• Tổng quan
  • Nội dung
  • VB gốc
  • Tiếng Anh
  • Hiệu lực
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Nội dung hợp nhất 

    Tính năng này chỉ có tại LuatVietnam.vn. Nội dung hợp nhất tổng hợp lại tất cả các quy định còn hiệu lực của văn bản gốc và các văn bản sửa đổi, bổ sung, đính chính... trên một trang. Việc hợp nhất văn bản gốc và những văn bản, Thông tư, Nghị định hướng dẫn khác không làm thay đổi thứ tự điều khoản, nội dung.

    Khách hàng chỉ cần xem Nội dung hợp nhất là có thể nắm bắt toàn bộ quy định hiện hành đang áp dụng, cho dù văn bản gốc đã qua nhiều lần chỉnh sửa, bổ sung.

    =>> Xem hướng dẫn chi tiết cách sử dụng Nội dung hợp nhất

  • Tải về
Lưu
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao . Vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem chi tiết.
Theo dõi VB
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao . Vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem chi tiết.
Ghi chú
Báo lỗi
In

Báo cáo 173/BC-BPC Hà Nội 2026 khảo sát thực hiện quy định pháp luật phòng cháy chữa cháy

Ngày cập nhật: Chủ Nhật, 11/10/2026 20:49 (GMT+7)
Cơ quan ban hành: Hội đồng nhân dân Thành phố Hà Nội
Số công báo:
Số công báo là mã số ấn phẩm được đăng chính thức trên ấn phẩm thông tin của Nhà nước. Mã số này do Chính phủ thống nhất quản lý.
Đang cập nhật
Số hiệu: 173/BC-BPC Ngày đăng công báo: Đang cập nhật
Loại văn bản: Báo cáo Người ký: Duy Hoàng Dương
Trích yếu: Kết quả khảo sát việc triển khai thực hiện các quy định của pháp luật, chỉ đạo của Thành ủy và các nghị quyết của Hội đồng nhân dân Thành phố về công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ trên địa bàn thành phố Hà Nội
Ngày ban hành:
Ngày ban hành là ngày, tháng, năm văn bản được thông qua hoặc ký ban hành.
30/09/2026
Ngày hết hiệu lực:
Ngày hết hiệu lực là ngày, tháng, năm văn bản chính thức không còn hiệu lực (áp dụng).
Đang cập nhật
Ngày áp dụng:
Ngày áp dụng là ngày, tháng, năm văn bản chính thức có hiệu lực (áp dụng).
Đã biết
Tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao. Vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem chi tiết.
Tình trạng hiệu lực:
Cho biết trạng thái hiệu lực của văn bản đang tra cứu: Chưa áp dụng, Còn hiệu lực, Hết hiệu lực, Hết hiệu lực 1 phần; Đã sửa đổi, Đính chính hay Không còn phù hợp,...
Đã biết
Tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao. Vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem chi tiết.
Lĩnh vực: An ninh trật tự

TÓM TẮT BÁO CÁO 173/BC-BPC

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải Báo cáo 173/BC-BPC

Tải văn bản tiếng Việt (.pdf) Báo cáo 173/BC-BPC PDF (Bản có dấu đỏ)

Vui lòng Đăng nhập để tải văn bản. Nếu chưa có tài khoản, vui lòng Đăng ký tại đây!

