơ tác dụng có hại. Tốt nhất là dùng các dung môi Nhóm 3 ít độc (Bảng 10.14.1-3).
Danh sách các dung môi này không đầy đủ, các dung môi khác có thể được sử dụng và sẽ được tiếp tục bổ sung. Giới hạn khuyến nghị của dung môi Nhóm 1 và Nhóm 2 hoặc phân loại dung môi có thể thay đổi khi có thêm dữ liệu an toàn mới.
Dữ liệu an toàn của một sản phẩm thuốc mới chứa dung môi mới có thể dựa trên hướng dẫn này hoặc hướng dẫn ICH Q3A - Tạp chất trong hoạt chất mới hoặc ICH Q3B - Tạp chất trong sản phẩm thuốc mới, hoặc cả ba hướng dẫn.
2. PHẠM VI ÁP DỤNG
Các dung môi tồn dư trong dược chất, tá dược và dược phẩm thuộc phạm vi áp dụng của quy định này. Vì thế phải thực hiện phép thử tìm dung môi tồn dư trong quá trình sản xuất hay tinh chế để kiểm soát sự hiện diện của chúng. Chỉ cần kiểm tra đối với các dung môi đã được sử dụng hay được sản sinh ra trong quá trình sản xuất hoặc tinh chế các dược chất, tá dược hoặc dược phẩm đó. Mặc dù các nhà sản xuất có thể chọn phương pháp xác định hàm lượng dung môi tồn dư trong sản phẩm, ta vẫn có thể tính hàm lượng đó, đi từ hàm lượng dung môi tồn dư trong các thành phần dùng để sản xuất ra sản phẩm đó. Nếu kết quả tính toán bằng hoặc thấp hơn giới hạn cho phép đã được khuyến cáo trong quy định này, thì không cần tiến hành thí nghiệm trên sản phẩm. Trái lại, nếu kết quả tính được vượt mức giới hạn cho phép, sản phẩm phải được thử nghiệm để biết chắc chắn lượng tồn dư dung môi đó có nằm trong phạm vi cho phép không. Sản phẩm cũng phải được thử nghiệm nếu dùng dung môi trong quá trình sản xuất.
Quy trình này không áp dụng cho dược chất, tá dược hoặc sản phẩm mới đang trong giai đoạn nghiên cứu lâm sàng và cũng không áp dụng cho các dược phẩm đang được lưu hành trên thị trường.
Quy định này áp dụng cho mọi dạng bào chế và mọi đường dùng thuốc. Trong một vài trường hợp, có thể cho phép giới hạn dung môi tồn dư cao hơn như khi dùng trong thời gian ngắn (30 ngày hay ít hơn), hoặc với dạng thuốc dùng tại chỗ. Việc chứng minh sự đúng đắn của giới hạn cao này phải dựa trên cơ sở của từng trường hợp.
Xem Chú thích 2 (ở bên dưới) để biết thêm thông tin cơ bản có liên quan tới các dung môi tồn dư.
3. CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN
3.1 Phân loại dung mỗi tồn dư theo mức độ nguy hiểm
Thuật ngữ “liều có thể dung nạp được cho mỗi ngày” (tolerable daily intake, TDI) được Chương trình quốc tế về an toàn hóa chất (IPCS) sử dụng và thuật ngữ “liều có thể dùng mỗi ngày” (acceptable daily intake, ADI) được Tổ chức Y tế Thế giới, các Viện và các cơ quan quản lý sức khỏe quốc gia và quốc tế khác sử dụng để chỉ giới hạn hàm lượng các hóa chất độc có thể dùng mỗi ngày.
Thuật ngữ mới “liều phơi nhiễm được phép mỗi ngày” (permitted daily exposure, PDE) được nêu trong Quy định này là một lượng dung môi tồn dư trong dược phẩm có thể đưa vào cơ thể, để tránh nhầm với liều ADI của cùng dung môi.
Các dung môi tồn dư ghi trong Quy định này được liệt kê ở Chú thích 1 Danh sách các dung môi theo tên thông thường và cấu trúc của chúng. Các dung môi này được phân làm 3 nhóm, tùy thuộc khả năng gây độc đối với sức khỏe con người, như sau:
Nhóm 1: Các dung môi phải tránh sử dụng
Các chất gây ung thư cho người hay có khả năng gây ung thư cho người rõ rệt. Các chất gây nhiễm độc môi trường.
Nhóm 2: Các dung môi phải hạn chế sử dụng
Các chất gây ung thư trên động vật, không độc cho gen hoặc các tác nhân có thể gây độc không hồi phục như độc tính trên thần kinh hoặc gây quái thai. Các dung môi nghi có độc tính đáng kể, nhưng hồi phục được.
Nhóm 3: Các dung môi độc tính thấp
Các dung môi có độc tính thấp trên người: Không cần xác định liều gây tác hại cho sức khỏe.
Các dung môi Nhóm 3 có liều phơi nhiễm được phép mỗi ngày (PDE) bằng hoặc lớn hơn 50 mg/ngày.
3.2 Phương pháp xác định giới hạn phơi nhiễm
Phương pháp dùng để xác định liều PDE của các dung môi tồn dư được giới thiệu trong Chú thích 3. Tóm tắt các dữ liệu về độc tính dùng để thiết lập PDE được công bố trong Pharmeuropa Vol 1, No 1, Supplement April/1997.
3.3 Phương pháp xác định giới hạn dung môi Nhóm 2
Có hai cách có thể áp dụng để xác định giới hạn cho các dung môi Nhóm 2.
Cách 1:
Có thể dùng hàm lượng (nồng độ) giới hạn tính theo phần triệu (ppm) ghi trong Bảng 10.14.1-2. Các nồng độ này được tính theo công thức (1) với lượng chế phẩm dùng mỗi ngày giả sử là 10 g.
| Nồng độ (ppm) = | 1000 X PDE (mg/ngày) | (1) |
| Liều (g/ngày) |
Giới hạn này áp dụng cho mọi dược chất, tá dược hoặc dược phẩm. Cách 1 có thể áp dụng nếu liều dùng hàng ngày không được biết hoặc không được quy định cụ thể. Khi mọi tá dược, dược chất có trong công thức bào chế đáp ứng với giới hạn cho bởi cách 1, các thành phần của chế phẩm có thể dùng theo bất kỳ tỷ lệ nào. Không cần tính toán gì thêm, nếu liều dùng mỗi ngày không quá 10 g. Chế phẩm có liều dùng lớn hơn 10 g mỗi ngày phải tính theo cách 2.
Cách 2:
Không nhất thiết mỗi thành phần của dược phẩm đều phải đáp ứng giới hạn đã đưa ra trong cách 1. Có thể dùng PDE tính theo mg/ngày ghi trong Bảng 10.14.1-2, cùng với liều tối đa mỗi ngày và công thức (1) để xác định hàm lượng dung môi tồn dư cho phép trong dược phẩm. Các giới hạn này được chấp nhận miễn là chứng minh được rằng dung môi tồn dư đã được giảm đến lượng thực tế tối thiểu. Các giới hạn này phải thực tế có liên quan đến độ chính xác của phép phân tích, điều kiện sản xuất, các thay đổi hợp lý của quá trình sản xuất và các giới hạn phải thực hiện các tiêu chuẩn công nghệ đương thời.
Có thể áp dụng cách 2 bằng cách cộng các lượng dung môi tồn dư trong mỗi thành phần của chế phẩm. Tổng lượng dung môi dùng trong ngày phải thấp hơn PDE.
Hãy xét một ví dụ áp dụng cách 1 và cách 2 cho dung môi acetonitril trong một dược phẩm. PDE của acetonitril là 4,1 mg/ngày. Như vậy, giới hạn tính theo cách 1 là 410 ppm. Lượng dùng tối đa mỗi ngày của dược phẩm là 5,0 g; dược phẩm chứa 2 tá dược. Thành phần dược phẩm và hàm lượng tối đa của acetonitril tồn dư thể hiện trong bảng sau đây:
| Thành phần | Lượng trong công thức bào chế | Hàm lượng acetonitril | Lượng phơi nhiễm mỗi ngày |
| Dược chất | 0,3 g | 800 ppm | 0,24 mg |
| Tá dược 1 | 0,9 g | 400 ppm | 0,36 mg |
| Tá dược 2 | 3,8 g | 800 ppm | 3,04 mg |
| Dược phẩm | 5,0 g | 728 ppm | 3,64 mg |
Tá dược 1 đáp ứng giới hạn tính theo cách 1.
Tá dược 2, dược chất và dược phẩm không đáp ứng giới hạn tính theo cách 1.
Tuy thế, dược phẩm tính theo cách 2 đáp ứng giới hạn 4,1 mg/ngày, và như vậy phù hợp với yêu cầu của quy định này.
Hãy xét một ví dụ khác, coi acetonitril là dung môi tồn dư. Lượng dùng tối đa mỗi ngày của một dược phẩm là 5,0 g, dược phẩm có chứa 2 tá dược. Thành phần dược phẩm và hàm lượng tối đa của acetonitril tồn dư thể hiện trong bảng sau:
| Thành phần | Lượng trong công thức chế | Hàm lượng acetonitril | Lượng phơi nhiễm mỗi ngày |
| Dược chất | 0,3 g | 800 ppm | 0,24 mg |
| Tá dược 1 | 0,9 g | 2000 ppm | 1,80 mg |
| Tá dược 2 | 3,8 g | 800 ppm | 3,04 mg |
| Dược phẩm | 5,0 g | 1016 ppm | 5,08 mg |
Trong ví dụ này, dược phẩm không đáp ứng giới hạn tính theo cách 1 và cả cách 2 bằng cách cộng. Nhà sản xuất phải thử nghiệm dược phẩm để xem quá trình bào chế có làm giảm mức độ tồn dư của acetonitril không. Nếu suốt quá trình bào chế, mức acetonitril không giảm tới giới hạn cho phép, khi đó nhà sản xuất phải tiến hành các bước làm giảm lượng acetonitril trong dược phẩm. Nếu tất cả các bước này không làm giảm được mức tồn dư của acetonitril, trong trường hợp đặc biệt, nhà sản xuất có thể cung cấp bản tóm tắt những cố gắng để giảm lượng dung môi tồn dư, nhằm đạt quy định này, và đưa ra lý lẽ phân tích nguy cơ/lợi ích khi dùng chế phẩm có chứa dung môi tồn dư ở mức cao này.
3.4 Qui trình phân tích dung môi tồn dư
Phương pháp phân tích dung môi tồn dư thông thường là dùng kỹ thuật sắc ký như sắc ký khí. Nếu thích hợp, dùng phương pháp xác định dung môi tồn dư mô tả trong dược điển. Ngoài ra, nhà sản xuất có thể tự do chọn lựa một quy trình phân tích có hiệu lực thích hợp nhất để áp dụng riêng. Nếu chỉ hiện diện dung môi Nhóm 3 thôi, có thể dùng một phương pháp không đặc hiệu như phương pháp Xác định mất khối lượng do làm khô (Phụ lục 9.6).
Thẩm định các phương pháp xác định dung môi tồn dư phải tuân thủ các quy định của ICH (Hội nghị quốc tế về hài hòa các yêu cầu kỹ thuật để đăng ký các thuốc dùng cho người) ghi trong “Văn bản thẩm định quy trình phân tích” (Text on validation of analytical procedures) và “Mở rộng văn bản thẩm định quy trình phân tích” (Extension of the ICH Text on validation of analytical procedures).
3.5 Báo cáo mức dung môi tồn dư
Nhà sản xuất dược phẩm cần nắm chắc thông tin về nồng độ dung môi tồn dư cho phép trong dược chất và tá dược để dược phẩm sản xuất ra đạt được mức của Quy định này.
Sau đây là các ví dụ về các thông tin mà nhà cung cấp tá dược hay dược chất có thể cung cấp cho nhà sản xuất dược phẩm. Nhà cung cấp có thể chọn một trường hợp thích hợp trong số các trường hợp sau đây:
Chỉ có các dung môi Nhóm 3 hiện diện. Mất khối lượng do làm khô không quá 0,5 %.
Chỉ có các dung môi Nhóm 2 (X, Y...) hiện diện. Tất cả phải thấp hơn giới hạn tính theo cách 1 (ở đây, nhà cung cấp chỉ rõ tên các dung môi Nhóm 2: X, Y...).
Chỉ có các dung môi Nhóm 2 (X, Y...) và các dung môi Nhóm 3 hiện diện. Các dung môi Nhóm 2 tồn dư phải dưới mức giới hạn tính theo cách 1 và các dung môi Nhóm 3 tồn dư không quá 0,5 %.
Nếu chắc chắn hiện diện các dung môi Nhóm 1 thì phải định tính và định lượng chúng. Khái niệm “dung môi chắc chắn hiện diện” là những dung môi được dùng trong giai đoạn cuối của quy trình sản xuất và các dung môi khác được dùng trước đó mà không được loại bỏ hoàn toàn bằng các biện pháp hữu hiệu.
Nếu dung môi Nhóm 2 hoặc Nhóm 3 hiện diện ở mức lớn hơn giới hạn cho phép tính theo Cách 1 (Nhóm 2) hay lớn hơn 0,5 % (Nhóm 3) thì chúng phải được định tính và định lượng.
4. Giới hạn dung môi tồn dư
4.1 Dung môi phải tránh sử dụng
Không được sử dụng các dung môi Nhóm 1 trong việc sản xuất dược chất, tá dược và dược phẩm. Chúng có độc tính không thể chấp nhận được, hoặc có tác hại đến môi trường. Khi buộc phải sử dụng chúng trong quy trình sản xuất một dược phẩm có tác dụng trị liệu vượt trội rõ rệt, phải tuân thủ giới hạn ghi trong Bảng 10.14.1-1; trừ trường hợp buộc phải chấp nhận giới hạn lớn hơn đã được giải thích chứng minh rõ. Dung môi 1,1,1-tricloroethan được xếp trong Bảng 10.14.1-1 vì là một tác nhân nguy hại cho môi trường. Giới hạn 1500 ppm dựa trên cơ sở thông tin về dữ liệu an toàn.
Bảng 10.14.1-1 - Nhóm 1, các dung môi phải tránh sử dụng trong dược phẩm
| Dung môi | Nồng độ giới hạn | Độc tính |
| Benzen | 2 | Gây ung thư |
| Carbon tetraclorid | 4 | Độc và nguy hại cho môi trường |
| 1,2-Dicloroethan | 5 | Độc |
| 1,1-Dicloroethen | 8 | Độc |
| 1,1,1-Tricloroethan | 1500 | Nguy hại cho môi trường |
4.2 Dung môi phải hạn chế sử dụng
Các dung môi trong Bảng 10.14.1-2 phải được quy định mức giới hạn có trong dược phẩm vì độc tính vốn có của chúng. Các giá trị PDE được đưa ra dao động trong khoảng 0,1 mg/ngày, tương ứng hàm lượng tồn dư trong dược phẩm dao động trong khoảng 10 ppm.
Bảng 10.14.1-2 - Nhóm 2, các dung môi phải hạn chế sử dụng trong dược phẩm
| Dung môi | PDE | Nồng độ giới hạn |
| Acetonitril | 4,1 | 410 |
| Clorobenzen | 3,6 | 360 |
| Cloroform | 0,6 | 60 |
| Cumen | 0,7 | 70 |
| Cyclohexan | 38,8 | 3880 |
| Cyclopentyl methyl ether | 15,0 | 1500 |
| 1,2-Dicloroethen | 18,7 | 1870 |
| Dicloromethan | 6,0 | 600 |
| 1,2-Dimethoxyethan | 1,0 | 100 |
| N, N-Dimethylacetamid | 10,9 | 1090 |
| N, N-Dimethylformamid | 8,8 | 880 |
| 1,4-Dioxan | 3,8 | 380 |
| 2-Ethoxyethanol | 1,6 | 160 |
| Ethylenglycol | 6,2 | 620 |
| Formamid | 2,2 | 220 |
| Hexan | 2,9 | 290 |
| Methanol | 30,0 | 3000 |
| 2-Methoxyethanol | 0,5 | 50 |
| Methylbutylketon | 0,5 | 50 |
| Methyicyclohexan | 11,8 | 1180 |
| Methylisobutylketon | 45,0 | 4500 |
| N-Methylpyrrolidon | 5,3 | 530 |
| Nitromethan | 0,5 | 50 |
| Pyridin | 2,0 | 200 |
| Sulfolan | 1,6 | 160 |
| Tertiary-butyl alcohol | 35,0 | 3500 |
| Tetrahydrofuran | 7,2 | 720 |
| Tetralin | 1,0 | 100 |
| Toluen | 8,9 | 890 |
| 1,1,2-Tricloroethen | 0,8 | 80 |
| Xylen* | 21,7 | 2170 |
* Thường dùng hỗn hợp gồm m-xylen 60 %; p-xylen 14 %; o-xylen 9 % và ethyl benzen 17 %.
4.3 Dung môi có độc tính thấp
Các dung môi Nhóm 3 (có trong Bảng 10.14.1-3) có thể coi như ít độc và có nguy cơ thấp đối với sức khỏe con người. Nhóm 3 bao gồm các dung môi không nguy hiểm đối với sức khỏe con người ở hàm lượng thường được chấp nhận trong dược phẩm. Tuy nhiên chưa có các nghiên cứu về độc tính trường diễn và về khả năng gây ung thư của nhiều dung môi thuộc nhóm này. Các dữ liệu hiện có cho thấy các dung môi này tỏ ra ít độc trong các nghiên cứu cấp diễn hoặc ngắn hạn và cho kết quả âm tính với những thử nghiệm độc tính trên gen. Do đó, coi như được phép dùng các dung môi này với lượng 50 mg mỗi ngày hoặc thấp hơn (tương ứng với hàm lượng 5000 ppm hoặc 0,5 % tính theo cách 1) mà không cần phải thuyết minh. Có thể dùng ở mức cao hơn, miễn là thực tế các mức đó có liên quan đến khả năng sản xuất và thực hành sản xuất tốt.
Bảng 10.14.1-3 - Nhóm 3, các dung môi phải được giới hạn vì GMP hoặc vì các yêu cầu chất lượng khác
| Acid acetic | Isobutyl acetat |
| Aceton | Isopropyl acetat |
| Anisol | Methyl acetat |
| 1-Butanol | 3-Methyl-1-butanol |
| 2-Butanol | Methylethylketon |
| Butyl acetate | Methylisobutylketon |
| Tert-butylmethyl ether | 2-Methyl-1-propanol |
| Dimethylsulfoxid | 2-Methyltetrahydrofuran |
| Ethanol | Pentan |
| Ethyl acetat | 1-Pentanol |
| Ethyl ether | 1-Propanol |
| Ethyl format | 2-Propanol |
| Acid formic | Propyl acetat |
| Heptan | Triethylamin |
4.4 Dung mỗi chưa có đủ thông tin về độc tính
Các dung môi trong Bảng 10.14.1-4 có thể cũng được các nhà sản xuất dược chất, tá dược hoặc dược phẩm quan tâm. Tuy nhiên, chưa có các dữ liệu đầy đủ về độc tính của chúng để làm cơ sở cho việc xác định PDE. Khi sử dụng các dung môi này trong sản xuất, nhà sản xuất phải giải trình rõ ràng sự tồn dư của các dung môi này trong sản phẩm của mình.
Bảng 10.14.1-4 - Các dung môi chưa có đủ thông tin về độc tính
| 1,1-Diethoxypropan | Methylisopropylketon |
| 1,1 -Dimethoxymethan | Methyltetrahydrofuran |
| 2,2-Dimethoxypropan | Petroleum ether |
| Isooctan | Acid tricloracetic |
| Isopropyl ether | Acid trifluoroacetic |
THUẬT NGỮ
Genotoxic carcinogens: Tác nhân gây ung thư do tác động lên gen hay chromosom.
LOEL: Viết tắt của từ “lowest-observed effect level” (mức phát hiện gây hại thấp nhất), liều thấp nhất dùng trong một thử nghiệm hay nhóm các thử nghiệm gây sự gia tăng có ý nghĩa sinh học về tần số hoặc về mức độ nghiêm trọng của bất kỳ các tác dụng nào đỏ trên người hay động vật bị phơi nhiễm. Modifying factor. Hệ số hiệu chỉnh, là hệ số được chuyên gia độc chất học xác định và áp dụng cho các dữ liệu định lượng sinh học để tính các thông số an toàn cho người.
