- Tổng quan
- Nội dung
- Tải về
Dự thảo Thông tư quy định chi tiết Luật Phòng bệnh 2025
| Lĩnh vực: | Y tế-Sức khỏe | Loại dự thảo: | Thông tư |
| Cơ quan chủ trì dự thảo: | Đang cập nhật | Trạng thái: | Chưa thông qua |
Phạm vi điều chỉnh
Bộ Y tế đang dự thảo Thông tư quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng bệnh. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ xin giới thiệu toàn văn và đề nghị các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước nghiên cứu, đóng góp ý kiến.
| BỘ Y TẾ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM ______________________________ | |
|
Số: /2026/TT-BYT | Hà Nội, ngày tháng năm 2026 |
THÔNG TƯ
Quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng bệnh
___________________________
Căn cứ Luật Phòng bệnh số 114/2025/QH15;
Căn cứ Nghị định số 42/2025/NĐ-CP ngày 27 tháng 02 năm 2025 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Y tế;
Theo đề nghị của Cục trưởng Cục Phòng bệnh,
Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành Thông tư Quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng bệnh.
Chương I
QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
Quy định chi tiết đối tượng, loại hình giám sát, địa điểm giám sát, chế độ thông tin, báo cáo giám sát đối với bệnh truyền nhiễm, bệnh không lây nhiễm, rối loạn tâm thần, dự phòng thương tích tại cộng đồng, dinh dưỡng trong phòng bệnh, khai báo thông tin về bệnh truyền nhiễm, tiêu chí xác định phân loại nhóm bệnh truyền nhiễm, tiêu chí xác định dịch bệnh theo khả năng, điều kiện ứng phó, khắc phục hậu quả, đánh giá nguy cơ, cảnh báo dịch bệnh, điều tra, xử lý ổ dịch, dịch bệnh và báo cáo, thông tin dịch bệnh truyền nhiễm.
Điều 2. Giải thích từ ngữ
1. Giám sát bệnh truyền nhiễm là việc thu thập, phân tích, đánh giá, diễn giải và sử dụng thông tin một cách liên tục có hệ thống về tình hình, yếu tố nguy cơ gây bệnh, dịch bệnh truyền nhiễm để phòng bệnh.
2. Ổ dịch tại cộng đồng là nơi (thôn, tổ dân phố hoặc tương đương) xuất hiện trường hợp bệnh truyền nhiễm xác định hoặc các trường hợp bệnh lâm sàng và tác nhân gây bệnh, trung gian truyền bệnh trong khoảng thời gian tương đương thời gian ủ bệnh trung bình của bệnh đó.
3. Ổ dịch tại cơ sở khám, chữa bệnh được xác định khi cơ sở khám, chữa bệnh có trường hợp bệnh bị lây nhiễm trong khoảng thời gian tương đương thời gian ủ bệnh trung bình của bệnh đó.
4. Ổ chứa là nơi tác nhân gây bệnh truyền nhiễm có thể tồn tại và phát triển.
5. Dấu hiệu cảnh báo là thông tin ban đầu về bệnh, dịch bệnh truyền nhiễm, các nguy cơ gây bệnh, dịch bệnh truyền nhiễm hoặc các nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng. Thông tin ban đầu bao gồm các biểu hiện bất thường về sức khoẻ, bệnh tật ở người, động vật và các hiện tượng bất thường trong môi trường sống.
6. Sự kiện là dấu hiệu cảnh báo đã được xác minh là có nguy cơ gây bệnh, dịch bệnh truyền nhiễm hoặc có nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng.
7. Hội chứng bệnh truyền nhiễm là tập hợp các dấu hiệu, triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng điển hình thường gặp của một nhóm bệnh truyền nhiễm hoặc một bệnh truyền nhiễm cụ thể chưa rõ tác nhân gây bệnh.
8. Trường hợp bệnh trong giám sát bệnh truyền nhiễm là trường hợp có biểu hiện về lâm sàng, dịch tễ, xét nghiệm được xác định để báo cáo, điều tra và xử lý trong hệ thống giám sát.
9. Hệ thống quản lý giám sát bệnh truyền nhiễm là phần mềm được triển khai nhằm phục vụ việc giám sát, quản lý các bệnh truyền nhiễm trên toàn quốc.
10. Giám sát phát hiện bệnh không lây nhiễm/rối loạn tâm thần là quá trình thu thập, phân tích, diễn giải, sử dụng thông tin một cách liên tục có hệ thống để phát hiện sớm người mắc bệnh, người có nguy cơ mắc bệnh không lây nhiễm/rối loạn tâm thần và theo dõi xu hướng phát triển của bệnh để có biện pháp xử lý kịp thời.
11. Quản lý điều trị bệnh không lây nhiễm/rối loạn tâm thần tại cộng đồng: là quá trình theo dõi, giám sát diễn biến bệnh, tuân thủ điều trị, tư vấn và thực hiện dự phòng biến chứng cho người mắc bệnh không lây nhiễm/rối loạn tâm thần tại tuyến y tế cơ sở.
12. Thương tích là tổn thương về thể chất hoặc tinh thần của con người do sự tác động đột ngột hoặc trong thời gian ngắn của các yếu tố bên ngoài vượt quá khả năng chịu đựng của cơ thể, dẫn đến tử vong, phải điều trị, chăm sóc y tế hoặc gây suy giảm chức năng tạm thời hoặc vĩnh viễn.
13. Thương tích không có chủ ý là thương tích xảy ra không do sự cố ý của người gây ra hoặc của người bị thương tích, bao gồm các trường hợp như tai nạn giao thông, tai nạn lao động, ngã, đuối nước, bỏng, ngộ độc, thương tích do động vật cắn, đốt, húc và các nguyên nhân tương tự khác.
14. Thương tích có chủ ý là thương tích xảy ra do hành vi cố ý của bản thân người bị thương tích hoặc của cá nhân, nhóm người khác, bao gồm các trường hợp như tự gây hại, tự tử, bạo lực giữa các cá nhân, xâm hại và các hành vi bạo lực khác.
15. Giám sát trong dự phòng thương tích tại cộng đồng là quá trình thu thập, tổng hợp, phân tích, đánh giá và sử dụng thông tin một cách thường xuyên, có hệ thống về tình hình thương tích và các yếu tố nguy cơ dẫn đến thương tích tại cộng đồng nhằm phục vụ công tác phòng ngừa, can thiệp và đánh giá hiệu quả các biện pháp dự phòng.
16. Người bị tai nạn thương tích là người bị tổn thương về thể chất hoặc tinh thần do tác động từ các yếu tố bên ngoài, xảy ra đột ngột, không chủ ý hoặc do bạo lực, dẫn đến:Tử vong; hoặc phải điều trị, chăm sóc y tế; hoặc gây suy giảm chức năng, ảnh hưởng đến sinh hoạt và lao động.
17. Yếu tố nguy cơ dẫn đến thương tích tại cộng đồng là các đặc điểm, điều kiện, hành vi hoặc hoàn cảnh tồn tại trong môi trường sống, sinh hoạt, học tập, lao động và giao thông của cộng đồng, làm tăng khả năng xảy ra thương tích hoặc làm trầm trọng thêm mức độ và hậu quả của thương tích đối với con người.
Chương II
GIÁM SÁT VÀ PHÒNG, CHỐNG BỆNH TRUYỀN NHIỄM
Mục 1
QUY ĐỊNH CHUNG VỀ GIÁM SÁT BỆNH TRUYỀN NHIỄM
Điều 3. Nguyên tắc giám sát, thông tin, báo cáo bệnh truyền nhiễm
1. Nội dung thông tin, báo cáo, khai báo bệnh truyền nhiễm phải bảo đảm chính xác, đầy đủ và đúng trình tự, thẩm quyền theo quy định của Thông tư này.
2. Trường hợp đã thực hiện báo cáo trực tuyến thì không phải báo cáo bằng văn bản; đơn vị chịu trách nhiệm về thông tin dữ liệu báo cáo.
Điều 4. Đối tượng và nội dung giám sát bệnh truyền nhiễm
1. Đối tượng của giám sát bệnh truyền nhiễm bao gồm:
a) Người mắc bệnh truyền nhiễm, người mang mầm bệnh truyền nhiễm, người bị nghi ngờ mắc bệnh truyền nhiễm, người tiếp xúc và người tử vong nghi ngờ do bệnh truyền nhiễm;
b) Tác nhân gây bệnh truyền nhiễm;
c) Ổ chứa tác nhân gây bệnh truyền nhiễm, côn trùng, động vật, môi trường, thực phẩm và vật khác mang tác nhân gây bệnh truyền nhiễm, có khả năng truyền bệnh và các yếu tố nguy cơ khác.
2. Nội dung giám sát đối với người mắc bệnh truyền nhiễm, người mang mầm bệnh truyền nhiễm, người bị nghi ngờ mắc bệnh truyền nhiễm, người tiếp xúc và người tử vong nghi ngờ do bệnh truyền nhiễm:
a) Thông tin hành chính: Họ và tên, số định danh cá nhân (hoặc số hộ chiếu đối với người nước ngoài); ngày, tháng, năm sinh hoặc tuổi, giới tính, quốc tịch, dân tộc, nghề nghiệp, điện thoại liên lạc hoặc phương thức liên lạc khác (nếu có); địa chỉ nơi thường trú; địa chỉ hiện tại/tạm trú; địa chỉ lưu trú (nếu có); địa điểm học tập, làm việc (nếu có); ̣ mã số hồ sơ giám sát (nếu có); thông tin người liên hệ khi cần thiết (nếu có);
b) Thông tin dịch tễ và lâm sàng: Địa điểm và thời gian mắc, khởi phát bệnh; diễn biến bệnh, triệu chứng, chẩn đoán, tình trạng hiện tại (sống/tử vong) và quá trình điều trị;
c) Thông tin xét nghiệm: Kết quả xét nghiệm tác nhân gây bệnh, gen, biến chủng (nếu có);
d) Thông tin tiền sử và yếu tố nguy cơ: Tiền sử sản khoa, tiền sử tiêm chủng vắc xin phòng bệnh và tình trạng miễn dịch; tiền sử đi lại trong và ngoài nước; thông tin về tiền sử phơi nhiễm, tiếp xúc với nguồn lây (người, động vật, môi trường) và các yếu tố dịch tễ liên quan khác trong khoảng thời gian ủ bệnh.
3. Nội dung giám sát đối với tác nhân gây bệnh truyền nhiễm gồm chủng, loài, nhóm, týp, phân týp, gen, kiểu gen, nguồn gốc dịch tễ học phân tử, các đặc tính sinh học về độc lực, tính kháng thuốc, biến đổi về hình thể, gen và phương thức lây truyền.
4. Nội dung giám sát đối với ổ chứa tác nhân gây bệnh truyền nhiễm, côn trùng, động vật, môi trường, thực phẩm và các yếu tố nguy cơ khác:
a) Ổ chứa tác nhân gây bệnh truyền nhiễm: Xác định loại ổ chứa, vị trí, địa điểm, quy mô và phạm vi của ổ chứa; sự tồn tại, phát triển, mật độ của tác nhân gây bệnh trong ổ chứa và mối liên hệ dịch tễ với người hoặc động vật;
b) Động vật: Số lượng, mật độ, tình trạng sức khỏe/bệnh tật, tiền sử tiêm phòng (đối với vật nuôi), mối liên hệ/tiếp xúc với con người; đối với côn trùng y học cần giám sát thêm: Đặc điểm sinh vật học, thành phần loài, các chỉ số giám sát véc tơ, tình trạng mang mầm bệnh và tính nhạy cảm với hóa chất;
c) Môi trường (đất, nước, không khí, chất thải, nước thải): Sự hiện diện của tác nhân gây bệnh, các chỉ số lý, hóa, sinh vật liên quan đến sự tồn tại và phát triển của tác nhân gây bệnh;
d) Thực phẩm: Nguyên liệu, nguồn gốc, quy trình/phương thức chế biến, bảo quản, vận chuyển và phân phối; kết quả xét nghiệm ô nhiễm tác nhân gây bệnh;
đ) Yếu tố liên quan đến cộng đồng, môi trường tại địa điểm giám sát: Điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội gồm mức sống, lối sống, điều kiện vệ sinh, phong tục tập quán, cơ cấu dân cư, di biến động dân cư; địa lý, khí hậu, thời tiết gồm khu vực địa dư, mùa, nhiệt độ, lượng mưa, độ ẩm, hướng gió; cơ cấu bệnh tật và các yếu tố nguy cơ sức khỏe khác tại cộng đồng.
5. Thu thập các thông tin khác theo yêu cầu của cơ quan y tế có thẩm quyền, căn cứ vào diễn biến bệnh, dịch bệnh, đối tượng giám sát và loại hình giám sát.
6. Bộ Y tế có hướng dẫn chuyên môn về nội dung giám sát đối với từng bệnh truyền nhiễm cụ thể.
Điều 5. Xét nghiệm trong giám sát bệnh truyền nhiễm
1. Xét nghiệm trong giám sát bệnh truyền nhiễm được thực hiện nhằm phát hiện, xác định tác nhân gây bệnh; theo dõi sự lưu hành, biến đổi di truyền và đặc tính sinh học của tác nhân.
2. Cơ sở xét nghiệm thực hiện xét nghiệm trong giám sát bệnh truyền nhiễm phải áp dụng các kỹ thuật xét nghiệm phù hợp với mục tiêu giám sát; bảo đảm chất lượng xét nghiệm, an toàn sinh học, an ninh sinh học theo quy định của pháp luật.
3. Thiết bị y tế chẩn đoán in-vitro (In vitro diagnostic medical device) dùng trong xét nghiệm giám sát bệnh truyền nhiễm gồm các loại:
a) Thiết bị y tế chẩn đoán in-vitro đã được cấp phép lưu hành tại Việt Nam;
b) Thiết bị y tế chẩn đoán in vitro tại các phòng xét nghiệm tham chiếu của Tổ chức Y tế thế giới và các tổ chức quốc tế đã được phép hoạt động tại Việt Nam hoặc các thiết bị y tế được các tổ chức quốc tế cung cấp theo yêu cầu của Bộ Y tế;
c) Thiết bị y tế chẩn đoán in vitro chỉ sử dụng trong nghiên cứu (RUO- Research Use Only);
d) Thiết bị y tế chẩn đoán in vitro phòng xét nghiệm tự phát triển và sử dụng nội bộ (LDT-Laboratory Developed Tests);
đ) Thiết bị y tế chẩn đoán in vitro được quy định tại điểm c, điểm d tại khoản 3 Điều này chỉ được sử dụng trong trường hợp dịch bệnh mới nổi, tác nhân gây bệnh chưa rõ nguồn gốc hoặc chưa có thiết bị y tế chẩn đoán in vitro được cấp phép lưu hành tại Việt Nam.
4. Các phòng xét nghiệm sử dụng thiết bị y tế chẩn đoán in vitro quy định tại điểm c, điểm d, khoản 3 Điều này phục vụ giám sát cần đáp ứng các điều kiện sau đây:
a) Được Bộ Y tế giao nhiệm vụ;
b) Chỉ sử dụng cho mục đích giám sát dịch tễ học, đánh giá nguy cơ sức khỏe cộng đồng; không sử dụng làm căn cứ để chỉ định điều trị hoặc can thiệp lâm sàng, trừ trường hợp có hướng dẫn khác của Bộ Y tế;
c) Bảo đảm các yêu cầu về an toàn sinh học, an ninh sinh học, quản lý chất lượng xét nghiệm và thực hiện báo cáo theo các biểu mẫu của Phụ lục 7 bằng hệ thống, phần mềm được quy định tại Điều 7 Thông tư này;
d) Cơ sở xét nghiệm phải thực hiện đánh giá, kiểm soát chất lượng phù hợp trong quá trình thực hiện.
5. Khi có thiết bị y tế chẩn đoán in vitro cùng loại được cấp phép lưu hành tại Việt Nam, các cơ sở xét nghiệm có trách nhiệm ưu tiên chuyển đổi từ việc sử dụng sản phẩm RUO, LDT sang sử dụng thiết bị y tế chẩn đoán in vitro được cấp phép theo lộ trình và hướng dẫn của Bộ Y tế.
Điều 6. Loại hình giám sát bệnh truyền nhiễm
1. Giám sát dựa vào chỉ số là việc thu thập thông tin về các bệnh, dịch bệnh truyền nhiễm cụ thể theo các chỉ số, biểu mẫu quy định, gồm các loại hình:
a) Giám sát thường xuyên là việc thu thập thường xuyên, liên tục có hệ thống các thông tin cơ bản về bệnh, dịch bệnh truyền nhiễm dựa vào cơ sở y tế được thực hiện trên phạm vi cả nước;
b) Giám sát trọng điểm là việc thu thập thường xuyên, liên tục có hệ thống các thông tin chuyên sâu về một số bệnh, dịch bệnh truyền nhiễm và một số vấn đề về y tế ưu tiên tại một số điểm giám sát được lựa chọn trong một khoảng thời gian nhất định.
2. Giám sát dựa vào sự kiện là việc thu thập thông tin, sàng lọc, xác minh các dấu hiệu cảnh báo từ các nguồn tin của cộng đồng, mạng xã hội, mạng lưới thông tin truyền thông, cơ quan, tổ chức và mạng lưới y tế.
3. Giám sát dựa vào hội chứng là việc thu thập, phân tích liên tục, có hệ thống các dữ liệu về hội chứng lâm sàng, triệu chứng bệnh hoặc các dữ liệu thay thế phản ánh tình trạng sức khỏe cộng đồng nhằm phát hiện sớm các dấu hiệu bất thường của bệnh, dịch bệnh truyền nhiễm trước khi có chẩn đoán xác định.
Điều 7. Hệ thống quản lý giám sát bệnh truyền nhiễm
1. Hệ thống quản lý giám sát bệnh truyền nhiễm (gọi tắt là hệ thống) được sử dụng để các đơn vị thực hiện báo cáo trực tuyến theo quy định tại Thông tư này và phục vụ cảnh báo, quản lý các bệnh truyền nhiễm trên toàn quốc.
2. Hệ thống ghi nhận các thông tin về đối tượng, nội dung, xét nghiệm và các thông tin thu thập qua các loại hình giám sát bệnh truyền nhiễm được các đơn vị báo cáo trực tuyến hoặc thực hiện kết nối, liên thông dữ liệu giữa hệ thống và phần mềm của các cơ sở y tế theo hướng dẫn của Bộ Y tế.
3. Cục Phòng bệnh chủ trì tổ chức triển khai hệ thống.
Mục 2
GIÁM SÁT THƯỜNG XUYÊN
Điều 8. Quy trình báo cáo giám sát thường xuyên
1. Đơn vị y tế cơ quan, phòng khám tư nhân, các cơ sở chẩn đoán, bác sĩ gia đình và nhân viên y tế thôn bản khi phát hiện người nghi ngờ mắc bệnh truyền nhiễm trong danh mục bệnh được quy định tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Thông tư này, có trách nhiệm thông báo ngay cho Trạm Y tế xã, phường, đặc khu (sau đây gọi tắt là Trạm Y tế cấp xã) trên địa bàn để thực hiện việc điều tra, xác minh, thông tin báo cáo và khai báo bệnh, dịch bệnh truyền nhiễm theo quy định.
2. Báo cáo trường hợp bệnh
a) Trạm Y tế cấp xã, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh báo cáo trường hợp bệnh cho Trung tâm Y tế khu vực, Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh, thành phố (sau đây gọi tắt là Trung tâm Kiểm soát bệnh tật cấp tỉnh) khi xác định trường hợp bệnh phải báo cáo hoặc người tử vong do bệnh truyền nhiễm quy định tại Phụ lục 2 (Biểu mẫu 1) kèm theo Thông tư này;
b) Thời gian báo cáo:
- Đối với bệnh nhóm A, bệnh mới nổi: Báo cáo ngay (thực hiện liên thông hoặc nhập liệu trực tiếp) trong vòng 24 giờ kể từ khi có chẩn đoán;
- Đối với các bệnh còn lại: Báo cáo trong vòng 24 giờ hoặc 48 giờ kể từ khi có chẩn đoán theo danh mục bệnh truyền nhiễm được quy định tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Thông tư này;
- Trường hợp tử vong: Báo cáo trong vòng 24 giờ kể từ khi tử vong;
- Cập nhật kết quả xét nghiệm khẳng định, tình trạng ra viện/chuyển viện hoặc thay đổi chẩn đoán trong vòng 24 giờ kể từ khi có sự thay đổi.
