• Tổng quan
  • Nội dung
  • VB gốc
  • Tiếng Anh
  • Hiệu lực
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Nội dung hợp nhất 

    Tính năng này chỉ có tại LuatVietnam.vn. Nội dung hợp nhất tổng hợp lại tất cả các quy định còn hiệu lực của văn bản gốc và các văn bản sửa đổi, bổ sung, đính chính... trên một trang. Việc hợp nhất văn bản gốc và những văn bản, Thông tư, Nghị định hướng dẫn khác không làm thay đổi thứ tự điều khoản, nội dung.

    Khách hàng chỉ cần xem Nội dung hợp nhất là có thể nắm bắt toàn bộ quy định hiện hành đang áp dụng, cho dù văn bản gốc đã qua nhiều lần chỉnh sửa, bổ sung.

    =>> Xem hướng dẫn chi tiết cách sử dụng Nội dung hợp nhất

  • Tải về
Lưu
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao . Vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem chi tiết.
Theo dõi VB
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao . Vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem chi tiết.
Ghi chú
Báo lỗi
In

Quyết định 807/QĐ-UBND Bình Định 2025 ban hành Ngân hàng tên đường, công trình công cộng

Ngày cập nhật: Thứ Hai, 17/03/2025 09:41 (GMT+7)
Cơ quan ban hành: Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Định
Số công báo:
Số công báo là mã số ấn phẩm được đăng chính thức trên ấn phẩm thông tin của Nhà nước. Mã số này do Chính phủ thống nhất quản lý.
Đang cập nhật
Số hiệu: 807/QĐ-UBND Ngày đăng công báo: Đang cập nhật
Loại văn bản: Quyết định Người ký: Lâm Hải Giang
Trích yếu: Ban hành Ngân hàng tên đường và công trình công cộng tỉnh Bình Định
Ngày ban hành:
Ngày ban hành là ngày, tháng, năm văn bản được thông qua hoặc ký ban hành.
10/03/2025
Ngày hết hiệu lực:
Ngày hết hiệu lực là ngày, tháng, năm văn bản chính thức không còn hiệu lực (áp dụng).
Đang cập nhật
Ngày áp dụng:
Ngày áp dụng là ngày, tháng, năm văn bản chính thức có hiệu lực (áp dụng).
Đã biết
Tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao. Vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem chi tiết.
Tình trạng hiệu lực:
Cho biết trạng thái hiệu lực của văn bản đang tra cứu: Chưa áp dụng, Còn hiệu lực, Hết hiệu lực, Hết hiệu lực 1 phần; Đã sửa đổi, Đính chính hay Không còn phù hợp,...
Đã biết
Tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao. Vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem chi tiết.
Lĩnh vực: Xây dựng Văn hóa-Thể thao-Du lịch

TÓM TẮT QUYẾT ĐỊNH 807/QĐ-UBND

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải Quyết định 807/QĐ-UBND

Tải văn bản tiếng Việt (.pdf) Quyết định 807/QĐ-UBND PDF (Bản có dấu đỏ)

Vui lòng Đăng nhập để tải văn bản. Nếu chưa có tài khoản, vui lòng Đăng ký tại đây!

Tình trạng hiệu lực: Đã biết
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng hiệu lực: Đã biết
ỦY BAN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH ĐỊNH
Số: /QĐ-UBND
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bình Định, ngày tháng năm 2025
QUYẾT ĐỊNH
Ban hành Ngân hàng tên đường và công trình công cộng tỉnh Bình Định
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH
Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 19/02/2025;
Căn cứ Nghị định số 91/2005/NĐ-CP ngày 11/7/2005 của Chính phủ ban
hành Quy chế đặt tên, đổi tên đường, phố và công trình công cộng;
Căn cứ Thông tư số 36/2006/TT-BVHTT ngày 20/3/2006 của Bộ trưởng Bộ
Văn hóa - Thông tin hướng dẫn thực hiện một số điều của Quy chế đặt tên, đổi tên
đường, phố và công trình công cộng ban hành kèm theo Nghị định số 91/2005/NĐ-
CP ngày 11/7/2005 của Chính phủ;
Thực hiện Kết luận số 478-KL/TU ngày 05/3/2025 của Ban Thường vụ Tỉnh
ủy;
Theo đề nghị của Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tại Tờ trình số
2660/TTr-SVHTT ngày 28/10/2024.
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Ngân hàng tên đường và công
trình công cộng tỉnh Bình Định.
Điều 2. Giao Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì, phối hợp với các sở,
ban, ngành, UBND các huyện, thị xã, thành phố và các cơ quan, đơn vị liên quan
triển khai thực hiện Quyết định này.
Điều 3. Chánh Văn phòng UBND tỉnh, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và
Du lịch; Thủ trưởng các sở, ban, ngành, đơn vị liên quan; Chủ tịch UBND các
huyện, thị xã, thành phố và các tổ chức, cá nhân liên quan chịu trách nhiệm thi
hành Quyết định này kể từ ngày ký./.
Nơi nhận:
- Như Điều 3;
- Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch;
- Thường trực Tỉnh ủy;
- Thường trực HĐND tỉnh;
- CT, các PCT UBND tỉnh;
- Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy;
- Ban VH-XH, HĐND tỉnh;
- PVP VX;
- Lưu: VT, K11.
TM. ỦY BAN NHÂN DÂN
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH
Lâm Hải Giang
807
10
3
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
NGÂN HÀNG TÊN ĐƯỜNG
VÀ CÔNG TRÌNH CÔNG CỘNG
TỈNH BÌNH ĐỊNH
Bình Định - 2025
Số: 807/QĐ-UBND
Thời gian ký: 2025-03-10T21:43:54+07:00
2
NGÂN HÀNG TÊN ĐƯỜNG VÀ
CÔNG TRÌNH CÔNG CỘNG TỈNH BÌNH ĐỊNH
Căn cứ Nghị định số 91/2005/NĐ-CP ngày 11/7/2005 của Chính phủ về việc ban hành Quy chế đặt tên, đổi tên đường, phố
và công trình công cộng; Thông tư số 36/2006/TT-BVHTT ngày 20/3/2006 của Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa. Thể
thao và Du lịch) Hướng dẫn thực hiện một số điều của Quy chế đặt tên, đổi tên đường, phố và công trình công cộng ban hành
kèm theo Nghị định số 91/2005/NĐ-CP ngày 11/7/2005 của Chính phủ; Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành Ngân hàng tên đường và
công trình công cộng tỉnh Bình Định gồm các nội dung sau:
1. Tiêu chí Ngân hàng tên đường và công trình công cộng:
- Nội dung tư liệu chính xác, phong phú, gắn với truyền thống lịch sử, văn hóa dân tộc, tôn vinh các danh nhân, anh hùng
dân tộc, nhân vật lịch sử có nhiều công lao, cống hiến trong quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc và của địa phương để
áp dụng đặt tên đường và công trình công cộng trên địa bàn tỉnh.
- Tên các nhân vật được lựa chọn theo tiêu chí: Là người tiêu biểu, nổi tiếng, có đức, có tài, có nhiều đóng góp cho đất
nước và địa phương, trong đó chú trọng các danh nhân, nhân vật lịch sử có quan hệ gắn bó với tỉnh Bình Định, tên quen thuộc, dễ
nhớ, dễ gọi, đã được chọn đặt tên đường tại các tỉnh, thành phố trong nước.
- Ngân hàng tên được phân theo các nhóm để các địa phương căn cứ vào vị trí, vai trò lịch sử, công lao của từng người,
từng sự kiện lịch sử mà tham khảo, lựa chọn, sử dụng đặt tên cho các đô thị trên địa bàn tỉnh phù hợp với quy mô từng loại đường
phố và công trình công cộng trên địa bàn tỉnh Bình Định.
- Mỗi loại tên được sắp xếp theo thứ tự vần A, B, C, gồm: Tên, tóm tắt vai trò lịch sử, công lao của nhân vật, ý nghĩa lịch
sử, địa phương đặt tên.
2. Tài liệu tham khảo:
- Đại Việt sử ký toàn thư - NXB Khoa học xã hội, 1993.
- Lịch sử Việt Nam - NXB Khoa học xã hội, 2017.
- Một số trận quyết chiến chiến lược trong lịch sử dân tộc - NXB Hồng Đức, 2019.
- Từ điển Bách khoa Việt Nam - NXB Từ điển Bách khoa, 1996, 2002, 2003, 2005.
- Từ điển Nhân vật lịch sử Việt Nam - Nguyễn Quang Thắng, Nguyễn Bá Thế, NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, 2006.
3
- Từ điển Nhân vật lịch sử Việt Nam - Đinh Xuân Lâm, Trương Hữu Quýnh chủ biên, NXB Giáo dục, H. 2005.
- Từ điển Tiếng Việt phổ thông - Viện Ngôn ngữ học, NXB Phương Đông, 2008.
- Chân dung anh hùng thời đại Hồ Chí Minh, 2 tập - NXB Lao động và NXB Quân đội nhân dân, 2000.
- Ký sự Sư đoàn Sao Vàng - NXB Quân đội nhân dân, 1984.
- Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bình Định 1930 - 1945, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Bình Định - 9/2015.
- Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bình Định 1945 - 1954, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Bình Định - 4/ 2018.
- Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bình Định 1954 - 1975, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Bình Định - 9/2015.
- Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bình Định 1975 - 2005, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Bình Định, NXB Chính trị quốc gia, H -
2010.
- Lịch sử Đảng bộ thành phố Quy Nhơn 1930 - 1975, Ban Thường vụ Thành ủy Quy Nhơn (1998).
- Lịch sử Đảng bộ huyện An Nhơn 1930 - 1975, Ban Chấp hành Đảng bộ huyện An Nhơn (1988).
- Lịch sử Đảng bộ huyện Tây Sơn 1930 - 1975, Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Tây Sơn (1999).
- Lịch sử Đảng bộ huyện Hoài Ân 1930 - 1975, Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Hoài Ân (1981).
- Lịch sử Đảng bộ huyện Tuy Phước 1945 - 1975, Ban Tuyên giáo Huyện ủy Tuy Phước (1991).
- Lịch sử Đảng bộ huyện Hoài Nhơn (1930 - 1975), Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Hoài Nhơn (1988).
- Lịch sử Đảng bộ huyện Phù Cát 1930 - 1975, Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Phù Cát (1996).
- Lịch sử Đảng bộ huyện Phù Mỹ (1930 - 1975), Ban Thường vụ Huyện ủy Phù Mỹ (2004).
- Lịch sử Đảng bộ huyện Vĩnh Thạnh (1945 - 1975), Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Vĩnh Thạnh (1998).
- Lịch sử Đảng bộ huyện An Lão (1945 - 1975), Ban Chấp hành Đảng bộ huyện An Lão (2004).
- Lịch sử Đảng bộ huyện Vân Canh (1930 - 1975), Ban Thường vụ Huyện ủy Vân Canh (2000).
- Đảng bộ tỉnh Bình Định - Từ Đại hội đến Đại hội - Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Bình Định, 9/2020.
- Nhà Tây Sơn - Quách Tấn, Quách Giao, Sở Văn hóa - Thông tin Nghĩa Bình, 1988.
- Những nữ anh hùng miền Nam - NXB Phụ nữ, 1968.
- Nước non Bình Định - NXB Thanh niên, 1996.
- Sổ tay địa danh Việt Nam - NXB Đại học Quốc gia, H. 2002.
- Tư liệu về phong trào Tây Sơn - Trên đất Nghĩa Bình - Sở Văn hóa - Thông tin Nghĩa Bình, 1988.
- Việt Nam những sự kiện lịch sử, NXB Giáo dục, 2005.
- Võ nhân Bình Định - Quách Tấn, Quách Giao - Sở Văn hóa - Thông tin Nghĩa Bình, 1988.
- Nhân vật Bình Định - Lộc Xuyên Đặng Quý Địch, NXB Văn hóa dân tộc, H. 2008.
- Tây Sơn lương tướng ngoại truyện - Nguyễn Trọng Trì, Ty Văn hóa - Thông tin Nghĩa Bình, 1979.
4
3. Nội dung Ngân hàng tên đường và công trình công cộng:
Để thuận lợi trong việc tra cứu, Ngân hàng tên được chia thành 09 nhóm sau:
1. Tên các vị thủy tổ dân tộc, vị vua các triều đại, anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới (39).
2. Tên các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước qua các thời kỳ (đã qua đời) (44).
3. Tên các danh nhân, nhân vật lịch sử tiêu biểu của đất nước (255).
4. Tên các nhân vật thời cận, hiện đại đóng góp trên các lĩnh vực: lịch sử, quân sự, kinh tế, chính trị, giáo dục, y học, văn
học, nghệ thuật, khoa học…. (147)
5. Tên các anh hùng, liệt sĩ, nhà hoạt động cách mạng tiêu biểu của đất nước (74).
6. Tên các danh nhân, nhân vật lịch sử quê ở Bình Định hoặc có cống hiến với Bình Định, với phong trào Tây Sơn (83).
7. Tên các anh hùng, liệt sĩ tiêu biểu tỉnh Bình Định (59).
8. Tên các đồng chí Bí thư, Chi ủy Chi bộ đảng đầu tiên, Bí thư Tỉnh ủy, Bí thư Huyện ủy, nhà hoạt động cách mạng tiêu
biểu thời kỳ chống Pháp và chống Mỹ (đã qua đời) (28).
9. Tên các danh từ chung có ý nghĩa tiêu biểu, địa danh nổi tiếng, sự kiện lịch sử, phong trào cách mạng, di tích lịch sử -
văn hóa (71).
Tổng số tên: 800
5
NHÓM 1: TÊN CÁC VỊ THỦY TỔ DÂN TỘC, VỊ VUA CÁC TRIỀU ĐẠI,
ANH HÙNG DÂN TỘC, DANH NHÂN VĂN HÓA THẾ GIỚI
STT
HỌ VÀ TÊN
TÓM TẮT TIỂU SỬ
ĐÃ ĐẶT TÊN
ĐƯỜNG
1
An Dương
Vương
(Trước CN)
Vương hiệu của vua Thục Phán, người sáng lập nước Âu Lạc, ông thuộc dòng dõi thủ lĩnh các bộ
lạc Âu Việt ở vùng Yên Bái, Cao Bằng. Đánh thắng vua Hùng Vương thứ 18, thống nhất nước Văn
Lang lập ra nhà nước Âu Lạc. An Dương Vương lên ngôi vua năm 257 trước Công nguyên, đóng đô
tại Phong Khê, sau dời về Cổ Loa, xây thành giống hình xoáy ốc nên gọi là Loa Thành. Vua là nhà
quân sự tài giỏi của buổi đầu dựng nước, trị vì nước được 50 năm, sau bị Triệu Đà lập mưu đánh
chiếm Âu Lạc. Tưởng nhớ ông, nhân dân lập đền thờ ở xã Cổ Loa, huyện Đông Anh, Hà Nội.
Hà Nội,
TP.HCM, Huế,
Đà Nẵng, Quy
Nhơn…
2
Âu Cơ
Tổ mẫu của dân tộc Việt, Mẹ của vua Hùng đầu tiên. Tương truyền bà sinh một bọc trứng nở trăm
người con. Các con khôn lớn, bà đem 50 người con lên núi, còn 50 người theo cha xuống đồng bằng.
Người con cả về sau nối truyền trị nước, xưng hiệu Hùng Vương, lấy tên nước là Văn Lang.
Hà Nội,
TP.HCM, Quy
Nhơn…
3
Chu Văn An
(1292 - 1370)
Danh nhân văn hóa thế giới, Danh sĩ đời Trần, nhà giáo dục lớn của nước ta, quê quán ở xã
Quang Liệt, huyện Thanh Đàm, tỉnh Hà Đông, nay là Hà Nội. Ông là một vị quan liêm khiết, một nhà
giáo nghiêm khắc, mẫu mực, dạy học nổi tiếng. Đời vua Trần Minh Tông, ông là quan Quốc tử giám
Tư nghiệp và thầy dạy học các hoàng tử. Năm 1370 ông mất, được vua Trần Nghệ Tông ban tên thuỵ
là Văn Trinh, thờ ở Văn Miếu. Ông để lại bộ sách: Tứ thư thuyết ước, tập thơ Tiều Ẩn thi tập, Quốc
ngữ thi tập (tập này bị quân Minh lấy đưa về nước). Năm 2019, UNESCO vinh danh danh nhân văn
hóa thế giới nhân kỷ niệm 650 năm Ngày mất nhà giáo Chu Văn An.
Hà Nội,
TP.HCM, Huế,
Đà Nẵng, Quy
Nhơn
4
Duy Tân
(1900 - 1945)
Vị vua yêu nước, tên húy là Nguyễn Phúc Vĩnh San, con thứ tám vua Thành Thái. Lên ngôi vua
năm 1907, nhờ gần gũi với các chí sĩ yêu nước, ông dần dần khẳng định thái độ bất hợp tác với quân
Pháp. Bí mật liên lạc với các chí sĩ yêu nước là Trần Cao Vân và Thái Phiên, tán thành cuộc khởi
nghĩa trong năm 1916, việc đại nghĩa thất bại, ông bị bắt và lưu đày sang châu Phi.
Đà Nẵng, Huế,
TP.HCM, Quy
Nhơn
5
Đinh Bộ Lĩnh
(925 - 979)
Vua sáng lập nhà Đinh, còn gọi là Đinh Tiên Hoàng, quê ở làng Đại Hoàng, thuộc động Hoa Lư
(nay là huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình), cha là Thứ sử Châu Hoan Đinh Công Trứ. Thuở nhỏ, ông
thường cưỡi trâu ra đồng chăn và nhóm họp bạn bè lấy cây lau làm cờ, tập đánh trận giả. Lớn lên đầu
quân và làm con rể Sứ quân Trần Lãm đóng ở Bố Hải Khẩu. Ông chỉ huy dẹp loạn 12 Sứ quân, thống
nhất đất nước. Năm 968, ông lên ngôi vua, lấy quốc hiệu là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư. Ông có
công lớn trong việc thống nhất quốc gia, mở ra nền độc lập đầu tiên của nước ta. Ông mất năm 979, ở
ngôi vua 12 năm. Lăng và đền thờ ở huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.
TP.HCM, Quy
Nhơn,
Hà Nội đặt tên
“Đinh Tiên
Hoàng”
6
Hai Bà Trưng
(? - 43)
Hai nữ anh hùng dân tộc. Tên là Trưng Trắc và Trưng Nhị, quê gốc ở làng Hạ Lôi (huyện Mê
Linh, Hà Tây, nay là Hà Nội). Hai bà là người tiết nghĩa, tính khí hùng dũng, quyết đoán, giỏi võ
TP.HCM, Huế,
Đà Lạt, Đà Nẵng,
6
nghệ. Mùa xuân năm 40, hai bà tập hợp nghĩa quân nổi dậy chống lại ách đô hộ của nhà Đông Hán, lật
đổ chính quyền đô hộ trên toàn nước ta. Nghĩa quân suy tôn làm vua, xưng tôn hiệu Trưng Nữ Vương,
kinh đô đặt ở Mê Linh. Cuối năm 42, quân Nam Hán quay lại đàn áp. Hai Bà cùng toàn quân dân
quyết kháng chiến, sau nghĩa quân yếu thế phải lui về Mê Linh chống đỡ. Nhưng thế giặc quá mạnh,
không giữ nổi hai Bà gieo mình xuống sông Hát trẫm tiết oanh liệt.
Quy Nhơn…
7
Hải Thượng
Lãn Ông
(1720 - 1792)
Danh nhân văn hóa thế giới, Đại danh y nổi tiếng thời Lê, còn có tên Lê Hữu Trác, quê ở làng
Liêu Xá, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, trấn Hải Dương (nay thuộc huyện Yên Mỹ, tỉnh
Hưng Yên). Ông thi đỗ Hương cống nhưng chán công danh, nên lánh về ẩn tại quê mẹ là xã Tịnh
Diễm, huyện Hương Sơn, Hà Tĩnh. Ông tinh thông y thuật, giỏi văn chương, thanh liêm rất mực, sau
khi mất còn để lại các tác phẩm: Tân Hoa Hải Thượng y tông tâm lĩnh dương an toàn trạch, thường
gọi tắt Lãn Ông y nghiệp, hay Lãn Ông y tập, hoặc Y tông tâm tĩnh (loại sách khảo cứu về y học và
thảo dược gồm 66 quyển). Thượng Kinh ký sự (kể lại cuộc hành trình của ông lên kinh (Thăng Long)
chữa bệnh cho Thế tử Trịnh Cán và chúa Trịnh Sâm). Ông còn làm thơ, thơ ông đầy vẻ cao khiết u
trầm, một bậc cao hiền đáng kính. Ông mất tại quê mẹ, mộ táng gần khe nước Cằn của làng Tịnh
Diễm, huyện Hương Sơn. Năm 2023, UNESCO vinh danh danh nhân văn hóa thế giới nhân kỷ niệm
300 năm Ngày mất Danh y Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác.
TP HCM, Quy
Nhơn, Hoài
Nhơn
8
Hàm Nghi
(1872 - 1943)
Là vị vua yêu nước, tên thật là Nguyễn Phúc Ưng Lịch. Năm 1885 ông cùng với Tôn Thất Thuyết
rời kinh thành lập chiến khu ở Tân Sở, ban Chiếu Cần vương kêu gọi sĩ phu yêu nước và nhân dân
đứng lên chống Pháp, phong trào Cần Vương được đông đảo nhân dân hưởng ứng. Năm 1888, ông bị
thực dân Pháp bắt, đày sang Angiêri và mất ở đó năm 1943.
Hà Nội, Huế, Đà
Nẵng, Quy
Nhơn…
9
Hồng Bàng
Tên tộc họ, cách đây hơn 4.000 năm, vua Đế Minh là cháu ba đời của Viêm Đế họ Thần Nông tuần
du phương Nam, lấy con gái Vũ Tiên, sinh ra Kinh Dương Vương, được vua cha cho làm vua phương
Nam lập ra họ Hồng Bàng. Kinh Dương Vương sinh ra Sùng Lãm lên nối ngôi lấy hiệu là Lạc Long
Quân. Lạc Long Quân lấy bà Âu Cơ sinh ra 100 con, 50 con theo cha, 50 con theo mẹ. Con trưởng nối
ngôi là Hùng Vương, đặt tên nước là Văn Lang. Các vua kế tiếp gọi là Hùng Vương theo thứ tự. Sau
nước Văn Lang bị Thục chiếm. Họ Hồng Bàng trị vì được 2622 năm.
TP.HCM, Hải
Phòng, Quy
Nhơn
10
Hồ Xuân Hương
(1772 - 1822)
Danh nhân văn hóa thế giới, Nữ sĩ tài hoa, bà chúa thơ Nôm. Bà là con ông Hồ Phi Diễn, quê ở
làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Bà kém nhan sắc, nhưng tài hoa văn chương, song
đường chồng con lận đận. Thơ bà hầu hết chua chát, khinh mạn mọi cấp, mọi giới và thường dùng
toàn những vần hiểm hóc nên ít người có tài họa lại. Bà để lại khá nhiều tập thơ, nhưng hiện chỉ có tập
Lưu hương ký gồm 28 bài thơ Nôm, 6 bài chữ Hán và một số văn chữ Hán. Thơ bà được công chúng
đón nhận, nên hiện tượng dân gian hóa làm cho thơ bà “tăng lên về số lượng” mà đa phần đều gán cho
bà là tác giả. Bà mất năm 1822, hưởng dương 50 tuổi. Năm 2021, UNESCO vinh danh danh nhân văn
hóa thế giới nhân kỷ niệm 250 năm Ngày sinh, 200 năm Ngày mất của nữ sĩ Hồ Xuân Hương.
Đà Lạt, Hà Nội,
Đà Nẵng,
TP.HCM, Quy
Nhơn
11
Hùng Vương
Quốc tổ dân tộc Việt Nam, họ Hồng Bàng dựng nước, 18 đời đều xưng hiệu Hùng Vương. Tên nước
Hà Nội,
7
là Văn Lang, đóng đô ở Phong Châu. Để nhớ ơn trời biển các vua Hùng đã có công dựng nước, nhân
dân ta đã lấy ngày 10 tháng 3 (âm lịch) hàng năm làm ngày Quốc giỗ.
TP.HCM, Cần
Thơ, Quy
Nhơn…
12
Lạc Long Quân
Vua, Thủy tổ đầu tiên của dân tộc Việt. Con vua Kinh Dương Vương, họ Hồng Bàng. Cùng với vợ
là Âu Cơ, sinh được 100 người con trai, sau nầy, họ trở thành ông tổ của các tộc người khác nhau ở
Việt Nam.
Hà Nội,
TP.HCM, Quy
Nhơn…
13
Lê Đại Hành
(941 - 1005)
Là miếu hiệu của vua Tiền Lê, ông tên thật là Lê Hoàn, quê ở làng Bảo Thái, huyện Thanh Liêm
(nay là làng Ninh Thái, tỉnh Nam Định). Ông lên ngôi vua năm 980, đặt niên hiệu là Thiên Phúc, mở
đầu triều đại nhà Tiền Lê. Là vị hoàng đế có công đóng góp lớn trong việc chống quân Tống phương
Bắc, quân Chiêm phương Nam, giữ gìn và củng cố nền độc lập dân tộc, nhiều công lao trong sự
nghiệp ngoại giao, xây dựng và kiến tạo đất nước Đại Cồ Việt. Ông trị vì đất nước được 26 năm.
Hà Nội,
TP.HCM, Đà
Nẵng, Hải
Phòng, Quy
Nhơn…
14
Lê Lợi
(1385 - 1433)
Anh hùng dân tộc, lãnh tụ khởi nghĩa chống quân Minh, vua khởi nghiệp nhà Hậu Lê. Quê ở thôn
Như Án, huyện Lương Giang, Thanh Hóa. Năm 1418, nêu cao cờ nghĩa kháng Minh, ông xưng là
Bình Định Vương. Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn kéo dài 10 năm thắng lợi, năm 1428 ông lên ngôi vua,
đóng đô ở Đông Kinh (Hà Nội), đặt quốc hiệu là Đại Việt, niên hiệu Thuận Thiên, mở ra một thời kỳ
mới độc lập dân tộc. Ông không chỉ có tài về quân sự, chính trị, ngoại giao mà còn có tài văn chương.
Nhiều tác phẩm do ông truyền cho Nguyễn Trãi soạn, ông duyệt lại rồi ngự phê, ông còn là tác giả của
Lam Sơn thực lục. Ông mất năm 1433, thọ 48 tuổi, ở ngôi 6 năm, miếu hiệu Lê Thái Tổ, lăng mộ táng
tại đất Lam Kinh.
Hà Nội,
TP.HCM, Đà
Nẵng, Hải
Phòng, Quy
Nhơn…
15
Lê Nhân Tông
(1441 - 1459)
Vua đời thứ ba nhà hậu Lê, quê quán Lam Sơn, Thọ Xuân, Thanh Hóa. Con thứ ba của vua Thái
Tông và Hoàng Hậu Tuyền Tu. Ông lên ngôi lúc mới 3 tuổi (1443), do còn quá nhỏ nên mọi việc do
Thái Hậu quyết đoán. Đến năm 1453, Nhân Tông mới bắt đầu nắm giữ quyền chính. Ông là vị vua có
lòng nhân ái, và công bằng. Ông giao cho Phan Phù Tiên trọng trách soạn bộ “Quốc Sử’’, chép từ đời
Trần Thánh Tông cho tới thời thuộc Minh chinh phục Chiêm Thành năm 1446, Bồn Man (1448). Vua
Nhân Tông trị vì được 17 năm, ông mất năm 1459.
Đà Nẵng
16
Lê Thánh Tông
(1442 - 1497)
Là vị vua thứ 5 thời Hậu Lê, nhà văn hóa lớn của dân tộc. Quê quán ở Thanh Hóa, tên thật là Lê
Tư Thành. Ông là người thông minh, tinh thông nhiều môn học thuật. Trị vì triều đại thịnh vượng,
hoàn thành những cải cách kinh tế, chính trị, văn hóa. Lập ra Tao Đàn gồm 28 vị đại thần đứng đầu.
Để lại nhiều tác phẩm thơ, văn, sách có giá trị trong kho tàng văn hóa dân tộc. Ông mất năm 1497, trị
vì ngôi được 37 năm.
TP.HCM, Huế,
Đà Nẵng, Quy
Nhơn…
17
Lý Anh Tông
(1136 - 1175)
Vị vua thứ 6 nhà Lý, tên thật là Lý Thiên Tộ, là con trai thứ hai của vua Lý Thần Tông, mẹ là
hoàng hậu Lê thị. Anh ông là Lý Thiên Lộc là con phi tần nên không được lập làm người kế vị. Từ
năm 1171 đến năm 1172, Anh Tông xa giá đi tới những vùng núi non hiểm trở trong nước, quan sát
sinh hoạt của dân, rồi sai quan lại làm tập bản đồ nước
Đại Việt, soạn ra cuốn sách Nam Bắc phiên
giới đề. Tuy nhiên tập bản đồ đó tới nay không còn
Bắc Ninh, Hải
Dương
8
18
Lý Nam Đế
(503 - 548)
Vua, Anh hùng dân tộc, ông còn có tên Lý Bí, Lý Bôn, quê gốc ở xã Đồng Tiến, huyện Phổ Yên,
tỉnh Thái Nguyên. Ông có tài văn võ, làm quan thời nhà Lương đô hộ nước ta. Thấy cảnh tàn bạo của
kẻ xâm lược, ông từ quan về quê dấy binh đánh đuổi quân nhà Lương, dành lại đất đai giải phóng lãnh
thổ, đóng đô ở Long Biên, đặt quốc hiệu là Vạn Xuân, xưng là Nam Việt Đế, đặt niên hiệu Thiên Đức.
Năm sau tiến đánh Lâm Ấp, chiêu an dân chúng. Nhà Lương lại đem quân xâm lược, ông cùng các
tướng chiến đấu gan dạ, nhưng thế giặc quá mạnh, ông lui quân về Hưng Hóa. Năm 548, ông mắc
bệnh rồi mất. Ông là người lập nên nhà Tiền Lý, là vị vua Việt Nam đầu tiên “xưng đế” đối sánh với
phương Bắc và xây dựng cung điện làm nơi triều hội, gọi là cung Vạn Thọ. Đền thờ ông ở làng Giang
Xá, Hoài Đức, Hà Tây.
Hà Nội,
TP.HCM, Huế,
Quy Nhơn…
19
Lý Nhân Tông
(1065 - 1127)
Vị vua thứ 4 triều Lý, con thứ 4 của vua Lý Thánh Tông, ông còn có tên là Lý Càn Đức. Vua trị vì
được 56 năm, đến năm Đinh Mùi (1127) thì mất. Dưới thời vua Nhân Tông nhờ biết sử dụng người
tài đức để giúp vua trị nước, trong đó có Thái sư Lý Đạo Thành - một bậc huân hiền làm phụ chính, đã
hết lòng chăm lo việc nước nên các việc chính trị và võ bị được điều chỉnh sửa đổi phù hợp, tạo dựng
sự nghiệp lẫy lừng. Năm 1075, cho mở khoa thi Tam trường (là khoa thi đầu tiên ở nước ta) để chọn
nhân tài; năm 1076, lập Quốc Tử Giám và bổ nhiệm người văn hay chữ giỏi vào dạy; năm 1089, tổ
chức lại guồng máy cai trị, định quan chế, chia văn - võ ra làm 9 bậc. Riêng võ bị, danh tướng Lý
Thường Kiệt đã phụng mệnh vua đem quân đánh sang đất Trung Quốc và Chiêm Thành, đưa nước
nhà lên địa vị hùng cường lừng lẫy ở miền Đông Á thời bấy giờ.
Đà Nẵng, Thanh
Hóa, Bắc Ninh
20
Lý Thái Tổ
(974 - 1028)
Là miếu hiệu vị vua khai sáng nhà Lý, quê ở châu Cổ Pháp, lộ Bắc Giang (nay là làng Đình Bảng,
huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh), tên thật là Lý Công Uẩn. Thuở nhỏ, ông thông minh khác người, có tài
văn võ. Lớn lên làm quan đến chức Tả thân vệ Điện tiền Chỉ huy sứ của nhà Tiền Lê. Khi nhà Tiền Lê
suy vi, các đại thần phò ông lên ngôi vua, lấy hiệu là Thuận Thiên. Năm 1010, ông xuống Chiếu dời
đô từ Hoa Lư ra Đại La (sau đổi là Thăng Long, Hà Nội ngày nay). Vua sửa sang chính trị, trọng dụng
người tài, đãi trọng tăng sĩ, xây dựng nhiều chùa đúc tượng thờ Phật. Ông là một vị minh quân ưu tú
hiếm thấy trong lịch sử dân tộc.Vua mất năm 1028, ở ngôi được 19 năm. Ông còn là một tác gia đã để
lại nhiều tác phẩm có giá trị: Thiên đô chiếu (Chiếu dời đô), Hoàng triều ngọc văn, Tức sự…
Hà Nội, Đà
Nẵng, Huế, Đà
Lạt, Quy Nhơn…
21
Lý Thái Tông
(1000 - 1054)
Vị vua thứ hai đời nhà Lý, quê quán châu Cổ Pháp, lộ Bắc Giang, nay là tỉnh Bắc Ninh, còn có tên
gọi là Lý Phật Mã. Con trưởng vua Lý Thái Tổ, nối ngôi lúc 28 tuổi. Là vị vua thông minh, rất khéo
cai trị, chăm lo đời sống nhân dân, mở mang văn hóa. Triều đại ông được an thịnh, ban hành bộ Luật
Hình thư, bộ luật đầu tiên của Việt Nam.
Đà Nẵng
22
Lý Thánh Tông
(1023 - 1072)
Vị vua thứ 3 đời nhà Lý, quê quán châu Cổ Pháp, lộ Bắc Giang, nay là tỉnh Bắc Ninh, còn có tên
gọi là Lý Nhật Tôn. Con trưởng vua Lý Thái Tông, nối ngôi vua lúc 31 tuổi. Là vị vua có trách nhiệm
với nước nhà, thương dân, trọng dụng nhân tài, chú trọng chính trị, củng cố quốc phòng, chấn chỉnh
văn hóa, xã hội, giáo dục, Ông là người đầu tiên cho xây dựng Văn miếu và mở khoa thi bác học. Đây
là thời kỳ cực thịnh của nhà Lý.
Hà Nội, Đà
Nẵng, TP.HCM,
Quy Nhơn
9
23
Lý Thần Tông
(1115 - 1138)
Vua, được bác là vua Lý Nhân Tông lập làm Thái Tử, truyền ngôi vào năm Đinh Mùi (1128). Dưới
thời ông, nhờ các bậc hiền thần hết lòng phò tá nên việc nước được chu toàn. Đặc biệt, vua coi trọng
việc học hành và khuyến khích việc canh nông. Có công đánh đuổi người Chân Lạp và Chiêm Thành
sang quấy nhiễu ở vùng biên thuỳ, bảo vệ chủ quyền dân tộc. Ông làm vua được 10 năm thì mất,
truyền ngôi lại cho thái tử Thiên Tộ tức vua Lý Anh Tông.
Bắc Ninh
24
Mạc Đăng Dung
(1483 - 1541)
Vua đầu nhà Mạc, quê ở huyện Nghi Dương, tỉnh Hải Dương. Ông con nhà nghèo nhưng có sức
khỏe, có chí lớn. Năm 1516, ông thi võ đỗ đệ nhất Đô lực sĩ, làm quan đến chức Chỉ huy sứ, coi sóc
các đạo quân, sau được tấn phong làm Thái sư. Năm 1527, lật đổ vua Lê dựng nên nhà Mạc, nhưng
ông ở ngôi chỉ 3 năm, rồi truyền ngôi cho con lớn là Mạc Đăng Doanh, làm Thái thượng hoàng. Ông
mất năm 1541.
Gia Lai, Hải
Phòng, Đà Nẵng,
Hà Nội…
25
Mai Hắc Đế
(? - 723)
Vua, Anh hùng dân tộc chống ách đô hộ của nhà Đường thế kỷ thứ VIII. Tên thật là Mai Thúc
Loan, quê ở Thạch Bắc, Thạch Hà, Hà Tĩnh. Năm 722, ông cùng con là Mai Thúc Huy, chiêu mộ
dũng sĩ dấy binh khởi nghĩa, đánh đuổi quan quân nhà Đường, tự lập làm vua, đóng ở núi Vệ, Nam
Đàn. Khi lên ngôi vua vì tướng mạo đen sạm nên nhân dân xưng tặng là Mai Hắc Đế. Ông là người
đầu tiên liên kết với Chiêm Thành, Chân Lạp gây thân thế tạo lực lượng đồng minh chống ngoại xâm.
Giữa cuộc chiến cam go, ông đột ngột bị bệnh rồi mất vào năm 723. Hiện ở núi Vệ, vẫn còn di tích
thành cổ Mai Hắc Đế và đền thờ ông ở xã Hương Lãm, Nam Đàn, Nghệ An.
Hà Nội,
TP.HCM, Đà
Nẵng, Huế, Quy
Nhơn…
26
Ngô Quyền
(899 - 944)
Anh hùng dân tộc, Danh tướng, quê ở làng Đường Lâm, Sơn Tây, Hà Tây, nay là Hà Nội. Là
người có sức khoẻ, chí lớn, mưu cao, mẹo giỏi. Được phong làm Thứ Sử, cai quản châu Ái (Thanh
Hóa). Chỉ huy đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng năm 938, giành lại nền độc lập chủ
quyền dân tộc. Ông xưng vương, lập ra nhà Tiền Ngô. Mất năm 944, được nhân dân khắp nơi lập đền
thờ phụng.
Hà Nội, Đà
Nẵng, Huế,
TP.HCM, Hải
Phòng, Quy
Nhơn…
27
Nguyễn Đình
Chiểu
(1822 - 1888)
Danh nhân văn hóa thế giới, Chí sĩ yêu nước, quê ở huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên, sinh ra tại
Bình Dương, Gia Định. Năm 21 tuổi ông đỗ Tú tài, sau ra Huế ở học, chờ khoa thi năm 1849. Nhận
được tin mẹ mất, ông bỏ thi trở về chịu tang, dọc đường khóc thương mẹ rồi bị bệnh mù hai mắt. Thời
gian sau, ông dạy học tại nhà, học trò theo học rất đông, được xưng tặng là Đồ Chiểu. Khi Pháp chiếm
Gia Định, ông lui về ở Ba Tri, Bến Tre, tiếp tục dạy học và làm thuốc. Ông liên hệ mật thiết với các
nhóm nghĩa binh kháng Pháp. Tích cực dùng văn chương kích động lòng yêu nước của các giới bất
hợp tác với kẻ thù, dù chúng dùng mọi thủ đoạn mua chuộc ông. Khi được tin Trương Định mất, ông
làm văn tế Vong hồn mộ nghĩa thương xót bao chiến sĩ hy sinh vì đất nước. Để lại nhiều thơ ca yêu
nước và những tác phẩm chính: Lục Vân Tiên, Dương Từ Hà Mậu, Ngư tiều vấn đáp y thuật… Ông là
một nhà thơ lớn, một chiến sĩ kháng Pháp, một nhà văn hóa của dân tộc cuối thế kỷ XIX. Năm 2021,
UNESCO vinh danh danh nhân văn hóa thế giới nhân kỷ niệm 200 năm Ngày sinh danh nhân Nguyễn
Đình Chiểu.
TP.HCM, Đà
Nẵng, Huế, Quy
Nhơn
28
Nguyễn Du
Đại thi hào dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới, xuất thân trong một gia đình quan lại khoa bảng
Hà Nội, Đà
10
(1765 - 1820)
nổi tiếng Bắc Hà, quê gốc ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Thân phụ là Nguyễn
Nghiễm làm quan tới chức Tể tướng triều Lê Trung Hưng. Ông có chí học tập, rèn luyện tài năng.
Năm 1783, đi thi đậu Tam trường. Năm 1802, được mời làm Tri huyện Phù Dung (Hải Dương), sau
thăng Tri phủ Thường Tín. Năm 1805, ông được điều vào Kinh giữ chức Đông Các học sĩ và được
thăng Cần chánh điện Học sĩ, sung làm Chánh sứ sang cống nhà Thanh. Khi về, được thăng Lễ bộ
Hữu Tham tri. Ông để lại các tác phẩm chính như: Truyện Kiều (bằng chữ Nôm), Thanh Hiên thi tập,
Bắc hành tạp lục (chữ Hán), Văn tế thập loại chúng sinh… Tác phẩm Truyện Kiều nổi tiếng đã đưa
ông lên hàng cao nhất trong mọi thời đại của nền văn học Việt Nam. Ông là nhà thơ nhân đạo lỗi lạc
với tấm lòng sâu sắc, bao dung, dùng ngòi bút phê phán hiện thực mạnh mẽ, sắc bén, có công lớn
trong việc đưa ngôn ngữ văn học Tiếng Việt lên trình độ điêu luyện. Năm 2015, UNESCO vinh danh
danh nhân văn hóa thế giới nhân kỷ niệm 250 năm Ngày sinh thi hào Nguyễn Du.
Nẵng, Huế,
TP.HCM, Vinh,
Quy Nhơn…
29
Nguyễn Hoàng
(1524 - 1613)
Vị Chúa đầu tiên khai sáng nhà Nguyễn, quê gốc vùng Gia Miêu, huyện Tống Sơn, Thanh Hóa.
Ông là người thần thái khôi ngô, thông minh tài trí. Năm 21 tuổi đã được tập phong Hạ Khê Hầu. Có
công lao dẹp loạn, chém tướng nhà Mạc, vua Lê phong tước Đoan Quận Công. Năm 1570, được
phong Tổng trấn tướng quân kiêm lãnh hai xứ Thuận - Quảng. Ông chăm lo vỗ về quân dân Thuận
Hóa, ban hành chính sách dưỡng dân, thu dùng hào kiệt, sưu thuế nhẹ, cho thuyền buôn ngoại quốc
vào buôn bán đông đúc, xứ Thuận - Quảng trở nên một nơi đô hội lớn. Năm 1601, cho xây chùa Thiên
Mụ ở Huế, chùa Long Hưng, chùa Bảo Châu ở Quảng Nam, chùa Kính Thiên ở Quảng Bình. Năm
1611, đánh tan quân Chiêm xâm lấn Thuận - Quảng, lấy đất phên dậu lập phủ Phú Yên… Ông là
người đặt nền tảng cho việc gây dựng cơ nghiệp triều Nguyễn sau này, có công lao rất lớn trong việc
mở nước.
Huế, Đà Nẵng,
Quy Nhơn
30
Nguyễn Nhạc
(1743 - 1793)
Thủ lĩnh phong trào Tây Sơn, vua triều Tây Sơn, quê ở làng Kiên Mỹ, huyện Tây Sơn, Bình Định.
Năm 1771, cùng với hai em là Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ khởi xướng và lãnh đạo phong trào Tây
Sơn. Năm 1778, lên ngôi vua lấy niên hiệu Thái Đức, đóng đô ở thành Hoàng Đế (Bình Định). Có
công chỉ đạo đánh tan quân Nguyễn, quân Xiêm ở phía Nam, lật đổ chính quyền vua Lê, chúa Trịnh ở
phía Bắc, thống nhất đất nước. Ông mất năm 1793, ở ngôi vua 15 năm.
Quy Nhơn, Tuy
Phước, Phú
Phong. An
Nhơn…
31
Nguyễn Tất
Thành
(1890 - 1969)
Lãnh tụ, anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới, quê quán làng Kim Liên,
huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Là người thanh niên yêu nước, có hoài bão, chí hướng lớn. Trên hành
trình thực hiện hoài bão cứu nước của mình, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã đến
Bình Định cùng với cha là Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc (được triều đình Huế bổ nhiệm Tri huyện Bình
Khê). Người ở lại Quy Nhơn một thời gian học thêm tiếng Pháp từ năm 1909-1910, sau đó vào Phan
Thiết dạy học ở Trường Dục Thanh. Năm 1911 Người rời bến cảng Nhà Rồng ra nước ngoài, tìm đến
với chủ nghĩa Mác-Lênin, phong trào công nhân thế giới, tham gia Quốc tế Cộng sản III, sáng lập ra
Đảng Cộng sản Việt Nam. Sau này Người trở thành Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tư tưởng, đạo đức, phong
cách của Người mãi mãi là tấm gương sáng cho các thế hệ hôm nay và mai sau học tập, noi theo. Năm
Hà Nội, Đà
Nẵng, Huế,
TP.HCM, Hải
Phòng, Nha
Trang, Quy
Nhơn (đặt tên
đường và quảng
trường)…
11
1990, UNESCO vinh danh danh nhân văn hóa thế giới nhân kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ
Chí Minh.
32
Nguyễn Trãi
(1380 - 1442)
Anh hùng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất, danh nhân văn hóa thế giới, tài đức vẹn toàn, người làng
Nhị Khê, huyện Thường Tín, Hà Tây, nay là Hà Nội. Đỗ Tiến sĩ năm 1400, làm Ngự sử đại phu thời
Hồ Qúy Ly. Năm 1407, giặc Minh xâm lược nước ta, ông cùng Lê Lợi lãng đạo cuộc khởi nghĩa Lam
Sơn, soạn “Bình Ngô sách”, nêu con đường cứu nước với chủ trương “đánh vào lòng người”. Soạn
thảo nhiều thư từ gửi cho triều Minh và các tướng giặc, tập hợp thành bộ “Quân trung từ mệnh tập”.
Khởi nghĩa Lam Sơn thắng lợi, ông thảo “Bình Ngô đại cáo”, có giá trị như một bản Tuyên ngôn độc
lập, người đời sau đánh giá là “thiên cổ hùng văn”. Năm 1440, ông lui về Côn Sơn ở ẩn và mất năm
1442. Năm 1980, UNESCO vinh danh danh nhân văn hóa thế giới nhân kỷ niệm 600 năm Ngày sinh
Nguyễn Trãi.
Hà Nội, Đà
Nẵng, TP.HCM,
Cần Thơ, Quy
Nhơn…
33
Quang Trung
(hay Nguyễn
Huệ)
(1753 - 1792)
Hoàng đế, Anh hùng dân tộc, thiên tài quân sự, nhà chính trị, ngoại giao kiệt xuất thế kỷ XVIII.
Tên thật là Nguyễn Huệ, quê ở làng Kiên Mỹ, huyện Tây Sơn, Bình Định. Ông là người thông minh
lỗi lạc, giỏi cầm quân, năm 1771 cùng anh là Nguyễn Nhạc dấy binh khởi nghĩa, chỉ huy đánh quân
Nguyễn ở phía Nam, diệt nhà Trịnh ở phía Bắc, đại thắng quân xâm lược Xiêm trận Rạch Gầm - Xoài
Mút. Năm 1788, trước âm mưu thôn tính nước ta của nhà Thanh, Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế, lấy
hiệu là Quang Trung, cầm quân tiến ra Bắc đánh tan 29 vạn quân xâm lược Mãn Thanh thống nhất đất
nước xuân Kỷ Dậu 1789. Ông cho thực hiện nhiều chủ trương, chính sách đối nội, đối ngoại, cải cách
văn hoá, giáo dục, kinh tế tiến bộ nhằm làm cho nước ta hùng cường, tự chủ. Ông mất năm 1792, làm
vua được 4 năm. Sự nghiệp vẻ vang của Hoàng đế Quang Trung và phong trào Tây Sơn mãi mãi đi
vào lịch sử và lòng dân như một khúc ca hùng tráng trong thiên anh hùng ca bất diệt của dân tộc.
TP.HCM, Huế,
Quy Nhơn đặt
tên đường
“Nguyễn Huệ”
và Quảng trường
“Quang Trung”;
Hà Nội, Đà
Nẵng, Hải Phòng
đặt tên “Quang
Trung”…
34
Thành Thái
(1879 - 1954)
Vị vua đời thứ 10 triều Nguyễn, tên thật là Nguyễn Phúc Bửu Lân. Ông lên ngôi vua năm 1889, là
ông vua thông minh, có óc duy tân và tinh thần yêu nước, có nhiều hành động chống đối Pháp công
khai. Năm 1907, thực dân Pháp buộc ông thoái vị và lưu đày sang Châu Phi.
TP.HCM, Đà
Nẵng, Quy Nhơn
35
Trần Anh Tông
(1276 - 1320)
Là vị vua đời thứ tư của nhà Trần, quê làng Tức Mặc, phủ Thiên Trường, Nam Định. Ông lên ngôi
lúc mới 17 tuổi, tiếp tục sự nghiệp của vua cha xây dựng, mở mang bờ cõi, thực hiện giao ước của vua
Trần Nhân Tông gả em gái là công chúa Huyền Trân cho vua Chiêm là Chế Mân. Đất nước Đại Việt
được mở rộng về phía Nam đến phía Bắc sông Thu Bồn. Ông trị vì 21 năm, sau đó truyền ngôi cho
con, thực hiện ước nguyện tu Phật, sáng tác thơ ca. Ông là tác giả của nhiều tác phẩm: Thủy vân tùy
bút ngoại tập và các bài: Thạch dược châm, Pháp sự tân văn, Vân Tiêu Am, Chiêm Thành Hòan Chu
bạc Phúc Thành cảng, Ký Phổ Tuệ tôn giá…
Đà Nẵng, Huế,
Quy NHơn
36
Trần Hưng Đạo
(1231 - 1300)
Anh hùng dân tộc, vị tướng kiệt xuất, ông tên thật là Trần Quốc Tuấn, thuộc tôn thất nhà Trần, quê
làng Tức Mặc, phủ Thiên Trường, nay là huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định. Ông có tài thao lược văn võ
song toàn, khi quân Nguyên xâm lược nước ta vào năm 1284, ông được vua Trần Nhân Tông phong
làm Quốc công Tiết chế, giao quyền tổng chỉ huy các đạo quân thuỷ bộ. Dưới tài chỉ huy của ông,
Hà Nội, Đà
Nẵng, Huế,
TP.HCM, Hải
Phòng, Nha
12
quân và dân Đại Việt chiến thắng vang dội ở Chương Dương, Hàm Tử, Vạn Kiếp, Bạch Đằng, đuổi
giặc ra khỏi nước ta, ông được phong Hưng Đạo Vương. Dưới trướng ông có hàng loạt danh tướng tài
giỏi và trung liệt vì đất nước. Sau khi ông mất, nhân dân lập đền thờ ông, gọi là Đền Kiếp Bạc. Nhiều
nơi trong nước, dựng tượng, lập đền thờ ông gọi là Đền Đức Thánh Trần. Ông để lại một số tác phẩm
có giá trị nội dung tư tưởng, tính lý luận và nghệ thuật quân sự: Hịch tướng sĩ, Binh thư yếu lược, Vạn
Kiếp tông bí truyền thư.
Trang, Quy
Nhơn…
37
Trần Nhân Tông
(1258 - 1308)
Là vị vua đời thứ ba nhà Trần, tên thật là Trần Khâm. Ông là người thông minh, biết nhìn thế cuộc.
Lên ngôi vua năm Mậu Dần (1278). Quân Nguyên - Mông xâm lược nước ta, ông cùng các đại thần ra
sức chấn chỉnh việc nước, hai lần đánh thắng quân Nguyên - Mông (năm 1285 và 1288). Triều đại ông
nổi bật tinh thần đại đoàn kết, hai lần mở Hội nghị: Bình Than (tháng 6/1282) và Diên Hồng (tháng
12/1285). Năm 1293, ông nhường ngôi cho con là Trần Anh Tông, làm Thái Thượng hoàng cùng coi
sóc việc chính trị. Năm 1299, lên núi Yên Tử ẩn tu, sáng lập ra phái Thiền tông Yên Tử. Năm 1301,
vân du miền Nam qua Chiêm Thành, hứa gả Công chúa Huyền Trân cho Chế Mân, ít năm sau vua
Anh Tông thực thi ý đồ ấy và lấy về cho Đại Việt đất hai châu Ô, Lý. Ông để lại nhiều tác phẩm thơ
văn: Thiền lâm thuyết chủy ngữ lục, Thạch Thất mị ngữ, Trung hưng thực lục, Trần Nhân Tông thi
tập…
Hà Nội,
TP.HCM, Đà
Nẵng, Hội An,
Quy Nhơn
38
Trần Thái Tông
(1218 - 1277)
Là vị vua mở nghiệp nhà Trần, tục danh là Trần Cảnh, quê làng Tức Mặc, phủ Thiên Trường,
huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định. Được vợ là Lý Chiêu Hoàng, nữ hoàng nhà Lý nhường ngôi, dưới sự
sắp đặt của Thái sư Trần Thủ Độ. Dưới triều đại ông, chính trị, văn hóa, tôn giáo đều thịnh, đất nước
hòa bình, nhân dân an lạc. Ông đã lãnh đạo nhân dân Đại Việt đánh bại cuộc xâm lược lần thứ nhất
của quân Nguyên Mông (1257). Ông trị vì 33 năm, sau đó truyền ngôi cho con, chuyên tâm nghiên
cứu đạo Phật, sáng tác thơ ca. Ông là tác giả của nhiều tác phẩm: Khóa hư lục, Thiên tông chỉ nam tự,
Kiến trung thường lệ, Quốc triều thông chế, Trần Thái Tông ngự tập…
Hà Nội,
TP.HCM, Đà
Nẵng
39
Trần Thánh
Tông
(1240 - 1290)
Vua đời thứ hai nhà Trần, tục danh là Trần Hoảng, miếu hiệu Thánh Tông, con trưởng vua Thái
Tông. Quê ở làng Tức Mặc, phủ Thiên Trường, tỉnh Nam Định. Ông ở ngôi 21 năm, truyền ngôi cho
con là Nhân Tông rồi làm Thái Thượng Hoàng. Khi quân Nguyên - Mông xâm lược nước ta năm 1285
và 1288, ông cùng vua Nhân Tông lãnh đạo cuộc kháng chiến thắng lợi. Sau đó ông lui về Bắc cung
tu, chuyên tâm soạn kinh sách Phật Giáo. Để lại các tác phẩm chính: Di hậu lục, Cơ cấu lục, Trần
Thánh Tông thi tập, Thiên Tông liễu ngỏ ca.
Hà Nội,
TP.HCM, Đà
Nẵng, Nam Định
13
NHÓM 2: TÊN CÁC ĐỒNG CHÍ LÃNH ĐẠO ĐẢNG, NHÀ NƯỚC
QUA CÁC THỜI KỲ (ĐÃ QUA ĐỜI)
STT
HỌ VÀ TÊN
TÓM TẮT TIỂU SỬ
ĐÃ ĐẶT TÊN
ĐƯỜNG
1
Chu Huy Mân
(1913 - 2006)
Đại tướng, Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, tên thật là Chu Văn Điều, quê quán xã Hưng Hòa,
thành phố
Vinh, tỉnh Nghệ An. Ông tham gia cách mạng từ năm 1929. Tham gia đội Tự vệ đỏ trong
cao trào
Xô viết Nghệ Tĩnh. Tháng 5/1935, ông đổi tên là Chu Huy Mân. Từ 1937-1940, bị thực dân
Pháp bắt giam trải qua nhiều nhà lao. Từ tháng 8/1945, ông vào quân đội và giữ các trọng trách: Chủ
tịch Ủy ban Quân chính 4 tỉnh Trung Bộ, Trưởng ban Kiểm tra Đảng Quân khu Việt Bắc, Bí thư
Đảng ủy Đại đoàn 316, tham gia
Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, Bí thư Khu ủy Tây Bắc, Tư
lệnh Quân khu 5, Chính ủy chiến dịch Huế - Đà Nẵng (1975), Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Đại
biểu Quốc hội khoá II, VI, VII, Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước khóa VII (1981-1986), Ủy
viên Ban chấp hành TƯ Đảng khoá III-V, Ủy viên
Bộ Chính trị khoá IV-V. Phong quân hàm Đại
tướng
năm 1980, được tặng thưởng nhiều Huân, huy chương cao quý.
Đà Nẵng, Vinh,
Quy Nhơn, Hoài
Nhơn…
2
Đàm Quang Trung
(1921 - 1995)
Bí thư Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, Thượng tướng Quân đội Nhân dân
Việt Nam. Có tên gọi khác là Đàm Ngọc Lưu, quê ở xã Sóc Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng.
Tham gia cách mạng năm 1937, đến năm 1940 bị Pháp bắt rồi quản thúc tại địa phương nhưng ông
vẫn hoạt động bí mật ở cơ sở, huấn luyện du kích ở vùng biên giới. Năm 1944 gia nhập Đội tuyên
truyền Giải phóng quân. Từng giữ nhiều chức vụ: Đại đoàn trưởng Đại đoàn 312, Tư lệnh Quân khu
Đông Bắc, Tư lệnh Quân khu Việt Bắc (1954); Tư lệnh Bộ Tư lệnh tiền phương của Bộ Quốc phòng
tại Mặt trận B5, Tư lệnh kiêm Chính ủy, Bí thư khu ủy Quân khu 4 (1966-1967); Phó Chủ tịch Hội
đồng Nhà nước kiêm Chủ tịch Hội đồng dân tộc, Ủy viên ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng
sản Việt Nam từ khóa IV-VI, Bí thư Trung ương Đảng khóa VI, Đại biểu Quốc hội khóa IV-VIII
(1987-1992). Ông được Đảng và Nhà nước tặng thưởng nhiều huân, huy chương.
Hà Nội, Đà
Nẵng, Hoài
Nhơn
3
Đoàn Khuê
(1923 - 1998)
Đại tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, quê ở Triệu Phong, Quảng
Trị. Ông tham gia cách mạng từ năm 1939. Năm 1945, tham gia thành lập Ủy ban lâm thời, Chủ
nhiệm Việt Minh tỉnh Quảng Bình. Trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, ông đảm nhiệm
các chức vụ: Chính ủy Sư đoàn, Chính ủy Quân khu IV, Tư lệnh Quân khu V. Từ 1983-1987, Tư
lệnh quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Quốc
phòng, Đại biểu Quốc hội khóa VI-IX, Ủy viên Ban chấp hành TƯ Đảng, Ủy viên Bộ Chính trị khóa
VI-VIII. Được tặng thưởng nhiều Huân, Huy chương cao quý.
Hà Nội, Đà
Nẵng, Quảng
Bình, Buôn Mê
Thuột, Kon
Tum, Hoài
Nhơn
14
4
Đỗ Mười
(1917 - 2018)
Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, tên thật là Nguyễn Duy Cống, quê ở xã Đông Mỹ, huyện
Thanh Trì, Hà Nội. Tham gia hoạt động cách mạng năm 1936, gia nhập Đảng Cộng sản Đông
Dương năm 1939. Năm 1941, bị thực dân Pháp bắt và kết án 10 năm tù giam tại Hoả Lò - Hà Nội.
Tháng 3/1945, vượt ngục và tiếp tục hoạt động cách mạng, trực tiếp lãnh đạo cuộc Tổng khởi nghĩa
giành chính quyền ở Hà Đông. Sau tháng Tám 1945, giữ chức Bí thư Tỉnh uỷ Hà Đông. Sau đó lần
lượt đảm nhận nhiều vị trí công tác khác nhau: Bí thư Tỉnh uỷ Hà Nam; Bí thư kiêm Chủ tịch Uỷ
ban kháng chiến hành chính tỉnh Nam Định; Khu uỷ viên Khu III kiêm Bí thư Tỉnh uỷ Ninh
Bình…; Bí thư Thành uỷ kiêm Chủ tịch Uỷ ban quân chính thành phố Hải Phòng; Bộ trưởng Bộ
Nội thương; Chủ nhiệm Ủy ban Vật giá Nhà nước; Phó Thủ tướng, kiêm Bộ trưởng Bộ Xây dựng,
Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng; Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (6/1991 - 12/1997).
Đại biểu Quốc hội khoá II và từ khóa IV - IX, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng từ khóa III
- VIII. Ủy viên Bộ Chính trị từ khóa V - VIII. Được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương
Sao vàng; Huy hiệu 80 năm tuổi Đảng và nhiều huân, huy chương cao quý khác.
