Nghị định 373/2026/NĐ-CP quy định người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn thuộc diện không được bố trí việc làm tại công ty cổ phần được hưởng chính sách tinh giản biên chế theo quy định của Chính phủ.
Theo khoản 1 Điều 39 Nghị định 373/2026/NĐ-CP (ban hành và hiệu lực ngày 30/9/2026):
Điều 39. Chính sách đối với người lao động dôi dư
1. Đối với viên chức quản lý, viên chức chuyên môn nghiệp vụ, người làm việc theo chế độ hợp đồng lao động không xác định thời hạn đang làm việc tại thời điểm xác định giá trị đơn vị mà trong phương án sử dụng lao động không bố trí được việc làm tại Công ty cổ phần thì được hưởng chính sách về tinh giản biên chế theo quy định của Chính phủ.
Như vậy, viên chức quản lý, viên chức chuyên môn nghiệp vụ và người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn đang làm việc tại thời điểm xác định giá trị đơn vị, nếu không được bố trí việc làm tại công ty cổ phần trong phương án sử dụng lao động, được hưởng chính sách tinh giản biên chế.
Đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, khoản 2 Điều 39 quy định nếu đang làm việc tại thời điểm xác định giá trị đơn vị nhưng không được bố trí việc làm trong phương án sử dụng lao động thì được hưởng chính sách theo hợp đồng lao động.
So với quy định cũ, Điều 38 Nghị định 150/2020/NĐ-CP phân chia chính sách theo hai nhóm: viên chức, viên chức quản lý và người lao động làm việc theo hợp đồng lao động. Nhóm viên chức không được bố trí việc làm được hưởng chính sách tinh giản biên chế. Nhóm lao động hợp đồng được hưởng chính sách đối với người lao động dôi dư khi sắp xếp lại công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu theo quy định của Chính phủ.
Như vậy, Nghị định 373/2026/NĐ-CP thay đổi cách xác định chính sách cho lao động hợp đồng, phân biệt hợp đồng không xác định thời hạn và hợp đồng xác định thời hạn. Người làm việc theo hợp đồng không xác định thời hạn được xếp cùng nhóm hưởng chính sách tinh giản biên chế khi đáp ứng điều kiện tại khoản 1 Điều 39.
Việc giải quyết lao động dôi dư phải gắn với phương án sử dụng lao động. Khoản 3 Điều 10 Nghị định mới yêu cầu đơn vị chuyển đổi sắp xếp, sử dụng tối đa người quản lý và người lao động tại thời điểm quyết định chuyển đổi; công ty cổ phần kế thừa toàn bộ trách nhiệm đối với người lao động chuyển sang.
Đối với người tiếp tục làm việc, khoản 5 Điều 38 bảo đảm quyền tiếp tục tham gia và hưởng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cùng các chế độ khác. Khoản 1 Điều 38 cũng tiếp tục chính sách mua tối đa 100 cổ phần cho mỗi năm thực tế làm việc trong khu vực nhà nước với giá bằng 60% mệnh giá, tương ứng 6.000 đồng/cổ phần, như khoản 1 Điều 37 Nghị định cũ.
Chính sách lao động dôi dư tại Điều 39 còn được áp dụng cho mô hình doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ theo khoản 3 Điều 44 Nghị định mới.
Theo Điều 1 Quyết định 130/2026/QĐ-UBND quy định:
Điều 1. Sửa đổi, bổ sung nội dung Quyết định số 127/2026/QĐ-UBND ngày 16/9/2026 của UBND Thành phố như sau:
Sửa đổi, bổ sung Điều 3 như sau: “Trình tự, thủ tục thu hồi đất thực hiện theo quy định của pháp luật đất đai và các pháp luật liên quan. Trường hợp Dự án chưa hoàn thành việc bố trí tái định cư và người có đất thu hồi tự nguyện nhận bố trí tạm cư hoặc kinh phí tạm cư: Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền ban hành quyết định thu hồi đất sau khi phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được phê duyệt và đã hoàn thành bố trí tạm cư hoặc chi trả kinh phí tạm cư.
Như vậy, đối với trường hợp dự án chưa hoàn thành bố trí tái định cư nhưng người có đất thu hồi lựa chọn nhận tạm cư hoặc kinh phí tạm cư, việc ban hành quyết định thu hồi đất phải bảo đảm thực hiện đầy đủ các điều kiện theo quy định, gồm phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã được phê duyệt và đã hoàn thành bố trí tạm cư hoặc chi trả kinh phí tạm cư trước khi ban hành quyết định thu hồi đất.
Quyết định 130/2026/QĐ-UBND được ban hành trên cơ sở Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15, Luật Thủ đô số 02/2026/QH16, Nghị quyết số 254/2025/QH15 của Quốc hội và Nghị định số 102/2024/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai.
Quy định mới nhằm làm rõ trình tự thực hiện thu hồi đất trong trường hợp đặc thù khi chưa hoàn thành bố trí tái định cư, bảo đảm việc ban hành quyết định thu hồi đất gắn với việc thực hiện các nội dung về tạm cư cho người có đất thu hồi.
