Từ ngày 01/7/2026, việc xác định các bên có quan hệ liên kết được thực hiện theo Điều 5 Nghị định 255/2026/NĐ-CP. Đ
Theo khoản 1 Điều 5, các bên có quan hệ liên kết được thực hiện theo quy định tại khoản 17 Điều 4 Luật Quản lý thuế 2025, số 108/2025/QH15.
Đồng thời, khoản 2 Điều 5 tiếp tục liệt kê cụ thể các trường hợp được xác định là bên có quan hệ liên kết.
Trong đó có các trường hợp phổ biến như:
- Một doanh nghiệp nắm giữ trực tiếp hoặc gián tiếp ít nhất 25% vốn góp của chủ sở hữu của doanh nghiệp khác;
- Hai doanh nghiệp cùng có từ 25% vốn góp do một bên thứ ba nắm giữ;
- Một doanh nghiệp là cổ đông lớn nhất và sở hữu trực tiếp hoặc gián tiếp từ 10% tổng số cổ phần của doanh nghiệp khác;
- Doanh nghiệp bảo lãnh hoặc cho doanh nghiệp khác vay vốn đáp ứng điều kiện về tỷ lệ vốn góp và dư nợ;
- Các doanh nghiệp cùng chịu sự điều hành, kiểm soát của một tổ chức hoặc cá nhân; hoặc có mối quan hệ thân thích theo quy định...
Đối chiếu với Điều 5 Nghị định 132/2020/NĐ-CP cho thấy, các tiêu chí xác định quan hệ liên kết nêu trên cơ bản được giữ nguyên.
Trước đó, Nghị định 20/2025/NĐ-CP đã sửa đổi điểm d khoản 2 Điều 5 Nghị định 132/2020/NĐ-CP theo hướng loại trừ trường hợp tổ chức tín dụng chỉ thực hiện hoạt động cho vay hoặc bảo lãnh nhưng không tham gia điều hành, kiểm soát, góp vốn vào doanh nghiệp đi vay.
Quy định này tiếp tục được Nghị định 255/2026/NĐ-CP kế thừa, đồng thời cập nhật căn cứ viện dẫn theo Luật Các tổ chức tín dụng 2024 (đã được sửa đổi, bổ sung 2025).
Ngoài ra, Nghị định 255 còn bổ sung việc viện dẫn các luật mới làm cơ sở áp dụng, trong đó có Luật Quản lý thuế năm 2025 và Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 2025.
Theo Điều 20 Luật Viên chức 2025, số 129/2025/QH15, hợp đồng làm việc là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa viên chức hoặc người được tuyển dụng làm viên chức với người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập về vị trí việc làm, tiền lương, chế độ đãi ngộ, điều kiện làm việc, quyền, nghĩa vụ và các nội dung khác có liên quan.
Căn cứ kết quả tuyển dụng, người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập ký hợp đồng làm việc và bố trí người trúng tuyển vào vị trí việc làm.
Theo đó, hợp đồng làm việc đối với viên chức gồm 02 loại:
Hợp đồng làm việc xác định thời hạn;
Hợp đồng làm việc không xác định thời hạn.
Cụ thể, theo Điều 22 Nghị định 259/2026/NĐ-CP, hợp đồng làm việc xác định thời hạn là hợp đồng trong đó hai bên xác định thời hạn và thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng theo quy định của pháp luật về lao động. Loại hợp đồng này được thực hiện theo Mẫu số 02 hoặc Mẫu số 03 ban hành kèm theo Nghị định.
Hợp đồng làm việc không xác định thời hạn là hợp đồng trong đó hai bên không xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng, được thực hiện theo Mẫu số 04 ban hành kèm theo Nghị định.
Trước đây, khoản 1 Điều 25 Luật Viên chức 2010, số 58/2010/QH12 quy định hợp đồng làm việc xác định thời hạn phải có thời hạn từ đủ 12 tháng đến 60 tháng.
Như vậy, hợp đồng làm việc của viên chức vẫn gồm hợp đồng xác định thời hạn và hợp đồng không xác định thời hạn.
Tuy nhiên, hợp đồng xác định thời hạn không còn bắt buộc phải kéo dài từ đủ 12 tháng đến 60 tháng như trước, mà thời hạn hợp đồng sẽ được xác định theo quy định của pháp luật về lao động.
Tại mục 3.2 Công văn 777/TTg-TCCV, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các địa phương xây dựng phương án cụ thể để kiện toàn, sắp xếp và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ quản lý, nhân sự hỗ trợ sau khi sắp xếp cơ sở giáo dục.
Theo đó, đối với cán bộ quản lý và nhân sự hỗ trợ dôi dư sau sáp nhập, địa phương phải xây dựng phương án bố trí, sắp xếp công việc hoặc giải quyết chế độ, chính sách phù hợp.
