• Tổng quan
  • Nội dung
  • VB gốc
  • Tiếng Anh
  • Hiệu lực
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Nội dung hợp nhất 

    Tính năng này chỉ có tại LuatVietnam.vn. Nội dung hợp nhất tổng hợp lại tất cả các quy định còn hiệu lực của văn bản gốc và các văn bản sửa đổi, bổ sung, đính chính... trên một trang. Việc hợp nhất văn bản gốc và những văn bản, Thông tư, Nghị định hướng dẫn khác không làm thay đổi thứ tự điều khoản, nội dung.

    Khách hàng chỉ cần xem Nội dung hợp nhất là có thể nắm bắt toàn bộ quy định hiện hành đang áp dụng, cho dù văn bản gốc đã qua nhiều lần chỉnh sửa, bổ sung.

    =>> Xem hướng dẫn chi tiết cách sử dụng Nội dung hợp nhất

  • Tải về
Lưu
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao . Vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem chi tiết.
Theo dõi VB
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao . Vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem chi tiết.
Ghi chú
Báo lỗi
In

Kế hoạch 448/KH-UBND An Giang 2026 phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã năm 2027

Ngày cập nhật: Thứ Tư, 21/10/2026 14:55 (GMT+7)
Cơ quan ban hành: Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang
Số công báo:
Số công báo là mã số ấn phẩm được đăng chính thức trên ấn phẩm thông tin của Nhà nước. Mã số này do Chính phủ thống nhất quản lý.
Đang cập nhật
Số hiệu: 448/KH-UBND Ngày đăng công báo: Đang cập nhật
Loại văn bản: Kế hoạch Người ký: Ngô Công Thức
Trích yếu: Về việc phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã tỉnh An Giang năm 2027
Ngày ban hành:
Ngày ban hành là ngày, tháng, năm văn bản được thông qua hoặc ký ban hành.
11/08/2026
Ngày hết hiệu lực:
Ngày hết hiệu lực là ngày, tháng, năm văn bản chính thức không còn hiệu lực (áp dụng).
Đang cập nhật
Ngày áp dụng:
Ngày áp dụng là ngày, tháng, năm văn bản chính thức có hiệu lực (áp dụng).
Đã biết
Tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao. Vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem chi tiết.
Tình trạng hiệu lực:
Cho biết trạng thái hiệu lực của văn bản đang tra cứu: Chưa áp dụng, Còn hiệu lực, Hết hiệu lực, Hết hiệu lực 1 phần; Đã sửa đổi, Đính chính hay Không còn phù hợp,...
Đã biết
Tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao. Vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem chi tiết.
Lĩnh vực: Doanh nghiệp

TÓM TẮT KẾ HOẠCH 448/KH-UBND

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải Kế hoạch 448/KH-UBND

Tải văn bản tiếng Việt (.pdf) Kế hoạch 448/KH-UBND PDF (Bản có dấu đỏ)

Vui lòng Đăng nhập để tải văn bản. Nếu chưa có tài khoản, vui lòng Đăng ký tại đây!