Hà Nội
5
Hà Huy Tập
(1902 - 1941)
Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, quê quán xã Cẩm Hưng, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà
Tĩnh. Sớm tham gia hoạt động cách mạng, năm 1929, ông sang Nga học trường Đại học của Quốc
tế Cộng sản. Tại Đại hội Đại biểu lần thứ nhất của Đảng ở Ma Cao tháng 3/1935, ông được bầu vào
Ban Chấp hành Trung ương, được cử làm Bí thư Ban Chỉ huy Hải ngoại của Đảng. Sau đó Ban
Chấp hành Trung ương cử ông về nước lập lại Trung ương cấp ủy và cử giữ chức Tổng Bí thư từ
tháng 7/1936 - 3/1938. Tháng 3/1938, là Ủy viên Thường vụ Trung ương, thành viên Ban Bí thư
Trung ương Đảng. Ông bị thực dân Pháp bắt khép tội lãnh đạo cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ năm 1940
và xử bắn tại Sài Gòn năm 1941.
Hà Nội, Đà
Nẵng, TP.HCM,
Hà Tĩnh, Quy
Nhơn, Hoài
Nhơn…
6
Hoàng Quốc Việt
(1902 - 1992)
Nhà hoạt động cách mạng, Chủ tịch Uỷ ban MTTQVN, tên thật là Hạ Bá Cang, quê ở Đáp Cầu,
thị xã Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh. Năm 1928, ông tham gia Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên.
Năm 1937, được cử làm Bí thư Xứ uỷ Bắc Kỳ. Sau đó giữ nhiều chức vụ quan trọng của Đảng, Nhà
nước: Uỷ viên Thường vụ Trung ương; Uỷ viên Bộ Chính trị, phụ trách dân vận, mặt trận, Chủ tịch
Công đoàn Việt Nam từ tháng 3/1951 - 1957; Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao, Chủ tịch
Đoàn Chủ tịch UBMTTQVN từ 1977 - 1983; đại biểu Quốc hội khóa II-VII. Ông hoạt động cách
mạng liên tục gần 70 năm, là một trong những người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Được Đảng và Nhà nước tặng Huân chương Sao Vàng và nhiều Huân chương cao quý khác.
Đà Nẵng, Hà
Nội, Quy Nhơn,
Cần Thơ, Hải
Dương, Hoài
Nhơn...
7
Hoàng Văn Thụ
(1906 - 1944)
Liệt sĩ, nhà hoạt động cách mạng, quê ở huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn. Sớm tham gia hoạt
động cách mạng, có nhiều đóng góp gây dựng, phát triển phong trào cách mạng trong nước. Đầu
năm 1939, được cử làm Bí thư Xứ uỷ Bắc Kỳ. Tháng 11/1940, được bầu là Uỷ viên Thường vụ
Trung ương Đảng. Đầu năm 1941, ông được cử sang Trung Quốc dự Đại hội đoàn thể cách mạng
Việt Nam để bàn việc thống nhất các lực lượng cách mạng trong và ngoài nước, ông nhận trách
TP.HCM, Hà
Nội, Đà Nẵng,
Quy Nhơn, Hoài
Nhơn…
15
nhiệm đón đ/c Nguyễn Ái Quốc về nước. Tháng 5/1941, Mặt trận Việt Minh ra đời, ông được phân
công là Thường vụ Trung ương phụ trách binh vận, tích cực hoạt động vận động binh lính địch ở Hà
Nội. Năm 1943, trong khi đang làm nhiệm vụ, ông bị thực dân Pháp bắt, bị xử bắn ngày 24/5/1944.
Ông còn là nhà thơ cách mạng, sáng tác nhiều bài thơ cách mạng bằng cả tiếng Tày lẫn tiếng Việt.
8
Huỳnh Tấn Phát
(1913 - 1989)
Phó Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam, quê ở huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Năm 1933, học
Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương Hà Nội, ngành Kiến trúc. Năm 1938, tốt nghiệp về Sài
Gòn làm việc, thiết kế các công trình xây dựng tầm cỡ ở Sài Gòn được giới kiến trúc, thiết kế đồ án
xây dựng khâm phục. Ông tham gia khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám ở Sài Gòn, năm 1946 đắc cử
đại biểu Quốc hội khóa I. Sau 1954, ông ở lại hoạt động nội thành Sài Gòn. Năm 1960 thoát ly ra
vùng giải phóng, năm 1968 là Chủ tịch Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam. Sau
1975, giữ các chức vụ: Phó Thủ tướng Chính phủ, Chủ nhiệm Ủy ban Xây dựng cơ bản nhà nước,
Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, Chủ tịch Hội Kiến trúc sư Việt Nam… Được tặng thưởng nhiều
huân chương cao quý.
Đà Nẵng,
TP.HCM, Quy
Nhơn, Đà Lạt,
Hoài Nhơn…
9
Lê Duẩn
(1907 - 1986)
Tổng Bí thư Đảng Cộng Sản Việt Nam, quê quán làng Hậu Kiên, xã Triệu Thành, huyện Triệu
Phong, tỉnh Quảng Trị. Năm 1929, ông tham gia tổ chức Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí
Hội. Sau đó giữ nhiều cương vị trọng trách của Đảng: Ủy viên Xứ ủy Bắc Kì, Bí thư Xứ ủy Trung
Kì, Bí thư Xứ uỷ Nam Bộ, Tổng Bí thư Đảng Cộng Sản Việt Nam từ 1960 - tháng 7/1986, Bí thư
Quân ủy Trung ương từ năm 1978 đến năm 1984, đại biểu Quốc hội từ khóa II đến khóa VII. Được
Đảng, Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao Vàng và nhiều phần thưởng cao quý khác.
TP.HCM, Hà
Nội, Đà Nẵng,
Quy Nhơn, An
Nhơn, Hoài
Nhơn…
10
Lê Đức Anh
(1920 - 2019)
Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam, quê quán xã Lộc An, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên - Huế.
Tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1937. Tháng 8/1945, tham gia quân đội, sau đó trải qua
nhiều chức vụ và trọng trách: Tham mưu trưởng Quân khu 7, Quân khu 8 và Đặc khu Sài Gòn-Chợ
Lớn; Quyền Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Nam Bộ; Cục Trưởng Cục Quân lực thuộc Bộ Tổng
Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam; Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt
Nam, Phó Tư lệnh, kiêm Tham mưu trưởng Quân Giải phóng Miền Nam; Tư lệnh Quân khu 9, Phó
Tư lệnh Quân giải phóng Miền Nam, Phó Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh, kiêm Tư lệnh cánh quân
hướng Tây Nam đánh vào Sài Gòn; Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 7, kiêm Chỉ huy trưởng Cơ
quan tiền phương của Bộ Quốc phòng ở mặt trận Tây Nam; Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, kiêm Tư
lệnh quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia; Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt
Nam, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1992 -
1997); Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IV - VIII; Uỷ viên Bộ Chính trị khóa V -
VIII; Uỷ viên Thường vụ Bộ Chính trị khóa VIII. Đại biểu Quốc hội khóa VI, VIII, IX. Được Đảng
và Nhà nước tặng Huân chương Sao vàng, Huân chương Hồ Chí Minh và nhiều huân, huy chương
cao quý khác.
Huế
16
11
Lê Đức Thọ
(1911 - 1990)
Thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, tên thật là Phan Đình Khải,
sinh tại xã Nam Vân, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định. Ông tham gia các hoạt động cách mạng từ
năm 1929, bị Pháp bắt giam hai lần. Năm 1946, ông vào Ban Chấp hành TƯ Đảng. Từ năm 1948 -
1954, làm Phó Bí thư, kiêm Trưởng ban Tổ chức Xứ ủy Nam Bộ. Năm 1955, được bầu vào Bộ
Chính trị, làm Trưởng ban Tổ chức TW. Đầu năm 1968, ông vào miền Nam làm Phó Bí thư Trung
ương Cục miền Nam. Đến tháng 5/1968, làm Cố vấn đặc biệt cho đoàn Việt Nam tại Hội nghị Paris.
Từ 1976-1986 làm Trưởng ban Tổ chức TW, Thường trực Ban Bí thư. Ông được tặng giải Nobel về
hoà bình năm 1973, nhưng từ chối nhận giải với lý do hòa bình vẫn chưa thực sự lập lại trên đất
nước Việt Nam. Ông cũng là nhà thơ với một số tác phẩm: Trên những nẻo đường (1956), Đường
ngàn dặm (1977), Nhật ký đường ra tiền tuyến (1978)...
Hà Nội, Đà
Nẵng, TP.HCM,
Quy Nhơn, Hoài
Nhơn…
12
Lê Hồng Phong
(1902 - 1942)
Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, quê quán làng Thông Lạng, huyện Hưng Nguyên, tỉnh
Nghệ An. Sớm giác ngộ cách mạng, được Nguyễn Ái Quốc huấn luyện đào tạo. Đại biểu chính thức
Đại hội 7 Quốc tế Cộng sản ở Mat-xcơ-va. Hoạt động ở Trung Quốc với danh nghĩa đại diện Quốc
tế Cộng sản bên cạnh Đảng Cộng sản Đông Dương. Tổng Bí thư Đảng CSVN từ tháng 3/1935-
7/1936. Cuối năm 1937, về nước hoạt động ở Sài Gòn - Chợ Lớn, cùng Trung ương lãnh đạo phong
trào cách mạng toàn quốc. Năm 1938, bị giặc bắt đày đi Côn Đảo. Mất ở nhà tù Côn Đảo năm 1942.
Hà Nội, TP.HCM,
Hải Phòng, Đà
Nẵng, Quy Nhơn,
Hoài Nhơn, An
Nhơn…
13
Lê Khả Phiêu
(1931 - 2020)
Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, quê quán xã Đông Khê, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh
Hoá. Tham gia hoạt động cách mạng năm 1947, tháng 6/1949, được kết nạp vào Đảng Cộng sản
Việt Nam. Tháng 5/1950, tham gia quân đội, đảm nhiệm và trải qua các chức vụ: Chính trị viên Đại
đội, Chính trị viên Tiểu đoàn; Phó Chủ nhiệm rồi Chủ nhiệm chính trị Trung đoàn; Chính uỷ Trung
đoàn, Phó Chủ nhiệm chính trị Quân khu Trị Thiên. Chủ nhiệm chính trị Quân khu Trị Thiên, Phó
Chính uỷ kiêm Chủ nhiệm chính trị Quân khu 9. Chủ nhiệm Chính trị Bộ Tư lệnh 719; Phó Chủ
nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam; Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội
nhân dân Việt Nam; Uỷ viên Thường vụ, Thường trực Bộ Chính trị khoá VIII; Tổng Bí thư Ban
Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII (từ tháng 12/1997 - tháng 4/2001). Đồng chí là Uỷ viên Ban
chấp hành Trung ương Đảng các khoá VII, VIII; Bí thư Trung ương Đảng khoá VII; Uỷ viên Bộ
Chính trị các khoá VII, VIII; Đại biểu Quốc hội các khoá IX, X. Được Đảng và Nhà nước tặng
thưởng Huân chương Sao vàng; Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng và nhiều huân, huy chương cao quý
khác.
14
Lê Quang Đạo
(1921 - 1999)
Chủ tịch Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, quê xã Đình Bảng, huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc
Ninh. Từng trải qua các chức vụ: Bí thư Thành ủy Hải Phòng, Bí thư Thành ủy Hà Nội, Phó Trưởng
ban Tuyên huấn Trung ương, Cục trưởng Cục Tuyên huấn, Phó Trưởng đoàn Quân đội Nhân dân
Việt Nam trong Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam; Ủy viên chính thức Ban chấp hành Trung ương
Đảng (1972); Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch nước, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam
Hà Nội, Huế,
TP.HCM, Hải
Phòng, Đà
Nẵng, Bắc
Ninh…
17
(1987). Được Đảng và Nhà nước tặng Huân chương Hồ Chí Minh và nhiều huân, huy chương cao
quý khác.
15
Lê Thanh Nghị
(1911 - 1989)
Phó Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam, tên thật là Nguyễn Khắc Xướng, quê ở làng Thượng
Cốc, huyện Tứ Lộc, tỉnh Hải Dương. Xuất thân là công nhân ngành điện, từ năm 1928 tham gia
phong trào đấu tranh của công nhân mỏ Hòn Gai, Vàng Danh, được kết nạp vào Đảng Cộng sản
Việt Nam năm 1930. Bị thực dân Pháp bắt, đày qua các nhà tù Côn Đảo, Sơn La. Sau cách mạng
tháng Tám năm 1945, tham gia Thường vụ Xứ ủy Bắc kỳ. Sau đó giữ các chức vụ: Chánh Văn
phòng Trung ương Đảng, Bí thư Liên Khu uỷ, Chủ tịch Ủy ban Hành chánh kháng chiến, Chính ủy
Bộ Tư lệnh Liên khu III, Bí thư Thành ủy Hà Nội, Ủy viên BCH TW Đảng các khóa II, III. IV và V,
Ủy viên Bộ Chính trị (từ 1956-1982), Thường trực Ban Bí thư (từ 1980-1982), Phó Thủ tướng
Chính phủ, Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước. Từ năm 1981-1986 là Phó Chủ tịch Hội đồng
Nhà nước, Đại biểu Quốc hội từ khóa II đến khóa VII.
Đà Nẵng, Quy
Nhơn, Hải
Dương, Huế,
Nha Trang, Hoài
Nhơn…
16
Lê Văn Lương
(1911 - 1995)
Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam, tên thật là Nguyễn Công Miều, quê xã Xuân
Cầu, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên. Gia nhập Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội rồi vào Đảng
Cộng sản Đông Dương. Năm 1933 ông bị kết án tử hình cùng với 7 đồng chí khác. Do nhân dân
Pháp đấu tranh mạnh đòi bỏ án tử hình và trả tự do cho tù chính trị ở Đông Dương, ông được giảm
xuống chung thân và đày ra Côn Đảo cho tới tháng 9/1945. Sau năm 1954, ông giữ chức Thứ trưởng
Bộ Nội vụ. từng làm Trưởng ban Tổ chức Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Các Đại hội Đảng
III, IV, V ông đều được bầu Ban chấp hành Trung ương Đảng, có lúc làm Ủy viên Bộ Chính trị, giữ
chức Bí thư Thành ủy Hà Nội.
TP.HCM, Hà
Nội, Đà Nẵng,
Hưng Yên, Hoài
Nhơn…
17
Mai Chí Thọ
(1922 - 2007)
Đại tướng Công an nhân dân Việt Nam, Bộ trưởng Bộ Nội vụ, tên thật là Phan Đình Đống, sinh
tại thôn Địch Lễ, xã Nam Vân, huyện
Nam Trực, tỉnh Nam Định. Ông tham gia cách mạng từ
năm
1936 trong phong trào sinh viên Huế và Hà Nội. Từng bị thực dân Pháp bắt giam từ 1940-1945,
trải qua các nhà tù ở Nam Định, Hỏa Lò,
Sơn La, Khám Lớn, Côn Đảo. Giữ các chức vụ: Bí thư
Tỉnh ủy
Mỹ Tho, Bí thư Khu ủy miền Đông Nam Bộ, Chính ủy Quân khu miền Đông Nam Bộ, Bí
thư Thành ủy
Sài Gòn - Gia Định, Chính ủy Quân khu Sài Gòn - Gia Định. Chủ tịch UBND Thành
phố Hồ Chí Minh, Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Ông là Ủy viên Ban chấp hành TƯ Đảng khóa IV-VI , Uỷ
viên
Bộ Chính trị khóa VI, là đại biểu Quốc hội các khóa VI-VIII; Ủy viên Hội đồng Quốc phòng
khóa VIII.
TP. HCM, Hà
Nội, Đà Nẵng,
Quy Nhơn, Cần
Thơ, Hoài
Nhơn…
18
18
Ngô Gia Tự
(1908 - 1935)
Liệt sĩ, nhà hoạt động cách mạng, quê quán làng Tam Sơn, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Năm
1926, ông gia nhập Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí hội, được cử sang Trung Quốc huấn
luyện. Năm 1928, ông vào Sài Gòn hoạt động, tuyên truyền giáo dục cách mạng, tổ chức và lãnh đạo
công nhân đấu tranh. Năm 1929, tham dự thành lập Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên ở nhà số 5D
Hàm Long, Hà Nội. Ông được bầu làm Bí thư Xứ ủy lâm thời Nam Kì. Cuối năm 1930, ông bị địch
bắt tại Sài Gòn, bị đày ra Côn Đảo, hy sinh năm 1935.
Hà Nội,
TP.HCM, Đà
Nẵng, Quy
Nhơn, An Nhơn,
Hoài Nhơn…
19
Nguyễn Chí Thanh
(1914 - 1967)
Đại tướng, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, tên thật là Nguyễn Vịnh, quê xã Quảng Thọ,
Quảng Điền, Thừa Thiên. Năm 17 tuổi, ông đã tích cực tham gia hoạt động cách mạng. Năm 1937,
làm Bí thư chi bộ, rồi Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên. Tháng 8/1945, được bầu vào Ban chấp hành TƯ,
làm Bí thư Phân khu Bình Trị Thiên, Bí thư Xứ ủy Trung Kỳ, Bác Hồ đặt tên là: Nguyễn Chí Thanh.
Ông trải qua các chức vụ: Uỷ viên Bộ Chính trị, Chủ nhiệm Tổng cục chính trị, phong quân hàm
Đại tướng (1958), Uỷ viên Hội đồng Quốc phòng, Bí thư TƯ Cục miền Nam. Được tặng thưởng
nhiều Huân, Huy chương cao quí và truy tặng Anh hùng lực lượng vũ trang. Ông là vị tướng, người
chỉ huy đầy bản lĩnh, nhà quân sự tài ba của quân đội ta, đồng thời là nhà hoạt động chính trị, văn
hóa, kinh tế mẫu mực. Ông còn là nhà báo và là tác giả của 19 đầu sách có giá trị về nhiều lĩnh vực.
Hà Nội, Đà
Nẵng, Huế, Quy
Nhơn, Hoài
Nhơn…
20
Nguyễn Duy Trinh
(1910 - 1985)
Bí thư Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng nước CHXHCN Việt Nam, quê ở Nghi Thọ, Nghi Lộc,
Nghệ An. Tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1925. Ông trải qua các chức vụ: Uỷ viên Bộ Chính
trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước, Phó Thủ tướng, kiêm Bộ
trưởng Bộ Ngoại giao, đại biểu Quốc hội từ khoá I-VII. Ông có công rất lớn trong việc đàm phán ký
Hiệp định Paris về chấm dức chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Được Nhà nước tặng thưởng
nhiều huân chương cao quý: Huân chương Sao vàng, Huân chương Kháng chiến hạng nhất ….
Hà Nội,
TP.HCM, Đà
Nẵng, Quy
Nhơn, Hoài
Nhơn…
21
Nguyễn Đức Cảnh
(1908 - 1932)
Liệt sĩ, nhà hoạt động cách mạng, quê xã Thái Hà, huyện Thuỵ Anh, tỉnh Thái Bình. Ông tham
gia Việt Nam thanh niên Cách mạng đồng chí hội. Sau khóa huấn luyện tại Quảng Châu năm 1927,
ông về nước tham gia thành lập Đông Dương Cộng sản Đảng, là Uỷ viên Kỳ bộ Thanh niên Bắc Kỳ
phụ trách khu Duyên hải, Bí thư tỉnh bộ Hải Phòng, sau được bầu làm Tổng Thư ký Tổng Công Hội
đỏ. Là đại biểu chính thức tham gia thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930. Ông viết bài cho
các báo, chú trọng việc mở các lớp huấn luyện chính trị đào tạo cán bộ cho phong trào công nhân,
tổng kết kinh nghiệm về phương pháp vận động cách mạng, huy động lực lượng quần chúng đấu
tranh. Ông được cử làm Bí thư Xứ uỷ Bắc Kỳ, phụ trách công vận. Cuối năm 1930, được Trung
ương điều động tham gia Thường vụ Xứ ủy Trung Kỳ chỉ đạo phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh. Tháng
4 năm 1931, ông bị Pháp bắt ở Vinh, sau đưa xuống Hải Phòng thi hành án tử hình.
TP.HCM, Đà
Nẵng, Hà Nội,
Quy Nhơn, Hoài
Nhơn…
22
Nguyễn Hữu Thọ
(1910 - 1996)
Chủ tịch Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, sinh tại Chợ Lớn (nay là Thành phố Hồ Chí
Minh). Năm 1930, ông học luật tại Pháp và trở về nước hành nghề luật sư. Ông luôn bảo vệ công lý,
bênh vực người dân vô tội trước tòa án thực dân. Năm 1947, ông vận động hàng trăm luật sư, kỹ sư,
Hà Nội,
TP.HCM, Đà
Nẵng, Quy
19
bác sĩ, dược sĩ, nhà giáo, nhà báo... ký tên vào bản Tuyên ngôn của trí thức Sài Gòn - Chợ Lớn gửi
Chính phủ Pháp, đòi đàm phán với Chính phủ Việt Nam do Việt Minh lãnh đạo. Ông giữ các chức
vụ: Chủ tịch Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, Phó Chủ tịch nước (1976), Quyền
Chủ tịch nước (tháng 4/1980 - 7/1981), Chủ tịch Quốc hội (1981 - 1987), Chủ tịch Ủy ban Trung
ương
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (1988).
Nhơn, Hoài
Nhơn…
23
Nguyễn Lương
Bằng
(1904 - 1979)
Phó Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam, quê xã Thanh Tùng, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải
Dương. Tham gia Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội từ năm 1925. Tham gia các lớp
huấn luyện chính trị do Nguyễn Ái Quốc hướng dẫn. Bị thực dân Pháp bắt giam qua nhiều nhà tù.
Sau Cách mạng tháng Tám, ông liên tục giữ các nhiệm vụ: Ủy viên Ban chấp hành Trung ương
Đảng, Trưởng ban kiểm tra Trung ương Đảng, Tổng Giám đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam, Đại
sứ đặc mệnh toàn quyền Việt Nam tại Liên Xô, Tổng Thanh tra Chính phủ, Phó Chủ tịch nước
(1969 - 1979). Được Đảng, Nhà nước tặng nhiều Huân chương cao quí.
Hà Nội,
TP.HCM, Đà
Nẵng, Quy
Nhơn, Hoài
Nhơn…
24
Nguyễn Văn Hưởng
(1906 - 1998)
Phó Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội, tên thật là Nguyễn Thành Tâm, quê làng Mỹ Chánh,
tổng An Bình, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Ông trải qua các chức vụ: Thành viên Hội đồng cố
vấn Ủy ban nhân dân Nam Bộ (1945); Giám đốc Sở Y tế; Giám đốc Bệnh viện 303 (1955); Giám
đốc bệnh viện Vi trùng học (1956); Giám đốc Viện nghiên cứu Đông y (1959); Bộ trưởng Bộ Y tế
(1960); Phó Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội (1964-1971). Ông được nhà nước tặng danh hiệu
Anh hùng lao động Việt Nam và Giải thưởng Hồ Chí Minh về y học.
Hà Nội,
TP.HCM, Đà
Nẵng,…
25
Nguyễn Thị Định
(1920 - 1992)
Phó Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, quê quán xã
Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Tham gia cách mạng từ nhỏ, năm 1938 được kết nạp
vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Năm 1945, tham gia giành chính quyền tại tỉnh Bến Tre. Giữ các
trọng trách của Đảng, Nhà nước: Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre, Phó Tư lệnh lực lượng vũ trang giải
phóng miền Nam Việt Nam (1965-1975), Ủy viên TW Đảng từ năm 1976, Chủ tịch Hội LHPN Việt
Nam, Phó Chủ tịch Liên Đoàn Phụ nữ dân chủ thế giới, đại biểu Quốc hội khóa VI - VIII; Ủy viên
Hội đồng Nhà nước từ tháng 1/1981; Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước từ năm 1987 - 1992, Nhà
nước truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVT năm 1995.
Hà Nội,
TP.HCM, Đà
Nẵng, Quy
Nhơn, Hoài
Nhơn…
26
Nguyễn Văn Cừ
(1912 - 1941)
Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam; quê ở xã Phù Khê, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Xuất
thân trong một gia đình Nho học có truyền thống yêu nước. Năm 1927, ông tham gia Việt Nam
Thanh niên cách mạng đồng chí Hội. Năm 1929, được kết nạp vào Chi bộ Đông Dương Cộng sản
đảng đầu tiên ở Hà Nội. Tháng 3/1938, ông được bầu làm Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông
Dương, Với tư duy chính trị nhạy bén đồng chí đã khởi xướng và lãnh đạo chuyển hướng chiến lược
cách mạnh, đưa phong trào cách mạng cả nước tiến lên một tầm cao mới về chất. Tháng 6/1940, ông
bị Pháp bắt tại Sài Gòn cùng một số đồng chí khác. Sau đó bị xử bắn ở Hóc Môn năm 1941.
Hà Nội,
TP.HCM, Đà
Nẵng, Quy
Nhơn, Hoài
Nhơn…
27
Nguyễn Văn Linh
Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, tên thật là Nguyễn Văn Cúc, quê ở xã Giai Phạm,
Hà Nội,
20
(1915 - 1998)
huyện Mỹ Văn, Hưng Yên. Tham gia hoạt động cách mạng từ lúc còn là học sinh trung học. Năm
1930, bị thực dân Pháp bắt đày ra Côn Đảo. Năm 1936, được thả tự do, ông tiếp tục tham gia hoạt
động cách mạng, giữ các chức vụ: Bí thư Thành uỷ Sài Gòn và Đặc khu Sài Gòn - Gia Định (1955-
1960), Quyền Bí thư Xứ uỷ Nam Bộ (1957-1960), Bí thư Trung ương Cục Miền Nam, Bí thư Thành
ủy TP Hồ Chí Minh, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 12/1986 - 6/1991), Bí thư Đảng
ủy Quân sự TƯ, đại biểu Quốc hội khóa VIII. Ông là nhà chính trị và nhà báo xuất sắc với bút danh
N. V. L. Được Đảng, Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao Vàng và nhiều Huân, Huy chương
cao quí khác.
TP.HCM, Đà
Nẵng, Cần Thơ,
An Nhơn, Hoài
Nhơn…
28
Phạm Hùng
(1912 - 1988)
Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng nước CHXHCN Việt Nam, tên thật là Phạm Văn Thiện, sinh tại
làng Long Hồ, huyện
Châu Thành, tỉnh Vĩnh Long. Năm 16 tuổi, ông tham gia cách mạng, hoạt
động trong phong trào thanh niên, học sinh, tham gia tổ chức Nam Kỳ học sinh liên hiệp hội và
Thanh niên cộng sản đoàn. Năm
1930, ông bị thực dân Pháp bắt và kết án tử hình. Song, do sự phản
đối của dư luận trong nước cũng như ở Pháp, được giảm án xuống khổ sai chung thân, bị giam giữ ở
Côn Đảo. Sau 1945, ông giữ chức Bí thư Xứ ủy lâm thời Nam Bộ. Sau đó trải qua các chức vụ: Bí
thư Trung ương Đảng, Bộ trưởng Phủ Thủ tướng, Bí thư
Trung ương Cục miền Nam, Chính ủy Các
lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam, Chính ủy Bộ chỉ huy
Chiến dịch Hồ Chí Minh, Phó Chủ
tịch Hội đồng Bộ trưởng,
Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. Đại biểu Quốc
hội
liên tục từ khóa II-VII (1960-1988).
Hà Nội,
TP.HCM, Đà
Nẵng, Quy
Nhơn, An Nhơn,
Hoài Nhơn…
29
Nguyễn Cơ Thạch
(Phạm Văn Cương)
(1921 - 1998)
Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, Nhà hoạt động chính trị, tên thật là Phạm Văn Cương, quê xã
Liên Minh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Tham gia hoạt động trong tổ chức Thanh niên dân chủ,
Thanh niên phản đế tại Nam Định, từng bị Pháp bắt kết án đày lên Sơn La, Hòa Bình. Năm 1945
ông tham gia và lãnh đạo giành chính quyền tại huyện Vụ Bản, sau đó làm Chủ tịch Ủy ban kháng
chiến kiêm Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Hà Đông. Từng giữ các chức vụ: Tổng lãnh sự Việt Nam tại Ấn Độ;
Thứ trưởng Bộ Ngoại giao; Bộ trưởng Bộ Ngoại giao (1980); Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản
Việt Nam; Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng; Đại biểu Quốc hội khóa VII, VIII. Ông được Đảng và
Nhà nước tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh và nhiều phần thưởng cao quý khác.
Hà Nội,
TP.HCM, Đà
Nẵng, Nha
Trang, Quảng
Trị, Quy Nhơn
…
30
Phạm Văn Đồng
(1906 - 2000)
Thủ tướng Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam, quê ở Đức Tân, Mộ Đức, Quảng Ngãi. Tham
gia hoạt động cách mạng từ năm 1925. Giữ nhiều trọng trách của Đảng, Nhà nước: Bộ trưởng Bộ
Tài chính, Trưởng phái đoàn Chính phủ Việt Nam DCCH tại Hội nghị Phôngtennơblô (Pháp), Phó
Thủ tướng (1949), Trưởng đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam DCCH tại Hội nghị Giơnevơ về
Đông Dương. Thủ tướng, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng từ năm 1955-1986. Uỷ viên BCH Trung
ương Đảng từ năm 1947, Uỷ viên Bộ Chính trị từ năm 1951-1986. Từ năm 1986-1997 là cố vấn
BCH Trung ương Đảng, đại biểu Quốc hội liên tục các khóa từ 1946-1987. Được Đảng, Nhà nước
tặng thưởng Huân chương Sao Vàng và nhiều Huân, Huy chương cao quý khác. Ông còn là nhà
Hà Nội,
TP.HCM, Đà
Nẵng, Hải
Phòng, Quy
Nhơn, An Nhơn,
Hoài Nhơn …
21
chính trị, nhà văn hoá lớn của dân tộc.
31
Phan Đăng Lưu
(1902 - 1941)
Liệt sĩ, nhà hoạt động cách mạng, quê ở Yên Thành, Nghệ An. Tham gia các tổ chức cách
mạng: Hội Phục Việt, Tân Việt cách mạng đảng. Tháng 9/1930 bị Pháp bắt đày đi nhà lao Buôn Ma
Thuột. Giữa năm 1936 ra tù, tiếp tục hoạt động, đóng góp tích cực vào các cuộc vận động hợp pháp,
nửa hợp pháp ở Trung Kỳ; viết nhiều sách lý luận chính trị, nghiên cứu văn học. Được bầu vào Xứ
ủy Trung Kỳ, Ủy viên BCH Trung ương Đảng CS Đông Dương. Năm 1940, ông phụ trách Xứ ủy
Nam Kỳ. Bị mật thám Pháp bắt đêm 22/11/1940 và bị kết án tử hình ở Sài Gòn ngày 26/8/1941.
Hà Nội,
TP.HCM, Đà
Nẵng, Quy
Nhơn, An Nhơn,
Hoài Nhơn…
32
Phan Kế Toại
(1892 - 1992)
Phó Thủ tướng Chính phủ, Nhà hoạt động cách mạng, quê ở Phúc Thọ, Hà Nội. Xuất thân trong
gia đình quan lại, ông được bổ là tri huyện, sau thăng Tổng đốc Bắc Ninh, Khâm sai Bắc bộ. Trong
Cách mạng tháng Tám, ông ủng hộ Việt Minh tạo điều kiện cướp chính quyền tại Hà Nội và các tỉnh
Bắc Bộ. Trong kháng chiến chống Pháp, được đề cử giữ chức Quyền Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Phó Chủ
tịch Hội đồng Quốc phòng, Năm 1955, được đề bạt giữ chức Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Nội
vụ hai nhiệm kỳ 1955-1958, 1958-1961.
Quy Nhơn, Bà
Rịa - Vũng Tàu,
Hoài Nhơn
33
Phan Trọng Tuệ
(1917 - 1991)
Phó Thủ tướng Chính phủ, Thiếu tướng QĐND Việt Nam, nguyên quán huyện Quốc Oai, tỉnh
Sơn Tây, nay là Hà Nội. Các năm 1936-1939 ông từ Lào về nước tham gia Thanh niên Dân chủ, rồi
gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương. Năm 1940-1943 ông là Xứ ủy viên Bắc Kì, tháng 7/1943
ông bị bắt, kết án khổ sai chung thân, giam ở Hỏa Lò (Hà Nội), đến năm 1944 đày ra Côn Đảo. Sau
Cách mạng tháng Tám năm 1945 ông được về đất liền, được cử làm Chính ủy khu 9, năm 1950 làm
Chính ủy Quân khu 7. Năm 1954 ông có chân trong Ban thi hành Hiệp định đình chiến đóng tại Sài
Gòn. Năm 1956 được phong hàm Thiếu tướng và được chỉ định vào Ban chấp hành Trung ương
Đảng Lao động Việt Nam. Sau đó (1970) đảm nhận chức vụ Phó Thủ tướng Chính phủ kiêm Bộ
trưởng Bộ Giao thông vận tải. Ông được tặng nhiều huân chương cao quí.
Hà Nội, Đà
Nẵng, Quy
Nhơn…
34
Phan Văn Khải
(1933 - 2018)
Thủ tướng Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam, quê quán xã Tân Thông Hội, huyện Củ Chi,
Thành phố Hồ Chí Minh. Tham gia cách mạng năm 1947, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt
Nam năm 1959. Tháng 10/1954, đồng chí tập kết ra Bắc, đi học và công tác ở Ủy ban Kế hoạch Nhà
nước, sau đó lần lượt giữ các trọng trách: Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Thành phố Hồ Chí
Minh, Chủ nhiệm Uỷ ban Kế hoạch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Phó
Bí thư Thành ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch
Nhà nước, Phó Thủ tướng Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Đồng chí là Ủy viên Ban Chấp hành
Trung ương Đảng các khóa V, VI, VII, VIII, IX; Ủy viên Bộ Chính trị các khóa VII, VIII, IX; Ủy
viên Thường vụ Bộ Chính trị khóa VIII; Đại biểu Quốc hội các khóa VIII, IX, X, XI. Được Đảng và
Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao vàng, nhiều Huân chương, Huy chương cao quý khác và
Huy hiệu 55 năm tuổi Đảng.
35
Tố Hữu
(1920 - 2002)
Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, Nhà thơ cách mạng. Tên thật là Nguyễn Kim Thành, quê ở xã
Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, Thừa Thiên Huế. Năm 13 tuổi, vào học trường Quốc học (Huế),
Hà Nội, Huế, Đà
Nẵng, Quy
22
tiếp xúc với tư tưởng của Các-Mác, Ăng-Ghen, Lê-nin... qua sách báo, kết hợp với sự vận động của
các đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam lúc bấy giờ. Gia nhập Đoàn thanh niên và được kết nạp vào
Đảng Cộng sản năm 1938. Năm 1946, ông là Bí thư Tỉnh ủy Thanh Hóa. Cuối 1947, lên Việt Bắc
làm công tác văn nghệ, tuyên huấn. Giữ các chức vụ quan trọng: Phó Tổng thư ký Hội Văn nghệ
Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó
Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng cho tới 1986. Để lại nhiều tác phẩm thơ văn cách mạng có giá trị.
Năm 1996, được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật (đợt 1).
Nhơn, Hoài
Nhơn…
36
Tôn Đức Thắng
(1888 - 1980)
Nhà cách mạng xuất sắc, Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam, quê ở Mỹ Hoà Hưng, Long
Xuyên, An Giang. Tham gia hoạt động cách mạng rất sớm. Tham gia cuộc binh biến tại Biển Đen
của công nhân và thủy thủ Pháp năm 1919. Lãnh đạo các cuộc bãi công của công nhân nhà máy Ba
Son, Sài Gòn năm 1925. Giữ nhiều chức vụ quan trọng của Đảng, Nhà nước: Trưởng ban Thường
trực Quốc hội (1955-1960), Chủ tịch Ủy ban Toàn quốc Mặt trận Liên Việt (1951-1955), Chủ tịch
Ủy ban Trung ương
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (1955-1977), Phó Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hoà (1960-1969), Chủ tịch nước (1969-1980). Là người Cộng sản trung kiên, đạo đức mẫu
mực, khiêm tốn, lối sống giản dị, hiến dâng cả cuộc đời cho dân tộc. Được Đảng, Nhà nước tặng
thưởng Huân chương Sao Vàng và nhiều Huân, Huy chương cao quí khác.
Hà Nội,
TP.HCM, Đà
Nẵng, Hải
Phòng, Quy
Nhơn, Hoài
Nhơn…
37
Trần Phú
(1904 - 1931)
Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam, quê ở xã Đức Sơn, huyện Đức Thọ, tỉnh
Hà Tĩnh. Năm 1922, đỗ bằng Thành chung, về dạy tại trường tiểu học Vinh. Năm 1925, gia nhập
Việt Nam cách mạng đảng (sau đổi thành Tân Việt). Năm 1926, sang Trung Quốc, liên lạc với Hội
Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc cử về nước hoạt động, thời gian
này ông khởi thảo bản Luận cương chính trị của Đảng. Ông giữ cương vị Tổng Bí thư từ tháng
10/1930 đến tháng 9/1931. Bị thực dân Pháp bắt tại Sài Gòn ngày 19/4/1931, trong tù ông lâm bệnh
nặng và mất ngày 6/9/1931. Ông là người Cộng sản kiên cường, có công đóng góp to lớn trong việc
xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức.
Đà Nẵng, Hà
Nội, TP.HCM,
Quy Nhơn, An
Nhơn, Hoài
Nhơn...
38
Trần Quốc Hoàn
(1916 - 1986)
Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, tên thật là Nguyễn Trọng Cảnh, quê xã Nam
Trung, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Ông từng là Xứ ủy viên Xứ ủy Bắc kỳ, trên đường hoạt động
cách mạng, ông bị Pháp bắt đày lên Sơn La cùng với các đồng chí: Tô Hiệu, Lê Đức Thọ... Năm
1945 là Bí thư Xứ ủy Bắc kỳ. Năm 1951 là Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng Lao động VN,
Thứ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Công an. Năm 1972 là Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản
Việt Nam. Năm 1980 là Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban công tác Dân vận và Dân tộc. Ông
từng được ngành công an, Đảng và Nhà nước tặng nhiều huân chương cao quý, trong đó có Huân
chương Hồ Chí Minh.
Hà Nội,
TP.HCM, Quy
Nhơn
39
Trường Chinh
(1907 - 1988)
Tổng Bí thư Đảng, Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, Chủ tịch Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam,
tên thật là Đặng Xuân Khu, quê ở làng Hành Thiện, xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam
Đà Nẵng, Hà
Nội, TP.HCM,
23
Định. Năm 1927, ông gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Năm 1930, ông được chỉ định
vào Ban Tuyên truyền Cổ động TƯ Đảng. Sau đó, ông giữ nhiều chức vụ quan trọng của Đảng, Nhà
nước, Quốc hội như: Tổng Bí thư (từ tháng 5/1941 - tháng 10/1956 và từ tháng 7/1986 - tháng
12/1986), Chủ tịch Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, Chủ tịch Hội đồng
Quốc phòng. Được Đảng, Nhà nước tặng thưởng Huân Chương Sao Vàng và nhiều Huân, Huy
chương cao quí khác. Ông mất ngày 30/9/1988, hưởng thọ 81 tuổi. Ông còn là nhà thơ, nhà báo, nhà
lý luận mác xít.
Quy Nhơn, An
Nhơn, Hoài
Nhơn...
40
Văn Tiến Dũng
(1917 - 2002)
Đại tướng Quân đội nhân dân Việt Nam, quê xã Cổ Nhuế, huyện Từ Liêm, Hà Nội. Sớm tham
gia hoạt động cách mạng, từ 1939-1944, bị thực dân Pháp bắt giam 3 lần, vượt ngục 2 lần. Từng
đảm nhiệm chức vụ: Bí thư Ban cán sự Đảng Hà Đông, Bắc Ninh, Bí thư Xứ ủy Bắc Kỳ. Tháng
8/1945, chỉ đạo vũ trang giành chính quyền các tỉnh Hoà Bình, Ninh Bình và Thanh Hoá. Sau năm
1945, giữ các chức vụ: Uỷ viên Quân uỷ Trung ương, Cục trưởng Cục Chính trị, Phó Bí thư Quân
ủy Trung ương, Tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam. Chỉ đạo trực tiếp các chiến dịch lớn:
Chiến dịch Đường 9-Nam Lào (1971), Trị-Thiên (1972), Chiến dịch giải phóng Tây Nguyên (1975),
Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh (1975), Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; Bí thư Đảng ủy Quân sự TƯ,
Ủy viên Ban chấp hành TƯ Đảng khóa II-V, Ủy viên Bộ Chính trị khóa IV-V, đại biểu Quốc hội
khóa II-VII. Được tặng thưởng nhiều Huân, huy chương cao quý.
Hà Nội, Đà
Nẵng, Bạc Liêu,
Quy Nhơn, Hoài
Nhơn…
41
Võ Chí Công
(1912 - 2011)
Chủ tịch Nước CHXHCN Việt Nam, quê làng Khương Mĩ, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam.
Là nhà cách mạng, giữ nhiều chức vụ quan trọng: Bí thư Tỉnh ủy lâm thời tỉnh Quảng Nam (1940),
Phó ban Tổ chức cán bộ Quân khu 5 (1945-1946); Cố vấn Ban cán sự Đông Bắc Miên (Campuchia)
năm 1951; Phó Bí thư Trung ương cục Miền Nam (1961-1962); Chính ủy Quân khu 5 (1964); Phó
ban đại diện Trung ương Đảng và Chính phủ tại Miền Nam, phụ trách khu 5 (1975); Phó Thủ tướng
kiêm Bộ trưởng Bộ Hải sản, Bộ Nông nghiệp và Trưởng ban cải tạo nông nghiệp Miền Nam (1976);
Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng nước CHXHCN Việt Nam (1987-
1992); Ủy viên BCH Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa III-VI, Ủy viên Bộ Chính trị khóa
V-VI, cố vấn Ban chấp hành TW Đảng khóa VI-VIII (1991-1997), Đại biểu Quốc hội khóa VI-VIII.
Được tặng thưởng nhiều huân, huy chương cao quý, trong đó có Huân chương Sao Vàng.
Hà Nội, Hải
Phòng, Đà
Nẵng, Quy
Nhơn, Hoài
Nhơn…
42
Võ Nguyên Giáp
(1911 - 2013)
Đại tướng, Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam, nhà chỉ huy quân sự và chính trị gia tài
ba, quê ở Lệ Thủy, Quảng Bình. Ông là chiến sĩ cách mạng kiên trung, người học trò xuất sắc
và gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh; nhà lãnh đạo có uy tín lớn của Đảng, Nhà nước và nhân dân
ta; vị Đại tướng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam. Ông là người chỉ huy chính trong các
chiến dịch và chiến thắng trong Chiến tranh Đông Dương đánh bại thực dân Pháp (1946-1954),
Chiến tranh Việt Nam đánh đuổi đế quốc Mỹ (1960-1975), thống nhất đất nước và Chiến tranh biên
giới Việt-Trung (1979) chống quân Trung Quốc tấn công biên giới phía Bắc. Ông từng giữ các trọng
Cần Thơ, TP.
Hồ Chí Minh,
Đà Nẵng, Quy
Nhơn, An Nhơn,
Hoài Nhơn…
24
trách: Ủy viên Bộ Chính trị BCH Trung ương Đảng, Bí thư Quân ủy Trung ương, Phó Thủ tướng
Thường trực Chính phủ; Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; Đại biểu Quốc hội từ Khóa I-VII. Ông được
đánh giá là một trong những nhà lãnh đạo quân sự kiệt xuất nhất trong lịch sử Việt Nam và là một
trong những vị tướng kiệt xuất trên thế giới, được nhiều báo chí tôn sùng là anh hùng của nhân dân
Việt Nam.
43
Võ Văn Kiệt
(1922 - 2008)
Thủ tướng Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam, tên thật là Phan Văn Hòa, quê xã Trung Hiệp,
huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long. Tham gia cách mạng trong phong trào Thanh niên phản đế năm
1938, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1939. Trong suốt thời kỳ kháng chiến và
hòa bình, ông từng giữ các chức vụ: Huyện ủy viên, Bí thư chi bộ tại huyện Vũng Liêm; Ủy viên
chính trị dân quân cách mạng liên tỉnh Tây Nam Bộ; Tỉnh ủy viên, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy
Rạch Giá; Bí thư Tỉnh ủy Bạc Liêu; Ủy viên Xứ ủy Nam Bộ và Phó Bí thư liên Tỉnh ủy Hậu Giang;
Bí thư Khu ủy T.4; Ủy viên Thường vụ
Trung ương Cục miền Nam; Bí thư Đảng uỷ đặc biệt thuộc
Ủy ban Quân quản thành phố Sài Gòn trong Chiến dịch Hồ Chí Minh; Phó Bí thư Thành ủy, Chủ
tịch
UBND Thành phố Hồ Chí Minh; Ủy viên Dự khuyết Bộ Chính trị và được phân công làm Bí
thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh; Chủ nhiệm
Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, Phó Chủ tịch thứ
nhất
Hội đồng Bộ trưởng; Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng nước CHXHCN Việt Nam; Thủ tướng
Chính phủ, Phó Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng và An ninh (1992-1997); Cố vấn BCH Trung ương
Đảng Cộng sản Việt Nam (1997-2001). Được Nhà nước trao tặng Huân chương Sao Vàng và nhiều
huân huy chương cao quý.
TP.HCM, Cần
Thơ, Đà Nẵng
,
An Nhơn, Hoài
Nhơn…
44
Xuân Thủy
(1912 - 1985)
Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, Phó Chủ tịch Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, quê xã
Xuân Phương, huyện Từ Liêm, Hà Nội, tên thật là Nguyễn Trọng Nhâm. Sớm tham gia các tổ chức
yêu nước chống Pháp. Từ năm 1932, tham gia làm báo, dùng báo chí như một thứ vũ khí chống lại
thực dân Pháp, làm chủ nhiệm tờ báo Cứu Quốc, tờ báo của Tổng bộ Việt Minh (1944-1955). Ông
đảm nhiệm nhiều chức vụ: Bộ trưởng Bộ Ngoại giao (1963-1965), Trưởng đoàn đàm phán của
Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Hội nghị Paris, Đại biểu Quốc hội từ khóa I - VIII, Phó
Chủ tịch Uỷ ban Thường vụ Quốc hội (1960-1981), Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước 1981-1982,
Phó Chủ tịch Quốc hội khoá VII. Được tặng thưởng nhiều huân, huy chương cao quý.
Hà Nội, Đà
Nẵng, Quy
Nhơn, Hoài
Nhơn…
25
NHÓM 3: TÊN CÁC DANH NHÂN, NHÂN VẬT LỊCH SỬ TIÊU BIỂU CỦA ĐẤT NƯỚC
STT
HỌ VÀ TÊN
TÓM TẮT TIỂU SỬ
ĐÃ ĐẶT TÊN
ĐƯỜNG
1
Bà Huyện Thanh Quan
(1805 - 1848)
Thi sĩ, tên thật là Ngô Thị Hinh, quê làng Nghi Tàm, huyện Từ Liêm, nay thuộc quận Tây
Hồ, Hà Nội. Bà thắm duyên với ông Lưu Nguyên Ôn (Lưu Nghi), làm Tri huyện Thanh Quan
(Đông Hưng, tỉnh Thái Bình) thời vua Nguyễn, nên được gọi theo chức vụ của chồng là Bà
Huyện Thanh Quan. Bà là một nhà thơ nổi tiếng; thơ bà điêu luyện, chuẩn mực về niêm luật, hàm
súc, giàu nhạc điệu. Thời kỳ bà theo chồng vào làm việc ở Huế, được vua Minh Mạng sung vào
triều làm Cung Trung giáo tập để dạy công chúa và các cung nhân học. Bà mất năm 1848, hưởng
dương 43 tuổi. Bà sáng tác nhiều thơ Nôm, nhưng đa số thất lạc, chỉ còn lại một số bài nổi tiếng:
Chiều hôm nhớ nhà, Thăng Long hoài cổ, Chùa Trấn Bắc, Qua đèo Ngang….
Hà Nội,
TP.HCM, Huế,
Đà Nẵng, Quy
Nhơn
2
Bà Triệu
(225 - 248)
Anh hùng dân tộc, tên thật là Triệu Thị Trinh, quê ở huyện Quận Ninh, quận Cửu Chân, (nay
thuộc Định Công, huyện Thiệu Yên, tỉnh Thanh Hóa). Bà thường mặc áo ngà, cỡi voi đánh giặc.
Năm 247, cùng anh trai là Triệu Quốc Đạt chiêu tập nghĩa sĩ, vùng lên đánh đuổi quân cai trị nhà
Ngô, cứu nước, cứu dân. Năm 248, ông Triệu Quốc Đạt đột ngột lâm bệnh qua đời, bà chít khăn
tang, cưỡi voi, tiếp tục chỉ huy quân đánh đuổi kẻ thù. Trong một trận chiến không cân sức,
nghĩa quân bị đàn áp dã man, bà phải rút lui về vùng Bộ Điền, rồi hy sinh oanh liệt, hưởng dương
23 tuổi. Vua Lý Nam Đế (tức Lý Bôn) dựng đền thờ và truy phong bà là: “Bậc chính anh hùng
tài trinh nhất phu nhân”.
Hà Nội, Huế,
Quy Nhơn…
3
Bùi Cầm Hổ
(1390 - 1483)
Danh thần đời Lê, quê ở huyện Can Lộc, Hà Tĩnh. Năm 1434, được bổ làm Ngự sử trung
thừa. Tính tình cương trực, chí khí sáng suốt, quả cảm. Lúc đại thần Lê Sát ỷ thế lộng hành, ông
dâng sớ công kích, bị đổi lên Lạng Sơn làm An phủ sứ, sau được phục chức cũ. Năm 1438, được
sung chức Phó sứ sang nhà Minh. Năm 1443, kiêm lĩnh chức Đông Tây đạo, rồi thăng Tham Tri
chính sự. Ông có công giúp dân đào kinh dẫn nước tưới đồng ruộng vùng núi Hồng Lĩnh. Dân
chúng cảm đức lập đền thờ ở dưới núi Bạch Cao, các triều vua sau đều gia phong phúc thần.
Hà Tĩnh,
Quy Nhơn
4
Bùi Chí Nhuận
(TK XIX)
Chí sĩ yêu nước, quê làng Nhật Tảo, tỉnh Tân An (nay là Long An). Ông nhiệt thành yêu nước,
tận tụy hoạt động cứu nước, rất giỏi việc kinh tài. Hưởng ứng phong trào Đông Du, năm 1907,
ông sang Nhật học tập. Năm 1908 khi chính phủ Nhật câu kết với Pháp gây việc trục xuất du học
sinh người Việt, ông bèn sang Xiêm (Thái Lan). Ông được cử làm thủ quĩ, hiệp với Nguyễn Thân
Hiến mở cuộc nghĩa quyên lấy tiền gây dựng cơ sở cứu nước. Năm 1913, ông bị bắt tại Xiêm,
giải về nước và bị kết án khổ sai chung thân đày ra Côn Đảo. Sau được thả, ông về Tân An sống
Long An
26
với nghề đông dược, đến già vẫn chẳng đổi lòng.
5
Bùi Dục Tài
(1477 - 1518)
Danh thần đời Lê Túc Tông, người xã Câu Nhi, thôn Câu Lãm, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng
Trị. Năm Cảnh Thống 5 (Nhâm tuất 1502), ông đỗ Tiến sĩ, từ thi Hội đến thi Đình, văn ứng chế
đều được khen ngợi, nổi tiếng văn học uyên bác. Được bổ vào Viện Hàn lâm, làm Hiệu lí, rồi
làm Tham Chính đạo Thanh Hoa. Năm 1509, trong nước có biến loạn, ông khéo lo cho dân, được
thăng Tả thị lang bộ Lại. Trong nhiệm vụ này, ông thuyên chuyển quan lại rất mực ngay thẳng,
đương thời xưng tụng đức tính liêm khiết công bằng. Năm 1516, được cử làm Tham tướng, ông
càng dốc lòng lo việc kinh lí, bảo an dân chúng. Sau khi mất được truy tặng Lễ Bộ Thượng thư.
Huế, Quảng Trị
6
Bùi Huy Bích
(1744 - 1818)
Danh sĩ đời Lê mạt, có sách chép là Bùi Bích. Ông người làng Định Công, sang cư ngụ ở làng
Thịnh Liệt, huyện Thanh Trì, Hà Đông (nay thuộc Hà Nội). Năm 1762, ông đỗ Hương cống, đến
năm 1769, đỗ tiến sĩ. Được bổ làm Hiệu lí Viện hàn lâm, rồi thăng làm Thị chế, kế được thụ chức
Thiên sai tri hộ phiên, kiêm chức Đông các hiệu thư. Năm 1777, ông làm Đốc đồng Nghệ An. Về
sau, kiêm chức Tả thị lang bộ lại, Hành Tham tụng, tước Kế Liệt Hầu. Ông làm quan chính trực,
không ai cầu cạnh gì được, từ lời nói cho đến việc làm khuôn mẫu cho người đời noi theo.
Đà Nẵng,
Đaklăk,
TP.HCM, Khánh
Hòa, Quy Nhơn
7
Bùi Hữu Nghĩa
(1807 - 1872)
Chí sĩ yêu nước, quê ở làng Long Tuyền, Cần Thơ. Đỗ thủ khoa kỳ thi Hương năm 1835,
gọi là Thủ khoa Nghĩa. Được bổ làm quan nhưng vì ngay thẳng, không thích xu nịnh, nên bị
giáng chức, ông về quê mở trường dạy học. Thực dân Pháp xâm luợc Nam Kì, ông tích cực ủng
hộ kháng chiến, thường xuyên gặp gỡ, luận bàn việc nước với các chí sĩ. Ông để lại nhiều thơ
văn chữ Hán, Nôm và bản tuồng Kim Thạch kì duyên.
TP.HCM,
Đồng Nai, Quy
Nhơn
8
Bùi Quang Là
(? - 1863)
Chí sĩ kháng Pháp, tục gọi Đốc binh Là, Quản Là, ông có tên thật là Bùi Quang Diệu, quê
làng Tân Thới, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định (nay thuộc TP. Hồ Chí Minh). Ông nguyên là
Cai tổng Cần Giuộc, tỉnh Long An, là người giàu lòng yêu nước. Khi giặc Pháp xâm chiếm Gia
Định năm 1859, ông tham gia chiến đấu trong hàng ngũ nghĩa quân, được cử làm Thống binh.
Ông trực tiếp chỉ huy nghĩa quân Cần Giuộc, dũng cảm chiến đấu tại khu chợ Trường Bình (nay
thuộc thị trấn Cần Giuộc, tỉnh Long An). Trong trận này nghĩa quân hi sinh 27 người, ông nhận
lệnh của Tuần phủ Gia Định là Đỗ Quang tổ chức lễ truy điệu đề tưởng nhớ các liệt sĩ và đọc
bài Văn tế nghĩa sỹ Cần Giuộc do nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu sáng tác để khích lệ
quân dân. Về sau ông hết lòng kháng chiến cứu nước và hi sinh năm 1863.
TP.HCM
9
Bùi Quốc Khái
(1141 - 1234)
Danh thần đời Lý Cao Tông, quê làng Bình Ông, huyện Cẩm Giang, Hà Nội. Làm quan trải 3
triều công cán (Lý Cao Tông, Lý Huệ Tông và Lý Chiêu Hoàng), một lòng trung nghĩa, dày công
giúp nước an dân. Gặp lúc triều chính đổ nát, gian thần lộng quyền, ông treo ấn từ quan, rồi xuất
gia đầu Phật nơi Thiền viện. Năm 1234, ông mất. Dân chúng tưởng niệm, tô tượng thờ ông ở
chùa Thiên Niên (gần Hồ Tây) và đặt bài vị thờ ở đình làng Trinh Sài (thuộc Hà Nội).
TP.HCM
27
10
Bùi Tá Hán
( ? - 1568)
Võ tướng đời Lê, quê ở Hoan Châu, Nghệ An. Đời Lê Anh Tông (1558-1571) được phong làm
Bắc quân Đô đốc, Thiếu bảo, phụng chỉ vào trấn thủ dinh Quảng Nam. Có công khẩn hoang lập
ấp, dẹp yên trộm cướp, giữ vững trật tự xã hội. Đốc suất dân quân xây đắp lũy từ huyện Tư
Nghĩa đến Mộ Đức (Quảng Ngãi) và lũy Sơn Thành ở Quảng Nam, sau bị người Chiêm Thành
sát hại. Thời Nguyễn được gia phong Thượng đẳng thần.
Đà Nẵng,
TP. HCM
11
Bùi Tư Toàn
(1894 - 1930)
Chí sĩ kháng Pháp, ông quê làng Xuân Lũng, phủ Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ (nay thuộc tỉnh
Vĩnh Phú). Vốn là một nông dân nhiệt thành yêu nước chống Pháp, ông tham gia Việt Nam quốc
dân đảng, sa cơ bị bắt trong cuộc khởi nghĩa Yên Bái. Năm 1930, ông bị hành quyết tại Yên Bái
cùng với đảng trưởng Nguyễn Thái Học, Phó Đức Chính.
TP. HCM, Quy
Nhơn
13
Bùi Xương Trạch
(1451 - 1529)
Danh thần đời Lê Thánh Tông, quê làng Định Công, huyện Thanh Đàm (sau đổi là Thanh
Trì), phủ Thường Tín, Hà Đông (nay thuộc Hà Nội). Năm 1478, đỗ Tiến sĩ. được bổ làm quan ở
Viện hàn lâm, khi Lê Thánh Tông thân chinh Chiêm Thành, ông theo trong quân, phục vụ việc
quân sự. Năm 1489, ông đi sứ nhà Minh. Đời Hiển Tông, ông được thăng chức Hiệu thư Đông
các. Ít lâu, cải bổ Thiên Đô ngự sử, rồi dần thăng đến Thượng thư bộ Binh, gồm giữ cả việc 6 Bộ
và kiêm chức vụ ở Viện Đô sát. Cũng có lúc làm Tế tửu Quốc tử giám, tước Quảng Văn Hầu.
Sau khi mất, Triều đình truy tặng Thái phó, tước Quảng Quốc Công, thụy Văn Lượng.
Hà Nội, Đà
Nẵng, TP HCM
14
Cao Bá Quát
(1809 - 1854)
Thi sĩ, danh sĩ thời Nguyễn, quê gốc ở huyện Gia Lâm, Hà Nội, trú quán ở thôn Đình Ngang,
phía Nam thành Thăng Long, Thuở nhỏ ông học giỏi, văn chương lưu loát. Năm 1831, thi đậu
Cử nhân. Năm 1841, vào kinh đô Huế giữ chức Hành tẩu Bộ Lễ, sau thăng chức Lang trung. Ông
làm quan trải qua các triều Thiệu Trị, Tự Đức; một nhà Nho mang tư tưởng “nổi loạn” sau trở
thành quân sư nghĩa quân nông dân chống lại triều đình nhà Nguyễn. Việc khởi nghĩa thất bại,
ông bị bắt rồi bị hành quyết cùng với 2 con. Ông là một nhà thơ xuất sắc của giai đoạn nửa đầu
thế kỷ XIX, để lại nhiều tác phẩm có giá trị viết bằng chữ Hán và chữ Nôm, trong đó có bộ sách
Cao Chu Thần thi tập, Cao Chu Thần di cảo, Mẫn Hiên thi tập… và những bài ca trù xuất sắc,
nổi bật nhất có bài phú Tài tử đa cùng…
Hà Nội, Huế,
TP.HCM, Đà
Lạt, Quy Nhơn
15
Cao Điển
(TK XIX)
Chí sĩ chống Pháp. Ông tham gia phong trào Cần Vương chống Pháp tại Sầm Sơn, tỉnh
Thanh Hóa. Năm 1886, ông và Sơn phòng sứ Tống Duy Tân nhận lệnh của thủ lĩnh Đinh Công
Tráng đến Phi Lai (Hà Trung, Thanh Hóa) lập căn cứ, nhằm hỗ trợ cho căn cứ chính là Ba Đình.
