Nghị định 35/CP của Chính phủ về việc quy định chi tiết việc thi hành Pháp lệnh về dân quân tự vệ

Thuộc tính Nội dung VB gốc Tiếng Anh Hiệu lực VB liên quan Lược đồ Nội dung MIX Tải về
LuatVietnam.vn độc quyền cung cấp bản dịch chính thống Công báo tiếng Anh của Thông Tấn Xã Việt Nam
LuatVietnam.vn độc quyền cung cấp bản dịch chính thống Công báo tiếng Anh của Thông Tấn Xã Việt Nam
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng: Đã biết

NGHỊ ĐỊNH

CỦA CHÍNH PHỦ SỐ 35/CP NGÀY 14 THÁNG 6 NĂM 1996 QUY ĐỊNH CHI TIẾT VIỆC THI HÀNH PHÁP LỆNH VỀ DÂN QUÂN TỰ VỆ

 

CHÍNH PHỦ

 

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 30 tháng 9 năm 1992;

Căn cứ Pháp lệnh về dân quân tự vệ ngày 9 tháng 01 năm 1996;

Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng,

NGHỊ ĐỊNH:

Điều 1.- Việc đăng ký quản lý và tuyển chọn vào dân quân tự vệ quy định như sau:

1. Hàng năm từ ngày 01 đến ngày 15 tháng 4, công dân trong độ tuổi theo quy định tại Điều 3 Pháp lệnh về dân quân tự vệ, phải được đăng ký vào danh sách để quản lý tại xã, phường, thị trấn nơi thường trú, hoặc nơi đang công tác, học tập, lao động.

2. Tiêu chuẩn tuyển chọn công dân vào lực lượng dân quân tự vệ:

- Có lý lịch rõ ràng,

- Có phẩm chất chính trị tốt, trung thành với Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; nghiêm chỉnh chấp hành các chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước,

- Có đủ sức khoẻ.

3. Uỷ ban nhân dân các cấp, Giám đốc các doanh nghiệp, Thủ trưởng các cơ quan hành chính sự nghiệp có trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện chặt chẽ việc đăng ký quản lý công dân trong độ tuổi quy định tại Điều 2, Pháp lệnh dân quân tự vệ, theo hướng dẫn của Bộ Quốc phòng.

4. Cơ quan quân sự ở các cấp có trách nhiệm tham mưu giúp chính quyền cùng cấp, tổ chức thực hiện việc đăng ký, tuyển chọn công dân vào lực lượng dân quân tự vệ. Việc công nhận công dân vào dân quân tự vệ do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn, giám đốc các doanh nghiệp, Thủ trưởng các cơ quan hành chính sự nghiệp quyết định.

Điều 2.- Ban chỉ huy quân sự xã, phường, thị trấn, phải nắm chắc số lượng, chất lượng dân quân hiện có; số lượng, chất lượng công dân được đăng ký và kết quả tuyển chọn; tình hình thực tiễn, yêu cầu nhiệm vụ của cơ sở để giúp Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn tổ chức thực hiện việc luân phiên phục vụ trong lực lượng dân quân theo thời hạn 4 năm; bảo đảm cho dân quân tự vệ có chất lượng cao, đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu; tạo nguồn dự bị để mở rộng lực lượng khi cần thiết và bảo đảm công bằng xã hội.

Điều 3.- Việc tổ chức tự vệ trong doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác theo khoản 2 Điều 6 Pháp lệnh, quy định như sau:

1. Các doanh nghiệp có tổ chức Đảng, phải tổ chức lực lượng tự vệ.

2. Những doanh nghiệp chưa có tổ chức Đảng phải tổ chức lực lượng tự vệ khi cơ quan quân sự tỉnh, thành phố yêu cầu, hoặc khi doanh nghiệp đề nghị và được cơ quan quân sự tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chấp nhận. Lực lượng tự vệ ở các doanh nghiệp này do cơ quan quân sự, huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh chỉ huy và đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của cấp uỷ đảng của cấp đó.

3. Những doanh nghiệp chưa tổ chức tự vệ, thì giám đốc doanh nghiệp có trách nhiệm tạo điều kiện và bảo đảm kinh phí cho công dân trong độ tuổi thuộc cơ sở mình tham gia dân quân tự vệ ở địa phương nơi họ thường trú.

