Theo Điều 3 Nghị quyết 66.19/2026/NQ-CP, cắt giảm, phân quyền, đơn giản hóa thủ tục hành chính và cắt giảm, đơn giản hoá điều kiện kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của Bộ Nông nghiệp và Môi trường
1. Cắt giảm, phân quyền, đơn giản hóa thủ tục hành chính và cắt giảm, đơn giản hoà điều kiện kinh doanh lĩnh vực trồng trọt và bảo vệ thực vật theo quy định tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Nghị quyết này.
2. Cắt giảm, phân quyền, đơn giản hóa thủ tục hành chính và cắt giảm, đơn giản hoá điều kiện kinh doanh lĩnh vực chăn nuôi và thú y theo quy định tại Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị quyết này.
3. Cắt giảm, phân quyền, đơn giản hoá thủ tục hành chính và cất giám, đem giản hoá điều kiện kinh doanh lĩnh vực thuỷ sản và kiểm ngư theo quy định tại Phụ lục III ban hành kèm theo Nghị quyết này.
4. Cắt giảm, phân quyền, đơn giản hóa thủ tục hành chính và cắt giảm, đơn giản hoá điều kiện kinh doanh lĩnh vực thủy lợi theo quy định tại Phụ lục IV bạn hành kèm theo Nghị quyết này.
5. Cắt giảm, phân quyền, đơn giản hóa thủ tục hành chính và cắt giảm, đơn giản hoá điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực quản lý đê điều và phòng, chống thiên tai quy định tại Phụ lục V ban hành kèm theo Nghị quyết này.
6. Cắt giảm, phân quyền, đơn giản hóa thủ tục hành chính và cắt giảm, đơn giản hoá điều kiện kinh doanh lĩnh vực đất đai theo quy định tại Phụ lục VI ban hành kèm theo Nghị quyết này.
7. Cất giảm, phân quyền, đơn giản hoá thủ tục hành chính và cắt giảm, đơn giản hoà điều kiện kinh doanh lĩnh vực tài nguyên nước theo quy định tại Phụ lục VII ban hành kèm theo Nghị quyết này.
8. Cắt giảm, phân quyền, đơn giản hoá thủ tục hành chính và cắt giảm, đơn giản hoà điều kiện kinh doanh lĩnh vực địa chất và khoáng sản theo quy định tại Phụ lục VIII ban hành kèm theo Nghị quyết này.
9. Cắt giảm, phân quyền, đơn giản hóa thủ tục hành chính và cắt giảm, đơn giản hoá điều kiện kinh doanh lĩnh vực môi trường theo quy định tại Phụ lục IX ban hành kiếm theo Nghị quyết này.
10. Cắt giảm, phân quyền, đơn giản hóa thủ tục hành chính và cắt giảm, đơn giản hoá điều kiện kinh doanh lĩnh vực khí tượng thủy văn theo quy định tại Phụ lục X ban hành kèm theo Nghị quyết này,
11. Cắt giảm, phân quyền, đơn giản hóa thủ tục hành chính và cắt giảm, đơn giản hoi điều kiện kinh doanh lĩnh vực quản lý tổng hợp tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo theo quy định tại Phụ lục X1 ban hành kèm theo Nghị quyết này.
Theo đó, căn cứ khoản 1 Điều 4 Thông tư 08/2026/TT-BNV, mỗi một hợp đồng lao động điện tử khi được gửi về Nền tảng hợp đồng lao động điện tử sẽ chỉ cấp 01 ID duy nhất và không trùng lặp với bất kỳ hợp đồng lao động điện tử nào khác.
Trong đó, ID được cấp một lần, không thay đổi cả trong trường hợp hợp đồng lao động điện tử được sửa đổi, bổ sung, tạm hoãn hoặc chấm dứt. Phụ lục, thông báo tạm hoãn, thông báo chấm dứt hợp đồng lao động điện tử được gắn ID của hợp đồng lao động điện tử đó.
Đồng thời, theo Điều 5 Thông tư 08/2026/TT-BNV, cấu trúc ID của hợp đồng lao động điện tử được thực hiện tự động, gồm 01 ký tự chữ và 12 ký tự số, trong đó:
- Ký tự chữ là một trong cấc chữ cái, A hoặc B hoặc C. Trong đó:
- Chữ cái A đại diện cho hợp đồng lao động điện tử được giao kết từ 01/7/2026 thông qua eContract
- Chữ cái B là ký tự gán cho hợp đồng lao động điện tử được chuyển đổi từ hợp đồng lao động bằng văn bản giấy;
- Chữ cái C là ký tự gán cho hợp đồng lao động điện tử được giao kết trước ngày 01/7/2026
- 12 ký tự số được cấu thành như sau: 02 ký tự số đầu tiên là 02 số cuối của năm hợp đồng lao động điện tử được cấp ID; 10 ký tự số sau là dãy số tự nhiên được cấp ngẫu nhiên.