Tình trạng hiệu lực: Đã biết
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng hiệu lực: Đã biết
HĐND
THÀNH
PHỐ
HÀ
NỘI
BAN
PHÁP
CHÉ
Só/73BC-BPC
CỘNG
HÒA
XÃ
HỘI
CHỦ
NGHĨA
VIỆT
NAM
Độc
lập
-
Tự
do
-
Hạnh
phúc
Hà
Nội,
ngày
30
tháng
9
năm
2026
BẢO
CÁO
Kết
quả
khảo
sát
việc
triễn
khai
thực
hiện
các
quy
định
của
pháp
luật,
chỉ
đạo
của
Thành
ủy
và
các
nghị
quyết
của
Hội
đồng
nhân
dân
Thành
phố
về
công
tác
phòng
cháy,
chữa
cháy
và
cứu
nạn,
cứu
hộ
trên
địa
bàn
thành
phố
Hà
Nội
Thực
hiện
Chương
trình
công
tác
năm
2026,
Ban
Pháp
chế
HĐND
Thành
phố
đã
ban
hành
Kế
hoạch
số
156/KH-BPC
ngày
11/9/2026
của
Ban
Pháp
chế
HĐND
Thành
phố
về
khảo
sát
việc
triển
khai
thực
hiện
các
quy
định
của
pháp
luật,
chỉ
đạo
của
Thành
ủy
và
các
nghị
quyết
của
HĐND
Thành
phố
về
công
tác
phòng
cháy,
chữa
cháy
và
cứu
nạn,
cứu
hộ
(PCCC
và
CNCH)
trên
địa
bàn
thành
phố
Hà
Nội.
Ban
Pháp
chế
đã
tiến
hành
khảo
sát
trực
tiếp
tại
một
số
cơ
sở
có
nguy
cơ
cháy
cao
thuộc
các
phường
Tương
Mai,
Thanh
Liệt,
Đại
Mỗ
đồng
thời
làm
việc
với
UBND
phường
Tương
Mai,
Thanh
Liệt
và
Công
an
Thành
phố
Hà
Nội.
Sau
khi
khảo
sát
và
nghiên
cứu
báo
cáo
của
các
đơn
vị
liên
quan,
Ban
Pháp
chế
báo
cáo
kết
quả
như
sau:
I.
KẾT
QUẢ
KHẢO
SÁT
1.
Tình
hình
chung
và
nguy
cơ
cháy,
nổ
trên
địa
bàn
Thành
phố
Theo
báo
cáo
của
Công
an
Thành
phố,
hiện
Thành
phố
có
126
xã,
phường;
412
khu
dân
cư
có
nguy
cơ
cháy,
nổ
cao;
70
địa
bàn,
khu
vực
trọng
điểm
về
PCCC;
137.880
cơ
sở
thuộc
diện
quản
lý
về
PCCC,
trong
đó
65.297
cơ
sở
thuộc
UBND
cấp
xã
quản
lý
và
72.583
cơ
sở
thuộc
danh
mục
cơ
sở
có
nguy
hiểm
cháy,
nỗ
do
cơ
quan
Công
an
quản
lý.
Hạ
tầng
phục
vụ
chữa
cháy
còn
nhiều
bất
cập.
Toàn
Thành
phố
có
7.956
tuyến
ngõ
sâu
từ
200
m
trở
lên
mà
xe
chữa
cháy
không
thể
tiếp
cận;
còn
thiếu
10.167
trụ
nước
chữa
cháy,
1.673
bể
nước
chữa
cháy
và
848
bến
lấy
nước,
hố
thu
nước
chữa
cháy.
Đây
là
yếu
tố
trực
tiếp
ảnh
hưởng
đến
khả
năng
tiếp
cận,
tổ
chức
chữa
cháy,
CNCH,
nhất
là
tại
khu
dân
cư
cũ,
ngõ
sâu,
ngõ
hẹp
và
khu
vực
có
mật
độ
xây
dựng
cao.
Trong
08
tháng
đầu
năm
2026,
trên
địa
bàn
Thành
phố
xảy
ra
490
vụ
cháy
và
1.025
vụ
việc
không
thống
kê
vụ
cháy,
làm
chết
09
người,
bị
thương
11
người,
thiệt
hại
tải
sản
khoảng
85,16
tỷ
đồng;
xảy
ra
03
vụ
nổ
làm
chết
01
người,
bị
thương
04
người.
So
với
cùng
kỷ
năm
2025,
số
vụ
cháy
và
số
người
chết
giảm
nhưng
thiệt
hại
về
tài
sản
tăng
khoảng
61
tỷ
đồng.
Đáng
chú
ý,
sự
cố
hệ
thống,
thiết
bị
điện
là
nguyên
nhân
của
365/490
vụ
cháy,
chiếm
74,49%.
SAO Y; Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND TP Hà Nội
Giờ ký: 30/09/2026 17:18:26
2
2.
Công
tác
lãnh
đạo,
chỉ
đạo,
tham
mưu
và
tổ
chức
thực
hiện
Công
an
Thành
phố
đã
chủ
động
tham
mưu
Thành
ủy,
HĐND,
UBND
Thành
phố
ban
hành
và
tổ
chức
thực
hiện
nhiều
chương
trình,
kế
hoạch,
văn
bản
chỉ
đạo
về
PCCC
và
CNCH;
đồng
thời
ban
hành
02
chương
trình,
35
kế
hoạch,
01
quyết
định
và
nhiều
văn
bản
hướng
dẫn,
quy
trình,
quy
chế
để
triển
khai
trong
lực
lượng
Công
an.
Công
tác
PCCC
và
CNCH
được
đưa
vào
nội
dung
giao
ban,
chỉ
đạo
thường
xuyên;
việc
phân
công,
bố
trí
lực
lượng
tại
cấp
xã
sau
khi
thực
hiện
mô
hình
chính
quyền
địa
phương
hai
cấp
cơ
bản
được
duy
trì.
Công
tác
tuyên
truyền
được
triển
khai
với
nhiều
hình
thức;
tổ
chức
các
lớp
tuyên
truyền,
huấn
luyện,
xây
dựng
mô
hình
toàn
dân
PCCC,
ứng
dụng
iHanoi
tư
vấn
an
toàn
PCCC
trong
sử
dụng
điện;
số
hóa
dữ
liệu
nguồn
nước,
phương
án
chữa
cháy,
khai
thác
hệ
thống
truyền
tỉn
báo
cháy.
Công
tác
huấn
luyện,
xây
dựng
phương
án,
thường
trực
sẵn
sàng
chiến
đấu
được
duy
trì;
lực
lượng
Cảnh
sát
PCCС
và
CNCH
đã
xây
dựng
phương
án
đối
với
hàng
nghìn
cơ
sở,
khu
vực
ngõ
sâu
và
tổ
chức
nhiều
cuộc
thực
tập
phương
án.
Công
tác
kiểm
tra
được
chú
trọng:
trong
08
tháng
đầu
năm
2026,
các
lực
lượng
đã
kiểm
tra
32.765
lượt
cơ
sở;
lập
727
biên
bản
vi
phạm
hành
chính,
ban
hành
727
quyết
dịnh
xử
phạt
với
tổng
số
tiền
32,761
tỷ
đồng;
đình
chỉ
hoạt
động
có
thời
hạn
155
trường
hợp;
buộc
khắc
phục
hậu
quả
287
trường
hợp
và
ban
hành
5.985
văn
bản
kiến
nghị
cơ
sở
thực
hiện
yêu
cầu
về
PCCC;
Sở
Công
thương
phối
hợp
với
Công
an
Thành
phố
kiểm
tra
liên
ngành
các
hộ
kinh
doạnh
hóa
chất
và
xử
phạt
02
đơn
vị
với
số
tiền
hơn
1,2
tỷ
đồng,
có
02
văn
bản
đôn
đốc
việc
rà
soát
thực
trạng
cung
ứng
điện
đối
với
các
công
trình
xây
dựng
trái
phép,
cơ
sở
bị
đình
chỉ
hoạt
động
về
PCCC
ngừng
cung
cấp
dịch
vụ
điện.
100%
các
vụ
cháy
trên
địa
bàn
được
tổ
chức
điều
tra,
khám
nghiệm
hiện
trường,
xác
minh
nguyên
nhân
và
làm
rõ
trách
nhiệm
pháp
lý;
đã
làm
rõ
420/490
vụ
cháy
(dạt
tỷ
lệ
85,7%).
Lực
lượng
Cảnh
sát
chữa
cháy
chuyên
nghiệp
đã
trực
tiếp
tham
gia
chữa
cháy
416/490
vụ,
xuất
1.538
lượt
phương
tiện
cùng
7.937
lượt
cán
bộ,
cứu
thoát
an
toàn
107
người.
Bố
trí
bổ
sung
23
vị
trí
thường
trực,
nâng
