Điểm tin Văn bản mới số 35.2026

Giáo dục-Đào tạo-Dạy nghề

01

Thông tư 75/2026/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy định kiến thức chương trình trung học phổ thông trong chương trình giáo dục trung học nghề

path Học sinh trung học nghề sẽ học 10 môn kiến thức chương trình THPT

02

Quyết định 2780/QĐ-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành mức điểm xét hưởng chính sách học bổng theo Nghị định 179/2026/NĐ-CP đối với các năm tuyển sinh 2025 và 2026

path Quyết định 2780 BGDĐT: Mức điểm xét hưởng học bổng theo Nghị định 179/2026/NĐ-CP

Thông tin-Truyền thông

03

Nghị định 367/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực báo chí

path Tiết lộ bí mật đời tư trên báo chí có thể bị phạt đến 40 triệu đồng

Hành chính

04

Thông tư 16/2026/TT-TANDTC của Tòa án nhân dân tối cao quy định về công khai hoạt động của Tòa án nhân dân

path ​Từ 01/10/2026, cá nhân được yêu cầu Tòa án cung cấp thông tin qua Internet

05

Quyết định 803/QĐ-BDTTG của Bộ Dân tộc và Tôn giáo về việc công bố Danh sách thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thôn đặc biệt khó khăn giai đoạn 2026-2030 (đợt 1)

path Danh sách thôn đặc biệt khó khăn giai đoạn 2026 - 2030 tại 27 tỉnh, thành phố

An ninh quốc gia

06

Chỉ thị 22/CT-UBND của Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội về việc tuyển chọn, gọi công dân nhập ngũ và thực hiện nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân năm 2027

path Hà Nội: Rà soát công dân trong độ tuổi nhập ngũ, không để sót, lọt đối tượng

Thi đua-Khen thưởng-Kỷ luật

07

Nghị định 368/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Thi đua, khen thưởng

path Nghị định 368/2026: Thời gian nghỉ thai sản được tính để xét tặng danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng

Điểm tin văn bản

Giáo dục-Đào tạo-Dạy nghề
Học sinh trung học nghề sẽ học 10 môn kiến thức chương trình THPT
Thông tư 75/2026/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy định kiến thức chương trình trung học phổ thông trong chương trình giáo dục trung học nghề, ban hành ngày 04/9/2026.

Theo Điều 2 Thông tư 75/2026/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo, các môn học chung và môn học bắt buộc được áp dụng đối với tất cả các nhóm ngành, nghề đào tạo chương trình giáo dục trung học nghề; các môn học định hướng nghề nghiệp được áp dụng đối với 5 nhóm ngành, nghề gồm:

  • Máy tính và công nghệ thông tin; 

  • Công nghệ kỹ thuật; 

  • Kỹ thuật cơ khí và cơ kỹ thuật; 

  • Kỹ thuật điện, điện tử và tự động hóa; 

  • Khách sạn, nhà hàng.

Theo Phụ lục I ban hành kèm Thông tư 75/2026/TT-BGDĐT, 3 môn học chung áp dụng thống nhất cho tất cả các nhóm ngành, nghề gồm: 

  • Giáo dục thể chất; 

  • Giáo dục quốc phòng và an ninh; 

  • Giáo dục kinh tế và pháp luật. 

Trong đó, môn Giáo dục quốc phòng và an ninh được thực hiện theo chương trình môn học do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành.

Bên cạnh đó, theo Phụ lục II ban hành kèm Thông tư 75/2026/TT-BGDĐT, học sinh học 5 môn bắt buộc, gồm:

  • Toán

  • Ngữ văn

  • Tiếng Anh

  • Lịch sử

  • Tin học.

​Các môn này được thiết kế theo hướng ứng dụng nghề nghiệp, gồm phần kiến thức cốt lõi và phần ứng dụng nghề nghiệp phù hợp với đặc thù đào tạo.

Ngoài 8 môn nêu trên, theo Phụ lục về danh mục các môn học theo định hướng nghề nghiệp, mỗi nhóm ngành, nghề lựa chọn 2 môn học theo định hướng nghề nghiệp. Cụ thể:

  • Các nhóm Máy tính và công nghệ thông tin; Công nghệ kỹ thuật; Kỹ thuật cơ khí và cơ kỹ thuật; Kỹ thuật điện, điện tử và tự động hóa học Vật lí và Công nghệ;

  • Nhóm Khách sạn, nhà hàng học Công nghệ và Địa lí.