3. Báo cáo ổ dịch:
a) Trạm Y tế cấp xã, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh báo cáo ổ dịch hoặc nhóm các trường hợp bệnh nghi ngờ cho Trung tâm Y tế khu vực, Trung tâm Kiểm soát bệnh tật cấp tỉnh khi phát hiện ổ dịch bệnh truyền nhiễm, diễn biến ổ dịch đang hoạt động được và khi ổ dịch chấm dứt hoạt động lần lượt được quy định tại Phụ lục 2 (biểu mẫu 3,4,5) ban hành kèm theo Thông tư này;
b) Thời gian thực hiện báo cáo:
- Báo cáo ngay khi phát hiện ổ dịch hoặc nhóm các trường hợp bệnh nghi ngờ;
- Trong thời gian có dịch bệnh thực hiện báo cáo hàng ngày, liên tục từ khi ổ dịch hoạt động cho đến khi kết thúc. Số liệu báo cáo mỗi ngày được tính từ 00h00 đến 24h00 của ngày báo cáo (Thời gian hoàn thành thực hiện báo cáo không muộn hơn 08h00 ngày kế tiếp);
- Báo cáo kết thúc ổ dịch thực hiện trong vòng 24 giờ sau khi đủ điều kiện thông báo hết dịch hoặc kết thúc hoạt động ổ dịch.
4. Báo cáo tác nhân, trung gian truyền bệnh và môi trường:
a) Cơ sở có thực hiện xét nghiệm tác nhân, trung gian truyền bệnh và môi trường báo cáo cho Trung tâm Y tế khu vực, Trung tâm Kiểm soát bệnh tật cấp tỉnh, Viện Vệ sinh dịch tễ, Pasteur, Cục Phòng bệnh khi có kết quả xét nghiệm tác nhân gây bệnh (bao gồm cả các chủng kháng thuốc, biến chủng mới); khi chỉ số giám sát véc tơ, côn trùng, động vật trung gian truyền bệnh vượt ngưỡng cảnh báo hoặc phát hiện tác nhân gây bệnh trên các đối tượng này; khi phát hiện tác nhân gây bệnh hoặc chỉ số bất thường trong các mẫu môi trường (đất, nước, nước thải, không khí);
b) Thời gian thực hiện báo cáo:
- Báo cáo định kỳ hàng tháng đối với chỉ số giám sát véc tơ, côn trùng, động vật và kết quả giám sát chất lượng nước, vệ sinh môi trường. Báo cáo thực hiện trước ngày 05 của tháng tiếp theo;
- Báo cáo (thực hiện liên thông hoặc nhập liệu trực tiếp) trong vòng 24 giờ kể từ khi phát hiện tác nhân gây bệnh truyền nhiễm nhóm A hoặc tác nhân mới nổi trong mẫu bệnh phẩm động vật, thực phẩm hoặc môi trường.
c) Biểu mẫu báo cáo thực hiện theo Hướng dẫn chuyên môn giám sát của từng bệnh truyền nhiễm.
5. Báo cáo tuần:
- Báo cáo trường hợp bệnh theo tuần: Thực hiện theo Phụ lục 2 (Biểu mẫu 1) của Thông tư này. Số liệu báo cáo tuần được tính từ 00h00 ngày thứ Hai đến 24h00 ngày Chủ nhật của tuần báo cáo. Trạm Y tế cấp xã, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hoàn thành báo cáo trên hệ thống trước ngày thứ Ba của tuần tiếp theo;
- Báo cáo hoạt động phòng, chống bệnh truyền nhiễm: Thực hiện theo Phụ lục 2 (Biểu mẫu 2) của Thông tư này. Số liệu báo cáo tuần được tính từ 00h00 ngày thứ Hai đến 24h00 ngày Chủ nhật của tuần báo cáo. Trạm Y tế cấp xã, Trung tâm Y tế khu vực hoàn thành báo cáo trên hệ thống trước 14h00 ngày thứ Hai của tuần tiếp theo; Trung tâm kiểm soát bệnh tật cấp tỉnh xác nhận số liệu và hoàn thành báo cáo tổng hợp trên hệ thống trước 14h00 ngày thứ Ba của tuần tiếp theo.
6. Báo cáo trường hợp bệnh theo tháng: Thực hiện theo Phụ lục 2 (Biểu mẫu 1) của Thông tư này. Số liệu báo cáo tháng được tính từ 00h00 ngày đầu tiên đến 24h00 ngày cuối cùng của tháng báo cáo. Trạm Y tế cấp cấp xã, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hoàn thành báo cáo trên hệ thống trước ngày 05 của tháng tiếp theo.
7. Báo cáo năm: Trên cơ sở số liệu hoàn thành của các báo cáo nêu trên, hệ thống sẽ tự động thực hiện các báo cáo tổng hợp. Số liệu báo cáo năm được tính từ 00h00 ngày đầu tiên đến 24h00 ngày cuối cùng của năm báo cáo hoặc từ tuần đầu tiên của năm báo cáo đến tuần cuối của năm báo cáo.
8. Báo cáo đột xuất để phục vụ công tác giám sát, kiểm tra, chỉ đạo phòng chống dịch bệnh truyền nhiễm của cơ quan quản lý cấp trên.
Báo cáo đột xuất thực hiện theo yêu cầu về thời gian, nội dung của cơ quan quản lý cấp trên hoặc khi có các sự kiện y tế công cộng khẩn cấp, thiên tai, thảm họa.
Điều 9. Hình thức báo cáo giám sát thường xuyên
1. Các đơn vị thực hiện sử dụng và báo cáo trực tuyến thông qua hệ thống hoặc kết nối, liên thông dữ liệu theo quy định tại Điều 7 Thông tư này.
2. Các đơn vị thực hiện báo cáo theo khoản 1 Điều này thực hiện lưu trữ hồ sơ, bệnh án điện tử thay thế cho hồ sơ giấy theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử và khám bệnh, chữa bệnh.
3. Báo cáo bằng văn bản hoặc tệp tin điện tử:
a) Chỉ áp dụng trong trường hợp hệ thống, phần mềm gặp sự cố kỹ thuật hoặc chưa được triển khai kết nối;
b) Đơn vị gửi báo cáo qua hệ thống quản lý và điều hành văn bản điện tử hoặc gửi bản chụp (scan), tệp tin điện tử (file mềm) qua thư điện tử công vụ;
c) Ngay sau khi sự cố được khắc phục, đơn vị phải có trách nhiệm cập nhật bổ sung dữ liệu vào hệ thống để đảm bảo tính thống nhất của cơ sở dữ liệu.
4. Báo cáo khẩn cấp: Trong trường hợp khẩn cấp, thiên tai, thảm họa hoặc khi phát hiện bệnh nhóm A, ổ dịch mới: Đơn vị báo cáo nhanh qua điện thoại, tin nhắn hoặc trực tiếp cho cơ quan quản lý cấp trên và phải thực hiện báo cáo chính thức (trực tuyến hoặc văn bản) trong vòng 24 giờ.
Điều 10. Trách nhiệm thực hiện báo cáo giám sát thường xuyên
1. Trạm Y tế cấp xã:
a) Tiếp nhận thông tin của mạng lưới giám sát tại cộng đồng, tổ chức xác minh và thực hiện các báo cáo lên hệ thống theo quy định tại Thông tư này;
b) Phối hợp với Trung tâm Kiểm soát bệnh tật cấp tỉnh để rà soát, xác minh địa chỉ và thông tin dịch tễ của các trường hợp bệnh trên địa bàn do các tuyến khác chuyển về; kiểm tra, giám sát đảm bảo chất lượng số liệu báo cáo.
2. Các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh:
a) Thực hiện các báo cáo theo quy định tại Thông tư này;
b) Thực hiện liên thông dữ liệu theo Điều 7 Thông tư này.
3. Trung tâm Kiểm dịch y tế quốc tế: Thực hiện hoạt động kiểm dịch y tế có trách nhiệm thực hiện báo cáo trường hợp nghi ngờ, mắc bệnh truyền nhiễm phát hiện tại khu vực cửa khẩu cho Trung tâm Kiểm soát bệnh tật cấp tỉnh, các Viện Vệ sinh dịch tễ, Pasteur, Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng.
4. Trung tâm Kiểm soát bệnh tật cấp tỉnh:
a) Chủ trì tập huấn, phân công giám sát việc thực hiện, chất lượng báo cáo giám sát thường xuyên của các đơn vị;
b) Quản trị dữ liệu: Tiếp nhận, rà soát, kiểm tra tính chính xác của dữ liệu do Trạm Y tế và các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trên địa bàn báo cáo lên hệ thống.
5. Sở Y tế: Chỉ đạo và tổ chức thực hiện giám sát thường xuyên bệnh truyền nhiễm theo quy định tại Thông tư này trên địa bàn quản lý; chịu trách nhiệm theo dõi, kiểm tra và đôn đốc các đơn vị thực hiện. Tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố để bố trí kinh phí cho các đơn vị triển khai và duy trì thực hiện giám sát thường xuyên bệnh truyền nhiễm.
6. Các Viện Vệ sinh dịch tễ, Pasteur, Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng:
a) Tập huấn, theo dõi, đôn đốc, hỗ trợ và giám sát việc thực hiện, chất lượng báo cáo giám sát thường xuyên của các đơn vị trong khu vực phụ trách;
b) Phối hợp với các Bệnh viện tuyến Trung ương trên địa bàn để giám sát, hỗ trợ triển khai công tác báo cáo giám sát thường xuyên;
c) Tổng hợp, phân tích tình hình dịch tễ, báo cáo Cục Phòng bệnh (Bộ Y tế).
7. Cục Phòng bệnh: Xây dựng kế hoạch, chỉ đạo và hướng dẫn tổ chức thực hiện báo cáo giám sát thường xuyên bệnh truyền nhiễm; tổ chức kiểm tra, giám sát việc thực hiện báo cáo giám sát thường xuyên bệnh truyền nhiễm trên phạm vi cả nước; là cơ quan duy nhất được Bộ trưởng Bộ Y tế ủy quyền thông báo quốc tế về bệnh truyền nhiễm.
8. Cục Quản lý khám, chữa bệnh: Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát và đôn đốc các cơ sở khám, chữa bệnh trên toàn quốc thực hiện báo cáo giám sát thường xuyên bệnh truyền nhiễm; bảo đảm hệ thống thu thập số liệu tại các cơ sở khám chữa bệnh, thống nhất mẫu hồ sơ bệnh án, bệnh án điện tử, bảo đảm việc thông tin khai báo, báo cáo bệnh, dịch bệnh truyền nhiễm của các cơ sở khám, chữa bệnh được thuận lợi, đầy đủ và kịp thời theo quy định của Thông tư này.
Mục 3
GIÁM SÁT TRỌNG ĐIỂM
Điều 11. Tiêu chí lựa chọn bệnh truyền nhiễm thực hiện giám sát trọng điểm
Việc lựa chọn bệnh truyền nhiễm để triển khai giám sát trọng điểm được căn cứ vào một hoặc nhiều tiêu chí sau đây:
1. Gánh nặng bệnh tật: Bệnh có tỷ lệ mắc hoặc tử vong cao, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe cộng đồng và kinh tế - xã hội.
2 Nguy cơ dịch bệnh:
a) Bệnh có nguy cơ bùng phát thành dịch, đại dịch;
b) Bệnh mới nổi, bệnh tái nổi hoặc xuất hiện các biến chủng, biến thể mới có độc lực cao;
c) Bệnh có nguồn gốc từ động vật có khả năng lây sang người.
3. Yêu cầu về chuyên môn kỹ thuật:
a) Bệnh cần theo dõi sự biến đổi gen, đặc tính sinh học của tác nhân gây bệnh để phục vụ nghiên cứu, sản xuất và khuyến cáo sử dụng vắc xin, sinh phẩm;
b) Bệnh cần giám sát tình trạng kháng thuốc (AMR) để xây dựng hoặc điều chỉnh phác đồ điều trị phù hợp.
4. Mục tiêu can thiệp y tế công cộng: Bệnh nằm trong mục tiêu thanh toán, loại trừ hoặc khống chế của quốc gia và quốc tế cần số liệu giám sát để chứng minh sự không lưu hành của tác nhân gây bệnh.
5. Theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và cam kết thực hiện Điều lệ Y tế quốc tế (IHR);
6. Phù hợp với nguồn lực, năng lực xét nghiệm và khả năng duy trì hệ thống giám sát của quốc gia trong từng giai đoạn.
Điều 12. Lựa chọn địa điểm thực hiện giám sát trọng điểm
Việc lựa chọn địa điểm giám sát trọng điểm phải đảm bảo các tiêu chí sau đây:
1. Tiêu chí về tính đại diện: Địa điểm được lựa chọn phải mang tính đại diện cho khu vực về địa lý (vùng, miền, khu vực sinh thái), mật độ dân cư, đặc điểm kinh tế - xã hội và mức độ giao lưu đi lại, nhằm phản ánh trung thực tình hình dịch bệnh của khu vực đó.
2. Tiêu chí về khả năng phát hiện ca bệnh (Lưu lượng bệnh nhân): Cơ sở y tế được lựa chọn phải có số lượng bệnh nhân đến khám và điều trị đủ lớn và ổn định đối với bệnh hoặc hội chứng cần giám sát, đảm bảo đủ cỡ mẫu thống kê cần thiết để phân tích xu hướng dịch tễ.
3. Tiêu chí về năng lực chuyên môn và cơ sở vật chất:
a) Có đội ngũ cán bộ y tế đủ năng lực thực hiện đúng quy trình khám sàng lọc, chẩn đoán lâm sàng, điều tra dịch tễ và thu thập mẫu bệnh phẩm bảo đảm an toàn sinh học;
b) Có phòng xét nghiệm đủ năng lực thực hiện các kỹ thuật xét nghiệm sàng lọc, khẳng định hoặc có cơ chế phối hợp, gửi mẫu ổn định với các phòng xét nghiệm tham chiếu tuyến trên;
c) Có hệ thống công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu thu thập, quản lý và báo cáo số liệu giám sát trực tuyến.
Điều 13. Thời gian và tần suất thực hiện giám sát trọng điểm
1. Nguyên tắc về thời gian:
a) Hoạt động giám sát trọng điểm được thực hiện thường xuyên, liên tục quanh năm để theo dõi xu hướng dài hạn của bệnh, dịch bệnh truyền nhiễm;
b) Đối với các bệnh có tính chất mùa vụ rõ rệt, cơ quan y tế có thẩm quyền có thể quy định khoảng thời gian giám sát tập trung phù hợp với diễn biến dịch tễ của bệnh đó.
2. Tần suất sàng lọc và lấy mẫu bệnh phẩm:
a) Tại các điểm giám sát, việc sàng lọc, lựa chọn ca bệnh và lấy mẫu bệnh phẩm được thực hiện định kỳ (hàng ngày hoặc hàng tuần) theo Hướng dẫn giám sát cụ thể của từng bệnh;
b) Việc lấy mẫu phải bảo đảm phân bố đều theo thời gian trong tuần giám sát và đạt đủ cỡ mẫu tối thiểu theo quy định để bảo đảm tính đại diện cho quần thể giám sát.
Điều 14. Quy trình tổ chức triển khai giám sát trọng điểm
1. Sàng lọc, lựa chọn và thu thập mẫu: Các cơ sở y tế thực hiện giám sát có trách nhiệm:
a) Tổ chức sàng lọc người bệnh đến khám (ngoại trú) hoặc nhập viện (nội trú) dựa trên định nghĩa ca bệnh giám sát để tuyển chọn trường hợp đủ tiêu chuẩn tham gia giám sát;
b) Thực hiện phỏng vấn, thu thập thông tin dịch tễ và lấy mẫu bệnh phẩm theo đúng hướng dẫn chuyên môn và quy trình kỹ thuật, bảo đảm an toàn sinh học.
2. Bảo quản và vận chuyển bệnh phẩm:
a) Mẫu bệnh phẩm sau khi thu thập phải được bảo quản đúng quy định và vận chuyển về phòng xét nghiệm được chỉ định;
b) Tần suất vận chuyển mẫu: Thực hiện theo quy định của từng chương trình giám sát nhưng phải bảo đảm ít nhất 01 lần/tuần hoặc vận chuyển ngay trong trường hợp cần thiết để bảo đảm chất lượng mẫu.
3. Xét nghiệm và phân tích chuyên sâu: Các phòng xét nghiệm tham chiếu (Viện Vệ sinh dịch tễ, Viện Pasteur hoặc đơn vị được phân công) thực hiện:
a) Xét nghiệm xác định tác nhân gây bệnh;
b) Thực hiện các kỹ thuật chuyên sâu để xác định nhóm, týp, phân týp, kiểu gen, giải trình tự gen để phát hiện biến chủng, biến thể và xác định tính kháng thuốc của tác nhân gây bệnh.
4. Quản lý số liệu và phản hồi kết quả:
a) Đơn vị lấy mẫu có trách nhiệm nhập liệu thông tin dịch tễ và lâm sàng lên Hệ thống quản lý giám sát bệnh truyền nhiễm hoặc công cụ quản lý dữ liệu giám sát trọng điểm ngay khi hoàn thành điều tra;
b) Đơn vị xét nghiệm có trách nhiệm cập nhật kết quả xét nghiệm lên Hệ thống quản lý giám sát bệnh truyền nhiễm hoặc công cụ quản lý dữ liệu giám sát trọng điểm và gửi trả kết quả cho đơn vị gửi mẫu để phục vụ công tác điều trị và phòng chống dịch bệnh.
Điều 15. Hình thức báo cáo giám sát trọng điểm
1. Báo cáo bằng hệ thống, phần mềm: Các cơ sở y tế thực hiện giám sát trọng điểm, các Viện Vệ sinh dịch tễ, Pasteur thực hiện báo cáo trường hợp mắc bệnh được giám sát, báo cáo tuần và kết quả xét nghiệm thông qua hệ thống hoặc công cụ quản lý dữ liệu giám sát trọng điểm (phần mềm) theo Điều 7 Thông tư này.
2. Báo cáo bằng văn bản và tệp tin điện tử: Trong trường hợp công cụ quản lý dữ liệu giám sát trọng điểm chưa được triển khai hoặc gặp sự cố, các đơn vị thực hiện báo cáo bằng văn bản.
Điều 16. Chế độ báo cáo và chia sẻ thông tin giám sát trọng điểm
1. Chế độ báo cáo của các cơ sở y tế thực hiện giám sát trọng điểm:
a) Cập nhật dữ liệu ca bệnh: Có trách nhiệm cập nhật đầy đủ thông tin dịch tễ, lâm sàng của các ca bệnh được lựa chọn ngay sau khi hoàn thành việc lấy mẫu (theo biểu mẫu của từng loại bệnh giám sát);
b) Báo cáo tuần: Chốt số liệu và gửi báo cáo tuần (bao gồm số liệu ca bệnh và tình hình gửi mẫu) trước 14h00 ngày thứ Hai của tuần kế tiếp, theo biểu mẫu 1 tại Phụ lục 4.
2. Chế độ báo cáo, phân tích của các Viện chuyên ngành: Các Viện Vệ sinh dịch tễ, Viện Pasteur có trách nhiệm:
a) Cập nhật kết quả xét nghiệm (bao gồm định danh tác nhân, kiểu gen, kết quả kháng thuốc);
b) Báo cáo tháng: Tổng hợp, phân tích số liệu, nhận định xu hướng dịch tễ và sự biến đổi của tác nhân gây bệnh trong khu vực phụ trách, gửi về Cục Phòng bệnh trước ngày 10 của tháng kế tiếp, theo biểu mẫu 1 tại Phụ lục 4;
c) Báo cáo năm: Đánh giá toàn diện hoạt động giám sát trọng điểm, theo biểu mẫu 2 tại Phụ lục 4.
3. Cơ chế phản hồi thông tin: Các Viện Vệ sinh dịch tễ, Pasteur và Trung tâm Kiểm soát bệnh tật cấp tỉnh có trách nhiệm gửi bản tin phản hồi định kỳ kết quả giám sát cho các cơ sở y tế tham gia lấy mẫu.
4. Chia sẻ thông tin và mẫu bệnh phẩm:
a) Kết quả giám sát trọng điểm phải được chia sẻ kịp thời giữa các cơ sở y tế;
b) Thực hiện chia sẻ thông tin dịch tễ, mẫu bệnh phẩm, chủng vi rút và dữ liệu trình tự gen với hệ thống giám sát quốc tế và Tổ chức Y tế Thế giới theo quy định của pháp luật và các cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Điều 17. Trách nhiệm tổ chức thực hiện giám sát trọng điểm
1. Các cơ sở y tế thực hiện giám sát trọng điểm:
a) Triển khai và thực hiện chế độ báo cáo theo quy định tại của Thông tư này và hướng dẫn, quy trình chuyên môn của Bộ Y tế;
b) Quản trị dữ liệu: rà soát, kiểm tra đảm bảo tính chính xác của dữ liệu báo cáo lên hệ thống.
2. Đối với Trung tâm Kiểm soát bệnh tật cấp tỉnh:
a) Phối hợp tập huấn, theo dõi, đôn đốc và giám sát việc thực hiện, chất lượng báo cáo của các đơn vị;
b) Quản trị dữ liệu: Tiếp nhận, rà soát, kiểm tra tính chính xác của dữ liệu do các cơ sở y tế thực hiện giám sát trọng điểm báo cáo lên hệ thống.
c) Thực hiện tổng hợp báo cáo theo quy định.
3. Đối với Sở Y tế:
a) Chỉ đạo thực hiện giám sát trọng điểm tại các cơ sở y tế thực hiện giám sát trọng điểm trên địa bàn quản lý;
b) Tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố để bố trí kinh phí cho các đơn vị triển khai và duy trì thực hiện giám sát trọng điểm.
4. Đối với các Viện Vệ sinh dịch tễ, Pasteur:
a) Xây dựng hướng dẫn, quy trình chuyên môn thực hiện giám sát trọng điểm theo phân công của Bộ Y tế;
b) Tập huấn, theo dõi, đôn đốc và giám sát việc thực hiện, đảm bảo chất lượng báo cáo của các đơn vị;
c) Thực hiện báo cáo theo quy định tại Thông tư này. Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương là đầu mối tổng hợp, báo cáo kết quả giám sát trọng điểm trên toàn quốc và báo cáo về Cục Phòng bệnh để tổng hợp.
5. Cục Phòng bệnh:
a) Đầu mối trình cấp có thẩm quyền phê duyệt kế hoạch triển khai giám sát trọng điểm;
b) Chỉ đạo, phối hợp triển khai tập huấn, theo dõi, đôn đốc và giám sát việc thực hiện, đảm bảo chất lượng giám sát trọng điểm trên toàn quốc;
6. Cục Quản lý khám, chữa bệnh: Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát và đôn đốc các cơ sở khám, chữa bệnh thực hiện giám sát trọng điểm theo quy định tại Thông tư này.
GIÁM SÁT DỰA VÀO SỰ KIỆN
Điều 18. Thu thập, tiếp nhận thông tin dấu hiệu cảnh báo
1. Nguồn thông tin thu thập dấu hiệu cảnh báo bao gồm:
a) Từ cộng đồng: Thông tin phản ánh từ người dân, cộng tác viên y tế, nhân viên y tế thôn bản; thông báo từ cơ sở giáo dục, cơ sở sản xuất kinh doanh, cơ sở bán lẻ thuốc và các tổ chức đoàn thể xã hội;
b) Từ cơ sở y tế: Thông tin về các chùm ca bệnh lâm sàng chưa rõ nguyên nhân, sự gia tăng bất thường số lượng người bệnh, hoặc các sự kiện y tế bất thường khác được ghi nhận tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh (nhà nước và tư nhân), cơ sở xét nghiệm và cơ sở y tế dự phòng;
c) Từ truyền thông và mạng xã hội: Thông tin về dịch bệnh được đăng tải trên báo chí, trang tin điện tử, mạng xã hội và các kênh thông tin đại chúng khác;
d) Từ các cơ quan, ban ngành khác: Thông tin chia sẻ từ ngành thú y (dịch bệnh trên động vật), ngành tài nguyên môi trường, ngành công an và các cơ quan chức năng liên quan theo cơ chế phối hợp Một sức khỏe.
2. Tiếp nhận thông tin:
a) Trạm Y tế cấp xã: Là đầu mối tiếp nhận thông tin ban đầu từ các nguồn tại cộng đồng và cơ sở y tế trên địa bàn quản lý;
b) Trung tâm Y tế cấp khu vực và Trung tâm Kiểm soát bệnh tật cấp tỉnh: Là đầu mối tiếp nhận thông tin từ các cơ sở y tế tuyến khu vực, tuyến tỉnh, từ cơ quan báo chí và từ các cơ quan ban ngành cùng cấp.
Điều 19. Quy trình sàng lọc, xác minh và đánh giá nguy cơ
1. Sàng lọc thông tin: Trong vòng 12 giờ kể từ khi tiếp nhận thông tin dấu hiệu cảnh báo, đơn vị đầu mối có trách nhiệm thực hiện sàng lọc để loại bỏ các thông tin trùng lặp, thông tin thiếu chính xác và xác định các sự kiện cần tiến hành xác minh.
2. Xác minh sự kiện:
a) Đơn vị tiếp nhận thông tin có trách nhiệm tổ chức xác minh hoặc phối hợp với các đơn vị liên quan để xác minh tính xác thực của sự kiện; trường hợp vượt quá khả năng phải báo cáo ngay cơ quan y tế cấp trên trực tiếp để được hỗ trợ;
b) Thời gian hoàn thành việc xác minh không quá 24 giờ kể từ khi sàng lọc thông tin;
c) Nội dung xác minh bao gồm: Tính chính xác của sự kiện; thời gian, địa điểm xảy ra; số lượng người mắc, người tử vong (nếu có); đặc điểm lâm sàng, dịch tễ sơ bộ và tình trạng hiện tại của sự kiện.
3. Đánh giá nguy cơ: Thực hiện đánh giá nguy cơ theo quy định tại Điều 36 Thông tư này.
Điều 20. Đáp ứng và báo cáo giám sát dựa vào sự kiện
1. Tổ chức đáp ứng:
a) Trường hợp sự kiện có nguy cơ: Đơn vị y tế địa phương phải kích hoạt ngay quy trình đáp ứng y tế khẩn cấp, bao gồm: điều tra dịch tễ chi tiết, lấy mẫu xét nghiệm, khoanh vùng, xử lý môi trường và triển khai các biện pháp phòng chống dịch theo quy định;
b) Trường hợp sự kiện không có nguy cơ hoặc nguy cơ thấp: Ghi nhận kết quả vào hồ sơ giám sát và tiếp tục theo dõi;
2. Chế độ báo cáo sự kiện (Báo cáo đột xuất): Đối với các sự kiện đã được xác minh là có nguy cơ gây dịch hoặc ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng, đơn vị phải thực hiện báo cáo ngay (trong vòng 24 giờ) thông qua hệ thống, phần mềm hoặc báo cáo trực tiếp qua điện thoại, thư điện tử cho cơ quan quản lý cấp trên để chỉ đạo kịp thời.
3. Chế độ báo cáo hoạt động (Báo cáo định kỳ):
a) Trạm Y tế cấp xã tổng hợp kết quả hoạt động giám sát dựa vào sự kiện (số lượng tin báo, kết quả xác minh, xử lý) vào báo cáo tháng gửi Trung tâm Kiểm soát bệnh tật cấp tỉnh;
b) Trung tâm Kiểm soát bệnh tật cấp tỉnh tổng hợp, phân tích tình hình giám sát dựa vào sự kiện trên toàn tỉnh, lồng ghép trong báo cáo tháng gửi các Viện Vệ sinh dịch tễ, Pasteur và Cục Phòng bệnh (Bộ Y tế).
Điều 21. Hình thức báo cáo giám sát dựa vào sự kiện
1. Báo cáo bằng hệ thống, phần mềm:
a) Các đơn vị thực hiện ghi nhận, cập nhật số liệu và báo cáo trực tiếp vào hệ thống hoặc công cụ trực tuyến về giám sát dựa vào sự kiện (phần mềm) theo Điều 7 Thông tư này;
b) Dữ liệu trên hệ thống, phần mềm là cơ sở để đánh giá kết quả thực hiện của đơn vị.
2. Báo cáo bằng văn bản hoặc tệp tin điện tử: Hình thức này chỉ áp dụng trong trường hợp đơn vị chưa thực hiện được báo cáo trực tuyến hoặc hệ thống gặp sự cố. Các đơn vị thực hiện theo quy định sau:
a) Gửi báo cáo bằng văn bản qua đường công văn hoặc gửi tệp tin điện tử (bản scan hoặc file mềm) qua thư điện tử công vụ;
b) Nội dung báo cáo tuân thủ các Biểu mẫu quy định tại Phụ lục 5 ban hành kèm theo Hướng dẫn này;
c) Ngay sau khi hệ thống, phần mềm hoạt động trở lại hoặc đủ điều kiện kết nối, đơn vị phải cập nhật dữ liệu vào hệ thống, phần mềm.
3. Báo cáo khẩn cấp: Trong trường hợp khẩn cấp hoặc khi phát hiện các sự kiện có nguy cơ cao cần đáp ứng ngay:
a) Thực hiện báo cáo nhanh qua điện thoại hoặc báo cáo trực tiếp cho đơn vị đầu mối tuyến trên;
b) Sau khi báo cáo nhanh, đơn vị phải thực hiện ghi nhận và báo cáo chính thức trên công cụ trực tuyến hoặc bằng văn bản trong vòng 24 giờ theo quy định.
Mục 5
GIÁM SÁT DỰA VÀO HỘI CHỨNG
Điều 22. Các hội chứng bệnh truyền nhiễm ưu tiên giám sát
1. Các nhóm hội chứng ưu tiên giám sát bao gồm:
a) Hội chứng Cúm (ILI) và Viêm phổi nặng do vi rút (SVP): Sốt kèm theo ho hoặc đau họng, khó thở;
b) Hội chứng Sốt phát ban: Sốt kèm theo phát ban dạng sởi hoặc xuất huyết dưới da;
c) Hội chứng Liệt mềm cấp (AFP): Yếu hoặc liệt mềm chi khởi phát đột ngột;
d) Hội chứng Tiêu chảy cấp: Tiêu chảy phân nước hoặc có máu, nôn mửa nhiều;
đ) Hội chứng Viêm màng não/Viêm não: Sốt kèm theo đau đầu dữ dội, nôn vọt, cứng gáy hoặc rối loạn tri giác;
e) Hội chứng Vàng da cấp: Vàng da, vàng mắt khởi phát cấp tính;
g) Các hội chứng khác theo quy định của Bộ Y tế phù hợp với tình hình dịch tễ trong từng giai đoạn.
2. Nội dung, phương pháp, kỹ thuật theo Hướng dẫn chuyên môn của Bộ Y tế về giám sát cho mỗi loại hội chứng..
Điều 23. Phương thức và nguồn thu thập dữ liệu giám sát hội chứng
1. Tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh:
a) Thu thập dữ liệu hàng ngày về số lượng người bệnh đến khám (ngoại trú, cấp cứu) và nhập viện nội trú có các biểu hiện lâm sàng phù hợp với định nghĩa hội chứng cần giám sát;
b) Dữ liệu được trích xuất tự động từ Hệ thống thông tin bệnh viện (HIS) hoặc phần mềm quản lý khám chữa bệnh theo mã bệnh (ICD-10) hoặc theo lý do vào viện (triệu chứng chính).
2. Tại cộng đồng và các nguồn dữ liệu thay thế:
a) Giám sát tại nhà thuốc: Thu thập dữ liệu về số lượng thuốc hạ sốt, thuốc điều trị triệu chứng hô hấp, tiêu hóa bán ra hàng ngày tại các cơ sở bán lẻ thuốc được lựa chọn;
b) Giám sát tại trường học, cơ sở làm việc: Theo dõi tỷ lệ nghỉ học, nghỉ làm không rõ nguyên nhân hoặc do ốm đau vượt quá mức bình thường;
c) Giám sát thông tin tìm kiếm: Theo dõi xu hướng từ khóa tìm kiếm về triệu chứng bệnh trên các công cụ tìm kiếm trực tuyến và mạng xã hội (nếu có công cụ hỗ trợ).
Điều 24. Quy trình phân tích và phát hiện dấu hiệu cảnh báo
1. Thiết lập ngưỡng cảnh báo: Hệ thống thông tin giám sát hoặc đơn vị đầu mối có trách nhiệm thiết lập đường cong chuẩn (số liệu trung bình) của từng hội chứng theo thời gian (tuần/tháng) dựa trên số liệu lịch sử của ít nhất 03 năm liền kề.
2. Phân tích so sánh: So sánh số liệu thực tế thu thập được trong ngày hoặc trong tuần với ngưỡng cảnh báo đã thiết lập để phát hiện sự gia tăng đột biến.
3. Xác định dấu hiệu cảnh báo khi có một trong các dấu hiệu sau:
a) Số lượng ca mắc hội chứng vượt quá ngưỡng trung bình cộng với 02 độ lệch chuẩn (Mean + 2SD);
b) Ghi nhận sự xuất hiện chùm ca bệnh (cluster) có cùng hội chứng tại cùng một địa điểm, thời gian;
c) Ghi nhận các hội chứng lạ chưa từng xuất hiện hoặc có diễn biến lâm sàng nặng, tử vong nhanh chưa rõ nguyên nhân.
Điều 25. Đáp ứng với dấu hiệu cảnh báo từ giám sát hội chứng
1. Ngay khi hệ thống phát hiện dấu hiệu cảnh báo, Trung tâm Kiểm soát bệnh tật cấp tỉnh có trách nhiệm chỉ đạo Trạm Y tế hoặc Đội đáp ứng nhanh tiến hành xác minh trong vòng 24 giờ.
2. Nội dung xác minh bao gồm:
a) Kiểm tra lại tính chính xác của dữ liệu;
b) Đánh giá sơ bộ quy mô, đặc điểm dịch tễ của các ca bệnh;
c) Lấy mẫu bệnh phẩm ngẫu nhiên của các trường hợp mắc hội chứng để xét nghiệm xác định tác nhân (nếu cần thiết).
Nếu kết quả xác minh khẳng định có nguy cơ bùng phát dịch, phải chuyển sang quy trình điều tra, xử lý ổ dịch và báo cáo theo quy định tại Mục 2 Chương II Thông tư này.
Điều 26. Hình thức báo cáo giám sát dựa vào hội chứng
1. Báo cáo bằng hệ thống, phần mềm:
a) Dữ liệu về các ca bệnh có mã bệnh (ICD-10) hoặc lý do vào viện phù hợp với định nghĩa hội chứng cần giám sát được trích xuất tự động từ phần mềm của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh để kết nối, liên thông với hệ thống theo Điều 7 Thông tư này;
b) Đối với giám sát tại nhà thuốc, trường học, cơ sở làm việc: Thực hiện báo cáo bằng hệ thống, phần mềm hoặc thực hiện kết nối, liên thông với hệ thống theo Điều 7 Thông tư này.
2. Báo cáo bằng văn bản hoặc tệp tin điện tử:
a) Áp dụng cho các đơn vị chưa triển khai được hệ thống, phần mềm hoặc khi hệ thống, phần mềm gặp sự cố kỹ thuật;
b) Đơn vị gửi báo cáo theo biểu mẫu quy định qua thư điện tử công vụ hoặc hệ thống quản lý văn bản điện tử.
3. Báo cáo đột xuất, khẩn cấp: Áp dụng trong trường hợp số liệu giám sát hội chứng vượt quá ngưỡng cảnh báo hoặc ghi nhận các hội chứng lạ, nghiêm trọng. Đơn vị thực hiện báo cáo nhanh qua điện thoại, tin nhắn hoặc thư điện tử trước khi thực hiện báo cáo chính thức trên hệ thống.
Điều 27. Chế độ báo cáo giám sát dựa vào hội chứng
1. Báo cáo tuần: Được tổng hợp và báo cáo với tần suất hàng tuần theo biểu mẫu 1,2 của Phụ lục 6 kèm theo Thông tư này.
a) Đơn vị thực hiện báo cáo:
- Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh: Thực hiện rà soát và chuẩn hóa dữ liệu trích xuất từ phần mềm khám chữa bệnh, gửi báo cáo lên hệ thống trước 14h00 ngày thứ Hai của tuần kế tiếp;
- Trạm Y tế cấp xã: Tổng hợp số liệu giám sát từ các nhà thuốc, trường học, cơ sở làm việc trên địa bàn (nếu được phân công) và báo cáo cho Trung tâm Y tế cấp huyện trước 14h00 ngày thứ Hai của tuần kế tiếp;
- Trung tâm Kiểm soát bệnh tật cấp tỉnh: Tổng hợp, phân tích dữ liệu toàn tỉnh, nhận định các dấu hiệu cảnh báo và báo cáo về các Viện Vệ sinh dịch tễ, Pasteur và Cục Phòng bệnh trước 14h00 ngày thứ Ba của tuần kế tiếp.
b) Số liệu báo cáo tuần: Được tính từ 00h00 ngày thứ Hai đến 24h00 ngày Chủ nhật của tuần báo cáo.
2. Báo cáo đột xuất, khẩn cấp:
a) Thời điểm báo cáo: Thực hiện báo cáo theo biểu mẫu 3 của Phụ lục 6 kèm theo Thông tư này ngay khi hệ thống giám sát hoặc đơn vị phát hiện một trong các dấu hiệu cảnh báo sau:
- Số lượng ca mắc hội chứng vượt quá ngưỡng trung bình cộng với 02 độ lệch chuẩn (Mean + 2SD);
- Xuất hiện chùm ca bệnh có cùng hội chứng tại cùng một địa điểm, thời gian;
- Ghi nhận hội chứng lạ, diễn biến nặng hoặc tử vong nhanh chưa rõ nguyên nhân.
b) Quy trình báo cáo đột xuất, khẩn cấp:
- Đơn vị phát hiện (Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, Trạm y tế) phải thông báo ngay cho Trung tâm Kiểm soát bệnh tật cấp tỉnh hoặc Trung tâm Y tế khu vực trong vòng 24 giờ kể từ khi phát hiện dấu hiệu cảnh báo;
- Trung tâm Kiểm soát bệnh tật cấp tỉnh có trách nhiệm xác minh, đánh giá sơ bộ và báo cáo Viện Vệ sinh dịch tễ, Pasteur và Cục Phòng bệnh kết quả xác minh trong vòng 24 giờ tiếp theo;
3. Phản hồi thông tin: Trung tâm Kiểm soát bệnh tật cấp tỉnh và các Viện Vệ sinh dịch tễ, Pasteur có trách nhiệm phân tích biểu đồ đường cong dịch tễ của các hội chứng, xác định ngưỡng cảnh báo và phản hồi thông tin cho các đơn vị gửi báo cáo hàng tuần để chủ động triển khai các biện pháp đáp ứng.
Mục 6
khai báo THÔNG TIN VỀ bệnh truyền nhiễm
Điều 28. Đối tượng và thời điểm khai báo
1. Đối tượng bắt buộc khai báo khi có quyết định của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc khai báo và chấm dứt áp dụng khai báo y tế: Người đi về từ vùng có dịch hoặc có tiếp xúc gần với người mắc bệnh, người nghi ngờ mắc bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A, một số bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm B phải được cách ly y tế trong khoảng thời gian ủ bệnh.
2. Đối tượng tự khai báo
a) Người mắc bệnh hoặc nghi ngờ mắc bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A, một số bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm B phải được cách ly y tế, bệnh truyền nhiễm mới nổi hoặc các bệnh được thông tin dịch bệnh;
b) Người có các triệu chứng lâm sàng nghi ngờ mắc bệnh truyền nhiễm khi có yêu cầu của cơ quan y tế có thẩm quyền để phục vụ công tác truy vết, khoanh vùng dịch.