tổng
số
lên
60
vị
trí
thường
trực
trên
toàn
Thành
phố,
nâng
tỷ
lệ
bao
phủ
bảo
vệ
lên
khoảng
60%
diện
tích
tự
nhiên
và
rút
ngắn
bán
kính
phục
vụ
khu
vực
nội
thành
xuống
khoảng
3,5
km.
Xây
dựng
và
tổ
chức
thực
tập
1.168/1.168
phương
án
PCCC
(đạt
100%)
đối
với
nhà
chung
cư.
Chuyển
đổi
số
và
ứng
dụng
công
nghệ
đột
phá:
đưa
vào
vận
hành
Trung
tâm
Thông
tin
chỉ
huy
CATP
kết
nổi
hệ
thống
truyền
tin
báo
sự
cô
của
Bộ
Công
an
đầu
tiên
trên
toàn
quốc;
chính
thức
ra
mắt
mini
App
"tư
vấn
an
toàn
PCCC
trong
quản
lý,
sử
dụng
điện”
trên
nền
tảng
iHanoi
từ
ngày
01/7/2026;
khảo
sát
và
xây
dựng
4.650
phương
án
chữa
cháy
đối
với
ngõ
sâu
trên
200m
và
6.153
phương
án
đối
với
ngõ
từ
50m
đến
200m.
Số
hóa
100%
dữ
liệu
nguồn
nước,
cập
nhật
dữ
liệu
huy
động
lực
lượng,
phương
tiện
từ
459
cơ
quan,
doanh
nghiệp.
Công
tác
tài
chính
được
đảm
bảo
phục
vụ
kịp
thời
công
tác
PCCC
và
CNCH;
năm
2026
đã
bổ
trí
cho
lực
lượng
PCCC
thuộc
CATP
161.084
triệu
đồng;
phân
bổ
Bộ
tư
lệnh
thủ
đô
10.000
triệu
đồng.
3
Qua
khảo
sát
cho
thấy,
bên
cạnh
kết
quả
bố
trí
kinh
phí,
cần
tiếp
tục
đánh
giá
hiệu
quả
sử
dụng
nguồn
lực
theo
kết
quả
đầu
ra,
nhất
là
tỷ
lệ
trang
bị
thực
tế
cho
lực
lượng
dân
phòng,
khả
năng
tiếp
cận
nguồn
nước
chữa
cháy,
phương
tiện
tại
chỗ
và
mức
độ
khắc
phục
các
cơ
sở
có
nguy
cơ
cao;
tránh
đánh
giá
chủ
yếu
qua
số
kinh
phí
đã
bố
trí,
giải
ngân.
3.
Kết
quả
thực
hiện
các
nghị
quyết
của
HĐND
Thành
phố
3.1.
Nghị
quyết
số
45/2025/NQ-HĐND
Công
an
Thành
phố
đã
tham
muu
UBND
Thành
phố
ban
hành
Quyết
định
số
151/QĐ-UBND
ngày
12/01/2026
quy
định
số
lượng
Đội
dân
phòng,
số
lượng
thành
viên
Đội
dân
phòng
tại
xã,
phường;
hướng
dẫn
kiện
toàn,
thành
lập
và
duy
trì
hoạt
động
của
lực
lượng
dân
phòng.
Đến
ngày
30/6/2026,
126/126
xã,
phường
đã
ban
hành
quyết
định
kiện
toàn
hoặc
thành
lập
lực
lượng
dân
phòng.
Tuy
nhiên,
điều
kiện
bảo
đảm
hoạt
động
chưa
đồng
đều.
Thành
phố
có
5.415
đội
dân
phòng;
mới
có
2.359
đội
được
trang
bị
đầy
đủ
phương
tiện
theo
Thông
tư
số
36/2025/TT-BCA,
đạt
43,56%;
còn
3.056
đội,
chiếm
56,44%,
chuưa
được
trang
bị
đầy
đủ.
Đây
là
hạn
chế
cần
sớm
khắc
phục
để
lực
lượng
tại
chỗ
thực
sự
phát
huy
vai
trò
trong
những
phút
đầu
của
vụ
cháy.
Theo
Sở
Tài
chính,
nguồn
lực
bố
trí
cho
lực
lượng
PCCC
thuộc
Công
an
Thành
phố
năm
2026
là
161,084
tỷ
đồng;
trong
đó
kinh
phí
hỗ
trợ
hằng
tháng
theo
Nghị
quyết
số
45/2025/NQ-HĐND
là
99,399
tỷ
đồng,
đã
giải
ngân
51,593
tỷ
đồng
tại
thời
điểm
báo
cáo.
Việc
phân
cấp
nguồn
chỉ
cho
cấp
xã
tạo
điều
kiện
chủ
động
hơn,
song
cần
tiếp
tục
theo
dõi
việc
bố
trí,
giải
ngân
và
trang
bị
thực
tế
ở
cơ
sở.
3.2.
Nghị
quyết
số
76/2025/NQ-HĐND
Công
an
Thành
phố
đã
triển
khai
Nghị
quyết
trên
toàn
Thành
phố.
Trong
727
quyết
định
xử
phạt
vi
phạm
hành
chính
về
PCCC
có
251
quyết
định
áp
dụng
mức
phạt
theo
Nghị
quyết
số
76/2025/NQ-HĐND.
Nhóm
hành
vi
không
chấp
hành
quyết
định
tạm
đình
chỉ,
đình
chỉ
hoạt
động
được
áp
dụng
nhiều
nhất,
với
173
lượt,
tổng
số
tiền
phạt
10,575
tỷ
đồng.
Tại
thời
điểm
báo
cáo
còn
72
quyết
định
có
hành
vi
vi
phạm
thuộc
Nghị
quyết
số
76/2025/NQ-HĐND
chưa
thi
hành,
với
số
tiền
4,3195
tỷ
đồng.
Công
an
Thành
phố
đánh
giá
mức
phạt
đặc
thù
đã
có
tác
dụng
răn
đe,
song
hiệu
quả
chỉ
được
bảo
đảm
khi
quyết
định
xử
phạt
được
thi
hành
nghiêm,
cần
tăng
cường
đôn
đốc
và
áp
dụng
biện
pháp
cưỡng
chế
theo
quy
định
đối
với
trường
hợp
chây
ì,
không
tự
nguyện
chấp
hành.
3.3.
Nghị
quyết
số
79/2025/NQ-HĐND
100%
UBND
xã,
phường
đã
ban
hành
kế
hoạch
triễn
khai.
Qua
rà
soát,
toàn
Thành
phố
có
2.513
cơ
sở
thuộc
diện
điều
chỉnh
của
Nghị
quyết,
trong
đó
2.117
cơ
sở
do
cơ
quan
Công
an
quản
lý
và
396
cơ
sở
do
UBND
cấp
xã
quản
lý;
nhóm
chung
cư,
nhà
tập
thể
chiếm
tỷ
trọng
lớn
nhất
với
1.748
cơ
sở.
4
Đến
thời
điểm
báo
cáo,
2.511
cơ
sở
đã
cam
kết
lộ
trình,
thời
hạn
khắc
phục;
2.355
cơ
sở
đã
xây
dựng
kế
hoạch
thực
hiện.
Tuy
nhiên,
tiến
độ
chuyển
từ
cam
kết,
kế
hoạch
sang
kết
quả
khắc
phục
thực
tế
còn
chậm:
571
cơ
sở
hoàn
thành
khảo
sát,
lập
hồ
sơ
khái
toán;
40
cơ
sở
bố
trí
vốn;
39
cơ
sở
hoàn
thiện
hồ
sơ
thiết
kể;
11
cơ
sở
hoàn
thành
thi
công;
07
cơ
sở
tổ
chức
nghiệm
thu
đạt
và
mới
01
cơ
sở
được
UBND
cấp
xã
kiểm
tra,
đánh
giá
xác
nhận
hoàn
thành
khắc
phục.
Điều
này
cho
thấy
khối
lượng
công
việc
còn
rất
lớn,
cần
cơ
chế
chỉ
đạo,
nguồn
lực
và
kiểm
soát
tiển
độ
chặt
chẽ
hơn.
Sở
Tài
chính
cho
biết
theo
Kế
hoạch
số
33/KH-UBND,
Sở
Xây
dựng
là
cơ
quan
chủ
trì
rà
soát,
thẩm
định,
tổng
hợp
nhu
cầu
kinh
phí
khắc
phục
cho
nhóm
chung
cư,
nhà
tập
thể
cũ.
Đến
thời
điểm
báo
cáo,
Sở
Tài
chính
chưa
nhận
được
văn
bản
đề
xuất
từ
Sở
Xây
dựng
nên
chưa
có
cơ
sở
tham
mưu
UBND
Thành
phố
bố
trí
kinh
phí
hỗ
trợ.
Việc
chậm
hoàn
tất
khâu
rà
soát,
thẩm
định,
xác
định
giải
pháp
kỹ
thuật
và
dự
toán
đang
ảnh
hưởng
trực
tiếp
đến
tiến
độ
triển
khai
Nghị
