• Tổng quan
  • Nội dung
  • VB gốc
  • Tiếng Anh
  • Hiệu lực
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Nội dung hợp nhất 

    Tính năng này chỉ có tại LuatVietnam.vn. Nội dung hợp nhất tổng hợp lại tất cả các quy định còn hiệu lực của văn bản gốc và các văn bản sửa đổi, bổ sung, đính chính... trên một trang. Việc hợp nhất văn bản gốc và những văn bản, Thông tư, Nghị định hướng dẫn khác không làm thay đổi thứ tự điều khoản, nội dung.

    Khách hàng chỉ cần xem Nội dung hợp nhất là có thể nắm bắt toàn bộ quy định hiện hành đang áp dụng, cho dù văn bản gốc đã qua nhiều lần chỉnh sửa, bổ sung.

    =>> Xem hướng dẫn chi tiết cách sử dụng Nội dung hợp nhất

  • Tải về
Lưu
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao . Vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem chi tiết.
Theo dõi VB
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao . Vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem chi tiết.
Ghi chú
Báo lỗi
In

Nghị quyết 312/NQ-CP 2026 của Chính phủ về Phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 9 và Hội nghị trực tuyến với địa phương

Ngày cập nhật: Thứ Tư, 07/10/2026 16:38 (GMT+7)
Cơ quan ban hành: Chính phủ
Số công báo:
Số công báo là mã số ấn phẩm được đăng chính thức trên ấn phẩm thông tin của Nhà nước. Mã số này do Chính phủ thống nhất quản lý.
Đang cập nhật
Số hiệu: 312/NQ-CP Ngày đăng công báo: Đang cập nhật
Loại văn bản: Nghị quyết Người ký: Lê Minh Hưng
Trích yếu: Phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 9 năm 2026 và Hội nghị trực tuyến Chính phủ với địa phương
Ngày ban hành:
Ngày ban hành là ngày, tháng, năm văn bản được thông qua hoặc ký ban hành.
05/10/2026
Ngày hết hiệu lực:
Ngày hết hiệu lực là ngày, tháng, năm văn bản chính thức không còn hiệu lực (áp dụng).
Đang cập nhật
Ngày áp dụng:
Ngày áp dụng là ngày, tháng, năm văn bản chính thức có hiệu lực (áp dụng).
Đã biết
Tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao. Vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem chi tiết.
Tình trạng hiệu lực:
Cho biết trạng thái hiệu lực của văn bản đang tra cứu: Chưa áp dụng, Còn hiệu lực, Hết hiệu lực, Hết hiệu lực 1 phần; Đã sửa đổi, Đính chính hay Không còn phù hợp,...
Đã biết
Tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao. Vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem chi tiết.
Lĩnh vực: Hành chính Chính sách

TÓM TẮT NGHỊ QUYẾT 312/NQ-CP

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải Nghị quyết 312/NQ-CP

Tải văn bản tiếng Việt (.pdf) Nghị quyết 312/NQ-CP PDF (Bản có dấu đỏ)

Vui lòng Đăng nhập để tải văn bản. Nếu chưa có tài khoản, vui lòng Đăng ký tại đây!

Tình trạng hiệu lực: Đã biết
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng hiệu lực: Đã biết

CHÍNH PHỦ
_________

Số: 312/NQ-CP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
_______________________
Hà Nội, ngày 05 tháng 10 năm 2026

 

 

NGHỊ QUYẾT

Phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 9 năm 2026
và Hội nghị trực tuyến Chính phủ với địa phương

__________

CHÍNH PHỦ

 

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 18 tháng 02 năm 2025;

Căn cứ Nghị định số 191/2026/NĐ-CP ngày 29 tháng 5 năm 2026 của Chính phủ ban hành Quy chế làm việc của Chính phủ;

Trên cơ sở thảo luận của các Thành viên Chính phủ, ý kiến các đại biểu dự họp và kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại Phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 9 năm 2026 và Hội nghị trực tuyến Chính phủ với địa phương, tổ chức vào ngày 03 tháng 10 năm 2026.

 

QUYẾT NGHỊ:

 

Trong tháng 9, quý III và 09 tháng đầu năm 2026, tình hình thế giới diễn biến nhanh, rất phức tạp, khó lường; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn tiếp tục diễn ra gay gắt; xung đột quân sự giữa Mỹ và Iran bùng nổ làm ngưng trệ tuyến vận tải chiến lược về dầu mỏ toàn cầu, gây gián đoạn nguồn cung, đẩy giá dầu tăng cao; thị trường tài chính, tiền tệ tiềm ẩn yếu tố rủi ro. Các thách thức an ninh phi truyền thống gia tăng, thiên tai, biến đổi khí hậu xảy ra tại nhiều khu vực, tác động đến phát triển bền vững, ổn định kinh tế - xã hội của nhiều quốc gia.

