- Khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ, người bán phải lập hóa đơn điện tử để giao cho người mua (bao gồm cả các trường hợp hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại, quảng cáo, hàng mẫu; hàng hóa, dịch vụ dùng để cho, biếu, tặng, trao đổi, trả thay lương cho người lao động và tiêu dùng nội bộ; xuất hàng hóa dưới các hình thức cho vay, cho mượn)...
Hóa đơn điện tử phải theo định dạng chuẩn dữ liệu và phải ghi đầy đủ nội dung theo quy định của pháp luật về thuế, pháp luật về kế toán, bảo đảm phản ánh đầy đủ, trung thực nội dung nghiệp vụ kinh tế phát sinh. Người bán chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác của hóa đơn đã lập.
Trước khi sử dụng hóa đơn điện tử, chứng từ điện tử, tổ chức kinh tế, tổ chức khác, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh, tổ chức, cá nhân khấu trừ thuế thu nhập cá nhân, tổ chức thu thuế, phí, lệ phí phải thực hiện đăng ký sử dụng hóa đơn điện tử, chứng từ điện tử theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính.
Việc đăng ký, quản lý, sử dụng hóa đơn điện tử, chứng từ điện tử phải tuân thủ các quy định của pháp luật về giao dịch điện tử, kế toán, thuế, quản lý thuế, phí và lệ phí và quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính.
Nghị định 254/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ 01/7/2026.
Theo đó, Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định các nội dung gồm:
- Người nộp thuế là cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú;
- Thu nhập chịu thuế và các khoản thu nhập không tính vào thu nhập chịu thuế; Quy đổi thu nhập chịu thuế;
- Thu nhập được miễn thuế, giảm thuế; điều kiện miễn thuế, giảm thuế;
- Căn cứ tính thuế đối với từng loại thu nhập;
- Kỳ tính thuế; khấu trừ thuế, khai thuế thay, nộp thuế thay;
- Quyết toán thuế, hoàn thuế...
Trong đó, Điều 19 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định về việc miễn thuế thu nhập cá nhân với thu nhập từ chuyển nhượng nhà ở, quyền sử dụng đất ở và tài sản gắn liền với đất ở của cá nhân chỉ có duy nhất một nhà ở, quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam nếu người chuyển nhượng đáp ứng các điều kiện sau đây:
- Chỉ có duy nhất quyền sở hữu một nhà ở/quyền sử dụng một thửa đất ở, trong đó bao gồm cả trường hợp có nhà ở/công trình xây dựng gắn liền với tha đất đó tại thời điểm chuyển nhượng.
Tuy nhiên, lưu ý rằng, nếu có nhà ở hình thành trong tương lai tại thời điểm chuyển nhượng thì không được xác định thuộc trường hợp được miễn thuế thu nhập cá nhân khi chỉ có duy nhất một nhà ở, quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam.
Nếu nhà ở chuyển nhượng này có chung quyền sở hữu, đất ở có chung quyền sử dụng (bao gồm cả vợ/chồng có chung quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất ở) thì chỉ cá nhân chưa có quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất ở nơi khác được miễn thuế.
- Có quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất ở tối thiểu là 183 ngày tính đến thời điểm chuyển nhượng. Trong đó, việc xác định thời điểm xác định quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất ở là ngày cấp Sổ đỏ.
Với trường hợp được cấp lại, cấp đổi Sổ đỏ thì thời điểm này được tính theo thời điểm cấp Giấy chứng nhận trước khi được cấp lại, cấp đổi.
- Chuyển nhượng toàn bộ nhà ở, quyền sử dụng đất ở.
Lưu ý: Cá nhân chuyển nhượng bất động sản phải tự kê khai và chịu trách nhiệm trước thông tin về nhà ở, quyền sử dụng đất ở duy nhất được miễn thuế. Trường hợp phát hiện kê khai không đúng sẽ bị truy thu thuế và xử phạt theo quy định của pháp luật về quản lý thuế và pháp luật liên quan khác.