Neurotoxicity: Nhiễm độc thần kinh
NOEL: Viết tắt của từ “no-observed effect level” (mức không phát hiện gây hại), liều cao nhất của chất đã dùng mà không gây sự gia tăng có ý nghĩa sinh học về tần số hoặc về mức độ nghiêm trọng của bất kỳ các tác dụng nào đó trên người hay động vật bị phơi nhiễm.
PDE: viết tắt của từ “Permitted daily exposure”.
Permitted daily exposure: Lượng cao nhất có thể dùng trong một ngày của dung môi tồn dư trong dược phẩm.
Reversible toxicity. Độc tính phục hồi được, tức là sẽ mất đi sau khi kết thúc phơi nhiễm.
Strongly suspected human carcinogen: Tác nhân nghi ngờ gây ung thư trên người, một chất không có dấu hiệu dịch tễ học là có khả năng gây ung thư nhưng lại cho kết quả dương tính về độc tính trên gen và các dấu hiệu rõ ràng về khả năng gây ung thư trên loài gặm nhấm.
Teratogenicity. Độc tính gây quái thai, sự cố gây dị tật về cấu trúc trong quá trình phát triển thai nhi khi sử dụng một chất trong thời kỳ mang thai.
Chú thích 1: Danh sách các dung môi theo tên thông thường và cấu trúc của chúng
| Dung môi | Tên khác | Cấu trúc | Phân loại |
| Acid acetic | Acid ethanoic | CH3COOH | Nhóm 3 |
| Aceton | 2-Propanon Propan-2-on | CH3COCH3 | Nhóm 3 |
| Acetonitril |
| CH3CN | Nhóm 2 |
| Anisol | Methoxybenzen |
| Nhóm 3 |
| Benzen | Benzol |
| Nhóm 1 |
| 1-Butanol | n-Butyl alcohol Butan-1-ol | CH3[CH2]30H | Nhóm 3 |
| 2-Butanol | sec-Butyl alcohol Butan-2-ol | CH3CH2CH(OH)CH3 | Nhóm 3 |
| Butyl acetat | Acid acetic butyl ester | CH3COO[CH2]3CH3 | Nhóm 3 |
| tert-Butylmethyl ether | 2-Methoxy-2-methylpropan | (CH3)3COCH3 | Nhóm 3 |
| Carbon tetraclorid | Tetracloromethan | CCl4 | Nhóm 1 |
| Clorobenzen |
|
| Nhóm 2 |
| Cloroform | Tricloromethan | CHCl3 | Nhóm 2 |
| Cumen | Isopropylbenzen (1-Methylethyl)benzen) |
| Nhóm 2 |
| Cyclohexan | Hexamethylen |
| Nhóm 2 |
| Cyclopentyl methyl ether | CPME |
| Nhóm 2 |
| 1,2-Dicloroethan | sym-Dicloroethan Ethylen diclorid Ethylen clorid | CH2ClCH2Cl | Nhóm 1 |
| 1,1-Dicloroethen | 1,1-Dicloroethylen Vinyliden clorid | H2C=CCl2 | Nhóm 1 |
| 1,2-Dicloroethen | 1,2-Dicloroethylen Acetylen diclorid | ClCH=CHCl | Nhóm 2 |
| Dicloromethan | Methylen clorid | CH2Cl2 | Nhóm 2 |
| 1,2-Dimethoxyethan | Ethyleneglycol dimethyl ether Monoglyme Dimethyl cellosolve | H3COCH2CH2OCH3 | Nhóm 2 |
| N,N-Dimethylacetamid | DMA | CH3CON(CH3)2 | Nhóm 2 |
| N,N-Dimethylformamid | DMF | HCON(CH3)2 | Nhóm 2 |
| Dimethyl sulfoxid | Methylsulfinylmethan Methyl sulfoxide DMSO | (CH3)2SO | Nhóm 3 |
| 1,4-Dioxan | p-Dioxan [1,4]Dioxan |
| Nhóm 2 |
| Ethanol | Ethyl alcohol | CH3CH2OH | Nhóm 3 |
| 2-Ethoxyethanol | Cellosolve | CH3CH2OCH2CH2OH | Nhóm 2 |
| Ethyl acetat | Acid acetic ethyl ester | CH3COOCH2CH3 | Nhóm 3 |
| Ethyleneglycol | 1,2-Dihydroxyethan 1,2-Ethanediol | HOCH2CH2OH | Nhóm 2 |
| Ethyl ether | Diethyl ether Ethoxyethan 1,1'-Oxybisethan | CH3CH2OCH2CH3 | Nhóm 3 |
| Ethyl format | Acid formic ethyl ester | HCOOCH2CH3 | Nhóm 3 |
| Formamid | Methanamid | HCONH2 | Nhóm 2 |
| Acid formic |
| HCOOH | Nhóm 3 |
| Heptan | n-Heptane | CH3[CH2]5CH3 | Nhóm 3 |
| Hexan | n-Hexan | CH3[CH2]4CH3 | Nhóm 2 |
| Isobutyl acetat | Acid acetic isobutyl ester | CH3COOCH2CH(CH3)2 | Nhóm 3 |
| Isopropyl acetat | Acid acetic isopropyl ester | CH3COOCH(CH3)2 | Nhóm 3 |
| Methanol | Methyl alcohol | CH3OH | Nhóm 2 |
| 2-Methoxyethanol | Methyl cellosolve | CH3OCH2CH2OH | Nhóm 2 |
| Methyl acetat | Acid acetic methyl ester | CH3COOCH3 | Nhóm 3 |
| 3-Methyl-1-butanol | Isoamyl alcohol Isopentyl alcohol 3-Methylbutan-1-ol | (CH3)2CHCH2CH2OH | Nhóm 3 |
| Methylbutylketon | 2-Hexanon Hexan-2-on | CH3[CH2]3COCH3 | Nhóm 2 |
| Methylcyclohexan | Cyclohexylmethan |
| Nhóm 2 |
| Methylethylketon | 2-Butanon MEK Butan-2-on | CH3CH2COCH3 | Nhóm 3 |
| Methylisobutylketon | 4-Methylpentan-2-on 4-Methyl-2-pentanon MIBK | CH3COCH2CH(CH3)2 | Nhóm 2 |
| 2-Methyl-1-propanol | Isobutyl alcohol 2-Methylpropan-1-ol | (CH3)2CHCH2OH | Nhóm 3 |
| N-Methylpyrrolidon | 1 -Methylpyrrolidin-2-on 1 -Methyl-2-pyrrolidinon |
| Nhóm 2 |
| 2-Methyltetrahydrofuran | 2-MTHF 2-Methyloxolan Tetrahydrosylvan Tetrahydro-2- methylfuran |
| Nhóm 3 |
| Nitromethan |
| CH3NO2 | Nhóm 2 |
| Pentan | n-Pentan | CH3[CH2]3CH3 | Nhóm 3 |
| 1-Pentanol | Amyl alcohol Pentan-1-ol Pentyl alcohol | CH3[CH2]3CH2OH | Nhóm 3 |
| 1 -Propanol | Propan-1-ol Propyl alcohol | CH3CH2CH2OH | Nhóm 3 |
| 2-Propanol | Propan-2-ol Isopropyl alcohol | (CH3)2CHOH | Nhóm 3 |
| Propyl acetat | Acid acetic propyl ester | CH3COOCH2CH2CH3 | Nhóm 3 |
| Pyridin |
|
| Nhóm 2 |
| Sulfolan | Tetrahydrothiophen 1,1-dioxid |
| Nhóm 2 |
| Tertiary-butyl alcohol | t-Butyl alcohol tert-butanol TBA | (CH3)3COH | Nhóm 2 |
| Tetrahydrofuran | Tetramethylen oxid Oxacyclopentan |
| Nhóm 2 |
| Tetralin | 1,2,3,4-Tetrahydronaphthalen |
| Nhóm 2 |
| Toluen | Methylbenzen |
| Nhóm 2 |
| 1,1,1-Tricloroethan | Methylcloroform | CH3CCl3 | Nhóm 1 |
| 1,1,2-Tricloroethen | Tricloroethen | HClC=CCl2 | Nhóm 2 |
| Triethylamin | N,N-Diethylethanamin | N(CH2CH3)3 | Nhóm 3 |
| Xylen* | Dimethybenzen Xylol |
| Nhóm 2 |
* Thường dùng hỗn hợp gồm m-xylen 60 %; p-xylen 14 %; o-xylen 9 % và ethyl benzen 17 %.
Chú thích 2: Thông tin thêm
Quy chế bảo vệ môi trường đối với các dung môi hữu cơ bay hơi
Một số dung môi thường dùng trong sản xuất dược phẩm được liệt kê như các hóa chất độc trong các chuyên luận EHC (Environmental Health Criteria) và IRIS (Integrated Risk Information System). Trong các mục tiêu của các tổ chức như “Chương trình thế giới về an toàn hóa chất” (IPCS - International Programme on Chemical Safety), “Cơ quan bảo vệ môi trường Mỹ (USEPA - United States Environmental Protection Agency) và “Cơ quan quản lý thực phẩm và dược phẩm Mỹ (USFDA = United States Food and Drug Administration) có xác định các mức phơi nhiễm có thể chấp nhận được. Mục đích là bảo vệ sức khỏe con người và giữ gìn sự trong sạch vẹn toàn của môi trường, chống lại các tác dụng có thể có hại của các hóa chất do phơi nhiễm lâu dài tại môi trường. Các phương pháp dùng để xác định mức tối đa phơi nhiễm an toàn thường được căn cứ trên các thử nghiệm dài hạn. Khi không có các dữ liệu từ những thử nghiệm dài hạn, có thể dùng dữ liệu từ các thử nghiệm ngắn hạn với việc cải tiến cách tiếp cận như việc sử dụng các yếu tố hệ số an toàn lớn hơn. Cách tiếp cận nói ở trên đây chủ yếu liên quan tới các phơi nhiễm dài hạn hay suốt đời, đối với các cộng đồng dân cư, trong môi trường xung quanh như không khí, thức ăn, nước uống và các môi trường khác.
Dung môi tồn dư trong thuốc
Các giới hạn phơi nhiễm trong Quy định này được thiết lập căn cứ vào các phương pháp và các dữ liệu về độc tính mô tả trong các tiêu chuẩn EHC và trong các chuyên luận của EHC và IRIS. Tuy nhiên, một số giả định đặc biệt về dung môi tồn dư trong việc tổng hợp và bào chế các dược phẩm phải được tính đến khi thiết lập các giới hạn phơi nhiễm. Đó là:
1/ Những người bệnh (không phải toàn thể cộng đồng) phải sử dụng thuốc để phòng hoặc chữa bệnh.
2/ Việc giả định người bệnh bị phơi nhiễm suốt đời là không cần thiết đối với đa số các dược phẩm, song có thể thích hợp như một giả thiết nghiên cứu, nhằm giảm nguy cơ đến sức khỏe con người.
3/ Các dung môi tồn dư là những thành phần không thể tránh được trong sản xuất dược phẩm và còn thường là một phần của thuốc.
4/ Các dung môi tồn dư phải không được vượt quá các mức độ khuyến cáo, trừ những trường hợp đặc biệt.
5/ Các dữ liệu từ các nghiên cứu độc chất học dùng để xác định các mức chấp nhận được cho các dung môi tồn dư phải được thiết lập bằng cách sử dụng các quy trình thích hợp, chẳng hạn các quy trình do OECD, EPA mô tả và sử dụng cuốn sách đỏ của Cục quản lý thực phẩm và dược phẩm Hoa Kỳ (FDA Red book).
Chú thích 3: Phương pháp thiết lập các giới hạn phơi nhiễm
Phương pháp đánh giá nguy cơ của Gaylor - Kodell (Xem: Gaylor, D.W. và Kodell, R. L. - Thuật toán nội suy tuyến tính để đánh giá liều thấp của các chất độc. J. Environ Pathology, 4, 305, 1980) thích hợp với các dung môi gây ung thư thuộc Nhóm 1. Chỉ trong các trường hợp đã có các dữ liệu đáng tin cậy về tính gây ung thư thì phải áp dụng ngoại suy bằng cách dùng các mô hình toán học để thiết lập các giới hạn phơi nhiễm. Các giới hạn phơi nhiễm của các dung môi Nhóm 1 có thể được xác định với việc sử dụng một thông số an toàn lớn (từ 10 000 đến 100 000) đối với “mức không phát hiện gây hại” (NOEL). Việc phát hiện và định lượng các dung môi này phải được thực hiện bằng các kỹ thuật phân tích tiên tiến.
Các mức phơi nhiễm chấp thuận được của các dung môi Nhóm 2 ghi trong quy định này được thiết lập bằng cách tính các giá trị PDE theo các quy trình xác định giới hạn phơi nhiễm của các thuốc (xem Pharmacopeial Forum 11-12/1989) và theo phương pháp đã được Chương trình thế giới về an toàn hóa chất (IPCS) thừa nhận nhằm đánh giá nguy cơ đối với sức khỏe con người do hóa chất (xem Environmental Health Criteria 170, WHO, 1994). Các phương pháp này tương tự như các phương pháp của Cơ quan bảo vệ môi trường Mỹ (USEPA) và của Cơ quan quản lý thực phẩm và dược phẩm Mỹ (USFDA) và các tổ chức khác nữa. Phương pháp được giới thiệu sơ lược ở đây nhằm cung cấp một hiểu biết tốt hơn nguồn gốc của các liều phơi nhiễm được phép mỗi ngày (PDE). Không nhất thiết phải thực hiện các phép tính toán này mà sử dụng ngay các giá trị PDE đã ghi trong các bảng trình bày ở Mục 4 của Quy định này.
Giới hạn PDE được tính từ “mức không phát hiện gây hại” (NOEL) hoặc từ “mức phát hiện gây hại thấp nhất” (LOEL) trong thử nghiệm trên súc vật như sau:
| PDE = | NOEL x thể trọng quy ước |
| F1 x F2 x F3 x F4 x F5 |
PDE thường được tính từ NOEL. Khi không thiết lập được NOEL, có thể dùng LOEL. Các hệ số hiệu chỉnh đề ra ở đây để chuyển đổi các dữ liệu thử nghiệm trên súc vật sang cho người, cũng tương tự như các “hệ số không chắc chắn” (Uncertainty factors) dùng trong “Tiêu chuẩn trong sạch của môi trường” (EHC) (Xem Environmental Health Criteria 170, WHO, Geneva, 1994) và “hệ số hiệu chỉnh" (modifying factors) hay “hệ số an toàn” (safety factors) dùng trong Pharmacopeial Forum. Giả định 100 % phơi nhiễm toàn thân được sử dụng trong tất cả các tính toán, bất kể dùng thuốc theo đường nào.
Các hệ số hiệu chỉnh
F1 là hệ số ngoại suy giữa các loài:
F1 = 2, khi ngoại suy từ thử nghiệm trên chó sang người;
F1 = 2,5, khi ngoại suy từ thử nghiệm trên thỏ sang người;
F1 = 3, khi ngoại suy từ thử nghiệm trên khỉ sang người;
F1 = 5, khi ngoại suy từ thử nghiệm trên chuột trắng lớn (rat) sang người;
F1 = 10, khi ngoại suy từ thử nghiệm trên các loài động vật khác sang người;
F1 = 12, khi ngoại suy từ thử nghiệm trên chuột nhắt sang người.
F1 tính được khi so sánh tỷ lệ giữa diện tích bề mặt với trọng lượng cơ thể của loài vật tham gia thử nghiệm và của người. Diện tích bề mặt (S) được tính như sau:
S = k.M 0,67
Trong đó:
M là trọng lượng cơ thể (trọng lượng cơ thể của sinh vật tham gia thử nghiệm, dùng trong công thức trên, được liệt kê trong bảng 10.14.2.5);
k = 10
F2 là hệ số chỉ sự khác biệt giữa các cá thể;
F2 = 10, thường dùng cho tất cả các dung môi hữu cơ và dùng thống nhất trong quy định này;
F3 là một hệ số không hằng định, dùng cho các thử nghiệm phơi nhiễm ngắn hạn;
F3 = 1, cho các thử nghiệm kéo dài ít nhất bằng 1/2 đời sống của vật thí nghiệm (1 năm đối với loài gặm nhấm hoặc thỏ, 7 năm đối với chó, mèo hoặc khỉ);
F3 = 1, cho các thử nghiệm về sinh sản, kéo dài trong suốt thời gian hình thành các cơ quan phủ tạng;
F3 = 2, cho các thử nghiệm kéo dài 6 tháng, trên loài gặm nhấm hoặc 3,5 năm trên các con thú không thuộc loài gặm nhấm;
F3 = 5, cho các thử nghiệm kéo dài 3 tháng, trên loài gặm nhấm, hoặc 2 năm trên các con thú không thuộc loài gặm nhấm;
F3 = 10, cho các thử nghiệm ngắn hạn hơn.
Trong mọi trường hợp, khi thử nghiệm kéo dài trong khoảng thời gian nằm giữa 2 mốc thời gian quy định ở trên, thì ta cho F3 giá trị cao, ứng với mốc thời gian thử nghiệm ngắn. Ví dụ: F3 = 2 trong thử nghiệm kéo dài 9 tháng trên loài gặm nhấm (vì 9 tháng nằm trong mốc 1 năm và 6 tháng, do đó lấy F3 bằng F3 của mốc 6 tháng).
F4 là một hệ số áp dụng trong các trường hợp độc tính nghiêm trọng như: Gây ung thư không độc cho gen, độc tinh thần kinh, độc tính gây quái thai. Trong các thử nghiệm về độc tính sinh sản, hệ số này được dùng như sau:
F4 = 1, khi gây độc trên bào thai cùng với gây độc trên mẹ;
F4 = 5, khi gây độc trên bào thai, nhưng không gây độc trên mẹ;
F4 = 5, khi gây quái thai cùng với gây độc trên mẹ;
F4 = 10, khi gây quái thai trên bào thai, nhưng không gây độc trên mẹ;
F5 là một hệ số không hằng định, áp dụng khi không thiết lập được “mức không phát hiện gây hại” (NOEL). Khi chỉ có thể xác định được “mức gây hại thấp nhất” (LOEL), có thể cho F5 giá trị cao, có thể tới F5 = 10, tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của độc tính.
Trọng lượng cơ thể quy ước cho người trưởng thành, không phân biệt giới tính ở đây là 50 kg. Trọng lượng này tương đối thấp hơn trọng lượng chuẩn (60 kg đến 70 kg) thường áp dụng trong các tính toán cùng loại (tính liều dùng thuốc) là nhằm mục đích an toàn.
Một số người bệnh có trọng lượng nhẹ hơn 50 kg, những người bệnh này phải được xem xét điều chỉnh bằng cách dùng hệ số an toàn xác định PDE.
Nếu dung môi có trong một công thức dược phẩm chuyên dùng cho Nhi khoa, ta phải điều chỉnh thích hợp, vì trọng lượng cơ thể của trẻ thấp.
Ví dụ áp dụng công thức tính PDE:
Hãy xét một thử nghiệm độc tính của acetonitril trên chuột nhắt, thử nghiệm này được tóm tắt trong Pharmaeuropa Vol 9, No1, Supplement April 1997 page S 24, “mức không phát hiện gây hại” (NOEL) là 50,7 mg/kg/ngày. PDE của acetonitril trong thử nghiệm này được tính như sau:
| PDE = | 50,7mg.kg-1.ngày-1 x 50kg | = 4,22 mg/ngày |
| 12 x 10 x 5 x 1 x 1 |
Trong đó:
F1 = 12 là hệ số ngoại suy từ thử nghiệm trên chuột nhắt sang người;
F2 = 10 là hệ số khác biệt giữa các cá thể (thống nhất quy định là F2 = 10);
F3 = 5 khi thời gian thử nghiệm chỉ có 13 tuần (> 3 tháng);
F4 = 1 khi không thấy độc tính nghiêm trọng nào;
F5 = 1 khi “mức không phát hiện gây độc hại” (NOEL) được xác định.