quyết
số
79/2025/NQ-HĐND.
3.4.
Nghị
quyết
số
20/2026/NQ-HĐND
Qua
rà
soát
bước
đầu,
Công
an
Thành
phố
xác
định
536
công
trình,
cơ
sở
thuộc
trường
hợp
xem
xét
áp
dụng
biện
pháp
yêu
cầu
ngừng
cung
cấp
dịch
vụ
điện,
nước.
Tại
thời
điểm
báo
cáo,
đã
ban
hành
quyết
định
áp
dụng
biện
pháp
đối
với
05
công
trình,
cơ
sở;
04
trường
hợp
đã
được
ngừng
cung
cấp
điện,
nước
và
đang
chấp
hành,
01
trường
hợp
đã
dừng
hoạt
động
kinh
doanh.
Còn
531
trường
hợp
đang
hoàn
thiện
hồ
sơ,
trong
đó
320
trường
hợp
đã
xác
định
hành
vi
thuộc
diện
áp
dụng
và
211
trường
hợp
tiếp
tục
kiểm
tra,
xác
minh.
Việc
thực
hiện
Nghị
quyết
mới
phát
sinh
nhiều
yêu
cầu
về
trình
tự,
thủ
tục,
căn
cứ
áp
dụng
và
phối
hợp
giữa
cơ
quan
Công
an,
UBND
cấp
xã,
đơn
vị
điện
lực,
cấp
nước.
Công
an
Thành
phố
đã
đề
nghị
cơ
quan
chuyên
môn
hướng
dẫn
để
bảo
đảm
áp
dụng
thống
nhất,
đúng
thẩm
quyền
và
hạn
chế
phát
sinh
khiếu
nại,
vướng
mắc
trong
thực
tiễn.
3.5.
Kết
quả
triển
khai
Kết
luận
số
114-KL/TU
của
Thành
ủy
Qua
báo
cáo
và
khảo
sát
tại
cơ
sở,
các
đơn
vị
đã
bước
đầu
gắn
việc
rà
soát
PCCC
với
xử
lý
vi
phạm
đất
đai,
trật
tự
xây
dựng,
công
trình
xây
dựng
trái
phép,
kho,
xưởng
và
cơ
sở
bị
đình
chỉ
hoạt
động;
đồng
thời
phân
công
kiểm
tra,
giám
sát
việc
chấp
hành
sau
xử
lý.
Tuy
nhiên,
kết
quả
giữa
các
địa
bàn
chưa
đồng
đều,
số
liệu
giữa
các
nhóm
cơ
sở
còn
cần
tiếp
tục
đối
chiếu,
chuẩn
hóa.
Đề
nghị
việc
thực
hiện
Kết
luận
số
114-KL/TU
phải
được
theo
dõi
theo
từng
cơ
sở,
từng
hành
vi
vi
phạm,
xác
định
rõ
trách
nhiệm,
biện
pháp
xử
lý,
tiến
độ
và
kết
quả
khắc
phục;
các
trường
hợp
vượt
thẩm
quyền
phải
tổng
hợp,
báo
cáo
cơ
quan
có
thẩm
quyền
giải
quyết.
4.
Kết
quả
tại
một
số
địa
bàn
khảo
sát
4.1.
Phường
Tương
Mai
Phường
Tương
Mai
có
diện
tích
khoảng
3,56
km²,
quy
mô
dân
số
trên
160.000
người,
mật
độ
dân
cư
và
xây
dựng
cao;
có
nhiều
nhà
ở
kết
hợp
sản
xuất,
5
kinh
doanh,
nhà
trọ,
nhà
ở
nhiều
căn
hộ,
chung
cư
cũ
và
khu
dân
cư
hình
thành
lâu
năm.
Qua
rà
soát
có
57
tuyến
phố,
ngõ
nhỏ
rộng
dưới
3,5
m,
dài
trên
200
m
mà
xe
chữa
cháy
không
thể
tiếp
cận
trực
tiếp.
Trong
thời
gian
từ
01/01/2026
đến
31/8/2026
xảy
ra
12
vụ
cháy
cấp
I
và
09
vụ
việc
sự
cố,
không
có
vụ
nổ.
UBND
phường
đã
kiện
toàn
Ban
Chỉ
đạo
PCCC
và
CNCH,
phân
công
trách
nhiệm
cho
các
phòng,
ban,
Công
an
Phường;
triển
khai
kiểm
tra
liên
ngành,
rà
soát
công
trình
xây
dựng
trái
phép,
cơ
sở
bị
đình
chỉ;
bố
trí
kinh
phí
1
tỷ
đồng
cho
hoạt
động
PCCC,
phòng
thủ
dân
sự,
tìm
kiếm
cứu
nạn,
cứu
hộ
năm
2026.
Đối
với
Nghị
quyết
số
79/2025/NQ-HĐND,
trên
địa
bàn
có
44
chung
cư,
nhà
tập
thể
cũ
cần
thực
hiện
giải
pháp
khắc
phục;
nhu
cầu
kinh
phí
ước
khoảng
200
tỷ
đồng,
vượt
khả
năng
cân
đối
của
ngân
sách
phường.
Phường
đồng
thời
xác
định
57
ngõ
sâu
trên
200
m
với
5.935
hộ
dân,
dự
kiến
cần
khoảng
20
tỷ
đồng
để
đầu
tư
hạ
tầng
cấp
nước
chữa
cháy.
Đây
là
hai
nhóm
nhu
cầu
đầu
tư
lớn
cần
sự
hỗ
trợ
của
Thành
phố.
Phường
đã
rà
soát
17
công
trình
xây
dựng
trái
phép
và
21
cơ
sở
bị
đình
chỉ
hoạt
động
về
PCCC;
tổ
chức
kiểm
tra
liên
ngành
đối
với
17
công
trình,
tiếp
tục
giám
sát
các
cơ
sở
bị
đình
chỉ.
Việc
kiện
toàn
lực
lượng
dận
phòng
theo
51
tổ
dân
phố
mới
đã
được
thực
hiện;
tuy
nhiên
báo
cáo
địa
phương
phản
ánh
lực
lượng
dân
phòng
hiện
không
thuộc
đối
tượng
hưởng
chế
độ
hỗ
trợ
chi
thường
xuyên
hằng
tháng,
cần
tiếp
tục
được
hướng
dẫn
thống
nhất.
Qua
khảo
sát,
cần
tiếp
tục
rà
soát
thực
chất
hiệu
quả
hoạt
động
của
các
mô
hình
PCCC
tại
khu
dân
cư,
nhất
là
Tổ
liên
gia
an
toàn
PCCC,
điểm
chữa
cháy
công
cộng
và
sự
phối
hợp
giữa
lực
lượng
dân
phòng
với
Công
an
phường;
xác
định
rõ
số
mô
hình
đang
hoạt
động,
tình
trạng
phương
tiện,
chế
độ
kiểm
tra,
bảo
quản,
thực
tập
phương
án
và
khả
năng
huy
động
khi
xảy
ra
sự
cố,
nhất
là
tại
57
ngõ
sâu
xe
chữa
cháy
không
thể
tiếp
cận
trực
tiếp.
4.2.
Phường
Thanh
Liệt
Phường
Thanh
Liệt
có
tốc
độ
đô
thị
hóa
nhanh,
dân
cư
đông,
nhiều
nhà
ở
nhiều
tầng,
nhiều
căn
hộ,
cơ
sở
sản
xuất,
kinh
doanh,
dịch
vụ,
kho
và
cơ
sở
lưu
giữ
hàng
hóa;
một
số
tuyến
đường,
ngõ,
ngách
nhỏ
ảnh
hưởng
đến
khả
năng
tiếp
cận
chữa
cháy.
Trong
08
tháng
đầu
năm
2026
xảy
ra
06
vụ
cháy,
sự
cố
cháy,
gồm
04
vụ
cấp
I,
01
vụ
cấp
II
và
01
vụ
cấp
III;
làm
chết
01
người,
thiệt
hại
tài
sản
khoảng
584,4
triệu
đồng,
còn
01
vụ
đang
tiếp
tục
thống
kê,
làm
rõ.
UBND
phường
đã
ban
hành
nhiều
kế
hoạch,
văn
bản
về
xử
lý
công
trình
xây
dựng
trái
phép,
cơ
sở
bị
đình
chỉ
hoạt
động
về
PCCC;
tổ
chức
rà
soát,
phân
công
nhiệm
vụ
giữa
Văn
phòng
HĐND
và
UBND,
Phòng
Kinh
tế,
Hạ
tầng
và
Đô
thị,
Công
an
Phường
và
các
đơn
vị
liên
quan.
Đối
với
Nghị
quyết
số
79/2025/NQ-HĐND,
phường
đã
phê
duyệt
danh
sách
28
cơ
sở
thuộc
diện
điều
chỉnh;
tổ
chức
hội
nghị,
ký
cam
kết
và
trực
tiếp
thảy
mặt
23
nhà
tập
thể
thực
hiện
các
nội
dung
thuộc
Nghị
quyết.
Qua
kiểm
tra,
nhóm
23
