Thông tư liên tịch 139/1998/TTLT-BTC-BKHCNMT của Bộ Tài chính và Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường về việc của hướng dẫn chế độ thu, quản lý và sử dụng phí thẩm định, lệ phí đăng ký hợp đồng chuyển giao công nghệ

Thuộc tính Nội dung VB gốc Tiếng Anh Hiệu lực VB liên quan Lược đồ Nội dung MIX Tải về
LuatVietnam.vn độc quyền cung cấp bản dịch chính thống Công báo tiếng Anh của Thông Tấn Xã Việt Nam

THÔNG TƯ

LIÊN TỊCH BỘ TÀI CHÍNH - BỘ KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ VÀ MÔI TRƯỜNG SỐ 139/1998/TTLT-BTC-BKHCNMT NGÀY 23 THÁNG 10 NĂM 1998 HƯỚNG DẪN CHẾ ĐỘ THU, QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG PHÍ THẨM ĐỊNH, LỆ PHÍ ĐĂNG KÝ HỢP ĐỒNG CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ

 

- Căn cứ Nghị định số 45/1998/NĐ-CP ngày 01-7-1998 của Chính phủ quy định chi tiết về chuyển giao công nghệ;

- Căn cứ Quyết định số 276-CT ngày 28-7-1992 Chủ tịch Hộiđồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) về việc thống nhất quản lý các loại phí và lệ phí;

Liên Bộ Tài chính - Khoa học, Công nghệ và Môi trường hướng dẫn chế độ thu, quản lý và sử dụng phí thẩm định, lệ phí đăng ký hợp đồng chuyển giao công nghệ do cơ quan được phân cấp phê duyệt như sau:

 

I- ĐỐI TƯỢNG NỘP PHÍ

Tất cả các tổ chức, cá nhân xin phê duyệt, đăng ký Hợp đồng chuyển giao công nghệ (HĐ CGCN) theo quy định của Nghị định 45/1998/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 1998 của Chính phủ phải nộp phí thẩm định, lệ phí đăng ký HĐ CGCN (dưới đây gọi tắt là phí, lệ phí).

 

II- MỨC PHÍ

- Phí thẩm định HĐ CGCN được tính theo tỉ lệ 0,1% (một phần nghìn) tổng giá trị Hợp đồng nhưng tối đa không quá 20 triệu đồng và tối thiểu không dưới 2 triệu đồng.

- Đối với HĐ CGCN xin bổ sung, sửa đổi thì phí thẩm định phải nộp bằng 0,1% (một phần nghìn) tổng giá trị Hợp đồng sửa đổi, nhưng tối đa không quá 10 triệu đồng và tối thiểu không dưới 1 triệu đồng.

- Đối với HĐ CGCN không phải phê duyệt, nhưng phải đăng ký tại Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường thì mức lệ phí là 200.000 đồng cho mỗi hợp đồng.

- Phí thẩm định, lệ phí đăng ký HĐ CGCN thu bằng tiền đồng Việt Nam. Trường hợp phí thẩm định tính trên giá trị Hợp đồng bằng ngoại tệ thì phải quy đổi sang đồng Việt Nam theo tỉ giá liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước công bố tại thời điểm tính mức phí thẩm định.

 

III- QUẢN LÝ, SỬ DỤNG PHÍ THẨM ĐỊNH

1. Cơ quan có thẩm quyền thẩm định, phê duyệt HĐ CGCN (dưới đây gọi tắt là cơ quan thẩm định) theo quy định của Nghị định 45/1998/NĐ-CP ngày 01-7-1998 của Chính phủ trực tiếp thu phí, lệ phí theo quy định của Thông tư này.

2. Toàn bộ số tiền phí, lệ phí thu được là khoản thu của ngân sách Nhà nước. Cơ quan thẩm định được tạm để lại 50% số tiền thu được để sử dụng chi phục vụ cho công tác thẩm định, phê duyệt HĐ CGCN, số tiền còn lại phải nộp vào ngân sách Nhà nước.

