Theo Công văn 9409/BTC-CT, Sở Tài chính, Ban quản lý khu công nghệ cao (cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh) phối hợp với cơ quan thuế và các cơ quan có liên quan rà soát, phân loại, xử lý các doanh nghiệp không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký theo đúng quy định của pháp luật về đăng ký doanh nghiệp và quản lý thuế.
Đồng thời, cơ quan đăng ký kinh doanh phối hợp với cơ quan thuế cập nhật, lập danh sách các doanh nghiệp thuộc diện này để xử lý vi phạm và thực hiện thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp khi đủ điều kiện. Việc rà soát phải hoàn thành trước ngày 15/7/2026.
Đối với doanh nghiệp không hoạt động tại địa chỉ đăng ký, có nợ thuế kéo dài, không hợp tác và đủ điều kiện áp dụng biện pháp cưỡng chế theo quy định của pháp luật về quản lý thuế, cơ quan thuế sẽ lập hồ sơ đề nghị cơ quan đăng ký kinh doanh thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.
Sau khi tiếp nhận đề nghị, cơ quan đăng ký kinh doanh thực hiện thu hồi theo thẩm quyền và cập nhật tình trạng pháp lý "Bị thu hồi do cưỡng chế về quản lý thuế". Nhiệm vụ này phải hoàn thành trước ngày 15/8/2026.
Ngoài ra, đối với các trường hợp doanh nghiệp không hoạt động tại địa chỉ đăng ký có dấu hiệu mua bán hóa đơn, trốn thuế hoặc lợi dụng pháp nhân, mã số thuế, hóa đơn để vi phạm pháp luật, cơ quan thuế sẽ chủ trì phân loại rủi ro, kiểm tra, xử lý vi phạm hoặc chuyển hồ sơ sang cơ quan công an khi đủ căn cứ.
Nếu đồng thời đáp ứng điều kiện thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về quản lý thuế hoặc đăng ký doanh nghiệp thì cơ quan thuế sẽ phối hợp với cơ quan đăng ký kinh doanh thực hiện thu hồi theo đúng thẩm quyền.
Theo Điều 20 Luật Viên chức 2025, số 129/2025/QH15, hợp đồng làm việc là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa viên chức hoặc người được tuyển dụng làm viên chức với người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập về vị trí việc làm, tiền lương, chế độ đãi ngộ, điều kiện làm việc, quyền, nghĩa vụ và các nội dung khác có liên quan.
Căn cứ kết quả tuyển dụng, người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập ký hợp đồng làm việc và bố trí người trúng tuyển vào vị trí việc làm.
Theo đó, hợp đồng làm việc đối với viên chức gồm 02 loại:
Hợp đồng làm việc xác định thời hạn;
Hợp đồng làm việc không xác định thời hạn.
Cụ thể, theo Điều 22 Nghị định 259/2026/NĐ-CP, hợp đồng làm việc xác định thời hạn là hợp đồng trong đó hai bên xác định thời hạn và thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng theo quy định của pháp luật về lao động. Loại hợp đồng này được thực hiện theo Mẫu số 02 hoặc Mẫu số 03 ban hành kèm theo Nghị định.
Hợp đồng làm việc không xác định thời hạn là hợp đồng trong đó hai bên không xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng, được thực hiện theo Mẫu số 04 ban hành kèm theo Nghị định.
Trước đây, khoản 1 Điều 25 Luật Viên chức 2010, số 58/2010/QH12 quy định hợp đồng làm việc xác định thời hạn phải có thời hạn từ đủ 12 tháng đến 60 tháng.
Như vậy, hợp đồng làm việc của viên chức vẫn gồm hợp đồng xác định thời hạn và hợp đồng không xác định thời hạn.
Tuy nhiên, hợp đồng xác định thời hạn không còn bắt buộc phải kéo dài từ đủ 12 tháng đến 60 tháng như trước, mà thời hạn hợp đồng sẽ được xác định theo quy định của pháp luật về lao động.
Một trong những nội dung đáng chú ý của Quy chế mới là bổ sung yêu cầu về trí tuệ nhân tạo trong chuẩn đầu ra trình độ thạc sĩ.
Cụ thể, theo điểm a khoản 1 Điều 13 Quy chế ban hành kèm Thông tư 53/2026/TT-BGDĐT, người học được công nhận tốt nghiệp và cấp bằng thạc sĩ khi hoàn thành chương trình đào tạo, đồng thời đáp ứng các yêu cầu tốt nghiệp theo quy định của chương trình đào tạo.
Các yêu cầu này bao gồm chuẩn đầu ra về:
- Kiến thức;
- Kỹ năng;
- Mức độ tự chủ và trách nhiệm;
- Năng lực ngoại ngữ;
- Năng lực số;
- Trí tuệ nhân tạo;
- Các yêu cầu khác nếu có.
Ngoài ra, người học còn phải hoàn thành các nghĩa vụ theo quy định của cơ sở đào tạo và không thuộc trường hợp bị đình chỉ học tập.