Sau đó, ông và Tống Duy Tân lập thêm căn cứ Hùng Lĩnh, nằm ở vùng thượng nguồn sông Mã.
Đầu năm 1887, quân Pháp kéo đến đàn áp dữ dội phong trào Cần Vương ở tỉnh này. Căn cứ Ba
Đình và căn cứ Mã Cao nối tiếp nhau thất thủ. Cao Điền và Tống Duy Tân mang quân chạy về
Hùng Lĩnh, lập nên một trung tâm kháng chiến mới. Nghĩa quân Hùng Lĩnh tập kích nhiều trận,
gây thiệt hại nặng nề cho quân Pháp. Thực dân Pháp tập trung lực lượng mở cuộc truy quét quy
mô nhằm tiêu diệt nghĩa quân Hùng Lĩnh. Cuộc khởi nghĩa bị thất bại, Tống Duy Tân bị Pháp bắt
Thanh Hóa
28
và xử tử năm 1892, đến năm 1896 ông cũng bị bắt ở Bắc Giang.
16
Cao Lỗ
(TK II tr. CN)
Danh tướng thời Thục Phán, còn có tên là Cao Nỗ, Cao Thông. Ông tham gia sáng chế nỏ thần
và đóng vai trò chủ yếu sắp đặt kĩ thuật quân sự giúp cho nhà Thục hưng thịnh. Năm 214 tr.
Công nguyên, Tần Thủy Hoàng phái quân đánh Âu Lạc, ông chỉ huy quân sử dụng cung nỏ thần
tình do ông sáng chế đánh trả. Khi Triệu Đà đánh Thục, ông dàn quân ngăn chống. Triệu Đà thua
to, dùng kế phản gián, khiến vua tôi nhà Thục nghi ngờ nhau, đồng thời cho con trai là Trọng
Thủy đến cầu hôn con gái vua Thục là Mị Châu rồi xin ở rể để do thám tình hình. An Dương
Vương mắc kế, đuổi Cao Lỗ đi. Từ ấy nhà Thục suy sụp, đất nước lọt vào tay Triệu Đà. Nhân
dân lập đền thờ tướng quân Cao Lỗ ở nhiều địa phương: Hà Nội, Bắc Ninh, Nghệ An...
Hà Nội, TP.
HCM
17
Cao Thắng
(1865 - 1893)
Danh tướng chống Pháp, quê quán làng Lê Động, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Tham gia
cuộc khởi nghĩa của Phan Đình Phùng đóng căn cứ ở Hương Khê, đóng góp nhiều công lao
kháng Pháp. Khi làm Quản cơ, ông điều động nghĩa quân đánh đồn giặc rất dũng cảm, mở xưởng
đúc võ khí theo kiểu Âu Tây. Dùng mưu bắt sống Tuần phủ Đinh Nho Quang tay sai Pháp làm
chấn động dư luận Nghệ Tĩnh. Năm 1893, chỉ huy đội quân cảm tử tấn công tiền đồn ở Nghệ An,
sau đó bị trúng đạn tử thương, Nhân dân đã lập đền thờ tưởng niệm ông ở làng Khê Thượng,
huyện Hương Khê.
Đà Nẵng, TP.
HCM, Quy Nhơn
18
Cao Xuân Dục
(1842 - 1923)
Danh sĩ, quê ở xã Thịnh Mỹ, Đông Thành, Nghệ An. Năm 1877, đỗ Cử nhân, trải qua nhiều
chức quan: Bố Chánh Hà Nội, Tuần phủ Hưng Yên, Tổng tài Quốc sử quán, Chủ khảo Trường
thi Hội - Quản Quốc Tử giám, Thượng thư Bộ Học, Cơ mật viện Đại thần... Ông là nhà sử học,
nhà nghiên cứu xuất sắc của nước nhà. Ông để lại nhiều bộ sách rất giá trị về văn hóa, địa lý, sử
học, hóa học như: Quốc triều chánh biên toát yếu, Quốc triều Hương khoa lục, Quốc triều luật lệ
toát yếu, Đại Nam dư địa chí ước biên…
Huế, Đà Nẵng,
TP. HCM, Quy
Nhơn
19
Cầm Bá Thước
(1858 - 1895)
Chí sĩ phong trào Cần Vương kháng Pháp, người dân tộc Thái ở châu Thường Xuân, tỉnh
Thanh Hóa. Hưởng ứng lời kêu gọi kháng chiến dưới cờ khởi nghĩa của Phan Đình Phùng, ông
cầm đầu các đội quân thuộc tỉnh Thanh Hóa. Sau ông tham gia cuộc khởi nghĩa của Tống Duy
Tân, được cử làm Bang biện hai châu Thượng Xuân và Lang Chánh. Ông chủ trương kinh tài
bằng cách đem ngọc quế bán lấy tiền mua quân lương khí giới. Ông tích cực hoạt động và hy
sinh năm 1895.
TP. HCM
20
Châu Mạnh Trinh
(1862 - 1905)
Danh sĩ thời Nguyễn, là con Cử nhân Châu Duy Trinh, quê làng Phú Thỉ, xã Mễ Sở, huyện
Văn Giang, tỉnh Hưng Yên. Ông nổi tiếng tài hoa, văn hay chữ tốt, tính lãng mạn, văn chương
bay bướm thiên về tình cảm. Năm 1892, ông đỗ Tiến sĩ, được bổ tri phủ Lý Nhân, thuộc tỉnh Hà
Nam, rồi thăng Án sát, trải qua các tỉnh Hà Nam, Hưng Yên, Bắc Ninh và Thái Nguyên. Năm
1903, ông cáo quan vẻ dưỡng bệnh. Hai năm sau (1905) ông mất, hưởng dương 43 tuổi.
Huế, Đà Nẵng,
An Giang, Quy
Nhơn,
29
21
Châu Thị Tế
(1766 - 1826)
Hiền phụ, có sách chép là Châu Thị Vĩnh Tế. Bà là vợ chánh của Thoại Ngọc Hầu Nguyễn
Văn Thoại, tận tụy góp sức với chồng trong việc mưu phúc lợi cho dân chúng, tiếng nhân đức
truyền xa. Từ đó vua Minh Mạng lấy tên chồng bà đặt cho con kinh đào Rạch Giá - Đông Xuyên
(tức Long Xuyên ngày nay) là Thoại Hà, hòn núi Sập gần đấy là Thoại Sơn, lại cho lấy tên bà đặt
tên con kinh Châu Đốc - Hà Tiên là "Vĩnh Tế hà" (tức kinh Vĩnh Tế), núi Sam ở gần đấy là
"Vĩnh Tế sơn", làng bên cạnh núi là "Vĩnh Tế thôn". Sau khi mất, bà được phong là Nhàn Tĩnh
phu nhân.
Đà Nẵng, An
Giang, Hoài
Nhơn
22
Châu Thượng Văn
(1856 - 1908)
Nhà yêu nước kháng Pháp, hiệu là Thơ Đồng, người làng Minh Hương, huyện Điện Bàn, tỉnh
Quảng Nam (nay thuộc thị xã Hội An). Ông nhiệt thành yêu nước, cùng các đồng chí tâm giao
hăng say tích cực hoạt động cứu nước. Năm 1908, nhân vụ kháng sưu chống thuế ông bị bắt
giam. Ngay từ ngày vào ngục, ông tuyệt thực, chỉ uống nước trà cầm hơi. Trên 20 ngày, nhà cầm
quyền vẫn thản nhiên, lại đưa ông đi đày Lao Bảo. Nhưng đến Huế thì ông mất trong lao Phủ
Thừa.
Quảng Nam, Đà
Nẵng, Quy Nhơn
23
Chử Đồng Tử
(Trước CN)
Nhân vật thần thoại, một trong bốn vị bất tử thời Hồng Bàng, quê làng Chử Xá, xã Đa Hòa,
Mễ Sớ phủ Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên. Ông gặp con gái vua Hùng Vương thứ III là Tiên Dung
mà nên nghĩa vợ chồng, rồi bỏ hết vinh hoa phú quí, vợ chồng ông đến bộ Hoài Hoan (Nghệ An)
theo học đạo với cao sĩ Phật Quang, lên núi lập am Quỳnh; trì chí tu hành. Thỉnh thoảng vợ
chồng ông xuống núi; phàm nơi nào dân chúng đói khổ, bệnh tật vợ chồng ông đều tìm đến nghĩ
cách giúp đỡ. Sau khi mất, dân chúng lập đền thờ ông ở nhiều nơi, xưng tụng ông là Chử tiên,
hoặc Chử đạo tổ. Đền chính thờ ông ở xã Đa Hòa, tổng Mễ Sở, phủ Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên.
Hằng năm từ ngày 12 đến 16 tháng 3 là ngày hội.
Tiền Giang,
TP.HCM
24
Cống Quỳnh
(1677 - 1748)
Danh sĩ thời Lê - Trịnh, tên thật là Nguyễn Quỳnh, còn gọi là Trạng Quỳnh, quê tại làng Bột
Thượng, huyện
Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Từng đỗ Hương cống nên còn gọi là Cống Quỳnh.
Ông thi đỗ Giải nguyên năm
1696, được bổ làm Giáo thụ huyện Thạch Thất, Phúc Lộc (Sơn
Tây
), Huấn đạo phủ Phụng Thiên ở kinh thành Thăng Long... Tuy không đỗ cao, nhưng ông nổi
tiếng là người học hành xuất sắc. Tác phẩm còn lại của ông, gồm một số bài ký, văn tế và bài
phú. Ông nổi tiếng với sự trào lộng, hài hước tạo nên nhiều giai thoại, nên dân gian thường gọi
ông là Trạng Quỳnh dù ông không đỗ
Trạng nguyên. Ông là bạn thơ của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm.
Hà Nội,
TP.HCM, Quy
Nhơn
25
Dã Tượng
(Thế kỷ XIII)
Danh tướng của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, đóng góp đắc lực trong cuộc kháng chiến
chống quân Nguyên - Mông, ông là một trong 5 thuộc hạ tài giỏi và trung thành của Hưng Đạo
Vương. Chính ông và Yết Kiêu đã góp công lớn lúc bắt Toa Đô.
Hà Nội,
TP.HCM, Huế,
Đà Nẵng, Khánh
Hòa, Quy Nhơn
26
Doãn Uẩn
(? - 1849)
Danh sĩ đời Minh Mạng, quê huyện Thư Trì, tỉnh Nam Định. Năm 1828, ông đỗ Cử nhân, làm
quan đến Hữu thị lang bộ Hình. Năm 1833, ông tham dự cuộc tiễu trừ Nông Văn Vân ở Tuyên
Thái Bình, An
30
Quang, Năm 1841, làm Tham tri, quyền Tổng đốc Thanh Hóa. Năm 1843, được chuyển vào Nam
nhậm chức Tuần phủ An Giang. Tại đây ông tận tụy phục vụ nhân dân, có công mở mang, khai
thác vùng đồng bằng sông Cửu Long. Trong thời gian tại chức ông nổi tiếng thanh liêm cần mẫn
đưọc triều đình khen là "An Tây mưu lược tướng", phong tước Tuy Tĩnh Tử. Ông tài kiêm văn
võ, thơ ca của ông giàu thi tính, nhiều cảm xúc.
Giang
27
Dương Bá Trạc
(1884 - 1944)
Chí sĩ yêu nước, quê ở Khoái Châu, Hưng Yên. Năm 1900, ông đỗ Cử nhân, nhưng không ra
làm quan, tham gia việc cứu nước gặp nhiều gian khổ vẫn không nản chí. Năm 1904, ông cùng
Phan Châu Trinh vào mật khu Yên Thế bàn việc cứu nước với Hoàng Hoa Thám. Sau đó cùng
với các đồng chí đảm nhận việc giảng dạy ở trường Đông kinh Nghĩa thục Hà Nội và tham gia
phong trào Duy Tân, hô hào bỏ lối học khoa cử, noi gương Nhật Bản duy tân tự cường. Năm
1908, ông bị Pháp bắt, kết án 15 năm biệt xứ đày đi Côn Đảo. Tháng 1/1917 ra tù, ông làm việc
cho tờ Nam Phong tạp chí, với ý định dùng báo chí để khai thông dân trí, góp phần làm cho đất
nước trở nên phú cường. Năm 1932-1935, ông làm chủ bút tờ Văn học tạp chí và tờ Đông Tây
báo. Ông tham gia khởi thảo bộ Việt Nam tự điển, Việt Nam văn phạm và sáng lập nhiều tổ chức
yêu nước, mong tìm một kế sách giúp nước nhà sớm được độc lập.
TP.HCM, Quy
Nhơn
28
Dương Đình Nghệ
(hay Dương Diên Nghệ)
( ? - 937)
Danh tướng, ông là Thượng tướng của Khúc Thừa Hạo, hết lòng giúp họ Khúc chăn dân trị
nước. Năm 923, nhà Nam Hán sang đánh, Khúc Thừa Mỹ bị bắt, ông tạm lánh, rồi chiêu tập hào
kiệt cứu nước. Năm 931, ông hưng binh đánh tan quân đội của Thứ sử Nam Hán. Nhà Nam Hán
lại đem quân sang, ông đón đánh chém luôn tướng giặc. Với chiến công lẫy lừng đó ông được
nhân dân tin phục, suy tôn làm Tiết Độ sứ.
Đà Nẵng, Thanh
Hóa, TP.HCM,
Hà Nội, Quy
Nhơn
29
Dương Đức Nhan
(1442 - 1524)
Danh thần đời Lê Thánh Tông, quê xã Hà Dương, huyện Vĩnh Lại, tỉnh Hải Dương. Năm
1463, ông đỗ Tam giáp tiến sĩ. Làm đến Hữu thị lang bộ Hình, tước Dương Xuyên Hầu. Ông
soạn bộ Cổ kim thi gia tinh tuyển cũng gọi là Tinh tuyển chư gia luật thi gồm 5 quyển 472 bài,
sưu tập thơ của 13 nhà thơ cuối đời Trần, Hồ và Lê có chú thích do Lương Nhữ Hộc duyệt lại.
Đà Nẵng
30
Dương Trực Nguyên
(1469 - 1509)
Danh sĩ thời Lê, quê ở làng Thượng Phúc, tỉnh Hà Đông (nay thuộc Hà Nội). Năm 1490, đỗ
Nhị giáp Tiến sĩ. Ông có tài văn võ, có chân trong Tao đàn Nhị thập bát tứ đời Lê Thánh Tông.
Năm 1492, giữ chức Hiệu lý Viện Hàn lâm đổi làm Hiến sát sứ tỉnh Hải Dương. Năm 1497, ông
đi sứ sang Trung Quốc, về đựơc cử làm Thủ doãn Thuận thiên. Năm 1509, thời Lê Tương Dực,
đem binh từ Thanh Hoá tiến bức Đông Kinh, ông được cử làm Tán lý cầm quân đánh giặc. Năm
1512, được truy tặng là Đô ngự sử. Dân làng lập đền thờ phụng ông. Sau truy phong làm Phúc
thần thượng đẳng.
Hà Nội
31
Dương Văn An
(1514 - 1591)
Danh sĩ nhà Mạc, tự Tĩnh Phủ, quê xã Truy Lộc, huyện Lâm Thủy, tỉnh Quảng Bình. Năm
1547, đỗ Tam giáp tiến sĩ, nổi tiếng văn học, làm Lại khoa đô cấp sự trung, rồi thăng dần đến Tả
thị lang bộ Lại, tước Sùng Nham Bá. Sau làm đến Thượng thư, tước Sùng Nham Hầu. Năm
Huế, Khánh Hòa,
TP.HCM, Quy
31
1591, ông mất, được tặng tước Tuấn Quận công. Ông soạn bộ Ô châu cận lục 6 quyển. Viết từ
năm Cảnh Lịch 6 (1553), sửa chữa và ấn hành vào năm Quang Bảo 2 (1555) đời Mạc Phúc
Nguyên, đến nay đã hơn 400 năm. Sách viết về núi sông, thành trì, phong tục, danh nhân miền
Thuận Hóa từ khi mới khai khẩn đến thời dân ta Nam tiến.
Nhơn
32
Đào Cam Mộc
(? - 1015)
Đại thần nhà tiền Lê, không rõ năm sinh và quê quán. Cuối đời tiền Lê, ông cùng với sư Vạn
Hạnh suy tôn Lý Công Uẩn lên ngôi, dứt nhà tiền Lê, dựng nghiệp Lý. Được phong tước Nghĩa
Tín Hầu. Sau khi mất, Lý Thái Tổ truy tặng ông là Thái sư tước Á vương. Ông và Trịnh Văn Tú
vốn là hai rường cột trong buổi đầu xây dựng nhà Lý.
TP.HCM, Đà
Nẵng, Quy Nhơn
33
Đào Công Chính
(1639 - 1709)
Danh thần đời Lê Thần Tông, quê xã Hội Yên, huyện Vĩnh Lại, trấn Hải Dương, nay là xã
Cao Minh, huyện Vĩnh Bảo, Thành phố Hải Phòng. Ông thông minh từ bé, nổi tiếng thần đồng.
Năm 12 tuổi đỗ Hương tiến. Đến năm 1661, đỗ Nhất giáp tiến sĩ, mới 22 tuổi. Ứng Chế đỗ thứ
nhì. Năm 1667, ông làm phó sứ sang nhà Minh, làm quan đến Tả thị lang bộ Lại, tước Nam, vào
hầu Kinh diên. Khi mất được truy tặng Tử tước. Sự nghiệp của ông được nhắc đến trong nhiều tài
liệu viết về các danh y trong lịch sử y học cổ truyền Việt Nam. Bên cạnh đó ông cũng là một tác
gia tham gia biên soạn Đại Việt sử ký toàn thư, một nhà ngoại giao kiệt xuất. Tác phẩm có giá trị
nhất ông để lại là sách y học Bảo Sinh Diên Thọ Toản Yếu.
Đà Nẵng
34
Đào Công Soạn
(1381 - 1458)
Danh thần đời Lê Thái tổ, tự Tân Khanh (có sách chép là Bảo Khanh), quê làng Thiện Phiến,
huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên. Khi kháng Minh, ông phục vụ trong quân đội Bình Định Vương
Lê Lợi. Năm 1426, ông được bổ làm Hoàng môn thị lang, Tham tri chính sự. Rồi đi sứ Minh, về
nước thăng làm Thượng thư bộ Hộ. Năm 1429, ông lại sang nhà Minh cầu phong và tâu về việc
tìm con cháu nhà Trần. Xong được bổ làm Đông đạo tham tri. Năm 1435, ông làm việc ở Viện
Thẩm hình, kiêm Thượng thư bộ Lễ. Gặp khi có sứ Minh sang, ông đảm nhận việc ứng tiếp. Rồi
lại làm Chánh sứ sang Minh. Phần nhiều luật lệ triều Lê do ông soạn. Tính ông khiêm nhường,
cần kiệm, thơ ông thanh tao, bộ Toàn Việt thi lục của Lê Quí Đôn còn sao lại ba bài của ông đề
là Lão Mai, Trừ tịch cảm hứng, Xuân nhật phong hữu bất ngộ.
Đà Nẵng
35
Đào Tông Nguyên
(TK XI)
Danh thần đời Lý Nhân Tông. Ông hết lòng sửa sang việc chính trị, văn hóa. Khoảng năm
1087, ông đi sứ nhà Tống, đưa voi sang cống và trình quốc thư đòi lại những châu huyện ở mạn
Quảng Nguyên mà nhà Tống đã chiếm đoạt trước đó. Do tài ngoại giao khéo léo của ông, nhà
Tống thuận trả Quảng Nguyên; đổi lại, ta trả cho họ những tù binh đã bắt được do công trận của
Lý Thường Kiệt.
TP.HCM
36
Đặng Chất
(1622 - 1683)
Danh thần đời Hậu Lê, quê làng Phù Đổng, huyện Tiên Du, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc (nay
thuộc xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm, Hà Nội), có sách chép là Đặng Công Chất. Năm 1661, ông
đỗ Nhất giáp tiến sĩ, đứng đầu khoa này, ứng chế cũng đỗ đầu. Ông bản tính ngay thẳng, nổi
tiếng thông minh, hiếu học. Khi xuất chính rất mực thanh cần làm đến Tham tụng, Thượng thư
bộ Binh, tước Tử, nhiều lần đi sứ nhà Minh. Nhà vua vẫn thường vời ông vào cung điện giảng
TP.HCM, Quy
Nhơn
32
sách. Sau được phong Gia Tĩnh đại phu, Bồi tụng, Thượng thư bộ Lại, tước Bá. Khi làm Đô đốc,
Tổng tài ở Sử quán, ông hiệp với Hồ Sĩ Dương, Đào Công Chính, Thiềm Sĩ Lâm, Nguyễn Công
Vọng đề tựa bộ sách Lam sơn thực lục, sửa lại và khắc bản in mới trong năm 1676. Ông cũng
soạn bài văn bia ở đềnTrần Vô tức đền thờ Trần Thiên Chấn Võ đế quân ở phường Thụy Chương
(Hà Nội).
37
Đặng Dung
(1373 - 1414)
Danh tướng đời Hậu Trần, quê ở huyện Thiên Lộc (nay là Can Lộc), tỉnh Hà Tĩnh. Con của
Tri phủ Hóa Châu Đặng Tất. Ông cùng với Nguyễn Cảnh Dị, Nguyễn Súy ra Thanh Hóa rước
Trần Quí Khóach vào Nghệ An lập làm vua Trùng Quang, tiếp tục kháng chiến chống quân Minh
xâm lược. Trải qua nhiều trận đánh lớn ở Mô Độ Thiên Quan, Thái Già ông từng làm cho quân
Minh phải khiếp sợ. Ngoài việc cầm quân đánh giặc, ông còn là một nhà thơ, ông có bài thơ
Thuật hoài lưu lại hậu thế, nói lên nỗi niềm uất hận và thương cảnh nước mất nhà tan. Lúc sa cơ,
ông bị giặc Minh bắt cùng với Nguyễn Cảnh Dị, Nguyễn Súy và vua Trần Quí Khoách, ông vẫn
giữ lòng trung bất khuất với lý tưởng và hoài bão của mình.
Hà Nội, Huế,
TP.HCM, Đà
Nẵng, Quy Nhơn
38
Đặng Huy Trứ
(1825 - 1874)
Danh sĩ thời Nguyễn, quê ở huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế. Ông làm quan nổi tiếng
thanh liêm thương dân hết mực, từng được cử đi sứ các nước Trung Quốc, Triều Tiên, Thái Lan.
Ông là nhà cách tân thời Nguyễn thế kỷ XIX, là người đem nghề nhiếp ảnh vào nước ta nên được
xem là Tổ nghề nhiếp ảnh Việt Nam. Ông để lại một số tác phẩm tiêu biểu: Đặng Hoàng Trung
thi văn sao, Từ thụ yếu qui, Đặng dịch trai ngôn hành lục, Tứ thập bát hiếu, Khang Hy canh
chức đồ, Việt sử thánh huấn diễn nghĩa, Nữ giới diễn ca…
Huế, Đà Nẵng,
Quy Nhơn
39
Đặng Lộ
(TK XIII)
Danh thần đời Trần Hiến Tông. Ông học rộng, là người có óc khoa học, phát minh. Ông làm
quan chức Hậu nghị lang, ông thường lưu tâm khảo nghiệm về thiên văn, lịch số. Chính ông đã
sáng chế máy trắc nghiệm khí hậu, khảo sát hình tượng ở trên trời, gọi là Linh lung nghi. Do sự
chỉ dẫn của ông, Trần Hiến Tông cho sửa đổi quyển lịch thụ thời, gọi là Hiệp kỉ lịch. Khoa thiên
văn, toán định lịch số, đời bấy giờ có ông mà phát triển khả quan hơn xưa. Ông được xem như
nhà khoa học thực nghiệm ra đời sớm nhất của nước ta vào thời phong kiến.
TP.HCM, Khánh
Hòa, Quy Nhơn
40
Đặng Minh Khiêm
(TK XVI)
Danh thần đời Lê Thánh Tông, ông dòng dõi Đặng Tất. Nguyên tổ quán huyện Thiên Lộc
(Can Lộc), tỉnh Hà Tĩnh, sau dời ra xã Mạo Bổ, huyện Sơn Vi, tỉnh Sơn Tây. Năm 1501, ông làm
Thị thư Viện Hàn lâm, đi sứ nhà Minh. Năm 1509, ông lại đi sứ lần nữa, khi về đổi làm Tả thị
lang bộ Lại, rồi thăng Thượng thư bộ Lễ, kiêm Phó tổng tài Sử quán coi việc ở Chiêu văn quán,
Tú lâm cuộc. Khoảng năm 1516-1522, đời Lê Chiêu Tông, ông nhận việc sửa bộ Đại Việt sử kí.
Gặp lúc trong nước có nhiều biến cố, giữa triều đình ông luôn giữ khí tiết cứng cỏi không ai lay
chuyển được.
Đà Nẵng,
TP.HCM
41
Đặng Như Mai
(? - 1874)
Chí sĩ yêu nước, quê quán Nghệ An. Là người nhiệt thành yêu nước, đứng lên cùng Tú tài
Trần Tấn chỉ đạo cuộc kháng chiến chống Pháp, lập chiến khu ở vùng Nghệ Tĩnh. Nghĩa quân,
Đà Nẵng, Nghệ
An
33
văn thân dưới sự điều khiển của ông, thanh thế lừng lẫy. Sau thực dân Pháp đem quân vây đánh,
chống nhau với giặc suốt 6 tháng, dần dần nghĩa quân tan rã. Ông tử tiết năm 1874.
42
Đặng Tất
( ? - 1409)
Danh tướng thời kháng Minh, ông là thân phụ của tướng Đặng Dung, quê ở Thiên Lộc, Hà
Tĩnh. Cuối đời Trần sang đời Hồ, ông được Hồ Quý Ly trọng dụng, bổ làm Tri phủ Hóa Châu.
Đến năm 1407, ông có công giúp vua Trần đánh quan quân nhà Minh, thu phục cả một vùng rộng
lớn. Sau nghe lời gièm pha, vua sai giết ông và Nguyễn Cảnh Chân. Ông mất năm 1409.
Hà Nội, Khánh
Hòa, Huế,
TP.HCM, Quy
Nhơn
43
Đặng Thái Thân
(1873 - 1910)
Chí sĩ yêu nước, quê ở xã Nghi Thái, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Ông đỗ đầu xứ nên gọi
là Xứ Đặng, ông cũng là học trò và đồng chí của Phan Bội Châu. Ông là thành viên lập ra hội
Duy tân, ủng hộ phong trào Đông du, là người phụ trách, chuyên lo công việc của hội Duy tân bố
trí cho người xuất dương. Năm 1908, thực dân Pháp bắt nhiều nhân sĩ, trí thức yêu nước tham gia
phong trào kháng thuế ở miền Trung, ông rút vào núi hoạt động. Năm 1910, ông về hoạt động tại
làng Phan Thôn, huyện Nghi Lộc thì bị địch vây, thế cùng ông đã dùng súng chống cự quyết liệt
và đã hy sinh anh dũng.
Hà Nội, Huế,
Nghệ An, Đà
Lạt, Quy Nhơn
44
Đặng Trần Côn
( ? - 1745)
Danh sĩ đời Lê, quê xã Nhân Mục, huyện Thanh Trì, Hà Nội. Thuở nhỏ, ông thông minh,
hiếu học. Ông thi đỗ Hương Cống, được bổ Phủ học huấn đạo, rồi làm Tri huyện Thanh Oai, sau
thăng Chiến khán ngự sử đài. Ông là tác giả khúc ngâm Chinh phụ lừng danh, sau được Đoàn
Thị Điểm phiên dịch ra quốc âm. Ngoài ra ông còn để lại các tác phẩm: Tiêu tương bát cảnh
(thơ), Bích câu kỳ ngộ (truyện thơ)…
TP.HCM, Hà
Nội, Quy Nhơn,..
45
Đặng Đoàn Bằng
(1887 - 1938)
Chí sĩ yêu nước, nhà văn cuối thể kỷ XIX đầu thế kỷ XX, tên thật là Đặng Tử Mẫn, quê xã
Hành Thiện, tỉnh Nam Định. Ông từng sát cánh với Phan Bội Châu hoạt động cứu nước. Ông
cùng với Đặng Bỉnh Thành và Phạm Chấn Yêm là ba ủy viên đặc trách kinh tế trong hội Duy
Tân. Khi bị Chính phủ Nhật trục xuất, ông sang Trung Quốc, từng đảm nhận việc chế tạo bom,
lựu đạn. Năm 1908, ông gia nhập hội Đông Á đồng minh. Năm 1912 Hội Việt Nam quang
phục ra đời. Ông và Mai Lão Bạng làm ủy viên kinh tế trong Ban chấp hành. Ông mất năm 1938,
để lại nhiều tác phẩm thơ văn có giá trị, tiêu biểu như: Việt Nam nghĩa liệt sử bằng chữ Hán.
Nam Định, Quy
Nhơn
46
Đặng Thúc Hứa
(1870 - 1931)
Chí sĩ yêu nước, quê ở làng Lương Điền, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Ông đỗ Tú tài
Hán học. Năm 1905, xuất dương sang Nhật, sau được Phan Bội Châu phái về hoạt động ở Thái
Lan. Giặc Pháp từng sai người sang mua chuộc ông, đều bị ông phản đối. Tại Thái Lan, ông làm
chủ nhiệm tờ Đồng Thanh xuất bản ở Ban Đọng, thuộc tỉnh Phi Chịt từ 1927 đến 1930. Đến năm
1931, ông từ trần ở Oudoune thuộc khu đông bắc Thái Lan, thọ 61 tuổi.
Nghệ An
47
Đặng Tử Kính
(1875 - 1928)
Chí sĩ yêu nước, quê ở Nghi Lộc, Nghệ An, là bạn đồng chí với Phan Bội Châu. Ông nhiệt
thành yêu nước, hăng say hoạt động cứu nước. Năm 1906, ông sang Nhật, Trung Hoa liên hệ các
tổ chức cách mạng. Năm 1909, sang Xiêm phụ trách kinh tài cho tổ chức cách mạng ở trong và
ngoài nước. Văn thơ yêu nước của ông còn truyền tụng nhiều ở trong và ngoài nước.
Đà Nẵng
34
48
Đặng Xuân Bảng
(1828 - 1910)
Danh y thời Nguyễn, quê ở xã Hành Thiện, phủ Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Ông đỗ Tú kép
hai khoa 1846 và 1848. Năm 1856 đỗ Tiến sĩ. Ông làm quan giữ các chức Tuần phủ Hải Dương,
Đốc học tỉnh Nam Định. Ông học rộng, thích nghiên cứu thiên văn, y học, nhất là dược thảo.
Ông để lại nhiều tác phẩm giá trị: Nam phương danh vật bị khảo, Độc sử bị khảo, Việt sử cương
mục tiết yếu, Khâm định tập vận trích yếu…
Nam Định, Hà
Nội
49
Đinh Công Tráng
(1842 - 1887)
Chí sĩ Cần Vương kháng Pháp, quê quán làng Tráng Xá, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam.
Hưởng ứng chiếu Cần Vương, ông chiêu tập và lãnh đạo nghĩa quân hùng cứ ở chiến khu Ba
Đình thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa, chống nhau với quân Pháp suốt 3 năm từ 1885 -
1887. Năm 1887, sau nhiều lần thất bại, quân Pháp tập trung lực lượng mạnh đánh suốt mấy ngày
liền mới phá được thành. Nghĩa quân của ông bị tổn thất nặng phải rút lui về Nghệ An, chẳng
may ông bị trúng đạn tử nạn tháng 10/1887. Ông đã nêu một tấm gương sáng về chủ nghĩa yêu
nước và lòng quả cảm chống ngoại xâm.
Huế, Hà Nội,
Nghệ An, Đà
Nẵng, TP.HCM,
Quy Nhơn
50
Đinh Lễ
( ? - 1427)
Danh tướng kháng Minh, quê quán huyện Thụy Nguyên, tỉnh Thanh Hóa. Ông vốn là cháu
ngoại Lê Lợi, vì nhờ lập được chiến công to lớn nên được mang họ vua nên cũng được gọi là Lê
Lễ. Ông cùng với em là Đinh Liệt dấn thân cứu nước. Năm 1426 ông cùng Lê Truyện mở màn
trận Tụy Động đại phá giặc Minh, giết hơn 5 vạn địch quân. Ông được nhà Nguyễn liệt vào hàng
đệ nhất công thần đời Lê Thái Tổ.
Hà Nội,
TP.HCM, Quy
Nhơn
51
Đinh Liệt
(1400 - 1471)
Danh tướng kháng Minh, ông là em Đinh Lễ, tướng dưới trướng Bình Định vương Lê Lợi.
Trong trận Chi Lăng, ông giết tướng Minh là Liễu Thăng, được phong làn Tư Mã. Năm 1434,
quân Chiêm sang đánh cướp, ông đem quân dẹp yên. Năm 1470, ông hộ giá Lê Thánh Tông đi
đánh Chiêm thành, tiến chiếm được thành Đồ Bàn. Năm sau, ông mất, được truy phong là Mục
Vương.
Khánh Hòa, Đà
Nẵng, Hà Nội,
Quy Nhơn
52
Đoàn Nhữ Hài
(1280 - 1336)
Danh thần đời Trần, quê ở Gia Lộc, Hải Dương. Thuở nhỏ, ông nổi tiếng ham học và hay
chữ, được vua Trần Anh Tông phong làm Trung tán. Năm 1312, được cử đi sứ nước Chiêm
Thành sau về phong làm Tham Tri chính sự. Đời vua Trần Hiển Tông, ông làm đốc tướng cùng
vua thân chinh đi đánh Ai Lao và bị tử trận. Sau khi mất ông được phong phúc thần và được lập
miếu thờ.
Hà Nội, Huế,
TP.HCM, Quy
Nhơn
53
Đoàn Thị Điểm
(1705 - 1748)
Thi sĩ, quê gốc ở thôn Trung Phú, xã Hiến Phạm, huyện Văn Giang, xứ Kinh Bắc, nay thuộc
huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên. Xuất thân từ một gia đình Nho học, có anh là Đoàn Doãn Lâm
một danh sĩ nổi tiếng lúc bấy giờ. Bà giỏi văn chương thi phú từ nhỏ, bà từng dạy học trong cung
cấm và cả ở ngoài dân gian. Bà đã dịch nguyên tác chữ Hán bản Chinh Phụ Ngâm của Đặng Trần
Côn sang chữ Nôm. Bà sáng tác nhiều thơ văn xướng hoạ với anh trai và chồng, song phần lớn
đều bị thất lạc. Duy còn một bản Tục truyền kỳ cũng gọi là Truyền kỳ tân phả (gồm 3 truyện Hải
khẩu linh từ, Vân Cát thần mã, An ấp liệt nữ) lưu truyền rộng rãi…
Hà Nội, Nghệ
An, TP.HCM, Đà
Nẵng, Quy Nhơn
35
54
Đốc Ngữ
(? - 1892)
Võ quan nhà Nguyễn, tên thật là Nguyễn Đức Ngữ, quê xã Xuân Phú, huyện Phúc Thọ, tỉnh
Hà Tây (nay là Hà Nội). Khi Pháp đánh Bắc Kỳ lần thứ nhất (1873), ông có mặt trong đội quân
của
triều đình Huế đóng ở Sơn Tây. Do chiến đấu dũng cảm, lập được nhiều chiến công, ông
được thăng chức Đốc binh, từ đó có tên gọi là Đốc Ngữ. Ông là một trong những người có đóng
góp lớn cho các trận đánh tại Cầu Giấy, thành Sơn Tây. Đến năm
1890, ông đem quân đến vùng
Thanh Sơn (Phú Thọ) lập căn cứ riêng, rồi lần lượt mở rộng hoạt động suốt dọc hai bờ sông
Hồng
và sông Đà chống Pháp. Trong cuộc chiến đấu, ông còn liên kết với Tống Duy Tân ở
Thanh Hóa. Nghĩa quân đã đánh nhiều trận oanh liệt, nhất là trận Chợ Bờ (tỉnh lỵ Hòa Bình).
Ông hy sinh ngày 7/8/1892.
Hà Nội, Đà Nẵng
55
Đội Cấn
(1881 - 1918)
Anh hùng kháng Pháp, tên thật là Trịnh Văn Đạt, quê ở huyện Vĩnh Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc. Là
người có lòng yêu nước nhưng ứng mộ lính tập thay anh trai làm Đội trong cơ binh của Pháp,
nên gọi là Đội Cấn. Ông kết bạn với các đồng ngũ thường bàn bạc việc khởi nghĩa, nổi dây
chống chính quyền Pháp ở Thái Nguyên. Ngày 30/1/1917, ông cùng chí sĩ Lương Ngọc Quyến
phát động khởi nghĩa phá ngục, chiếm đồn Thái Nguyên. Nghĩa quân làm chủ tỉnh lỵ Thái
Nguyên từ 30/8 - 5/9, sau đó không cầm cự được phải rút lui. Ông tiếp tục điều động quân sĩ
kháng chiến ở khu căn cứ Núi Pháo. Bị địch bao vây, nghĩa quân lần lượt hy sinh, ông cũng tự
sát tháng 11/1918.
Hà Nội, Quy
Nhơn, Thái
Nguyên
56
Đội Cung
(1903 - 1941)
Anh hùng kháng Pháp, tên thật là Nguyễn Duy Cung, quê ở xã Đông Thọ, huyện Đông Sơn
(nay thuộc TP Thanh Hoá), ông là một sĩ quan người Việt giữ chức đội trưởng lính Khố xanh
trong quân đội Pháp, nên gọi là Đội Cung. Ông đã vận động binh lính Khố xanh mưu đồ khởi
nghĩa chống Pháp. Tháng 1/1941 ông tổ chức đánh chiếm đồn Rạng (ở Thanh Chương), sau đó
kéo sang chiếm đồn Đô Lương (Anh Sơn), giết Tây đoan, rồi kéo lực lượng về thành phố Vinh
chiếm tỉnh lị Nghệ An. Nhưng giặc Pháp đã kịp đề phòng đồng thời tổ chức phản công, dồn lính
đàn áp dập tắt cuộc binh biến. Cuộc khởi nghĩa thất bại, ông bị thực dân Pháp bắt và xử bắn.
Hà Nội, Huế,
TP.HCM, Quy
Nhơn
57
Đội Quyên
(1859 - 1917)
Thủ lĩnh nghĩa quân chống Pháp ở Nghệ Tĩnh, hiệu Đại Đẩu, tục gọi Đội Quyên, quê tổng
Yên Hồ, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Từ năm 1885 ông theo Lê Ninh, rồi về giúp Phan Đình
Phùng. Chính ông cùng Cao Thắng phụ trách chế tạo vũ khí cho nghĩa quân. Sau khi Phan Đình
Phùng mất (1895) ông theo Phan Bội Châu ra nước ngoài một thời gian rồi vè hoạt động ở Nghệ
Tĩnh, liên kết với Ngô Quảng, Hồ Bá Phấn, Nguyễn Thị Thanh. Có lần ông cùng với Phạm Văn
Ngôn đến gặp Hoàng Hoa Thám ở Yên Thế. Năm 1916 ông bị giặc Pháp truy lùng, cuối cùng
không thoát được, ông tự sát hi sinh trong đêm 20/8/1917.
Nghệ An
58
Hàn Thuyên
(1229 - ?)
Văn thần, danh sĩ đời Trần, tên thật là Nguyễn Thuyên, quê ở Nam Sách, tỉnh Hải Dương.
Ông đỗ Thái học sinh năm 1256, làm quan trải mấy triều vua Trần Thái Tông, Thánh Tông, Nhân
Tông. Ông là tác giả nhiều bài thơ, trong đó có tập thơ Phi sa giản tập viết bằng chữ Nôm. Thơ
ông viết về thiên nhiên cây cỏ, thanh thản mà tao nhã. Ông được xem là người đầu tiên truyền bá
Vũng Tàu,
TP.HCM, Hà
Nội, Đà Nẵng,
36
chữ Nôm. Ông nổi tiếng với bài Văn tế cá sấu viết tháng 8/1282, lúc đó đương chức Thượng thư
Bộ Hình. Bài văn tế đươc vua Trần cảm kich vì có tính chất thần chú đuổi cá sấu đi, đem lại cuộc
sống bình yên cho dân chài sông nước và cho ông đổi mang danh Hàn Thuyên (chữ Hàn như họ
của Hàn Dũ đời Đường).
Quy Nhơn
59
Hoàng Diệu
(1828 - 1882)
Danh sĩ, võ tướng, quê quán làng Xuân Đài, huyện Diên Phước, tỉnh Quảng Nam. Ông học
cao, đỗ Cử nhân năm 1848, đỗ Phó bảng năm 1853. Sơ bổ Tri huyện Tuy Phước, rồi thăng Tri
phủ Tuy Viễn (Bình Định), sau được bổ đi nhiều nơi và thăng lên Tổng Đốc lãnh hàm Thượng
thư Bộ Hình. Đầu năm 1882, quân Pháp tạo cớ âm mưu cướp thành Hà Nội. Với cương vị Tổng
đốc Hà Nội – Ninh Bình, ông chỉ huy quân sĩ chiến đấu đến cùng, nhưng một số quan lại hèn
nhát sớm đầu hàng giặc, nên cuộc chiến đấu nhanh chóng thất bại. Hoàng Diệu thảo di biểu gửi
vua Tự Đức, rồi dùng khăn bịt đầu thắt cổ tự tử, hưởng dương 54 tuổi. Ông là vị quan nổi tiếng
thanh liêm chính trực, quyết đoán, một vị chỉ huy quả cảm, rất mực thương binh lính, được sĩ phu
Bắc Hà kính phục.
Hà Nội, Đà
Nẵng, Vũng Tàu,
Quy Nhơn
60
Hoàng Hoa Thám
(1858 - 1913)
Anh hùng chống Pháp, tên thật là Trương Văn Thám, người làng Ngọc Cục, huyện Yên Thế,
tỉnh Bắc Giang. Ông vốn là bộ tướng của nhóm nghĩa quân Trần Quang Loan hưởng ứng phong
trào Cần Vương đánh Pháp. Năm 1887 ông trở thành Đề lĩnh, lãnh tụ nghĩa quân Yên Thế với
chiến khu và địa bàn hoạt động gồm nhiều tỉnh khiến cho quân Pháp kinh hoàng. Ông thường
được gọi là Đề Thám với hỗn danh Hùm xám Yên Thế. Nghĩa quân Yên Thế do ông lãnh đạo lập
khu tự trị, củng cố lực lượng, vũ khí, tiếp xúc với các nhà chí sĩ yêu nước quyết tâm kháng chiến
đến cùng. Nhưng tiếc rằng sau đó, Đề Thám bị thuộc hạ phản bội làm tay sai cho giặc ám hại.
Ông mất năm 1913, hưởng dương 55 tuổi. Cuộc khởi nghĩa nông dân Yên Thế bị dập tắt, nhưng
ý chí đánh Pháp dành độc lập cho non sông đất nước vẫn sống mãi
Đà Nẵng,
TP.HCM, Yên
Bái, Khánh Hòa,
Quy Nhơn
61
Hồ Bá Kiện
(1872 - 1915)
Anh hùng kháng Pháp, con của Án sát Hồ Bá Ôn, quê làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu,
tỉnh Nghệ An. Ông đỗ Cử nhân, sau khi cha hy sinh vì nước, ông cũng dấn thân tham gia chống
quân xâm lược. Từ năm 1905, ông cùng với các chí sĩ lo việc vận động phong trào Đông du. Ít
lâu sau, ông bị bắt ở Hưng Yên, rồi bị đày đi Lao Bảo. Trong tù, ông liên lạc được với anh em tù
nhân và binh lính, lãnh đạo cuộc nổi dậy phá khám, cướp súng, đưa nhau vào rừng tìm đường
qua Xiêm. Từ đó ông sống và hoạt động tại Thái Lan. Năm 1915, bọn cầm quyền Pháp cho lính
theo dõi, bao vây, ông cùng các đồng chí trốn thoát, nhưng đã hy sinh tại vùng núi Bân Ta Tha,
hưởng dương 43 tuổi. Nhân dân và kẻ sĩ trong nước nghe tin ông mất vô cùng thương tiếc.
TP.HCM, Nghệ
An
62
Hồ Bá Phấn
(? - 1920)
Anh hùng kháng Pháp, tục gọi Đội Phấn, nguời tỉnh Hà Tĩnh. Mặc dù bị sung vào hàng ngũ
lính tập của giặc Pháp, nhưng ông vẫn ngầm giao kết với chí sĩ bên ngoài, quyết chờ cơ hội đánh
trả lại giặc Pháp. Tháng 5 năm Mậu thân 1908, nhân cuộc kháng sưu nổ ra, ông chỉ huy nhóm nội
tuyến nổi lên đánh thành Hà Tĩnh, bị giặc Pháp điều động binh lính đàn áp, ông rút chạy lên
thượng du hội với các nghĩa đảng ở rừng núi. Ông cùng các nghĩa quân đánh phá giặc đóng
TP.HCM
37
quanh vùng Nghệ Tĩnh. Hào khí của ông được sĩ phu khen ngợi, trọng vọng, biểu dương nhiệt
tình yêu nước và lòng dũng cảm kiên cường của ông. Năm 1920, ông bị giặc Pháp bắt, đem xử
chém ở quán Thầu Đâu (Vinh - Nghệ An).
63
Hồ Bá Ôn
(1854 - 1883)
Anh hùng kháng Pháp, quê làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Ông đỗ Cử
nhân năm 1870, năm 1875 đỗ Phó bảng, làm Án sát Nam Định, nổi tiếng liêm chính. Năm 1883,
giặc Pháp đánh chiếm thành Nam Định, ông chỉ huy quân chống giữ và tử trận, được truy tặng
hàm Quang Lộc tự khanh, thờ ở đền Trung Nghĩa.
Đà Nẵng, Nghệ
An, An Nhơn
64
Hồ Học Lãm
(1884 - 1942)
Chí sĩ yêu nước, quê làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Ông nhiệt tình yêu
nước, từ năm 1906 hưởng ứng phong trào Đông Du, Duy tân sang Nhật Bản học tập. Ít lâu sau,
du học sinh ở Nhật bị giải tán và trục xuất, ông sang Trung Quốc, ngụ ở Bắc Kinh đưa thư Trình
đô thống Lục quân là Đoàn Kì Thụy và được vào học trường võ bị Bắc Kinh. Tốt nghiệp trường
võ bị, ông trở thành một sĩ quan trong quân đội Trung Quốc nhưng lòng ông luôn hướng về Tổ
quốc, căn nhà ông ở là một cơ sở tiếp đón các đồng chí Việt Nam đến sinh hoạt. Ông là ủy viên
huấn luyện cho Việt Nam Quang phục hội của Phan Bội Châu. Đời ông được hầu hết các sĩ phu
quí trọng thương mến. Ông có bài thơ trường thiên cảm tác về nỗi xót xa của người dân mất nước
dưới ách thống trị của bọn cướp nước. Ông mất tại Quế Lâm (Trưng Quốc) năm 1942.
TP. HCM, Nghệ
An, Đà Nẵng
65
Hồ Huấn Nghiệp
(1829 - 1864)
Liệt sĩ kháng Pháp, Thi sĩ, tên chữ là Thiệu Tiên, quê làng An Định, huyện Bình Dương, tỉnh
Gia Định (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh). Đương thời ông nổi tiếng thơ văn, có khí tiết,
được sĩ phu trọng vọng. Ngoài 30 tuổi, vẫn xem thường công danh, từ chối mọi sự cám dỗ về
danh lợi ở yên dạy học, nuôi mẹ già. Năm 1862, liên quân Pháp - Ý đánh chiếm ba tỉnh miền
Đông Nam Bộ, ông đứng lên theo Trương Định kháng chiến, coi sóc phủ Tân Bình, lo liệu về
mặt quân tiếp vụ cho nghĩa quân. Năm 1864, ông sa vào tay giặc và bị giết, hưởng dương 35 tuổi.
TP HCM, Quy
Nhơn
66
Hồ Phi Tích
(1675 - 1734)
Văn thần đời Lê Hi Tông, quê làng Hoàn Hậu, tỉnh Nghệ An. Năm Canh thìn 1700, ông đỗ tiến
sĩ, 25 tuổi, làm đến Ngự sử. Năm Tân mão 1711, đời Lê Dụ Tông, ông dâng sớ điều trần nhiều
việc ích nước lợi dân, được ban thưởng bạc và lụa. Sau ông đi sứ có công, được giao cho nhiệm
vụ kinh lí địa giới tỉnh Tuyên Quang - Hưng Hóa. Năm Kỉ dậu 1729, nạn lụt xảy ra, ông tận lực
lo việc cứu lụt, phát thóc kho ở Vị Hoàng chẩn cấp cho nhân dân bị thiên tai. Ông làm quan đến
Thượng thư bộ Hình, tước Quận công, rồi cáo quan về hưu.
Nghệ An, Đà
Nẵng
67
Hồ Trung Lượng
(1860 - 1942)
Danh sĩ, nhà giáo dục đời Thành Thái. Người huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. Năm
1891, ông đỗ cử nhân. Năm 1892 đỗ Tiến sĩ, 32 tuổi. Được bổ Tri phủ Tư Nghĩa, rồi thăng Đốc
học Bình Định. Trong một khoa khảo hạch ở tỉnh Bình Định, do ông làm chủ khảo, xảy ra việc
Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quí Cáp phổ biến bài thơ Chí thành thông thánh và
bài phú Danh sơn Lương ngọc làm vang động cả nước về chính trị văn hóa, cảnh tỉnh sĩ phu
trong học giới rất mạnh. Tuy ông biết rõ tác giả bài thơ, bài phú ấy đích thực của ba nhà chí sĩ
trên, nhưng ông không hề tiết lộ với bọn quan lại tay sai hồi ấy. Đương thời các chí sĩ yêu nước
Đà Nẵng
38
như Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quí Cáp... rất kính trọng và hâm mộ ông về tài
đức.
68
Huyền Trân
Công Chúa
(1287 - ?)
Công chúa, con gái duy nhất của vua Trần Nhân Tông, em vua Trần Anh Tông. Năm 1306,
bà được gả cho vua Chàm là Chế Mân để đổi lấy 2 châu Ô, Lý (từ đèo Hải Vân, Thừa Thiên đến
phía bắc Quảng Trị ngày nay). Năm 1307, vua Chiêm mất, vua Trần cho người sang tìm cách
cứu bà về nước để khỏi bị hỏa táng theo tục lệ của người Chămpa. Hậu thế xem bà như người có
công khai canh ra vùng đất Thuận Hoá. Hiện ở vùng Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam và
nhiều nơi khác lập đền miếu thờ bà.
Huế, Đà Nẵng,
TP.HCM, Quy
Nhơn
69
Huỳnh Bá Chánh
(1842 - 1886)
Liệt sĩ Cần vương chống Pháp, quê ở làng Khái Đông, huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam.
Nhân dân thường gọi ông là cụ Ngự Quảng Cái, vì ông làm quan đến chức Ngự sử tại triều. Tính
ông khảng khái và bất khuất. Từ năm 1885, ông cùng Trần Văn Dư, Hường Thanh Hà (tức
Nguyễn Duy Hiệu) tích cực hoạt động chống Pháp trên địa bàn Trung Lộc (Quế Sơn). Ông
thường tuyên bố: "Ninh vi kê thủ, bất vi ngưu hậu". (Thà làm đầu gà, không thèm làm đuôi trâu).
Ông cùng nghĩa quân chống Pháp từ năm 1885 - 1886. Đến khi sa vào tay giặc, không chịu khuất
phục, ông bị giặc hành hình nơi bến đò Chợ Củi (nay thuộc huyện Duy Xuyên, gần cầu Câu Lâu,
trên quốc lộ 1, sông Thu Bồn).
Đà Nẵng,
TP.HCM, Huế
07
Huỳnh Côn
(1850 - 1925)
Nhà văn hoá, đại thần cuối triều Nguyễn, quê làng Trung Bính, xã Bảo Ninh, Đồng Hới, tỉnh
Quảng Bình. Xuất thân trong một gia đình nhà Nho. Năm 1867, ông đỗ Tú tài, năm sau thi đỗ Cử
nhân, đến năm 1877 thi đỗ Phó bảng. Ông làm quan trải qua nhiều chức vụ, thăng giáng nhiều
lần, sau giữ chức Thượng thư Bộ Hộ, Bộ Công rồi Phụ chánh Đại thần cho vua Duy Tân. Ông
từng hiến nhiều kế sách giúp triều đình phát triển kinh tế, giữ giá tiền tệ, tăng lương cho quan lại,
tham gia Hội đồng cải cách giáo dục… và âm thầm ủng hộ khởi nghĩa Duy Tân chống Pháp. Ông
là vị quan thanh liêm, để lại tiếng thơm cho hậu thế. Để lại những tác phẩm chính: Trung Việt
dược tính hợp biên, Quảng Bình khoa lục, Chiêm Thành khảo, Hà Nguyên thi khảo..
Quảng Bình, Quy
Nhơn
71
Huỳnh Mẫn Đạt
(1807 - 1883)
Nhân sĩ, nhà thơ yêu nước cận đại. Quê huyện Tân Long, tỉnh Gia Định. Thuở trẻ ông học tại
Gia Định, năm Tân mão 1831, ông đỗ cử nhân, nổi tiếng văn chương làm Tuần phủ ở Hà Tiên.
Khi quân Pháp xâm chiếm miền Nam, ông cáo quan về ở ẩn tại Rạch Giá. Huỳnh Mẫn Đạt là
chiến sĩ trên mặt trận văn hóa góp công rất nhiều trong công cuộc chống Pháp xâm lược hồi đầu
thế kỉ. Ông còn là một nhà thơ nổi tiếng của miền Nam. Khi ông mất, ở Văn Xương Các (Văn
Thánh) Vĩnh Long có bài vị thờ ông. Ông là tác giả một số bài thơ Nôm in trong các hợp tuyển
thơ văn yêu nước Việt Nam hồi cuối thế kỉ XIX.
TP.HCM, Đà
Nẵng, Quy Nhơn
72
Huỳnh Thúc Kháng
(1876 - 1947)
Chí sĩ, nhà cách mạng, quê quán làng Thạnh Bình, phủ Tam Kì, tỉnh Quảng Nam. Ông đỗ
Tiến sĩ năm 1904, nhưng không ra làm quan, mà tham gia hoạt động, lo tìm cách chống Pháp cứu
nước. Ông là một trong những nhân vật lãnh đạo phong trào Duy tân, bị giặc Pháp bắt năm 1908,
đày ra Côn Đảo suốt 13 năm, đến 1921 mới được trả tự do. Năm 1926, ông được cử làm Viện
Đà Nẵng, Huế,
Quảng Nam, Hà
Nội, Nghệ An,
39
trưởng Viện Dân biểu Trung Kỳ. Sau Cách mạng tháng Tám 1945, ông giũ chức Bộ trưởng Bộ
Nội vụ của Chính phủ Liên hiệp kháng chiến. Năm 1946, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua Pháp
đàm phán, ông được trao quyền Quyền Chủ tịch Chính phủ. Trong kháng chiến chống Pháp, ông
được Chính phủ đặc phái vào Liên khu 5 công tác. Ngày 21/04/1947, trên đường công tác, ông
lâm bệnh nặng rồi mất, thọ 71 tuổi.
Quy Nhơn…
73
Huỳnh Tịnh Của
(1834 - 1907)
Nhà nghiên cứu, quê làng Phước Thọ, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Ông tinh thông
Hán học và Pháp văn. Năm 1864, làm Đốc phủ sứ, rồi Giám đốc tì phiên dịch văn án cho chính
phủ bảo hộ. Tham gia viết bài các báo cổ xúy chữ quốc ngữ, truyền bá học thuật, chấn hưng cổ
học. Ông đóng góp công sức làm cho chữ quốc ngữ có tư thế trong đời sống văn hóa những năm
cuối thế kỷ XIX. Để lại nhiều tác phẩm giá trị: Phép toán, Phép đo, Gia lễ, Đại Nam Quốc âm tự
vị…
TP.HCM, Tiền
Giang, Bà Rịa-
Vũng Tàu, Quy
Nhơn
74
Khúc Hạo
( ? - 917)
Danh thần, ông là con của Khúc Thừa Dụ, quê ở Hải Dương. Năm 907, thay cha làm Tiết Độ
Sứ, hết lòng chăm lo việc dân nước, quan hệ giao hảo với nhà Hậu Lương. Ông khéo dùng người,
dưới trướng có các tướng lĩnh xuất sắc, suốt thời gian ông cầm quyền, trị nước yên dân, phong
kiến phương Bắc không bén mảng đến nước ta.
Hà Nội, Đà
Nẵng, Quy Nhơn
75
Khúc Thừa Dụ
( ? - 907)
Danh thần, quê ở vùng Bình Giang, Hải Dương, vốn là con nhà hào phú. Thời kỳ nước ta bị
nhà Đường đô hộ nhưng thế giặc đã suy. Các hào kiệt dấy binh chống lại, suy tôn Khúc Thừa Dụ
làm lãnh tụ. Ông lãnh đạo khởi nghĩa thành công, đánh đuổi bọn quan lại đô hộ lên nắm quyền
vào năm 906, xưng là Tĩnh Hải Tiết độ sứ. Năm sau ông mất, con là Khúc Hạo lên thay.
Huế, Hải Dương,
Quy Nhơn
76
Lang Liêu
(Thời đại Hùng Vương)
Con vua Hùng Vương thứ sáu, ông đã sáng tạo ra bánh chưng, bánh dày, tượng trưng cho
Trời, Đất. Hai thứ bánh này đã trở thành món ăn truyền thống của dân tộc Việt. Ông được vua
cha truyền ngôi, tức là
Hùng Vương thứ 7.
Khánh Hòa, Hà
Nội, Quy Nhơn
77
Lãnh Binh Thăng
(1798 - 1866)
Liệt sĩ kháng Pháp, quê làng Mĩ Thạnh, tổng Bảo Hựu, tỉnh Bến Tre, tên Nguyễn Ngọc
Thăng, từng giữ chức Lãnh binh nên tục gọi là Lãnh Binh Thăng, Năm 1859 Pháp tấn công vào
cửa Cần Giờ rồi tiến chiếm Gia Định, ông giữ đồn Thủ Thiêm (thuộc Gia Định, nay là quận 9,
TP. Hồ Chí Minh). Trước hỏa lực địch quá mạnh, lực lượng dưới quyền chỉ huy của ông bị tổn
thất nặng, ông phải rút quân về Định Tường để bảo tồn lực lượng. Năm 1862, quân Pháp tiến
chiếm Mĩ Tho, Gò Công, cánh quân của ông phải rút về Gò Công. Ông chỉ huy quân nghĩa dõng
cố thủ tử chiến đến cùng. Ông hy sinh vào ngày 15/5/1866 tại Đám lá tối trời ở Gò Công, sau đó
di hài được đưa về an táng tại quê nhà. Hiện nay bài vị ông được thờ với vị Thành hoàng và đức
Trần Hưng Đạo ở đình Nhơn Hòa, đường Cô Giang, quận 2, TP. Hồ Chí Minh.