Ở trong nước, năm 2026 là năm đầu tiên triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, có ý nghĩa quan trọng và tạo nền tảng, tạo đà, tạo thế, tạo lực cho giai đoạn phát triển mới và thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh tình hình thế giới có rất nhiều diễn biến phức tạp, khó khăn, khó dự báo và khó lường. Dưới sự lãnh đạo toàn diện của Ban Chấp hành Trung ương mà trực tiếp, thường xuyên là Bộ Chính trị, Ban Bí thư, đứng đầu là Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm; sự đồng hành, phối hợp chặt chẽ của Quốc hội và các cơ quan trong hệ thống chính trị; sự chung sức, đồng lòng của Nhân dân, cộng đồng doanh nghiệp; Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã tập trung chỉ đạo xây dựng, ban hành 32 Chương trình hành động để triển khai kịp thời, đồng bộ Nghị quyết, Kết luận của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, trọng tâm là các quyết sách chiến lược tại Hội nghị Trung ương 2, Hội nghị Trung ương 3, trong đó có Kết luận số 18-KL/TW, Nghị quyết số 19-NQ/TW về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam, 11 Nghị quyết chuyên đề về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, giáo dục, y tế, văn hóa, du lịch, ngoại giao, kinh tế...; các luật, nghị quyết được Quốc hội khóa XVI thông qua từ đầu nhiệm kỳ đến nay; biến quyết tâm chính trị thành kết quả cụ thể, thực chất.

Tiếp tục nắm chắc tình hình, điều hành thực hiện nhiệm vụ thường xuyên; chú trọng giải quyết vấn đề tồn đọng, kéo dài; chủ động ứng phó nhanh chóng, hiệu quả vấn đề cấp bách phát sinh. Nhờ đó, kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại tháng 9 và 09 tháng đầu năm 2026 của nước ta đạt nhiều kết quả quan trọng, tốt hơn tháng trước và cùng kỳ năm trước.

I. Về tình hình, kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội tháng 9 và 09 tháng năm 2026

Kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, lạm phát được kiểm soát, duy trì đà tăng trưởng cao, các động lực truyền thống được phát huy, nhiều điểm nghẽn được khơi thông, các động lực mới bước đầu được tập trung thúc đẩy gắn với chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao năng suất, chất lượng, sức cạnh tranh của nền kinh tế, tạo nền tảng cho đổi mới mô hình phát triển, các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm. Tăng trưởng kinh tế (GDP) quý III ước tăng 9,95% so với cùng kỳ, tính chung 09 tháng tăng 9,01%. Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đánh giá cao nỗ lực của các địa phương, nhất là các địa phương tăng trưởng vượt bậc trong quý III để đóng góp vào tăng trưởng chung của cả nước như: Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Quảng Ninh, Hải Phòng, Bắc Ninh, Đà Nẵng, Đồng Nai, Ninh Bình, Khánh Hòa, Thái Nguyên, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Ngãi, Cần Thơ, Tây Ninh, An Giang, Điện Biên, Quảng Trị, Lai Châu... Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân 09 tháng tăng 4,52% so với cùng kỳ. Thị trường tiền tệ, tỷ giá cơ bản ổn định, bảo đảm thanh khoản hệ thống các tổ chức tín dụng, đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế. Thu ngân sách nhà nước 09 tháng đạt 2,19 triệu tỷ đồng, bằng 86,5% dự toán, tăng 12,1% so với cùng kỳ trong khi đã miễn, giảm, gia hạn thuế, phí... khoảng 245,6 nghìn tỷ đồng; đáp ứng nhiệm vụ chi phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, chế độ, chính sách theo quy định. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tháng 9 đạt gần 117,7 tỷ đô la Mỹ (USD), tăng 7,3% so với tháng trước, 09 tháng đạt 888 tỷ USD, tăng 30,4% so với cùng kỳ; tháng 9 đổi chiều xuất siêu 1,27 tỷ USD sau nhiều tháng nhập siêu. Thị trường chứng khoán Việt Nam chính thức được nâng hạng lên thị trường mới nổi thứ cấp. Giải ngân vốn đầu tư công có nhiều chuyển biến; đến hết tháng 9 ước đạt gần 643 nghìn tỷ đồng, đạt 63% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, cao hơn so với cùng kỳ khoảng 13% về tỷ lệ và 202,6 nghìn tỷ đồng về số tuyệt đối.