Tình trạng hiệu lực: Đã biết
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng hiệu lực: Đã biết
KẾ HOẠCH
Phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã tỉnh An Giang năm 2027
Thực hiện Công văn số 9439/BTC-DNTN ngày 06/7/2026 của Bộ Tài
chính về việc xây dựng Kế hoạch phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã năm
2027. Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang ban hành Kế hoạch phát triển kinh tế tập
thể, hợp tác xã tỉnh An Giang năm 2027 với nội dung cụ thể như sau:
Phần thứ nhất
ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ TẬP THỂ,
HỢP TÁC XÃ NĂM 2026
I. TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ TẬP THỂ, HỢP TÁC XÃ
NĂM 2026
1. Đánh giá dựa trên các chỉ tiêu về hoạt động sản xuất, kinh doanh
của tổ hợp tác, hợp tác xã và liên hiệp hợp tác xã
a) Về số lượng, doanh thu và thu nhập của tổ hợp tác, hợp tác xã, liên
hiệp hợp tác xã (THT, HTX, LHHTX)
Tổ hợp tác: Ước đến cuối năm 2026, toàn tỉnh thành lập mới 95 THT với
350 thành viên; nâng tổng số THT trên địa bàn tỉnh lên 3.804 THT, với 67.483
thành viên. Doanh thu bình quân của một THT ước đạt 320 triệu đồng/năm, lợi
nhuận bình quân đạt 57 triệu đồng/năm.
Hợp tác xã: Ước đến cuối năm 2026, toàn tỉnh có 893 HTX đăng ký hoạt
động, gồm 751 HTX nông nghiệp, 28 HTX thương mại, 57 HTX giao thông vận
tải, 04 HTX khai khoáng, xây dựng, 11 HTX tiểu thủ công nghiệp và 42 quỹ tín
dụng nhân dân. Trong năm, thành lập mới 45 HTX và giải thể 06 HTX. Doanh
thu bình quân của một HTX ước đạt 4.020 triệu đồng/năm, đạt 100% kế hoạch;
lợi nhuận bình quân ước đạt 1.100 triệu đồng/năm, đạt 100% kế hoạch.
Liên hiệp hợp tác xã: Ước đến cuối năm 2026, thành lập mới 01 LHHTX
với 07 HTX thành viên và 11 lao động, nâng tổng số LHHTX trên địa bàn tỉnh
lên 06 LHHTX. Doanh thu bình quân của một LHHTX ước đạt 6.500 triệu
đồng/năm.
b) Về thành viên và lao động của THT, HTX, LHHTX
Ước đến cuối năm 2026, tổng số thành viên THT đạt khoảng 67.483 thành
viên, tăng 0,52% so với năm 2025.
Tổng số thành viên HTX ước đạt 183.252 người, tăng 0,3% so với năm
2025; tổng số lao động thường xuyên trong các HTX đạt 18.013 người, tăng
3,6% so với cùng kỳ năm 2025.
ỦY BAN NHÂN DÂN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH AN GIANG
Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc
Số: /KH-UBND
An Giang, ngày tháng năm 2026
448
11
08
2
Đối với LHHTX, tổng số HTX thành viên ước đạt 60 HTX; tổng số lao
động thường xuyên là 41 người.
c) Về trình độ cán bộ quản lý THT, HTX, LHHTX
Ước đến cuối năm 2026, toàn tỉnh có 5.860 cán bộ quản lý HTX, tăng
1,09% so với năm 2025. Trong đó, cán bộ quản lý có trình độ sơ cấp, trung cấp
chiếm khoảng 74%; trình độ cao đẳng, đại học chiếm khoảng 26%. Tuy nhiên,
phần lớn các HTX vẫn còn thiếu đội ngũ cán bộ có năng lực quản lý, điều hành
sản xuất, kinh doanh; công tác xây dựng phương án, kế hoạch sản xuất, kinh
doanh ở một số HTX chưa sát với điều kiện thực tế, chưa xây dựng được chiến
lược phát triển trung và dài hạn, ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động và năng lực
cạnh tranh của HTX.
2. Đánh giá theo lĩnh vực
a) Tổ hợp tác
Ước đến cuối năm 2026, toàn tỉnh thành lập mới 95 THT, nâng tổng số
THT trên địa bàn tỉnh lên 3.804 THT, với 67.483 thành viên và tổng diện tích
sản xuất khoảng 154.259 ha. Doanh thu bình quân của một THT ước đạt 296
triệu đồng/năm, lợi nhuận bình quân đạt 55 triệu đồng/năm.
Các THT hoạt động trên nhiều lĩnh vực, trong đó chủ yếu là lĩnh vực nông
nghiệp, bao gồm: trồng lúa theo mô hình cánh đồng lớn và liên kết sản xuất; sản
xuất rau màu, cây ăn trái; chăn nuôi; nuôi trồng thủy sản (cá tra, cá lóc, tôm...);
cung ứng các dịch vụ nông nghiệp như làm đất, bơm tưới, thu hoạch, cung ứng
vật tư nông nghiệp. Ngoài ra, một số THT hoạt động trong lĩnh vực tiểu thủ
công nghiệp, ngành nghề nông thôn, chế biến thực phẩm, sản phẩm OCOP và
dịch vụ thương mại, thu mua, tiêu thụ nông sản.
Nhìn chung, các THT tiếp tục phát triển cả về số lượng và chất lượng,
từng bước nâng cao hiệu quả hoạt động, phát huy tinh thần hợp tác, hỗ trợ lẫn
nhau trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm; góp phần giải quyết việc làm, nâng
cao thu nhập cho thành viên, thúc đẩy phát triển kinh tế hộ và tạo tiền đề hình
thành các HTX khi đủ điều kiện theo quy định của Luật Hợp tác xã năm 2023.
b) Hợp tác xã
Lĩnh vực nông nghiệp
Ước đến cuối năm 2026, toàn tỉnh thành lập mới 39 HTX, giải thể 5HTX.
Lũy kế đến cuối năm 2026, toàn tỉnh có 751 HTX nông nghiệp, chiếm 84,1%
tổng số HTX trên địa bàn tỉnh; tổng vốn điều lệ đạt 470.435 triệu đồng, với diện
tích sản xuất 78.373,4 ha, có 138.033 thành viên và tạo việc làm thường xuyên
cho 11.275 lao động.
Doanh thu bình quân của một HTX nông nghiệp ước đạt 5.000 triệu
đồng/năm; lợi nhuận bình quân đạt 1.050 triệu đồng/năm; thu nhập bình quân
của người lao động thường xuyên đạt khoảng 5,5 triệu đồng/người/tháng.
Về ứng dụng khoa học, công nghệ trong sản xuất nông nghiệp: Tiếp tục
duy trì hỗ trợ trên 25 HTX nông nghiệp triển khai các mô hình ứng dụng công
3
nghệ cao và tiến bộ khoa học, kỹ thuật vào sản xuất, góp phần nâng cao năng
suất, chất lượng sản phẩm và hiệu quả hoạt động của HTX.
Về liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm: Từ đầu năm đến nay, có 29 doanh
nghiệp tham gia liên kết với 38 HTX nông nghiệp để sản xuất, tiêu thụ nông sản
theo chuỗi giá trị trên diện tích khoảng 20.905 ha, tập trung ở các ngành hàng
chủ lực gồm lúa nếp, rau màu và cây ăn trái.
- Đối với lúa nếp: Trong vụ Đông Xuân 2025-2026, có 16 doanh nghiệp
ký hợp đồng liên kết với 26 HTX nông nghiệp trên diện tích 18.914 ha. Các
doanh nghiệp tham gia liên kết chủ yếu gồm: Công ty Cổ phần Tập đoàn Lộc
Trời, Công ty TNHH Lương thực Tấn Vương, Công ty Hào Sơn, Công ty
KiGiMex, Tập đoàn Sunrice, Công ty TNHH Thiện Phát, Công ty Cổ phần Hiệp
Ngọc, Công ty Angimex Kitoku, Công ty TNHH Trung An, Công ty An Phú
Hòn Đất,...
- Đối với rau màu: Có 06 doanh nghiệp liên kết với 05 HTX nông nghiệp
trên diện tích khoảng 392 ha. Các doanh nghiệp liên kết gồm: Công ty TNHH
Nam Phương, Công ty Antesco, Công ty Minh Dũng, Công ty Fudan, Công ty
Donsen và Công ty Phúc Lý.
- Đối với cây ăn trái: Có 08 doanh nghiệp liên kết với 07 HTX nông
nghiệp trên diện tích khoảng 1.599 ha. Các doanh nghiệp tham gia liên kết gồm:
Công ty Cát Tường, Công ty ViNa T&T, Công ty Antesco, Công ty TNHH
Hoàng Phát Fruit, Công ty Cổ phần SSB Holdings, Công ty SaKa, Công ty Cổ
phần Westfood Hậu Giang và Công ty TNHH MTV ANT FARM.
Nhìn chung, đa số HTX nông nghiệp hoạt động ở mức trung bình, một số
HTX hoạt động khá, tốt và từng bước xây dựng được mô hình sản xuất theo
chuỗi giá trị đối với các ngành hàng chủ lực của tỉnh, qua đó hình thành một số
HTX kiểu mẫu có khả năng lan tỏa, đáp ứng yêu cầu liên kết sản xuất của người
dân và doanh nghiệp.
Hoạt động của các HTX nông nghiệp, thủy sản đã phát huy vai trò hỗ trợ
thành viên trong tổ chức sản xuất, ứng dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật, cơ giới
hóa, giảm chi phí đầu vào, nâng cao năng suất, đồng thời cung cấp hiệu quả các
dịch vụ thiết yếu như làm đất, bơm tưới, thu hoạch, cung ứng vật tư nông
nghiệp, giống cây trồng, vật nuôi và tiêu thụ sản phẩm. Qua đó góp phần nâng
cao thu nhập, cải thiện đời sống của thành viên và người lao động.
Tuy nhiên, phần lớn HTX vẫn gặp khó khăn về nguồn nhân lực quản lý,
năng lực tài chính và khả năng huy động vốn; bên cạnh đó, giá vật tư nông
nghiệp tăng cao, giá nông sản biến động, cùng với diễn biến thời tiết bất thường
đã ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất, kinh doanh của nhiều HTX.
Lĩnh vực giao thông vận tải
Năm 2026, ước thành lập mới 03 HTX. Ước đến cuối năm 2026, toàn tỉnh
có 57 HTX giao thông vận tải, chiếm 6,4% tổng số HTX toàn tỉnh; tổng vốn
điều lệ đạt 156.592 triệu đồng, có 12.642 thành viên, quản lý 9.402 phương tiện
4
và tạo việc làm cho 6.720 lao động. Lợi nhuận bình quân của một HTX đạt
khoảng 415 triệu đồng/năm.
Các HTX giao thông vận tải cơ bản chấp hành tốt các quy định của pháp
luật về kinh doanh vận tải đường bộ, đường thủy; góp phần đáp ứng nhu cầu vận
chuyển hàng hóa, hành khách và giải quyết việc làm cho người lao động. Tuy
nhiên, hoạt động của các HTX vẫn gặp nhiều khó khăn do sự cạnh tranh ngày
càng lớn từ các phương tiện kinh doanh vận tải hoạt động không đúng quy định,
tình trạng xe hợp đồng trá hình, xe dù, xe không đăng ký kinh doanh; đồng thời,
việc phát triển các dịch vụ hỗ trợ và liên kết giữa các HTX còn hạn chế, ảnh
hưởng đến hiệu quả hoạt động và khả năng cạnh tranh.
Lĩnh vực khai khoáng, xây dựng
Năm 2026, toàn tỉnh có 04 HTX hoạt động trong lĩnh vực khai khoáng,
xây dựng, chiếm khoảng 0,45% tổng số HTX trên địa bàn tỉnh; có 73 thành viên,
tạo việc làm cho 41 lao động. Thu nhập bình quân của người lao động thường
xuyên đạt khoảng 4,6 triệu đồng/người/tháng.
Trong đó, có 01 HTX khai thác cát sông tại xã Chợ Mới hoạt động ở mức
trung bình, với 36 thành viên, 20 lao động thường xuyên, thu nhập bình quân đạt
từ 4,5 đến 5,5 triệu đồng/người/tháng.
Các HTX trong lĩnh vực này cơ bản chấp hành tốt các quy định của pháp
luật về xây dựng, an toàn lao động; hoạt động ổn định và ký kết được nhiều hợp
đồng thi công các công trình xây dựng sử dụng vốn ngân sách, công trình giao
thông nông thôn thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới,
công trình dân dụng và các công trình nhận thầu lại từ doanh nghiệp. Hầu hết
các HTX đều hoạt động có lãi, góp phần tạo việc làm, ổn định thu nhập cho
thành viên và người lao động khu vực nông thôn. Tuy nhiên, các HTX vẫn gặp
khó khăn do giá vật liệu xây dựng biến động, quy mô vốn còn nhỏ và năng lực
cạnh tranh còn hạn chế.
Lĩnh vực thương mại - dịch vụ, du lịch
Ước đến cuối năm 2026, thành lập mới 03 HTX. Toàn tỉnh có 28 HTX
thương mại - dịch vụ, với tổng vốn điều lệ 155.350 triệu đồng, có 3.180 thành
viên và tạo việc làm cho 757 lao động. Doanh thu bình quân của một HTX ước
đạt 1.300 triệu đồng/năm; lợi nhuận bình quân đạt 160 triệu đồng/năm; thu nhập
bình quân của người lao động thường xuyên đạt khoảng 6 triệu
đồng/người/tháng.
Các HTX thương mại - dịch vụ từng bước đổi mới phương thức kinh
doanh, đa dạng hóa sản phẩm, mở rộng thị trường tiêu thụ và tăng cường liên kết
với các HTX, doanh nghiệp trong cung ứng hàng hóa, góp phần tạo việc làm và
nâng cao thu nhập cho thành viên, người lao động. Nhiều HTX đã phát huy lợi
thế của địa phương thông qua việc thu mua, phân phối các sản phẩm đặc trưng
của tỉnh như sản phẩm OCOP, các sản phẩm từ cây thốt nốt, các loại mắm, cá
khô đặc sản, rượu, bánh truyền thống và lạp xưởng bò.
5
Tuy nhiên, một số HTX có quy mô nhỏ, năng lực tài chính còn hạn chế,
hiệu quả sản xuất, kinh doanh chưa cao; hoạt động còn tiềm ẩn rủi ro, phát sinh
nợ khó đòi và khả năng mở rộng thị trường còn hạn chế, ảnh hưởng đến năng
lực cạnh tranh trong điều kiện kinh tế thị trường.
Lĩnh vực công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp
Ước đến cuối năm 2026, toàn tỉnh có 11 HTX công nghiệp - tiểu thủ công
nghiệp, giảm 01 HTX so với năm 2025 do rà soát, đối chiếu dữ liệu với các xã,
phường, đặc khu trên địa bàn tỉnh và phát hiện 02 HTX có thông tin bị trùng lặp.
Số HTX trong lĩnh vực này chiếm khoảng 1,23% tổng số HTX toàn tỉnh, với
tổng vốn điều lệ 5.750 triệu đồng, thu hút 575 thành viên và tạo việc làm cho
319 lao động.
Doanh thu bình quân của một HTX ước đạt 550 triệu đồng/năm, lợi nhuận
bình quân đạt 65 triệu đồng/năm; thu nhập bình quân của người lao động thường
xuyên đạt khoảng 4,5 triệu đồng/người/tháng.
Các HTX công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp tiếp tục duy trì hoạt động,
góp phần tạo việc làm cho lao động nông thôn, bảo tồn và phát triển các ngành
nghề truyền thống của địa phương. Hoạt động chủ yếu tập trung vào các lĩnh
vực thêu may, thủ công mỹ nghệ, sản xuất đường thốt nốt và nghề mộc. Phần
lớn các HTX hoạt động ổn định, góp phần tạo việc làm và tăng thu nhập cho
người lao động.
Tuy nhiên, quy mô hoạt động của các HTX còn nhỏ; nguồn vốn đầu tư
cho đổi mới thiết bị, công nghệ còn hạn chế; chất lượng và sức cạnh tranh của
sản phẩm chưa cao; thị trường tiêu thụ chưa ổn định nên hiệu quả hoạt động
chưa tương xứng với tiềm năng.
Lĩnh vực quỹ tín dụng nhân dân
Đến thời điểm hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 45 tổ chức tín dụng hoạt
động theo mô hình kinh tế tập thể, gồm 43 Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND)
(trong đó 42 QTDND đang hoạt động, 01 QTDND đang thực hiện thanh lý), 02
QTDND đang thực hiện giám sát tăng cường và 02 Chi nhánh Ngân hàng Hợp
tác xã.
Đến ngày 31/5/2026, tình hình hoạt động của hệ thống QTDND và các
Chi nhánh Ngân hàng Hợp tác xã trên địa bàn tỉnh như sau:
- Đối với hệ thống QTDND: Tổng nguồn vốn huy động đạt 3.718 tỷ đồng,
chiếm 85,67% tổng nguồn vốn huy động của hệ thống QTDND khu vực (An
Giang và Cà Mau), giảm 3,43% so với cuối năm 2025 (tương ứng giảm 132 tỷ
đồng). Tổng dư nợ đạt 3.713 tỷ đồng, chiếm 86,03% tổng dư nợ của khu vực,
giảm 1,35% so với cuối năm 2025 (tương ứng giảm 51 tỷ đồng). Tổng nợ xấu là
43 tỷ đồng, tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ ở mức 1,16%. Chênh lệch thu nhập và
chi phí đạt 22,7 tỷ đồng. Nhìn chung, các QTDND tiếp tục thực hiện cơ cấu lại
hoạt động theo hướng bảo đảm các tỷ lệ an toàn, nâng cao hiệu quả hoạt động và
tuân thủ quy định của pháp luật.
6
- Đối với Chi nhánh Ngân hàng Hợp tác xã: Đến ngày 31/5/2026, dư nợ
của Ngân hàng Hợp tác xã Chi nhánh Kiên Giang đạt 1.243 tỷ đồng; dư nợ của
Ngân hàng Hợp tác xã Chi nhánh An Giang đạt 951 tỷ đồng, bao gồm dư nợ cho
vay hỗ trợ các thành viên QTDND.
c) Liên hiệp hợp tác xã
Ước đến cuối năm 2026, thành lập mới 01 LHHTX, nâng tổng số LHHTX
trên địa bàn tỉnh lên 06 LHHTX (trong đó dự kiến cuối năm 2026 thành lập mới
01 LHHTX), với tổng vốn điều lệ 1.900 triệu đồng, có 60 HTX thành viên và
tạo việc làm cho 41 lao động.
Nhìn chung, các LHHTX từng bước phát huy vai trò liên kết giữa các
HTX thành viên, hỗ trợ tổ chức sản xuất, tiêu thụ sản phẩm và mở rộng liên kết
theo chuỗi giá trị. Tuy nhiên, quy mô hoạt động của các LHHTX còn nhỏ, số
lượng chưa nhiều và hiệu quả hoạt động chưa đồng đều, cụ thể:
- LHHTX Tôm - Lúa An Biên và LHHTX Nông nghiệp An Biên hoạt
động cơ bản đúng theo phương án sản xuất, kinh doanh đã đề ra, từng bước phát
huy vai trò liên kết giữa các HTX thành viên.
- LHHTX Giang Thành hiện đang tạm dừng hoạt động để củng cố tổ
chức, kiện toàn phương án sản xuất, kinh doanh.
- LHHTX Thoại Sơn có 06 HTX thành viên, với quy mô hoạt động
khoảng 7.500 ha. LHHTX tổ chức sản xuất nông nghiệp hàng hóa gắn với chuỗi
giá trị từ sản xuất, chế biến đến tiêu thụ sản phẩm; góp phần nâng cao chất
lượng, giá trị nông sản, tăng thu nhập cho thành viên và người dân, đồng thời
tạo điều kiện để các HTX thành viên tăng cường hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau trong
quá trình sản xuất, kinh doanh.
- LHHTX Tri Tôn có 08 HTX thành viên, với diện tích hoạt động khoảng
15.772 ha. Hoạt động chủ yếu là hỗ trợ các HTX thành viên thực hiện các khâu
trong chuỗi sản xuất và tiêu thụ lúa, góp phần nâng cao hiệu quả liên kết sản
xuất theo chuỗi giá trị.
3. Đánh giá tác động của tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã
đối với thành viên và kinh tế hộ thành viên
Trong năm 2026, khu vực kinh tế tập thể trên địa bàn tỉnh tiếp tục có
những chuyển biến tích cực, từng bước khẳng định vai trò là một trong những
thành phần kinh tế quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Các THT, HTX, LHHTX ngày càng mở rộng quy mô hoạt động, đa dạng hóa
dịch vụ, góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất, tạo việc làm, nâng cao thu nhập
cho thành viên, tham gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và ổn
định an sinh xã hội.
Các HTX từng bước nâng cao hiệu quả hoạt động, phát huy vai trò là cầu
nối giữa thành viên với doanh nghiệp, thị trường và cơ quan quản lý nhà nước.
Thông qua việc tổ chức lại sản xuất, liên kết các hộ thành viên theo hướng tập
trung và hình thành các chuỗi liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, nhiều HTX
7
đã hỗ trợ thành viên tiếp cận các dịch vụ đầu vào với chi phí hợp lý như giống,
vật tư nông nghiệp, tín dụng, thủy lợi, cơ giới hóa và các dịch vụ phục vụ sản
xuất khác. Đồng thời, các HTX tích cực hướng dẫn thành viên áp dụng tiến bộ
khoa học, kỹ thuật, quy trình sản xuất an toàn, xây dựng mã số vùng trồng, truy
xuất nguồn gốc, từng bước ứng dụng chuyển đổi số, góp phần nâng cao năng
suất, chất lượng và giá trị sản phẩm.
Thông qua việc triển khai các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật
của Nhà nước về phát triển kinh tế tập thể, các HTX đã góp phần đưa chính sách
vào thực tiễn sản xuất, hỗ trợ thành viên chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi
phù hợp với điều kiện từng địa phương; thúc đẩy cơ giới hóa, ứng dụng khoa
học, công nghệ và tăng cường liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị. Qua đó, từng
bước nâng cao hiệu quả sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập và cải thiện đời
sống của thành viên, đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội và xây
dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh.
Các LHHTX tiếp tục phát huy vai trò liên kết giữa các HTX thành viên,
hỗ trợ tổ chức sản xuất theo quy mô lớn, tăng cường liên kết với doanh nghiệp
trong tiêu thụ sản phẩm và từng bước hình thành các chuỗi giá trị đối với một số
ngành hàng chủ lực của tỉnh. Hoạt động của LHHTX góp phần nâng cao hiệu
quả sản xuất, tăng khả năng cạnh tranh của các HTX thành viên và mở rộng cơ
hội tiếp cận thị trường.
Đối với các THT, đây tiếp tục là hình thức liên kết sản xuất phù hợp ở cơ
sở, góp phần nâng cao nhận thức của người dân về hợp tác, liên kết trong sản
xuất và tiêu thụ nông sản. Thông qua hoạt động của THT, các thành viên tăng
cường trao đổi kinh nghiệm, hỗ trợ lẫn nhau trong sản xuất, áp dụng tiến bộ
khoa học, kỹ thuật, giảm chi phí sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế và từng
bước tạo tiền đề phát triển lên mô hình HTX theo quy định của Luật Hợp tác xã
năm 2023.
Bên cạnh những kết quả đạt được, tác động của khu vực kinh tế tập thể
đối với phát triển kinh tế hộ thành viên vẫn chưa đồng đều giữa các địa phương,
lĩnh vực và loại hình tổ chức. Một số HTX còn có quy mô nhỏ, năng lực quản trị
và điều hành còn hạn chế, khả năng huy động nguồn lực chưa đáp ứng yêu cầu
phát triển; dịch vụ cung ứng cho thành viên chưa đa dạng, chất lượng dịch vụ
chưa cao. Hoạt động liên kết theo chuỗi giá trị ở một số nơi chưa bền vững; việc
ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số còn chậm,
ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của HTX cũng như hiệu quả hỗ trợ đối với
kinh tế hộ thành viên. Đây là những vấn đề cần tiếp tục được quan tâm, có giải
pháp khắc phục trong thời gian tới nhằm phát huy tốt hơn vai trò của khu vực
kinh tế tập thể trong phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
4. Đánh giá tình hình liên kết giữa tổ chức kinh tế tập thể, hợp tác xã
với các thành phần kinh tế khác và một số mô hình hoạt động hiệu quả theo
phương thức sản xuất gắn với chuỗi giá trị, ứng dụng công nghệ cao
Trên địa bàn tỉnh, các mô hình liên kết giữa hợp tác xã với doanh nghiệp
chủ yếu tập trung trong lĩnh vực nông nghiệp. Thông qua việc ký kết hợp đồng
8
liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, nhiều hợp tác xã đã từng bước hình thành
các chuỗi giá trị từ cung ứng vật tư đầu vào, tổ chức sản xuất, thu hoạch, chế
biến đến tiêu thụ sản phẩm. Việc đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, cơ
giới hóa và chuyển đổi số trong sản xuất đã góp phần nâng cao hiệu quả hoạt
động của hợp tác xã, tăng thu nhập cho thành viên, nâng cao giá trị nông sản và
thúc đẩy quá trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng hiện đại, bền vững.
Một số mô hình tiêu biểu như sau:
a) Mô hình "Hệ sinh thái liên kết bền vững" giữa HTX với Tập đoàn
Lộc Trời; áp dụng ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất.
Đây là mô hình tiêu biểu về liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị. Tập đoàn
Lộc Trời cung ứng đồng bộ vật tư nông nghiệp, giống chất lượng cao và các
dịch vụ cơ giới hóa, như gieo sạ, bón phân, phun thuốc bảo vệ thực vật bằng
thiết bị bay không người lái (Drone). Hợp tác xã giữ vai trò trung tâm trong việc
điều phối lịch thời vụ, tổ chức sản xuất và liên kết với các hộ thành viên.
Hiệu quả của mô hình là 100% diện tích liên kết được áp dụng quy trình
sản xuất theo tiêu chuẩn phục vụ xuất khẩu, từng bước chuyển từ sử dụng vật tư
hóa học sang vật tư sinh học, góp phần giảm phát thải khí nhà kính, ổn định đầu
ra và nâng cao giá trị sản phẩm. Qua thực tế triển khai, chi phí giống giảm
khoảng 30% - 40%; lượng thuốc bảo vệ thực vật giảm từ 50%-60%; lượng giống
gieo sạ giảm khoảng 50%; chi phí lao động giảm khoảng 70%; lợi nhuận tăng
bình quân từ 20-30 triệu đồng/ha so với sản xuất truyền thống.
Điển hình là Hợp tác xã Nông nghiệp Tân Hưng (xã Châu Thành) đã ứng
dụng thiết bị bay không người lái trong gieo sạ, bón phân và phun thuốc bảo vệ
thực vật, góp phần giảm chi phí sản xuất, tiết kiệm vật tư, giảm nhân công và
nâng cao năng suất cây trồng.
b) Mô hình "HTX đa dịch vụ ứng dụng công nghệ số"
Một số hợp tác xã tiêu biểu như Hợp tác xã GAP Cù Lao Giêng (xã Cù
Lao Giêng), Hợp tác xã Phú Nông Xanh, Hợp tác xã Dịch vụ Nông nghiệp
Thanh niên Phú Hòa đã từng bước ứng dụng chuyển đổi số trong hoạt động sản
xuất, kinh doanh.
Các hợp tác xã chủ động tổ chức chuỗi dịch vụ cơ giới hóa đồng bộ; ứng
dụng phần mềm quản lý thành viên; cung cấp dịch vụ thiết bị bay không người
lái phục vụ sản xuất nông nghiệp; đầu tư hệ thống trạm bơm tự động tiết kiệm
nước; đồng thời áp dụng công nghệ truy xuất nguồn gốc bằng mã QR đối với
sản phẩm.
Hiệu quả của mô hình là doanh thu của hợp tác xã tăng bình quân trên
15%/năm nhờ đa dạng hóa các dịch vụ; chi phí quản lý giảm khoảng 40%; 04
thành viên được quản lý trên phần mềm; thời gian điều hành sản xuất giảm
khoảng 10-15 ngày; trên 80% sản phẩm được truy xuất nguồn gốc bằng mã QR;
sản phẩm đáp ứng các tiêu chuẩn của doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu lớn
như Olam và Tân Long.
9
c) Mô hình chuỗi giá trị ngành hàng rau màu và thủy sản công nghệ
cao
Mô hình được triển khai tại các vùng sản xuất tập trung, như vùng chuyên
canh bắp non, đậu nành rau tại khu vực cù lao (Chợ Mới) và chuỗi liên kết nuôi
cá tra thâm canh tại Châu Phú, Long Xuyên. Các hợp tác xã ký kết hợp đồng
liên kết trực tiếp với các doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu; thành viên hợp tác
xã áp dụng đồng bộ các tiến bộ kỹ thuật, như nhà màng, hệ thống tưới nhỏ giọt
tự động, sử dụng chế phẩm sinh học trong nuôi trồng thủy sản và thực hiện quy
trình sản xuất theo các tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP.
Hiệu quả của mô hình là giá trị kinh tế trên một đơn vị diện tích đất canh
tác tăng từ 3 đến 4 lần so với sản xuất lúa truyền thống, đồng thời tạo việc làm
ổn định cho lao động nông thôn với mức thu nhập bình quân từ 5 đến 6 triệu
đồng/người/tháng. Giá trị sản xuất đạt khoảng 80-90 triệu đồng/ha/năm; thu
nhập bình quân thành viên tăng từ 60%.
d) Mô hình HTX tham gia Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao
Mô hình Hợp tác xã nông nghiệp Đường Gỗ Lộ xã Giồng Riềng, là HTX
tham gia đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp, sản xuất theo quy
trình và liên kết tiêu thụ sản phẩm thông qua đấu giá sản phẩm lúa từ nhiều năm
nay. HTX Đường Gỗ Lộ còn có sản phẩm gạo DS1 đạt OCOP 3 sao, đang được
thị trường ưa chuộng.
II. KẾT QUẢ THI HÀNH PHÁP LUẬT VÀ CHÍNH SÁCH PHÁT
TRIỂN KTTT, HTX
1. Kết quả thi hành pháp luật và các văn bản về KTTT, HTX
Triển khai thi hành Luật Hợp tác xã năm 2023, tỉnh An Giang đã quán
triệt và tổ chức thực hiện đầy đủ các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi
hành của Trung ương, tiêu biểu như: Nghị định số 92/2024/NĐ-CP ngày
18/7/2024 của Chính phủ về đăng ký tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã;
Nghị định số 113/2024/NĐ-CP ngày 12/9/2024 của Chính phủ quy định chi tiết
một số điều của Luật Hợp tác xã; Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 16/6/2022 của
Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục đổi mới, phát triển và
nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể trong giai đoạn mới; Nghị quyết số 09/NQ-CP
ngày 02/02/2023 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện
Nghị quyết số 20-NQ/TW; Quyết định số 18/QĐ-BCĐQGKTTT ngày
28/02/2026 của Ban Chỉ đạo quốc gia về kinh tế tập thể; Quyết định số
1128/QĐ-TTg ngày 24/6/2026 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương
trình tổng thể phát triển kinh tế tập thể giai đoạn 2026-2030 cùng các văn bản
chỉ đạo của Trung ương, Tỉnh ủy và Hội đồng nhân dân tỉnh.
Trên cơ sở Luật Hợp tác xã năm 2023 và các văn bản chỉ đạo của Trung
ương, tỉnh An Giang đã chủ động ban hành nhiều văn bản để cụ thể hóa và tổ
chức triển khai thực hiện trên địa bàn. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh ban hành
Chương trình hành động số 17-CTr/TU ngày 13/3/2026 thực hiện Nghị quyết số
20-NQ/TW; Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch số 228/KH-UBND ngày
10
04/5/2026 về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể
trong giai đoạn mới; Kế hoạch số 96/KH-UBND ngày 15/9/2025 về phát triển