3. Cơ quan thẩm định được phép mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước để quản lý, theo dõi riêng việc sử dụng 50% tổng số tiền phí, lệ phí được tạm trích nêu trên nhằm kịp thời trang trải các chi phí trong quá trình thẩm định như quy định tại khoản 5, mục III Thông tư này.

4. Hàng quý, căncứ vào quyết toán của cơ quan thẩm định,cơ quan tài chính cùng cấp làm thủ tục ghi thu, ghi chi ngân sách Nhà nước số tiền thực chi đúng mục đích, đúng chế độ, định mức quy định và có chứng từ hợp lệ mà cơ quan thẩm định đã sử dụng từ số tiềnđược tạm trích.

Cơ quan thẩm định có trách nhiệm báo cáo quyết toán việc sử dụng số tiền tạm trích với cơ quan chủ quản để tổng hợp quyết toán với cơ quan tài chính cùng cấp theo đúng chế độ tài chính hiện hành.

5. Phí thẩm định HĐ CGCN, lệ phí đăng HĐ CGCN được sử dụng cho các mục đích dưới đây và phải tuân theo các quy định về quản lý tài chính, định mức, chế độ chi tiêu hiện hành của Nhà nước:

a) Chi phí cho các tổ chức, cá nhân tham gia nghiên cứu, đánh giá, nhận xét các tài liệu có liên quan đến công nghệ và chuyển giao công nghệ các dự án, theo các hợp đồng kinh tế ký kết giữa tổ chức, cá nhân với cơ quan có trách nhiệm phê duyệt HĐ CGCN (trường hợp cơ quan thẩm định không đủ khả năng thẩm định);

b) Lập hồ sơ thẩm định, lấy ý kiến chuyên gia phản diện;

c) Chi phí cho cuộc họp của Hội đồng thẩm định các dự án;

d) Chi phí cho công tác kiểm tra, thẩm định công nghệ của các HĐ CGCN, kiểm tra việc thực hiện chuyển giao công nghệ của các dự án;

e) Chi phí mua thông tin tài liệu để thẩm định;

g) Chi phí tập huấn, hướng dẫn nghiệp vụ;

h) Chi phí in ấn, dịch thuật tài liệu;

i) Bổ sung chi phí mua sắm phương tiện làm việc, thiết bị văn phòng phục vụ cho công tác thẩm định (theo dự toán được duyệt);

k) Chi bồi dưỡng làm thêm giờ, tăng cường độ lao động cho cán bộ cơ quan thẩm định trực tiếp thực hiện các công tác thẩm định hồ sơ và làm các thủ tục thu phí, lệ phí nhưng mức bồi dưỡng một năm tối đa không quá 3 tháng lương cơ bản của mỗi cán bộ.

 

IV. QUY TRÌNH THU, NỘP PHÍ, LỆ PHÍ:

1. Cơ quan thẩm định khi tiếp nhận đơn, hồ sơ đề nghị thẩm định công nghệ cần chuyển giao của tổ chức, cá nhân phải thực hiện thu ngay mức lệ phí đăng ký và mức phí tối thiểu phải nộp theo quy định của mỗi loại Hợp đồng (2 triệu đồng đối với HĐ CGCN mới hoặc 1 triệu đồng với HĐ CGCN sửa đổi, bổ sung). Sau khi thẩm định và xác định xong mức giá thanh toán cho việc chuyển giao công nghệ, cơ quan thẩm định căn cứ vào mức phí thu theo hướng dẫn của Thông tư này, tiến hành thu nốt số tiền phí thẩm định còn lại phải nộp (nếu có) của tổ chức, cá nhân yêu cầu thẩm định.

2. Thủ tục nộp tiền vào ngân sách Nhà nước:

- Chậm nhất sau 5 ngày kể từ khi thu tiền phí, lệ phí, cơ quan thẩm định phải nộp tờ khai về toàn bộ số phí, lệ phí đã thu được và số tiền phải nộp ngân sách (50% toàn bộ số tiền phí, lệ phí thu được) cho cơ quan thuế trực tiếp quản lý.