TP HCM
78
Lê Quý Đôn
(1726 - 1783)
Danh nhân văn hóa, nhà bác học thế kỷ XVIII, quê ở làng Phú Hậu, xã Độc Lập, tỉnh Thái
Bình. Xuất thân trong một gia đình đại khoa bảng, nhiều đời làm quan cao cấp của triều vua Lê –
Hà Nội,
TP.HCM, Đà
40
chúa Trịnh. Nổi tiếng thông minh từ thuở nhỏ, có trí nhớ phi thường được xem là thần đồng. Ông
thi đỗ Giải nguyên năm 17 tuổi, năm 26 tuổi đỗ Hội nguyên, vào thi Đình đỗ Bảng nhãn. Làm
quan thời Lê - Trịnh trải qua các chức từ Thị độc Hàn lâm, Tư nghiệp Quốc Tử giám, làm Phó sứ
đi Trung Quốc, thăng Hàn Lâm viện thừa Chỉ, Tổng tài Quốc sử quán. Được phong từ tước Bá,
tước Hầu, lên tước Công - khi mất được truy thăng đến hàm Thượng thư Bộ Công. Ông là một
học giả uyên bác của văn hóa Việt Nam. Công trình trước tác và sáng tác của ông để lại thật đồ
sộ: Quốc sử tục biên, Đại Việt thông sử hay Lê triều thông sử, Phủ biên tạp lục, Quần thư khảo
biện, Xuân thu lược luận, Bắc sử thông lục, Toàn Việt thi lục, Vân đài loại ngữ, Toàn Việt văn
tập, Quế Đường thi tập…
Nẵng, Huế, Nha
Trang, Đà Lạt,
Quy Nhơn…
79
Lê Bá Thận
(1822 - 1879)
Danh sĩ, sử gia đời Nguyễn, quê ở Hương Thủy, Thừa Thiên Huế. Năm Mậu Thân, ông đỗ
Phó bảng, sơ bổ Tri huyện, Tri phủ rồi trải các chức: Thị giảng học sĩ, Bố chánh sứ Nghệ An,
Tham tri bộ Binh, Tả phó đô ngự viện Đô sát. Năm 1868, ông có công đánh lui giặc Tàu sang
quấy phá ở Thái Nguyên, được thăng Thượng thư Bộ Lễ. Sau thăng Hiệp biện đại học sĩ, làm
việc ở Viện Cơ mật. Ông còn là Phó Tổng tài Quốc sử quán, tham gia hợp soạn bộ Khâm định
Việt sử thông giám cương mục.
Huế
80
Lê Bá Trinh
(1875 - 1918)
Nhà cách mạng, người làng Hải Châu Chánh, huyện Hoà Vang, tỉnh Quảng Nam (nay thuộc
thành phố Đà Nẵng). Ông đậu Cử nhân năm 1900 nhưng không ra làm quan mà tham gia yểm trợ
các phong trào Đông Du và Duy Tân. Năm 1908, trong phong trào kháng thuế ở Miền Trung,
ông bị Pháp bắt đày đi Côn Đảo. Tại đây, ông tiếp tục tranh đấu đòi quyền lợi cho anh em tù
chính trị cùng bị giam. Năm 1916, được trả tự do, sau đó, ông tham gia cuộc khởi nghĩa của Vua
Duy Tân, nhưng bị bắt đày đi Lao Bảo. Năm 1918, ông bị thảm sát trong vụ các tù nhân phản
kháng bọn cai ngục.
Đà Nẵng, Quy
Nhơn
81
Lê Cao Lãng
(TK XVIII)
Sử gia triều Nguyễn. Tên thật là Lịnh Phủ, quê làng Nguyệt Viên, huyện Hoàng Hóa, tỉnh
Thanh Hóa. Năm Đinh mão, đầu đời cua Gia Long, ông làm giám khảo ở trường thi Sơn Tây, sau
làm Tri phủ Hoài Đức. Ngoài một quan cai trị, ông còn là một nhà văn, nhà nghiên cứu văn hóa
nổi tiếng đương thời. Ông soạn các tác phẩm: Lịch triều tạp kỉ, Viên Trai thi tập, Viên Trai văn
tập, Thanh Hóa dư đồ sự tích kí, Quốc triều xử trí Vạn Tượng sự nghi lục, Thanh Hóa tỉnh:
Cương giới phân hợp danh hiệu diên cách, tịnh sơn, xuyên cảnh thắng tập kí.., Lê triều lịch khoa
tiến sĩ đề danh bi kí... đều là những sách quí trong kho tàng văn hóa dân tộc. Ông là một tác giả
lớn triều Nguyễn.
TP.HCM, Đà
Nẵng
82
Lê Cẩn
(? - 1872)
Liệt sĩ kháng Pháp, người tỉnh Vĩnh Long. Ông là một võ quan nhà Nguyễn, làm đến chức Đề
đốc, nên còn được gọi là Đốc binh Lê Cẩn. Năm 1867, quân Pháp tấn công tỉnh thành Vĩnh
Long, ông cùng Nguyễn Giao tập hợp nghĩa quân chống Pháp. Địa bàn hoạt động thuộc vùng
Tam Bình - Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long. Năm Nhâm thân 1872, ông cùng Nguyễn Giao tổ chức
trận đánh chiếm huyện Vũng Liêm, đốt chợ và giết tên quận trưởng tên là Thực. Sau đó, phục
TP HCM
41
kích giết chết viên Tham biện Alix Salicetti tục gọi là Bồi Xê. Đích thân ông xông vào trại vật
ngã tên Salicetti tại cầu Vồng và cả hai đều lăn xuống sông chết.
83
Lê Chân
(? - 43)
Nữ tướng thời Hai Bà Trưng, người làng An Dương, nay thuộc Hải Phòng. Thân phụ của bà
là Lê Thái Thịnh bất hợp tác với quân xâm lược nhà Đông Hán, bị khép tội chết. Thù nhà, nợ
nước, bà đứng lên chiêu tập binh mã chờ thời cơ đánh đuổi kẻ thù. Năm 39, bà đem binh mã
hưởng ứng cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, được phong chức Tiên phong Nữ tướng quân và
lập được nhiều chiến công oanh liệt. Sau khi Trưng Trắc lên ngôi vua, bà được phong chức Tổng
quản binh quyền nội bộ. Năm 41, nhà Đông Hán quay lại xâm chiếm nước ta. Bà tham gia chiến
đấu quyết liệt với quân giặc. Năm 43, Hai Bà Trưng nhảy xuống sông Hát tuẫn tiết, bà cũng tuẫn
tiết theo. Tưởng nhớ công đức, dân làng lập đền thờ bà tại quê hương An Biên, Hải Phòng gọi là
Đền Nghè, hàng năm tổ chức lễ hội long trọng để tưởng niệm.
Hải Phòng,
TP.HCM, Quy
Nhơn
84
Lê Chích
(1382 - 1448)
Danh tướng thời Lê, quê ở huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Tên thật là Nguyễn Chích,
được ban cho họ Lê của vua nên gọi là Lê Chích. Khi quân Minh xâm chiếm nước ta, ông nhóm
họp một số dân làng trong thôn ấp, lập căn cứ chống giặc. Về sau theo Lê Lợi ở Lam Sơn, được
vua Lê hết sức tin dùng. Ông giúp vua Lê đánh lấy lũy Cần Bình làm căn cứ để tiến quân ra
Đông Đô. Ông giữ chức Nhập nội thiếu úy, Đình thượng hầu. Sang đời Lê Thánh Tông, giữ chức
Tổng quản tri phủ Thuận Hóa, hai lần đánh đuổi được quân Chiêm Thành quấy phá miền biên
cương. Đời vua Lê Nhân Tông, được thăng Nhập nội Đô đốc tham dự triều chính. Năm 1448,
ông mất, được thăng Nhập nội tư không.
Đà Nẵng, Thanh
Hóa đặt tên
“Nguyễn Chích”,
Quy Nhơn đặt
tên “Lê Chích”
85
Lê Công Hạnh
(1600 - 1661)
Vị tổ nghề thêu Việt Nam, quê làng Quất Động, huyện Thường Phúc, Hà Nội. Đỗ tiến sĩ đời
Lê Chiêu Tông (1643-1649), làm quan nhiều nơi từ biên quận đến triều đình. Ông nguyên là một
đại thần, làm đến Thượng thư khi đi sứ Trung Quốc, ông lưu tâm quan sát công kĩ nghệ nước
ngoài, chú ý nhiều đến nghề thêu. Do đó, khi trở về nước, ông chỉ bảo cho nhân dân trong vùng
Hướng Dương, Võ Lăng, Đào Xá học tập nghề thêu đan. Sau khi ông mất, nhân dân các tỉnh Hà
Đông, Hà Nội tưởng niệm ông, suy tôn ông làm tổ nghề thêu đan nước ta.
Khánh Hòa
86
Lê Công Kiều
(TK XVIII)
Liệt sĩ Cần vương chống Pháp, quê ở Cao Lãnh (nay thuộc tỉnh Đồng Tháp). Ông có lòng
nhiệt thành yêu nước. Khi thực dân Pháp xâm lược, ông hợp nghĩa quân chống nhau với giặc. Sĩ
dân tin trọng ông, đề cử ông làm Đốc binh trong các lực lượng chống Pháp, nên thường gọi
là Đốc Kiều, hoặc Đốc binh Kiều. Địa bàn hoạt động của ông trải rộng từ Mĩ Tho đến Tân An.
Năm 1862, khi Định Tường (nay thuộc tỉnh Tiền Giang) thất thủ ông rút về lập chiến khu ở Đồng
Tháp Mười và lập căn cứ ở vùng Mĩ Quí (thuộc tỉnh Đồng Tháp) ông tích cực đánh đuổi quân
cướp nước nhưng vì thế yếu, bị thất bại và hi sinh. Nhân dân Đồng Tháp hằng tuởng niệm ông.
TP.HCM
87
Lê Cơ
(1870 - 1918)
Chí sĩ yêu nước cận đại, quê làng Phú Lâm, huyện Tiên Phước, phủ Tam Kì, tỉnh Quảng Nam.
Ông tính hoạt bát, khảng khái, thực thi các chủ trương của phong trào Duy Tân. Năm 1908, ông
bị bắt giam ở nhà lao Hội An (Quảng Nam) đến năm Tân hợi 1911 mới được trả tự do. Năm Bính
TP.HCM, Đà
Nẵng, Quy Nhơn
42
thìn 1916, ông cùng Trần Cao Vân, Thái Phiên, Phan Thành Tài... vận động, tổ chức và lãnh đạo
cuộc khởi nghĩa của vua Duy Tân. Cuộc khởi nghĩa thất bại, ông đưa vua Duy Tân ra khỏi kinh
thành, nhưng sau đó bị bắt ở phía Nam thành Huế, ông bị lưu đày Lao Bảo. Năm 1918, ông bị
thảm sát trong vụ phản kháng bọn lính đàn áp tù nhân.
88
Lê Doãn Nhạ
(1837 - 1888)
Chí sĩ yêu nước, quê xã Trường Sơn, huyện Đông Thành, tỉnh Nghệ An. Năm Đinh mão 1867,
ông đỗ Cử nhân; năm Tân mùi 1871 đỗ Phó bảng. Ban đầu ông làm Sơn phòng sứ tỉnh Nghệ An.
Khi giặc Pháp xâm lăng, ông cùng những người yêu nước tích cực chống Pháp, ông đem cả gia
quyến vào chiến khu, một lòng chống địch đến cùng nên được sĩ phu và nhân dân kính trọng, sau
ông hi sinh vì chính nghĩa. Nói về ông, nhân dân Nghệ Tĩnh còn truyền tụng bài Vè Lê Doãn
Nhạ khởi binh nổi tiếng một thời.
Đà Nẵng
89
Lê Đình Dương
(1893 - 1919)
Chí sĩ yêu nước, quê làng Đông Mĩ (Phú Mĩ) phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, xuất thân y sĩ
Đông Dương. Từng làm giám đốc bệnh viện Hội An. Ông nhiệt thành yêu nước gia nhập "Việt
Nam Quang phục hội", thuộc thành phần đảng viên cao cấp. Nhân đệ nhất thế chiến xảy ra ở
châu Âu, ông cùng các đồng chí tổ chức cuộc khởi nghĩa dưới danh nghĩa vua Duy Tân tại Huế
và các tỉnh miền Trung để đánh đổ nền thống trị của Pháp. Ông bị bắt đưa vào Khánh Hòa rồi bị
đày ở Ban Mê Thuột. Chế độ lao tù khắc nghiệt của thực dân đã giết chết nhà trí thức yêu nước
này. Ông tự tử bằng cách uống độc dược, hưởng dương 26 tuổi.
Đà Nẵng
90
Lê Hữu Kiều
(1691 - 1760)
Danh thần đời Lê Dụ Tông, quê xã Liêu Xá, huyện Đường Hào, tỉnh Hải Dương. Ông làm
quan trải qua các chức: Giám sát ở Thanh Hóa; Hiến sát ở Kinh Bắc; Tham khổn ở Thái Nguyên
và Cao Bằng; Phó đô ngự sử; Đô đài ngự sử; Đốc trấn Thái Nguyên; Thượng thư bộ Binh. Năm
Ất vị 1755, ông 64 tuổi, trí sĩ, được truy thăng Thượng thư bộ Lễ. Suốt 40 năm vào tướng văn ra
tướng võ, ông có danh tiếng lớn, hầu hết sĩ phu và nhân dân đều trọng nể, mến yêu. Năm Canh
thìn 1760, ông mất, thọ 69 tuổi, được truy tặng Thiếu phó, Quận Công.
TP.HCM, Quy
Nhơn
91
Lê Hữu Khánh
(1850 - 1941)
Danh thần triều Thành Thái, Duy Tân, còn có tên là Lê Văn Hiển, quê làng Mĩ Thị, huyện
Diên Phước, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam (nay là phường Bắc Mĩ An, quận Ngũ Hành Sơn,
TP. Đà Nẵng). Ông làm quan trải các đời vua Tự Đức, Kiến Phúc, Hàm Nghi, Đồng Khánh,
Thành Thái và Duy Tân. Từng làm Tri phủ, sau về triều làm Hàn Lâm Viện Kiểm thảo, Hàn lâm
Viện Thị giảng, Phó Đô Ngự sử, Thị Độc học sĩ, Thiên Đô Ngự sử, Quang Lộc Tự khanh, Triều
Liệt đại phu. Ông lo cho dân làng có được ruộng đất để canh tác, sản xuất giải quyết đời sống
nghèo khổ cho dân. Ông chủ trương và huy động dân đắp đê ngăn mặn biến những đồng ruộng
chua mặn trở thành đất canh tác. Nhờ công ơn đó, ông được ân phong Hậu hiền làng Mỹ Thị.
Đà Nẵng, Hà Nội
92
Lê Lai
(? - 1419)
Danh tướng, Đệ nhất công thần nhà Hậu Lê, quê ở xã Kiên Thọ, huyện Ngọc Lặc, tỉnh
Thanh Hóa. Ông hưởng ứng dưới cờ nghĩa của Lê Lợi, dũng liệt kháng Minh cứu quốc. Năm
1419, nghĩa quân Lam Sơn bị quân Minh bao vây ngặt ở Chí Linh, ông tình nguyện cải trang
đóng giả Lê Lợi đem quân đến trại địch chiến đấu để Lê Lợi có thời gian lui binh tính cuộc về
Thanh Hóa,
TP.HCM, Đà
Nẵng, Hải
43
sau. Trận chiến ấy ông bị địch bắt và anh dũng hy sinh. Cuộc kháng Minh thắng lợi một phần
nhờ sự hy sinh cao cả của ông. Đời sau, các triều đại đều truy phong công trạng và lập đền thờ
ông.
Phòng, Quy
Nhơn…
93
Lê Lộ
(? - 1424)
Võ tướng đời Lê Thái tổ. Ông nhiệt thành phò tá Bình Định vương Lê Lợi, tận tụy kháng Minh
cứu nước. Trong chiến dịch ở sách Ba Lẫm, ải Kình Lộng, ông phát phục binh phá quân của
tướng Minh là Trần Trí, đại thắng, được thăng Tả trung quân tổng đốc chư quân sự. Năm Giáp
thìn 1424, ông theo Bình Định vương đánh châu Trà Lân, dự trận Bồ Liệp, phá quân Phương
Chính và Sư Hữu, được thăng Thái bảo. Tháng 10 năm ấy, ông bị trúng tên lạc mà chết trận.
Năm Mậu thân 1428, Bình Định vương lên ngôi vua tức Lê Thái tổ, truy tặng ông là Thái úy. Đời
Lê Thánh Tông, tặng ông tước Chiêu Quận Công.
TP.HCM
94
Lê Ngô Cát
(1827 - 1875)
Danh sĩ, sử gia đời Tự Đức, tự Bá Hanh, hiệu Trung Mại, quê xã Hương Lang, huyện Chương
Đức (nay thuộc huyện Chương Mĩ, Hà Nội), ông làm quan trải qua các chức: giáo thọ phủ Kinh
Môn (Hải Dương); tri huyện Thất Khê (Lạng Sơn); Hàn lâm viện biên tu; làm việc ở Quốc sử
quán; Án sát Cao Bằng. Ông soạn cuốn sử bằng thơ (lục bát) có tên Đại Nam Quốc sử diễn ca là
một tóm tắt các sự việc lớn xảy ra trong nước ta từ đời Hồng Bàng đến cuối đời Tây Sơn.
Huế, HCM
95
Lê Phụng Hiểu
(Thế kỷ XI )
Danh thần đời Lý, quê ở huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Ông là người giỏi võ, được vua
Lý Thái Tổ trọng dụng, phong làm Võ vệ tướng quân. Khi vua Thái Tổ mất, ông có công dẹp
loạn đưa vua Thái Tông lên nối nghiệp, được phong làm Đô Thống Thượng tướng quân. Ông có
công dẹp loạn ở nhiều nơi, được vua cấp cho hơn 1000 mẫu đất để biểu dương công trạng. Sau
khi ông mất, được dân chúng lập đền thờ, vua phong làm phúc thần.
Hà Nội, Quy
Nhơn
96
Lê Quang Quan
(? - 1875)
Liệt sĩ kháng Pháp, quê huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Năm 1858 ông giữ chức Tán tương
quân vụ trong quân đội triều Nguyễn, đóng tại Gia Định, sau khi Pháp chiếm ba tỉnh miền Đông
Nam Kì (1862) ông rời bỏ quân ngũ về quê tập hợp nghĩa quân nổi dậy chống Pháp. Nghĩa quân
dựa vào địa thế hiểm trở đã gây cho giặc nhiều tổn thất nặng nề. Nhưng do chênh lệch về lực
lượng và vũ khí, sau thời gian chiến đấu anh dũng, lực lượng nghĩa quân đã bị thiệt hại nặng.
Ông bị giặc Pháp bắt giam tại tỉnh Bến Tre, bị tra khảo và nhiều lần khuyến dụ ông đầu hàng để
cộng tác với chúng, nhưng ông một mực từ chối. Ông bị tử hình vào ngày 11 tháng Giêng năm
1875 tại Bến Tre. Mộ ông hiện nay vẫn còn tại làng Mĩ Chánh Hòa, tổng Bảo Thuận, huyện Ba
Tri, tỉnh Bến Tre.
Bến Tre đã xây
dựng Đền thờ
ông và xếp hạng
di tích cấp tỉnh
97
Lê Sĩ
(1816 - 1883)
Nghĩa tướng triều Nguyễn, quê huyện Phong Lộc, tỉnh Quảng Bình. Ông thuộc dòng dõi võ
tướng nên sớm chuyên về binh nghiệp. Thuở trẻ đầu quân chiến đấu ở miền Nam, từng theo
Nguyễn Tri Phương lập được nhiều chiến công. Ông làm quan trải qua các triều vua Thiệu Trị,
Tự Đức, Dục Đức giữ các chức vụ: Suất đội Hồ uy Hữu vệ đội (1837); Tả Bảo phó vệ úy
(1849); Đốc binh quân thứ Quảng Nam; Phó Đề đốc Biên Hòa; Võ lâm dinh thống chế, Đô
Thống hữu quân, Đô Thống Chưởng phủ sự, cầm quân giữ thành Trấn Hải cửa Thuận An. Năm
Huế, Đà Nẵng
44
1883, giặc Pháp cho chiến hạm tấn công vào cửa Thuận An, quân ta tổ chức nhiều đợt phản
công, nhưng bị thương vong quá nhiều, thành không giữ nổi. Ông bị thương nặng, nhưng vẫn anh
dũng chỉ huy chiến đấu cho đến khi hy sinh. Sau khi ông qua đời, triều đình truy phong
tước Kiên Dũng Tử, được liệt thờ ở miếu Trung liệt ở Huế.
98
Lê Thành Phương
(1825 - 1887)
Thủ lĩnh phong trào Cần vương chống Pháp, quê ở Sông Cầu, tỉnh Phú Yên. Ông xuất thân Tú
tài tại Trường thi Bình Định. Năm 1883, ông cùng các sĩ phu, sĩ dân, quan chức tại Phú Yên
đứng lên đáp nghĩa Cần Vương dưới cờ Nghĩa hội, cùng hiệp đồng chống Pháp và tay sai. Lực
lượng nghĩa quân do ông chỉ huy đặt căn cứ tại đèo Quán Cau, tập kích tiêu hao nhiều lực lượng
đối phương. Nhưng với vũ khí thô sơ và phải đối đầu với một đạo quân xâm lược được trang bị
nhiều vũ khí hiện đại. Ông hi sinh trong căn cứ chống Pháp ở rừng núi Phú Yên vào năm 1887.
Phú Yên, Quy
Nhơn
99
Lê Thận
(Thế kỷ XV)
Danh tướng thời Lê, quê huyện Thụy Nguyên, Thanh Hóa. Ông xuất thân làm nghề chài lưới
nhưng giỏi võ nghệ, sau theo Lê Lợi dấy binh khởi nghĩa, đánh đuổi giặc Minh trải qua hàng
trăm trận quyết chiến, lập được nhiều chiến công, được phong làm Bắc Đạo chư vệ quân sự, rồi
thăng Tư không Bình Chương sự. Ít lâu sau lãnh nhiệm vụ Đô đốc đi đánh Chiêm Thành. Khi
mất được tặng tước Huyện Thượng hầu.
TPHCM, Quy
Nhơn
100
Lê Trung Đình
(1863 - 1885)
Nhà yêu nước kháng Pháp, quê ở làng làng Bình Nhân, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.
Năm 1884, ông đỗ Cử nhân nhưng không ra làm quan mà cùng các đồng sự chuẩn bị lực lượng
chống Pháp. Ông là Chánh quản hương binh của tổ chức Nghĩa sĩ hội do sĩ phu Quảng Ngãi
thành lập. Năm 1885, Kinh thành Huế thất thủ, vua Hàm Nghi ra chiến khu Tân Sở. Ông cùng
đồng sự khởi binh kháng chiến đánh Pháp, sau bị Nguyễn Thân bắt giam và bị giết.
Quảng Ngãi, Quy
Nhơn
101
Lê Trực
(Thế kỷ XIX)
Nhà yêu nước kháng Pháp, quê ở xã Tiến Hoá, huyện Tuyên Hóa, Quảng Bình. Năm 1882,
làm Đề đốc giữ thành Hà Nội dưới thời Tổng đốc Hoàng Diệu. Thành Hà Nội bị Pháp tấn công,
Hoàng Diệu tuẫn tiết, ông rút quân về Sơn Tây, sau bị triều đình cách chức. Năm 1885, hưởng
ứng hịch Cần Vương, ông tổ chức nghĩa binh chống Pháp ở vùng núi phía tây Quảng Bình. Năm
1886-1887, ông cùng Tôn Thất Đạm, Tôn Thất Thiệp bảo vệ vua Hàm Nghi ở miền thượng lưu
sông Gianh. Nghĩa binh của ông có trên 2000 quân, một phần có trang bị súng, với tinh thần
quyết chiến đấu đến cùng. Tháng 11/1888, vua Hàm Nghi bị bắt. Để cứu nghĩa quân, ông buộc
phải ra đầu thú, nhưng bất hợp tác với giặc, rồi lui về ẩn tại quê nhà cho đến khi mất.
Hà Nội
102
Lê Văn Hưu
(1230 - 1322)
Sử gia đời Trần, quê ở xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Ông đỗ Bảng
nhãn năm Đinh Mùi (1247), vừa có tài có hạnh, làm pháp quan giữ việc hình luật, thăng đến
Thượng thư Bộ Binh. Đời Trần Thánh Tông, ông sung chức Hàn Lâm viện học sĩ, kiêm Quốc sử
viện Giám tu và soạn bộ Đại Việt sử ký, soạn xong năm 1272 gồm 30 quyển chép từ đời Triệu
Võ Đế (năm 207 trước Tây lịch) đến Lý Chiêu Hoàng năm 1225 sau Tây lịch, là bộ sử đầu tiên
của nước ta, đã được vua Trần Thánh Tông ban chiếu khen. Ông là thầy dạy học của Thượng
tướng Trần Quang Khải. Ông mất năm 1322, thọ 92 tuổi.
Hà Nội, Quy
Nhơn
45
103
Lê Văn Linh
(1376 - 1447)
Danh tướng thời Lê, quê ở Thọ Hải, Thọ Xuân, Thanh Hóa. Tham gia hội thề Lũng Nhai.
Ông là văn thần cùng Nguyễn Trãi luôn bên cạnh Lê Lợi giúp được nhiều mưu kế. Ngày khởi
nghĩa Lam Sơn thắng lợi, ông được xếp vào hàng công thần bậc nhất, được coi là một vị tuớng
tài ba, kiệt xuất đời Lê.
Hà Nội
104
Lương Đắc Bằng
(1472 - 1522)
Danh sĩ đời Lê, quê ở làng Hoằng Hóa, tinh Thanh Hóa. Năm 1499, ông đỗ Bảng Nhãn, được
bổ làm Tả Thị lang Bộ Lễ, sung Thị độc Viện Hàn lâm, rồi đổi sang Tả Thị lang Bộ Lại, sau làm
đến Thượng Thư Bộ Lại. Ông làm quan rất thanh liêm và trọng đạo đức, là thầy học và đã trao
truyền cho Nguyễn Bỉnh Khiêm bộ Thái Ất thần kinh.
Thanh Hóa, Quy
Nhơn
105
Lương Ngọc Quyến
(1885 - 1917)
Nhà yêu nước kháng Pháp, con thứ ba của nhà yêu nước Lương Văn Can, quê ở làng Nhị
Khê, Thường Tín, Hà Nội. Ông thi Hương đỗ tam trường, sau theo phong trào Đông du của Phan
Bội Châu, năm 1907 sang học ở trường Chấn Võ học hiệu Nhật Bản. Năm 1912, được cử làm Uỷ
viên quân sự Việt Nam Quang Phục Hội. Năm 1915, bị quân Anh bắt giao cho Pháp, giải về
nước giam ở Hoả Lò, sau giam khám Thái Nguyên. Ở trong ngục, bị tra tấn tàn nhẫn, đóng thủng
hai chân cột vào xiềng, nhưng ông vẫn tuyên truyền kêu gọi lòng yêu nước của binh sĩ người
Việt trong quân đội Pháp. Kết quả, nhiều binh lính quay về với nghĩa quân trong đó có Trịnh Văn
Cấn, tức Đội Cấn. Đêm 30 rạng 31/8/1917, Đội Cấn chỉ huy binh sĩ cùng ông phát động khởi
nghĩa. Nghĩa quân chiếm và làm chủ tỉnh Thái Nguyên suốt bảy ngày, quân Pháp phản công dữ
dội đánh bật nghĩa quân phải rút vào rừng núi. Ông đã tự sát để nghĩa quân rút lui bảo toàn lực
lượng tiếp tục chống Pháp.
Hà Nội, Quy
Nhơn
106
Lương Nhữ Hộc
(1420 - 1501)
Danh sĩ đời Lê Thái Tông, tự Tường Phủ, quê xã Hồng Liễu, huyện Trường Tân, tỉnh Hải
Dương. Năm 1442, ông đỗ Thám hoa, làm đến Đô ngự sử. ông là người đầu tiên truyền dạy dân
trong vùng Liễu Tràng, Gia Lộc, mở mang nghề in sách. Do đấy ông được thờ làm tiên sư trong
ngành. Năm Tân dậu 1501, ông mất thọ 81 tuổi, còn để lại đời bộ: Hồng Châu quốc ngữ thi
tập, Cổ kim chế từ tập, Tiêu Tương bát cảnh thi
Đà Nẵng, Quy
Nhơn
107
Lương Thế Vinh
(1440 - 1510)
Danh sĩ đời Lê, quê ở xã Liên Bảo, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Từ nhỏ ông đã sớm nổi
tiếng thông minh, đĩnh ngộ kỳ lạ, nên được gọi là thần đồng. Năm 23 tuổi (1463), thi đỗ Trạng
nguyên dưới triều Lê Tháng Tông. Ông có chân trong Hội Tao Đàn nhị thập bát tú, làm quan đến
Thừa chỉ ở Viện Hàn lâm, nhiều năm dạy học ở Quốc Tử giám, Sùng Văn quán đào tạo nhân tài
cao cấp của nhà nước. Ông là người hiếu học, đậu Trạng nguyên song vẫn chịu khó đọc sách,
nghiên cứu dịch học; ông soạn sách Thiền môn khoa giáo, đề tựa sách Nam Tông tự pháp đồ về
đạo Phật và soạn Toán pháp đại thành một bộ sách về khoa toán pháp đầu tiên của nước ta. Khi
mất, ông được sắc phong Thượng đẳng Phúc thần, có đền thờ riêng. Ông được đời sau xem như
ông tổ toán học Việt Nam.
Hà Nội, Quy
Nhơn
108
Lương Thúc Kỳ
(1873 - 1947)
Chí sĩ yêu nước, quê làng Hà Tân, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam. Đỗ cử nhân năm 1900,
ông có tính phóng khoáng, đức độ và tài năng, được giới thức giả mến chuộng. Ông đã cùng với
Quảng Nam
46
các chí sĩ Phan Châu Trinh, Trần Quí Cáp, Huỳnh Thúc Kháng nhiệt thành thúc đẩy và gầy dựng
phong trào Duy tân trong năm 1907-1908. Ông cùng Hồ Tá Bang coi sóc việc mở trường Dục
Thanh và đứng làm Giám hiệu. Ít lâu ông bị bắt rồi được trả tự do. Thực dân Pháp nhiều lần hăm
dọa, cám dỗ ông, nhưng trước sau ông vẫn giữ khí tiết.,
109
Lương Văn Can
(1854 - 1927)
Chí sĩ yêu nước, quê ở làng Nhị Khê, huyện Thường Tín, Hà Nội. Năm 1871, ông thi Hương
đỗ vào tam trường. Năm 1875, thi đỗ Cử nhân, rồi mở trường dạy học ở Hà Nội, với ý nguyện
làm cuộc cách mạng về văn hóa, tuyên truyền lòng yêu nước, tinh thần chống Pháp trong dân
chúng Việt Nam. Năm 1907, ông liên kết với các đồng chí lập ra trường Đông Kinh nghĩa thục,
hưởng ứng và phát động phong trào Duy tân ở Hà Nội, phong trào lan đi rất nhanh và sâu rộng
tới các tỉnh miền Bắc và miền Trung. Các sĩ phu yêu nước và nhân dân tiến bộ nhiệt liệt tham
gia. Thực dân Pháp khủng bố, ra lệnh đóng cửa trường, sau đó bắt ông và hàng trăm chí sĩ đày
sang Nam Vang. Năm 1921, ông được thả về, tiếp tục dạy học và chuyên tâm soạn sách, để lại
nhiều tác phẩm có giá trị. Ông mất, sĩ phu đều thương tiếc.
Hà Nội, Quy
Nhơn
110
Lữ Gia
( ? - 111 TCN)
Đại thần, Tể tướng bốn đời vua Triệu nước Nam Việt trước Công nguyên. Bấy giờ sứ nhà
Hán câu kết với Hoàng Thái hậu Cù Thị, âm mưu đem nước Nam Việt nhập vào lãnh thổ Trung
Hoa, ông ra sức ngăn cản nhưng không được, bèn đem quân vào cung giết sứ giả và Hoàng Thái
hậu. Nhà Hán đem quân sang đánh, ông cầm quân chống cự, giết được tướng Hán là Hàn Thiên
Thu, nhưng về sau thất thế, ông bị bắt và bị giết. Nước ta bị người Hán cai trị từ đó.
TP.HCM, Quy
Nhơn, Đà Lạt
111
Lý Chiêu Hoàng
(1218 - 1278)
Công chúa, Hoàng hậu triều Lý, được cha là vua Lý Huệ Tông lập làm hoàng thái tử rồi
truyền ngôi cho. Bà là vị vua cuối cùng của triều Lý, ở ngôi được hai năm (1224-1225) bà truyền
ngôi cho chồng là Trần Cảnh, tức vua Trần Thái Tông. Bà được phong làm Chiêu Thánh Hoàng
hậu.
Hà Nội, Quy
Nhơn
112
Lý Thường Kiệt
(1019 - 1105)
Anh hùng dân tộc, Danh tướng thời nhà Lý. Quê ở làng An Xá, Gia Lâm, Hà Nội, tên là
Ngô Tuấn, tự Thường Kiệt, sau được ban theo họ vua. Có chí hướng, ham đọc binh thư, luyện
tập võ nghệ, làm quan qua ba triều vua, đóng góp nhiều công lao xây dựng đất nước phồn vinh.
Năm 1069, được cử làm tướng Tiên phong, theo vua Lý Thánh Tông đi đánh Chăm pa lập nhiều
công lớn. Năm 1077, chỉ huy đánh tan hơn 30 vạn quân Tống ở bờ Nam sông Như Nguyệt, đưa
cuộc kháng chiến chống xâm lược Tống đến thắng lợi huy hoàng. Năm 1104, ở 85 tuổi, ông cầm
quân đánh tan cuộc xâm lấn phía Nam của quân Chăm pa. Ông có bài thơ Nam Quốc Sơn hà,
được xem là bản Tuyên ngôn độc lập đầu tiên trong lịch sử dân tộc.
Hà Nội, Đà
Nẵng, Huế,
TP.HCM, Hải
Phòng, Quy
Nhơn…
113
Lý Đạo Thành
( ? - 1081)
Đại thần thời Lý, ông quê làng Cổ Pháp huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, dòng dõi tôn thất nhà
Lý. Năm
1069, khi vua Lý Thánh Tông cùng các tướng đem quân đi đánh Chiêm Thành, ông giữ
chức Thái sư (Tể tướng) cùng Nguyên phi Ỷ Lan (nhiếp chính) điều hành triều chính.
Năm 1072, Lý Thánh Tông băng hà, vua Lý Nhân Tông lên nối ngôi mới 7 tuổi, ông cùng các
Hoàng thái hậu giúp vua điều hành chính sự. Ông làm quan trải hai triều vua Lý, là một đại thần
Hà Nội, Quy
Nhơn
47
phụ chính, tài năng nhưng liêm khiết và chính trực.
114
Lý Kính Tu
(TK XII)
Đại thần thời Vua Lý Cao Tông, tên thật là Đỗ Kính Tu, quê xã Vân Canh, huyện Hoài Đức,
thành phố Hà Nội. Ông đỗ Thái học sinh dưới triều Lý Anh Tông (1139 - 1175) cùng với Tô
Hiến Thành, phụ chính cho vua, được ban quốc tính cho nên gọi là Lý Kính Tu. Sau khi Thái úy
Tô Hiến Thành mất, ông làm đến Quốc sư phụ chính. Ông là một trong bốn người thời Lý được
xếp vào hàng “những người phò tá có công lao tài đức”. Để tránh lụt lội cho quê ông, ông cho
đào ngòi Hương Khê từ Đồng Chầm thuộc thôn Hậu Ái đến cửa chùa Linh Ứng đổ ra sông Nhuệ,
dài ước 2000 thước. Sau có người mưu hại, ông bị ngờ oan, phẫn uất, cỡi ngựa đến Nhị Hà nhào
xuống sông tự tử. Về sau vua truy phong ông làm phúc thần, cho lập đền thờ ở thôn Hậu Ái.
Đình Hậu Ái và mộ ông đều được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia năm 1989.
Quy Nhơn
115
Lý Tế Xuyên
(Thế kỷ XIII)
Danh sĩ đời Trần. Ông là người nổi tiếng văn chương đương thời, có tài chính trị nhưng
không màng công danh, làm quan giữ chức Thủ thư. Tương truyền, ông soạn nhiều sách nhưng
nay đã thất lạc, chỉ còn bộ Việt điện u linh tập, kể về các chuyện dật sử, danh nhân, kinh dị…,
đây là bộ sách quý trong thư tich Việt Nam xưa.
TP.HCM, Quy
Nhơn
116
Lý Tử Tấn
(1378 - 1454)
Danh sĩ đời Lê, quê ở Thượng Phúc, Hà Tây, nay là Hà Nội. Ông đỗ Thái học sinh năm 1400.
Khi cuộc khỏi nghĩa Lam Sơn thắng lợi, ông được vua Lê Thái Tổ trọng dụng, làm quan qua ba
triều vua Lê với các chức: Thông phụng đại phu, Hành khiển bắc đạo, Thừa chỉ Viện Hàn lâm.
Tài đức của ông, sĩ phu đều trọng vọng. Ông để lại các tác phẩm: Chuyết Am thi tập, Chuyết trai
văn tập, ông cũng làm lời thông luận cho bộ Dư địa chí của Nguyễn Trãi.
Quy Nhơn, Đà
Nẵng
117
Mạc Cửu
(1655 - 1736)
Tổng binh thời chúa Nguyễn, quê ở Lôi Châu, Trung Quốc, là người đầu tiên có công khai
hoang lập thành 7 xã, hình thành đất Hà Tiên. Năm 1714, ông đem dâng đất Hà Tiên cho Chúa
Nguyễn, nhận nơi đây là quê hương thứ hai, nguyện hết lòng phục vụ như con dân đất nước ta.
Chúa Nguyễn Phúc Chu phong ông làm Tổng binh trấn Hà Tiên. Từ đó nhân dân tụ tập càng lúc
càng đông đúc. Năm 1736, ông mất, được phong tước Võ Nghị Công. Hiện nay còn Đền thờ và
khu mộ họ Mạc ở Hà Tiên.
Rạch Giá, Hà
Tiên, TP HCM
118
Mạc Đĩnh Chi
(1280 - 1350)
Danh sĩ đời Trần, quê ở huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Ông thi đỗ Trạng nguyên lúc 24
tuổi, làm quan qua ba triều vua Anh Tông, Minh Tông, Hiếu Tông thăng đến Tả bộc xạ Đại liêu
ban (Thượng thư), ông từng được đi sứ sang Trung Quốc hai lần, do có tài văn chương đối đáp
nên vua Nguyên rất nể trọng, phong ông Trạng nguyên Trung Quốc nên ông cũng được xưng
tặng là Lưỡng quốc Trạng nguyên. Là ông quan có tài, tính tình liêm khiết được sĩ phu đương
thời rất kính phục. Ông có nhiều tác phẩm truyền tụng và câu đối, thơ được in trong Việt Âm thi
tập và Toàn Việt thi lục.
Hải Dương, Hà
Nội, Quy Nhơn
119
Mạc Thiên Tích
(1706 - 1780)
Danh sĩ, danh tướng thời Chúa Nguyễn, ông là con của Tổng binh Mạc Cửu. Khi thân phụ
qua đời ông nối nghiệp văn, võ mở mang đất Hà Tiên, được Chúa Nguyễn phong Tổng binh Đại
Rạch Giá, Tp
48
Đô đốc. Ông đã giúp chúa Nguyễn khai khẩn đất miền Tây Nam kỳ, nhờ công lao của ông mà đất
Hà Tiên trở thành nơi văn hiến, phồn vinh. Ông thành lập nhóm Chiêu Anh Các gây nền văn hóa
rực rỡ vang tiếng một thời. Ông là một danh tướng, một quan cai quản, một nhà doanh điền và
danh sĩ nổi tiếng đã làm rạng rỡ đất Hà Tiên và khu vực miền Tây Nam kỳ nửa đầu thế kỷ XVIII.
HCM, Cần Thơ,
Đà Nẵng
120
Mai An Tiêm
(Thời đại Hùng Vương)
Nhân vật huyền sử thời Hùng Vương. Ông được vua Hùng Vương thứ XVII yêu mến gả con
gái, là người có công khai phá, mở mang bờ cõi, thuỷ tổ của nghề canh nông. Hình ảnh Mai An
Tiêm và sự tích quả dưa hấu biểu hiện sức sống mãnh liệt của dân tộc ta trong buổi đầu dựng
nước.
Hà Nội, Quy
Nhơn
121
Nơ Trang Long
(1870 - 1935)
Nhà yêu nước thuộc dân tộc Mơ Nông, quê ở Bu N'Trang, tỉnh Đắk Lắk. Ông giàu lòng yêu
nước, căm thù giặc Pháp xâm chiếm nước ta. Ông đã đứng lên lãnh đạo các dân tộc Tây Nguyên
như Mơ Nông, Stiêng, Mạ vũ trang chống Pháp năm 1929. Lợi dụng địa thế hiểm trở của vùng
Tây Nguyên, ông đã tổ chức đánh du kích, gây cho quân Pháp nhiều thiệt hại trong một thời gian
dài. Ngày 23/5/1935, ông chỉ huy chống một trận càn lớn của thực dân. Ông hi sinh trong lúc
chiến đấu vào ngày 25/6/1935, thọ 65 tuổi.
TP.HCM, Khánh
Hòa, Quy Nhơn
122
Ngọc Hân Công Chúa
(1771 - 1799)
Bắc Cung Hoàng hậu nhà Tây Sơn, tên đầy đủ là Lê Thị Ngọc Hân, Công chúa thứ 21 của
vua Lê Hiển Tông. Bà nổi tiếng xinh đẹp, hiền thục, lại giỏi văn chương thi phú. Năm 15 tuổi bà
lấy Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ nhà Tây Sơn, sau Nguyễn Huệ lên ngôi lấy hiệu là Quang
Trung bà được phong Bắc cung Hoàng hậu. Bà sinh được một hoàng tử (Nguyễn Văn Đức) và
một hoàng nữ (Nguyễn Thị Ngọc Bảo), cả hai con bà sau đều bị hại. Khi vua Quang Trung mất
năm 1792, lúc bà 22 tuổi, đau buồn thương xót bà đã làm bài Ai tư vãn - một khúc ngâm khóc
chồng xuất sắc của văn học cổ Việt Nam. Bà mất lúc 28 tuổi. Vua Cảnh Thịnh truy phong miếu
hiệu là Như Ý Trang Thận Trinh Nhất Võ Hoàng Hậu.
TP.HCM, Quy
Nhơn
123
Ngô Chi Lan
(1442 - 1501)
Nữ sĩ thời Lê, tục danh là Ngô Thị Hĩm, quê ở làng Phù Lỗ, xã An Lạc, huyện Kim Hoa, Bắc
Giang. Sinh thời, bà rất thông minh, đoan trang, thuỳ mị, đẹp người lại đẹp nết, được thầy dạy là
học sĩ Nguyễn Thị Lộ cho cải danh tánh theo họ mình là Nguyễn Hạ Huệ. Nhận thấy bà thông
kinh sử, tài giỏi thi ca, văn hay chữ tốt, nên Hoàng Thái hậu và nhà vua yêu mến triệu vào cung
hầu và phong cho bà chức nữ học sĩ hiệu Kim Hoa nữ học sĩ chuyên dạy các thị nữ và cung nhân.
Bà để lại nhiều bài thơ lộ rõ tinh thần và cốt cách đoan trang thanh lịch của vị nữ sĩ tài hoa vang
bóng một thời.
Hà Nội, Đà
Nẵng, Quy Nhơn
124
Ngô Đức Kế
(1878 - 1929)
Chí sĩ yêu nước, quê làng Trảo Nha, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Xuất thân trong một gia
đình Nho học. Năm 19 tuổi đậu Cử nhân, 23 tuổi ông thi đỗ Tiến sĩ (1901), nhưng không ra làm
quan mà ở nhà mở trường dạy học, lo việc mở mang dân trí, tích cực hoạt động cách mạng. Ông
cùng với các nhà yêu nước lập ra Triệu Dương thương điếm ở Vinh để buôn bán hàng nội hoá và
sách báo Tân thư, lấy kinh phí cung cấp cho học sinh du học. Năm 1908, giặc Pháp bắt ông đày
ra Côn Đảo. Năm 1921, ông được trả tự do cùng với nhiều đồng chí. Sau đó, ông làm báo ở Hà
TP.HCM, Huế,
Quy Nhơn
49
Nội và tích cực hoạt động văn hóa. Ông còn làm thơ viết văn, thơ văn ông nồng nàn tình yêu quê
hương đất nước, nhiều tác phẩm mang tư tưởng tiến bộ như: Luận về chánh học và tà thuyết,
Quốc văn Kim Vân Kiều Nguyễn Du…
125
Ngô Quang Huy
(TK XIX)
Nhân sĩ yêu nước, quê thôn An Hải, xã Trưng Trắc, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên. Ông đỗ
Cử nhân, làm quan đến Đốc học. Ông từng tham gia chống giặc Pháp ở chiến khu Bãi Sậy, vua
Hàm Nghi phong ông làm Hồng lô tự khanh, sung Tán lí quân vụ. Ông lãnh phần chỉ huy một
vùng bao gồm miền nam Bắc Ninh, miền bắc Hưng Yên và miền bắc Hải Dương, nên đương thời
gọi ông là Tán Bắc, và xem ông như vị thủ lĩnh thứ hai của nghĩa quân Bãi Sậy. Khi Nguyễn
Thiện Thuật bị Pháp bao vây phải lánh sang Trung Quốc, ông tiếp tục chỉ huy cuộc kháng chiến
được ít lâu rồi rút quân ẩn náu vùng thượng du chẳng rõ mất nơi đâu.
TP.HCM
126
Ngô Sĩ Liên
(Thế kỷ XV)
Danh sĩ, Sử gia đời Lê, quê ở làng làng Chúc Sơn, huyện Chương Mỹ, Hà Tây, nay là Hà
Nội. Ông đỗ Tiến sĩ năm 1442, làm Tả thị lang Bộ Lễ, giữ việc biên soạn sử sách ở Viện Hàn
lâm, sau thăng Đô Ngự sử. Đời Lê Thánh Tông, ông làm ở Viện Quốc sử, năm 1479, ông soạn
xong bộ Đại Việt sử ký toàn thư, rồi viết bài tựa dâng lên vua ngự lãm. Đại Việt sử ký toàn thư là
một bộ sử có giá trị lớn, có chỗ đứng xứng đáng trong thư tịch Việt Nam.
Hà Nội, Quy
Nhơn
127
Ngô Thì Trí
(1766 - 1788)
Danh sĩ đời Lê, con thứ sáu của Ngô Thì Sĩ, em ruột Ngô Thì Nhậm, quê làng Tả Thanh Oai,
huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông, nay là Hà Nội. Ông làm quan cho nhà Lê, giữ việc biên soạn, tu
thư ở sử quán. Sau theo anh là Ngô Thì Nhậm ra làm quan cho nhà Tây Sơn, đến chức Hữu thị
lang bộ Hộ, tước Bính Phong hầu. Tác phẩm của ông: Sóc Nam hành kính (trên con đường xuyên
Bắc Nam) gồm 26 bài thơ (tính theo đầu đề), 2 bài phú, 22 bài văn và một số câu đối.
Đà Nẵng
128
Ngô Thì Sĩ
(1726 - 1780)
Danh sĩ, sử gia đời Lê, ông là thân phụ Ngô Thì Nhậm, quê ở Thanh Oai, Hà Tây, nay là Hà
Nội. Thuở trẻ ông nổi tiếng thông minh, hiếu học. Năm 1766, đỗ Tiến sĩ, làm Đốc đồng ở Thái
Nguyên, rồi bổ Hiến sát sứ Thanh Hóa, Tham chính Nghệ An… Ông được các danh sĩ trong triều
ngoài nội quý trọng. Ông để lại các sách: Anh ngôn thi tập, Ngọ Phong văn tập, Việt sử tiêu án,
Quốc sử tục biên… Văn thơ của ông và các con ông thành một phái học gọi là Ngô Gia văn phái
rất nổi tiếng đương thời
Đà Lạt, Đà Nẵng,
Quy Nhơn
129
Nguyễn Ảnh Thủ
(1821 - 1871)
Liệt sĩ Cần vương chống Pháp, quê làng Tân Sơn Nhì, huyện Tân Bình, tỉnh Gia Định (nay
thuộc quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh). Khi Pháp chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Kì; ông
hưởng ứng, tham gia chống Pháp dưới cờ nghĩa quân Trương Định ở mặt trận Thuận Kiều (Gia
Định). Năm Giáp tí 1864, trong lúc tập hợp lại nghĩa quân, ông bị Pháp bắt kết án 5 năm tù. Năm
1868 mãn án tù, ông liên lạc được với các nhóm nghĩa quân cũ cùng thân hào, dân địa phương
khởi nghĩa chống Pháp một lần nữa. Năm Tân mùi 1871 nghĩa quân do ông chỉ huy chiếm được
làng Bà Điểm, làm chủ đồn Thuận Kiều, giết được tên trưởng đồn người Pháp (Trung úy). Sau
đó quân Pháp tấn công tái chiếm các vùng do nghĩa quân kiểm soát. Ông bị Pháp bắt giết trong
năm 1871.
TP.HCM
50
130
Nguyễn Bá Loan
(? - 1908)
Chí sĩ yêu nước, quê xã Lạc Phố, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Ông cùng Lê Khiết,
Nguyễn Thụy được xem như lãnh tụ phong trào Duy tân ở Quảng Ngãi. Ông cùng các đồng chí
hoạt động hướng về ba mục đích bài trừ những tệ nạn xã hội, mở mang dân trí, giành lại chủ
quyền dân tộc để mưu cầu hạnh phúc cho nhân dân. Năm 1908 phong trào Duy Tân phát khởi
bằng cuộc biểu tình kháng thuế chống sưu, ông là một trong những người lãnh đạo phong trào ở
Quảng Ngãi. Thực dân và tay sai Nam triều khủng bố trắng, ông bị bắt giam tại nhà lao tỉnh
Quảng Ngãi. ông phản bác những lời cám dỗ, kiên quyết không khuất phục thực dân và tay sai.
Ông bị giam ở Huế hơn 3 tháng rồi đưa về chém ở chợ Quảng Ngãi.
Quảng Ngãi
131
Nguyễn Bá Nghi
(1807 - 1870)
Danh sĩ triều Nguyễn, quê ở Mộ Đức, Quảng Ngãi. Năm 1831 đỗ Cử nhân, năm sau đỗ Phó
bảng, giữ các chức: Án sát Vĩnh Long, Bố chánh An Giang, Tổng đốc Sơn Hưng Tuyên, Thượng
thư Bộ Hộ sung Cơ mật viện Đại thần… Năm 1861, giặc Pháp hoành hành ở Nam Kỳ, ông làm
Khâm sai đại thần vào kinh lý Gia Định trù hoạch việc đối phó với giặc, rồi cùng với Tổng đốc
Nguyễn Tri Phương lo liệu việc chống quân Pháp cướp miền Nam. Ông là đại thần trải suốt ba
đời vua Nguyễn, là người có danh vọng cao, tiết tháo, giao du thân mật với các danh sĩ đương
thời. Để lại các tác phẩm: Sư phần thi văn tập, Ngự chế cổ kim thư pháp, Hành thiên bản ấp lịch
triều đăng khoa lục.
An Nhơn
132
Nguyễn Bá Tuyển
(? - 1909)
Chí sĩ yêu nước, con vị anh hùng dân tộc Nguyễn Thiện Thuật, quê ở Xuân Dục, huyện Đường
Hào, tỉnh Hưng Yên. Khi thân phụ ông rời chiến khu Bãi Sậy ra nước ngoài, ông nối chí cha vẫn
hoạt động chống giặc Pháp. Pháp theo dõi, bắt được ông rồi đày ra Côn Đảo. Sau khi ra tù ông
vẫn kiên cường nuôi chí phục thù báo quốc. Năm 1908, ông cùng các chiến hữu tụ họp với
Hoàng Hoa Thám kháng chiến chống Pháp ở Bắc Giang. Năm 1909, ông bị địch bắt và bị giết
ngay sau đó vì cương quyết không qui hàng.
TP.HCM, Quy
Nhơn
133
Nguyễn Bảo
(1452 - ?)
Danh thần đời Lê Thánh Tông, quê xã Phượng Lai, huyện Vũ Tiên, phủ Kiến Xương, trấn
Sơn Nam (nay thuộc tỉnh Thái Bình). Năm Nhâm thìn 1472 ông đỗ Tiến sĩ được đắc cử chức Thị
giảng ở Đông Các. Ít lâu sau ra làm Tham nghị ở Hải Dương, sau về triều giảng sách ở Tả Xuân
đường Đông cung Thái tử. sau được cử làm Tả Thị lang bộ Lễ, tham dự và trông coi công việc ở
Viện Hàn lâm. Vào thời gian này ông nhận việc biên soạn bài văn bia ở am Hiển Thụy trên núi
Phật Tích, rồi thăng làm Thưọng thư bộ Lễ, kiêm Thị độc Hàn lâm viện. Một thời gian sau ông
mất được truy tặng Thiếu Bảo.
Vũng Tàu
134
Nguyễn Biểu
(1350 - 1413)
Danh thần đời Trần, quê ở làng Nội Diên, xã Đức Diên, huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh. Ông đỗ
Thái học sinh (Tiến sĩ) cuối đời Trần, được cử làm Điện tiền Thị ngự sử. Năm 1413, tướng nhà
Minh là Trương Phụ đánh vào Nghệ An, vua chạy vào Hóa Châu sai ông đến trại giặc điều đình.
Trương Phụ nghe tiếng liền sai dọn tiệc bằng đầu người để thử ông. Ông thản nhiên ngồi ăn và
ngâm thơ, bị giặc bắt, ông chửi Trương Phụ tàn bạo và lũ tay sai hèn nhát ôm chân giặc. Giặc trói
ông vào chân cầu sông Lam để nước dâng ngập dìm chết. Ông dùng móng tay vạch vào thân cột
Hà Nội,
TP.HCM, Quy
Nhơn
51
cầu tám chữ: “Thất nguyệt, thập nhất nhật Nguyễn Biểu tử”. (Nguyễn Biểu tử tiết vào ngày 11
tháng 7). Cảm phục người anh hùng, nhân dân vùng Nghệ-Tĩnh suy tôn ông là Nghĩa Vương.
Các triều đại sau đều lập đền thờ và truy phong ông làm Phúc thần.
135
Nguyễn Bỉnh Khiêm
(1491 - 1585)
Danh sĩ đời Mạc, quê quán làng Trung Am, huyện Vĩnh Lại, Hải Phòng. Xuất thân từ gia
đình có học vấn văn hóa cao. Năm 1535, ông đỗ Trạng nguyên và làm quan đến Tả thị lang bộ
Lại kiêm Đông các Đại học sĩ. Sau đó ông cáo quan về quê mở trường dạy học. Ông tinh thông
Lý học và Tướng số học, còn được gọi là Trạng Trình. Ông giúp người nghèo khổ, khuyên nhủ
kẻ giàu sang phải biết điều nhân nghĩa, nêu cao tình người. Tác phẩm ông để lại là bộ Bạch Vân
thi tập và nhiều thơ văn được truyền tụng.
Hà Nội,
TP.HCM, Khánh
Hòa, Quy Nhơn
136
Nguyễn Cảnh Chân
(1355 - 1409)
Danh tướng đời Lê, quê làng Ngọc Sơn, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Ông theo Giản
Định Đế làm Đồng Tri khu mật tham mưu quân sư. Ông là một danh tướng có công lao to lớn
trong công cuộc chống giặc Minh. Ông từng làm quan ở Hóa Châu, nhưng sau đó vì Giản Định
đế nghe nịnh thần gièm pha nên giết nhầm ông.
Khánh Hòa,
TP.HCM, Quy
Nhơn
137
Nguyễn Cảnh Dị
( ? - 1414)
Võ tướng tham gia chống quân Minh xâm lược nhằm khôi phục họ Trần, quê ở làng Ngọc
Sơn, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Là con của Nguyễn Cảnh Chân. Cuối năm 1409, đánh
giặc ở Bô Cô. Khi cha bị giết hại, ông cùng Đặng Dung và Nguyễn Suý giúp Trần Quý Khoáng
chống Minh. Giữ chức Thái bảo, chỉ huy một đạo quân đánh giặc ở vùng Bình Than (nay là Chí
Linh, tỉnh Hải Dương), nhiều phen khiến cho quân Minh phải lao đao. Tháng 7/1412, ông chặn
giặc ở Mô Độ (Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình) nhưng thất bại, phải rút quân ra Vân Đồn. Cuối năm
1413, khi Tổng binh Trương Phụ (Zhang Fu) tiến công Thuận Hoá, ông rút quân về đây phòng
giữ. Tháng 12, nghĩa quân bị thất bại ở Ái Tử (Quảng Trị), ông bị bắt và bị giết trên đường giải
sang Trung Quốc.
Hà Nội, Quy
Nhơn
138
Nguyễn Công Trứ
(1778 - 1858)
Danh sĩ triều Nguyễn, quê ở làng Uy Viễn, xã Xuân Giang, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.
Xuất thân trong một gia đình quan lại, cha làm Tham tán Nhung vụ triều Lê - Trịnh. Năm 1819,
ông đỗ Giải nguyên, năm 1820 được bổ làm Hành tẩu ở Quốc Sử quán, thăng dần lên Lang trung,
Tham tri, Tổng đốc An Hải, Phủ doãn Thừa Thiên. Nhiều lần làm Đại tướng dẹp thảo khấu bình
định nội loạn. Ông tính tình ngay thẳng, phóng khoáng, liêm khiết, thương dân, hết mình vì đất
nước. Ông còn là một nhà văn hóa dân tộc, để lại khá nhiều thơ văn, nhiều bài hát theo chất liệu
dân ca xứ Nghệ. Là người có công khẩn hoang lập ra hai huyện Tiền Hải, Kim Sơn, tỉnh Thái
Bình. Sau khi ông mất, nhân dân nhiều nơi đã lập đền thờ ông làm khai canh, Thành hoàng làng.
Huế, Đà Nẵng,
Hà Nội, Quy
Nhơn,..
139
Nguyễn Cư Trinh
(1716 - 1767)
Danh sĩ, người huyện Thiên Lộc, tỉnh Nghệ An, sau dời vào huyện Hương Trà, tỉnh Thừa
Thiên. Ông có tài văn võ, đỗ Hương tiến (Cử nhân), làm quan đến Thượng thư Bộ lại. Ông nổi
tiếng liêm chính, giỏi việc chính trị, doanh điền, ngoại giao. Năm 1753, ông vào miền Nam mở
Huế, Đà Nẵng,
TP.HCM, Quy
Nhơn
52
mang bờ cõi, khẩn hoang lập ấp, có công lớn trong việc mở nước, an dân. Ông mất năm Đinh
Hợi 1767, hưởng dương 51 tuổi. Thơ văn chữ Nôm, chữ Hán của ông được người đời sau truyền
tụng rất nhiều.
140
Nguyễn Duy Hiệu
(1847 - 1887)
Chí sĩ yêu nước, quê xã Cẩm Hà, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam. Năm Bính tí 1876 ông
đỗ Cử nhân, năm Kỉ mão 1879 đỗ Phó bảng, lúc 32 tuổi. Giặc Pháp xâm lược, ông từ quan về
làng lập nghĩa hội, chuẩn bị kháng chiến. Từ năm 1885, ông cùng Trần Văn Dư, Phan Bá Phiến,
Nguyễn Hàm phát động khởi nghĩa lập tân tỉnh tại huyện Quế Sơn hưởng ứng hịch Cần vương
của vua Hàm Nghi, rồi hợp cùng nghĩa quân chống Nguyễn Thân tay sai giặc Pháp. Tháng 8 năm
Đinh hợi 1887, ông tự ra nộp mình cho giặc Pháp ở núi Non Nước, bị giải về Huế. Chúng dụ
hàng nhưng không khuất phục được ông và đã ra tay sát hại.
