- Tổng quan
- Nội dung
- VB gốc
- Tiếng Anh
- Hiệu lực
- VB liên quan
- Lược đồ
-
Nội dung hợp nhất
Tính năng này chỉ có tại LuatVietnam.vn. Nội dung hợp nhất tổng hợp lại tất cả các quy định còn hiệu lực của văn bản gốc và các văn bản sửa đổi, bổ sung, đính chính... trên một trang. Việc hợp nhất văn bản gốc và những văn bản, Thông tư, Nghị định hướng dẫn khác không làm thay đổi thứ tự điều khoản, nội dung.
Khách hàng chỉ cần xem Nội dung hợp nhất là có thể nắm bắt toàn bộ quy định hiện hành đang áp dụng, cho dù văn bản gốc đã qua nhiều lần chỉnh sửa, bổ sung.
- Tải về
Chỉ thị 34/CT-TTg 2026 về việc tăng cường công tác phòng, chống rửa tiền, chống tài trợ khủng bố, tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt
| Cơ quan ban hành: | Thủ tướng Chính phủ |
Số công báo:
Số công báo là mã số ấn phẩm được đăng chính thức trên ấn phẩm thông tin của Nhà nước. Mã số này do Chính phủ thống nhất quản lý.
|
Đang cập nhật |
| Số hiệu: | 34/CT-TTg | Ngày đăng công báo: | Đang cập nhật |
| Loại văn bản: | Chỉ thị | Người ký: | Nguyễn Văn Thắng |
| Trích yếu: | Về việc tăng cường công tác phòng, chống rửa tiền, chống tài trợ khủng bố, tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt | ||
|
Ngày ban hành:
Ngày ban hành là ngày, tháng, năm văn bản được thông qua hoặc ký ban hành.
|
11/09/2026 |
Ngày hết hiệu lực:
Ngày hết hiệu lực là ngày, tháng, năm văn bản chính thức không còn hiệu lực (áp dụng).
|
Đang cập nhật |
|
Áp dụng:
Ngày áp dụng là ngày, tháng, năm văn bản chính thức có hiệu lực (áp dụng).
|
Đã biết
|
Tình trạng hiệu lực:
Cho biết trạng thái hiệu lực của văn bản đang tra cứu: Chưa áp dụng, Còn hiệu lực, Hết hiệu lực, Hết hiệu lực 1 phần; Đã sửa đổi, Đính chính hay Không còn phù hợp,...
|
Đã biết
|
| Lĩnh vực: | An ninh trật tự | ||
TÓM TẮT CHỈ THỊ 34/CT-TTG
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
| THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ Số: 34/CT-TTg | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Hà Nội, ngày 11 tháng 9 năm 2026 |
CHỈ THỊ
Về tăng cường công tác phòng, chống rửa tiền,
chống tài trợ khủng bố, tài trợ phổ biến
vũ khí hủy diệt hàng loạt
_____________
Tháng 6 năm 2023, Lực lượng Đặc nhiệm tài chính (FATF) đưa Việt Nam vào Danh sách các quốc gia giám sát tăng cường (còn gọi là Danh sách Xám) về phòng, chống rửa tiền, chống tài trợ khủng bố, tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt (PCRT/TTKB/TTPBVKHDHL). Thực hiện cam kết với FATF, ngày 23 tháng 02 năm 2024, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 194/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch hành động quốc gia (KHHĐQG) giải quyết những thiếu hụt chiến lược trong cơ chế PCRT/TTKB/TTPBVKHDHL của Việt Nam, được thay thế bởi Quyết định số 1139/QĐ-TTg ngày 26 tháng 6 năm 2026 của Thủ tướng Chính phủ (Quyết định số 1139/QĐ-TTg).
Để đảm bảo thời hạn thực hiện cam kết của Chính phủ Việt Nam với FATF, Thủ tướng Chính phủ chỉ thị các Bộ, ngành, địa phương theo thẩm quyền và chức năng, nhiệm vụ được giao thực hiện các nhiệm vụ sau:
I. Yêu cầu chung đối với các Bộ, ngành:
1. Chủ động, khẩn trương, quyết liệt, ưu tiên nguồn lực để triển khai theo thẩm quyền các Hành động, nhiệm vụ đã được Thủ tướng Chính phủ phân công tại KHHĐQG ban hành kèm theo Quyết định số 1139/QĐ-TTg ngày 26 tháng 6 năm 2026 (thay thế Quyết định số 194/QĐ-TTg ngày 23 tháng 02 năm 2024).
2. Bám sát các mục tiêu, chỉ tiêu mà Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo phòng, chống rửa tiền (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam) đã xác định tại Báo cáo tình hình thực hiện KHHĐQG (Báo cáo đính kèm).
3. Kịp thời đề xuất, báo cáo Thủ tướng Chính phủ về những vướng mắc vượt thẩm quyền.
II. Về các nhiệm vụ cấp bách:
Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố và cơ quan liên quan chỉ đạo ưu tiên, tập trung xử lý dứt điểm các nhiệm vụ cụ thể sau:
1. Trước ngày 20 tháng 10 năm 2026 (thời điểm FATF tổ chức cuộc họp toàn thể để ra các quyết định về các biện pháp áp dụng đối với các quốc gia, bao gồm Việt Nam):
a) Bộ Công an tham mưu, trình cấp thẩm quyền ban hành Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung, trong đó sửa quy định về Tội rửa tiền đáp ứng yêu cầu của FATF (Hành động 12, Quyết định số 1139/QĐ-TTg).
b) Bộ Xây dựng tham mưu, trình Chính phủ ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định về xử phạt trong lĩnh vực bất động sản, trong đó bổ sung nội dung xử phạt vi phạm về PCRT/TTKB/TTPBVKHDHL (Hành động 5 và Hành động 15, Quyết định số 1139/QĐ-TTg).
c) Bộ Tài chính tham mưu, trình Chính phủ ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 137/2021/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh đặt cược và trò chơi có thưởng, trong đó bổ sung quy định xử phạt vi phạm về PCRT/TTKB/TTPBVKHDHL (Hành động 5 và Hành động 15, Quyết định số 1139/QĐ-TTg).
d) Bộ Ngoại giao tham mưu, trình Chính phủ ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 58/2022/NĐ-CP về đăng ký và quản lý hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam, trong đó bổ sung quy định về các nghĩa vụ kê khai, thu thập thông tin chủ sở hữu hưởng lợi của pháp nhân phi thương mại đối với các đối tượng thuộc quản lý của Bộ Ngoại giao; thống nhất nội dung với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam để trao đổi dự thảo với FATF trong tháng 9 năm 2026 (Hành động 8, Quyết định số 1139/QĐ-TTg).
đ) Bộ Nội vụ tham mưu, trình cấp có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật bổ sung quy định về các nghĩa vụ kê khai, thu thập thông tin về chủ sở hữu hưởng lợi của pháp nhân phi thương mại đối với các đối tượng thuộc quản lý Bộ Nội vụ (Hành động 8, Quyết định số 1139/QĐ-TTg).
2. Đẩy nhanh tiến độ triển khai các hành động về thanh tra, kiểm tra, giám sát về PCRT/TTKB/TTPBVKHDHL:
a) Trong tháng 10 năm 2026, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chỉ đạo xây dựng và ban hành quy định về giám sát trên cơ sở rủi ro về rửa tiền, tài trợ khủng bố trong lĩnh vực ngân hàng và tiếp tục tăng cường các cuộc thanh tra, kiểm tra dựa trên kết quả giám sát trên cơ sở rủi ro trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng.
b) Các Bộ: Tài chính, Tư pháp, Công thương, Xây dựng khẩn trương thực hiện Hành động 4, Quyết định số 1139/QĐ-TTg:
- Trong tháng 9 năm 2026, cung cấp đầy đủ cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam theo quy định thông tin về khuôn khổ quy định, cơ cấu tổ chức, nhân sự cho công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát về PCRT/TTKB/TTPBVKHDHL theo quy định của các Bộ và kế hoạch thanh tra, kiểm tra, giám sát giai đoạn hết năm 2026, trong đó đảm bảo các cuộc thanh tra, kiểm tra bao gồm nội dung về PCRT/TTKB/TTPBVKHDHL.
- Trước tháng 02 năm 2027, gửi Báo cáo cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về kế hoạch xây dựng khung giám sát PCRT/TTKB dựa trên rủi ro đối với các lĩnh vực thuộc thẩm quyền quản lý để đảm bảo ban hành khung giám sát PCRT/TTKB/TTPBVKHDHL.
- Thực hiện tối thiểu 03-05 đoàn thanh tra, kiểm tra có nội dung về nghĩa vụ PCRT/TTKB/TTPBVKHDHL/01 kỳ báo cáo đối với tổ chức thuộc lĩnh vực có rủi ro rửa tiền Cao/Trung bình cao, không bao gồm các cuộc thanh tra, kiểm tra do các Sở tại các tỉnh, thành phố thực hiện.
- Thực hiện tối thiểu 01-03 đoàn thanh tra, kiểm tra có nội dung về nghĩa vụ PCRT/TTKB/TTPBVKHDHL hoặc có lồng ghép nội dung kiểm tra việc thực hiện nghĩa vụ PCRT/TTKB/TTPBVKHDHL/01 kỳ báo cáo đối với tổ chức thuộc lĩnh vực có rủi ro rửa tiền Trung bình/Trung bình thấp/Thấp, không bao gồm các cuộc thanh tra, kiểm tra do các Sở tại các tỉnh, thành phố thực hiện.
- Qua công tác kiểm tra, trường hợp cần thanh tra làm rõ dấu hiệu vi phạm pháp luật, cơ quan nhà nước yêu cầu hoặc đề nghị cơ quan thanh tra có thẩm quyền tiến hành thanh tra.
c) Thanh tra Chính phủ chỉ đạo tổ chức 01 -03 đoàn thanh tra có nội dung PCRT/TTKB/TTPBVKHDHL/01 kỳ báo cáo, không bao gồm các cuộc thanh tra do Thanh tra các tỉnh, thành phố thực hiện (Hành động 4 và Hành động 16, Quyết định số 1139/QĐ-TTg).
d) Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố chỉ đạo các Sở: Tài chính, Tư pháp, Công thương, Xây dựng, Thanh tra tỉnh, thành phố thực hiện tối thiểu 01-03 đoàn thanh tra, kiểm tra về nội dung PCRT/TTKB/TTPBVKHDHL/lĩnh vực/01 kỳ báo cáo; định kỳ gửi thông tin, tài liệu về tình hình thực hiện các đoàn thanh, kiểm tra cho bộ chủ quản để tổng hợp theo đúng chu kỳ báo cáo FATF (Hành động 4 và Hành động 16, Quyết định số 1139/QĐ-TTg).
3. Đẩy nhanh tiến độ triển khai hành động về tài sản ảo: Trong tháng 9 năm 2026, Bộ Tài chính báo cáo Chính phủ về kế hoạch đưa thị trường thí điểm tài sản mã hóa đi vào hoạt động và đảm bảo các cơ chế quản lý, giám sát, phòng ngừa rủi ro (Hành động 6, Quyết định số 1139/QĐ-TTg).
4. Tăng cường các hoạt động nhằm phát hiện, điều tra, truy tố tội rửa tiền và tài trợ khủng bố:
a) Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chỉ đạo thực hiện các giải pháp nhằm gia tăng số lượng, chất lượng báo cáo giao dịch đáng ngờ được xử lý, phân tích, chuyển giao cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phù hợp với kết quả đánh giá rủi ro quốc gia (Hành động 10, Quyết định số 1139/QĐ-TTg).
b) Đề nghị Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an chỉ đạo thực hiện các biện pháp nghiệp vụ để gia tăng số vụ khởi tố điều tra, truy tố tội rửa tiền đạt tối thiểu 20 vụ việc trong Báo cáo tiến triển kỳ 9 và đảm bảo sự gia tăng bền vững qua các kỳ báo cáo tiếp theo, phù hợp với kết quả đánh giá rủi ro quốc gia (Hành động 13, Quyết định số 1139/QĐ-TTg).
c) Đề nghị Viện kiểm sát nhân dân tối cao chỉ đạo tăng cường chủ động trong hợp tác quốc tế về PCRT/TTKB, trong đó tập trung vào nội dung tương trợ tư pháp và thu hồi tài sản (Hành động 3, Quyết định số 1139/QĐ-TTg).
5. Tăng cường hoạt động tuyên truyền, hướng dẫn:
a) Các Bộ: Xây dựng, Công thương chỉ đạo tổ chức tối thiểu 03 hội thảo và có 05 văn bản hướng dẫn cho khu vực tư nhân về nghĩa vụ PCRT/TTKB/TTPBVKHDHL/01 kỳ báo cáo; trong tháng 9 năm 2026, đảm bảo tiếp cận, hướng dẫn nghĩa vụ đối với 100% đối tượng thuộc lĩnh vực quản lý, không bao gồm các hoạt động tuyên truyền, hướng dẫn do các Sở tại các tỉnh, thành phố thực hiện (Hành động 7 và Hành động 16, Quyết định số 1139/QĐ-TTg).
b) Các Bộ: Tài chính, Tư pháp, Ngoại giao, Nội vụ; Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chỉ đạo tổ chức 02 hội thảo và có 03 văn bản hướng dẫn cho khu vực tư nhân về nghĩa vụ PCRT/TTKB/TTPBVKHDHL/lĩnh vực/01 kỳ báo cáo; trong tháng 11 năm 2026, đảm bảo tiếp cận, hướng dẫn nghĩa vụ đối với 100% đối tượng thuộc lĩnh vực quản lý, không bao gồm các hoạt động tuyên truyền, hướng dẫn do các Sở tại các tỉnh, thành phố thực hiện (Hành động 7 và Hành động 16, Quyết định số 1139/QĐ-TTg).
c) Bộ Quốc phòng chỉ đạo việc triển khai 03-05 hoạt động phối hợp với các bộ, ngành trong ngăn chặn hoạt động trốn tránh các biện pháp trừng phạt tài chính mục tiêu liên quan đến phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt/01 kỳ báo cáo (Hành động 17, Quyết định số 1139/QĐ-TTg).
d) Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố chỉ đạo các Sở: Xây dựng, Công thương, Tài chính, Tư pháp, Ngoại vụ, Nội vụ, Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh tổ chức từ 01 đến 02 hoạt động tuyên truyền, phổ biến cho khu vực tư nhân về nghĩa vụ PCRT/TTKB/TTPBVKHDHL/01 kỳ báo cáo; trong tháng 9 năm 2026, đảm bảo tiếp cận, hướng dẫn nghĩa vụ đối với 100% đối tượng thuộc lĩnh vực quản lý; định kỳ gửi thông tin, tài liệu, hình ảnh (nếu có) cho các Bộ, ngành chủ quản để minh chứng về tình hình thực hiện các hoạt động tuyên truyền, hướng dẫn (Hành động 7, Hành động 16, Quyết định số 1139/QĐ-TTg).
III. Tổ chức thực hiện:
1. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan liên quan:
a) Hướng dẫn các sở, thanh tra tỉnh, thành phố và các đơn vị liên quan thực hiện các Hành động, nhiệm vụ đã được phân công.
b) Thu thập thông tin, số liệu, tài liệu và hình ảnh chứng minh (nếu có) về việc thực hiện Hành động của các Sở, thanh tra tỉnh, thành phố và các đơn vị liên quan để gửi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tổng hợp.
2. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố chỉ đạo các Sở, thanh tra tỉnh, thành phố phối hợp chặt chẽ, thực hiện nghiêm túc các hướng dẫn của các Bộ chủ quản theo lĩnh vực; gửi thông tin, số liệu, tài liệu và chứng minh (nếu có), việc thực hiện hành động theo yêu cầu Bộ chủ quản để tổng hợp, báo cáo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
3. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, cơ quan liên quan hướng dẫn, đôn đốc triển khai thực hiện Chỉ thị này và các nhiệm vụ do Thủ tướng Chính phủ giao, tổng hợp thông tin, số liệu, tài liệu, báo cáo cơ quan thẩm quyền theo quy định./.
| Nơi nhận: - Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ; - Các Bộ, cơ quan ngang Bộ; - UBND tỉnh, thành phố; - Văn phòng Trung ương Đảng; - Văn phòng Tổng Bí thư; - Văn phòng Chủ tịch nước; - Văn phòng Quốc hội; - Tòa án nhân dân tối cao; - Viện kiểm sát nhân dân tối cao; - VPCP: BTCN, các PCN, Trợ lý TTg, các Vụ, Cục; - Lưu: VT, KTTH (2) M. Cường | KT. THỦ TƯỚNG PHÓ THỦ TƯỚNG |
NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
TÀI LIỆU HỌP BAN CHỈ ĐẠO PHÒNG, CHỐNG RỬA TIỀN
Tháng 08/2026
MỤC LỤC
1. Kết quả tổng thể thực hiện KHHĐQG
1.1. Quy trình rà soát của FATF
1.2. Kết quả đến kỳ PR7
1.3. Đánh giá về kết quả của kỳ PR7
2. Một số đề xuất chung nhằm cải thiện kết quả thực hiện KHHĐ
2.1. Các hành động liên quan đến hoàn thiện khuôn khổ pháp lý
2.2. Các hành động cần chứng minh bằng kết quả có thể lượng hóa
2.3. Các hành động FATF đòi hỏi Việt Nam ưu tiên xử lý
2.4. Nội dung khác
3. Kết quả và nhiệm vụ cần tiếp tục thực hiện theo từng bộ, ngành
3.1. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
3.2. Bộ Công an
3.3. Bộ Tài chính
3.4. Bộ Quốc phòng
3.5. Viện Kiểm sát nhân dân tối cao
3.6. Bộ Xây dựng
3.7. Bộ Công thương
3.8. Bộ Tư pháp
3.9. Bộ Ngoại giao
3.10. Bộ Nội vụ
3.11. Các bộ, ngành khác
1. Kết quả tổng thể thực hiện KHHĐQG
1.1. Quy trình rà soát của FATF
Tháng 6/2023, Lực lượng Đặc nhiệm Tài chính (FATF) đưa Việt Nam vào Danh sách giám sát tăng cường về phòng, chống rửa tiền, tài trợ khủng bố, tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt (PCRT/TTKB/TTPBVKHDHL) (còn gọi là Danh sách Xám) và yêu cầu Việt Nam cam kết thực hiện Kế hoạch hành động do FATF chỉ định gồm 17 hành động trong thời hạn 02 năm. Tháng 6/2023, được sự ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Thống đốc NHNN đã ký thư cam kết gửi FATF về thực hiện Kế hoạch hành động do FATF chỉ định. Ngày 23/02/2024, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 194/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện cam kết của Chính phủ Việt Nam về PCRT/TTKB/TTPBVKHDHL (KHHĐQG) (đã được thay thế bởi Quyết định số 1139/QĐ-TTg ngày 26 tháng 6 năm 2026 của Thủ tướng Chính phủ), theo đó cụ thể hóa nội dung các hành động, cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp, thời hạn hoàn thành.
Đến tháng 5/2025, thời hạn thực hiện các hành động trong KHHĐQG cam kết với FATF đã kết thúc. Do phần lớn các hành động chưa đạt được tiến triển cần thiết, FATF tiếp tục duy trì Việt Nam trong Danh sách Xám, theo đó Việt Nam phải tiếp tục triển khai KHHĐQG và thực hiện quy trình báo cáo tiến triển với Nhóm đánh giá của FATF như thời gian trước đây. Theo đánh giá không chính thức của FATF, với tiến độ thực hiện trong 02 năm đầu, Việt Nam sẽ cần thêm ít nhất từ 01 đến 02 năm kể từ ngày KHHĐ hết hạn để hoàn thành cam kết.
Theo quy trình rà soát, Việt Nam cần xây dựng và gửi FATF báo cáo đánh giá kết quả thực hiện các hành động của quốc gia theo chu kỳ 04 tháng/kỳ (kỳ PR) và FATF sẽ tiến hành đánh giá kết quả theo 04 mức tiến triển:
Hoàn thành toàn bộ, Hoàn thành phần lớn, Hoàn thành một phần, và Chưa hoàn thành. Các hành động phải đạt mức đánh giá Hoàn thành toàn bộ hoặc Hoàn thành phần lớn mới được coi là đã hoàn thành.