- Nhận được tờ khai của cơ quan thẩm định gửi đến, cơ quan thuế thực hiện kiểm tra tờ khai, đối chiếu với chứng từ thu đã phát hành và sử dụng để xác định số tiền phải nộp ngân sách. Chậm nhất sau 5 ngày kể từ ngày nhận được tờ khai của cơ quan thẩm định, cơ quan thuế thông báo trở lại cho cơ quan thẩm định về số tiền phải nộp ngân sách (50% tổng số tiền phí, lệ phí thu được), thời hạn nộp, chương loại, khoản mục tương ứng theo quy định của Mục lục ngân sách Nhà nước và số tiền được tạm giữ lại để chi phục vụ chocông tác thẩm định.

- Căn cứ vào thông báo của cơ quan thuế, cơ quan thẩm định thực hiện nộp ngay số tiền phải nộp vào ngân sách Nhà nước và số tiền còn lại được gửi vào tài khoản của cơ quan thẩm định mở tại Kho bạc Nhà nướcnhư quy định tại khoản 3, Mục III của Thông tư này.

 

V- TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1. Trách nhiệm của cơ quan thẩm định:

a) Thông báo công khai mức thu, thủ tục thu phí, lệ phí tại nơi tổ chức thu.

b) Thực hiện chế độ sổ sách, chứng từ, báo cáo kế toán sử dụng phí, lệ phí theo đúng chế độ kế toán, thống kê hiện hành của Nhà nước.

c) Quản lý, sử dụng và quyết toán số phí, lệ phí thu được với cơ quan tài chính quản lý trực tiếp theo phân cấp quản lý đúng chế độ hiện hành.

2- Trách nhiệm của cơ quan thuế, cơ quan Kho bạc Nhà nước:

Cơ quan thuế, nơi cơ quan thẩm định HĐ CGCN đóng trụ sở, có trách nhiệm cấp biên lai thu phí, lệ phí cho cơ quan thẩm định. Cơ quan thuế và cơ quan Kho bạc Nhà nước có trách nhiệm quản lý, sử dụng và thực hiện việc quyết toán biên lai theo quy định hiện hành về quản lý ấn chỉ.

3- Cuối năm ngân sách, cơ quan thẩm định HĐ CGCN phải quyết toán số kinh phí đã sử dụng cho công tác thẩm định với cơ quan tài chính cùng cấp theo đúng quy định. Số tiền thu được không sử dụng hết phải nộp kịp thời, đầy đủ vào ngân sách Nhà nước.

4. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký. Trong quá trình thực hiện nếu có vướng mắc đề nghị phản ánh kịp thời về Bộ Tài chính, Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường để nghiên cứu, giải quyết.

Thuộc tính văn bản
Thông tư liên tịch 139/1998/TTLT-BTC-BKHCNMT của Bộ Tài chính và Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường về việc của hướng dẫn chế độ thu, quản lý và sử dụng phí thẩm định, lệ phí đăng ký hợp đồng chuyển giao công nghệ
Cơ quan ban hành: Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường; Bộ Tài chính Số công báo: Đã biết
Số hiệu: 139/1998/TTLT-BTC-BLĐTBXH Ngày đăng công báo: Đang cập nhật
Loại văn bản: Thông tư liên tịch Người ký: Chu Hảo; Trần Văn Tá
Ngày ban hành: 23/10/1998 Ngày hết hiệu lực: Đã biết
Áp dụng: Đã biết Tình trạng hiệu lực: Đã biết
Lĩnh vực: Thuế-Phí-Lệ phí , Khoa học-Công nghệ
Tóm tắt văn bản
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Nội dung văn bản đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem VB liên quan.
Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!
Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Hiệu lực.
Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!