Các lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế đạt kết quả tích cực. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 9 tăng 16,65% so với cùng kỳ, cao nhất từ năm 2015 đến nay, tính chung 09 tháng tăng 12,3%, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,9%. Chỉ số Nhà quản trị mua hàng (PMI) tháng 9 đạt 51,9 điểm. Tập trung đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng chiến lược đồng bộ, hiện đại; hoàn thành thêm 395 km đường bộ cao tốc, đưa vào khai thác toàn tuyến cao tốc Bắc - Nam phía Đông, khởi công đồng loạt 5 tuyến đường sắt đô thị, đóng điện 116 công trình lưới điện 110 - 500kV... Triển khai sản xuất xăng sinh học, duy trì giá xăng dầu ở mức thấp so với khu vực; không tăng giá điện; an ninh năng lượng được giữ vững. Quyết liệt tháo gỡ các dự án tồn đọng kéo dài; từ tháng 4 đến tháng 9 năm 2026, đã hoàn thành tháo gỡ thêm 2.535 dự án (tổng diện tích đất là 86,6 nghìn ha, tổng mức đầu tư trên 1,69 triệu tỷ đồng), nâng tổng số dự án được tháo gỡ lên 3.557 dự án; 855 dự án đưa vào khai thác, sử dụng (tổng diện tích đất là 19,35 nghìn ha, tổng mức đầu tư 322,8 nghìn tỷ đồng); Quốc hội đã ban hành Nghị quyết tháo gỡ khó khăn, vướng mắc các dự án điện năng lượng tái tạo; cơ bản hoàn thành điều chỉnh quy hoạch vùng, quy hoạch sử dụng đất quốc gia...

Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,02%, bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu; kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản ước đạt 56,3 tỷ USD, tăng 7,8% so với cùng kỳ; xuất siêu 16,9 tỷ USD, tăng 7,4%. Khu vực dịch vụ tăng khá; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 9 tăng 14,1% so với cùng kỳ, 09 tháng tăng 13,4%; khách quốc tế 09 tháng đạt 17,7 triệu lượt người, tăng 14,5% so với cùng kỳ, cao nhất từ trước đến nay. Trong tháng 9, số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và quay trở lại hoạt động là 20,3 nghìn, tính chung 09 tháng là 224 nghìn doanh nghiệp, cao hơn số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội quý III ước đạt 1,3 triệu tỷ đồng, tăng 16,7% so với cùng kỳ, 09 tháng đạt 3,11 triệu tỷ đồng, tăng 15,1%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đăng ký 09 tháng đạt trên 50,36 tỷ USD, tăng 76,4%, vốn FDI thực hiện đạt 21,07 tỷ USD, tăng 12,1% so với cùng kỳ. Nhiều tổ chức quốc tế tiếp tục đánh giá tích cực về công tác chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, ghi nhận Việt Nam là điểm sáng về tăng trưởng trong bối cảnh kinh tế toàn cầu thiếu ổn định.

Công tác an sinh xã hội được thực hiện đầy đủ, kịp thời. Triển khai quyết liệt “Chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ”; đến hết tháng 9, đã tìm kiếm, quy tập được 3.083 hài cốt liệt sĩ (đạt 44,04% kế hoạch), hoàn thành lấy mẫu 207.656 hài cốt liệt sĩ phục vụ xác định danh tính (đạt 98,15% kế hoạch); tiếp nhận, lưu trữ, bảo quản gần 120 nghìn mẫu hài cốt liệt sĩ; thu nhận 265.761 mẫu sinh phẩm ADN thân nhân liệt sĩ (đạt 106,3% kế hoạch), hoàn thành phân tích ADN khoảng 100 nghìn mẫu và cập nhật vào cơ sở dữ liệu khoảng 80 nghìn kết quả phân tích phục vụ công tác đối sánh, xác định danh tính hài cốt liệt sĩ. Hỗ trợ xây dựng mới, sửa chữa nhà ở cho con đẻ người tham gia kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học đang hưởng trợ cấp ưu đãi hằng tháng và sống trong nhà tạm, nhà dột nát. Công tác bảo vệ trẻ em, người cao tuổi, bình đẳng giới, dân tộc, tôn giáo... tiếp tục được chú trọng. Từ đầu năm đến nay, cả nước hoàn thành 108 dự án nhà ở xã hội với quy mô gần 31,53 nghìn căn; khởi công 109 dự án với quy mô 153,76 nghìn căn; trong 04 tháng, đã khởi công 22 dự án nhà ở cho thuê với trên 33,4 nghìn căn hộ. Trong 09 tháng, các chương trình tín dụng chính sách xã hội đã hỗ trợ khoảng 1,54 triệu lượt khách hàng vay vốn; thị trường lao động chuyển biến tích cực, lao động có việc làm đạt hơn 52,7 triệu người, tăng gần 684 nghìn người so với cùng kỳ; thu nhập bình quân người lao động đạt hơn 9,1 triệu đồng/tháng, tăng 9,1% so với cùng kỳ. Đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân tiếp tục được nâng lên, bảo đảm công bằng xã hội. Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo sát sao, quyết liệt, từ sớm, từ xa công tác ứng phó và khắc phục hậu quả thiên tai; so với cùng kỳ năm 2025, số lượng cơn bão và áp thấp nhiệt đới giảm mạnh (69,1%), thiệt hại kinh tế giảm 90,7% (tương đương giảm 38.446 tỷ đồng); đặt tính mạng, sức khỏe, tài sản của Nhân dân lên trên hết, trước hết.

Các lĩnh vực văn hóa, y tế, giáo dục và đào tạo chuyển biến rõ nét theo tinh thần Nghị quyết số 71-NQ/TW, 72-NQ/TW, 80-NQ/TW của Bộ Chính trị; nhận thức về vị trí và vai trò của văn hóa được nâng cao; chú trọng xây dựng con người, môi trường văn hóa, công nghiệp văn hóa, công nghiệp giải trí, văn học nghệ thuật, điện ảnh...; tổ chức thành công các sự kiện chào mừng các ngày lễ lớn; thể thao thành tích cao đạt kết quả tích cực. Ngành giáo dục sắp xếp lại mạng lưới các cơ sở giáo dục theo quy mô dân số, phân bố dân cư, tạo điều kiện thuận lợi cho người học, sử dụng hiệu quả cơ sở vật chất, đội ngũ cán bộ, giáo viên; triển khai chương trình đào tạo nhân lực chất lượng cao; sử dụng thống nhất 01 bộ sách giáo khoa từ năm học 2026 - 2027; quan tâm phát triển giáo dục vùng biên giới, khánh thành đồng loạt 108 trường học tại các xã biên giới... Ngành y tế làm tốt công tác phòng, chống dịch bệnh; nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh, cung ứng thuốc, vật tư y tế; tổ chức khám sức khỏe định kỳ, khám sàng lọc miễn phí cho khoảng 53 triệu người dân...

Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số có bước tiến mới theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW; đã ưu tiên, bố trí đủ 3% tổng chi ngân sách nhà nước, cơ bản hoàn thiện chính sách, pháp luật, tháo gỡ vướng mắc quy định về tài chính, đầu tư cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; đáp ứng tiến độ 1.932/2.011 nhiệm vụ; triển khai quyết liệt Đề án 06, “100 ngày cao điểm” xử lý điểm nghẽn về chuyển đổi số, vận hành Trung tâm dữ liệu quốc gia; ban hành danh mục, thúc đẩy phát triển công nghệ và sản phẩm công nghệ chiến lược; phê duyệt Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược; Chỉ số đổi mới sáng tạo của Việt Nam năm 2026 xếp hạng 43/139, tăng 01 bậc so với năm 2025 (xếp thứ 3 trong ASEAN)...

Công tác hoàn thiện thể chế, pháp luật gắn với đổi mới tư duy, phương thức xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật đạt kết quả tích cực; nhiều điểm nghẽn được khơi thông, góp phần kiến tạo phát triển, tạo lợi thế cho tăng trưởng 2 con số. Tích cực hoàn thiện 78 dự án luật, nghị quyết trình tại 03 Kỳ họp Quốc hội khóa XVI năm 2026. Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành 485 văn bản quy phạm pháp luật; cơ bản khắc phục tình trạng chậm, nợ ban hành văn bản quy định chi tiết. Công tác cải cách thủ tục hành chính, xử lý kiến nghị của doanh nghiệp được thúc đẩy; đơn giản hóa 803, cắt giảm 945 thủ tục hành chính, 1.754 điều kiện kinh doanh, giảm 53% thời gian thực hiện và 55% chi phí tuân thủ cho người dân, doanh nghiệp (tiết kiệm khoảng 23 nghìn tỷ đồng/năm), mức cắt giảm lớn nhất từ trước đến nay. Tiếp tục sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy các bộ, cơ quan và xử lý hiệu quả vấn đề giao thoa chức năng, nhiệm vụ; thống nhất chuyển giao các nhiệm vụ quản lý nhà nước về địa chất, khoáng sản về một bộ đầu mối; phân định rõ chức năng quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp, tập đoàn, tổng công ty của các bộ, ngành liên quan; hoàn thành sắp xếp các thôn, tổ dân phố, phát huy hơn nữa vai trò tự quản của cộng đồng dân cư; đẩy mạnh sắp xếp trường học, bệnh viện, đơn vị sự nghiệp công lập... Tập trung xử lý căn bản khó khăn, vướng mắc trong vận hành chính quyền địa phương 2 cấp, bảo đảm thông suốt, hiệu quả.