nhà
tập
thể
còn
các
tồn
tại
như
chưa
trang
bị
hệ
thống
báo
cháy
tự
động,
phương
tiện
chiếu
sáng
sự
cố,
đèn
chỉ
dẫn
thoát
nạn
và
chưa
đầy
đủ
bình
chữa
cháy
xách
6
tay.
Phòng
chuyên
môn
đang
phối
hợp
với
Sở
Xây
dựng
và
lực
lượng
Cảnh
sát
PCCC
khảo
sát,
xây
dựng
dự
toán
kinh
phí.
Đáng
chú
ý,
báo
cáo
của
phường
nêu
đã
phổi
hợp
đơn
vị
cung
cấp
điện,
nước
chấm
dứt
hợp
đồng
điện,
nước
đối
với
765
khọ,
xưởng
vi
phạm
đất
đai,
xây
dựng,
PCCC;
đồng
thời
thành
lập
tổ
phản
ứng
nhanh
để
kiểm
tra
việc
chấp
hành
ngừng
cung
cấp
dịch
vụ
điện,
nước,
giám
sát
cơ
sở
bị
đình
chỉ
và
ngăn
ngừa
vi
phạm
mới.
Đây
là
khối
lượng
xử
lý
rất
lớn,
cần
tiếp
tục
kiểm
tra
chặt
chẽ
việc
chấp
hành
thực
tế,
nguy
cơ
đấu
nối
lại,
hoạt
động
trở
lại
và
tính
thống
nhất
về
căn
cứ
pháp
lý,
số
liệu
báo
cáo
giữa
địa
phương
với
cấp
Thành
phố.
Phường
đã
kiện
toàn
19
Đội
dân
phòng
với
380
thành
viên
theo
19
tổ
dân
phố
mới.
Tuy
nhiên,
địa
phương
phản
ánh
khối
lượng
quản
lý
PCCC
lớn
trong
khi
một
số
nhiệm
vụ
do
công
chức
kiêm
nhiệm
thực
hiện,
nhân
lực
chuyên
sâu
còn
hạn
chế;
chi
phí
đầu
tư,
cải
tạo
hệ
thống
báo
cháy,
chữa
cháy
tại
các
cơ
sở
hiện
hữu
tương
đối
cao
và
gặp
khó
khăn
do
kết
cấu,
diện
tích
công
trình.
Bên
cạnh
việc
kiện
toàn
về
số
lượng,
cần
đánh
giá
thực
chất
khả
năng
hoạt
động
của
lực
lượng
tại
chỗ,
mức
độ
trang
bị
phương
tiện,
huấn
luyện,
thực
tập
phương
án
và
khả
năng
tiếp
cận
nguồn
nước
chữa
cháy
tại
các
khu
vực
ngõ
sâu,
ngõ
hẹp;
làm
rõ
nội
dung
thuộc
trách
nhiệm,
khả
năng
cân
đối
của
phường
và
nội
dung
cần
Thành
phố
hỗ
trợ
đầu
tư.
III.
NHẬN
XÉT,
ĐÁNH
GIÁ
1.
Kết
quả,
chuyển
biến
tích
cực
Một
là,
công
tác
lầnh
đạo,
chỉ
đạo
về
PCCC
và
CNCH
được
quan
tâm,
có
sự
vào
cuộc
của
Thành
ủy,
HDND,
UBND
Thành
phố,
Cộng
an
Thành
phố
và
chính
quyền
cơ
sở;
hệ
thống
văn
bản
chỉ
đạo,
kế
hoạch
triển
khai
tương
đối
đầy
đủ,
bao
quát
các
nhóm
nguy
cơ,
loại
hình
và
nhiệm
vụ
trọng
tâm.
Hai
là,
việc
triển
khai
các
quy
định
mới
của
luật
về
PCCC
và
CNCH
và
04
nghị
quyết
của
HĐND
Thành
phố
đã
tạo
thêm
cơ
sở
pháp
lý,
công
cụ
và
nguồn
lực
cho
quản
lý
PCCC:
kiện
toàn
lực
lượng
dân
phòng;
tăng
mức
xử
phạt
đối
với
một
số
hành
vì;
xây
dựng
lộ
trình
khắc
phục
các
cơ
sở
cũ
không
bảo
đảm
PCCC;
bổ
sung
biện
pháp
ngừng
cung
cấp
điện,
nước
đối
với
trường
hợp
vi
phạm
thuộc
diện
áp
dụng,
góp
phần
nâng
cao
chất
lượng,
hiệu
quả
công
tác
PCCC
và
CNCH.
Ba
là,
công
tác
kiểm
tra,
xử
lý
vi
phạm,
tuyên
truyền,
huấn
luyện,
xây
dựng
phương
án
và
ứng
dụng
công
nghệ
được
tăng
cường.
Số
vụ
cháy
và
số
người
chết
trong
08
tháng
đầu
năm
2026
giảm
so
với
cùng
kỳ;
nhiều
mô
hình,
giải
pháp
mới
được
triển
khai,
góp
phần
nâng
cao
khả
năng
phòng
ngừa
và
xử
lý
sự
cô.
Bốn
là,
công
tác
ứng
dụng
khoa
học
công
nghệ,
chuyển
đổi
số
trong
công
tác
phòng
cháy,
chữa
cháy
và
CNCH
được
đẩy
mạnh,
từng
bước
hình
thành
hệ
sinh
thái
dữ
liệu
phục
vụ
chỉ
huy,
điều
hành,
góp
phần
nâng
cao
hiệu
quả
công
tác
phòng
cháy,
chữa
cháy,
CNCH
trong
tình
hình
mới.
Năm
là,
tại
Tương
Mai
và
Thanh
Liệt,
chính
quyền
cơ
sở
đã
chủ
động
kiện
toàn
tổ
chức,
rà
soát
cơ
sở,
ban
hành
kế
hoạch
chuyên
đề,
phân
công
nhiệm
vụ
và
7
bước
đầu
nhận
diện
rõ
các
nhóm
khó
khăn
về
hạ
tầng,
công
trình
cũ,
kho
xưởng
và
cơ
sở
bị
đình
chỉ
để
tập
trung
xử
lý.
2.
Tồn
tại,
hạn
chế
và
vấn
đề
cần
tập
trung
khắc
phục
Thứ
nhất,
tình
hình
cháy
nổ
còn
diễn
biến
phức
tạp',
tỷ
lệ
cháy
do
sự
cố
điện
chiếm
74,49%
số
vụ
cháy.
Công
tác
quản
lý
an
toàn
điện
sau
công
tơ
tại
các
hộ
gia
đình,
cơ
sở
kinh
doanh
còn
thiếu
giải
pháp
kiểm
soát
hiệu
quả.
Thứ
hai,
nguy
cơ
cháy,
nổ
trên
địa
bàn
Thành
phố
vẫn
ở
mức
cao.
Số
lượng
cơ
sở
thuộc
diện
quản
lý
rất
lớn;
hạ
tầng
giao
thông,
nguồn
nước
chưa
theo
kịp
tốc
độ
đô
thị
hóa.
7.956
ngõ
sâu
trên
200
m
không
bảo
đảm
khả
năng
tiếp
cận
của
xe
chữa
cháy
và
tình
trạng
thiếu
hơn
10
nghìn
trụ
nước
chữa
cháy
là
những
tồn
tại
mang
tính
hệ
thống,
cần
kế
hoạch
đầu
tư
theo
thứ
tự
ưu
tiên,
gắn
với
các
khu
vực
có
nguy
cơ
cao.
Thứ
ba,
Hệ
lụy
lịch
sử
về
trật
tự
xây
dựng,
đất
đai
và
vướng
mắc
xử
lý
theo
Nghị
quyết
79/2025/NQ-HĐND:
toàn
Thành
phổ
hiện
có
khoảng
10.160
công
trình
xây
dựng
không
phép,
trái
phép
dẫn
đến
vi
phạm
về
phòng
cháy
và
2375
cơ
sở
bị
đình
chỉ
hoạt
động;
tiến
độ
khắc
phục
các
cơ
sở
tồn
tại
trước
Luật
PCCC
năm
2001
(nhất
là
chung
cư,
nhà
tập
thể
cũ)
còn
rất
chậm.
Trong
2.513
cơ
sở
thuộc
diện
điều
chỉnh,
số
cơ
sở
hoàn
thành
thi
công,
nghiệm
thu
và
được
xác
nhận
hoàn
thành
còn
rất
thấp
so
với
tổng
số.
Tại
Tương
Mai,
nhu
cầu
xử
lý
44
chung
cư,
nhà
tập
thể
cũ
ước
khoảng
200
tỷ
đồng;
tại
Thanh
Liệt
có
23
nhà
tập
thể
cũ
còn
nhiều
tồn
tại.
Trong
khi
đó,
Sở
Tài
chính
chưa
nhận
được
đầy
đủ
hồ
sơ,
đề
xuất
từ
cơ
quan
chủ
trì
để
tham
mưu
bố
trí
kinh
phí.
Nếu
không
tháo
gỡ
sớm
về
giải
pháp
kỹ
thuật,
chủ
sở
hữu,
nguồn
vốn
và