Điều 4.- Quy mô, cơ cấu tổ chức lực lượng dân quân tự vệ thực hiện theo khoản 2 Điều 11 Pháp lệnh, quy định như sau:

1. Cơ cấu tổ chức lực lượng dân quân tự vệ gồm có phân đội bộ binh và phân đội binh chủng chuyên môn cần thiết, có lực lượng chiến đấu tại chỗ, có lực lượng cơ động.

Đối với các cơ quan Nhà nước, đơn vị hành chính sự nghiệp, tổ chức chính trị - xã hội chỉ tổ chức lực lượng chiến đấu tại chỗ để bảo vệ cơ quan, đơn vị mình.

2. Quy mô tổ chức lực lượng dân quân tự vệ:

a) ở các xã, phường, thị trấn đồng bằng, ven biển, trung du, quy mô tổ chức ở làng, xóm, thôn ấp, cụm dân cư mỗi nơi tổ chức từ tiểu đội đến trung đội; các thôn, ấp lớn và có điều kiện có thể tổ chức đến đại đội.

b) Các xã phường, thị trấn ở vùng núi, vùng cao, vùng sâu, mỗi bản, thôn quy mô tổ chức là tổ, tiểu đội hoặc trung đội.

c) Đối với cơ quan Nhà nước, đơn vị hành chính sự nghiệp, lấy đơn vị học tập, công tác, sản xuất để tổ chức, quy mô tổ chức là tiểu đội, trung đội.

d) ở doanh nghiệp Nhà nước lấy đơn vị sản xuất tổ đội, phân xưởng, quy mô tổ chức là tiểu đội, trung đội, đại đội; nơi có điều kiện cả doanh nghiệp có thể tổ chức đến tiểu đoàn.

e) ở doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác, quy mô tổ chức từ tổ, tiểu đội đến trung đội.

g) ở các tổ chức chính trị - xã hội quy mô tổ chức là tiểu đội, trung đội.

Điều 5.-

1. Ban chỉ huy quân sự ở xã, phường, thị trấn và ở các đơn vị doanh nghiệp Nhà nước, có trách nhiệm giúp Uỷ ban nhân dân, giám đốc doanh nghiệp, chỉ đạo các mặt công tác quốc phòng, trực tiếp chỉ đạo, chỉ huy lực lượng dân quân tự vệ trong xây dựng và hoạt động tác chiến trị an ở cơ sở.

2. Chỉ huy quân sự xã, phường, thị trấn và ở các doanh nghiệp Nhà nước phải là người có phẩm chất tốt, có tinh thần trách nhiệm, có năng lực thực hiện nhiệm vụ ở cương vị được giao và đã qua rèn luyện thử thác trong chiến đấu, sản xuất, công tác.

3. các xã, phường, thị trấn biên giới, ven biển, hải đảo được bố trí phó chỉ huy trưởng quân sự chuyên trách.

- các xã, phường, thị trấn trọng điểm trong nội địa; các xã thuộc vùng sâu, vùng xa, xét nơi nào thật cần thiết thì sau khi thống nhất với tư lệnh quân khu, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ra quyết định cụ thể xã, phường, thị trấn đó có phó chỉ huy trưởng quân sự là chuyên trách. Các xã, phường, thị trấn còn lại bố trí phó chỉ huy trưởng quân sự bán chuyên trách.

4. Việc bổ nhiệm Phó chỉ huy quân sự chuyên trách hoặc bán chuyên trách ở xã, phường, thị trấn do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh quyết định.

Điều 6.- Vũ khí, trang bị của lực lượng dân quân tự vệ, từ bất cứ nguồn nào đều phải được đăng ký, quản lý chặt chẽ, sử dụng đúng mục đích theo Điều 14 Pháp lệnh về dân quân tự vệ. Bộ Quốc phòng quy định chế độ đăng lý, quản lý sử dụng vũ khí trang bị của lực lượng dân quân tự vệ.

Điều 7.-

1. Thời gian học tập chính trị, huấn lượng quân sự hàng năm cho cán bộ, chiến sĩ dân quân tự vệ thực hiện theo Điều 16 Pháp lệnh về dân quân tự vệ.

Khi có yêu cầu cần thiết hoặc khi có chiến tranh, thời gian huấn luyện cho các đối tượng dân quân tự vệ, hàng năm có thể kéo dài gấp đôi so với thời gian quy định.