Cũng theo Điều 5 Thông tư này, ID không thay đổi khi sửa đổi, bổ sung, tạm hoãn hay chấm dứt hợp đồng. Nền tảng cấp ID tự động trong vòng 24 giờ.
Thông tư này được ban hành ngày 15/5/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026. Chậm nhất là ngày 20/7/2026, nhà cung cấp eContract phải hoàn thành việc kết nối eContract với Nền tảng hợp đồng lao động điện tử.
Theo Bộ Nội vụ, trước đây điểm g khoản 1 Điều 14 Nghị định 29/2023/NĐ-CP cho phép Hội đồng nhân dân cấp tỉnh ban hành chính sách hỗ trợ thêm cho đối tượng tinh giản biên chế. Trên cơ sở đó, một số địa phương như Bình Dương và TP.HCM đã có nghị quyết hỗ trợ thêm cho người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã khi nghỉ việc.
Tuy nhiên, để bảo đảm tương quan giữa các đối tượng hưởng chính sách trong hệ thống chính trị, Nghị định 154/2025/NĐ-CP đã bỏ quy định này. Do đó, người hoạt động không chuyên trách cấp xã nghỉ việc theo Nghị định 154/2025/NĐ-CP sẽ không còn được hưởng chính sách hỗ trợ thêm của địa phương.
Bên cạnh đó, Công văn 4941/BNV-TCBC cũng hướng dẫn nhiều nội dung liên quan đến tinh giản biên chế. Trong đó, người đã hưởng trợ cấp tinh giản nếu được tuyển dụng vào đơn vị sự nghiệp công lập nhóm 1, nhóm 2 hưởng lương từ nguồn thu của đơn vị; ký hợp đồng theo Nghị định 173/2025/NĐ-CP, Nghị định 111/2022/NĐ-CP hoặc tham gia dân quân thường trực, lực lượng an ninh cơ sở thì không phải hoàn trả trợ cấp đã nhận.
Ngoài ra, người đang mang thai, nghỉ thai sản hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi sẽ chưa bị xem xét tinh giản biên chế, trừ trường hợp tự nguyện nghỉ việc. Địa phương có trách nhiệm bố trí vị trí việc làm khác phù hợp cho đến hết thời gian nuôi con dưới 36 tháng tuổi.
Đồng thời, người đang bị xem xét kỷ luật, thanh tra, kiểm tra hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự cũng chưa được giải quyết nghỉ việc theo diện tinh giản. Sau khi có kết luận của cơ quan có thẩm quyền, nếu không bị buộc thôi việc hoặc không bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì vẫn được hưởng chính sách theo Điều 9 Nghị định 154/2025/NĐ-CP.
Cụ thể, Điều 3 Thông tư 13/2026/TT-BYT quy định danh mục bệnh phải sử dụng vắc xin, sinh phẩm trong tiêm chủng bắt buộc gồm:
- Bệnh viêm gan vi rút B;
- Bệnh lao;
- Bệnh bạch hầu;
- Bệnh ho gà;
- Bệnh uốn ván;
- Bệnh bại liệt;
- Bệnh do Haemophilus influenzae týp b;
- Bệnh sởi;
- Bệnh rubella;
- Bệnh viêm não Nhật Bản;
- Bệnh tiêu chảy do vi rút Rota;
- Bệnh do phế cầu;
- Bệnh do vi rút HPV ở người;
- Bệnh khác theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế.
Thông tư 13/2026/TT-BYT cũng quy định việc tổ chức tiêm chủng thường xuyên, tiêm chủng bù liều, tiêm chủng chiến dịch chủ động và tiêm chủng chống dịch; chế độ thông tin, báo cáo về hoạt động tiêm chủng; việc quản lý đối tượng tiêm chủng và Hội đồng tư vấn chuyên môn đánh giá nguyên nhân tai biến nặng trong quá trình sử dụng vắc xin, sinh phẩm.
Theo Điều 27 Thông tư 13/2026/TT-BYT, Thông tư này có hiệu lực từ ngày 01/7/2026. Đồng thời, kể từ thời điểm này, các Thông tư 24/2018/TT-BYT, 34/2018/TT-BYT, 05/2020/TT-BYT và 52/2025/TT-BYT hết hiệu lực thi hành.