1.2. Kết quả đến kỳ PR7
Kết thúc PR7 (tháng 5/2026), tiến triển thực hiện KHHĐQG của Việt Nam như sau:
- 03 Hành động đã Hoàn thành hoặc Hoàn thành phần lớn, không cần tiếp tục báo cáo;
- 13 Hành động Hoàn thành một phần, cần tiếp tục xử lý; và
- 01 Hành động Chưa có tiến triển, cần khẩn trương giải quyết.
Kết quả cụ thể tính đến các mốc tháng tháng 01/2026 và tháng 05/2026, như sau:
| Kết quả | Đến kỳ PR6 - tháng 01/2026 | Đến kỳ PR7 - tháng 05/2026 |
| Hoàn thành toàn bộ (không tiếp tục phải báo cáo) | 01/17 hành động Hành động 9 về sự độc lập và tự chủ của Cục Phòng, chống rửa tiền do NHNN chủ trì thực hiện.1 | 01/17 hành động (Không thay đổi) |
| Hoàn thành phần lớn (không tiếp tục phải báo cáo) | 02/17 hành động: - Hành động 14 về Giải quyết các thiếu hụt về hình phạt tài chính mục tiêu liên quan đến KB/TTKB do Bộ Công an chủ trì thực hiện. - Hành động 2 về Hợp tác, phối hợp trong PCRT/TTKB do NHNN, Bộ Công an chủ trì và các bộ, ngành phối hợp thực hiện. | 02/17 hành động (Không thay đổi) |
| Hoàn thành một phần | 11/17 hành động, gồm: - Hành động 1 về Rủi ro, chính sách, phối hợp do NHNN, Bộ Công an và các bộ, ngành phối hợp thực hiện; - Hành động 3 về Hợp tác quốc tế do Bộ Công an, Viện KSNDTC, NHNN đồng chủ trì; - Hành động 4 về Thanh tra, kiểm tra, giám sát trên cơ sở rủi ro do NHNN, Bộ Tài chính và các bộ, ngành đồng chủ trì; - Hành động 6 về Tài sản ảo do Bộ Tài chính chủ trì. - Hành động 7 về Tiếp cận và hướng dẫn cho khu vực tư nhân do các bộ, ngành phối hợp thực hiện; - Hành động 8 về Chủ sở hữu hưởng lợi do Bộ Tài chính chủ trì; - Hành động 10 về Tăng cường hoạt động của Cục PCRT do NHNN chủ trì; - Hành động 11 về Tăng cường sử dụng thông tin tình báo tài chính do Bộ Công an chủ trì; - Hành động 12 về Tội rửa tiền do Bộ Tư pháp chủ trì; - Hành động 13 về Điều tra và truy tố tội RT do Bộ Công an và Viện KSNDTC chủ trì; - Hành động 17 về TTPBVKHDHL do Bộ Quốc phòng chủ trì. | 13/17 hành động, gồm: - Hành động 1, 3, 4, 6, 7, 8, 10,11,12,13 và 17 (tiến triển từ kỳ Báo cáo trước); - Hành động 5 về Yêu cầu về giám sát và các biện pháp phòng ngừa do NHNN và các bộ, ngành đồng chủ trì (tiến triển tại kỳ PR7). - Hành động 15 về Giải quyết các thiếu hụt về tuân thủ kĩ thuật liên quan đến Khuyến nghị 7 của FATF về Hình phạt tài chính mục tiêu liên quan đến PBVKHDHL do Bộ Quốc phòng chủ trì (tiến triển tại kỳ PR7). |
| Chưa có tiến triển | 04/17 hành động: - Hành động 4 về Thanh tra, kiểm tra, giám sát trên cơ sở rủi ro do NHNN, Bộ Tài chính và các bộ, ngành đồng chủ trì; - Hành động 5 về Yêu cầu về giám sát và các biện pháp phòng ngừa do NHNN và các bộ, ngành đồng chủ trì; - Hành động 15 về Giải quyết các thiếu hụt về tuân thủ kĩ thuật liên quan đến Khuyến nghị 7 của FATF về Hình phạt tài chính mục tiêu liên quan đến PBVKHDHL do Bộ Quốc phòng chủ trì; - Hành động 16 về Cơ chế giám sát liên quan đến TTPBVKHDHL do Bộ Quốc phòng chủ trì. | 01/17 hành động, gồm: - Hành động 16 về Cơ chế giám sát liên quan đến TTPBVKHDHL do Bộ Quốc phòng và các bộ, ngành đồng chủ trì. |
Như vậy đến tháng 5/2026, Việt Nam còn 14/17 hành động cần phải tiếp tục thực hiện, bao gồm: 13 hành động hoàn thành một phần và 01 hành động chưa có tiến triển (Bảng theo dõi tiến triển qua các kỳ Báo cáo đính kèm).
1.3. Đánh giá về kết quả của kỳ PR7
Qua theo dõi, tổng hợp, NHNN có các nhận xét về tiến triển của Việt Nam trong triển khai Kế hoạch hành động quốc gia tại kỳ PR7 cụ thể như sau:
(i) So với 03 kỳ Báo cáo trước (PR4, PR5 và PR6), kỳ Báo cáo PR7 có số hành động được nâng hạng ít hơn (số hành động được nâng hạng trong kỳ PR4, PR5, PR6 và PR7 lần lượt là 5, 5, 3, 2). Bên cạnh đó, tại kỳ PR7, không có hành động nào được ghi nhận Hoàn thành/Hoàn thành phần lớn. Như vậy, xét về số lượng và chất lượng hành động được nâng hạng, tiến triển của Việt Nam đang chậm lại so với thời gian trước đây. Đây là nội dung FATF/JG bày tỏ quan ngại đặc biệt thời gian qua trong bối cảnh KHHĐ đã hết thời hạn cam kết.
(ii) Tiến triển hạn chế này phản ánh đúng thực tế triển khai KHHĐ thời gian qua. Dù có nhiều nỗ lực, việc thực hiện KHHĐ của Việt Nam nhìn chung chậm, tiến triển và kết quả không rõ ràng, không đồng đều trong khi yêu cầu của FATF ngày càng khắt khe. Như đã nhiều lần báo cáo Ban Chỉ đạo, việc đạt được tiến triển cao nhất (Hoàn thành hoặc Hoàn thành Phần lớn, gọi tắt là Hoàn thành) cho các hành động đã được đánh giá Hoàn thành một phần từ các kỳ trước là không đơn giản do đây là mức yêu cầu cao theo các chuẩn mực của FATF. Cụ thể, FATF đánh giá tiến triển của hầu hết các hành động thông qua 02 tiêu chí, bao gồm mức độ đáp ứng yêu cầu tuân thủ kĩ thuật (quy định của văn bản pháp luật của Việt Nam phù hợp với chuẩn mực quốc tế) và hiệu quả triển khai quy định pháp luật đó trên thực tế. Hay nói cách khác, để được FATF ghi nhận Hoàn thành, hành động đó phải trải qua quy trình 03 bước đánh giá, gồm: (i) Ban hành khuôn khổ pháp lý đáp ứng chuẩn mực của FATF; (ii) Khuôn khổ pháp lý được ban hành có hiệu lực và hiệu quả rõ ràng và bền vững trên thực tế; và (iii) Kết quả triển khai theo khuôn khổ pháp lý mới phù hợp với Kết quả đánh giá rủi ro của Việt Nam và xu hướng rủi ro mới phát sinh đối với Việt Nam hoặc có liên quan đến Việt Nam2.
Ngoài ra, nhiều hành động trong Kế hoạch hành động quốc gia đòi hỏi sự phối hợp, đồng chủ trì và nỗ lực đồng đều của các bộ, ngành. Tuy nhiên, đến nay một số bộ, ngành vẫn không có kế hoạch triển khai hành động một cách bài bản, có chiến lược hay sự ưu tiên. Kết quả là, nhiều hành động dù đã đạt được mức Hoàn thành một phần từ sớm (PR3, PR4), tức là đã có một thời gian dài tích lũy kết quả nhưng đến kỳ PR7 vẫn chưa được FATF nâng mức xếp hạng để được ghi nhận Hoàn thành phần lớn hoặc Hoàn thành.
(iii) Kĩ thuật lập pháp và vận hành hệ thống pháp luật của Việt Nam có nhiều điểm khác biệt so với nhiều quốc gia khác nói chung và chuẩn mực của FATF nói riêng. FATF và đánh giá viên thường yêu cầu kĩ thuật lập pháp trực diện, rõ ràng về thẩm quyền ban hành, hạn chế tham chiếu và văn bản pháp luật cần phản ánh đầy đủ các chuẩn mực của FATF. Nếu văn bản pháp luật không phản ánh đầy đủ hoặc chỉ phản ánh một phần chuẩn mực của FATF, Việt Nam sẽ mất rất nhiều thời gian giải thích, thu thập bằng chứng để chứng minh, thuyết phục FATF về tính hợp pháp, hợp lý và khả năng đáp ứng chuẩn mực FATF của các quy định đó xét bối cảnh của quốc gia3. Trên thực tế, đến nay, Việt Nam vẫn phải tiếp tục giải thích, chứng minh về khả năng đáp ứng của một số văn bản pháp luật đã được ban hành nhưng theo đánh giá của FATF là chưa hoàn toàn đáp ứng yêu cầu, chuẩn mực của FATF. Ví dụ như một số quy định trong lĩnh vực PCPBVKHDHL, quy định về một số biện pháp phòng ngừa hay quy định về khái niệm Tài sản mã hoá.
(iv) Đối với phần lớn các hành động, FATF yêu cầu Việt Nam chứng minh bằng các vụ việc điển hình và qua số liệu cụ thể, tăng bền vững qua kỳ báo cáo và phù hợp với kết quả đánh giá rủi ro (tức là kết quả phải cao hơn trong các lĩnh vực được đánh giá có rủi ro cao hơn theo kết quả Đánh giá rủi ro quốc gia - NRA). Điều này đòi hỏi sự chủ động lên kế hoạch, triển khai có chiến lược và rà soát, thống kê báo cáo đầy đủ, có hệ thống. Trong khi đó, một số bộ, ngành vẫn chủ yếu báo cáo tiến triển thông qua mô tả hoạt động, không dựa trên số liệu, không tính đến nội dung báo cáo có phù hợp với yêu cầu của FATF hay không dù cơ quan chủ trì đã đề xuất kế hoạch và có hướng dẫn cụ thể.
2. Một số đề xuất chung nhằm cải thiện kết quả thực hiện KHHĐ
Trong kỳ Báo cáo PR5, PR6, NHNN đã báo cáo Ban Chỉ đạo PCRT về các kết quả và nguyên nhân dẫn tới kết quả hạn chế và đề xuất giải pháp khắc phục trong thực hiện KHHĐQG, trong đó nhấn mạnh các vấn đề như: yêu cầu của FATF phức tạp, phạm vi thực hiện rộng; về phía Việt Nam, nguồn lực cho công tác này còn hạn chế; cách thức triển khai các hành động và thu thập, trình bày số liệu chưa đáp ứng yêu cầu. Thời gian vừa qua, NHNN với vai trò cơ quan đầu mối đã chủ động phối hợp với các bộ ngành liên quan nỗ lực bám sát chỉ đạo của Ban Chỉ đạo để xử lý các khó khăn vướng mắc, và đã tiếp tục đạt được một số tiến triển được FATF ghi nhận.
Tuy nhiên, do tiến triển đạt được vẫn còn hạn chế trong khi KHHĐQG đã hết hạn, Việt Nam sẽ phải đồng thời triển khai có kết quả rõ rệt với tất cả các hành động trong KHHĐQG. Để tăng cường hiệu quả trong bối cảnh nguồn lực có hạn, NHNN đề xuất việc xử lý có hệ thống với lộ trình và mục tiêu/kết quả cụ thể cho các Hành động thông qua việc phân nhóm các Hành động như sau: (i) Các hành động có liên quan đến yêu cầu hoàn thiện khuôn khổ pháp lý và các vấn đề mang tính trọng yếu theo các Khuyến nghị cốt lõi của FATF; (ii) Các hành động cần chứng minh bằng các kết quả có thể lượng hóa; và (iii) Các hành động FATF yêu cầu Việt Nam ưu tiên xử lý. Cụ thể, NHNN đề xuất các hành động cần xuất ưu tiên trong kỳ PR7, PR8 như sau:
2.1. Các hành động liên quan đến hoàn thiện khuôn khổ pháp lý
a. Hành động 12 về Giải quyết các thiếu hụt về tuân thủ kĩ thuật trong quy định về Tội rửa tiền của Việt Nam so với Khuyến nghị số 3 về Tội rửa tiền thuộc bộ chuẩn mực của FATF (Hoàn thành một phần).
Trong kỳ Báo cáo PR6, PR7, FATF đã nhấn mạnh việc giải quyết các thiếu hụt theo Khuyến nghị 3 là nội dung cốt lõi4 trong việc thực thi các tiêu chuẩn quốc tế về PCRT, và lộ trình hiện tại của Việt Nam chưa phản ánh mức độ ưu tiên cần thiết. Tiến triển hạn chế cho đến nay cho thấy sự thiếu khẩn trương trong việc thúc đẩy cải cách này. Do đó, FATF thúc giục Việt Nam dành ưu tiên hàng đầu cho việc đẩy nhanh việc sửa đổi Bộ luật Hình sự. Vấn đề này đã được NHNN báo cáo Ban Chỉ đạo tại cuộc họp ban Chỉ đạo vào ngày 24/03/2026 và Phó Thủ tướng Chính phủ - Trưởng Ban Chỉ đạo PCRT đã có ý kiến chỉ đạo Bộ Công an chủ trì nghiên cứu, xử lý, hoàn thành trong năm 2026, đảm bảo lợi ích quốc gia, phù hợp với khuyến nghị của FATF, cam kết quốc tế tại Thông báo kết luận số 161/TB-VPCP ngày 31/03/2026.
Tại Báo cáo Rà soát các quốc gia trong Danh sách Đen và Xám của FATF vào tháng 6/2026, FATF nêu “FATF quan ngại sâu sắc về sự chậm trễ kéo dài trong việc sửa đổi quy định về Tội rửa tiền trong Bộ luật Hình sự mà Việt Nam dự kiến hoàn thành vào cuối năm 2027, gần ba năm sau khi Hành động hết hạn. Khắc phục những thiếu sót theo Khuyến nghị 3 là một phần cốt lõi trong việc thực hiện các tiêu chuẩn quốc tế về PCRT, và tiến độ hiện tại không phản ánh mức độ ưu tiên cần thiết. Tiến triển hạn chế cho thấy sự thiếu cấp bách trong thực hiện. Do đó, FATF kêu gọi mạnh mẽ Việt Nam ưu tiên đẩy nhanh việc sửa đổi Bộ luật Hình sự”.
Ngoài ra, tại Hội nghị toàn thể FATF, đại diện Hoa Kỳ cho rằng trong 03 năm qua, mặc dù Việt Nam đã có một số tiến triển nhất định nhưng tiến triển căn bản nhất mà Việt Nam cần đạt được là hoàn thành sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự vẫn chưa được xử lý. Hoa Kỳ nhấn mạnh FATF sẽ thảo luận một cách cứng rắn về khả năng đưa Việt Nam vào Danh sách Đen ở kỳ họp toàn thể FATF sắp tới vào tháng 10/2026 nếu yêu cầu này không được xử lý thỏa đáng.
Hiện nay, theo thông tin do Bộ Công an cung cấp, Dự án Bộ luật Hình sự (sửa đổi) dự kiến sẽ được trình Quốc hội xem xét, cho ý kiến tại Kỳ họp chuyên đề về pháp luật (tháng 8/2026) và trình Quốc hội thông qua tại Kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa XVI vào tháng 10/2026 (thay vì tháng 10/2027 theo Quyết định 2321/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 20/10/2025). Như vậy tiến độ sửa luật có thể đáp ứng yêu cầu của FATF. Tuy nhiên, để đảm bảo nội dung sửa đổi đáp ứng Khuyến nghị của FATF, Bộ Công an cần rà soát, nghiên cứu và dự thảo các quy định đảm bảo đáp ứng các yêu cầu kĩ thuật của FATF, đồng thời có đề xuất cụ thể để Bộ luật Hình sự (sửa đổi) có hiệu lực trong thời gian sớm nhất để đảm bảo các yêu cầu của FATF/JG.
b. Hành động 5 về Giải quyết những thiếu hụt liên quan đến khuôn khổ pháp lý của Việt Nam về các quy định và yêu cầu giám sát FI, DNFBP về PCRT/TTKB và các biện pháp phòng ngừa, đặc biệt là đối với các Khuyến nghị 10, 11, 12, 16, 20 của FATF (Hoàn thành một phần)
- Đối với các biện pháp phòng ngừa theo các Khuyến nghị 10, 11, 12, 16, 20 thuộc bộ chuẩn mực của FATF
Hiện NHNN đang hoàn thiện các bước cuối cùng trong quá trình sửa đổi, bổ sung Luật PCRT năm 2022. Theo kế hoạch, Luật sửa đổi, bổ sung Luật NHNN, Luật PCRT và Luật các TCTD sẽ được thảo luận và thông qua tại kỳ họp không thường lệ của Quốc hội vào tháng 8/2026. Các văn bản hướng dẫn thi hành Luật sửa đổi, bổ sung Luật PCRT (Nghị định và Thông tư) cũng sẽ được sửa đổi và thông qua trong năm 2026 và dự kiến có hiệu lực vào tháng 01/12/2026.
Trong quá trình xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung Luật PCRT, NHNN đã nghiên cứu Khuyến nghị của FATF, kinh nghiệm quốc tế và xin ý kiến tư vấn của quốc tế nhằm đáp ứng tốt nhất yêu cầu của FATF. Mức độ đáp ứng các yêu cầu của FATF dự kiến sẽ được đánh giá tại Báo cáo PR8 cập nhật gửi FATF vào cuối tháng 8, đầu tháng 9/2026.
- Đối với các quy định và yêu cầu giám sát FI, DNFBP về PCRT/TTKB, hầu hết các bộ, ngành đã hoàn tất việc ban hành các văn bản sửa đổi, bổ sung các quy định xử phạt vi phạm hành chính liên quan đến PCRT/TTKB/TTPBVKHDHL. Hai (02) lĩnh vực còn lại cần ban hành văn bản sửa đổi, bổ sung các quy định xử phạt vi phạm hành chính liên quan đến PCRT/TTKB/TTPBVKHDHL là:
+ Lĩnh vực trò chơi có thưởng, đặt cược và casino, Bộ Tài chính xem xét trình Chính phủ ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 137/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh đặt cược và trò chơi có thưởng.
+ Lĩnh vực bất động sản, Bộ Xây dựng xem xét trình Chính phủ ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung các quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bất động sản.
c. Hành động 15 về Giải quyết các thiếu hụt về tuân thủ kĩ thuật liên quan đến Khuyến nghị 7 của FATF về Hình phạt tài chính mục tiêu liên quan đến PBVKHDHL (Hoàn thành một phần)
Trong thời gian qua, Bộ Quốc phòng đã xây dựng dự thảo Luật Phòng, chống PBVKHDHL. Dự kiến, Quốc hội sẽ thảo luận và thông qua Luật Phòng, chống PBVKHDHL tại Kỳ họp không thường lệ vào tháng 8/2026. Song song với việc xây dựng Luật Phòng, chống PBVKHDHL, Bộ Quốc phòng đã làm đầu mối xây dựng Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Phòng, chống PBVKHDHL. Các nỗ lực này của Bộ Quốc phòng nhằm giải quyết các thiếu hụt về tuân thủ kĩ thuật liên quan đến Khuyến nghị 7 của FATF. Trong quá trình xây dựng Luật phòng, chống PBVKHDHL, NHNN đã nghiên cứu Khuyến nghị của FATF, kinh nghiệm quốc tế và xin ý kiến tư vấn của quốc tế nhằm đáp ứng tốt nhất yêu cầu của FATF. Mức độ đáp ứng các yêu cầu của FATF dự kiến sẽ được đánh giá tại Báo cáo PR8 cập nhật gửi FATF vào cuối tháng 8, đầu tháng 9/2026.
2.2. Các hành động cần chứng minh bằng kết quả có thể lượng hóa
Với nhóm Hành động này, trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm các nước và thực tế tiến độ triển khai của Việt Nam đến nay, NHNN đã xây dựng các mục tiêu cụ thể cho các Hành động liên quan (theo yêu cầu của Nhóm JG, số vụ việc của mỗi kỳ Báo cáo cần có cải thiện/tăng lên so với kỳ báo cáo trước đó). Đề nghị các bộ ngành cho ý kiến về các mục tiêu dự kiến cho các kỳ PR8 và các kỳ báo cáo tiếp theo, như sau:
a. Hành động 4 - Chứng minh hiệu quả của việc giám sát các FI và DNFBP về PCRT/TTKB trên cơ sở rủi ro thông qua các cuộc thanh tra, kiểm tra tại chỗ, giám sát từ xa và các biện pháp thực thi (do các bộ, ngành đồng chủ trì theo chức năng và lĩnh vực quản lý đối tượng báo cáo) (Hoàn thành một phần)
- Đối với lĩnh vực ngân hàng (Rủi ro rửa tiền Cao), NHNN cần: (i) Ban hành văn bản quy định và quy trình giám sát trên cơ sở rủi ro; (ii) Tăng nguồn lực cho hoạt động giám sát và thanh, kiểm tra; và (iii) Thực hiện 02-03 đoàn thanh, kiểm tra về nội dung PCRT/TTKB/kỳ báo cáo.
- Đối với lĩnh vực bất động sản (Rủi ro rửa tiền Cao), Bộ Xây dựng cần: (i) Khởi động xây dựng khung giám sát PCRT/TTKB dựa trên rủi ro trong kỳ PR7; (ii) Thực hiện 03-05 đoàn thanh, kiểm tra có nội dung PCRT/TTKB /kỳ báo cáo.
- Đối với lĩnh vực tài sản ảo (Rủi ro rửa tiền Trung bình Cao), lĩnh vực chứng khoán (Rủi ro rửa tiền Trung bình và có trọng số lớn trong nền kinh tế), lĩnh vực kinh doanh kim khí quý và đá quý (Rủi ro rửa tiền Trung bình), lĩnh vực casino (Rủi ro rửa tiền Trung bình), lĩnh vực luật sư công chứng (Rủi ro rửa tiền Trung bình thấp), lĩnh vực kế toán, kiểm toán (Rủi ro rửa tiền Trung bình thấp), Bộ Tài chính, Bộ Công thương, đối với mỗi lĩnh vực phụ trách cần: (i) Khởi động xây dựng khung giám sát PCRT/TTKB dựa trên rủi ro trong kỳ PR8; (ii) Thực hiện 01-03 đoàn thanh, kiểm tra có nội dung PCRT/TTKB /kỳ báo cáo/lĩnh vực.
-Đối với lĩnh vực luật sư công chứng (Rủi ro rửa tiền Trung bình thấp), lĩnh vực kế toán, kiểm toán (Rủi ro rửa tiền Trung bình thấp), Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp cần: (i) Khởi động xây dựng khung giám sát PCRT/TTKB dựa trên rủi ro trong kỳ PR8; (ii) Cân nhắc thực hiện 02-03 đoàn kiểm tra có nội dung PCRT/TTKB /kỳ báo cáo.
b. Hành động 11 - Cơ quan thực thi pháp luật, cụ thể là Bộ Công an chứng minh sự gia tăng trong việc sử dụng các thông tin tình báo tài chính, bao gồm các thông tin được chuyển giao từ Cục PCRT-NHNN (Hoàn thành một phần)
- Bộ Công an cần gia tăng số vụ việc xuất phát từ thông tin tình báo tài chính chuyển giao của Cục PCRT- NHNN: Tối thiểu 15 vụ việc/kỳ PR8 và đảm bảo các kỳ báo cáo sau vụ việc tăng hơn so với kỳ trước đó, phù hợp với kết quả NRA. Các vụ việc có thể đang ở các tình trạng xử lý khác nhau như khởi tố vụ án, chuyển các cơ quan quản lý xử phạt hành chính ...
- Cơ quan thuế, Bộ Tài chính cần gia tăng số vụ việc xuất phát từ thông tin tình báo tài chính chuyển giao của Cục PCRT- NHNN: 02-05 vụ việc/kỳ Báo cáo. Các vụ việc có thể đang ở các tình trạng xử lý khác nhau như xử phạt hành chính, chuyển giao cơ quan Công an...
- Cơ quan Hải quan, Bộ Tài chính cần gia tăng số vụ việc xuất phát từ thông tin tình báo tài chính chuyển giao của Cục PCRT- NHNN: 02-05 vụ việc/kỳ Báo cáo. Các vụ việc có thể đang ở các tình trạng xử lý khác nhau như xử phạt hành chính, chuyển giao cơ quan Công an...
c. Hành động 13 - Các cơ quan thực thi pháp luật và các cơ quan công tố ưu tiên các cuộc điều tra tài chính song song và chứng minh sự gia tăng đáng kể và bền vững về số lượng các vụ điều tra và truy tố rửa tiền, phù hợp với hồ sơ rủi ro rửa tiền của Việt Nam (do Bộ Công an và Viện KSNDTC chủ trì thực hiện) (Hoàn thành một phần)
- Bộ Công an cần gia tăng số vụ việc khởi tố điều tra Tội rửa tiền: Tối thiểu 25 vụ việc/kỳ PR8 và đảm bảo các kỳ báo cáo sau vụ việc tăng hơn so với kỳ trước đó, phù hợp với kết quả NRA.
- Viện KSNDTC cần gia tăng số vụ việc truy tố điều tra Tội rửa tiền: Tối thiểu 15 vụ việc/kỳ PR8 và đảm bảo các kỳ báo cáo sau vụ việc tăng hơn so với kỳ trước đó, phù hợp với kết quả NRA.
d. Hành động 16 về Cơ chế giám sát để đảm bảo các FI, DNFBP tuân thủ các nghĩa vụ trừng phạt tài chính mục tiêu liên quan đến PBVKHDHL (do Bộ Quốc phòng và các bộ, ngành chủ trì) (Chưa hoàn thành)
Bộ Quốc phòng cần đề xuất, phối hợp với các bộ, ngành lập kế hoạch và thực hiện các đoàn kiểm tra liên ngành, trong đó có nội dung về nghĩa vụ trừng phạt tài chính mục tiêu liên quan đến PBVKHDHL, cụ thể như sau:
- Đối với lĩnh vực ngân hàng, tài sản ảo, chứng khoán, casino, NHNN và Bộ Tài chính, mỗi cơ quan cần thực hiện 02 đoàn thanh, kiểm tra/kỳ báo cáo, trong đó có nội dung kiểm tra về tuân thủ các nghĩa vụ trừng phạt tài chính mục tiêu liên quan đến PBVKHDHL.
- Đối với lĩnh vực bất động sản, kinh doanh kim khí quý và đá quý, luật sư công chứng, kế toán, kiểm toán, Bộ Xây dựng, Bộ Công thương, Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính cần thực hiện 01 đoàn kiểm tra/kỳ báo cáo, trong đó có nội dung kiểm tra về tuân thủ các nghĩa vụ trừng phạt tài chính mục tiêu liên quan đến PBVKHDHL.
e. Hành động 3 - Hợp tác quốc tế
Viện KSNDTC cần khẩn trương tập trung xử lý để: (i) Giảm số lượng yêu cầu tương trợ tư pháp đi nhưng chưa có phản hồi của đối tác5; (ii) Tăng cường xử lý yêu cầu tương trợ tư pháp đến; (iii) Đẩy mạnh công tác khoanh, đóng băng, thu hồi tài sản liên quan đến tội phạm (Báo cáo của Việt Nam hiện nay gửi FATF có rất ít thông tin về thu hồi tài sản phạm tội xuyên biên giới, đặc biệt thu hồi tài sản thông qua tương trợ tư pháp); và (iv) Chủ động trong hoạt động hợp tác quốc tế. Với các hoạt động không thể có tiến triển trên thực tế vì lý do khách quan, Việt Nam cần chứng minh được nỗ lực hợp tác quốc tế của các cơ quan liên quan với các dẫn chứng cụ thể về công tác phối hợp, đôn đốc.
2.3. Các hành động FATF đòi hỏi Việt Nam ưu tiên xử lý
Bên cạnh các hành động mang tính chất cốt lõi tạo ra nền tảng cho một hệ thống PCRT/TTKB/TTPBVKHDHL vững chắc tại Mục 2.1 nêu trên, xét các rủi ro ngày một gia tăng trên quy mô toàn cầu của việc lợi dụng tài sản ảo để tiến hành các hoạt động phạm pháp, bao gồm tội phạm lừa đảo và rửa tiền, thời gian qua, FATF dành quan tâm đặc biệt đối với các tiến triển của Việt Nam trong thực hiện Hành động 6 về Xây dựng khung pháp lý về tài sản ảo.
Cụ thể, tại Hội nghị toàn thể của FATF vào tháng 06/2026 vừa qua, Phó Tổng Thư ký điều hành của Ban Thư ký Nhóm Châu Á - Thái Bình Dương về chống rửa tiền (APG)6 có ý kiến cho rằng tiến triển của Việt Nam trong xây dựng khung pháp lý để cấm hoặc điều chỉnh đối với tài sản ảo và các tổ chức cung ứng dịch vụ tài sản ảo, và trong chứng minh hiệu quả thực thi các quy định này là rất chậm. Theo cam kết của Việt Nam với FATF, hành động này bao gồm việc xây dựng khuôn khổ pháp lý và chứng minh hiệu quả thực thi. FATF đánh giá việc Việt Nam ban hành Nghị quyết 05/2005/NQ-CP về triển khai thí điểm tài sản mã hóa tại Việt Nam và các văn bản hướng dẫn liên quan chỉ là bước đầu trong triển khai và đáp ứng một phần của nội dung cam kết. Chỉ đến khi thị trường tài sản mã hóa đi vào hoạt động và Việt Nam chứng minh được việc thị trường được quản lý hiệu quả và góp phần kiểm soát rủi ro RT/TTKB trong lĩnh vực này thì FATF/JG mới ghi nhận tiến triển.
Do các yêu cầu cao của FATF trong lĩnh vực này, trong thời gian tới, Bộ Tài chính cần khẩn trương đẩy nhanh việc vận hành thị trường thí điểm tài sản mã hóa theo Nghị quyết 05/2005/NQ-CP để chứng minh với FATF về tiến triển thực chất trong việc thực thi khung pháp lý về tài sản mã hóa.
2.4. Nội dung khác: Ngoài ra, trong bối cảnh Việt Nam đã thành lập và đang đưa vào hoạt động Trung tâm Tài chính quốc tế tại TP. Đà Nẵng và TP. Hồ Chí Minh, và xét các rủi ro thường phát sinh trong hoạt động của mô hình trung tâm tài chính, FATF đặt nhiều câu hỏi liên quan đến khuôn khổ pháp lý; tình hình cấp phép, đăng ký thành viên; các cơ quan và cơ chế quản lý; và việc thanh/kiểm tra, giám sát về PCRT/TTKB tại Trung tâm Tài chính chính quốc tế. Do đó, Bộ Tài chính cần tiếp tục cung cấp thông tin cụ thể về nội dung này tại các kỳ PR để làm cơ sở giải trình với FATF khi có yêu cầu.
3. Kết quả và nhiệm vụ cần tiếp tục thực hiện theo từng bộ, ngành
3.1. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
a. Các hành động được giao: Bên cạnh thực hiện nhiệm vụ Cơ quan Thường trực giúp việc Ban Chỉ đạo PCRT trong điều phối, tổ chức triển khai KHHĐ, NHNN được giao chủ trì/đồng chủ trì 08 hành động như sau:
- Hành động 1 về Nhận thức Rủi ro về RT/TTKB và các hành động giảm thiểu rủi ro về RT/TTKB (Hoàn thành một phần);
- Hành động 2 về Hợp tác, phối hợp về PCRT/TTKB (Hoàn thành phần lớn);
- Hành động 3 về Hợp tác quốc tế (Hoàn thành một phần);
- Hành động 4 về Thanh tra, kiểm tra, giám sát trên cơ sở rủi ro (Hoàn thành một phần);
- Hành động 5 về Khuôn khổ pháp lý cho giám sát và các biện pháp phòng ngừa (Hoàn thành một phần);
- Hành động 7 về Tiếp cận, hướng dẫn khu vực tư nhân (Hoàn thành một phần);
- Hành động 9 về Độc lập và tự chủ của Cục Phòng, chống rửa tiền -NHNN (Hoàn thành toàn bộ);
- Hành động 10 về Tăng cường hoạt động của Cục PCRT (Hoàn thành một phần).
b. Kết quả thực hiện:
- Hành động 9 và Hành động 2 đã đạt mức Hoàn thành và Hoàn thành phần lớn, vì vậy Việt Nam không cần tiếp tục báo cáo.
- Hành động 4: Tại báo cáo PR6, Nhóm đánh giá FATF cho biết Hành động này được nâng hạng lên mức “Hoàn thành một phần” chủ yếu nhờ các tiến triển trong thực hiện thanh tra, kiểm tra, giám sát trên cơ sở rủi ro về PCRT của NHNN và trong lĩnh vực ngân hàng.
Yêu cầu tiếp theo: NHNN cần hoàn thiện khuôn khổ quy định về giám sát trên cơ sở rủi ro và tiếp tục tăng cường các cuộc thanh/kiểm tra dựa trên kết quả giám sát trên cơ sở rủi ro sử dụng Bộ Công cụ do Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) hỗ trợ xây dựng. Về việc này, hiện NHNN đang dự thảo và dự kiến sẽ ban hành trong năm 2026 thông tư quy định về giám sát về PCRT trong lĩnh vực tiền tệ ngân hàng và tiếp tục sử dụng Bộ Công cụ của IMF để chấm điểm rủi ro các NHTM năm 2026 làm cơ sở tiến hành giám sát và kiểm tra, thanh tra về PCRT trong khu vực ngân hàng.
- Hành động 5: FATF yêu cầu Việt Nam giải quyết các thiếu hụt trong các quy định và yêu cầu của cơ quan quản lý đối với các tổ chức tài chính và các tổ chức kinh doanh ngành nghề dịch vụ phi tài chính được chỉ định (FI và DNFBP) về giám sát PCRT/TTKB và các biện pháp phòng ngừa RT/TTKB. Tháng 9/2025 (tương ứng với kỳ báo cáo PR6), NHNN đã ban hành Thông tư số 27/2025/TT-NHNN thay thế Thông tư số 09/2023/TT-NHNN hướng dẫn Luật PCRT 2022 để bổ sung các quy định liên quan nhưng chưa được FATF ghi nhận và nâng hạng. Đến kỳ PR7, sau khi Bộ Tư pháp và NHNN phối hợp giải trình với FATF về cơ sở pháp lý, tính hiệu lực của Thông tư 27/2025/TT-NHNN và chứng minh việc Thông tư 27 được ban hành đúng thẩm quyền và đủ cơ sở thực hiện, FATF mới nâng mức đánh giá Hành động này lên “Hoàn thành một phần”. Tuy nhiên, FATF vẫn khuyến nghị Việt Nam cần bảo đảm tính thống nhất đầy đủ của hệ thống pháp luật và ban hành Luật sửa đổi, bổ sung Luật PCRT để giải quyết các thiếu hụt trong Luật PCRT 2022.
Yêu cầu tiếp theo: NHNN ban hành các quy định sửa đổi, bổ sung Luật PCRT và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật PCRT để giải quyết các thiếu hụt trong các quy định và yêu cầu của cơ quan quản lý đối với các FIs và DNFBPs về giám sát PCRT/TTKB và các biện pháp phòng ngừa RT/TTKB.
Về việc này, hiện Luật sửa đổi Luật NHNN, Luật PCRT và Luật TCTD đã được Chính phủ trình Quốc hội thảo luận và thông qua trong kỳ họp không thường lệ tháng 8/2026, trong đó dự kiến có một số nội dung sửa đổi, bổ sung nhằm giải quyết các thiếu hụt này.
- Hành động 10: FATF yêu cầu Cục Phòng, chống rửa tiền - NHNN nâng cao số lượng và chất lượng báo cáo phân tích tình báo tài chính và việc chuyển giao thông tin cho các cơ quan thực thi pháp luật tương ứng với kết quả đánh giá rủi ro quốc gia của Việt Nam. Thời gian qua dù đã có tiến triển trong việc báo cáo, thống kê số liệu và cung cấp tài liệu dẫn chứng, các tiến triển trong lĩnh vực này chưa thực sự rõ rệt và đủ mạnh để đạt mức đánh giá cao hơn.
Yêu cầu tiếp theo: NHNN cần tiếp tục: (i) Tăng số lượng báo cáo giao dịch đáng ngờ (STR) được xử lý, phân tích, tạo thành sản phẩm là các báo cáo tình báo tài chính cung cấp cho các cơ quan liên quan; (ii) Tăng cường cơ chế phản hồi cho các đối tượng báo cáo để cải thiện chất lượng các STR; và (ii) Tiếp cận các nguồn thông tin rộng nhất có thể và sử dụng các công cụ công nghệ và kĩ thuật phân tích phù hợp phục vụ việc tiếp nhận và xử lý STR và xây dựng báo cáo tình báo tài chính.
Về việc này, hiện NHNN đang tích cực học hỏi kinh nghiệm quốc tế và phối hợp với các đơn vị trong và ngoài nước nhằm cải thiện 03 yếu tố cốt lõi, bao gồm: (i) Trình các cấp có thẩm quyền về tiếp nhận hỗ trợ của đối tác nước ngoài đối với công cụ sàng lọc, phân tích STRs; và (ii) Mở rộng nguồn thông tin trong nước và quốc tế phục vụ việc tra cứu, phân tích thông tin.
3.2. Bộ Công an
a. Các hành động được giao: Bộ Công an được giao chủ trì/đồng chủ trì 08 hành động, gồm:
- Hành động 1 về Nhận thức về Rủi ro về RT/TTKB và các hành động giảm thiểu rủi ro về RT/TTKB (Hoàn thành một phần);
- Hành động 2 về Hợp tác, phối hợp về PCRT/TTKB (Hoàn thành phần lớn);
- Hành động 3 về Tăng cường hợp tác chính thức (dẫn độ và tương trợ tư pháp đa phương) và hợp tác không chính thức với các đối tác nước ngoài (Hoàn thành một phần);
- Hành động 7 về Tiếp cận, hướng dẫn khu vực tư nhân (Hoàn thành một phần);
- Hành động 11 về Sử dụng thông tin tình báo tài chính (Hoàn thành một phần);
- Hành động 12 về Giải quyết các thiếu hụt về tuân thủ kĩ thuật trong Tội rửa tiền của Việt Nam đối với Khuyến nghị số 3 về Tội rửa tiền (Hoàn thành một phần);
- Hành động 13 về Điều tra, truy tố tội RT/TTKB (Hoàn thành một phần);
- Hành động 14 về Các biện pháp phòng ngừa và Hình phạt tài chính mục tiêu về TTKB (Hoàn thành phần lớn).
b. Kết quả thực hiện:
- 02 Hành động 14 và 2 đã được FATF đánh giá Hoàn thành phần lớn và Việt Nam không phải tiếp tục báo cáo.
- Hành động 1: PCRT và phòng, chống TTKB là hai nội dung chính của Hành động 1, trong đó NHNN phụ trách về nội dung PCRT và Bộ Công an phụ trách về nội dung phòng, chống TTKB. Hành động này đã được nâng hạng Hoàn thành một phần từ kỳ Báo cáo PR4 nhưng đến kỳ PR7 (thêm 03 kỳ báo cáo), việc triển khai hành động này vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của FATF.
Yêu cầu tiếp theo: Đối với nội dung TTKB, hiện nay có 02 thiếu hụt chính mà Bộ Công an cần xử lý: (i) về giảm thiểu rủi ro TTKB: cần bổ sung thông tin, số liệu và bối cảnh để chứng minh rõ hơn cho Nhóm đánh giá về kết luận kết quả đánh giá mức độ tổn thương TTKB là thấp và mức độ rủi ro TTKB là thấp đến trung bình thấp đối với lĩnh vực ngân hàng, tài sản ảo/các nhà cung cấp dịch vụ tài sản ảo và các dịch vụ chuyển tiền không chính thức; (ii) về hành động giảm thiểu rủi ro TTKB. Có kế hoạch cụ thể và triển khai kế hoạch thanh, kiểm tra, giám sát về chống TTKB; Xây dựng vụ việc điển hình để chứng minh các cuộc thanh, kiểm tra, giám sát TTKB được thực hiện dựa trên kết quả đánh giá rủi ro và kết luận thanh, kiểm tra được theo dõi, giám sát chặt chẽ.