Tiềm lực quốc phòng, an ninh được củng cố, tăng cường; độc lập, chủ quyền quốc gia được giữ vững; trật tự an toàn xã hội được bảo đảm theo tinh thần các Nghị quyết số 18-NQ/TW, 22-NQ/TW. Công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, chống lãng phí được chú trọng; triển khai hiệu quả đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế được triển khai đồng bộ, hiệu quả theo Nghị quyết số 59-NQ/TW, nhất là đối ngoại cấp cao, ngoại giao công nghệ, văn hóa, quốc phòng, an ninh, năng lượng..., góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, củng cố và nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, đóng góp thiết thực xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước. Thông tin, truyền thông được đẩy mạnh, nhất là truyền thông chính sách; tăng cường đấu tranh phản bác, ngăn chặn thông tin xấu, độc và xử lý nghiêm các hành vi sai phạm.

Chi tiết về kết quả chỉ tiêu kinh tế - xã hội, ngân sách nhà nước chủ yếu của cả nước tại Phụ lục I kèm theo Nghị quyết này.

Bên cạnh những kết quả đạt được là cơ bản, kinh tế - xã hội nước ta còn gặp nhiều thách thức, nhất là mục tiêu tăng trưởng 2 con số. Lạm phát chịu áp lực do tác động của thị trường quốc tế, chính sách vĩ mô của các đối tác, CPI bình quân 09 tháng tiệm cận mục tiêu cả năm; thị trường tiền tệ, tín dụng, tỷ giá, lãi suất chịu nhiều sức ép, nợ xấu có xu hướng tăng. Các động lực tăng trưởng truyền thống chưa đạt như kỳ vọng; thị trường trong nước chưa được thúc đẩy rõ nét. Cán cân thương mại được cải thiện nhưng cơ cấu xuất, nhập khẩu chưa hài hòa, bền vững. Hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp còn khó khăn; tốc độ tăng trưởng doanh thu có dấu hiệu chậm lại; khả năng tiếp cận vốn của một bộ phận doanh nghiệp còn hạn chế... Tổng vốn đầu tư toàn xã hội chưa đáp ứng yêu cầu; còn một số bộ, cơ quan giải ngân dưới 20%, một số dự án, dự án thành phần các công trình giao thông trọng điểm giải ngân dưới 5% kế hoạch (chi tiết tại Phụ lục III kèm theo Nghị quyết này); khối lượng tạm ứng chưa thu hồi còn lớn. Kết quả phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số chưa đồng đều, mức độ đóng góp vào nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế chưa tương xứng với tiềm năng, yêu cầu phát triển. Đời sống một bộ phận người dân còn khó khăn; tình hình an ninh, trật tự, tình trạng ô nhiễm không khí, ngập úng, ùn tắc giao thông, cháy nổ... tại một số địa bàn, tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nhất là trên không gian mạng, buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả... còn yếu tố phức tạp.

II. Nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm tháng 10 và thời gian tới

Tháng 10 và những tháng cuối năm 2026, dự báo tình hình thế giới và khu vực tiếp tục biến động phức tạp, khó lường... Ở trong nước, quý IV là giai đoạn “nước rút”, mang tính quyết định để hoàn thành các mục tiêu, chỉ tiêu và nhiệm vụ năm 2026; có những khó khăn, thách thức và thời cơ, thuận lợi đan xen nhưng khó khăn, thách thức nhiều hơn.

Trước tình hình đó, Chính phủ yêu cầu Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố tiếp tục đề cao trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu, triển khai quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả hơn nữa các Nghị quyết, Kết luận, chỉ đạo của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quốc hội và của Chính phủ; tận dụng tối đa thời cơ, các yếu tố thuận lợi, khắc phục khó khăn, hạn chế, tổ chức thực hiện hiệu quả nhiệm vụ trọng tâm phát triển kinh tế - xã hội những tháng cuối năm 2026, phấn đấu hoàn thành cao nhất các mục tiêu, chỉ tiêu đã đề ra, tạo đà bứt phá cho năm 2027 với tinh thần tăng tốc hành động quyết liệt; trong đó, tập trung thực hiện một số nội dung sau:

1. Tập trung nguồn lực, chuẩn bị kỹ lưỡng, bảo đảm tiến độ, chất lượng các báo cáo, đề án trình Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV, các dự án luật, nghị quyết trình Quốc hội khóa XVI xem xét, thông qua tại Kỳ họp thứ Hai, tháng 10 năm 2026. Khẩn trương nghiên cứu, tiếp thu ý kiến Nhân dân đối với các dự án luật quan trọng như Luật Đất đai (sửa đổi), Luật Nhà ở (sửa đổi), Luật Kinh doanh bất động sản (sửa đổi)... Hoàn thành việc sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy các bộ, cơ quan ngang bộ gắn với phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền.

