- Tổng quan
- Nội dung
- Tiêu chuẩn liên quan
- Lược đồ
- Tải về
Tiêu chuẩn ngành 10TCN 831:2006 Quy trình chế biến bột máu làm nguyên liệu thức ăn chăn nuôi
| Số hiệu: | 10TCN 831:2006 | Loại văn bản: | Tiêu chuẩn ngành |
| Cơ quan ban hành: | Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn | Lĩnh vực: | Nông nghiệp-Lâm nghiệp |
|
Ngày ban hành:
Ngày ban hành là ngày, tháng, năm văn bản được thông qua hoặc ký ban hành.
|
29/12/2006 |
Hiệu lực:
|
Đã biết
|
| Người ký: | Đang cập nhật |
Tình trạng hiệu lực:
Cho biết trạng thái hiệu lực của văn bản đang tra cứu: Chưa áp dụng, Còn hiệu lực, Hết hiệu lực, Hết hiệu lực 1 phần; Đã sửa đổi, Đính chính hay Không còn phù hợp,...
|
Đã biết
|
TÓM TẮT TIÊU CHUẨN NGÀNH 10TCN 831:2006
Tiêu chuẩn ngành 10TCN 831:2006: Quy trình chế biến bột máu làm nguyên liệu thức ăn chăn nuôi
Tiêu chuẩn ngành 10TCN 831:2006, ban hành kèm theo Quyết định số 4099/QĐ/BNN-KHCN ngày 29 tháng 12 năm 2006, quy định quy trình chế biến bột máu dùng làm nguyên liệu thức ăn chăn nuôi. Tiêu chuẩn này áp dụng cho các cơ sở chế biến bột máu trên toàn quốc, nhằm đảm bảo an toàn và chất lượng cho thức ăn chăn nuôi từ máu động vật.
Về phạm vi áp dụng, bột máu được sản xuất từ máu động vật sau khi giết mổ, được làm khô và nghiền thành bột, dùng làm nguyên liệu phối chế cho khẩu phần ăn của gia súc, gia cầm và động vật dưới nước. Hệ thống quy trình chế biến bột máu bao gồm nhiều bước quan trọng để đảm bảo an toàn thực phẩm.
Trong bước đầu tiên, máu được thu gom ngay tại cơ sở giết mổ, không được bổ sung muối và nước. Máu cần được làm lạnh khi có điều kiện và đưa đến cơ sở chế biến trong ngày giết mổ. Giai đoạn xử lý đầu tiên bao gồm việc luộc máu với tỷ lệ 1:1 theo thể tích, sau đó nấu sôi trong 30-35 phút. Kết quả phải tách cục máu ra khỏi nước và ép để giảm độ ẩm xuống khoảng 40%.
Kế đến, có hai phương pháp chính để xử lý máu. Phương pháp thứ nhất là sử dụng vôi hoặc các chất hút nước khác, với tỷ lệ 1,5% vôi bột hoặc 3% vôi tôi. Máu sau xử lý có thể bảo quản một tuần trước khi sấy khô. Phương pháp thứ hai là sử dụng quá trình làm khô máu đã xử lý, với nhiệt độ 70-90 độ C trong 8 giờ, nhằm giảm độ ẩm xuống dưới 10%.
Sau khi chế biến, bột máu sẽ được nghiền thành bột với kích thước hạt 2mm, tiếp theo là kiểm tra chất lượng theo quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm. Bột máu được đóng gói trong các bao bì như PE, PP hoặc giấy dày, và cần ghi rõ thông tin trên nhãn, bao gồm tên sản phẩm, khối lượng tịnh, chỉ tiêu chất lượng và ngày sản xuất.
Cuối cùng, bột máu cần được bảo quản trong kho khô, sạch và cao ráo, đồng thời phương tiện vận chuyển phải đảm bảo vệ sinh và không mang mầm bệnh. Quy trình này nhằm đảm bảo rằng sản phẩm bột máu được chế biến một cách hiệu quả và an toàn, phục vụ cho ngành chăn nuôi.