Như vậy, đối với 5 nhóm ngành, nghề hiện được quy định môn học định hướng nghề nghiệp, học sinh trung học nghề sẽ học tổng cộng 10 môn kiến thức chương trình THPT, gồm 3 môn học chung, 5 môn bắt buộc và 2 môn theo định hướng nghề nghiệp.

Thông tin-Truyền thông
Tiết lộ bí mật đời tư trên báo chí có thể bị phạt đến 40 triệu đồng
Nội dung quy định tại Nghị định 367/2026/NĐ-CP của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực báo chí, ban hành ngày 25/9/2026 và hiệu lực ngày 26/9/2026.

Theo đó, từ ngày 26/9/2026, hành vi tiết lộ bí mật đời tư của cá nhân trên báo chí khi chưa được người đó đồng ý có thể bị phạt đến 40 triệu đồng đối với tổ chức. 

Cụ thể, điểm h khoản 3 Điều 14 Nghị định 367/2026/NĐ-CP:

Điều 14. Vi phạm quy định về đăng, phát nội dung thông tin trên báo chí, bản tin, đặc san  3. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:  ....  h) Tiết lộ bí mật đời tư của cá nhân nhưng không được sự đồng ý của cá nhân đó; 

Như vậy, Nghị định 367/2026 quy định mức phạt tiền từ 20 triệu đồng đến 40 triệu đồng đối với hành vi “tiết lộ bí mật đời tư của cá nhân nhưng không được sự đồng ý của cá nhân đó”.

Bên cạnh tiền phạt, tổ chức vi phạm còn có thể phải thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả. Theo điểm b và điểm c khoản 11 Điều 14, hành vi nêu trên thuộc trường hợp bị buộc xin lỗi công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng và gỡ bỏ thông tin vi phạm đã đăng, phát trên báo chí điện tử, phát thanh, truyền hình.

Mức phạt này không tăng so với quy định cũ. Trước ngày Nghị định 367/2026/NĐ-CP có hiệu lực, điểm i khoản 3 Điều 8 Nghị định 119/2020/NĐ-CP, sửa đổi bởi Nghị định 14/2022/NĐ-CP cũng quy định phạt từ 20 triệu đồng đến 40 triệu đồng đối với hành vi “Tiết lộ bí mật đời tư của cá nhân nhưng không được sự đồng ý của cá nhân đó”. Quy định cũ cũng áp dụng biện pháp cải chính, xin lỗi và gỡ bỏ thông tin vi phạm theo khoản 10 Điều 8.

Theo khoản 2 Điều 5 Nghị định 367/2026/NĐ-CP, mức phạt từ 20 triệu đồng đến 40 triệu đồng nêu trên áp dụng cho tổ chức; nếu cá nhân thực hiện cùng hành vi vi phạm thì mức phạt bằng một nửa, tương ứng từ 10 triệu đồng đến 20 triệu đồng.

Hành chính
​Từ 01/10/2026, cá nhân được yêu cầu Tòa án cung cấp thông tin qua Internet
Từ ngày 01/10/2026, cơ quan, tổ chức, cá nhân có thể yêu cầu Tòa án cung cấp thông tin bằng nhiều hình thức, trong đó có hình thức trực tuyến. Đây là một trong những nội dung đáng chú ý của Thông tư 16/2026/TT-TANDTC.
Cụ thể, khoản 1 Điều 7 Thông tư 16/2026/TT-TANDTC quy định:

Điều 7. Hình thức yêu cầu, cung cấp thông tin 1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có yêu cầu cung cấp thông tin (sau đây gọi là người yêu cầu) có thể trực tiếp hoặc thông qua người đại diện yêu cầu Tòa án cung cấp thông tin bằng một trong các hình thức sau đây: a) Tại trụ sở Tòa án; b) Qua dịch vụ bưu chính; c) Qua mạng Internet, bao gồm qua thư điện tử, Cổng thông tin điện tử, Trang thông tin điện tử, cổng dữ liệu, cổng dịch vụ công quốc gia, ứng dụng di động hoặc nền tảng số khác do Tòa án công bố.

Như vậy, người yêu cầu có thể trực tiếp hoặc thông qua người đại diện yêu cầu Tòa án cung cấp thông tin theo ba nhóm hình thức:

  • Thứ nhất, người yêu cầu có thể đến trực tiếp trụ sở Tòa án.
  • Thứ hai, yêu cầu được gửi qua dịch vụ bưu chính.
  • Thứ ba, người yêu cầu có thể thực hiện qua mạng Internet.