Phương trình dùng cho khí lý tưởng PV = nRT được áp dụng để chuyển hàm lượng chất khí trong thử nghiệm dùng phương pháp xông (inhalation studies) từ đơn vị phần triệu thành đơn vị mg/l hay mg/m3. Hãy xét thử nghiệm độc tính sinh sản trên chuột trắng bằng cách xông khí carbon tetraclorid (khối lượng phân tử 153,84) đã được tóm tắt trong Pharmaeuropa Vol 9. No1. Supplement April 1997, p.S9:

Dùng công thức 1000 L = 1 m3 để suy ra hàm lượng mg/m3
Bảng 10.14.1-5 - Các giá trị dùng tính toán trong tài liệu này
| Trọng lượng chuột cống trắng (Rat) | 425 g |
| Trọng lượng chuột cống trắng có thai (Pregnant rat) | 330 g |
| Trọng lượng chuột nhắt (Mouse) | 28 g |
| Trọng lượng chuột nhắt có thai (Pregnant mouse) | 30 g |
| Trọng lượng chuột lang (Guinea - pig) | 500 g |
| Trọng lượng khỉ Ấn Độ (Rhesus monkey) | 25 kg |
| Trọng lượng thỏ (có thai hoặc không có thai) | 4kg |
| Trọng lượng chó săn nhỏ (Beagle dog) | 11,5 kg |
| Dung lượng hô hấp của chuột trắng (Rat respiratory volume) | 290 L/ngày |
| Dung lượng hô hấp của chuột nhắt | 43 L/ngày |
| Dung lượng hô hấp của thỏ | 1440 L/ngày |
| Dung lượng hô hấp của chuột lang | 430 L/ngày |
| Dung lượng hô hấp của người | 28800 L/ngày |
| Dung lượng hô hấp của chó | 9000 L/ngày |
| Dung lượng hô hấp của khỉ | 1150 L/ngày |
| Lượng nước chuột nhắt dùng | 5 ml/ngày |
| Lượng nước chuột trắng dùng | 30 ml/ngày |
| Lượng thức ăn chuột trắng dùng | 30 g/ngày |
PHỤ LỤC 11.1 GIỚI HẠN CHO PHÉP VỀ THỂ TÍCH CỦA CÁC DẠNG THUỐC LỎNG
Lượng dược chất có trong các dạng thuốc lỏng liên quan đến thể tích của chúng. Do thực tế sai số của các dụng cụ, thiết bị và việc thực hiện quy trình sản xuất mà mỗi dạng thuốc lỏng được phép có một khoảng chênh lệch nhất định về thể tích so với quy định ghi trên nhãn. Đó là giới hạn cho phép về thể tích.
Trừ các thuốc có quy định đặc biệt, các dạng thuốc lỏng có giới hạn cho phép về thể tích ghi trong bảng 11.1.
Bảng 11.1 - Giới hạn cho phép về thể tích của các dạng thuốc lỏng
| Loại thuốc | Thể tích ghi trên nhãn | Giới hạn cho phép | |
| Thuốc tiêm đơn liều: - Đo thể tích thuốc từng đơn vị đóng gói. - Đo gộp thể tích thuốc từ nhiều đơn vị đóng gói. Thuốc tiêm đa liều Thuốc tiêm truyền |
Mọi thể tích Mọi thể tích |
Không dưới thẻ tích ghi trên nhãn* Không dưới tổng thể tích ghi trên nhãn của các đơn vị đóng gói đem thử Không dưới thể tích ghi trên nhãn Không dưới thể tích ghi trên nhãn | |
| Thuốc uống dạng lỏng | Đa liều | Mọi thể tích | ≥ 95 % thể tích ghi trên nhãn TTTB không dưới thể tích ghi trên nhãn |
| Đơn liều** | Mọi thể tích | 95 % -110 % thể tích ghi trên nhãn TTTB không dưới thể tích ghi trên nhãn | |
| Các thuốc khác** | ≤ 60 ml | ≥ 90 % thể tích ghi trên nhãn TTTB không dưới thẻ tích ghi trên nhãn | |
| > 60 ml | ≥ 95 % thể tích ghi trên nhãn TTTB không dưới thể tích ghi trên nhãn | ||
Ghi chú:
TTTB: Thể tích trung bình
*Trong quá trình sản xuất thuốc tiêm, thuốc tiêm truyền, thể tích thuốc được đóng hơi dư để đảm bảo khi sử dụng có thể lấy ra và tiêm cho người bệnh thể tích thuốc quy định. Thể tích dư được xác định tùy thuộc vào đặc tính của từng sản phẩm.
** Thuốc đơn liều đã thử Độ đồng đều đơn vị liều thì không phải thử giới hạn thể tích.
CÁCH THỬ
Các dạng thuốc tiêm, thuốc tiêm truyền
Chế phẩm dạng hỗn dịch hoặc nhũ tương phải được lắc đều trước khi rút ra để đo thể tích hoặc trước khi xác định khối lượng riêng. Chế phẩm nhớt hay ở dạng dầu có thể làm ấm theo hướng dẫn sử dụng ghi trên nhãn, nếu cần, và lắc kỹ ngay trước khi lấy ra đề đo. Đo thể tích chế phẩm sau khi đã để nguội xuống 20 °C đến 25 °C. Với chế phẩm dạng bột vô khuẩn để tiêm, tiến hành pha theo chỉ dẫn trên nhãn và đo thể tích thuốc thu được sau khi pha.
Thuốc tiêm đơn liều
Thuốc tiêm có thể tích lớn hơn hoặc bằng 10 ml: Lấy 1 đơn vị đóng gói để thử.
Thuốc tiêm có thể tích lớn hơn 3 ml và nhỏ hơn 10 ml: Lấy 3 đơn vị đóng gói để thử.
Thuốc tiêm có thể tích nhỏ hơn hoặc bằng 3 ml: Lấy 5 đơn vị đóng gói để thử.
Thuốc tiêm đem đo thể tích phải để cân bằng với nhiệt độ phòng và được phân tán đồng nhất. Dùng bơm tiêm khô, sạch, có dung tích không lớn hơn 3 lần so với thể tích cần đo, có gắn kim tiêm số 21 (21 gauge) và dài không quá 2,5 cm. Lấy toàn bộ thuốc của từng đơn vị đóng gói vào bơm tiêm, đầy hết không khí trong bơm tiêm và kim tiêm ra ngoài. Chuyển lượng thuốc có trong bơm tiêm (để lại không bơm hết lượng thuốc còn trong kim) vào ống đong khô, sạch, có vạch chia phù hợp và được chuẩn hóa, ống đong có dung tích sao cho thể tích được đo chiếm tối thiểu 40 % thang đo của ống đong. Cũng có thể xác định thể tích (ml) thuốc tiêm bằng cách xác định khối lượng của lượng thuốc có thể lấy ra từ mỗi đơn vị đóng gói (g) rồi chia cho khối lượng riêng (g/ml) của chế phẩm.
Đối với thuốc tiêm có thể tích nhỏ hơn hoặc bằng 2 ml, có thể lấy lượng thuốc từ một số lượng đơn vị đóng gói vừa đủ và gộp lại để có được thể tích đáp ứng cho phép đo, sử dụng các bơm tiêm khô, riêng biệt cho mỗi đơn vị đóng gói. Đối với thuốc tiêm có thể tích lớn hơn hoặc bằng 10 ml, có thể xác định thể tích bằng cách chuyển thẳng lượng thuốc trong mỗi đơn vị đóng gói vào một ống đong hoặc cốc đã cân bì.
Thể tích đo được của mỗi đơn vị đóng gói không được nhỏ hơn thể tích ghi trên nhãn.
Trong trường hợp đo mẫu gộp với thuốc tiêm có thể tích ≤ 2 ml, thể tích đo được không nhỏ hơn tổng thể tích ghi trên nhãn của các đơn vị đem đo.
Bút tiêm và bơm tiêm chứa sẵn thuốc
Thuốc tiêm có thể tích lớn hơn hoặc bằng 10 ml: Lấy 1 đơn vị đóng gói để thử.
Thuốc tiêm có thể tích lớn hơn 3 ml và nhỏ hơn 10 ml: Lấy 3 đơn vị đóng gói để thử.
Thuốc tiêm có thể tích nhỏ hơn hoặc bằng 3 ml: Lấy 5 đơn vị đóng gói để thử.
Nếu cần, lắp đồ đựng với các phụ kiện đi kèm khi sử dụng (kim tiêm, piston, bơm tiêm) và chuyển toàn bộ thể tích của mỗi đơn vị đóng gói (không làm rỗng kim tiêm) vào cốc khô đã cân bì bằng cách ấn piston đều và từ từ. Cân lượng thuốc được lấy ra khỏi đồ đựng. Xác định thể tích thuốc (ml) bằng cách chia khối lượng cân được (g) cho khối lượng riêng (g/ml) của thuốc.
Thể tích đo được của mỗi đơn vị đóng gói không được nhỏ hơn thể tích ghi trên nhãn.
Thuốc tiêm đa liều
Đối với thuốc tiêm đa liều mà trên nhãn có ghi số lượng liều và thể tích của từng liều, lấy một đơn vị đóng gói, tiến hành lấy ra từng liều và đo thể tích như với thuốc tiêm đơn liều, sử dụng các bơm tiêm riêng rẽ. Số lượng bơm tiêm dùng cho phép thử tương ứng với số liều ghi trên nhãn. Thể tích thuốc được đóng phải đủ cho mỗi bơm tiêm lấy được thể tích không nhỏ hơn thể tích đơn vị liều ghi trên nhãn.
Thuốc tiêm truyền
Lấy 1 đơn vị đóng gói. Chuyển toàn bộ lượng thuốc có trong đơn vị đóng gói vào một ống đong khô, sạch có độ chính xác phù hợp và có dung tích sao cho thể tích được đo chiếm tối thiểu 40 % thang đo của ống đong. Thể tích thuốc đo được không nhỏ hơn thể tích ghi trên nhãn.
Các dạng thuốc uống
Chế phẩm đa liều
Lấy 10 đơn vị đóng gói, lắc đều. Xác định thể tích thuốc có thể lấy ra được từ từng đơn vị bằng cách chuyển cẩn thận toàn bộ lượng thuốc trong mỗi đơn vị vào một ống đong chuẩn riêng biệt, sạch, khô, có chia vạch phù hợp và có dung tích không quá 2,5 lần thể tích cần đo sao cho không hình thành bọt khí trong quá trình thực hiện. Trừ khi có chỉ dẫn khác trên nhãn, giữ đồ đựng ở góc nghiêng 30 độ so với phương nằm ngang trong không quá 10 min để gạn hết lượng thuốc từ đồ đựng vào ống đong. Khi không còn bọt khí trong thuốc, đọc thể tích thuốc đo được. Cũng có thể xác định thể tích thuốc (ml) có thể lấy ra được từ từng đơn vị đóng gói bằng cách chuyển lượng thuốc trong mỗi đơn vị vào một đồ đựng sạch, khô, đã cân bì, cân lại để xác định khối lượng thuốc được lấy ra (g) và chia khối lượng này cho khối lượng riêng (g/ml) của thuốc.
Chế phẩm đạt yêu cầu nếu thể tích trung bình của 10 đơn vị đóng gói không nhỏ hơn thể tích ghi trên nhãn và thể tích của từng đơn vị đóng gói không nhỏ hơn 95 % thể tích ghi trên nhãn.
Nếu thể tích trung bình của 10 đơn vị đóng gói nhỏ hơn thể tích ghi trên nhãn nhưng không có đơn vị nào có thể tích nhỏ hơn 95 % thể tích ghi trên nhãn; hoặc thể tích trung bình của 10 đơn vị đóng gói không nhỏ hơn thể tích ghi trên nhãn và có không quá 1 đơn vị có thể tích nhỏ hơn 95 % nhưng không nhỏ hơn 90 % thể tích ghi trên nhãn, thử tiếp trên 20 đơn vị đóng gói nữa. Phép thử đạt nếu thể tích trung bình của 30 đơn vị không nhỏ hơn thể tích ghi trên nhãn và có không quá 1 đơn vị có thể tích nhỏ hơn 95 % nhưng không ít hơn 90 % thể tích ghi trên nhãn.
Chế phẩm đơn liều
Lấy 10 đơn vị đóng gói. Xác định thể tích từng đơn vị tương tự như đối với chế phẩm đa liều nhưng thời gian giữ đồ đựng để gạn hết thuốc vào ống đong là không quá 5 s. Cũng có thể xác định thể tích thuốc (ml) có thể lấy ra được từ từng đơn vị đóng gói bằng cách chuyển lượng thuốc trong mỗi đơn vị vào một đồ đựng sạch, khô, đã cân bì, cân lại để xác định khối lượng thuốc được lấy ra (g) và chia khối lượng này cho khối lượng riêng (g/ml) của thuốc.
Chế phẩm đạt yêu cầu nếu thể tích trung bình của 10 đơn vị không dưới thể tích ghi trên nhãn và thể tích của từng đơn vị nằm trong khoảng từ 95 % đến 110 % thể tích ghi trên nhãn.
Nếu thể tích trung bình của 10 đơn vị nhỏ hơn thể tích trên nhãn nhưng không có đơn vị nào có thể tích nằm ngoài khoảng 95 % đến 110 % thể tích ghi trên nhãn; hoặc thể tích trung bình của 10 đơn vị không nhỏ hơn thể tích ghi trên nhãn và có không quá 1 đơn vị có thể tích nằm ngoài khoảng 95 % đến 110 % nhưng trong khoảng 90 % đến 115 %, thử tiếp trên 20 đơn vị nữa. Phép thử đạt nếu thể tích trung bình của 30 đơn vị không nhỏ hơn thể tích ghi trên nhãn và có không quá 1 đơn vị có thể tích nằm ngoài khoảng 95 % đến 110% nhưng trong khoảng 90 % đến 115 % thể tích ghi trên nhãn.
Đối với các thuốc bột cần pha với một thể tích xác định dung môi để thu được thể tích thuốc công bố trên nhãn: Tiến hành pha riêng biệt 10 đơn vị đóng gói với một thể tích chính xác chất pha loãng theo đúng hướng dẫn dùng thuốc, lắc kỹ trước khi đem thử.
Các thuốc dạng lỏng khác thuốc tiêm, thuốc tiêm truyền và thuốc uống (trừ thuốc khí dung thuốc xịt và thuốc bột)
Lấy 10 đơn vị đóng gói và 10 ống đong khô, sạch có độ chính xác phù hợp, chuyển toàn bộ lượng thuốc có trong mỗi đơn vị đóng gói vào từng ống đong riêng rẽ. Cũng có thể xác định thể tích thuốc (ml) có thể lấy ra được từ từng đơn vị đóng gói bằng cách chuyển lượng thuốc trong mỗi đơn vị vào một đồ đựng sạch, khô, đã cân bì, cân lại để xác định khối lượng thuốc được lấy ra (g) và chia khối lượng này cho khối lượng riêng (g/ml) của thuốc.
Chế phẩm đạt yêu cầu nếu thể tích trung bình của 10 đơn vị không dưới thể tích ghi trên nhãn và không có đơn vị nào có thể tích dưới 90 % thể tích ghi trên nhãn đối với các thuốc có thể tích đóng gói trên nhãn nhỏ hơn hoặc bằng 60 ml và dưới 95 % thể tích ghi trên nhãn đối với các thuốc có thể tích đóng gói trên nhãn lớn hơn 60 ml.
Nếu chế phẩm không đáp ứng yêu cầu trên và có không quá 1 đơn vị có thể tích nhỏ hơn giới hạn nêu trên thì tiếp tục thử với 20 đơn vị đóng gói nữa. Phép thử đạt nếu thể tích trung bình của 30 đơn vị đóng gói không nhỏ hơn thể tích ghi trên nhãn và có không quá một đơn vị có thể tích dưới 90 % thể tích ghi trên nhãn đối với thuốc có thể tích đóng gói trên nhãn nhỏ hơn hoặc bằng 60 ml hoặc dưới 95 % thể tích ghi trên nhãn đối với thuốc có thể tích đóng gói trên nhãn lớn hơn 60 ml.
PHỤ LỤC 11.2 PHÉP THỬ ĐỘ ĐỒNG ĐỀU HÀM LƯỢNG
Phép thử độ đồng đều hàm lượng của các chế phẩm đơn liều dựa trên cơ sở định lượng hàm lượng dược chất của từng đơn vị liều, để xác định mỗi hàm lượng riêng lẻ có nằm trong giới hạn cho phép so với hàm lượng trung bình của các đơn vị liều được thử hay không.
Phép thử này không yêu cầu áp dụng cho các chế phẩm chứa multivitamin và nguyên tố vi lượng, các thành phần dược liệu có trong thuốc hoặc các trường hợp khác khi được chứng minh là phù hợp.
Cách thử: Lấy ngẫu nhiên 10 đơn vị, áp dụng phương pháp phân tích phù hợp để xác định lượng dược chất có trong từng đơn vị. Áp dụng phương pháp quy định tại phụ lục của dạng bào chế tương ứng để đánh giá kết quả.
Phương pháp 1
Chế phẩm đạt yêu cầu phép thử nếu có không quá một đơn vị có hàm lượng nằm ngoài giới hạn từ 85 % đến 115 % và không có đơn vị nào có hàm lượng nằm ngoài giới hạn từ 75 % đến 125 % của hàm lượng trung bình.
Chế phẩm không đạt yêu cầu phép thử nếu có quá ba đơn vị có hàm lượng nằm ngoài giới hạn từ 85 % đến 115 %, hoặc có một hay nhiều đơn vị có hàm lượng nằm ngoài giới hạn từ 75 % đến 125 % của hàm lượng trung bình.
Nếu hai hoặc ba đơn vị có hàm lượng nằm ngoài giới hạn từ 85 % đến 115 % nhưng ở trong giới hạn từ 75 % đến 125 % của hàm lượng trung bình, thử lại trên 20 đơn vị khác lấy ngẫu nhiên. Chế phẩm đạt yêu cầu phép thử nếu có không quá ba trong tổng số 30 đơn vị đem thử có hàm lượng nằm ngoài giới hạn từ 85 % đến 115 % và không có đơn vị nào có hàm lượng nằm ngoài giới hạn từ 75 % đến 125 % của hàm lượng trung bình.
Phương pháp 2
Chế phẩm đạt yêu cầu phép thử nếu hàm lượng của từng đơn vị nằm trong giới hạn từ 85 % đến 115 % của hàm lượng trung bình.
Chế phẩm không đạt yêu cầu phép thử nếu có quá một đơn vị có hàm lượng nằm ngoài giới hạn từ 85 % đến 115 %, hoặc có một đơn vị có hàm lượng nằm ngoài giới hạn từ 75 % đến 125 % của hàm lượng trung bình.
Nếu có một đơn vị có hàm lượng nằm ngoài giới hạn từ 85 % đến 115 % nhưng trong giới hạn từ 75 % đến 125 % của hàm lượng trung bình, thử lại trên 20 đơn vị khác lấy ngẫu nhiên. Chế phẩm đạt yêu cầu phép thử nếu cố không quá một trong tổng số 30 đơn vị đem thử có hàm lượng nằm ngoài giới hạn từ 85 % đến 115 % và không có đơn vị nào có hàm lượng nằm ngoài giới hạn từ 75 % đến 125 % của hàm lượng trung bình.
Phương pháp 3
Chế phẩm đạt yêu cầu phép thử nếu hàm lượng trung bình của 10 đơn vị nằm trong giới hạn từ 90 % đến 110 % hàm lượng ghi trên nhãn và hàm lượng của từng đơn vị phải nằm trong giới hạn từ 75 % đến 125 % của hàm lượng trung bình.
PHỤ LỤC 11.3 PHÉP THỬ ĐỘ ĐỒNG ĐỀU KHỐI LƯỢNG
Tùy theo chế phẩm tiến hành thử theo một trong các phương pháp sau, phương pháp 1, 2 và 3 áp dụng cho các chế phẩm đóng gói đơn liều.
Phương pháp 1
Áp dụng cho thuốc viên nén, thuốc đạn, thuốc trứng, thuốc dán, thuốc cấy, thuốc que đặt vào mũi
Cân riêng biệt 20 đơn vị lấy ngẫu nhiên, tính khối lượng trung bình. Không được có quá hai đơn vị có khối lượng nằm ngoài giới hạn chênh lệch so với khối lượng trung bình quy định trong Bảng 11.3.1 và không được có đơn vị nào có khối lượng vượt gấp đôi giới hạn đó.