2. Kiên định mục tiêu ưu tiên thúc đẩy tăng trưởng, phấn đấu tăng trưởng năm 2026 đạt “2 con số” gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế; lấy hiệu quả thực chất của nền kinh tế, năng suất, sức cạnh tranh, sự phát triển của doanh nghiệp và việc làm, thu nhập, chất lượng cuộc sống của Nhân dân làm thước đo cho sự phát triển. Rà soát toàn bộ mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ năm 2026, có giải pháp cụ thể, quyết liệt đối với chỉ tiêu thực hiện thấp, có khả năng không đạt mục tiêu, kịch bản cả năm và các nhiệm vụ chậm tiến độ, phấn đấu hoàn thành ở mức cao nhất. Trên cơ sở kịch bản tăng trưởng quý IV của các ngành, lĩnh vực, địa phương (Phụ lục IV kèm theo Nghị quyết này), từng Bộ, cơ quan, địa phương xác định mục tiêu, nhiệm vụ, cơ quan thực hiện; rà soát, xác định các động lực, dư địa tăng trưởng những tháng cuối năm, quyết liệt triển khai các nhiệm vụ, giải pháp thuộc thẩm quyền và kịp thời tham mưu, đề xuất những vấn đề vượt thẩm quyền; xác định rõ các dự án có khả năng sớm hoàn thành, đưa vào khai thác và các doanh nghiệp có khả năng mở rộng sản xuất, kinh doanh để tập trung tháo gỡ khó khăn, đôn đốc thực hiện.

3. Tăng tốc giải ngân vốn đầu tư công, khẩn trương phân bổ chi tiết 19,58 nghìn tỷ đồng vốn ngân sách trung ương còn lại, phấn đấu giải ngân 100% kế hoạch được giao, trong đó tập trung giải ngân tốt cả vốn ngân sách trung ương và ngân sách địa phương, gắn việc giải ngân với việc hoàn thành khối lượng. Khẩn trương lập hồ sơ thanh toán ngay khi có khối lượng hoàn thành, không để dồn khối lượng giải ngân vào cuối năm; kiên quyết điều chuyển vốn từ dự án giải ngân chậm sang dự án giải ngân tốt có nhu cầu sử dụng vốn; kiểm soát chặt chẽ vốn tạm ứng bảo đảm tạm ứng phù hợp với tiến độ dự án, sử dụng đúng mục đích, đúng đối tượng, đẩy nhanh thu hồi tạm ứng, không để xảy ra tạm ứng quá hạn; cập nhật đầy đủ dữ liệu phục vụ chấm điểm giải ngân. Rà soát, có phương án xử lý dứt điểm các dự án tồn đọng, vướng mắc kéo dài (nhất là các dự án giao thông, năng lượng, hạ tầng lớn). Đẩy nhanh việc kiểm kê, lập phương án xử lý, khai thác hiệu quả các cơ sở nhà, đất dôi dư sau tinh gọn bộ máy và sắp xếp đơn vị hành chính, không để xuống cấp, lãng phí.

4. Thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận vốn, ổn định thị trường, bảo đảm cung cầu hàng hóa, năng lượng trong các tháng cuối năm. Tăng cường kết nối doanh nghiệp trong nước với khu vực FDI. Phát triển thị trường trong nước, kích cầu tiêu dùng, khai thác hiệu quả nhu cầu mua sắm, du lịch cuối năm gắn với kiểm soát, bình ổn giá; tận dụng các FTA, xúc tiến thương mại biên giới và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu sang Nam Mỹ, Trung Đông..., phát triển thương mại cân bằng, bền vững.

5. Đẩy nhanh tiến độ soạn thảo, trình ban hành văn bản quy định chi tiết luật, nghị quyết đã có hiệu lực, khắc phục triệt để tình trạng nợ đọng văn bản. Rà soát, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, nhất là các thủ tục liên quan đến đầu tư, đất đai, xây dựng, môi trường; nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ công trực tuyến và giải quyết thủ tục hành chính cho người dân, doanh nghiệp; khắc phục các điểm nghẽn về kết nối, chia sẻ dữ liệu và giải quyết thủ tục liên thông. Triển khai quyết liệt nhiệm vụ phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; khẩn trương hoàn thiện, đưa các chính sách mới vào cuộc sống, trong đó hướng dẫn chi tiết thực thi các quy định về tài sản số, khung pháp lý cho Trung tâm Tài chính quốc tế tại Thành phố Hồ Chí Minh, quy hoạch cụm công nghiệp...

