Theo Công văn số 218/CST-TN, để khoản chi tiền lương, tiền công được trừ khi tính thuế TNDN, doanh nghiệp phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định của Luật Thuế TNDN năm 2025 và Nghị định số 320/2025/NĐ-CP. Trong đó, yêu cầu về chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt là nội dung được nhiều doanh nghiệp quan tâm trong quá trình thực hiện.
Cụ thể, pháp luật thuế hiện hành quy định doanh nghiệp được trừ các khoản chi khi xác định thu nhập chịu thuế nếu:
- Khoản chi đó phát sinh thực tế liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh;
- Có đầy đủ hóa đơn, chứng từ theo quy định;
- Đồng thời đối với các khoản thanh toán từng lần từ 05 triệu đồng trở lên, doanh nghiệp phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt.
Đối với chi phí tiền lương, tiền công trả cho người lao động, Nghị định số 320/2025/NĐ-CP cũng quy định rõ: trường hợp doanh nghiệp đã hạch toán chi phí nhưng không thực tế chi trả hoặc không có chứng từ thanh toán hợp pháp thì khoản chi này không được trừ khi tính thuế TNDN.
Đáng chú ý, quy định về chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt tại Nghị định số 320/2025/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 15/12/2025 và áp dụng cho kỳ tính thuế thu nhập doanh nghiệp từ năm 2025. Theo đó, kể từ thời điểm này, khoản tiền lương, tiền công từng lần có giá trị từ 05 triệu đồng trở lên, nếu muốn được tính vào chi phí được trừ, doanh nghiệp bắt buộc phải thanh toán không dùng tiền mặt.
Việc xác định thế nào là chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt được thực hiện theo quy định tại Nghị định số 181/2025/NĐ-CP về thuế giá trị gia tăng.
Theo đó, chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt là chứng từ chứng minh việc thanh toán qua các phương thức không dùng tiền mặt theo quy định pháp luật, không bao gồm trường hợp bên mua nộp tiền mặt trực tiếp vào tài khoản của bên bán, trừ một số trường hợp đặc thù theo quy định riêng.
Từ hướng dẫn nêu trên, Cục Quản lý, giám sát chính sách thuế, phí và lệ phí khẳng định, khoản chi tiền lương, tiền công cho người lao động chỉ được tính vào chi phí được trừ khi tính thuế TNDN nếu đáp ứng đầy đủ điều kiện về chứng từ, trong đó có yêu cầu thanh toán không dùng tiền mặt đối với khoản chi từ 05 triệu đồng trở lên kể từ ngày 15/12/2025.
Theo điểm b khoản 2 Điều 14 Nghị định 49/2026/NĐ-CP, Chủ tịch UBND cấp xã có thẩm quyền:
Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất hoặc xác nhận thay đổi trên Giấy chứng nhận đã cấp đối với các trường hợp thuộc thẩm quyền quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền cấp xã.
Cụ thể, Chủ tịch UBND cấp xã được cấp Sổ đỏ trong 08 trường hợp có quyết định về:
- Giao đất cho hộ gia đình, cá nhân theo thẩm quyền của cấp xã;
- Cho thuê đất theo thẩm quyền của cấp xã;
- Cho phép chuyển mục đích sử dụng đất theo thẩm quyền của cấp xã;
- Điều chỉnh thời hạn sử dụng đất;
- Gia hạn thời hạn sử dụng đất;
- Chuyển hình thức sử dụng đất;
- Công nhận quyền sử dụng đất;
- Xác định lại diện tích đất ở đối với hộ gia đình, cá nhân.
Việc cấp Sổ đỏ hoặc xác nhận thay đổi trên Giấy chứng nhận đã cấp chỉ được thực hiện khi chính Chủ tịch UBND cấp xã là người ra quyết định hành chính về đất đai trong từng trường hợp cụ thể.
Nghị định 49/2026/NĐ-CP đồng thời phân định rõ thẩm quyền cấp Sổ đỏ, tránh chồng chéo trong thực hiện:
- Cơ quan quản lý đất đai cấp tỉnh cấp Sổ đỏ đối với các trường hợp do cấp tỉnh quyết định giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, gia hạn, điều chỉnh thời hạn sử dụng đất, công nhận quyền sử dụng đất;
- Chủ tịch UBND cấp xã cấp Sổ đỏ đối với các trường hợp do cấp xã quyết định;
- Văn phòng đăng ký đất đai thực hiện cấp Sổ đỏ, đăng ký đất đai lần đầu, đăng ký biến động trong các trường hợp không thuộc thẩm quyền của cấp tỉnh và cấp xã.
Cũng theo Điều 14 Nghị định 49/2026/NĐ-CP, cơ quan nào có thẩm quyền cấp Sổ đỏ thì đồng thời có thẩm quyền:
- Đính chính Giấy chứng nhận đã cấp có sai sót;
- Thu hồi, hủy Giấy chứng nhận đã cấp;
- Cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất.
