Nghị định 29/2026/NĐ-CP quy định về các hoạt động liên quan đến sàn giao dịch các-bon trong nước, bao gồm đăng ký, cấp mã trong nước, chuyển quyền sở hữu, lưu ký, giao dịch và thanh toán giao dịch hạn ngạch phát thải khí nhà kính, tín chỉ các-bon đủ điều kiện được giao dịch theo quy định pháp luật.
Nghị định 29/2026/NĐ-CP áp dụng đối với:
- Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam;
- Sở Giao dịch chứng khoán Việt Nam; Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội;
- Các cơ quan, tổ chức tham gia giao dịch trên sàn giao dịch các-bon trong nước
- Các tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động tổ chức, vận hành, đăng ký, cấp mã, chuyển quyền sở hữu, lưu ký, giao dịch và thanh toán hạn ngạch phát thải khí nhà kính, tín chỉ các-bon.
Về nguyên tắc giao dịch, Điều 4 Nghị định 29/2026/NĐ-CP quy định hoạt động giao dịch trên sàn giao dịch các-bon trong nước phải bảo đảm công bằng, công khai, minh bạch, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia.
Các chủ thể tham gia giao dịch có trách nhiệm tự tìm hiểu quy định pháp luật, thông tin về hàng hóa và tự chịu trách nhiệm đối với quyết định mua, bán của mình.
Việc trao đổi hạn ngạch phát thải khí nhà kính chỉ được thực hiện trên hệ thống giao dịch các-bon, trừ trường hợp chuyển quyền sở hữu theo quy định cụ thể của Nghị định.
Các hành vi cấu kết, thao túng giá, cung cấp thông tin sai lệch, lợi dụng lỗ hổng hệ thống công nghệ thông tin để chiếm đoạt hạn ngạch phát thải khí nhà kính hoặc tín chỉ các-bon đều bị xử lý nghiêm theo quy định pháp luật.
Tổ chức, cá nhân vi phạm quy định về các hoạt động liên quan đến sàn giao dịch các-bon trong nước, tùy theo tính chất và mức độ vi phạm, sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
Việc xử phạt vi phạm hành chính được thực hiện theo quy định của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
Công văn 183/BNI-QLDN3 được gửi đến Công ty TNHH Tư vấn Tài chính – Kiểm toán Faco Việt Nam (mã số thuế: 2400899402), trên cơ sở đề nghị tại Công văn số 01/2025/CV-FCVN ngày 30/12/2025 liên quan đến điều kiện thanh toán không dùng tiền mặt đối với tiền lương, tiền công.
Về căn cứ pháp lý, Thuế tỉnh Bắc Ninh dẫn chiếu Nghị định số 320/2025/NĐ-CP ngày 15/12/2025 của Chính phủ.
Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 9, doanh nghiệp được trừ các khoản chi khi xác định thu nhập chịu thuế nếu đáp ứng đủ điều kiện, trong đó có yêu cầu có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với trường hợp mua hàng hóa, dịch vụ và các khoản thanh toán khác từng lần có giá trị từ 05 triệu đồng trở lên. Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt được thực hiện theo quy định của pháp luật về thuế giá trị gia tăng.
Đồng thời, tại điểm b khoản 1 Điều 24 của Nghị định số 320/2025/NĐ-CP quy định, nội dung về chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt tại điểm c khoản 1 Điều 9 được áp dụng kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành.
Trên cơ sở các quy định nêu trên và nội dung Công ty đề nghị, Thuế tỉnh Bắc Ninh khẳng định: trường hợp doanh nghiệp chi trả tiền lương, tiền công cho người lao động từng lần từ 05 triệu đồng trở lên nhưng không có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt theo quy định thì khoản chi này không được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN. Quy định này được áp dụng kể từ thời điểm Nghị định số 320/2025/NĐ-CP có hiệu lực thi hành.
Thuế tỉnh Bắc Ninh đề nghị doanh nghiệp căn cứ tình hình thực tế của đơn vị và các quy định pháp luật hiện hành để thực hiện đúng quy định. Trường hợp phát sinh vướng mắc trong quá trình thực hiện, doanh nghiệp có thể liên hệ Phòng Quản lý, hỗ trợ doanh nghiệp số 3 - Thuế tỉnh Bắc Ninh để được hướng dẫn, hỗ trợ theo quy định.