Điều 29. Hình thức khai báo
Lựa chọn một trong các hình thức khai báo sau đây:
1. Khai báo điện tử: Thực hiện trên ứng dụng định danh quốc gia (VNeID), Sổ sức khỏe điện tử hoặc các nền tảng ứng dụng, trang thông tin điện tử khai báo y tế do Bộ Y tế hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định.
2. Khai báo trực tiếp: Đến trực tiếp hoặc thông báo qua điện thoại cho Trạm Y tế cấp xã, nhân viên y tế thôn bản, cộng tác viên y tế hoặc Tổ trưởng tổ dân phố nơi cư trú/lưu trú.
Điều 30. Nội dung, thời gian khai báo và trách nhiệm tiếp nhận và xử lý thông tin khai báo:
1. Nội dung: Người khai báo thực hiện cung cấp thông tin theo Biểu mẫu của Phụ lục 2.2 ban hành kèm theo Thông tư này; nội dung khai báo phải bảo đảm tính trung thực, chính xác và đầy đủ, bao gồm: thông tin cá nhân, tình trạng sức khỏe, lịch trình di chuyển và tiền sử tiếp xúc.
2. Thời gian: Việc khai báo phải được thực hiện ngay sau khi người dân tự phát hiện các dấu hiệu quy định tại Điều 27 hoặc khi có yêu cầu của nhân viên y tế; thời gian hoàn thành khai báo chậm nhất không quá 24 giờ kể từ thời điểm phát hiện hoặc nhận được yêu cầu.
3. Trách nhiệm tiếp nhận và xử lý thông tin khai báo: Trạm Y tế cấp xã, nhân viên y tế thôn bản và các cơ sở y tế khi nhận được thông tin khai báo của người dân phải có trách nhiệm tiếp nhận, ghi vào sổ theo dõi và tiến hành xác minh trong thời gian sớm nhất.
Mục 7
Tiêu chí xác định phân loại nhóm bệnh truyền nhiễm; tiêu chí xác định dịch bệnh theo khả năng, điều kiện ứng phó, khắc phục hậu quả
Điều 31. Tiêu chí xác định phân loại nhóm bệnh truyền nhiễm
Các bệnh truyền nhiễm được phân loại dựa vào 4 nhóm tiêu chí như sau:
- Tiêu chí về mức độ nghiêm trọng của bệnh;
- Tiêu chí về khả năng lây lan;
- Tiêu chí về khả năng can thiệp bằng vắc xin và thuốc điều trị đặc hiệu;
- Tiêu chí về mức độ lưu hành và tiềm năng gây dịch, đại dịch.
Mỗi nhóm tiêu chí sẽ chấm điểm theo thang điểm 3 với mức độ thấp, trung bình, cao tương ứng (chi tiết xem phụ lục 3). Tổng điểm của 4 tiêu chí sẽ là cơ sở để phân loại bệnh truyền nhiễm, cụ thể như sau:
1. Bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A là các bệnh truyền nhiễm đặc biệt nguy hiểm có tổng điểm theo các tiêu chí đạt từ 10-12 điểm hoặc là bệnh truyền nhiễm thuộc 1 trong các bệnh truyền nhiễm sau:
- Bệnh truyền nhiễm mới phát sinh, chưa rõ tác nhân gây bệnh;
- Bệnh truyền nhiễm đã được thanh toán ở Việt Nam;
- Bệnh truyền nhiễm có nguy cơ đe doạ nghiêm trọng đến an ninh y tế quốc gia.
2. Bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm B là các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, bao gồm các bệnh có tổng điểm theo các tiêu chí đạt từ 7 - 9 điểm.
3. Bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm C là các bệnh truyền nhiễm ít nguy hiểm, bao gồm các bệnh có tổng điểm theo các tiêu chí đạt từ 4 - 6 điểm
4. Nguyên tắc rà soát, điều chỉnh danh mục và phân loại nhóm bệnh:
a) Việc phân loại và điều chỉnh bệnh truyền nhiễm từ nhóm này sang nhóm khác được thực hiện căn cứ vào diễn biến thực tế của dịch bệnh, sự biến đổi của tác nhân gây bệnh, khả năng đáp ứng của hệ thống y tế và các bằng chứng khoa học cập nhật trong nước và quốc tế;
b) Cục Phòng bệnh chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức đánh giá nguy cơ, tham khảo ý kiến Hội đồng chuyên môn để đề xuất Bộ trưởng Bộ Y tế quyết định việc bổ sung mới hoặc điều chỉnh nhóm bệnh truyền nhiễm.
Điều 32. Tiêu chí xác định dịch bệnh trong khả năng, điều kiện ứng phó, khắc phục hậu quả về dịch bệnh của lực lượng chuyên trách, kiêm nhiệm và các lực lượng khác trên địa bàn cấp xã
1. Tiêu chí xác định về chuyên môn y tế:
a) Đối với bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A: khi có ít nhất một người bệnh được chẩn đoán xác định;
b) Đối với bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm B và nhóm C: khi có số người mắc bệnh trong tháng vượt quá số mắc trung bình của tháng cùng kỳ 03 năm gần nhất cộng với 2 lần độ lệch chuẩn hoặc khi có số người mắc bệnh vượt số mắc cao nhất của tháng cùng kỳ trong vòng 03 năm gần nhất trong trường hợp không thường xuyên ghi nhận trường hợp bệnh theo tháng cùng kỳ.
2. Tiêu chí về khả năng, điều kiện ứng phó, khắc phục hậu quả về dịch bệnh:
Dịch bệnh trên địa bàn xã có xu hướng không tăng hoặc giảm sau khoảng thời gian bằng 02 lần thời gian ủ bệnh trung bình tính từ thời điểm trường hợp bệnh cuối cùng của tháng gần nhất và các lực lượng chuyên trách, kiêm nhiệm, các lực lượng khác trên địa bàn cấp xã đã triển khai các biện pháp phòng, chống dịch bệnh.
§Điều 33. Tiêu chí xác định dịch bệnh trong phạm vi địa bàn cấp xã vượt quá khả năng, điều kiện ứng phó, khắc phục hậu quả của lực lượng chuyên trách, kiêm nhiệm và các lực lượng khác trên địa bàn cấp xã (Phòng thủ dân sự cấp độ 1)
Dịch bệnh trên địa bàn xã có xu hướng tiếp tục tăng sau khoảng thời gian bằng 02 lần thời gian ủ bệnh trung bình tính từ thời điểm trường hợp bệnh cuối cùng của tháng gần nhất và các lực lượng chuyên trách, kiêm nhiệm, các lực lượng khác trên địa bàn cấp xã đã triển khai các biện pháp phòng, chống dịch bệnh.
Điều 34. Tiêu chí xác định dịch bệnh trong phạm vi địa bàn cấp tỉnh vượt quá khả năng, điều kiện ứng phó, khắc phục hậu quả của chính quyền địa phương cấp xã (Phòng thủ dân sự cấp độ 2)
1. Tiêu chí xác định về chuyên môn y tế:
a) Dịch bệnh ở mức phòng thủ dân sự cấp độ 1 xảy ra ở 03 xã trở lên;
b) Dịch bệnh ở mức phòng thủ dân sự cấp độ 1 xảy ra ở 01 hoặc 02 xã nhưng tiếp tục tăng sau khoảng thời gian bằng 02 lần thời gian ủ bệnh trung bình tính từ thời điểm trường hợp bệnh cuối cùng của tháng gần nhất.
2. Tiêu chí về khả năng, điều kiện ứng phó, khắc phục hậu quả về dịch bệnh:
Dịch bệnh trên địa bàn xã có xu hướng tiếp tục tăng sau khoảng thời gian bằng 02 lần thời gian ủ bệnh trung bình tính từ thời điểm trường hợp bệnh cuối cùng của tháng gần nhất và các lực lượng chuyên trách, kiêm nhiệm, các lực lượng khác trên địa bàn cấp xã đã triển khai các biện pháp phòng, chống dịch bệnh.
Điều 35. Tiêu chí xác định dịch bệnh trên địa bàn một hoặc một số tỉnh, thành phố vượt quá khả năng, điều kiện ứng phó, khắc phục hậu quả của chính quyền địa phương cấp tỉnh (Phòng thủ dân sự cấp độ 3)
1. Tiêu chí xác định về chuyên môn y tế
a) Dịch bệnh ở mức phòng thủ dân sự cấp độ 2 xảy ra ở 03 xã trở lên trên địa bàn 01 tỉnh; hoặc
b) Dịch bệnh ở mức phòng thủ dân sự cấp độ 2 xảy ra ở địa bàn cấp xã của 02 tỉnh trở lên.
2. Tiêu chí về khả năng, điều kiện ứng phó, khắc phục hậu quả về dịch bệnh
Dịch bệnh trên địa bàn xã có xu hướng tiếp tục tăng sau khoảng thời gian bằng 02 lần thời gian ủ bệnh trung bình tính từ thời điểm trường hợp bệnh cuối cùng của tháng gần nhất và các lực lượng chuyên trách, kiêm nhiệm, các lực lượng khác trên địa bàn cấp tỉnh đã triển khai các biện pháp phòng, chống dịch bệnh.
Mục 8
Đánh giá nguy cơ, cảnh báo dịch bệnh truyền nhiễm; điều tra xác định và báo CÁO, THÔNG TIN bệnh truyền nhiễm, dịch bệnh truyền nhiễm
Điều 36. Đánh giá nguy cơ dịch bệnh truyền nhiễm
1. Đánh giá nguy cơ được thực hiện khi phát hiện dấu hiệu cảnh báo hoặc xảy ra dịch bệnh truyền nhiễm gồm: bệnh truyền nhiễm trên địa bàn có dấu hiệu gia tăng hoặc lan rộng bất thường; có sự thay đổi về đặc điểm tác nhân gây bệnh, trung gian truyền bệnh; có nguy cơ xâm nhập bệnh truyền nhiễm từ bên ngoài; các yếu tố làm gia tăng nguy cơ bùng phát dịch; phát hiện bệnh truyền nhiễm mới nổi hoặc tài nổi hoặc bệnh chưa rõ nguyên nhân; sự cố an toàn sinh học; hệ thống y tế có nguy cơ quá tải hoặc giảm khả năng đáp ứng; đánh giá định kỳ hàng tháng/hàng quý: với các bệnh truyền nhiễm lưu hành, đặc biệt đối với các bệnh có nguy cơ bùng phát dịch theo chu kỳ hay đột xuất.
2. Cơ quan chuyên môn y tế các tuyến tổ chức, thực hiện đánh giá nguy cơ theo hướng dẫn chuyên môn của Bộ Y tế để xác định khả năng xảy ra và mức độ ảnh hưởng của dịch bệnh đối với sức khỏe cộng đồng trong một khoảng thời gian và địa điểm cụ thể, từ đó đưa ra các khuyến nghị, đề xuất công tác chuẩn bị, ứng phó và quản lý nguy cơ, cảnh báo dịch bệnh.
Điều 37. Cảnh báo dịch bệnh truyền nhiễm
1. Tiêu chí cảnh báo dịch bệnh truyền nhiễm
Cảnh báo dịch bệnh truyền nhiễm được thực hiện khi có một trong các tiêu chí sau:
a) Khi số người mắc bệnh trong tháng vượt quá số mắc trung bình 3 - 5 năm của tháng cùng kỳ;
b) Khi có một trường hợp bệnh thuộc nhóm A xâm nhập được phát hiện, cách ly ngay;
c) Có sự gia tăng bất thường về trường hợp nặng hoặc tử vong bệnh truyền nhiễm hoặc có sự biến đổi gien của mầm bệnh truyền nhiễm;
d) Kết quả đánh giá nguy cơ dịch bệnh truyền nhiễm từ mức trung bình trở lên;
đ) Thông tin từ hệ thống giám sát quốc tế, Tổ chức Y tế thế giới (WHO), các quốc gia khác về dịch bệnh có nguy cơ xâm nhập Việt Nam.
2. Nội dung cảnh báo bệnh truyền nhiễm
Cơ quan chuyên môn y tế các tuyến thực hiện cảnh báo bằng văn bản gồm:
a) Tên bệnh truyền nhiễm, mầm bệnh truyền nhiễm (nếu xác định được);
b) Địa bàn, phạm vi, đối tượng ảnh hưởng;
c) Kết quả đánh giá nguy cơ (nếu có), xu hướng tiến triển;
d) Các biện pháp, khuyến cáo phòng, chống dịch bệnh;
đ) Đề xuất cấp độ dịch bệnh (nếu có).
Điều 38. Điều tra xác định dịch bệnh truyền nhiễm
1. Các bước điều tra ổ dịch, dịch bệnh truyền nhiễm
Trình tự các bước điều tra xác định ổ dịch, dịch bệnh truyền nhiễm có thể linh hoạt tùy theo tính chất ổ dịch, dịch bệnh truyền nhiễm, bao gồm:
a) Chuẩn bị điều tra ổ dịch, dịch bệnh truyền nhiễm;
b) Xác minh chẩn đoán;
c) Khẳng định sự tồn tại của ổ dịch, dịch bệnh truyền nhiễm;
d) Định nghĩa trường hợp bệnh, căn cứ tiêu chuẩn chẩn đoán về lâm sàng, dịch tễ và xét nghiệm để xác định người mắc bệnh, người bị nghi ngờ mắc bệnh và trường hợp mắc bệnh đầu tiên;
đ) Tiến hành mô tả ổ dịch theo 3 yếu tố thời gian, địa điểm và con người;
e) Xây dựng giả thuyết về ổ dịch, dịch, nguồn lây và tác nhân, phương thức, đường lây truyền, yếu tố trung gian truyền bệnh hoặc véc tơ, sự phơi nhiễm, các yếu tố nguy cơ;
f) Đánh giá và kiểm định giả thuyết;
g) Hoàn thiện giả thuyết và thực hiện nghiên cứu bổ sung;
h) Đề xuất các biện pháp phòng ngừa và kiểm soát;
i) Thông báo kết quả điều tra ổ dịch, dịch bệnh truyền nhiễm;
2. Xử lý ổ dịch, dịch bệnh truyền nhiễm
Khi có ổ dịch, dịch bệnh truyền nhiễm, các đơn vị chịu trách nhiệm đáp ứng trên địa bàn quản lý hành chính được phân công xây dựng kế hoạch phòng chống dịch, chuẩn bị và tiến hành xử lý ổ dịch, dịch bệnh truyền nhiễm như sau:
a) Chuẩn bị xử lý ổ dịch, dịch bệnh truyền nhiễm
- Nhân lực: Đội đáp ứng nhanh theo hướng dẫn của Bộ Y tế hoặc cán bộ được phân công;
- Đề xuất hỗ trợ phòng, chống dịch (nếu cần): xác định tuyến sẽ hỗ trợ, cơ sở, phương thức, thời gian, nội dung hỗ trợ của tuyến trên và liên ngành;
- Thuốc, vắc xin, hoá chất, sinh phẩm, vật tư thu thập đóng gói, bảo quản và vận chuyển mẫu bệnh phẩm, trang thiết bị xử lý ổ dịch, dịch bệnh truyền nhiễm; trang thiết bị cấp cứu và các dụng cụ y tế khác;
- Chuẩn bị điều kiện đảm bảo phòng lây nhiễm cho nhân viên y tế, cán bộ tham gia phòng, chống dịch và người tiếp xúc;
- Dự toán kinh phí cho điều tra và các hoạt động xử lý ổ dịch, dịch bệnh truyền nhiễm.
b) Hoạt động xử lý ổ dịch, dịch bệnh truyền nhiễm
Dựa trên kết quả điều tra ổ dịch, dịch bệnh truyền nhiễm để lựa chọn các biện pháp xử lý dịch, ổ dịch sau:
- Xử lý nguồn bệnh: thu dung, điều trị và quản lý các trường hợp mắc bệnh; cách ly y tế, cưỡng chế cách ly y tế; điều trị người mang mầm bệnh truyền nhiễm; xử lý chất thải của người, động vật, các nguồn truyền nhiễm khác;
- Xử lý đường truyền bệnh: thực hiện các biện pháp phòng chống trung gian truyền bệnh; vệ sinh môi trường, khử trùng tẩy uế khu vực có ổ dịch, dịch;
- Bảo vệ người mang mầm bệnh truyền nhiễm tại cộng đồng và người phơi nhiễm tại bệnh viện: vệ sinh, trang bị bảo vệ cá nhân; bảo đảm an toàn thực phẩm; điều trị dự phòng và tăng cường sức đề kháng của cơ thể; tiêm vắc xin phòng bệnh; truyền thông nguy cơ và truyền thông giáo dục sức khoẻ cộng đồng;
- Áp dụng các biện pháp phòng chống dịch đặc thù trong thời gian có dịch theo quy định hiện hành;
- Điều tra dịch tễ và xử lý các trường hợp tử vong do bệnh truyền nhiễm.
c) Bộ Y tế có hướng dẫn chuyên môn về xử lý ổ dịch, dịch bệnh truyền nhiễm đối với từng bệnh truyền nhiễm cụ thể.
Điều 39. Nguyên tắc, nội dung thông tin về dịch bệnh truyền nhiễm
1. Nguyên tắc thông tin:
a) Thông tin về dịch bệnh truyền nhiễm phải được công bố công khai, chính xác, kịp thời và đúng thẩm quyền quy định;
b) Nghiêm cấm việc che giấu thông tin, đưa tin sai lệch gây hoang mang dư luận hoặc gây thiệt hại đến kinh tế - xã hội;
c) Việc thông tin dịch bệnh phải gắn liền với các khuyến cáo, biện pháp phòng chống để người dân chủ động bảo vệ sức khỏe.
2. Nội dung thông tin dịch bệnh: Khi thông tin dịch bệnh hoặc cung cấp thông tin, cơ quan có thẩm quyền phải công khai các nội dung sau:
a) Tên dịch bệnh, tác nhân gây bệnh;
b) Thời gian, địa điểm, phạm vi và quy mô xảy ra dịch bệnh;
c) Các đặc điểm dịch tễ học: Đường lây truyền, mức độ nguy hiểm, số người mắc, số người tử vong;
d) Đánh giá cấp độ dịch bệnh: Dịch bệnh trong khả năng, điều kiện ứng phó, khắc phục hậu quả về dịch bệnh của lực lượng chuyên trách, kiêm nhiệm và các lực lượng khác trên địa bàn cấp xã hoặc tương ứng với các cấp độ phòng thủ dân sự;
đ) Các biện pháp phòng, chống dịch bệnh đã và đang triển khai; khuyến cáo đối với cộng đồng.
Điều 40. Báo cáo, thông tin dịch bệnh truyền nhiễm
1. Đối với dịch bệnh trong khả năng, điều kiện ứng phó, khắc phục hậu quả về dịch bệnh của lực lượng chuyên trách, kiêm nhiệm và các lực lượng khác trên địa bàn cấp xã:
a) Cơ quan thực hiện: Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã thông tin dịch bệnh theo đề nghị của Cơ quan chuyên môn về y tế cấp xã;
b) Quy trình thông tin dịch bệnh:
- Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi xác định tình hình dịch bệnh trên địa bàn cấp xã đạt các tiêu chí tại khoản 1 Điều 32, Trạm Y tế xã báo cáo tình hình dịch bệnh tới cơ quan chuyên môn về y tế của Uỷ ban nhân dân cấp xã, đồng thời báo cáo Sở Y tế;
- Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi nhận được báo cáo của Trạm Y tế cấp xã, Cơ quan chuyên môn về y tế cấp xã báo cáo Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã khi tình hình dịch bệnh đạt các tiêu chí quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 32, đề xuất Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ban hành thông tin dịch bệnh phù hợp với cấp độ dịch bệnh.
c) Quy trình thông tin khi hết dịch bệnh:
- Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi xác định tình hình dịch bệnh trên địa bàn cấp xã trở về dưới mức các tiêu chí tại khoản 1 Điều 32, Trạm Y tế xã báo cáo tình hình dịch bệnh tới cơ quan chuyên môn về y tế của Uỷ ban nhân dân cấp xã, đồng thời báo cáo Sở Y tế;
- Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi nhận được báo cáo của Trạm Y tế cấp xã, Cơ quan chuyên môn về y tế cấp xã báo cáo Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã khi tình hình dịch bệnh trở về dưới mức các tiêu chí quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 32, đề xuất Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ban hành thông tin hết dịch bệnh;
- Trạm Y tế cấp xã tiếp tục thực hiện việc báo cáo bệnh truyền nhiễm theo quy định sau khi Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã ban hành thông tin hết dịch bệnh.