Công văn nêu ba hướng xử lý chủ yếu gồm:
- Chuyển làm cán bộ phụ trách giáo dục cấp xã;
- Luân chuyển để làm giáo viên;
- Giải quyết nghỉ theo chế độ.
Việc lựa chọn phương án phải căn cứ vào năng lực, nguyện vọng của từng người và yêu cầu công việc tại địa phương.
Đối với cán bộ quản lý bị ảnh hưởng do sắp xếp bộ máy, Công văn yêu cầu thực hiện bảo lưu chế độ, phụ cấp theo quy định hiện hành và chính sách đặc thù của địa phương.
Bên cạnh xử lý nhân sự dôi dư, địa phương phải bảo đảm và điều tiết hợp lý đội ngũ giáo viên. Việc rà soát, bố trí giáo viên, nhân viên phải bảo đảm đủ số lượng theo tiêu chuẩn quy định và trong phạm vi biên chế được cấp có thẩm quyền giao.
Các địa phương đồng thời phải nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo để đáp ứng yêu cầu mới; đầu tư xây dựng nhà công vụ nhằm hỗ trợ giáo viên làm việc tại địa bàn khó khăn.
Đáng chú ý, Công văn cho phép sử dụng linh hoạt đội ngũ giáo viên thông qua các hình thức điều động, thuyên chuyển, biệt phái hoặc bố trí giáo viên dạy liên trường giữa các điểm trường, phân hiệu và cơ sở giáo dục trên cùng địa bàn.
Nội dung này gắn với mục tiêu tại điểm c mục 1 Công văn 777/TTg-TCCV là cơ cấu lại đội ngũ theo hướng giảm biên chế quản lý giáo dục, tăng biên chế trực tiếp giảng dạy.
Tại Nghị quyết 180/NQ-CP, Bộ Giáo dục và Đào tạo được giao hoàn thành việc sắp xếp các đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực giáo dục trước ngày 30/8/2026; đồng thời hướng dẫn các địa phương rà soát, sắp xếp mạng lưới trường, lớp, bảo đảm đủ giáo viên, sách giáo khoa và thiết bị dạy học tối thiểu, nhất là tại vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới và hải đảo.
Bộ cũng phải phối hợp với các cơ quan liên quan hướng dẫn tuyển dụng, điều chuyển giáo viên, ưu tiên tăng cường đội ngũ giáo viên trực tiếp giảng dạy, giảm biên chế quản lý trung gian không cần thiết.
Đối với các địa phương, Chính phủ yêu cầu chịu trách nhiệm bảo đảm đủ trường học, phòng học, giáo viên, sách giáo khoa và thiết bị dạy học trước khi bước vào năm học mới; đồng thời khẩn trương tuyển dụng hết số biên chế giáo viên được giao, chủ động điều chuyển, bố trí giáo viên phù hợp để khắc phục tình trạng thừa, thiếu cục bộ giữa các cơ sở giáo dục.
Các địa phương cũng phải rà soát, xử lý kịp thời các công trình trường học xuống cấp, mất an toàn và quy hoạch quỹ đất xây dựng trường học phù hợp với tốc độ phát triển đô thị, khu công nghiệp, tránh tình trạng dân số tăng nhưng thiếu trường, thiếu lớp.
Bên cạnh việc bảo đảm cơ sở vật chất và đội ngũ giáo viên, Nghị quyết yêu cầu tăng cường các giải pháp xây dựng môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh; chủ động phòng, chống bạo lực học đường, xâm hại trẻ em, ma túy, thuốc lá điện tử và các rủi ro trên không gian mạng.
Đồng thời, Lễ khai giảng năm học 2026-2027 và Lễ khánh thành các trường phổ thông liên cấp nội trú tại các xã biên giới đất liền sẽ được tổ chức vào sáng ngày 05/9/2026, bảo đảm trang trọng, thiết thực, an toàn và tiết kiệm.
Thông tư 116/2026/TT-BCA hướng dẫn toàn diện các nội dung về đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú, thông báo lưu trú, khai báo tạm vắng, xác nhận thông tin về cư trú, biểu mẫu sử dụng trong đăng ký, quản lý cư trú và trách nhiệm của các cơ quan trong công tác quản lý cư trú.
Điều 3 Thông tư 116/2026/TT-BCA quy định thống nhất quy trình thực hiện thủ tục cư trú theo hướng đẩy mạnh chuyển đổi số. Người dân có thể nộp hồ sơ trực tiếp hoặc trực tuyến thông qua Cổng Dịch vụ công quốc gia hoặc Ứng dụng định danh quốc gia (VNeID).