- Hành động 3: Dẫn độ, tương trợ tư pháp, thu hồi tài sản là các hoạt động hợp tác chính thức, quan trọng nhất của hành động này. Bên cạnh đó, các hoạt động hợp tác không chính thức khác như Interpol, hợp tác song phương cũng góp phần tích cực cho tiến triển của Hành động 3.
Yêu cầu tiếp theo: Bộ Công an cần tiếp tục cung cấp và chủ động hợp tác quốc tế thông qua sử dụng hiệu quả các kênh như Interpol, kênh song phương (cảnh sát - cảnh sát), đặc biệt đối với các vụ việc có tính chất phức tạp; Thiết lập đầu mối liên lạc nhanh với các quốc gia trọng điểm; Xây dựng vụ việc điển hình (quan trọng): Vụ việc cần làm rõ quy trình phối hợp với đối tác nước ngoài; Nêu cụ thể các hoạt động đã hợp tác triển khai (truy vết dòng tiền, phong tỏa tài sản, phối hợp điều tra ...); và Nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản xuyên biên giới (bao gồm: Xây dựng quy trình về xác minh, truy tìm, phong tỏa và thu hồi tài sản ở nước ngoài; Chủ động chia sẻ thông tin, đề nghị hỗ trợ truy tìm tài sản).
- Hành động 11: Hành động này tập trung vào sử dụng hiệu quả thông tin tình báo tài chính, bao gồm các thông tin được chuyển giao từ Cục PCRT.
Yêu cầu tiếp theo: Bộ Công an cần tiếp tục: (i) về kết quả sử dụng báo cáo giao dịch đáng ngờ chuyển giao và báo cáo phân tích chiến lược: Cung cấp số liệu thống kê việc sử dụng thông tin tình báo tài chính (tăng bền vững qua các kỳ báo cáo), gồm số liệu và tỷ lệ các vụ điều tra rửa tiền xuất phát từ thông tin tình báo tài chính và kết quả xử lý; Tích hợp các báo cáo phân tích chiến lược vào văn bản chỉ đạo điều tra, xác định xu hướng và chứng minh hiệu quả triển khai văn bản này trên thực tế; và Cung cấp các vụ việc điển hình, thể hiện rõ cách sử dụng thông tin tình báo tài chính để hỗ trợ điều tra Tội rửa tiền và tội phạm nguồn; (ii) về Trung tâm Lưu trữ, phân tích và xử lý thông tin về tội phạm rửa tiền và TTKB: Cung cấp thông tin cập nhật chi tiết về tình hình xây dựng Trung tâm, bao gồm kết quả phê duyệt của Chính phủ về định hướng xây dựng Trung tâm, kế hoạch và các mốc thời gian thực hiện dự án.
Hành động 12: Liên quan đến việc sửa đổi Bộ luật hình sự để giải quyết các thiếu hụt về tuân thủ kĩ thuật trong định nghĩa Tội rửa tiền so với Khuyến nghị số 3 của FATF, trong Báo cáo PR8 gửi FATF ngày 20/7/2026, Bộ Công an đã cung cấp thông tin về việc trình Chính phủ dự án Bộ luật Hình sự (sửa đổi), trong đó, dự thảo Bộ luật Hình sự dự kiến sửa đổi, bổ sung Tội rửa tiền (Điều 324) nhằm khắc phục các thiếu hụt đối với Khuyến nghị số 3. Dự án Bộ luật Hình sự sửa đổi dự kiến sẽ được trình Quốc hội xem xét, cho ý kiến tại Kỳ họp chuyên đề về pháp luật vào tháng 8/2026, trình Quốc hội thông qua tại Kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa XVI vào tháng 10/2026 (thay vì tháng 10/2027 theo Quyết định 2321/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 20/10/2025)7.
Yêu cầu tiếp theo: Theo phương pháp luận của FATF, giải quyết các thiếu hụt theo Khuyến nghị 3 là nội dung cốt lõi trong việc thực thi các tiêu chuẩn quốc tế về PCRT và thiếu hụt đối với Khuyến nghị 3 được coi là một trong những tiêu chí để một quốc gia bị đưa vào Danh sách Xám. Do đó, việc giải quyết thiếu hụt của Hành động này, đáp ứng chuẩn mực của FATF cần được Bộ Công an đặc biệt ưu tiên hoàn thành cả về thời gian và nội dung quy định.
- Hành động 13: FATF tiếp tục cho rằng số lượng cuộc điều tra Tội rửa tiền chưa phù hợp với kết quả NRA của Việt Nam và các cuộc điều tra tội phạm nguồn chưa phản ánh đúng kết quả NRA (các vụ án chủ yếu tập trung vào tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong khi các vụ án liên quan đến tội phạm nguồn có rủi ro rửa tiền cao khác chưa gia tăng đáng kể như tội: buôn bán người, buôn bán ma túy, buôn lậu tiền tệ cũng như các tội phạm gian lận và tham nhũng).
Vừa qua, trong Báo cáo PR8 gửi FATF ngày 20/7/2026, Bộ Công an đã cung cấp thông tin về việc chủ trì tổ chức cuộc họp ngày 04/5/2026 để trao đổi, đưa ra giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả điều tra, truy tố Tội rửa tiền giữa Cơ quan điều tra - Bộ Công an và Viện KSNDTC để thảo luận, đánh giá thực trạng công tác điều tra tội phạm rửa tiền, thống nhất giải pháp gia tăng thực chất, bền vững về số vụ điều tra, truy tố rửa tiền, phù hợp với hồ sơ rủi ro của Việt Nam và công tác thu hồi tài sản do phạm tội mà có. Theo đó tại kỳ Báo cáo PR8 lần 1 nộp FATF ngày 20/7/2026, số liệu vụ việc khởi tố mới về Tội rửa tiền đã có sự gia tăng so với các kỳ báo cáo trước đây, phạm vi đã mở rộng đến nhiều nhóm tội phạm nguồn có rủi ro Cao hoặc Trung bình Cao theo báo cáo NRA của Việt Nam và lần đầu tiên Việt Nam có 03 vụ án khởi tố Tội rửa tiền từ tội phạm ma túy8.
Yêu cầu tiếp theo: Việt Nam cần: (i) Gia tăng số lượng vụ điều tra và truy tố rửa tiền, tập trung vào tội phạm nguồn có rủi ro cao ngoài tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo kết quả NRA; và (ii) Thống kê và cung cấp số liệu đáp ứng yêu cầu của FATF do số liệu là căn cứ cốt lõi để FATF đánh giá tiến triển đối với Hành động này.
3.3. Bộ Tài chính
a. Các hành động được giao: Bộ Tài chính được giao chủ trì, đồng chủ trì 08 hành động, gồm:
- Hành động 1 về Nhận thức rủi ro về RT/TTKB và các hành động giảm thiểu rủi ro về RT/TTKB (Hoàn thành một phần);
- Hành động 2 về Hợp tác, phối hợp về PCRT/TTKB (Hoàn thành phần lớn);
- Hành động 4 về Thanh tra, kiểm tra, giám sát trên cơ sở rủi ro (Hoàn thành một phần);
- Hành động 5 về Khuôn khổ pháp lý cho giám sát và các biện pháp phòng ngừa (Hoàn thành một phần);
- Hành động 6 về Xây dựng khung pháp lý về tài sản ảo (Hoàn thành một phần);
- Hành động 7 về Tiếp cận, hướng dẫn khu vực tư nhân (Hoàn thành một phần);
- Hành động 8 về Minh bạch của chủ sở hữu hưởng lợi của pháp nhân (Hoàn thành một phần);
- Hành động 15 về Giải quyết các thiếu hụt về tuân thủ kĩ thuật liên quan đến Khuyến nghị 7 - Các hình phạt tài chính mục tiêu liên quan đến PBVKHDHL (Hoàn thành một phần);
- Hành động 16 về Cơ chế giám sát để đảm bảo các FI, DNFBP tuân thủ các nghĩa vụ trừng phạt tài chính mục tiêu liên quan đến PBVKHDHL (do Bộ Quốc phòng và các bộ, ngành chủ trì) (Chưa hoàn thành)
b. Kết quả thực hiện:
- Hành động 4 yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền thực hiện thanh tra, kiểm tra, giám sát trên cơ sở rủi ro về PCRT/TTKB. Đây là Hành động liên ngành và đã được nâng mức đánh giá lên “Hoàn thành một phần” tại kỳ PR6 nhờ tiến triển trong lĩnh vực ngân hàng. Các lĩnh vực còn lại, trong đó có lĩnh vực do Bộ Tài chính phụ trách (chứng khoán, bảo hiểm, xổ số, trò chơi có thưởng, đặt cược và casino, kế toán kiểm toán) không có tiến triển ở những yêu cầu cốt lõi của Hành động (bao gồm ban hành khuôn khổ quy định và chứng minh thực tiễn triển khai thanh tra, kiểm tra, giám sát PCRT trên cơ sở rủi ro).
Trong Báo cáo PR8 gửi FATF ngày 20/7/2026, Bộ Tài chính đã cung cấp thông tin về việc Bộ Tài chính đã hoàn thành đợt làm việc đầu tiên với IMF để nghiên cứu xây dựng Bộ công cụ giám sát rủi ro và sổ tay hướng dẫn thanh, kiểm tra chuyên biệt cho các công ty chứng khoán, quản lý quỹ.
Yêu cầu tiếp theo: Bộ Tài chính: (i) Xúc tiến triển khai áp dụng công cụ đánh giá/chấm điểm rủi ro đối với các đối tượng báo cáo thuộc thẩm quyền quản lý (bao gồm bộ công cụ do IMF hỗ trợ xây dựng, tương tự cách làm của NHNN) để làm cơ sở xây dựng và triển khai kế hoạch thanh/kiểm tra PCRT trong các lĩnh vực thuộc thẩm quyền quản lý; (ii) Tăng cường các cuộc thanh/kiểm tra về PCRT (tối thiểu 01-03 cuộc kiểm tra/01 lĩnh vực/01 kỳ báo cáo) và có báo cáo cụ thể về kết quả thanh/kiểm tra.
- Hành động 6 về Xây dựng khung pháp lý về tài sản ảo do Bộ Tài chính chủ trì đã được FATF nâng mức đánh giá lên “Hoàn thành một phần” trong kỳ Báo cáo PR6. Tuy nhiên, FATF đánh giá khung pháp lý về tài sản ảo vẫn chưa toàn diện và tiếp tục yêu cầu Việt Nam khắc phục các thiếu sót về: Định nghĩa tài sản mã hóa, các loại tài sản mã hóa đã được phát hành trên thị trường thí điểm, cơ chế xử phạt vi phạm về tài sản mã hóa... Ngoài ra, khi khung pháp lý ra đời, Việt Nam cần tiếp tục chứng minh việc triển khai khung pháp lý này thông qua các hoạt động diễn ra thực tế.
Trong Báo cáo PR8 gửi FATF vào ngày 20/7/2026, Bộ Tài chính đã cung cấp thông tin về việc Chính phủ đã ban hành Nghị định số 284/2026/NĐ-CP ngày 16/7/2026 quy định xử phạt vi phạm hành chính về tài sản mã hóa và thị trường tài sản mã hóa.
Yêu cầu tiếp theo: Tài sản mã hóa là vấn đề được FATF đặc biệt quan tâm do FATF đánh giá Việt Nam là một trong những quốc gia có khối lượng giao dịch tài sản mã hóa lớn nhất trên thế giới. Bộ Tài chính cần sớm có phương án cụ thể báo cáo Chính phủ để giải quyết các khuyến nghị và lưu ý của FATF về vấn đề tài sản mã hóa/tài sản ảo như báo cáo tại mục 2.3 trên đây.
- Hành động 8: FATF yêu cầu Việt Nam xây dựng cơ chế cho phép các cơ quan có thẩm quyền được tiếp cận kịp thời các thông tin đầy đủ, chính xác và cập nhật về chủ sở hữu hưởng lợi (CSHHL) của pháp nhân (và thỏa thuận pháp lý nếu phù hợp) và áp dụng các biện pháp xử lý một cách phù hợp, hiệu quả, tương xứng và có tính chất răn đe đối với các hành vi vi phạm.
Hành động này đã được đánh giá là “Hoàn thành một phần” từ kỳ Báo cáo PR5. Đến nay, qua 02 kỳ Báo cáo, việc triển khai hành động này vẫn chưa đáp ứng yêu cầu của FATF, do chưa chứng minh được hiệu quả và hiệu lực triển khai trên thực tế, cụ thể: Tỷ lệ doanh nghiệp kê khai thông tin chủ sở hữu hưởng lợi còn thấp; chưa chứng minh được tính hữu dụng và hiệu quả của khuôn khổ CSHHL thông qua bằng chứng về việc sử dụng thông tin CSHHL của các cơ quan có thẩm quyền; chưa chứng minh được các biện pháp xử phạt hiệu quả, tương xứng và có tính răn đe được áp dụng đối với các hành vi vi phạm nghĩa vụ báo cáo thông tin CSHHL.
Ngày 21/7/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 288/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 122/2021/NĐ-CP ngày 28/12/2021 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế hoạch và đầu tư, trong đó có nội dung liên quan đến xử phạt vi phạm về chủ sở hữu hưởng lợi (nội dung này sẽ được đưa vào Báo cáo PR8 cập nhật gửi FATF vào đầu tháng 09/2026).
Yêu cầu tiếp theo: Nhằm mục tiêu đạt mức đánh giá Hoàn thành đối với Hành động 8, Bộ Tài chính cần: (i) về tính sẵn có của thông tin CSHHL: cần có kế hoạch, lộ trình để tăng đáng kể số lượng/tỷ lệ doanh nghiệp kê khai thông tin chủ sở hữu, đạt tối thiểu 75% trên tổng số doanh nghiệp đang hoạt động (số liệu hiện nay còn tương đối thấp, đạt 41,7%); (ii) về tiếp cận, chia sẻ và sử dụng thông tin CSHHL: Tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các bộ ngành để tăng yêu cầu và việc khai thác trên thực tế thông tin CSHHL, từ đó xây dựng các vụ việc điển hình chứng minh cơ quan thực thi pháp luật sử dụng thông tin CSHHL (không phải thông tin doanh nghiệp nói chung), bám sát các gợi ý, nhận xét của Nhóm JG; (iii) Về xử phạt hiệu quả, tương xứng và có tính răn đe: Cung cấp số liệu kiểm tra, xử phạt trên thực tế theo Nghị định số 288/2026/NĐ-CP.
Ngoài ra, trong bối cảnh Việt Nam đã thành lập và đang đưa vào hoạt động Trung tâm Tài chính quốc tế tại TP. Đà Nẵng và TP. Hồ Chí Minh, và xét các rủi ro thường phát sinh trong hoạt động của mô hình trung tâm tài chính, FATF đặt nhiều câu hỏi liên quan đến khuôn khổ pháp lý; tình hình cấp phép, đăng ký thành viên; các cơ quan và cơ chế quản lý; và việc thanh/kiểm tra, giám sát về PCRT/TTKB tại Trung tâm Tài chính chính quốc tế. Do đó, Bộ Tài chính cần tiếp tục cung cấp thông tin cụ thể về nội dung này tại các kỳ PR để làm cơ sở giải trình với FATF khi có yêu cầu.
3.4. Bộ Quốc phòng
a. Các hành động được giao: Bộ Quốc phòng được giao chủ trì, đồng chủ trì các hành động liên quan đến PBVKHDHL, gồm:
- Hành động 15: Giải quyết các thiếu hụt về tuân thủ kĩ thuật liên quan đến Khuyến nghị 7 của FATF về Hình phạt tài chính mục tiêu liên quan đến PBVKHDHL (Hoàn thành một phần);
- Hành động 16: Cơ chế giám sát để đảm bảo các FI, DNFBP tuân thủ các nghĩa vụ trừng phạt tài chính mục tiêu liên quan đến PBVKHDHL (do Bộ Quốc phòng và các bộ, ngành chủ trì) (Chưa hoàn thành); và
- Hành động 17: Hợp tác ngăn chặn việc trốn tránh các biện pháp trừng phạt (Hoàn thành một phần).
b. Kết quả thực hiện:
- Hành động 15: Trong nhiều kỳ báo cáo, Bộ Quốc phòng giải trình với FATF về việc các quy định pháp luật của Việt Nam đáp ứng Khuyến nghị 7 của FATF về Hình phạt tài chính mục tiêu liên quan đến PBVKHDHL. Tuy nhiên, đến kỳ PR7, FATF mới nâng hạng hành động này từ ‘Chưa hoàn thành” lên ‘Hoàn thành một phần”, đồng thời vẫn tiếp tục đánh giá Việt Nam chưa giải quyết được các yêu cầu cốt lõi của Khuyến nghị 7.
Yêu cầu tiếp theo: Bộ Quốc phòng cần: (i) Xây dựng dự thảo Luật Phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt và các văn bản hướng dẫn liên quan và chứng minh các quy định tại Luật Phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt và các văn bản hướng dẫn đáp ứng các yêu cầu cốt lõi của Khuyến nghị 7. Lưu ý: FATF chỉ ghi nhận tiến triển của hành động tối thiểu sau khi Luật PBVKHDHL có hiệu lực thi hành. Do đó, Bộ Quốc phòng cần báo cáo các cấp có thẩm quyền đẩy nhanh thời hạn có hiệu lực của Luật PBVKHDHL; (ii) Phối hợp với các bộ, cơ quan để sửa đổi, bổ sung các quy định về xử phạt vi phạm hành chính liên quan đến PBVKHDHL đảm bảo đủ các hành vi theo Khuyến nghị 7.
- Hành động 16: Đến nay, các đoàn kiểm tra có nội dung về phòng, chống TTPB VKHDHL trong các lĩnh vực còn hạn chế. Hầu hết các cuộc kiểm tra không phát hiện có sai phạm về phòng, chống TTPBVKHDHL nên Việt Nam chưa chứng minh được việc đã áp dụng cơ chế giám sát một cách có hiệu quả và xử phạt mang tính răn đe, tương xứng. Do đó, hành động này qua 07 kỳ Báo cáo vẫn chưa đạt yêu cầu của FATF. Ngoài ra, FATF cho rằng thiếu hụt ở Hành động 15 về khuôn khổ pháp lý đã hạn chế tiến triển ở Hành động 16.
Yêu cầu tiếp theo: Bộ Quốc phòng nghiên cứu xây dựng và triển khai trên thực tế cơ chế và các hoạt động giám sát/kiểm tra, thanh tra các đối tượng báo cáo trong thực hiện các nghĩa vụ liên quan đến phòng chống TTPBVKHDHL, cụ thể:
(i) Tổ chức hoạt động đào tạo, hướng dẫn về nghĩa vụ trừng phạt tài chính mục tiêu liên quan đến PBVKHDHL và thống kê đầy đủ về các hoạt động đào tạo này;
(ii) Có giải pháp về giám sát việc thực hiện các nghĩa vụ liên quan đến phòng chống TTPBVKHDHL của các đối tượng báo cáo; và (iii) Chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành để lập kế hoạch, tổ chức các đoàn kiểm tra có nội dung về phòng chống TTPBVKHDHL và thống kê đầy đủ các hoạt động kiểm tra này.
- Hành động 17: Tại kỳ Báo cáo PR7, FATF giữ nguyên mức đánh giá “Hoàn thành một phần ” cho hành động này do không có thêm tiến triển đáng kể so với các kỳ Báo cáo PR trước. Tại Báo cáo PR8 đã gửi FATF ngày 20/7/2026, Bộ Quốc phòng đã cung cấp thông tin về việc Thủ tướng Chính phủ ký ban hành Quyết định số 829/QĐ-TTg ngày 11/5/2026 về Quy chế phối hợp trong đấu tranh, ngăn chặn hoạt động trốn tránh các biện pháp trừng phạt tài chính mục tiêu liên quan đến phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt.
Yêu cầu tiếp theo: Bộ Quốc phòng cần: (i) Lập kế hoạch hợp tác, phối hợp và tổ chức các hoạt động hợp tác, phối hợp với các bộ, ngành trong đấu tranh, ngăn chặn hoạt động trốn tránh các biện pháp trừng phạt tài chính mục tiêu liên quan đến PBVKHDHL theo Quyết định số 829/QĐ-TTg; (ii) Làm rõ việc dự thảo Luật phòng, chống PBVKHDHL và các văn bản hướng dẫn quy định như thế nào về quan hệ hợp tác giữa các cơ quan chức năng để ngăn chặn việc trốn tránh các biện pháp trừng phạt (Bám sát yêu cầu của FATF: Có một Ủy ban, nhóm công tác hoặc cơ chế tương tự chịu trách nhiệm điều phối các hoạt động); và (iii) Cung cấp thông tin chứng minh các tình huống phối hợp giữa các cơ quan chức năng để ngăn chặn việc trốn tránh các biện pháp trừng phạt.