2. Các cấp, các ngành có trách nhiệm chỉ đạo việc huấn luyện quân sự, học tập chính trị cho dân quân tự vệ bảo đảm đúng nội dung, chương trình do Bộ Quốc phòng quy định.

Điều 8.-

1. Việc sử dụng lực lượng dân quân tự vệ phối hợp với các lực lượng vũ trang khác làm nhiệm vụ tác chiến trị an, phải có kế hoạch bảo đảm thống nhất, đúng chức năng nhiệm vụ của từng lực lượng.

2. ở những địa bàn trọng điểm biên giới, ven biển, hải đảo và trong nội địa, có yêu cầu sẵn sàng chiến đấu cao, được tổ chức lực lượng dân quân tự vệ luân phiên thường trực chiến đấu theo quy định của Bộ Quốc phòng.

Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm chỉ đạo tổ chức và bảo đảm các mặt về đời sống, sinh hoạt, học tập cho lực lượng dân quân tự vệ luân phiên thường trực chiến đấu.

Điều 9.- Bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, bộ đội Biên phòng đóng quân trên địa bàn nào, đều có trách nhiệm quan hệ với cơ quan quân sự địa phương, tham gia xây dựng, huấn luyện dân quân tự về và phối hợp với dân quân tự vệ trong hoạt động tác chiến trị an.

Điều 10.- Phó chỉ huy trưởng chuyên trách và bán chuyên trách Ban chỉ huy quân sự xã, phường, thị trấn được hưởng khoản phụ cấp hàng tháng theo quy định tại Điều 26 của Pháp lệnh về dân quân tự vệ. Mức phụ cấp để tính thực hiện theo điểm d, khoản 1, Điều 2 Nghị định 50/CP ngày 26/7/1995 của Chính phủ; thời điểm được hưởng khoản phụ cấp hàng tháng kể từ khi được cấp có thẩm quyền quy định tại khoản 4, Điều 5 Nghị định này, Quyết định bổ nhiệm chính thức.

- Cán bộ chỉ huy quân sự xã, phường, thị trấn khi đi huấn luyện tại trường quân sự tỉnh thì gia đình được trợ cấp, cứ mỗi ngày bằng hệ số 0,1 mức lương hàng tháng tối thiểu.

Điều 11.-

1. Cán bộ, chiến sĩ dân quân trong thời gian làm nhiệm vụ quy định tại điểm a, khoản 3, Điều 26 Pháp lệnh về dân quân tự vệ, cứ mỗi ngày làm nhiệm vụ được hưởng một khoản tiền tương đương giá trị ngày công lao động ở từng địa phương, do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện, quận quy định.

2. Cán bộ, chiến sĩ dân quân tự vệ trong thời gian làm nhiệm vụ bị tai nạn, ốm đau hoặc chết quy định tại điểm b, khoản 3 Điều 26 Pháp lệnh được hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội như đối với công nhân, viên chức Nhà nước theo Nghị định 12/CP ngày 26/1/1995 của Chính phủ. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính, Bộ Y tế, Bộ Quốc phòng hướng dẫn chi tiết việc thi hành các chế độ này.

- Cán bộ, chiến sĩ dân quân tự vệ bị thương hoặc hy sinh khi làm các nhiệm vụ quy định tại điểm c, khoản 3 Điều 26 Pháp lệnh nếu được xác nhận là thương binh, liệt sĩ thì bản thân và gia đình được hưởng các chế độ chính sách ưu đãi theo Nghị định 28/CP ngày 29/4/1995 của Chính phủ.

3. Dân quân tự vệ làm nhiệm vụ luân phiên thường trực chiến đấu theo quy định tại khoản 2, Điều 8 Nghị định này, từ 6 tháng trở lên được cấp một bộ quần áo, một đôi giày vải, một mũ cứng.

Điều 12.- Kinh phí hàng năm cho xây dựng, hoạt động của dân quân tự vệ; phụ cấp cán bộ được thực hiện theo Điều 27, Pháp lệnh về dân quân tự vệ và nằm trong ngân sách của địa phương. Bộ Tài chính và Bộ Quốc phòng có trách nhiệm hướng dẫn cụ thể, bảo đảm chặt chẽ để hạn chế tăng số chuyên trách đối với các xã trọng điểm nội địa, các xã, vùng sâu, vùng xa.