Đà Nẵng, Quảng
Nam
141
Nguyễn Dữ
(Thế kỷ XV)
Danh sĩ đời Mạc, quê ở huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương. Ông là học trò Nguyễn Bỉnh
Khiêm, thi đỗ làm quan với nhà Mạc, rồi về với nhà Lê, làm Tri huyện Bình Xuyên, Vĩnh Phú..
Sau đó ông bất mãn thời cuộc, lui về ở ẩn. Ông là tác giả bộ truyện Truyền kỳ mạn lục bằng chữ
Hán, ghi chép những chuyện lạ còn lưu truyền trong dân gian, sau được dịch ra chữ Hán và được
truyền tụng đến nay.
Đà Nẵng,
TP.HCM, Quy
Nhơn
142
Nguyễn Địa Lô
(Thế kỷ XIII)
Ông là một trong 5 tướng tài của Trần Hưng Đạo, lập được nhiều chiến công trong 02 cuộc
kháng chiến chống quân Nguyên - Mông xâm lược, năm 1285 và 1288.
Nha Trang, Quy
Nhơn
143
Nguyễn Gia Thiều
(1741 - 1789)
Danh sĩ đời Lê, quê ở huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Ông nổi tiếng trên nhiều lĩnh vực:
văn, sử, triết, âm nhạc, hội hoạ, kiến trúc. Làm quan trải qua các chức Hiệu uý, Quân trung tư mã
đội, Chỉ huy thiêm sự, Tổng binh, tước Ôn Như Hầu. Ông thuộc gia đình quyền quý nhưng trước
cảnh loạn ly thời đó nên chán đường công danh. Ông để lại tác phẩm Cung oán ngâm khúc, một
số bài thơ chữ Nôm, cùng tác phẩm hợp soạn với ba người em trai gọi là Tứ Trai thi tập. Về âm
nhạc, ông có bản Sơn trung tâm, Sở từ điệu. Về hội hoạ, ông có bức tranh hoành tráng Tống sơn
đồ. Về kiến trúc, là người được giao nhiệm vụ trang hoàng Phủ chúa và chỉ huy xây tháp chùa
Thiên Tích…
Huế, TP.HCM,
Quy Nhơn
144
Nguyễn Hiền
(1234 - ? )
Danh sĩ đời Trần, quê ở Thượng Hiền, Hà Tây, nay là Hà Nội. Ông nổi tiếng thông minh, hay
chữ, từ thời trẻ đã được người đời khen là thần đồng. Năm 1247, mới 13 tuổi ông đã đi thi Thái
học sinh (Tiến sĩ) và đỗ Trạng nguyên. Đây là khoa thi đầu tiên đời nhà Trần lấy đỗ Tam khôi,
ông là người đỗ Trạng nguyên đầu tiên và sớm nhất, trẻ nhất của nền khoa cử nước nhà. Ông làm
quan đến chức Thượng thư và có lúc trông coi Quốc sử quán.
Đà Nẵng, Quy
Nhơn
145
Nguyễn Hữu Cảnh
(1650 - 1700)
Danh tướng đời Chúa Nguyễn, quê ở huyện Tống Sơn, Thanh Hóa. Làm quan đời Chúa Phúc
Chu, nổi tiếng là tướng tài, được phong tước Lễ Thành Hầu, chức Chưởng binh. Năm 1698, được
cử làm Kinh lược sứ Chân Lạp, sau về chiêu dân lập ấp, khai thác đất lập dinh Trấn Biên và dinh
Phiên Trấn (tức Gia Định). Ông có công lao rất lớn trong việc khai dân lập ấp ở Nam kỳ. Nhân
Huế, TP.HCM,
Vũng Tàu, Quy
Nhơn…
53
dân Nam Bộ lập đền thờ ông ở nhiều nơi.
146
Nguyễn Hữu Cầu
( ? - 1751)
Thủ lĩnh cuộc khởi nghĩa nông dân Đàng Ngoài vào giữa thế kỷ XVIII, người xã Lôi Động,
huyện
Thanh Hà, Hải Dương. Xuất thân trong gia đình nông dân nghèo, có tài cả văn võ, lại bơi
lội rất giỏi nên được gọi là Quận He (He là tên loài cá). Năm 1743, ông theo Nguyễn Cừ khởi
nghĩa chống Trịnh, sau Nguyễn Cừ bị bắt, ông đem quân về giữ núi Đồ Sơn và đất Vân Đồn, rồi
đánh chiếm thành Kinh Bắc, gây cho quân Trịnh nhiều phen khốn đốn. Ông thường lấy thóc gạo
của thuyền buôn đem cho dân nghèo, nên đi đến đâu cũng có người theo. Năm 1751, ông bị quân
Trịnh bắt và bị hành hình.
TP.HCM, Quy
Nhơn
147
Nguyễn Hữu Thận
(1757 - 1831)
Danh sĩ, nhà Toán học thời Nguyễn, quê ở huyện Hải Lăng, Quảng Trị. Ông say mê toán học
từ thuở trẻ, hằng tâm nghiên cứu về môn học này. Năm 1786, ông ra giúp nhà Tây Sơn, thăng
đến chức Hữu Thị lang Bộ Hộ. Năm 1802, tham gia với triều Gia Long, làm Chế cáo ở Viện Hàn
lâm, rồi làm Thiêm sự ở Bộ Lại. Năm 1809, được cử làm Chánh sứ sang Trung Quốc, ông mua
được nhiều sách quý về lịch số và toán học. Sau trải qua các chức: Phó quản lý Khâm Thiên
giám, Thượng thư Bộ Lại, Thượng thư Bộ Hộ, trông coi việc ở Khâm Thiên giám. Thời gian này,
ông gia công biên soạn các sách về tuổi, lịch số và toán học. Để lại các tác phẩm chính: Ý trai
toán pháp nhất đắc lục, Tam thiên tự lịch đại văn chú, Bách ti chức chế.
TP.HCM, Quy
Nhơn
148
Nguyễn Khoa Chiêm
(1659 - 1736)
Danh sĩ, quê ở làng Trạm Bạc, Hải Dương; Ông giỏi võ, có tiếng thơ văn, xuất thân làm Thủ
hạp. Có công trạng với chúa Nguyễn nên được tin dùng, thăng tiến rất nhanh từ Cai hạp, Tri bạ,
lên đến chức Thượng thư Bộ Lại, tước Bảng Trung Hầu. Ông là nhà chính trị, quân sự, nhà văn.
Ông có tác phẩm Nam triều công nghiệp diễn chí viết năm 1719, là nhà văn đầu tiên của nước
Nam viết tiểu thuyết theo chương hồi. Khi mất, ông được truy tặng hàm Đại lý Thượng khanh.
Nhà thờ và khu lăng mộ ông được Nhà nước xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia.
Huế, Quy Nhơn
149
Nguyễn Khoái
(Thế kỷ XIII)
Danh tướng nhà Trần, ông tham gia ba lần kháng chiến chống quân Nguyên Mông xâm lược,
lập được nhiều chiến công hiển hách. Tháng 4/1285, ông tham gia chỉ huy chặn đánh quân
Nguyên ở Tây Kết, tiêu diệt hàng trăm tên địch ở Hàm Tử quan. Trong trận Bạch Đằng giang
năm 1288, ông cùng các tướng lập nên chiến thắng vang dội nhất trong lịch sử, chính ông đã bắt
sống tướng địch Áo Lộ Xích. Cuộc kháng chiến kết thúc, ông được gia phong làm Liệt Hầu, ban
cho một quận làm thực ấp, gọi là Khoái Lộ, tức phủ Khoái Châu sau này.
Đà Nẵng,
TP.HCM, Hà
Nội, Quy Nhơn
150
Nguyễn Khuyến
(1835 - 1909)
Danh sĩ, thuộc dòng dõi Tiến sĩ Nguyễn Lê đời Hậu Lê, quê làng Yên Đỗ, huyện Bình Lục,
tỉnh Hà Nam. Năm 1864, ông đỗ Giải nguyên, năm 1871, đỗ Hoàng giáp. Vì đỗ đầu cả ba khoa
thi Hương, thi Hội, thi Đình và người làng Yên Đỗ nên người đời gọi ông là Tam Nguyên Yên
Đỗ. Ông làm quan Trực học sĩ, sung chức Toản tu Quốc Sử quán. Là người có lòng yêu nước,
khi thực dân Pháp xâm lăng, triều đình ký hàng ước 1883, ông cáo quan về nhà, được phong hàm
Tham tri. Trước sau ông giữ một niềm yêu nước thương dân, bất hợp tác với giặc. Ông làm nhiều
bài thơ tự trào giễu cợt mình, khóc niềm cay đắng mất nước thương dân. Để lại các tác phẩm:
Hà Nội,
TP.HCM, Quy
Nhơn...
54
“Quế Sơn thi tập (chữ Hán), Yên Đỗ Tam Nguyên quốc âm thi tập (chữ Nôm)…
151
Nguyễn Kim
(1467 - 1545)
Khai quốc công thần đời Hậu Lê, quê làng Gia Miêu, huyện Tống Sơn, Thanh Hóa. Ông có
công đánh quân nhà Mạc, đưa con cháu nhà Lê lên ngôi, tức vua Lê Trang Tông, được triều đình
tôn làm Thái sư, Hưng Quốc công trông coi mọi việc trong triều. Năm 1542, ông tiến quân ra
Bắc tiêu diệt họ Mạc, sau bị hạ độc chết. Ông có con là Nguyễn Hoàng (có công mở cõi phương
Nam), rể là Trịnh Kiểm (sau lập nên Chúa Trịnh, lấn át vua Lê).
TP.HCM, Quy
Nhơn
152
Nguyễn Lâm
(1844 - 1873)
Liệt sĩ cận đại, còn gọi là Nguyễn Văn Lâm, tức Phò mã Lâm, tự Mặc Hiên, quê Hà Nội. Năm
1872 nhân lúc Nguyễn Tri Phương đang làm Tổng thống Quân vụ đại thần, ông tự nguyện ra
giúp cha chống giặc Pháp. Cuối năm 1873, Nguyễn Tri Phương được lệnh giữ thành Hà Nội để
chống với Jean Depuis, một tên lái súng đang quấy nhiễu ở đất Bắc. Ngày 20/11/1873 giặc Pháp
do Garnier chỉ huy bất ngờ tấn công thành Hà Nội, ông theo cha chống trả quyết liệt, tử thương
tại trận. Ông được triều đình truy tặng Binh bộ Tả thị lang, liệt thờ vào hai điện Trung nghĩa và
Trung hiếu.
TP.HCM
153
Nguyễn Mậu Tài
(1616 - 1688)
Tể tướng, Tiến sĩ thời Lê Trung Hưng, quê ở Kim Sơn, Gia Lâm, Hà Nội. Ông thi đậu Tiến sĩ
năm 1646, được bổ làm quan trải qua nhiều đời vua Lê, đảm nhiệm nhiều chức vụ: Giám sát ngự
sử, Hữu thị lang Bộ Hộ, Phó Đô ngự sử, Thượng thư Bộ Hình, Thượng thư bộ Binh, Thượng thư
Bộ Lại. Ông là một nhân vật lịch sử tiêu biểu,, một nhà chính trị, một danh nhân văn hóa có
nhiều đóng góp cho sự phát triển của lịch sử dân tộc trên nhiều lĩnh vực trong thế kỷ XVII.
Đà Nẵng, Hà Nội
154
Nguyễn Như Đỗ
(1424 - 1525)
Danh sĩ, người xã Đại Lan, huyện Thanh Trì, Hà Nội. Năm 1442, ông đỗ Bảng nhãn, mở đầu
đại khoa nhà Lê, làm quan đến Thượng thư bộ Lễ, bộ Lại. Ông có nhiều tài năng nội trị, ngoại
giao, quân sự. Ba lần đi sứ nhà Minh, một lần đi đánh Chiêm Thành. Ông còn giữ cả việc Giám
nghị, coi sổ sách quân dân, làm việc ở viện Hàn Lâm, Tế tửu Quốc tử giám, hai lần làm chủ khảo
kỳ thi đình (1446;1469). Ông là một vị quan thanh liêm, học vấn uyên bác. Tác giả bài văn bia
nổi tiếng về Lê Khôi có chép trong sách “Toàn việt thi lục”.
Hà Nội, Đà Nẵng
155
Nguyễn Phi Khanh
(1355 - 1428)
Danh sĩ nhà Hồ, là cha của danh nhân Nguyễn Trãi. Quê ở xã Nhị Khê, huyện Thượng Phúc
(nay thuộc Thường Tín, Hà Nội). Lúc trẻ nổi tiếng văn thơ được quan Tư đồ Trần Nguyên Đán
yêu mến mời về nhà dạy học và gả con gái. Năm 1374, thi đỗ Thái học sinh nhưng không được
thu dụng, nên an phận dạy học. Khi Hồ Quý Ly lật đổ nhà Trần, ông đổi tên là Phi Khanh, ra làm
quan với nhà Hồ, được cử làm Học sĩ Viện hàn lâm năm 1401, rồi thăng đến Tư nghiệp Quốc tử
giám. Năm 1407, quân Minh xâm lược nước ta, ông cùng vua tôi nhà Hồ bị giặc bắt giải về Kim
Lăng (Trung Quốc). Ông khuyên Nguyễn Trãi trở về phục thù và báo hiếu cha bằng con đường
cứu nước. Ông soạn bộ Nhị Khê thi tập, bị quân Minh lấy đem về Kim Lăng. Sau được các học
giả sao lục tuyển tập thành bộ Nguyễn Phi Khanh thi văn tập.
Đà Nẵng,
TP.HCM, Quy
Nhơn
156
Nguyễn Phúc Lan
Chúa thời Nguyễn, quê gốc ở Gia Miêu, Ngoại Trang, tỉnh Thanh Hóa. Năm 1635, chúa
Huế, Quy Nhơn
55
(1601 - 1648)
Phúc Nguyên mất, ông nối ngôi, triều đình tấn tôn Tổng bình chưởng quân trọng sự Thái bảo
Nhâm Quận Công, thường gọi là Thượng Vương. Năm 1636, ông cho dời dinh phủ cung thất từ
làng Phước Yên, Quảng Điền vào làng Kim Long (mở đầu cho việc định đất thành phố Huế sau
này). Ông chỉnh đốn triều chính, sắp đặt quan lại tứ trụ đại thần cai trị toàn cõi Nam Hà. Năm
1646, ông sai tổ chức khoa thi Chính đồ và Hoa văn nhằm tuyển chọn nhân tài (đây là khoa thi
đầu tiên của Đàng Trong). Hậu thế xem ông như là người đầu tiên quyết định chọn đất, dựng
dinh phủ định đô để hinh thành thành phố Huế ngày nay.
157
Nguyễn Quang Bích
(1832 - 1890)
Chí sĩ yêu nước, quê ở Kiến Xương, Thái Bình. Năm năm 1861 đỗ Cử nhân, được bổ làm
Giáo thọ phủ Trường Khánh. Năm 1869 đỗ Hoàng Giáp, được bổ làm Tri phủ Diên Khánh, sau
trải qua các chức: Án sát Sơn Tây, Tế tửu Quốc Tử giám, Án sát Bình Định, Tuần phủ Hưng
Hóa. Khi làm quan ông chăm lo phúc lợi cho nhân dân nên được dân chúng kính yêu. Năm 1884,
Pháp tấn công Hưng Hóa, ông anh dũng chỉ huy binh lính giữ thành. Thành mất, ông rút lên vùng
Tây bắc lập căn cứ chống Pháp lâu dài. Năm 1885, hưởng ứng chiếu Cần Vương, ông là một
trong những người lãnh đạo phong trào kháng chiến ở bắc Kỳ, được phong Lễ Bộ thượng thư,
Hiệp Thống Bắc kỳ quân vụ. Sau ông bệnh nặng, mất ở bản doanh nghĩa quân.
Hà Nội, Đà
Nẵng, Quy Nhơn
158
Nguyễn Quý Đức
(1648 - 1720)
Danh sĩ đời Lê Hi Tông, quê làng Thiên Mễ, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội. Năm Bính thìn
1676 ông đỗ Thám hoa lúc 28 tuổi. Ông trải qua các chức: Tả thị lang bộ Lễ, Đô ngự sử, Thượng
thư Bộ Binh, Thượng thư Bộ Hộ, Thiếu phó, kiêm lĩnh Tri Quốc tử giám… Ông có nhiều công
lao cống hiến, được đánh giá là "bề tôi xã tắc" nổi tiếng nhân đức, khoan hậu, là bậc thầy đạo cao
đức trọng, dạy ở trường Quốc Tử Giám, đào tạo hàng nghìn học trò; là nhà sử học nghiêm túc,
luận bàn xác đáng, khen chê minh bạch. Tham gia biên soạn "Đại Việt sử ký bản kỷ tục biên", đề
tựa "Việt sử thông khảo", sao lục "Quần hiền phú tập", soạn bia tiến sĩ và phụ trách tu tạo Quốc
Tử Giám. Tác giả "Thi châu tập", "Hoa trình thi tập" và nhiều bài thơ chữ Hán, chữ Nôm. Thơ
của ông mực thước, bình dị, tình cảm khoan hoà, hồn hậu, không dụng công trau chuốt mà ý tứ
sâu sắc. Khi mất, ông được truy tặng là Đại tư không, sắc phong làm Cung thần tuấn đạt định
sách Đại vương, và được dân làng thờ làm Phúc thần thưởng đẳng.
Đà Nẵng, Hà Nội
159
Nguyễn Quyền
(1869 - 1941)
Chí sĩ cận đại, hiệu là Đông Đường, quê làng Thượng Trì, tổng Thượng Mão, phủ Thuận
Thành, tỉnh Bắc Ninh. Ông thi đỗ Tú tài, đương thời bổ làm Huấn đạo tỉnh Lạng Sơn nên thường
gọi là Huấn Quyền. Năm 1907, ông từ chức, cùng với Lương Văn Can lập trường Đông kinh
nghĩa thục ở Hà Nội. Năm 1908 bị thực dân bắt giam ở Hỏa Lò (Hà Nội), bị kết án khổ sai chung
thân và lưu đày Côn Đảo. Năm 1910 được trả tự do, nhưng bị an trí tại Bến Tre. Ông mất năm
1941 tại Bến Tre.
Hà Nội, Bắc
Ninh, Đồng Tháp
160
Nguyễn Sinh Sắc
(1862 - 1929)
Chí sĩ yêu nước, là thân sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông còn có tên là Nguyễn Sinh Huy,
xuất thân trong một gia đình nhà nho yêu nước, quê ở xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ
An. Thi đỗ Cử nhân năm 1894, đỗ Phó bảng năm 1901. Năm 1906 ông được triều đình Huế bổ
Huế, Vinh, Đà
Nẵng, Phú
56
nhiệm chức Thừa biện Bộ Lễ. Tháng 5/1909, ông được cử vào chấm thi tại Trường thi Bình
Định, rồi được bổ nhiệm chức Tri huyện Bình Khê (nay là huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định).
Trong thời gian làm Tri huyện Bình Khê, ông giữ nếp sống giản dị, không màng danh lợi, bảo vệ
người nghèo, giúp đỡ người yêu nước, trừng trị nghiêm khắc bọn cường hào ức hiếp dân lành,
được nhân dân tôn kính, trí thức trọng vọng. Tháng 01/1910, ông bị bãi chức, triệu hồi về kinh.
Năm 1911, ông rời Huế vào Nam Bộ, sống thanh đạm bằng nghề dạy học và bốc thuốc, quan hệ
mật thiết với các nhà nho cấp tiến và những người yêu nước. Năm 1929, ông lâm bệnh qua đời
tại Cao Lãnh, Đồng Tháp. Tư tưởng, đạo đức của ông đã ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc đời hoạt
động cách mạng của người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành - sau này là Chủ tịch Hồ Chí
Minh.
Phong, Quy
Nhơn, Hoài
Nhơn
161
Nguyễn Tạo
(1822 - 1892)
Danh thần triều Nguyễn, quê huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Ông là người nổi tiếng
thanh liêm, mẫn cán làm quan trải nhiều đời vua, được nhân dân và sĩ phu tiến bộ trọng vọng.
Từng làm Tri huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định, mở mang địa phương, nhân dân no ấm. Sau được
bổ Tri phủ Hoài Đức, Án sát tỉnh Hải Dương, có công đánh tan giặc Tàu Ô vào cướp phá, ông
cùng Tôn Thất Thuyết đánh dẹp, nhân dân được sống trong cảnh yên ổn. Sau khi mất được triều
đình truy tặng thực thụ Hàn lâm viện Thị độc.
Thanh Hóa
162
Nguyễn Thái Học
(1901 - 1930)
Chí sĩ yêu nước, quê ở làng Phổ Tang, nay thuộc huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc. Năm
1927, ông thành lập Việt Nam Quốc dân đảng, lấy chủ trương dùng bạo lực giành lại quyền độc
lập dân tộc. Tổ chức của ông ám sát tên chủ mộ phu đồn điền người Pháp bị bại lộ, ông phải rút
vào hoạt động bí mật. Sau đó, ông mở cuộc khởi nghĩa tấn công vào các cơ sở quân sự của Pháp
tại một số nơi ở trung du Bắc Bộ. Cuộc khởi nghĩa diễn ra được 10 ngày (từ 10/2 đến 20/2/1930),
ông cùng một số đồng chí bị Pháp bắt tại huyện Đông Triều. Thực dân Pháp đem ông cùng 12
chiến hữu của Quốc dân đảng lên máy chém tại Yên Bái. Ông hy sinh lúc 29 tuổi để lại tiếng
thơm muôn đời.
Hà Nội,
TP.HCM, Đà
Nẵng, Huế, Quy
Nhơn….
163
Nguyễn Thiện Thuật
(1841 - 1926)
Danh tướng Cần Vương, quê ở làng Xuân Dục, huyện Mỹ Văn, tỉnh Hưng Yên. Ông đỗ Tú
tài năm 1852, đỗ Cử nhân năm 1871, được bổ làm Tri phủ Từ Sơn, Bắc Ninh. Rồi cầm quân tiễu
trừ giặc cướp, đánh giặc Tàu ô xâm phạm các vùng biên giới. Được cử làm Chánh sứ 16 châu
thuộc các tỉnh biên giới. Khi kinh thành Huế thất thủ, vua Hàm Nghi ra chiến khu, ông hưởng
ứng lời kêu gọi đánh Pháp và được thăng chức Tán tương Quân vụ. Tháng 11/1889, nghĩa quân
Bãi Sậy do ông chỉ huy đánh chiếm tỉnh Hải Dương và uy hiếp các tỉnh lân cận. Sau quân Pháp
tập trung lực lượng bao vây chiến khu Bãi Sậy. Nghĩa quân thế cô nên cuộc khởi nghĩa đi đến
chỗ thất bại. Ông cùng một số tướng lĩnh thuộc hạ lánh qua Trung Quốc. Sau đó, ông mất tại
Nam Ninh (Quảng Tây).
TP.HCM, Đà
Nẵng, Gia Lai,
Quy Nhơn
164
Nguyễn Thông
(1827 - 1884)
Chí sĩ yêu nước, người thôn Bình Thạnh, huyện Vàm Cỏ, tỉnh Long An. Năm 1844, ông ra
học ở kinh đô Phú Xuân. Năm 1849, thi đậu Cử nhân và làm quan với chức Huấn đạo, sau thăng
Cần Thơ,
57
Hàn lâm viện tu soạn, trải qua các chức: Đốc học Vĩnh Long, Án sát Khánh Hòa, Biện lý bộ
Hình, Bố Chính Quảng Ngãi, Hàn lâm viện Trứ tác, Tư nghiệp Quốc tử giám, Thị giảng Học sĩ ở
Viện Hàn lâm…. Ông tham gia đánh Pháp xâm chiếm 3 tỉnh miền Đông Nam bộ. Tác phẩm
chính của ông gồm có: Khâm định nhân sự kim giám, Dương chính lục, Việt sử thông giám
cương mục khảo lược, Kỳ xuyên thi sao, Kỳ xuyên văn sao, Ngọa du sào tập.
TP.HCM, Quy
Nhơn
165
Nguyễn Thượng Hiền
(1868 - 1925)
Danh sĩ, quê làng Liên Bạt, huyện Ứng Hoà, Hà Tây, nay là Hà Nội. Xuất thân trong một gia
đình khoa bảng, quan lại cao cấp triều Nguyễn. Năm 17 tuổi, ông đỗ Cử nhân. Năm 1892, đỗ
Hoàng Giáp lúc 24 tuổi. Sau nhận chức Toản tu Quốc sử, rồi làm Đốc học tỉnh Ninh Bình. Năm
1907, ông bỏ quan, tìm đường sang Nhật hưởng ứng phong trào Đông du. Kết bạn thân với cụ
Phan Bội Châu lo việc cứu nước. Ông sang Thái Lan, liên lạc với Công sứ Đức và Áo bàn kế
đánh Pháp. Sau nhiều năm bôn ba cứu nước, ông sang Trung Quốc, rồi vào chùa tu ở Hàng Châu.
Năm 1925, ông lâm bệnh mất tại đó. Ông là nhà chính trị, nhà văn, nhà thơ. Thơ văn ông có giá
trị, lo cho nước cho dân, có vẻ đẹp thanh thoát đầy bản sắc văn hóa Việt. Tác phẩm chính gồm:
Bộ Nam chi tập, Hạc Thư ngâm biện, Mai Sơn ngâm tập, Nam Hương tập, Mai Sơn ngâm thảo…
Hà Nội,
TP.HCM, Đà
Nẵng, Quy Nhơn
166
Nguyễn Tri Phương
(1800 - 1873)
Đại thần triều Nguyễn, quê ở làng Đường Long, xã Phong Chương, Phong Điền, Thừa
Thiên. Xuất thân trong một gia đình nông dân, nhờ ý chí tự học tự lập, ông làm nên sự nghiệp
lớn. Buổi đầu, ông làm Thư lại ở Phong Điền, rồi lên làm Thư lại Bộ Hộ, được vua Minh Mạng
tin dùng, ông luôn thăng tiến, cống hiến tài sức cho đất nước. Ông có công đánh giặc, mở đất
khai hoang lập đồn điền, dân cư an lạc. Được chép công trạng khắc vào bia đá ở Võ Miếu Huế.
Năm 1872, được bổ thay mặt triều đình xem xét việc quân sự ở Bắc Kỳ. Quân Pháp tấn công
thành Hà Nội tháng 11/1873, ông cùng binh lính chiến đấu oanh liệt, nhưng trước sức mạnh của
quân Pháp, ông bị thương, thành mất. Ông tuyệt thực gần 1 tháng rồi mất, để lại nỗi thương tiếc
trong lòng người dân Thăng Long và cả triều đình. Tại Hà Nội, ông và những tuỳ tướng tử trận
được thờ ở đền Trung Liệt. Tại quê nhà, triều đình dựng đền Trung Hiếu để thờ ông.
Đà Nẵng, Hà
Nội, Huế, Quy
Nhơn
167
Nguyễn Trung Ngạn
(1289 - 1370 )
Danh sỹ đời Trần, quê làng Thổ Hoàng, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên. Năm 1304, ông đỗ
Hoàng Giáp, năm 25 tuổi làm Giám quân được cử đi sứ nhà Nguyên. Năm 1329, ông theo Trần
Minh Tông đánh dẹp loạn ở Đà Giang và soạn sách Thực Lục về cuộc hành quân này. Năm 1334,
lại dự đánh ở Lào. Năm 1337, ông làm An phủ sứ Nghệ An, rồi làm Giám tu quốc sử ở Viện
Quốc sử, cùng Trương Hán Siêu soạn sách Hoàng triều đại điển và bộ Hình luật thư. Năm 1341,
được thăng Kinh sư Đại Doãn rồi thăng Hành khiển coi các việc ở khu mật. Trải 5 đời vua làm
Đại học sĩ Trụ Quốc. Các tác phẩm để lại: Giới hiên thi tập, Ma nhai kỉ công bi văn.
Hà Nội, Đà
Nẵng, Quy
Nhơn...
168
Nguyễn Trực
(1417 - 1474)
Danh sĩ đời Lê, vị Trạng nguyên đầu tiên nhà Hậu Lê, quê ở làng Bối Khê, huyện Thanh
Oai, Hà Tây, nay là Hà Nội, nên tục gọi là Trạng Bối Khê. Thuở nhỏ, ông sớm nổi tiếng văn thơ,
năm 18 tuổi đậu Hương tiến, 25 tuổi ông đỗ Trạng nguyên năm 1442. Đời vua Nhân Tông, ông
làm Trực học sĩ Viện Hàn lâm, sau thăng Nam Sách An vũ sứ. Vua rất yêu mến, quí trọng tài đức
Huế, Đà Nẵng,..
58
của ông. Đời vua Thánh Tông, ông làm Thừa chỉ Viện Hàn lâm, thăng Trung thư lệnh kiêm Tế
tửu Quốc tử giám. Ông từng được cử đi sứ Trung Quốc, kẻ sĩ Trung Quốc rất nể trọng ông, xưng
tặng như là Lưỡng Quốc Trạng nguyên. Ông để lại các tác phẩm chính: Bối Khê tập, Hủ Liêu
tập, Ngu nhàn tập, Kinh nghĩa chư văn… Học trò thọ giáo ông rất đông, xưng tặng ông là Sư
Liêu tiên sinh.
169
Nguyễn Trường Tộ
(1830 - 1871)
Chí sĩ yêu nước, quê Nghệ An. Giỏi chữ Hán, chữ quốc ngữ và tiếng Pháp. Năm 1858 ông
qua Pháp học, 3 năm sau về nước, kiên quyết không làm tay sai cho thực dân Pháp, lui về ở ẩn.
Ông dâng lên triều đình nhiều bài điều trần có giá trị về cải cách kinh tế, chính trị, khoa học, văn
hóa, giáo dục mang tính sách lược nhằm đưa Việt Nam thành một nước hùng cường, nhưng rất
tiếc triều Nguyễn đã không áp dụng. Ông mất lúc 44 tuổi, để lại 14 bản trần tình về quốc kế dân
sinh và nhiều bài thơ hay được truyền tụng. Ông được xem là nhà khoa học, nhà chính trị, nhà tư
tưởng cải cách đất nước của thế kỷ XIX.
Đà Nẵng,
TP.HCM, Huế,
Vũng Tàu, Quy
Nhơn…
170
Nguyễn Tự Như
(1860 - ?)
Chí sĩ yêu nước, chiến sĩ Cần vương. Quê làng Hà Thượng, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị.
Năm 1885 kinh thành Huế thất thủ, vua Hàm Nghi ra lập chiến khu ở Tân Sở xuống hịch Cần
Vương cứu nước. Tại Quảng Trị, ông cùng Trương Đình Hội, Huỳnh Văn Phúc... hưởng ứng,
thành lập các đội Cần vương đánh Pháp ở các mặt trận thuộc đồng bằng Quảng Trị tán trợ cho
Sơn phòng Tân Sở nơi vua Hàm Nghi đặt bản doanh. Từ năm 1886-1888 Pháp và Nam triều tấn
công, lực lượng nghĩa quân phân tán ra nhiều nơi và tan rã trước sức tấn công ồ ạt của quân Pháp
và tay sai Nguyễn Thân. Sau khi nghĩa quân tan rã, ông lui về quê ở ẩn ở quê nhà.
Quảng Trị, Quy
Nhơn
171
Nguyễn Văn Giáp
(? - 1887)
Thủ lĩnh phong trào Cần Vương chống Pháp ở vùng Tây Bắc, tục gọi là Bố Giáp (vì ông từng
làm chức Bố chính), quê làng Tả Thanh Oai, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông (nay thuộc huyện
Thanh Trì, Hà Nội). Ông thi đỗ Cử nhân, ra làm quan trải dần đến chức Bố chánh tỉnh Sơn Tây.
Ông từng chỉ huy các trận đánh Pháp tại Thanh Mai (Phú Thọ), Tuần Quán (Yên Bái), Tiên Động
(Hải Dương), Nghĩa Lộ (Yên Bái). Ông mất năm 1887 vì bạo bệnh.
TP. HCM
172
Nguyễn Văn Siêu
(1799 - 1872)
Danh sĩ triều Nguyễn, quê ở huyện Thanh Trì, Hà Nội. Ông là bạn với Cao Bá Quát, từng
nổi tiếng văn chương. Thi Hương, đỗ Á Nguyên, năm 1838 đỗ Phó bảng, làm quan đến Kiểm
thảo Viện Hàn lâm, rồi trải các chức vụ: Chủ sự Bộ Lễ, Thị giảng học sĩ. Tài văn chương của ông
được đương thời ca tụng, ông để lại các tác phẩm lưu truyền: Đại Việt đại dư toàn biên, Chư sử
khảo thích, Phương Đình tùy bút lục, Phương Đình thi văn tập…
Đà Nẵng, Huế,
Hà Nội, Quy
Nhơn...
173
Nguyễn Xuân Ôn
(1825 - 1889)
Chí sĩ yêu nước, quê ở làng Quần Phương, Diễn Châu, Nghệ An. Năm 1864, đỗ Tú tài, năm
1867 đỗ Cử nhân, đến năm 1871, thi đỗ Tiến sĩ. Được bổ Tri phủ Quảng Ninh, rồi làm Đốc học
Bình Định, sau về triều giữ chức Ngự sử, Biện lý Bộ Hình. Là người khảng khái cương trực,
thường chỉ trích đám quan lại tham nhũng. Năm 1883, được cử làm Hiệp đốc quân vụ Nghệ An,
Hà Tĩnh, tổ chức khởi nghĩa chống Pháp. Năm 1885, kinh đô Huế thất thủ, cuộc khởi nghĩa do
ông lãnh đạo đánh thắng nhiều trận lớn, gây thanh thế vang dội cả vùng. Tháng 7/1887, địch bao
Đà Nẵng, Nghệ
An, Quy Nhơn
59
vây căn cứ, bắt ông giải về nhà lao Vinh, trong lao tù ông vẫn giữ vững khí tiết. Ông là một nhà
thơ, nhà văn; để lại các tác phẩm chính: Ngọc Đường thi tập, Ngọc Đường văn tập và nhiều bài
thơ bày tỏ sự căm phẫn trước bè lũ tay sai cúi đầu theo giặc Pháp.
174
Nguyễn Xí
(1397 - 1465)
Danh thần thời Hậu Lê, sinh ở xã Nghi Hợp, huyện Nghi Lộc, Nghệ An, Thuở hàn vi, có
sức khỏe hơn người, ông tham gia khởi nghĩa Lam Sơn cùng với Lê Lợi đánh đuổi quân Minh
giành quyền tự chủ cho đất nước. Những trận đánh ở Quỳ Châu và Ai Lao, ông đều lập được
chiến công. Khi kháng chiến thành công, ông được thăng làm Long Hổ Vệ Thượng tướng quân.
Đời Lê Thái Tông, vì có công phụ dực nên được thăng Nhập nội Đô Đốc. Đến đời Lê Thánh
Tông phong ông làm Thái Phó Á quận hầu Tả Tướng quốc Thái uý.
Hà Nội,
TP.HCM, Quy
Nhơn
175
Nhữ Tiến Hiền
(1659 - 1739)
Văn thần đời Lê Hi Tông, có sách chép là Nhữ Đình Hiền, quê xã Hoạch Trạch, huyện Đường
An, tỉnh Hải Dương. Năm Canh thân 1860, ông đỗ Tiến sĩ lúc 21 tuổi, làm quan đến Thượng thư
bộ Hình, Bồi tụng, có lúc được cử đi sứ Trung Quốc. Ông xử kiện công minh, đứng đắn, từng
phát giác những vụ án mờ ám, cứu kẻ hàm oan, chính sự nổi tiếng, người thời bấy giờ đều khen
ngợi. Năm Kỉ mùi 1739, ông mất, thọ 80 tuổi, được truy tặng Thiếu phó, tước Quận Công.
TP.HCM
176
Ông Ích Đường
(1890 - 1908)
Liệt sĩ cận đại, quê làng Phong Lệ, xã Hòa Châu, huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam (nay
thuộc TP. Đà Nẵng). Ông có tiếng thơ văn, lại giỏi võ nghệ, có chí lớn, tính người phóng khoáng,
có đức độ bậc trượng phu, quân tử, ông thường bênh vực kẻ nghèo yếu, chống lại bọn cường hào
ác bá. Ông mở cuộc tập luyện võ nghệ cho thanh niên ở Cẩm Toại, Cẩm Lệ, Túy Loan, Thạch
Nham thuộc huyện Hòa Vang, chuẩn bị lực lượng khởi nghĩa chống giặc Pháp. Năm 1908, ông
tham gia biểu tình chống sưu thuế. Ông chỉ huy nhân dân Hòa Vang, vây bắt tên sâu dân mọt
nước Lãnh Điềm. Việc không thành, ông tạm lánh nơi nhà Mạc Quý, người cùng học võ một
thầy. Không ngờ Mạc Quý phản bội, mật báo với giặc. Ông bị bắt và hi sinh trong năm Mậu thân
1908 tại đình Túy Loan.
Đà Nẵng
177
Ông Ích Khiêm
(1832 - 1884)
Danh sĩ, quê ở làng Phong Lệ, nay thuộc xã Hoà Châu, huyện Hoà Vang, Đà Nẵng. Xuất
thân trong một gia đình nông dân, tính khảng khái, cương trực lại thông minh, giỏi cả văn lẫn võ.
Năm 1852, đỗ Cử nhân, được bổ làm Tri huyện Kim Thành, Hải Dương. Ông giỏi cầm binh,
đánh dẹp các cuộc nổi loạn chống lại triều đình rất có mưu lược, được phong chức Thị lang Bộ
Binh. Sau ông bị đám quyền thần ghen ghét hãm hại. Sinh thời ông có làm thơ, nhiều bài thơ còn
được truyền tụng.
Đà Nẵng, Quy
Nhơn
178
Phạm Bành
(1825 - 1887)
Liệt sĩ cận đại, quê làng Trung Xá, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Năm Giáp tí 1864, ông
đỗ cử nhân, làm Án sát tỉnh Thanh Hóa, sau đổi làm Đốc học. Giặc Pháp xâm lăng, ông bỏ quan,
cùng với Hoàng Bất Đạt, Đinh Công Tráng lập chiến lũy Ba Đình ở Nga Sơn, Thanh Hóa, lãnh
đạo nghĩa quân kháng chiến, chống nhau quyết liệt với quân Pháp do Đại tá Brissaud chỉ huy.
Giặc bắt giam mẹ và con ông là Phạm Tiêu, ông ra nộp mình để cứu mẹ và con, rồi thắt cổ tự tử
trong năm Đinh hợi 1887, thọ 62 tuổi.
Thanh Hóa
60
179
Phạm Bân
(TK XIV)
Danh y đời Trần Anh Tông, có sách chép tên là Phạm Công Bân, quê ở Tri Minh, huyện Cẩm
Giang, tỉnh Hải Dương (nay là Cẩm Bình, thuộc tỉnh Hải Dương). Trần Anh Tông vời ông làm
chức Thái y, ông thường mua thuốc và lúa gạo trữ tại nhà sẵn lòng nuôi và chữa bệnh cho những
người nghèo khổ, neo đơn. Gặp năm đói kém, bệnh hoạn lan tràn, ông càng hết sức cứu giúp,
nhân dân đều xưng tụng công đức. Về sau, con cháu ông có nhiều người hiển đạt và làm thuốc
giỏi, công đức tốt đẹp.
TP.HCM
180
Phạm Cự Lượng
(944 - 984)
Danh tướng nhà Đinh và Tiền Lê, quê ở xã Nam Trung, Nam Sách, Hải Dương. Năm 981
nhà Tống đem binh thủy bộ xâm lược nước ta. Ông được vua Đinh cử làm Đại tướng đem binh
chống giặc. Ông họp binh sĩ suy tôn Lê Hoàn lên ngôi vua để đủ quyền hành cầm vận nước. Ông
cùng Lê Hoàn dẹp tan quân Tống, giết tướng giặc tại ải Chi Lăng. Có công lao giúp Lê Hoàn
trong việc dứt nhà Đinh, đuổi quân Tống, dẹp Chiêm Thành, ổn định tình hình, dựng nên nhà
Tiền Lê.
Đà Nẵng,
TP.HCM, Quy
Nhơn
181
Phạm Đình Hổ
(1768 - 1839)
Danh sĩ đời Nguyễn, quê ở huyện Đường Hào, Hải Dương. Ông học rộng biết nhiều nhưng thi
không đỗ, nên ở ẩn. Năm 1821, vua Minh Mạng bổ làm Hành tẩu Viện Hàn lâm. Năm 1826, làm
Thừa chỉ Viện Hàn lâm, Tế tửu Quốc tử giám, sau được thăng Thị giảng Học sĩ. Ông thường
cùng nữ sĩ Hồ Xuân Hương làm thơ qua lại. Để lại các tác phẩm tiêu biểu: Lê triều hội điển,
Bang giao điển lệ, An Nam chí, Đạt Man quốc địa đồ (tức Chân Lạp địa đồ), Vũ trung tùy bút,
Tang thương ngẫu lục…
Hà Nội, Đà
Nẵng, TP.HCM,
Quy Nhơn
182
Phạm Huy
(1470 - ?)
Văn thần đời Lê Thánh Tông, quê làng Đông Hải, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Năm Quí
sửu 1493, ông đỗ đồng Tiến sĩ. Ông giỏi việc chính trị, có tài ngoại giao, từng được cử đi sứ nhà
Minh. Tính ông cương trực, khảng khái không xu phụ kẻ quyền quí, hết lòng giúp đỡ người
nghèo khổ, người cô thế bị cường hào ức hiếp. Ông làm quan rất mực thanh cần, lo nước, thương
dân. Sau ông làm đến Đô cấp sự trung bộ Công, rồi thăng dần đến Thượng thư. Khi ông mất
được truy phong Phúc thần, có đền thờ nơi làng Đông Hải.
Vinh
183
Phạm Ngũ Lão
(1255 - 1320)
Danh tướng đời Trần, quê ở Đô Lương, huyện Ân Thi, Hưng Yên. Xuất thân từ gia đình nông
dân, có tài văn võ. Được Hưng Đạo Vương tin dùng, gả con gái nuôi, được bổ chức Hạ phẩm
phụng ngự, sau thăng Cai quản Hữu vệ thánh dực. Có công trong hai lần kháng chiến chống quân
Mông - Nguyên xâm lược, ông biết dùng binh, chỉ huy trận mạc, đánh giặc gan dạ nên được
thăng các chức: Hữu kim ngô vệ Đại tướng quân, Thân vệ Đại tướng quân, Điện soái Thượng
tướng quân, tước Quân Nội Hầu. Ông từng được ban Phù vàng hình rùa và Phù vàng hình hổ
điều binh khiển tướng. Ngoài đánh giặc, ông còn làm thơ, nay còn truyền tụng hai bài: Thuật
hoài và Vãn Hưng Đạo Đại Vương.
Hà Nội, Hải
Phòng, Huế, Cần
Thơ, Đà Nẵng,
TP.HCM, Quy
NHơn,..
184
Phạm Phú Thứ
(1821 - 1882)
Danh thần triều Nguyễn, quê ở huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Ông bẩm tính thông minh,
ham mê học tập, liên tiếp thi đỗ Giải nguyên, Hội nguyên. Năm 1844, được bổ làm quan Hành
tẩu Nội các, sau trải qua các chức: Tri phủ Lạng Giang, tri phủ Tư Nghĩa, Viên ngoại Bộ Lễ, Án
Đà Nẵng, Hải
Phòng, Quy
61
sát sứ Thanh Hóa, Phó sứ sang Pháp, Tây Ban Nha… Ông hết lòng chăm lo cho dân cho nước.
Năm 1854, ông vận động dân chúng huyện Tư Nghĩa lập được hơn 50 kho nghĩa thương để lo
cứu tế cho dân lúc hạn hán, bão lụt. Năm 1858, khi thực dân Pháp chuẩn bị tấn công Đà Nẵng,
ông dâng sớ xin đắp đê Cu Nhĩ, đào sông Ái Nghĩa, xây dựng công sự bố phòng, luyện tập quân
sự nhằm bảo vệ hải cảng Đà Nẵng, ông cũng đề xuất vua mạnh dạn canh tân đất nước hầu theo
kịp văn minh thế giới. Để lại nhiều tác phẩm thơ văn có giá trị.
Nhơn…
185
Phạm Sư Mạnh
(Thế kỷ XIV)
Danh sĩ đời nhà Trần, tên thật là Phạm Độ, người làng Hiệp Thạch, huyện Kim Môn, tỉnh
Hải Dương
. Ông là học trò của Chu Văn An, đỗ tiến sĩ đời Trần Minh Tông, sau được vua đổi
tên là Phạm Sư Mạnh. Ông bắt đầu làm quan vào năm 1323. Đến năm 1345, ông được cử đi sứ
sang Trung Quốc để tranh luận về địa giới cột đồng. Sau trải qua các chức: Chưởng bạ thư kiêm
Khu mật tham chính, Hành khiển tả tư lang trung, Tri khu mật viện sự, rồi thăng Nhập nội nạp
ngôn. Sau được cử trông coi việc phòng thủ biên cương. Ông là người nổi tiếng về văn học cũng
như về đạo đức cuối đời Trần. Tác phẩm để lại Hiệp Thạch tập và một bài văn bia. Thơ ông viết
về truyền thống yêu nước đời Trần, ca ngợi non sông hùng vĩ, nhắc lại những chiến công oanh
liệt chống ngoại xâm của dân tộc.
Hà Nội, Đà
Nẵng, Quy Nhơn
186
Phạm Thế Hiển
(1803 - 1861)
Danh thần đời Minh Mạng, quê xã Luyến Khuyết, huyện Đông Quan, tỉnh Nam Định. Năm
Mậu tí 1828, đỗ Cử nhân, năm sau Kỉ sửu 1829 đỗ Tam giáp đồng Tiến sĩ. Ông làm quan nổi
tiếng cương trực, từng giữ chức Tham tri bộ Binh, bộ Hình... Khi giặc Pháp xâm lược miền Nam,
ông cùng vào Nam với Tổng thống quân vụ Nguyễn Tri Phương, ra sức chống giữ đại đồn Kì
Hòa (cũng gọi là Chí Hòa) trong năm Canh thân 1860. Đến cuối năm Tân dậu 1861, giặc Pháp
tấn công ác liệt, đánh chiếm được Gia Định. Nguyễn Tri Phương lui binh về giữ Biên Hòa, ông
tử trận, hi sinh khi đại đồn thất thủ.
Đà Nẵng,
TP.HCM, Quy
Nhơn
187
Phạm Tông Mại
(TK XIII)
Danh sĩ đời Trần, còn gọi là Phạm Mại, quê ở là huyện Kim Môn, tỉnh Hải Dương. Đời vua
Trần Nhân Tông, được cử làm Thị nội học sinh để theo hầu vua. Đầu đời Trần Minh Tông, Ông
được cử đi sứ sang Nguyên (Trung Quốc) cùng với Nguyễn Trung Ngạn. Khi về nước, ông được
làm chức Ngự sử trung tán, rồi lần lượt thăng đến chức Môn hạ sảnh đồng tri. Ông nổi tiếng là
người "cương trực dám nói, có phong cách của người bề tôi can ngăn ngày xưa”. Ông để lại một
số bài thơ luật Đường chép trong Toàn Việt thi lục và Việt âm thi tập,
Quy Nhơn
188
Phạm Tu
(476 - 545)
Danh tướng thời Tiền Lý, quê ở làng Thanh Liệt, nay là xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, Hà
Nội. Thuở nhỏ ông phương phi, tuấn tú, tư chất thông minh, học giỏi, hay đọc sách binh thư yếu
lược. Năm 542, ông tập hợp binh mã tham gia cuộc khởi nghĩa do Lý Bôn lãnh đạo chống lại
quân đô hộ nhà Lương và trở thành võ tướng chủ chốt. Quân khởi nghĩa đánh chiếm thành Long
Biên, viên Thứ sử phải bỏ chạy về nước. Năm 543, vua Chiêm Thành đem quân đánh phá vùng
Hà Tĩnh ngày nay, Phạm Tu đem quân đi đánh dẹp, ổn định biên giới phía Nam. Năm 544, Lý Bí
lên ngôi vua lấy hiệu là Nam Việt Đế, đặt tên nước là Vạn Xuân. Pham Tu đứng đầu Ban Võ của
Khánh Hòa, Quy
Nhơn
62
triều đình, trở thành vị Khai quốc công thần nhà Tiền Lý. Năm 545, quân Lương lại sang xâm
lược nước ta, vì thế giặc quá mạnh, trong một trận chiến bảo vệ thành trì ở cửa sông Tô Lịch, lão
tướng Phạm Tu đã anh dũng hy sinh. Tưởng nhớ công lao, vua Lý Nam Đế truy phong ông là Đô
Hồ đại vương - Long Biên Hầu, sắc phong quê ông là Thang mộc ấp, được miễn sưu sai tạp dịch,
cho thờ làm Bản cảnh Thành hoàng, lưu truyền mãi mãi.
189
Phạm Văn Điển
(? - 1843)
Danh tướng đời Minh Mạng, quê huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên. Năm Mậu tí 1828, ông
đẩy lui được quân Xiêm kéo vào bằng ngã Vạn Tượng, xâm phạm Quảng Trị. Năm Quí tị 1833,
ông dự cuộc đàn áp nhóm Nông Văn Vân ở vùng Cao Lạng. Sau đó ông lãnh chức Tổng đốc
Thanh Hóa, gia hàm Thái tử Thái bảo, tước Vô Kính Hầu, được chọn khắc tên vào bia Võ Công.
Năm Tân sửu 1841, quân Xiêm lại đem binh thuyền sang đánh phá miền Nam, ông nhận lệnh vào
Nam giữ mặt Hậu Giang, hội với Nguyễn Tri Phương và Nguyễn Công Trứ ba mặt cùng tiến
công, quân Xiêm tan vỡ rút đi.
Hà Nội
190
Phạm Văn Nghị
(1805 - 1880)
Danh sĩ, Chí sĩ, quê xã Yên Thắng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định. Khi giặc Pháp đánh chiếm
Sơn Trà (Đà Nẵng) ông dâng sớ chống giặc ở Sơn Trà (nổi tiếng về việc Trà sơn kháng sớ này).
Ông chỉ huy đoàn quân nghĩa dũng đi kháng chiến. Ông nhiệt thành lo nước thương dân, trên
cương vị nào cũng hết lòng làm tròn nhiệm vụ. Năm Quí mùi 1873, ngày 10/12 âm lịch ông chỉ
huy đánh giặc Pháp ở Độc Bộ, ngày 27/12 âm lịch lập căn cứ ở núi An Hòa chống Pháp, giữ các
huyện Ý Yên, Phong Doanh. Sau khi đã làm hết sức mình mà không như nguyện trong cuộc
kháng chiến, có lúc ông bị triều đình bãi chức, cuối cùng ông về hưu, ở ẩn nơi động Liên Hoa.
Đà Nẵng
191
Phạm Văn Tráng
(? - 1913)
Liệt sĩ kháng Pháp, tên thật là Nguyễn Thế Trung, quê làng Bát Tràng, huyện Gia lâm, tỉnh
Hà Đông (nay thuộc TP. Hà Nội). Năm 1910, tham gia hoạt động Duy Tân hội, rồi gia nhập tổ
chức Việt Nam Quang phục hội của Phan Bội Châu. Năm 1913, ông theo lệnh của Hội, dùng
bom ám sát Tuần phủ Thái Bình Nguyễn Duy Hàn. Việc bất thành, ông bị Pháp bắt, kết án tử
hình, bị Pháp xử bắn ngày 23/9/1913 tại Hà Nội.
Đà Nẵng
192
Phan Bá Vành
( ? - 1827)
Thủ lĩnh phong trào nông dân, quê ở huyện Vũ Thư, Thái Bình. Xuất thân trong gia đình
nông dân nghèo, có võ nghệ. Bị nạn cường hào ức hiếp, ông tập hợp lực lượng nông dân nổi dậy
khởi nghĩa chống địa chủ, cường hào, lấy của nhà giàu chia cho dân nghèo. Cuộc khởi nghĩa kéo
dài từ 1825 - 1827, nghĩa quân xây dựng căn cứ ở Trà Lũ, mở rộng địa bàn hoạt động, gây cho
quân nhà Nguyễn nhiều tổn thất. Năm 1827, quân triều đình bao vây căn cứ, ông bị bắt và bị giết.
Hà Nội, Quy
Nhơn
193
Phan Bội Châu
(1867 - 1940)
Chí sĩ yêu nước, tên thật là Phan Văn San, quê làng Đan Nhiễm, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ
An. Ông nổi tiếng thông minh, có ý chí phấn đấu nhiệt tình yêu nước, lúc còn trẻ đã hưởng ứng
phong trào Cần Vương. Năm 1900, thi Hương đỗ Giải nguyên. Năm 1904, vận động thành lập
hội Duy tân, qua năm sau ông cùng Tăng Bạt Hổ sang Trung Quốc, Nhật Bản gây dựng phong
trào Đông du. Năm 1911, thành lập Hội Việt Nam Quang Phục. Năm 1925, ông bị tay sai Pháp
bắt cóc tại Thượng Hải, bị giải về nước, rồi an trí ở Huế. Từ đấy ông chuyên tâm nghiên cứu,
Đà Nẵng, Quy
Nhơn…
63
viết sách, để lại khối lượng tác phẩm đồ sộ: Phan Bội Châu niên biểu, Lưu cầu huyết lệ tân thư,
Hải ngoại huyết thư, Việt Nam vong quốc sử, Chu Dịch quốc âm giải, Quốc văn thi tập, Việt
Nam quốc sử khảo…và hơn mười tiểu truyện về các anh hùng liệt nữ Việt Nam. Ông là nhà yêu
nước lớn, nhà văn hoá dân tộc, nhà Phương Đông học của Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX.
194
Phan Chu Trinh
(1872 - 1926)
Chí sĩ yêu nước, quê ở làng Tây Lộc, huyện Tiên Phước, nay thuộc Tam Kỳ, Quảng Nam.
Năm 1900, đỗ Cử nhân, sau đỗ Phó bảng, được triều đình Huế bổ làm quan Thừa biện Bộ Lễ.
Ông nhiệt thành yêu nước, sớm giác ngộ cách mạng. Tích cực tham gia các hoạt động yêu nước
kháng Pháp trong và ngoài nước, đề xướng phong trào Duy Tân cải cách, tham gia phong trào
Đông kinh Nghĩa thục. Bị thực dân Pháp bắt, đày đi Côn Đảo năm 1908. Sau khi ra tù, ông tiếp
tục tham gia các hoạt động yêu nước, liên hệ mật thiết với Nguyễn Ái Quốc. Năm 1925, ông lâm
bệnh, mất năm 1926. Ông để lại các tác phẩm chính: Đầu Pháp chính phủ thư; Tỉnh quốc hồn ca
I, II; Trung kỳ dân biến thỉ mạt ký, Đông Dương chính trị luận…
Đà Nẵng, Quy
Nhơn…
195
Phan Thúc Trực
(1808 - 1852)
Nhà văn, nhà thơ, nhà sử học, quê xã Vân Trụ, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An, còn có tên
là Phan Dưỡng Hạo. Thuở nhỏ ông nổi tiếng học giỏi. Năm 1847 ông đỗ Thám hoa, được bổ làm
Hàn lâm viện trước tác, sau được thăng làm Thị giảng ở viện Tập hiền, ứng chế nhiều bài thơ
văn, được vua Tự Ðức khen ngợi và tặng thưởng. Ông được đặc cách phong làm Kinh diên khởi
cư trú, chức quan luôn luôn gần gũi nhà vua, giúp vua giải quyết việc triều chính và được ban ấn
tín có thể đi bất cứ nơi đâu trong cung cấm. Ông từng nhận lệnh vua đi nhiều nơi để sưu tầm
những sách hay. Ông luôn quan tâm đến đời sống tinh thần và vật chất của nhân dân, đứng ra
cùng nhân dân khai hoang, đắp đập, tìm những giống lúa năng suất về cho dân trồng, Ông thường
mang những bổng lộc và phần thưởng triều đình ban phân phát cho dân, ai thiếu gạo, thiếu tiền
ông cho, có vấn đề oan khuất thì ông giúp họ kêu oan... Sau khi ông mất, nhân dân nhớ công đức
lập đền thờ tại bản quán, tôn làm Thành hoàng. Ông để lại cho hậu thế nhiều tài liệu lịch sử, thơ
văn và địa lý rất có giá trị như: Quốc sử di biên, Trần Lê ngoại truyện, Diễn châu phủ chí… Cuộc
đời, sự nghiệp và tác phẩm của ông được các viện nghiên cứu của Pháp, Trung Quốc, Hồng
Kông... chú ý nghiên cứu. Tác phẩm Quốc Sử di biên được đưa vào giảng dạy tại nhiều trường
Đại học ở Hồng Kông, Trung Quốc.
TP Vinh, Quy
Nhơn
196
Phan Đình Phùng
(1844 - 1895)
Anh hùng chống Pháp, quê ở làng Đông Thái, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Xuất thân trong
một gia đình Nho học, cha đỗ Phó bảng từng làm Phủ doãn Thừa Thiên, Ông đỗ Cử nhân năm
1876. Năm 1877, thi Đình đỗ Tiến sĩ, được cử giữ chức Ngự sử Đô sát viện làm việc tại Kinh đô.
Ông tính cương trực thẳng thắn, thông minh, liêm khiết, không xu nịnh bất cứ ai. Khi kinh thành
Huế thất thủ, vua Hàm Nghi ra Tân Sở xuống chiếu Cần Vương, ông đã sát cánh cùng Tôn Thất
Thuyết tập hợp nghĩa binh kháng Pháp. Ông lập căn cứ ở vùng rừng núi Hương Sơn, Hà Tĩnh
quyết đánh Pháp tới cùng. Sau gần 10 năm kháng Pháp, ông lâm bệnh, mất tại chiến khu núi
Quạt. Để lại một số bài thơ: Khóc Cao Thắng, Lâm chung thời tác, Thăng trận hậu cảm tác, Điếu
Hà Nội,
TP.HCM, Đà
Nẵng, Quy
Nhơn, Gia Lai,…
64
Lê Ninh và Viết sử địa dư vựng cách…
197
Phan Đình Tuyển
(1814 - 1864)
Danh sĩ đời Thiệu Trị, quê ở huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Năm 1843, đỗ Cử nhân. Năm
1844 đỗ Phó bảng. Ông làm Án sát tỉnh Bắc Ninh, Phủ doãn Thừa Thiên, sau đổi ra làm Tán lí
miền Bắc. Ông tham dự hợp soạn bộ Khâm định Việt sử thông giám cương mục triều Nguyễn
(viết tắt là Khâm định Việt sử). Ông hi sinh trong khi chống giặc ngoại xâm. Được thờ tại Đền
Trung nghĩa (Hà Nội). Ba người con ông: Đình Vận, Đình Phùng, Đình Thông, nhất là chí sĩ
Phan Đình Phùng, đều nổi tiếng anh tài, hi sinh vì nước.
Huế, Hoài Nhơn
198
Phan Huy Chú
(1782 - 1840)
Danh sĩ triều Nguyễn, xuất thân trong một gia đình đại khoa bảng, nhiều đời làm quan nhà
Hậu Lê, nhà Nguyễn, quê ở làng Thầy, Sài Sơn, Hà Tây, nay là Hà Nội. Ông là người thông
minh, học giỏi, đi thi đỗ hai khoa Tú tài 1807 và 1819, được bổ làm Biên tu ở Viện Hàn lâm, rồi
Phủ thừa Thừa Thiên, sau thăng Hiệp trấn Quảng Nam. Được cử làm Phó sứ đi Trung Quốc các
năm 1824, 1830. Một thời gian, ông cáo bệnh xin về hưu, mở trường dạy học ở Hà Tây. Ông để
lại các tác phẩm chính: Lịch triều hiến chương loại chí, Hoàng Việt dư địa chí, Mai Phong du
Tây thành dã lục, Hoa triều thiều ngâm lục… Riêng bộ Lịch triều hiến chương loại chí là một
công trình bách khoa có giá trị to lớn đủ nâng ông lên thành nhà bác học của nước ta thế kỷ XIX.