Theo Công văn số 307/CT-PC, từ 01/01/2026, toàn bộ hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh thực hiện khai thuế theo phương pháp kê khai, phù hợp với các định hướng lớn tại nghị quyết của Đảng, quy định của Quốc hội và pháp luật quản lý thuế mới.
Để đồng hành, hỗ trợ người nộp thuế tuân thủ đúng quy định và tránh phát sinh xử phạt do chuyển đổi mô hình, Cục Thuế hướng dẫn rõ phạm vi không xử lý vi phạm.
Cụ thể, đối với các hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh đã nộp thuế theo phương thức khoán trong năm 2025 trở về trước, bao gồm cả trường hợp có biến động sản xuất kinh doanh làm doanh thu khoán thay đổi từ 50% trở lên, và đã được cơ quan thuế ấn định doanh thu, xác định mức thuế khoán theo quy định, thì khi chuyển sang kê khai từ 01/01/2026, cơ quan thuế không thực hiện kiểm tra thuế và không hồi tố.
Đồng thời, không sử dụng doanh thu kê khai năm 2026 để xử lý nghĩa vụ thuế của các năm đã nộp theo phương thức khoán trước đó.
Tuy nhiên, Công văn 307/CT-PC cũng nêu rõ ngoại lệ: nếu cơ quan có thẩm quyền phát hiện hành vi gian lận, che giấu doanh thu dẫn đến thiếu thuế phải nộp, thì vẫn bị xử phạt vi phạm hành chính về trốn thuế theo quy định hiện hành; trường hợp nghiêm trọng có thể bị xử lý hình sự theo pháp luật.
Cục Thuế yêu cầu các cơ quan thuế địa phương và đơn vị liên quan triển khai thống nhất nội dung hướng dẫn, bảo đảm vừa hỗ trợ người nộp thuế trong giai đoạn chuyển đổi, vừa kiên quyết xử lý các hành vi vi phạm cố ý.
Theo đó, căn cứ khoản 4 Điều 11 Nghị quyết số 76/2025/UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, cán bộ, công chức cấp xã bị ảnh hưởng bởi việc sắp xếp đơn vị hành chính nhưng vẫn được bố trí tiếp tục là cán bộ, công chức cấp xã thì được giữ nguyên phụ cấp chức vụ đang hưởng, bao gồm cả phụ cấp kiêm nhiệm, trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày có văn bản bố trí công tác.
Sau thời hạn 06 tháng này, việc hưởng phụ cấp kiêm nhiệm được thực hiện theo Công văn số 12/CV-BCĐ ngày 20/6/2025 của Ban Chỉ đạo sắp xếp đơn vị hành chính và xây dựng mô hình chính quyền địa phương 2 cấp của Chính phủ. Theo đó, cán bộ, công chức cấp xã không tiếp tục được hưởng phụ cấp kiêm nhiệm chức danh người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã.
Tuy nhiên, theo Công văn 11499/BNV-CQĐP, trong trường hợp cán bộ, công chức cấp xã kiêm nhiệm chức danh người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố, thì vẫn được hưởng phụ cấp kiêm nhiệm, mức hưởng và điều kiện thực hiện theo quy định của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và các quy định pháp luật có liên quan.
Theo khoản 8 Điều 28 Nghị định 340/2025/NĐ-CP:
8. Phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 400.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:
a) Sản xuất, kinh doanh mua, bán vàng miếng nhưng không có giấy phép sản xuất, kinh doanh mua, bán vàng miếng;
b) Thực hiện xuất khẩu hoặc nhập khẩu vàng nguyên liệu, vàng miếng không có giấy phép do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp theo quy định của pháp luật;
c) Hoạt động kinh doanh vàng khác khi chưa được cấp có thẩm quyền cấp giấy phép theo quy định của pháp luật.
