Theo Mục II.2 Phụ lục ban hành kèm theo Công văn 8231/BTC-DNTN, Bộ Tài chính liệt kê các trường thông tin cần làm sạch. Trong đó, về tình trạng pháp lý, văn bản nêu rõ trường hợp:
Doanh nghiệp, hộ kinh doanh, hợp tác xã không hoạt động tại địa chỉ đăng ký.
Như vậy, trong năm 2026, các trường hợp doanh nghiệp, hộ kinh doanh, hợp tác xã không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký sẽ thuộc nhóm dữ liệu cần được rà soát, làm sạch và chuẩn hóa trên hệ thống đăng ký kinh doanh.
Ngoài ra, theo Mục III.2 Phụ lục kèm theo Công văn 8231/BTC-DNTN, phương thức triển khai được xác định như sau:
Thứ nhất, cơ quan đăng ký kinh doanh trực tiếp rà soát, kiểm tra thông tin đăng ký của từng doanh nghiệp, hộ kinh doanh, hợp tác xã, đơn vị trực thuộc theo danh sách với hồ sơ gốc bản giấy đang lưu tại cơ quan đăng ký kinh doanh.
Thứ hai, cơ quan có thẩm quyền thực hiện làm sạch, chuẩn hóa dữ liệu trên hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp, hộ kinh doanh, hợp tác xã.
Như vậy, với trường hợp không hoạt động tại địa chỉ đăng ký, dữ liệu sẽ được kiểm tra, đối chiếu với hồ sơ gốc và cập nhật, chuẩn hóa trên hệ thống thông tin đăng ký kinh doanh.
Theo đó, đối với giai đoạn từ ngày 01/7/2026 đến ngày 31/12/2026, người dưới 35 tuổi vay mua nhà ở xã hội được áp dụng mức lãi suất cho vay 6,5%/năm trong 05 năm đầu vay vốn, tính kể từ ngày giải ngân đầu tiên. Mức lãi suất này thấp hơn 2%/năm so với lãi suất cho vay trung và dài hạn bằng đồng Việt Nam bình quân của 04 ngân hàng thương mại nhà nước, gồm Agribank, BIDV, Vietcombank và VietinBank.
Sau thời gian ưu đãi nêu trên, trong 10 năm vay vốn tiếp theo, kể từ ngày giải ngân đầu tiên, lãi suất cho vay được xác định thấp hơn 1%/năm so với lãi suất cho vay trung và dài hạn bằng đồng Việt Nam bình quân của 04 ngân hàng thương mại nhà nước nêu trên; mức lãi suất áp dụng là 7,5%/năm.
Theo Phụ lục ban hành kèm Công văn 5340/NHNN-CSTT, hiện có 09 ngân hàng thương mại tham gia chương trình cho vay người trẻ dưới 35 tuổi mua nhà ở xã hội, gồm: Agribank, VietinBank, BIDV, Vietcombank, TPBank, VPBank, MB, Techcombank và HDBank.
Theo khoản 1 Điều 3 Nghị định 137/2026/NĐ-CP, kinh doanh theo phương thức đa cấp là hoạt động kinh doanh sử dụng mạng lưới người tham gia gồm nhiều cấp, nhiều nhánh, trong đó, người tham gia được hưởng hoa hồng, tiền thưởng và lợi ích kinh tế khác từ kết quả kinh doanh của mình và của những người khác trong mạng lưới.
Theo đó, người tham gia bán hàng đa cấp là cá nhân có giao kết hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp với doanh nghiệp bán hàng đa cấp.
Khoản 1 Điều 28 Nghị định 137/2026/NĐ-CP quy định người tham gia bán hàng đa cấp là cá nhân có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật và cư trú tại Việt Nam. Đáng chú ý là cán bộ, công chức không được tham gia bán hàng đa cấp theo khoản 2 Điều 28 Nghị định 137/2026/NĐ-CP, cụ thể như sau:
Doanh nghiệp bán hàng đa cấp không được ký hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp với những người thuộc các trường hợp sau:
Thứ nhất, trường hợp là người đang chấp hành hình phạt tù hoặc có tiền án về các tội sản xuất, buôn bán hàng giả, sản xuất, buôn bán hàng cấm, quảng cáo gian dối, lừa dối khách hàng, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, chiếm giữ trái phép tài sản, tội vi phạm quy định về kinh doanh theo phương thức đa cấp.
Thứ hai, là người nước ngoài không có giấy phép lao động tại Việt Nam do cơ quan có thẩm quyền cấp gắn với doanh nghiệp mà người đó tham gia bán hàng đa cấp, trừ trường hợp không thuộc diện cấp giấy phép lao động theo quy định của pháp luật.