Điều 13.- Tổ chức, cá nhân có thành tích trong việc tổ chức xây dựng, hoạt động của lực lượng dân quân tự vệ được khen thưởng theo các hình thức và chế độ hiện hành của Nhà nước.

Cơ quan quân sự các cấp có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan có liên quan, giúp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cùng cấp xét duyệt quyết định khen thưởng, hoặc đề nghị lên cấp trên khen thưởng, bảo đảm kịp thời chính xác.

Điều 14.- Để phát huy truyền thống và tăng cường xây dựng lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hàng năm Uỷ ban nhân dân các địa phương, các Bộ, ngành và cơ quan quân sự các cấp có trách nhiệm tổ chức thiết thực, trọng thể kỷ niệm ngày 28 tháng 3, ngày truyền thống dân quân tự vệ.

Điều 15.- Tổ chức, cá nhân có hành vi trốn tránh, cản trở việc tổ chức, xây dựng, hoạt động của lực lượng dân quân tự vệ, thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm sẽ bị xử phạt hành chính theo quy định tại Nghị định 24/CP ngày 18 tháng 4 năm 1996 của Chính phủ, hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Điều 16.- Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày ký. Những quy định trước đây trái với Nghị định này đều bãi bỏ.

Điều 17.- Bộ trưởng Bộ Quốc phòng có trách nhiệm phối hợp với các Bộ có liên quan hướng dẫn thực hiện Nghị định này.

Điều 18.- Bộ trưởng các Bộ, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm thi hành Nghị định này.

 

Thuộc tính văn bản
Nghị định 35/CP của Chính phủ về việc quy định chi tiết việc thi hành Pháp lệnh về dân quân tự vệ
Cơ quan ban hành: Chính phủ Số công báo: Đã biết
Số hiệu: 35/CP Ngày đăng công báo: Đang cập nhật
Loại văn bản: Nghị định Người ký: Võ Văn Kiệt
Ngày ban hành: 14/06/1996 Ngày hết hiệu lực: Đã biết
Áp dụng: Đã biết Tình trạng hiệu lực: Đã biết
Lĩnh vực: An ninh trật tự
Tóm tắt văn bản
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Nội dung văn bản đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem VB liên quan.
Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!
Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Hiệu lực.
Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!

THE GOVERNMENT
------
 
SOCIALIST REPUBLIC OF VIET NAM
Independence - Freedom - Happiness
------------
No. 35-CP
Hanoi ,June 14, 1996