Như vậy, hành vi sản xuất, kinh doanh mua, bán vàng miếng nhưng không có giấy phép sản xuất, kinh doanh sẽ bị phạt tiền từ 300 - 400 triệu đồng.
Đồng thời, theo khoản 9 điều luật này người vi phạm còn bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung là tịch thu toàn bộ số vàng vi phạm.
Ngoài hành vi mua, bán vàng miếng không có giấy phép bị phạt nặng và tịch thu vàng, Điều 28 Nghị định 340/2025/NĐ-CP còn quy định xử phạt đối với nhiều hành vi vi phạm khác trong hoạt động kinh doanh vàng, như:
STT | Hành vi vi phạm | Mức xử phạt |
|---|---|---|
1 | Mua, bán vàng miếng với tổ chức tín dụng hoặc doanh nghiệp không có giấy phép; sử dụng vàng làm phương tiện thanh toán | Cảnh cáo |
2 | Tái phạm hoặc vi phạm nhiều lần hành vi mua, bán vàng miếng trái phép; sử dụng vàng làm phương tiện thanh toán | 10 - 20 triệu đồng |
3 | Không thanh toán mua, bán vàng qua tài khoản thanh toán theo quy định | |
4 | Không niêm yết công khai giá mua, giá bán vàng miếng, vàng trang sức, mỹ nghệ | 30 - 50 triệu đồng |
5 | Sản xuất vàng miếng, vàng trang sức, mỹ nghệ không công bố tiêu chuẩn áp dụng, không ghi nhãn hàng hóa | |
6 | Kinh doanh mua, bán vàng miếng không đúng quy định của pháp luật | 80 - 100 triệu đồng |
7 | Mang vàng khi xuất cảnh, nhập cảnh không đúng quy định | |
8 | Kinh doanh mua, bán vàng miếng thông qua đại lý ủy nhiệm; không đúng quy định về trạng thái vàng | 140 - 180 triệu đồng |
9 | Xuất khẩu, nhập khẩu vàng trang sức, mỹ nghệ, vàng nguyên liệu không đúng ngành nghề đăng ký | |
10 | Gia công vàng trang sức, mỹ nghệ khi chưa đăng ký ngành nghề | |
11 | Sử dụng vàng nguyên liệu nhập khẩu không đúng giấy phép | 200 - 250 triệu đồng |
12 | Sản xuất vàng miếng không đúng quy định pháp luật | 250 - 300 triệu đồng |
13 | Sản xuất, kinh doanh mua, bán vàng miếng không có giấy phép | 300 - 400 triệu đồng |
14 | Xuất khẩu, nhập khẩu vàng nguyên liệu hoặc vàng miếng không có giấy phép |
Điều luật này cũng quy định các hình phạt bổ sung trong hoạt động kinh doanh vàng như sau:
- Tịch thu toàn bộ số vàng vi phạm đối với hành vi:
- Sản xuất, kinh doanh mua, bán vàng miếng không có giấy phép;
- Xuất khẩu, nhập khẩu vàng nguyên liệu hoặc vàng miếng không có giấy phép;
- Hoạt động kinh doanh vàng khác khi chưa được cơ quan có thẩm quyền cấp phép.
- Đình chỉ hoạt động kinh doanh mua, bán vàng miếng trong thời hạn từ 06 tháng đến 09 tháng đối với hành vi thực hiện kinh doanh mua, bán vàng miếng thông qua đại lý ủy nhiệm trái quy định.
- Đình chỉ hoạt động nhập khẩu vàng nguyên liệu trong thời hạn từ 09 tháng đến 12 tháng đối với hành vi sử dụng vàng nguyên liệu nhập khẩu không đúng giấy phép.
- Đề nghị thu hồi Giấy phép kinh doanh mua, bán vàng miếng đối với hành vi không thực hiện đúng quy định pháp luật về trạng thái vàng trong trường hợp vi phạm nghiêm trọng theo quy định.
Thông tư 01/2026/TT-BGDĐT được ban hành và hiệu lực ngày 20/01/2026 quy định thẩm quyền tuyển dụng nhà giáo trong các cơ sở giáo dục công lập thuộc hệ thống giáo dục quốc dân. Đối tượng áp dụng gồm các cơ sở giáo dục công lập, Sở Giáo dục và Đào tạo và các tổ chức, cá nhân có liên quan.
