Theo nội dung phản ánh được gửi đến Bộ Tư pháp, người dân đặt vấn đề về trường hợp đã tự ý chuyển mục đích sử dụng đất từ đất ao, đất vườn sang đất ở từ nhiều năm trước, cụ thể có trường hợp xây nhà từ năm 1994, sau đó các bản đồ địa chính năm 1998 và năm 2008 đều đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt và ghi nhận là đất ở nhưng chưa từng bị xử phạt vi phạm hành chính.
Trả lời nội dung này, tại Công văn 2205/QLĐĐ-KSQLSDĐĐ, Cục Quản lý đất đai dẫn quy định tại khoản 2 Điều 3 Nghị định 123/2024/NĐ-CP về thời điểm tính thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính. Theo đó, đối với hành vi đang thực hiện thì thời điểm tính thời hiệu xử phạt là thời điểm người có thẩm quyền thi hành công vụ phát hiện hành vi vi phạm.
Cục Quản lý đất đai cho biết, đối với trường hợp người dân đi làm Sổ đỏ và kê khai việc đã tự ý chuyển mục đích sử dụng đất từ đất ao, đất vườn sang đất ở, thời điểm để tính thời hiệu xử phạt đối với trường hợp này là thời điểm người dân thực hiện kê khai làm Sổ đỏ nếu cơ quan Nhà nước phát hiện hành vi vi phạm và lập biên bản vi phạm hành chính.
Ngoài ra, Công văn cũng nêu rõ việc thanh tra, kiểm tra, giám sát, theo dõi việc chấp hành pháp luật đất đai là hoạt động quản lý nhà nước thường xuyên theo khoản 18 Điều 20 Luật Đất đai 2024.
Việc phát hiện hành vi vi phạm được thực hiện thông qua hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát của cơ quan, cán bộ, công chức có thẩm quyền; khi phát hiện vi phạm thì người có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính theo Điều 32 Nghị định 123/2024/NĐ-CP và đây cũng là căn cứ xác định thời điểm phát hiện hành vi vi phạm.
Theo Bộ Nội vụ, căn cứ chủ trương tại Kết luận số 163-KL/TW ngày 06/6/2025 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư và quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025, từ ngày 01/7/2025 không còn chức danh người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã.
Tuy nhiên, căn cứ định hướng tại Văn bản số 12/CV-BCĐ ngày 20/6/2025 của Ban Chỉ đạo về sắp xếp đơn vị hành chính các cấp và xây dựng mô hình tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp của Chính phủ, các địa phương được căn cứ tình hình thực tiễn và yêu cầu thực hiện nhiệm vụ của hệ thống chính trị ở cấp xã mới để sắp xếp tạm thời kéo dài việc sử dụng người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã đến trước ngày 31/5/2026.
Tại Công văn số 5408/BNV-TCBC, Bộ Nội vụ nêu rõ, trường hợp người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã trên cơ sở phương án của cấp có thẩm quyền tại địa phương đã được sắp xếp tạm thời vào vị trí hỗ trợ công việc cho hoạt động của hệ thống chính trị của đơn vị hành chính cấp xã mới đến trước ngày 31/5/2026 thì khi nghỉ việc thuộc đối tượng xem xét giải quyết chế độ, chính sách.
Việc giải quyết chế độ, chính sách đối với các trường hợp này được thực hiện theo quy định tại Điều 9 Nghị định số 154/2025/NĐ-CP ngày 15/6/2025 của Chính phủ.
Trên cơ sở đó, Bộ Nội vụ đề nghị Sở Nội vụ tỉnh Đắk Lắk nghiên cứu, thực hiện theo đúng quy định.
Trong thời gian qua, một số cơ sở y tế đã xuất hiện các vi phạm như hoạt động khi chưa được cấp giấy phép, khám chữa bệnh vượt quá phạm vi chuyên môn hoặc quảng cáo dịch vụ không đúng quy định. Để ngăn chặn và xử lý kịp thời, tại Công văn 997/KCB-QLHN, Cục Quản lý Khám, chữa bệnh đề nghị các Sở Y tế thực hiện nghiêm túc các nội dung sau:
- Kiểm tra giấy phép và chứng chỉ hành nghề: Tập trung rà soát Giấy xác nhận quá trình hành nghề, Giấy xác nhận hoàn thành quá trình thực hành, chứng chỉ hành nghề và giấy phép hành nghề của người hành nghề tại các cơ sở y tế. Việc kiểm tra phải phát hiện kịp thời các trường hợp bị thu hồi hoặc đình chỉ hành nghề, khám chữa bệnh ngoài phạm vi được cấp phép, hoặc thuê mượn giấy phép hành nghề.