Thứ ba, người tham gia bán hàng đa cấp đã từng bị xử phạt do vi phạm các quy định liên quan đến các hành vi bị cấm trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng quy định tại Điều 10 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và quy định về phát triển mạng lưới bán hàng đa cấp không dựa trên giao dịch mua bán hàng hóa mà hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính.
Thứ tư, cá nhân từng giữ một trong các vai trò sau tại doanh nghiệp bán hàng đa cấp đã bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp, giấy đăng ký tổ chức bán hàng đa cấp như:
- Thành viên đối với công ty hợp danh,
- Chủ sở hữu đối với doanh nghiệp tư nhân hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên,
- Thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn có từ hai thành viên trở lên,
- Cổ đông đối với công ty cổ phần,
- Người đại diện theo pháp luật, người quản lý doanh nghiệp.
Thứ năm, cá nhân thuộc một trong các trường hợp sau:
- Cán bộ, công chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức;
- Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân;
- Sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân.
Như vậy, từ ngày 01/7/2026 cán bộ, công chức thuộc đối tượng không được tham gia bán hàng đa cấp
Thông tư 34/2026/TT-BXD có hiệu lực từ ngày 01/7/2026 và chính thức thay thế toàn bộ Thông tư 06/2021/TT-BXD đã được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư 02/2025/TT-BXD, thiết lập khung pháp lý mới về xác định và áp dụng cấp công trình xây dựng.
So với quy định trước đây, Thông tư 34/2026/TT-BXD không chỉ sửa đổi, bổ sung một số nội dung như Thông tư 02/2025/TT-BXD mà ban hành một văn bản mới để thay thế toàn bộ quy định về phân cấp công trình xây dựng.
Đồng thời, tên gọi của văn bản cũng được thay đổi từ "quy định về phân cấp công trình xây dựng và hướng dẫn áp dụng trong quản lý hoạt động đầu tư xây dựng" sang "quy định chi tiết về cấp công trình xây dựng phục vụ quản lý hoạt động xây dựng", phù hợp với Luật Xây dựng 2025, số 135/2025/QH15.
Theo khoản 1 Điều 1, Thông tư 34/2026/TT-BXD quy định chi tiết về cấp công trình xây dựng phục vụ quản lý hoạt động xây dựng theo điểm a khoản 2 Điều 6 Luật Xây dựng năm 2025. Trong khi đó, Thông tư 06/2021/TT-BXD được ban hành trên cơ sở Luật Xây dựng năm 2014, Luật sửa đổi, bổ sung năm 2020 và hướng dẫn việc phân cấp công trình xây dựng trong quản lý hoạt động đầu tư xây dựng.
Thông tư 34/2026/TT-BXD còn bổ sung nhiều nội dung mới trong việc xác định và áp dụng cấp công trình. Căn cứ khoản 6 Điều 2, khoản 4 Điều 2, khoản 5 Điều 3 và điểm b, điểm d, điểm k khoản 1 Điều 3, Thông tư 34/2026/TT-BXD đã:
- Bổ sung nguyên tắc xác định cấp công trình đối với công trình thuộc dự án thành phần không phải là dự án thành phần độc lập;- Bổ sung trường hợp công trình hiện hữu được mở rộng phải xác định lại cấp công trình nếu làm thay đổi tiêu chí phân cấp;
- Quy định các công việc bảo trì không làm thay đổi kết cấu chịu lực thì không áp dụng cấp công trình.
Đồng thời, mở rộng phạm vi áp dụng cấp công trình để xác định thẩm quyền cấp giấy phép xây dựng, xác định công trình phải áp dụng mô hình thông tin công trình (BIM) và các giải pháp công nghệ số, cũng như xác định điều kiện kinh nghiệm nghề nghiệp của cá nhân hành nghề xây dựng.
Ngoài ra, Thông tư 34/2026/TT-BXD cũng quy định chuyển tiếp đối với các dự án, công trình đã trình thẩm định trước ngày Thông tư có hiệu lực.
Theo Điều 5, trường hợp hồ sơ đã đủ điều kiện thẩm định trước ngày 01/7/2026 thì việc xác định cấp công trình tiếp tục thực hiện theo quy định tại thời điểm trình thẩm định; ngược lại, nếu hồ sơ chưa đủ điều kiện thẩm định hoặc kết quả thẩm định chưa đủ điều kiện để trình phê duyệt thì việc xác định và áp dụng cấp công trình phải thực hiện theo quy định của Thông tư 34/2026/TT-BXD.
Theo đó, tại khoản 3 Điều 101 Nghị định 174/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính đối với người chơi các trò chơi điện tử. Đáng chú ý là mua, bán vật phẩm ảo trong game có thể bị phạt đến 03 triệu đồng, cụ thể:
3. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
a) Lợi dụng trò chơi điện tử để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, gây mất trật tự, an toàn xã hội và an ninh quốc gia;
b) Mua, bán vật phẩm ảo hoặc đơn vị ảo hoặc điểm thưởng.
