- Tổng quan
- Nội dung
- VB gốc
- Tiếng Anh
- Hiệu lực
- VB liên quan
- Lược đồ
-
Nội dung hợp nhất
Tính năng này chỉ có tại LuatVietnam.vn. Nội dung hợp nhất tổng hợp lại tất cả các quy định còn hiệu lực của văn bản gốc và các văn bản sửa đổi, bổ sung, đính chính... trên một trang. Việc hợp nhất văn bản gốc và những văn bản, Thông tư, Nghị định hướng dẫn khác không làm thay đổi thứ tự điều khoản, nội dung.
Khách hàng chỉ cần xem Nội dung hợp nhất là có thể nắm bắt toàn bộ quy định hiện hành đang áp dụng, cho dù văn bản gốc đã qua nhiều lần chỉnh sửa, bổ sung.
- Tải về
Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước sửa đổi 2026, số 15/2026/QH16
| Cơ quan ban hành: | Quốc hội |
Số công báo:
Số công báo là mã số ấn phẩm được đăng chính thức trên ấn phẩm thông tin của Nhà nước. Mã số này do Chính phủ thống nhất quản lý.
|
Đang cập nhật |
| Số hiệu: | 15/2026/QH16 | Ngày đăng công báo: | Đang cập nhật |
| Loại văn bản: | Luật | Người ký: | Trần Thanh Mẫn |
| Trích yếu: | Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước | ||
|
Ngày ban hành:
Ngày ban hành là ngày, tháng, năm văn bản được thông qua hoặc ký ban hành.
|
23/08/2026 |
Ngày hết hiệu lực:
Ngày hết hiệu lực là ngày, tháng, năm văn bản chính thức không còn hiệu lực (áp dụng).
|
Đang cập nhật |
|
Áp dụng:
Ngày áp dụng là ngày, tháng, năm văn bản chính thức có hiệu lực (áp dụng).
|
Đã biết
|
Tình trạng hiệu lực:
Cho biết trạng thái hiệu lực của văn bản đang tra cứu: Chưa áp dụng, Còn hiệu lực, Hết hiệu lực, Hết hiệu lực 1 phần; Đã sửa đổi, Đính chính hay Không còn phù hợp,...
|
Đã biết
|
| Lĩnh vực: | Tư pháp-Hộ tịch | ||
TÓM TẮT LUẬT SỬA ĐỔI TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC 2026
Quy định mới về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
Ngày 23/08/2026, Quốc hội đã thông qua Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước sửa đổi 2026, số 15/2026/QH16, có hiệu lực từ ngày 01/03/2027.
Luật này điều chỉnh các quy định liên quan đến trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đối với các thiệt hại gây ra bởi hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ trong các lĩnh vực quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án.
- Định nghĩa và đối tượng mới
Luật bổ sung định nghĩa về "người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực" và "người thân của người tố cáo", mở rộng đối tượng được bảo vệ và bồi thường. Điều này nhằm khuyến khích và bảo vệ những cá nhân tham gia vào việc tố cáo các hành vi sai trái.
- Phạm vi trách nhiệm bồi thường
Nhà nước có trách nhiệm bồi thường trong nhiều trường hợp như ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính trái pháp luật, áp dụng biện pháp cưỡng chế trái pháp luật, và không bảo vệ kịp thời người tố cáo. Các trường hợp khác bao gồm việc cấp, thu hồi giấy phép trái pháp luật và áp dụng thuế, phí không đúng quy định.
- Quy trình giải quyết bồi thường
Luật quy định chi tiết về quy trình tiếp nhận, thụ lý và giải quyết yêu cầu bồi thường. Cơ quan giải quyết bồi thường phải thụ lý hồ sơ trong vòng 2 ngày làm việc và có trách nhiệm thương lượng với người yêu cầu bồi thường. Thời gian giải quyết có thể kéo dài nếu có thỏa thuận giữa các bên.
- Thiệt hại được bồi thường
Thiệt hại được bồi thường bao gồm thiệt hại thực tế, thiệt hại về tinh thần và các chi phí khác. Giá trị thiệt hại được tính bằng đồng Việt Nam tại thời điểm thụ lý hồ sơ hoặc khi Tòa án xác định.
- Quy định về hoàn trả
Người thi hành công vụ gây thiệt hại có thể phải hoàn trả một phần hoặc toàn bộ số tiền Nhà nước đã bồi thường, tùy thuộc vào mức độ lỗi. Luật cũng quy định các trường hợp được giảm hoặc miễn hoàn trả, như khi người thi hành công vụ mắc bệnh hiểm nghèo hoặc lâm vào hoàn cảnh kinh tế khó khăn.
- Quản lý nhà nước về công tác bồi thường
Chính phủ và Bộ Tư pháp có trách nhiệm quản lý công tác bồi thường trên toàn quốc. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý công tác bồi thường tại địa phương, bao gồm việc xây dựng kế hoạch và báo cáo định kỳ về công tác này.
Xem chi tiết Luật sửa đổi Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2026 có hiệu lực kể từ ngày 01/03/2027
| QUỐC HỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
LUẬT
SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA
LUẬT TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC
Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15;
Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước số 10/2017/QH14 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 81/2025/QH15.
Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
1. Sửa đổi, bổ sung một số khoản của Điều 3 như sau:
a) Sửa đổi, bổ sung khoản 2 và khoản 3 như sau:
“2. Người thi hành công vụ là người được tuyển dụng, bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm hoặc chỉ định theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức và pháp luật có liên quan vào một vị trí trong cơ quan nhà nước để thực hiện nhiệm vụ quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án hoặc người khác được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao thực hiện nhiệm vụ có liên quan đến hoạt động quản lý hành chính, tố tụng hoặc thi hành án.
3. Người yêu cầu bồi thường là người có văn bản yêu cầu bồi thường thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 5 của Luật này.”;
b) Bổ sung khoản 9 và khoản 10 vào sau khoản 8 như sau:
“9. Người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực là cá nhân thực hiện việc phản ánh, tố cáo, tố giác hành vi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ được giao, trong quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công.
10. Người thân của người tố cáo, người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực (sau đây gọi là người thân) gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi.”.
2. Sửa đổi, bổ sung một số khoản của Điều 4 như sau:
a) Sửa đổi, bổ sung khoản 1 và khoản 2 như sau:
“1. Việc bồi thường của Nhà nước được thực hiện theo quy định của Luật này, trừ trường hợp Quốc hội có quy định khác về phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong các lĩnh vực quy định tại Điều 1 của Luật này.
2. Việc giải quyết yêu cầu bồi thường được thực hiện kịp thời, công khai, bình đẳng, thiện chí, trung thực, đúng pháp luật; được tiến hành trên cơ sở thương lượng giữa cơ quan giải quyết bồi thường và người yêu cầu bồi thường theo quy định của Luật này.”;
b) Sửa đổi, bổ sung khoản 4 như sau:
“4. Nhà nước giải quyết yêu cầu bồi thường sau khi có văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường hoặc kết hợp giải quyết yêu cầu bồi thường trong quá trình tố tụng hình sự, tố tụng hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật này.”.
3. Sửa đổi, bổ sung điểm c khoản 2 Điều 7 như sau:
“c) Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án hình sự đã xác định có hành vi trái pháp luật của bị cáo là người thi hành công vụ gây thiệt hại thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và có yêu cầu bồi thường trong quá trình giải quyết vụ án hình sự.”.
4. Sửa đổi, bổ sung một số điểm, khoản của Điều 13 như sau:
a) Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 1 như sau:
“a) Yêu cầu một trong các cơ quan quy định tại khoản 7 Điều 3 của Luật này giải quyết yêu cầu bồi thường và được nhận kết quả giải quyết yêu cầu bồi thường;”;
b) Sửa đổi, bổ sung điểm c khoản 1 như sau:
“c) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp khác của mình theo quy định của pháp luật; đề nghị cơ quan giải quyết bồi thường tổ chức thực hiện việc giám định thiệt hại hoặc sử dụng kết quả giám định thiệt hại để làm cơ sở xác định mức bồi thường theo quy định của pháp luật;”;
c) Sửa đổi, bổ sung điểm b và điểm c khoản 2 như sau:
“b) Tham gia đầy đủ vào quá trình giải quyết yêu cầu bồi thường theo yêu cầu của cơ quan giải quyết bồi thường, trừ trường hợp có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan theo quy định của Bộ luật Dân sự;
c) Cung cấp thông tin chứng minh thiệt hại thực tế của mình được bồi thường theo quy định của Luật này;”.
5. Sửa đổi, bổ sung điểm b khoản 2 Điều 14 như sau:
“b) Tham gia đầy đủ vào quá trình giải quyết yêu cầu bồi thường theo yêu cầu của cơ quan giải quyết bồi thường và quá trình xác định trách nhiệm hoàn trả theo yêu cầu của cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại, trừ trường hợp có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan theo quy định của Bộ luật Dân sự;”.
6. Sửa đổi, bổ sung Điều 17 như sau:
“Điều 17. Phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính
Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các trường hợp sau đây:
1. Ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính trái pháp luật;
2. Áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm việc xử lý vi phạm hành chính trái pháp luật;
3. Áp dụng một trong các biện pháp khắc phục hậu quả vi phạm hành chính sau đây trái pháp luật:
a) Buộc phá dỡ công trình, phần công trình xây dựng không có giấy phép hoặc xây dựng không đúng với giấy phép;
b) Buộc loại bỏ yếu tố vi phạm trên hàng hóa, bao bì hàng hóa, phương tiện kinh doanh, vật phẩm;
c) Buộc thu hồi sản phẩm, hàng hóa không bảo đảm chất lượng;
4. Áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính trái pháp luật;
5. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính trái pháp luật;
6. Không áp dụng hoặc áp dụng không kịp thời, không đúng biện pháp bảo vệ người tố cáo, người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và người thân theo quy định của Luật Tố cáo và luật khác có liên quan;
7. Cố ý cung cấp thông tin sai lệch mà không đính chính và không cung cấp lại thông tin theo quy định của Luật Tiếp cận thông tin;
8. Cấp, thu hồi, hủy bỏ, không cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh, Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, giấy phép và các giấy tờ có giá trị như giấy phép do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp trái pháp luật;
9. Áp dụng thuế, phí, lệ phí trái pháp luật; thu thuế, phí, lệ phí trái pháp luật; truy thu thuế, hoàn thuế trái pháp luật; thu tiền sử dụng đất trái pháp luật;
10. Áp dụng thủ tục hải quan trái pháp luật;
11. Giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trái pháp luật; bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng, tái định cư trái pháp luật; cấp, không cấp hoặc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất trái pháp luật;
12. Ra quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh trái pháp luật;
13. Cấp văn bằng bảo hộ khi có căn cứ pháp luật cho rằng người nộp đơn không có quyền nộp đơn hoặc có căn cứ pháp luật cho rằng đối tượng không đáp ứng điều kiện bảo hộ; từ chối cấp văn bằng bảo hộ với lý do đối tượng không đáp ứng điều kiện bảo hộ mà không có căn cứ pháp luật; chấm dứt hiệu lực văn bằng bảo hộ mà không có căn cứ pháp luật;
14. Ra quyết định xử lý kỷ luật buộc thôi việc trái pháp luật đối với công chức giữ chức vụ dưới Thứ trưởng và dưới tương đương Thứ trưởng.”.
7. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 và khoản 2 Điều 22 như sau:
“1. Thiệt hại được bồi thường là thiệt hại thực tế đã phát sinh quy định tại các điều 23, 24, 25, 26 và 27 của Luật này, các khoản lãi quy định tại Điều 23 và chi phí khác quy định tại Điều 28 của Luật này.
2. Giá trị thiệt hại được bồi thường được tính bằng đồng Việt Nam.
Giá trị thiệt hại được tính tại thời điểm thụ lý hồ sơ yêu cầu bồi thường quy định tại Điều 43 của Luật này hoặc tại thời điểm Tòa án có thẩm quyền xác định giá trị thiệt hại đối với trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 52 hoặc Điều 55 của Luật này. Trường hợp người yêu cầu bồi thường khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết yêu cầu bồi thường theo quy định tại khoản 2 Điều 52 của Luật này thì giá trị thiệt hại vẫn được tính tại thời điểm thụ lý hồ sơ yêu cầu bồi thường trước đó.”.
8. Sửa đổi, bổ sung một số khoản của Điều 27 như sau:
a) Sửa đổi, bổ sung khoản 1 và khoản 2 như sau:
“1. Thiệt hại về tinh thần trong trường hợp người bị thiệt hại bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, đặc khu được xác định là 0,5 ngày lương theo mức lương cơ sở do Nhà nước quy định (sau đây gọi là ngày lương cơ sở) cho 01 ngày bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, đặc khu.
2. Thiệt hại về tinh thần trong trường hợp người bị thiệt hại bị áp dụng biện pháp tạm giữ người theo thủ tục hành chính, bị đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa đi cai nghiện bắt buộc được xác định là 02 ngày lương cơ sở cho 01 ngày bị áp dụng biện pháp tạm giữ người theo thủ tục hành chính, bị đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa đi cai nghiện bắt buộc.”;
b) Sửa đổi, bổ sung khoản 5 như sau:
“5. Thiệt hại về tinh thần trong trường hợp sức khỏe của người bị thiệt hại bị xâm phạm được xác định căn cứ vào mức độ sức khỏe bị tổn hại nhưng không quá 50 tháng lương cơ sở.”;
c) Sửa đổi, bổ sung khoản 7 như sau:
“7. Ngày lương cơ sở được xác định là 01 tháng lương cơ sở chia cho 22 ngày.
Chính phủ hướng dẫn việc xác định thiệt hại về tinh thần và thiệt hại khác quy định tại Luật này khi lương cơ sở bị bãi bỏ.”.
9. Bổ sung điểm d vào sau điểm c khoản 1 Điều 29 như sau:
“d) Các quyền, lợi ích hợp pháp khác theo quy định của pháp luật.”.
10. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 31 như sau:
“1. Người bị thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự, công chức bị xử lý kỷ luật buộc thôi việc trái pháp luật, người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính trái pháp luật thì được phục hồi danh dự.”.
11. Sửa đổi, bổ sung một số điểm, khoản của Điều 33 như sau:
a) Sửa đổi, bổ sung khoản 1 như sau:
“1. Cơ quan giải quyết bồi thường ở trung ương bao gồm:
a) Bộ, cơ quan ngang Bộ là cơ quan giải quyết bồi thường trong trường hợp người thi hành công vụ gây thiệt hại thuộc thẩm quyền quản lý trực tiếp của mình, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản này;
b) Cục và tương đương thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan của trung ương được tổ chức theo hệ thống ngành dọc tại địa phương có tư cách pháp nhân, có tài khoản riêng là cơ quan giải quyết bồi thường trong trường hợp người thi hành công vụ gây thiệt hại thuộc thẩm quyền quản lý trực tiếp của mình.”;
b) Sửa đổi, bổ sung câu mở đầu của khoản 2 như sau:
“2. Cơ quan giải quyết bồi thường ở tỉnh, thành phố bao gồm:”;
c) Sửa đổi, bổ sung khoản 6 như sau:
“6. Cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ người tố cáo, người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và người thân theo quy định của Luật Tố cáo và luật khác có liên quan.”.
12. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 39 như sau:
“1. Cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố.”.
13. Sửa đổi, bổ sung các điều 41, 42, 43 và 44 như sau:
"Điều 41. Hồ sơ yêu cầu bồi thường
1. Hồ sơ yêu cầu bồi thường bao gồm:
a) Văn bản yêu cầu bồi thường do người yêu cầu bồi thường gửi theo quy định tại khoản 2 Điều này;
b) Văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường do cơ quan giải quyết bồi thường tự cung cấp hoặc yêu cầu cơ quan nhà nước khác cung cấp.
2. Yêu cầu bồi thường được gửi qua một trong các hình thức sau đây:
a) Môi trường số;
b) Trực tiếp tại cơ quan giải quyết bồi thường hoặc tại Bộ phận Một cửa theo quy định của pháp luật;
c) Dịch vụ bưu chính.
3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 42. Thủ tục tiếp nhận và xử lý hồ sơ
1. Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận văn bản yêu cầu bồi thường, cơ quan giải quyết bồi thường có trách nhiệm kiểm tra tính đầy đủ của hồ sơ theo quy định.
Trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ theo quy định thì yêu cầu người yêu cầu bồi thường bổ sung. Trường hợp hồ sơ chưa có văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường hoặc nội dung văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường chưa rõ thì yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền cung cấp hoặc làm rõ.
2. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 43. Thụ lý hồ sơ và cử người giải quyết bồi thường
1. Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đầy đủ theo quy định, cơ quan giải quyết bồi thường phải thụ lý hồ sơ, ghi vào sổ thụ lý, cử người giải quyết bồi thường và thông báo bằng văn bản cho người yêu cầu bồi thường và cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này. Thời hạn giải quyết bồi thường được tính từ ngày thụ lý hồ sơ.
2. Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ mà có một trong các căn cứ sau đây thì cơ quan giải quyết bồi thường thông báo bằng văn bản về việc không thụ lý cho người yêu cầu bồi thường và cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước:
a) Người yêu cầu bồi thường rút yêu cầu bồi thường;
b) Thời hiệu yêu cầu bồi thường đã hết;
c) Yêu cầu bồi thường không thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước quy định tại Luật này;
d) Người yêu cầu bồi thường không phải là người có quyền yêu cầu bồi thường theo quy định tại Điều 5 của Luật này;
đ) Yêu cầu bồi thường đã được thực hiện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 52 của Luật này và đã được Tòa án có thẩm quyền thụ lý theo thủ tục tố tụng dân sự;
e) Yêu cầu bồi thường đã được Tòa án có thẩm quyền chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 55 của Luật này;
g) Yêu cầu bồi thường đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật.
3. Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày hết thời hạn bổ sung hồ sơ theo quy định mà người yêu cầu bồi thường không bổ sung hoặc kể từ ngày cơ quan giải quyết bồi thường nhận được văn bản của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền thông báo không có văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường thì cơ quan giải quyết bồi thường thông báo bằng văn bản về việc không thụ lý cho người yêu cầu bồi thường và cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước.
4. Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ yêu cầu bồi thường và có căn cứ xác định yêu cầu bồi thường thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan nhà nước khác thì cơ quan tiếp nhận hồ sơ chuyển hồ sơ yêu cầu bồi thường đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết và thông báo bằng văn bản cho người yêu cầu bồi thường.
5. Người giải quyết bồi thường là người có kinh nghiệm về chuyên môn, nghiệp vụ trong ngành, lĩnh vực phát sinh yêu cầu bồi thường; không được là người có quyền và lợi ích liên quan đến vụ việc hoặc là người thân thích theo quy định của Bộ luật Dân sự của người thi hành công vụ gây thiệt hại hoặc của người bị thiệt hại.
6. Trường hợp đã thụ lý hồ sơ mà cơ quan giải quyết bồi thường xác định có một trong các căn cứ quy định tại điểm b, c, d, đ, e, g khoản 2 và khoản 4 Điều này thì cơ quan giải quyết bồi thường dừng việc giải quyết, xóa tên vụ việc trong sổ thụ lý và thông báo bằng văn bản cho người yêu cầu bồi thường và cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước trong thời hạn 01 ngày làm việc kể từ ngày dừng việc giải quyết và xóa tên vụ việc trong sổ thụ lý.
Trường hợp yêu cầu bồi thường không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì cơ quan đã thụ lý hồ sơ yêu cầu bồi thường chuyển hồ sơ yêu cầu bồi thường theo quy định tại khoản 4 Điều này.
7. Trường hợp người bị thiệt hại chỉ yêu cầu phục hồi danh dự thì không ra quyết định giải quyết bồi thường theo quy định tại Mục này. Việc phục hồi danh dự được thực hiện theo quy định tại Mục 3 Chương này.
Điều 44. Tạm ứng kinh phí bồi thường
1. Theo đề nghị của người yêu cầu bồi thường, cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại tạm ứng kinh phí bồi thường đối với những thiệt hại sau đây:
a) Thiệt hại về tinh thần quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 6 Điều 27 của Luật này;
b) Thiệt hại khác có thể tính được ngay mà không cần xác minh.
2. Thủ trưởng cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại quyết định mức tạm ứng cho người yêu cầu bồi thường nhưng không dưới 75% giá trị các thiệt hại quy định tại khoản 1 Điều này.
3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.”.
14. Sửa đổi, bổ sung các khoản 1, 2 và 3 Điều 45 như sau:
“1. Người giải quyết bồi thường có trách nhiệm thực hiện việc xác minh các thiệt hại được yêu cầu trong hồ sơ. Trong trường hợp cần thiết, người giải quyết bồi thường có thể yêu cầu người yêu cầu bồi thường, cá nhân, tổ chức khác có liên quan cung cấp tài liệu, chứng cứ làm cơ sở cho việc xác minh thiệt hại; đề nghị định giá tài sản, giám định thiệt hại; sử dụng kết quả giám định thiệt hại của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền theo quy định của pháp luật do người yêu cầu bồi thường cung cấp hoặc lấy ý kiến của cá nhân, tổ chức có liên quan về thiệt hại, mức bồi thường.
2. Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày thụ lý hồ sơ, người giải quyết bồi thường phải hoàn thành việc xác minh thiệt hại. Trường hợp vụ việc giải quyết yêu cầu bồi thường có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải xác minh tại nhiều địa điểm thì thời hạn xác minh thiệt hại là 20 ngày làm việc.
Thời hạn xác minh thiệt hại có thể được kéo dài theo thỏa thuận giữa người yêu cầu bồi thường và người giải quyết bồi thường. Thời gian kéo dài theo thỏa thuận không tính vào thời hạn giải quyết yêu cầu bồi thường.
3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày kết thúc việc xác minh thiệt hại, cơ quan giải quyết bồi thường phải ban hành báo cáo xác minh thiệt hại và thông báo bằng văn bản cho người yêu cầu bồi thường và cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước.”.
15. Sửa đổi, bổ sung Điều 46 và Điều 47 như sau:
“Điều 46. Thương lượng việc bồi thường
1. Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày ban hành báo cáo xác minh thiệt hại, cơ quan giải quyết bồi thường phải tiến hành thương lượng việc bồi thường, trừ trường hợp người yêu cầu bồi thường từ chối thương lượng theo quy định tại các điểm b, c và d khoản 1 Điều 47 của Luật này. Trong thời hạn 08 ngày làm việc kể từ ngày tiến hành thương lượng, việc thương lượng phải được hoàn thành. Trường hợp vụ việc giải quyết yêu cầu bồi thường có nhiều tình tiết phức tạp thì thời hạn thương lượng tối đa là 10 ngày làm việc.
Thời hạn thương lượng có thể được kéo dài theo thỏa thuận giữa người yêu cầu bồi thường và người giải quyết bồi thường. Thời gian kéo dài theo thỏa thuận không tính vào thời hạn giải quyết yêu cầu bồi thường.
2. Việc thương lượng phải bảo đảm các nguyên tắc sau đây:
a) Người yêu cầu bồi thường, cơ quan giải quyết bồi thường đều bình đẳng trong quá trình thương lượng;
b) Bảo đảm dân chủ, tôn trọng ý kiến của các thành phần tham gia thương lượng;
c) Nội dung thương lượng, kết quả thương lượng về các thiệt hại được bồi thường, mức bồi thường phải phù hợp với quy định của Luật này;
d) Kết quả thương lượng phải được lập thành biên bản.
3. Thành phần tham gia thương lượng việc bồi thường bao gồm:
a) Đại diện lãnh đạo cơ quan giải quyết bồi thường chủ trì thương lượng việc bồi thường;
b) Người giải quyết bồi thường;
c) Người yêu cầu bồi thường; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp (nếu có) của người yêu cầu bồi thường quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 5 của Luật này;
d) Đại diện cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước;
đ) Đại diện Viện kiểm sát có thẩm quyền trong trường hợp vụ việc yêu cầu bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự;
e) Trường hợp cần thiết, cơ quan giải quyết bồi thường có thể mời đại diện cơ quan tài chính cùng cấp, cá nhân, tổ chức khác, yêu cầu người thi hành công vụ gây thiệt hại tham gia thương lượng.
4. Nội dung thương lượng việc bồi thường bao gồm:
a) Các loại thiệt hại được bồi thường;
b) Số tiền bồi thường;
c) Khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp khác (nếu có);
d) Phương thức chi trả tiền bồi thường;
đ) Các nội dung khác có liên quan đến việc giải quyết yêu cầu bồi thường.
5. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 47. Quyết định giải quyết bồi thường
1. Thủ trưởng cơ quan giải quyết bồi thường ban hành quyết định giải quyết bồi thường trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày có một trong các căn cứ sau đây:
a) Biên bản kết quả thương lượng được lập;
b) Cơ quan giải quyết bồi thường nhận được đề nghị không tổ chức việc thương lượng của người yêu cầu bồi thường;
c) Người yêu cầu bồi thường hai lần từ chối nhận giấy mời tham gia thương lượng;
d) Người yêu cầu bồi thường hai lần không đến địa điểm thương lượng khi đã nhận giấy mời mà không có lý do chính đáng.
2. Quyết định giải quyết bồi thường có hiệu lực sau 60 ngày kể từ ngày người yêu cầu bồi thường nhận được quyết định giải quyết bồi thường, trừ trường hợp người yêu cầu bồi thường và cơ quan giải quyết bồi thường thỏa thuận quyết định giải quyết bồi thường có hiệu lực sớm hơn thời hạn quy định tại khoản này và được ghi rõ trong biên bản kết quả thương lượng.
3. Quyết định giải quyết bồi thường phải được gửi cho người yêu cầu bồi thường và cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước có thẩm quyền trong thời hạn quy định tại khoản 1 Điều này.
4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.”.
16. Sửa đổi, bổ sung một số điểm, khoản của Điều 48 như sau:
a) Sửa đổi, bổ sung điểm c khoản 1 như sau:
“c) Giả mạo tài liệu, chứng cứ liên quan đến quyền yêu cầu bồi thường và việc yêu cầu bồi thường.”;
b) Sửa đổi, bổ sung khoản 3 như sau:
“3. Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày có một trong các căn cứ sau đây, Thủ trưởng cơ quan giải quyết bồi thường ra quyết định hủy quyết định giải quyết bồi thường và giải quyết lại yêu cầu bồi thường:
a) Có hành vi thông đồng giữa người yêu cầu bồi thường với người giải quyết bồi thường, người có liên quan để trục lợi;
b) Theo yêu cầu của người yêu cầu bồi thường trong trường hợp người giải quyết bồi thường không đáp ứng điều kiện quy định tại khoản 5 Điều 43 của Luật này hoặc việc thương lượng được thực hiện không đúng quy định của Luật này.”;
c) Bổ sung khoản 3a vào sau khoản 3 như sau:
“3a. Việc giải quyết lại yêu cầu bồi thường được thực hiện theo thủ tục quy định tại Chương V của Luật này, bắt đầu từ công việc, thủ tục làm phát sinh căn cứ hủy quyết định giải quyết bồi thường.
Đối với những công việc, thủ tục đã được thực hiện đúng quy định của Luật này trước thời điểm phát sinh căn cứ hủy quyết định giải quyết bồi thường thì không phải thực hiện lại.”.
17. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 49 như sau:
“1. Thủ trưởng cơ quan giải quyết bồi thường ra quyết định hoãn giải quyết bồi thường trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày người yêu cầu bồi thường đề nghị cơ quan giải quyết bồi thường hoãn giải quyết yêu cầu bồi thường do ốm nặng có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của pháp luật hoặc có lý do chính đáng khác mà không thể tự mình tham gia vào quá trình giải quyết yêu cầu bồi thường.”.
18. Sửa đổi, bổ sung Điều 50 như sau:
“Điều 50. Tạm đình chỉ giải quyết yêu cầu bồi thường
1. Thủ trưởng cơ quan giải quyết bồi thường ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết bồi thường trong thời hạn 01 ngày làm việc kể từ ngày có một trong các căn cứ sau đây:
a) Cơ quan, người có thẩm quyền xem xét lại văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường;
b) Cần đợi kết quả giải quyết vụ án khác có liên quan hoặc sự việc được pháp luật quy định là phải do cơ quan, tổ chức khác giải quyết trước mới giải quyết được vụ việc yêu cầu bồi thường.
2. Trường hợp tạm đình chỉ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều này thì trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản xem xét lại mà văn bản được xem xét lại vẫn là văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường thì Thủ trưởng cơ quan giải quyết bồi thường ra quyết định tiếp tục giải quyết bồi thường; trường hợp văn bản được xem xét lại không phải là văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường thì trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản xem xét lại, Thủ trưởng cơ quan giải quyết bồi thường ra quyết định đình chỉ giải quyết bồi thường theo quy định tại Điều 51 của Luật này.
3. Trường hợp tạm đình chỉ theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều này thì trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được kết quả giải quyết, Thủ trưởng cơ quan giải quyết bồi thường ra quyết định tiếp tục giải quyết bồi thường hoặc ra quyết định đình chỉ giải quyết bồi thường theo quy định tại Điều 51 của Luật này.
4. Quyết định tạm đình chỉ, quyết định tiếp tục giải quyết bồi thường phải được gửi cho người yêu cầu bồi thường, cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước có thẩm quyền và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan.”.
19. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 51 như sau:
“1. Thủ trưởng cơ quan giải quyết bồi thường ra quyết định đình chỉ giải quyết bồi thường trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày có một trong các căn cứ sau đây:
a) Người yêu cầu bồi thường rút yêu cầu bồi thường sau khi cơ quan giải quyết bồi thường tiến hành xác minh thiệt hại nhưng chưa ban hành quyết định giải quyết bồi thường hoặc đã ban hành quyết định giải quyết bồi thường nhưng chưa có hiệu lực;
b) Người bị thiệt hại chết mà không có người thừa kế; tổ chức bị thiệt hại đã chấm dứt tồn tại mà không có tổ chức kế thừa quyền, nghĩa vụ;
c) Có quyết định hủy quyết định giải quyết bồi thường trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 48 của Luật này.”.
20. Sửa đổi, bổ sung một số điểm, khoản của Điều 52 như sau:
a) Sửa đổi, bổ sung điểm b khoản 1 như sau:
“b) Người yêu cầu bồi thường rút yêu cầu bồi thường trước khi cơ quan giải quyết bồi thường tiến hành xác minh thiệt hại.”;
b) Sửa đổi, bổ sung khoản 2 như sau:
“2. Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết bồi thường quy định tại Điều 47 của Luật này hoặc hết thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 47 của Luật này mà cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại không ra quyết định giải quyết bồi thường thì người yêu cầu bồi thường có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết yêu cầu bồi thường.”.
21. Sửa đổi, bổ sung Điều 53 như sau:
“Điều 53. Xác định Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự về yêu cầu bồi thường
Tòa án nhân dân khu vực nơi cư trú, làm việc của người yêu cầu bồi thường hoặc nơi đặt trụ sở của cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại theo lựa chọn của người yêu cầu bồi thường là Tòa án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm yêu cầu bồi thường.”.
22. Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 56 như sau:
“2. Việc phục hồi danh dự đối với cá nhân là người bị thiệt hại trong trường hợp bị buộc thôi việc trái pháp luật, bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính trái pháp luật được thực hiện bằng hình thức đăng báo xin lỗi và cải chính công khai.”.
23. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 57 như sau:
“1. Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày có văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường hoặc kể từ ngày có bản án, quyết định quy định tại Điều 55 của Luật này có hiệu lực pháp luật, cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại có trách nhiệm thông báo bằng văn bản cho người bị thiệt hại về việc Nhà nước tổ chức thực hiện phục hồi danh dự.”.
24. Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 1 Điều 58 như sau:
“a) Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản đồng ý hoặc yêu cầu của người bị thiệt hại về việc phục hồi danh dự, Thủ trưởng cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại có trách nhiệm tổ chức trực tiếp xin lỗi và cải chính công khai;”.
25. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 59 như sau:
“1. Việc đăng báo xin lỗi và cải chính công khai quy định tại điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 56 của Luật này được thực hiện như sau:
a) Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản đồng ý hoặc yêu cầu của người bị thiệt hại về việc phục hồi danh dự, cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại ở trung ương có trách nhiệm đăng báo xin lỗi và cải chính công khai trên 01 báo trung ương và 01 báo địa phương nơi người bị thiệt hại cư trú trong trường hợp người bị thiệt hại là cá nhân hoặc nơi đặt trụ sở trong trường hợp người bị thiệt hại là pháp nhân thương mại trong 03 số liên tiếp; đăng tải nội dung xin lỗi và cải chính công khai trên Cổng thông tin điện tử (nếu có) của cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại;
b) Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản đồng ý hoặc yêu cầu của người bị thiệt hại về việc phục hồi danh dự, cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại ở địa phương có trách nhiệm đăng báo xin lỗi và cải chính công khai trên 01 báo địa phương nơi người bị thiệt hại cư trú trong trường hợp người bị thiệt hại là cá nhân hoặc nơi đặt trụ sở trong trường hợp người bị thiệt hại là pháp nhân thương mại trong 03 số liên tiếp; đăng tải nội dung xin lỗi và cải chính công khai trên Cổng thông tin điện tử (nếu có) của cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại;
c) Ngay sau khi đăng báo xin lỗi và cải chính công khai, cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại có trách nhiệm gửi báo đó tới người bị thiệt hại và Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người bị thiệt hại cư trú trong trường hợp người bị thiệt hại là cá nhân hoặc nơi đặt trụ sở trong trường hợp người bị thiệt hại là pháp nhân thương mại để niêm yết công khai tại trụ sở.”.