Đáng chú ý, Thông tư không áp dụng đối với một số cơ sở giáo dục đặc thù đã được loại trừ theo quy định tại khoản 2 Điều 14 Luật Nhà giáo 2025.
- Đối với giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên, trường chuyên biệt (trừ trường dự bị đại học) và trường trung học nghề công lập, thẩm quyền tuyển dụng nhà giáo được thực hiện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 248/2025/QH15 của Quốc hội. Cụ thể:
1. Cơ chế tuyển dụng, sử dụng và quản lý nhân lực ngành giáo dục được quy định như sau:
a) Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo có thẩm quyền tuyển dụng, tiếp nhận đối với nhà giáo, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục và nhân viên trong cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên, trường chuyên biệt và trường trung học nghề công lập (sau đây gọi là cơ sở giáo dục công lập) trên địa bàn tỉnh; thực hiện thẩm quyền điều động, thuyên chuyển, biệt phái, bổ nhiệm, thay đổi vị trí việc làm đối với nhà giáo, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục và nhân viên trong cơ sở giáo dục công lập thuộc thẩm quyền quản lý và đối với cơ sở giáo dục công lập liên quan đến phạm vi từ 02 đơn vị hành chính cấp xã trở lên trên địa bàn tỉnh;
- Thông tư 01/2026/TT-BGDĐT xác định rõ người có thẩm quyền tuyển dụng đối với các cơ sở giáo dục công lập còn lại:
- Hiệu trưởng trường dự bị đại học, Trường Hữu nghị T78, Trường Hữu nghị 80 và Trường Phổ thông Vùng cao Việt Bắc được tuyển dụng nhà giáo thuộc phạm vi quản lý.
- Người đứng đầu các trường của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị; trường chính trị cấp tỉnh; trung tâm chính trị cấp xã, phường, đặc khu có thẩm quyền tuyển dụng nhà giáo của đơn vị mình.
- Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo thực hiện tuyển dụng nhà giáo đối với các cơ sở giáo dục khác thuộc thẩm quyền quản lý của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (trừ các cơ sở đã quy định riêng).
Thông tư 01/2026/TT-BGDĐT cũng nêu rõ, các đề án, kế hoạch tuyển dụng nhà giáo đã được phê duyệt trước ngày 01/01/2026 vẫn được tiếp tục thực hiện đến hết ngày 31/12/2026. Sau thời điểm này, nếu chưa hoàn thành, việc tuyển dụng phải thực hiện theo đúng thẩm quyền mới quy định tại Thông tư 01/2026/TT-BGDĐT.
Cảm ơn Quý khách đã dành thời gian đọc bản tin của chúng tôi!
Trung tâm luật việt nam - Công ty CP truyền thông Luật Việt Nam
Tại Hà Nội: Tầng 3, Tòa nhà IC, 82 phố Duy Tân, Cầu Giấy, Hà Nội - Hotline: 0938 36 1919
Tại TP.HCM: 648 Nguyễn Kiệm, Phường Đức Nhuận, TP. Hồ Chí Minh - Tel: 028. 39950724
Email: [email protected]
Lưu ý:
* Bản tin tóm tắt nội dung văn bản chỉ mang tính chất tổng hợp, không có giá trị áp dụng vào các trường hợp cụ thể. Để hiểu đầy đủ và chính xác quy định pháp luật, khách hàng cần tìm đọc nội dung chi tiết toàn văn bản.
* Nếu không muốn tiếp tục nhận bản tin, phiền Quý khách hàng vui lòng click vào đường link dưới đây https://luatvietnam.vn/huy-dang-ky-nhan-ban-tin.html Quý vị sẽ nhận được yêu cầu xác nhận lần cuối cùng trước khi hủy bỏ địa chỉ email của mình khỏi danh sách.

Đã có Nghị định 29/2026/NĐ-CP về sàn giao dịch các-bon trong nước