Tại Điều 9 Nghị định 235/2026/NĐ-CP quy định các trường hợp không ký kết hợp đồng công việc trong đơn vị sự nghiệp công lập bao gồm:
- Người đang là cán bộ, công chức, người đang công tác trong lực lượng vũ trang, người làm công tác cơ yếu; người đã thôi việc, nghỉ hưu thuộc đối tượng chưa được ký kết hợp đồng theo quy định của pháp luật;
- Người bị cấm hành nghề theo quy định của pháp luật về ngành, lĩnh vực; người có xung đột lợi ích theo quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng;
- Người không đủ tiêu chuẩn, điều kiện cung cấp dịch vụ theo quy định của pháp luật chuyên ngành;
- Người đang trong thời gian bị truy cứu trách nhiệm hình sự; đang chấp hành hoặc đã chấp hành xong bản án, quyết định về hình sự của Tòa án mà chưa được xóa án tích; đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc; người bị mất năng lực hành vi, hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị cấm làm công việc liên quan đến công việc ký kết hợp đồng;
- Người có quan hệ là vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ; cha, mẹ (vợ hoặc chồng), cha nuôi, mẹ nuôi; con đẻ, con nuôi; anh, chị, em ruột; cô, dì, chú, bác, cậu ruột; anh, chị, em ruột của vợ hoặc chồng; vợ hoặc chồng của anh, chị, em ruột với người có thẩm quyền ký hợp đồng.
Không ký kết hợp đồng để thực hiện công việc liên quan đến an ninh quốc gia, bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật.
Trước đây, theo khoản 2 Điều 5 Nghị định 111/2022/NĐ-CP, để ký kết hợp đồng công việc trong đơn vị sự nghiệp công lập thì chỉ cần cơ quan, đơn vị có nhu cầu và cá nhân đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn, điều kiện như:
- Cá nhân ký kết hợp đồng lao động làm công việc hỗ trợ, phục vụ phải đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn, điều kiện sau đây:
- Có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam;
- Đủ tuổi lao động theo quy định của pháp luật lao động và pháp luật chuyên ngành;
- Có đủ sức khỏe để làm việc;
- Có lý lịch được cơ quan có thẩm quyền xác nhận;
- Có khả năng đáp ứng yêu cầu của vị trí việc làm…
Từ ngày 01/7/2026, Nghị định 235/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành. Các quy định liên quan về hợp đồng thực hiện công việc hỗ trợ phục vụ và công việc chuyên môn, nghiệp vụ trong đơn vị sự nghiệp công lập quy định tại Nghị định số 111/2022/NĐ-CP hết hiệu lực kể từ ngày 01/7/2026.
Như vây từ 01/7/2026, điều kiện ký hết hợp đồng thực hiện công việc trong đơn vị sự nghiệp công lập sẽ được thắt chặt do quy định mới tại Nghị định 235 đã hạn chế nhiều trường hợp không được ký kết hợp đồng.
Nghị định 234/2026/NĐ-CP áp dụng đối với viên chức theo quy định của Luật Viên chức và cả người đã thôi việc, nghỉ hưu. Đồng thời, việc xử lý kỷ luật đối với viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội được thực hiện theo Nghị định này kết hợp với điều lệ của tổ chức tương ứng.
Về nguyên tắc xử lý kỷ luật, Điều 2 Nghị định quy định việc xử lý phải bảo đảm khách quan, công bằng, công khai, nghiêm minh, chính xác, kịp thời, đúng thẩm quyền, trình tự và thủ tục. Mỗi hành vi vi phạm chỉ bị xử lý một lần bằng một hình thức kỷ luật. Trường hợp viên chức có từ hai hành vi vi phạm trở lên thì xem xét từng hành vi nhưng chỉ quyết định một hình thức kỷ luật cao nhất, không tách thành nhiều lần xử lý.
Nghị định 234/2026/NĐ-CP quy định quyết định xử lý kỷ luật có hiệu lực 12 tháng kể từ ngày có hiệu lực thi hành.
Trong thời gian này, nếu viên chức không tiếp tục có hành vi vi phạm đến mức phải xử lý kỷ luật thì quyết định kỷ luật đương nhiên chấm dứt hiệu lực mà không cần ban hành văn bản chấm dứt hiệu lực. Đồng thời, hình thức kỷ luật phải được ghi vào lý lịch viên chức và cập nhật vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức hoặc cơ sở dữ liệu chuyên ngành theo quy định của pháp luật.
Điều 7 Nghị định quy định 04 hình thức kỷ luật áp dụng đối với viên chức gồm: khiển trách, cảnh cáo, cách chức (đối với viên chức quản lý) và buộc thôi việc.