cơ
chế
đầu
tư
thì
khó
bảo
đảm
tiến
độ
để
ra.
Cần
chuyển
cách
theo
dõi
Nghị
quyết
số
79/2025/NQ-HĐND
từ
số
lượng
cơ
sở
đã
cam
kết,
lập
kế
hoạch
sang
kết
quả
khắc
phục
thực
tế
theo
từng
bước:
khảo
sát
-
xác
định
giải
pháp
kỹ
thuật
-
lập
dự
toán
-
bố
trí
nguồn
lực
-
thỉ
công
-
nghiệm
thu
-
xác
nhận
hoàn
thành;
đồng
thời
phân
loại
rõ
nhóm
có
thể
khắc
phục
ngay,
nhóm
cần
đầu
tư
lớn
và
nhóm
có
vướng
mắc
về
sở
hữu,
đất
đai,
xây
dựng
để
có
giải
pháp
và
thời
hạn
phù
hợp.
Thứ
tư,
bất
cập
về
bộ
máy,
nhân
lực
và
năng
lực
quản
lý
nhà
nước
cấp
xã:
lực
lượng,
phương
tiện
tại
chỗ
chưa
đáp
ứng
đồng
đều.
Hơn
một
nửa
số
đội
dân
phòng
trên
toàn
Thành
phố
chưa
được
trang
bị
đầy
đủ
phương
tiện
theo
quy
định;
tại
cấp
phường,
cán
bộ
thực
hiện
nhiệm
vụ
PCCC
chủ
yếu
kiêm
nhiệm,
trong
khi
yêu
cầu
chuyên
môn
ngày
càng
cao.
Đây
là
điểm
nghẽn
ảnh
hưởng
đến
năng
lực
quản
lý,
kiểm
tra
và
xử
lý
ban
đầu
tại
cơ
sở.
Thứ
năm,
việc
thực
hiện
Nghị
quyết
số
20/2026/NQ-HĐND
còn
khoảng
cách
lớn
giữa
số
trường
hợp
được
rà
soát
và
số
quyết
dịnh
đã
ban
hành.
Ở
cấp
Thành
phố,
mới
có
05/536
trường
hợp
được
ban
hành
quyết
định
áp
dụng
biện
pháp.
Tại
Thanh
Liệt
nêu
việc
chấm
dứt
hợp
đồng
điện,
nước
đối
với
765
kho,
1
8
tháng
đầu
năm
2026,
toàn
Thành
phố
xảy
ra
490
vụ
cháy,
1025
sự
cố
cháy,
làm
chết
09
người,
bị
thương
11
người,
thiệt
hại
tài
sản
85,16
tỷ
đồng.
8
xưởng
vi
phạm,
thực
tế
khảo
sát
các
cơ
sở
vi
phạm
vẫn
có
dấu
hiệu
lén
lút
hoạt
động,
tiềm
ẩn
gây
nguy
cơ
mất
an
toàn
PCCC.
Thứ
sáu,
việc
thi
hành
quyết
định
xử
phạt
theo
Nghị
quyết
số
76/2025/NQ-
HĐND
chưa
triệt
để;
còn
72
quyết
định
chưa
thi
hành
với
số
tiền
4,3195
tỷ
đồng.
Đặc
biệt,
hành
vi
không
chấp
hành
quyết
định
tạm
đình
chỉ,
đình
chỉ
chiếm
số
lượng
lớn
trong
nhóm
hành
vị
áp
dụng
mức
phạt
đặc
thù,
cho
thấy
cần
chú
trọng
hơn
việc
hậu
kiểm,
cưỡng
chế
thi
hành
và
kiểm
soát
hoạt
động
trở
lại.
Thứ
bảy,
công
tác
phối
hợp
liên
ngành
trong
một
số
khâu
còn
chưa
chặt
chẽ,
nhất
là
giữa
PCCC
với
quản
lý
đất
đai,
trật
tự
xây
dựng,
điện
lực,
cấp
nước
và
xử
lý
các
công
trình,
kho
xưởng
vi
phạm.
Chính
Công
an
Thành
phố
cũng
xác
định
công
tác
phối
hợp,
theo
dõi,
đôn
đốc
chế
độ
báo
cáo
và
huy
động
sức
mạnh
tổng
hợp
có
nơi,
có
lúc
chưa
thực
chất.
Việc
thực
hiện
Kết
luận
số
114-KL/TU
vì
vậy
cần
được
coi
là
nhiệm
vụ
liên
ngành,
gắn
trách
nhiệm
cụ
thể
với
từng
cơ
quan,
địa
phương
và
người
đứng
đầu.
Thứ
tám,
việc
đánh
giá
hiệu
quả
lực
lượng,
mô
hình
PCCC
tại
cơ
sở
chưa
thể
hiện
đầy
đủ
bằng
các
chỉ
tiêu
đầu
ra.
Báo
cáo
cần
tiếp
tục
cập
nhật
số
lượng
Tổ
liên
gia
an
toàn
PCCC,
điểm
chữa
cháy
công
cộng
đang
hoạt
động
thực
chất;
tình
trạng
trang
bị,
bảo
quản
phương
tiện;
số
lượt
huấn
luyện,
thực
tập;
khả
năng
huy
động
và
kết
quả
xử
lý
ban
đầu
khi
có
sự
cố,
làm
cơ
sở
đánh
giá
hiệu
quả
đầu
tư
và
tổ
chức
lực
lượng
tại
chỗ.
Thứ
chín,
công
tác
quản
lý
nhà
nước
về
PCCC
của
một
số
đơn
vị
còn
chưa
sâu
sát,
chưa
thường
xuyên
năm
tình
hình,
rà
soát
địa
bàn,
theo
dõi
việc
chấp
hành
các
quyết
định
đình
chỉ
hoạt
động
của
cơ
quan
chức
năng.
3.
Nguyên
nhân
3.1.
Nguyên
nhân
khách
quan:
(1).
Tốc
độ
đô
thị
hóa,
tăng
dân
số
cơ
học
tăng
nhanh
chóng
tạo
áp
lực
lớn
lên
hạ
tầng
kỹ
thuật;
hệ
thống
ngõ
ngách
nhà
ở
hình
thành
từ
nhiều
thập
kỷ
trước
rất
khó
cải
tạo
ngay.
(2).
Đặc
điểm
sở
hữu
phức
tạp,
đan
xen
giữa
nhà
nước
và
cá
nhân
tại
các
khu
tập
thể,
chung
cư
cũ
gây
khó
khăn
cho
việc
xác
định
chủ
thể
chịu
trách
nhiệm
đầu
tư
PCCС.
(3).
Hệ
thống
quy
định
pháp
luật,
tiêu
chuẩn,
quy
chuẩn
kỹ
thuật
PCCC
thay
đổi,
chuyển
tiếp
cần
thời
gian
để
địa
phương
và
người
dân
thích
ứng,
áp
dụng.
(4).
Mạng
lưới
lực
lượng
Cảnh
sát
PCCC
chuyên
nghiệp
dù
đã
phát
triển
nhưng
chưa
thể
bao
phủ
100%
bán
kính
bảo
vệ
theo
quy
chuẩn,
nhất
là
vùng
ngoại
thành.
3.2.
Nguyên
nhân
chủ
quan
(1).
Ý
thức
tự
giác
chấp
hành
pháp
luật
PCCC
của
một
bộ
phận
người
dân,
chủ
cơ
sở
chưa
cao;
còn
tâm
lý
“dối
phớ”
khi
kiểm
tra,
chưa
duy
trì
tự
kiểm
tra
an
toàn
điện,
PCCC
thường
xuyên.
9
(2).
Sự
phối
hợp
giữa
cơ
quan
Công
an
với
các
phòng,
ban
chuyên
môn
về
xây
dựng,
đô
thị,
điện
lực,
tài
chính
chưa
thường
xuyên,
có
nơi
còn
có
tư
tưởng
“khoán
trắng”
cho
lực
lượng
Công
an.
(3).
Các
Sở,
ngành
Thành
phố
(Sở
Tài
chính,
Sở
Xây
dựng)
chậm
ban
hành
hướng
dẫn
chi
tiết
về
quy
trình
thanh
quyết
toán
kinh
phí
Nghị
quyết
số
45
và
quy
trình
kỹ
thuật
cải
tạo
nhà
tập
thể
cũ
theo
Nghị
quyết
số
79.
(4).
Công
tác
tuyên
truyền
ở
một
số
nơi
còn
mang
tính
hình
thức,
chưa
chuyển
hóa
thành
kỹ
năng
thực
hành
thành
thạo
cho
người
dân.
Trang
thiết
bị
PCCC
cho
lực
lượng
cơ
sở
chưa
đồng
bộ.
(5).
Một
bộ
phận
chủ
cơ
sở,
người
dân
chưa
chủ
động
đầu
tư,
duy
trì
điều
kiện
an
toàn
PCCC.
IV.
KIẾN
NGHỊ,
ĐỀ
XUẤT
1.
Đối
với
UBND
Thành
phố
(1).
Chỉ
dạo
các
sở,
ngành,
UBND
xã,
phường
tổ
chức
thực