kinh tế tập thể, hợp tác xã tỉnh An Giang năm 2026.
Đồng thời, tỉnh đã ban hành văn bản triển khai thực hiện Quyết định số
1128/QĐ-TTg ngày 24/6/2026 của Thủ tướng Chính phủ đến các Sở, ngành,
Liên minh Hợp tác xã tỉnh, Hội Nông dân tỉnh và UBND các xã, phường, đặc
khu; đồng thời triển khai thực hiện Quy chế tổ chức và hoạt động của Ban Chỉ
đạo quốc gia về kinh tế tập thể.
Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nâng cao
năng lực cho khu vực kinh tế tập thể tiếp tục được quan tâm thực hiện. Trong
năm 2026, tỉnh đã tổ chức nhiều hội nghị, lớp tập huấn thu hút đông đảo cán bộ
quản lý hợp tác xã, thành viên chủ chốt của hợp tác xã, tổ hợp tác, người dân có
nhu cầu thành lập hợp tác xã và đội ngũ cán bộ phụ trách kinh tế tập thể ở cơ sở
tham gia. Nội dung tập huấn tập trung vào quản trị hợp tác xã, công tác kiểm
soát, kế toán, các quy định của Luật Hợp tác xã năm 2023, kỹ năng tuyên
truyền, vận động thành lập hợp tác xã và hướng dẫn đăng ký hợp tác xã.
Đặc biệt, tỉnh đã chủ động nghiên cứu, xây dựng tài liệu tuyên truyền
Luật Hợp tác xã năm 2023 và hướng dẫn các hợp tác xã chuyển đổi hoạt động
theo quy định của Luật mới. Kết quả đã tổ chức 06 lớp tập huấn tuyên truyền
Luật Hợp tác xã năm 2023 tại các xã Tân Hiệp, Vĩnh Thuận và Giồng Riềng với
253 học viên tham gia.
Bên cạnh đó, tỉnh đã tổ chức 30 cuộc tư vấn, tuyên truyền Luật Hợp tác xã
năm 2023 cho các cá nhân, hộ gia đình có nhu cầu tham gia, thành lập mới tổ
hợp tác, hợp tác xã, sáp nhập và củng cố các hợp tác xã yếu kém với khoảng 150
lượt người tham dự; thực hiện 04 phóng sự, đăng tải 12 tin, bài trên Báo và Phát
thanh và Truyền hình tỉnh An Giang và 386 tin, bài trên Trang thông tin điện tử
của Liên minh Hợp tác xã tỉnh nhằm tuyên truyền các chủ trương, chính sách
của Đảng, Nhà nước về phát triển kinh tế tập thể và giới thiệu các mô hình tổ
hợp tác, hợp tác xã hoạt động hiệu quả.
2. Công tác quản lý nhà nước về KTTT, HTX
Công tác quản lý nhà nước về kinh tế tập thể tiếp tục được Tỉnh ủy, Hội
đồng nhân dân tỉnh và Ủy ban nhân dân tỉnh quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực
hiện. Sự phối hợp giữa các Sở, ngành và chính quyền địa phương ngày càng chặt
chẽ; nhiều chủ trương, cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế tập thể được
triển khai kịp thời, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy
phát triển khu vực kinh tế tập thể trên địa bàn tỉnh. Công tác tuyên truyền, tư
vấn, hỗ trợ thành lập mới tổ hợp tác, hợp tác xã được chú trọng và từng bước
nâng cao chất lượng. Các cơ quan, đơn vị đã bố trí công chức kiêm nhiệm hoặc
chuyên trách để tham mưu, theo dõi và thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về
kinh tế tập thể.
Để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, tỉnh An Giang đã kiện toàn Ban
Chỉ đạo tỉnh về kinh tế tập thể theo Quyết định số 1469/QĐ-UBND ngày
11
23/4/2026; đồng thời ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Ban Chỉ đạo
tại Quyết định số 105/QĐ-BCĐ ngày 04/5/2026 của Trưởng Ban Chỉ đạo tỉnh về
kinh tế tập thể.
Công tác đăng ký hợp tác xã được thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Các cơ quan đăng ký đã công khai đầy đủ trình tự, thủ tục hành chính tại Bộ
phận Một cửa và trên Cổng thông tin điện tử, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ
chức, cá nhân thực hiện đăng ký thành lập hợp tác xã. Tỉnh cũng chỉ đạo các địa
phương tăng cường rà soát, xử lý các hợp tác xã ngừng hoạt động, gặp khó khăn
trong giải thể, chưa thực hiện đăng ký hoặc tổ chức lại theo Luật Hợp tác xã
năm 2023; cập nhật dữ liệu đăng ký hợp tác xã, chấn chỉnh việc cấp đăng ký
ngoài Hệ thống thông tin đăng ký hợp tác xã và tổ chức tập huấn, hướng dẫn cán
bộ phụ trách công tác đăng ký hợp tác xã, tổ hợp tác tại các xã, phường, đặc khu
về trình tự, thủ tục hồ sơ và thao tác trên Hệ thống đăng ký kinh doanh hợp tác
xã.
Tuy nhiên, đội ngũ cán bộ phụ trách lĩnh vực kinh tế tập thể tại cấp xã
thường xuyên có sự thay đổi nên việc hướng dẫn, bồi dưỡng chuyên môn,
nghiệp vụ phải được thực hiện thường xuyên. Bên cạnh đó, công tác tổng hợp số
liệu, cập nhật cơ sở dữ liệu và thực hiện chế độ báo cáo vẫn còn mất nhiều thời
gian, ảnh hưởng nhất định đến tiến độ tổng hợp, phân tích thông tin phục vụ
công tác quản lý nhà nước về kinh tế tập thể.
3. Kết quả triển khai chính sách hỗ trợ phát triển KTTT, HTX
a) Chính sách hỗ trợ thành lập mới, củng cố tổ chức kinh tế tập thể,
hợp tác xã:
Đến tháng 7/2026, tỉnh đã tổ chức các lớp tư vấn thành lập mới 25 HTX
(trong đó có 20 HTX nông nghiệp) với tổng kinh phí là 1.258 triệu đồng, hướng
dẫn tư vấn, hỗ trợ thành lập mới HTX ở những địa phương có nhu cầu, gồm có:
Tư vấn Hợp tác xã Hòa Thuận I; hỗ trợ hướng dẫn quy trình củng cố HTX cho
Phòng kinh tế xã Óc Eo; tư vấn thành lập Hợp tác xã Nông nghiệp dịch vụ
Thượng Điền; tư vấn, củng cố HTX Nông Phát Đạt; Tư vấn HTX Hiệp Lợi; tư
vấn tuyên truyền cho HTX Đông Thái; phối hợp với Hội Nông dân tỉnh thực
hiện dự án Basin về tuyên truyền vận động, hướng dẫn các quy trình và thủ tục
thành lập THT cho bà con nông dân tại 02 xã Vĩnh Thuận (17 ấp) và U Minh
Thượng (9 ấp gồm 12 tổ).
b) Chính sách hỗ trợ nâng cao năng lực, nhận thức cho khu vực
KTTT:
Về đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực: Tỉnh phối hợp với Trường Trung
cấp nghề và Đào tạo cán bộ HTX miền Nam tổ chức Lớp Trung cấp Nông
nghiệp công nghệ cao chiêu sinh 28 học viên tham gia là thành viên HTX và các
lớp đào tạo ngắn hạn các nghiệp vụ dành cho Hội đồng quản trị, Giám đốc, Kế
toán và Ban kiểm soát HTX với hơn 100 thành viên tham dự với tổng kinh phí là
950 triệu đồng.
12
Về hỗ trợ nâng cao năng lực khu vực kinh tế tập thể: dự kiến năm 2026
triển khai 21 lớp tập huấn, hội nghị tuyên truyền về kinh tế tập thể cho khoảng
800-850 lượt người là thành viên, người lao động của HTXNN, LH HTX và các
đối tượng phụ trách kinh tế tập thể cấp xã nhằm giúp nâng cao năng lực quản trị,
kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ cho HTXNN và năng lực quản lý nhà nước về
lĩnh vực cho cán bộ. Nội dung các buổi tập huấn, hội nghị như: “Tuyên truyền
Luật HTX 2023, các Nghị quyết và các văn bản pháp luật hiện hành”; “Ứng
dụng công nghệ số trong báo cáo thuế”; “Giới thiệu, hướng dẫn các HTX tiếp
cận các nguồn tín dụng”, “Hướng dẫn quy trình, thủ tục thành lập mới HTX”;
“Củng cố hoạt động, sáp nhập và giải thể HTX” với tổng kinh phí ước khoảng
1.215 triệu đồng.
c) Chính sách xúc tiến thương mại, hỗ trợ tiếp cận và mở rộng thị
trường:
Đến tháng 7/2026, tổ chức tham gia 01 Hội chợ xúc tiến thương mại tại
Thủ đô Hà Nội, giới thiệu bày trưng bày sản phẩm OCOP và sản phẩm đặc
trưng của tỉnh An Giang gồm có: gạo, tôm khô, cá khô, mật ong rừng, nước
mắm Phú Quốc,… Đồng thời, hỗ trợ 30 HTX học tập mô hình tiêu biểu và kết
nối giao thương với các HTX phạm vi trong và ngoài tỉnh khu vực Đồng bằng
sông Cửu Long với tổng kinh phí 300 triệu đồng.
d) Chính sách về tín dụng:
Trên cơ sở các chính sách tín dụng hiện hành, Tỉnh triển khai thực hiện
các chính sách tín dụng trên địa bàn; chỉ đạo các tổ chức tín dụng triển khai kịp
thời chính sách đến các đối tượng thụ hưởng, trong đó có các HTX; phối hợp
với các Sở, ngành, Hội, Hiệp hội thông tin đến hội viên các cơ chế, chính sách
tín dụng, sản phẩm tín dụng ưu đãi của các tổ chức tín dụng nhằm kịp thời nắm
bắt, giải quyết nhu cầu vốn tín dụng ngân hàng của từng tổ chức, cá nhân. Đến
ngày 31/5/2026, có 05 HTX có vay vốn ngân hàng với dư nợ 31 tỷ đồng. Ngoài
ra, các tổ chức tín dụng kịp thời hỗ trợ vốn cho xã viên để thực hiện phương án
sản xuất kinh doanh của HTX, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động kinh tế tập
thể.
4. Kết quả, tình hình thực hiện các Đề án
Hiện tại, tỉnh đang xây dựng Đề án "Phát triển kinh tế tập thể tỉnh An
Giang giai đoạn 2026-2030" nhằm cụ thể hóa các mục tiêu, nhiệm vụ và giải
pháp phát triển kinh tế tập thể phù hợp với Luật Hợp tác xã năm 2023, Nghị
định số 113/2024/NĐ-CP của Chính phủ và điều kiện thực tiễn của tỉnh, làm cơ
sở tổ chức triển khai đồng bộ các chính sách phát triển kinh tế tập thể trong giai
đoạn 2026-2030.
5. Hợp tác quốc tế về KTTT
Thực hiện tốt công tác hợp tác quốc tế để học tập kinh nghiệm, khai thác
nguồn lực phục vụ cho phát triển KTTT, HTX như: Liên đoàn HTX Raiffeisen
CHLB Đức (DGRV). Tiếp tục phối hợp thực hiện thử nghiệm các thiết bị cơ
giới mới phục vụ cho sản xuất nông nghiệp kết hợp luân canh cây trồng với cây
13
đậu tương trên ruộng lúa” và hỗ trợ thử nghiệm thiết bị nông nghiệp của Công ty
Matsuyama (Nhật Bản).
III. ĐÁNH GIÁ CHUNG
1. Kết quả đạt được
Trong năm 2026, khu vực kinh tế tập thể, hợp tác xã trên địa bàn tỉnh tiếp
tục có nhiều chuyển biến tích cực cả về số lượng, chất lượng hoạt động và hiệu
quả đóng góp vào phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện các chủ trương của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển kinh tế tập thể được các cấp,
các ngành quan tâm triển khai đồng bộ. Việc thi hành Luật Hợp tác xã năm 2023
và các văn bản hướng dẫn được thực hiện kịp thời; công tác tuyên truyền, phổ
biến pháp luật, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực, tư vấn thành lập mới và củng
cố hợp tác xã được tăng cường, góp phần nâng cao nhận thức của cán bộ, thành
viên và người dân về mô hình kinh tế tập thể.
Công tác phát triển tổ chức kinh tế tập thể tiếp tục đạt kết quả tích cực.
Đến tháng 7 năm 2026, tỉnh đã tư vấn, hỗ trợ thành lập mới 25 hợp tác xã, trong
đó có 20 hợp tác xã nông nghiệp, với tổng kinh phí hỗ trợ 1.258 triệu đồng;
đồng thời triển khai nhiều hoạt động tư vấn, củng cố hợp tác xã và tuyên truyền,
vận động thành lập tổ hợp tác tại cơ sở. Công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân
lực tiếp tục được quan tâm thực hiện với việc tổ chức các lớp trung cấp, đào tạo
ngắn hạn cho cán bộ quản lý hợp tác xã và dự kiến triển khai 21 lớp tập huấn,
hội nghị tuyên truyền cho khoảng 800-850 lượt người trong năm 2026.
Việc triển khai các chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế tập thể từng bước
phát huy hiệu quả. Tỉnh đã tổ chức các hoạt động xúc tiến thương mại, hỗ trợ 30
hợp tác xã tham gia học tập mô hình và kết nối giao thương; nhiều hợp tác xã
từng bước đổi mới phương thức quản lý, ứng dụng chuyển đổi số, tham gia các
chuỗi liên kết sản xuất gắn với sản phẩm OCOP, vùng nguyên liệu tập trung và
Đề án phát triển bền vững 01 triệu héc-ta chuyên canh lúa chất lượng cao và
phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng Đồng bằng sông Cửu Long, góp
phần nâng cao hiệu quả hoạt động, gia tăng thu nhập cho thành viên.
Hoạt động của các hợp tác xã tiếp tục phát huy vai trò là cầu nối giữa
thành viên với doanh nghiệp và thị trường; hỗ trợ tổ chức sản xuất theo hướng
tập trung, ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, cơ giới hóa, chuyển đổi số,
hình thành các chuỗi liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Nhiều hợp tác xã đã
tham gia Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP), xây dựng vùng nguyên
liệu, được cấp mã số vùng trồng, ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất, chế
biến và quản lý chất lượng sản phẩm. Các mô hình liên kết theo chuỗi giá trị đối
với ngành hàng lúa, cây ăn trái, rau màu và thủy sản từng bước được mở rộng,
góp phần nâng cao giá trị gia tăng, khả năng cạnh tranh của sản phẩm và tạo
việc làm ổn định cho người lao động.
Công tác đối thoại, hỗ trợ tháo gỡ khó khăn cho hợp tác xã được quan tâm
thực hiện. Các cơ quan chức năng đã thường xuyên tổ chức gặp gỡ, tiếp xúc, ghi
14
nhận các kiến nghị của hợp tác xã liên quan đến cơ chế, chính sách, thuế, phí, tín
dụng, thủ tục đăng ký thành lập và hoạt động; kịp thời hướng dẫn, hỗ trợ giải
quyết những khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình hoạt động.
Nhìn chung, khu vực kinh tế tập thể của tỉnh tiếp tục duy trì xu hướng
phát triển tích cực, từng bước khẳng định vai trò là thành phần kinh tế quan
trọng, góp phần tổ chức lại sản xuất, nâng cao thu nhập cho người dân, thúc đẩy
liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị và thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế -
xã hội của tỉnh.
2. Tồn tại, hạn chế và nguyên nhân
a) Về tổ chức và hiệu quả hoạt động của hợp tác xã
Quy mô của phần lớn hợp tác xã còn nhỏ; năng lực tài chính, năng lực
quản trị và khả năng huy động nguồn lực còn hạn chế. Hiệu quả hoạt động giữa
các hợp tác xã chưa đồng đều; vẫn còn một số hợp tác xã hoạt động cầm chừng,
ngừng hoạt động hoặc chưa tổ chức sản xuất, kinh doanh theo đúng phương án
đã đăng ký. Việc xây dựng phương án sản xuất, kinh doanh của một số hợp tác
xã còn thiếu tính chủ động, chưa bám sát nhu cầu thị trường và chưa tạo được
động lực phát triển bền vững.