Theo Tờ trình số 8662/TTr-SNV, Sở Nội vụ cho biết việc đề xuất này xuất phát từ yêu cầu bảo đảm ổn định tổ chức bộ máy, quản lý chặt chẽ số lượng biên chế công chức, số lượng người làm việc hưởng lương từ ngân sách nhà nước hiện có của Thành phố, đồng thời tránh phát sinh chênh lệch số lượng nhân sự thực tế so với số liệu các cơ quan, đơn vị đã báo cáo tại thời điểm ngày 15/5/2026.
Cụ thể, trong thời gian chờ cấp có thẩm quyền ban hành Quyết định giao biên chế công chức, số lượng người làm việc chính thức năm 2026, Sở Nội vụ đề nghị các cơ quan, đơn vị, địa phương tạm dừng thực hiện tuyển dụng, tiếp nhận, điều động đối với công chức, viên chức hưởng lương từ ngân sách nhà nước nếu làm tăng số lượng nhân sự có mặt so với số liệu đã báo cáo ngày 15/5/2026.
Ngoài ra, Thành phố cũng đề xuất tạm dừng tiếp nhận viên chức vào công chức; tạm dừng tiếp nhận người hoạt động không chuyên trách vào làm viên chức hưởng lương từ ngân sách nhà nước tại các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc cơ quan, đơn vị, địa phương.
Đối với Sở Y tế và Ủy ban nhân dân các xã, phường đã đăng ký nhu cầu tiếp nhận người hoạt động không chuyên trách vào làm công chức, viên chức tính đến ngày 15/4/2026 theo đề nghị của Sở Nội vụ tại Công văn số 2160/SNV-CCVC ngày 12/3/2026 và Công văn số 4643/SNV-CCVC ngày 23/3/2026, việc tiếp nhận sẽ được thực hiện sau khi Ủy ban nhân dân Thành phố ban hành Quy định phân cấp tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Tờ trình cũng cho biết, đến thời điểm ngày 15/5/2026, Thành phố Hồ Chí Minh hiện có 141.173 nhân sự hưởng lương từ ngân sách nhà nước tại các cơ quan, đơn vị, địa phương thuộc phạm vi quản lý của khối hành chính, gồm 6.178 công chức cấp tỉnh, 9.379 công chức cấp xã, 29.176 viên chức cấp tỉnh và 96.440 viên chức cấp xã.
Theo đó, tại khoản 14 Điều 1 Luật Công chứng 2026 quy định sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều 50 Luật Công chứng 2024 như sau:
4. Việc điểm chỉ có thể được thực hiện đồng thời với việc ký theo đề nghị của người yêu cầu công chứng.
Trong khi đó, tại khoản 4 Điều 50 Luật Công chứng 2024 quy định các trường hợp vừa điểm chỉ có thể được thực hiện đồng thời với việc ký tên trong trường hợp sau:
- Công chứng di chúc;
- Theo đề nghị của người yêu cầu công chứng;
- Công chứng viên thấy cần thiết để bảo vệ quyền lợi cho người yêu cầu công chứng.
Như vậy, theo luật mới công chứng viên sẽ không được tự yêu cầu khách hàng vừa ký vừa điểm chỉ nếu họ không đề nghị.
Ngoài ra, Điều 50 Luật Công chứng 2024 còn quy định việc ký văn bản công chứng trước sự chứng kiến của công chứng viên phải được chụp ảnh và lưu trữ trong hồ sơ công chứng.
Cảm ơn Quý khách đã dành thời gian đọc bản tin của chúng tôi!
Trung tâm luật việt nam - Công ty CP truyền thông Luật Việt Nam
Tại Hà Nội: Tầng 3, Tòa nhà IC, 82 phố Duy Tân, Cầu Giấy, Hà Nội - Hotline: 0938 36 1919
Tại TP.HCM: 648 Nguyễn Kiệm, Phường Đức Nhuận, TP. Hồ Chí Minh - Tel: 028. 39950724
Email: [email protected]
Lưu ý:
* Bản tin tóm tắt nội dung văn bản chỉ mang tính chất tổng hợp, không có giá trị áp dụng vào các trường hợp cụ thể. Để hiểu đầy đủ và chính xác quy định pháp luật, khách hàng cần tìm đọc nội dung chi tiết toàn văn bản.
* Nếu không muốn tiếp tục nhận bản tin, phiền Quý khách hàng vui lòng click vào đường link dưới đây https://luatvietnam.vn/huy-dang-ky-nhan-ban-tin.html Quý vị sẽ nhận được yêu cầu xác nhận lần cuối cùng trước khi hủy bỏ địa chỉ email của mình khỏi danh sách.

Nghị quyết 66.19/2026/NQ-CP: Cắt giảm, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh của 11 lĩnh vực nông nghiệp và môi trường