THE MINISTRY OF FINANCE
THE MINISTRY OF SCIENCE, TECHNOLOGY AND ENVIRONMENT
-------
SOCIALIST REPUBLIC OF VIET NAM
Independence - Freedom – Happiness
----------
No. 139/1998/TTLT/BTC-BKHCNMT
Hanoi, October 23, 1998

 
JOINT CIRCULAR
GUIDING THE COLLECTION, MANAGEMENT AND USE OF THE FEES FOR EVALUATION AND REGISTRATION OF TECHNOLOGY TRANSFER CONTRACTS
Pursuant to Decree No.45/1998/ND-CP of July 1st, 1998 of the Government stipulating in detail the technology transfer;
Pursuant to Decision No.276/CT of July 28, 1992 of the Chairman of the Council of Ministers (now the Prime Minister) on the uniform management of fees and charges;
The Ministry of Finance and the Ministry of Science, Technology and Environment hereby jointly provide the following guidance for the collection, management and use of the fees for evaluation and registration of technology transfer contracts already approved by the authorized agencies:
I. FEE PAYERS
All organizations and/or individuals applying for approval and registration of technology transfer contracts (TTCs) under Decree No.45/1998/ND-CP of July 1st, 1998 of the Government shall have to pay fees for the evaluation and registration of TTCs (fees for short).
II. FEE LEVELS
- The fee for evaluation of a TTC shall be calculated at the rate of 0.1% (one thousandth) of the total contract value but must not exceed 20 million VND nor be lower than 2 million VND.
- Parties that apply for supplements and/or amendments to a TTC shall have to pay an evaluation fee equal to 0.1% (one thousandth) of the total value of the supplemented and/or amended contract. However, the evaluation fee must not exceed 10 million VND nor be lower than 1 million VND.
- For TTCs which do not require approval but must be registered with the Ministry of Science, Technology and Environment, the applicable fee level shall be 200,000 VND for each contract.
- The fees for evaluation and registration of TTCs shall be collected in Vietnam Dong. Where the evaluation fee is calculated on the contract value in foreign currency(ies), it must be converted into Vietnam Dong at the inter-bank exchange rate(s) announced by the State Bank at the time of evaluation fee calculation.
III. MANAGEMENT AND USE OF EVALUATION FEE
1. The agency competent to evaluate and approve TTCs (hereafter referred to as the evaluating agency) as defined in Decree No.45/1998/ND-CP of July 1st, 1998 of the Government shall directly collect fees in accordance with the provisions of this Circular.
2. All collected charges and fees are State budget revenues. The evaluating agency is entitled to temporarily withhold 50 % of the collected amounts to spend on the activities of evaluating and approving TTCs, the remainder shall be remitted to the State budget.
3. The evaluating agency shall be entitled to open account(s) at the State Treasury for managing and monitoring the use of the above-said 50% temporarily withheld from the total collected fee, in order to promptly cover expenses arising in the evaluation course as specified in Clause 5, Section III of this Circular.
4. Quarterly, basing itself on the settlement made by the evaluating agency, the finance agency of the same level shall fill the procedures for crediting or debiting into the State budget the amounts which have been actually spent for the right purposes, according to the prescribed regime and limits and with valid vouchers, by the evaluating agency from the temporarily withheld amounts.
The evaluating agency shall have to report on the use of the temporarily withheld amounts to its managing agency in order to make the final statement of amounts with the finance agency of the same level according to the current financial regime.
5. The TTC evaluation and registration fees shall be used for the following purposes and comply with the State’s current regulations on financial management, prescribed limits and regime of expenditures:
a) Expenses for organizations and/or individuals participating in the study, evaluation and appraisal of documents related to the technologies and technology transfer of projects, under the economic contracts signed between such organizations and/or individuals with the agencies in charge of approving TTCs (in cases where the evaluating agency is incapable of evaluating);
b) Compiling evaluation dossiers and consulting critical experts;
c) Expenses on meetings of the projects’ evaluation council;
d) Expenses on the inspection and evaluation of technologies of TTCs, and inspection of technology transfer of the projects;
e) Expenses on the purchase of information and documents for evaluation;
f) Expenses on professional training and instruction;