Như vậy, từ ngày 01/7/2026, người có hành vi mua, bán vật phẩm ảo trong game bị xử phạt hành chính từ 02 - 03 triệu đồng.
Bên cạnh đó, tại khoản 5 Điều 57 Nghị định 147/2024/NĐ-CP cũng quy định không mua, bán vật phẩm ảo, đơn vị ảo, điểm thưởng giữa người chơi với nhau.
Ngoài ra, tại Điều 101 Nghị định 174/2026/NĐ-CP còn quy định mức xử phạt vi phạm hành chính khác đối với người chơi game như sau:
Thứ nhất, phạt cảnh cáo đối với hành vi đăng ký không đúng thông tin cá nhân khi chơi các trò chơi điện tử G1.
Thứ hai, phạt tiền từ 600 nghìn đồng - 01 triệu đồng đối với hành vi không chấp hành quy định về quản lý giờ chơi tại điểm cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử công cộng.
Mặt khác, theo khoản 3 Điều 4 Nghị định 174/2026/NĐ-CP, mức phạt tiền đối với các hành vi vi phạm trên áp dụng đối với hành vi vi phạm hành chính của cá nhân. Nếu tổ chức có cùng hành vi vi phạm thì mức phạt tiền bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân.
Theo khoản 3 Điều 1 Pháp lệnh 01/2026/UBTVQH16, Điều 4 của Pháp lệnh Hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật 2012 được sửa đổi theo hướng quy định rõ:
Văn bản hợp nhất được cơ quan, tổ chức, cá nhân sử dụng làm căn cứ chính thức trong viện dẫn và áp dụng pháp luật.
So với quy định cũ tại Điều 4 Pháp lệnh 01/2012/UBTVQH13, đây là điểm mới đáng chú ý. Cụ thể, Điều 4 Pháp lệnh năm 2012 chỉ quy định:
“Văn bản hợp nhất được sử dụng chính thức trong việc áp dụng và thi hành pháp luật.”
Như vậy, Pháp lệnh 01/2026/UBTVQH16 đã mở rộng và làm rõ hơn giá trị sử dụng của văn bản hợp nhất khi bổ sung nội dung “viện dẫn” bên cạnh việc “áp dụng pháp luật”, đồng thời xác định rõ đây là căn cứ chính thức để cơ quan, tổ chức, cá nhân sử dụng trong thực tiễn.
Không chỉ bổ sung giá trị pháp lý của văn bản hợp nhất, Pháp lệnh mới còn lần đầu tiên quy định cụ thể cách thức viện dẫn văn bản hợp nhất.
Theo khoản 2 Điều 4 được sửa đổi, khi viện dẫn văn bản hợp nhất của luật hoặc pháp lệnh phải ghi tên, số, ký hiệu của luật, pháp lệnh được sửa đổi, bổ sung và kèm theo cụm từ “hợp nhất tại Văn bản hợp nhất số...” cùng số, ký hiệu của văn bản hợp nhất. Đối với các văn bản khác do cơ quan có thẩm quyền ở Trung ương hoặc địa phương ban hành, việc viện dẫn cũng phải thực hiện theo nguyên tắc tương tự.
Đồng thời, Pháp lệnh còn quy định khi viện dẫn phần, chương, mục, tiểu mục, điều, khoản hoặc điểm trong văn bản hợp nhất thì phải nêu rõ số thứ tự tương ứng của nội dung được viện dẫn để bảo đảm tính chính xác trong quá trình áp dụng pháp luật.
Cảm ơn Quý khách đã dành thời gian đọc bản tin của chúng tôi!
Trung tâm luật việt nam - Công ty CP truyền thông Luật Việt Nam
Tại Hà Nội: Tầng 3, Tòa nhà IC, 82 phố Duy Tân, Cầu Giấy, Hà Nội - Hotline: 0938 36 1919
Tại TP.HCM: 648 Nguyễn Kiệm, Phường Đức Nhuận, TP. Hồ Chí Minh - Tel: 028. 39950724
Email: [email protected]
Lưu ý:
* Bản tin tóm tắt nội dung văn bản chỉ mang tính chất tổng hợp, không có giá trị áp dụng vào các trường hợp cụ thể. Để hiểu đầy đủ và chính xác quy định pháp luật, khách hàng cần tìm đọc nội dung chi tiết toàn văn bản.
* Nếu không muốn tiếp tục nhận bản tin, phiền Quý khách hàng vui lòng click vào đường link dưới đây https://luatvietnam.vn/huy-dang-ky-nhan-ban-tin.html Quý vị sẽ nhận được yêu cầu xác nhận lần cuối cùng trước khi hủy bỏ địa chỉ email của mình khỏi danh sách.

Rà soát doanh nghiệp, hộ kinh doanh không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký