- Tổng quan
- Nội dung
- VB gốc
- Tiếng Anh
- Hiệu lực
- VB liên quan
- Lược đồ
-
Nội dung hợp nhất
Tính năng này chỉ có tại LuatVietnam.vn. Nội dung hợp nhất tổng hợp lại tất cả các quy định còn hiệu lực của văn bản gốc và các văn bản sửa đổi, bổ sung, đính chính... trên một trang. Việc hợp nhất văn bản gốc và những văn bản, Thông tư, Nghị định hướng dẫn khác không làm thay đổi thứ tự điều khoản, nội dung.
Khách hàng chỉ cần xem Nội dung hợp nhất là có thể nắm bắt toàn bộ quy định hiện hành đang áp dụng, cho dù văn bản gốc đã qua nhiều lần chỉnh sửa, bổ sung.
- Tải về
Nghị quyết 184/NQ-CP 2026 phiên họp chuyên đề về xây dựng pháp luật tháng 7 năm 2026
| Cơ quan ban hành: | Chính phủ |
Số công báo:
Số công báo là mã số ấn phẩm được đăng chính thức trên ấn phẩm thông tin của Nhà nước. Mã số này do Chính phủ thống nhất quản lý.
|
Đang cập nhật |
| Số hiệu: | 184/NQ-CP | Ngày đăng công báo: | Đang cập nhật |
| Loại văn bản: | Nghị quyết | Người ký: | Lê Minh Hưng |
| Trích yếu: | Phiên họp chuyên đề về xây dựng pháp luật tháng 7 năm 2026 | ||
|
Ngày ban hành:
Ngày ban hành là ngày, tháng, năm văn bản được thông qua hoặc ký ban hành.
|
09/07/2026 |
Ngày hết hiệu lực:
Ngày hết hiệu lực là ngày, tháng, năm văn bản chính thức không còn hiệu lực (áp dụng).
|
Đang cập nhật |
|
Áp dụng:
Ngày áp dụng là ngày, tháng, năm văn bản chính thức có hiệu lực (áp dụng).
|
Đã biết
|
Tình trạng hiệu lực:
Cho biết trạng thái hiệu lực của văn bản đang tra cứu: Chưa áp dụng, Còn hiệu lực, Hết hiệu lực, Hết hiệu lực 1 phần; Đã sửa đổi, Đính chính hay Không còn phù hợp,...
|
Đã biết
|
| Lĩnh vực: | Hành chính Tư pháp-Hộ tịch | ||
TÓM TẮT NGHỊ QUYẾT 184/NQ-CP
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải Nghị quyết 184/NQ-CP
| CHÍNH PHỦ _______ Số: 184/NQ-CP | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc _______________ Hà Nội, ngày 09 tháng 7 năm 2026 |
NGHỊ QUYẾT
Phiên họp chuyên đề về xây dựng pháp luật tháng 7 năm 2026
_____________
CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 18 tháng 02 năm 2025;
Căn cứ Nghị định số 191/2026/NĐ-CP ngày 29 tháng 5 năm 2026 của Chính phủ ban hành Quy chế làm việc của Chính phủ;
Trên cơ sở thảo luận của các Thành viên Chính phủ và kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại Phiên họp chuyên đề xây dựng pháp luật, tổ chức ngày 08 tháng 7 năm 2026,
QUYẾT NGHỊ:
Thời gian qua, Chính phủ đã quyết liệt, bám sát chủ trương, đường lối của Đảng để lãnh đạo, chỉ đạo công tác hoàn thiện thể chế, rà soát quy định hiện hành để khẩn trương tháo gỡ các vướng mắc, bất cập, cải cách thủ tục hành chính, khơi thông nguồn lực, góp phần thực hiện được mục tiêu tăng trưởng hai con số năm 20261.
Thực hiện ý kiến chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm2 “Giai đoạn này, thể chế không còn là điểm nghẽn nữa, thực thi nhiệm vụ, tổ chức triển khai đang là điểm nghẽn của điểm nghẽn”, các cấp, các ngành cần tăng cường chỉ đạo đổi mới công tác thi hành pháp luật, bảo đảm hiệu quả, thiết thực đồng thời với việc thực hiện nhiệm vụ xây dựng pháp luật, hoàn thiện thể chế. Để công tác xây dựng pháp luật đạt mục tiêu và hiệu quả trong thời gian tới, Chính phủ yêu cầu các Bộ, cơ quan ngang bộ tiếp tục thực hiện một số nhiệm vụ sau:
- Khẩn trương xây dựng các dự án luật, nghị quyết, bảo đảm bám sát các chủ trương của Đảng, chỉ đạo của các cơ quan có thẩm quyền, tuân thủ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và Quy chế làm việc của Chính phủ, trong đó: (1) Thay đổi mạnh mẽ tư duy, phương pháp quản lý, không vì lợi ích cục bộ, lợi ích ngành làm ảnh hưởng đến sự phát triển chung, bảo đảm pháp luật phải phục vụ và đáp ứng yêu cầu phát triển; (2) Hạn chế tối đa việc ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành nhiều văn bản quy định chi tiết; (3) Tiếp tục rà soát, cắt giảm thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh, giảm chi phí tuân thủ, thực hiện phân cấp, phân quyền; (4) Người đứng đầu các cơ quan, đơn vị chịu trách nhiệm về chất lượng hồ sơ trình cấp có thẩm quyền và tiến độ thực hiện; ưu tiên bố trí kinh phí, nguồn nhân lực chất lượng cao cho công tác xây dựng pháp luật;
- Tiếp tục rà soát, hoàn thiện nội dung, chuẩn bị kỹ lưỡng hồ sơ, tài liệu dự kiến trình Quốc hội để phục vụ Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, trong đó việc xây dựng các dự án luật, nghị quyết phải rà soát sự cần thiết, tính hợp pháp và xác định rõ thời điểm có hiệu lực, điều khoản giao quy định chi tiết; chủ động phối hợp chặt chẽ với các cơ quan của Quốc hội, các Bộ, ngành trong quá trình thẩm tra, hoàn thiện các dự án luật, nghị quyết, báo cáo, tờ trình và báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ theo quy định;
- Giao Bộ trưởng các Bộ: Công an, Xây dựng, Tư pháp, Tài chính, Y tế, Nội vụ nghiêm túc tiếp thu ý kiến của các Bộ, cơ quan, ý kiến Thành viên Chính phủ, hoàn thiện các dự án Luật, Báo cáo, Tờ trình đã được Chính phủ cho ý kiến, thông qua tại Phiên họp, thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ, thay mặt Chính phủ ký Tờ trình Quốc hội trước ngày 10 tháng 7 năm 2026. Đối với những nội dung cần báo cáo, xin ý kiến cấp có thẩm quyền của Đảng, các Bộ khẩn trương tiếp thu, hoàn thiện hồ sơ ngay sau khi có ý kiến chỉ đạo và gửi Ủy ban Thường vụ Quốc hội để xem xét, cho ý kiến. Trường hợp chưa thể xây dựng hồ sơ hoàn chỉnh theo quy định thì trình hồ sơ về định hướng, chính sách sửa đổi, bổ sung.
Tại Phiên họp Chính phủ lần này, Chính phủ đã thảo luận, cho ý kiến đối với 03 dự án Luật, 02 hồ sơ chính sách Luật, định hướng xây dựng 02 Luật, 03 Tờ trình về các dự án, đề án trình Quốc hội và 01 Báo cáo. Chính phủ đánh giá cao các Bộ: Công an, Xây dựng, Tư pháp, Tài chính, Y tế, Nội vụ đã khẩn trương xây dựng các dự án Luật, hồ sơ chính sách Luật, Báo cáo, Tờ trình.
Chính phủ quyết nghị các dự án Luật và Báo cáo, Tờ trình nêu trên như sau:
I. Về dự án Bộ luật Hình sự (sửa đổi)
1. Chính phủ cơ bản thống nhất về sự cần thiết sửa đổi Bộ luật Hình sự do Bộ Công an trình tại Tờ trình số 294/TTr-BCA ngày 07 tháng 7 năm 2026 nhằm thể chế hóa các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước về đấu tranh phòng, chống tội phạm, góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
2. Bộ Công an chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan nghiên cứu kỹ lưỡng, tiếp thu tối đa ý kiến của các Thành viên Chính phủ, lấy ý kiến rộng rãi các chuyên gia, nhà khoa học, chọn lọc kinh nghiệm quốc tế để hoàn thiện dự án Bộ luật, trong đó lưu ý các nội dung sau:
a) Nghiên cứu việc mở rộng phạm vi chịu trách nhiệm hình sự đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội đối với 26 tội danh, bảo đảm phù hợp định hướng của Đảng về tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, tăng cường áp dụng chế tài hành chính, dân sự thay thế chế tài hình sự;
b) Đánh giá đầy đủ tác động việc mở rộng phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại đối với công tác phòng, chống tội phạm, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội; bảo đảm thống nhất với Nghị quyết 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, đặc biệt trong lĩnh vực ngân hàng, tín dụng; tránh tạo rào cản pháp lý, cản trở đổi mới sáng tạo, phát triển kinh tế số...;
c) Tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện quy định về loại trừ trách nhiệm hình sự đối với trường hợp thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, phòng, chống tội phạm, bảo đảm khả thi, rõ ràng, minh bạch, thống nhất trong thực hiện;
d) Cân nhắc về sự cần thiết bổ sung về giải thích từ ngữ, bảo đảm phù hợp;
đ) Rà soát việc hình sự hóa một số hành vi nguy hiểm cho xã hội mà hiện nay chưa quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015 để đảm bảo tính khả thi, tránh chồng chéo với các tội danh khác hiện đang quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2015;
e) Tiếp tục nghiên cứu, tham khảo về việc bổ sung tình tiết tăng nặng "bỏ trốn và đã có quyết định truy nã" để quy định cho phù hợp.
3. Bộ Công an chịu trách nhiệm về nội dung tiếp thu; phối hợp với Đảng ủy Bộ Tư pháp báo cáo Bộ Chính trị cho ý kiến về những vấn đề quan trọng của dự án Bộ luật còn ý kiến khác nhau. Trên cơ sở ý kiến chỉ đạo của Bộ Chính trị, Bộ Công an hoàn thiện hồ sơ dự án Bộ luật theo quy định, báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định; trên cơ sở đó, giao Bộ trưởng Bộ Công an thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ, thay mặt Chính phủ ký Tờ trình Quốc hội dự án Bộ luật tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI.
4. Phân công Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc chỉ đạo trong quá trình hoàn thiện dự án Bộ luật này.
II. Về dự án Luật Kinh doanh bất động sản (sửa đổi)
1. Chính phủ cơ bản thống nhất sự cần thiết sửa đổi Luật Kinh doanh bất động sản do Bộ Xây dựng trình tại Tờ trình số 75/TTr-BXD ngày 06 tháng 7 năm 2026.
2. Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan nghiên cứu, tiếp thu ý kiến Thành viên Chính phủ, khẩn trương hoàn thiện hồ sơ dự án Luật, bảo đảm một số yêu cầu sau:
a) Rà soát, hoàn thiện dự thảo Luật, bảo đảm tính thống nhất, khả thi, tránh trùng lặp, chồng chéo với Luật Đầu tư, Luật Đất đai, Luật Nhà ở và các luật có liên quan, bảo đảm đồng bộ, không phát sinh các quy trình hành chính khi chuyển nhượng dự án với việc giao đất, cho thuê đất;
b) Nghiên cứu, bổ sung quy định, chế tài cụ thể để kiểm soát, ngăn chặn tình trạng đầu cơ, thao túng thị trường bất động sản và cơ chế một cửa, một đầu mối, một quy trình chuẩn trong giải quyết thủ tục hành chính về đầu tư, chuyển nhượng dự án, giao dịch bất động sản, thể chế hóa đầy đủ Kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm3;
c) Hoàn thiện các quy định về xây dựng, quản lý, vận hành hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu về nhà ở và thị trường bất động sản, bảo đảm kết nối, liên thông, chia sẻ dữ liệu đồng bộ với cơ sở dữ liệu đất đai;
d) Phối hợp chặt chẽ với Bộ Nông nghiệp và Môi trường để bảo đảm thể chế hóa những nội dung trong định hướng sửa đổi Nghị quyết 18-NQ/TW ngày 16/06/2022; đồng thời, bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất, trình Quốc hội đồng thời dự án Luật Kinh doanh bất động sản (sửa đổi), dự án Luật Đất đai (sửa đổi) và dự án Luật Nhà ở (sửa đổi).
3. Bộ Xây dựng chịu trách nhiệm về nội dung tiếp thu, hoàn thiện dự án Luật theo quy định, trong đó tiếp thu, giải trình ý kiến thẩm định của Bộ Tư pháp; tiếp thu tối đa, giải trình đầy đủ ý kiến Thành viên Chính phủ và kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại Phiên họp; trên cơ sở đó, giao Bộ trưởng Bộ Xây dựng thừa uỷ quyền Thủ tướng Chính phủ, thay mặt Chính phủ ký Tờ trình Quốc hội xem xét, cho ý kiến về dự án Luật Kinh doanh bất động sản (sửa đổi) tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khoá XVI.
4. Phân công Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc chỉ đạo quá trình hoàn thiện dự án Luật này.
III. Về dự án Luật Nhà ở (sửa đổi)
1. Chính phủ cơ bản thống nhất sự cần thiết sửa đổi Luật Nhà ở (sửa đổi) do Bộ Xây dựng trình tại Tờ trình số 76/TTr-BXD ngày 06 tháng 7 năm 2026.
2. Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan nghiên cứu, tiếp thu ý kiến Thành viên Chính phủ, khẩn trương hoàn thiện hồ sơ dự án Luật, bảo đảm một số yêu cầu sau:
a) Thể chế hóa đầy đủ kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm4, trong đó làm rõ các chính sách đối với nhà ở thương mại, nhà ở chính sách, nhà ở công vụ, nhà ở cho thuê...