g) Expenses on printing and translation of documents;
h) Additional expenses for procurement of working facilities, office equipment in service of evaluation activities (according to the approved estimates);
i) Payment of allowances for over-time and intensive work to officials of the evaluating agency who personally carry out the dossier evaluation and procedures for collection of fees, but the maximum allowance must not exceed 3 months of basic wage of an official.
IV. PROCEDURAL PROCESS OF COLLECTING AND PAYING FEES
1. The evaluating agency, upon receiving applications or dossiers requesting the evaluation of the to-be-transferred technology(ies) from organizations and/or individuals shall have to immediately collect the registration fee and the minimum payable fee prescribed for each type of contract (2 million VND for a new TTC or 1 million VND for an amended and/or supplemented TTC).
After completing the evaluation and determination of the prices to be paid for the technology transfer, the evaluating agency shall base itself on the fee level under this Circular’s guidance to collect the remaining payable fee (if any) from the organizations and/or individuals requesting the evaluation.
2. Procedures for remitting collected fees to the State budget:
- Within 5 days from the date of collecting the fees, the evaluating agency shall have to submit the declarations of all collected fees and the amounts to be remitted to the State budget (50% of the total collected fee) to the tax agency directly managing it.
- Upon receiving the declarations submitted by the evaluating agency, the tax agency shall verify and compare them with the receipt vouchers already issued and used to determine the amounts which must be remitted to the State budget. Within 5 days after receiving the declarations from the evaluating agency, the tax agency shall have to notify the evaluating agency of the amounts which must be remitted to the budget (50% of the total collected fee amounts), the time limit for remittance, the corresponding chapters, categories, sections and items in the State budget’s table of contents and the amount allowed to be temporarily retained to cover the evaluation activities.
- Basing itself on the notices of the tax agency, the evaluating agency shall immediately remit the payable amount to the State budget and direct the remainder into its account(s) opened at the State Treasury as stipulated in Clause 3, Section III of this Circular.
V. IMPLEMENTATION ORGANIZATION
1. The responsibilities of the evaluating agency:
a) To publicly announce the fee levels and the procedures for collecting fees at the collecting places;
b) To observe the regime of accounting books, vouchers and reports on the use of fees in strict compliance with the State’s current regulations on accounting and statistics.
c) To manage, use and settle the collected fees with the finance agency directly managing it according to the current regulations on management authorization.
2. Responsibility of the tax agency and the State Treasury:
The tax agency of the locality where the TTC-evaluating agency’s head office is located shall issue fee receipts to the evaluating agency. The tax agency and the State Treasury shall have to manage, use and conduct the settlement of receipts according to the current regulations on management of stamps and seals.
3. At the end of each budgetary year, the TTC-evaluating agency shall have to settle the fee amount used for evaluation activities with the finance agency of the same level as prescribed. The collected amounts which have not been used shall have to be promptly and fully remitted to the State budget.
4. This Circular takes effect after its signing. Any problems arising in the course of implementation shall be promptly reported to the Ministry of Finance and the Ministry of Science, Technology and Environment for study and solution.
 
 

THE MINISTRY OF FINANCE
VICE MINISTER




Tran Van Ta
THE MINISTRY OF SCIENCE, TECHNOLOGY AND ENVIRONMENT
VICE MINISTER




Chu Hao

 
Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Nâng cao để xem đầy đủ bản dịch. Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây.
* Lưu ý: Để đọc được văn bản tải trên Luatvietnam.vn, bạn cần cài phần mềm đọc file DOC, DOCX và phần mềm đọc file PDF.
Văn bản đã hết hiệu lực. Quý khách vui lòng tham khảo Văn bản thay thế tại mục Hiệu lực và Lược đồ.

Tải App LuatVietnam miễn phí trên Android tại đây trên IOS tại đây. Xem thêm

Văn bản cùng lĩnh vực
Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Lược đồ.
Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!