2. Đối với dịch bệnh trong phạm vi địa bàn cấp xã vượt quá khả năng, điều kiện ứng phó, khắc phục hậu quả của lực lượng chuyên trách, kiêm nhiệm và các lực lượng khác trên địa bàn cấp xã (Phòng thủ dân sự cấp độ 1):
a) Cơ quan thực hiện: Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã thông tin dịch bệnh theo đề nghị của Cơ quan chuyên môn về y tế cấp xã;
b) Quy trình thông tin dịch bệnh:
- Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi xác định tình hình dịch bệnh trên địa bàn cấp xã đạt các tiêu chí tại Điều 33, Trạm Y tế xã báo cáo tình hình dịch bệnh tới cơ quan chuyên môn về y tế của Uỷ ban nhân dân cấp xã, đồng thời báo cáo Sở Y tế;
- Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi nhận được báo cáo của Trạm Y tế cấp xã, Cơ quan y tế cấp xã báo cáo Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã khi tình hình dịch bệnh đạt các tiêu chí quy định tại Điều 33, đề xuất Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ban hành thông tin dịch bệnh phù hợp với cấp độ dịch bệnh.
c) Quy trình thông tin khi hết dịch bệnh:
- Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi xác định tình hình dịch bệnh trên địa bàn cấp xã trở về dưới mức các tiêu chí tại Điều 33, Trạm Y tế xã báo cáo tình hình dịch bệnh tới cơ quan chuyên môn về y tế của Uỷ ban nhân dân cấp xã, đồng thời báo cáo Sở Y tế;
- Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi nhận được báo cáo của Trạm Y tế cấp xã, Cơ quan chuyên môn về y tế cấp xã báo cáo Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã khi tình hình dịch bệnh trở về dưới mức các tiêu chí quy định tại Điều 33, đề xuất Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ban hành thông tin hết dịch bệnh;
- Trạm Y tế cấp xã tiếp tục thực hiện việc báo cáo bệnh truyền nhiễm theo quy định sau khi Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã ban hành thông tin hết dịch bệnh.
3. Đối với dịch bệnh trong phạm vi địa bàn cấp tỉnh vượt quá khả năng, điều kiện ứng phó, khắc phục hậu quả của chính quyền địa phương cấp xã (Phòng thủ dân sự cấp độ 2):
a) Cơ quan thực hiện: Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh thông tin dịch bệnh theo đề nghị của Sở Y tế;
b) Quy trình thông tin dịch bệnh:
- Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi xác định tình hình dịch bệnh trên địa bàn cấp xã đạt các tiêu chí tại Điều 34, Uỷ ban nhân dân cấp xã báo cáo tình hình dịch bệnh tới Sở Y tế, đồng thời báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;
- Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi nhận được báo cáo của Trạm Y tế cấp xã, Sở Y tế báo cáo Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh khi tình hình dịch bệnh đạt các tiêu chí quy định tại Điều 34, đề xuất Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành thông tin dịch bệnh phù hợp với cấp độ dịch bệnh.
c) Quy trình thông tin khi hết dịch bệnh:
- Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi xác định tình hình dịch bệnh trên địa bàn cấp xã trở về dưới mức các tiêu chí tại Điều 34, Uỷ ban nhân dân cấp xã báo cáo tình hình dịch bệnh tới Sở Y, đồng thời báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;
- Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi nhận được báo cáo của Trạm Y tế cấp xã, Sở Y tế báo cáo Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh khi tình hình dịch bệnh trở về dưới mức các tiêu chí quy định tại Điều 34, đề xuất Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành thông tin hết dịch bệnh;
- Sở Y tế tiếp tục tổ chức thực hiện việc báo cáo bệnh truyền nhiễm theo quy định sau khi Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh ban hành thông tin hết dịch bệnh.
4. Đối với dịch bệnh trên địa bàn một hoặc một số tỉnh, thành phố vượt quá khả năng, điều kiện ứng phó, khắc phục hậu quả của chính quyền địa phương cấp tỉnh (Phòng thủ dân sự cấp độ 3):
a) Cơ quan thực hiện: Thủ tướng Chính phủ thông tin dịch bệnh theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Y tế;
b) Quy trình thông tin dịch bệnh:
- Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi xác định tình hình dịch bệnh trên địa bàn cấp tỉnh đạt các tiêu chí tại Điều 35, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh báo cáo tình hình dịch bệnh tới Bộ Y tế, đồng thời báo cáo Thủ tướng Chính phủ;
- Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi nhận được báo cáo của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, Bộ Y tế căn cứ báo cáo của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh khi tình hình dịch bệnh đạt các tiêu chí quy định tại Điều 35, đề xuất Thủ tướng Chính phủ ban hành thông tin dịch bệnh phù hợp với cấp độ dịch bệnh.
c) Quy trình thông tin khi hết dịch bệnh:
- Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi xác định tình hình dịch bệnh trên địa bàn cấp tỉnh trở về dưới mức các tiêu chí tại Điều 35, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh báo cáo tình hình dịch bệnh tới Bộ Y tế, đồng thời báo cáo Thủ tướng Chính phủ;
- Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi nhận được báo cáo của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, Bộ Y tế căn cứ báo cáo của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh khi tình hình dịch bệnh trở về dưới mức các tiêu chí quy định tại Điều 35, đề xuất Thủ tướng Chính phủ ban hành thông tin hết dịch bệnh;
- Bộ Y tế tiếp tục tổ chức thực hiện việc báo cáo bệnh truyền nhiễm theo quy định sau khi Thủ tướng Chính phủ ban hành thông tin hết dịch bệnh.
Chương III
GIÁM SÁT TRONG PHÒNG, CHỐNG BỆNH KHÔNG LÂY NHIỄM, RỐI LOẠN SỨC KHỎE TÂM THẦN VÀ DINH DƯỠNG TRONG PHÒNG BỆNH
Mục 1
GIÁM SÁT TRONG PHÒNG, CHỐNG BỆNH KHÔNG LÂY NHIỄM
Điều 41. Đối tượng giám sát
Đối tượng được giám sát bao gồm:
1. Người mắc bệnh không lây nhiễm:
a) Nhóm bệnh không lây nhiễm phổ biến
- Nhóm bệnh lý về ung thư: ung thư gan, ung thư phổi, ung thư vú, ung thư cổ tử cung, ung thư tiền liệt tuyến, ung thư đại tràng.
- Nhóm bệnh lý về tim mạch: tăng huyết áp, đột quỵ.
- Nhóm bệnh lý về rối loạn chuyển hoá: Đái tháo đường không phụ thuộc insulin (tuyp 2).
- Nhóm bệnh lý về hô hấp: bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính; hen phế quản.
- Nhóm bệnh lý về thận: bệnh thận mạn.
b) Các bệnh không lây nhiễm khác
(theo danh mục bệnh không lây nhiễm tại phụ lục 10).
2. Người tử vong do bệnh không lây nhiễm:
Toàn bộ các trường hơp tử vong do bệnh không lây nhiễm quy định tại khoản 1, Điều này.
3. Người có nguy cơ mắc bệnh không lây nhiễm:
Người có nguy cơ mắc bệnh không lây nhiễm là người có ít nhất một yếu tố nguy cơ gây bệnh không lây nhiễm quy định tại điểm b, Khoản 4 điều này.
4. Yếu tố nguy cơ gây bệnh không lây nhiễm:
a) Yếu tố nguy cơ liên quan đến hành vi, lối sống:
- Hút thuốc lá.
- Sử dụng rượu, bia.
- Dinh dưỡng không hợp lý.
- Thiếu hoạt động thể lực.
b) Yếu tố nguy cơ do rối loạn chuyển hóa:
- Chỉ số huyết áp cao (bao gồm cả tăng huyết áp).
- Thừa cân, béo phì (BMI> 23), vòng eo cao/béo bụng (vòng eo >80cm đối với nữ, vòng eo >90cm đối với nam).
- Đường huyết cao (bao gồm cả bệnh đái tháo đường).
- Rối loạn lipid máu (bao gồm cả cholesterol cao).
c) Yếu tố nguy cơ do ô nhiễm môi trường:
- Ô nhiễm không khí: bụi mịn PM2.5, khí CO.
- Ô nhiễm đất, nước: kim loại nặng (chì, thủy ngân, asen)
d) Yếu tố nguy cơ khác
- Yếu tố gia đình: Người cùng huyết thống (bố mẹ đẻ, anh chị em ruột) mắc các bệnh liên quan; chủng tộc.
- Yếu tố sinh học: Tuổi, giới.
Điều 42. Nội dung giám sát
1. Người mắc bệnh không lây nhiễm:
- Thông tin chung: Họ và tên, mã định danh cá nhân, tuổi, giới, dân tộc, nghề nghiệp, điện thoại liên lạc, địa chỉ nơi cư trú.
- Thông tin mắc bệnh:
Đối với từng bệnh cụ thể quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 41 cần thu thập các thông tin về bệnh được chẩn đoán, ngày phát hiện, cơ sở y tế chẩn đoán, quá trình quản lý điều trị bệnh.
Đối với từng bệnh cụ thể quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 41 cần thu thập các thông tin về bệnh được chẩn đoán, ngày phát hiện, cơ sở y tế chẩn đoán.
2. Người tử vong do bệnh không lây nhiễm:
- Thông tin chung: Họ và tên, mã định danh cá nhân, tuổi, giới, dân tộc, nghề nghiệp, địa chỉ nơi cư trú.
- Thông tin tử vong: ngày, nơi tử vong, đã khám/điều trị tại cơ sở y tế trong vòng 30 ngày trước khi tử vong, nguyên nhân chính gây tử vong, mã ICD.
- Thông tin về diễn biến bệnh trước khi tử vong: diễn biến, các triệu chứng, hội chứng bệnh tật dẫn đến tử vong và quá trình điều trị của người tử vong.
- Thông tin về bệnh mạn tính đã mắc: Người mất từng được chẩn đoán là mắc những bệnh mãn tính nào và năm được chẩn đoán, lịch sử điều trị.
3. Người có nguy cơ mắc bệnh không lây nhiễm:
- Thông tin chung: Họ và tên, mã định danh cá nhân, tuổi, giới, dân tộc, nghề nghiệp, điện thoại liên lạc, địa chỉ nơi cư trú.
- Thông tin về tình trạng sức khoẻ và yếu tố nguy cơ.
4. Yếu tố nguy cơ gây bệnh không lây nhiễm:
- Hút thuốc: tỷ lệ người hút thuốc và tiếp xúc với khói thuốc thụ động.
- Sử dụng rượu, bia: tỷ lệ người uống rượu bia, mức độ tiêu thụ cồn nguyên chất.
- Hoạt động thể lực: Tỷ lệ người thiếu hoạt động thể lực.
- Dinh dưỡng: tiêu thụ nhiều đường, muối, chất béo; tiêu thụ ít rau, trái cây; tiêu thụ thiếu/thừa năng lượng và các chất dinh dưỡng (Protein, Lipid, Gluxit) theo khuyến nghị của Bộ Y tế.
Mục 2
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG GIÁM SÁT TRONG PHÒNG, CHỐNG RỐI LOẠN TÂM THẦN
Điều 43. Đối tượng giám sát
1. Người mắc rối loạn tâm thần:
1.1. Người mắc một số rối loạn tâm thần phổ biến: tâm thần phân liệt, động kinh và trầm cảm, rối loạn lo âu, sa sút trí tuệ.
1.2. Người mắc rối loạn tâm thần khác: (theo phụ lục 10 danh mục rối loạn tâm thần)
2. Người tử vong do rối loạn tâm thần: Giám sát người tử vong có nguyên nhân chính do rối loạn tâm thần theo phân loại bệnh quốc tế.
3. Người có nguy cơ mắc rối loạn tâm thần
Người có nguy cơ mắc rối loạn tâm thần là người có tiền sử mắc rối loạn tâm thần hoặc có ít nhất một trong các yếu tố nguy cơ quy định tại khoản 4 Điều này.
4. Các yếu tố nguy cơ mắc rối loạn tâm thần
a) Yếu tố nguy cơ về sinh học, di truyền:
- Di truyền: Có người thân mắc rối loạn tâm thần làm tăng nguy cơ.
- Tổn thương não: Chấn thương sọ não, tai biến mạch máu não.
- Bệnh lý mạn tính: Đái tháo đường, tim mạch, ung thư, HIV/AIDS, động kinh.
- Giai đoạn sinh lý đặc biệt: Dậy thì, sau sinh, tiền mãn kinh – mãn kinh, người cao tuổi
b) Yếu tố nguy cơ về tâm lý:
- Stress kéo dài hoặc sang chấn tâm lý: Mất người thân, ly hôn, thất nghiệp
- Bạo lực gia đình, xâm hại, tai nạn, thảm họa
- Đặc điểm nhân cách: Nhạy cảm, dễ lo âu, tự ti, cầu toàn quá mức
- Kỹ năng đối phó kém: Không biết cách quản lý stress, cảm xúc tiêu cực
- Từng có ý nghĩ tự sát, hành vi tự sát.
c) Yếu tố nguy cơ về xã hội:
- Cô lập xã hội, thiếu hỗ trợ từ gia đình – cộng đồng
- Kỳ thị, phân biệt đối xử, đặc biệt với người yếu thế
- Môi trường sống không an toàn: Bạo lực, tội phạm, thiên tai
- Lạm dụng chất kích thích (nghiện rượu, bia; ma túy, chất kích thích, lạm dụng thuốc an thần)
d) Yếu tố nguy cơ khác:
Áp lực cao, kéo dài về học tập, lao động, kinh tế
Điều 44. Nội dung giám sát
1. Người mắc rối loạn tâm thần
Đối với từng rối loạn tâm thần cụ thể quy định tại khoản 1 Điều 43 cần thu thập các thông tin:
- Thông tin chung: họ và tên, giới tính, ngày tháng năm sinh, mã định danh cá nhân hoặc số thẻ bảo hiểm y tế, điện thoại liên lạc, nghề nghiệp, dân tộc, địa chỉ nơi cư trú.
- Thông tin mắc bệnh: tên bệnh, ngày chẩn đoán, cơ sở chẩn đoán, tình trạng bệnh (tình trạng tái phát, nhập viện lại, mức độ nặng), theo dõi dùng thuốc hằng tháng, phục hồi chức năng (lao động, công tác, vệ sinh cá nhân), tình hình kiểm tra tại nhà.
2. Người tử vong do rối loạn tâm thần:
Thu thập các thông tin theo quy định tại khoản 2 Điều 43 của Thông tư này
3. Người có nguy cơ mắc rối loạn tâm thần
- Thông tin chung: Họ và tên, giới tính, ngày tháng năm sinh, điện thoại liên lạc, nghề nghiệp, dân tộc, địa chỉ nơi cư trú.
- Thông tin nguy cơ mắc rối loạn tâm thần: thu thập các thông tin về tình trạng sức khỏe và yếu tố nguy cơ mắc rối loạn tâm thần.
4. Các yếu tố nguy cơ mắc rối loạn tâm thần:
a) Thu thập thông tin yếu tố nguy cơ về sinh học, di truyền
- Thông tin về tiền sử gia đình: có người thân bố, mẹ, anh, chị, em ruột) mắc rối loạn tâm thần
- Các thông tin về tiền sử quá trình mang thai của mẹ: nghiện rượu, bia; nghiện chất; mắc bệnh truyền nhiễm (cúm, rubella, …) có nguy cơ gây rối loạn tâm thần.
- Thu thập thông tin bản thân bị tổn thương não: chấn thương sọ não, tai biến mạch máu não; mắc bệnh lý mạn tính (đái tháo đường, tim mạch, ung thư, HIV/AIDS, động kinh).
- Bất thường về não bộ sinh học (đã được chẩn đoán hoặc nghi ngờ mắc rối loạn cấu trúc não, rối loạn chức năng thần kinh), các biểu hiện ghi ngờ mất cân bằng dẫn truyền thần kinh (rối loạn giấc ngủ kéo dài, thay đổi hành vi, cảm xúc bất thường).
b) Thu thập thông tin về yếu tố nguy cơ về tâm lý:
- Thông tin tiền sử bản thân mắc rối loạn tâm thần, tự sát.
- Thu thập thông tin người có biểu hiện sớm: giảm khả năng học tập, lao động, giao tiếp xã hội; dấu hiệu rối loạn cảm xúc, hành vi kéo dài hoặc tái diễn
c) Thu thập thông tin yếu tố nguy cơ về xã hội:
- Thu thập thông tin về số người lạm dụng chất kích thích (nghiện rượu, bia; ma túy, chất kích thích; thuốc an thần).
- Thông tin số hộ gia đình nghèo đói, thất nghiệp, điều kiện sống khó khăn
- Thông tin số người bị bạo lực gia đình, bạo lực học đường, tội phạm.
d) Thu thập thông tin yếu tố nguy cơ khác:
- Thu thập thông tin về số người chịu áp lực học tập, công việc.
Mục 3
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG GIÁM SÁT DINH DƯỠNG TRONG PHÒNG BỆNH
Điều 45. Đối tượng giám sát
1. Đối tượng giám sát bao gồm:
a) Người mắc bệnh liên quan đến dinh dưỡng:
- Người mắc các bệnh không lây nhiễm được quy định tại khoản 1, Điều 41 Thông tư này, trừ nhóm bệnh liên quan đến hô hấp.
- Người mắc các bệnh liên quan đến dinh dưỡng theo danh mục bệnh cụ thể kèm theo.
b) Người có nguy cơ mắc bệnh liên quan đến dinh dưỡng:
- Người có nguy cơ mắc các bệnh không lây nhiễm được quy định tại khoản 2 Điều 41 Thông tư này.
- Người có nguy cơ mắc các bệnh liên quan đến dinh dưỡng, bao gồm:
+ Phụ nữ có thai, bà mẹ cho con bú.
+ Trẻ từ 0-59 tháng tuổi.
+ Trẻ từ 6 tuổi đến dưới 19 tuổi.
+ Người trưởng thành (từ 19 tuổi – dưới 60 tuổi).
+ Người cao tuổi (từ 60 tuổi trở lên).
c) Các yếu tố nguy cơ gây bệnh liên quan đến dinh dưỡng:
- Chế độ ăn thừa hoặc thiếu năng lượng và không đảm bảo tính cân đối giữa các chất sinh năng lượng.
- Chế độ ăn không đảm bảo đa dạng thực phẩm.
- Ăn không đủ trái cây và rau củ.
- Tiêu thụ muối, đường và chất béo không hợp lý.
- Thực hành chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ em không hợp lý.
Điều 46. Nội dung giám sát
1. Giám sát người mắc bệnh liên quan đến dinh dưỡng:
a) Thông tin chung: Họ và tên, mã định danh cá nhân, tuổi, giới, dân tộc, nghề nghiệp, điện thoại liên lạc, địa chỉ nơi cư trú.
b) Thông tin mắc bệnh: Đối với từng bệnh cụ thể quy định tại khoản 1 Điều 45 cần thu thập các thông tin về bệnh được chẩn đoán, ngày phát hiện, cơ sở y tế chẩn đoán, quá trình điều trị bệnh.
2. Giám sát người có nguy cơ mắc bệnh liên quan đến dinh dưỡng.
a) Thông tin chung: Họ và tên, mã định danh cá nhân, tuổi, giới, dân tộc, nghề nghiệp, điện thoại liên lạc, địa chỉ nơi cư trú.
b) Thông tin về nguy cơ mắc bệnh:
- Người có nguy cơ mắc các bệnh không lây nhiễm được quy định tại khoản 2 Điều 40 Thông tư này.
- Phụ nữ có thai, bà mẹ cho con bú: Tình trạng dinh dưỡng thông qua chỉ số BMI, thực trạng kinh tế gia đình, chất lượng bữa ăn hàng ngày
- Trẻ từ 0-59 tháng tuổi: Tình trạng dinh dưỡng thông qua Cân nặng, chiều cao, thực trạng kinh tế gia đình, chất lượng bữa ăn hàng ngày
- Trẻ từ 6 tuổi đến dưới 19 tuổi: Tình trạng dinh dưỡng thông qua chỉ số BMI,. thực trạng kinh tế gia đình, chất lượng bữa ăn hàng ngày
- Người trưởng thành (từ 19 tuổi – dưới 60 tuổi): Tình trạng dinh dưỡng thông qua chỉ số BMI,. thực trạng kinh tế gia đình, chất lượng bữa ăn hàng ngày.