Hà Nội,
TP.HCM, Quy
Nhơn..
199
Phan Ngọc Tòng
(1818 - 1867)
Anh hùng kháng Pháp, có sách chép tên là Phan Tòng, hoặc Phan Công Tòng, quê làng Bình
Đông, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Ông nhiệt thành yêu nước, tham gia chống Pháp trong cuộc
khởi nghĩa của Phan Tôn, Phan Liêm (hai con Phan Thanh Giản) tại Bến Tre. Phan Tôn, Phan
Liêm bỏ ra miền Trung (1868), ông vẫn ở lại tiếp tục xây dựng lực lượng, tích cực chiến đấu.
Thanh tra sự vụ De Champeaux cùng với các viên chỉ huy trưởng binh đoàn đóng ở Bến Tre ra
sức đàn áp. Cuối năm 1867, ông hi sinh trong trận đánh ở Giồng Gạch.
Bến Tre
200
Phan Phu Tiên
(1370 - 1462)
Danh sĩ đời Lê Thái Tổ, trước thường gọi là Phù Tiên, quê xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm,
tỉnh Hà Đông (nay thuộc TP. Hà Nội). Năm 1396, ông đỗ Thái học sinh. Đến năm 1429, đỗ khoa
Minh kinh. Làm quan đến Trị quốc sử viện, rồi ra làm An Phủ sứ ở Thiên Trường và giữ chức
Quốc tử giám bác sĩ. Ông còn để lại các tác phẩm giá trị: Việt âm thi tập; Đại Việt sử kí lục biên
(soạn năm 1445, gồm 10 quyển chép tiếp bộ Đại Việt sử kí của Lê Văn Hưu) từ đời Trần Thái
Tông (1225) đến lúc giặc Minh rút khỏi nước ta (1427).
Hà Nội, Quy
Nhơn
201
Phan Thành Tài
(1878 - 1916)
Nhà yêu nước, đảng viên Việt Nam Quang phục hội, quê làng Bảo An, huyện Điện Bàn, tỉnh
Quảng Nam. Là nhân vật tham gia tích cực vào phong trào Duy tân tự cường tại Quảng Nam.
Ông từng làm giáo sư Pháp văn tại các nghĩa thục Diên Phong, Quảng Cái. Năm 1908, phong
trào Duy tân bị khủng bố trắng, các chiến sĩ bị lưu đày Lao Bảo, Côn Đảo, ông bị bắt giam tại
nhà lao Quảng Nam (Hội An). Ông là một trong các nhân vật quyết định cuộc khởi nghĩa Duy
Tân do Trần Cao Vân và Thái Phiên lãnh đạo. Cuộc khởi nghĩa bị bại lộ, các chiến hữu bị thảm
sát, ông trốn thoát, ẩn ở miền Hiên, Giằng thuộc miền Tây Quảng Nam một thời gian ngắn. Sau
đó bị thực dân bắt về xử trảm tại Vĩnh Điện ngày 9/6/1916.
Đà Nẵng
65
202
Phan Thúc Duyện
(1873 - 1944)
Nhà yêu nước, yếu nhân của phong trào Duy tân 1908, còn gọi là Phan Diện, quê làng Phong
Thử, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Sau khi đỗ Cử nhân, ông không ra làm quan mà tích cực
thực hành duy tân tự cường tại quê nhà cùng với các đồng chí là Trần Quí Cáp, Phan Châu Trinh.
Năm 1908 phong trào Duy tân bị đàn áp, ông và các chiến sĩ khác bị bắt lưu đày Côn Đảo vô thời
hạn. Về đến Huế, ông bị thực dân Pháp và triều đình Huế cưỡng bức lưu trú tại Quảng Bình, hơn
10 năm. Sau đó được về sống ở bản quán. Ông mất ngày 3/10/1944 tại quê nhà.
TP.HCM, Đà
Nẵng
203
Phan Văn Trị
(1830 - 1910)
Chí sĩ yêu nước, quê ở huyện Giồng Trôm tỉnh Bến Tre. Năm 19 tuổi, ông đỗ Cử nhân,
nhưng không ra làm quan. Khi Pháp chiếm Gia Định, ông cùng sĩ phu yêu nước đề xướng phong
trào chống Pháp, rồi lui về vùng đồng bằng sông Cửu Long tích cực cổ động nhân dân tham gia
kháng chiến. Khi Pháp chiếm miền Tây, ông lui về huyện Phong Điền, Cần Thơ, ở ẩn dạy học,
cảm hoá được nhiều người theo giặc trở về với nhân dân, giữ tiết tháo trong thời mất nước. Ông
để lại nhiều bài thơ khích động lòng yêu nước, lời lẽ đầy tính chiến đấu, giữ vững khí tiết và
những bài thơ họa lại với Tôn Thọ Tường nhằm lên án những kẻ cam tâm làm tay sai cho giặc.
Cần Thơ,
TP.HCM, Hà
Nội, Quy Nhơn...
204
Phan Xích Long
(1893 - 1916)
Chiến sĩ chống Pháp ở Sài Gòn, ông in truyền đơn rải khắp các chợ Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia
Định... kêu gọi nhân dân nổi lên chống Pháp giành độc lập. Ông từng bị bắt ở Phan Thiết và kết
án khổ sai, giam ở khám lớn Sài Gòn làm chấn động các thành phần yêu nước và giới giang hồ
mã thượng. Năm 1916, nhân dân phá ngục cứu ông nhưng Pháp thẳng tay khủng bố giết chết tại
trận nhiều chiến sĩ và thường dân. Sau đó đưa ra tòa kết tội tử hình 38 người, trong đó đứng đầu
là ông. Ông bị xử bắn tại Đồng Tập Trận vào ngày 22/2/1916.
TP.HCM
205
Phó Đức Chính
(1907 - 1930)
Chí sĩ yêu nước, lãnh tụ Việt Nam Quốc dân đảng; quê ở làng Đa Ngưu, nay thuộc huyện
Mỹ Văn, tỉnh Hưng Yên. Thuở thiếu thời ông học ở Hà Nội, tốt nghiệp Cao đẳng Công chánh,
được bổ làm Cán sự tại Lào. Năm 1928, ông liên hệ với Nguyễn Thái Học, tổ chức thành lập Việt
Nam Quốc dân đảng, phụ trách công tác an ninh cán bộ. Sau vụ ám sát tên thực dân Bazin ở Hà
Nội, ông bị bắt tại Lào, rồi đưa về giam ở Hoả Lò và bị bãi chức. Ra tù, ông tích cực hoạt động bí
mật chống Pháp. Ông trực tiếp chỉ huy cuộc khởi nghĩa Yên Bái. Thất bại, ông bị địch bắt tại
Nam Oai ngày 15/2/1930. Chúng tra tấn dã man, rồi đưa ông ra pháp trường hành hình tại Yên
Bái cùng với Nguyễn Thái Học và 11 chiến hữu khác.
Đà Nẵng,
TP.HCM, Huế,
Quy Nhơn..
206
Phù Đổng
Thiên Vương
(Thời đại Hùng Vương)
Nhân vật huyền sử thời Hùng Vương dựng nước. Ông sinh ra trong một gia đình nông dân
nghèo tại làng Gióng (làng Phù Đổng), huyện Gia Lâm, Hà Nội. Theo lời kêu gọi của nhà vua
tìm người tài ra giúp nước đánh giặc Ân, cậu bé Gióng vươn vai đứng dậy trở thành một người
anh hùng, cưỡi ngựa sắt, nhổ tre làng làm vũ khí xông ra trận đánh đuổi quân giặc. Đất nước
thanh bình, anh hùng Gióng cưỡi ngựa sắt vút thẳng về trời. Nhân dân tôn ông là Phù Đổng
Thiên Vương, phong là Thánh. Ông là một trong Tứ thánh bất tử của Việt Nam, được tôn vinh
như một biểu tượng của truyền thống anh hùng chống ngoại xâm của dân tộc Việt.
Đà Lạt,
TP.HCM, Quy
Nhơn
66
207
Phùng Hưng
(761 - 802)
Đại vương, quê ở làng Đường Lâm, Sơn Tây, Hà Nội. Ông dòng dõi Quan lang, tính hào
hiệp, được nhân dân mến phục. Năm 789, nhân Thứ sử nhà Đường bạo ngược, ông dấy binh
chống đối. Năm 791, khởi nghĩa thành công, nhân dân suy tôn ông là Bố Cái Đại Vương. Về sau,
các triều đại đều có truy phong và xây dựng đền thờ tưởng nhớ ông tại Đường Lâm.
Hà Nội, Đà
Nẵng, Quy Nhơn
208
Phùng Khắc Khoan
(1528 - 1613)
Danh sĩ đời Lê, quê ở làng Bùng, huyện Thạch Thất, Hà Tây, nay là Hà Nội. Ông nổi tiếng
thơ văn, tính khí khảng khái hào hùng. Là người có công phò tá triều Lê Trung Hưng dẹp nội
loạn. Năm 1580, ông thi đỗ Hoàng giáp tiến sĩ, làm quan đến chức Thượng thư Bộ Hộ, tước Mai
Lĩnh Hầu sau gia phong Mai Quận công. Ông được vua Lê nhiều lần cử đi sứ sang Trung Quốc,
lại có tài đối đáp tôn vinh quốc thể khiến vua tôi nhà Minh càng kính nể. Ông còn tích cực xây
dựng quê hương làng xóm, dạy cho dân làng Bùng biết khai mương dẫn thuỷ, biết trồng giống
ngô mới, đem nghề dệt lụa về cho dân làng. Năm 1613, ông mất, nhân dân làng Bùng lập đền thờ
truy tôn ông làm Phúc thần. Ông để lại các tác phẩm chính: Nghị Trai thi tập, Ngôn chí thi tập,
Phùng Khắc Khoan thi tập, Nông sự tiện lãm, Ngư phủ nhập đào nguyên,…
Hà Nội,
TP.HCM, Quy
Nhơn..
209
Sử Hy Nhan
(TK XIV)
Nhà sử học đời Trần, vốn họ Trần nhưng được vua ban họ Sử. Quê ở huyện Can Lộc, tỉnh Hà
Tĩnh, ông nổi tiếng văn thơ và làu thông kinh sử. Ông đỗ đầu kì thi Hội năm Quý Mão (1363),
làm quan đến chức Hành khiển tri kinh diên, tức quan chức trông nom việc giảng sách kinh sử
cho vua. Ông phục vụ 3 triều vua Trần Dụ Tông, Trần Nghệ Tông và Trần Duệ Tông. Trong
Quần hiền phú tập còn ghi lại một bài phú Trảm xà kiếm (Gươm chém rắn) của ông, từ nội dung
đến hình thức đều đặc sắc, cùng với "Hịch tướng sĩ văn" của Trần Quốc Tuấn, bài phú này đã
làm cho tư tưởng vương đạo của thời Trần được biểu hiện khá đầy đủ. Ông được coi là một trong
những tác giả văn xuôi chữ Hán hiếm hoi của lịch sử văn chương Việt Nam thời kỳ đầu.
TP.HCM
210
Sư Vạn Hạnh
(929 - 1018)
Thiền sư đời Tiền Lê, họ Nguyễn, Vạn Hạnh là pháp danh. Quê ở làng Cổ Pháp, phủ Từ
Sơn, Bắc Ninh, được nhân dân tôn gọi là Sư Vạn Hạnh. Ông là người tinh thông Tam giáo, sùng
đạo Phật. Năm 21 tuổi, ông vào tu ở chùa Lục Tổ, Bắc Ninh. Ông quan tâm đến các biến cố
chính trị, quân sự trong thời ấy. Vua Lê Đại Hành quí trọng, xem ông như cố vấn tối cao, thường
lắng nghe ý kiến đóng góp của ông trong việc chống ngoại xâm. Nhận thấy sự suy vong của nhà
Tiền Lê qua tay Lê Ngọa Triều, ông đã ủng hộ Lý Công Uẩn dứt nhà Tiền Lê dựng nên nhà Lý.
Khi Lý Công Uẩn lên ngôi, ông được trọng đãi, phong làm Quốc sư. Ông đóng góp cho triều
đình nhà Lý nhiều ý kiến tâm huyết để phát triển đất nước. Ông đã nối truyền tâm ấn, trở thành
thế hệ thứ mười hai, dòng thiền Nam Phương.
TP.HCM, Hà
Nội
211
Tạ Hiện
(1841 - 1893)
Anh hùng kháng Pháp, còn có tên Tạ Quang Hiện, quê xã Quan Lang, huyện Thái Thụy, tỉnh
Thái Bình. Ông đỗ Tú tài Võ, làm Đốc binh quân sự Tuyên Quang, từng cùng Lưu Vĩnh Phúc
dẹp các đám thổ phỉ vùng núi. Năm 1882, ông được thăng làm Đô đốc. Đến năm 1883, do áp lực
của Pháp triều đình buộc ông bãi binh. Ông không tuân lệnh, tập hợp nghĩa quân dấy lên kháng
chiến, sát cánh với Nguyễn Thiện Thuật đánh Pháp tại các tỉnh Tuyên Quang, Thái Nguyên. Năm
Hà Nội
67
1887, ông bị giặc bắt ở Bình Bắc. Ông vượt ngục trốn thoát, sau đó tiếp tục huy động nghĩa quân
kháng chiến ở vùng Đông Triều, Móng Cái. Sau một thời gian ông mất.
212
Tạ Quang Cự
(1771 - 1862)
Danh tướng triều Nguyễn, quê gốc Nghệ An, sau dời về ở huyện Phú Vang, Thừa Thiên. Ông
lập chiến công hiển hách giữ vững miền Nghệ Tĩnh, chống lại quân Xiêm xâm lược, được phong
làm Phòng ngự sứ trấn thủ ở Trấn Ninh. Đến năm 1830, thăng Tổng đốc An Tịnh kiêm lãnh Tuần
vũ Nghệ An. Năm 1838, vua Minh Mạng truyền dựng bia Võ công ở trước sân Võ miếu tại Kinh
đô, bia ghi tên 20 danh tướng, tên ông đứng hàng thứ 11. Sang đời Thiệu Trị, ông được gia
phong Thái bảo, kiêm quản Hậu quân. Đầu đời Tự Đức, ông lại kiêm quản Tả quân, rồi về hưu.
Thừa Thiên Huế
đã đưa vào Ngân
hàng tên đường
213
Thái Phiên
(1882 - 1916)
Nhà yêu nước chống Pháp, quê ở Hoà Vang, Đà Nẵng. Năm 1903, ông tham gia phong trào
Duy tân, Đông du. Năm 1908, tham gia phong trào chống thuế ở Trung Kỳ. Năm 1913, ông liên
lạc với các đồng chí thuộc tổ chức cơ sở Việt Nam Quang Phục hội tại Quảng Nam, Quảng Ngãi,
Bình Định… Đầu năm 1916, ông gặp vua Duy Tân, nhà vua tán thành kế hoạch lật đổ Pháp.
Nhưng kế hoạch khởi nghĩa bị tiết lộ, ông cùng Trần Cao Vân, vua Duy Tân và nhiều người nữa
bị Pháp bắt. Ngày 17/5/1916, ông và các đồng chí bị Pháp xử chém ở An Hoà, Huế.
Đà Nẵng,
TP.HCM, Quy
Nhơn
214
Thân Nhân Trung
(1418 - 1499)
Danh thần đời Lê, quê huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang. Năm 1469, đỗ Tam giáp đồng Tiến
sĩ, làm Thị độc Viện Hàn lâm, sau kiêm Tế tửu Quốc tử giám, rồi thăng Thượng thư Bộ Lại. Ông
là Phó nguyên súy Hội Tao đàn, từng bình thơ ngự chế và họa thơ. Ông là người đầu tiên viết bài
bia năm 1484 với câu văn vượt thời gian: “Nhân tài là nguyên khí quốc gia mà khoa cử là con
đường rộng mở của học trò”, trở thành bất hủ của văn hóa, giáo dục, tư tưởng Việt Nam. Ông để
lại nhiều tác phẩm, trong đó nổi bật là bộ: Thiên Nam dư hạ tập, ghi chép về các điển mô, chế
lục, quan chức, điều lệ của bản triều.
Đà Nẵng, Quy
Nhơn
215
Thi Sách
( ? - 39)
Nghĩa sĩ đời Trưng Vương, người huyện Chu Diên, quận Giao Chỉ. Năm 20 tuổi ông cưới vợ
là Trưng Trắc, hai nhà thuộc tầng lớp giàu có trong vùng. Thuở ấy nước ta bị nhà Hán đô hộ, bất
bình trước thân phận người dân mất nước. Ông vận động dân chúng nổi lên chống chế độ cai trị
của nhà Hán, ông bị Thái thú Tô Định bắt giết năm 39.
Hà Nội, Đà
Nẵng, TP.HCM,
Đà Lạt, Quy
Nhơn...
216
Thoại Ngọc Hầu
(1761 - 1829)
Danh thần thời Nguyễn, quê ở làng An Hải, huyện Điện Bàn, Quảng Nam, nay là quận Sơn
Trà, Đà Nẵng, tên thật là Nguyễn Văn Thoại. Ông theo phò tá các vua đầu triều Nguyễn, lập
được nhiều công lớn, được phong tước Thoại Ngọc Hầu và trở thành tên gọi quen thuộc. Năm
1820, ông chỉ huy quân dân đào hai con kinh lớn là kinh Vĩnh Tế và Đông Xuyên, là những công
trình doanh điền, thủy lợi, vừa phục vụ giao thông vận tải đường sông và quốc phòng ở biên giới
Tây Nam, đem lại lợi ích lớn cho nhân dân miền Tây Nam Bộ.
TP.HCM, Quy
Nhơn
217
Thủ Khoa Huân
(hay Nguyễn Hữu
Chí sĩ yêu nước, tên thật là Nguyễn Hữu Huân, quê ở Mỹ Tho, Tiền Giang. Năm 1852, ông
đỗ thủ khoa kỳ thi Hương nên tục gọi là Thủ Khoa Huân, làm giáo thụ huyện Kiến Hưng, Định
TP.HCM, Phan
Thiết, Bình
68
Huân)
(1816 - 1875)
Tường. Giặc Pháp xâm chiếm Nam Kỳ, ông đứng vào hàng ngũ kháng chiến, phối hợp với Võ
Duy Dương tích cực chống Pháp, hoạt động ở vùng Tân An, Mỹ Tho, Đồng Tháp Mười… Ông
bị giặc Pháp bắt cả thảy 3 lần, chúng tìm cách dụ hàng, nhưng không khuất phục được ông, thoát
ra ông vẫn cương quyết đánh đuổi giặc. Cuối cùng chúng đưa ông ra pháp trường hành quyết,
nhưng ông đã cắn lưỡi tự tử, ông mất năm 1875.
Dương, Quy
Nhơn
…
218
Tô Hiến Thành
(? - 1179)
Danh thần đời Lý, quê ở làng Hạ Mỗ, huyện Đan Phượng, tỉnh Hà Tây, nay là Hà Nội. Ông là
người tài kiêm văn võ, có công đánh dẹp nội loạn bình định trong nước, đánh đuổi ngoại xâm mở
nước vào phía Nam, được phong Thái uý. Là người hết lòng sửa sang chính trị, mở mang văn
hoá, sau làm đến Thái phó, được phong tước Vương, Đại thần nhiếp chính. Ông hết lòng trung
với vua với nước, tính tình cương trực, sống thanh liêm mực thước, không kéo bè kết đảng, một
đời vì nhân dân.
TP. HCM, Đà
Nẵng, Huế, Vũng
Tàu, Quy Nhơn...
219
Tôn Đản
(1046 - ?)
Danh tướng thời nhà Lý. Ông quê ở Cao Bằng, là tướng tài đời Lý Nhân Tông. Vào năm
1075, nhà Tống chuẩn bị quân sĩ, lương thực thuyền bè sang đánh nước ta. Được tin cấp báo, vua
Nhân Tông sai Lý Thường Kiệt và ông đem 10 vạn quân sang đất Tống đánh phủ đầu trước. Lý
Thường Kiệt dẫn đại quân đánh lấy châu Khâm, châu Liêm (thuộc tỉnh Quảng Đông), còn ông
vây đánh châu Ung (thuộc tỉnh Quảng Tây). Tướng giữ thành của nhà Tống là Tô Giam không
chịu hàng, nhưng cuối cùng dưới sức tấn công do Tôn Đản chỉ huy, Tô Giam phải tự thiêu mà
chết. Quân ta đánh châu Ung đến 40 ngày mới hạ được thành, mà công đầu là do tài chỉ huy của
Tôn Đản và Lý Thường Kiệt.
Đà Nẵng, Hà
Nội, Hải Phòng,
TP. HCM, Quy
Nhơn
220
Tôn Thất Đạm
(1866 - 1888)
Nhà yêu nước chống Pháp, con Phụ chánh Tôn Thất Thuyết, sinh quán tại Thừa Thiên Huế,
còn có tên là Tôn Thất Đàm. Ông là người có chí lớn, khi kinh thành Huế thất thủ năm 1885, ông
theo cha bảo vệ vua Hàm Nghi ra Sơn phòng Quảng Trị. Năm 1886, ông nhận chức Khâm sai
Tán Lý quân vụ, đóng quân ở vùng Hà Tĩnh, giữ việc liên lạc giữa nhà vua với các lực lượng
nghĩa quân ở vùng này. Ông lo việc bảo vệ nhà vua và chỉ huy các cuộc phản công đánh trả quân
Pháp trên các trận tuyến thuộc Sơn phòng Quảng Bình, Hà Tĩnh. Sau khi vua Hàm Nghi bị bắt,
ông đã uống thuốc tự tử.
Hà Nội, Đà
Nẵng, TP.HCM,
Quy Nhơn
221
Tôn Thất Thiệp
(1870 - 1888)
Nhà yêu nước chống Pháp, con Phụ chánh Tôn Thất Thuyết, sinh quán tại Thừa Thiên Huế,
còn có tên là Tôn Thất Tiệp. Tuy tuổi còn nhỏ nhưng có chí lớn, khi kinh thành Huế thất thủ
(1885), ông cùng cha và anh là Tôn Thất Đạm tham gia làm cận vệ vua Hàm Nghi, chỉ huy các
cuộc phản công đánh trả quân Pháp. Ông nỗ lực bảo vệ vua nhưng bất thành và anh dũng hy sinh
năm 1888. Ông là tấm gương yêu nước hy sinh oanh liệt vì dân tộc.
Hà Nội, Huế, Đà
Nẵng, TP.HCM,
Quy Nhơn
222
Tôn Thất Thuyết
(1835 - 1913)
Nhà yêu nước, quê ở làng Vạn Xuân, thành phố Huế. Ông xuất thân võ tướng, năm 1873,
giúp Hoàng Kế Viêm và Lưu Vĩnh Phúc đánh thắng trận Cầu Giấy, giết được tên sĩ quan Pháp
Francis Garnier. Năm 1875, ông đánh trận Sơn Tây bắt sống tướng giặc Cờ vàng Hoàng Sùng
Anh, được thăng Hữu tham tri Bộ Binh. Năm 1881, làm Thượng thư Bộ Binh. Ông đứng đầu phe
TP.HCM, Hà
Nội…
69
chủ chiến đánh Pháp, quyết định đưa Ưng Lịch lên ngôi vua, tức Hàm Nghi. Tháng 7/1885, kinh
thành Huế thất thủ, ông đưa vua Hàm Nghi xuất cung ra Tân Sở, Quảng Trị, phát động phong
trào Cần Vương kháng Pháp. Sau ông sang Trung Quốc cầu viện, nhưng không thành. Ông mất
năm 1913, hưởng thọ 78 tuổi.
223
Tống Duy Tân
(1837 - 1892)
Nhà yêu nước chống Pháp, quê ở huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Năm 1870 ông đỗ Cử
nhân, năm 1775 đỗ Tiến sĩ, được bổ làm Tri phủ Vĩnh Tường, rồi làm Đốc học Thanh Hóa, sau
làm Chánh sứ Sơn phòng tỉnh Thanh Hóa. Năm 1885, hưởng ứng phong trào Cần vương, ông
lãnh đạo nghĩa quân khởi nghĩa chống Pháp ở Thanh Hóa. Đến năm 1892, ông bị thực dân Pháp
vây bắt và bị kết án tử hình.
Đà Nẵng
224
Tống Phúc Trị
(TK XVI)
Danh sĩ thời Nguyễn, quê huyện Tống Sơn, tỉnh Thanh Hóa, sau dời vào ở Thừa Thiên. Ông
tài gồm văn võ, làm Trấn thủ Thuận Hóa khoảng cuối đời Hậu Lê tước Luân Quận Công. Khi
cầm quyền thường chăm lo đời sống nhân dân nên nhiều người đương thời mến phục, xưng tặng
là Bản Xứ Công. Khi chúa Tiên (Nguyễn Hoàng) chiếm Thuận Hóa chống đối với Chúa Trịnh,
ông theo giúp Nguyễn Hoàng, lập nhiều công trạng. Khi ông mất được truy tặng Tán trị công
thần, Thượng trụ quốc Luân Quốc Công. Đến đời Nguyễn, liệt thờ ông vào hàng Khai quốc công
thần.
Huế
225
Trần An Tư
(1267 - 1285)
Công chúa, con út vua Trần Thánh Tông. Năm 1285, quân Nguyên Mông xâm lấn nước ta.
Vua Nhân Tông đem công chúa An Tư gả cho Thoát Hoan nhằm dùng kế hoãn binh kìm chân
giặc để triều đình chuẩn bị lực lượng kháng chiến. Chẳng bao lâu sau, dưới sự chỉ huy của Hưng
Đạo vương Trần Quốc Tuấn, quân cướp nước đã bị dẹp tan, trong đó có sự đóng góp không nhỏ
của công chúa An Tư, người đã hy sinh vì nước.
Quy Nhơn
226
Trần Bình Trọng
(1259 - 1285)
Danh tướng thời Trần, quê huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá. Ông thuộc dòng dõi Lê Đại
Hành. Cha làm quan đời Trần Thái Tông, được ban họ vua. Năm 1285, quân Nguyên xâm lược
Đại Việt. Triều đình rút khỏi Thăng Long lánh về Thiên Trường (Nam Định). Giặc rượt đuổi
theo, tới bãi Đà Mạc, ông đem quân chặn đánh, chẳng may bị giặc bắt. Bị tra khảo, ông không trả
lời. Chúng tìm cách dụ dỗ: "Có muốn làm vương đất Bắc không?” Ông thét to: "Ta thà làm quỷ
nước Nam, chứ không thèm làm vương đất Bắc". Ông bị giặc sát hại.
Hà Nội,
TP.HCM, Đà
Nẵng, Quy
Nhơn,…
227
Trần Cảnh
(1685 - 1757)
Danh sĩ đời Lê, quê làng Điển Trì, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Năm 1718, ông đỗ Tiến
sĩ là người có tài về nông nghiệp nên được bổ làm Khuyến nông sứ thuộc hai huyện Nam Sách
và Kinh Môn. Sau về kinh làm Thượng thư bộ Hình, tước Diệu Quận Công, đến năm 70 tuổi mới
về ở ẩn. Tác phẩm chính của ông là quyển Minh nông phả ghi chép sự chiêm nghiệm về mối liên
quan giữa thời tiết, khí tượng trong sản xuất nông nghiệp.
Hải Dương
228
Trần Danh Lâm
(1704 - 1776)
Danh sĩ đời Lê Thuần Tông, tự Khiêm Trai, quê làng Bảo Triện, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc
Ninh. Ông xuất thân trong một gia đình khoa bảng, cha con, anh em đều đỗ đại khoa. Năm 1731,
TP.HCM
70
ông đỗ Tiến sĩ. Ông tài gồm văn võ, từ năm 1740, ông làm Đốc đồng ở Cao Bằng, sau thăng làm
Hiệu lí ở Viện Hàn lâm được phong tước Du Nhạc Bá. Trên đường làm quan ông dày công chăm
lo việc chính trị, giữ vững bờ cõi, mở mang văn hóa, nên được triều đình tấn phong tước Dư
Nhạc Hầu. Ngoài một quan cai trị, ông còn là một nhà văn sáng giá đương thời, tác phẩm ông
phần lớn bị thất truyền. Hiện chỉ còn bộ Hoan Châu phong thổ kí là một bộ địa chí về xứ Nghệ
Tĩnh xưa rất có giá trị.
229
Trần Danh Ninh
(1703 - 1767)
Danh sĩ đời Lê, quê làng Bảo Triều, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh. Ông nổi tiếng văn thơ,
năm 20 tuổi đỗ Giải Nguyên, năm 1371 đỗ Hoàng Giáp. Làm Thị giảng Viện Hàn lâm, sau thăng
Đông Các đại học sĩ, công tác ở Viện Khu mật. Năm 1767, ông mất tại quê nhà, thọ 64 tuổi.
Hà Nội
230
Trần Khánh Dư
(1270 - 1339)
Danh tướng đời Trần, quê ở huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Xuất thân trong một gia đình
tướng soái, ông từ nhỏ đã mê sách vở, giỏi binh thư, đánh trận cừ tài được phong Phiên kỵ Đại
tướng quân, tước Thượng Vị Hầu. Năm 1288, trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần
thứ ba, ông chỉ huy cánh quân đóng ở Vân Đồn (Quảng Ninh), đoàn quân lương của giặc vượt
qua bến Vân Đồn, ông chỉ huy toàn quân đánh một trận oanh liệt, diệt và bắt sống được vô số
tướng tá binh lính, thu nhiều chiến lợi phẩm. Chiến thắng Vân Đồn làm nức lòng quân sĩ, góp
phần làm nên đại cuộc đánh thắng quân Nguyên Mông.
TP.HCM, Đà
Nẵng, Đà Lạt,
Quy Nhơn…
231
Trần Khát Chân
(1370 - 1399)
Danh tướng đời Trần, quê làng Hà Lăng, huyện Vĩnh Ninh (nay thuộc huyện Vĩnh Lộc, tỉnh
Thanh Hoá). Ông có tài quân sự. Năm 1389, quân Chiêm Thành vào đánh phá Thanh Hoá. Ông
được Thượng hoàng Nghệ Tông cử làm tướng đi đuổi giặc, ông ra quân dũng mãnh giết vua
Chiêm là Chế Bồng Nga, đẩy lui quân Chiêm Thành. Được phong làm nội vệ Thượng tướng
quân và được ban Thái ấp ở phía Nam kinh thành Thăng Long. Năm Kỷ Mão (1399), nhân Hồ
Quý Ly giết Trần Thuận Tông và có ý lật đổ nhà Trần. Ông lập mưu với các vương hầu và dũng
sĩ định ám sát Hồ Quý Ly, nhưng việc bại lộ, ông và cả nhóm gồm 370 người đều bị giết. Đời
sau có nhiều thơ văn ca ngợi Tiết Nghĩa của ông.
Đà Nẵng, Hà
Nội…
232
Trần Nguyên Đán
(1325 - 1390)
Danh sĩ thời nhà Trần, quê làng Tức Mặc, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định. Được bổ dụng từ
ngày còn rất trẻ, đời Trần Dụ Tông ông làm Ngự sử Đại phu, đến đời Trần Nghệ Tông được bổ
làm Đại Tư đồ, tước Chương Túc Hầu. Ông là người hết mình vì triều đại, luôn lo lắng trước sự
lấn vua soán ngôi của Thái sư Hồ Quí Ly. Năm 1385, ông chán đường công danh lui về Côn Sơn
trí sĩ, viết văn, soạn lịch pháp, kiến thiết vùng động Thanh Hư thành một danh lam nổi tiếng. Tác
phẩm chính để lại: Băng Hồ ngọc phác tập và Bách thế thông kỷ.
Huế, Đà Nẵng,
Quy Nhơn…
233
Trần Nguyên Hãn
(1390 - 1429)
Danh tướng đời Lê, quê ở làng Tức Mặc, tỉnh Nam Định. Khi giặc Minh cướp nước ta, ông
cùng Nguyễn Trãi từ Đông Kinh vào Lam Sơn theo Lê Lợi kháng chiến cứu nước. Ông lập được
nhiều chiến công, thăng đến chức Tư đồ. Trải qua nhiều năm chỉ huy cầm quân, ông từng đánh
thắng lớn ở Nghệ An, Tân Bình, Thuận Hoá (1425), trận Đông Đô (1426), danh tiếng lẫy lừng.
Năm 1427, ông được phong Thái uý. Khởi nghĩa Lam Sơn thắng lợi, vua Lê bổ ông làm Tả
Hải Phòng, Huế,
Nha Trang, Quy
Nhơn…
71
tướng được ban quốc tánh nên gọi là Lê Hãn.
234
Trần Nhật Duật
(1255 - 1331)
Danh tướng thời Trần, quê làng Tức Mặc, tỉnh Nam Định. Ông thông minh từ nhỏ, sớm giỏi
quân sự, nhạy cảm chính trị, am tường văn hoá, lịch sử, phong tục tập quán, biết nhiều thứ tiếng
của các dân tộc thiểu số nước ta. Năm 1280, ông cầm quân đi đánh dẹp loạn tù trưởng ở đạo Đà
Giang. Năm 1285, chỉ huy quân sĩ đánh thắng quân Nguyên - Mông tại trận Hàm Tử, danh tiếng
ông lẫy lừng. Năm 1302, ông được phong Thái úy Quốc công, sau thăng lên Tá Thánh Thái Sư.
Năm 1329, được tấn phong Đại Vương. Ông làm quan trải qua bốn triều vua Nhân Tông, Anh
Tông, Minh Tông và Hiến Tông, công trạng tột bậc kể cả đánh giặc, xây dựng quê hương vỗ về
dân chúng yên bình. Ngoài ra ông còn là một nhà văn, nhà ngôn ngữ học, nhà sáng tác âm nhạc
cung đình nổi tiếng thời ấy.
TP.HCM, Nha
Trang, Đà Lạt,
Quy Nhơn…
235
Trần Quang Khải
(1241 - 1294)
Danh tướng đời Trần, quê làng Tức Mặc, tỉnh Nam Định. Ông là em ruột vua Trần Thánh
Tông, học rộng biết nhiều, tài kiêm văn võ, giỏi việc cầm quân đánh giặc. Năm 1271, giữ chức
Tướng quốc Thái úy tước Đại Vương, được giao nhiệm vụ xây dựng lực lượng tại Nghệ An, rồi
thăng đến Thượng tướng Thái sư vào triều Nhân Tông (1279 - 1293). Trong cuộc kháng chiến
chống Nguyên - Mông xâm lược, ông cùng Trần Quốc Tuấn và các tướng sĩ lập được nhiều chiến
công vang dội. Sau đại thắng quân Nguyên-Mông, từ chiến trường trở về kinh đô ông cảm khái
viết bài thơ Tụng giá hoàn kinh đô, bài thơ như một bản anh hùng ca của dân tộc. Ông để lại tập
thơ Lạc Đạo lưu truyền trong dân gian.
Huế, Cần Thơ,
TP.HCM, Quy
Nhơn…
236
Trần Quý Cáp
(1870 - 1908)
Chí sĩ yêu nước, quê ở thôn Thai La, huyện Điện Bàn, Quảng Nam. Ông thi đỗ Tiến sĩ năm
1904, được bổ làm Giáo thụ huyện Thăng Bình, rồi đổi sang dạy học ở Diên Khánh, Khánh Hoà.
Ông nhiệt tình yêu nước, hưởng ứng phong trào Cần Vương, cổ vũ phong trào Đông du, tích cực
hoạt động Duy tân, nâng cao dân trí, dân sinh, kêu gọi học chữ Quốc ngữ, chữ Pháp, chống lối
học từ chương thi cử theo lối cũ, nên được sĩ phu kính trọng. Năm 1905, ông cùng Phan Bội
Châu, Huỳnh Thúc Kháng làm bài thơ: “Chí thành thông thánh” và bài phú “Danh sơn lương
ngọc” khích động lòng yêu nước của trí thức, gây ảnh hưởng lan rộng khắp toàn quốc được mọi
giới quan tâm. Năm 1908, phong trào Duy tân ở Trung kỳ lên cao, thực dân Pháp thẳng tay đàn
áp khủng bố trắng, Trần Quí Cáp bị bắt giam, rồi bị kết án tử hình.
TP.HCM, Quy
Nhơn
237
Trần Quý Khoáng
(? - 1414)
Vua nhà hậu Trần, cháu nội vua Trần Nghệ Tông. Quê ở làng Tức Mặc, huyện Mĩ Lộc, tỉnh
Nam Định. Khi quân Minh xâm lược, ông được Đặng Dung và Nguyễn Cảnh Dị đón vào Nghệ
An tôn lên làm vua năm Kỷ Sửu, lấy hiệu là Trùng Quang Đế. Năm 1413, Trương Phụ đem quân
đánh Nghệ An, ông lui vào Hoá Châu, sai Nguyễn Biểu đến trại Trương Phụ điều đình. Nguyễn
Biểu bị giết, ông và tướng Đặng Dung bị bắt, Đặng Dung bị giết, còn ông thì chúng giải về Trung
Quốc cùng với tướng Nguyễn Suý. Trên chiến thuyền giải đi, ông nhảy xuống biển tự tử năm
1414.
TP.HCM, Quy
Nhơn, Huế
72
238
Trần Quốc Toản
(1267 - 1285)
Danh tướng thời nhà Trần, Năm 1282, lúc mới 15 tuổi, được tin quân Nguyên - Mông sang
cướp nước ta, ông tập hợp đám bạn thiếu niên thân thuộc, sắm sửa vũ khí, may cờ hiệu đề 6 chữ:
“Phá cường địch, báo hoàng ân”, rồi tự dẫn binh ra trận đánh giặc. Ông cùng các chiến binh tham
dự vào nhiều trận đánh lớn, từng có lúc theo Thượng tướng Trần Quang Khải, góp phần vào
chiến thắng Chương Dương vang dội trong lịch sử chống Nguyên Mông. Trong một trận đánh
không cân sức, ông bị trọng thương và hy sinh năm 1285. Vua Trần Nhân Tông thương tiếc, truy
phong tước Hoài Văn Vương. Ông là vị tướng trẻ nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân
tộc, nêu tấm gương anh hùng yêu nước tiêu biểu của tuổi trẻ Việt Nam.
Hà Nội, Đà
Nẵng, TP.HCM,
Quy Nhơn…
239
Trần Thủ Độ
(1191 - 1264)
Thái Sư thời nhà Trần, quê làng Lưu Xá, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Ông là người có
công sáng lập ra triều Trần, là công thần thực tế nắm quyền lãnh đạo đất nước những năm đầu
triều Trần (1226-1264). Bằng tài năng, uy tín của mình, ông đã củng cố nước Việt vững mạnh cả
về chính trị, kinh tế, quân sự... Ông có vai trò rất quan trọng trong thắng lợi của cuộc kháng chiến
chống Nguyên Mông lần thứ nhất (1258), lưu danh với câu nói bất hủ: “Đầu tôi chưa rơi xuống
đất, xin bệ hạ đừng lo”. Ông đã đưa nước nhà qua khỏi cuộc suy vong cuối triều Lý và khởi dựng
nên thời đại Đông A rực rỡ những chiến công oanh liệt chống ngoại xâm và những thành tựu xây
dựng đất nước.
Hà Nội, Đà
Nẵng, TP. HCM,
240
Trần Xuân Soạn
(1849 - 1923)
Nhà yêu nước kháng Pháp, danh tướng Cần Vương, quê làng Thọ Hạc, huyện Đông Sơn, tỉnh
Thanh Hoá. Ông là người nhanh nhẹn, trong quân ngũ ông lập được nhiều chiến công, được
thăng Đề đốc. Năm 1885, kinh thành Huế thất thủ, ông cùng Tôn Thất Thuyết phò vua Hàm Nghi
ra Sơn phòng Quảng Trị, sau ra Hà Tĩnh. Ông được giao nhiệm vụ, xây dựng lực lượng, lãnh đạo
phong trào Cần Vương ở Thanh Hoá. Từ đấy ông liên lạc và mở rộng địa bàn ra các vùng phía
Bắc. Khi tình thế suy yếu, ông sang Long Châu, Trung Quốc tìm gặp Tôn Thất Thuyết, nhưng
mưu sự bất thành.
Hà Nội, Đà
Nẵng, TP.HCM,
Quy Nhơn
241
Triệu Việt Vương
(? - 571)
Danh tướng nhà Tiền Lý, tên thật là Triệu Quang Phục, sau xưng là Triệu Việt Vương, quê
ở Chu Diên, phủ Vĩnh Tường, nay là huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc. Năm 541, ông theo cha
là Thái phó Triệu Túc giúp Lý Bôn đánh đuổi quân nhà Lương. Năm 545, khởi nghĩa thành công,
ông được phong Tả tướng quân. Khi quân nhà Lương lại sang cướp nước ta, ông chống cự quyết
liệt, sau thế yếu phải lui binh rút về đóng bản doanh ở đầm Dạ Trạch, một vùng lau sậy um tùm,
hiểm trở thuộc huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên. Năm 548, Lý Bí mất, ông thay quyền lãnh
đạo, điều động binh dân kháng chiến cứu nước, tự xưng là Việt Vương. Năm 551, ông đem quân
đánh tan quân Lương thu phục thành Long Biên… Ông là một danh tướng tài ba có trái tim nhân
hậu, anh hùng chống ngoại xâm thế kỷ thứ VI của nước ta.
Đà Nẵng, Quy
Nhơn
242
Trịnh Hoài Đức
(1765 - 1825)
Danh sĩ thời Nguyễn, ông sinh ở Trấn Biên, Biên Hoà. Từ năm 1788, ông theo Nguyễn Ánh
làm Hàn Lâm viện chế cáo rồi làm quan Điền tuấn lo việc khai hoang. Đến khi Nguyễn Ánh lên
ngôi vua, ông càng được trọng dụng, nhiều lần đi sứ Trung Quốc, làm đến Thượng thư Bộ Hộ,
Hà Nội,
TP.HCM, Quy
73
Bộ Lễ, Bộ Lại kiêm bộ Hình và Phó tổng tài Quốc sứ quán, làm Hiệp Tổng trấn rồi Tổng trấn
Gia Định thành (1808-1820). Ông nổi tiếng văn chương một thời. Tác phẩm chính: Cấn trai thi
tập, Gia Định thành thông chí, Gia Định tam gia thi tập, Bắc sứ thi tập. Thơ Nôm của ông còn
được truyền tụng khá nhiều.
Nhơn
243
Trương Đăng Quế
(1794 - 1865)
Danh sĩ thời Nguyễn, người làng Mỹ Khê, tỉnh Quảng Ngãi. Ông là người đậu Hương Tiến
(Cử nhân) đầu tiên của Quảng Ngãi vào năm 1819. Ông làm quan từ thời Minh Mạng đến thời
Tự Đức và từng giữ nhiều chức vụ quan trọng: Thượng Thư Bộ Lễ, Hàm Hiệp Biện đại học sĩ,
rồi Văn Minh Điện đại học sĩ, gia Hàm Thái Bảo, Lãnh Thựơng Thư Bộ Binh, Sung Cơ Mật viện
đại thần, sau cùng được phong làm Thái Phó. Ông có lập trường chống Pháp, sống cuộc đời
thanh bạch. Sau khi mất, được truy tặng hàm Thái sư. Là bạn thơ tương đắc của Nguyễn Công
Trứ, ông còn để lại tập Quảng Khê Thi tập, gồm 4 quyển bằng chữ Hán.
TP.HCM
244
Trương Định
(1820 - 1864)
Anh hùng kháng Pháp, tên đầy đủ là Trương Công Định; quê gốc ở xã Tư Cung Bắc, huyện
Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi, theo cha vào ở Gia Định. Năm 30 tuổi, hưởng ứng chính sách khẩn
hoang của triều đình, ông chiêu mộ dân nghèo đến khai hoang lập ấp ở vùng Gia Thuận, Giồng
Tháp. Được phong chức Quản cơ, hàm Lục phẩm. Thực dân Pháp chiếm thành Gia Định và 3
tỉnh miền Đông Nam Bộ, ông lãnh đạo nghĩa binh đánh địch ở nhiều vùng làm cho quân Pháp
thiệt hại vô kể. Nghĩa quân của ông chiến đấu gan dạ, làm chủ cả một vùng rộng lớn. Đầu 1863,
Pháp huy động một lực lượng lớn binh lính mở cuộc tấn công vào căn cứ, ông đã chiến đấu anh
dũng và hy sinh oanh liệt năm 1864. Tuy cuộc khởi nghĩa thất bại, nhưng người anh hùng đánh
Pháp Trương Định vẫn bất tử trong lòng người dân yêu nước Việt Nam.
Huế, TP.HCM,
Quy Nhơn…
245
Trương Hán Siêu
(1274 - 1354)
Danh sĩ thời Trần, quê ở xã Ninh Thành, Ninh Bình. Ông là người thông minh, học rộng. Năm
1308, vua Trần Anh Tông phong ông làm Hàn Lâm học sĩ. Đời Minh Tông, giữ chức Hành
khiển. Đời Trần Dụ Tông năm 1339, ông làm Hữu ti Lang trung, sau đổi Tả Tư lang kiêm chức
Kinh Lược sứ, rồi thăng chức Gián nghị Đại phu tham chính sự (1345). Cùng với Nguyễn Trung
Ngạn hợp soạn bộ “Hoàng Triều Đại Điển” và bộ “Hình Luật Thư”. Ông nổi tiếng văn chương,
chính trị, làm quan trải bốn đời vua, làm thầy hai vua Hiến Tông và Dụ Tông. Ông cũng là người
có công lớn với Hoá Châu buổi đầu mở đất xuôi về Nam.
Hà Nội,
TP.HCM, Quy
Nhơn
246
Trương Minh Giảng
(1792 - 1841)
Danh tướng thời Nguyễn, người làng Hanh Thông, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định (nay
là Gò Vấp, TP Hồ Chí Minh). Ông đậu Cử nhân năm 1819. Lúc đầu được bổ làm Trung ương vụ,
sau đó thăng chức Thượng Thư Bộ Hộ, kiêm quản Khâm Thiên Giám. Năm 1833, được sung
chức Tham Tán Quân Vụ, cùng tướng Phan Văn Thuý đem quân vào đánh dẹp cuộc nổi dậy của
Lê Văn Khôi ở Thành Gia Định. Ông còn có công lớn trong việc đẩy lùi sự xâm lược của quân
Xiêm, đưa vua Chân Lạp về nước. Sau đó, ông được phong hàm Hiệp Biện đại học sĩ, làm Tổng
đốc An Giang, rồi được phong Đông Các đại học sĩ kiêm chức Bảo hộ Chân Lạp (gọi là Trấn Tây
Thành). Năm 1839, ông là nhân vật số 1 trong 10 vị tướng được khắc tên vào bia võ công dựng
TP. HCM, Quy
Nhơn
74
tại Võ miếu của triều Nguyễn.
247
Trương Quyền
(1844 - 1871)
Chiến sĩ kháng Pháp, ông từng theo cha là Trương Định đánh Pháp. Ông cộng tác với Thiên
Hộ Dương ở Đồng Tháp Mười được các chiến sĩ tôn là Nhị Lang quân (nhất lang là Thiên Hộ
Dương). Ông còn hợp tác với quân kháng chiến Miên do Pu Kăm Pô đứng đầu. Ông từng chỉ huy
đánh đồn Thuận Kiều ở Chợ Lớn, Bà Điểm, tấn công Trảng Bàng (ở Tây Ninh). Sau năm 1868,
nghĩa quân thiếu vũ khí tan rã, Pu Kăm Pô chạy về Nam Vang, ông lên Biên Hòa một thời gian
rồi về Cai Lậy tập trung lực lượng nghĩa quân lại vào năm 1870 tiếp tục kháng Pháp. Ông hi sinh
trong trận chiến ở Cai Lậy.
TP. HCM, Yên
Bái, Đà Nẵng
248
Tú Xương
(1870 - 1907)
Nhà thơ trào phúng, tên thật là Trần Cao Xương, Trần Tế Xương, ông đỗ Tú tài năm 1894
nên thường gọi là Tú Xương. Quê ở làng Vị Xuyên, huyện Mỹ Lộc, Nam Định. Ông học giỏi,
nhưng đi thi mãi chỉ đỗ Tú tài, song lại nổi tiếng về văn thơ, nhất là về thơ trào phúng. Ông có
lòng yêu nước cao, vũ khí chiến đấu của ông là ngòi bút châm biếm thói đời buổi giao thời nửa
thực dân, nửa phong kiến. Thơ văn ông được truyền tụng trong nhân dân như tiếp thêm sức mạnh
cho tinh thần đấu tranh chống cái hư tật xấu, thói nịnh bợ. Ông còn làm nhiều bài thơ tỏ lòng
thương tiếc các nhà yêu nước chống Pháp, hoặc một số bài trữ tình ca ngợi cảnh đẹp quê hương,
tác phẩm để lại: Văn thơ Trần Tế Xương.
Huế, TP.HCM,
Quy Nhơn
249
Tuệ Tĩnh
(1330 - 1400)
Danh y đời Trần, tên thật là Nguyễn Bá Tĩnh, quê quán làng Nghĩa Phú, huyện Cẩm Giang,
tỉnh Hải Dương. Năm 1351, thi đỗ Thái học sinh nhưng không ra làm quan, mà tu ở chùa
Nghiêm Quang chuyên nghiên cứu y học, giáo lý. Ông hết lòng chữa bệnh cho nhân dân bằng
thuốc Nam, có công xây dựng nền y học dân tộc từ buổi đầu. Năm 1384, vâng lệnh vua Trần, ông
sang Trung Quốc chữa bệnh cho Hoàng tộc nhà Minh. Cảm mến tài đức của ông, vua nhà Minh
phong ông là “Đại y Thiền sư” và giữ ông ở lại Trung Quốc luôn. Ông mất vào năm 1400, thọ 60
tuổi. Để lại các tác phẩm Y học và Phật học có giá trị: Nam dược thần diệu, Hồng nghĩa giác tư y
thư, Thiền tông khoá hư lục (diễn Nôm).
Đà Nẵng, Hải
Dương…
250
Võ Bá Hạp
(1876 - 1948)
Chí sĩ cận đại, quê làng Bao Vinh, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên. Ông đỗ Cử nhân năm
1900, nhưng không ra làm quan, có lòng lo nước thương dân. Ông kết giao mật thiết với Phan
Bội Châu và các chí sĩ đương thời. Chính ông đã lo liệu cho Phan Bội Châu cùng lên đường với
Tăng Bạt Hổ ra nước ngoài vận động cứu nước. Khi Tăng Bạt Hổ trở về nước, lâm bệnh nặng,
cũng chính ông hết lòng chăm sóc thuốc thang dưới một chiếc thuyền neo ở sông Hương, rồi lo
chôn cất khi Tăng Bạt Hổ mất (1908). Ông nhiệt thành tán trợ công cuộc duy tân tự cường, mở
mang văn hóa. Dù nhiều lần bị bắt giam ông vẫn giữ vững khí tiết không để bị cám dỗ, mua
chuộc. Trước sau một lòng, tận tụy mưu việc ích nước lợi dân, nuôi giấu các đồng chí hoạt động
bí mật trong tổ chức "Việt Nam Quang phục hội" do Phan Bội Châu lãnh đạo.
Huế
251
Võ Duy Ninh
(1804 - 1859)
Võ tướng triều Nguyễn, quê huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Năm 1858, ông làm Tổng
đốc Định Biên (Gia Định - Biên Hoà), tích cực lo việc trị an, khi giặc Pháp tấn công thành Gia
TP.HCM
75
Định, trên cương vị Hộ đốc, ông anh dũng chỉ huy quân dân chống giặc giữ nước. Ngày mồng 4
tháng 2 năm 1859, giặc Pháp tấn công ồ ạt và chúng đánh chiếm được thành Gia Định, ông rút về
thôn Phước Lý, huyện Phước Lộc. Lúc này thế cô, ông đành tự ải quyết không đầu hàng giặc.
Ông là vị tướng hy sinh đầu tiên trong Nam thời giặc Pháp cướp nước ta.
252
Võ Trường Toản
(1709 - 1792)
Danh sĩ, quê ở Bình Dương, Gia Định. Ông học rộng, có đức hạnh hơn người. Thời loạn lạc
ông không cần công danh, ở ẩn dạy học, đào tạo được nhiều nhân tài cho đất nước. Nguyễn Ánh
thường vời ông đến giảng sách, bàn luận chính trị, muốn trọng dụng, nhưng ông một mực từ
chối. Giới trí thức đương thời đều cảm phục tôn kính ông. Ông là một nhà giáo dục lớn và là một
nhà thơ đã cổ vũ cho chữ Nôm phát triển.
Cần Thơ, Đà
Nẵng,
TP.HCM…
253
Xuân Nương
(23 - 43)
Nữ tướng thời Trưng vương, quê xã Hương Nha, nay thuộc huyện Tam Nông, tỉnh Vĩnh Phú.
Bà vận động tập hợp nhân dân chống giặc cứu nước. Chẳng bao lâu thanh thế lớn mạnh, bà kéo
binh về Hát Môn tụ nghĩa, chiến đấu dưới cờ Trưng Vương. Năm 40, dẹp xong giặc, bà được
phong quan tước và kết duyên với em Thi Sách là Thi Bằng. Hai vợ chồng được giao trấn giữ
mạn sông Thao. Năm Quí mão 43, quân Hán lại kéo sang, do Mã Viện chỉ huy, cùng với hai phó
tướng là Doãn Chí và Lưu Long đánh phá dữ dội. Trưng vương bại binh, tử tiết. Bấy giờ hai vợ
chồng Xuân Nương vẫn quyết liệt chiến đấu. Bà chỉ huy quân bộ, chồng bà chỉ huy quân thủy
ngăn chận giặc ở ngã ba Hạc. Nhưng thế không chống nổi lâu, về sau hai vợ chồng bà đều hi
sinh, lúc mới 20 tuổi.
Việt Trì
254
Yết Kiêu
(Thế kỷ XIII)
Danh tướng thời Trần, quê làng Hạ Bì, nay thuộc huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương. Ông xuất
thân từ một ngư chài, giỏi tài bơi lặn, được Hưng Đạo Vương trọng dụng, ông trở thành một
trong năm tuỳ tướng tâm phúc của Hưng Đạo Vương. Trong kháng chiến chống Nguyên Mông,
ông thường lặn xuống sông đục đánh đắm nhiều thuyền giặc và chính ông đã nhảy lên thuyền
giặc bắt sống tên tay sai phản quốc Nguyễn Bá Linh dìm xuống sông, rồi đem về hỏi tội. Ông có
công lớn trong hai lần đánh Nguyên Mông vào các năm 1285, 1288. Khi ông mất, vua Trần sai
lập đền thờ ông ở bờ sông Hạ Bì, Hải Dương.
TP.HCM, Hà
Nội, Quy
Nhơn…
255
Ỷ Lan
(? - 1117)
Hoàng hậu thời Lý, vợ vua Lý Thánh Tông, mẹ vua Lý Nhân Tông. Tên thật là Lê Thị Ỷ
Lan, xuất thân từ môt gia đình nông dân quê ở làng Thổ Lồi, lộ Bắc Giang (nay là Bắc Ninh).
Được vua Lý Thánh Tông tuyển vào cung lập làm phu nhân, đặt hiệu là Ỷ Lan. Năm 1069, Lý
Thánh Tông thân chinh đánh Chiêm Thành, bà ở lại triều giám quốc, có công trị nước an dân,
nhờ đó vua Lê đánh hạ được Chiêm thành, bắt được vua Chiêm là Chế Củ. Năm 1073 bà được
phong là Linh Nhân Hoàng hậu. Năm 1085, bà tuần du khắp nơi quan sát tình hình sinh hoạt của
nhân dân, rồi xuất tiền trong phủ chuộc những người con gái nhà nghèo phải đi ở đợ, dân chúng
xưng tụng bà là “Quan Âm”.
Hà Nội, Đà
Nẵng, Thanh
Hoá, Quy
Nhơn…
76
NHÓM 4: TÊN CÁC NHÂN VẬT THỜI CẬN, HIỆN ĐẠI ĐÓNG GÓP TRÊN CÁC LĨNH VỰC:
LỊCH SỬ, QUÂN SỰ, KINH TẾ, CHÍNH TRỊ, GIÁO DỤC, Y HỌC, VĂN HỌC, NGHỆ THUẬT, KHOA HỌC…
STT
HỌ VÀ TÊN
TÓM TẮT TIỂU SỬ
ĐÃ ĐẶT TÊN
ĐƯỜNG
1
Bùi Công Trừng
(1905 - 1986)
Nhà hoạt động chính trị, quê tỉnh Thừa Thiên Huế. Hoạt động cách mạng từ năm 1924, dự Đại hội
Phản đế Đồng minh ở Bỉ năm 1927. Năm 1930 về nước hoạt động trong Đảng Cộng sản Đông Dương
rồi bị bắt tù đày ra Côn Đảo. Trong tù ông là một giảng viên xuất sắc về chính trị, thường được anh em
tôn là “Giáo sư Đỏ”. Năm 1938 ông được tha, sau đó hoạt động viết báo, nổi tiếng về bút chiến. Năm
1946 là thành viên của Phái đoàn Việt Nam dự Hội nghị trù bị Đà Lạt. Thời kháng chiến chống Pháp,
ông làm Thứ trưởng Bộ Kinh tế. Sau năm 1954 là Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước. Tại Đại
hội toàn quốc lần thứ III của Đảng, ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Ông mất năm
1986 tại Hà Nội.
TP. HCM
2
Bùi Lâm
(1896 - 1984)
Nhà hoạt động cách mạng, quê làng Gia Hòa, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định. Ông cùng Nguyễn Ái
Quốc, Nguyến Thế Truyền làm báo Le Paria (Người cùng khổ) tại Pháp. Năm 1929 ông về nước tham
gia tổ chức Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí Hội, gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương.
Năm 1933 bị Pháp bắt kết án khổ sai chung thân đày đi Côn Đảo, năm 1939 ông bị bắt đày lên Sơn La,
năm 1945 được trả tự do. Năm 1945-1946, ông làm Chánh án Tòa án Quân sự Quân khu III, sau năm
1954, giữ chức Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát tối cao, Đại sứ Việt Nam DCCH tại Công hòa Dân chủ
Đức.
Đà Nẵng, Long
An
3
Bùi Thanh Khiết
(1924 - 1984)
Thiếu tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam, quê ở xã Tân An, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
Từng tham gia giải phóng quân năm 1947, giữ các chức vụ: Trưởng phòng Chính trị Quân khu 7, Quân
khu 9, Tỉnh đội Long Châu Hà (1947-1954); Chính ủy Trung đoàn, Phó Chủ nhiệm Sư đoàn (1955);
Phó Chính ủy Quân khu 2, Quân khu 9, tham gia Khu ủy khu 9 (1964); Phó Trưởng đoàn đại biểu
Chính phủ Cách mạng lâm thời Miền Nam Việt Nam, Phó Chủ nhiệm Cục Chính trị Bộ Tư lệnh quân
giải phóng Miền Nam (1973-1974); Tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh (1975); Giám đốc Sở Giáo dục
thành phố Hồ Chí Minh; Thứ trưởng Bộ Giáo dục (1976); Được bầu vào Ban chấp hành Trung ương
Đảng Cộng sản Việt Nam khóa IV; Trưởng ban Khoa giáo Trung ương Đảng; Đại biểu Quốc hội khóa
7, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật của Quốc hội khóa 7 (1981). Được tặng thưởng nhiều
Huân chương cao quý. Ông mất tại thành phố Hồ Chí Minh năm 1984.