b) Về nguồn lực và triển khai chính sách hỗ trợ
Nguồn lực dành cho phát triển kinh tế tập thể còn hạn chế, chưa đáp ứng
yêu cầu thực tiễn. Việc triển khai một số chính sách hỗ trợ còn chậm, chưa đồng
bộ; khả năng tiếp cận các chính sách về tín dụng, đất đai, khoa học và công nghệ
của nhiều hợp tác xã còn khó khăn, ảnh hưởng đến quá trình đầu tư mở rộng sản
xuất và nâng cao năng lực cạnh tranh.
c) Về liên kết sản xuất và phát triển thị trường
Hoạt động liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm giữa hợp tác xã với
doanh nghiệp tuy đã được mở rộng nhưng chưa thật sự bền vững; quy mô liên
kết còn nhỏ, sức cạnh tranh của sản phẩm chưa cao. Công tác xây dựng thương
hiệu, phát triển thị trường, xúc tiến thương mại, ứng dụng thương mại điện tử và
kết nối tiêu thụ sản phẩm còn hạn chế, ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động và thu
nhập của thành viên.
d) Về ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số
Việc ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số
trong hoạt động của nhiều hợp tác xã còn chậm; hạ tầng công nghệ thông tin,
trình độ ứng dụng công nghệ của đội ngũ quản lý còn hạn chế. Việc áp dụng các
phần mềm quản trị, truy xuất nguồn gốc, thương mại điện tử và quản lý dữ liệu
sản xuất chưa được triển khai rộng khắp, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển trong
giai đoạn mới.
đ) Về công tác quản lý nhà nước
Công tác quản lý nhà nước về kinh tế tập thể tuy đã được tăng cường
nhưng vẫn còn một số hạn chế. Việc xử lý các hợp tác xã ngừng hoạt động, giải
thể bắt buộc còn gặp nhiều khó khăn do còn tồn tại nghĩa vụ tài chính, công nợ
15
hoặc tài sản hình thành từ các chương trình, dự án hỗ trợ của Nhà nước. Công
tác phối hợp giữa một số cơ quan, đơn vị và địa phương trong triển khai chính
sách có thời điểm chưa thật sự chặt chẽ; việc theo dõi, đánh giá chất lượng hoạt
động của hợp tác xã chưa được thực hiện thường xuyên, ảnh hưởng đến hiệu quả
quản lý và chỉ đạo điều hành.
Nguyên nhân: Những tồn tại, hạn chế nêu trên xuất phát từ cả nguyên
nhân khách quan và chủ quan.
Về khách quan, hệ thống cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế tập
thể đang trong quá trình hoàn thiện; một số quy định hướng dẫn triển khai Luật
Hợp tác xã năm 2023 và Chương trình tổng thể phát triển kinh tế tập thể giai
đoạn 2026-2030 mới được ban hành nên cần thêm thời gian để tổ chức thực hiện
đồng bộ. Bên cạnh đó, tình hình thị trường tiêu thụ nông sản còn nhiều biến
động; biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh và yêu cầu ngày càng cao về chất
lượng sản phẩm, an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc cũng ảnh hưởng trực
tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của các hợp tác xã.
Về chủ quan, năng lực quản trị của một bộ phận cán bộ quản lý hợp tác xã
còn hạn chế; tư duy sản xuất, kinh doanh chậm đổi mới; khả năng xây dựng
phương án sản xuất, huy động nguồn lực và liên kết với doanh nghiệp còn yếu.
Một số địa phương chưa thật sự quan tâm đúng mức đến phát triển kinh tế tập
thể; công tác phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị trong tổ chức thực hiện nhiệm
vụ có lúc chưa chặt chẽ; công tác kiểm tra, hướng dẫn, đôn đốc chưa thường
xuyên, dẫn đến hiệu quả triển khai một số chủ trương, chính sách chưa đạt như
kỳ vọng.
IV. ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ
Để công tác quản lý nhà nước; hỗ trợ, phát triển Kinh tế tập thể, hợp tác
xã tốt hơn trong thời gian tới, tỉnh An Giang đề xuất, kiến nghị với Bộ Tài chính
một số nội dung sau:
Thứ nhất: Sớm ban hành văn bản hướng dẫn triển khai thực hiện quy
định tại điểm d khoản 5 Mục IV Quyết định số 1128/QĐ-TTg ngày 24/6/2026
của Thủ tướng Chính phủ, trong đó hướng dẫn cụ thể việc tổng hợp nhu cầu, xây
dựng kế hoạch đề xuất hỗ trợ từ ngân sách trung ương của các tỉnh, thành phố
gửi Bộ Tài chính để tổng hợp, báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.
Thứ hai: Có văn bản hướng dẫn thực hiện gạch đầu dòng thứ hai điểm a
khoản 1 Mục III Phụ lục ban hành kèm theo Quyết định số 1128/QĐ-TTg ngày
24/6/2026 của Thủ tướng Chính phủ; trong đó hướng dẫn cụ thể tiêu chí, trình tự
và phương pháp lựa chọn các mô hình hợp tác xã hoạt động hiệu quả để nhân
rộng, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội và đặc thù của từng địa
phương, làm cơ sở thống nhất trong quá trình tổ chức thực hiện trên phạm vi cả
nước.
Thứ ba: Hướng dẫn tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong quá trình
giải thể các hợp tác xã ngừng hoạt động, nhất là đối với các trường hợp còn tồn
tại về tài sản, công nợ, nghĩa vụ tài chính, tài sản hình thành từ các chương trình,
16
dự án hỗ trợ và các khoản viện trợ, tài trợ, nhằm tạo điều kiện cho địa phương
xử lý dứt điểm các hợp tác xã không còn khả năng hoạt động theo quy định của
pháp luật.
Thứ tư: Tiếp tục hoàn thiện Hệ thống thông tin đăng ký HTX, LHHTX
và THT theo Luật HTX năm 2023; tăng cường tập huấn nghiệp vụ đăng ký kinh
doanh cho cán bộ địa phương sau khi thực hiện chính quyền địa phương 02 cấp
(tập huấn nghiệp vụ, số hóa dữ liệu); thực hiện việc báo cáo từ xã đến tỉnh và từ
tỉnh đến trung ương thông qua hệ thống.
Thứ năm: Kiến nghị Thủ tướng Chính phủ tiếp tục triển khai Đề án lựa
chọn, hoàn thiện, nhân rộng mô hình hợp tác xã (HTX) kiểu mới hiệu quả trong
giai đoạn 206-2030, trong đó trọng tâm là hỗ trợ đầu tư hạ tầng cho các hợp tác
xã nông nghiệp (trụ sở, kho chứa), trong đó là các hợp tác xã tại các vùng liên
kết với doanh nghiệp tham gia Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao.
Thứ sáu: Bên cạnh các nguồn vốn trung ương hỗ trợ đầu tư hạ tầng sản
xuất nông nghiệp (nguồn vốn từ Nghị định 112/2024/NĐ-CP của Chính phủ về
Quy định chi tiết về đất trồng lúa, nguồn vốn từ Nghị định 115/2025/NĐ-CP của
Chính phủ về Quy định giá sản phẩm, dịch vụ thủy lợi và chính sách hỗ trợ của
Nhà nước trong quản lý, khai thác công trình thủy lợi, kiến nghị Bộ Tài chính
chủ trì cùng Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề xuất Thủ tướng Chính phủ ban
hành chính sách đầu tư hoàn thiện hệ thống hạ tầng sản xuất nông nghiệp (như
thủy lợi, giao thông nội đồng, hạ tầng ứng dụng khoa học công nghệ trong sản
xuất,…) tại các hợp tác xã có liên kết, tham gia Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng
cao.
Thứ bảy: Nghiên cứu đề xuất, kiến nghị Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ
có cơ chế lãi suất tín dụng ưu đãi mạnh mẽ hơn nữa cho các hợp tác xã nông
nghiệp, tạo điều kiện nông dân tham gia mạnh mẽ vào hợp tác xã, trong đó trọng
tâm là các hợp tác xã tại các vùng có liên kết với doanh nghiệp.
Phần thứ hai
KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KTTT, HTX NĂM 2027
I. MỘT SỐ YÊU CẦU ĐỐI VỚI VIỆC XÂY DỰNG KẾ HOẠCH
PHÁT TRIỂN KTTT, HTX NĂM 2027
1. Kế hoạch phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã năm 2027 phải bảo đảm
phù hợp với mục tiêu, định hướng phát triển kinh tế - xã hội của cả nước và của
tỉnh; Chiến lược phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã giai đoạn 2021-2030;
Chương trình tổng thể phát triển kinh tế tập thể giai đoạn 2026-2030 và các
chương trình, kế hoạch, đề án của Trung ương và của tỉnh có liên quan.
2. Phát triển kinh tế tập thể cả về số lượng và chất lượng, trong đó lấy
chất lượng và hiệu quả hoạt động làm trọng tâm; bảo đảm phát triển hài hòa giữa
các ngành, lĩnh vực và địa bàn. Tiếp tục thực hiện hiệu quả các chính sách hỗ trợ
hợp tác xã, nhất là hợp tác xã nông nghiệp; đẩy mạnh liên kết sản xuất gắn với
chuỗi giá trị, ứng dụng khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số,
17
phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn. Tăng cường liên kết giữa các hợp tác
xã, liên hiệp hợp tác xã với doanh nghiệp và các thành phần kinh tế khác; thu
hút ngày càng nhiều nông dân, hộ gia đình, cá nhân và tổ chức tham gia kinh tế
tập thể; tạo thêm nhiều sản phẩm, dịch vụ và việc làm, góp phần nâng cao thu
nhập, cải thiện đời sống của thành viên và người lao động.
3. Các chỉ tiêu kế hoạch phải bảo đảm tính khả thi, phù hợp với kết quả
thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã năm 2026, đồng thời
bám sát mục tiêu, chỉ tiêu phát triển giai đoạn 2026-2030 và điều kiện thực tế
của địa phương. Bên cạnh các chỉ tiêu về số lượng, cần chú trọng các chỉ tiêu
phản ánh chất lượng, hiệu quả hoạt động của tổ hợp tác, hợp tác xã và liên hiệp
hợp tác xã.
II. NỘI DUNG KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ TẬP THỂ,
HỢP TÁC XÃ NĂM 2027
Kế hoạch phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã năm 2027 được xây dựng
trên cơ sở kết quả thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã năm
2026; đồng thời bám sát mục tiêu, nhiệm vụ của Chương trình hành động số 17-
CTr/TU ngày 13/3/2026 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh thực hiện Nghị quyết
số 20-NQ/TW; Kế hoạch số 228/KH-UBND ngày 04/5/2026 của Ủy ban nhân
dân tỉnh về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể trong
giai đoạn mới; Chương trình tổng thể phát triển kinh tế tập thể giai đoạn 2026-
2030 và Đề án "Phát triển kinh tế tập thể tỉnh An Giang giai đoạn 2026-2030"
sau khi được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt, làm cơ sở tổ chức triển khai thống
nhất trên địa bàn tỉnh.
1. Dự báo những thuận lợi, khó khăn
a) Thuận lợi
Khu vực kinh tế tập thể tiếp tục nhận được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo
của Trung ương, Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân tỉnh và Ủy ban nhân dân tỉnh; hệ
thống cơ chế, chính sách về phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã ngày càng được
hoàn thiện, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức kinh tế tập thể phát triển.
Sau thời gian triển khai Luật Hợp tác xã năm 2023 và các văn bản hướng
dẫn thi hành, nhận thức của các cấp, các ngành và người dân về vị trí, vai trò của
kinh tế tập thể từng bước được nâng lên; công tác cải cách hành chính, chuyển
đổi số và cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh tiếp tục được đẩy mạnh, tạo
điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các tổ hợp tác, hợp tác xã và liên hiệp hợp
tác xã.
Nhiều hợp tác xã đã từng bước đổi mới phương thức quản trị, chủ động
xây dựng phương án sản xuất, kinh doanh, tham gia liên kết sản xuất theo chuỗi
giá trị, ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số, góp phần nâng cao hiệu
quả hoạt động, tạo việc làm và tăng thu nhập cho thành viên.
Các chương trình mục tiêu quốc gia, Chương trình tổng thể phát triển kinh
tế tập thể giai đoạn 2026-2030 và các chương trình, dự án phát triển nông
nghiệp, xây dựng nông thôn mới tiếp tục được triển khai, tạo điều kiện để lồng
18
ghép nguồn lực hỗ trợ phát triển hợp tác xã, xây dựng vùng nguyên liệu, phát
triển hạ tầng và mở rộng quy mô hoạt động.
b) Khó khăn
Bối cảnh kinh tế thế giới và trong nước tiếp tục diễn biến phức tạp; áp lực
lạm phát, biến động giá nguyên liệu đầu vào, chi phí sản xuất tăng, thị trường
tiêu thụ còn nhiều khó khăn, cùng với tác động của biến đổi khí hậu và thiên tai
tiếp tục ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của khu vực kinh tế tập
thể.
Hiệu quả hoạt động của nhiều hợp tác xã chưa đồng đều; quy mô sản xuất
còn nhỏ, năng lực tài chính, quản trị và khả năng huy động nguồn lực còn hạn
chế. Hoạt động liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm theo chuỗi giá trị tuy đã
được mở rộng nhưng chưa thật sự bền vững; sức cạnh tranh của sản phẩm còn
thấp.
Nguồn lực đầu tư cho phát triển kinh tế tập thể còn hạn chế; việc triển
khai một số chính sách hỗ trợ còn chậm do ngân sách địa phương còn khó khăn
và phụ thuộc nhiều vào nguồn hỗ trợ từ Trung ương.
Công tác quản lý nhà nước về kinh tế tập thể ở một số địa phương còn gặp
khó khăn do đội ngũ công chức phụ trách thường xuyên thay đổi, chủ yếu kiêm
nhiệm; công tác phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị trong triển khai chính sách có
thời điểm chưa thật sự đồng bộ.
2. Định hướng chung về phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã
Tiếp tục triển khai thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày
16/6/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII; Chương trình hành
động số 17-CTr/TU ngày 13/3/2026 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh; Kế hoạch
số 228/KH-UBND ngày 04/5/2026 của Ủy ban nhân dân tỉnh và các chủ trương,
chính sách của Trung ương về phát triển kinh tế tập thể; đồng thời tổ chức triển
khai Đề án "Phát triển kinh tế tập thể tỉnh An Giang giai đoạn 2026-2030" sau
khi được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt, bảo đảm thống nhất, đồng bộ và phù
hợp với điều kiện thực tiễn của tỉnh.
Phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã theo đúng bản chất, nguyên tắc tổ