b) Nghiên cứu, bổ sung quy định về cơ chế một cửa, một đầu mối, một quy trình chuẩn trong giải quyết thủ tục hành chính về nhà ở và biện pháp kiểm soát, ngăn chặn tình trạng đầu cơ nhà ở, chống trục lợi chính sách đối với các đối tượng được hưởng chính sách ưu tiên về nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê;
b) Hoàn thiện các quy định về xây dựng, vận hành, khai thác, kết nối, chia sẻ hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu về nhà ở và thị trường bất động sản; rà soát, làm rõ quy định về phát triển các loại nhà thương mại và phát triển nhà ở cho thuê, tránh chồng lấn, trùng lặp;
c) Nghiên cứu, hoàn thiện các cơ chế, chính sách tài chính có tính đột phá, chính sách tín dụng thuận lợi để phát triển nhà ở với các loại hình khác nhau, đặc biệt là nhà ở cho thuê; điều chỉnh về Quỹ nhà ở quốc gia theo hướng không quy định ở trung ương, phân quyền cho địa phương thành lập quỹ nhà ở để phù hợp thực tiễn;
d) Phối hợp chặt chẽ với Bộ Nông nghiệp và Môi trường để bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất, trình Quốc hội đồng thời với dự án Luật Đất đai (sửa đổi) và dự án Luật Kinh doanh bất động sản (sửa đổi).
3. Bộ Xây dựng chịu trách nhiệm về nội dung tiếp thu, hoàn thiện dự án Luật theo quy định, trong đó tiếp thu, giải trình ý kiến thẩm định của Bộ Tư pháp; tiếp thu tối đa, giải trình đầy đủ ý kiến Thành viên Chính phủ và kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại Phiên họp; trên cơ sở đó, giao Bộ trưởng Bộ Xây dựng thừa uỷ quyền Thủ tướng Chính phủ, thay mặt Chính phủ ký Tờ trình Quốc hội xem xét, cho ý kiến về dự án Luật Nhà ở (sửa đổi) tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khoá XVI.
4. Phân công Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc chỉ đạo quá trình hoàn thiện dự án Luật này.
IV. Về hồ sơ chính sách Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự (sửa đổi)
1. Chính phủ cơ bản thống nhất về sự cần thiết xây dựng dự án Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự (sửa đổi) nhằm tiếp tục thể chế hóa đầy đủ các chủ trương của Đảng về sắp xếp tổ chức bộ máy và hoàn thiện cơ sở pháp lý về tổ chức, hoạt động của các cơ quan điều tra.
2. Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Bộ Quốc phòng và các Bộ, cơ quan liên quan nghiên cứu, tiếp thu tối đa ý kiến của các Thành viên Chính phủ; hoàn thiện hồ sơ chính sách Luật, trong đó lưu ý rà soát, hoàn thiện tên gọi và nội dung của các chính sách, bảo đảm phản ánh đúng mục tiêu, giải pháp và đối tượng chịu tác động; đánh giá kỹ lưỡng, bổ sung cơ sở lựa chọn các giải pháp của từng chính sách; phối hợp với Đảng ủy Bộ Tư pháp báo cáo Bộ Chính trị cho ý kiến về những vấn đề quan trọng của hồ sơ chính sách Luật còn có ý kiến khác nhau; trên cơ sở đó, hoàn thiện hồ sơ chính sách dự án Luật theo quy định.
3. Căn cứ chính sách được Chính phủ thông qua, giao Bộ Công an hoàn thiện Tờ trình định hướng, chính sách Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự (sửa đổi) để trình Quốc hội cho ý kiến tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khoá XVI. Giao Bộ trưởng Bộ Công an thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ, thay mặt Chính phủ ký Tờ trình nêu trên gửi Quốc hội; chủ động tổ chức soạn thảo dự án Luật, trình Chính phủ xem xét, thông qua đúng thời hạn theo quy định.
4. Phân công Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc chỉ đạo trong quá trình hoàn thiện dự án Luật này.
V. Về hồ sơ chính sách Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi)
1. Chính phủ cơ bản thống nhất về sự cần thiết sửa đổi Luật An toàn thực phẩm nhằm thể chế hóa các đường lối, chủ trương của Đảng về bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, bảo vệ, chăm sóc sức khỏe Nhân dân5.
2. Chính phủ cơ bản thống nhất mục tiêu, nội dung và giải pháp ưu tiên thực hiện của 04 chính sách của Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) như đề xuất của Bộ Y tế tại Tờ trình số 1246/TTr-BYT ngày 06 tháng 7 năm 2026, cụ thể như sau: (1) Chính sách 1: Quản lý an toàn thực phẩm dựa trên kiểm soát nguy cơ theo chuỗi cung ứng; (2) Chính sách 2: Cải cách phương thức quản lý và cơ chế kiểm tra thực phẩm trên thị trường; (3) Chính sách 3: Số hóa và xây dựng hệ thống thông tin dữ liệu an toàn thực phẩm quốc gia liên thông và (4) Chính sách 4: Nâng cao hiệu quả quản lý thức ăn đường phố và loại hình cung cấp suất ăn tập thể.
3. Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan tiếp thu tối đa ý kiến của các Thành viên Chính phủ, lấy ý kiến các doanh nghiệp, chuyên gia, nhà khoa học để nghiên cứu, thực hiện việc rà soát, đánh giá kỹ tác động của các chính sách, bám sát các chủ trương, đường lối của Đảng và yêu cầu bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ trong hệ thống pháp luật để hoàn thiện nội dung các chính sách, bảo đảm hiệu quả, khả thi, phù hợp với tình hình thực tiễn, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ, bảo đảm an toàn thực phẩm trong tình hình mới. Trên cơ sở, đó, Bộ Y tế khẩn trương xây dựng dự án Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) theo quy định, trình Chính phủ xem xét, thông qua đúng thời hạn, bảo đảm tiến độ trình Quốc hội tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI.
4. Phân công Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà chỉ đạo trong quá trình xây dựng, hoàn thiện dự án Luật này.
VI. Về định hướng xây dựng dự án Luật Phát triển đô thị
1. Chính phủ cơ bản thống nhất sự cần thiết xây dựng Luật Phát triển đô thị và ghi nhận, đánh giá cao nỗ lực của các Bộ: Tư pháp, Tài chính, Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và các Bộ, cơ quan, địa phương liên quan đã khẩn trương nghiên cứu, xây dựng dự án Luật theo chỉ đạo của cấp có thẩm quyền.
2. Về các nội dung cơ quan chủ trì kiến nghị Chính phủ thảo luận, cho ý kiến:
a) Về tên gọi của dự án Luật: Chính phủ thống nhất đổi tên dự án Luật từ "Luật Đô thị đặc biệt" thành "Luật Phát triển đô thị".
b) Về phạm vi áp dụng: Chính phủ thống nhất phạm vi áp dụng bao gồm: (1) Thành phố Hồ Chí Minh, (2) Các thành phố; (3) Các khu kinh tế đặc biệt.
c) Về khung chính sách, bao gồm 03 nhóm:
- Nhóm chính sách 1: Quy định cơ chế, chính sách nhằm thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh.
- Nhóm chính sách 2: Quy định cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển các thành phố, trong đó: (1) Đối với nội dung cho phép địa phương ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, biện pháp cụ thể để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật được quy định khác với văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước ở trung ương ban hành: Cơ chế này chỉ áp dụng đối với địa phương được cấp có thẩm quyền có chủ trương cho phép tương tự như đối với Thành phố Hồ Chí Minh6 hoặc thành phố Hà Nội7; nếu không thuộc trường hợp này, các địa phương phải bảo đảm đúng quy định của pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật; nghiên cứu, rà soát kỹ nội dung chính sách, bảo đảm tính thống nhất, khả thi; (2) Đối với nội dung cho phép Hội đồng nhân dân quy định "Chức danh, thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính khác với quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính; thẩm quyền áp dụng mức tiền phạt vi phạm hành chính tương ứng": Cơ chế này chỉ áp dụng đối với Thành phố Hồ Chí Minh (tương tự như Thủ đô Hà Nội), không áp dụng cho các thành phố khác.
- Nhóm chính sách 3: Quy định cơ chế, chính sách phát triển các khu kinh tế đặc biệt.
d) Về sự phù hợp với Kết luận số 18-KL/TW Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV về phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia, đầu tư công, vay, trả nợ công giai đoạn 2026 - 2030: Bộ Tư pháp phối hợp với Bộ Tài chính, Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và các địa phương có liên quan thực hiện rà soát tổng thể dự án Luật, bảo đảm tuân thủ chủ trương tại Kết luận 18-KL/TW.
đ) Chính phủ thống nhất báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho phép xây dựng dự án Luật (sau khi mở rộng phạm vi áp dụng) theo trình tự, thủ tục rút gọn.
3. Dự án Luật này có tính chất rất quan trọng, cấp bách, do đó, Chính phủ yêu cầu:
- Các Bộ: Tài chính, Nội vụ, Nông nghiệp và Môi trường, Công an, Quốc phòng, Khoa học và Công nghệ, Xây dựng, Thanh tra Chính phủ và các địa phương có liên quan thực hiện nghiêm kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu và Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng8; khẩn trương gửi Bộ Tư pháp ý kiến tham gia về các nội dung đề nghị tích hợp vào dự án Luật;
- Bộ Tài chính gửi Bộ Tư pháp để tổng hợp về các nội dung, tài liệu, hồ sơ liên quan đến các khu kinh tế đặc biệt; trên cơ sở đó, giao: (1) Đảng ủy Bộ Tư pháp tổng hợp, báo cáo Bộ Chính trị xem xét, cho ý kiến về nội dung chủ yếu của dự án Luật; (2) Bộ Tư pháp hoàn thiện hồ sơ dự án Luật theo quy định.
- Các Bộ, cơ quan ngang bộ có trách nhiệm rà soát kỹ lưỡng các nội dung, cơ chế đặc thù tại dự thảo Luật, bảo đảm mỗi quy định phân quyền cho chính quyền đô thị cần có đầy đủ tiêu chí, điều kiện minh bạch để thực hiện quyền, nghĩa vụ công khai dữ liệu, cơ chế hậu kiểm và chế tài rõ ràng, cụ thể.
4. Phân công Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu chỉ đạo Bộ Tư pháp, Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng chỉ đạo Bộ Tài chính trong quá trình hoàn thiện dự án Luật.
VII. Về định hướng xây dựng Luật Ngân sách nhà nước (hợp nhất)
1. Chính phủ cơ bản thống nhất về sự cần thiết hợp nhất Luật Ngân sách nhà nước và Luật Đầu tư công do Bộ Tài chính trình tại Tờ trình số 482/TTr-BTC ngày 06 tháng 7 năm 2026.
2. Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp và các Bộ, cơ quan liên quan hoàn thiện hồ sơ định hướng xây dựng dự án Luật Ngân sách nhà nước (hợp nhất), bảo đảm các yêu cầu sau:
a) Nghiên cứu kỹ về phạm vi điều chỉnh, bố cục dự thảo Luật để quy định, bảo đảm tổng thể, đồng bộ;
b) Rà soát kỹ các chủ trương, định hướng của Đảng, Nhà nước về sử dụng ngân sách nhà nước, các khó khăn, vướng mắc, bất cập trong việc triển khai thực hiện Luật Ngân sách nhà nước, Luật Đầu tư công trong thời gian qua, nhất là các khó khăn, vướng mắc của các dự án đầu tư công; các nội dung giao thoa, trùng lặp giữa 02 Luật để hoàn thiện định hướng các chính sách sửa đổi, bổ sung mới trong Luật Ngân sách nhà nước (hợp nhất), bảo đảm đồng bộ, thống nhất, khả thi trong hệ thống pháp luật; công khai, minh bạch, sử dụng có hiệu quả nguồn vốn ngân sách nhà nước, bảo đảm tính chủ đạo của ngân sách trung ương; cắt giảm tối đa thủ tục hành chính, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, quy định cụ thể trách nhiệm của các bộ, cơ quan trung ương, địa phương trong việc lập, phân bổ, chấp hành, quyết toán và công khai ngân sách nhà nước. Trong đó lưu ý xác định rõ các nội dung kế thừa, các nội dung sửa đổi hoàn thiện, các nội dung bổ sung mới, các nội dung lược bỏ, các nội dung phân cấp, phân quyền để hoàn thiện dự thảo Luật và Tờ trình theo đúng quy định;
c) Hoàn thiện các quy định về nội dung lập, giao kế hoạch 05 năm đối với tài chính ngân sách, đầu tư công; dự toán ngân sách nhà nước hằng năm, bảo đảm thống nhất, đầy đủ, chặt chẽ và khả thi trong triển khai thực hiện;
d) Nghiên cứu, hoàn thiện quy định về đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội, hiệu quả sử dụng vốn ngân sách nhà nước cho các chương trình, nhiệm vụ, dự án; nghiên cứu cơ chế, chính sách đột phá bảo đảm chi cho khoa học - công nghệ; giao Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ quy định tại văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật nội dung liên quan đến ngân sách nhà nước bảo đảm thực hiện nhiệm vụ khoa học - công nghệ, đổi mới, sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, trong đó bao gồm việc phát triển công nghệ lõi và hạ tầng số quốc gia;
đ) Nghiên cứu kỹ các quy định chuyển tiếp về việc lập dự toán năm 2027 và xử lý các dự án đang triển khai, bảo đảm không gián đoạn khi Luật hợp nhất có hiệu lực.
3. Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan tiếp thu tối đa, giải trình đầy đủ ý kiến Thành viên Chính phủ và kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại Phiên họp, chịu trách nhiệm về nội dung tiếp thu, hoàn thiện, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong ngày 10 tháng 7 năm 2026; trên cơ sở đó, giao Bộ trưởng Bộ Tài chính thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ, thay mặt Chính phủ ký Tờ trình định hướng, chính sách Luật Ngân sách nhà nước (hợp nhất) để trình Quốc hội cho ý kiến tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khoá XVI. Sau khi Quốc hội cho ý kiến về định hướng, Bộ Tài chính khẩn trương tổ chức soạn thảo dự án Luật theo quy định, bảo đảm thời hạn, chất lượng.
4. Phân công Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng chỉ đạo trong quá trình hoàn thiện dự án Luật này.
VIII. Về Báo cáo kết quả rà soát các Luật về thuế, đấu thầu, đấu giá, đầu tư (đối với nội dung FDI theo Nghị quyết 10-NQ/TW) và các Luật khác có liên quan cần đề xuất sửa đổi, bổ sung để bảo đảm đồng bộ, thống nhất với các dự án Luật, Nghị quyết được trình tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI
Chính phủ yêu cầu các Bộ, cơ quan ngang bộ, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình, nghiên cứu kỹ các chủ trương, định hướng của Đảng, rà soát nội dung các Luật về thuế, đấu thầu, đấu giá, đầu tư để đề xuất sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật, bảo đảm đồng bộ, thống nhất; trường hợp dự thảo Luật, Nghị quyết có nội dung đặc thù, mâu thuẫn, chồng chéo với các luật hiện hành thì thực hiện sửa đổi ngay các luật có liên quan và quy định rõ nguyên tắc, phạm vi áp dụng pháp luật. Trong đó, Bộ Tài chính khẩn trương nghiên cứu, đề xuất sửa đổi, bổ sung ngay: (1) Luật Đầu tư để bảo đảm thể chế hóa đầy đủ các nội dung của Nghị quyết 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, (2) Luật Đấu thầu để bảo đảm với thống nhất, đồng bộ các dự án Luật, Nghị quyết được trình tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI.