TP.HCM
4
Bùi Xuân Phái
(1920 - 1988)
Họa sĩ sơn dầu, quê làng Kim Hoàng, tỉnh Hà Đông (nay thuộc Hà Nội). Thuở nhỏ học Trung học ở
Hà Nội, tốt nghiệp trưởng cao Đẳng Mĩ thuật Đông Dương năm 1945, chuyên về sơn dầu với các đề tài
về phố phường. Chính các đề tài ông thực hiện đã trở thành một trường phái của hội họa Việt Nam, gọi
Đà Nẵng, TP.
HCM, Quy
Nhơn
77
là Phố Phái. Các tranh về phố phường của ông đều có nét đặc biệt và mang màu sắc dân tộc như các
tranh: Ô quan Chưởng, Văn Miếu, Cánh võng, Phố cổ Hội An... đều được giới am tường nghệ thuật tạo
hình đánh giá cao. Được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật năm 1996.
5
Cao Văn Khánh
(1917 - 1980)
Trung tướng Quân đội nhân dân Việt Nam. Quê tại thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Tham gia
cách mạng và nhập ngũ năm 1945. Từng giữ các chức vụ: Trung đội trưởng Giải phóng quân ở Huế,
Ủy viên Quân sự tỉnh Bình Định, Khu trưởng khu 5 chỉ huy các mặt trận ở các tỉnh từ Phú Yên trở vào
đến Bình Thuận; Đại đoàn phó Đại đoàn 308 (1949-1954); Cục trưởng Cục Nhà trường thuộc Tổng cục
Quân huấn; Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục quân (1960); Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân
khu 3 (1964); Phó Tư lệnh Quân khu Trị Thiên (Quảng Trị, Thừa Thiên) (1966-1969); Tư lệnh mặt trận
Hạ Lào (1970); Phó Tư lệnh mặt trận Đường 9; Tư lệnh Quân khu Trị Thiên (1972); Phó Tổng tham
mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam (1980). Được Đảng và Nhà nước tặng nhiều huân, huy
chương các loại.
Huế
6
Cao Văn Lầu
(1892 - 1976)
Nhạc sĩ cổ nhạc, quê ở xã Thuận Lễ, tỉnh Tân An (nay thuộc tỉnh Long An). Tục gọi là Sáu Lầu.
Ông là một trong những môn đệ giỏi về nhạc lễ. Năm 1918, ông sáng tác bài Dạ cổ hoài lang, sau trở
thành bài Vọng cổ, bây giờ đã được phát triển âm điệu ngày càng khởi sắc. Cách mạng tháng Tám
thành công, ông tham gia công tác Mặt trận Liên Việt ở ấp Vĩnh Phước, xã Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu.
Năm 1947, ông được chính quyền Bạc Liêu giao cho công tác đặc biệt cứu một số cán bộ bị giặc bắt.
Ông hoàn thành nhiệm vụ xuất sắc. Suốt cuộc đời, ông thà chịu nghèo quyết không phục vụ quân cướp
nước và các thế lực vọng ngoại. Đến năm 1976, ông mất tại TP. Hồ Chí Minh.
TP. HCM, Bạc
Liêu, Hoài
Nhơn, Quy
Nhơn
7
Cao Xuân Huy
(1900 - 1983)
Giáo sư chuyên về lịch sử triết học phương Đông, quê làng Cao Xá, xã Thịnh Mĩ, huyện Diễn
Châu, tỉnh Nghệ An. Năm 1925, tốt nghiệp trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nội. Từ năm 1926 đến 1945
ông đi dạy học ở Sài Gòn, Huế, nghiên cứu triết học. Sau Cách mạng tháng Tám, ông làm Hiệu trưởng
trường Trung học Nguyễn Xuân Ôn ở Nghệ An. Từ năm 1949-1959, ông phụ trách giảng dạy triết học
cổ đại phương Đông trong các trường ở vùng kháng chiến và các trường đại học ở Hà Nội. Năm 1958,
ông được phong chức giáo sư, rồi Trưởng ban Hán học, Trưởng ban Văn học cổ đại Việt Nam, rồi làm
Giáo sư chính lớp Đại học Hán Nôm tại Hà Nội.
Đà Nẵng, Hà
Nội
8
Chế Lan Viên
(1920 - 1989)
Nhà thơ, nhà lý luận phê bình văn học; quê ở Cam An, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị, lớn lên ở
Quy Nhơn, Bình Định, là một trong 4 nhà thơ của “Bàn thành tứ hữu”. Có nhiều cống hiến trong lĩnh
vực văn xuôi, lý luận phê bình và nhiều kinh nghiệm sáng tác quý báu cho văn nghệ sĩ trẻ. Đại biểu
Quốc hội khóa IV - VII; được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh năm 1996. Để lại các tập thơ chính
như: Điêu tàn, Gửi các anh, Ánh sáng và phù sa, Hoa ngày thường, Chim báo bão, Những bài thơ đánh
giặc… Văn xuôi và lý luận phê bình có: Vàng sao, Suy nghĩ và bình luận, Nghĩ cạnh dòng thơ, Phê
bình văn học, Từ gác Khuê Văn đến quán Trung Tân…
Quy Nhơn,
TP.HCM,
Khánh Hòa,
Huế,
9
Cù Huy Cận
Nhà thơ, nhà hoạt động cách mạng, quê ở huyện Hương Sơn, Hà Tĩnh. Từ những năm 1940, ông
Kon Tum, Quy
78
(1919 - 2005)
vừa học Đại học vừa tham gia hoạt động cách mạng và viết văn, làm thơ. Năm 1945, ông tham dự
Quốc dân Đại hội Tân Trào, được bầu vào Ủy ban dân tộc giải phóng toàn quốc. Cách mạng Tháng
Tám 1945, ông được phân công vào Huế cùng với Trần Huy Liệu, Nguyễn Lương Bằng nhận sự thoái
vị của Bảo Đại. Sau đó giữ các chức vụ: Bộ trưởng Bộ Canh nông, Thanh tra đặc biệt của Chính phủ,
Thứ trưởng Bộ Nội vụ, Thứ trưởng Bộ Kinh tế, Tổng Thư ký Hội đồng Chính phủ, Thứ trưởng Bộ Văn
hóa, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Văn học nghệ thuật Việt Nam… Để lại nhiều tác phẩm thơ văn giá
trị, được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật.
Nhơn, Nam
Định
10
Dương Đức Hiền
(1916 - 1963)
Nhà hoạt động chính trị. Ông là một trong những trí thức có công lớn trong sự nghiệp xây dựng khối
đại đoàn kết dân tộc và Mặt trận dân tộc thống nhất. Quê ở xã Kim Sơn, huyện Gia Lâm, thành phố Hà
Nội
. Năm 1940, ông tốt nghiệp cử nhân Luật tại Viện Đại học Đông Dương, làm nghề dạy học và hoạt
động xã hội. Ngày 30
/6/1944, ông là một trong những người sáng lập và là Tổng bí thư đầu tiên của
Đảng Dân chủ Việt Nam. Đại hội quốc dân Tân Trào bầu ông làm Ủy viên Ủy ban dân tộc giải phóng.
Từ năm 1945 cho đến cuộc kháng chiến chống Pháp, ông đại diện Đảng Dân chủ trong Chính phủ lâm
thời. Đại biểu
Quốc hội khóa I (1946) các khóa II, III đơn vị tỉnh Bắc Ninh, Ủy viên chính thức Ban
Thường trực Quốc hội khóa I, II và ông cũng là đồng tác giả soạn thảo Hiến pháp năm 1946. Ông đã
từng giữ các chức vụ Bộ trưởng Bộ Thanh niên trong
Chính phủ cách mạng lâm thời, và Chính phủ liên
hiệp lâm thời
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Ông còn là Uỷ viên Tổng bộ Việt Minh; Tổng Thư
kí, Phó chủ tịch Uỷ ban Trung ương
Mặt trận Liên Việt; và Ủy viên Ban Thư kí Uỷ ban Trung ương
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
TP.HCM
11
Dương Quang Đông
(1902 - 2003)
Nhà hoạt động cách mạng, còn có tên khác là Dương Văn Phúc. Quê ở xã Mỹ Hòa, huyện Cầu
Ngang, tỉnh Trà Vinh. Ông tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1920 trong tổ chức Công hội bí mật
của Tôn Đức Thắng. Năm 1927, gia nhập Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội. Ông từng giữ
các chức vụ: Thường vụ Xử ủy Nam Nam kỳ, Bí thư Tỉnh ủy Trà Vinh sau khi các tổ chức đảng cộng
sản ba miền thống nhất. Năm 1945, đắc cử đại biểu Quốc hội khóa I; Phó phòng Hàng hải Nam Bộ;
Khu ủy viên khu Sài Gòn - Gia Định; Trưởng ban Giao bưu A53 Trung ương cục Miền Nam; Ủy viên
Ban Thanh tra Sài Gòn - Gia Định; Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận tổ quốc thành phố Hồ Chí Minh. Ông
từng được Đảng và Nhà nước tặng nhiều huân chương cao quý, trong đó có Huân chương Hồ Chí
Minh.
Tp HCM
12
Dương Quảng Hàm
(1898 - 1946)
Nhà nghiên cứu văn học, nhà giáo dục, quê ở huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên. Ông tốt nghiệp
trường Cao đẳng sư phạm năm 1920, làm Giáo sư trường Bưởi. Ông để lại nhiều tác phẩm giá trị, viết
với tinh thần khoa học nghiêm túc: Việt Nam Văn học sử yếu, Việt Nam thi văn hợp tuyển, Quốc văn
trích diễm, Văn học Việt Nam…
Hà Nội,
TP.HCM, Quy
Nhơn
13
Đào Duy Anh
(1904 - 1988)
Giáo sư, nhà sử học, nhà văn hóa dân tộc, quê ở làng Khúc Thuỷ, Tả Thanh Oai, Hà Nội. Xuất thân
trong một gia đình có truyền thống Nho học, năm 1923 đậu bằng Thành chung. Năm 1927, cộng tác với
Huế, Quảng Trị,
Hà Nội, Quy
79
báo Tiếng Dân của cụ Huỳnh Thúc Kháng. Năm 1928 ông cùng Phan Đăng Lưu lập Quan hải tùng thư
- cơ quan văn hóa của Đảng Tân Việt. Năm 1929 bị thực dân Pháp bắt, sau 1 năm được trả tự do. Từ đó
ông dạy học và chuyên tâm nghiên cứu sử học, văn học. Năm 1936, xuất bản bộ Hán Việt từ điển, một
trong những bộ từ điển Hán Việt sớm nhất của nước ta. Ông là học giả uyên thâm, kiến thức sâu rộng,
tác giả của nhiều công trình khoa học xã hội nổi tiếng và đã đóng góp lớn cho văn hóa sử Việt Nam.
Được tặng thưởng nhiều Huân, Huy chương cao quý, năm 1996, được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí
Minh về văn học nghệ thuật.
Nhơn
14
Đào Đình Luyện
(1929 - 1999)
Thượng tướng, Tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam, tên thật là Đào Mạnh Hùng,
quê huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình. Ông tham gia quân đội, lần lượt giữ các chức vụ từ Trung đội
trưởng đến Chính ủy trung đoàn; tham gia các chiến dịch: Việt Bắc (1947), Sông Thao, Biên Giới, Hòa
Bình và Điện Biên Phủ (1954). Sau đó trở thành một tướng lĩnh cấp cao là: Tư lệnh Không quân, Thứ
trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam; Ủy viên BCH Trung ương Đảng
các khóa VI và VII; đại biểu Quốc hội các khóa VII, VIII, IX. Ông được truy tặng danh hiệu Anh hùng
lực lượng vũ trang nhân dân (năm 2015).
Thái Bình, Hoài
Nhơn
15
Đặng Thai Mai
(1902 - 1984)
Nhà nghiên cứu văn hóa, văn học, quê làng Thanh Xuân, huyện Thanh Chương, Nghệ An. Xuất
thân trong một gia đình khoa bảng, có truyền thống yêu nước. Ông thông minh, lại chịu khó, lúc nhỏ
học chữ Hán, chữ Pháp. Năm 1924, học Cao đẳng Sư phạm Hà Nội, rồi vào dạy ở trường Quốc học
Huế. Ông tham gia đảng Tân Việt, bị bắt và bị tù treo. Năm 1936, được Đảng Cộng sản Đông Dương
giới thiệu ứng cử vào Viện Dân biểu Trung Kỳ. Ông nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin và viết báo tiến
bộ cách mạng, là người đầu tiên viết về lý luận văn học theo quan điểm mác xít. Sau Cách mạng tháng
Tám, giữ nhiều chức vụ quan trọng: Bộ trưởng Bộ Giáo dục, Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến tỉnh Thanh
Hóa, Đại biểu Quốc hội các khóa I - V, Chủ tịch Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật, Viện trưởng Viện
Văn học Việt Nam. Được tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh và nhiều Huân, Huy chương khác.
Năm 1996, được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học xã hội.
Quảng Trị, Hà
Nội, Quy Nhơn,
Nghệ An, Đà
Nẵng,..
16
Đặng Văn Ngữ
(1910 - 1967)
Giáo sư y khoa, nhà nghiên cứu ký sinh trùng học, anh hùng liệt sĩ, quê ở xã Thuỷ An, thành phố
Huế. Năm 1936, tốt nghiệp Đại học Y Dược Hà Nội. Từ 1943 - 1948, đi nghiên cứu tại Viện Vi trùng -
Ký sinh trùng ở Nhật Bản. Năm 1949, về nước tham gia kháng chiến. Từ năm 1957 - 1967, là Viện
trưởng Viện Sốt rét ký sinh trùng và côn trùng. Ông chế ra nước lọc pê-ni-xi-lin, nghiên cứu kế hoạch
trừ bệnh sốt rét. Ông đi nghiên cứu thực tế bệnh sốt rét và đề xuất cách phòng chống bệnh tại chiến
trường B, góp phần điều trị bệnh cho thương binh và nhân dân trong kháng chiến. Năm 1967, ông hy
sinh trong khi làm nhiệm vụ tại chiến trường Thừa Thiên Huế. Ông có nhiều thành tích, công lao cống
hiến xuất sắc cho y học nước nhà, để lại gần 30 công trình nghiên cứu y học. Được tặng thưởng nhiều
Huân, Huy chương cao quý, truy tặng danh hiệu Anh hùng Lao động (1967) và Giải thưởng Hồ Chí
Minh (1996).
Hà Nội,
TP.HCM,
Quy Nhơn
80
17
Đặng Vũ Hỷ
(1910 - 1972)
Giáo sư, bác sĩ chuyên khoa da liễu, quê làng Hành Thiện, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định.
Năm 1937, ông tốt nghiệp bác sĩ nội trú bệnh viện Paris, sau đó gia nhập Vệ quốc đoàn, phụ trách trạm
quân y tiền phương ở
Cổ Lễ, tham gia chữa trị trong kháng chiến. Ông từng phụ trách một Quân y viện
ở
Thư Điền, tỉnh Ninh Bình. Năm 1954, ông cùng gia đình trở về Hà Nội. Ông được phân công làm chủ
nhiệm Khoa Da Liễu nằm trong Bệnh viện Bạch Mai đồng thời kiêm Chủ nhiệm Khoa và Bộ môn Da
Liễu của
Trường Đại Học Y Dược Hà Nội. Từ năm 1954 đến 1972, ông công bố 48 công trình khoa
học trên các tạp chí chuyên ngành ở
Việt Nam, Pháp, Anh, Đức, Rumani... do công lao đóng góp của
ông trong ngành y học, năm
1996, ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học kỹ thuật
cho hai cuốn sách chuyên khảo, 16 công trình nghiên cứu bệnh phong, bộ giáo trình Bệnh da liễu và 32
công trình nghiên cứu khác. Giáo sư Đặng Vũ Hỷ qua đời ngày
4/10/1972. Ông được dựng tượng
tưởng niệm ở
Bệnh viện Phong Da liễu Quy Hòa.
Hà Nội
18
Đào Văn Tiến
(1920 - 1995)
Giáo sư thực vật học, nhà nghiên cứu, quê tại thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định. Năm 1944 tốt
nghiệp Cao đẳng Động vật học, từ đó ông chuyên tâm nghiên cứu về động và thực vật học và đã có một
số công trình nghiên cứu chuyên ngành. Sau ngày toàn quốc kháng chiến năm 1946, ông lên chiến khu
Việt Bắc tham gia kháng chiến trong lĩnh vực giáo dục và khoa học. Sau Hiệp định Genève 1954, ông
về lại Hà Nội tham gia công tác nghiên cứu khoa học (chuyên về động và thực vật học). Ông tham gia
các Ủy ban Quốc tế nghiên cứu động vật (cá) của một số nước trên thế giới. Và cũng là giáo sư thỉnh
giảng của một số nước ở Âu châu và Phi châu. Ông là tác giả hàng trăm công trình nghiên cứu chuyên
ngành về động thực vật. Ông được Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về nghiên cứu khoa học
công nghệ năm 1996.
Nam Định
19
Đinh Đức Thiện
(1913 - 1987)
Thượng tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam, tên thật là Phan Đình Dinh. Quê xã Nam Vân, TP.
Nam Định, tỉnh Nam Định. Ông tham gia cách mạng từ năm 1930, năm 1950 vào quân ngũ; từng bị
Pháp bắt giam hai lần (1930, 1940). Sau khi ra tù tiếp tục hoạt động, giữ các chức vụ Bí thư Tỉnh ủy
Vĩnh Yên... đến Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Thứ trưởng Bộ Công nghiệp, Ủy viên Quân ủy Trung
ương. Bộ trưởng Bộ cơ khí luyện kim, Bộ trưởng Dầu khí, Phó Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh, rồi Bộ
trưởng Bộ Giao thông Vận tải. Ông được Đảng và Nhà nước tặng nhiều huân chương cao quí, trong đó
có Huân chương Hồ Chí Minh và quân công hạng nhất.
TP.HCM
20
Đỗ Nhuận
(1922 - 1991)
Nhạc sĩ, quê ở Hải Dương. Ông là tác giả nhiều ca khúc có giá trị. Ông tham gia hoạt động Việt
Minh, sau ngày toàn quốc kháng chiến ông gia nhập quân dội. Ông từng giữ chức Tổng thư ký Hội
nhạc sỹ Việt Nam. Ca khúc tiêu biểu “Chiến thắng Điện Biên” đã gây nên cảm xúc mãnh liệt. Ông
được mệnh danh là “tượng đài bằng âm thanh”. Được Nhà nước tặng Huân chương Độc lập hạng Hai,
truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 1996.
TP.HCM, Quy
Nhơn
21
Đỗ Xuân Hợp
(1906 - 1985)
Giáo sư y khoa, Thiếu tướng quân y, Anh hùng lực lượng vũ trang, quê ở Hà Nội. Trước Cách
mạng tháng Tám 1945, ông làm việc tại các bệnh viện ở Hà Nội. Từ kháng chiến chống Pháp, ông đảm
nhiệm công tác y tế, trải qua các chức vụ: Phó Chủ nhiệm Ủy ban Y tế - Xã hội của Quốc hội, Hiệu
Hà Nội,
TP.HCM
81
trưởng Trường Đại học Quân y, Chủ tịch Hội Hồng thập tự Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội Y học Việt
Nam, Đại biểu Quốc hội từ khóa II-VII. Ông để lại trên 100 công trình nghiên cứu, 15 cuốn sách y học,
trực tiếp hướng dẫn, đào tạo nhiều cán bộ khoa học cho ngành giải phẩu Việt Nam. Được tặng thưởng
nhiều Huân, huy chương cao quý, danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang (1985).
22
Giáp Văn Cương
(1921 - 1990)
Đô đốc Hải quân Quân đội Nhân dân Việt Nam, quê ở huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. Ông tham
gia cách mạng trước năm 1945. Trong kháng chiến chống Pháp, ông vào chiến trường Khu V, giữ chức
Ủy viên Quân sự tỉnh Bình Định, phụ trách Công binh xưởng Hoàng Hoa Thám. Trong kháng chiến
chống Mỹ, trải qua các chức vụ: Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng mặt trận Quảng Đà, Phó Tư lệnh
Quân khu IV, Phó Tổng tham mưu trưởng QĐND Việt Nam, Tư lệnh Hải quân QĐND Việt Nam.
Được tặng thưởng nhiều huân, huy chương cao quý.
Đà Nẵng, Quy
Nhơn
23
Hà Huy Giáp
(1908 - 1995)
Nhà hoạt động cách mạng, quê ở Thịnh Văn, Hương Sơn, Hà Tĩnh. Năm 1930, ông được cử làm
Bí thư Đặc khu Hậu Giang kiêm Thường vụ Xứ ủy Nam Kỳ. Năm 1931, bị thực dân Pháp bắt giam, kết
án tù chung thân khổ sai. Trong kháng chiến chống Pháp, ông là Xứ ủy và Ủy viên Ban chấp hành TƯ
Đảng. Sau đó giữ các chức vụ: Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Bí thư Đảng- Đoàn Hội Liên hiệp Văn học
nghệ thuật Việt Nam, Phó ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương, Viện trưởng Viện Bảo tàng Hồ
Chí Minh.
TP.HCM, Đà
Nẵng, Biên
Hoà, Quy Nhơn
24
Hải Triều
(1908 - 1954)
Nhà cách mạng, nhà báo, tên thật là Nguyễn Khoa Văn, bút danh Hải Triều, sinh ở làng An Cựu,
ngoại thành
Huế. Năm 1927, ông tham gia đảng Tân Việt sau đó vào hoạt động ở Sài Gòn. Tháng
6/1930, ông được kết nạp và
Đảng Cộng Sản Đông Dương, tham gia Thành uỷ Sài Gòn - Chợ Lớn, viết
bài cho báo Cờ đỏ. Năm 1931, ông bị bắt ở Sài Gòn, đưa về Huế kết án 9 năm khổ sai. Năm 1932, ông
được thả tự do. Bí mật hoạt động cách mạng, viết bài trện các báo chí hợp pháp để truyền bá chủ nghĩa
Mác và quan điểm của Đảng Cộng sản về nghệ thuật vị nhân sinh. Tháng 8/1945, ông tham gia cướp
chính quyền ở Huế. Trong
kháng chiến chống Pháp, ông làm Giám đốc Sở Tuyên truyền Trung bộ, sau
đó làm Giám đốc Sở Tuyên truyền Liên khu IV. Để lại các tác phẩm: Duy tâm hay duy vật, Văn sĩ và
xã hội, Về văn học và nghệ thuật…
Huế, TP.HCM,
Quy Nhơn,
Hoài Nhơn
25
Hàn Mặc Tử
(1912 - 1940)
Nhà thơ tài hoa lãng mạn, tên thật Nguyễn Trọng Trí, sinh tại Lệ Mỹ, Đồng Hới, Quảng Bình. Thuở
nhỏ ông sống ở Quy Nhơn,có tính hiếu học và thích giao du bè bạn trong lĩnh vực văn thơ. Ông bộc lộ
tài năng làm thơ từ rất sớm với nhiều bài thơ hay và nổi tiếng. Năm 21 tuổi vào Sài Gòn làm ở Sở Đạc
điền, viết báo và làm thơ. Sau đó ông bị bệnh phong, quay về Quy Nhơn điều trị ở nhà thương Quy Hoà
và mất năm 1940, mộ táng tại Ghềnh Ráng, Quy Nhơn. Thơ của ông hết sức độc đáo, được mọi lứa tuổi
ngưỡng mộ, tiêu biểu là các tập: Gái quê, Lệ Thanh thi tập, Đau thương, Cẩm châu duyên, Quần tiên
hội … Ông là người khởi xướng ra Trường thơ loạn và khởi đầu cho dòng thơ lãng mạn hiện đại Việt
Nam, cùng với Quách Tấn, Yến Lan, Chế Lan Viên được người đương thời ở Bình Định gọi là Bàn
thành tứ hữu..
Huế, Gia Lai,
Đà Nẵng, Quy
Nhơn
26
Hoài Thanh
Nhà văn, tên thật là Nguyễn Đức Nguyên, bút danh là Hoài Thanh, quê ở Nghi Lộc, Nghệ An. Tốt
Huế, TP.HCM,
82
(1909 - 1982)
nghiệp trung học, ông dạy học và làm việc tại Huế đóng góp vào việc nghiên cứu văn hóa dân tộc. Sau
Cách mạng tháng Tám, ông tham gia vào cuộc trường chinh đánh đuổi giặc ngoại xâm, có nhiều đóng
góp trong lĩnh vực văn học nghệ thuật cách mạng. Ông là nhà phê bình văn học theo quan điểm Mác xít
trong giai đoạn đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Để lại nhiều tác phẩm giá trị: Thi nhân Việt
Nam, Phê bình và tiểu luận, Tuyển tập Hoài Thanh…
Quy Nhơn
27
Hoàng Bích Sơn
(1924 - 2000)
Nhà hoạt động chính trị, tên thật là Hồ Liên. Quê ở làng Đông Yên, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng
Nam. Tham gia hoạt động cách mạng từ trước năm 1945 tại Bình Thuận. Từng giữ chức vụ Bí thư Tỉnh
ủy Đảng Cộng sản tỉnh Bình Thuận; Đại biểu Quốc hội khóa VIII, IX; Ủy viên BCH Trung ương Đảng;
Trưởng ban đối ngoại Trung ương Đảng. Được Nhà nước tặng nhiều huân chương cao quý vì những
đóng góp vào các hoạt động cách mạng trên mặt trận ngoại giao và chính trị.
Đà Nẵng
28
Hoàng Hữu Nam
(1911 - 1949)
Nhà hoạt động cách mạng, tên thật là Phan Bôi. Quê làng Bảo An, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng
Nam. Tham gia vào các tổ chức yêu nước cùng hoạt động với người anh là Phan Thanh ở Hà Nội. Sau
đó, ông đứng trong hàng ngũ và hoạt động theo đường lối của Đảng Cộng sản Đông Dương. Trong
Cách mạng tháng Tám ông là thành viên của Mặt trận Việt Minh. Sau đó ông giữ chức Thứ trưởng Bộ
Nội vụ trong Chính phủ liên hiệp kháng chiến. Sau ngày Toàn quốc kháng chiến, ông cùng Chính phủ
lên chiến khu Việt Bắc tiếp tục công tác trong Hội đồng Chính phủ. Ông mất trong năm 1949 đang trên
đường công tác ở Thái Nguyên.
TP.HCM
29
Hoàng Minh Giám
(1904 - 1995)
Nhà hoạt động văn hóa, quê ở làng Đông Ngạc, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông (nay là thành phố Hà
Nội). Ông tốt nghiệp Trường Cao đẳng sư phạm Đông Dương. Từng giữ chức vụ Hiệu phó Trường
Trung học Thăng Long - Hà Nội, sau đó gia nhập Đảng Xã hội Pháp ở miền Bắc Đông Dương. Năm
1946 ông làm Tổng Thư kí Đảng Xã hội Việt Nam. Sau tháng 8/1945, ông giữ chức Thư ký Hội đồng
Chính phủ, Đại biểu Quốc hội đơn vị tỉnh Hà Đông, Ủy viên chính thức Ban Thường trực Quốc hội
khóa I. Sau ngày toàn quốc kháng chiến, ông làm Thứ trưởng Bộ Ngoại giao. Năm 1955 ông giữ chức
Bộ trưởng Bộ Văn hóa.
Hà Nội,
TP.HCM, Quy
Nhơn
30
Hoàng Minh Thảo
(1921 - 2008)
Thượng tướng, Giáo sư. Ông tên thật là Tạ Thái An, quê ở xã Bảo Khê, huyện Kim Động, tỉnh
Hưng Yên, ông tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1937, năm 1941 được cử đi học quân sự ở Liễu
Châu, Trung Quốc. Năm 1945, gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương và tham gia giành chính quyền
cách mạng ở Lạng Sơn. Năm 1948, ông được phong quân hàm Đại tá trong đợt phong hàm đầu tiên.
Ngoài nắm giữ các chức vụ Tư lệnh các chiến dịch quan trọng, quản lý các Học viện quân sự, ông còn
là một người thầy của nhiều thế hệ tướng lĩnh quân đội, một nhà nghiên cứu lịch sử quân sự và lý luận
quân sự xuất sắc ở tầm chiến lược. Năm 1986, ông được phong Giáo sư ngành Khoa học quân sự và
Nhà giáo nhân dân năm 1988. Ông được phong quân hàm Thiếu tướng năm 1959, Trung tướng năm
1974, Thượng tướng năm 1984. Ông là tác giả của nhiều tác phẩm quân sự. Nhà nước đã tặng thưởng
nhiều huân, huy chương cao quý, trong đó có Giải thưởng Hồ Chí Minh cho Cụm công trình về nghệ
thuật quân sự Việt Nam (năm 2005).
Quy Nhơn
83
31
Hoàng Phê
(1919 - 2005)
Giáo sư ngôn ngữ học, quê ở xã Điện Quang, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Từng tham gia
kháng chiến chống Pháp ở Hà Nội, Việt Bắc. Làm cán bộ nghiên cứu ở Viện Ngôn ngữ, Tạp chí ngôn
ngữ học, giảng dạy tại Đại học Tổng hợp Hà Nội. Các tác phẩm của ông góp phần làm phong phú thêm
thư tịch chuyên ngành ngôn ngữ học Việt Nam như: Logich ngôn ngữ học (1987); Từ điển chính tả
(1995); Dạy và học chính tả (1996); Từ điển Tiếng Việt (1998); Chính tả tiếng Việt (1999).
Đà Nẵng
32
Hoàng Phương
(1924 - 2001)
Trung tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam, Giáo sư, Tiến sĩ, Phó Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử
Việt Nam. Quê làng Cổ Am, huyện Vĩnh Bảo, tỉnh Hải Dương. Từng giữ các chức vụ: Tham mưu
trưởng, Chính ủy Trung đoàn pháo binh, Chủ nhiệm chính trị Trường Trung cấp cao cấp quân sự, Phó
Tổng Biên tập, Tổng Biên tập Tạp chí Quân đội Nhân dân, Chủ nhiệm Chính trị Học viện Quân chính,
Phó Viện trưởng, Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Bộ Quốc phòng, Đại biểu Quốc hội… Ông được
tặng thưởng nhiều huân chương cao quý, Huân chương Quân công hạng Nhất.
Hoài Nhơn
33
Hoàng Thế Thiện
(1922 - 1995)
Thiếu tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam, quê ở Hải Phòng. Tham gia hoạt động cách mạng từ rất
sớm, ông từng đảm nhiệm những chức vụ quan trọng: Ủy viên dự khuyết BCH Trung ương Đảng khóa
IV, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Thứ trưởng thường trực Bộ Lao động, Thương binh và xã hội, Ủy viên
Đoàn Chủ tịch Ủy ban TWMTTQVN, Chính ủy đầu tiên Cục Không quân, Chính ủy Bộ Tư lệnh
Trường Sơn, Chính ủy đầu tiên Quân đoàn 4. Suốt đời chiến đấu vì sự nghiệp của Đảng, của dân tộc, ở
cương vị nào cũng là tấm gương đoàn kết, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, được đồng chí, đồng đội tin
yêu. Ông được tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng Nhất và nhiều
huân huy chương cao quý khác.
Hà Nội, Huế,
Đà Nẵng, Hải
Phòng
34
Hoàng Thúc Trâm
(1902 - 1977)
Nhà nghiên cứu văn học, sử học, bút danh Sơn Tùng, Hoa Bằng. Quê ở xã Yên Quyết, huyện Từ
Liêm, Hà Nôi. Ông viết rất nhiều bài đăng trên các báo ngoài Bắc, trong Nam như: Tuần báo Tân Văn,
Tạp chí Văn học, Nghiệp Dân Báo, Trung Bắc Tân Văn, Thanh Nghị, Tiểu thuyết Thứ Bảy… Sau 1945,
ông tích cực tham gia cách mạng: Ủy viên Ban Hán Nôm thuộc Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam, hội
viên Hội Sử học, hội viên Hội nhà văn Việt Nam... Trong thời gian cộng tác với Tạp chí Văn học, ông
đóng góp nhiều bài nghiên cứu, sưu tầm rất có giá trị, góp phần phát huy nền văn hoá dân tộc. Ông là
một học giả uyên thâm, một trí thức tiến bộ trong thời kỳ kháng chiến cứu nước. Để lại nhiều tác phẩm:
Quang Trung - anh hùng dân tộc, Văn chương quốc âm đời Tây Sơn, Quốc văn đời Tây Sơn, Thơ văn
trào phúng qua các thời đại, Lịch sử xã hội Việt Nam, Từ điển Hán Việt…
Đà Nẵng, Quy
Nhơn
35
Hoàng Tích Trí
(1903 - 1958)
Bác sĩ Y khoa, quê làng Đông Ngạc, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Đông (nay là Hà Nội). Ông là nhà
khoa học tận tụy với nghề và đã đào tạo được nhiều thế hệ bác sĩ ở Việt Nam, là tác giả nhiều công
trình nghiên cứu y khoa đã công bố trên các tạp chí chuyên ngành. Cách mạng tháng Tám năm 1945,
ông tham gia Mặt trận Việt Minh và giữ chức Thứ trưởng Bộ Y tế (1946); Đại biểu Quốc hội khóa I;
Bộ trưởng Bộ Y tế trong Chính phủ liên hiệp Quốc dân.
Đà Nẵng, Hà
Nội
36
Hoàng Trung Thông
(1925 - 1993)
Nhà thơ, quê ở xã Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Tham gia cách mạng từ trước năm
1945, sau ngày tổng khởi nghĩa ông phục vụ ngành văn nghệ. Từng giữ các chức vụ: Cán sự Ban văn
TP. Vinh, Đà
Nẵng
84
nghệ khu ủy; Ủy viên Tiểu ban văn nghệ khu IV; Thư ký tòa soạn Báo Văn nghệ; Giám đốc Nhà xuất
bản Văn học; Viện trưởng Viện Văn học Việt Nam. Ông để lại các tác phẩm như: Quê hương chiến đấu
(1955); Đầu sóng (1968); Đường chúng ta đi (1960); Trong gió lửa (1971)…
37
Hoàng Văn Thái
(1915 - 1986)
Đại tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam, người tỉnh Thái Bình. Ông sớm tham gia hoạt động cách
mạng. Trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, ông đóng góp nhiều công lao trong lĩnh vực quân
sự và chiến tranh du kích, giữ các chức vụ trọng yếu: Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Tổng Tham
mưu trưởng QĐND Việt Nam, Tư lệnh Bộ Tư lệnh miền Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, đại biểu
Quốc hội. Được tặng thưởng nhiều huân, huy chương cao quý.
Đà Nẵng, Quy
Nhơn
38
Hoàng Xuân Hãn
(1908 - 1996)
Giáo sư, nhà Việt Nam học, quê ở huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh. Xuất thân trong một gia đình Nho học
truyền thống. Từ 1928-1930, ông du học Pháp, năm 1936 đỗ Thạc sĩ Toán, năm 1955 đỗ Kỹ sư Nguyên
tử lực. Năm 1936, ông dạy trường Bưởi và Đại học Khoa học Hà Nội, tham gia Hội đồng Nghiên cứu
Khoa học Đông Dương. Năm 1945, làm Chủ tịch Hội đồng Cải cách giáo dục, Bộ trưởng Bộ Giáo dục
- Mĩ thuật, Quyền Bộ trưởng Bộ Công chánh của chính quyền Trần Trọng Kim. Ông đóng góp công lao
rất lớn với nền giáo dục Việt Nam, với việc bảo vệ, phát huy và quảng bá văn hóa Việt Nam ra nước
ngoài. Hoàn thành nhiều công trình nghiên cứu lớn về lịch sử, văn học, nghệ thuật nước nhà: Danh từ
Khoa học, Đại Nam Quốc sử diễn ca, Thơ văn Việt Nam, Chinh phụ ngâm bị khảo, Nghiên cứu về
Kiều…
Huế, Đà Nẵng,
Quy Nhơn
39
Hồ Biểu Chánh
(1884 - 1958)
Nhà văn, tên thật là Hồ Văn Trung, sinh ở làng Bình Thành, Gò Công, Tiền Giang. Ông xuất thân
làm ký lục, thông ngôn, thăng dần đến Đốc phủ sứ. Vốn có tiếng thanh liêm, yêu dân, thương người
nghèo khổ. Ông sáng tác văn học rất nhiều, để lại một thư tịch rất phong phú về nhiều lĩnh vực: lịch sử,
văn học, nghệ thuật, tôn giáo…, với nhiều thể loại: tiểu thuyết, nghiên cứu, phê bình văn học, hồi ký,
sáng tác tuồng hát, biên khảo, dịch thuật… Những đóng góp của ông đã làm phong phú thêm cho kho
tàng học thuật nước nhà.
TP.HCM, Quy
Nhơn
40
Hồ Đắc Di
(1900 - 1984)
Giáo sư y khoa, quê làng An Truyền, tổng Quảng Xuyên, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Thuở nhỏ học ở Huế, sau du học Pháp tại Đại học Y khoa Paris, cựu nội trú các bệnh viện Paris. Ông
từng làm việc ở Bệnh viện Quy Nhơn; Hiệu trưởng trường Y Dược. Ông là một giáo sư tận tụy với
nghề, đã đào tạo được nhiều thế hệ bác sĩ, giáo sư y khoa Việt Nam trong gần nửa thế kỉ. Ngoài ra còn
là tác giả nhiều công trình nghiên cứu y học có giá trị khoa học cao, phần lớn đều viết bằng tiếng Pháp
và các giáo trình tiếng Việt làm tài liệu giảng dạy tại Đại học Y Dược Hà Nội.
Huế, Hà Nội,
Quy Nhơn
41
Hồ Tá Bang
(1875 - 1943)
Nhân sĩ yêu nước, nguời làng Kế Môn, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên. Thời niên thiếu ông
theo học khoa cử, thông chữ Quốc ngữ nhưng không thi. Ông từng làm kí lục tại Tòa sứ Phan Thiết
(1889) sau đổi về làm ở Tòa sứ Hội An. Hồ Tá Bang là một trong sáu nhân vật (Trần Lệ Chất, Nguyễn
Hiệt Chi, Ngô Văn Nhượng, Nguyễn Trọng Lội, Nguyễn Quí Anh) chủ chốt của trường Dục Thanh và
Công ty Liên Thành ở Phan Thiết hồi năm 1905. Phong trào này nhằm phát triền kinh tế, giáo dục để
Huế
85
hỗ trợ cho phong trào cách mạng trên đường Duy Tân cứu nước. Khoảng tháng 8/1910, ông cùng
Trương Gia Mô đưa Nguyễn Tất Thành vào Sài Gòn tìm đường sang Pháp, rồi ông trở ra điều hành
truờng Dục Thanh và làm "Tổng lí" Công ty Liên Thành gần 30 năm.
42
Hồ Văn Huê
(1917 - 1976)
Bác sĩ, Đại tá Quân đội Nhân dân Việt Nam, quê ở thị xã Tân An, Long An. Ông xuất thân từ gia
đình làm nghề Đông y, năm 1938, vào học trường Đại học Y khoa Hà Nội. Năm 1944 tốt nghiệp ra
trường, về phục vụ ở Bệnh viện của Sở Cao su Quản Lợi, Sông Bé. Tham gia Cách mạng tháng Tám
1945, được bầu làm Chủ tịch Ủy ban nhân dân Sở Cao su Quản Lợi. Ông tham gia quân đội phục vụ
kháng chiến ở chiến khu Đ, lặn lội qua khắp các chiến trường miền Nam, được phong quân hàm Đại tá
quân y. Sau đó giữ các chức vụ: Thứ trưởng Bộ Y tế Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt
Nam, Phó Cục trưởng Cục Hậu cần miền… Được Nhà nước tặng nhiều huân chương cao quý.
TP.HCM, Hà
Nội, Quy Nhơn
43
Huỳnh Ngọc Huệ
(1914 - 1949)
Nhà hoạt động cách mạng, quê làng Thượng Phước, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam. Từng tham
gia hoạt động trong Đoàn Thanh niên Dân chủ Huế do ông và Tố Hữu lãnh đạo. Năm 1939 - 1945, ông
bị thực dân bắt giam tại các nhà lao: Daklay, Dakto, Hỏa Lò, Đà Nẵng,.. Sau khi vượt ngục, ông phụ
trách in và phát hành báo Cờ giải phóng và các tài liệu tuyên truyền khác của Tỉnh ủy Quảng Nam.
Năm 1945, ông giữ chức Bí thư Thành ủy Đà Nẵng lãnh đạo cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở Đà
Nẵng, cũng trong năm này ông còn giữ chức Thường vụ Xứ ủy Trung Kỳ phụ trách công tác công vận,
Thư ký Hội đồng công nhân cứu quốc Trung Bộ, chủ nhiệm kiêm Thư ký tòa soạn báo Tay Thợ. Năm
1948, ông vào làm việc ở Đảng bộ Liên khu 5 tại Bình Định. Ông còn có công sáng lập Tổng Liên đoàn
Lao động Việt Nam. Năm 1946, ông là Ủy viên Ban chấp hành Liên hiệp công đoàn thế giới.
Đà Nẵng, Quy
Nhơn
44
Huỳnh Lý
(1914 - 1993)
Giáo sư, Nhà nghiên cứu văn học, quê thị xã Hội An, tỉnh Quảng Nam. Tham gia kháng chiến từ
năm 1945, từng phụ trách Ban Tu thư Nha giáo dục Liên khu 5 ở Bình Định. Sau Hiệp định Genève
ông tập kết ra Bắc làm việc ở Ban Tu thư Bộ Giáo dục, tham gia soạn thảo chương trình môn Quốc văn
ở trường Trung học và đặt nền móng chương trình văn học tại khoa Văn các trường đại học ở Hà Nội.
ông từng giữ chức vụ Chủ nhiệm khoa Văn Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, khoa Văn Trường Đại
học Sư phạm Vinh. Các tác phẩm của ông biên khảo: Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam (1957-1958);
Hợp tuyển thơ văn; Chèo và tuồng (1958); Dịch Bản án chế độ thực dân Pháp (của Nguyễn Ái Quốc);
Những người khốn khổ (dịch của Victo Hugo); Không gia đình (dịch của Hector Malot),… Ông được
Nhà nước tặng nhiều huân chương cao quý.
Đà Nẵng
45
Huỳnh Nhất Long
(1922 - 1981)
Thiếu tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam, quê ở xã Đức Thạnh, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi.
Tham gia cách mạng từ trước năm 1945, gia nhập đội Du kích Ba Tơ ở Quảng Ngãi. Từng giữ các chức
vụ: Chính ủy Trung đoàn, chủ nhiệm chính trị Đại đoàn 304; Chủ nhiệm chính trị Sư đoàn 335 Quân
khu Tây Bắc; Cục trưởng Cục Tuyên huấn; Phó chính ủy Quân khu III; Chính ủy Trường Sĩ quan Lục
quân; Phó Giám đốc Học viện chính trị; Tư lệnh Quân khu IV; Ủy viên BCH Trung ương Đảng khóa
IV. Được tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Nhất.
Hoài Nhơn
46
Huỳnh Văn Nghệ
Nhà thơ, Thiếu tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam, quê làng Tân Tịch, huyện Tân Uyên, tỉnh
TP.HCM
86
(1914 - 1977)
Biên Hòa (nay thuộc tỉnh Bình Dương). Tích cực tham gia hoạt động cứu nước, tham gia suốt hai cuộc
trường chinh chống Pháp, chống Mỹ với bí danh Tâm Ngãi. Trong kháng chiến chống Pháp, ông làm
Phó khu trưởng khu 7 (Đông Nam Bộ) chỉ huy nhiều trận du kích chiến và vận động chiến nổi tiếng ở
Nam Bộ, tên tuổi ông trong và ngoài nước đều biết. Kháng chiến thành công, ông chuyển ngành giữ
chức Thứ truởng Bộ Lâm nghiệp. Ông được nhà nước tặng nhiều huy chương, huân chương cao quý và
huy hiệu Thành đồng Tổ quốc.
47
Kha Vạng Cân
(1908 - 1982)
Kĩ sư cơ khí, cựu Bộ trưởng, quê tại Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh. Năm 1939, nghiên cứu hệ thống
đường sắt Đông Dương, ông từng giữ các chức vụ: Giám đốc hãng Luyện thép và Cơ học (1940);
Thành viên Hội đồng Quản hạt Sài Gòn - Chợ Lớn; Ủy viên Hội thủ công nghiệp Nam Kì; Tham gia
Hội đồng Cải cách Giáo dục ở Huế (1945); thành viên sáng lập Thanh niên Tiền phong; thủ lĩnh Thanh
niên Tiền phong tỉnh Chợ Lớn; Chủ tịch Ban Hậu cần cho các lực lượng kháng chiến, Ủy viên Ủy ban
kháng chiến hành chánh Nam bộ (1946-1954); thành viên của Phái đoàn Việt Nam tham dự Hội nghị
trù bị Đà Lạt thương thuyết với Pháp về các vấn đề Việt Nam (1946). Tham gia kháng chiến cho đến
năm 1954 rồi tập kết ra Bắc. Những năm 1960, ở miền Bắc ông giữ chức Bộ trưởng Bộ Công nghiệp
nhẹ (1958-1962).
TP.HCM, Quy
Nhơn
48
Khuất Duy Tiến
(1910 - 1984)
Nhà hoạt động cách mạng, quê xã Trạch Mỹ Lộc, Phú Thọ, Hà Nội. Ông là chiến sĩ Cộng sản kiên
cường, suốt đời tận tụy vì dân vì nước, vì lí tưởng cộng sản. Từng giữ các chức vụ: Phó Bí thư Thành
ủy Hà Nội, Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chánh thành phố Hà Nội trong kháng chiến chống Pháp.
Năm 1952 ông giữ chức Ủy viên Ủy ban Kháng chiến Hành chính Liên khu IV. Năm 1955 - 1956 ông
là Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố Hà Nội.
Hà Nội
49
Khương Hữu Dụng
(1907 - 2005)
Nhà thơ, nhà giáo, bút danh Thế Nhu, quê thị xã Hội An, tỉnh Quảng Nam. Ông từng dạy học ở
Bình Định, Quảng Bình và một số tỉnh Cao nguyên và cuối cùng bị huyền chức tại Kon Tum vì có
những hoạt động chống Pháp. Ông từng cộng tác với các báo Tiếng Dân (Huế), Phụ nữ tân văn (Sài
Gòn), Phụ nữ thời đàn (Hà Nội) và một số tờ báo khác. Trong Cách mạng tháng Tám năm 1945, ông
tham gia Tổng khởi nghĩa ở Đà Lạt, thành viên trong Ban Thường vụ Việt Minh tỉnh Lâm Viên. Sau đó
ông chuyển sang hoạt động văn hóa, văn nghệ, thanh niên cứu quốc ở Liên khu 5. Sau Hiệp định
Genève, công tác tại Hội Văn nghệ Việt nam, Hội Nhà văn, biên tập viên Tạp chí Văn học và Nhà xuất
bản Văn học ở Hà Nội. Ngoài ra ông còn là dịch giả một số thơ cổ của Trung Quốc và Việt Nam.
Quảng Nam
50
Lâm Quang Thự
(1905 - 1990)
Nhà văn, nhà hoạt động cách mạng, quê làng Cẩm Toại, tổng An Phước, huyện Hòa Vang, nay là
Đà Nẵng. Gia nhập Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội, sau tham gia Đảng Cộng sản Đông
Dương. Năm 1931, ông bị Pháp bắt và giải về Quảng Nam quản thúc một thời gian. Năm 1932, ông
làm thư kí công nhật ở Sở Hỏa xa Đà Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang, đến năm 1937 được đổi về Đà
Nẵng. Từng giữ các chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân cách mạng huyện Hòa Vang (1945); Đại biểu
Quốc hội (1946); Chánh văn phòng Ủy ban hành chính tỉnh Quảng Nam; Trưởng ban xây dựng các
chiến khu của tỉnh ở Quế Sơn, Tiên Phước, Tam Kì; Ủy viên Ủy ban Kháng chiến hành chánh miền
Quảng Nam, Đà
Nẵng
87
Nam Trung bộ; Vụ trưởng Vụ dân chính (1970). Ngoài những hoạt động cách mạng, kháng chiến, ông
còn nghiên cứu về lịch sử và pháp luật, ông viết sách, đọc nhiều tham luận tại các kì họp Quốc hội.
51
Lê Quảng Ba
(1914 - 1988)
Thiếu tướng Quân đội nhân dân Việt Nam, người dân tộc Tày, quê xã Sóc Hà, huyện Hà Quảng,
tỉnh Cao Bằng. Tham gia cách mạng từ trước năm 1940, ông là một trong những người đã đưa Chủ tịch
Hồ Chí Minh từ Trung Quốc về nước năm 1941. Ông giữ các chức vụ: Khu Trưởng Quân khu Hà Nội,
Tư lệnh Quân khu Việt Bắc, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc của Chính phủ; Chủ tịch Ủy ban Trung ương
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đại biểu Quốc hội các khóa III, IV, V; Ủy viên BCH Trung ương Đảng.
Ông được Đảng và Nhà nước tặng nhiều huân chương cao quý.
Đà Nẵng, Vĩnh
Phúc
52
Lê Thị Xuyến
(1909 - 1996)
Nhà hoạt động xã hội, quê làng Thạch Bộ, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam. Trải qua các chức vụ:
Chủ tịch Hội Phụ nữ Cứu quốc; Đại biểu Quốc hội khóa I, đơn vị Quảng Nam; Trưởng nhóm xã hội
trong Quốc hội; Ủy viên chính thức Ban Thường trực Quốc hội khóa I (1946-1957); Ủy viên Ban
thường vụ Quốc hội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa qua các khóa Quốc hội I, II, III, IV, V; Phó Chủ tịch
Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam (1956-1976); Phó Chủ tịch Ủy ban bảo vệ hòa bình thế giới của Việt
Nam (1952-1976); Phó Chủ tịch Hội Việt Nam - Cu Ba... Được Nhà nước tặng Huân chương Độc lập
và nhiều Huân huy chương cao quý khác.
Đà Nẵng
53
Lê Trọng Tấn
(1914 - 1986)
Đại tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam, quê ở Hoài Đức, Hà Nội. Ông tên thật là Lê Trọng Tố,
nổi tiếng là con người tài năng, cương trực, quyết đoán, là một trong những tướng đánh trận giỏi
nhất Việt Nam, được tin cậy giao các nhiệm vụ hệ trọng trên chiến trường trong kháng chiến chống
Pháp, chống Mỹ và chiến tranh biên giới Tây Nam, là Tư lệnh của các chiến dịch lớn như: Bình
Giã, Đồng Xoài, Bàu Bàng-Dầu Tiếng, Đường 9 Nam Lào, Trị Thiên 1972.... Ông từng là Phó Tư
lệnh Quân Giải phóng miền Nam, Viện trưởng Học viện Quân sự Cao cấp, Tổng Tham mưu trưởng
Quân đội nhân dân Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Ông là Ủy viên Ban chấp hành Trung ương
Đảng
khóa IV và V, đại biểu Quốc hội khóa VII.
Đà Nẵng, Quy
Nhơn
54
Lê Văn Hiến
(1904 - 1997)
Bộ trưởng, nhà hoạt động chính trị, quê xã Nại Hiên, thành phố Đà Nẵng. Năm 1926 tham gia tổ
chức Thanh niên cách mạng Đồng chí hội cùng hoạt động với bà Thái Thị Bôi. Năm 1930 gia nhập
Đảng Cộng sản Đông Dương. Từng giữ các chức vụ: Đại biểu Quốc hội đơn vị Quảng Nam; Bộ trưởng
Bộ Tài chính; Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước; Đại sứ Việt Nam tại Vương quốc Lào.
Đà Nẵng
55
Lê Văn Huân
(1876 - 1929)
Nhà hoạt động cách mạng, sinh tại Trung Lễ, Đức Thọ, Hà Tĩnh. Ông trực tiếp thành lập chính
Đảng Dân chủ Phục Việt, năm 1927 đổi thành Đảng Tân Việt. Ông có công xây dựng tổ chức Đảng ở
Huế và kết nạp một số Đảng viên như Nguyễn Chí Diễu, Hải Triều, Võ Nguyên Giáp, Lê Viết Lượng,
sau này trở thành cán bộ cốt cán của Đảng. Năm 1929, ông hy sinh tại nhà lao Vinh, Nghệ An.
TP.HCM
56
Lê Văn Thiêm
(1918 - 1991)
Giáo sư, Tiến sĩ, nhà toán học, quê ở huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh. Xuất thân trong một gia đình Nho
học truyền thống, thuở nhỏ học tại trường Quốc học Quy Nhơn, nổi tiếng thông minh và có năng khiếu
toán học. Năm 1936 đỗ Thành chung, năm 1938 đỗ Tú tài, được cấp học bỗng du học Pháp, sau 2 năm
đỗ Cử nhân toán. Năm 1948, ông đỗ Tiến sĩ Toán học tại Đại học Paris, được mời giảng dạy tại Đại
Hà Nội, Quy
Nhơn
88
học Zurich (Thụy Sĩ). Năm 1949, ông về nước tham gia kháng chiến chống Pháp ở miền Tây Nam bộ,
rồi vượt Trường Sơn ra Việt Bắc dạy Đại học dự bị. Sau 1954, ông giảng dạy tại Trường Đại học Tổng
hợp Hà Nội. Ông đào tạo được nhiều thế hệ học trò nổi tiếng.
57
Lương Đình Của
(1920 - 1975)
Nhà nông học, quê ở Sóc Trăng. Thuở trẻ du học và đỗ Tiến sĩ nông học tại Nhật Bản. Khi trở về
nước, ông nhiệt tình, hăng hái phục vụ tổ quốc, là người đi đầu trong công tác nghiên cứu các giống
lương thực có năng suất cao. Nông dân thân thiết gọi các giống cây do ông nghiên cứu, lai tạo: lúa ông
Của, khoai ông Của, dưa ông Của… Năm 1954, ông tập kết ra Bắc, được tặng thưởng danh hiệu Anh
hùng lao động. Ông đảm nhiệm các chức vụ: Đại biểu Quốc hội, Ủy viên Ủy ban Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam, Viện trưởng Viện Cây lương thực và thực phẩm. Được truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh.
Hà Nội,
TP.HCM, Quy
Nhơn
58
Lương Khánh Thiện
(1903 - 1941)
Nhà hoạt động cách mạng, quê ở Phủ Lý, Hà Nam. Sớm tham gia hoạt động cách mạng, năm 1929
được kết nạp vào Chi bộ cộng sản đầu tiên ở Hải Phòng. Giữa năm 1929, bị địch bắt đưa về giam ở nhà
lao Hải Phòng, năm 1931 bị kết án tù khổ sai chung thân, đày đi Côn Đảo. Ông cùng với những chiến
sĩ cộng sản đã biến nhà tù thành trường học cách mạng, tổ chức học tập, nâng cao kiến thức lý luận chủ
nghĩa Mác-Lênin. Năm 1936 được trả tự do, ông tiếp tục tham gia hoạt động cách mạng, Trải qua các
chức vụ Bí thư Xứ ủy Bắc Kỳ, kiêm Bí thư Thành ủy Hà Nội (1937-1938); Bí thư Liên tỉnh B (gồm
Hải Phòng, Quảng Yên, Hòn Gai, Hải Dương, Hưng Yên) và trực tiếp phụ trách Đảng bộ Hải Phòng
(1940). Năm 1941, trong lúc đi chỉ đạo phong trào công nhân ở Hải Phòng, đồng chí bị mật thám Pháp
bắt, bị kết án tử hình ngày 02/9/1941 tại Kiến An, Hải Phòng. Ông là tấm gương sáng ngời của người
chiến sĩ cộng sản kiên trung, cống hiến trọn đời cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc, là nhà
lãnh đạo tiền bối của Đảng và cách mạng Việt Nam.
Lào Cai, Hà
Nội, Hải Phòng
59
Lương Văn Nho
(1916 - 1984)
Thiếu tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam, quê huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai, tục danh là Hai
Nhỏ. Sau Cách mạng tháng Tám, ông tham gia Nam bộ kháng chiến, năm 1947 là Huyện đội trưởng
Long Thành, rồi Tỉnh đội trưởng dân quân Bà Rịa, Tỉnh đội phó, Tham mưu trưởng Tỉnh đội Bà Rịa -
Chợ Lớn. Năm 1954 tập kết ra Bắc làm Tham mưu trưởng Liên khu 3. Năm 1961 trở về Nam chiến
đấu, làm Tư lệnh kiêm Bí thư Đặc khu Rừng Sác, Tư lệnh pháo binh Miền (B2). Sau 30/4/1975 làm
phó Tham mưu trưởng Quân khu 7, từng được tặng Huân chương chiến công.
TP.HCM
60
Lưu Hữu Phước
(1921 - 1989)
Nhạc sĩ, quê ở Cần Thơ. Thuở nhỏ ông học đàn kìm, về sau chơi cả mandoline, guitare và tự học lý
thuyết âm nhạc. Trong thời gian học ở Sài Gòn, ông tham gia Hội học sinh, sinh viên yêu nước. Sau ra
Hà Nội học trường Y - Dược. Tham gia phong trào học sinh, sinh viên và sáng tác nhiều ca khúc nổi
tiếng về đề tài lịch sử, hun đúc tình thần dân tộc cho thanh niên Việt Nam. Giữ các chức vụ: Vụ trưởng
Vụ Âm nhạc và Múa, Bộ trưởng Bộ Thông tin Văn hoá, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Âm nhạc, Chủ
nhiệm Ủy ban Văn hóa và Giáo dục của Quốc hội, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc…
được phong học hàm Giáo sư và Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm Nghệ thuật CHDC Đức, Thành viên
Hội đồng Âm nhạc Quốc tế… Ông sáng tác nhiều bài hát nổi tiếng: Hành khúc giải phóng, Xuống
đường, Tiến về Sài Gòn, Giải phóng miền Nam, Lên đàng, Hồn tử sĩ... Được tặng thưởng nhiều huân
TP.HCM, Quy
Nhơn
89
chương, huy chương và giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật đợt 1 (1996).
61
Lưu Quang Vũ
(1948 - 1988)
Nhà soạn kịch, thi sĩ, nguyên quán ở phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. Năm 1965 nhập ngũ
thuộc quân chủng phòng không, cuối năm 1970 xuất ngũ và viết báo, sáng tác văn chương, hội họa.
Năm 1979 ông là phóng viên của Tạp chí Sân khấu ở Hà Nội. Ông để lại các tác phẩm nổi tiếng như:
Sống mãi tuổi 17 (1979), Hồn Trương Ba da hàng thịt (1984), Lời thề thứ 9 (1988), Điều không thể mất
(1988),…
Đà Nẵng, Hà
Nội, Quy Nhơn
62
Lưu Trọng Lư
(1911 - 1991)
Nhà thơ, quê ở huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình. Xuất thân trong một gia đình Nho học, thuở
nhỏ học tại trường Quốc học Huế, sớm tham gia làng báo. Ông là một trong những chủ tướng của
phong trào Thơ Mới, nổi tiếng với bài Tiếng thu. Sau Cách mạng tháng Tám, ông tham gia Hội Văn
hóa Cứu quốc ở Huế rồi làm Hội trưởng Hội Văn nghệ Quân khu IV, sau làm Vụ trưởng Vụ Văn nghệ
Bộ Văn hóa, Tổng thư ký Hội Nghệ sĩ sân khấu Việt Nam, Ủy viên BCH Hội Nhà văn Việt Nam.
Những tác phẩm chính để lại: Người Sơn nhân, Khói lam chiều, Chiếc cánh xanh, Tiếng thu, Toả sáng
đôi bờ, Người con gái sông Gianh, Tuyển tập thơ…Ông mất năm 1991 tại Hà Nội. Năm 2000, được
truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.