hiện
nghiêm
túc,
thực
chất
Chỉ
thị
số
02-CT/TW
của
Ban
Bí
thư,
Luật
phòng
cháy
chữa
cháy
và
cứu
nạn,
cứu
hộ
số
55/2024/QH15;
Nghị
định
105/2025/NĐ-CP
hướng
dẫn
Luật
phòng
cháy
chữa
cháy
và
cứu
nạn,
cứu
hộ;
Chương
trình
hành
động
13-
CTr/TU
và
Kết
luận
số
114-KL/TU
của
Thành
ủy
và
các
văn
bản
chỉ
đạo
của
UBND
Thành
phố
về
công
tác
PCCC,
nhất
là
Công
văn
số
1859/UBND-NC
ngày
05/5/2026
về
đẩy
mạnh
việc
triển
khai,
thực
hiện
các
nhiệm
vụ
trọng
tâm
trong
công
tác
PCCC
và
CNCH;
Công
văn
số
4584/UBND
ngày
04/9/2026
về
triển
khai
Kết
luận
số
114-KL/TU
của
Thành
ủy;
Công
văn
số
4888/UBND-NC
ngày
24/9/2026
về
tăng
cường
an
toàn
PCCC
đối
với
nhà
ở,
nhà
kết
hợp
kinh
doanh,
nhà
ở
nhiều
căn
hộ,
nhà
trọ;
Kế
hoạch
số
363/KH-UBND,
ngày
24/9/2026
về
tổ
chức
tổng
kiểm
tra,
rà
soát,
thống
kê
và
xử
lý
các
công
trình,
nhà
xưởng,
kho
bãi,
cơ
sở
sản
xuất,
kinh
doanh,
tập
kết,
lưu
giữ
hoàng
hóa
vi
phạm
quy
định
về
đất
đai,
trật
tự
xây
dựng,
phòng
cháy,
chữa
cháy
trên
địa
bàn
Thành
phố.
(2).
Chỉ
đạo
gắn
trách
nhiệm
của
người
đứng
đầu
cấp
ủy,
chính
quyền
địa
phương
nếu
để
xảy
ra
tình
trạng
buông
lỏng
quản
lý,
phát
sinh
công
trình
vi
phạm
mới.
Hoàn
thành
việc
tổng
kiểm
tra,
rà
soát,
thống
kê,
phân
loại
công
trình,
nhà
xưởng,
kho
bãi,
cơ
sở
sản
xuất,
kinh
doanh
có
nguy
cơ
cháy,
nỗ
cao
và
vi
phạm
đất
đai,
trật
tự
xây
dựng;
xác
định
rõ
chủ
thể
quản
lý,
tình
trạng
pháp
lý,
tồn
tại
PCCC,
trách
nhiệm,
biện
pháp
và
thời
hạn
xử
lý.
Kiểm
soát
chặt
để
không
phát
sinh
vi
phạm
mới,
không
để
cơ
sở
bị
đình
chỉ
hoặc
đã
ngừng
cung
cấp
điện,
nước
tự
ý
hoạt
động
trở
lại
khi
chưa
đủ
điều
kiện.
(3).
Chỉ
đạo
Sở
Xây
dựng
chủ
trì,
phối
hợp
Sở
Tài
chính,
Công
an
Thành
phố
và
UBND
cấp
xã
khần
trương
hoàn
thành
rà
soát,
giải
pháp
kỹ
thuật,
dự
toán
và
nhu
cầu
kinh
phí
đối
với
chung
cư,
nhà
tập
thể
cũ
thuộc
Nghị
quyết
số
79/2025/NQ-HĐND;
xác
định
rõ
nguồn
vốn,
cơ
chế
đầu
tư
và
tiến
độ
theọ
từng
nhóm
công
trình.
Trước
mắt
tập
trung
các
địa
bàn
có
nhu
cầu
lớn
như
Tương
Mai,
Thanh
Liệt.
10
(4).
Chỉ
đạo
Sở
Tài
chính
khẩn
trương
tham
mưu
văn
bản
hướng
dẫn
liên
ngành
về
hồ
sơ,
chứng
từ,
trình
tự
lập
dự
toán
và
thẩm
quyền
chi,
trả
tiền
hỗ
trợ
chữa
cháy,
tiền
bồi
dưỡng,
huấn
luyện
cho
lực
lượng
dân
phòng
theo
Nghị
quyết
số
45/2025/NQ-HĐND.
(5).
Xây
dựng
kế
hoạch
trung
hạn,
có
thứ
tự
ưu
tiên
để
khắc
phục
thiếu
hụt
hạ
tầng
PCCC,
nhất
là
trụ
nước,
bể
nước,
bến
lấy
nước,
hố
thu
nước
và
giải
pháp
chữa
cháy
cho
khu
vực
ngõ
sâu,
ngõ
hẹp;
ưu
tiên
khu
vực
đông
dân
cư,
có
nhiều
nhà
ở
kết
hợp
sản
xuất,
kinh
doanh,
kho
xưởng
và
nơi
xe
chữa
cháy
không
thể
tiếp
cận.
(6).
Chỉ
dạo
đổi
mới
và
nâng
cao
chất
lượng
tuyên
truyền
về
công
tác
PCCC,
đảm
bảo
tuyên
truyền
phải
thực
chất,
chuyển
mạnh
từ
tuyên
truyền
chung
sang
giải
pháp
phòng
ngừa
có
trọng
tâm
đối
với
hệ
thống
điện,
thiết
bị
điện
tại
nhà
ở,
nhà
ở
kết
hợp
sản
xuất,
kinh
doanh,
kho
xưởng
và
cơ
sở
tập
trung
đông
người
(nguyên
nhân
chủ
yếu
dẫn
đến
các
vụ
cháy).
(7).
Tiếp
tục
quan
tâm
đào
tạo,
bồi
dưỡng
cán
bộ
cấp
xã
làm
công
tác
PCCC;
nghiên
cứu
giải
pháp
bảo
đảm
nhân
lực,
trang
thiết
bị,
phương
tiện
cho
lực
lượng
dân
phòng;
kiểm
tra
việc
bố
trí,
giải
ngân
kinh
phí
theo
Nghị
quyết
số
45/2025/NQ-HĐND,
bảo
đảm
kinh
phí
đi
vào
trang
bị,
huấn
luyện
và
hoạt
động
thực
chất
tại
cơ
sở.
(8).
Chỉ
đạo
xây
dựng
cơ
chế
theo
dõi
tiến
độ
theo
từng
nhóm
nhiệm
vụ,
nhất
là
Nghị
quyết
số
79/2025/NQ-HĐND,
Nghị
quyết
số
20/2026/NQ-HĐND
và
Kết
luận
số
114-KL/TU;
định
kỳ
cập
nhật
số
cơ
sở
đã
xử
lý,
chưa
xử
lý,
nguyên
nhân,
cơ
quan
chịu
trách
nhiệm
và
thời
hạn
hoàn
thành
đê
phục
vụ
chỉ
đạo,
giám
sát
và
tái
giám
sát.
2.
Đối
với
Công
an
Thành
phố
(1).
Làm
tốt
vai
trò
thường
trực
trong
tham
mưu
với
Thành
ủy,
HĐND,
UBND
Thành
phố
các
nội
dung
công
tác
phòng
cháy
chữa
cháy;
trước
mắt
tham
mưu
Thành
ủy
sơ
kết
3
năm
thực
hiện
Chỉ
thị
số
25-CT/TU
ngày
20/9/2023
của
Thành
ủy
Hà
Nội
về
tiếp
tục
lãnh
đạo,
chỉ
đạo
của
Đảng
đối
với
công
tác
PCCC
và
CNCH
trên
địa
bàn
thành
phố
Hà
Nội
trong
tình
hình
mới.
Đồng
thời
tham
mưu
Ban
Thường
vụ
Thành
ủy
ban
hành
Chỉ
thị
mới
đảm
bảo
phù
hợp
với
thực
tiễn.
(2).
Tham
mưu
Nghị
quyết
thay
thế
Nghị
quyết
số
12/2024/NQ-HĐND
ngày
01/07/2024
của
HĐND
Thành
phố
quy
định
tiêu
chí
thành
lập,
tiêu
chí
số
lượng
thành
viên
Tổ
bảo
vệ
an
ninh,
trật
tự
ở
cơ
sở;
nội
dung,
mức
chi
hỗ
trợ
đối
với
người
tham
gia
lực
lượng
tham
gia
bảo
vệ
an
ninh
trật
tự
ở
cơ
sở
trên
địa
bàn
thành
phố
Hà
Nội
để
phủ
hợp
với
mô
hình,
tính
chất
thôn,
tổ
dân
phố
mới
và
đảm
bảo
động
viên
lực
lượng
này
hoàn
thành
tốt
nhiệm
vụ
được
giao.
(3).
Tham
mưu
UBND
Thành
phố
bạn
hành
quy
chế
phối
hợp
giữa
cơ
quan
Công
an
với
các
Sở,
ban,
ngành
Thành
phố
và
UBND
cấp
xã
trong
thực
hiện
các
nội
dung
phòng
cháy
chữa
cháy
cũng
như
chể
độ
thông
tin,
báo
cáo.