chức và hoạt động quy định tại Luật Hợp tác xã năm 2023; lấy thành viên làm
trung tâm, lấy hiệu quả hoạt động và lợi ích của thành viên làm mục tiêu; phát
triển trên cơ sở nhu cầu thực tiễn, tự nguyện, bình đẳng, hợp tác và cùng phát
triển bền vững.
Ưu tiên phát triển các tổ chức kinh tế tập thể trong các ngành, lĩnh vực có
lợi thế của tỉnh; gắn với phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, chuyển đổi
số, ứng dụng khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, xây dựng vùng nguyên
liệu tập trung, phát triển sản xuất theo chuỗi giá trị, tăng cường liên kết với
doanh nghiệp và các thành phần kinh tế khác nhằm nâng cao giá trị gia tăng và
sức cạnh tranh của sản phẩm.
19
Tập trung nâng cao chất lượng hoạt động của hợp tác xã và liên hiệp hợp
tác xã; củng cố, kiện toàn tổ chức, nâng cao năng lực quản trị, điều hành, phát
triển nguồn nhân lực, mở rộng dịch vụ phục vụ thành viên, tăng khả năng tiếp
cận tín dụng, thị trường và các chính sách hỗ trợ của Nhà nước; từng bước xây
dựng các mô hình hợp tác xã kiểu mới hoạt động hiệu quả, có khả năng cạnh
tranh và phát triển bền vững.
3. Mục tiêu tổng quát
Tiếp tục phát triển kinh tế tập thể với nhiều hình thức tổ chức, loại hình,
quy mô và trình độ phù hợp với điều kiện phát triển của tỉnh; nâng cao chất
lượng, hiệu quả hoạt động của khu vực kinh tế tập thể, trong đó hợp tác xã là
nòng cốt. Tập trung củng cố, kiện toàn tổ chức, đổi mới nội dung, phương thức
hoạt động của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; khắc phục những tồn tại, hạn chế,
nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh trên cơ sở bảo đảm các nguyên tắc tổ
chức và hoạt động theo quy định của Luật Hợp tác xã năm 2023.
Đẩy mạnh phát triển tổ hợp tác, hợp tác xã và liên hiệp hợp tác xã gắn với
các ngành hàng chủ lực, vùng nguyên liệu tập trung và chuỗi giá trị sản phẩm
của tỉnh; mở rộng quy mô thành viên thông qua việc thu hút hộ gia đình, cá
nhân, tổ chức, đặc biệt là nông dân tham gia các tổ chức kinh tế tập thể. Tăng
cường liên kết giữa hợp tác xã với doanh nghiệp và các thành phần kinh tế khác
nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh
của sản phẩm.
Thúc đẩy phát triển kinh tế tập thể theo hướng ứng dụng khoa học, công
nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; gắn với phát triển kinh tế xanh, kinh tế
tuần hoàn, thích ứng với biến đổi khí hậu và yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.
Nâng cao năng lực quản trị, năng lực tài chính và khả năng thích ứng của các tổ
chức kinh tế tập thể, góp phần phát triển sản xuất bền vững.
Phát huy vai trò của kinh tế tập thể trong hỗ trợ phát triển kinh tế hộ, kinh
tế trang trại; tạo việc làm, tăng thu nhập cho thành viên và người lao động; góp
phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân, thực hiện hiệu quả
Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, bảo đảm an sinh xã
hội và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Tiếp tục khẳng định vị trí, vai trò của khu vực kinh tế tập thể trong nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; huy động ngày càng nhiều tổ
chức, doanh nghiệp tham gia liên kết, hợp tác với các hợp tác xã; tăng cường các
hoạt động hỗ trợ nhằm nâng cao năng lực sản xuất, quản trị, khả năng cạnh tranh
và phát triển bền vững của các tổ chức kinh tế tập thể trong giai đoạn mới.
4. Một số mục tiêu cụ thể
Thành lập mới 95 THT, 50 HTX.
Thu hút 350 thành viên THT, 650 thành viên HTX.
Doanh thu bình quân của 1 HTX trên 4.100 triệu đồng/năm, THT là 350
triệu đồng/năm.
20
Lãi bình quân một HTX trên 1.150 triệu đồng/năm, LH HTX là 1.300
triệu đồng/năm, THT là 58 triệu đồng/năm.
Tỷ lệ cán bộ quản lý, điều hành HTX có trình độ sơ cấp, trung cấp đạt
74%; cán bộ quản lý điều hành có trình độ cao đẳng, đại học chiếm tỷ lệ 26%
tổng số cán bộ quản lý.
Phấn đấu trên 91% hợp tác xã có lãi, trong đó 60% hợp tác xã khá tốt, hạn
chế thấp nhất hợp tác xã yếu kém.
Phấn đấu toàn tỉnh có trên 55 HTX ứng dụng công nghệ cao
vào sản xuất và tiêu thụ nông sản; thực hiện truy xuất nguồn gốc đối với hàng
hóa nông sản.
Phát triển các chuỗi giá trị nông sản hàng hoá gắn với liên kết sản xuất,
cung cấp dịch vụ chế biến và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp; đẩy mạnh tham gia
vào các chuỗi cung ứng đưa sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu trực tiếp ra nước
ngoài.
Duy trì HTXNN có ứng dụng công nghệ cao, ứng dụng tiến bộ khoa học
công nghệ vào sản xuất nông nghiệp và hướng đến có sản phẩm OCOP đạt từ 3
sao hoặc các sản phẩm tiềm năng.
5. Các giải pháp phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã năm 2027
a) Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức và phát triển
nguồn nhân lực cho khu vực kinh tế tập thể
Tiếp tục quán triệt, tuyên truyền và tổ chức triển khai thực hiện nghiêm
túc Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 16/6/2022 của Ban Chấp hành Trung ương
Đảng khóa XIII về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập
thể trong giai đoạn mới; Nghị quyết số 09/NQ-CP ngày 02/02/2023 của Chính
phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW;
Luật Hợp tác xã năm 2023; Chương trình hành động số 17-CTr/TU ngày
13/3/2026 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh; Kế hoạch số 228/KH-UBND ngày
04/5/2026 của Ủy ban nhân dân tỉnh và các văn bản chỉ đạo có liên quan. Qua
đó, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và hành động của các cấp, các
ngành, đội ngũ cán bộ, đảng viên, thành viên hợp tác xã và Nhân dân đối với
phát triển kinh tế tập thể; nâng cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu
trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế tập
thể.
Tăng cường tuyên truyền về vị trí, vai trò, bản chất và các giá trị của kinh
tế tập thể; nhân rộng các mô hình hợp tác xã hoạt động hiệu quả, các điển hình
tiên tiến, mô hình liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị và ứng dụng khoa học,
công nghệ, chuyển đổi số. Gắn công tác tuyên truyền với việc thực hiện các mục
tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, góp phần nâng cao nhận thức của
người dân về lợi ích khi tham gia tổ hợp tác, hợp tác xã và liên hiệp hợp tác xã.
Liên minh Hợp tác xã tỉnh, các sở, ban, ngành, Ủy ban nhân dân các xã,
phường, đặc khu và các đơn vị có liên quan, căn cứ chức năng, nhiệm vụ được
21
giao, xây dựng kế hoạch tổ chức tuyên truyền, phổ biến Luật Hợp tác xã năm
2023 và các văn bản hướng dẫn thi hành; đồng thời tổ chức các lớp đào tạo, bồi
dưỡng, tập huấn nhằm nâng cao năng lực quản trị, điều hành, kế toán, kiểm soát,
lập báo cáo tài chính, báo cáo hoạt động và các kỹ năng quản trị hợp tác xã cho
đội ngũ cán bộ quản lý hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và tổ hợp tác.
b) Tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế tập
thể
Tiếp tục triển khai thực hiện đầy đủ, kịp thời các cơ chế, chính sách hỗ trợ
phát triển kinh tế tập thể theo quy định của Luật Hợp tác xã năm 2023 và các
văn bản hướng dẫn thi hành; đồng thời rà soát, đề xuất hoàn thiện các cơ chế,
chính sách phù hợp với điều kiện thực tiễn của tỉnh. Việc hỗ trợ phải bảo đảm
đúng bản chất của hợp tác xã, không bao cấp, phù hợp với nhu cầu phát triển của
các tổ chức kinh tế tập thể và khả năng cân đối nguồn lực của Nhà nước; ưu tiên
hỗ trợ xây dựng và nhân rộng các mô hình hợp tác xã hoạt động hiệu quả, hợp
tác xã kiểu mới, liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị.
c) Tổ chức triển khai hiệu quả các chính sách hỗ trợ phát triển hợp
tác xã
Triển khai đồng bộ các chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế tập thể, hợp tác
xã theo quy định của Trung ương và của tỉnh; trong đó chú trọng chính sách đào
tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực, nâng cao năng lực quản trị, điều hành cho đội
ngũ cán bộ quản lý hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và tổ hợp tác.
Tổ chức các lớp đào tạo, tập huấn về quản trị hợp tác xã, tổ chức các dịch
vụ phục vụ thành viên, xây dựng phương án sản xuất, kinh doanh, phát triển
chuỗi liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, kỹ năng đàm phán và ký kết hợp
đồng kinh tế, đăng ký chất lượng sản phẩm, xây dựng thương hiệu, nhãn hiệu,
bao bì và truy xuất nguồn gốc sản phẩm.
Đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến các chính sách hỗ trợ phát triển hợp tác
xã, chính sách hỗ trợ liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp thông
qua nhiều hình thức phù hợp như hội nghị, hội thảo, diễn đàn, tọa đàm, tập
huấn..., góp phần nâng cao nhận thức của thành viên hợp tác xã, doanh nghiệp
và người dân về vai trò, lợi ích của kinh tế tập thể và hợp tác xã.
d) Nâng cao hiệu quả hoạt động của khu vực kinh tế tập thể
Các Sở, ban, ngành, Liên minh Hợp tác xã tỉnh, Ủy ban nhân dân các xã,
phường, đặc khu và các đơn vị liên quan, căn cứ chức năng, nhiệm vụ được
giao, tập trung triển khai các giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động
của tổ hợp tác, hợp tác xã và liên hiệp hợp tác xã.
Tiếp tục rà soát, đánh giá thực trạng hoạt động của các hợp tác xã, liên
hiệp hợp tác xã và tổ hợp tác; hướng dẫn xử lý, giải thể các hợp tác xã ngừng
hoạt động theo đúng quy định của pháp luật; hỗ trợ xây dựng phương án sản
xuất, kinh doanh và điều lệ phù hợp với Luật Hợp tác xã năm 2023; khuyến
khích phát triển thành viên, tăng vốn góp, mở rộng các loại hình dịch vụ đáp ứng
nhu cầu của thành viên và phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương; đầu tư,
22
nâng cấp kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm, từng
bước mở rộng quy mô hoạt động của các hợp tác xã.
Khuyến khích các hợp tác xã phát triển sản xuất gắn với chuỗi giá trị; tăng
cường ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đầu tư
nâng cao năng lực bảo quản, chế biến nông sản; thực hiện truy xuất nguồn gốc,
xây dựng thương hiệu, nhãn hiệu và nâng cao chất lượng sản phẩm nhằm đáp
ứng yêu cầu của thị trường.
Đẩy mạnh liên kết giữa hợp tác xã với doanh nghiệp và các thành phần
kinh tế khác trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ các sản phẩm chủ lực của tỉnh;
tăng cường các hoạt động xúc tiến thương mại, kết nối cung cầu, tạo điều kiện
thuận lợi để doanh nghiệp đầu tư, liên kết sản xuất với hợp tác xã; khuyến khích
phát triển các mô hình hợp tác xã kiểu mới có sự đồng hành của doanh nghiệp
về nguồn nhân lực, kỹ thuật, vốn và thị trường.
Tiếp tục nâng cao năng lực quản trị của các hợp tác xã theo hướng công
khai, minh bạch và chuyên nghiệp; tăng cường đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán
bộ quản lý; thực hiện chính sách đưa người có trình độ chuyên môn phù hợp về
làm việc có thời hạn tại hợp tác xã theo quy định; củng cố công tác kế toán,
kiểm soát nội bộ và nâng cao hiệu quả quản trị tài chính của hợp tác xã.
đ) Tăng cường công tác quản lý nhà nước về KTTT
Củng cố tổ chức bộ máy, cán bộ các cơ quan có liên quan từ tỉnh đến cơ
sở để theo dõi, giám sát, hỗ trợ phát triển kinh tế tập thể, HTX. Các cấp, ngành,
địa phương hàng năm xây dựng chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế tập thể
gắn với phát triển kinh tế - xã hội của từng cấp, từng ngành và địa phương. Tập
trung chỉ đạo tổ chức lại sản xuất theo hướng quy mô gắn với tái cơ cấu nông
nghiệp, gắn với sinh kế người dân ở từng vùng, từng điều kiện, từng nguồn lực.
Tăng cường tập huấn bồi dưỡng kiến thức về kinh tế tập thể cho cán bộ HTX,
LH HTX và cán bộ quản lý nhà nước làm công tác theo dõi kinh tế tập thể cần
được tạo điều kiện đào tạo căn bản, nâng cao năng lực, phục vụ tốt hơn cho sự
phát triển kinh tế hợp tác, hợp tác xã của tỉnh.
e) Về huy động nguồn lực xã hội để phát triển KTTT, HTX.
Huy động mọi nguồn lực cho phát triển HTX; khuyến khích, tạo điều kiện
để các HTX và các thành phần kinh tế khác đầu tư vào HTX đổi mới công nghệ,
thiết bị sản xuất, ứng dụng và chuyển giao các tiến bộ khoa học, kỹ thuật nhằm
nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm hàng hoá, dịch vụ, hạ giá thành, nâng
cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và sức cạnh tranh. Lồng ghép, kết hợp các
chương trình mục tiêu quốc gia, các chương trình phát triển kinh tế-xã hội trên
địa bàn tỉnh, nhằm thu hút các nguồn lực phát triển các hình thức tổ chức kinh tế
hợp tác, liên kết. Hình thành chuỗi giá trị trong liên kết sản xuất, chế biến, tiêu
thụ sản phẩm và xuất khẩu gắn với xây dựng cánh đồng lớn theo chủ trương của
Ban Thường vụ Tỉnh ủy. Quan tâm xây dựng chuỗi giá trị sản phẩm, hàng hóa
chủ lực, có qui mô lớn của tỉnh.
23
g) Về phát huy mạnh mẽ vai trò của Mặt trận tổ quốc, các đoàn thể,
hội, hiệp hội trong phát triển KTTT.
Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể, tích cực tuyên