Phương pháp 2
Áp dụng cho thuốc nang, thuốc bột, thuốc cốm (không bao)
Cân khối lượng của một nang hay một gói (thuốc bột, thuốc cốm). Với nang cứng, tháo rời hai nửa vỏ nang, dùng bông lau sạch vỏ và cân khối lượng của vỏ. Với nang mềm, cắt mở nang, bóp hết thuốc ra, dùng ether hoặc dung môi hữu cơ thích hợp rửa vỏ nang, để khô tự nhiên cho đến khi hết mùi dung môi, cân khối lượng của vỏ nang. Với gói, cắt mở gói, lấy hết thuốc ra, dùng bông lau sạch bột thuốc bám ở mặt trong, cân khối lượng vỏ gói. Khối lượng thuốc trong nang hay gói là hiệu số giữa khối lượng nang thuốc hay gói thuốc và khối lượng vỏ nang hay vỏ gói. Tiến hành tương tự với 19 đơn vị khác lấy ngẫu nhiên. Tính khối lượng trung bình của thuốc trong nang hay gói. Kết quả được đánh giá dựa vào Bảng 11.3.1 giống như Phương pháp 1.
Phương pháp 3
Áp dụng cho thuốc bột để pha tiêm
Loại bỏ hết nhãn, rửa sạch và làm khô bên ngoài. Loại bỏ hết các nút nếu có, cân ngay khối lượng cả vỏ và thuốc. Lấy hết thuốc ra, dùng bông lau sạch, nếu cần rửa với nước, sau đó với ethanol 96 % (TT), sấy ở 100 °C đến 105 °C trong 1 h. Nếu vỏ không chịu được nhiệt độ này, làm khô ở nhiệt độ thích hợp với khối lượng không đổi, để nguội trong bình hút ẩm và cân. Hiệu số giữa hai lần cân là khối lượng của thuốc. Tiến hành tương tự với 19 đơn vị khác lấy ngẫu nhiên. Tính khối lượng trung bình của thuốc. Kết quả được đánh giá dựa vào Bảng 11.3.1 giống như Phương pháp 1.
Bảng 11.3.1 – Bảng quy định độ đồng đều khối lượng cho chế phẩm đơn liều
| Dạng bào chế | Khối lượng trung bình (KLTB) | % chênh lệch so với KLTB |
| Thuốc viên nén không bao và bao phim | Nhỏ hơn hoặc bằng 80 mg Lớn hơn 80 mg và nhỏ hơn 250 mg Bằng hoặc lớn hơn 250 mg | 10 7,5 5 |
| Thuốc bột để pha tiêm* | Lớn hơn 40 mg | 10 |
| Thuốc đạn Thuốc trứng Cao dán | Tất cả các khối lượng | 5 |
| Thuốc nang, thuốc cốm không bao, thuốc bột, thuốc bột để pha thuốc nhỏ mắt/rửa mắt và các dạng bào chế khác (nếu không có quy định giới hạn đồng đều khối lượng tại chuyên luận chung của dạng bào chế đó) | Nhỏ hơn 300 mg
Bằng hoặc lớn hơn 300 mg | 10
7,5 |
* Đối với thuốc bột để pha tiêm, khi khối lượng trung bình bằng hay nhỏ hơn 40 mg, chế phẩm phải thử độ đồng đều hàm lượng thay cho phép thử độ đồng đều khối lượng.
Phương pháp 4
Áp dụng cho các chế phẩm đa liều có lượng thuốc đóng gói trên nhãn tính theo khối lượng (trừ thuốc khí dung, thuốc xịt, thuốc bọt)
Lấy một đơn vị đóng gói, bỏ nhãn nếu cần. Làm sạch và làm khô bên ngoài đồ đựng bằng cách thích hợp. Cân đồ đựng có chứa thuốc. Mở đồ chứa (gói, tuýp, lọ,...), lấy hết thuốc ra, cắt mở đồ chứa nếu cần để dễ dàng làm sạch thuốc bám ở mặt trong bằng cách dùng bông để lau hoặc rửa bằng dung môi thích hợp, làm khô nếu cần và cân khối lượng của đồ chứa. Hiệu số giữa hai lần cân là khối lượng của thuốc. Tiến hành tương tự với chín đơn vị đóng gói khác lấy ngẫu nhiên.
Mẫu thử đạt quy định nếu khối lượng trung bình của 10 đơn vị đóng gói không nhỏ hơn khối lượng ghi trên nhãn và không có đơn vị đóng gói nào có khối lượng ít hơn 90 % khối lượng ghi trên nhãn nếu khối lượng ghi trên nhãn nhỏ hơn hoặc bằng 60 g hoặc ít hơn 95 % khối lượng ghi trên nhãn nếu khối lượng ghi trên nhãn lớn hơn 60 g.
Khi không đạt các yêu cầu trên và có 1 đơn vị đóng gói có khối lượng ít hơn 90 % khối lượng ghi trên nhãn nếu khối lượng ghi trên nhãn nhỏ hơn hoặc bằng 60 g hoặc ít hơn 95 % khối lượng ghi trên nhãn nếu khối lượng ghi trên nhãn lớn hơn 60 g, tiến hành thử tiếp với 20 đơn vị đóng gói khác lấy ngẫu nhiên.
Mẫu thử đạt quy định nếu khối lượng trung bình của 30 đơn vị đóng gói không nhỏ hơn khối lượng ghi trên nhãn và chỉ có 1 đơn vị đóng gói trong 30 đơn vị đóng gói có khối lượng ít hơn 90 % khối lượng ghi trên nhãn nếu khối lượng ghi trên nhãn nhỏ hơn hoặc bằng 60 g hoặc ít hơn 95 % khối lượng ghi trên nhãn nếu khối lượng ghi trên nhãn lớn hơn 60 g.
Phương pháp 5
Áp dụng cho thuốc khí dung (trừ thuốc hít sử dụng thiết bị khí dung), thuốc xịt và thuốc bọt
Lấy một đơn vị đóng gói, bỏ nhãn nếu cần. Làm sạch và làm khô bên ngoài đồ đựng bằng cách thích hợp. Cân đồ đựng có chứa thuốc. Lấy thuốc ra khỏi đồ chứa bằng kỹ thuật an toàn (ví dụ như làm lạnh để giảm áp suất bên trong, tháo van và đổ thuốc ra). Làm sạch đồ chứa bằng dung môi thích hợp, tráng vài lần bằng methanol, sấy đồ chứa cùng van và các phụ kiện đi kèm ở 100 °C trong 5 min, để nguội và cân. Hiệu số giữa hai lần cân là khối lượng của thuốc. Tiến hành tương tự với chín đơn vị đóng gói khác lấy ngẫu nhiên.
Mẫu thử đạt yêu cầu nếu khối lượng thuốc của mỗi đơn vị đóng gói không nhỏ hơn khối lượng ghi trên nhãn.
Phương pháp 6
Áp dụng cho các dạng thuốc dùng đường uống đóng gói đa liều (bột, cốm, siro,...) có kèm các dụng cụ để đo liều, có lượng thuốc đóng gói trên nhãn tính theo khối lượng
Phương pháp nhằm xác định độ đồng đều khối lượng của từng liều đơn được đóng hoặc đo.
Dùng dụng cụ đo liều được cung cấp kèm theo chế phẩm thuốc để lấy riêng rẽ, ngẫu nhiên 20 liều từ một hoặc nhiều đơn vị đóng gói. Xác định khối lượng từng liều và khối lượng trung bình. Không có quá 2 liều có khối lượng chênh lệch quá 10 % và không có liều nào có khối lượng chênh lệch quá 20 % so với khối lượng trung bình.
PHỤ LỤC 11.8 XÁC ĐỊNH GIỚI HẠN TIỂU PHÂN
Tiểu phân tạp nhiễm trong thuốc tiêm và thuốc tiêm truyền là các phần tử nhỏ không hòa tan, linh động, không phải là bọt khí, có mặt ngoài ý muốn. Tiểu phân tạp nhiễm có thể đến từ nhiều nguồn khác nhau nhưng đều cần phải giảm thiểu bất kể là loại nào. Phải kiểm soát mức độ nhiễm tạp tiểu phân trong thuốc tiêm và thuốc tiêm truyền. Tùy theo kích thước, có thể phân loại các tiểu phân tạp nhiễm thành hai loại là nhìn thấy và không nhìn thấy bằng mắt thường.
Đối với thuốc tiêm và thuốc tiêm truyền, các tiểu phân nhìn thấy được coi như là nguy cơ mất an toàn cho người dùng và cần phải được giảm thiểu đến mức tối đa. Tiểu phân nhìn thấy thường là những phần tử không đồng nhất, phân bố không đều trong một lô, vì vậy cỡ mẫu kiểm tra phải đủ lớn. Mặc dù sự xuất hiện của các tiểu phân như vậy thường ngẫu nhiên nhưng đó cũng có thể là dấu hiệu của vấn đề mang tính hệ thống. Bởi vậy, sự xuất hiện của các tiểu phân nhìn thấy phải được xem xét đánh giá và phải có các biện pháp thích hợp để loại bỏ mọi nguồn gây nhiễm tiểu phân và/hoặc cải thiện công thức, đồ đựng cấp 1 hoặc quy trình sản xuất.
Nguồn nhiễm tiểu phân có thể từ bên ngoài (từ môi trường, thiết bị, đồ đựng cấp 1 hoặc con người) hoặc từ bên trong (liên quan đến công thức, bao gồm dược chất và tá dược, tạp nhiễm hoặc tồn dư trong quy trình sản xuất hoặc do sự tương tác giữa thuốc và đồ đựng). Ví dụ tiểu phân bị nhiễm từ bên ngoài bao gồm sợi bông, thủy tinh, mảnh sơn, tóc, mảnh côn trùng. Ví dụ tiểu phân tạo ra từ bên trong như các hạt protein, hạt silicon, tủa vô cơ như bari sulfat, nhôm sulfat, các tiểu phân acid béo là sản phẩm phân hủy của polysorbat, mảnh thủy tinh.
Đôi khi chỉ có thể phát hiện các tiểu phân tạp nhiễm trong quá trình bảo quản, tức là trong quá trình nghiên cứu độ ổn định của sản phẩm, do đó việc kiểm tra theo dõi mức độ nhiễm tạp tiểu phân bằng phương pháp phù hợp là rất quan trọng. Việc đánh giá tiểu phân phải dựa trên cơ sở cân nhắc về mức độ an toàn liên quan đến sản phẩm và đường dùng.
Cần lưu ý khuyến cáo người dùng phải quan sát, kiểm tra tiểu phân bằng mắt trước khi sử dụng.
A. Xác định giới hạn tiểu phân không nhìn thấy bằng mắt thường
Để xác định giới hạn tiểu phân không nhìn thấy bằng mắt thường có thể áp dụng hai phương pháp mô tả dưới đây, Phương pháp 1 (dùng thiết bị đếm tiểu phân cản ánh sáng) và Phương pháp 2 (dùng kính hiển vi đếm tiểu phân). Khi kiểm tra tiểu phân không nhìn thấy bằng mắt thường của thuốc tiêm và thuốc tiêm truyền, thường áp dụng Phương pháp 1. Tuy nhiên, đối với một số chế phẩm, sau khi đã áp dụng Phương pháp 1, phải dùng đến Phương pháp 2 để khẳng định kết quả.
Không phải tất cả các thuốc tiêm và thuốc tiêm truyền đều có thể kiểm tra được giới hạn tiểu phân không nhìn thấy bằng mắt thường bằng một trong hai phương pháp, hay cả hai phương pháp. Các chế phẩm không thật trong, hay có độ nhớt cao, không áp dụng Phương pháp 1 mà phải tiến hành thử theo Phương pháp 2, ví dụ nhũ tương, dịch keo, chế phẩm liposom. Tương tự, các chế phẩm tạo bọt khí khi đưa vào thiết bị đếm cũng cần phải có lưu ý đặc biệt khi chuẩn bị mẫu hoặc dùng Phương pháp 2. Nếu độ nhớt của chế phẩm quá cao, không thể áp dụng phương pháp nào, thì phải pha loãng chế phẩm với dung môi không có tiểu phân thích hợp để làm giảm độ nhớt và có thể tiến hành được thử nghiệm.
Kết quả kiểm tra một đơn vị hay một nhóm các đơn vị riêng lẻ không có giá trị ngoại suy tin cậy đối với các đơn vị chưa được kiểm tra. Bởi vậy, cần xây dựng kế hoạch lấy mẫu có căn cứ về mặt thống kê để sao cho từ kết quả kiểm tra có thể đánh giá được mức độ nhiễm tiểu phân của cả nhóm lớn các đơn vị chế phẩm.
Phương pháp 1: Dùng thiết bị đếm tiểu phân cản ánh sáng
Sử dụng thiết bị thích hợp hoạt động theo nguyên tắc cản ánh sáng, cho phép tự động xác định kích thước tiểu phân và số lượng tiểu phân theo kích thước.
Hiệu chuẩn thiết bị bằng vật liệu chuẩn là các hạt hình cầu có kích thước đã biết trong khoảng 10 μm đến 25 μm. Phân tán hạt chuẩn trong nước không có tiểu phân (TT). Tránh kết tụ tiểu phân trong quá trình phân tán.
Lưu ý chung về điều kiện thử
Tiến hành thử nghiệm trong các điều kiện hạn chế được nhiễm tiểu phân, tốt nhất là trong tủ lọc khí vô khuẩn.
Rửa thật cẩn thận dụng cụ thủy tinh và dụng cụ lọc (trừ màng lọc) bằng dung dịch tẩy rửa ấm, tráng lại bằng nước cho sạch hết chất tẩy. Ngay trước khi dùng, tráng lại các dụng cụ từ trên xuống dưới, bên ngoài, sau đó là bên trong với nước không có tiểu phân (TT).
Tránh tạo bọt khí trong chế phẩm đem thử, đặc biệt là khi chuyển mẫu vào dụng cụ để tiến hành đếm tiểu phân.
Để kiểm tra môi trường có thích hợp cho thử nghiệm, dụng cụ thủy tinh có đủ sạch và nước sử dụng có đảm bảo không có tiểu phân hay không, tiến hành phép thử sau:
Kiểm tra giới hạn tiểu phân của 5 mẫu nước không có tiểu phân (TT), mỗi mẫu 5 ml, theo phương pháp mô tả ở dưới. Nếu trong cả 25 ml nước thử có trên 25 tiểu phân kích thước bằng hay lớn hơn 10 μm, phải tiến hành lại các bước chuẩn bị cho đến khi môi trường, dụng cụ thủy tinh và nước thích hợp cho thử nghiệm.
Cách tiến hành
Trộn đều chế phẩm bằng cách lộn đi, lộn lại nhẹ nhàng đơn vị thử 20 lần liên tiếp. Nếu cần, tháo bỏ phần bảo vệ ngoài nắp đậy. Dùng tia nước không có tiểu phân (TT) rửa bề mặt nắp và cổ đồ đựng, mở nắp cẩn thận, tránh nhiễm tiểu phân từ bên ngoài. Loại bọt khí bằng cách để yên 2 min hoặc siêu âm.
Đối với thuốc tiêm và thuốc tiêm truyền thể tích lớn (trên 100 ml) tiến hành thử với từng đơn vị đóng gói.
Đối với thuốc tiêm và thuốc tiêm truyền thể tích nhỏ (từ 100 ml trở xuống) có thể tích dưới 25 ml, gộp lượng thuốc của ít nhất 10 đơn vị đóng gói vào một đồ đựng sạch sao cho có được ít nhất 25 ml. Trong trường hợp đặc biệt, khi có thuyết minh phù hợp, dung dịch thử có thể được chuẩn bị bằng cách trộn thuốc từ một số đơn vị đóng gói thích hợp, pha loãng thành 25 ml với nước không có tiểu phân (TT) hoặc với dung môi thích hợp không có tiểu phân [khi không thể dùng nước không có tiểu phân (TT)].
Đối với thuốc tiêm và thuốc tiêm truyền thể tích nhỏ có thể tích từ 25 ml trở lên có thể thử với từng đơn vị đóng gói.
Thuốc bột để pha tiêm được hoàn nguyên trọng nước không có tiểu phân (TT) hoặc dung môi thích hợp không có tiểu phân [khi nước không có tiểu phân (TT) không thích hợp].
Số đơn vị đem thử phải đủ để cho đánh giá đúng đắn về mặt thống kê. Đối với thuốc tiêm và thuốc tiêm truyền có thể tích từ 25 ml trở lên, số đơn vị đem thử có thể nhỏ hơn 10, căn cứ vào một kế hoạch lấy mẫu phù hợp.
Lấy 4 mẫu thử, mỗi mẫu không dưới 5 ml, đưa vào thiết bị đếm, đếm số tiểu phân có kích thước bằng hay lớn hơn 10 μm và số tiểu phân bằng hay lớn hơn 25 μm.
Loại bỏ kết quả của mẫu đầu tiên. Tính số lượng trung bình các tiểu phân của chế phẩm đã thử.
Đánh giá kết quả
Đối với thuốc tiêm và thuốc tiêm truyền thể tích lớn (trên 100 ml): Chế phẩm đạt yêu cầu phép thử, nếu trung bình trong mỗi mililít có không quá 25 tiểu phân kích thước bằng hay lớn hơn 10 μm và không quá 3 tiểu phân kích thước bằng hay lớn hơn 25 μm.
Đối với thuốc tiêm và thuốc tiêm truyền thể tích nhỏ (từ 100 ml trở xuống): Chế phẩm đạt yêu cầu phép thử, nếu trung bình trong mỗi đơn vị đóng gói đã kiểm tra có không quá 6000 tiểu phân kích thước bằng hay lớn hơn 10 μm và không quá 600 tiểu phân kích thước bằng hay lớn hơn 25 μm.
Nếu số lượng tiểu phân trung bình vượt quá các giới hạn nêu trên, kiểm tra chế phẩm bằng Phương pháp 2.
Phương pháp 2: Dùng kính hiển vi đếm tiểu phân
Sử dụng kính hiển vi hai thị kính thích hợp, bộ lọc để lưu giữ các tiểu phân và màng lọc để đếm tiểu phân.
Kính hiển vi có độ phóng đại 100 ± 10 lần, được trang bị một trắc vi thị kính hiệu chỉnh bằng một trắc vi vật kính, một bàn soi có khả năng giữ và di chuyển toàn bộ diện tích của màng lọc, hai nguồn chiếu thích hợp cấp ánh sáng phản xạ và ánh sáng chếch.
Trắc vi thị kính (Hình 11.8.1) bao gồm một vòng tròn lớn có vạch chữ thập chia tư, các vòng đối chiếu trong suốt hay màu đen Đường kính 10 μm và 25 μm ở độ phóng đại 100 lần, một thước chia vạch đến 10 μm. Trắc vi thị kính phải được hiệu chuẩn bằng một trắc vi kế được chứng nhận bởi cơ quan đo lường chuẩn quốc gia hoặc quốc tế. Sai số tương đối cho phép của thước chia vạch là ± 2 %. Vòng tròn lớn được gọi là thị trường phân vạch (TTPV).
Trong hai nguồn chiếu sáng, một nguồn cấp trường sáng phản xạ từ trong kính hiển vi và nguồn bên ngoài bổ trợ hội tụ, có khả năng điều chỉnh để rọi ánh sáng khúc xạ chếch ở góc 10° đến 20°.
Bộ lọc để lưu giữ các tiểu phân bao gồm màng lọc thích hợp và đế lọc bằng thủy tinh hoặc vật liệu khác thích hợp, nối với máy hút chân không. Màng lọc kích thước thích hợp màu đen hoặc xám sẫm, với kích thước lỗ lọc bằng 1,0 μm hoặc nhỏ hơn.

Hình 11.8.1 - Trắc vi thị kính
Lưu ý chung về điều kiện thử
Tiến hành thử nghiệm trong các điều kiện hạn chế được nhiễm tiểu phân, tốt nhất là trong tủ lọc khí vô khuẩn.
Rửa thật cẩn thận dụng cụ thủy tinh và dụng cụ lọc (trừ màng lọc) bằng dung dịch tẩy rửa ấm, tráng lại bằng nước cho sạch hết chất tẩy. Ngay trước khi dùng, tráng lại các dụng cụ từ trên xuống dưới, bên ngoài, sau đó là bên trong và tráng hai mặt của màng lọc với nước không có tiểu phân (TT).