Các phương thức yêu cầu qua Internet được liệt kê gồm thư điện tử, Cổng thông tin điện tử, Trang thông tin điện tử, cổng dữ liệu, Cổng dịch vụ công quốc gia, ứng dụng di động hoặc nền tảng số khác do Tòa án công bố. 

Đáng chú ý, theo khoản 2 Điều 7 Thông tư 16/2026/TT-TANDTC, người yêu cầu cung cấp thông tin tại trụ sở Tòa án được sử dụng điện thoại di động và các phương tiện kỹ thuật khác của cá nhân để sao, chụp hoặc tải về văn bản, hồ sơ, tài liệu. Quyền này không áp dụng nếu pháp luật có liên quan có quy định khác.

Về hình thức nhận thông tin, khoản 3 Điều 7 quy định Tòa án được yêu cầu có trách nhiệm cung cấp theo hình thức mà người yêu cầu đề nghị, nhưng phải phù hợp với tính chất của thông tin, điều kiện và khả năng của Tòa án, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Theo khoản 1 và khoản 2 Điều 8, người có nhu cầu phải gửi yêu cầu cung cấp thông tin đến Tòa án. Tòa án có trách nhiệm tiếp nhận, hướng dẫn thực hiện yêu cầu; giải thích, giúp đỡ người gặp khó khăn trong tiếp cận thông tin; thực hiện việc cung cấp hoặc từ chối bằng văn bản và nêu rõ lý do.

An ninh quốc gia
Hà Nội: Rà soát công dân trong độ tuổi nhập ngũ, không để sót, lọt đối tượng

Đây là nội dung đáng chú ý được nêu tại Chỉ thị 22/CT-UBND của Uỷ ban nhân dân Thành phố Hà Nội về việc tuyển chọn, gọi công dân nhập ngũ và thực hiện nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân năm 2027, ban hành ngày 17/9/2026.

Hà Nội: Rà soát công dân trong độ tuổi nhập ngũ, không để sót, lọt đối tượng (Ảnh minh họa)

Cụ thể tại Mục 4 Chỉ thị 22/CT-UBND Hà Nội, nêu rõ:

4. Công an Thành phố phối hợp với Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội thống nhất chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ tuyển quân đúng quy định, chặt chẽ, hoàn thành chỉ tiêu được giao. Công an Thành phố chịu trách nhiệm chỉ đạo cơ quan Công an cấp xã phối hợp với Ban CHQS cùng cấp rà soát nắm nguồn công dân trong độ tuổi nhập ngũ, không để sót, lọt đối tượng; chỉ đạo các đơn vị chức năng trực thuộc, Công an cấp xã phối hợp với các đơn vị trong và ngoài ngành Công an xác minh, thẩm định bảo đảm về tiêu chuẩn chính trị, đạo đức đối với công dân thực hiện NVQS và thực hiện nghĩa vụ tham gia CAND.

Theo đó, Công an Thành phố Hà Nội được giao thực hiện phối hợp với Bộ tư lệnh Thủ đô thực hiện tổ chức, triển khai nhiệm vụ tuyển quân năm 2027 đúng quy định, hoàn thành chỉ tiêu được giao.

Đáng chú ý, Công an Thành phố chịu trách nhiệm chỉ đạo cơ quan Công an cấp xã phối hợp với Ban CHQS cùng cấp rà soát nắm nguồn công dân trong độ tuổi nhập ngũ, không để sót, lọt đối tượng.

Bên cạnh đó, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân Thành phố Hà Nội chỉ thị tổ chức quán triệt và làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trong Nhân dân trên địa bàn Thành phố, chú trọng đối tượng là công dân trong độ tuổi gọi nhập ngũ. 

Đồng thời, động viên bằng nhiều hình thức, biện pháp đa dạng, phong phú phù hợp với từng địa phương để tạo phong trào quần chúng sôi nổi, đồng thời cổ vũ, khích lệ, động viên thanh niên hăng hái nhập ngũ vào Quân đội và thực hiện nghĩa vụ tham gia CAND. 