Như vậy, Chủ tịch UBND cấp xã cũng có thẩm quyền xử lý các vấn đề phát sinh liên quan đến Sổ đỏ do mình cấp theo đúng quy định.
Theo đó, tại Điều 4 Thông tư 25/2025/TT-NHNN đã bổ sung điểm c1 vào sau điểm c khoản 1 Điều 13 Thông tư 17/2024/TT-NHNN liên quan đến thông tin về khách hàng mở tài khoản thanh toán
- Số hiệu tài khoản thanh toán, tên tài khoản thanh toán. Trong đó tên tài khoản thanh toán được đặt như sau:
- Đối với tài khoản thanh toán cá nhân, tên tài khoản thanh toán được đặt theo thông tin họ và tên trên giấy tờ tùy thân của khách hàng;
- Đối với tài khoản thanh toán tổ chức, tên tài khoản thanh toán phải bao gồm tên của tổ chức trên giấy phép thành lập, quyết định thành lập hoặc giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc giấy tờ chứng minh tổ chức được thành lập, hoạt động hợp pháp;
- Đối với tài khoản thanh toán chung, tên tài khoản thanh toán do ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đặt trên cơ sở thể hiện được tên của các chủ tài khoản và không trùng với tên tài khoản thanh toán của các cá nhân, tổ chức khác.
Căn cứ khoản 2 Điều 15 Thông tư 25/2025/TT-NHNN, quy định trên có hiệu lực thi hành từ ngày 01/3/2026. Như vậy từ thời điểm này, hộ kinh doanh phải dùng tài khoản ngân hàng đúng tên đăng ký, không được dùng tài khoản ngân hàng tên cá nhân.
Nghị quyết 66.13/2026/NQ-CP quy định về công bố tiêu chuẩn áp dụng đối với thực phẩm; đăng ký bản công bố sản phẩm thực phẩm.
Nghị quyết 66.13/2026/NQ-CP này áp dụng đối với các sản phẩm thực phẩm gồm:
- Thực phẩm đã qua chế biến bao gói sẵn, phụ gia thực phẩm và chất hỗ trợ chế biến thực phẩm và dụng cụ, vật liệu bao gói chứa đựng thực phẩm không có quy chuẩn kỹ thuật về chỉ tiêu chất lượng, chỉ tiêu an toàn hoặc chưa có tổ chức chứng nhận phù hợp quy chuẩn kỹ thuật quốc gia tương ứng theo quy định của pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật hoặc chưa có phương thức đánh giá sự phù hợp;
- Vi chất dinh dưỡng;
- Thực phẩm bảo vệ sức khỏe;
- Thực phẩm dinh dưỡng y học;
- Thực phẩm dùng cho chế độ ăn đặc biệt;
- Thực phẩm bổ sung;
- Sản phẩm dinh dưỡng dùng cho trẻ đến 36 tháng tuổi.
Nghị quyết 66.13/2026/NQ-CP áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam; tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam tham gia sản xuất, kinh doanh thực phẩm; tổ chức, cá nhân có hoạt động liên quan đến an toàn thực phẩm tại Việt Nam (sau đây gọi chung là tổ chức, cá nhân).
Điều 5 Nghị quyết 66.13/2026/NQ-CP quy định trường hợp công bố tiêu chuẩn áp dụng. Theo đó, tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm đưa sản phẩm ra thị trường thực hiện công bố tiêu chuẩn áp dụng đối với:
- Thực phẩm đã qua chế biến bao gói sẵn, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm, bao bì, dụng cụ tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm không có quy chuẩn kỹ thuật về chỉ tiêu chất lượng, chỉ tiêu an toàn hoặc chưa có tổ chức thực hiện chứng nhận phù hợp quy chuẩn kỹ thuật quốc gia tương ứng theo quy định của pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật hoặc chưa có phương thức đánh giá sự phù hợp;
- Vi chất dinh dưỡng;
- Thực phẩm bổ sung chỉ chứa vitamin, khoáng chất và không công bố khuyến cáo về sức khoẻ (Health claims).
Theo Phụ lục ban hành kèm theo Công văn số 38/TTg-QHĐP năm 2026, Thủ tướng Chính phủ đã hướng dẫn một số nhiệm vụ trọng tâm để triển khai các Nghị quyết được thông qua tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV.
Trong đó, một nội dung được quan tâm là nhiệm vụ điều chỉnh lương cơ sở và các chế độ phụ cấp, được nêu cụ thể tại Nghị quyết số 265/2025/QH15.
Theo hướng dẫn này, trong tháng 3/2026, Chính phủ yêu cầu Bộ Nội vụ thực hiện việc điều chỉnh một số loại phụ cấp và mức lương cơ sở. Đồng thời, sẽ tiến hành điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng, trợ cấp ưu đãi người có công, trợ cấp xã hội và trợ cấp hưu trí xã hội.