Ngoài việc bị áp dụng một trong các hình thức này, viên chức còn bị hạn chế thực hiện hoạt động nghề nghiệp theo quy định của pháp luật có liên quan. Đối với viên chức bị Tòa án kết án phạt tù mà không được hưởng án treo hoặc bị kết án về tội phạm tham nhũng thì đương nhiên bị buộc thôi việc kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật.
Nghị định cũng quy định rõ thời hiệu xử lý kỷ luật là 05 nămđối với hành vi đến mức khiển trách và 10 năm đối với các hành vi còn lại.
Riêng các hành vi như vi phạm đến mức bị khai trừ khỏi Đảng, vi phạm về bảo vệ chính trị nội bộ, xâm hại lợi ích quốc gia trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, đối ngoại hoặc sử dụng văn bằng, chứng chỉ giả thì không áp dụng thời hiệu xử lý kỷ luật. Thời hạn xử lý kỷ luật thông thường không quá 90 ngày, trường hợp vụ việc phức tạp có thể kéo dài nhưng không quá 150 ngày.
Về trình tự xử lý kỷ luật, Điều 13 quy định việc xử lý được thực hiện theo ba bước gồm: tổ chức họp kiểm điểm, thành lập Hội đồng kỷ luật và ra quyết định xử lý kỷ luật. Tuy nhiên, một số trường hợp như đã có quyết định kỷ luật đảng, đã có kết luận của cơ quan có thẩm quyền về hành vi vi phạm hoặc viên chức bị Tòa án kết án thuộc trường hợp đương nhiên buộc thôi việc thì có thể không phải thực hiện đầy đủ các bước này theo quy định của Nghị định.
Nghị định 234/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/7/2026. Kể từ thời điểm này, Nghị định 112/2020/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 71/2023/NĐ-CP và được bãi bỏ một phần bởi Nghị định 172/2025/NĐ-CP) hết hiệu lực thi hành đối với nội dung xử lý kỷ luật viên chức
Theo điểm b khoản 1 Điều 34 Nghị định 174/2026/NĐ-CP quy định phạt tiền từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng đối với mỗi số thuê bao trong trường hợp:
- Có từ 01 đến 10 thuê bao vi phạm nếu chủ thuê bao không cập nhật lại thông tin của mình khi có thay đổi giấy tờ tùy thân đã xuất trình lúc giao kết hợp đồng;
- Hoặc khi tự kiểm tra phát hiện thông tin thuê bao không đúng; hoặc khi nhận được thông báo của doanh nghiệp viễn thông về việc thông tin thuê bao chưa đúng quy định.
Không chỉ áp dụng khi đổi CCCD, quy định này còn đặt trách nhiệm cho người sử dụng trong mọi trường hợp thông tin đăng ký thuê bao không còn chính xác so với thực tế.
So với Nghị định 15/2020/NĐ-CP, đây là điểm hoàn toàn mới. Trước đây, Điều 33 của Nghị định 15 chủ yếu xử phạt doanh nghiệp viễn thông và các điểm đăng ký thông tin thuê bao khi thực hiện không đúng quy định, chưa quy định chế tài riêng đối với hành vi không cập nhật thông tin của chính chủ thuê bao.
Người đang sử dụng thuê bao di động nên chủ động kiểm tra thông tin thuê bao của mình và thực hiện cập nhật khi có thay đổi để tránh bị xử phạt.
Theo quy định hiện nay tại điểm a khoản 4 Điều 18 Nghị định 168/2024/NĐ-CP, người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị xử phạt từ 400 - 600 nghìn đồng khi điều khiển xe mô tô có dung tích xi-lanh từ 50 cm3 trở lên hoặc xe gắn máy điện có công suất động cơ từ 04 kW trở lên.
Tuy nhiên, theo nội dung sửa đổi mới tại Điều 6 của Nghị định 238/2026/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 168/2024 về xử phạt vi phạm giao thông, nội dung này được quy định lại như sau:
Điều 18. Xử phạt, trừ điểm giấy phép lái xe các hành vi vi phạm quy định về điều kiện của người điều khiển xe cơ giới
...
4. Phạt tiền từ 400.000 đồng đến 600.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:
a) Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi điều khiển xe mô tô và các loại xe tương tự xe mô tô
Như vậy, từ ngày 15/8/2026, người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nếu điều khiển xe mô tô hoặc các loại xe tương tự xe mô tô đều có thể bị xử phạt.