- Người cao tuổi (từ 60 tuổi trở lên): Tình trạng dinh dưỡng thông qua chỉ số BMI, thực trạng kinh tế gia đình, chất lượng bữa ăn hàng ngày.
3. Giám sát các yếu tố nguy cơ gây bệnh liên quan đến dinh dưỡng.
a) Mức tiêu thụ chất béo, đường, muối của gia đình, nhà trường, cộng đồng.
b) Giám sát các hoạt động can thiệp dinh dưỡng gồm tình hình nuôi con bằng sữa mẹ, bổ sung vi chất, triển khai các chương trình truyền thông, tư vấn dinh dưỡng tại cộng đồng và trường học, chất lượng bữa ăn tại trường học.
Mục 4.
LOẠI HÌNH, ĐỊA ĐIỂM GIÁM SÁT, CHẾ ĐỘ THÔNG TIN BÁO CÁO VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Điều 47. Loại hình giám sát
1. Giám sát thường xuyên:
Là hình thức thu thập thông tin liên tục về người mắc, người có nguy cơ mắc bệnh không lây nhiễm, rối loạn tâm thần, người mắc các bệnh liên quan đến dinh dưỡng thông qua hệ thống khám bệnh, chữa bệnh, khám sức khoẻ định kỳ, khám sàng lọc.
2. Điều tra định kỳ:
a) Điều tra 5 năm một lần:
- Điều tra quốc gia về yếu tố nguy cơ bệnh không lây nhiễm.
- Điều tra chuyên đề định kỳ về tâm thần.
- Điều tra chuyên đề định kỳ về dinh dưỡng.
b) Điều tra 10 năm một lần:
- Tổng điều tra dinh dưỡng.
3. Giám sát đột xuất: Theo yêu cầu khi có tình trạng khẩn cấp về bệnh, yếu tố nguy cơ, dinh dưỡng do dịch bệnh, thiên tai, thảm họa.
4. Giám sát dựa vào sự kiện: Khi có sự kiện bất thường liên quan đến sức khỏe tâm thần.
5. Giám sát trọng điểm: nhằm để thu thập sâu về tình hình dịch tễ, phân tích yếu tố nguy cơ và gánh nặng của một số rối loạn tâm thần; thu thập thông tin chuyên sâu về dinh dưỡng thực hiện tại một số điểm hoặc nhóm đối tượng ưu tiên (như trường học, khu công nghiệp).
Điều 48. Địa điểm giám sát
- Tại các cơ sở y tế: TYT, phòng khám, bệnh viện các tuyến.
- Cơ sở giáo dục (trường học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp)
- Nơi làm việc, khu công nghiệp, cơ sở lao động tập trung
- Các cơ sở bảo trợ xã hội, cơ sở cai nghiện, cơ sở chăm sóc đặc thù
- Giám sát tại cộng đồng
Điều 49. Chế độ thông tin báo cáo
1. Biểu mẫu ghi chép, báo cáo thống kê
- Sổ ghi chép ban đầu thực hiện theo quy định tại Phụ lục 8 ban hành kèm theo Thông tư này.
- Biểu mẫu báo cáo thống kê tại tuyến trung ương, tuyến tỉnh và tuyến xã thực hiện theo quy định tại Phụ lục 9 ban hành kèm theo Thông tư này.
2. Kỳ báo cáo thống kê
Kỳ báo cáo thống kê được tính theo ngày dương lịch:
- Kỳ báo cáo tháng: Tính bắt đầu từ 0h00 ngày 01 đầu tháng cho đến hết 24h00 ngày cuối cùng của tháng.
- Kỳ báo cáo năm: Tính bắt đầu từ 0h00 ngày 01 tháng 01 cho đến hết 24h00 ngày 31 tháng 12 của kỳ báo cáo thống kê đó.
- Báo cáo thống kê đột xuất: Trường hợp cần báo cáo thống kê đột xuất nhằm thực hiện các yêu cầu về quản lý nhà nước của Bộ Y tế, cơ quan yêu cầu báo cáo phải đề nghị bằng văn bản, trong đó phải nêu rõ thời gian, thời hạn và các tiêu chí báo cáo thống kê.
- Báo cáo giám sát trọng điểm, báo cáo giám sát dựa vào sự kiện và báo cáo qua các cuộc điều tra: thực hiện quy định ban hành kèm theo kế hoạch cụ thể.
3. Chế độ thống kê báo cáo
a) Tại cấp xã và các đơn vị trên địa bàn tỉnh, thành phố
- Nội dung báo cáo cáo: Theo mẫu quy định tại Phụ lục 9 ban hành kèm theo Thông tư này;
- Đơn vị gửi báo cáo: Trạm y tế và toàn bộ các đơn vị thuộc cấp tỉnh, trung ương và các cơ sở y tế tư nhân đặt trụ sở trên địa bàn tỉnh;
- Đơn vị nhận báo cáo: Sở Y tế (Trung tâm Kiểm soát bệnh tật)
- Thời hạn báo cáo: 05 ngày làm việc kể từ thời điểm kết thúc kỳ báo cáo theo quy định tại khoản 2 Điều 49 Thông tư này.
b) Tại cấp tỉnh:
- Nội dung báo cáo cáo: Theo mẫu quy định quy định tại Phụ lục 9 ban hành kèm theo Thông tư này;
- Đơn vị gửi báo cáo: Sở Y tế (Trung tâm Kiểm soát bệnh tật)
- Đơn vị nhận báo cáo: Viện Vệ sinh dịch tễ, Pasteur hoặc Viện Dinh dưỡng
- Thời hạn báo cáo: 20 ngày kể từ thời điểm kết thúc kỳ báo cáo theo quy định tại khoản 2 Điều 49 Thông tư này.
c) Tại Trung ương:
- Nội dung báo cáo cáo: Theo mẫu quy định tại Phụ lục 9 ban hành kèm theo Thông tư này;
- Đơn vị gửi báo cáo: Viện Vệ sinh dịch tễ, Pasteur hoặc Viện Dinh dưỡng
- Đơn vị nhận báo cáo: Cục Phòng bệnh
d) Thời hạn báo cáo: 10 ngày kể từ thời điểm kết thúc kỳ báo cáo theo quy định tại khoản 2 Điều 49 Thông tư này.
Điều 50: Trách nhiệm tổ chức thực hiện
1. Cục Phòng bệnh:
a) Quản lý, chỉ đạo, hướng dẫn và tổ chức triển khai các hoạt động giám sát bệnh không lây nhiễm, rối loạn tâm thần và dinh dưỡng bao gồm giám sát yếu tố nguy cơ, giám sát mắc bệnh và tử vong, và triển khai báo cáo thống kê về bệnh không lây nhiễm, rối loạn tâm thần và dinh dưỡng; xây dựng và ban hành tài liệu hướng dẫn giám sát bệnh không lây nhiễm, rối loạn tâm thần và dinh dưỡng.
c) Chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan triển khai các biện pháp giám sát, các điều tra, khảo sát để thu thập, tổng hợp và cung cấp, công bố các chỉ số quốc gia về bệnh không lây nhiễm, rối loạn tâm thần và dinh dưỡng.
d) Tổ chức kiểm tra, giám sát việc triển khai thực hiện các hoạt động giám sát bệnh không lây nhiễm, rối loạn tâm thần và dinh dưỡng.
2. Vụ Kế hoạch - Tài chính
a) Chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan xây dựng hệ thống chỉ tiêu cơ bản ngành y tế và chế độ báo cáo thống kê ngành y tế trong đó có các chỉ tiêu về bệnh không lây nhiễm, rối loạn tâm thần và dinh dưỡng;
b) Biên soạn niên giám thống kê, tổ chức phổ biến các số liệu thống kê y tế trong và ngoài nước, đầu mối về thống kê sinh, tử và nguyên nhân tử vong chung.
c) Tổ chức kiểm tra, giám sát, đôn đốc việc thực hiện các hoạt động thống kê báo cáo các chỉ tiêu cơ bản ngành y tế, trong đó có các chỉ tiêu về bệnh không lây nhiễm, rối loạn tâm thần và dinh dưỡng.
3. Cục Quản lý khám, chữa bệnh
a) Chỉ đạo, hướng dẫn và tổ chức triển khai các hoạt động giám sát bệnh không lây nhiễm, rối loạn tâm thần và triển khai báo cáo thống kê bệnh không lây nhiễm, rối loạn tâm thần trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
b) Phối hợp với các đơn vị liên quan để xây dựng, ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành các văn bản quy định pháp luật, hướng dẫn chuyên môn về giám sát bệnh không lây nhiễm, rối loạn tâm thần trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
c) Tổ chức kiểm tra, giám sát việc triển khai thực hiện các hoạt động giám sát bệnh không lây nhiễm, rối loạn tâm thần tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
4. Cục Bảo trợ xã hội
a) Xây dựng kế hoạch và chỉ đạo, hướng dẫn và tổ chức triển khai các hoạt quản lý đối tượng mắc rối loạn tâm thần tại cơ sở bảo trợ xã hội và tại cộng động, thực hiện công tác trợ giúp cho người mắc rối loạn tâm thầni
b) Phối hợp với các đơn vị liên quan để xây dựng, ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành các văn bản quy định pháp luật, hướng dẫn về quản lý đối tượng tại cơ sở bảo trợ và tại cộng đồng; trợ giúp xã hội; chăm sóc, phục hồi chức năng tâm lý – xã hội và phòng người nguy cơ tự sát cho người rối loạn tâm thần
c) Tổ chức kiểm tra, giám sát việc triển khai thực hiện các hoạt động liên quan đến lĩnh vực rối loạn tâm thần
5. Trung tâm Thông tin y tế quốc gia
a) Chủ trì, phối hợp với Cục Phòng bệnh tham mưu Bộ trưởng Bộ Y tế giải pháp công nghệ thông tin trong thực hiện giám sát, ghi nhận, thông tin báo cáo bệnh không lây nhiễm, rối loạn tâm thần và dinh dưỡng trong phòng bệnh,
b) Tích hợp, khai thác số liệu thống kê từ các phần mềm ứng dụng chuyên ngành, các cơ sở dữ liệu hành chính khác thuộc trách nhiệm được giao để phục vụ cho hoạt động thống kê của Bộ Y tế và các hoạt động thống kê nhà nước theo quy định của pháp luật.
6. Các Viện Vệ sinh dịch tễ, Pasteur, Y tế công cộng, Viện Dinh dưỡng.
a) Đầu mối tổ chức triển khai các hoạt động giám sát bệnh không lây nhiễm, rối loạn tâm thần và dinh dưỡng trong khu vực và địa bàn được phân công phụ trách theo chức năng nhiệm vụ.
b) Tổ chức các biện pháp giám sát, điều tra, nghiên cứu trong khu vực để thu thập, tổng hợp và báo cáo, cung cấp các thông tin, số liệu giám sát yếu tố nguy cơ và giám sát năng lực đáp ứng phòng, chống bệnh không lây nhiễm, rối loạn tâm thần trên địa bàn; phối hợp, tham gia các hoạt động giám sát nguyên nhân tử vong và ghi nhận ung thư trong khu vực; tham gia thực hiện các điều tra, khảo sát quốc gia.
c) Thực hiện chế độ báo cáo thống kê bệnh không lây nhiễm, rối loạn tâm thần và dinh dưỡng trên địa bàn phụ trách theo quy định; thu thập, tổng hợp số liệu báo cáo thống kê về bệnh không lây nhiễm, rối loạn tâm thần và dinh dưỡng của Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tuyến tỉnh và các đơn vị liên quan trên địa bàn và gửi báo cáo về Cục Phòng bệnh.
d) Xây dựng, cập nhật, quản lý cơ sở dữ liệu về bệnh không lây nhiễm, rối loạn tâm thần và dinh dưỡng.
e) Nâng cao năng lực cho các đơn vị về giám sát bệnh không lây nhiễm, rối loạn tâm thần và dinh dưỡng; hướng dẫn, kiểm tra giám sát việc tổ chức thực hiện hoạt động giám sát, báo cáo thống kê bệnh không lây nhiễm, rối loạn tâm thần và dinh dưỡng của các đơn vị trên địa bàn phụ trách.
7. Đơn vị được phân công làm đầu ngành chỉ đạo tuyến công tác khám, chữa bệnh.
Chủ trì về chuyên môn, kỹ thuật trong hoạt động ghi nhận bệnh không lây nhiễm.
8. Các bệnh viện trực thuộc Bộ Y tế.
a) Thực hiện chế độ thống kê, báo cáo bệnh không lây nhiễm, rối loạn tâm thần theo quy định.
b) Phối hợp triển khai các hoạt động giám sát, các điều tra, khảo sát để thu thập, báo cáo và cung cấp các thông tin, số liệu bệnh không lây nhiễm, rối loạn tâm thần trong các lĩnh vực chuyên ngành.
9. Sở Y tế
Chỉ đạo các đơn vị y tế trên địa bàn tổ chức triển khai các hoạt động giám sát bệnh không lây nhiễm, rối loạn tâm thần và dinh dưỡng.
10. Trung tâm Kiểm soát bệnh tật
a) Đầu mối tổ chức triển khai các hoạt động giám sát bệnh không lây nhiễm, rối loạn tâm thần và dinh dưỡng tại tỉnh, thành phố theo chức năng nhiệm vụ;
b) Thực hiện chế độ báo cáo thống kê bệnh không lây nhiễm, rối loạn tâm thần và dinh dưỡng, thu thập, tổng hợp số liệu báo cáo thống kê về bệnh không lây nhiễm, rối loạn tâm thần và dinh dưỡng của các trạm y tế xã và các đơn vị liên quan trên địa bàn và gửi báo cáo về Sở Y tế theo quy định tại Điều 49 của Thông tư này.
c) Tham gia triển khai các biện pháp giám sát, điều tra, nghiên cứu để thu thập, tổng hợp và báo cáo các thông tin, số liệu giám sát yếu tố nguy cơ và giám sát năng lực đáp ứng phòng, chống bệnh không lây nhiễm, rối loạn tâm thần tại địa phương; phối hợp, tham gia thu thập thông tin số liệu giám sát nguyên nhân tử vong và ghi nhận ung thư, tham gia thực hiện các điều tra, khảo sát quốc gia trên địa bàn.
d) Xây dựng, cập nhật, quản lý cơ sở dữ liệu về bệnh không lây nhiễm, rối loạn tâm thần và dinh dưỡng tại địa phương.
e) Nâng cao năng lực cho các đơn vị; hướng dẫn, kiểm tra giám sát việc tổ chức thực hiện hoạt động giám sát, báo cáo thống kê bệnh không lây nhiễm, rối loạn tâm thần và dinh dưỡng của các đơn vị tại địa phương.
11. Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh:
a) Thực hiện các hoạt động giám sát bệnh không lây nhiễm, rối loạn tâm thần người có nguy cơ mắc bệnh không lây nhiễm, rối loạn tâm thần, người tử vong, một số yếu tố nguy cơ bệnh không lây nhiễm, rối loạn tâm thần.
b) Phối hợp thực hiện các điều tra định kỳ, đột xuất theo yêu cầu của Bộ Y tế, Sở Y tế.
c) Thực hiện chế độ thông tin báo cáo theo Điều 49 của Thông tư này.
12. Trạm Y tế xã
a) Tổ chức thực hiện các hoạt động giám sát người bệnh, người có nguy cơ mắc bệnh không lây nhiễm, rối loạn tâm thần và dinh dưỡng; người tử vong do bệnh không lây nhiễm, rối loạn tâm thần.
b, Phối hợp thực hiện các điều tra định kỳ, đột xuất theo yêu cầu của Bộ Y tế, Sở Y tế.
c) Thực hiện chế độ thông tin báo cáo theo Điều 49 của Thông tư này.
Chương IV
GIÁM SÁT TRONG DỰ PHÒNG THƯƠNG TÍCH TẠI CỘNG ĐỒNG
MỤC 1.
QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 51. Mục tiêu giám sát
1. Thu thập, phân tích và cung cấp thông tin về tình hình tai nạn thương tích phục vụ quản lý, xây dựng chính sách và tổ chức can thiệp phòng, chống tai nạn thương tích.
2. Xác định xu hướng, nhóm nguy cơ cao, địa điểm nguy cơ và cơ chế gây thương tích.
3. Theo dõi hiệu quả các biện pháp phòng ngừa và can thiệp.
4. Cung cấp dữ liệu cho hệ thống giám sát sức khỏe cộng đồng và hệ thống báo cáo quốc gia.
Điều 52. Nguồn dữ liệu giám sát
1. Báo cáo từ trạm y tế xã, phường.
2. Báo cáo từ cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
3. Điều tra cộng đồng định kỳ.
4. Báo cáo từ trường học, cơ sở lao động.
5. Hệ thống giám sát tử vong.
6. Dữ liệu từ các ngành liên quan (công an, giao thông, giáo dục, lao động, chính quyền địa phương…).
Điều 53. Phân loại tai nạn thương tích và cơ chế gây tai nạn thương tích.
1. Phân loại tai nạn thương tích:
Tai nạn thương tích được phân loại theo:
a) Tính chất tai nạn thương tích: không chủ ý và chủ ý;
b) Loại hình tai nạn thương tích bao gồm: giao thông, đuối nước, ngã, bỏng, ngộ độc, tai nạn lao động, bạo lực, tự gây thương tích, cháy nổ, động vật cắn và các loại khác;
c) Việc mã hóa thực hiện theo Hệ thống Phân loại bệnh tật Quốc tế (ICD) do Bộ Y tế hướng dẫn. Danh mục các tai nạn thương tích được mã hóa theo ICD-10 tại Phụ lục 11 ban hành kèm theo Thông tư này.
2. Cơ chế gây tai nạn thương tích:
a) Cơ chế gây tai nạn thương tích là quá trình hoặc lực tác động trực tiếp dẫn đến tổn thương cơ thể người, bao gồm: va chạm, rơi ngã, chìm/ngạt nước, bỏng nhiệt/điện/hóa chất, nhiễm độc, vật sắc nhọn, nổ, tấn công, tự gây hại và các cơ chế khác theo phân loại quốc tế. Việc ghi nhận cơ chế gây tai nạn thương tích nhằm:
- Xác định bản chất sự kiện và tác nhân gây tổn thương;
- Phân tích yếu tố nguy cơ và hoàn cảnh xảy ra tai nạn;
- Phục vụ xây dựng biện pháp can thiệp phòng, chống phù hợp.
b) Nguyên tắc áp dụng cơ chế gây tai nạn thương tích:
- Mỗi trường hợp thương tích xác định 01 cơ chế gây thương tích chính.
- Trường hợp có nhiều yếu tố, lựa chọn cơ chế trực tiếp gây tổn thương.
- Áp dụng thống nhất trong tất cả biểu mẫu giám sát.
Danh mục cơ chế gây tai nạn thương tích chi tiết được quy định tại Phụ lục 12 ban hành kèm theo Thông tư này.
Điều 54. Đối tượng giám sát trong dự phòng thương tích tại cộng đồng
1. Người bị tai nạn thương tích là các cá nhân cư trú, sinh sống, học tập hoặc làm việc trên địa bàn bị thương tích và được ghi nhận thông qua một trong các trường hợp sau đây:
a) Trường hợp thương tích dẫn đến tử vong, bao gồm tử vong xảy ra tại hiện trường, trong quá trình vận chuyển, tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hoặc tử vong trong vòng 30 ngày do hậu quả của thương tích gây ra;
b) Trường hợp thương tích phải điều trị tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, bao gồm điều trị ngoại trú hoặc điều trị nội trú;
c) Trường hợp thương tích không phải điều trị tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, nhưng được sơ cứu, theo dõi hoặc xử trí y tế tại cộng đồng.