Trường hợp thông tin, giấy tờ chứng minh điều kiện đăng ký cư trú đã được chia sẻ từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, các cơ sở dữ liệu chuyên ngành hoặc VNeID thì cơ quan đăng ký cư trú không được yêu cầu công dân nộp hoặc xuất trình lại. Đồng thời, kết quả giải quyết có thể được gửi bằng văn bản giấy, văn bản điện tử, tin nhắn SMS hoặc thông báo trên VNeID.
Thông tư 116 năm 2026 của Bộ Công an cũng quy định rõ các trường hợp tạm thời chưa được thay đổi nơi cư trú tại Điều 5, gồm: người đang bị hạn chế quyền tự do cư trú; người đang ở khu vực bị cách ly hoặc áp dụng tình trạng khẩn cấp; người đang chấp hành hình phạt cấm cư trú, trừ trường hợp được cơ quan có thẩm quyền cho phép.
Bên cạnh đó, Điều 6 hướng dẫn chi tiết việc xác định quan hệ với chủ hộ, cập nhật dữ liệu cư trú và xử lý các trường hợp đặc biệt trong đăng ký thường trú, tạm trú nhằm bảo đảm thông tin cư trú luôn chính xác, đồng bộ.
Đối với đăng ký thường trú và tạm trú, Thông tư hướng dẫn cụ thể hồ sơ, điều kiện đăng ký tại cơ sở tín ngưỡng, cơ sở tôn giáo, cơ sở trợ giúp xã hội, trường hợp có yếu tố nước ngoài; đồng thời quy định việc hủy bỏ kết quả đăng ký cư trú nếu được giải quyết không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng hoặc không đúng điều kiện theo Luật Cư trú. Một điểm mới đáng chú ý là khi thay đổi thông tin hộ tịch hoặc thay đổi địa chỉ do điều chỉnh địa giới hành chính, đổi tên đường, số nhà..., dữ liệu sẽ được cập nhật từ các cơ sở dữ liệu liên thông, người dân không phải thực hiện thủ tục điều chỉnh thông tin cư trú.
Ngoài ra, Điều 14 đến Điều 16 quy định cụ thể về thông báo lưu trú, khai báo tạm vắng và xác nhận thông tin về cư trú. Công dân có thể yêu cầu xác nhận thông tin cư trú tại bất kỳ cơ quan đăng ký cư trú nào trên toàn quốc hoặc thực hiện trực tuyến qua Cổng Dịch vụ công quốc gia và VNeID.
Giấy xác nhận có thời hạn 01 năm, nhưng sẽ hết hiệu lực ngay khi thông tin cư trú thay đổi. Đặc biệt, nếu cơ quan, tổ chức đã khai thác được thông tin cư trú từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư hoặc VNeID thì không được yêu cầu người dân nộp hoặc xuất trình giấy xác nhận thông tin cư trú.
Bên cạnh việc hướng dẫn đăng ký cư trú đối với người học tập, công tác trong Công an nhân dân, Thông tư còn ban hành 16 biểu mẫu thống nhất (CT01 đến CT16) phục vụ toàn bộ quy trình đăng ký, quản lý cư trú và quy định rõ trách nhiệm của Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Công an cấp tỉnh, Công an cấp xã trong việc quản lý, cập nhật dữ liệu, kiểm tra cư trú và giải quyết thủ tục hành chính.
Thông tư 116/2026/TT-BCA có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, đồng thời thay thế các Thông tư 55/2021/TT-BCA, 56/2021/TT-BCA và các văn bản sửa đổi, bổ sung liên quan, tạo cơ sở pháp lý thống nhất trong công tác đăng ký và quản lý cư trú.
Cảm ơn Quý khách đã dành thời gian đọc bản tin của chúng tôi!
Trung tâm luật việt nam - Công ty CP truyền thông Luật Việt Nam
Tại Hà Nội: Tầng 3, Tòa nhà IC, 82 phố Duy Tân, Cầu Giấy, Hà Nội - Hotline: 0938 36 1919
Tại TP.HCM: 648 Nguyễn Kiệm, Phường Đức Nhuận, TP. Hồ Chí Minh - Tel: 028. 39950724
Email: [email protected]
Lưu ý:
* Bản tin tóm tắt nội dung văn bản chỉ mang tính chất tổng hợp, không có giá trị áp dụng vào các trường hợp cụ thể. Để hiểu đầy đủ và chính xác quy định pháp luật, khách hàng cần tìm đọc nội dung chi tiết toàn văn bản.
* Nếu không muốn tiếp tục nhận bản tin, phiền Quý khách hàng vui lòng click vào đường link dưới đây https://luatvietnam.vn/huy-dang-ky-nhan-ban-tin.html Quý vị sẽ nhận được yêu cầu xác nhận lần cuối cùng trước khi hủy bỏ địa chỉ email của mình khỏi danh sách.

Nghị định 255/2026/NĐ-CP: Các trường hợp được xác định là có quan hệ liên kết từ 01/7/2026