6. Thực hiện đầy đủ, kịp thời các chính sách an sinh xã hội, chăm lo đời sống của Nhân dân, nhất là người có công, đối tượng chính sách, người yếu thế, người có hoàn cảnh khó khăn. Đẩy nhanh tiến độ triển khai các chương trình mục tiêu quốc gia. Quyết tâm hoàn thành giám định ADN đối với 18 nghìn mẫu hài cốt liệt sĩ đã được tìm kiếm, quy tập. Rà soát tổng thể nhu cầu và xử lý dứt điểm tình trạng thiếu sách giáo khoa tại các địa phương; tăng cường kiểm tra, chấn chỉnh công tác bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm tại các cơ sở chế biến, kinh doanh thực phẩm và bếp ăn tập thể; chú trọng chất lượng bữa ăn học đường, cắt giảm khâu trung gian không cần thiết trong mua sắm, cung ứng thuốc và thiết bị y tế; bảo đảm các cơ sở khám, chữa bệnh công lập không bị thiếu hụt vật tư, bệnh nhân tiếp cận được thuốc chất lượng với giá hợp lý.

7. Chuẩn bị chu đáo các hoạt động văn hóa, lễ hội vào dịp cuối năm, trong đó tổ chức tốt Ngày Văn hóa Việt Nam và tuần lễ văn hóa - đại đoàn kết dân tộc năm 2026. Chú trọng bảo tồn và phát huy giá trị di sản gắn với phát triển du lịch, công nghiệp văn hóa. Theo dõi sát tình hình quan hệ lao động, tiền lương, tiền thưởng tại các khu công nghiệp; tăng cường tổ chức các sàn giao dịch việc làm, hỗ trợ kết nối lao động cho các doanh nghiệp phục vụ cao điểm sản xuất cuối năm.

8. Đẩy nhanh tiến độ ban hành kết luận thanh tra đối với các cuộc thanh tra đã hoàn thành thanh tra trực tiếp; rà soát, xử lý dứt điểm tình trạng chồng chéo, trùng lặp trong hoạt động thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp; đôn đốc việc thực hiện nghiêm các kết luận, kiến nghị, quyết định xử lý sau thanh tra. Tăng cường trách nhiệm người đứng đầu trong việc tiếp công dân định kỳ, đột xuất; gắn tiếp công dân với rà soát, đối thoại, giải quyết dứt điểm các vụ việc khiếu nại, tố cáo ngay từ cơ sở, không để hình thành điểm nóng. Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan tố tụng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý các vụ án, vụ việc tham nhũng; đẩy mạnh thu hồi tài sản bị chiếm đoạt, thất thoát trong các vụ án tham nhũng, kinh tế.

9. Các lực lượng duy trì nghiêm chế độ trực sẵn sàng chiến đấu; tăng cường tuần tra, kiểm soát, bảo vệ vững chắc chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia; nắm chắc, dự báo sát tình hình, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Chủ động phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; bảo vệ an ninh kinh tế, an ninh tư tưởng - văn hóa, an ninh mạng và an toàn thông tin; tăng cường phòng, chống tội phạm, bảo đảm an toàn giao thông, phòng cháy, chữa cháy. Rà soát phương án, chuẩn bị sẵn sàng lực lượng, phương tiện, chủ động tham gia phòng, chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn. Tăng cường hợp tác, liên kết, thực hiện hiệu quả công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế.

10. Từng bộ, cơ quan, địa phương theo chức năng, lĩnh vực quản lý, khẩn trương tổ chức thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm tại Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị quyết này.

III. Về việc xử lý kiến nghị của doanh nghiệp

Trên cơ sở báo cáo của Bộ Tài chính về tình hình, kết quả xử lý kiến nghị của doanh nghiệp tại Tờ trình số 814/TTr-BTC ngày 02 tháng 10 năm 2026, Chính phủ yêu cầu:

1. Đối với 56 kiến nghị chưa có kết quả xử lý theo tổng hợp của Bộ Tài chính tại Tờ trình số 814/TTr-BTC, các Bộ: Nông nghiệp và Môi trường, Công Thương, Nội vụ, Y tế, Tư pháp, Giáo dục và Đào tạo, Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố liên quan khẩn trương xử lý dứt điểm, kịp thời thông báo kết quả xử lý tới doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp.

2. Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổng hợp phản ánh, kiến nghị của doanh nghiệp; định kỳ trước ngày 05 hằng tháng gửi các bộ, cơ quan, địa phương liên quan để xem xét, xử lý, đồng gửi Bộ Tài chính, Văn phòng Chính phủ.