26. Sửa đổi, bổ sung các điều 60, 61 và 62 như sau:
“Điều 60. Kinh phí thực hiện công tác bồi thường nhà nước
1. Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm kinh phí cho công tác bồi thường nhà nước, bao gồm:
a) Kinh phí cho công tác quản lý nhà nước về bồi thường nhà nước;
b) Kinh phí chi trả cho người bị thiệt hại và chi phí cho việc định giá tài sản, giám định thiệt hại.
2. Trường hợp cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại và cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước được bảo đảm kinh phí hoạt động từ ngân sách trung ương thì kinh phí bồi thường được bảo đảm từ ngân sách trung ương.
3. Trường hợp cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại và cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước được bảo đảm kinh phí hoạt động từ ngân sách địa phương thì kinh phí bồi thường được bảo đảm từ ngân sách địa phương..
Điều 61. Lập dự toán và quyết toán kinh phí thực hiện công tác bồi thường nhà nước
1. Hằng năm, các cơ quan nhà nước có trách nhiệm lập dự toán kinh phí thực hiện công tác bồi thường nhà nước gửi cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.
2. Khi phát sinh kinh phí chi trả cho người bị thiệt hại và chi phí cho việc định giá tài sản, giám định thiệt hại, cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại sử dụng kinh phí thực hiện công tác bồi thường nhà nước đã được giao để chi trả theo quy định tại Điều 62 của Luật này.
3. Kết thúc năm ngân sách, cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại và cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước có trách nhiệm quyết toán kinh phí thực hiện công tác bồi thường nhà nước quy định tại khoản 1 Điều 60 của Luật này theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.
4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 62. Chi trả tiền bồi thường
1. Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày quyết định giải quyết bồi thường có hiệu lực hoặc nhận được bản án, quyết định của Tòa án về giải quyết yêu cầu bồi thường có hiệu lực pháp luật, cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại phải thông báo bằng văn bản cho người yêu cầu bồi thường về việc chi trả tiền bồi thường.
2. Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày người yêu cầu bồi thường nhận được thông báo quy định tại khoản 1 Điều này, cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại thực hiện việc chi trả tiền bồi thường theo quyết định giải quyết bồi thường hoặc bản án, quyết định của Tòa án về giải quyết yêu cầu bồi thường.
3. Hết thời hạn 03 năm kể từ ngày nhận được thông báo quy định tại khoản 1 Điều này mà người yêu cầu bồi thường không nhận tiền bồi thường được chi trả theo khoản 2 Điều này thì cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại thực hiện thủ tục trả lại ngân sách nhà nước.
4. Thời gian xảy ra sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan theo quy định của Bộ luật Dân sự không tính vào thời hạn quy định tại Điều này.
5. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.”.
27. Sửa đổi, bổ sung tên Điều và một số điểm, khoản của Điều 65 như sau:
a) Sửa đổi, bổ sung tên Điều như sau:
“Điều 65. Xác định mức hoàn trả, giảm mức hoàn trả, miễn hoàn trả”;
b) Sửa đổi, bổ sung điểm b khoản 2 như sau:
“b) Người thi hành công vụ có lỗi cố ý gây thiệt hại nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì mức hoàn trả từ 30 đến 50 tháng lương của người đó tại thời điểm có quyết định hoàn trả nhưng tối đa là 50% số tiền mà Nhà nước đã bồi thường;”;
c) Sửa đổi, bổ sung khoản 4 như sau:
“4. Thủ trưởng cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại quyết định giảm mức hoàn trả nhưng tối đa là 30% trên tổng số tiền phải hoàn trả khi người thi hành công vụ gây thiệt hại do lỗi vô ý thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Thực hiện đề xuất về đổi mới, sáng tạo theo đúng chủ trương, phương án đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, không vụ lợi và đã chủ động phòng ngừa, khắc phục tối đa hậu quả;
b) Chủ động khắc phục hậu quả, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trong quá trình giải quyết yêu cầu bồi thường và đã hoàn trả được ít nhất 50% số tiền phải hoàn trả.”;
d) Bổ sung khoản 4a vào sau khoản 4 như sau:
“4a. Thủ trưởng cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại quyết định miễn hoàn trả khi người thi hành công vụ gây thiệt hại do lỗi vô ý, chủ động khắc phục hậu quả, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trong quá trình giải quyết yêu cầu bồi thường và thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Thực hiện đề xuất về đổi mới, sáng tạo theo đúng chủ trương, phương án đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, không vụ lợi, mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội;
b) Mắc bệnh hiểm nghèo và có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của pháp luật;
c) Lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn do thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn;
d) Lập công lớn được người, cơ quan có thẩm quyền xác nhận.”.
28. Sửa đổi, bổ sung một số khoản của Điều 66 như sau:
a) Sửa đổi, bổ sung khoản 1 và khoản 2 như sau:
“1. Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày chi trả xong tiền bồi thường, Thủ trưởng cơ quan đã chi trả tiền bồi thường thành lập Hội đồng xem xét trách nhiệm hoàn trả. Trường hợp có nhiều người thi hành công vụ thuộc nhiều cơ quan khác nhau gây thiệt hại, Hội đồng xem xét trách nhiệm hoàn trả phải có sự tham gia của đại diện các cơ quan liên quan đến việc gây thiệt hại.
2. Trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày thành lập, Hội đồng xem xét trách nhiệm hoàn trả phải hoàn thành việc xác định những người thi hành công vụ gây thiệt hại, mức độ lỗi của người thi hành công vụ gây thiệt hại, trách nhiệm hoàn trả, mức hoàn trả của từng người và có văn bản kiến nghị Thủ trưởng cơ quan đã chi trả tiền bồi thường. Trường hợp vụ việc phức tạp thì thời hạn có thể kéo dài nhưng tối đa là 20 ngày làm việc.”;
b) Bổ sung khoản 2a vào sau khoản 2 như sau:
“2a. Trong trường hợp Hội đồng xem xét trách nhiệm hoàn trả không xác định được đầy đủ các nội dung quy định tại khoản 2 Điều này thì có văn bản kiến nghị Thủ trưởng cơ quan đã chi trả tiền bồi thường quyết định.”.