Việc điều chỉnh này được thực hiện theo Kết luận số 206-KL/TW ngày 10/11/2025 của Bộ Chính trị, nhằm tiếp tục cải thiện đời sống cho người hưởng lương và các đối tượng thụ hưởng chính sách an sinh xã hội.
Như vậy, sau đợt tăng lương hưu gần nhất vào năm 2024 với mức 15%, trong tháng 3 năm 2026, Chính phủ sẽ triển khai đợt điều chỉnh lương hưu tiếp theo, theo đúng lộ trình và chỉ đạo đã được xác định.
LuatVietnam sẽ cập nhật thông tin ngay khi có chính thức.
Điều 19 Nghị định 46/2026/NĐ-CP quy định các trường hợp được miễn kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm đối với một số thực phẩm nhập khẩu (trừ các trường hợp có cảnh báo về an toàn thực phẩm)
1 - Sản phẩm là quà biếu, quà tặng trong định mức miễn thuế nhập khẩu theo quy định của pháp luật về thuế.
2 - Sản phẩm nhập khẩu dùng cho cá nhân của đối tượng được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao.
3 - Sản phẩm quá cảnh, chuyển khẩu, trung chuyển, tạm nhập, tái xuất, gửi kho ngoại quan.
4 - Sản phẩm là mẫu thử nghiệm hoặc nghiên cứu có số lượng phù hợp với mục đích thử nghiệm hoặc nghiên cứu có xác nhận của tổ chức, cá nhân.
5 - Sản phẩm sử dụng để trưng bày hội chợ, triển lãm.
6 - Sản phẩm tạm nhập khẩu để bán tại cửa hàng miễn thuế.
7 - Hàng hóa nhập khẩu phục vụ yêu cầu khẩn cấp theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.
8 - Sản phẩm, nguyên liệu nhập khẩu chỉ dùng để gia công, sản xuất hàng xuất khẩu.
9 - Hàng hóa chuyên dùng phục vụ an ninh, quốc phòng theo văn bản xác nhận của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng hoặc Bộ trưởng Bộ Công an.
10 - Hàng hóa thuộc Danh mục hàng hoá mua bán, trao đổi của cư dân biên giới và trong định mức miễn thuế theo quy định của pháp luật về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu để phục vụ cho sản xuất, tiêu dùng của cư dân biên giới (trừ trường hợp mua gom).
Điều 17 Nghị định 46/2026/NĐ-CP cũng đã quy định các cơ sở không thuộc diện cấp Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm, gồm:
- Sản xuất ban đầu nhỏ lẻ;
- Sản xuất, kinh doanh thực phẩm không có địa điểm cố định;
- Sơ chế nhỏ lẻ;
- Kinh doanh thực phẩm nhỏ lẻ;
- Kinh doanh thực phẩm bao gói sẵn, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm, vi chất dinh dưỡng;
- Sản xuất, kinh doanh dụng cụ, vật liệu bao gói, chứa đựng thực phẩm;
- Nhà hàng trong khách sạn, khu căn hộ du lịch, khu biệt thự du lịch;
- Bếp ăn tập thể không có đăng ký ngành nghề kinh doanh thực phẩm;
- Kinh doanh thức ăn đường phố;
Các cơ sở trên phải tuân thủ các yêu cầu về điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm tương ứng.
Cảm ơn Quý khách đã dành thời gian đọc bản tin của chúng tôi!
Trung tâm luật việt nam - Công ty CP truyền thông Luật Việt Nam
Tại Hà Nội: Tầng 3, Tòa nhà IC, 82 phố Duy Tân, Cầu Giấy, Hà Nội - Hotline: 0938 36 1919
Tại TP.HCM: 648 Nguyễn Kiệm, Phường Đức Nhuận, TP. Hồ Chí Minh - Tel: 028. 39950724
Email: [email protected]
Lưu ý:
* Bản tin tóm tắt nội dung văn bản chỉ mang tính chất tổng hợp, không có giá trị áp dụng vào các trường hợp cụ thể. Để hiểu đầy đủ và chính xác quy định pháp luật, khách hàng cần tìm đọc nội dung chi tiết toàn văn bản.
* Nếu không muốn tiếp tục nhận bản tin, phiền Quý khách hàng vui lòng click vào đường link dưới đây https://luatvietnam.vn/huy-dang-ky-nhan-ban-tin.html Quý vị sẽ nhận được yêu cầu xác nhận lần cuối cùng trước khi hủy bỏ địa chỉ email của mình khỏi danh sách.

CV 218: Trả lương từ 5 triệu đồng trở lên phải thanh toán không dùng tiền mặt để được trừ thuế TNDN