Như vậy, một trong những yêu cầu trọng tâm đối với công tác tuyển quân năm 2027 tại Hà Nội là quản lý chặt chẽ nguồn công dân trong độ tuổi nhập ngũ ngay từ cấp cơ sở, gắn với việc xác minh tiêu chuẩn chính trị, đạo đức và tăng cường tuyên truyền, vận động, qua đó phục vụ việc tuyển chọn, gọi công dân nhập ngũ đúng quy định và bảo đảm chỉ tiêu được giao.

Thi đua-Khen thưởng-Kỷ luật
Nghị định 368/2026: Thời gian nghỉ thai sản được tính để xét tặng danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng

Quy định nêu tại Nghị định 368/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Thi đua, khen thưởng, hiệu lực từ 01/10/2026.

Theo khoản 5 Điều 4 Nghị định 368/2026/NĐ-CP:

Điều 4. Nguyên tắc xét danh hiệu thi đua và hình thức khen thưởng

... 5. Thời gian nghỉ thai sản đối với cá nhân theo quy định của pháp luật được tính là thời gian công tác để xét tặng danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng.

Như vậy, thời gian nghỉ thai sản của cá nhân theo quy định của pháp luật được tính là thời gian công tác để xét tặng danh hiệu thi đua và hình thức khen thưởng. 

Thời gian nghỉ thai sản được tính để xét tặng danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng (Ảnh minh họa)

Điều 4 Nghị định này cũng quy định việc xét danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng phải căn cứ vào điều kiện, tiêu chuẩn và thành tích đạt được. Một cá nhân không nhất thiết phải có hình thức khen thưởng mức thấp trước khi được xét hình thức khen thưởng mức cao hơn. Cấp có thẩm quyền khen thưởng hoặc đề nghị cấp trên khen thưởng khi trường hợp được đề nghị đáp ứng điều kiện, tiêu chuẩn, thủ tục và hồ sơ theo quy định.

Bên cạnh quy định về thời gian nghỉ thai sản, khoản 6 Điều 4 nêu rõ: khi có nhiều cá nhân, tập thể cùng đủ điều kiện, tiêu chuẩn thì lựa chọn cá nhân nữ hoặc tập thể có tỷ lệ nữ từ 70% trở lên để xét khen thưởng. Điều khoản này đặt việc lựa chọn trong trường hợp các cá nhân, tập thể đều đã đáp ứng điều kiện và tiêu chuẩn xét khen thưởng.

Đối với khen thưởng quá trình cống hiến, khoản 7 Điều 4 quy định thời gian giữ chức vụ của cá nhân là nữ lãnh đạo, quản lý được giảm một phần ba so với thời gian quy định chung. Trường hợp nữ lãnh đạo, quản lý thuộc đối tượng được quy định tuổi nghỉ hưu cao hơn theo pháp luật, thời gian giữ chức vụ để xét khen thưởng quá trình cống hiến thực hiện theo quy định chung.

Như vậy, Điều 4 quy định riêng ba nội dung liên quan đến cá nhân nữ và tập thể có nhiều nữ: cách tính thời gian nghỉ thai sản, việc lựa chọn khi cùng đủ tiêu chuẩn và thời gian giữ chức vụ để xét khen thưởng quá trình cống hiến đối với nữ lãnh đạo, quản lý.

Cảm ơn Quý khách đã dành thời gian đọc bản tin của chúng tôi!

Trung tâm luật việt nam - Công ty CP truyền thông Luật Việt Nam

Tại Hà Nội: Tầng 3, Tòa nhà IC, 82 phố Duy Tân, Cầu Giấy, Hà Nội - Hotline: 0938 36 1919

Tại TP.HCM: 648 Nguyễn Kiệm, Phường Đức Nhuận, TP. Hồ Chí Minh - Tel: 028. 39950724

Email: [email protected]

Lưu ý:

* Bản tin tóm tắt nội dung văn bản chỉ mang tính chất tổng hợp, không có giá trị áp dụng vào các trường hợp cụ thể. Để hiểu đầy đủ và chính xác quy định pháp luật, khách hàng cần tìm đọc nội dung chi tiết toàn văn bản.

* Nếu không muốn tiếp tục nhận bản tin, phiền Quý khách hàng vui lòng click vào đường link dưới đây https://luatvietnam.vn/huy-dang-ky-nhan-ban-tin.html Quý vị sẽ nhận được yêu cầu xác nhận lần cuối cùng trước khi hủy bỏ địa chỉ email của mình khỏi danh sách.