29. Sửa đổi, bổ sung Điều 67 như sau:
“Điều 67. Quyết định hoàn trả, quyết định giảm mức hoàn trả, quyết định miễn hoàn trả
1. Quyết định hoàn trả, quyết định giảm mức hoàn trả, quyết định miễn hoàn trả có hiệu lực kể từ ngày ký.
2. Trong trường hợp quyết định hoàn trả, quyết định giảm mức hoàn trả, quyết định miễn hoàn trả không phù hợp với quy định tại Điều 65 và Điều 66 của Luật này thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi đặt trụ sở cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại kiến nghị Thủ trưởng cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại xem xét lại quyết định hoàn trả, quyết định giảm mức hoàn trả, quyết định miễn hoàn trả.
3. Căn cứ vào quyết định hoàn trả, quyết định giảm mức hoàn trả đã có hiệu lực pháp luật, cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại có trách nhiệm thu số tiền phải hoàn trả và nộp đầy đủ, kịp thời vào ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp quy định tại Điều 70 của Luật này.”.
30. Sửa đổi, bổ sung Điều 73 như sau:
"Điều 73. Trách nhiệm quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước
1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án trên phạm vi cả nước và có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Chỉ đạo xây dựng, trình cơ quan có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền chiến lược, chính sách, văn bản quy phạm pháp luật, chương trình, đề án, kế hoạch về công tác bồi thường nhà nước;
b) Chủ trì, phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hiện quản lý công tác bồi thường nhà nước;
c) Chỉ đạo Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước;
d) Chỉ đạo thực hiện chuyển đổi số trong công tác bồi thường nhà nước;
đ) Định kỳ hằng năm báo cáo Quốc hội về công tác bồi thường nhà nước.
2. Bộ Tư pháp là cơ quan đầu mối giúp Chính phủ thống nhất thực hiện quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước.
3. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án tại địa phương và có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Xây dựng các chương trình, đề án, kế hoạch về công tác bồi thường nhà nước tại địa phương;
b) Chỉ đạo, đôn đốc, theo dõi, hướng dẫn công tác bồi thường nhà nước tại địa phương;
c) Chủ trì, phối hợp với cơ quan, tổ chức có liên quan ở địa phương trong công tác bồi thường nhà nước;
d) Chỉ đạo thực hiện chuyển đổi số trong công tác bồi thường nhà nước tại địa phương;
đ) Định kỳ hằng năm báo cáo Bộ Tư pháp về công tác bồi thường nhà nước;
e) Kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm trong việc giải quyết bồi thường, thực hiện trách nhiệm hoàn trả theo quy định của pháp luật;
g) Kiến nghị người có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án có nội dung giải quyết bồi thường theo quy định của pháp luật; yêu cầu Thủ trưởng cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại hủy quyết định giải quyết bồi thường trong trường hợp có một trong các căn cứ quy định tại khoản 1 và điểm a khoản 3 Điều 48 của Luật này mà không ra quyết định hủy;
h) Thực hiện nhiệm vụ quy định tại khoản 2 Điều 67 của Luật này;
i) Hỗ trợ, hướng dẫn người bị thiệt hại thực hiện thủ tục yêu cầu bồi thường.
4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.”.
31. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 74 như sau:
“1. Phối hợp với Chính phủ thực hiện quản lý công tác bồi thường nhà nước quy định tại khoản 1 Điều 73 của Luật này;”.
32. Bãi bỏ khoản 3 Điều 33, Điều 63 và Điều 75.
Điều 2. Sửa đổi, bổ sung một số điều của luật có liên quan
1. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 5 của Luật Phòng, chống tham nhũng số 36/2018/QH14 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 59/2020/QH14, Luật số 81/2025/QH15 và Luật số 132/2025/QH15 như sau:
“1. Công dân có quyền phát hiện, phản ánh, tố cáo, tố giác, báo tin về hành vi tham nhũng, được bảo vệ, khen thưởng theo quy định của pháp luật và được bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước; có quyền kiến nghị với cơ quan nhà nước hoàn thiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng và giám sát việc thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng.”.
2. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 như sau:
a) Sửa đổi, bổ sung điểm n khoản 1 Điều 37 như sau:
“n) Được bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước;”;
b) Sửa đổi, bổ sung điểm g khoản 1 Điều 38 như sau:
“g) Bồi thường thiệt hại cho người nộp thuế theo quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước;”.
Điều 3. Điều khoản thi hành
1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 3 năm 2027.
2. Trường hợp yêu cầu bồi thường đã được thụ lý trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà chưa giải quyết hoặc đang giải quyết thì tiếp tục áp dụng Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước số 10/2017/QH14 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 81/2025/QH15 để giải quyết; kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành, đối với những công việc, thủ tục chưa có kết quả giải quyết thì cơ quan giải quyết bồi thường áp dụng quy định có lợi hơn cho người yêu cầu bồi thường, người thi hành công vụ có trách nhiệm hoàn trả theo quy định của Luật này để giải quyết, trừ trường hợp người yêu cầu bồi thường, người thi hành công vụ có trách nhiệm hoàn trả đề nghị không áp dụng quy định đó.
_______________________________________________________________________
Luật này được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XVI, Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất thông qua ngày 23 tháng 8 năm 2026.
|
|
CHỦ TỊCH QUỐC HỘI |
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản thành viên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, vui lòng Đăng ký tại đây!
văn bản tiếng việt
văn bản TIẾNG ANH
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản thành viên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, vui lòng Đăng ký tại đây!