3.5. Viện Kiểm sát nhân dân tối cao
a. Các hành động được giao: Viện Kiểm sát nhân dân tối cao được giao chủ trì, đồng chủ trì 04 hành động, gồm:
- Hành động 1 về Rủi ro về RT/TTKB và các hành động giảm thiểu rủi ro về RT/TTKB (Hoàn thành một phần);
- Hành động 2 về Hợp tác, phối hợp về PCRT/TTKB (Hoàn thành phần lớn);
- Hành động 3 về Hợp tác quốc tế (Hoàn thành một phần); và
- Hành động 13 về Điều tra, truy tố tội RT/TTKB (Hoàn thành một phần).
b. Kết quả thực hiện
- Hành động 3: Hành động này yêu cầu Việt Nam tăng cường hợp tác chính thức (dẫn độ và tương trợ tư pháp) và hợp tác không chính thức (của các cơ quan thực thi pháp luật và đơn vị tình báo tài chính). Hành động này vẫn giữ mức đánh giá ‘Hoàn thành một phần” từ kỳ Báo cáo PR4 đến nay. FATF đánh giá xét về tổng thể, Việt Nam còn một khối lượng lớn công việc cần xử lý để hoàn thành Hành động này. Cụ thể, tương trợ tư pháp (TTTP) và thu hồi tài sản là 02 nội dung quan trọng nhất của Hành động 3. Tuy nhiên, các nội dung này hầu như không có tiến triển trong các kỳ báo cáo gần đây. Do đó, đề nghị Viện KSNDTC tập trung nguồn lực và có kế hoạch triển khai cụ thể cho các kỳ báo cáo tới.
Yêu cầu tiếp theo: Viện KSNDTC cần có biện pháp để: (i) về TTTP: Tăng cường giải quyết các yêu cầu TTTP; Thúc đẩy TTTP về rửa tiền; Tăng cường phối hợp với các cơ quan thực thi pháp luật để thúc đẩy việc sử dụng yêu cầu TTTP gửi đi nhằm hỗ trợ các cuộc điều tra rửa tiền có yếu tố xuyên biên giới; (ii) về thu hồi tài sản: Chủ động chia sẻ thông tin, đề nghị hỗ trợ truy tìm tài sản; (iii) về tăng nguồn lực hợp tác quốc tế: Tăng cường đào tạo về hợp tác quốc tế cho các kiểm sát viên và chứng minh việc áp dụng các nội dung đào tạo vào công việc thực tế.
- Hành động 13: Yêu cầu các cơ quan thực thi pháp luật và các cơ quan công tố ưu tiên các cuộc điều tra tài chính song song và chứng minh sự gia tăng đáng kể và bền vững về số lượng các vụ điều tra và truy tố rửa tiền, phù hợp với kết quả NRA của Việt Nam.
Viện KSNDTC và Bộ Công an là hai cơ quan chủ trì hành động này. Tại kỳ PR8, số lượng các vụ truy tố Tội rửa tiền là 12 vụ/45 bị can (số lượng vụ án truy tố về Tội rửa tiền tăng 33% so với kỳ PR7, trong đó số lượng bị can truy tố về Tội rửa tiền tăng gấp đôi kỳ PR7). Số lượng các vụ án xét xử Tội rửa tiền là 11 vụ án/55 bị cáo (tăng 38% so với kỳ báo cáo trước) với hình phạt tù lên đến 15 năm tù, cho thấy các vụ án truy tố Tội rửa tiền đã tăng lên. Kết quả này cho thấy, Viện KSNDTC đang rất nỗ lực, tích cực và đúng hướng trong triển khai Hành động 13.
Yêu cầu tiếp theo: Để tiếp tục cải thiện nhận xét và đánh giá của Nhóm đánh giá FATF (đặc biệt liên quan đến yêu cầu về việc tình hình truy tố Tội rửa tiền và tội phạm nguồn của Tội rửa tiền phải phản ánh đúng kết quả NRA), Viện KSNDTC cần tiếp tục cải thiện tình hình thực hiện các yêu cầu điều tra Tội rửa tiền song song với tội phạm nguồn, cũng như cải thiện kết quả thực hiện các văn bản, chỉ thị liên quan trên thực tế về truy tố Tội rửa tiền và tội phạm nguồn của Tội rửa tiền.
3.6. Bộ Xây dựng
a. Các hành động được giao: Bộ Xây dựng được giao đồng chủ trì 06 hành động, gồm:
- Hành động 1 về Nhận thức rủi ro về RT/TTKB và các hành động giảm thiểu rủi ro về RT/TTKB (Hoàn thành một phần);
- Hành động 2 về Hợp tác, phối hợp về PCRT/TTKB (Hoàn thành phần lớn);
- Hành động 4 về Thanh tra, kiểm tra, giám sát trên cơ sở rủi ro (Hoàn thành một phần);
- Hành động 5 về Thanh tra giám sát và Biện pháp phòng ngừa (Hoàn thành một phần);
- Hành động 7 về Tiếp cận, hướng dẫn khu vực tư nhân (Hoàn thành một phần);
- Hành động 16 về Cơ chế giám sát để đảm bảo các FI, DNFBP tuân thủ các nghĩa vụ trừng phạt tài chính mục tiêu liên quan đến PBVKHDHL (do Bộ Quốc phòng và các bộ, ngành chủ trì) (Chưa hoàn thành)
b. Kết quả thực hiện:
Lĩnh vực bất động sản là lĩnh vực có rủi ro rửa tiền Cao theo kết quả NRA, FATF dành nhiều sự quan tâm, chú ý đối với lĩnh vực này. Tuy nhiên, xét tổng thể, tiến triển trong lĩnh vực bất động sản vẫn còn rất hạn chế qua các kỳ báo cáo.
- Hành động 4: Từ kỳ PR1-PR7, Bộ Xây dựng không có bất kỳ tiến triển nào trong việc thực hiện các nhiệm vụ về xây dựng khung giám sát PCRT/TTKB dựa trên rủi ro và triển khai giám sát, kiểm tra trong lĩnh vực bất động sản (kể cả kiểm tra tình hình tuân thủ pháp luật về PCRT/TTKB).
Tại Báo cáo PR8 gửi FATF vào ngày 20/7/2028, Bộ Xây dựng đã cung cấp thông tin về việc triển khai công tác kiểm tra đối với 08 sàn giao dịch bất động sản, nội dung kiểm tra bao gồm công tác PCRT/TTKB.
Yêu cầu tiếp theo: Trong lĩnh vực bất động sản, Bộ Xây dựng cần: (i) Xây dựng khung giám sát PCRT/TTKB dựa trên rủi ro và triển khai khung giám sát này (NHNN đã cung cấp các thông tin và tài liệu hướng dẫn, và sẽ tiếp tục chia sẻ các thông tin, quy định liên quan trong lĩnh vực ngân hàng để tham khảo); (ii) Tổ chức các đoàn kiểm tra về PCRT/TTKB, trong đó có sử dụng kết quả giám sát rủi ro và cung cấp số liệu, bằng chứng chứng minh tình hình triển khai các đoàn kiểm tra.
- Hành động 5: FATF yêu cầu Việt Nam giải quyết các thiếu hụt trong các quy định và yêu cầu của cơ quan quản lý đối với các FI và DNFBP về giám sát PCRT/TTKB và các biện pháp phòng ngừa RT/TTKB.
Yêu cầu tiếp theo: Bộ Xây dựng cần đẩy nhanh việc sửa đổi, bổ sung Nghị định xử phạt trong lĩnh vực bất động sản. Đặc biệt, Bộ Xây dựng cần làm việc, trao đổi với NHNN, Bộ Công an và Bộ Quốc phòng để xây dựng nội dung xử phạt vi phạm hành chính về phòng, chống rửa tiền, tài trợ khủng bố, tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt để đảm bảo Nghị định xử phạt đáp ứng yêu cầu của FATF, tránh việc Nghị định được Chính phủ ban hành nhưng không được FATF ghi nhận (Hiện Bộ Xây dựng là bộ có tiến triển chậm nhất về nội dung này).
- Hành động 7: Trong kỳ Báo cáo PR7 vừa qua, Bộ Xây dựng đã phối hợp với NHNN, Bộ Công an tổ chức 01 buổi hội thảo tuyên truyền về kết quả đánh giá rủi ro quốc gia và nghĩa vụ PCRT/TTKB.
Tuy nhiên, trong kỳ PR8 nộp dự thảo lần 1 (ngày 20/7/2026), Bộ Xây dựng không có thêm hoạt động tiếp cận, hướng dẫn trong lĩnh vực thuộc thẩm quyền quản lý. Như đã nêu tại các cuộc họp Ban Chỉ đạo PCRT trước đây, việc thực hiện các hoạt động tiếp cận, hướng dẫn khu vực tư nhân theo Hành động 7 cần được thực hiện thường xuyên, liên tục trong tất cả các lĩnh vực để tích lũy đủ tiến triển nhằm đáp ứng yêu cầu của FATF. Do đó, nếu Bộ Xây dựng không nỗ lực triển khai hành động này, dù các lĩnh vực khác có tiến triển, nỗ lực chung của các bộ, ngành đối với Hành động 7 sẽ không được ghi nhận. (Bộ Xây dựng có thể nghiên cứu, áp dụng cách làm của Bộ Công an trong tiếp cận, hướng dẫn các cửa hàng cầm đồ trên toàn quốc).
Yêu cầu tiếp theo: Bộ Xây dựng cần lập kế hoạch cụ thể theo định kỳ hàng tháng và triển khai thường xuyên, liên tục các hoạt động tiếp cận, hướng dẫn khu vực tư nhân, từ đó thống kê, báo cáo đầy đủ về kết quả triển khai để đảm bảo mỗi kỳ đều có tiến triển để báo cáo cho FATF.
- Hành động 16: Từ kỳ PR1-PR7, Bộ Xây dựng không có đoàn thanh, kiểm tra nào đối với đối tượng báo cáo thuộc lĩnh vực quản lý của Bộ Xây dựng.
Yêu cầu tiếp theo: Thực hiện tối thiểu 01 đoàn kiểm tra/kỳ báo cáo về nội dung kiểm tra về tuân thủ các nghĩa vụ trừng phạt tài chính mục tiêu liên quan đến PBVKHDHL (Bộ Quốc phòng - đơn vị đầu mối, đã có văn bản đề nghị các bộ ngành có chức năng quản lý nhà nước đối với đối tượng báo cáo để phối hợp triển khai kiểm tra trong lĩnh vực này, Bộ Xây dựng cần phối hợp chặt chẽ để triển khai).
3.7. Bộ Công Thương
a. Các hành động được giao: Bộ Công thương được giao đồng chủ trì 06 hành động, gồm:
- Hành động 1 về Nhận thức về rủi ro về RT/TTKB và các hành động giảm thiểu rủi ro về RT/TTKB (Hoàn thành một phần);
- Hành động 2 về Hợp tác, phối hợp về PCRT/TTKB (Hoàn thành phần lớn);
- Hành động 4 về Thanh tra, kiểm tra, giám sát trên cơ sở rủi ro (Hoàn thành một phần);
- Hành động 5 về Thanh tra giám sát và Biện pháp phòng ngừa (Hoàn thành một phần);
- Hành động 7 về Tiếp cận, hướng dẫn khu vực tư nhân (Hoàn thành một phần);
- Hành động 16: Hành động này yêu cầu các bộ, ngành đồng thời thực hiện cơ chế giám sát và đảm bảo các FI, DNFBP tuân thủ các nghĩa vụ trừng phạt tài chính mục tiêu liên quan đến PBVKHDHL (Chưa hoàn thành).
b. Kết quả thực hiện:
Bộ Công thương có nhiệm vụ triển khai các nội dung thuộc lĩnh vực kinh doanh kim khí quý, đá quý (Rủi ro rửa tiền ở mức Trung bình). Đến nay, tiến triển trong lĩnh vực lĩnh vực kinh doanh kim khí quý, đá quý của các Hành động này là hạn chế. Là lĩnh vực có rủi ro Trung bình, hạn chế trong tiến triển của lĩnh vực này ảnh hưởng đến kết quả chung của các bộ, ngành trong thực hiện các Hành động 1, 2, 4, 5 và 7 của KHHĐQG, đòi hỏi sự tập trung, dành ưu tiên và lộ trình xử lý hiệu quả của Bộ Công thương.
- Hành động 7: Trong kỳ Báo cáo PR7 vừa qua, Bộ Công thương đã phối hợp với NHNN, Bộ Công an tổ chức 01 buổi hội thảo tuyên truyền về kết quả đánh giá rủi ro quốc gia và nghĩa vụ PCRT/TTKB.
Tuy nhiên, tại kỳ Báo cáo PR8 gửi FATF lần 1 vào ngày 20/7/2026, Bộ Công thương không có thêm tiến triển đối với Hành động này. Trong tháng 7/2026, NHNN đã có công văn gửi Bộ Công thương về tài liệu hướng dẫn các tổ chức kinh doanh kim khí quý, đá quý và đề nghị Bộ Công thương tổ chức hướng dẫn các tổ chức kinh doanh kim khí quý, đá quý.
Yêu cầu tiếp theo: Bộ Công thương cần tiếp tục duy trì việc triển khai các hoạt động hướng dẫn, tiếp cận khu vực tư nhân (dưới các hình thức gồm các văn bản chỉ đạo, các khóa đào tạo/bồi dưỡng/tập huấn/hội thảo trực tuyến, trực tiếp) trong lĩnh vực kinh doanh kim khí quý, đá quý, trong đó đảm bảo có kế hoạch và triển khai thường xuyên, liên tục theo định kỳ cho tới khi được FATF đánh giá đạt yêu cầu (Bộ Công thương cần nghiên cứu, áp dụng cách làm của Bộ Công an trong tiếp cận, hướng dẫn các cửa hàng cầm đồ trên toàn quốc).
3.8. Bộ Tư pháp
a. Các hành động được giao: Bộ Tư pháp được giao chủ trì, đồng chủ trì 05 hành động, gồm:
- Hành động 1 về Nhận thức về rủi ro về RT/TTKB và các hành động giảm thiểu rủi ro về RT/TTKB (Hoàn thành một phần);
- Hành động 2 về Hợp tác, phối hợp về PCRT/TTKB (Hoàn thành phần lớn);
- Hành động 4 về Thanh tra, kiểm tra, giám sát trên cơ sở rủi ro (Hoàn thành một phần);
- Hành động 5 về Thanh tra giám sát và Biện pháp phòng ngừa (Hoàn thành một phần);
- Hành động 7 về Tiếp cận, hướng dẫn khu vực tư nhân (Hoàn thành một phần).
b. Kết quả thực hiện:
- Hành động 4: FATF yêu cầu Việt Nam thực hiện thanh tra, kiểm tra, giám sát trên cơ sở rủi ro về PCRT/TTKB trong các lĩnh vực (không chỉ trong lĩnh vực ngân hàng), bao gồm cả các lĩnh vực không thuộc nhóm rủi ro cao như lĩnh vực luật sư, công chứng ở Việt Nam.
Yêu cầu tiếp theo: Bộ Tư pháp với vai trò cơ quan giám sát lĩnh vực luật sư, công chứng cần thực hiện các biện pháp như kiểm tra và giám sát cả theo kế hoạch và đột xuất để phát hiện và xử lý rủi ro.
- Hành động 5: FATF yêu cầu Việt Nam giải quyết những thiếu hụt liên quan đến quy định và yêu cầu giám sát về PCRT/TTKB và các biện pháp phòng ngừa RT/TTKB đối với các FI và DNFBP. Như báo cáo ở trên, khi xem xét các văn bản pháp luật trong lĩnh vực PCRT/TTKB, FATF thường đặt câu hỏi về tính nhất quán và sự đầy đủ về cơ sở pháp lý của một số văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam trong lĩnh vực này, và chưa nắm rõ một số nguyên tắc áp dụng luật pháp của Việt Nam, dẫn đến việc không ghi nhận các tiến triển đã đạt được
Yêu cầu tiếp theo: Trong thời gian tới, Bộ Tư pháp cần phối hợp với NHNN và các bộ, ngành giải trình với FATF về nguyên tắc xây dựng và áp dụng văn bản pháp luật của Việt Nam để xử lý vấn đề nêu trên.
3.9. Bộ Ngoại giao
Bộ Ngoại giao được giao đồng chủ trì, phối hợp thực hiện KHHĐQG và có mức độ tham gia khác nhau trong thực hiện KHHĐQG, trong đó chủ yếu bao gồm các hành động về nâng cao nhận thức, phòng ngừa, giảm thiểu rủi ro, giám sát, hợp tác xử lý các vụ việc (Hành động 1, 2, 7, 8, 17) đối với các đối tượng và hoạt động thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Ngoại giao. Xét tiến triển hiện tại, trong thời gian tới, Bộ Ngoại giao cần phối hợp với các bộ, ngành triển khai các hành động với vai trò là cơ quan cấp phép và quản lý hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài9 tại Việt Nam10, cụ thể như sau:
- Hành động 7: FATF yêu cầu Việt Nam tiếp cận, hướng dẫn khu vực tư nhân kết quả NRA, và kết quả Đánh giá rủi ro theo ngành và các nghĩa vụ PCRT/TTKB.
Đến nay, kết quả thực hiện của Việt Nam còn chưa đồng đều trên tất cả các lĩnh vực, đòi hỏi việc xử lý toàn diện hơn yêu cầu này.
Yêu cầu tiếp theo: Bộ Ngoại giao cần thực hiện các hoạt động tiếp cận, hướng dẫn các tổ chức phi chính phủ nước ngoài về kết quả NRA và kết quả Đánh giá rủi ro theo ngành và các nghĩa vụ PCRT/TTKB.
- Hành động 8: FATF yêu cầu Việt Nam xây dựng cơ chế cho phép các cơ quan có thẩm quyền tiếp cận kịp thời các thông tin đầy đủ, chính xác và cập nhật về CSHHL của pháp nhân (và thỏa thuận pháp lý nếu phù hợp) và áp dụng các biện pháp xử lý một cách phù hợp, hiệu quả, tương xứng và có tính chất răn đe đối với các hành vi vi phạm. Hành động này đã được đánh giá là Hoàn thành một phần từ kỳ Báo cáo PR5, tuy nhiên, nội dung liên quan đến thông tin CSHHL của pháp nhân phi thương mại (trong đó bao gồm tổ chức phi chính phủ nước ngoài do Bộ Ngoại giao quản lý) chưa được xử lý.
Yêu cầu tiếp theo: Để đạt mức đánh giá Hoàn thành đối với Hành động 8, Việt Nam cần chứng minh việc xây dựng cơ chế cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác và cập nhật thông tin CSHHL cho các cơ quan có thẩm quyền đối với pháp nhân thương mại và phi thương mại (bao gồm các tổ chức phi chính phủ nước ngoài). Hiện Bộ Ngoại giao đang trong quá trình sửa đổi Nghị định 58/2022/NĐ-CP ngày 31/8/2022 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam. Về việc này, BNG cần có kế hoạch bổ sung quy định về cơ chế thu thập, cập nhật, lưu trữ thông tin CSHHL có liên quan đến các tổ chức phi chính phủ nước ngoài và triển khai các hoạt động nhằm nâng cao hiểu biết để đảm bảo thông tin CSHHL của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài được thu thập và chia sẻ kịp thời cho các cơ quan có thẩm quyền (Bộ Ngoại giao cần chủ động phối hợp với NHNN để nghiên cứu, bổ sung trách nhiệm kê khai thông tin CSHHL của tổ chức phi chính phủ nước ngoài do Bộ Ngoại giao quản lý cũng như các hình thức xử phạt đối với hành vi vi phạm).