Để kiểm tra môi trường có thích hợp cho thử nghiệm, dụng cụ thủy tinh và màng lọc có đủ sạch, nước sử dụng có đảm bảo không có tiểu phân hay không, tiến hành phép thử sau: Kiểm tra giới hạn tiểu phân của 50 ml nước không có tiểu phân (TT) theo phương pháp mô tả ở dưới. Nếu có quá 20 tiểu phân kích thước bằng hay lớn hơn 10 μm hoặc có quá 5 tiểu phân kích thước bằng hay lớn hơn 25 μm trên màng lọc, phải tiến hành lại các bước chuẩn bị cho đến khi môi trường, dụng cụ thủy tinh, màng lọc và nước thích hợp cho thử nghiệm.
Cách tiến hành
Trộn đều chế phẩm bằng cách lộn đi, lộn lại nhẹ nhàng từng đơn vị thử 20 lần liên tiếp. Nếu cần, tháo bỏ phần bảo vệ ngoài nắp đậy. Dùng tia nước không có tiểu phân (TT) rửa bề mặt nắp và cổ đồ đựng, mở nắp cẩn thận, tránh nhiễm tiểu phân từ bên ngoài.
Đối với thuốc tiêm và thuốc tiêm truyền thể tích lớn (trên 100 ml), tiến hành thử với từng đơn vị đóng gói.
Đối với thuốc tiêm và thuốc tiêm truyền thể tích nhỏ (từ 100 ml trở xuống) có thể tích dưới 25 ml, gộp lượng thuốc của ít nhất 10 đơn vị đóng gói vào một đồ đựng sạch. Trong trường hợp đặc biệt, khi có thuyết minh phù hợp, dung dịch thử có thể được chuẩn bị bằng cách trộn thuốc từ một số đơn vị đóng gói thích hợp, pha loãng thành 25 ml với nước không có tiểu phân (TT) hoặc với dung môi thích hợp không có tiểu phân [khi không thể dùng nước không có tiểu phân (TT)].
Đối với thuốc tiêm và thuốc tiêm truyền thể tích nhỏ có thể tích từ 25 ml trở lên có thể thử với từng đơn vị đóng gói.
Thuốc bột để pha tiêm được hoàn nguyên trong nước không có tiểu phân (TT) hoặc dung môi thích hợp không có tiểu phân [khi nước không có tiểu phân (TT) không thích hợp].
Số đơn vị đóng gói đem thử phải đủ để cho kết quả đánh giá đúng đắn về mặt thống kê. Đối với thuốc tiêm và thuốc tiêm truyền có thể tích từ 25 ml trở lên, số mẫu thử có thể nhỏ hơn 10, căn cứ vào một kế hoạch lấy mẫu phù hợp.
Dùng vài mililít nước không có tiểu phân (TT) làm ẩm bên trong đế lọc đã gắn màng lọc. Chuyển toàn bộ thể tích mẫu gộp hoặc thể tích của một đơn vị đóng gói vào phễu lọc và hút chân không. Nếu cần, đổ từng lượng nhỏ mẫu thử vào phễu cho đến khi toàn bộ thể tích dung dịch thử được lọc.
Sau lần đổ cuối cùng, dùng tia nước không có tiểu phân (TT) rửa thành bên trong đế lọc. Hút chân không cho tới khi bề mặt màng lọc không còn chất lỏng. Đặt màng lọc vào đĩa Petri và để khô tự nhiên bằng cách mở hé nắp đĩa. Sau khi màng lọc khô, đặt đĩa Petri lên bàn soi của kính hiển vi và soi toàn bộ màng lọc dưới ánh sáng phản xạ từ nguồn chiếu. Đếm số tiểu phân bằng hay lớn hơn 10 μm và số tiểu phân bằng hay lớn hơn 25 μm. Hoặc, có thể đếm trên một phần của màng lọc, rồi tính số lượng trên cả màng lọc. Tính số lượng trung bình tiểu phân của chế phẩm đã thử.
Quá trình phân loại kích thước tiểu phân được tiến hành bằng cách so sánh hình ảnh của mỗi tiểu phân với các vòng đối chiếu 10 μm và 25 μm mà không di chuyển tiểu phân khỏi vị trí ban đầu trong thị trường phân vạch, tức là không đặt tiểu phân chồng lên vòng đối chiếu. Đường kính bên trong của các vòng đối chiếu trong suốt dùng để phân loại các tiểu phân màu trắng và trong suốt, còn các tiểu phân thẫm màu được phân loại bằng đường kính ngoài của các vòng đối chiếu màu đen.
Khi tiến hành kiểm tra theo Phương pháp 2, không phân loại hay liệt kê các chất vô định hình, nửa lỏng hoặc các chất không rõ ràng về hình thái khác xuất hiện như một vết màu hay đổi màu trên màng lọc. Những chất này gần như không nổi rõ trên màng lọc, có dạng keo hay lớp phim mỏng. Trong trường hợp này cần kiểm tra bổ sung bằng Phương pháp 1.
Đánh giá kết quả
Đối với thuốc tiêm và thuốc tiêm truyền thể tích lớn (trên 100ml): Chế phẩm đạt yêu cầu phép thử, nếu trung bình trong mỗi mililít có không quá 12 tiểu phân kích thước bằng hay lớn hơn 10 μm và không quá 2 tiểu phân kích thước bằng hay lớn hơn 25 μm.
Đối với thuốc tiêm và thuốc tiêm truyền thể tích nhỏ (từ 100 ml trở xuống): Chế phẩm đạt yêu cầu phép thử, nếu trung bình mỗi đơn vị đóng gói đã kiểm tra có không quá 3000 tiểu phân kích thước bằng hay lớn hơn 10 μm và không quá 300 tiểu phân kích thước bằng hay lớn hơn 25 μm.
B. Xác định tiểu phân nhìn thấy bằng mắt thường
Phép thử này là quy trình đơn giản để kiểm tra tiểu phân nhìn thấy trong thuốc dạng lỏng, nếu có thể, áp dụng cả với thuốc sau khi hoàn nguyên.
Dụng cụ
Thiết bị (Hình 11.8.2) là một bộ dụng cụ để soi bao gồm:
A. Bảng màu đen mờ, kích thước thích hợp, gắn thẳng đứng.
B. Bảng màu trắng không lóa, kích thước thích hợp, gắn thẳng đứng bên cạnh bảng màu đen.
C. Bảng màu trắng không lóa, kích thước thích hợp, gắn vuông góc với bảng A và B.
D. Hộp đèn có gắn nguồn ánh sáng trắng được che chắn thích hợp và bộ khuếch tán ánh sáng thích hợp (ví dụ nguồn sáng bao gồm hai đèn huỳnh quang 13W, mỗi ống dài 525 mm hoặc nguồn sáng đèn LED phù hợp). Cường độ chiếu sáng tại vùng soi phải duy trì từ 2000 lux đến 750 lux. Có thể phải sử dụng cường độ sáng cao hơn đối với đồ chứa là thủy tinh màu hoặc plastic và đối với chế phẩm có màu hoặc đục.
Cách tiến hành
Loại bỏ mọi nhãn mác dán vào đồ chứa, rửa sạch và làm khô bên ngoài các đơn vị đóng gói đem thử. Lắc nhẹ hay lộn đi, lộn lại chậm từng đơn vị, tránh không tạo thành bọt khí và quan sát trong khoảng 5 s trước bảng màu trắng. Tiến hành lặp lại việc lắc trộn và quan sát như trên trước bảng màu đen. Khi không thể soi được qua đồ đựng trực tiếp, có thể chuyển mẫu vào một đồ đựng không có tiểu phân và rất thận trọng để không bị nhiễm tiểu phân từ môi trường. Ghi lại khi phát hiện thấy bất kỳ tiểu phân nào.
Đánh giá kết quả đối với thuốc tiêm, thuốc tiêm truyền
Trong sản xuất, phải kiểm tra 100 % sản phẩm và loại bỏ bất kỳ sản phẩm nào có chứa tiểu phân nhìn thấy.
Đối với thuốc tiêm, thuốc tiêm truyền đang lưu hành trên thị trường, có thể kiểm tra như sau.
Lấy 20 đơn vị đóng gói để thử. Chế phẩm được xem là cơ bản không có các tiểu phân nhìn thấy bằng mắt thường nếu không quan sát được bất cứ tiểu phân nào trong các đơn vị đóng gói đem thử. Nếu có thể, kiểm tra thêm một số đơn vị đóng gói nữa để có thêm thông tin về nguy cơ chế phẩm bị nhiễm các tập tiểu phân nhìn thấy bằng mắt thường.

Hình 11.8.2 - Dụng cụ để soi độ trong
PHỤ LỤC 12.2 QUY ĐỊNH CHUNG VỀ KIỂM TRA CHẤT LƯỢNG DƯỢC LIỆU
Kiểm tra chất lượng dược liệu bao gồm mô tả, định tính, các thử nghiệm liên quan (độ ẩm, tro, kim loại nặng,...), xác định hàm lượng chất chiết được và định lượng một chất hoặc một số chất trong dược liệu. Khi kiểm tra chất lượng dược liệu cần lưu ý những quy định chung sau đây.
(1) Lấy mẫu để kiểm tra chất lượng theo hướng dẫn tại Phụ lục 12.1 và quy định hiện hành.
(2) Khi cần thiết, sử dụng một mẫu đối chiếu (dược liệu hay chất tinh khiết) thích hợp đã đạt yêu cầu chất lượng theo chuyên luận riêng để xác nhận kết quả kiểm nghiệm.
(3) Nếu dược liệu được kiểm tra đã được nghiền thành bột, bị làm nhỏ hoặc bị vụn nát thì dược liệu đó vẫn phải đáp ứng các yêu cầu trong chuyên luận, trừ yêu cầu về mô tả và kiểm tra bằng kính hiển vi.
(4) Chỉ tiêu “Mô tả” bao gồm những mô tả về hình thái, kích thước, màu sắc, các đặc điểm bên ngoài, thể chất, mùi, vị của dược liệu.
a. Hình thái: Gồm hình dạng và trạng thái của dược liệu. Thông thường dược liệu được quan sát mà không cần xử lý trước. Các loại dược liệu là toàn cây, lá hay hoa bị nhăn nheo, khô quăn thì cần làm ẩm, làm mềm và trải phẳng để quan sát. Đối với một vài loại quả và hạt nếu cần có thể được làm mềm và loại bỏ vỏ hạt để kiểm tra đặc điểm bên trong.
b. Kích thước: Thông số về chiều dài, đường kính và độ dày của dược liệu. Tiến hành đo trên một số mẫu và cho phép một vài mẫu có giá trị hơi cao hơn hoặc thấp hơn giá trị quy định trong chuyên luận. Sử dụng thước đo chia vạch tới milimét. Đối với hạt hay quả rất nhỏ, xếp 10 hạt hoặc quả gần nhau thành một hàng trên một tờ giấy có chia vạch tới milimét, đo và tính giá trị trung bình.
c. Đặc điểm bên ngoài: Bao gồm màu sắc và các đặc điểm bề mặt của dược liệu được quan sát bằng mắt thường ở ánh sáng ban ngày (ánh sáng thường). Màu sắc của mặt ngoài dược liệu, thuốc có thể được mô tả bằng các sắc độ như “hơi”, “đậm” hay “nhạt” (ví dụ màu hơi vàng, màu vàng đậm, màu vàng nhạt). Nếu màu được mô tả là màu phối hợp của hai màu thì màu chính là màu ghi trước (ví dụ trong màu nâu vàng thì màu nâu là màu chính). Các đặc điểm bề mặt như mịn, nhăn, thô ráp, gồ ghề, rỗ, lồi lõm và các đặc điểm khác được quan sát trên dược liệu không qua xử lý, sơ chế.
d. Thể chất của dược liệu: Quan sát bằng mắt thường ở ánh sáng ban ngày (ánh sáng thường): đặc điểm mặt gãy do bẻ dược liệu, đặc điểm mặt cắt (dùng dụng cụ để cắt dược liệu) về màu sắc và độ bỏng, mịn và cấu trúc bề mặt. Nếu các cấu trúc bề mặt vết bẻ khó quan sát do có các xơ sợi gỗ thì có thể cắt phẳng rồi quan sát.
e. Mùi của dược liệu: Được kiểm tra bằng cách ngửi trực tiếp hoặc sau khi bẻ gãy và vò, giã nát mẫu thử. Nếu cần thiết có thể làm ầm mẫu bằng nước nóng trước khi ngửi.
f. Vị của dược liệu: Được kiểm tra bằng cách nếm trực tiếp một lượng nhỏ của mẫu thử hoặc ngâm mẫu thử vào nước nóng và nếm dịch chiết. Nên cẩn thận khi nếm những dược liệu có độc.
g. Kiểm tra nấm mốc, côn trùng và các tạp nhiễm vi sinh vật: Quan sát bằng mắt thường ở ánh sáng ban ngày. Không được quan sát thấy nấm mốc, côn trùng và các tạp nhiễm vi sinh vật khác trên dược liệu.
(5) Định tính: Gồm những phương pháp dùng để nhận biết dược liệu như phương pháp kinh nghiệm truyền thống, phương pháp vi học, các phương pháp vật lý, hóa học, hóa lý và sinh học.
a. Phương pháp kinh nghiệm truyền thống: Các phương pháp đơn giản, dễ sử dụng. Ví dụ: Sự thay đổi màu sắc, sự chìm hay nổi trong nước, âm thanh khi va chạm cọ sát, màu của ngọn lửa hay khói và mùi khi đốt cháy dược liệu,...
b. Phương pháp vi học: Quan sát đặc điểm của các mô, tế bào, đặc điểm các chất chứa trong tế bào của lát cắt, của bột hay của bề mặt dược liệu dưới kính hiển vi. Chuẩn bị các tiêu bản phù hợp và thực hiện theo hướng dẫn tại Phụ lục 12.18.
c. Định tính bằng các phương pháp hóa lý: Gồm các phép thử liên quan đến thành phần hóa học trong mẫu thử bằng các phương pháp vật lý và hóa học như sau:
Định tính bằng phản ứng hóa học: Phép thử một thành phần hoặc nhóm chất trong mẫu thử bằng các phản ứng hóa học. Phương pháp tiến hành được trình bày ở các chuyên luận riêng.
Định tính huỳnh quang: Quan sát trực tiếp sự phát huỳnh quang của mẫu thử (mặt cắt mẫu thử hoặc dịch chiết của mẫu thử) hoặc sau khi cho tác dụng với acid, kiềm hay thuốc thử. Trừ khi có quy định riêng trong chuyên luận, mẫu thử được quan sát dưới ánh sáng tử ngoại ở bước sóng 365 nm, cách nguồn sáng khoảng 10 cm.
Định tính vi thăng hoa: Trừ quy định trong chuyên luận riêng, định tính vi thăng hoa thường được tiến hành như sau: Đặt một vòng kim loại đường kính khoảng 2 cm, cao khoảng 8 mm lên một tấm kim loại mỏng hoặc tấm kính có kích thước hơi lớn hơn. Đưa một lượng bột mẫu thử thích hợp vào trong vòng kim loại, trải đều, đậy kín vòng kim loại bằng một phiến kính (có thể đặt lên trên phiến kính đậy vòng kim loại một miếng bông tẩm nước lạnh). Đặt tấm kim loại hoặc tấm kính đã có mẫu thử lên một lưới amiant. Đun nóng nhẹ bằng ngọn lửa đèn cồn phía dưới lỗ cho đến khi bột dược liệu bị cháy xém. Tắt lửa và để nguội, nhấc phiến kính đậy vòng kim loại ra và đem quan sát dưới kính hiển vi về hình dạng và màu sắc của tinh thể chất được thăng hoa đọng lại trên phiến kính hoặc thêm thuốc thử thích hợp lên chất đã thăng hoa trên phiến kính rồi quan sát sự thay đổi màu sắc.
Định tính bằng sắc ký hoặc quang phổ: các phương pháp sắc ký lớp mỏng, sắc ký khí, sắc ký lỏng hiệu nâng cao, phổ hấp thụ tử ngoại khả kiến, phổ hồng ngoại để định tính.
d. Định tính bằng PCR: Định tính dược liệu bằng cách so sánh sự khác nhau của DNA.
(6) Các thử nghiệm liên quan đến phép thử tinh khiết như độ ẩm, tro, tạp chất, chất độc hoặc chất gây hại tồn dư trong quá trình chế biến, bảo quản dược liệu, kim loại nặng, các nguyên tố gây hại cho sức khỏe, tồn dư hóa chất bảo vệ thực vật, aflatoxin,...
Đối với các vị thuốc, nếu không có quy định trong chuyên luận riêng, chỉ tiêu mất khối lượng do làm khô hoặc hàm lượng nước không được quá 13 %; tỷ lệ vụn nát và tạp chất không được quá 3 % và hàm lượng lưu huỳnh dioxyd tồn dư không được quá 150 ppm.
Nếu không có quy định trong chuyên luận riêng, dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật trong dược liệu thô không được quá giới hạn quy định trong Phụ lục 12.17.
(7) Xác định chất chiết được là xác định hàm lượng các chất hòa tan trong dược liệu có thể chiết được bằng nước, ethanol hay một dung môi thích hợp khác.
(8) Định lượng là việc xác định hàm lượng của một hay một số chất có trong dược liệu bằng phương pháp hóa học, vật lý hoặc sinh học. Các phương pháp này được quy định trong chuyên luận riêng hoặc chuyên luận chung. Nếu dược liệu cần phải được làm thành bột trước khi định lượng thì phải nghiền hoặc tán sau đó rây và trộn đều bột dược liệu như mô tả trong chuyên luận riêng.
PHỤ LỤC 14. HƯỚNG DẪN ĐÁNH GIÁ SINH KHẢ DỤNG VÀ TƯƠNG ĐƯƠNG SINH HỌC IN VIVO THUỐC GENERIC
Thuốc phát minh (thuốc biệt dược gốc) là thuốc được cấp phép lưu hành đầu tiên trên thế giới, trên cơ sở đã có đầy đủ các dữ liệu về chất lượng, an toàn và hiệu quả, bao gồm thuốc đã được cấp phép hoặc chưa được cấp phép lưu hành tại Việt Nam. Thuốc đối chứng là thuốc phát minh hoặc thuốc đã được cấp giấy đăng ký lưu hành với đầy đủ dữ liệu về hiệu quả, an toàn và chất lượng. Thuốc thử là thuốc generic được sử dụng để chứng minh có cùng hiệu quả điều trị (xét cả về hiệu lực và tính an toàn của thuốc) ở cùng một mức liều theo cùng một đường dùng so với thuốc đối chứng thông qua các dữ liệu thử tương đương sinh học (in vivo) hoặc thử tương đương độ hòa tan (in vitro) so với thuốc đối chứng. Hiện nay, Bộ Y tế đã ban hành thông tư (được cập nhật định kỳ) quy định các thuốc generic phải thử tương đương sinh học khi nộp hồ sơ đăng ký sản xuất, lưu hành.
Trong nghiên cứu đánh giá tương đương sinh học (TĐSH) in vivo, khái niệm sinh khả dụng được định nghĩa là tốc độ và mức độ hấp thu dược chất từ chế phẩm thuốc vào hệ tuần hoàn chung. Các đại lượng được sử dụng để biểu thị tốc độ và mức độ hấp thu dược chất vào hệ tuần hoàn chung trong nghiên cứu TĐSH bao gồm: Cmax (nồng độ đỉnh); tmax (thời gian đạt đến nồng độ đỉnh) và AUC (diện tích dưới đường cong nồng độ - thời gian). Hai thuốc được coi là TĐSH nếu sinh khả dụng của chúng nằm trong giới hạn cho phép khi dùng cùng mức liều trong cùng điều kiện thử nghiệm.
Hướng dẫn này đưa ra một số nguyên tắc cơ bản trong đánh giá TĐSH để thu được kết quả tin cậy.
I. Quy định chung về phương pháp phân tích xác định nồng độ thuốc trong dịch sinh học
Các phương pháp sắc ký sử dụng các detector khác nhau như quang phổ tử ngoại - khả kiến, huỳnh quang, khối phổ,... thường được sử dụng trong nghiên cứu đánh giá TĐSH để xác định nồng độ thuốc (dược chất hoặc chất chuyển hóa - chất cần phân tích) trong dịch sinh học (thường là mẫu huyết tương, máu, huyết thanh hay nước tiểu) của người tình nguyện (NTN) tham gia nghiên cứu. Những phương pháp này có tính đặc hiệu cao; có khả năng tách và định lượng trên cùng một hệ thống và cùng thời điểm. Trong một số trường hợp, có thể sử dụng phương pháp phân tích sinh hóa và sinh học nếu phương pháp có đủ độ đúng, độ chính xác, độ đặc hiệu để xác định được nồng độ thuốc trong các mẫu sinh học.