Theo Quy chuẩn QCVN 41:2019/BGTVT ban hành kèm theo Thông tư 54/2019/TT-BGTVT thì xe mô tô (hay còn gọi là xe máy) là xe cơ giới hai hoặc ba bánh và các loại xe tương tự, di chuyển bằng động cơ có dung tích xy lanh từ 50 cm3 trở lên, trọng tải bản thân xe không quá 400 kg. Văn bản thay thế Thông tư 54/2019/TT-BGTVT là Thông tư 51/2024/TT-BGTVT không còn đề cập đến định nghĩa về xe mô tô.
Tuy nhiên, theo điểm e, điểm g khoản 1 Điều 34 Luật Trật tự an toàn giao thông đường bộ:
e) Xe mô tô gồm: xe có hai hoặc ba bánh chạy bằng động cơ, được thiết kế, sản xuất để hoạt động trên đường bộ, trừ xe gắn máy; đối với xe ba bánh thì khối lượng bản thân không lớn hơn 400 kg; g) Xe gắn máy là xe có hai hoặc ba bánh chạy bằng động cơ, được thiết kế, sản xuất để hoạt động trên đường bộ, có vận tốc thiết kế không lớn hơn 50 km/h; nếu động cơ dẫn động là động cơ nhiệt thì dung tích làm việc hoặc dung tích tương đương không lớn hơn 50 cm3; nếu động cơ dẫn động là động cơ điện thì công suất của động cơ không lớn hơn 04 kW; xe gắn máy không bao gồm xe đạp máy;
Theo khoản 1 Điều 3 Nghị định 203/2026/NĐ-CP, từ ngày 01/7/2026, người tham gia Đội Thi hành án tử hình được hưởng chế độ bồi dưỡng bằng 03 lần mức lương cơ sở khi thi hành án tử hình đối với 01 người và được nghỉ dưỡng 10 ngày theo quy định chung về chế độ nghỉ dưỡng đối với cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân, Quân đội nhân dân.
Ngoài chế độ đối với Đội Thi hành án tử hình, khoản 2 Điều 3 Nghị định 203/2026/NĐ-CP còn quy định người tham gia Hội đồng thi hành án tử hình, thư ký Hội đồng thi hành án tử hình, cán bộ quản giáo, người ghi âm, ghi hình, chụp ảnh, phiên dịch, người thực hiện lăn tay người bị thi hành án tử hình, khâm liệm, giao tử thi, tro cốt hoặc mai táng được hưởng chế độ bồi dưỡng bằng 01 lần mức lương cơ sở khi thi hành án tử hình đối với 01 người.
Bên cạnh đó, theo khoản 3 Điều 3 Nghị định 203/2026/NĐ-CP, người tham gia bảo đảm an ninh, trật tự; đại diện UBND cấp xã; điều tra viên được hưởng chế độ bồi dưỡng bằng một phần hai mức lương cơ sở khi tham gia thi hành án tử hình đối với 01 người.
Cảm ơn Quý khách đã dành thời gian đọc bản tin của chúng tôi!
Trung tâm luật việt nam - Công ty CP truyền thông Luật Việt Nam
Tại Hà Nội: Tầng 3, Tòa nhà IC, 82 phố Duy Tân, Cầu Giấy, Hà Nội - Hotline: 0938 36 1919
Tại TP.HCM: 648 Nguyễn Kiệm, Phường Đức Nhuận, TP. Hồ Chí Minh - Tel: 028. 39950724
Email: [email protected]
Lưu ý:
* Bản tin tóm tắt nội dung văn bản chỉ mang tính chất tổng hợp, không có giá trị áp dụng vào các trường hợp cụ thể. Để hiểu đầy đủ và chính xác quy định pháp luật, khách hàng cần tìm đọc nội dung chi tiết toàn văn bản.
* Nếu không muốn tiếp tục nhận bản tin, phiền Quý khách hàng vui lòng click vào đường link dưới đây https://luatvietnam.vn/huy-dang-ky-nhan-ban-tin.html Quý vị sẽ nhận được yêu cầu xác nhận lần cuối cùng trước khi hủy bỏ địa chỉ email của mình khỏi danh sách.

Đã có Nghị định 254/2026/NĐ-CP về hóa đơn điện tử, chứng từ điện tử