3.10. Bộ Nội vụ
Bộ Nội vụ được giao đồng chủ trì, phối hợp thực hiện KHHĐQG và có mức độ tham gia khác nhau trong thực hiện KHHĐQG, trong đó chủ yếu bao gồm các hành động về nâng cao nhận thức, phòng ngừa, giảm thiểu rủi ro, giám sát, hợp tác xử lý các vụ việc (Hành động 1, 2, 7, 8, 17) đối với các đối tượng và hoạt động thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Nội vụ. Tương tự như với Bộ Ngoại giao, xét tiến triển hiện tại, trong thời gian tới, Bộ Nội vụ cần lưu ý phối hợp với các bộ, ngành triển khai các hành động với vai trò là cơ quan chịu trách nhiệm11 về tổ chức và hoạt động của các hội, quỹ xã hội, quỹ từ thiện12, cụ thể như sau:
- Hành động 7: FATF yêu cầu Việt Nam tiếp cận, hướng dẫn khu vực tư nhân kết quả NRA, Đánh giá rủi ro theo ngành và các nghĩa vụ PCRT/TTKB. Đến nay, kết quả thực hiện của Việt Nam còn chưa đồng đều trên tất cả các lĩnh vực, đòi hỏi việc xử lý toàn diện hơn yêu cầu này.
Yêu cầu tiếp theo: Bộ Nội vụ cần thực hiện các hoạt động tiếp cận, hướng dẫn các hội, quỹ xã hội, quỹ từ thiện về kết quả NRA, Đánh giá rủi ro theo ngành và các nghĩa vụ PCRT/TTKB.
- Hành động 8: FATF yêu cầu Việt Nam xây dựng cơ chế cung cấp cho các cơ quan có thẩm quyền tiếp cận kịp thời đến các thông tin đầy đủ, chính xác và cập nhật về CSHHL của pháp nhân (và thỏa thuận pháp lý nếu phù hợp) và áp dụng các biện pháp xử lý một cách phù hợp, hiệu quả, tương xứng và có tính chất răn đe đối với các hành vi vi phạm. Hành động này đã được đánh giá là Hoàn thành một phần từ kỳ Báo cáo PR5, tuy nhiên, nội dung liên quan đến thông tin CSHHL của pháp nhân phi thương mại (trong đó bao gồm các hội, quỹ xã hội, quỹ từ thiện do Bộ Nội vụ quản lý) chưa được xử lý.
Yêu cầu tiếp theo: Để đạt mức đánh giá Hoàn thành/Hoàn thành phần lớn đối với Hành động 8, Việt Nam cần chứng minh việc xây dựng cơ chế cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác và cập nhật thông tin CSHHL cho các cơ quan có thẩm quyền đối với pháp nhân thương mại và phi thương mại (bao gồm các hội, quỹ xã hội, quỹ từ thiện). Theo đó, trong thời gian tới, Bộ Nội vụ cần nghiên cứu, đề xuất và xây dựng cơ chế thu thập, cập nhật, lưu trữ thông tin CSHHL có liên quan đến các hội, quỹ xã hội, quỹ từ thiện và nâng cao hiểu biết để đảm bảo thông tin CSHHL của các hội, quỹ xã hội, quỹ từ thiện được thu thập và chia sẻ kịp thời cho các cơ quan có thẩm quyền. (Bộ Nội vụ cần cân nhắc việc sửa đổi, bổ sung Nghị định về thành lập và hoạt động của quỹ, hội để bổ sung quy định về trách nhiệm kê khai thông tin chủ sở hữu hưởng lợi của các hội, quỹ xã hội, quỹ từ thiện do Bộ Nội vụ quản lý cũng như các hình thức xử phạt đối với hành vi vi phạm).
3.11. Các bộ, ngành khác
Thanh tra Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch được giao đồng chủ trì, phối hợp thực hiện KHHĐQG và có mức độ tham gia khác nhau trong thực hiện KHHĐQG, trong đó chủ yếu bao gồm các hành động về nâng cao nhận thức, phòng ngừa, giảm thiểu rủi ro, thanh tra/giám sát, hợp tác xử lý các vụ việc (Hành động 1, 2, 4, 5, 7,...) đối với các đối tượng và hoạt động thuộc phạm vi quản lý nhà nước. Trong thời gian tới, các bộ, ngành cần tăng cường đầu tư nguồn lực, phối hợp chặt chẽ với NHNN, Bộ Công an để xử lý các nội dung, công việc có liên quan.
Xin đính kèm các bảng phụ lục các đánh giá của FATF đến kỳ Báo cáo PR7 và đề xuất triển khai đối với từng bộ, ngành.
1 Về Hành động này, Nhóm JG đánh giá: Với việc là một đơn vị cấp Cục thuộc NHNN kể từ ngày 05/01/2025, Cục PCRT đã đảm bảo tính độc lập trong phân tích, chuyển giao thông tin tình báo tài chính và đáp ứng các tiêu chí Khuyến nghị 29 - Đơn vị tình báo tài chính của FATF. Mô hình tổ chức Đơn vị tình báo tài chính hành chính trực thuộc Ngân hàng Trung ương của Cục PCRT là phù hợp với thông lệ mô hình hành chính của các Đơn vị tình báo tài chính trên thế giới, đảm bảo tuân thủ chuẩn mực quốc tế, nâng cao hiệu quả phòng ngừa trong công tác PCRT/TTKB.
2 KHHĐ của Việt Nam bao gồm 17 Hành động, tuy nhiên, các hành động mang tính khái quát cao, và FATF/JG có thể đặt thêm các yêu cầu bổ sung (về cả số lượng và chất lượng) nếu có diễn biến mới trên thực tế (như việc Việt Nam thành lập Trung tâm Tài chính quốc tế) hay có đánh giá về rủi ro mới phát sinh (như việc Việt Nam triển khai thí điểm giao dịch tài sản mã hóa) nếu xét thấy các thay đổi này có liên quan đến các yêu cầu về PCRT/TTKB.
3 Ví dụ: Đến kỳ PR7, 02 hành động về tuân thủ kĩ thuật (tức hoàn thiện khung khổ pháp lý) mới được FATF nâng hạng từ Không hoàn thành lên Hoàn thành một phần, mặc dù quy định pháp luật liên quan đến 02 hành động này đã được ban hành từ các kỳ báo cáo trước.
4 Khuyến nghị số 3 là một trong 06 Khuyến nghị cốt lõi của FATF. Theo đó, việc Khuyến nghị 3 bị đánh giá Không đáp ứng/Đáp ứng một phần trong Đánh giá đa phương là một trong những tiêu chí tiên quyết để một quốc gia bị đưa vào Danh sách Xám. Nếu kết quả đánh giá đa phương của 01 quốc gia có từ 03 khuyến nghị cốt lõi trở lên bị xếp hạng Không đáp ứng/Đáp ứng một phần (trong số 6 khuyến nghị cốt lõi: 3,5,6,10,11,20) thì quốc gia bị đưa vào Danh sách Xám.
5 FATF/JG không ghi nhận giải thích của phía Việt Nam về việc không thể can thiệp đến tiến độ phản hồi của đối tác do Việt Nam chưa chứng minh được nỗ lực đôn đốc từ phía Viện Kiểm sát và tiến trình trao đổi thông tin giữa các bên.
6 Tổ chức liên kết của FATF trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương
7 Tại Báo cáo PR7 và tại Hội nghị toàn thể FATF cũng như các cuộc tiếp xúc song phương, FATF bày tỏ quan ngại sâu sắc về sự chậm trễ kéo dài trong việc sửa đổi quy định về Tội rửa tiền trong Bộ luật Hình sự - dự kiến hoàn thành vào cuối năm 2027, tức là gần 03 năm sau khi hành động này hết hạn. Theo FATF, việc giải quyết các thiếu hụt theo Khuyến nghị 3 là nội dung cốt lõi trong việc thực thi các tiêu chuẩn quốc tế về PCRT và lộ trình hiện tại chưa phản ánh mức độ ưu tiên cần thiết. Do đó, FATF thúc giục Việt Nam ưu tiên cao nhất cho việc đẩy nhanh tiến độ sửa đổi Bộ luật Hình sự.
8 Trong kỳ PR8, số lượng các vụ án khởi tố mới Tội rửa tiền trong kỳ báo cáo này là 18 vụ án với 80 bị can (số vụ án khởi tố mới tăng 20% so với kỳ báo cáo trước; Điểm đáng chú ý là số lượng bị can khởi tố mới về Tội rửa tiền tăng đáng kể trong kỳ báo cáo này, tăng 185% so với kỳ trước), thể hiện mức tăng bền vững qua các kỳ PR. Cùng với đó, công tác khởi tố, điều tra Tội rửa tiền được mở rộng đến nhiều nhóm tội phạm nguồn có rủi ro Cao hoặc Trung bình Cao đã được chỉ ra trong báo cáo đánh giá rủi ro quốc gia của Việt Nam. Đặc biệt, kỳ báo cáo này ghi nhận lần đầu tiên Việt Nam có 03 vụ án khởi tố Tội rửa tiền từ tội phạm ma túy (Tội vận chuyển trái phép chất ma túy; Tội tàng trữ trái phép chất ma túy) chiếm 22,2% tổng số vụ án khởi tố mới về Tội rửa tiền trong kỳ.
9 Các tổ chức phi chính phủ nước ngoài là pháp nhân phi thương mại (theo Điều 10, 11 và 14 của Nghị định 58/2022/NĐ-CP ngày 31 tháng 8 năm 2022 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam).
10 Bộ Ngoại giao là cơ quan cấp phép và quản lý hoạt động của tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam theo Điều 22 Nghị định 58/2022/NĐ-CP ngày 31 tháng 8 năm 2022 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam.
11 Pháp nhân phi thương mại bao gồm tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, quỹ xã hội, quỹ từ thiện, doanh nghiệp xã hội và các tổ chức phi thương mại khác theo Điều 76 Bộ Luật dân sự.
12 Theo điểm c khoản 2 Điều 23 Nghị định 58/2022/NĐ-CP ngày 31 tháng 8 năm 2022 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam).
| THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 1139/QĐ-TTg | Hà Nội, ngày 26 tháng 6 năm 2026 |
QUYẾT ĐỊNH
Về việc ban hành Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện cam kết của Chính phủ Việt Nam về phòng, chống rửa tiền, tài trợ khủng bố và tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt
___________
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 18 tháng 02 năm 2025;
Căn cứ Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ngày 16 tháng 6 năm 2010;
Căn cứ Luật Phòng, chống rửa tiền ngày 15 tháng 11 năm 2022;
Căn cứ Luật Phòng, chống khủng bố ngày 12 tháng 6 năm 2013;
Căn cứ Nghị định số 81/2029/NĐ-CP ngày 01 tháng 11 năm 2019 của Chính phủ về phòng, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt;
Theo đề nghị của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tại Tờ trình số 96/TTr-NHNN ngày 09 tháng 6 năm 2026.
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện cam kết của Chính phủ Việt Nam về phòng, chống rửa tiền, tài trợ khủng bố và tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt.
Điều 2. Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành và thay thế Quyết định số 194/QĐ-TTg ngày 23 tháng 02 năm 2024 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện cam kết của Chính phủ Việt Nam về phòng, chống rửa tiền, tài trợ khủng bố và tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt.
Điều 3. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, các thành viên Ban Chỉ đạo phòng, chống rửa tiền chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.
| Nơi nhận: | KT. THỦ TƯỚNG |
| THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
KẾ HOẠCH
Hành động quốc gia thực hiện cam kết của Chính phủ Việt Nam về phòng, chống rửa tiền, tài trợ khủng bố và tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt
(Kèm theo Quyết định số 1139/QĐ-TTg ngày 26 tháng 6 năm 2026 của Thủ tướng Chính phủ)
I. MỤC TIÊU
Triển khai thực hiện và hoàn thành Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện cam kết của Chính phủ Việt Nam về phòng, chống rửa tiền, tài trợ khủng bố, tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt với Lực lượng đặc nhiệm tài chính (FATF) để đưa Việt Nam ra khỏi Danh sách rà soát tăng cường trên cơ sở đảm bảo tối đa lợi ích quốc gia.
II. HÀNH ĐỘNG CỤ THỂ
(Theo Phụ lục đính kèm).
III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1. Kinh phí
Các bộ, ngành có liên quan chủ động lập dự toán chi phí thực hiện các công việc được giao và đưa vào dự toán kinh phí hoạt động hàng năm của đơn vị.
2. Trách nhiệm thực hiện
a) Trách nhiệm của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
- Thực hiện và chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ và Trưởng Ban Chỉ đạo phòng, chống rửa tiền về các nhiệm vụ được giao.
- Đầu mối theo dõi, đôn đốc các bộ, ngành có liên quan trong việc thực hiện các nội dung của Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện cam kết của Chính phủ về phòng, chống rửa tiền, tài trợ khủng bố, tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt.
- Trước các ngày 01 tháng 3, 01 tháng 7, 01 tháng 11 hàng năm hoặc theo yêu cầu của FATF, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tổng hợp thông tin, số liệu, tài liệu từ các bộ, ngành liên quan để xây dựng báo cáo và gửi FATF đúng yêu cầu.
b) Trách nhiệm của các bộ, ngành liên quan
- Chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ và Trưởng Ban Chỉ đạo phòng, chống rửa tiền về các nhiệm vụ được giao.
- Phối hợp với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các bộ, ngành có liên quan trong việc thực hiện hành động được giao tại Kế hoạch này và gửi thông tin, số liệu, tài liệu báo cáo theo định kỳ nêu trên cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về kết quả triển khai thực hiện để tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ và Trường Ban Chỉ đạo phòng, chống rửa tiền và gửi báo cáo cho FATF.
3. Đề nghị Viện Kiểm sát nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân tối cao triển khai, thực hiện các nhiệm vụ theo Kế hoạch này.
4. Các bộ, ngành và cơ quan liên quan khẩn trương hoàn thành các hành động tại Phụ lục đính kèm theo đúng thời hạn. Trong trường hợp không hoàn thành đúng thời hạn theo Kế hoạch, các bộ, ngành, cơ quan có trách nhiệm báo cáo và giải trình với Thủ tướng Chính phủ và Trưởng Ban Chỉ đạo phòng, chống rửa tiền và tiếp tục thực hiện hành động cho đến khi hành động hoàn thành theo đánh giá của FATF.
Phụ lục
KẾ HOẠCH HÀNH ĐỘNG QUỐC GIA THỰC HIỆN CAM KẾT CỦA CHÍNH PHỦ VIỆT NAM VỀ PHÒNG, CHỐNG RỬA TIỀN, TÀI TRỢ KHỦNG BỐ, TÀI TRỢ PHỔ BIẾN VŨ KHÍ HỦY DIỆT HÀNG LOẠT
(Kèm theo Quyết định số 1139/QĐ-TTg ngày 26 tháng 6 năm 2026 của Thủ tướng Chính phủ)
| Nội dung hành động | Thời hạn | Hành động cụ thể cần thực hiện | Cơ quan chính | Cơ quan phối hợp |
| Hành động 1: Chứng minh rằng các cơ quan có thẩm quyền đã nâng cao hiểu biết về rủi ro rửa tiền/tài trợ khủng bố (RT/TTKB) và đang thực hiện các hành động để giảm thiểu rủi ro thông qua các chiến lược và chính sách phòng chống rửa tiền/tài trợ khủng bố (PCRT/TTKB) | Tháng 09/2026 | - Ban hành và triển khai thực hiện kế hoạch tuyên truyền, phổ biến đào tạo thường xuyên nhằm nâng cao nhận thức về rủi ro RT/TTKB/TTPBVKHDHL cho các cơ quan có thẩm quyền. Cung cấp thông tin, số liệu (các hội thảo, khóa đào tạo, thành phần, số lượng người tham dự, tài liệu phổ biến, đào tạo...) chứng minh các cơ quan có thẩm quyền đã được đào tạo và nâng cao nhận thức về rủi ro RT/TTKB/TTPBVKHDHL, - Xây dựng, ban hành và triển khai thực hiện có hiệu quả các chính sách/kế hoạch hành động cấp bộ, ngành nhằm giảm thiểu rủi ro về rửa tiền trên cơ sở Kế hoạch hành động quốc gia giải quyết rủi ro về RT/TTKB/TTPBVKHDHL giai đoạn 2023 - 2028. - Xây dựng cơ chế giám sát và thực hiện việc giám sát đối với việc triển khai kế hoạch hành động cấp bộ, ngành nhằm giảm thiểu rủi ro về RT/TTKB/TTPBVKHDHL, trong đó bao gồm việc theo dõi, giám sát đối với việc thực hiện kế hoạch đào tạo nhằm nâng cao nhận thức về rủi ro RT/TTKB/TTPBVKHDHL cho các cơ quan có thẩm quyền. - Cung cấp thông tin, số liệu chứng minh các cơ quan có thẩm quyền đã triển khai thực hiện trên thực tế các hành động để giảm thiểu rủi ro về RT/TTKB/TTPB VKHDHL. | - Các bộ, ngành: + Triển khai theo lĩnh vực quản lý và chức năng, nhiệm vụ được giao; + Xây dựng kế hoạch và tổ chức triển khai Kế hoạch hành động quốc gia giảm thiểu rủi ro về rửa tiền và tài trợ khủng bố tại bộ, ngành mình. | Các bộ, ngành có liên quan phối hợp triển khai theo lĩnh vực quản lý và chức năng, nhiệm vụ được giao. |
| - Thực hiện thêm đánh giá rủi ro đối với các tội phạm nguồn có nguy cơ rửa tiền cao được xác định trong Báo cáo đánh giá đa phương (Báo cáo ĐGĐP), như tội phạm môi trường và tội lạm dụng tình dục. - Hoàn thành đánh giá rủi ro ngành về rửa tiền trong lĩnh vực casino, kinh doanh trò chơi có thưởng, tài sản ảo, pháp nhân và thỏa thuận pháp lý. - Chứng minh các đánh giá rủi ro sử dụng phương pháp luận toàn diện và thông tin đầu vào phù hợp: Nguồn thông tin đa dạng bao gồm Báo cáo giao dịch đáng ngờ (STR), số liệu tội phạm, phân tích tình báo, phân tích chiến lược, nghiên cứu báo cáo trong nước và quốc tế, đặc biệt có sự tham gia của khu vực tư nhân. - Báo cáo về việc thực hiện đánh giá rủi ro về tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt. | - Đánh giá rủi ro quốc gia về rửa tiền: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN); - Đánh giá rủi ro quốc gia về TTKB: Bộ Công an; - Đánh giá rủi ro về TTPBVKH DHL: Bộ Quốc phòng. | Các bộ, ngành có liên quan phối hợp triển khai theo lĩnh vực quản lý và chức năng, nhiệm vụ được giao. | ||
| - Có kế hoạch cụ thể đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro cao như liên quan đến sử dụng tiền mặt trong nền kinh tế, sử dụng vàng để mua bán bất động sản, tham nhũng. Theo đó, cần tập trung phân phối nguồn lực (thành lập tổ, đội, điều tra tội rửa tiền và điều tra tội phạm nguồn có rủi ro cao). | - Kế hoạch liên quan đến việc sử dụng tiền mặt trong nền kinh tế: NHNN; - Điều tra tội phạm nguồn có nguy cơ rửa tiền cao, trung bình cao: Bộ Công an. | Các bộ, ngành có liên quan phối hợp triển khai theo lĩnh vực quản lý và chức năng, nhiệm vụ được giao. | ||
| - Cung cấp thông tin về hoạt động của Bộ Công an liên quan đến tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, các công việc Bộ Công an đã và đang triển khai nhằm tập trung vào tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia. | - Điều tra tội phạm nguồn có nguy cơ rửa tiền cao, trung bình cao: Bộ Công an. | Các bộ, ngành có liên quan phối hợp triển khai theo lĩnh vực quản lý và chức năng, nhiệm vụ được giao. | ||