Xác định nồng độ thuốc trong dịch sinh học cần thực hiện theo nguyên tắc thực hành tốt phòng thí nghiệm và theo quy định của các hướng dẫn hiện hành về phân tích thuốc trong dịch sinh học. Do quá trình phân tích mẫu sinh học bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như lượng mẫu ít, nồng độ thấp, lẫn nhiều tạp chất (lipid, protein, chất nội sinh, chất chuyển hóa,...) và sự khác nhau giữa các cá thể, nên phương pháp phân tích phải được xây dựng và thẩm định để đảm bảo độ tin cậy trước khi tiến hành phân tích mẫu người tình nguyện.
1. Thẩm định phương pháp phân tích
1.1. Thẩm định đầy đủ
1.1.1. Độ đặc hiệu chọn lọc
Độ đặc hiệu là khả năng của phương pháp phân tích trong việc phát hiện và phân biệt chất phân tích với các chất khác, bao gồm cả các chất liên quan như các chất có cấu trúc tương tự chất phân tích, 6hất chuyển hóa, chất đồng phân, tạp chất, sản phẩm phân hủy hình thành trong quá trình xử lý mẫu hoặc các thuốc dự kiến sẽ được sử dụng đồng thời để điều trị cho bệnh nhân.
Độ chọn lọc là khả năng của phương pháp phân tích có thể xác định (định tính - định lượng) chất cần phân tích, không bị nhầm lẫn với các thành phần khác có trong mẫu. Độ chọn lọc phải được đánh giá bằng cách sử dụng các mẫu blank (là mẫu dịch sinh học trắng không chứa chất phân tích và chuẩn nội) thu được từ ít nhất 6 nguồn/lô riêng lẻ (không tan huyết và không có mỡ máu). Việc sử dụng ít nguồn hơn có thể được chấp nhận trong trường hợp nền mẫu hiếm. Tính chọn lọc đối với chuẩn nội cũng cần được đánh giá. Đối với nền mẫu có mỡ máu và nền mẫu tan huyết, nên sử dụng ít nhất một nguồn nền mẫu và nền mẫu sử dụng phải mang tính đại diện nhiều nhất có thể cho các mẫu nghiên cứu dự kiến.
Đối với chỉ tiêu này, đáp ứng pic của mẫu trắng và mẫu zero không lớn hơn 20 % (tại vị trí của chất phân tích) và không lớn hơn 5 % (tại vị trí của chuẩn nội) so với đáp ứng của mẫu giới hạn định lượng dưới (LLOQ).
1.1.2. Đường chuẩn và khoảng tuyến tính
Đường chuẩn thể hiện mối quan hệ giữa đáp ứng/ tỷ lệ đáp ứng của pic (diện tích hay chiều cao) với nồng độ của chất phân tích phải được đánh giá bằng phương trình toán học phù hợp. Phương trình này phải được xác định bằng phương pháp phân tích hồi quy phù hợp (như phương pháp bình phương nhỏ nhất). Khoảng tuyến tính là khoảng từ nồng độ thấp nhất của đường chuẩn (LLOQ) đến nồng độ cao nhất của đường chuẩn (ULOQ) có mối quan hệ tuyến tính. Trong khoảng này, phép phân tích phải thỏa mãn các yêu cầu về độ đúng và độ chính xác theo quy định.
Đường chuẩn phải bao gồm mẫu blank và zero (là mẫu dịch sinh học trắng không có chất phân tích nhưng có chuẩn nội) và có ít nhất 6 nồng độ của chất phân tích pha trong cùng một mẫu dịch sinh học. Đường chuẩn hay khoảng tuyến tính phải bao gồm toàn bộ khoảng nồng độ của các mẫu cần phân tích. Không xác định nồng độ chất cần phân tích có trong mẫu thử bằng phương pháp ngoại suy.
Đường chuẩn hay khoảng tuyến tính thực hiện trên ít nhất 3 lô, trong nhiều ngày, độ đúng tại các nồng độ phải từ 85 % -115 %, trừ tại điểm LLOQ được chấp nhận 80 % - 120 %. Có ít nhất 75 % và tối thiểu 6 điểm chuẩn trong dãy chuẩn đạt được tiêu chuẩn trên.
1.1.3. Độ đúng và độ chính xác
Độ đúng là giá trị phản ánh độ sát gần của kết quả phân tích với giá trị thực của mẫu đã biết. Độ đúng của mỗi mức nồng độ phải nằm trong khoảng 85 % -115 % nồng độ thực đã pha, riêng tại nồng độ LLOQ chấp nhận khoảng 80 % -120 %.
Độ chính xác có thể được biểu thị bằng hệ số biến thiên (% CV) trong ngày và giữa các ngày, được xác định trên mẫu chuẩn kiểm tra. Nói chung, % CV không nên vượt quá 15 %, riêng tại nồng độ giới hạn định lượng dưới cho phép không vượt quá 20 %.
Độ đúng và độ chính xác được đánh giá ở ít nhất 4 mức nồng độ trong khoảng đường chuẩn: nồng độ giới hạn định lượng dưới (LLOQ), 1 nồng độ gấp khoảng 3 lần nồng độ thấp nhất của đường chuẩn (LQC); 1 nồng độ khoảng 30 % - 50 % nồng độ cao nhất của đường chuẩn (MQC) và 1 nồng độ khoảng ít nhất 75 % nồng độ cao nhất của đường chuẩn (HQC). Mỗi mức nồng độ phải được xác định trên ít nhất 5 mẫu. Độ đúng và độ chính xác phải được thực hiện trên ít nhất 3 lô phân tích trong ít nhất 2 ngày.
1.1.4. Giới hạn định lượng dưới (LLOQ)
Giới hạn định lượng dưới là nồng độ thấp nhất của đường chuẩn có thể xác định được với độ đúng và độ chính xác cho phép. Giới hạn định lượng dưới ít nhất phải thỏa mãn khả năng phân tích nồng độ của mẫu thử lấy ở thời điểm bằng 3 - 5 lần thời gian bán thải hoặc nhỏ hơn 1/20 giá trị Cmax của chất phân tích.
1.1.5. Tỷ lệ thu hồi
Tỷ lệ thu hồi là tỷ lệ chất phân tích thu được sau khi mẫu được chiết tách theo quy trình đã chọn so với mẫu có cùng nồng độ không được xử lý qua chiết tách, được pha trong nền mẫu đã được chiết. Tỷ lệ thu hồi thường được đánh giá ở 3 mức nồng độ: LQC, MQC và HQC. Tỷ lệ thu hồi của chất phân tích không cần phải đạt 100 % nhưng tỷ lệ thu hồi của chất phân tích và chuẩn nội (nếu được sử dụng), giữa các mức nồng độ cần phải nhất quán.
1.1.6. Độ nhiễm chéo
Độ nhiễm chéo là sự thay đổi của nồng độ mẫu đo được vì lượng chất phân tích của mẫu trước còn bị giữ lại trong thiết bị phân tích. Nhiễm chéo cần phải được đánh giá và giảm thiểu trong quá trình xây dựng phương pháp. Trong quá trình thẩm định phương pháp, độ nhiễm chéo được đánh giá bằng việc, mẫu blank được tiêm ngay sau mẫu ULOQ, đáp ứng pic của mẫu trắng không lớn hơn 20% (tại vị trí của chất phân tích) và không lớn hơn 5 % (tại vị trí của chuẩn nội) so với đáp ứng của mẫu LLOQ. Nếu xảy ra nhiễm chéo thì mẫu nghiên cứu không nên tiêm ngẫu nhiên. Phương pháp phân tích cần phải được xây dựng, thẩm định và áp dụng trong phân tích mẫu để nhiễm chéo không ảnh hưởng đến độ đúng và độ chính xác của kết quả.
1.1.7. Độ pha loãng
Độ pha loãng là việc đánh giá quy trình pha loãng mẫu để xác nhận rằng quy trình này không ảnh hưởng đến nồng độ đo được của chất phân tích. Thông số này được đánh giá bằng cách pha loãng mẫu có nồng độ chất phân tích lớn hơn ULOQ với nền mẫu (hoặc nền mẫu thay thế nếu nền mẫu hiếm). Hệ số pha loãng và nồng độ được áp dụng trong quá trình phân tích mẫu nghiên cứu phải nằm trong phạm vi được đánh giá trong quá trình thẩm định.
Với mỗi hệ số pha loãng thực hiện trên ít nhất 5 mẫu, độ đúng thu được nằm trong khoảng ± 15 % của nồng độ thực đã pha và độ chính xác không vượt quá 15 %.
1.1.8. Ảnh hưởng nền mẫu
Ảnh hưởng nền mẫu là do ảnh hưởng của tất cả các thành phần khác ngoài chất phân tích có trong mẫu. Đánh giá ảnh hưởng của nền mẫu nên thực hiện lặp lại trên ít nhất 3 mẫu tại các nồng độ LQC và HQC từ ít nhất 6 nguồn nền mẫu khác nhau. Việc sử dụng ít nguồn hơn có thể được chấp nhận trong trường hợp nền mẫu hiếm.
Đối với từng nền mẫu, độ đúng thu được nằm trong khoảng ± 15 % của nồng độ thực đã pha và độ chính xác không vượt quá 15 %.
1.1.9. Độ ổn định
Độ ổn định được đánh giá để đảm bảo rằng các bước trong quá trình chuẩn bị mẫu, xử lý mẫu và phân tích mẫu và các điều kiện bảo quản được sử dụng không làm ảnh hưởng đến nồng độ của chất phân tích.
Việc đánh giá phải thực hiện ít nhất trên hai mức nồng độ là LQC và HQC. Độ đúng trung bình tại mỗi mức nồng độ nằm trong khoảng 15 % của nồng độ thực đã pha.
Đối với thuốc phối hợp cố định liều và các thuốc cần được sử dụng phối hợp trong phác đồ điều trị: các chỉ tiêu độ ổn định đông rã, độ ổn định của mẫu sinh học ngắn hạn và dài hạn nên được đánh giá với tất cả thành phần có trong thuốc.
Một số ví dụ về chỉ tiêu độ ổn định nên được nghiên cứu như sau:
• Độ ổn định dung dịch chuẩn gốc và chuẩn làm việc (bao gồm cả chất phân tích và chuẩn nội).
• Độ ổn định đông - rã đông của mẫu dịch sinh học.
• Độ ổn định của mẫu dịch sinh học (ngắn hạn và dài hạn).
• Độ ổn định mẫu trong autosampler.
• Độ ổn định trong quá trình xử lý mẫu.
• Độ ổn định sau quá trình xử lý mẫu.
• Độ ổn định chất phân tích trong máu toàn phần (nếu có thể).
1.1.10. Độ lặp lại khi tiêm mẫu
Độ lặp lại khi tiêm mẫu được đánh giá bằng cách tiêm lại lô phân tích bao gồm các mẫu đường chuẩn và ít nhất 5 mẫu tại các nồng độ QC (LQC, MQC, HQC) sau khi bảo quản. Độ chính xác và độ chính xác của các mẫu QC tiêm lại sẽ xác định liệu các mẫu có thể được tiêm lại hay không.
1.2. Thẩm định một phần
Thẩm định một phần được thực hiện khi có những thay đổi so với phương pháp đã được thẩm định đầy đủ trước đó. Thẩm định một phần có thể thực hiện một vài chỉ tiêu nhỏ hoặc có thể thực hiện nhiều chỉ tiêu gần như thẩm định đầy đủ. Nếu chỉ tiêu độ ổn định của mẫu đã được đánh giá rồi thì không cần thiết thực hiện lại chỉ tiêu này ở một địa điểm nghiên cứu khác.
Đối với phương pháp sắc ký, những thay đổi sau cần thực hiện thẩm định một phần, nhưng không giới hạn nội dung thay đổi:
• Thay đổi địa điểm phân tích khi sử dụng cùng một phương pháp phân tích (ví dụ như chuyển giao phương pháp phân tích giữa các phòng thí nghiệm).
• Thay đổi phương pháp phân tích (ví dụ như thay đổi detector, nền mẫu, ...).
• Thay đổi quy trình xử lý mẫu.
• Thay đổi thể tích mẫu.
• Thay đổi khoảng tuyến tính.
• Thay đổi chất chống đông trong dịch sinh học (nhưng không thay đổi ion phản ứng) (ví dụ, heparin thành acid ethylenediaminetetraacetic (EDTA)).
• Thay đổi bản chất nền mẫu sinh học (ví dụ từ huyết tương sang huyết thanh hoặc dịch não tủy; hoặc thay đổi về loài trong nền mẫu: ví dụ chuyển từ huyết tương chuột cống sang huyết tương chuột nhắt).
• Thay đổi điều kiện bảo quản.
1.3. Thẩm định chéo
Thẩm định chéo được yêu cầu trong các trường hợp sau:
• Dữ liệu thu được từ những phương pháp phân tích khác nhau trong cùng một nghiên cứu.
• Dữ liệu thu được trong một nghiên cứu từ các phòng thí nghiệm khác nhau với cùng một phương pháp phân tích.
• Dữ liệu thu được từ các phương pháp phân tích khác nhau của các nghiên cứu mà dự kiến kết hợp dùng cho một chế độ liều đặc biệt hoặc quyết định của cơ quan quản lý liên quan đến an toàn, hiệu quả và nhãn thuốc.
2. Phân tích mẫu người tình nguyện (NTN)
2.1. Lô phân tích
Một lô phân tích (analytical run) bao gồm mẫu blank; mẫu zero; các mẫu của đường chuẩn (ít nhất là 06 mẫu chuẩn) và các mẫu QC ở ít nhất 03 mức nồng độ (LQC, MQC, HQC), mỗi nồng độ 2 mẫu hoặc ít nhất bằng 5 % tổng số lượng mẫu nghiên cứu tùy theo số lượng nào lớn hơn và các mẫu NTN. Trong một lô phân tích, các mẫu QC phải được xen kẽ với các mẫu NTN để đảm bảo độ đúng, độ chính xác của toàn bộ quá trình phân tích và phải luôn được bắt đầu và kết thúc bằng mẫu QC.
Mẫu đường chuẩn và mẫu QC nên được chuẩn bị từ những dung dịch gốc độc lập. Tất cả các mẫu trong một lô phân tích (mẫu đường chuẩn, mẫu QC và mẫu NTN) phải được xử lý và chiết tách như là một batch theo trình tự dự định phân tích. Một batch phân tích bao gồm các mẫu QC và mẫu NTN và có thể có mẫu blank, zero và mẫu đường chuẩn, trong đó các mẫu được xử lý trong cùng một khoảng thời gian xác định và được thực hiện bởi cùng một nhóm cán bộ phận tích với cùng điều kiện phân tích và cùng dung môi, hóa chất.
Trong 1 lô phân tích không khuyến khích xử lý chia thành nhiều batch riêng lẻ, nếu vì lý do liên quan đến độ ổn định ngắn hạn cần chia thành nhiều batch, thì mỗi batch phải bao gồm các mẫu QC (LQC, MQC, HQC).
Đối với nghiên cứu so sánh sinh khả dụng/TĐSH, tất cả các mẫu của một NTN cần được phân tích trong 1 lô để giảm thiểu sự dao động.
2.2. Tiêu chuẩn chấp nhận lô phân tích
Tiêu chuẩn chấp nhận lô phân tích nên được quy định sẵn trong các quy trình thao tác chuẩn (SOP) và được tham khảo trong các hướng dẫn hiện hành của các cơ quan quản lý. Trường hợp lô phân tích có chứa nhiều batch, tiêu chuẩn chấp nhận áp dụng cho cả lô phân tích và cho từng batch riêng lẻ. có thể chấp nhận lô phân tích nếu có batch trong lô không đạt yêu cầu.
Độ đúng của các mẫu chuẩn của đường chuẩn phải nằm trong khoảng 85 % -115 %, riêng tại điểm LLOQ phải đạt từ 80 % -120 % so với nồng độ lý thuyết. Có ít nhất 75 % số điểm của đường chuẩn và ít nhất 6 điểm phải đạt yêu cầu trên. Trường hợp có 1 điểm chuẩn nào đó trong đường chuẩn không đạt yêu cầu trên, điểm chuẩn này sẽ được loại bỏ khỏi đường chuẩn và đường chuẩn sau khi bỏ điểm sẽ được đánh giá lại bao gồm cả phân tích hồi quy.
Nếu loại bỏ điểm chuẩn là LLOQ của đường chuẩn, khi đó điểm chuẩn gần nhất đạt yêu cầu được xác định là giá trị LLOQ của lô phân tích, điểm thấp nhất này vẫn phải đáp ứng yêu cầu có độ đúng nằm trong khoảng ± 15 %. Trường hợp loại bỏ điểm chuẩn là ULOQ của đường chuẩn, khi đó điểm chuẩn gần nhất đạt yêu cầu được xác định là giá trị ULOQ của lô phân tích. Đường chuẩn sau khi loại bỏ điểm chuẩn phải có khoảng nồng độ bao trùm tất cả các nồng độ mẫu QC (LQC, MQC, HQC).
Độ đúng của các mẫu QC phải đạt từ 85 % -115 % so với nồng độ lý thuyết có ít nhất 67 % tổng số mẫu QC phải đạt yêu cầu và ở mỗi mức nồng độ phải có ít nhất 50 % số mẫu QC đạt yêu cầu.
2.3. Khoảng tuyến tính
Trước khi phân tích mẫu NTN, nếu biết hoặc dự đoán được phạm vi hẹp về nồng độ của các mẫu NTN, thì nên thu hẹp phạm vi đường chuẩn, điều chỉnh nồng độ mẫu QC hoặc thêm mẫu QC ở nồng độ phù hợp. Nếu không dự đoán trước được phạm vi hẹp về nồng độ của các mẫu NTN nhưng quan sát thấy sau khi bắt đầu phân tích mẫu thì nên dừng phân tích, thu hẹp khoảng đường chuẩn hoặc điều chỉnh nồng độ QC hoặc thêm mẫu QC ở nồng độ phù hợp. Không cần thiết phải phân tích lại các mẫu đã được phân tích trước khi tối ưu hóa khoảng đường chuẩn hoặc nồng độ QC. Nếu nồng độ một số mẫu NTN cao hơn ULOQ, khoảng đường chuẩn nên được mở rộng và thêm mẫu QC hoặc điều chỉnh nồng độ mẫu NTN (có thể pha loãng mẫu đến nồng độ phù hợp nằm trong khoảng đường chuẩn). Đảm bảo có ít nhất 2 nồng độ mẫu QC phải nằm trong khoảng nồng độ của NTN. Nếu khoảng đường chuẩn bị thay đổi, phương pháp phân tích phải được thẩm định lại (thẩm định một phần) để đảm bảo độ đúng và chính xác của phương pháp phân tích.
2.4. Phân tích lại mẫu người tình nguyện
Trình bày lý do phân tích lại, số lượng mẫu phân tích lại và tiêu chuẩn chấp nhận kết quả phân tích lại trong đề cương nghiên cứu hoặc các SOP trước khi bắt đầu phân tích mẫu NTN. Số lượng mẫu phân tích lại và kết quả phân tích lại được cung cấp trong báo cáo phân tích. Đối với các mẫu có nhiều chất phân tích được phân tích đồng thời, kết quả chấp nhận được áp dụng cho từng chất phân tích riêng biệt.
Một vài ví dụ về lý do phân tích lại mẫu NTN như sau:
• Lô phân tích không đạt yêu cầu theo tiêu chuẩn chấp nhận lô phân tích.
• Dao động đáp ứng của chuẩn nội.
• Nồng độ mẫu lớn hơn ULOQ.
• Mẫu có nồng độ dưới LLOQ trong một lô phân tích có điểm thấp nhất của đường chuẩn được loại bỏ.
• Lỗi do thiết bị.
• Sai sót trong quá trình xử lý và tiêm mẫu.
• Nồng độ mẫu sau pha loãng nhỏ hơn giới hạn định lượng dưới.
• Phát hiện đáp ứng tại vị trí thời gian lưu của chất phân tích trong các mẫu 0 giờ, mẫu blank, mẫu zero.
• Sắc ký đồ xấu.
Đối với nghiên cứu TĐSH hoặc nghiên cứu sinh khả dụng, phân tích lại vì lý do dược động học không được chấp nhận.