 
DECREE
STIPULATING IN DETAILS THE IMPLEMENTATION OF THE ORDINANCE ON THE MILITIA AND SELF-DEFENSE FORCE
THE GOVERNMENT
Pursuant to the Law on Organization of the Government of September 30, 1992;
Pursuant to the Ordinance of January 9, 1996 on the Militia and Self-Defense Force;
At the proposal of the Minister of Defense,
DECREES:
Article 1.- The registration for management and recruitment of the militia and self-defense force is prescribed as follows:
1. From the 1st to 15th of April each year, the citizens in the age group defined in Article 3 of the Ordinance on the Militia and Self-Defense Force must be registered for management in the communes. wards and townships where they are residing permanently, working or studying.
2. Criteria for citizens to be recruited into the militia and self-defense force:
- Having a clear personal record,
- Possessing good political qualifications, loyalty to the socialist Fatherland of Vietnam; strictly observing the lines and policies of the Party and the laws of the State,
- Physically fit.
3. The People�s Committees of various levels, the Directors of enterprises, the Heads of administrative and non-business agencies shall have to lead, direct and organize the strict registration for management of the citizens in the age group defined in Article 2 of the Ordinance on the Militia and Self-Defense Force and under the guidance of the Ministry of Defense.
4. The military offices of various levels shall have to advise and assist the administration of the same level in organizing the registration and recruitment of citizens into the militia and self-defense force. The President of the commune, ward or township People�s Committee, the director of an enterprise and the Head of an administrative and non-business agency shall issue a decision to accept the citizens into the militia and self-defense force
Article 2.- The commune, ward or township military command must have full knowledge of the quantity and quality of the existing militia and self-defense force; the quantity and quality of the registered citizens and the recruitment results; the real situation, requirements and tasks of the locality so as to assist the commune, ward or township People’s Committee in organizing the rotary service in the militia and self-defense force for a four-year term; ensure that the militia and self-defense force has a high quality to meet the requirements and tasks of combat readiness; create the reserve source for expanding the force when necessary and ensure social equity.
Article 3.- The organization of the self-defense force in the enterprises of other economic sectors under Item 2, Article 6 of the Ordinance is prescribed as follows:
1. The enterprises that have Party organizations must organize the self-defense force.
2. An enterprise that does not has a Party organization shall organize the self-defense force when so requested by the provincial/municipal military office or when it so proposes and the proposal is accepted by the military office of a province or a city directly under the Central Government. The self-defense force in such enterprise shall be placed under the command of the military office of the district, provincial town or city belonging to the province and under the direct leadership of the Party committee of that district, town or city.
3. The directors of the enterprises which have not yet organized a self-defense force, shall have to create conditions and provide funding for citizens in the prescribed age group in their enterprises to join the militia and self-defense force in the localities where they reside.
Article 4.- The size and organizational structure of the militia and self-defense force under Item 2 Article 11 of the Ordinance is prescribed as follows:
1. The organizational structure of the militia and self-defense force shall consist of an infantry detachment and a necessary specialized detachment, an on-site combat force and a mobile combat force.
The State agencies, administrative and non-business units, socio-political organizations shall organize only an on-site combat force to defend themselves.
2. Size of the militia or self-defense force:
a. Each village, hamlet or population cluster in the plain, coastal and mid-land communes, wards and townships may organize a squad or a platoon; larger villages or hamlets. may organize a company if conditions permit.
b. Each village or hamlet in mountainous, highland and deep-lying commune, ward, or district township may organize a group, a squad or a platoon.
c. In the State agencies as well as in non-business and administrative units each study, work or production unit must organize a squad or a platoon.
d. In State enterprises, each production group or workshop must organize a squad, a platoon or a company; an enterprise that has the necessary conditions may organize a battalion.
e. An enterprise of other economic sectors may organize a group, squad or platoon.
f. A socio-political organization may organize a squad or a platoon.
Article 5.- The Military Command of a commune, ward or district township and in a State enterprise shall have to assist the People’ Committee or the director of the enterprise in directing various aspects of the defense work, personally directing and commanding the militia and self-defense force in its building and in combat activities to ensure security at the grassroots level.
2. The military commander of a commune, ward or township or in a State enterprise must display good ethical norms, the sense of responsibility, the ability to fulfill his/her assigned tasks and have been tested through fighting, production and work.
3. Each border, coastal or island commune, ward and township shall have one full-time deputy military commander.
For key inland communes, wards and townships; remote and deep-lying communes where the President of the People’s Committee of the province or the city directly under the Central Government deems it extremely necessary to have a full-time deputy military commander, he/she shall, with the consent of the commander of the military zone, decide that which of such communes, wards and townships shall have one full-time deputy military commander. Each of the remaining communes, wards and townships shall have a part-time deputy military commander.
4. The appointment of the full-time or part-time deputy military commanders in communes, wards and townships shall be decided by the President of the People’s Committee of the district, provincial town or city under the province.
Article 6.- The militia and self defense force’s weapons and equipment, regardless of their sources, must be registered, tightly controlled and used for the right purpose in accordance with Article 14 of the Ordinance on the Militia and Self-Defense Force. The Ministry of Defense shall provide for the regime on the registration, management and use of the militia and self-defense force�s weapons and equipment.