2. Các yếu tố nguy cơ dẫn đến thương tích tại cộng đồng là các yếu tố liên quan đến cá nhân, hành vi, môi trường và bối cảnh xã hội có khả năng làm gia tăng nguy cơ xảy ra thương tích hoặc làm trầm trọng thêm mức độ và hậu quả của thương tích, bao gồm:
a) Yếu tố môi trường vật lý;
b) Hành vi cá nhân không bảo đảm an toàn;
c) Yếu tố xã hội, nhân khẩu học của các nhóm dân cư dễ bị tổn thương;
d) Yếu tố tổ chức, quản lý và điều kiện làm việc, sinh hoạt;
đ) Yếu tố nguy cơ theo địa điểm, bối cảnh và thời điểm xảy ra thương tích.Bottom of Form
Danh mục yếu tố nguy cơ gây thương tích được quy định tại Phụ lục 13 ban hành kèm theo Thông tư này.
Điều 55. Nguyên tắc giám sát trong dự phòng thương tích tại cộng đồng
1. Bảo đảm liên tục, đầy đủ, kịp thời, chính xác và thống nhất.
2. Phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương, ưu tiên tuyến y tế cơ sở và dựa vào cộng đồng.
3. Không trùng lặp, không bỏ sót thông tin, không chồng chéo với hệ thống giám sát thuộc các lĩnh vực khác; bảo đảm phối hợp liên ngành.
4. Thông tin giám sát được sử dụng phục vụ phòng ngừa, can thiệp và hoạch định chính sách.
5. Bảo đảm bí mật thông tin cá nhân theo quy định của pháp luật.
6. Kết hợp giám sát thường xuyên với giám sát chủ động và điều tra chuyên đề.
Điều 56. Địa điểm giám sát trong dự phòng thương tích tại cộng đồng
1. Địa điểm giám sát tai nạn thương tích là nơi xảy ra tai nạn thương tích hoặc nơi phát hiện yếu tố nguy cơ tại cộng đồng; Mỗi trường hợp tai nạn thương tích lựa chọn 01 địa điểm chính; trường hợp đặc thù có thể ghi bổ sung địa điểm liên quan. Địa điểm xảy ra thương tích, bao gồm:
a) Hộ gia đình và khu dân cư như: nhà ở, khu tập thể, khu chung cư và các khu vực sinh hoạt chung;
b) Trường học và cơ sở giáo dục như: khuôn viên trường học, phòng học, sân chơi, khu thể thao và khu vực cổng trường;
c) Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
d) Nơi làm việc và cơ sở sản xuất, kinh doanh như: làng nghề, hộ sản xuất, cơ sở kinh doanh nhỏ lẻ và các công trình xây dựng;
đ) Đường giao thông và khu vực công cộng như: đường bộ, bến bãi, chợ, công viên và các không gian công cộng khác;
e) Khu vực có yếu tố nguy cơ đặc thù, như ao, hồ, sông, suối không có biện pháp bảo đảm an toàn; công trình đang xây dựng; các điểm nguy cơ cao, điểm thường xảy ra thương tích.
g) Sự kiện cộng đồng: nơi tổ chức Lễ hội, hội chợ, sự kiện văn hóa - xã hội
Địa điểm giám sát được phân loại thống nhất theo danh mục quy định tại Phụ lục 14 ban hành kèm theo Thông tư này nhằm phục vụ thu thập, tổng hợp, phân tích và so sánh dữ liệu giám sát.
2. Yếu tố nguy cơ tai nạn thương tích theo địa điểm giám sát là các điều kiện môi trường, hành vi hoặc tổ chức có khả năng làm gia tăng nguy cơ xảy ra tai nạn thương tích tại địa điểm theo danh mục quy định tại Phụ lục 15 ban hành theo Thông tư này để phục vụ thu thập, phân tích và đề xuất biện pháp phòng ngừa.
Điều 57. Các biện pháp can thiệp theo nhóm yếu tố nguy cơ và chỉ số giám sát
1. Các biện pháp can thiệp tai nạn thương tích theo yếu tố nguy cơ được sử dụng trong phân tích kết quả giám sát và xây dựng kế hoạch can thiệp tại cộng đồng; Một yếu tố nguy cơ có thể áp dụng nhiều biện pháp can thiệp căn cứ lựa chọn phù hợp với điều kiện thực tế, ưu tiên biện pháp kỹ thuật - môi trường - chính sách - truyền thông.
Danh mục can thiệp phòng ngừa tai nạn thương tích theo yếu tố nguy cơ được chuẩn hóa theo danh mục quy định tại Phụ lục 16 ban hành kèm theo Thông tư này.
2. Các nhóm chỉ số giám sát tai nạn thương tích tại cộng đồng là hệ thống chỉ số được xây dựng nhằm theo dõi tình hình, xu hướng, mức độ nghiêm trọng và các yếu tố nguy cơ gây tai nạn thương tích; đánh giá hiệu quả hoạt động phòng, chống tai nạn thương tích; phục vụ quản lý, hoạch định chính sách và phân bổ nguồn lực. Hệ thống chỉ số giám sát tai nạn thương tích bao gồm:
a) Nhóm chỉ số kết quả, phản ánh tình hình mắc, tử vong và mức độ nghiêm trọng do tai nạn thương tích; đặc điểm tai nạn thương tích, phân bố dịch tế học
b) Nhóm chỉ số đặc điểm thương tích, phân bố dịch tễ học
c) Nhóm chỉ số yếu tố nguy cơ, phản ánh các hành vi, điều kiện môi trường và yếu tố xã hội liên quan đến tai nạn thương tích;
d) Nhóm chỉ số đáp ứng và can thiệp
đ) Nhóm chỉ số hệ thống, phản ánh chất lượng, tính đầy đủ và kịp thời của hoạt động giám sát.
Danh mục chỉ số giám sát tai nạn thương tích quốc gia và phương pháp tính được quy định tại Phụ lục 17 ban hành kèm theo Thông tư này.
Cơ sở y tế các tuyến, cơ quan, đơn vị có liên quan có trách nhiệm thu thập, tổng hợp, phân tích và báo cáo các chỉ số theo quy định, bảo đảm tính chính xác, đầy đủ và kịp thời.
Điều 58. Phân loại mức độ thương tích tại cộng đồng
1. Mức độ thương tích được phân loại nhằm xác định mức độ nghiêm trọng của tổn thương, phục vụ phân tích tình hình, xác định ưu tiên can thiệp và đánh giá gánh nặng do tai nạn thương tích.
2. Nguyên tắc phân loại
a) Phân loại dựa trên biểu hiện lâm sàng, nhu cầu điều trị và hậu quả thực tế.
b) Không yêu cầu chẩn đoán chuyên sâu hoặc kỹ thuật cao.
c) Trường hợp không xác định rõ, áp dụng mức độ cao hơn để bảo đảm an toàn.
3. Việc phân loại mức độ thương tích được thực hiện theo các mức sau:
a) Thương tích nhẹ: tổn thương không đe dọa tính mạng, có thể tự chăm sóc hoặc điều trị ngoại trú, không hoặc ít ảnh hưởng đến sinh hoạt, học tập và lao động;
b) Thương tích trung bình: tổn thương cần xử trí y tế, có thể cần theo dõi hoặc điều trị tại cơ sở y tế, ảnh hưởng tạm thời đến sinh hoạt, học tập hoặc lao động;
c) Thương tích nặng: tổn thương nghiêm trọng, có nguy cơ đe dọa tính mạng, phải nhập viện điều trị hoặc có khả năng để lại di chứng;
d) Tử vong do tai nạn thương tích.
Trường hợp giám sát tại cộng đồng, áp dụng tiêu chí phân loại theo quy định tại Phụ lục 18 ban hành kèm theo Thông tư này.
Trường hợp đã có thông tin từ bệnh viện thì ưu tiên sử dụng mức độ do cơ sở khám chữa bệnh xác định.
MỤC 2
LOẠI HÌNH VÀ NỘI DUNG GIÁM SÁT
Điều 59. Các loại hình giám sát trong dự phòng thương tích
1. Giám sát tai nạn thương tích được thực hiện trên phạm vi toàn quốc, áp dụng tại cộng đồng và các cơ sở liên quan.
2. Giám sát tai nạn thương tích được tổ chức theo các loại hình sau:
a) Giám sát thường xuyên (giám sát thụ động): Là hình thức thu thập thông tin liên tục thông qua hệ thống báo cáo định kỳ của trạm y tế xã, phường, thị trấn; cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; trường học; cơ sở sản xuất và các đơn vị liên quan theo phân cấp quản lý.
b) Giám sát chủ động: Là hình thức cơ quan y tế chủ động thu thập, xác minh và điều tra thông tin tai nạn thương tích tại cộng đồng hoặc tại các đơn vị liên quan. Giám sát chủ động bao gồm:
- Giám sát dựa vào cộng đồng với sự tham gia của cộng tác viên, tổ chức đoàn thể và chính quyền địa phương;
- Giám sát đột xuất khi có dấu hiệu gia tăng bất thường;
- Giám sát sự kiện tai nạn thương tích nghiêm trọng, tai nạn hàng loạt hoặc trường hợp tử vong bất thường;
- Điều tra xác minh ca bệnh hoặc điểm nguy cơ gây tai nạn thương tích.
c) Giám sát trọng điểm: Là hình thức giám sát tập trung tại địa bàn, nhóm dân cư hoặc cơ sở có nguy cơ cao. Giám sát trọng điểm bao gồm:
- Giám sát điểm đen tai nạn thương tích;
- Giám sát tai nạn thương tích trong nhóm dân cư nguy cơ cao; Giám sát khu vực có tỷ lệ tai nạn thương tích gia tăng.
d) Điều tra cộng đồng định kỳ hoặc chuyên đề: Là hình thức khảo sát theo chu kỳ nhằm đánh giá tình hình tai nạn thương tích, yếu tố nguy cơ và hiệu quả các biện pháp can thiệp, đặc biệt đối với các trường hợp không đến cơ sở y tế.
3. Giám sát tai nạn thương tích được thực hiện lồng ghép trong hệ thống giám sát sức khỏe cộng đồng và các chương trình y tế liên quan nhằm bảo đảm hiệu quả, tránh trùng lặp và tối ưu hóa nguồn lực.
Điều 60. Giám sát tai nạn thương tích dựa vào cộng đồng
Là loại hình giám sát chủ động, thu thập, cập nhật thông tin về người bị tai nạn thương tích, các yếu tố nguy cơ và điểm nguy cơ tại địa bàn dân cư. Giám sát để phát hiện ca chưa đến cơ sở y tế hoặc các yếu tố nguy cơ tai nạn thương tích tại hộ gia đình và tại cộng đồng. Cơ quan y tế cấp xã chủ trì thực hiện giám sát có sự tham gia của cộng đồng là các y tế thôn, bản, cộng tác viên y tế, y tế trường học, cơ sở sản xuất và các tổ chức xã hội tại địa bàn phối hợp với chính quyền địa phương. Nội dung giám sát bao gồm:
a) Phát hiện và ghi nhận các trường hợp tai nạn thương tích xảy ra tại cộng đồng;
b) Rà soát các yếu tố nguy cơ, điểm nguy cơ, điểm đen tai nạn thương tích;
c) Theo dõi các nhóm dân cư dễ bị tổn thương và các bối cảnh nguy cơ cao.
Giám sát tai nạn thương tích dựa vào cộng đồng thực hiện theo Mẫu phiếu 1- Phụ lục 19 ban hành kèm theo Thông tư này.
Điều 61. Điều tra cộng đồng định kỳ về tai nạn thương tích
1. Điều tra cộng đồng định kỳ là hình thức giám sát chủ động với mục đích nhằm:
a) Thu thập thông tin về tình hình tai nạn thương tích chưa được ghi nhận qua hệ thống báo cáo thường quy;
b) Xác định các yếu tố nguy cơ, điểm nguy cơ và nhóm dân cư dễ bị tổn thương;
c) Đánh giá xu hướng tai nạn thương tích và hiệu quả các biện pháp can thiệp tại cộng đồng.
2. Nội dung điều tra
a) Thông tin về người bị tai nạn thương tích trong cộng đồng;
b) Nguyên nhân, địa điểm, hoàn cảnh xảy ra tai nạn thương tích;
c) Các yếu tố nguy cơ về môi trường, hành vi, xã hội và quản lý;
d) Khả năng tiếp cận dịch vụ y tế và kết quả xử trí ban đầu;
đ) Nhận thức và thực hành phòng, chống tai nạn thương tích của người dân.
3. Hình thức và phương pháp điều tra
a) Điều tra cắt ngang tại hộ gia đình hoặc cộng đồng;
b) Khảo sát theo điểm nguy cơ, địa bàn trọng điểm hoặc nhóm dân cư đặc thù;
c) Sử dụng bộ câu hỏi, biểu mẫu điều tra tại Phụ lục 20 ban hành kèm theo Thông tư này;
d) Ưu tiên ứng dụng công nghệ thông tin, biểu mẫu điện tử trong thu thập và tổng hợp dữ liệu.
4. Tần suất thực hiện
a) Điều tra cộng đồng định kỳ tối thiểu 01 lần trong giai đoạn 3-5 năm hoặc theo hướng dẫn của Bộ Y tế;
b) Có thể thực hiện điều tra bổ sung khi:
- Xuất hiện nguy cơ cao;
- Xảy ra nhiều vụ tai nạn thương tích nghiêm trọng;
- Phục vụ đánh giá chương trình can thiệp.
Điều 62. Giám sát người bị thương tích tại cộng đồng
1. Giám sát người bị thương tích tại cộng đồng được thực hiện tại:
a) Cộng đồng;
b) Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;
c) Trường học;
d) Cơ sở sản xuất, kinh doanh.
2. Nội dung giám sát bao gồm:
a) Thông tin nhân khẩu học bao gồm: tên, tuổi, giới tính, nghề nghiệp, tình trạng cư trú và các đặc điểm nhân khẩu học cơ bản khác theo quy định.
b) Thời gian và địa điểm xảy ra tai nạn thương tích, bao gồm: thời điểm xảy ra thương tích; hoàn cảnh xảy ra thương tích (sinh hoạt, học tập, lao động, giao thông, vui chơi, giải trí hoặc hoàn cảnh khác).
c) Cơ chế và nguyên nhân thương tích, bao gồm: hình thức và cơ chế gây thương tích; các yếu tố liên quan trực tiếp đến thương tích; và các yếu tố nguy cơ góp phần làm phát sinh hoặc làm trầm trọng thêm hậu quả của thương tích.
d) Mức độ và hậu quả thương tích, bao gồm: loại thương tích; mức độ tổn thương; tình trạng xử trí ban đầu; hậu quả đối với sức khỏe, khả năng sinh hoạt và lao động; kết quả của trường hợp thương tích (hồi phục, để lại di chứng hoặc tử vong).
đ) Kết quả tiếp nhận, xử trí, điều trị các trường hợp thương tích, bao gồm: nơi sơ cứu ban đầu; việc chuyển tuyến; điều trị tại cơ sở y tế hoặc theo dõi, điều trị tại cộng đồng.
e) Thông tin giám sát phục vụ để phân tích và can thiệp dự phòng, bao gồm: các điểm nguy cơ, nhóm nguy cơ cao, xu hướng thương tích theo thời gian, địa điểm và nhóm đối tượng; và các thông tin cần thiết khác phục vụ công tác cảnh báo, lập kế hoạch và đánh giá hiệu quả các biện pháp dự phòng.
3. Các thông tin giám sát người bị tai nạn thương tích được thực hiện theo Phụ lục 21 ban hành kèm theo Thông tư này.
Điều 63. Giám sát đối với các yếu tố nguy cơ dẫn đến thương tích tại cộng đồng
1. Giám sát các yếu tố nguy cơ bao gồm các thông tin chung về: Loại yếu tố nguy cơ; địa điểm xảy ra nguy cơ; thời điểm hoặc thời gian tồn tại nguy cơ; nhóm đối tượng có nguy cơ bị ảnh hưởng và mức độ tiềm ẩn gây thương tích.
2. Nội dung giám sát yếu tố nguy cơ được thực hiện theo các nhóm sau
a) Nhóm yếu tố nguy cơ về môi trường vật lý: Điều kiện hạ tầng giao thông, nhà ở, trường học, nơi làm việc và khu vực công cộng; Kết cấu không bảo đảm an toàn (đường trơn trượt, cầu thang, lan can, hố nước, ao hồ không rào chắn…); Thiếu thiết bị an toàn, biển cảnh báo hoặc hệ thống bảo vệ.
b) Nhóm yếu tố nguy cơ về hành vi: Hành vi không tuân thủ quy định an toàn giao thông; Hành vi lao động, sinh hoạt, vui chơi không bảo đảm an toàn; Thiếu giám sát trẻ em, người cao tuổi hoặc người khuyết tật; Sử dụng rượu, bia, chất kích thích làm tăng nguy cơ thương tích.
c) Nhóm yếu tố nguy cơ về xã hội - nhân khẩu học: các đặc điểm về độ tuổi, giới tính, nghề nghiệp, tình trạng sức khỏe và điều kiện sống của người dân; các yếu tố về hoàn cảnh kinh tế - xã hội, nơi cư trú và khả năng tiếp cận các điều kiện, dịch vụ bảo đảm an toàn có ảnh hưởng đến nguy cơ xảy ra và mức độ nghiêm trọng của thương tích.
d) Nhóm yếu tố nguy cơ về tổ chức và quản lý: Thiếu quy định, quy trình bảo đảm an toàn; Thiếu kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm; Thiếu truyền thông, giáo dục phòng ngừa tai nạn thương tích; Thiếu phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức liên quan.
d) Nhóm yếu tố nguy cơ theo địa điểm và bối cảnh đặc thù: các khu vực, địa điểm có nguy cơ cao xảy ra thương tích (khu vực ven sông, ao hồ, bến nước; công trình xây dựng, khu công nghiệp); lễ hội hoặc sự kiện đông người; mùa mưa bão, thời điểm cao điểm giao thông hoặc lao động thời vụ.
3. Việc giám sát yếu tố nguy cơ được thực hiện định kỳ hoặc lồng ghép trong hoạt động điều tra cộng đồng.
4. Các thông tin giám sát yếu tố nguy cơ thực hiện theo phiếu giám sát tại Phụ lục 22 ban hành kèm theo Thông tư này.
Điều 64. Giám sát tử vong do tai nạn thương tích
1. Giám sát tử vong do tai nạn thương tích được tổ chức nhằm thu thập, xác minh, tổng hợp và phân tích các trường hợp tử vong xảy ra do tai nạn thương tích trên địa bàn, phục vụ công tác phòng, chống và hoạch định chính sách.
2. Giám sát tử vong được thực hiện thông qua:
a) Báo cáo từ trạm y tế xã, phường, thị trấn qua sổ theo dõi tử vong (A6)
b) Các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh (Giấy báo tử, giấy chứng tử và hồ sơ tử vong).
c) Điều tra tử vong tại cộng đồng.
d) Thông tin từ hệ thống đăng ký khai tử tại chính quyền địa phương;
đ) Thông tin từ cơ quan công an, giao thông, lao động và các cơ quan liên quan
3. Trường hợp tử vong không xảy ra tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải thực hiện điều tra tử vong theo mẫu quy định tại Phụ lục 26 ban hành kèm theo Thông tư này.
4. Nội dung điều tra tử vong bao gồm:
a) Hoàn cảnh xảy ra tai nạn;
b) Cơ chế gây thương tích;
c) Nguyên nhân tử vong;
d) Các yếu tố nguy cơ liên quan.
5. Việc thu thập, quản lý và sử dụng dữ liệu tử vong do tai nạn thương tích phải bảo đảm tính chính xác, đầy đủ, kịp thời và tuân thủ quy định của pháp luật về bảo mật thông tin.