IX. Về các Đề án, Dự án trình Quốc hội
1. Về Tờ trình điều chỉnh chủ trương đầu tư dự án đầu tư xây dựng tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng:
a) Chính phủ cơ bản thống nhất về sự cần thiết điều chỉnh chủ trương đầu tư Dự án đầu tư xây dựng tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng theo đề nghị của Bộ Xây dựng tại Tờ trình số 78/TTr-BXD ngày 07 tháng 7 năm 2026 và kiến nghị của Hội đồng thẩm định nhà nước9.
b) Dự án đầu tư xây dựng tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng là dự án có quy mô lớn, phức tạp, tổng mức đầu tư điều chỉnh tăng nhiều so với sơ bộ tổng mức đầu tư đã được Quốc hội phê duyệt. Do vậy, trong quá trình chuẩn bị triển khai Dự án cần phải tiếp tục đánh giá tổng thể các yếu tố, rà soát kỹ chi phí, suất đầu tư để bảo đảm hiệu quả kinh tế - tài chính, phù hợp với định hướng tự chủ chiến lược trong phát triển công nghiệp đường sắt.
Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan cho ý kiến về các nội dung: quy mô đầu tư, sơ bộ tổng mức đầu tư và hiệu quả đầu tư khi có ý kiến Thành viên Chính phủ về dự án này.
Bộ Xây dựng nghiên cứu, tiếp thu tối đa ý kiến của các Thành viên Chính phủ, rà soát tiếp thu, giải trình đầy đủ ý kiến thẩm định của Hội đồng thẩm định nhà nước; hoàn thiện Hồ sơ, Tờ trình điều chỉnh chủ trương đầu tư Dự án theo quy định của Luật Đầu tư công và pháp luật có liên quan, trong đó báo cáo, rà soát, làm rõ: (1) Đánh giá, sắp xếp thứ tự ưu tiên đầu tư 03 tuyến đường sắt khổ tiêu chuẩn; (2) Cơ sở điều chỉnh phạm vi, quy mô và sơ bộ tổng vốn đầu tư dự án (bảo đảm tính đúng, tính đủ theo quy định), bảo đảm hiệu quả đầu tư, hiệu quả kinh tế, không để thất thoát, lãng phí.
c) Giao Bộ trưởng Bộ Xây dựng thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ, thay mặt Chính phủ ký Tờ trình Quốc hội Dự án này tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI.
d) Phân công Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc chỉ đạo quá trình hoàn thiện hồ sơ, bảo đảm chất lượng, tiến độ của Dự án.
2. Về Tờ trình quyết định chủ trương đầu tư dự án đầu tư xây dựng đường Vành đai 5 - Vùng Thủ đô Hà Nội:
a) Dự án đầu tư xây dựng đường Vành đai 5 - Vùng Thủ đô Hà Nội là dự án thuộc danh mục công trình quan trọng thực hiện giai đoạn 2026 - 2030 trong Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Đây là dự án có quy mô lớn, liên quan đến 7 tỉnh, thành phố, thuộc tiêu chí quan trọng quốc gia cần trình Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư.
Bộ Xây dựng nghiên cứu, tiếp thu tối đa ý kiến của các Thành viên Chính phủ, hoàn thiện hồ sơ Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi Dự án theo quy định của pháp luật, trong đó đánh giá kỹ lưỡng hiệu quả kinh tế, khả năng cân đối nguồn vốn ngân sách trung ương và ngân sách địa phương để lựa chọn hình thức đầu tư phù hợp, khuyến khích việc huy động vốn đầu tư tư nhân tham gia Dự án. Đặc biệt, cần nghiên cứu kỹ nguồn lực để thực hiện việc phân kỳ đầu tư hợp lý; rà soát suất vốn đầu tư bảo đảm đúng quy định.
Bộ Xây dựng phối hợp chặt chẽ với Bộ Tài chính nghiên cứu hình thức huy động vốn, khả năng huy động nguồn lực ngoài ngân sách đầu tư theo phương thức đối tác công tư, trong đó nghiên cứu việc trình Quốc hội cho phép thực hiện một số cơ chế đặc thù trong việc huy động nguồn vốn tư nhân.
b) Trên cơ sở Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi được hoàn thiện theo nội dung nêu trên, giao Bộ trưởng Bộ Xây dựng thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ, thay mặt Chính phủ ký Tờ trình Quốc hội Dự án này tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI.
c) Phân công Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc chỉ đạo quá trình hoàn thiện hồ sơ, bảo đảm chất lượng, tiến độ của Dự án.