- Đảm bảo thực hiện đúng giấy phép hoạt động: Các cơ sở y tế phải đảm bảo các khoa, phòng phù hợp với hồ sơ được cấp, đáp ứng các điều kiện theo Điều 49 và khoản 2, Điều 52 Luật Khám bệnh, chữa bệnh 2023. Việc triển khai kỹ thuật và phương pháp mới chỉ được phép khi có cấp phép của cơ quan có thẩm quyền. Hoạt động quảng cáo dịch vụ phải đúng phạm vi chuyên môn và công khai thông tin giấy phép.
- Khắc phục và giám sát vi phạm: Trong quá trình kiểm tra, các cơ sở vi phạm phải khắc phục ngay. Sở Y tế chịu trách nhiệm theo dõi, đôn đốc thực hiện kết luận, kiến nghị xử lý và báo cáo kết quả định kỳ về Cục Quản lý Khám, chữa bệnh theo mẫu kèm.
- Phối hợp liên ngành và chuyển đổi số: Cục yêu cầu phối hợp với Công an, quản lý thị trường, cơ quan truyền thông, chính quyền địa phương để giám sát và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm. Đồng thời, đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý hành nghề y, dược, yêu cầu các cơ sở cập nhật dữ liệu lên Hệ thống quản lý quốc gia về hành nghề và hoạt động khám bệnh, chữa bệnh.
- Tuyên truyền, phổ biến pháp luật: Cần tăng cường tuyên truyền, tập huấn các quy định pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh cho cơ sở, người hành nghề và người dân. Các kênh tiếp nhận phản ánh như đường dây nóng, hòm thư điện tử, cổng thông tin điện tử phải được công khai để xử lý kịp thời dấu hiệu vi phạm.
Nghị định 193/2026/NĐ-CP quy định chi tiết về phạm vi áp dụng, đối tượng, quy trình lập, thẩm tra, phê duyệt và quản lý quyết toán vốn đầu tư cho các dự án sử dụng vốn đầu tư công, chi thường xuyên từ ngân sách nhà nước, vốn ngân sách nhà nước khác, các dự án ODA, vốn vay ưu đãi và các hình thức hỗ trợ bằng hiện vật, ngày công lao động.
Nghị định 193/2026/NĐ-CP điều chỉnh việc quyết toán vốn đầu tư đối với dự án đầu tư, nhiệm vụ chuẩn bị đầu tư, chuẩn bị dự án, nhiệm vụ quy hoạch đã hoàn thành hoặc dừng, tạm ngừng, hủy bỏ theo văn bản cho phép dừng của người có thẩm quyền quyết định đầu tư. Nghị định cũng áp dụng thống nhất cho dự án sử dụng vốn hỗ trợ, ODA, vốn vay ưu đãi, trừ khi có quy định riêng của Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ.
Nghị định 193/2026/NĐ-CP áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến quyết toán vốn đầu tư dự án sau khi hoàn thành hoặc dừng thực hiện.
Điều 4 Nghị định quy định vốn đầu tư được quyết toán bao gồm toàn bộ chi phí hợp pháp đã thực hiện trong quá trình đầu tư, nằm trong tổng mức đầu tư được duyệt hoặc điều chỉnh theo quy định pháp luật.
Việc quyết toán dự án thành phần, tiểu dự án, công trình, hạng mục công trình độc lập phải lập báo cáo riêng và thẩm tra, phê duyệt quyết toán như dự án đầu tư độc lập, trừ trường hợp đã được thẩm tra và phê duyệt trước đó hoặc được yêu cầu thẩm tra lại. Các dự án chuẩn bị đầu tư được quyết toán theo quyết định của người có thẩm quyền, còn các khoản bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thực hiện báo cáo quyết toán theo phương án đã phê duyệt
Quy trình lập hồ sơ quyết toán được nêu tại Điều 6 và Điều 7 Nghị định 193/2026/NĐ-CP, bao gồm chi tiết vốn thực hiện, tổng chi phí đề nghị quyết toán, chi phí thiệt hại, chi phí không tính vào giá trị tài sản và giá trị tài sản hình thành. Chủ đầu tư phải gửi hồ sơ cho người có thẩm quyền phê duyệt quyết toán và cơ quan chủ trì thẩm tra, gồm các hợp đồng, biên bản nghiệm thu, quyết toán A-B, báo cáo kiểm toán độc lập và các văn bản pháp lý của dự án.