Theo khoản 1 Công văn 10065/VPCP-KGVX, xét đề nghị của Bộ Nội vụ tại Tờ trình 10033/TTr-BNV ngày 11/9/2026, Phó Thủ tướng đồng ý phương án nghỉ 7 ngày trong dịp Tết Âm lịch Đinh Mùi năm 2027 và nghỉ 4 ngày trong dịp lễ Quốc khánh năm 2027.
Theo phương án Bộ Nội vụ đề xuất, kỳ nghỉ Tết Âm lịch năm 2027 kéo dài 7 ngày liên tục, từ thứ Năm ngày 04/02/2027 (ngày 28 tháng Chạp năm Bính Ngọ) đến hết thứ Tư ngày 10/02/2027 (mùng 5 tháng Giêng năm Đinh Mùi). Trong đó gồm 5 ngày nghỉ Tết Âm lịch theo quy định và 2 ngày nghỉ bù do ngày nghỉ hằng tuần trùng với ngày nghỉ Tết.
Đối với dịp Quốc khánh, phương án nghỉ năm 2027 kéo dài 4 ngày liên tục, từ thứ Năm ngày 02/9/2027 đến hết Chủ nhật ngày 05/9/2027. Trong đó có 2 ngày nghỉ lễ Quốc khánh và 2 ngày nghỉ hằng tuần.
Theo điểm b và điểm đ khoản 1 Điều 112 Bộ luật Lao động 2019, người lao động được nghỉ làm việc, hưởng nguyên lương 5 ngày vào dịp Tết Âm lịch; 2 ngày vào dịp Quốc khánh, gồm ngày 02/9 Dương lịch và 1 ngày liền kề trước hoặc sau.
Bên cạnh đó, tại khoản 2 Công văn 10065/VPCP-KGVX, Phó Thủ tướng cũng đồng ý với đề xuất của Bộ Nội vụ tại Tờ trình 10137/TTr-BNV ngày 14/9/2026 về phương án nghỉ 1 ngày nhân Ngày Văn hóa Việt Nam năm 2026.
Công văn 10065/VPCP-KGVX cũng giao Bộ trưởng Bộ Nội vụ thông báo phương án nghỉ đến các cơ quan hành chính, sự nghiệp, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và doanh nghiệp, người lao động theo quy định. Đồng thời, các cơ quan, đơn vị phải bố trí bộ phận ứng trực, làm việc hợp lý để bảo đảm giải quyết công việc liên tục và phục vụ Nhân dân trong thời gian nghỉ Lễ, Tết.
Thông tin nêu tại Công văn 6632/BGDĐT-VP của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc hướng dẫn kiểm tra chuyên ngành trong lĩnh vực giáo dục năm học 2026-2027, ban hành ngày 18/9/2026.
Theo hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo tại Công văn 6632/BGDĐT-VP, một trong những nội dung trọng tâm được kiểm tra là việc thực hiện quy định về quản lý các khoản thu, tài chính; quản lý, sử dụng tài sản; thực hiện chủ trương xã hội hóa trong giáo dục, chủ yếu đối với cơ sở giáo dục công lập thuộc phạm vi quản lý.
Đối với cơ sở giáo dục dân lập, tư thục, cơ quan quản lý sẽ kiểm tra việc công khai tài chính; việc thu, quản lý và sử dụng các khoản thu theo quy định của pháp luật; đồng thời kiểm tra việc thực hiện chế độ báo cáo về giáo dục trên địa bàn.
Bên cạnh vấn đề tài chính, Bộ Giáo dục và Đào tạo yêu cầu tăng cường kiểm tra việc tổ chức tuyển sinh, chuyển trường, chuyển lớp; tổ chức Kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông, Kỳ thi học sinh giỏi quốc gia và các kỳ thi khác theo hướng dẫn của Bộ.
Hoạt động dạy thêm, học thêm cũng là nội dung được đưa vào diện kiểm tra. Cơ quan quản lý sẽ xem xét việc thực hiện quy định về dạy thêm, học thêm; chương trình giáo dục của nước ngoài; liên kết tổ chức giáo dục; chương trình học ngoại ngữ của nước ngoài; hoạt động giáo dục kỹ năng sống và hoạt động giáo dục ngoài giờ chính khóa.
Ngoài ra, Công văn 6632/BGDĐT-VP yêu cầu kiểm tra việc bố trí, sắp xếp đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục sau sắp xếp cơ sở giáo dục; việc thực hiện các chế độ, chính sách về phụ cấp ưu đãi theo nghề, tiền lương, phụ cấp, trợ cấp, hỗ trợ đào tạo nâng trình độ chuẩn.
Đáng chú ý, nội dung kiểm tra còn bao gồm việc tuyển dụng, sử dụng, quản lý nhà giáo và nhân sự giáo dục; công tác đào tạo, bồi dưỡng, phân công, định hướng chuyên môn đối với đội ngũ giáo viên.
Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, việc kiểm tra chuyên ngành nhằm kịp thời nắm bắt tình hình triển khai nhiệm vụ năm học 2026 - 2027, phát hiện bất cập trong thực hiện pháp luật, chấn chỉnh vi phạm, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về giáo dục.
Khoản 11 Điều 30 quy định chung về hồ sơ, thủ tục khen thưởng tại Nghị định 368/2026/NĐ-CP nêu rõ:
11. Khi trình Thủ tướng Chính phủ thì bộ, ban, ngành, tỉnh gửi 01 bản giấy (bản chính) của hồ sơ khen thưởng; đồng thời gửi các tệp tin điện tử đến Bộ Nội vụ qua Hệ thống phần mềm điện tử, trừ nội dung bí mật nhà nước. Bộ Nội vụ hướng dẫn cụ thể phần mềm điện tử tiếp nhận hồ sơ khen thưởng. Hồ sơ khen thưởng chỉ được tiếp nhận khi Bộ Nội vụ nhận được bản giấy (bản chính) của hồ sơ và các tệp tin điện tử của hồ sơ theo đúng quy định. Bộ Nội vụ gửi Tờ trình kèm theo danh sách đề nghị khen thưởng và hồ sơ khen thưởng dưới dạng tệp tin điện tử (bao gồm các dự thảo văn bản trình Thủ tướng Chính phủ ký) đến Văn phòng Chính phủ.
Như vậy, khi trình Thủ tướng Chính phủ, bộ, ban, ngành, tỉnh gửi 01 bản giấy là bản chính của hồ sơ khen thưởng và đồng thời gửi các tệp tin điện tử đến Bộ Nội vụ qua hệ thống phần mềm điện tử, trừ nội dung bí mật nhà nước. Hồ sơ chỉ được tiếp nhận khi Bộ Nội vụ nhận được cả bản giấy và các tệp tin điện tử theo đúng quy định.
Điều 30 còn quy định báo cáo thành tích của cá nhân, tập thể, hộ gia đình được đề nghị khen thưởng phải phù hợp với điều kiện, tiêu chuẩn của danh hiệu thi đua hoặc hình thức khen thưởng, đồng thời thể hiện theo mẫu tại Phụ lục I của Nghị định.
Đối với hồ sơ đề nghị danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng cấp Nhà nước, nội dung thành tích trong báo cáo tính đến thời điểm bộ, ban, ngành, tỉnh trình Thủ tướng không được quá 06 tháng, trừ khen thưởng thành tích kháng chiến. Quá thời hạn này, Bộ Nội vụ không nhận hồ sơ trình khen thưởng.
Về thời điểm gửi hồ sơ, điểm a khoản 1 Điều 32 quy định hồ sơ xét tặng danh hiệu “Chiến sĩ thi đua toàn quốc” gửi đến Bộ Nội vụ chậm nhất ngày 31/12 của năm liền kề với năm có quyết định tặng danh hiệu chiến sĩ thi đua bộ, ban, ngành, tỉnh. Hồ sơ xét tặng “Cờ thi đua của Chính phủ” gửi chậm nhất ngày 30/6 hằng năm. Đối với hệ thống giáo dục quốc dân đánh giá theo năm học, hạn trình hồ sơ là ngày 31/12 hằng năm.
Theo khoản 2 Điều 32, Bộ Nội vụ thẩm định hồ sơ khen thưởng và trình Thủ tướng trong thời hạn 20 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, với việc xem xét một số danh hiệu được thực hiện theo quy định riêng được dẫn chiếu tại khoản này. Nếu hồ sơ không đủ điều kiện, tiêu chuẩn hoặc thủ tục, Bộ Nội vụ thông báo bằng văn bản trả lại hồ sơ trong 10 ngày làm việc, nêu rõ căn cứ pháp lý.
Cảm ơn Quý khách đã dành thời gian đọc bản tin của chúng tôi!
Trung tâm luật việt nam - Công ty CP truyền thông Luật Việt Nam
Tại Hà Nội: Tầng 3, Tòa nhà IC, 82 phố Duy Tân, Cầu Giấy, Hà Nội - Hotline: 0938 36 1919
Tại TP.HCM: 648 Nguyễn Kiệm, Phường Đức Nhuận, TP. Hồ Chí Minh - Tel: 028. 39950724
Email: [email protected]
Lưu ý:
* Bản tin tóm tắt nội dung văn bản chỉ mang tính chất tổng hợp, không có giá trị áp dụng vào các trường hợp cụ thể. Để hiểu đầy đủ và chính xác quy định pháp luật, khách hàng cần tìm đọc nội dung chi tiết toàn văn bản.
* Nếu không muốn tiếp tục nhận bản tin, phiền Quý khách hàng vui lòng click vào đường link dưới đây https://luatvietnam.vn/huy-dang-ky-nhan-ban-tin.html Quý vị sẽ nhận được yêu cầu xác nhận lần cuối cùng trước khi hủy bỏ địa chỉ email của mình khỏi danh sách.

Nghị định 373 2026 CP: Lao động hợp đồng không xác định thời hạn được hưởng chính sách tinh giản nếu không được bố trí việc làm khi chuyển đổi