Article 7.-
1. The period of political and military training for the militia and self-defense officers and men in each year is determined in accordance with Article 16 of the Ordinance on the Militia and Self-Defense Force.
In case of necessity or war, the training period may be extended to double the defined period.
2. The various levels and branches shall have to guide the political and military training for the militia and self-defense force in line with the contents and curriculum defined by the Ministry of Defense.
Article 8.-
1. The use of the militia and self-defense force in coordination with other armed forces in the task of security operations must be well planned to ensure unified command and that each force is used according to its functions and tasks.
2. In key border, coastal, island and inland areas, where high combat readiness is required, the militia and self-defense force shall be so organized as to ensure constant combat alert on a rotary basis in accordance with the regulations of the Ministry of Defense.
The People’s Committee of a province or a city directly under the Central Government shall be responsible for guiding the organization and taking care of the life, activity and study of the militia and self-defense force on combat duty.
Article 9.- Units of the regular army, local army and border force in any areas shall have to liaise with the local military office, take part in the building and training of the militia and self-defense force and coordinate with the militia and self-defense force in security operations.
Article 10.- The full-time and part-time deputy commanders of the commune. ward or township military commands are entitled to a monthly allowance defined in Article 26 of the Ordinance on the Militia and Self-Defense Force. The amount of this allowance shall be determined according to Point d, Item 1, Article 2 of Decree No.50-CP of July 26, 1995 of the Government; starting from the date on which the competent authority defined in Item 4, Article 5 of this Decree issues the official decision of appointment.
- The families of the officers of the commune, ward and township military commands under training at the provincial military school are entitled to a daily allowance equivalent to 0.1% of the minimum monthly salary.
Article 11.-
1. The militia officers and men who are on duty as defined in Point a, Item 3, Article 26 of the Ordinance on the Militia and Self-Defense Force are entitled to a daily sum of money equivalent to the pay of one working-day in a specific locality defined by the President of the district People’s Committee.
2. The militia and self-defense officers and men who are injured in an accident, sick or die while on duty as defined in Point b, Item 3, Article 26 of the Ordinance are entitled to social insurance as defined for State officials and employees in Decree 12-CP of January, 26, 1995 of the Government. The Ministry of Labor, War Invalids and Social Affairs, the Ministry of Finance, the Ministry of Health, the Ministry of Defense shall provide concrete guidance for the implementation of these regimes.
- The militia and self-defense officers and men who are wounded or die while performing the duties defined in Point c, Item 3, Article 26 of the Ordinance, they or their families shall be entitled to entitlement policies and regimes in accordance with Decree No.28-CP of April 29, 1995 of the Government if they are certified as war invalids or fallen heroes.
3. Each militia or self-defense member who is on combat duty on a rotary basis for six months or more as defined in Item 2, Article 8 of this Decree shall be provided with a uniform, a pair of shoes and a sun helmet.
Article 12.- The annual funding for the building and operation of the militia and self-defense force and the allowances for officers shall derive from the local budget in conformity with Article 27 of the Ordinance on the Militia and Self-Defense Force. The Ministry of Finance and the Ministry of Defense shall have to provide concrete guidance and close monitoring to limit the increase in the number of full-time officers in key inland communes and remote and deep-lying communes.
Article 13.- An organization or individual that achieves meritorious services in the organization, building and activity of the militia and self-defense force shall be commended and rewarded in accordance with the current forms and regimes prescribed by the State.
The military offices of various levels shall have to coordinate with the concerned agencies and assist the President of the People�s Committee of the same level in considering and approving the decision to commend and reward or propose to the higher level to commend and reward in a timely and accurate manner.
Article 14.- In order to bring into play the tradition and intensify the building of a strong militia and self-defense force to meet the requirements and tasks of constructing and defending the Fatherland, each year the local People’s Committees, the Ministries and branches, the military commands of various levels shall have to celebrate the traditional day of the militia and self-defense force on March 28 in a solemn and practical manner.
Article 15.- An organization or individual that shirks or hinders the organization, building and operation of the militia and self-defense force shall be, depending on the nature and seriousness of the violation, subject to administrative sanctions as prescribed in Decree No.24-CP of April, 18, 1996 of the Government or examined for penal liability.
Article 16.- This Decree takes effect from the date of its signing. The earlier provisions contrary to this Decree are now annulled.
Article 17.- The Minister of Defense shall have to coordinate with the concerned Ministers in implementing this Decree.
Article 18.-The Ministers, the Heads of the ministerial-level agencies and the agencies attached to the Government, and the Presidents of the People’s Committees of the provinces and the cities directly under the Central Government shall have to implement this Decree.
 

 
ON BEHALF OF THE GOVERNMENT
THE PRIME MINISTER




Vo Van Kiet

Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Nâng cao để xem đầy đủ bản dịch. Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây.
Văn bản tiếng việt
Văn bản tiếng Anh
Bản dịch tham khảo
* Lưu ý: Để đọc được văn bản tải trên Luatvietnam.vn, bạn cần cài phần mềm đọc file DOC, DOCX và phần mềm đọc file PDF.
Văn bản đã hết hiệu lực. Quý khách vui lòng tham khảo Văn bản thay thế tại mục Hiệu lực và Lược đồ.
Để được giải đáp thắc mắc, vui lòng gọi
1900.6192 hoặc gửi câu hỏi tại đây

Tải ứng dụng LuatVietnam Miễn phí trên

Văn bản cùng lĩnh vực
Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Lược đồ.
Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!