Thẩm quyền phê duyệt và cơ quan chủ trì thẩm tra được quy định tại Điều 8:
- Dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A do Thủ tướng quyết định đầu tư;
- Dự án khác do người có thẩm quyền quyết định đầu tư phê duyệt.
Cơ quan chủ trì thẩm tra gồm Sở Tài chính cấp tỉnh, phòng chuyên môn hoặc công chức chuyên môn cấp xã, hoặc đơn vị có chức năng thuộc quyền quản lý đối với các dự án khác. Trường hợp cần thiết, Tổ thẩm tra được thành lập để thực hiện thẩm tra...
Theo quy định tại Điều 1 Nghị định 76/2019/NĐ-CP, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn gồm các xã khu vực III thuộc vùng dân tộc thiểu số và miền núi, các thôn đặc biệt khó khăn, được xác định theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
Đến nay, Nghị định số 272/2025/NĐ-CP ngày 16/10/2025 đã phân định vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2030, trong đó quy định tiêu chí xác định địa bàn và giao Ủy ban nhân dân các tỉnh tổ chức thẩm định và phê duyệt danh sách thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thôn đặc biệt khó khăn; xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, xã khu vực I, II, III trên địa bàn tỉnh.
Bộ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo tổng hợp, ban hành quyết định công bố danh sách các thôn, xã, tỉnh vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thôn đặc biệt khó khăn, xã khu vực I, II, III giai đoạn 2026-2030.
Bộ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo đã ban hành các quyết định công bố danh sách cụ thể gồm: Quyết định số 60/QĐ-BDTTG ngày 29/01/2026, Quyết định số 104/QĐ-BDTTG ngày 27/02/2026 và Quyết định số 255/QĐ-BDTTG ngày 08/5/2026 về việc sửa đổi, bổ sung, thay thế danh sách các thôn, xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thôn đặc biệt khó khăn, xã khu vực I, II, III giai đoạn 2026-2030.
Căn cứ các Quyết định nêu trên, tại Công văn số 1030/CTL&BHXH-TLKVC, Sở Nội vụ tỉnh Cao Bằng được đề nghị nghiên cứu và thực hiện đầy đủ các chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động công tác tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
Trên đây là ý kiến của Cục Tiền lương và Bảo hiểm xã hội, đề nghị Sở Nội vụ tỉnh Cao Bằng nghiên cứu và thực hiện theo quy định.
Cảm ơn Quý khách đã dành thời gian đọc bản tin của chúng tôi!
Trung tâm luật việt nam - Công ty CP truyền thông Luật Việt Nam
Tại Hà Nội: Tầng 3, Tòa nhà IC, 82 phố Duy Tân, Cầu Giấy, Hà Nội - Hotline: 0938 36 1919
Tại TP.HCM: 648 Nguyễn Kiệm, Phường Đức Nhuận, TP. Hồ Chí Minh - Tel: 028. 39950724
Email: [email protected]
Lưu ý:
* Bản tin tóm tắt nội dung văn bản chỉ mang tính chất tổng hợp, không có giá trị áp dụng vào các trường hợp cụ thể. Để hiểu đầy đủ và chính xác quy định pháp luật, khách hàng cần tìm đọc nội dung chi tiết toàn văn bản.
* Nếu không muốn tiếp tục nhận bản tin, phiền Quý khách hàng vui lòng click vào đường link dưới đây https://luatvietnam.vn/huy-dang-ky-nhan-ban-tin.html Quý vị sẽ nhận được yêu cầu xác nhận lần cuối cùng trước khi hủy bỏ địa chỉ email của mình khỏi danh sách.

Công văn 2205/QLĐĐ-KSQLSDĐĐ: Tự ý chuyển đất vườn thành đất ở có thể bị xử phạt từ thời điểm kê khai khi làm Sổ đỏ