2.5. Tiêm lại mẫu người tình nguyện
Có thể tiêm lại các mẫu đã xử lý trong trường hợp gặp sự cố nếu mẫu đã được nghiên cứu độ ổn định sau xử lý. Việc tiêm lại toàn bộ lô phân tích hoặc tiêm lại riêng lẻ đường chuẩn hoặc QC vì đường chuẩn hoặc QC không đạt, mà không xác định được nguyên nhân phân tích, là không được chấp nhận.
2.6. Phân tích lại mẫu để kiểm tra phương pháp (ISR)
Phân tích mẫu ISR: thực hiện sau khi kết thúc toàn bộ quá trình phân tích trên mẫu NTN để kiểm tra độ chính xác và độ lặp lại của phương pháp phân tích. Tiến hành lựa chọn một số mẫu của NTN để thực hiện phân tích lại theo quy trình phân tích đã ban hành.
Số lượng mẫu lựa chọn phân tích ISR bằng 10 % nếu tổng số mẫu đã phân tích ít hơn 1000. Nếu tổng số mẫu đã phân tích lớn hơn 1000, số lượng mẫu phân tích ISR bằng 10 % của 1000 mẫu đầu tiên cộng thêm 5 % số lượng các mẫu còn lại. Nên chọn mẫu một cách độc lập, ngẫu nhiên, lựa chọn các mẫu xung quanh Cmax và ở pha thải trừ, mẫu của các NTN khác nhau, của các ngày phân tích khác nhau.
Phương pháp có độ lặp lại tốt nếu ít nhất 2/3 tổng số mẫu được phân tích kiểm tra có % lệch nằm trong khoảng ± 20 %.
Công thức tính % lệch như sau:
| % lệch = | Kết quả phân tích ISR - Kết quả ban đầu | x 100 |
| Kết quả trung bình |
II. Quy định chung đối với một nghiên cứu đánh giá tương đương sinh học
Theo quy định, tất cả các nghiên cứu TĐSH đều phải xây dựng đề cương nghiên cứu. Đề cương nghiên cứu trình bày rõ mô hình hoặc thiết kế nghiên cứu; phương pháp, nội dung nghiên cứu; phương pháp thống kê, đánh giá kết quả nghiên cứu,... Đề cương nghiên cứu đều phải được Hội đồng đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học phê duyệt chấp thuận trước khi tiến hành triển khai nghiên cứu.
Quy định chung đối với các nghiên cứu TĐSH như sau:
1. Lựa chọn đối tượng tham gia nghiên cứu
1.1. Tiêu chuẩn
Trong nghiên cứu TĐSH, đa số trường hợp thường chọn đối tượng tham gia nghiên cứu là NTN khoẻ mạnh, một số trường hợp đặc biệt thực hiện trên bệnh nhân vì lý do an toàn hoặc dung nạp. Với thuốc dùng cho trẻ em, vẫn nên chọn người lớn để thử nghiệm. Một số tiêu chuẩn cụ thể của đối tượng tham gia nghiên cứu như sau:
• Giới tính: Nếu thuốc dự kiến sử dụng cho cả hai giới thì đối tượng tham gia nghiên cứu là cả hai giới Nếu thuốc dự kiến chỉ dùng cho một giới thì đối tượng tham gia nghiên cứu chì chọn giới tính đỏ; tuy nhiên, cần cân nhắc nguy cơ đối với phụ nữ có khả năng mang thai.
• Tuổi: Thông thường từ 18 tuổi - 55 tuổi.
• Chỉ số khối lượng cơ thể (Body mass index - BMI): Được tính bằng thương số giữa cân nặng cơ thể (đơn vị tính kg) và bình phương chiều cao cơ thể (đơn vị tính m2) của đối tượng tham gia nghiên cứu và thông thường nằm trong giới hạn trung bình từ 18,0 - 30,0 kg/m2 (giới hạn BMI có thể thay đổi tùy theo từng hướng dẫn và tùy theo từng nghiên cứu cụ thể).
• Không có tiền sử về dị ứng.
• Chấp thuận tự nguyện ký vào bản cam kết tự nguyện tham gia nghiên cứu.
• Đối tượng tham gia nghiên cứu được lựa chọn theo tiêu chuẩn chấp nhận/loại trừ đã được ghi rõ trong đề cương, cần sàng lọc đối tượng tham gia bằng đánh giá các xét nghiệm cận lâm sàng, tiền sử bệnh và kiểm tra thể trạng. Tùy thuộc vào nhóm điều trị và dữ liệu an toàn của thuốc, cần Kiểm tra sức khỏe riêng và thực hiện các lưu ý phòng ngừa trước, trong và sau khi hoàn thành nghiên cứu. Ưu tiên người không hút thuốc lá và không có tiền sử nghiện rượu hoặc ma túy. Kiểu hình và/hoặc kiểu gen của các đối tượng cũng có thể được cân nhắc vì các lý do liên quan đến độ an toàn hoặc dược động học. Nếu đối tượng là phụ nữ thì phải tiến hành làm các xét nghiệm và đảm bảo không mang thai trong quá trình tham gia nghiên cứu.
1.2. Số lượng người tình nguyện
Số lượng NTN phải đủ theo các yêu cầu, quy định liên quan của Cơ quan quản lý và được tính theo nguyên tắc dùng với số lượng nhỏ nhất có thể được để đảm bảo yếu tố đạo đức trong các nghiên cứu y sinh học nhưng vẫn đảm bảo yêu cầu, mức độ tin cậy thống kê của phép thử.
Xác định số lượng NTN tham gia nghiên cứu dựa trên tính toán cỡ mẫu thích hợp. Số lượng NTN không được ít hơn 12 người và phải đảm bảo phòng ngừa trường hợp NTN có thể rút lui khỏi nghiên cứu.
Đối với nghiên cứu chéo, số lượng NTN tham gia nghiên cứu được tính trên các dữ liệu:
* Hệ số biến thiên nội cá thể được ước tính từ một nghiên cứu thăm dò hoặc từ kết quả của các nghiên cứu trước đó hoặc từ các tài liệu đã được công bố;
• Mức ý nghĩa mong muốn (5 %);
• Giá trị power mong muốn (tối thiểu là 80 %);
• Sai lệch dự kiến của tỷ số giữa thuốc thử và thuốc đối chứng (delta trong khoảng từ 5 % -10 %);
• Khoảng tin cậy 90 % tỷ lệ trung bình hình học phải nằm trong giới hạn TĐSH yêu cầu, thông thường là 80,00 % - 125,00 %, đối với dữ liệu được chuyển đổi logarit.
Trong một số trường hợp, thông tin tham khảo của hệ số biến thiên không có sẵn, chưa đủ độ đáng tin cậy nên có thể sử dụng thiết kế nghiên cứu two-stage thay thế cho việc tiến hành nghiên cứu pilot.
2. Thuốc nghiên cứu
2.1. Thuốc đối chứng
Thuốc đối chứng dùng trong nghiên cứu TĐSH phải là sản phẩm đã được cấp phép sản xuất, lưu hành dựa trên các số liệu đã có về an toàn, hiệu quả điều trị của sản phẩm. Thuốc đối chứng được lựa chọn phải đạt tiêu chuẩn chất lượng và phải có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng. Nên lựa chọn thuốc đối chứng có dạng bào chế phù hợp với dạng bào chế của thuốc thử và ưu tiên lựa chọn thuốc có giấy đăng ký lưu hành còn hiệu lực do Bộ Y tế Việt Nam cấp. Nếu không có khuyến cáo cụ thể, hàm lượng dược chất so với hàm lượng ghi trên nhãn của lô thuốc thử được lựa chọn thử tương đương sinh học phải sai khác không quá 5 % so với lô thuốc đối chứng trong nghiên cứu TĐSH. Quy định cụ thể lựa chọn thuốc đối chứng dùng trong nghiên cứu TĐSH áp dụng theo hướng dẫn của cơ quan quản lý.
2.2. Thuốc thử
Thuốc thử trong nghiên cứu TĐSH phải được nghiên cứu, sản xuất theo tiêu chuẩn thực hành tốt sản xuất thuốc và các quy định liên quan của Cơ quan quản lý. Thuốc thử dùng trong nghiên cứu cần đại diện cho sản phẩm dự kiến lưu hành trên thị trường và cơ sở đăng ký cần giải thích và bàn luận về vấn đề này. Chỉ sử dụng lô thuốc thử được sản xuất với cỡ lô đủ lớn, có đầy đủ hồ sơ sản phẩm và đạt các yêu cầu chất lượng theo tiêu chuẩn đồng thời có. Quy định về cỡ lô sản xuất của thuốc thử ở quy mô thử nghiệm được quy định bởi các hướng dẫn cụ thể của Cơ quan quản lý.
Ví dụ, đối với dạng thuốc rắn dùng đường uống có tác dụng toàn thân:
• Thuốc thử được chọn từ một lô có cỡ lô tối thiểu bằng 1/10 cỡ lô sản xuất hoặc 100 000 đơn vị (tùy thuộc số lượng nào lớn hơn), trừ trường hợp có lý do hợp lý. Trường hợp cỡ lô sản xuất theo quy trình nhỏ hơn 100 000 đơn vị, mẫu thuốc dùng cho nghiên cứu cần được sản xuất theo đúng cỡ lô đăng ký.
* Khi sản xuất các lô thuốc sử dụng trong nghiên cứu, cần đảm bảo chắc chắn rằng sản phẩm và quy trình sẽ có khả năng áp dụng trên quy mô công nghiệp.
3. Thiết kế nghiên cứu
Các nghiên cứu TĐSH nên được tiến hành trong các điều kiện tiêu chuẩn hóa nhằm hạn chế tối đa sự khác biệt về tất cả các yếu tố liên quan để phát hiện tốt hơn sự khác nhau về dược động học giữa thuốc thử và thuốc đối chứng.
Kiểu nghiên cứu phổ biến nhất trong nghiên cứu TĐSH, so sánh sinh khả dụng giữa một thuốc thử và một thuốc đối chứng là nghiên cứu đơn liều, chéo 2 x 2 x 2 (2 thuốc, 2 giai đoạn, 2 trình tự thử thuốc). Để hạn chế ảnh hưởng của sự khác biệt giữa các cá thể và giai đoạn thử nghiệm, các đối tượng nghiên cứu được chia ngẫu nhiên thành 2 nhóm. Một nhóm sẽ được sử dụng thuốc thử trước và thuốc đối chứng sau; ngược lại, nhóm kia sử dụng thuốc đối chứng trước và thuốc thử sau. Giữa 2 giai đoạn thử, cần có một khoảng thời gian đủ dài để đảm bảo cho thuốc sử dụng ở giai đoạn trước loại hết ra khỏi cơ thể (ít nhất khoảng 5 lần thời gian bán thải của thuốc).
Đối với các thuốc có thời gian bán thải kéo dài (> 24 h), có thể áp dụng thiết kế nghiên cứu chéo đơn liều hoặc thiết kế nghiên cứu song song. Trong nghiên cứu song song, đối tượng tham gia thử nghiệm được chia thành 2 nhóm, một nhóm uống thuốc thử và nhóm còn lại uống thuốc đối chứng. Đối với nghiên cứu chéo hoặc song song, thời gian lấy mẫu phải đủ dài để đảm bảo hoàn thành quá trình vận chuyển thuốc qua đường tiêu hóa và hấp thu dược chất (thường xảy ra trong khoảng 2-3 ngày).
Ngoài các mô hình nghiên cứu kể trên, trong một số trường hợp có thể áp dụng các mô hình nghiên cứu khác như: nghiên cứu đa liều; nghiên cứu lặp lại.
Đối với các dạng thuốc đặc biệt khác, thiết kế và thực hiện theo hướng dẫn cụ thể của cơ quan quản lý hoặc các hướng dẫn tham chiếu của các tổ chức khác về thử TĐSH.
NTN phải kiêng thực phẩm và đồ uống có thể tương tác với chức năng tuần hoàn, tiêu hóa, gan hoặc thận (ví dụ: đồ uống có cồn hoặc một số loại nước ép trái cây) trong khoảng thời gian thích hợp trước (chẳng hạn 24 h) và trong thời gian nghiên cứu.
NTN không dùng đồng thời bất kỳ loại thuốc nào khác (bao gồm cả thuốc thảo dược) trong một khoảng thời gian thích hợp trước cũng như trong quá trình nghiên cứu. Trong trường hợp không thể tránh khỏi việc dùng thuốc đồng thời, ví dụ như để điều trị các tác dụng phụ như đau đầu, thì việc sử dụng phải được báo cáo (liều lượng và thời gian dùng thuốc) và phải đánh giá các ảnh hưởng có thể có đối với kết quả nghiên cứu.
3.1. Tình trạng đói hoặc no
Thông thường, nghiên cứu TĐSH cần được thực hiện trong tình trạng đói vì đây được xem là điều kiện tốt nhất để phát hiện sự khác biệt giữa các công thức bào chế. Do đó, đối với các thuốc mà tóm tắt đặc tính sản phẩm của thuốc đối chứng khuyến cáo sử dụng thuốc vào lúc đói hoặc không phụ thuộc bữa ăn, cần nghiên cứu TĐSH trong tình trạng đói. Đối với các thuốc mà tóm tắt đặc tính sản phẩm của thuốc đối chứng khuyến cáo chỉ sử dụng thuốc trong tình trạng no, nghiên cứu TĐSH thường được tiến hành trong tình trạng no.
Đối với thuốc dạng bào chế giải phóng dược chất biến đổi hoặc dạng bào chế đặc biệt (ví dụ: vi nhũ tương, hệ phân tán rắn) cần thực hiện nghiên cứu TĐSH ở cả tình trạng đói và tình trạng no, trừ khi có yêu cầu chỉ được dùng thuốc khi đói hoặc khi no.
Nghiên cứu đói: Người tình nguyện nhịn đói trước khi uống thuốc, thời gian tối thiểu yêu cầu NTN nhịn đói tùy theo từng hướng dẫn (thông thường từ 8 h -10 h, được quy định cụ thể trong từng đề cương nghiên cứu). Do lượng chất lỏng sử dụng có thể ảnh hưởng đến tốc độ di chuyển từ dạ dày xuống ruột của các thuốc dạng uống, cần uống thuốc thử và thuốc đối chứng với cùng một thể tích nước xác định (trong khoảng từ 150 ml - 250 ml, thông thường lượng nước uống thuốc khoảng 240 ml). NTN được uống nước theo nhu cầu, trừ khoảng thời gian một giờ trước và một giờ sau khi dùng thuốc, và không được phép ăn trong vòng 4 h sau khi dùng thuốc. Chế độ ăn sau khi dùng thuốc cần được chuẩn hóa về thành phần và thời điểm dùng bữa trong một thời gian thích hợp.
Nghiên cứu no: Đối với các nghiên cứu no, các điều kiện thử nghiệm tương tự nghiên cứu đói, chỉ khác là được cung cấp bữa ăn thử nghiệm trước khi dùng thuốc. Nếu thông tin sản phẩm của thuốc đối chứng không có khuyến cáo cụ thể, NTN cần bắt đầu bữa ăn 30 min trước khi dùng thuốc và nên ăn hết suất ăn trong vòng 30 min. Nếu không có khuyến cáo cụ thể, nên sử dụng bữa ăn giàu chất béo (khoảng 50 % so với tổng lượng calo của bữa ăn) và giàu năng lượng (khoảng 800 - 1000 calo). Bữa ăn giàu chất béo có lượng protein, carbohydrat và chất béo theo thứ tự tương ứng khoảng 150, 250 và 500 - 600 calo. Mô tả thành phần của bữa ăn sử dụng trong nghiên cứu, chú ý tới lượng protein, carbohydrat và chất béo (số gam, lượng calo tổng cộng và tỷ lệ calo tương ứng của từng thành phần).
3.2. Liều thử hoặc hàm lượng thử
Trong nghiên cứu TĐSH, liều thử của thuốc thử phải giống với liều thử của thuốc đối chứng. Trong trường hợp phải sử dụng liều khác nhau, cần nêu rõ lý do và phải hiệu chỉnh các giá trị dược động học thu được một cách phù hợp theo tỷ lệ mức liều dùng.
Khi đăng ký đồng thời một số hàm lượng khác nhau của thuốc thử, có thể chỉ cần thiết lập TĐSH với một hoặc hai hàm lượng, phụ thuộc vào tỷ lệ thành phần giữa các hàm lượng khác nhau và độ tan của chất phân tích. Hàm lượng sử dụng trong nghiên cứu phụ thuộc vào sự tuyến tính dược động học của dược chất.
Đối với thuốc có dược động học tuyến tính: Thông thường, hàm lượng cao nhất được thực hiện thử TĐSH, có thể lựa chọn hàm lượng thấp hơn để thử nếu vì lý do an toàn hay dung nạp thuốc. Nếu phương pháp phân tích không đủ nhạy để định lượng chính xác nồng độ thuốc trong huyết tương sau khi dùng liều đơn của hàm lượng cao nhất, có thể lựa chọn một mức liều cao hơn (ưu tiên dùng nhiều viên có hàm lượng cao nhất).
Nếu đã chứng minh TĐSH với (các) hàm lượng được coi là nhạy cảm nhất để phát hiện được sự khác biệt tiềm tàng giữa các thuốc, nghiên cứu TĐSH in vivo cho (các) hàm lượng khác có thể được miễn.
Đối với thuốc có dược động học không tuyến tính:
- Khi mức độ hấp thu thuốc tăng nhiều hơn sự tăng liều dùng trong khoảng liều điều trị, thực hiện ở ít nhất một hàm lượng cao nhất.
- Khi mức độ hấp thu thuốc tăng ít hơn sự tăng liều dùng trong khoảng liều điều trị mà nguyên nhân đã biết không phải do khả năng hòa tan kém của dược chất mà do có hiện tượng bão hòa các chất vận chuyển thuốc vào tế bào và cả thuốc thử và thuốc đối chứng đều không có chứa bất cứ một tá dược nào có khả năng ảnh hưởng đến nhu động đường tiêu hóa hoặc protein vận chuyển, thực hiện ở hàm lượng thấp nhất hoặc một hàm lượng nằm trong khoảng liều có dược động học tuyến tính.
- Khi mức độ hấp thu thuốc tăng ít hơn sự tăng liều dùng mà nguyên nhân đã biết là do khả năng hòa tan kém của dược chất, thực hiện ở hai hàm lượng gồm hàm lượng cao nhất và hoặc hàm lượng thấp nhất hoặc một hàm lượng nằm trong khoảng liều có dược động học tuyến tính.
3.3. Thời điểm lấy mẫu
Số lượng mẫu lấy phải đủ để có thể mô tả đường biểu diễn nồng độ thuốc trong huyết tương theo thời gian. Thời điểm lấy mẫu nên kéo dài gấp ít nhất 3 lần thời gian bán thải của thuốc, cần lấy nhiều điểm quanh tmax dự kiến để ước lượng chính xác hơn nồng độ đỉnh, tránh điềm đạt Cmax là điểm đầu tiên của đường cong nồng độ thuốc theo thời gian, cần lấy tối thiểu ba đến bốn mẫu trong pha thải trừ để đảm bảo có thể ước lượng chính xác hằng số tốc độ thải trừ (thông số này được sử dụng để ước lượng AUC(0-t) một cách tin cậy). Thời điểm lấy mẫu cũng cần đảm bảo đường cong nồng độ thuốc trong huyết tương theo thời gian đủ dài, giới hạn cho phép là AUC(0-t) phải đạt tối thiểu 80 % AUC(0-∞). Đối với các dạng bào chế giải phóng ngay có thời gian bán thải quá dài, có thể kết thúc lấy mẫu ở thời điểm sau khi uống thuốc 72 h; khi đó, giá trị AUC0-72 được sử dụng thay thế cho AUC(0-t). Thời gian lấy mẫu dài hơn 72 h là không cần thiết đối với các dạng bào chế giải phóng ngay, bất kể thời gian bán thải của thuốc dài hay ngắn. ...
Trong các nghiên cứu đa liều, trong một khoảng liều, mẫu 0 giờ (mẫu trước khi uống thuốc) được lấy ngay trước khi dùng thuốc (trong vòng 5 min trước khi dùng thuốc) và mẫu cuối cùng được lấy trong vòng 10 min so với thời gian dự kiến của khoảng cách liều để đảm bảo có thể xác định chính xác giá trị AUC(0-t).
Trường hợp mẫu sinh học được chọn là nước tiểu, mẫu nước tiểu thường được lấy trong khoảng thời gian tối thiểu bằng ba lần thời gian bán thải.