Như vậy, đối với các khóa thuộc phạm vi áp dụng của Quy chế mới, nội dung về trí tuệ nhân tạo phải được thể hiện trong chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo thạc sĩ. Người học phải đáp ứng chuẩn đầu ra này cùng với các yêu cầu về kiến thức, kỹ năng, ngoại ngữ và năng lực số trước khi được xét công nhận tốt nghiệp.
Tuy nhiên, quy định trên không đồng nghĩa mọi chương trình thạc sĩ đều phải bố trí một học phần riêng mang tên “trí tuệ nhân tạo”. Tại Điều 13 Thông tư này, Bộ Giáo dục và Đào tạo không quy định cụ thể số tín chỉ, tên học phần hoặc hình thức đánh giá đối với nội dung này. Việc thiết kế nội dung đào tạo và phương thức đánh giá phải được cơ sở đào tạo cụ thể hóa trong từng chương trình, phù hợp với ngành, lĩnh vực và chuẩn đầu ra tương ứng.
So với quy định cũ tại Thông tư 23/2021/TT-BGDĐT, đây là nội dung được bổ sung. Trước đây, điều kiện tốt nghiệp thạc sĩ chủ yếu gồm hoàn thành các học phần, bảo vệ luận văn hoặc đề án đạt yêu cầu, đáp ứng chuẩn đầu ra ngoại ngữ và hoàn thành trách nhiệm của học viên. Như vậy, chưa quy định riêng về năng lực số và trí tuệ nhân tạo trong điều kiện công nhận tốt nghiệp.
Mặt khác, theo khoản 1 Điều 34 Thông tư 53/2026/TT-BGDĐT quy định này áp dụng đối với các khóa thông báo tuyển sinh trình độ thạc sĩ từ ngày 01/01/2027. Do đó, yêu cầu mới về chuẩn đầu ra trí tuệ nhân tạo không áp dụng đồng loạt đối với mọi học viên đang học trước thời điểm này, mà áp dụng đối với các khóa có thông báo tuyển sinh từ ngày 01/01/2027.
Theo đó, tại khoản 2 Điều 32 Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân 2025, số 91/2025/QH15, trường hợp ghi âm, ghi hình cơ quan, tổ chức, cá nhân không cần sự đồng ý của người xuất hiện trong video có trách nhiệm sau:
- Thông báo cho người được ghi âm, ghi hình được biết;
- Sử dụng hình thức thông tin khác để chủ thể dữ liệu cá nhân biết mình đang bị ghi âm, ghi hình.
Như vậy, khi quay video tại nơi công cộng người thực hiện không nhất thiết phải thông báo trực tiếp cho từng người xuất hiện trong video, nhưng phải có biện pháp thông tin phù hợp để họ có thể biết hoạt động ghi hình đang diễn ra.
Bên cạnh đó, dữ liệu cá nhân thu được từ hoạt động ghi âm, ghi hình tại nơi công cộng, hoạt động chỉ được lưu trữ trong khoảng thời gian cần thiết để phục vụ mục đích thu thập. Khi hết thời hạn lưu trữ, dữ liệu cá nhân phải được xóa, hủy theo quy định của Luật.
Đồng thời, cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện ghi âm, ghi hình có trách nhiệm bảo vệ dữ liệu cá nhân, sử dụng phù hợp với mục đích xử lý, không được sử dụng vào các mục đích trái pháp luật hoặc xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của chủ thể dữ liệu cá nhân.
Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân 2025 có hiệu lực từ ngày 01/01/2026.
Cảm ơn Quý khách đã dành thời gian đọc bản tin của chúng tôi!
Trung tâm luật việt nam - Công ty CP truyền thông Luật Việt Nam
Tại Hà Nội: Tầng 3, Tòa nhà IC, 82 phố Duy Tân, Cầu Giấy, Hà Nội - Hotline: 0938 36 1919
Tại TP.HCM: 648 Nguyễn Kiệm, Phường Đức Nhuận, TP. Hồ Chí Minh - Tel: 028. 39950724
Email: [email protected]
Lưu ý:
* Bản tin tóm tắt nội dung văn bản chỉ mang tính chất tổng hợp, không có giá trị áp dụng vào các trường hợp cụ thể. Để hiểu đầy đủ và chính xác quy định pháp luật, khách hàng cần tìm đọc nội dung chi tiết toàn văn bản.
* Nếu không muốn tiếp tục nhận bản tin, phiền Quý khách hàng vui lòng click vào đường link dưới đây https://luatvietnam.vn/huy-dang-ky-nhan-ban-tin.html Quý vị sẽ nhận được yêu cầu xác nhận lần cuối cùng trước khi hủy bỏ địa chỉ email của mình khỏi danh sách.

Công văn 9409/BTC-CT: Doanh nghiệp không hoạt động tại địa chỉ đăng ký bị rà soát, thu giấy phép