TIÊU CHUẨN NGÀNH
10TCN 831:2006
QUY TRÌNH CHẾ BIẾN
BỘT MÁU LÀM NGUYÊN LIỆU THỨC ĂN CHĂN NUÔI
The processing procedure of blood meal for animal feed ingredient
(Ban hành kèm theo Quyết định số 4099/QĐ/BNN-KHCN ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn)
1. Phạm vi và đối tượng áp dụng
Máu của động vật sau khi giết mổ được làm khô và nghiền thành bột, bột máu chỉ dùng làm nguyên liệu phối chế trong khẩu phần ăn của gia súc, gia cầm và động vật dưới nước.
Quy trình này áp dụng cho các cơ sở chế biến bột máu làm thức ăn chăn nuôi trong toàn quốc.
3. Thuyết minh các bước trong sơ đồ
3.1. Thu gom máu nguyên liệu
Máu dùng làm nguyên liệu thức ăn chăn nuôi được thu gom ngay từ cơ sở giết mổ. Không được bổ sung muối và nước.
Máu thu gom được làm lạnh (nếu có điều kiện) và đưa đến cơ sở chế biến càng nhanh càng tốt, và chậm nhất trong ngày giết mổ.
3.2. Xử lý máu nguyên liệu ban đầu
3.2.1. Xử lý bằng luộc chín
Cho nước vào máu với tỷ lệ 1:1 theo thể tích. Máu đông phải được làm tan trước khi luộc và liên tục khuấy đến khi máu trở thành dạng sệt đen. Máu được đun sôi tối thiểu 30-35 phút.
Phần nước có thể tiếp tục cho vào máu của mẻ luộc sau đó, hoặc trộn với thức ăn chăn nuôi. Tách cục máu chín ra khỏi nước. Tách bớt nước ra khỏi tảng máu bằng cách ép hoặc treo cho đến khi độ ẩm còn khoảng 40%. Sản phẩm này cần được sấy ngay. Nước ép có thể trộn với nguyên liệu làm thức ăn chăn nuôi.
3.2.2. Xử lý bằng vôi hoặc các chất hút nước khác
Máu sau khi thu gom được trộn với 1,5% vôi bột hoặc 3% vôi tôi. Máu xử lý vôi có dạng sệt, mầu sẫm, và có thể bảo quản một tuần sau đó sấy khô.
Máu có thể trộn với bột ngũ cốc, bột bã dứa, bã sắn, bột chất chứa dạ cỏ và sau đó sấy khô.
3.3. Làm khô máu đã xử lý
Máu luộc chín đã ép nước, máu xử lý vôi vôi hoặc các chất phụ gia khác được sấy bằng lò sấy hoặc máy sấy thông dụng ở nhiệt độ 70-90oC trong 8 giờ để có sản phẩm bột máu chứa dưới 10% độ ẩm.
3.4. Nghiền máu khô thành bột
Máu đã được xử lý khô được nghiền thành bột bằng máy nghiền búa thông thường với mắt sàng 2mm.
3.5. Kiểm tra chất lượng
Các sản phẩm máu phải đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm theo quy định hiện hành.
3.6. Đóng gói, ghi nhãn, bảo quản
3.6.1. Đóng gói
Bột máu được đóng gói trong bao PE, PP hoặc giấy dày.
6.2. Ghi nhãn: Ghi nhãn phải đúng với các qui định hiện hành.
Trên bao bì ghi những nội dung sau:
- Tên sản phẩm, ghi rõ loại bột máu.
- Khối lượng tịnh.
- Các chỉ tiêu chất lượng chủ yếu và hàm lượng.
- Tên và địa chỉ cơ sở sản xuất kinh doanh.
- Ngày sản xuất và thời hạn sử dụng.
3.6.3. Bảo quản: Bột máu được bảo quản trong kho khô sạch, để nơi cao ráo, thoáng mát, không có chất độc hại và không mang mầm bệnh.
3.6.4. Vận chuyển: Phương tiện vận chuyển bột máu phải khô, sạch, không có mùi lạ và đảm bảo yêu cầu vệ sinh Thú y.
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản thành viên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, vui lòng Đăng ký tại đây!