3. Về Tờ trình Đề án thành lập thành phố Quảng Ninh trực thuộc Trung ương:
a) Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp với Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh và các Bộ, cơ quan liên quan, hoàn thiện hồ sơ Đề án ngay sau khi có ý kiến của Ban Chấp hành Trung ương, trình Chính phủ để trình Quốc hội xem xét, quyết định.
b) Phân công Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà chỉ đạo quá trình hoàn thiện Đề án này.
X. Một số nhiệm vụ khác cần triển khai
1. Chính phủ yêu cầu các đồng chí Bộ trưởng, Trưởng ngành khẩn trương chỉ đạo:
a) Tập trung nguồn lực để xây dựng, hoàn thiện các văn bản quy định chi tiết, chấm dứt tình trạng chậm ban hành, không để phát sinh khoảng trống pháp lý, bao gồm: (i) 22 nghị định quy định chi tiết các luật, nghị quyết của Quốc hội đã có hiệu lực nhưng chưa được ban hành cập nhật đến hết ngày 07 tháng 7 năm 2026 (07 nghị định có hiệu lực trước ngày 01 tháng 7 năm 2026 và 15 nghị định có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2026) và (ii) 14 nghị định, 01 quyết định của Thủ tướng Chính phủ quy định chi tiết các luật, nghị quyết sẽ có hiệu lực trong thời gian tới;
b) Khẩn trương thực hiện tổng rà soát hệ thống pháp luật, trong đó tiếp tục rà soát các quy định có liên quan đến Luật Đất đai, bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất sau khi Luật có hiệu lực.
2. Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ và các cơ quan liên quan khẩn trương nghiên cứu, xây dựng, hoàn thiện, ban hành hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về đường sắt tốc độ cao.
3. Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan: (1) Khẩn trương xây dựng, trình Chính phủ dự án Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, bảo đảm tiến độ, chất lượng nhằm khắc phục những điểm nghẽn về quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật, bảo đảm việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật khả thi, thống nhất, đồng bộ và (2) Tổ chức triển khai kịp thời, hiệu quả Đề án thí điểm đánh giá, chấm điểm về xây dựng pháp luật đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt./.
| Nơi nhận: - Ban Bí thư Trung ương Đảng; - TTgCP, các PTTgCP; - Các Bộ, cơ quan ngang bộ; - Văn phòng TW và các Ban của Đảng; - Văn phòng Chủ tịch nước; - Văn phòng Quốc hội; - Hội đồng Dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội; - UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; - VPCP: BTCN, các PCN, Trợ lý, Thư ký TTg, các PTTg; các Vụ, Cục; - Lưu: VT, PL (2). | TM. CHÍNH PHỦ THỦ TƯỚNG
Lê Minh Hưng |
___________________
1Trong Quý II và đầu tháng 7 năm 2026, Chính phủ đã trình Quốc hội 16 dự án Luật, Nghị quyết để xem xét, thông qua tại Phiên họp không thường lệ thứ Nhất; Chính phủ đã ban hành 167 Nghị định, 26 Nghị quyết quy phạm pháp luật; Thủ tướng Chính phủ ban hành 23 Quyết định quy phạm pháp luật. Việc cắt giảm thời gian, chi phí tuân thủ đã đạt được những kết quả nhất định, theo ước tính đã cắt giảm khoảng 53% thời gian và 55% chi phí tuân thủ, cơ chế phân cấp, phân quyền ngày càng được hoàn thiện, tạo thuận lợi việc vận hành thông suốt chính quyền ba cấp.
2Tại Hội nghị của Chính phủ với các địa phương ngày 04 tháng 7 năm 2026.
3Thông báo số 64-TB/VPCP ngày 22 tháng 5 năm 2026 của Văn phòng Trung ương Đảng.
4Thông báo số 64-TB/VPTW ngày 22 tháng 5 năm 2026 của Văn phòng Trung ương Đảng.
5Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới, Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 16/6/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XII về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045,...
6Nghị quyết số 09-NQ/TW của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Hồ Chí Minh trong kỷ nguyên mới.
7Nghị quyết số 02-NQ/TW của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển Thủ đô Hà Nội trong kỷ nguyên mới.
8Văn bản số 349/TB-VPCP ngày 04 tháng 7 năm 2026 của Văn phòng Chính phủ.
9Báo cáo số 167/BC-HĐTĐ ngày 07 tháng 7 năm 2026 về kết quả thẩm định Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi điều chỉnh Dự án đầu tư xây dựng tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng.
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản thành viên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, vui lòng Đăng ký tại đây!
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản thành viên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, vui lòng Đăng ký tại đây!