truyền, vận động nhân dân, đoàn, hội viên tự nguyện tham gia các tổ hợp tác,
hợp tác xã, Liên hiệp hợp tác xã. Tăng cường công tác phối hợp chặt chẽ, hiệu
quả giữa các cơ quan, tổ chức, Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể các cấp trong việc
thực hiện Nghị quyết, các quy định pháp luật, thúc đẩy phát triển KTTT, HTX.
Tăng cường tuyên truyền, vận động để hội viên, đoàn viên và Nhân dân nắm
chắc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và
của tỉnh về KTTT, HTX; phối hợp tổ chức vận động, phát triển các loại hình
KTTT, HTX; phát động những phong trào thi đua, xây dựng và nhân rộng các
mô hình HTX hoạt động hiệu quả trong tổ chức hội, đoàn thể.
h) Về tăng cường vai trò, trách nhiệm và nâng cao hiệu quả hoạt
động của Liên minh Hợp tác xã tỉnh.
Liên minh HTX tỉnh phối hợp với các sở, ban, ngành và Ủy ban nhân dân
các xã, phường chủ động thực hiện tốt hơn vai trò là tổ chức đại diện, bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức KTTT, HTX, giữ vai trò nòng cốt và
thúc đẩy phát triển KTTT, HTX, làm cầu nối giữa Đảng và Nhà nước với thành
phần KTTT, HTX, góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Tăng cường đối thoại với khu vực KTTT, HTX để kịp thời nắm bắt
nguyện vọng, những tồn đọng, khó khăn, vướng mắc và kiến nghị của KTTT,
HTX nhằm tham mưu, đề xuất và kiến nghị với UBND tỉnh, các cơ quan, đơn vị
liên quan tháo gỡ kịp thời.
Phát huy vai trò cầu nối giữa HTX với doanh nghiệp, tổ chức tín dụng,
nhà khoa học; hỗ trợ HTX tiếp cận các chương trình chuyển đổi số, khoa học -
công nghệ, xúc tiến thương mại.
i) Về tăng cường hợp tác quốc tế về KTTT.
Khuyến khích hợp tác quốc tế trong phát triển kinh tế tập thể, nhất là
trong việc tiếp thu kinh nghiệm tốt của các nước, vùng lãnh thổ có phong trào
HTX mạnh. Từng bước mở rộng hoạt động và phát huy vai trò HTX, LH HTX
trong phát triển quan hệ với các tổ chức quốc tế, trước hết là Liên minh HTX
quốc tế (ICA), Tổ chức lao động quốc tế (ILO) và các nước Đông Nam Á.
k) Về các giải pháp khác.
Hỗ trợ xúc tiến thương mại, tiêu thụ sản phẩm đối với HTX. Tiếp tục hỗ
trợ để nâng cao hiệu quả công tác xúc tiến thương mại của kinh tế hợp tác và
HTX, trong đó tập trung vào việc cung cấp thông tin về thị trường và khách
hàng, tích cực tham gia diễn đàn trao đổi kinh nghiệm của các HTX trong và
ngoài tỉnh, các hoạt động triển lãm, hội chợ; xây dựng và quảng bá thương hiệu
cho HTX và liên hiệp HTX; hỗ trợ một số HTX có điều kiện xúc tiến thương
mại ra thị trường trên thế giới; tiếp tục hỗ trợ nhãn hiệu thương mại và truy xuất
nguồn gốc sản phẩm cho HTX.
24
6. Nguồn vốn thực hiện
Tổng nhu cầu vốn thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế tập thể, hợp tác
xã tỉnh An Giang năm 2027 là 4.799,52 triệu đồng (nguồn ngân sách nhà nước).
Trên đây là Kế hoạch phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã tỉnh An Giang
năm 2027./.
Nơi nhận:
- Bộ Tài chính (để b/c);
- Bộ Nông nghiệp và Môi trường (để b/c);
- TT.TU, TT HĐND tỉnh (để b/c);
- UBND tỉnh: Chủ tịch và các PCT UBND tỉnh;
- Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh;
- Các Sở, ban, ngành, đoàn thể cấp tỉnh;
- UBND các xã, phường, đặc khu;
- Liên minh HTX tỉnh;
- Văn phòng UBND tỉnh: LĐVP, P.KT;
- Cổng Thông tin Điện tử tỉnh;
- Lưu VT, hmdon “HT”.
1
Kế
hoạch
Ước thực
hiện cả
năm
I
Hợp tác xã
1
Tổng số hợp tác xã
HTX 854 877 893
933
Trong đó:
Số hợp tác xã đang hoạt động
HTX 828 854 854
893
Số hợp tác xã thành lập mới
HTX 30 25 45
50
Số hợp tác xã giải thể
HTX 4 2 6
10
Số HTX ứng dụng công nghệ cao vào
sản xuất và tiêu thụ nông sản
HTX 30
46
46 55
Số HTX nông nghiệp liên kết với doanh nghiệp theo
chuỗi giá trị
HTX 90 90 120 170
Số HTX thành lập doanh nghiệp, góp vốn, mua cổ
phần
HTX
Số HTX có thành viên là doanh nghiệp
HTX
Số HTX có thành viên là người nước ngoài
HTX
Số xã đạt chuẩn tiêu chí 3.6 về xã có Hợp tác xã hoạt
động hiệu quả (thuộc bộ tiêu chí Quốc gia về xã
Nông thôn mới)
Xã
2
Tổng số thành viên hợp tác xã
Người 182.652 164.442 183.252 183.902
Trong đó:
Số thành viên mới
Thành viên 250 600
650
Số thành viên ra khỏi hợp tác xã
Thành viên
3
Tổng số lao động thường xuyên trong HTX
Người 17.380 18.013 18.013 18.148
Trong đó:
Số lao động thường xuyên mới
Người
135
Số lao động thường xuyên là thành viên HTX
Người 13.243 13.513 13.513 13.648
4
Tổng số cán bộ quản lý hợp tác xã
Người 5.797
5.860
5.860
5.930
Trong đó:
Số cán bộ quản lý HTX đã qua đào tạo đạt trình độ
sơ, trung cấp
Người 4.345 4.336 4.336
4.399
Số cán bộ quản lý HTX đã qua đào tạo đạt trình độ
cao đẳng, đại học trở lên
Người 1.452 1.524 1.524
1.531
5
Doanh thu bình quân một hợp tác xã
Tr
đồng/năm
4.010 4.020 4.020 4.100
Trong đó: Doanh thu của hợp tác xã với thành viên
Tr
đồng/năm
6
Lãi bình quân một hợp tác xã
Tr
đồng/năm
1.010 1.100 1.100 1.150
7
Thu nhập bình quân của lao động thường xuyên
trong hợp tác xã
Tr
đồng/năm
- 65 65
70
II
Liên hiệp hợp tác xã
1
Tổng số liên hiệp hợp tác xã
LH HTX 5 6 6 6
Trong đó:
Số liên hiệp hợp tác xã đang hoạt động
LH HTX 5 5 5 6
Số liên hiệp HTX thành lập mới
LH HTX - 1 1 -
Số liên hiệp HTX giải thể
LH HTX - -
TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ TẬP THỂ, HỢP TÁC XÃ NĂM 2026
VÀ KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ TẬP THỂ NĂM 2027
Phụ lục I
Đơn vị
tính
Thực
hiện năm
2025
STT
Chỉ tiêu
Kế hoạch
năm 2027
Ghi chú
Năm 2026
(Kèm theo Kế hoạch số /KH-UBND ngày tháng 8 năm 2026 của UBND tỉnh An Giang)
448
11
Số: 448/KH-UBND
Thời gian ký: 2026-08-11T08:56:31+07:00
2
Kế
hoạch
Ước thực
hiện cả
năm
Đơn vị
tính
Thực
hiện năm
2025
STT
Chỉ tiêu
Kế hoạch
năm 2027
Ghi chú
Năm 2026
Số LHHTX thành lập doanh nghiệp, góp vốn, mua
cổ phần
LH HTX - -
2
Tổng số hợp tác xã thành viên
HTX 53 60 60 60
3
Tổng số lao động trong liên hiệp HTX
Người 30 41 41 41
4
Doanh thu bình quân của một liên hiệp HTX
Tr
đồng/năm
- 6.500 6.500
6.500
5
Lãi bình quân của một liên hiệp HTX
Tr
đồng/năm
- 1.300 1.300
1.300
III
Tổ hợp tác
1
Tổng số tổ hợp tác
THT 3.709 3.804 3.804 3.899
Trong đó:
Số THT có đăng ký hoạt động với chính quyền
xã/phường/thị trấn
THT 3.709 3.804 3.804
3.899
2
Tổng số thành viên tổ hợp tác
Thành viên 67.133 61.939 67.483 67.833
Trong đó:
Số thành viên mới thu hút
Thành viên
1.800 350 350 350
3
Doanh thu bình quân một tổ hợp tác
Tr
đồng/năm
296 320 320 325
4
Lãi bình quân một tổ hợp tác
Tr
đồng/năm
55 57 57 58
Kế
hoạch
Ước thực
hiện cả
năm
1 HỢP TÁC XÃ
Tổng số hợp tác xã HTX
854 877 893 933
Chia ra:
Hợp tác xã nông - lâm - ngư -
diêm nghiệp
HTX
717 732 751 791
Hợp tác xã công nghiệp - tiểu thủ
công nghiệp
HTX
12 15 11 11
Hợp tác xã xây dựng, khai
khoáng
HTX
4 4 4 4
Hợp tác xã tín dụng HTX
42 42 42 42
Hợp tác xã thương mại HTX
25 27 28 28
Hợp tác xã vận tải HTX
54 57 57 57
Hợp tác xã khác HTX
- - - -
2 LIÊN HIỆP HỢP TÁC XÃ
Tổng số LH hợp tác xã LHHTX
5
6 6 6
Chia ra:
LH hợp tác xã nông - lâm - ngư -
LHHTX
5
6 6 6
LH hợp tác xã công nghiệp
LHHTX
LH hợp tác xã xây dựng
LHHTX
LH hợp tác xã tín dụng LHHTX
LH hợp tác xã thương mại LHHTX
LH hợp tác xã vận tải LHHTX
LH hợp tác xã khác LHHTX
3 TỔ HỢP TÁC
Tổng số tổ hợp tác THT
3.709
3.804
3.804
3.899
Chia ra:
Tổ hợp tác nông - lâm - ngư -
diêm nghiệp
THT
3.116
3.097
3.211
3.306
Tổ hợp tác công nghiệp - tiểu thủ
công nghiệp
THT
558
672
558
558
Tổ hợp tác xây dựng
THT
Tổ hợp tác tín dụng THT
35
35
35
35
Tổ hợp tác thương mại THT
Tổ hợp tác vận tải THT
Tổ hợp tác khác THT
Kế
hoạch
năm
2027
Phụ lục II
(Kèm theo kế hoạch số /KH-UBND ngày tháng 8 năm 2026
của UBND tỉnh An Giang)
STT
Chỉ tiêu
Đơn vị
tính
Thực
hiện năm
2025
Ghi chú
Năm 2026
SỐ LƯỢNG HỢP TÁC XÃ, LIÊN HIỆP HỢP TÁC XÃ, TỔ HỢP TÁC PHÂN LOẠI
THEO NGÀNH NGHỀ NĂM 2026 VÀ KẾ HOẠCH NĂM 2027
448
11
Số: 448/KH-UBND
Thời gian ký: 2026-08-11T08:56:25+07:00
1
I
HỖ TRỢ CHUNG ĐỐI VỚI CÁC TỔ CHỨC KTTT
33.468,85 3.963,00 4.799,52
1
Hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực
4.469,40 2.165,00 2.900,00
- Đào tạo
Người
120 128 200
Tổng kinh phí hỗ trợ
Tr đồng
600 950 1.200
Trong đó
Ngân sách trung ương
Tr đồng
Ngân sách địa phương
Tr đồng
950 1.200
Nguồn vốn khác
Tr đồng
- Bồi dưỡng
Người
2.600 850 1.000
Tổng kinh phí hỗ trợ
Tr đồng
2.409,40 1.215 1.500,00
Trong đó
Ngân sách trung ương
Tr đồng
Ngân sách địa phương
Tr đồng
1.215 1.500
Nguồn vốn khác
Tr đồng
- Hỗ trợ kinh phí biên soạn, xây dựng,
phát hành chương trình, giáo trình..
Tổng kinh phí hỗ trợ
530 200
Trong đó
Ngân sách trung ương
Tr đồng
Ngân sách địa phương
Tr đồng
200
Nguồn vốn khác
Tr đồng
- Hỗ trợ lao động tốt nghiệp cao đẳng,
đại học, sau đại học về làm việc tại
các tổ chức KTTT
Người
60
Tổng kinh phí hỗ trợ
Tr đồng
330
Nguồn vốn khác
Tr đồng
- Xây dựng và triển khai các chương
trình truyền thông..
300
Tổng kinh phí hỗ trợ
600
Trong đó
Ngân sách trung ương
Tr đồng
Ngân sách địa phương
Tr đồng
Nguồn vốn khác
Tr đồng
2
Hỗ trợ thông tin (tư vấn tuyên
truyền thành lập mới)
Ngân sách
trung ương
Ngân sách
địa phương
Đơn vị tính
Thực hiện 2026
Phụ lục III
STT
Chỉ tiêu
Kế hoạch
Ước thực
hiện cả
năm
TỔNG HỢP KẾT QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TẬP THỂ,
HỢP TÁC XÃ NĂM 2026 VÀ KẾ HOẠCH HỖ TRỢ KINH TẾ TẬP THỂ, HỢP TÁC XÃ NĂM 2027
(Kèm theo Kế hoạch số /KH-UBND ngày tháng 8 năm 2026 của UBND tỉnh An Giang)
Kế hoạch 2027
448
11
Số: 448/KH-UBND
Thời gian ký: 2026-08-11T08:56:34+07:00
2
Ngân sách
trung ương
Ngân sách
địa phương
Đơn vị tính
Thực hiện 2026
STT
Chỉ tiêu
Kế hoạch
Ước thực
hiện cả
năm
Kế hoạch 2027
- Số THT, HTX, LHHTX được hỗ trợ
25 25 25
Tổng kinh phí hỗ trợ
Tr đồng
1.248 1.248 1.200
Trong đó
Ngân sách trung ương
Tr đồng
Ngân sách địa phương
Tr đồng
1.248 1.248 1.200
Nguồn vốn khác
Tr đồng
3
Hỗ trợ xây dựng mạng lưới cung
cấp dịch vụ tư vấn
- Số THT, HTX, LHHTX, cá nhân, tổ
chức được hỗ trợ
100
Tổng kinh phí hỗ trợ
Tr đồng
400
Trong đó
Ngân sách trung ương
Tr đồng
Ngân sách địa phương
Tr đồng
Nguồn vốn khác
Tr đồng
4
Hỗ trợ nhân rộng mô hình HTX,
LH HTX hoạt động hiệu quả
- Số THT, HTX, LHHTX được hỗ trợ
10
Tổng kinh phí hỗ trợ
Tr đồng
500
Trong đó
Ngân sách trung ương
Tr đồng
Ngân sách địa phương
Tr đồng
Nguồn vốn khác
Tr đồng
5
Hỗ trợ ứng dụng khoa học công
nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển
đổi số
- Số THT, HTX, LHHTX được hỗ trợ
Tổng kinh phí hỗ trợ
Tr đồng
300
Trong đó
Ngân sách trung ương
Tr đồng
Ngân sách địa phương
Tr đồng
Nguồn vốn khác
Tr đồng
6
Hỗ trợ tiếp cận và nghiên cứu thị trường
- Số THT, HTX, LHHTX được hỗ trợ
165 30 30
Tổng kinh phí hỗ trợ
Tr đồng
1.051,45 300,00 300,00
Trong đó
Ngân sách Trung ương
Tr đồng
Ngân sách địa phương
Tr đồng
300 300
Nguồn vốn khác
Tr đồng
7
Hỗ trợ đầu tư phát triển kết cấu hạ
tầng
- Số THT, HTX, LHHTX được hỗ trợ
5
Tổng kinh phí hỗ trợ Tr đồng
25.000
Trong đó
Ngân sách trung ương
Tr đồng
Ngân sách địa phương
Tr đồng
Nguồn vốn khác
Tr đồng
3
Ngân sách
trung ương
Ngân sách
địa phương
Đơn vị tính
Thực hiện 2026
STT
Chỉ tiêu
Kế hoạch
Ước thực
hiện cả
năm
Kế hoạch 2027
8
Chuyển giao công trình kết cấu hạ
tầng, công trình công cộng và cơ sở
hạ tầng khác của Nhà nước
- Số THT, HTX, LHHTX được hỗ trợ
5
Tổng giá trị tài sản được chuyển giao Tr đồng
9
Hỗ trợ tư vấn tài chính và đánh giá rủi ro
- Số THT, HTX, LHHTX được hỗ trợ
100
Tổng kinh phí hỗ trợ Tr đồng
500
Trong đó
Ngân sách trung ương
Tr đồng
Ngân sách địa phương
Tr đồng
Nguồn vốn khác
Tr đồng
10
Khảo sát đánh giá mức độ hài lòng
của HTX đối với chính quyền địa
phương trong việc thực hiện các
chủ trương, đường lối của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước
về kinh tế tập thể, HTX
Tổng kinh phí hỗ trợ
Tr đồng
250 250 171,29
Trong đó
Ngân sách trung ương
Tr đồng
Ngân sách địa phương
Tr đồng
250 250 171,29
Nguồn vốn khác
Tr đồng
11
Kiểm tra, giám sát về việc thực hiện
Điều lệ, Nghị quyết của HTX và tư
vấn Kế toán Hợp tác xã trên địa
bàn tỉnh
Tổng kinh phí hỗ trợ
Tr đồng
147,73
Trong đó
Ngân sách trung ương
Tr đồng
Ngân sách địa phương
Tr đồng
147,73
Nguồn vốn khác
Tr đồng
12
Tư vấn kiểm toán nội bộ Hợp tác xã
trên địa bàn tỉnh
Tổng kinh phí hỗ trợ
Tr đồng
80,50
Trong đó
Ngân sách trung ương
Tr đồng
Ngân sách địa phương
Tr đồng
80,50
II
HỖ TRỢ HOẠT ĐỘNG TRONG
LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP
9.950
1
Hỗ trợ đầu tư phát triển kết cấu hạ
tầng
- Số THT, HTX, LHHTX được hỗ trợ
3
Tổng kinh phí hỗ trợ Tr đồng
9.000
Trong đó
Ngân sách trung ương
Tr đồng
Ngân sách địa phương
Tr đồng
4
Ngân sách
trung ương
Ngân sách
địa phương
Đơn vị tính
Thực hiện 2026
STT
Chỉ tiêu
Kế hoạch
Ước thực
hiện cả
năm
Kế hoạch 2027
Nguồn vốn khác
Tr đồng
2
Hỗ trợ vốn, giống khi gặp khó khăn
do thiên tai, dịch bệnh
- Số THT, HTX, LHHTX được hỗ trợ HTX
475
- Tổng kinh phí được hỗ trợ Tr đồng
950
Trong đó
Ngân sách trung ương
Tr đồng
Ngân sách địa phương
Tr đồng
Nguồn vốn khác
Tr đồng