| - Chia sẻ kết quả đánh giá rủi ro RT/TTKB/TTPBVKHDHL với các quốc gia khác. - Tăng cường hệ thống công nghệ thông tin nhằm giảm thiểu các rủi ro đã được xác định (nâng cao chất lượng báo cáo giao dịch đáng ngờ, thông tin tình báo tài chính kịp thời và chất lượng, tăng cường sự phối hợp và phản hồi...). | NHNN | Các bộ, ngành có liên quan phối hợp triển khai theo lĩnh vực quản lý và chức năng, nhiệm vụ được giao. | ||
| Hành động 2: Chứng minh việc hợp tác, phối hợp và liên lạc hiệu quả giữa các cơ quan có liên quan về RT/TTKB (VD: giữa các cơ quan thực thi pháp luật, giữa Cục Phòng, chống rửa tiền (Cục PCRT) và các cơ quan thực thi pháp luật, giữa các cơ quan giám sát) ở cấp độ hoạt động | Tháng 09/2024 (Đã hoàn thành) | - Nâng cao công tác phối hợp giữa các các cơ quan liên quan về phòng, chống rửa tiền (giữa các cơ quan thực thi pháp luật, giữa Cục PCRT với các cơ quan thực thi pháp luật, giữa Cục PCRT với các cơ quan thanh tra, giám sát), trong đó cung cấp thông tin, số liệu về hợp tác, phối hợp, chia sẻ thông tin thường xuyên giữa các cơ quan có thẩm quyền về RT/TTKB. Cung cấp một vài vụ việc cụ thể để chứng minh tính hiệu quả của việc trao đổi thông tin. - Có cơ chế để điều phối ở cấp thực thi (khác với cơ chế phối hợp ở cấp chính sách/cấp cao). - Đảm bảo sự liên lạc thường xuyên, thông suốt giữa các cơ quan có thẩm quyền như giữa các cơ quan thực thi pháp luật, Cục PCRT và các cơ quan thanh tra, giám sát. - Tăng cường ký kết Hiệp định tương trợ tư pháp về hình sự với nước ngoài, đặc biệt là các nước có rủi ro cao về tội rửa tiền, tội phạm nguồn của tội rửa tiền. Kết quả cụ thể: - Chứng minh Việt Nam có khả năng hợp tác và phối hợp hiệu quả ở cấp kỹ thuật. Theo đó, đưa ra các ví dụ hợp tác, phối hợp trong việc thực hiện các nhiệm vụ chung đối với các loại tội phạm có rủi ro cao giữa các cơ quan thực thi pháp luật chủ chốt và giữa các cơ quan thanh tra trong cấp phép, thanh tra, giám sát các lĩnh vực có rủi ro cao về RT/TTKB. - Xác định các khó khăn trong công tác phối hợp giữa các cơ quan liên quan đến PCRT/TTKB và đề xuất biện pháp giải quyết những khó khăn đó. | Tòa án nhân tối cao; Viện kiểm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC); NHNN; Bộ Công an (theo chức năng, nhiệm vụ được giao); Bộ Quốc phòng (theo phạm vi, chức năng, nhiệm vụ về rửa tiền/tài trợ khủng bố). | Các bộ, ngành có liên quan phối hợp triển khai theo lĩnh vực quản lý và chức năng, nhiệm vụ được giao. |
| Hành động 3: Tăng cường hợp tác chính thức (dẫn độ và tương trợ tư pháp đa phương) và hợp tác không chính thức (của các cơ quan thực thi pháp luật và đơn vị tình báo tài chính (FIU)) với các đối tác nước ngoài bằng cách: - Cung cấp mang tính xây dựng và chủ động tìm kiếm hợp tác liên quan đến tội phạm và tài sản của chúng (phù hợp với mức độ rủi ro của Việt Nam); - Đảm bảo các cơ quan có thẩm quyền, bao gồm các cơ quan trung ương, được cung cấp nguồn lực phù hợp để thực hiện hợp tác quốc tế; - Theo đuổi các thỏa thuận, thỏa thuận với nhiều cơ quan đối tác nước ngoài nhất có thể trong phạm vi của mình để tạo thuận lợi cho hoạt động hợp tác quốc tế. | Tháng 01/2027 | - Xây dựng cơ sở/quy trình ưu tiên trong việc thực hiện hợp tác quốc tế (ký kết các hiệp định, thoả thuận với đối tác nước ngoài, trao đổi thông tin tình báo tài chính, gửi các yêu cầu hợp tác quốc tế chính thức và không chính thức...). - Tăng cường hợp tác chính thức và không chính thức đối với các đối tác nước ngoài, đặc biệt là tăng cường hợp tác trong các vấn đề liên quan đến tội phạm và tài sản. - Cần phân bổ đủ nguồn lực cho cơ quan có thẩm quyền hợp tác trong quá trình thực thi. - Có kế hoạch và triển khai việc thu thập, tổng hợp số liệu về số lượng yêu cầu tương trợ tư pháp (MLA) đến/đi; số lượng yêu cầu hợp tác không chính thức đến/đi; số lượng các cuộc đào tạo điều tra viên/kiểm sát viên. - Các cơ quan thanh tra, giám sát đối tượng báo cáo đẩy mạnh hợp tác quốc tế, chia sẻ thông tin với các cơ quan giám sát nước ngoài. Kết quả cụ thể: - Tăng nguồn lực (số lượng cán bộ, tài chính,...) cho các cơ quan chủ chốt thực hiện dẫn độ và tương trợ tư pháp (Bộ Công an và VKSNDTC) và có kế hoạch và tổ chức đào tạo để các cán bộ này đảm bảo thực hiện hiệu quả công tác hợp tác quốc tế. - Cần xác định danh mục các quốc gia có rủi ro cao để làm cơ sở cho việc ưu tiên các trường hợp dẫn độ và tương trợ tư pháp liên quan đến rửa tiền, phù hợp với hồ sơ rủi ro của Việt Nam về rửa tiền xuyên biên giới. - Tăng cường đào tạo về hợp tác quốc tế cho các điều tra viên và kiểm sát viên (để nắm bắt các kênh hợp tác quốc tế sẵn có, đồng thời, tăng số lượng tương trợ tư pháp đến và đi). - Trình bày các ví dụ thành công về hợp tác không chính thức trong thu hồi, tịch thu tài sản (ví dụ thông qua Mạng lưới liên cơ quan thu hồi tài sản Khu vực châu Á - Thái Bình Dương - ARIN-AP). - Cần xác định danh mục các quốc gia/lĩnh vực có rủi ro cao để làm cơ sở cho việc ưu tiên: + Tăng cường hợp tác giữa các FIU, đặc biệt đối với các lĩnh vực có rủi ro cao cung cấp bằng chứng việc các cơ quan có thẩm quyền sẽ nhanh chóng cung cấp thông tin tình báo đối với tội rửa tiền, tội phạm nguồn của tội rửa tiền và tội tài trợ khủng bố với các đối tác nước ngoài. + Tăng cường ký các Biên bản ghi nhớ. | Bộ Công an; VKSNDTC; Bộ Tài chính; NHNN (theo chức năng, nhiệm vụ được giao). | Các bộ, ngành có liên quan phối hợp triển khai theo lĩnh vực quản lý và chức năng, nhiệm vụ được giao. |
| Hành động 4: Chứng minh hiệu quả của việc thanh tra, kiểm tra, giám sát các tổ chức tài chính (FI) và cá nhân, tổ chức kinh doanh ngành nghề phi tài chính liên quan (DNFBP) về PCRT/TTKB trên cơ sở rủi ro thông qua giám sát từ xa và các cuộc thanh tra, kiểm tra tại chỗ và các biện pháp thực thi. | Tháng 01/2027 | - Các cơ quan có thẩm quyền áp dụng thanh tra, kiểm tra, giám sát trên cơ sở rủi ro đối với các đối tượng báo cáo thuộc lĩnh vực quản lý và đưa ra các bằng chứng đã áp dụng phương pháp thanh tra, kiểm tra, giám sát đó. + Cách sử dụng thông tin được thu thập từ các FI và DNFBP để ưu tiên đánh giá dựa trên rủi ro. + Việc sử dụng một loạt các biện pháp thanh tra, kiểm tra, giám sát, bao gồm các biện pháp thực thi, để cải thiện sự tuân thủ của các FI và DNFBP. + Cách ngăn chặn tội phạm và đồng phạm của chúng nắm giữ hoặc kiểm soát các FI và DNFBP. - Hiệu quả của công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát có thể được thể hiện thông qua: + Các hành động do FI và DNFBP thực hiện để tăng cường các chương trình chống RT/TTKB. + Báo cáo STR có chất lượng ngày càng tốt hơn. - Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch thanh tra, kiểm tra trên cơ sở rủi ro về PCRT/TTKB áp dụng cho tất cả đối tượng báo cáo (FI và DNFBP) và có bằng chứng chứng minh việc thực hiện các kế hoạch này. - Chứng minh việc nghiên cứu, tham khảo kinh nghiệm của các quốc gia khác về triển khai thanh tra, kiểm tra, giám sát trên cơ sở rủi ro về PCRT/TTKB. | NHNN; Bộ Tài chính; Bộ Tư pháp; Bộ Xây dựng; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Bộ Công Thương; Thanh tra Chính phủ (theo chức năng, lĩnh vực quản lý đối tượng báo cáo). | Các bộ, ngành có liên quan phối hợp triển khai theo lĩnh vực quản lý và chức năng, nhiệm vụ được giao. |
| Hành động 5: Thực hiện hành động để giải quyết những thiếu hụt liên quan đến khuôn khổ pháp lý của Việt Nam về: - Các quy định và yêu cầu giám sát FI, DNFBP về PCRT/TTKB; - Các biện pháp phòng ngừa, đặc biệt là đối với các Khuyến nghị: 10, 11, 12, 16, 20 thuộc bộ chuẩn mực của FATF. | Tháng 05/2027 | - Giải quyết các thiếu hụt tuân thủ kỹ thuật liên quan đến khuôn khổ pháp lý và giám sát về FI và DNFBP, bao gồm Khuyến nghị 26, 27, 28, 35 thuộc bộ chuẩn mực của FATF. - Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật cần thiết để giải quyết các thiếu hụt về biện pháp phòng ngừa (Khuyến nghị 10-23 thuộc bộ chuẩn mực của FATF). Kết quả cụ thể: - Tập trung vào các Khuyến nghị 10, 11, 12, 16, 20 thuộc bộ chuẩn mực của FATF với các thiếu hụt đã được xác định trong Báo cáo của Nhóm rà soát chung (Nhóm JG) và Báo cáo ĐGĐP, - Đưa ra các bằng chứng đối với việc thực thi áp dụng các điều khoản trong Luật PCRT 2022. - Bổ sung các chế tài xử lý hoặc tăng hình phạt đối với việc không tuân thủ PCRT/TTKB. - Đưa ra các yêu cầu về điều kiện cần và đủ cần được nâng cao để giải quyết các thiếu hụt tuân thủ kỹ thuật cũng như phòng ngừa tội phạm đối với việc nắm giữ và điều khiển các FI hoặc DNFPB (ưu tiên đối với các lĩnh vực có rủi ro cao). - Có quy định giám sát đối với việc tuân thủ các yêu cầu chống TTKB với các FI và DNFPB. - Có cách thức thông báo những thay đổi về quy định pháp luật cho các đối tượng báo cáo để họ hiểu nghĩa vụ PCRT/TTKB của mình. | NHNN; Bộ Tài chính; Bộ Tư pháp; Bộ Xây dựng; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Bộ Công Thương, (theo chức năng và lĩnh vực quản lý đối tượng báo cáo). | Các bộ, ngành có liên quan phối hợp triển khai theo lĩnh vực quản lý và chức năng, nhiệm vụ được giao. |
| Hành động 6: Xây dựng khung pháp lý để cấm hoặc điều chỉnh đối với tài sản ảo (VAs) và các tổ chức cung ứng dịch vụ tài sản ảo (VASPs), đồng thời chứng minh việc thực thi các quy định bao gồm các biện pháp đảm bảo tuân thủ. | Tháng 09/2026 | - Xây dựng khung pháp lý đối với VAs và VASPs và chứng minh việc thực thi khung pháp lý đó, bao gồm: (i) nâng cao hiểu biết của cơ quan quản lý, giám sát hiểu rõ rủi ro trong lĩnh vực này; (ii) đào tạo, phổ biến nâng cao hiểu biết, nghĩa vụ của VASP về PCRT/TTKB/TPBVKHDHL. - Có các biện pháp xử lý đối với các hành vi vi phạm pháp luật. | Bộ Tài chính và các bộ, ngành theo chức năng, nhiệm vụ được giao. | Các bộ, ngành có liên quan phối hợp triển khai theo lĩnh vực quản lý và chức năng, nhiệm vụ được giao. |
| Hành động 7: Tiến hành các hoạt động tiếp cận và cung cấp hướng dẫn cho khu vực tư nhân về kết quả đánh giá rủi ro quốc gia (NRA), đánh giá rủi ro ngành và các nghĩa vụ PCRT/TTKB (bao gồm các biện pháp trừng phạt tài chính mục tiêu và báo cáo giao dịch đáng ngờ), trong đó tập trung vào các ngành có rủi ro cao hơn. | Tháng 09/2026 | - Các hoạt động tiếp cận cơ bản cần bao gồm các nội dung: phổ biến kết quả NRA; đánh giá rủi ro ngành; nghĩa vụ PCRT/TTKB. - Các hoạt động tiếp cận đối với khu vực tư nhân thông qua các hoạt động tiếp cận cộng đồng (đào tạo, bồi dưỡng, tuyên truyền, phổ biến kiến thức) và cung cấp tài liệu hướng dẫn. - Cần tập trung tiếp cận các khu vực có rủi ro cao theo đánh giá. Kết quả cụ thể: - Các cơ quan giám sát cần hỗ trợ các đối tượng báo cáo thông qua: (i) phát hiện các rủi ro; (ii) chỉ định các biện pháp phù hợp để giảm thiểu các rủi ro đó; (iii) hướng dẫn thực hiện phương pháp tiếp cận trên cơ sở rủi ro khi áp dụng các biện pháp phòng ngừa. - Cần duy trì liên lạc và trao đổi với các đối tượng báo cáo thông qua: (i) thiết lập kênh liên lạc cụ thể theo ngành; (ii) tập trung vào ngành có rủi ro cao; (iii) sự tham gia của các hiệp hội lớn và/hoặc các cơ quan tự quản trong các ngành có rủi ro cao; (iv) chia sẻ kết quả phân tích và bài học điển hình. | NHNN; Bộ Tài chính; Bộ Tư pháp; Bộ Xây dựng; Bộ Nội vụ; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Bộ Công Thương Bộ Công an và Bộ Ngoại giao (theo chức năng và lĩnh vực quản lý đối tượng báo cáo). | Các bộ, ngành có liên quan phối hợp triển khai theo lĩnh vực quản lý và chức năng, nhiệm vụ được giao. |
| Hành động 8: Xây dựng cơ chế cung cấp cho các cơ quan có thẩm quyền tiếp cận kịp thời vào các thông tin đầy đủ, chính xác và cập nhật về chủ sở hữu hưởng lợi của pháp nhân (và thỏa thuận pháp lý nếu phù hợp) và áp dụng các biện pháp xử lý một cách phù hợp, hiệu quả, tương xứng và có tính chất răn đe đối với các hành vi vi phạm. | Tháng 9/2026 | - Thiết lập cơ chế thu thập, cập nhật, lưu trữ thông tin về chủ sở hữu hưởng lợi có liên quan đến các pháp nhân phi thương mại và thỏa thuận pháp lý. - Phạm vi hiểu biết về các pháp nhân và thoả thuận pháp lý cần phải đầy đủ và rõ ràng để đảm bảo thông tin về chủ sở hữu hưởng lợi được thu thập từ tất cả các pháp nhân có liên quan. - Cần có sự tham gia của khu vực tư nhân (thông qua đào tạo và nâng cao nhận thức) để đảm bảo cơ chế cung cấp thông tin chính xác và kịp thời về chủ sở hữu hưởng lợi. - Có các bằng chứng về việc thông tin chủ sở hữu hưởng lợi đã được cung cấp cho cơ quan có thẩm quyền (ví dụ như cơ quan thực thi pháp luật và cơ quan giám sát). - Có các bằng chứng về việc áp dụng các hình phạt hiệu quả, tương xứng và các tính răn đe trong trường hợp vi phạm. | Bộ Tài chính; Bộ Nội vụ; Bộ Ngoại giao; NHNN (theo chức năng, nhiệm vụ được giao.) | Các bộ, ngành có liên quan phối hợp triển khai theo lĩnh vực quản lý và chức năng, nhiệm vụ được giao. |
| Hành động 9: Việt Nam cần đảm bảo và thể hiện sự độc lập và tự chủ của Cục PCRT, bao gồm: - Chức năng phân tích và chuyển giao thông tin; - Phân bổ đầy đủ nguồn lực (cả về nhân sự và tài chính); - Theo đuổi các thỏa thuận và tham gia độc lập trong việc trao đổi thông tin hoặc nằm trong cơ cấu tổ chức của NHNN hoặc với tư cách là một cơ quan độc lập | Tháng 9/2024 (Đã hoàn thành) | - Có cơ sở pháp lý/hành chính rõ ràng chứng minh Cục PCRT (FIU) độc lập/tự chủ trong tổ chức triển khai hoạt động. + Khẩn trương xây dựng và trình ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định có liên quan đến đơn vị thực hiện phòng, chống rửa tiền. + Xây dựng và ban hành các văn bản quy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục PCRT trong đó có các quy định đảm bảo tính độc lập, tự chủ của FIU. + Quy định rõ trong Quyết định về chức năng, nhiệm vụ của Cục PCRT việc Cục trưởng Cục PCRT (hoặc Thống đốc có văn bản ủy quyền chó Cục trưởng Cục PCRT): (i) có thẩm quyền trong việc thu thập, phân tích, chuyển giao thông tin tình báo cho các cơ quan có thẩm quyền; (ii) có thẩm quyền ký kết các thỏa thuận/biên bản ghi nhớ (MOU) với đối tác trong nước và quốc tế, đặc biệt là FIU quốc tế. - Chứng minh Cục PCRT thực hiện các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn quan trọng một cách độc lập thông qua các bằng chứng liên quan đến: + Cục PCRT độc lập, tự chủ trong hoạt động thu thập, phân tích, chuyển giao thông tin cho các cơ quan có thẩm quyền. + Cục PCRT được phân bổ nguồn lực (nhân sự, công nghệ thông tin và tài chính) đầy đủ để có thể thực hiện tốt chức năng cốt lõi của FIU, + Có các MOU chia sẻ thông tin được ký bởi Cục trưởng Cục PCRT, trong đó bao gồm cả các thoả thuận quốc tế nhằm mục tiêu ngăn chặn hoạt động tội phạm xuyên quốc gia. + Gia nhập Nhóm các đơn vị tình báo tài chính - Egmont (chứng minh các nỗ lực triển khai). | NHNN | Các bộ, ngành có liên quan phối hợp triển khai theo lĩnh vực quản lý và chức năng, nhiệm vụ được giao. |