MỤC 3
PHƯƠNG PHÁP, QUY TRÌNH , TẦN SUẤT VÀ LUỒNG THÔNG TIN GIÁM SÁT
Điều 65. Phương pháp giám sát tai nạn thương tích
1. Giám sát người bị thương tích tại cộng đồng thông qua việc thu thập, tổng hợp và kiểm tra thông tin từ các nguồn sau đây:
a) Báo cáo các ca tai nạn thương tích tại các trạm y tế và các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trên địa bàn;
b) Giám sát dựa vào cộng đồng thông qua việc phát hiện, thông báo và ghi nhận các trường hợp thương tích với sự tham gia của cộng tác viên y tế, tổ chức xã hội và người dân.
c) Điều tra hộ gia đình, điều tra chuyên đề.
d) Giám sát tử vong do tai nạn thương tích
đ) Tổng hợp, đối chiếu dữ liệu liên ngành
2. Giám sát các yếu tố nguy cơ thương tích tại cộng đồng được thực hiện thông qua:
a) Rà soát định kỳ tại cộng đồng;
b) Quan sát trực tiếp và ghi nhận các nguy cơ thương tích theo biểu mẫu;
c) Thu thập thông tin từ người dân, cộng tác viên, tổ chức cộng đồng;
d) Lồng ghép với giám sát người bị thương tích và các chương trình y tế khác.
Điều 66. Thời gian và quy trình giám sát
1. Thời gian giám sát
Giám sát trong dự phòng thương tích tại cộng đồng được thực hiện tại các thời điểm sau:
a) Thường xuyên, khi phát hiện người bị thương tích hoặc yếu tố nguy cơ tại cộng đồng;
b) Định kỳ, theo kế hoạch giám sát của địa phương;
c) Đột xuất, khi xảy ra tai nạn thương tích nghiêm trọng, tử vong, tai nạn hàng loạt hoặc khi có dấu hiệu gia tăng tai nạn, thương tích bất thường;
d) Theo mùa, theo thời điểm nguy cơ cao, phù hợp với đặc điểm địa bàn và điều kiện thực tế.
2. Quy trình giám sát
Quy trình giám sát trong dự phòng thương tích tại cộng đồng được thực hiện theo các bước sau:
a) Phát hiện và ghi nhận trường hợp tai nạn thương tích gồm đối tượng, nội dung và địa điểm giám sát;
b) Thu thập thông tin giám sát theo biểu mẫu thống nhất;
c) Xác minh và phân loại: Ghi chép, cập nhật và quản lý dữ liệu giám sát;
d) Nhập liệu và tổng hợp, phân tích, đánh giá tình hình thương tích, yếu tố nguy cơ;
đ) Báo cáo kết quả giám sát theo quy định;
e) Sử dụng kết quả giám sát để đề xuất, triển khai và đánh giá các biện pháp phòng, chống tai nạn, thương tích tại cộng đồng.
Điều 67. Tần suất giám sát
1. Đối với người bị tai nạn thương tích tại cộng đồng:
a) Ghi nhận và cập nhật thông tin từng trường hợp người bị thương tích ngay khi phát hiện tại cộng đồng hoặc tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trên địa bàn;
b) Báo cáo số liệu người bị thương tích định kỳ theo quy định;
c) Báo cáo ngay đối với trường hợp tử vong hoặc tai nạn nghiêm trọng, tai nạn hàng loạt
2. Đối với các yếu tố nguy cơ dẫn đến thương tích tại cộng đồng:
a) Yếu tố nguy cơ tại hộ gia đình: thực hiện giám sát ít nhất 01 lần trong năm, lồng ghép với các hoạt động thường xuyên của y tế cơ sở;
b) Yếu tố nguy cơ tại trường học và cơ sở giáo dục: thực hiện giám sát ít nhất 02 lần trong năm, ưu tiên trước năm học mới và giữa năm học;
c) Yếu tố nguy cơ tại khu vực công cộng, nơi tập trung đông người: thực hiện giám sát ít nhất 02 lần trong năm, ưu tiên các khu vực đã được xác định là có nguy cơ cao xảy ra thương tích theo kết quả giám sát hoặc đánh giá nguy cơ;
d) Điểm nguy cơ và khu vực có nguy cơ cao đã được xác định: thực hiện giám sát tăng cường theo mức độ nguy cơ;
đ) Yếu tố nguy cơ phát sinh mới: thực hiện giám sát đột xuất, đặc biệt sau thiên tai, thảm họa, sự cố hoặc các tình huống bất thường.
3. Căn cứ để xác định và điều chỉnh tần suất giám sát:
a) Đối tượng giám sát (người bị thương tích hoặc các yếu tố nguy cơ gây thương tích);
b) Loại hình thương tích và mức độ nguy cơ;
c) Tình hình tai nạn thương tích trên địa bàn và khả năng đáp ứng của hệ thống y tế cơ sở;
d) Các nhóm đối tượng có nguy cơ cao.
4. Nguyên tắc điều chỉnh tần suất giám sát
a) Tăng tần suất giám sát đối với địa bàn có tỷ lệ thương tích cao hoặc có xu hướng gia tăng.
b) Ưu tiên nhóm nguy cơ cao như trẻ em, người cao tuổi.
c) Có thể điều chỉnh tần suất giám sát phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương.
5. Tần suất, thời gian và hình thức giám sát trong dự phòng thương tích tại cộng đồng được thực hiện theo hướng dẫn chi tiết tại Phụ lục 23 ban hành kèm theo Thông tư này.
Điều 68. Luồng thông tin giám sát và chế độ báo cáo
1. Luồng thông tin giám sát tai nạn thương tích được tổ chức thống nhất từ tuyến cơ sở đến trung ương, bảo đảm thu thập, tổng hợp, phân tích và báo cáo thông tin kịp thời, chính xác và đầy đủ.
2. Cơ sở giám sát có trách nhiệm thu thập, tổng hợp và báo cáo theo biểu mẫu quy định.
3. Luồng thông tin được thực hiện theo nguyên tắc:
a) Tuyến xã báo cáo tuyến tỉnh;
b) Tuyến tỉnh tổng hợp báo cáo Bộ Y tế;
c) Bộ Y tế tổng hợp, phân tích và công bố số liệu theo quy định.
4. Nội dung thu thập thông tin theo các tuyến như sau:
a) Trạm y tế xã, phường, đặc khu:
- Thu thập thông tin về người bị tai nạn thương tích xảy ra trên địa bàn từ cộng đồng, cơ sở giáo dục, cơ sở sản xuất, cơ quan, tổ chức và các nguồn liên quan;
- Tiếp nhận, tổng hợp thông tin từ cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trên địa bàn (nếu có);
- Nhập dữ liệu theo biểu mẫu quy định và báo cáo định kỳ về Sở y tế.
b) Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh:
- Ghi nhận, mã hóa và tổng hợp các trường hợp tai nạn thương tích đến khám, cấp cứu, điều trị;
- Thực hiện báo cáo định kỳ theo quy định hoặc chia sẻ dữ liệu với cơ quan y tế địa phương theo phân cấp quản lý.
c) Sở Y tế:
- Tổng hợp, phân tích số liệu toàn tỉnh;
- Theo dõi xu hướng, phát hiện điểm nguy cơ, điểm đen tai nạn thương tích;
- Báo cáo Bộ Y tế và tham mưu Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức các biện pháp can thiệp.
d) Cục Phòng bệnh tổ chức quản lý, phân tích và công bố số liệu giám sát tai nạn thương tích trên phạm vi toàn quốc; hướng dẫn chuyên môn, kiểm tra và giám sát việc thực hiện Thông tư này.
5. Dữ liệu giám sát tai nạn thương tích được quản lý trên hệ thống thông tin theo quy định của Bộ Y tế; việc chia sẻ, khai thác và sử dụng dữ liệu phải bảo đảm an toàn thông tin và bảo mật theo quy định của pháp luật.
6. Sơ đồ luồng thông tin giám sát tai nạn thương tích như sau:
a) Cấp xã đến cấp tỉnh đến Bộ Y tế
b) Bệnh viện đến cấp tỉnh đến Bộ Y tế
c) Cộng đồng đến cấp xã đến cấp tỉnh đến Bộ Y tế.
MỤC 4
BÁO CÁO VÀ SỬ DỤNG KẾT QUẢ
Điều 69. Chế độ thông tin, báo cáo
1. Nguyên tắc báo cáo
a) Việc thông tin, báo cáo trong dự phòng thương tích tại cộng đồng được thực hiện phù hợp với thời gian và tần suất giám sát theo quy định tại Thông tư này.
b) Báo cáo được thực hiện nhằm bảo đảm cung cấp thông tin kịp thời, đầy đủ phục vụ cho công tác chỉ đạo, cảnh báo và triển khai các biện pháp dự phòng thương tích.
2. Đối tượng và luồng báo cáo
a) Tại thôn bản: Bất kỳ một trường hợp nào bị tai nạn thương tích xảy ra trên địa bàn, cán bộ y tế thôn bản thu thập và ghi vào phiếu giám sát người bị tai nạn thương tích (Biểu mẫu 1, Phụ lục 21) và nộp báo cáo trong giao ban tuần hoặc cuối tháng gửi về Trạm Y tế xã, phường.
b) Trạm y tế xã, phường:
- Thu thập phiếu giám sát tai nạn thương tích của y tế thôn bản, thu thập và đối chiếu với sổ khám bệnh (A1/YTCS), sổ tử vong (A6/YTCS) để tránh trùng lặp và làm báo cáo gửi tuyến trên.
- Các trường hợp đã được xử trí tại tuyến trên thì không tổng hợp vào Báo cáo thống kê tai nạn thương tích hàng quý của xã.
- Thu thập số liệu tử vong theo sổ tử vong A6 bao gồm danh sách từng trường hợp theo mẫu tại Phụ lục 26 và gửi dữ liệu về Sở Y tế.
c) Các cơ sở khám, chữa bệnh trên địa bàn tỉnh bao gồm cả tại bệnh viện Trung ương, bệnh viện bộ ngành báo cáo các trường hợp tai nạn thương tích đến khám và điều trị gửi về Cục Phòng bệnh và Vụ Kế hoạch - Tài chính, Bộ Y tế.
d) Sở Y tế:
- Thu thập, tổng hợp báo cáo của Trạm Y tế và các trường hợp tai nạn thương tích khám và điều trị tại các cơ sở y tế trong địa bàn tỉnh gửi về Cục Phòng bệnh.
- Những trường hợp tai nạn thương tích phải chuyển viện chỉ được tính ở cơ sở y tế điều trị cao nhất để tránh trùng lặp.
- Báo cáo báo cáo 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng và 12 tháng thực hiện theo mẫu tại Phụ lục 24. Mẫu báo cáo tổng hợp giám sát người bị tai nạn thương tích và mẫu báo cáo giám sát nguy cơ bị tai nạn thương tích tại Phụ lục 25. Mẫu báo cáo danh sách và nguyên nhân tử vong do tai nạn thương tích tại Phụ lục 26 gửi về Cục Phòng bệnh.
đ) Cục Phòng bệnh tổng hợp, phân tích và gửi thông báo kết quả cho địa phương.
e) Trường hợp tai nạn thương tích nghiêm trọng, tai nạn hàng loạt hoặc tử vong, cơ sở y tế và đơn vị liên quan báo cáo ngay theo tuyến báo cáo quy định tại các điểm a, b, c của Điều này.
3.Thời gian gửi báo cáo
a) Báo cáo định kỳ và báo cáo đột xuất được thực hiện tương ứng với thời gian và tần suất giám sát quy định tại Điều 67 Thông tư này.
b) Thời hạn cụ thể, biểu mẫu và phương thức báo cáo thực hiện theo quy định ban hành kèm theo Thông tư này bao gồm:.
- Trạm Y tế xã, phường, các cơ sở khám chữa bệnh gửi Sở Y tế vào ngày 5 tháng sau của kỳ báo cáo.
- Sở Y tế: ngày 10 tháng sau của kỳ báo cáo.
- Sở Y tế gửi Cục Phòng bệnh và Vụ Kế hoạch-Tài chính vào ngày 20 tháng sau của kỳ báo cáo.
4. Hình thức và phương thức báo cáo
a) Báo cáo được thực hiện bằng văn bản giấy hoặc báo cáo điện tử có xác nhận của lãnh đạo theo biểu mẫu thống nhất ban hành kèm theo Thông tư này.
b) Việc gửi báo cáo được thực hiện trực tiếp, qua hệ thống thông tin điện tử hoặc bằng các hình thức phù hợp khác theo hướng dẫn của cơ quan quản lý.
c) Đối với báo cáo đột xuất, việc thông tin được thực hiện bằng hình thức nhanh nhất nhằm bảo đảm kịp thời phục vụ công tác chỉ đạo, xử lý.
5. Nội dung báo cáo
a) Tình hình người bị thương tích theo thời gian, địa bàn và nhóm đối tượng.
b) Các yếu tố nguy cơ, điểm nguy cơ và điểm có nguy cơ cao xảy ra thương tích được ghi nhận.
c) Nhận định về xu hướng và nguy cơ phát sinh thương tích.
d) Kiến nghị, đề xuất các biện pháp phòng ngừa và can thiệp phù hợp.
6. Trách nhiệm bảo đảm chất lượng báo cáo
Việc thông tin, báo cáo phải bảo đảm tính chính xác, đầy đủ, kịp thời; thống nhất về nội dung, biểu mẫu; và tuân thủ quy định của pháp luật về bảo vệ dữ liệu, thống kê và các quy định pháp luật có liên quan.
Điều 70. Phân tích và sử dụng kết quả giám sát
1. Kết quả giám sát người bị thương tích được sử dụng để:
a) Xác định xu hướng và phân bố tai nạn thương tích theo thời gian, địa điểm, nhóm dân cư;
b) Xác định yếu tố nguy cơ, điểm nguy cơ, điểm đen tai nạn thương tích; các địa bàn trọng điểm.
c) Đề xuất xây dựng, điều chỉnh và đánh giá các biện pháp can thiệp phòng, chống tai nạn thương tích;
2. Kết quả giám sát yếu tố nguy cơ được sử dụng để:
a) Xác định, cập nhật danh sách yếu tố nguy cơ, điểm nguy cơ, điểm đen tai nạn thương tích;
b) Phân tích mối liên quan giữa nguy cơ và các trường hợp thương tích;
c) Đề xuất và ưu tiên các biện pháp can thiệp phòng ngừa; Đánh giá hiệu quả các hoạt động phòng ngừa
d) Theo dõi hiệu quả khắc phục nguy cơ theo thời gian.
MỤC 5
TRÁCH NHIỆM TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Điều 71: Trách nhiệm của Bộ Y tế
1. Cục Phòng bệnh là đơn vị đầu mối, có trách nhiệm:
a) Chủ trì hướng dẫn, tổ chức triển khai thực hiện các quy định về giám sát trong dự phòng thương tích tại cộng đồng theo quy định tại Thông tư này;
b) Hướng dẫn nội dung, chỉ số, phương pháp, tần suất giám sát; ban hành và hướng dẫn sử dụng các biểu mẫu giám sát, biểu mẫu báo cáo theo quy định;
c) Chủ trì tổng hợp, phân tích thông tin giám sát trên phạm vi toàn quốc; sử dụng kết quả giám sát phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành, đánh giá nguy cơ và xây dựng chính sách;
d) Chủ trì hoặc phối hợp tổ chức đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho cán bộ y tế các cấp về giám sát trong dự phòng thương tích tại cộng đồng.
2. Cục Quản lý khám, chữa bệnh
a) Phối hợp hướng dẫn các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thực hiện việc thu thập, cung cấp và chia sẻ thông tin liên quan đến tai nạn thương tích phục vụ công tác giám sát;
b) Phối hợp phân tích số liệu tai nạn thương tích liên quan đến điều trị và tử vong tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nhằm phục vụ công tác dự phòng.
3. Vụ Kế hoạch - Tài chính:
a) Phối hợp xây dựng kế hoạch, bố trí và hướng dẫn sử dụng kinh phí cho hoạt động giám sát trong dự phòng thương tích tại cộng đồng theo quy định;
b) Phối hợp hướng dẫn, tổng hợp và sử dụng số liệu thống kê y tế về tai nạn thương tích phục vụ công tác quản lý, chỉ đạo và điều hành.
4. Vụ Pháp chế có trách nhiệm phối hợp rà soát, hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan đến giám sát trong dự phòng thương tích tại cộng đồng theo thẩm quyền.
5. Trung tâm Công nghệ thông tin, Bộ Y tế có trách nhiệm:
a) Phối hợp xây dựng, quản lý, vận hành hệ thống thông tin, biểu mẫu điện tử phục vụ giám sát trong dự phòng thương tích tại cộng đồng;
b) Bảo đảm kết nối, chia sẻ, tổng hợp dữ liệu và an toàn, bảo mật thông tin theo quy định của pháp luật.
6. Các đơn vị khác thuộc Bộ Y tế, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao, có trách nhiệm phối hợp với Cục Phòng bệnh trong việc triển khai thực hiện Thông tư này.
Điều 72: Trách nhiệm của Sở Y tế các tỉnh, thành phố
1. Tổ chức triển khai thực hiện hoạt động giám sát trong dự phòng thương tích tại cộng đồng trên địa bàn theo quy định tại Thông tư này và hướng dẫn của Bộ Y tế.
2. Hướng dẫn chuyên môn, kỹ thuật; kiểm tra, giám sát việc thực hiện giám sát, thu thập và báo cáo thông tin tại tuyến y tế cơ sở.
3. Tổng hợp, phân tích số liệu; báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và Bộ Y tế theo quy định; đề xuất các biện pháp dự phòng, can thiệp phù hợp với tình hình địa phương.
Điều 73: Trách nhiệm của cơ quan y tế cấp xã
1. Thực hiện giám sát trong dự phòng thương tích tại cộng đồng theo hướng dẫn chuyên môn của cơ quan y tế cấp tỉnh.
2. Thu thập, cập nhật, quản lý thông tin về người bị thương tích và các yếu tố nguy cơ; phát hiện điểm nguy cơ, điểm đen tai nạn thương tích tại cộng đồng.
3. Thực hiện chế độ báo cáo định kỳ và đột xuất; sử dụng kết quả giám sát để đề xuất và triển khai các biện pháp dự phòng, can thiệp tại địa phương.
Điều 74: Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp
1. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo tổ chức triển khai giám sát trong dự phòng thương tích tại cộng đồng; bố trí nguồn lực, lồng ghép hoạt động giám sát vào các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương.
2. Ủy ban nhân dân cấp xã chỉ đạo trạm y tế và các đơn vị liên quan phối hợp thực hiện giám sát; quản lý các yếu tố nguy cơ, điểm nguy cơ, điểm đen tai nạn thương tích tại cộng đồng.
3. Chính quyền địa phương các cấp tạo điều kiện để cộng đồng, tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động giám sát và phòng, chống tai nạn thương tích.
Chương V
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Điều 75. Hiệu lực thi hành
1. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày …. tháng …. năm 2026.
2. Các văn bản sau đây hết hiệu lực kể từ ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành:
a) Thông tư số…
b) Quyết định số …
Điều 76. Điều khoản tham chiếu
Trường hợp các văn bản dẫn chiếu trong Thông tư này được thay thế, sửa đổi, bổ sung thì áp dụng theo các văn bản đã được thay thế, sửa đổi, bổ sung.
Điều 77. Trách nhiệm thi hành
Chánh Văn phòng Bộ, Cục trưởng Cục Phòng bệnh, Vụ trưởng các Vụ, Cục trưởng các Cục thuộc Bộ Y tế, Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị trực thuộc Bộ, Giám đốc Sở Y tế cấp tỉnh, Thủ trưởng cơ quan y tế các Bộ, ngành và các cơ quan tổ chức có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Thông tư này.
Trong quá trình thực hiện có khó khăn, vướng mắc các cơ quan, tổ chức, cá nhân phản ánh về Bộ Y tế (qua Cục Phòng bệnh) để xem xét, giải quyết./.
| Nơi nhận: - Ủy ban Xã hội của Quốc hội; - Văn phòng Chính phủ (Vụ Khoa giáo văn xã, Công báo, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ); - Bộ Tư pháp (Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật); - Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; - Kiểm toán Nhà nước; - UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; - Đồng chí Bộ trưởng (để báo cáo); - Các đồng chí Thứ trưởng Bộ Y tế; - Các đơn vị thuộc, trực thuộc Bộ Y tế; - Y tế các Bộ, ngành; - Sở Y tế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; - Cổng thông tin điện tử Bộ Y tế; - Lưu: VT, PC, PB (02). |
| BỘ TRƯỞNG
|
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản thành viên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, vui lòng Đăng ký tại đây!