Bạn chưa Đăng nhập thành viên.

Đây là tiện ích dành cho tài khoản thành viên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, vui lòng Đăng ký tại đây!

Kế hoạch 448/KH-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang về việc phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã tỉnh An Giang năm 2027

văn bản tiếng việt

downloadKế hoạch 448/KH-UBND (Bản PDF)

Vui lòng Đăng nhập để tải văn bản. Nếu chưa có tài khoản, vui lòng Đăng ký tại đây!

văn bản TIẾNG ANH

* Lưu ý: Để đọc được văn bản tải trên Luatvietnam.vn, bạn cần cài phần mềm đọc file DOC, DOCX và phần mềm đọc file PDF.

Bạn chưa Đăng nhập thành viên.

Đây là tiện ích dành cho tài khoản thành viên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, vui lòng Đăng ký tại đây!

  • Văn bản liên quan Kế hoạch 448/KH-UBND
  • Văn bản cùng chủ đề

văn bản cùng lĩnh vực

văn bản mới nhất

CHÍNH SÁCH BẢO VỆ DỮ LIỆU CÁ NHÂN
Yêu cầu hỗ trợYêu cầu hỗ trợ
Chú thích màu chỉ dẫn
Chú thích màu chỉ dẫn:
Các nội dung của VB này được VB khác thay đổi, hướng dẫn sẽ được làm nổi bật bằng các màu sắc:
Sửa đổi, bổ sung, đính chính
Thay thế
Hướng dẫn
Bãi bỏ
Bãi bỏ cụm từ
Bình luận
Click vào nội dung được bôi màu để xem chi tiết.
×