Bạn chưa Đăng nhập thành viên.

Đây là tiện ích dành cho tài khoản thành viên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, vui lòng Đăng ký tại đây!

Báo cáo 173/BC-BPC của Ban Pháp chế Hội đồng nhân dân Thành phố Hà Nội kết quả khảo sát việc triển khai thực hiện các quy định của pháp luật, chỉ đạo của Thành ủy và các nghị quyết của Hội đồng nhân dân Thành phố về công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ trên địa bàn thành phố Hà Nội

văn bản tiếng việt

downloadBáo cáo 173/BC-BPC (Bản PDF)

Vui lòng Đăng nhập để tải văn bản. Nếu chưa có tài khoản, vui lòng Đăng ký tại đây!

văn bản TIẾNG ANH

* Lưu ý: Để đọc được văn bản tải trên Luatvietnam.vn, bạn cần cài phần mềm đọc file DOC, DOCX và phần mềm đọc file PDF.

Bạn chưa Đăng nhập thành viên.

Đây là tiện ích dành cho tài khoản thành viên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, vui lòng Đăng ký tại đây!

  • Văn bản cùng chủ đề

văn bản cùng lĩnh vực

văn bản mới nhất

CHÍNH SÁCH BẢO VỆ DỮ LIỆU CÁ NHÂN
Yêu cầu hỗ trợYêu cầu hỗ trợ
Chú thích màu chỉ dẫn
Chú thích màu chỉ dẫn:
Các nội dung của VB này được VB khác thay đổi, hướng dẫn sẽ được làm nổi bật bằng các màu sắc:
Sửa đổi, bổ sung, đính chính
Thay thế
Hướng dẫn
Bãi bỏ
Bãi bỏ cụm từ
Bình luận
Click vào nội dung được bôi màu để xem chi tiết.
×