Với các chất nội sinh, thời điểm lấy mẫu cần đảm bảo xác định được dữ liệu nồng độ chất nội sinh ban đầu (mức nền) trong mỗi giai đoạn. Thông thường, mức nền được xác định từ 2 - 3 mẫu lấy trước khi dùng thuốc. Một số trường hợp cần lấy mẫu đều đặn trong thời gian 1 - 2 ngày trước khi sử dụng thuốc để xác định sự dao động của mức nền liên quan đến nhịp sinh học.
4. Phân tích dược động học
Các thông số dược động học thường được tính toán dựa trên thời gian lấy mẫu thực tế.
Lập các bảng và hình để biểu thị các dữ liệu nồng độ thuốc trong huyết tương vào những thời điểm lấy mẫu khác nhau của từng cá thể, giá trị trung bình và độ lệch chuẩn. Sau đó tính các thông số dược động học tương đối của mỗi cá thể, giá trị trung bình và độ lệch chuẩn cho mỗi thông số.
Đối với các nghiên cứu đơn liều
Cần xác định các thông số chính như AUC (diện tích dưới đường cong nồng độ - thời gian), Cmax (nồng độ đỉnh) và các thông số bổ sung như tmax (thời gian đạt tới nồng độ đỉnh), λz (hằng số tốc độ thải trừ pha cuối), t1/2 (thời gian bán thải của thuốc), AUC(0-t)/ AUC(0-∞).
Giá trị cmax và tmax thu được từ các số liệu thực và không phải tính toán.
Giá trị AUC(0-t) (diện tích dưới đường cong nồng độ - thời gian từ tính từ thời điểm 0 đến thời điểm t) được tính theo phương pháp hình thang, với t là thời điểm lấy mẫu cuối cùng có thể định lượng được. Giá trị AUC(0-inf) (diện tích dưới đường cong nồng độ - thời gian từ thời điểm 0 đến vô cùng) được tính toán theo công thức: AUC(0-inf) = AUC(0-t) + Ct/λz.
Trong đó: Ct là nồng độ thuốc tại thời điểm lấy mẫu cuối cùng có thể xác định được.
Giá trị t1/2 có thể được tính bằng công thức: t1/2 = 0,693/λz.
Đối với các nghiên cứu đa liều
Cần xác định các thông số chính sau khi uống đa liều (đạt trạng thái ổn định) như AUC(0-t), Cmax,ss và các thông số bổ sung như Cτ,ssi Cmin,ssi Cav,ss, mức độ biến động [(Cmax,ss-Cmin,ss)/Cav,ss], tmax,ss và dao động [(Cmax,ss-Cmin,ss)/Cmin,ss].
Trong đó:
AUC(0-τ) là diện tích dưới đường cong nồng độ thuốc - thời gian từ thời điểm 0 giờ đến thời điểm
.
là khoảng thời gian giữa các lần dùng thuốc.
Cmax,ss là nồng độ đỉnh, thu được từ các số liệu thực, sau khi dùng liều cuối cùng ở trạng thái ổn định.
Cmin,ss là nồng độ cực tiều ở thời điểm cuối trong khoảng thời gian dùng liều cuối cùng ở trạng thái ổn định.
Cav,ss là nồng độ thuốc trung bình ở trạng thái ổn định, tính theo công thức Cav,ss = AUC(0-t)/
.
tmax,ss là thời gian đạt cmax,ss.
Khi không thể xác định được nồng độ thuốc trong huyết tương, có thể thực hiện trên một mẫu sinh học khác như nước tiểu, nhưng chất xác định được và phương pháp phân tích phải phù hợp đảm bảo kết quả xác định nồng độ thuốc trong các mẫu là đúng, chính xác và đáng tin cậy. Khi sử dụng dữ liệu nồng độ thuốc trong nước tiểu, cần xác định các giá trị Ae(0-t) và Rmax. Ae(0-t) được phân tích với cùng mức chấp nhận tương tự AUC(0-t). Rmax cũng được phân tích với cùng mức chấp nhận tương tự Cmax. Cần sử dụng phương pháp không ngăn để xác định các thông số dược động học trong các nghiên cứu TĐSH. Sử dụng phương pháp ngăn để xác định các thông số này không được chấp nhận.
Ngoài các thông số dược động học cơ bản trong nghiên cứu TĐSH kể trên, tùy theo mục đích cũng như các mô hình nghiên cứu cụ thể còn có thể xác định thêm các thông số dược động học khác như giá trị t1/2 hấp thụ; thời gian lưu trú trung bình (mean retention/residence time - MRT); diện tích dưới đường cong nồng độ tích lũy - thời gian (area under the moment curve - AUMC),...
Chất mẹ và các chất chuyển hóa
Đánh giá TĐSH cần dựa trên nồng độ chất mẹ đo được do Cmax của chất mẹ thường là dữ liệu nhạy hơn để phát hiện sự khác biệt về tốc độ hấp thu giữa các thuốc nghiên cứu so với Cmax của chất chuyển hóa.
Đối với các tiền thuốc không có hoạt tính, cũng khuyến cáo chứng minh TĐSH dựa trên chất mẹ. Khi đó không cần thiết định lượng chất chuyển hóa có hoạt tính. Tuy nhiên, một số tiền thuốc có nồng độ thấp trong huyết tương và bị thải trừ nhanh dẫn đến khó chứng minh TĐSH dựa trên chất mẹ. Trong trường hợp này, chấp nhận chứng minh TĐSH dựa trên chất chuyển hóa chính mà không cần định lượng chất mẹ. Trong phạm vi hướng dẫn này, một chất mẹ được coi là một tiền thuốc không có hoạt tính nếu chất này không có hoặc có đóng góp rất nhỏ vào hiệu quả lâm sàng của thuốc.
Không khuyến cáo sử dụng một chất chuyển hóa để thay thế cho chất mẹ có hoạt tính. Điều này chí xem xét nếu chứng minh được không thể cải thiện độ nhạy của phương pháp phân tích trên chất mẹ, vì vậy phương pháp phân tích là không đủ tin cậy để định lượng chất mẹ sau khi dùng liều đơn, ngay cả khi có thể lựa chọn nghiên cứu ở mức liều cao hơn. Tuy nhiên, sử dụng một chất chuyển hóa thay thế cho chất mẹ có hoạt tính chỉ được chấp nhận trong những trường hợp cá biệt. Khi sử dụng dữ liệu nồng độ chất chuyển hóa thay thế cho nồng độ chất mẹ có hoạt tính, cơ sở đăng ký cần trình bày tất cả dữ liệu đề chứng minh mức độ phơi nhiễm (AUC) với chất chuyển hóa sẽ phản ánh mức độ phơi nhiễm (AUC) với chất mẹ và sự hình thành chất chuyển hóa chưa đạt trạng thái bão hòa ở các mức liều điều trị.
Đồng phân đối quang
Có thể sử dụng các phương pháp phân tích sinh học đối xứng (không phân biệt đồng phân đối quang). Tuy nhiên, cần định lượng riêng từng loại đồng phân trong trường hợp có đồng thời tất cả các điều kiện sau:
(1) Các đồng phân đối quang có đặc điểm dược động học khác nhau.
(2) Các đồng phân đối quang khác nhau rõ rệt về mặt dược lực học.
(3) Tỷ lệ phơi nhiễm (AUC) của các đồng phân thay đổi khi tốc độ hấp thu thay đổi.
Nếu một đồng phân đối quang có tác dụng dược lý trong khi đồng phân còn lại không có hoạt tính hoặc chỉ có rất ít hoạt tính, chỉ cần chứng minh TĐSH dựa trên đồng phân đối quang có hoạt tính.
Các chất nội sinh
Trong nghiên cứu TĐSH các thuốc là chất nội sinh, có thể cân nhắc sử dụng liều thử cao hơn mức liều điều trị để xác định chính xác nồng độ tăng thêm sau thử nghiệm so với mức nền, với điều kiện đã biết mức liều thử được dung nạp tốt.
Phương pháp chính xác để hiệu chỉnh so với mức nền cần được xác định trước và phải được làm rõ trong đề cương nghiên cứu. Phương pháp hiệu chỉnh theo mức nền là trừ đi giá trị nền, tức là trừ đi giá trị trung bình nồng độ chất nội sinh trước khi dùng thuốc hoặc trừ đi AUC của chất nội sinh trước dùng thuốc của mỗi người tình nguyện. Nếu nồng độ chất nội sinh sau thử nghiệm tăng hơn hẳn so với nồng độ chất nội sinh ở mức nền thì khi đó việc hiệu chỉnh theo mức nền là không cần thiết.
Trong các nghiên cứu TĐSH với chất nội sinh, cần chú ý đảm bảo thời gian nghỉ giữa hai giai đoạn phải đủ dài do không thể trực tiếp xác định có xảy ra hiện tượng nhiễm chéo hay không.
Sử dụng dữ liệu trong nước tiểu
Trường hợp không thể định lượng chính xác nồng độ thuốc trong huyết tương theo thời gian của chất mẹ, có thể sử dụng dữ liệu thuốc bài tiết trong nước tiểu thay thế. Tuy nhiên, cần biện giải một cách chặt chẽ khi sử dụng dữ liệu thuốc trong nước tiểu để tính toán mức độ phơi nhiễm. Nếu có thể xác định được Cmax trong huyết tương một cách đáng tin cậy, nên kết hợp cả dữ liệu này với dữ liệu trong nước tiểu (phản ánh mức độ phơi nhiễm) để đánh giá TĐSH. Khi sử dụng dữ liệu thuốc trong nước tiểu, cơ sở đăng ký cần trình bày tất cả các dữ liệu đã có để chứng minh rằng dữ liệu thuốc bài tiết trong nước tiểu sẽ phản ánh sự phơi nhiễm thuốc trong huyết tương.
5. Tính toán sinh khả dụng
Nghiên cứu đơn liều: Sinh khả dụng F được tính toán lần lượt bằng cách sử dụng AUC0-t và AUC0-∞ của mỗi cá thể, đồng thời tính giá trị trung bình và độ lệch chuẩn. Khi liều của thuốc thử (T) giống với liều của thuốc đối chứng (R):
F = (AUC0-t)T/(AUC0-t)R x 100 %
F = (AUC0-∞)T/(AUC0-∞)R x 100 %
Khi liều thuốc thử khác với liều thuốc đối chứng và chất được phân tích đặc trưng cho dược động học tuyến tính, chỉ số F có thể thay đổi phụ thuộc vào liều và được thể hiện dưới đây:
F = [(AUC0-t)T x DR/( AUC0-t)R x DT] x 100 %
F = [(AUC0-∞)T x DR/( AUC0-∞)R x DT] x 100 %
Trong đó: DR và DT là liều uống của thuốc đối chứng và thuốc thử.
Phân tích các chất chuyển hóa: Một vài thuốc là dạng tiền chất của thuốc không thể định lượng được trong máu vì dạng tiền chất của thuốc chuyển hóa rất nhanh trong cơ thể. Sinh khả dụng của những loại thuốc này có thể được đánh giá qua đáp ứng thích hợp của chất chuyển hóa có hoạt tính.
F = (AUC0-t)mT/( AUC0-t)mR x 100 %
F = (AUC0-∞)mT/(AUC0-∞)mR x 100 %
Trong đó: m là ký hiệu của chất chuyển hóa.
Nghiên cứu đa liều: Sinh khả dụng F được tính toán dựa trên số liệu AUCss0-τ của mỗi cá thể. Khi liều của thuốc thử (T) giống với liều của thuốc đối chứng (R), sinh khả dụng ở trạng thái ổn định được xác định bằng công thức:
![]()
Trong đó: AUCss0-t là diện tích dưới đường cong nồng độ thuốc - thời gian từ thời điểm 0 đến thời điểm
trong suốt khoảng liều ở trạng thái ổn định.
6. Đánh giá tương đương sinh học
Nên sử dụng dữ liệu của tất cả NTN tham gia nghiên cứu để tính thống kê. Tuy nhiên, với những NTN không có đủ dữ liệu của cả thuốc thử và thuốc đối chứng trong các nghiên cứu thiết kế chéo hoặc thiếu dữ liệu của một giai đoạn trong các nghiên cứu thiết kế song song không được sử dụng để tính thống kê. Không chấp nhận đề cương nghiên cứu trong đó đưa ra các NTN “dự phòng” sẽ được đưa vào phân tích khi cần để thay thế cho các NTN bị loại ra.
Các lý do cho phép được loại bỏ dữ liệu phải được quy định trước trong đề cương nghiên cứu.
Loại bỏ dữ liệu của một NTN trong một giai đoạn cụ thể khi gặp biến cố bất lợi như nôn và tiêu chảy dẫn đến làm giảm độ tin cậy của dữ liệu nồng độ thuốc trong huyết tương theo thời gian. Ví dụ như đối với các thuốc giải phóng ngay nếu tình trạng nôn trong khoảng thời gian 2 lần Tmax trung vị tính từ thời điểm bắt đầu uống thuốc, đối với các thuốc dạng giải phóng biến đổi tình trạng nôn xảy ra trong khoảng thời gian nhỏ hơn hoặc bằng khoảng thời gian giữa 2 lần dùng thuốc thì cần loại bỏ dữ liệu ra khỏi phân tích thống kê. Dữ liệu nồng độ của đối tượng bị nôn phải được báo cáo.
Trường hợp NTN có nồng độ thuốc trong mẫu huyết tương ở thời điểm 0 giờ: Nếu nồng độ ở thời điểm 0 giờ (pre-dose) không quá 5 % Cmax thì có thể đưa dữ liệu của NTN này vào thống kê mà không cần bất kỳ điều chỉnh nào trong tính toán dược động học. Nếu nồng độ ở thời điểm 0 giờ > 5 % Cmax thì nghiên cứu sẽ loại bỏ NTN này khỏi tất cả các đánh giá nghiên cứu TĐSH. Nghiên cứu sẽ không được chấp nhận nếu việc loại trừ này dẫn đến dữ liệu thống kê ít hơn 12 NTN.
Trong một số trường hợp ngoại lệ, sử dụng đồng thời với một thuốc khác cũng có thể là lý do để loại bỏ dữ liệu của người tình nguyện đó. Không chấp nhận việc loại bỏ dữ liệu dựa trên phân tích thống kê hoặc chỉ do các nguyên nhân liên quan đến dược động học, bởi vì không thể phân biệt giữa yếu tố về mặt bào chế với những yếu tố khác có ảnh hưởng đến dược động học.
Đối với các nghiên cứu đơn liều, khi tính thống kê, không nên loại bỏ dữ liệu của NTN có giá trị AUC(0-t) thấp hơn 80 % AUC(0-∞) (không áp dụng trong trường hợp sử dụng AUC0-72). Tuy nhiên, nếu tỷ lệ phần trăm AUC(0-t)/AUC(0-∞) nhỏ hơn 80 % trong hơn 20 % số NTN tham gia nghiên cứu được thì cần có bàn luận phù hợp.
Với các biến số Cmax và AUC: Các giá trị Cmax và AUC phải được chuyển sang giá trị thang logarit Đánh giá TĐSH dựa trên khoảng tin cậy 90 % của tỷ số trung bình hình học giữa thuốc thử và thuốc đối chứng. Phương pháp này tương ứng với phương pháp TOST (two one-sided test) với H0 là không TĐSH ở mức ý nghĩa 5 %. Cmax và AUC sẽ được phân tích bằng mô hình ANOVA dựa trên số liệu đã chuyển sang giá trị thang logarit với các yếu tố ảnh hưởng bao gồm: thuốc nghiên cứu, giai đoạn, trình tự, đối tượng trong trình tự (subject nested in sequence). Khoảng tin cậy 90 % của sự khác biệt giữa các thuốc theo dữ liệu đã chuyển sang giá trị thang logarit được xác định từ mô hình ANOVA. Khoảng tin cậy này sau đó được chuyển lại dạng ban đầu (khử logarit) để thu được khoảng tin cậy 90 % cho tỷ số trung bình hình học giữa thuốc thử và thuốc đối chứng tính theo thang đo ban đầu.
Nếu giới hạn khoảng tin cậy 90 % của các tỷ số Cmax, AUC (nghiên cứu đơn liều) hoặc Cmax,ss, AUC(0-t) (nghiên cứu đa liều) tương ứng giữa thuốc thử và thuốc đối chứng nằm trong khoảng 80,00 % - 125,00 % thì thuốc thử TĐSH in vivo so với thuốc đối chứng.
Không yêu cầu phân tích thống kê đối với tmax. Tuy nhiên, nếu tốc độ giải phóng nhanh được xác định là có ý nghĩa lâm sàng và quan trọng, liên quan đến khởi phát tác dụng hoặc các tác dụng bất lợi, không nên có sự khác biệt rõ ràng về giá trị trung vị của tmax và sự biến thiên của nó khác nhau giữa thuốc thử và thuốc đối chứng.
Đối với một số thuốc/dược chất có khoảng điều trị hẹp (NTID): giới hạn chấp nhận đối với AUC cần được quy định chặt chẽ hơn, trong khoảng từ 90,00 % -111,11 %. Trong trường hợp Cmax có vai trò đặc biệt quan trọng đối với tính an toàn, hiệu quả hoặc việc theo dõi nồng độ thuốc, cũng cần áp dụng giới hạn chấp nhận từ 90,00 % -111,11 % cho thông số này. Không thể đưa ra một bộ tiêu chí để xác định các thuốc có khoảng điều trị hẹp và điều này phải được xem xét trong từng trường hợp cụ thể dựa trên những lưu ý về lâm sàng.
Đối với các thuốc/dược chất có tính biến thiên cao (HVDP): là các thuốc/dược chất có sự biến thiên của một thông số dược động học trong cá thể lớn hơn 30 %, có thể thực hiện một nghiên cứu thiết kế chéo lặp lại (replicate cross-over design) để xem xét mở rộng khoảng chấp nhận đối với khoảng tin cậy 90 % của tỷ số Cmax, có thể mở rộng tới khoảng tối đa 69,84 % -143,19 %. Cơ sở đăng ký cần chứng minh sự biến thiên trong cá thể tính được là tin cậy và không phải do các giá trị sai khác cá biệt gây ra. Yêu cầu về khoảng giới hạn chấp nhận mở rộng phải được xác định trước trong đề cương nghiên cứu. Tỷ số trung bình nhân (GMR) cần nằm trong giới hạn chấp nhận thông thường 80,00 % -125,00 %.
Đối với thiết kế two-stage (hai đợt):
Kế hoạch sử dụng mô hình nghiên cứu hai đợt phải được làm rõ trong đề cương nghiên cứu cùng với mức ý nghĩa hiệu chỉnh được sử dụng cho mỗi đợt phân tích. Dữ liệu của đợt 1 được tiến hành phân tích thống kê tạm thời và cả hai đợt được phân tích thống kê với mức ý nghĩa hiệu chỉnh (với khoảng tin cậy thích hợp sử dụng xác suất bao phù hiệu chỉnh lớn hơn 90 %). Khi phân tích dữ liệu kết hợp từ hai đợt, yếu tố đợt nghiên cứu cần đưa vào mô hình ANOVA.
Với phân tích đợt 1, mô hình phân tích bao gồm các yếu tố thuốc nghiên cứu, giai đoạn, trình tự và đối tượng (trình tự).
Với phân tích đợt 2, phân tích được thực hiện trên dữ liệu gộp của cả hai đợt. Mô hình phân tích đợt 2 bao gồm các yếu tố đợt, thuốc nghiên cứu, giai đoạn (đợt), trình tự và đối tượng (trình tự x đợt).
Đối với trường hợp thuốc thử là dạng bào chế giải phóng biến đổi còn thuốc đối chứng là dạng bào chế giải phóng ngay: Vì không thể thiết lập được TĐSH giữa thuốc thử và thuốc đối chứng do có sự khác nhau về tốc độ phóng thích dược chất, thay cho báo cáo số liệu nghiên cứu thử TĐSH, yêu cầu báo cáo số liệu nghiên cứu dược động học của thuốc thử kèm theo báo cáo số liệu nghiên cứu so sánh an toàn và hiệu quả trên lâm sàng giữa thuốc thử và thuốc đối chứng bào chế ở dạng giải phóng ngay. Trong trường hợp này phải tham khảo cụ thể các hướng dẫn hiện hành của các cơ quan quản lý.
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản thành viên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, vui lòng Đăng ký tại đây!