3. Trước ngày 25 hằng tháng, các bộ, cơ quan, địa phương gửi kết quả xử lý kiến nghị của doanh nghiệp về Văn phòng Chính phủ, Bộ Tài chính và VCCI để tổng hợp chung.

4. Bộ Tài chính chủ trì tổng hợp tình hình, kết quả xử lý kiến nghị của các bộ, cơ quan, địa phương, báo cáo Chính phủ tại phiên họp Chính phủ thường kỳ hằng tháng.

IV. Về việc báo cáo Chính phủ theo quy định tại khoản 4 Điều 3 Quy chế làm việc của Chính phủ

Thực hiện quy định tại khoản 4 Điều 3 Quy chế làm việc của Chính phủ ban hành kèm theo Nghị định số 191/2026/NĐ-CP, tại Phiên họp, các bộ, cơ quan đã báo cáo Chính phủ như sau:

1. Bộ Công Thương báo cáo về việc tiếp thu, giải trình ý kiến Ủy ban Thường vụ Quốc hội về dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thương mại, cạnh tranh, quản lý ngoại thương, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

2. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam báo cáo về việc xây dựng chỉ tiêu lạm phát năm 2027.

3. Bộ Công an, Bộ Quốc phòng báo cáo về việc chỉnh lý, bổ sung, hoàn thiện các nghị định quy định chi tiết Luật An ninh mạng.

4. Bộ Nội vụ báo cáo về việc tiếp thu, giải trình ý kiến Ủy ban Thường vụ Quốc hội và ý kiến thẩm tra sơ bộ về dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội.

Văn phòng Chính phủ theo dõi, đôn đốc, tổng hợp, báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ kết quả thực hiện Nghị quyết này./.

 

Nơi nhận:
- Ban Bí thư Trung ương Đảng;
- Thủ tướng Chính phủ, các Phó Thủ tướng Chính phủ;
- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ;
- HĐND, UBND các tỉnh, thành phố;
- Văn phòng Trung ương và các Ban của Đảng;
- Văn phòng Tổng Bí thư;
- Văn phòng Chủ tịch nước;
- Văn phòng Quốc hội;
- Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội;
- Tòa án nhân dân tối cao;
- Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
- Kiểm toán nhà nước;
- Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
- Cơ quan Trung ương của các tổ chức chính trị - xã hội;
- Ban Chỉ đạo 35 Trung ương;
- VPCP: BTCN, các PCN, Trợ lý, Thư ký TTg, PTTg, các Vụ, Cục, Công báo;
- Lưu: Văn thư, TH (3b)

TM. CHÍNH PHỦ
Thủ tướng





Lê Minh Hưng

 

LuatVietnam đang cập nhật nội dung bản Word của văn bản…

Mời quý khách xem nội dung Văn bản gốc dưới dạng file PDF. Để tải văn bản, vui lòng xem tại tab Tải về

Bạn chưa Đăng nhập thành viên.

Đây là tiện ích dành cho tài khoản thành viên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, vui lòng Đăng ký tại đây!

Nghị quyết 312/NQ-CP của Chính phủ Phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 9 năm 2026 và Hội nghị trực tuyến Chính phủ với địa phương

văn bản tiếng việt

downloadNghị quyết 312/NQ-CP (Bản PDF)

Vui lòng Đăng nhập để tải văn bản. Nếu chưa có tài khoản, vui lòng Đăng ký tại đây!

văn bản TIẾNG ANH

* Lưu ý: Để đọc được văn bản tải trên Luatvietnam.vn, bạn cần cài phần mềm đọc file DOC, DOCX và phần mềm đọc file PDF.

Bạn chưa Đăng nhập thành viên.

Đây là tiện ích dành cho tài khoản thành viên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, vui lòng Đăng ký tại đây!

  • Văn bản liên quan Nghị quyết 312/NQ-CP
  • Văn bản cùng chủ đề

văn bản cùng lĩnh vực

văn bản mới nhất

CHÍNH SÁCH BẢO VỆ DỮ LIỆU CÁ NHÂN
Yêu cầu hỗ trợYêu cầu hỗ trợ
Chú thích màu chỉ dẫn
Chú thích màu chỉ dẫn:
Các nội dung của VB này được VB khác thay đổi, hướng dẫn sẽ được làm nổi bật bằng các màu sắc:
Sửa đổi, bổ sung, đính chính
Thay thế
Hướng dẫn
Bãi bỏ
Bãi bỏ cụm từ
Bình luận
Click vào nội dung được bôi màu để xem chi tiết.
×