| Hành động 10: Cục PCRT cần nâng cao chất lượng và số lượng phân tích tình báo tài chính (cả hoạt động và chiến lược) và chuyển giao thông tin cho các cơ quan thực thi pháp luật (cả chủ động và theo yêu cầu) tương ứng với hồ sơ rủi ro của Việt Nam bằng cách: - Tăng số lượng STR được phân tích; - Xây dựng cơ chế phản hồi cho các đối tượng báo cáo để cải thiện chất lượng các STR; - Tiếp cận các nguồn thông tin rộng nhất có thể và sử dụng các công cụ công nghệ và phân tích phù hợp. | Tháng 9/2026 | - Nâng cao chất lượng sản phẩm phân tích tình báo tài chính tại Cục PCRT (cả phân tích hoạt động và phân tích chiến lược), thông qua các hoạt động sau: + Tăng số lượng STR được Cục PCRT phân tích; tăng số lượng thông tin chuyển giao từ Cục PCRT tới các cơ quan thực thi pháp luật, theo đó cần thống kê số lần chuyển giao STR được phân tích tới cơ quan thực thi pháp luật cả chuyển giao chủ động và khi được yêu cầu. + Tỷ lệ các STR chuyển cho cơ quan thực thi pháp luật được xử lý và kết quả điều tra dẫn đến các cuộc điều tra tội phạm nguồn và tội phạm rửa tiền được cải thiện qua các năm. + Tăng cường số lượng và chất lượng các STR chuyển giao liên quan đến tội rửa tiền thay vì tội phạm nguồn như hiện nay qua các năm. + Chứng minh các sản phẩm tình báo tài chính được xây dựng phù hợp với tội phạm hoặc lĩnh vực có rủi ro cao (các sản phẩm phân tích STR liên quan đến các tội phạm nguồn có rủi ro cao được chỉ ra trong báo cáo đánh giá rủi ro). + Tăng cường phân tích chiến lược. + Có kế hoạch, chương trình và bằng chứng triển khai hoạt động đào tạo của FIU xây dựng năng lực phân tích cho các cán bộ của FIU. + Cải thiện chất lượng STR đầu vào thông qua việc có các hoạt động đào tạo cho đối tượng báo cáo; có cơ chế phản hồi thông tin (các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn hoặc các cuộc họp, buổi làm việc, trao đổi, các buổi tập huấn, đào tạo, kiểm tra, giám sát...) cho các đối tượng báo cáo (trong các lĩnh vực có liên quan đặc biệt là các lĩnh vực có rủi ro cao như ngân hàng) để cải thiện chất lượng báo cáo STR đầu vào làm gia tăng chất lượng và số lượng của các STR. - Các cơ quan tiếp nhận báo cáo STR do Cục PCRT chuyển giao cung cấp các phản hồi cho Cục PCRT về chất lượng báo cáo STR chuyển giao và kết quả xử lý vụ việc (đặc biệt là những vụ việc thành công) để làm bằng chứng chứng minh rằng các thông tin STR của Cục PCRT chuyển giao cho Cơ quan chức năng được điều tra, thanh tra, kiểm tra xác minh và có kết quả dẫn đến các vụ điều tra, truy tố, xét xử hoặc xử phạt vi phạm hành chính thành công cũng như góp phần cải thiện chất lượng STR đầu ra. - Mở rộng các nguồn thông tin/cơ sở dữ liệu phục vụ việc phân tích thông qua: + Ký kết và thực hiện các MOU về trao đổi thông tin với các cơ quan có thẩm quyền trong nước (Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính). + Cục PCRT có thể kết nối, truy cập và khai thác cơ sở dữ liệu của các bộ, ngành có liên quan (cơ sở dữ liệu về dân cư, cơ sở dữ liệu về thuế, hải quan, thành lập doanh nghiệp...). + Chứng minh Cục PCRT đã sử dụng nguồn thông tin đa dạng, công cụ phân tích và công nghệ phù hợp để xây dựng các sản phẩm tình báo tài chính có chất lượng cao. - Thống kê số liệu, thông tin về các vụ việc (đã được điều tra, truy tố, xét xử, thanh tra, kiểm tra thành công) điển hình cho thấy năng lực phân tích thông tin tình báo tài chính được tăng cường và các sản phẩm chuyển giao phù hợp với hồ sơ rủi ro quốc gia. | NHNN | Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính (Cục Thuế, Cục Hải quan) và các bộ, ngành khác có liên quan theo lĩnh vực quản lý và chức năng, nhiệm vụ được giao. |
| Hành động 11: Cơ quan thực thi pháp luật, cụ thể là Bộ Công an chứng minh sự gia tăng trong việc sử dụng các thông tin tình báo tài chính, bao gồm cả các thông tin được chuyển giao từ Cục PCRT | Tháng 9/2026 | - Có bằng chứng chứng minh các cơ quan thực thi pháp luật, trong đó trọng tâm là Bộ Công an đã sử dụng thông tin tình báo tài chính từ Cục PCRT thông qua: + Các cơ quan thực thi pháp luật yêu cầu cung cấp thông tin tình báo tài chính từ Cục PCRT; + Cục PCRT chuyển giao chủ động thông tin tình báo tài chính cho các cơ quan thực thi pháp luật; + Các thông tin tình báo tài chính được cơ quan thực thi pháp luật (Bộ Công an) sử dụng trong điều tra các vụ án/tội phạm,... - Phát triển nguồn nhân lực cho tình báo phòng chống rửa tiền/tài trợ khủng bố/tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt và điều tra tài chính thông qua việc tận dụng mọi nguồn lực để đào tạo nhân sự. - Tăng số lượng chuyển giao thông tin tình báo tài chính dẫn tới điều tra và truy tố tội rửa tiền và tội phạm nguồn của tội rửa tiền. - Có bằng chứng chứng minh việc tích cực phản hồi về hiệu quả sử dụng các thông tin tình báo tài chính do Cục PCRT chuyển giao. - Có số liệu thống kê và các vụ việc điển hình để chứng minh việc sử dụng thông tin tình báo tài chính là xuất phát điểm của các cuộc điều tra hoặc hỗ trợ đưa ra kết luận điều tra. - Có số liệu và thông tin về việc không chỉ Bộ Công an, các cơ quan khác cũng sử dụng thông tin của Cục PCRT một cách hiệu quả phù hợp với hồ sơ rủi ro. | Bộ Công an; NHNN đồng chủ trì theo chức năng, nhiệm vụ được giao. | Bộ Tài chính (Cục Thuế, Cục Hải quan); Các bộ, ngành có liên quan triển khai theo lĩnh vực quản lý và chức năng, nhiệm vụ được giao |
| Hành động 12: Giải quyết các thiếu hụt về tuân thủ kỹ thuật trong tội rửa tiền của Việt Nam đối với Khuyến nghị số 3 thuộc bộ chuẩn mực của FATF (Tội rửa tiền). | Tháng 12/2026 | Nghiên cứu, rà soát để đề xuất sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật có liên quan để giải quyết tối đa thiếu hụt trong tuân thủ kỹ thuật đối với tội rửa tiền. | Bộ Công an; các bộ, ngành theo chức năng, nhiệm vụ được giao. | Các bộ, ngành có liên quan triển khai theo lĩnh vực quản lý và chức năng, nhiệm vụ được giao |
| Hành động 13: Các cơ quan thực thi pháp luật và các cơ quan công tố ưu tiên các cuộc điều tra tài chính song song và chứng minh sự gia tăng đáng kể và bền vững về số lượng các vụ điều tra và truy tố rửa tiền, phù hợp với hồ sơ rủi ro rửa tiền của Việt Nam | Tháng 9/2026 | - Ban hành quy trình ưu tiên cấp quốc gia đối với các cuộc điều tra tội rửa tiền của Bộ Công an và truy tố tội rửa tiền của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao. Theo đó, các quy trình ưu tiên cần được hỗ trợ bởi các thủ tục và chính sách cụ thể của từng cơ quan. + Cung cấp thông tin chi tiết về quy trình ưu tiên cấp quốc gia đối với các cuộc điều tra tội rửa tiền của Bộ Công an, truy tố tội rửa tiền của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao tại văn bản nào, gồm những nội dung gì. + Cần sẵn sàng khả năng chia sẻ thông tin; có biện pháp để chia sẻ các thông tin nhằm chứng minh được sự tiến bộ. + Kết quả thực tế đạt được từ khi ban hành quy trình ưu tiên cấp quốc gia đó. - Tăng cường hợp tác quốc tế hiệu quả trong điều tra và truy tố tội rửa tiền có yếu tố nước ngoài. Xem xét cách thức để thể hiện tốt nhất về hợp tác quốc tế hiệu quả. Ví dụ: đưa ra các nghiên cứu điển hình (case study) về điều tra và truy tố xuyên quốc gia (Cung cấp chi tiết các vụ án điển hình đã/đang điều tra, truy tố, xét xử liên quan đến tội rửa tiền có yếu tố xuyên quốc gia). - Chứng minh sự gia tăng đáng kể về năng lực và kỹ năng của các cơ quan thực thi pháp luật, kiểm sát viên để điều tra, truy tố và xét xử tội rửa tiền theo hồ sơ rủi ro. Điều này cần được thể hiện qua: + Cung cấp các khoá đào tạo cho các Điều tra viên, Kiểm sát viên và Thẩm phán: (i) Thu thập số liệu thống kê về đào tạo của Bộ Công an, viện kiểm sát nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân tối cao. Các thông tin thống kê gồm: số cuộc đào tạo được tổ chức, số lượng người tham gia và cơ quan của họ, địa điểm đào tạo, thời gian đào tạo, nội dung đào tạo (Thông báo khóa đào tạo, tài liệu đào tạo, kết quả hoặc báo cáo tổng kết từng khóa học để làm tài liệu chứng minh). (ii) Đảm bảo rằng cơ quan thực thi pháp luật được đào tạo về các chính sách và thủ tục điều tra tội rửa tiền mới. + Tăng cường hợp tác giữa các cơ quan: (i) Cung cấp thông tin về kết quả thực tế việc hợp tác giữa các bộ ngành đã đạt được. Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân tối cao có tài liệu minh chứng cụ thể (ii) Cơ chế phối hợp liên ngành trong từng cuộc điều tra cụ thể để làm trường hợp nghiên cứu điển hình (Nội dung cuộc điều tra, bộ ngành phối hợp, nội dung phối hợp đối với từng bộ ngành, kết quả phối hợp). Việc phối hợp giữa các bộ ngành phải có biên bản, văn bản để chứng minh. - Ưu tiên điều tra tài chính song song, và chứng minh sự gia tăng về số lượng cuộc điều tra, truy tố về tội rửa tiền, chứng minh các cuộc điều tra và truy tố về tội rửa tiền phải phù hợp với hồ sơ rủi ro của Việt Nam. + Thu thập số liệu thống kê về điều tra tội rửa tiền và các loại tội phạm, yêu cầu về điều tra tài chính song song. + Đảm bảo các cuộc điều tra tài chính phù hợp với hồ sơ rủi ro của Việt Nam (ví dụ như buôn bán ma túy và động vật hoang dã, vận chuyển hàng hóa và tiền tệ xuyên biên giới bất hợp pháp, buôn người và buôn lậu), thể hiện sự gia tăng đáng kể và bền vững. + Đa dạng hóa các vụ án điều tra tội rửa tiền (Rửa tiền qua bên thứ ba, rửa tiền có yếu tố xuyên quốc gia,...) + Nêu chi tiết các vụ án điều tra, truy tố, xét xử tội rửa tiền điển hình để làm ví dụ. Kết quả điều tra, truy tố, xét xử tội rửa tiền bổ sung thông tin về phong tỏa tài khoản, tạm ngừng, số liệu về thu hồi, tịch thu tài sản, đảm bảo có nhiều hình phạt tương xứng và có tính răn đe. | Bộ Công an; Viện Kiểm sát nhân dân tối cao; Bộ Quốc phòng (chủ trì điều tra tội rửa tiền trong phạm vi, chức năng, nhiệm vụ). | Tòa án nhân dân tối cao; cá các bộ, ngành có liên quan triển khai theo lĩnh vực quản lý và chức năng, nhiệm vụ được giao. |
| Hành động 14: Giải quyết các thiếu hụt về tuân thủ kỹ thuật liên quan đến Khuyến nghị 6 thuộc bộ chuẩn mực của FATF (Hình phạt tài chính mục tiêu liên quan đến khủng bố và tài trợ khủng bố). | Tháng 5/2024 (Đã hoàn thành) | Giải quyết các thiếu hụt về hình phạt tài chính mục tiêu liên quan đến khủng bố và tài trợ khủng bố được nhắc đến trong Báo cáo Đánh giá đa phương, bao gồm: - Không có quy định cụ thể về tiêu chuẩn chứng cứ để đưa ra đề xuất chỉ định. - Không rõ liệu các tổ chức được sở hữu hoặc bị kiểm soát, hoặc cá nhân thay mặt hoặc theo chỉ dẫn của cá nhân và đối tượng bị chỉ định có thể bị chỉ định trong nước hay không. - Tiêu chuẩn chứng cứ về “cơ sở hợp lý” hoặc cơ sở đáng tin cậy” không được quy định trong luật. - Có thiếu hụt trong quy định về nghĩa vụ phong tỏa không chậm trễ, không báo trước. - Nghĩa vụ phong tỏa chi có hiệu lực thi hành đối với các ngân hàng, không áp dụng với tất cả pháp nhân và thế nhân. - Các lệnh cấm cung cấp tiền, tài sản, nguồn lực không áp dụng đối với các tổ chức được sở hữu hoặc bị kiểm soát bởi các cá nhân tổ chức bị chỉ định, hoặc cá nhân và tổ chức thay mặt cho hoặc theo chỉ dẫn của cá nhân và tổ chức bị chỉ định. - Các lệnh cấm về cung cấp tiền không có hiệu lực thi hành. - Nghĩa vụ báo cáo các hành động phong tỏa hoặc các lệnh cấm dịch vụ chi có hiệu lực thi hành đối với các ngân hàng, - Không có hướng dẫn đối với hành động phong tỏa hoặc hủy phong tỏa. - Không có thông báo nào cho các đối tượng báo cáo khi có cá nhân hoặc tổ chức bị đưa vào/ra khỏi danh sách chỉ định. - Không có quy trình công khai để giải quyết vấn đề thông báo giả. Kết quả cụ thể: - Sửa đổi Nghị định số 122/2013/NĐ-CP hoặc Luật Phòng, chống khủng bố để yêu cầu tất cả các thể nhân và pháp nhân đóng băng tiền hoặc tài sản của cá nhân, tổ chức được chỉ định không chậm trễ và không cần thông báo trước. - Thiết lập các hình phạt tương xứng và có tính răn đe đối với các thể nhân và pháp nhân không tuân thủ các nghĩa vụ hình phạt tài chính mục tiêu (bao gồm nghĩa vụ đóng băng và các lệnh cấm). - Giải quyết các thiếu hụt kỹ thuật trong khuyến nghị 6 thuộc bộ chuẩn mực của FATF liên quan đến cơ chế thông tin liên lạc nhanh chóng và chuẩn hoá. - Tiếp cận trực tiếp và định kỳ với các FI và DNFPB (đặc biệt là các tổ chức tài chính quy mô nhỏ, DNFPB và VASP) về các nghĩa vụ đối với Hội đồng bảo an Liên hợp quốc, Hoạt động tiếp cận nên được điều chỉnh phù hợp và cần yêu cầu các đối tượng báo cáo về các hoạt động đã triển khai để đảm bảo thực hiện các nghĩa vụ hình phạt tài chính mục tiêu. - Duy trì tiếp cận các tổ chức phi lợi nhuận được đánh giá là có mức độ lạm dụng TTKB cao hơn, áp dụng các biện pháp dựa trên rủi ro đối với các tổ chức phi lợi nhuận này và xây dựng phương pháp để giải quyết rủi ro TTKB trong bối cảnh Việt Nam. - Cung cấp thông tin, số liệu, thống kê chứng minh tính hiệu quả của các hành động nêu trên, đặc biệt là hoạt động tiếp cận các FI, DNFBP, tổ chức phi lợi nhuận. | Bộ Công an. | - Các bộ, ngành liên quan chủ trì xây dựng, ban hành quy định xử phạt đối với hành vi không tuân thủ các nghĩa vụ trừng phạt tài chính mục tiêu theo lĩnh vực quản lý và chức năng, nhiệm vụ được giao của bộ, ngành. - Các bộ, ngành phối hợp tiếp cận, tuyên truyền nghĩa vụ với các Nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc đối với đối tượng quản lý và triển khai thực hiện các nhiệm vụ khác theo lĩnh vực quản lý và chức năng, nhiệm vụ được giao. |
| Hành động 15: Giải quyết các thiếu hụt về tuân thủ kỹ thuật liên quan đến Khuyến nghị 7 thuộc bộ chuẩn mực của FATF (Các hình phạt tài chính mục tiêu liên quan đến phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt) | Tháng 10/2026 | Giải quyết các thiếu hụt về tuân thủ kỹ thuật liên quan đến Khuyến nghị 7 thuộc bộ chuẩn mực của FATF bao gồm: - Triển khai đầy đủ khung pháp lý về hình phạt tài chính mục tiêu đối với tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt (điểm c.7,1) - Thi hành có hiệu lực nghĩa vụ phong tỏa tài sản (điểm c.7.2) - Áp dụng các lệnh cấm trực tiếp đối với cá nhân hoặc tổ chức (điểm c.7.2) - Thi hành có hiệu lực nghĩa vụ báo cáo (c.7.2) - Thiết lập cơ chế thông báo về việc ra/vào danh sách chỉ định (điểm c.7.2 và c.7.4) - Xây dựng hướng dẫn đối với phong tỏa và giải tỏa tài sản (điểm c.7.2 và c.7.4) - Xây dựng quy định xử phạt dân sự, hành chính, hình sự đối với việc không tuân thủ nghĩa vụ hình phạt tài chính mục tiêu về tài trợ phổ biến và tài trợ khủng bố (điểm c.7.3) - Công bố công khai quy trình yêu cầu ra khỏi danh sách trừng phạt hoặc thông báo sai (điểm c.7.4). Kết quả cụ thể: - Ban hành cơ chế thông báo các danh sách chỉ định. - Ban hành hướng dẫn phong tỏa và giải tỏa các danh sách được chỉ định. - Có các thủ tục công khai để công dân đưa ra yêu cầu ra khỏi danh sách phong tỏa được chỉ định. | Bộ Quốc phòng | Các bộ, ngành có liên quan triển khai theo lĩnh vực quản lý và chức năng, nhiệm vụ được giao. |
| Hành động 16: Chứng minh các cơ quan có thẩm quyền đang thực hiện cơ chế giám sát và đảm bảo các FI, DNFBP tuân thủ các nghĩa vụ trừng phạt tài chính mục tiêu liên quan đến phổ biến VKHDHL, bao gồm việc áp dụng các biện pháp trừng phạt tương xứng và có tính chất răn đe với các FI, DNFBP (nếu có) | Tháng 9/2026 | - Chứng minh các cơ quan có thẩm quyền thực hiện cơ chế giám sát, đảm bảo sự tuân thủ của FI và DNFPB về hình phạt tài chính mục tiêu liên quan đến phổ biến VKHDHL. - Chứng minh các cơ quan có thẩm quyền cần áp dụng các biện pháp xử phạt tương xứng và có tính răn đe đối với các FI và FDNFPB. - Lên kế hoạch tiếp cận với FI và DNFPB về nghĩa vụ hình phạt tài chính mục tiêu liên quan đến phổ biến VKHDHL và hướng dẫn áp dụng các quy định pháp luật. Kết quả cụ thể: - Đào tạo các cơ quan có thẩm quyền về quản lý và giám sát việc tuân thủ nghĩa vụ của hình phạt tài chính mục tiêu liên quan đến phổ biến VKHDHL. - Các cơ quan có thẩm quyền cần xác định các đối tượng có rủi ro cao và phân bổ nguồn lực một cách hợp lý. - Ban hành hướng dẫn cho các đơn vị báo cáo về cách tuân thủ và có bằng chứng chứng minh kết quả thực hiện các hướng dẫn này. Ví dụ: xuất bản trên trang web, email, lưu hành đến các hiệp hội ngành nghề, v.v. - Thu thập số liệu thống kê về các hoạt động giám sát (ví dụ số lần kiểm tra). - Chứng minh các FI và DNFBP đã tăng cường các chương trình tuân thủ của họ nhờ theo dõi và giám sát (ví dụ: ban hành thủ tục sàng lọc mới, giám sát giao dịch, cải tiến thẩm định khách hàng, đào tạo nhân viên, báo cáo STR). - Thu thập các bằng chứng áp dụng biện pháp trừng phạt (ví dụ: hướng dẫn các FI và DNFBP khắc phục những thiếu sót, thư cảnh báo, tiền phạt, v.v...) | NHNN; Bộ Tài chính; Bộ Tư pháp; Bộ Xây dựng; Bộ Công Thương; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (theo chức năng và lĩnh vực quản lý đối tượng báo cáo). | Các bộ, ngành có liên quan triển khai theo lĩnh vực quản lý và chức năng, nhiệm vụ được giao. |
| Hành động 17: Chứng minh việc hợp tác và phối hợp giữa các cơ quan chức năng để ngăn chặn việc trốn tránh các biện pháp trừng phạt | Tháng 9/2026 | - Chứng minh sự phối hợp, hợp tác của các cơ quan có thẩm quyền trong việc ngăn chặn trốn tránh các biện pháp trừng phạt: + Thành lập một Ủy ban, nhóm công tác hoặc cơ chế tương tự chịu trách nhiệm điều phối các hoạt động. + Thu thập các thông tin, số liệu về sự hợp tác và phối hợp gồm: các hoạt động đào tạo chung, lực lượng đặc nhiệm, thanh tra, hoạt động phổ biến thông tin giữa các cơ quan có thẩm quyền. | Bộ Quốc phòng; Bộ Công an; Bộ Ngoại giao; Bộ Tư pháp; NHNN; Bộ Tài chính; Bộ Xây dựng; Bộ Công Thương (theo chức năng và lĩnh vực quản lý đối tượng báo cáo). | Các bộ, ngành có liên quan triển khai theo lĩnh vực quản lý và chức năng, nhiệm vụ được giao. |
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản thành viên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, vui lòng Đăng ký tại đây!
văn bản tiếng việt
văn bản TIẾNG ANH
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản thành viên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, vui lòng Đăng ký tại đây!