Đà Nẵng,
TP.HCM, Quy
Nhơn
63
Lưu Văn Lang
(1880 - 1969)
Kỹ sư, quê ở Sa Đéc, Đồng Tháp. Thuở nhỏ thông minh, học giỏi nên được cấp học bổng du học
Pháp, tốt nghiệp kỹ sư bá nghệ, được người Pháp nể trọng. Năm 1909, về làm việc ở Sở Công chánh
Đông Dương tại Sài Gòn. Năm 1926, là đồng Chủ tịch Việt Nam Ngân hàng ở Sài Gòn. Năm 1945,
được vua Bảo Đại mời làm Bộ trưởng Công chánh, nhưng ông từ chối. Năm 1947, ông cùng 400 trí
thức Sài Gòn ký tên vào Bản Tuyên ngôn đòi Pháp thương thuyết chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương.
Ông là nhà trí thức yêu nước nổi tiếng, tham gia thành lập các tổ chức Hội giúp sinh viên nghèo Việt
Nam học giỏi đi du học và trở thành những trí thức quan trọng. Sau 1954, ông tham gia sáng lập phong
trào Hòa bình, đòi thi hành Hiệp định Giơnevơ, tổng tuyển cử thống nhất đất nước.
TP. HCM, Quy
Nhơn
64
Nam Cao
(1917 - 1951)
Nhà văn hiện thực nổi tiếng, tên thật là Trần Hữu Trí, quê ở huyện Lý Nhân, Hà Nam. Trước Cách
mạng tháng Tám, ông sáng tác văn chương, nổi tiếng với các truyện ngắn, tiểu thuyết xã hội. Ông tham
gia Hội Văn hóa cứu quốc năm 1943 và tham gia tổng khởi nghĩa giành chính quyền năm 1945, làm
Thư ký toà soạn báo Cứu quốc. Trong kháng chiến chống Pháp, ông làm công tác tuyên truyền báo chí
và văn nghệ ở Việt Bắc. Hy sinh năm 1951 trên đường đi công tác vào vùng địch ở Ninh Bình. Các tác
phẩm của ông đã xuất bản: Chí Phèo, Nửa đêm, Sống mòn, Đôi mắt, Truyện ngắn Nam Cao…Được
truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh năm 1996.
Hà Nội, Quy
Nhơn
65
Ngô Gia Khảm
(1912 - 1990)
Anh hùng lao động, quê huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Ông tham gia hoạt động cách mạng từ năm
1928, năm 1941 bị Pháp bắt giam ở nhà tù Sơn La, đến năm 1944 được trả tự do. Ông là người đầu tiên
tham gia xây dựng công binh xưởng quân giới tại chiến khu Việt Bắc trước năm 1945. Trong 9 năm
kháng Pháp, ông đã đào tạo được nhiều công nhân quân giới, sản xuất thuốc nổ phục vụ kháng chiến.
Sau 1954, làm Giám đốc Nhà máy xe lửa Gia Lâm Hà Nội, Cục trưởng Cục đầu máy xe lửa, Trưởng
ban Thanh tra Bộ Giao thông vận tải… Được tặng danh hiệu Anh hùng lao động và nhiều huân chương
Hà Nội, Quy
Nhơn
90
cao quý.
66
Ngô Tất Tố
(1894 - 1954)
Nhà văn, nhà báo, sinh quán ở Mai Lâm, huyện Đông Anh, Hà Nội. Khoảng năm 1927-1929 ông
vào Nam cộng tác với các tờ báo như: Thần Chung, Đông Pháp thời báo… Sau đó ra Bắc chuyên tâm
sáng tác, nghiên cứu văn học, triết học, sử học và nổi tiếng trong làng báo chí và văn học thời 1939-
1945. Ông cũng là người nhiệt thành yêu nước, tham gia kháng chiến chống Pháp và có nhiều đóng góp
trong công cuộc kháng Pháp cứu nước. Các tác phẩm chính: Tắt đèn, Việc làng, Lều chõng, Lịch sử Đề
Thám, Văn học Việt Nam (viết được hai tập: Văn học đời Lý, Văn học đời Trần)…
Hà Nội,
TP.HCM, Quy
Nhơn
67
Nguyên Hồng
(1918 - 1982)
Nhà văn, bút danh Nguyên Hồng, tên thật là Nguyễn Nguyên Hồng, quê Nam Định. Từ 1937 đến
1939, ông tham gia phong trào Mặt trận Dân chủ ở Hải Phòng. Năm 1939, ông bị bắt ở Hải Phòng, bị
kết án 6 tháng tù, rồi bị đưa đi trại tập trung ở Hà Giang. Đến tháng 11/1941 được thả về, nhưng vẫn
phải quản thúc ở Nam Định. Năm 1943, ông bí mật tham gia Hội Văn hóa Cứu quốc, từ ấy ông càng
tích cực hoạt động trên lãnh vực văn hóa. Năm 1948, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương.
Ông từng tham gia Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam (1957), phụ trách Trường Bồi dưỡng lực
lượng viết văn trẻ, Ban Văn học Công nhân và là Chủ tịch Hội Văn nghệ Hải Phòng. Ngày 02/5/1982
ông mất tại xã Quang Tiến, huyện Tiên Yên, tỉnh Hà Bắc. Các tác phẩm chính của ông đã xuất bản: Bỉ
vỏ, Bảy Hựu, Những ngày thơ ấu, Cuộc sống, Qua những màn tối ….. Năm 1996, ông được Nhà nước
truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.
Hà Nội, Quy
Nhơn
68
Nguyễn An Khương
(1860 - 1931)
Chí sĩ yêu nước, dịch giả, nguyên quán tỉnh Bình Định, sau vào ở Hóc Môn, Gia Định. Ông tinh
thông Hán học, giỏi chữ quốc ngữ, có tinh thần yêu nước, nhiệt liệt hưởng ứng phong trào Duy tân,
đứng ra thành lập khách sạn Chiêu Nam lầu làm cơ sở cách mạng ở Sài Gòn, giúp phương tiện, tiền bạc
đưa thanh niên ra nước ngoài học tập phụng sự tổ quốc. Năm 1900 - 1910, ông viết báo, dịch sách nổi
tiếng trong lịch sử văn học Việt Nam thời kỳ chữ Quốc ngữ còn phôi thai. Chính ông đã hun đúc tinh
thần yêu nước cho con trai là chí sĩ Nguyễn An Ninh. Tác phẩm dịch thuật của ông: Tam quốc diễn
nghĩa, Thủy hử, Vạn huê lầu, Chinh Đông, Chinh Tây được xuất bản trước năm 1945 được đông đảo
độc giả mến mộ.
TP.HCM, Quy
Nhơn
69
Nguyễn An Ninh
(1900 - 1943)
Nhà hoạt động cách mạng, nhà văn, nhà báo, quê ở Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh. Thuở nhỏ
học ở Sài Gòn, sau du học Pháp, năm 1920 đỗ Cử nhân Luật. Thời gian ở Paris, ông liên hệ với nhà yêu
nước Phan Châu Trinh, từng tiếp xúc với Nguyễn Ái Quốc. Năm 1922, ông về nước hoạt động cách
mạng, tham gia diễn thuyết, viết báo kêu gọi thanh niên và giới trí thức ý thức thân phận người dân mất
nước mà hành động. Từ 1926 - 1939, ông bị thực dân Pháp bắt giam và kết án 5 lần, nhưng ra tù ông
vẫn tiếp tục đấu tranh chống Pháp. Đến năm 1939, bị đày ra Côn Đảo, bị tra tấn kiệt sức và mất ở đây.
Ông là tác giả một số sách, bài diễn thuyết, bài báo cả tiếng Việt và tiếng Pháp nổi tiếng, gây tiếng
vang lớn thời bấy giờ.
TP.HCM, Quy
Nhơn, TT. Bình
Dương
70
Nguyễn Bính
(1918 - 1966)
Nhà thơ, tên thật là Nguyễn Trọng Bính, quê ở xã Cộng Hoà, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Năm
14 tuổi ra Hà Nội kiếm sống, tự học làm thơ. Năm 1937, ông có tập thơ Tâm hồn tôi nổi tiếng, được
Huế, Hà Nội,
Quy Nhơn
91
giải thưởng của Tự lực Văn đoàn. Năm 1943, ông vào Nam sinh sống và sáng tác, đến 1947, ông tham
gia kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ, phụ trách văn hóa cứu quốc tỉnh Rạch Giá, Phó Chủ tịch Tỉnh
bộ Việt Minh. Năm 1954, ông tập kết ra Bắc, công tác tại Hội Nhà văn Việt Nam, sau công tác tại Ty
Văn hóa Nam Định. Tác phẩm của ông gồm: thơ, truyện thơ, kịch thơ, chèo…, trong đó có nhiều bài
rất hay. Năm 2000, ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.
71
Nguyễn Chánh
(1917 - 2001)
Trung tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam, nguyên quán phường Nhơn Bình, Quy Nhơn, Bình
Định
. Thời trẻ, ông gia nhập lính khố xanh của Pháp, được điều động sang đóng tại Thà Khẹt (Lào),
làm Cai đội. Trong Cách mạng tháng Tám, ông đưa trung đội lính khố xanh gia nhập
Giải phóng quân.
Năm 1947, ông về công tác ở các tỉnh phía Nam. Từ 1949-1954, giữ các chức vụ: Tham mưu trưởng
Bộ Tư lệnh Nam Bộ, Tư lệnh Khu 9, Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Liên khu miền
Tây Nam Bộ.
Tháng 7/1954, làm phái viên Bộ Tổng tư lệnh, phụ trách Liên hiệp đình chiến và tập kết. Sau 1955, trải
qua các chức vụ: Tham mưu trưởng Quân khu Hữu ngạn, Cục phó Cục tác chiến Bộ Tổng tham mưu,
Phó Tư lệnh Quân khu 5 kiêm Tư lệnh Mặt trận Quảng - Đà, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng trong Chính
phủ CMLTMN Việt Nam, Tư lệnh Quân khu 9, Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần.
Được tặng thưởng nhiều
huân, huy chương cao quý.
Quy Nhơn
72
Nguyễn Chí Diểu
(1908 - 1939)
Nhà hoạt động chính trị, quê xã Phú Mậu, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên. Năm 1925 vào học
trường Quốc học Huế, tham gia đảng Tân Việt, Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí hội. Năm
1928 ông được cử Xứ ủy viên Trung Kì của Đảng Tân Việt, năm 1929 một bộ phận đảng Tân Việt trở
thành Đông Dương Cộng sản liên đoàn, ông trở thành đảng viên Đảng Cộng sản. Từng giữ chức Bí thư
Tỉnh ủy Gia Định. Ở đây ông bị Pháp bắt vào tháng 10/1930. Năm 1933 mới đưa ra tòa kết án ông khổ
sai chung thân rồi lưu đày Côn Đảo. Tháng 6/1936 ông được trả tự do, nhưng bị quản thúc ở Huế. Tại
quê nhà, tuy bị theo dõi, bao vây ông vẫn tiếp tục hoạt động bí mật lãnh đạo các cuộc đấu tranh trực
tiếp ở Huế và các tỉnh Trung Kì. Hiện nay tại Thừa Thiên - Huế có nhà lưu niệm, khu lăng mộ, di tích
liên quan đến cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của ông, còn có một con đường và một ngôi trường
mang tên ông.
Huế, Quy Nhơn
73
Nguyễn Công Hoan
(1903 - 1977)
Nhà văn, quê ở xã Văn Giang, huyện Xuân Cầu, tỉnh Hưng Yên. Ông xuất thân là nhà giáo, viết báo,
viết văn và tích cực đóng góp công sức trong công cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Ông là Ủy viên
Ban chấp hành Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam. Ông để lại hơn 200 truyện ngắn và nhiều
tác phẩm văn học hiện thực nổi tiếng. Được tặng thưởng nhiều phần thưởng cao quý: Huân chương
chiến thắng, Huân chương lao động hạng nhất, được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh
về Văn học
nghệ thuật năm 1996. Tên ông được đặt cho một phố ở Hà Nội.
Hà Nội, Đà
Nẵng, Quy
Nhơn...
74
Nguyễn Đình Thi
(1924 - 2003)
Nhà văn, nguyên quán làng Vũ Thạch, Hà Nội. Ông tham gia hoạt động cách mạng năm 1941, năm
1943 dự Quốc dân Đại hội Tân trào và được cử vào Ủy ban Giải phóng dân tộc Việt Nam. Sau Cách
mạng tháng Tám, ông làm Tổng Thư ký Hội Văn hóa cứu quốc, Ủy viên Tiểu ban dự thảo Hiến pháp
và Ủy viên Ban thường trực Quốc hội khóa I. Trong kháng chiến chống Pháp, hoạt động văn hóa phục
TP. Cà Mau
92
vụ kháng chiến, tham gia nhiều chiến dịch và sáng tác văn học. Sau 1955, giữ các chức vụ: Tổng Thư
ký Hội Văn nghệ Việt Nam, Tổng Thư ký Hội Nhà văn Việt Nam từ khóa I - III, Chủ tịch Ủy ban toàn
quốc Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam. Để lại nhiều tác phẩm thơ văn, kịch nổi tiếng,
được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học năm 1996.
75
Nguyễn Đổng Chi
(1915 - 1984)
Nhà nghiên cứu văn hóa, quê ở Can Lộc, Hà Tĩnh. Ông là Giáo sư tận tâm, nhiệt tình với việc vun
bồi nền văn hóa Việt Nam. Ông từng tham gia hoạt động cứu quốc trước năm 1945. Sau Cách mạng
tháng Tám, ông giữ các chức vụ: Chủ tịch Hội Văn hóa cứu quốc Nghệ An, Viện trưởng Viện Hán
Nôm, Ủy viên BCH Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam… Ông để lại nhiều công trình nghiên cứu về lịch
sử văn hóa Việt Nam: Việt Nam cổ văn học sử, Lược khảo về thần thoại Việt Nam, Kho tàng truyện cổ
tích Việt Nam, Sơ khảo lịch sử văn học Việt Nam…, được tặng Huân chương kháng chiến hạng Nhất và
Giải thưởng Hồ Chí Minh.
Hà Nội, Đà
Nẵng
76
Nguyễn Đỗ Cung
(1912 - 1977)
Hoạ sĩ, quê ở làng Xuân Tảo, huyện Từ Liêm, Hà Nội. Ông thuộc thế hệ hoạ sĩ đầu tiên của
Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Ông nhiệt thành hoạt động cách mạng, tham gia các tổ chức
yêu nước, trải qua các nhiệm vụ: Uỷ viên BCH Hội Văn hóa Cứu quốc năm 1945, Đại biểu Quốc hội
Khóa I; Ủy viên BCH Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam, Viện trưởng Viện Mỹ thuật (1962).
Ông là nhà giáo đào tạo nhiều họa sĩ trẻ, đóng góp nhiều cho ngành Mỹ thuật Việt Nam hiện đại; đặt
nền móng cho Bộ chính sử Mỹ thuật Việt Nam ra đời… Tác phẩm của ông được công chúng yêu mến
bởi bút pháp mộc mạc, vững vàng, chất liệu hiện thực nên thơ, tràn đầy tâm hồn yêu cuộc sống. Ông là
một trong số ít hoạ sĩ chỉ đạo trình bày trang trí mỹ thuật phần đặt linh cữu trong Lăng Hồ Chủ tịch.
Được tặng thưởng nhiều Huân, Huy chương cao quí, được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Mỹ
thuật năm 1996.
Đà Nẵng, Quy
Nhơn
77
Nguyễn Hữu An
(1926 - 1995)
Thượng tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam, quê Hoa Lư, Ninh Bình. Ông tham gia và trưởng thành
trong quân đội từ những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, từng tham gia nhiều mặt trận,
trong đó có Chiến dịch Điện Biên Phủ, Chiến dịch Hồ Chí Minh, nhiều trận đánh lớn gắn với tên tuổi
của ông như: Plei Me, Tu Mơ Rông, Ia Đrăng (Tây Nguyên), Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, Chiến
dịch Cánh Đồng Chum. Ông trải qua các chức vụ: Tư lệnh Quân đoàn 2, Phó Tổng thanh tra Quân đội,
Giám đốc Học viện Lục quân; Giám đốc Học viện Quốc phòng. Ông được Đảng và Nhà nước tặng
nhiều huân chương, trong đó có Huân chương Độc lập hạng Nhất. Được truy tặng Anh hùng lực lượng
vũ trang nhân dân năm 2015.
Ninh Bình,
Hoài Nhơn
78
Nguyễn Kim Cương
(1906 - 1994)
Chiến sĩ cách mạng, quê huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Ông tham gia tổ chức Việt Nam Thanh
niên Cách mạng đồng chí hội từ năm 1926, được gởi sang Trung Quốc dự lớp huấn luyện do lãnh tụ
Nguyễn Ái Quốc chủ trì. Năm 1927 ông về nước hoạt động ở Nam Bộ được bầu vào Xứ ủy An Nam
cộng sản đảng. Năm 1930, ông bị bắt ở Sài Gòn đày ra Côn Đảo, sau năm 1945 về đất liền giữ chức
Phó ban Tuyên huấn Xứ ủy Nam Bộ. Năm 1954 làm Bí thư Đảng bộ Ban liên lạc Quân sự đình chiến ở
Sài Gòn, năm 1960 làm Thứ trưởng Bộ phủ Thủ tướng. Từ năm 1970 làm Phó chủ nhiệm Ủy ban liên
TP.HCM
93
lạc văn hóa nước ngoài của Trung ương Đảng.
79
Nguyễn Huy Phan
(1928 - 1997)
Giáo sư y khoa, Thiếu tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam, quê xã Dương Xá, huyện Gia Lâm,
thành phố Hà Nội. Tham gia chống Pháp từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 trong lĩnh vực quân
y. Xuất thân là y sĩ phòng quân y Bộ Quốc phòng và trở thành người đầu tiên xây dựng chuyên ngành
phẫu thuật tạo hình Việt Nam, Viện sĩ Hàn lâm khoa học New York, Phó Chủ tịch Tổng hội y dược học
Việt Nam, Chủ tịch Hội Hữu nghị Việt Mỹ,... Ông cũng là tác giả của 118 tài liệu về công trình khoa
học về phẫu thuật tạo hình và vi phẫu thuật, do công sức, khả năng, tinh thần phục vụ khoa học và nhân
dân, ông được quân đội và Nhà nước tặng huân chương Độc lập hạng Nhất và danh hiệu Thầy thuốc
nhân dân.
Hà Nội
80
Nguyễn Đức Thuận
(1916 - 1985)
Nhà hoạt động cách mạng, tên thật là Bùi Phong Tư, quê làng Bản Ngũ, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam
Định. Năm 1937 gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương. Năm 1940 có chân trong Thành ủy Hà Nội,
cuối năm 1940 bị bắt, kết án 15 năm khổ sai đày lên nhà tù Sơn La, đến cuối năm 1943 đày Côn Đảo.
Năm 1945 được cách mạng đón về đất liền, cử giữ chức Bí thư Tỉnh ủy Thủ Dầu Một (nay là tỉnh Bình
Dương). Năm 1947 làm Bí thư khu 7 (miền Đông Nam Bộ). Sau Hiệp định Genève, ông ở lại miền
Nam, đến năm 1956 bị bắt đày Côn Đảo lần thứ hai. Năm 1976 là Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư kí Tổng
Công đoàn Việt Nam rồi Chủ tịch. Năm 1985 là Ủy viên BCH Trung ương Đảng.
Hà Nội,
TP.HCM
81
Nguyễn Huy Tưởng
(1912 - 1960)
Nhà văn, quê ở Đông Anh, Hà Nội. Trước năm 1945, ông tham gia hoạt động cách mạng, phục vụ
văn hóa cứu quốc. Trong kháng chiến chống Pháp, ông là một trong những người đứng ra lập Hội Văn
nghệ Việt Nam và góp phần xây dựng nền văn nghệ kháng chiến từ buổi đầu. Ông để lại nhiều tác
phẩm với các thể loại: tiểu thuyết, kịch lịch sử, truyện phim, sách thiếu nhi…
Hà Nội, Quy
Nhơn
82
Nguyễn Khắc Viện
(1914 - 1997)
Bác sĩ y khoa, nhà hoạt động văn hóa, quê ở Hương Sơn, Hà Tĩnh. Năm 1936, ông sang Pháp học
trường Đại học Y khoa Paris. Ông gia nhập Đảng Cộng sản Pháp, tích cực hoạt động chống chủ nghĩa
thực dân. Năm 1963, ông về nước làm việc ở Hà Nội, phụ trách tờ Nghiên cứu Việt Nam, dịch các tác
phẩm văn học Việt Nam sang tiếng pháp để giới thiệu văn hóa Việt Nam với cộng đồng thế giới. Được
tặng thưởng nhiều huân chương cao quý và được Viện Hàn lâm Pháp tặng giải thưởng lớn về văn hóa.
Ông để lại nhiều tác phẩm: Tuyển tập văn học Việt Nam, Từ điển tâm lý, Từ điển xã hội học, Tâm lý gia
đình, Tâm lý đại cương, Tâm bệnh lý trẻ em, Bàn về đạo Nho…
TP.HCM, Quy
Nhơn
83
Nguyễn Phan Chánh
(1892 - 1984)
Hoạ sĩ, sinh tại xã Trung Tiết, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Lúc còn niên thiếu ông đã bộc lộ
năng khiếu vẽ tranh. Từ năm 1925 - 1930, ông là sinh viên khóa đầu tiên của trường Cao đẳng Mỹ
thuật Đông Dương. Ông là bậc danh họa trong nghệ thuật tranh lụa, một trong những họa sĩ tiêu biểu
của nền hội họa Đông Dương đầu thế kỷ XX với những bức lụa thành công như: Chơi ô ăn quan, Lên
đồng, Bữa cơm… Tranh của ông được hoan nghênh nhiệt liệt tại các triển lãm trong nước và nước
ngoài. Ông tham gia giảng dạy Mỹ thuật tại trường Bưởi, trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội và đào tạo
nhiều thế hệ họa sĩ. Từng giữ các chức vụ: Đại biểu Quốc hội khóa 3, Ủy viên Ban chấp hành Hội Liên
hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam. Ông để lại sự nghiệp sáng tác đồ sộ với trên 170 tác phẩm, được
Hà Tĩnh
94
truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 1 năm 1996.
84
Nguyễn Phúc
Bửu Đỉnh
(1898 - 1931)
Nhà văn, nhà yêu nước, hiệu là Hà Trì, quê làng Kim Long, ngoại ô thành Huế, tỉnh Thừa Thiên.
Thuở nhỏ học ở Phan Thiết, sau học tại Trường Quốc học Huế, rồi làm công chức ngành bưu điện tại
Sài Gòn. Tại đây ông cộng tác với các báo: Nam Kì kinh tế, Công luận, Tân thế kỉ, Phụ nữ Tân văn...
Trong thời gian này ông liên hệ với các nhà yêu nước khác hô hào nhân dân ý thức nền dân chủ. Nhiều
lần ông đăng đàn diễn thuyết nhằm xóa bỏ chế độ phong kiến Nam triều, lập chế độ cộng hòa theo chủ
trương của Phan Châu Trinh. Tại nhà tù Lao Bảo, ông không khuất phục quân thù, nên bị chúng lưu
đày Côn Đảo vô thời hạn. Trong tù, ông vẫn kiên cường tiếp tục phản kháng chế độ, viết nhiều sách
báo gởi về đất liền nhằm tố cáo chế độ hà khắc của thực dân. Khoảng năm 1931, ông và một số chính
trị phạm khác tổ chức thả bè vượt biền trốn về đất liền, nhưng mất tích trên biển.
TP HCM, Huế
85
Nguyễn Quang Diêu
(1880 - 1936)
Chí sĩ, nhà thơ yêu nước cận đại, quê làng Tân Thuận, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp. Năm 1907,
ông tham gia phong trào Đông Du. Năm 1913, hưởng ứng lời kêu gọi của Phan Bội Châu, Cường Để,
ông cùng Nguyễn Thần Hiến sang Hương Cảng hoạt động với các đồng chí. Vừa đến nơi bị thực dân
Pháp bắt đem về giam tại Hỏa Lò (Hà Nội), rồi đày sang Guyane (Nam Mỹ). Khoảng năm 1917 ông
vượt ngục trốn qua đảo Trinidad (thuộc địa của Anh) giả dạng làm người Trung Quốc. Năm 1920, đến
Washington (Mỹ) rồi thẳng đường về Trung Quốc, Hương Cảng tìm cách liên lạc với các nhà cách
mạng Việt Nam ở hải ngoại. Năm 1926, ông bí mật về hoạt động trong nước cho đến khi mất.
TP.HCM
86
Nguyễn Sinh Khiêm
(1888 - 1950)
Nhà hoạt động yêu nước, còn có tên Nguyễn Tất Đạt, là anh ruột của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người
làng Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Tháng 5/1906, cụ Nguyễn Sinh Sắc vào Huế nhận chức
Kiểm thảo viện Hàn Lâm, sau sung Thừa biện bộ Lễ, cho Nguyễn Tất Đạt và Nguyễn Tất Thành vào
học trường Pháp - Việt Đông Ba rồi qua trường Quốc Học. Sau khi cha được bổ làm Tri huyện Bình
Khê (01/7/1909), ông về quê tham gia hoạt động yêu nước, bị Pháp bắt đày vào Ba Ngòi (Khánh Hòa)
làm khổ sai. Ngày 17/3/1920, thực dân Pháp chuyển về giam lỏng tại Thừa Thiên, ông vẫn bí mật tiếp
tục hoạt động yêu nước. Năm 1940, ông được trả tự do nhưng vẫn tiếp tục hoạt động cách mạng nên lại
bị Pháp bắt giam đến ngày 16/8/1942. Được phóng thích ông lại vào Huế lần nữa để liên lạc với một số
tù “chính trị phạm” ở “căng an trí” Phong Điền, Quảng Điền. Cuối năm 1946, ông ra Hà Nội gặp Hồ
Chủ tịch, sau đó về Nghệ An rồi mất ở quê nhà.
Huế, Hoài
Nhơn
87
Nguyễn Thi
(1928 - 1968)
Nhà văn, tên thật Nguyễn Hoàng Ca, bút danh Nguyễn Thi, quê ở huyện Hải Hậu, Nam Định. Cách
mạng tháng Tám thành công, ông tham gia kháng chiến, năm 1946 vào bộ đội chiến đấu tại Nam Bộ.
Năm 1954 tập kết ra bắc. Năm 1962, vào Nam chiến đấu tại chiến trường miền Đông, miền Tây Nam
Bộ. Ông hy sinh ở ngoại ô Sài Gòn năm 1968. Các tác phẩm của ông: Người mẹ cầm súng, Trăng sáng,
Đôi bạn, Truyện và ký…
Quy Nhơn
88
Nguyễn Tuân
(1910 - 1987)
Nhà văn, quê ở Thanh Xuân, Hà Nội. Ông là nhà văn nổi tiếng từ trước 1945. Ông đi nhiều, viết
nhiều, cộng tác nhiều tờ báo, rồi làm diễn viên kịch, diễn viên điện ảnh. Trong kháng chiến chống
Pháp, ông đóng góp nhiều công sức cho nền văn học cách mạng. Ông từng là Tổng thư ký Hội Văn
Hà Nội,
TP.HCM, Huế
95
Nghệ Việt Nam, Ủy viên Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam, Ủy viên Thường vụ Hội Nhà văn
Việt Nam. Ông là nhà văn tài hoa trong viết bút ký, tùy bút, truyện ngắn, tiểu thuyết, phóng sự, phê
bình văn học. Tác phẩm của ông được tuyển chọn giảng dạy trong chương trình giáo dục ở các cấp học.
Ông được tặng thưởng nhiều huân, huy chương cao quí, truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học
nghệ thuật năm 1996.
89
Nguyễn Văn Huyên
(1905 - 1975)
Giáo sư, nhà sử học, ông sinh ra trong một gia đình công chức ở Hà Nội. Ông du học Pháp, năm
1930, đỗ Tiến sĩ văn khoa, về làm việc ở Trường Viễn Đông bác cổ Hà Nội, dạy học và chuyên nghiên
cứu về lịch sử, dân tộc học. Sau Cách mạng tháng Tám 1945, ông là Giám đốc Vụ Đại học, kiêm Giám
đốc Viện Đông phương Bác cổ Hà Nội. Từ 1946, được cử giữ chức Bộ trưởng Bộ Giáo dục và nhiều
chức vụ quan trọng khác, là Đại biểu Quốc hội khóa II - V. Ông còn tham gia nhiều phái đoàn Chính
phủ đi đàm phán với các nước. Được tặng thưởng nhiều Huân chương cao quý.
Hà Nội, Quy
Nhơn
90
Nguyễn Văn
Khương
(1917 - 2004)
Thượng tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam, quê xã Hào Kiệt, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.
Tham gia cách mạng năm 1936, sau đó bị Pháp bắt giam (1940), năm 1944 ông vượt ngục về hoạt động
ở các tỉnh Thái Nguyên, Tuyên Quang. Từng giữ các chức vụ: Phó Chủ nhiệm Tổng Cục Chính trị
(1955); Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng, Trưởng ban kiểm tra Quân ủy Trung ương, Trưởng
Ban Ủy ban kiểm tra Trung ương Đảng; Tổng cục Chính trị kiêm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng; Phó Bí
thư Quận ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Lao động và Thương binh xã hội. Ông được nhà nước tặng
Huân chương Sao Vàng.
TP.HCM
91
Nguyễn Thị Thập
(1908 - 1996)
Nhà hoạt động cách mạng, quê ở huyện Châu Thành, Tiền Giang. Bà tham gia hoạt động cách
mạng từ hồi còn trẻ. Năm 1935, là Ủy viên dự khuyết Xứ ủy Nam Kỳ. Năm 1945, tham gia Xứ ủy lâm
thời Nam Kỳ hoạt động ở Sài Gòn. Năm 1946, đắc cử đại biểu Quốc hội khóa I. Bà là Ủy viên BCH
TW Đảng, Chủ tịch Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Bà đã cống hiến trọn cuộc đời cho Tổ quốc. Người
con duy nhất của bà đã hy sinh trong kháng chiến chống Mỹ, bà được tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam
anh hùng.
Đà Nẵng, Quy
Nhơn
92
Nguyễn Văn Tiên
(1924 - 2003)
Trung tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam, quê xã Long Hưng, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền
Giang. Xuất thân là chiến sĩ Vệ Quốc Đoàn, nguyên Tiểu đoàn trưởng kiêm Chính trị viên Tiểu đoàn
307 lừng danh trong kháng chiến Pháp (1946-1954). từng giữ các chức vụ: Cục trưởng Cục hàng không
dân dụng Việt Nam; Tư lệnh không quân; Phó tư lệnh không quân; Phó tư lệnh quân chủng phòng
không không quân; Phó chủ nhiệm Tổng cục Kĩ thuật Bộ Quốc phòng; Hiệu trưởng Trường Đại học
quân sự… Suốt thời gian phục vụ quân đội, ông được Đảng và Nhà nước tặng thưởng nhiều huân
chương cao quí, trong đó có Huân chương quân công hạng nhất và Huân chương kháng chiến hạng
nhất.
Biên Hòa, Thái
Nguyên
93
Nguyễn Trác
(1904 - 1986)
Nhà hoạt động cách mạng, quê xã Điện Hòa, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Năm 1930, ông làm
công cho hãng buôn Charner ở Sài Gòn, đến tháng 7/1930 được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông
Dương. Ông từng bị địch bắt kết án 10 năm và đày đi Côn Lôn, năm 1936, ông được đặc xá và tiếp tục
Đà Nẵng, Quy
Nhơn
96
xây dựng cơ sở Đảng ở Quảng Nam và các tỉnh khác. Cuối năm 1938 ông lại bị bắt và đày đi Quy
Nhơn, Ban Mê Thuột,… Trong cuộc đời hoạt động cách mạng, ông từng trải qua các chức vụ: Phó Bí
thư Xứ ủy Trung Kỳ phụ trách các tỉnh từ Đà Nẵng vào đến Bình Thuận, kiêm Bí thư Tỉnh ủy Quảng
Nam (1937); Chánh án Tòa án Quân sự khu vực Thuận Hóa (11/1945); Giám đốc Sở Tư pháp Liên khu
4 (1950); Thứ trưởng Bộ Tư pháp (1958-1959); Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao (1960-1966);
Ủy viên, Phó trưởng ban thường trực Ban Pháp chế Trung ương (1966), được Nhà nước tặng thưởng
Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Sao Vàng.
94
Nguyễn Minh Vỹ
(1914 - 2002)
Nhà hoạt động cách mạng, quê xã Phong Thủy, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên-Huế. Ông
tham gia hoạt động cách mạng từ ngày còn ngồi trên ghế nhà trường, hoạt động ở Bình Định, Khánh
Hoà. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, ông giữ chức Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến hành chánh tỉnh
Khánh Hoà, Bí thư Tỉnh uỷ Khánh Hoà, Đại biểu Quốc hội khóa I, Ủy viên Ủy ban kháng chiến hành
chánh Nam Trung Bộ, Chánh văn phòng Liên khu ủy khu 5. Từ năm 1955 giữ các chức: Vụ trưởng Vụ
quan hệ Nam Bắc, Ban thống nhất Trung ương, Tổng cục trưởng Cục Thông tin, Đại biểu Quốc hội
Khoá II, III. Sau năm 1970, ông là Phó Trưởng đoàn Đại biểu Chính phủ Việt Nam DCCH tại Hội nghị
Paris, năm 1973-1974 làm Vụ trưởng tuyên truyền thống nhất, Phó ban Tư tưởng văn hoá Trung ương
rồi về hưu. Được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng nhất và nhiều huân, huy chương
cao quí.
Huế
95
Nguyễn Trọng
Xuyên
(1926 - 2012)
Thượng tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam, quê quán xã Chính Nghĩa, huyện Kim Động, tỉnh
Hưng Yên. Tham gia Cách mạng tháng Tám (1945) tại thành phố Hồ Chí Minh. Từng trải qua các chức
vụ: Phó Tư lệnh Quân khu 10, Phó ban Quân sự T10 Nam bộ; Phó Tư lệnh, Tư lệnh Quân khu 6,
Trưởng đoàn quân sự Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, trong Ban liên
hợp quân sự bốn bên khu vực Phan Thiết; Tư lệnh Quân khu 3, Bí thư Đảng ủy Quân khu. Tháng
6/1988: Đồng chí được bổ nhiệm giữ chức Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Chủ nhiệm Tổng cục Hậu
cần; Ủy viên Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương, Thứ trưởng Thường trực Bộ Quốc phòng. Phần
thưởng cao quý: Huân chương Độc lập hạng Nhất; Huân chương Quân công hạng Nhất.
Khánh Hòa
96
Nhất Chi Mai
(1934 - 1967)
Nhà giáo, Nhà thơ, hiệu là Nhất Chi, tên thật là Phan Thị Mai, quê xã Thái Hiệp Thành, tỉnh Tây
Ninh. Bà tốt nghiệp trường Quốc gia sư phạm năm 1956, Đại học Văn khoa Sài Gòn năm 1964, Cao
đẳng Phật học Vạn Hạnh năm 1966. Từ năm 1967, bà dạy ở trường tiểu học Tân Định, nhiệt thành hoạt
động xã hội. Tấc lòng yêu nước nung nấu, song không nói được ra lời trước sự bạo tàn của chiến tranh,
bà quyết lấy thân làm đuốc kêu gọi những kẻ bạo tàn dừng tay giết người. Năm 1967, bà tự thiêu trước
sân chùa Từ Nghiêm Sài Gòn (nay thuộc Quận 10, TP. Hồ Chí Minh).
Đà Nẵng,
TP.HCM
97
Phạm Hổ
(1926 - 2007)
Nhà văn, nhà thơ, nhà viết kịch, quê xã Nhơn An, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Ông vừa viết
văn, làm thơ, viết kịch và vẽ tranh. Nổi bật trong các sáng tác của ông là dành cho thiếu nhi; những tác
phẩm của ông được đưa vào giảng dạy trong các trường phổ thông. Ông là một trong những người đầu
P.Bình Định,
Quy Nhơn
97
tiên tham gia hình thành Nhà xuất bản Kim Đồng, sau ông chuyển sang Nhà xuất bản Văn học rồi về báo
Văn Nghệ, cơ quan ngôn luận của Hội Nhà văn. Năm 1957, ông là thành viên sáng lập Hội Nhà văn Việt
Nam. Từ năm 1983, ông là Phó trưởng ban đối ngoại của Hội Nhà văn Việt Nam và là Chủ tịch Hội
đồng văn học thiếu nhi của hội. Năm 2001, ông được tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật
đợt 1.
98
Phạm Hữu Lầu
(1906 - 1959)
Nhà hoạt động cách mạng, quê xã Hòa An, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp. Năm 1928 gia nhập
Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội, năm 1929 vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Tại Hội
nghị hợp nhất ba đảng cộng sản ở Cửu Long (Trung Quốc), ông được bầu làm thành viên Ban chấp
hành Trung ương lâm thời của Đảng Cộng sản Đông Dương. Trong thời gian ông phụ trách và viết bài
cho báo Dân chúng ở Sài Gòn, cổ vũ cho phong trào cách mạng Việt Nam và thế giới, ông bị bắt đày
Côn Đảo. Sau khi trở về từ Côn Đảo, ông là Bí thư Tỉnh đảng bộ Sa Đéc, Bí thư Tỉnh ủy Mỹ Tho, Phó
Bí thư Khu ủy 8, Giám đốc Công an Nam bộ, Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng. Ông mất do
làm việc cật lực, bệnh cũ từ những năm tháng bị tra tấn, tù đày ở Côn Đảo.
TP.HCM
99
Phạm Huy Thông
(1916 - 1988)
Nhà thơ, nhà nghiên cứu khoa học, Giáo sư Tiến sĩ, quê làng Đào Xá, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng
Yên. Từ năm 15 - 16 tuổi ông đã say mê sáng tác văn học, là cây bút nổi tiếng về thơ mới và kịch thơ.
Sau ông du học tại Pháp tốt nghiệp Tiến sĩ văn chương và Thạc sĩ sử học. Sau Cách mạng tháng Tám
1945, ông tận tụy phục vụ nhân dân trên các lĩnh vực văn hóa, xã hội. Trên nhiều cương vị, với học vấn
uyên bác ông hoạt động quản lý khoa học xã hội xuất sắc, cống hiến tài năng trí tuệ làm vinh dự khoa
học nước nhà. Năm 1987, được Viện Hàn lâm Khoa học Đức bầu làm Viện sĩ. Ông đảm đương nhiều
chức vụ quan trọng trên các lĩnh vực văn hóa, chính trị, đối ngoại. Để lại nhiều tác phẩm giá trị, các tác
phẩm kịch thơ của ông sống mãi trong lòng các thế hệ yêu thơ: Tiếng địch sông Ô, Tần Ngọc, Huyền
Trân…
TP.HCM, Phan
Thiết, Hà Nội,
Quy Nhơn..
100
Phạm Ngọc Thạch
(1909 - 1968)
Bác sĩ, nhà hoạt động cách mạng, Anh hùng lao động, sinh tại Quy Nhơn, Bình Định. Thuở nhỏ học
ở Thanh Hóa, Sàì Gòn và du học tại Pháp về y khoa. Trước Cách mạng tháng Tám, ông đóng góp nhiều
công sức cho việc xây dựng cơ sở cách mạng ở Sài Gòn, thành lập Đòan Thanh niên tiền phong. Sau
1945, ông giữ chức Ủy trưởng ngoại giao, Chủ tịch Ủy ban hành chính kháng chiến Sài Gòn - Gia
Định, Bộ trưởng Bộ Y tế. Ông có nhiều đóng góp trong y học nước nhà, đặc biệt là trong việc phòng
chống bệnh sốt rét. Ông là tác giả của nhiều công trình, sách về y học viết bằng tiếng Việt và Pháp.
Được tặng danh hiệu Anh hùng lao động (1958), nhiều Huân chương cao quý và Giải thưởng Hồ Chí
Minh về các cống hiến trong lĩnh vực khoa học công nghệ.
Đà Nẵng, Hà
Nội, Cần Thơ,
Quy Nhơn
101
Phạm Thiều
(1904 - 1986)
Nhà văn, nhà giáo dục, quê xã Diễn Phúc, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Cựu giáo sư trường
Pétrus Ký Sài Gòn. Sau Cách mạng tháng Tám giữ các chức vụ: Giám đốc Sở Thông tin Nam Bộ, Chủ
tịch Ủy ban hành chánh Sài Gòn - Chợ Lớn, Phó Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chánh liên khu
miền Đông, Vụ trưởng Vụ Sư phạm Bộ Giáo dục, Đại sứ Việt Nam tại Tiệp Khắc và Hungari. Sau năm
1975, ông làm Giám đốc Thư viện Khoa học Xã hội thành phố Hồ Chí Minh. Được Nhà nước tặng
Đà Nẵng,
TP.HCM
98
thưởng Huân chương Kháng chiến hạng nhất, Huân chương Độc lập hạng nhất.
102
Phạm Tuấn Tài
(1905 - 1937)
Nhà giáo, nhà hoạt động cách mạng, hiệu Mộng Tiên, quê ở huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định . Cuối
năm 1926, ông cùng với anh ruột là Phạm Tuấn Lâm, thành lập Nam Đồng thư xã chuyên xuất bản các
sách tuyên truyền chủ nghĩa ái quốc, như: Gương thiếu niên, Gương phục quốc, Gương thành bại,
Trưng nữ vương diễn nghĩa,
Trung Quốc cách mạng (dịch sách của Tôn Dật Tiên),v.v... nhằm khích lệ
tinh thần yêu nước và ý thức dân tộc trong nhân dân. Nam Đồng thư xã trở thành nơi tụ họp của một số
trí thức vốn có ý định khôi phục độc lập cho Việt Nam, trong đó có Nguyễn Thái Học, Phó Đức
Chính
,... Ngoài ra ông còn lập ra một đảng bí mật với chủ trương lật đổ chính quyền thực dân Pháp ở
Đông Dương có tên là Việt Nam Quốc dân Đảng và bầu Nguyễn Thái Học làm Chủ tịch Tổng Bộ. Năm
1929, Phạm Tuấn Tài bị Pháp bắt và lưu đày Côn Đảo. Mặc dù ở trong tù, ông vẫn bí mật ra được các
báo Tiếng gọi, Tiếng rên, Tiếng gào. Ông mất sau khi ra tù (1937) tại Nam Định.
Hà Nội
103
Phan Kế Bính
(1875 - 1921)
Nhà văn, quê ở làng Thuỵ Khê, Hà Nội. Năm 1906, ông đỗ Cử nhân nhưng không làm quan mà dạy
học. Năm 1907, ông viết báo, cộng tác với các tờ báo Đông cổ tùng báo, Đông Dương tạp chí, Trung
Bắc tân văn… Ông để lại nhiều tác phẩm nghiên cứu về lịch sử, văn hoá Việt Nam có giá trị: Việt Nam
phong tục, Việt Hán văn khảo, Nam Hải dị nhân… Ông cũng là dịch giả nhiều tác phẩm: Tam Quốc
chí, Đại Nam điển lệ toát yếu, Việt Nam khai quốc chí truyện,, Đại Nam nhất thống chí, Đại Nam liệt
truyện chính biên…
Đà Nẵng, Quy
Nhơn
104
Phan Khôi
(1887 - 1959)
Nhà văn, Nhà báo, chiến sĩ phong trào Duy Tân, quê xã Điện Quang, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng
Nam. Năm 1906 ông ra Hà Nội học tiếng Pháp, tham gia phong trào Duy Tân. Năm 1908, phong trào
Duy Tân bị khủng bố trắng, ông bị bắt ở Hà Nội giải về giam tại nhà lao Hội An (Quảng Nam). Mãi
đến năm 1911 mới được trả tự do. Sau Cách mạng tháng Tám, ông được Chủ tịch Hồ Chí Minh mời ra
Hà Nội tham gia kháng chiến với cương vị một nhà văn hóa. Suốt 9 năm kháng chiến, ông công tác ở
Hà Nội, rồi chiến khu Việt Bắc. Hòa bình lập lại (1954), ông là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, từng
làm giám khảo trong các giải văn học của Hội nhà văn Việt Nam. Ông là một học giả tên tuổi, một nhà
thơ, nhà văn, người mở đầu và cổ vũ cho phong trào Thơ mới. Tác phẩm để lại: Bàn về tế giao (1918),
Tình già (thơ mới - 1932), Chương Dân thi thoại (1936), Trở vỏ lửa ra (1939), Tìm tòi trong tiếng Việt
(1950)…
Đà Nẵng, Tam
Kỳ
105
Phan Văn Trường
(1875 - 1933)
Luật sư, nhà báo, quê làng Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, tỉnh Hà Đông (nay thuộc Hà Nội). Từng
tham gia các hoạt động dân chủ ở Pháp và Sài Gòn, hồi ở Pháp ông liên hệ thân thiết với Phan Châu
Trinh, Nguyễn An Ninh, Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn Tất Thành... Ông thường bênh vực quyền lợi
của nhân dân nên được đồng bào quí mến. Ông cũng là một trong số người Việt Nam đầu tiên tìm hiểu
chủ nghĩa Mác. Khi làm chủ bút tờ báo L'Annam, ông cho đăng Tuyên ngôn Đảng Cộng sản của Mác -
Ănghen và một loạt bài công kích chủ nghĩa đế quốc. Ông vẫn thường cộng tác với Nguyễn An Ninh
chăm sóc tờ báo La Cloche fêlée.
Hà Nội, Huế
106
Phùng Quán
Nhà thơ, nhà văn, quê xã Thủy Dương, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế. Thuở nhỏ nhà
Huế
99
(1932 - 1995)
nghèo, được mẹ nuôi ăn học tại Huế. Sau ngày toàn quốc kháng chiến, ông gia nhập Quân đội kháng
chiến ở mặt trận Bình Trị Thiên. Hòa bình lập lại 1954, ông ra Hà Nội làm công tác văn hóa, văn nghệ
ở Trung ương. Những năm 1956 - 1957, ông viết bài cho các đặc san văn học tại Hà Nội, để lại các tác
phẩm chính: Vượt Côn Đảo, Tiếng hát trên địa ngục Côn Đảo, Trên bờ Hiền Lương, Tuổi thơ dữ dội,
Trăng hoàng cung…
107
Phùng Thế Tài
(1920 - 2014)
Thượng tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam. Tên thật là Phùng Văn Thụ, quê quán xã Văn Nhân,
huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội. Tham gia cách mạng năm 1936. Năm 1942, xây dựng cơ sở cách
mạng ở Cao Bằng; Tháng 4/1944, tổ chức chuyển vũ khí từ Trung Quốc về Việt Nam và làm nhiệm vụ
bảo vệ lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc…; Hiệu trưởng Trường Sỹ quan Pháo binh; Tham mưu trưởng Binh
chủng Pháo binh; Tư lệnh Bộ đội Phòng không; Từ năm 1963-1967, Tư lệnh Quân chủng Phòng không
- Không quân (đầu tiên); Tháng 8/1967 - 1987, Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt
Nam, kiêm Tổng cục trưởng Tổng cục Hàng không dân dụng Việt Nam (1976-1978). Được tặng Huân
chương Hồ Chí Minh và nhiều huân, huy chương khác.
Khánh Hòa,
Lào Cai
108
Quang Dũng
(1921 - 1988)
Nhà thơ, bút danh Quang Dũng, tên thật là Bùi Đình Diệm. Quê ở Thượng Trì, Đan Phượng, Hà
Nội. Ông nhiệt tình yêu nước, tham gia Cách mạng tháng Tám, chiến đấu khắp các chiến trường Bắc
Bộ. Tình cảm ông đối với quê hương đất nước rất sâu đậm, lòng anh dũng và tài năng nghệ thuật của
ông đã giúp ông sáng tạo nên những bài thơ nổi tiếng, có giá trị trong vườn thơ dân tộc. Các bài: Tây
tiến, Đôi mắt người Sơn Tây, Đôi bờ, Đường trăng... là những thi đề giàu nghệ thuật trong nền thơ ca
hiện đại.
Đà Nẵng
109
Sương Nguyệt Anh
(1864 - 1921)
Nữ sĩ, quê ở Ba Tri, Bến Tre. Tên thật là Nguyễn Thị Khuê, là con gái của cụ Nguyễn Đình Chiểu.
Thuở nhỏ bà được cụ Đồ truyền dạy nên giỏi cả chữ Hán lẫn chữ Nôm. Hưởng ứng phong trào Đông
Du, bà vận động quyên góp để giúp học sinh xuất dương sang Nhật du học. Bà mở trường dạy học và
sáng tác thơ văn, là nhà thơ và chủ bút nữ đầu tiên của Việt Nam. Bà để lại một số bài thơ gửi gắm tấm
lòng yêu nước, thương dân, quan tâm đến thời cuộc, có tư tưởng tiến bộ lúc đương thời.
TP.HCM, Hoài
Nhơn
110
Tạ Quang Bửu
(1910 - 1986)
Giáo sư, nhà toán học, nhà chính trị, quê ở làng Nam Hoành, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Ông là
người thông minh, có chí học hành. Thuở nhỏ, học ở Huế, ở Quảng Nam rồi du học tại Pháp, Anh. Sau
ra trường về Huế dạy tại trường Thiên Hựu và Quốc học. Cùng với việc dạy học, ông còn chuyên tâm
nghiên cứu toán học lý thuyết và toán học ứng dụng vào sinh học, vật lý, hoá học. Ông tham gia cách
mạng từ những ngày đầu kháng chiến chống Pháp. Từ 1945 - 1954, giữ các chức vụ Tham nghị trưởng
Bộ Ngoại giao, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Thành viên phái đoàn Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng
hoà tại Hội nghị Fontainbleau và Hội nghị Genève. Sau 1954, ông từng là Bộ trưởng Bộ Đại học Trung
học chuyên nghiệp, đại biểu Quốc hội từ khoá I - VI. Ông là một trong những nhà khoa học lớn của
Việt Nam. Được tặng thưởng nhiều Huân, Huy chương cao quí.
Nghệ An, Hà
Nội, Quy Nhơn
111
Tản Đà
(1889 - 1939)
Thi sĩ, nhà báo, tên thật là Nguyễn Khắc Hiếu. Quê ở làng Khê Thượng, huyện Bất Bạt, Hà Tây.
Ông xuất thân trong một gia đình Nho học, là người thông minh nhưng thi Hương hai lần không đỗ,
Đà Nẵng,
TP.HCM, Quy
100
ông quay sang con đường lập ngôn, sáng tác văn chương, làm thơ, viết kịch, viết báo, xuất bản sách
nghiên cứu Phật học, đi dạy,… gây được tiếng vang trong cả nước. Tác phẩm của ông để lại khá phong
phú: Tản Đà xuân sắc; Tản Đà trùng văn; Quốc sử huấn mông; Lên sáu; Lên tám; Vương Thuý Kiều
giải tân truyện; Kinh thi; Đại học (dịch); Liêu trai chí dị (dịch). ..
Nhơn
112
Thép Mới
(1925 - 1991)
Nhà văn, bút danh Thép Mới, tên thật là Hà Văn Lộc, quê ở thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.
Từng tham gia Hội Văn hóa cứu quốc tỉnh Nam Định và trải qua các chức vụ: Phó Tổng biên tập Báo
Nhân dân; Tổng Biên tập báo Giải Phóng; Ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà báo Việt Nam. Ông có
nhiều tác phẩm nổi tiếng như: Cây tre Việt Nam; Hiên ngang Cuba; Điện Biên Phủ một danh từ Việt
Nam; Trường Sơn hùng tráng; Nguyễn Ái Quốc đến với Lê Nin; Đường về tổ quốc.
TP.HCM, Quy
Nhơn..
113
Thế Lữ
(1907 - 1989)
Nhà thơ, nhà văn, nhà soạn kịch, tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, sinh tại ấp Thái Hà, Hà Nội. Ông hoạt
động sáng tác văn học nghệ thuật từ những năm ba mươi của thế kỷ XX. Ông viết báo, làm thơ, viết
truyện ngắn, tiểu thuyết. Ông là một trong những nhà thơ của phong trào Thơ Mới. Ông hoạt động
trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn, thường công kích những điều mê tín dị đoan. Sau 1945, lên chiến khu
Việt Bắc hoạt động trong ngành văn học nghệ thuật, chủ yếu ở lĩnh vực sân khấu. Sau 1954, ông vừa
viết văn, làm thơ, soạn kịch, đạo diễn sân khấu. Ông có công lớn trong sự nghiệp văn học nghệ thuật
cách mạng, đặc biệt là ngành Sân khấu Việt Nam. Năm 2000, được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh
về văn học nghệ thuật.
Đà Nẵng, Hải
Phòng
114
Tô Ngọc Vân
(1908 - 1954)
Họa sĩ nổi tiếng, quê làng Xuân Cầu, huyện Văn Giang, Hưng Yên. Năm 1926, thi đỗ vào trường
Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Năm 1931, ra trường ông có tác phẩm xuất sắc, được giải thưởng cao
ở Pháp. Ông đi vẽ nhiều nơi ở Phnôm Pênh, Băng Cốc, Huế…, tham gia giảng dạy ở trường trung học
Phnôm Pênh, Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Sau cách mạng Tháng Tám, tham gia kháng chiến
chống Pháp. Năm 1950, phụ trách Trường Mỹ thuật Việt Bắc. Có công đầu tiên trong việc sử dụng chất
liệu sơn dầu ở Việt Nam, được xem là một trong 4 họa sĩ lớn của hội họa Việt Nam. Để lại nhiều tác
phẩm nổi tiếng: Thiếu nữ bên hoa sen, Thiếu nữ bên hoa huệ, Hai thiếu nữ và em bé, Thiếu phụ ngồi
bên tranh tam đa, Bên hoa, Thuyền sông Hương, Hồ Chủ tịch làm việc tại Bắc Bộ phủ,… Được truy
tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I về văn học nghệ thuật (1996).
Hà Nội,
TP.HCM, Quy
Nhơn
115
Tôn Thất Bách
(1946 - 2004)
Phó Giáo sư y học, Nhà giáo nhân dân, quê ở Hương Trà, Thừa Thiên Huế, ông là con trai của Giáo
sư Tôn Thất Tùng. Ông là chuyên gia đầu ngành về tim mạch của Việt Nam, Giám đốc Bệnh viện Việt
- Đức, Hiệu trưởng Trường Đại học Y Hà Nội, Viện sĩ Viện Hàn lâm ngoại khoa Pháp, Viện sĩ Viện
Hàn lâm khoa học New York, thành viên Hội ngoại khoa Quốc tế; đại biểu Quốc hội các khóa IX - XI,
Phó Chủ nhiệm Ủy ban các vấn đề xã hội của Quốc hội khóa XI.
Quy Nhơn
116
Tôn Thất Tùng
(1912 - 1982)
Giáo sư y học, Anh hùng lao động, ở Phường Đúc, Huế, dòng dõi Tôn thất nhà Nguyễn. Thuở nhỏ,
học ở Huế rồi ra Hà Nội, tốt nghiệp bác sĩ y khoa, làm việc ở các bệnh viện Hà Nội. Sau 1945, làm
Giám đốc bệnh viện Phủ Doãn. Trong kháng chiến chống Pháp, làm cố vấn phẫu thuật ngành Quân y ở
Bộ Quốc phòng. Năm 1947 làm Thứ trưởng Bộ Y tế. Sau 1954, giữ các chức vụ: Giám đốc Bệnh viện
Đà Nẵng, Hà
Nội, Quy Nhơn,
Hoài Nhơn
101
Hữu nghị Việt Đức, đại biểu Quốc hội nhiều khoá, Uỷ viên Đoàn Chủ tịch Mặt trận tổ quốc Việt Nam,
Viện sĩ Viện Hàn lâm Y học Liên Xô, hội viên Hội phẫu thuật Cộng hoà Dân chủ Đức và nhiều tổ chức
quốc tế khác. Được tặng thưởng nhiều Huân chương cao quí, phong tặng danh hiệu Anh hùng lao động,
truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh. Ông là Giáo sư y khoa về gan và giải phẫu, được giới Y học quốc
tế đánh giá cao; đào tạo nhiều thế hệ y, bác sĩ, giáo sư y khoa Việt Nam. Để lại tác phẩm: Viêm tuỵ cấp
tính và giải phẫu, Cắt gan… và nhiều công trình, báo cáo khoa học có giá trị.
117
Tôn Quang Phiệt
(1900 – 1973)
Giáo sư sử học, nhà hoạt động cách mạng, quê xã Võ Liệt, huyện Thanh Chương, Nghệ An. Ông
tham gia vận động thành lập Đảng Phục Việt (sau đổi thành Tân Việt), thành lập Chi bộ đầu tiên tại Hà
Nội. Cách mạng tháng Tám 1945 thành công và 9 năm kháng chiến chống Pháp, ông là Đại biểu Quốc
hội, Tổng thư ký Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Sau 1954, công tác ở ngành văn hoá, giáo dục. Là tác
giả nhiều sách nghiên cứu, dịch thuật về văn học cổ, cận đại Việt Nam như: Lịch sử Việt Nam, Phan
Bội Châu và giai đoạn chống Pháp của nhân Việt Nam, Việt Nam nghĩa liệt sử… Được Đảng, Nhà
nước tặng thưởng nhiều Huân, Huy chương cao quí.
Huế
118
Tống Phước Phổ
(1902 - 1991)
Nhà văn, nhà soạn tuồng, quê ở huyện Điện Bàn, Quảng Nam. Xuất thân trong một gia đình Nho
học, là cháu nhà viết tuồng
Nguyễn Hiển Dĩnh. Năm 18 tuổi, ông sáng tác vở đầu tay Lâm Sanh - Xuân
Nương
. Năm 1927, ông gia nhập Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội, viết bài cho các
báo Phụ nữ tân văn, Điện tín... Năm
1930, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Năm 1940, ông
thành lập gánh hát Tân Thành đi trình diễn nhiều nơi. Thời gian này ông sáng tác nhiều vở, chủ yếu là
tuồng tâm lí xã hội và đề tài lịch sử. Trong kháng chiến chống Pháp, ông vận động thành lập đoàn
tuồng để lấy tiền ủng hộ quỹ kháng chiến, tiền thân của Đoàn tuồng Liên khu V, nay là
Nhà hát tuồng
Đào Tấn
(Bình Định). Ông từng là Ủy viên BCH Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam, Ủy viên
BCH Hội Nhà văn Việt Nam. Ông là cây viết hàng đầu của sân khấu tuồng cách mạng, để lại gần 100
kịch bản tuồng, trong đó có hơn 20 vở tuồng đề tài cách mạng, ngoài ra ông còn chỉnh lý nhiều vở
tuồng cổ. Năm
1996, ông được truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.
Đà Nẵng, Quy
Nhơn
119
Trần Tử Bình
(1907 - 1967)
Thiếu tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam, Đại sứ Việt Nam tại Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, tên
thật là Phạm Văn Phu, quê xã Tiêu Động, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Năm 1929, tham gia Việt
Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội, bị Pháp bắt giam nhiều lần. Đến tháng 8/1945, vượt ngục về
hoạt động giữ chức Ủy viên thường vụ Xứ ủy Bắc kì, lãnh đạo khởi nghĩa trong cách mạng tháng Tám
năm 1945 ở Bắc Bộ. Năm 1947, giữ chức Phó Bí thư Quân ủy trung ương, Chính ủy Trường lục quân
kiêm Phó tổng thanh tra Quân đội. Từ năm 1957 làm Đại sứ Việt Nam tại Bắc Kinh - Trung Hoa. Sau
khi về nước là Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Đại biểu Quốc hội khóa II, khóa III. Được Nhà nước
truy tặng Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương độc lập hạng Nhất….
Hà Nội, Đà
Nẵng, TP.
HCM
120
Trần Bạch Đằng
(1926 - 2007)
Nhà văn hoá, nhà chính trị, nhà văn, nhà báo, tên thật là Trương Gia Thiều, xuất thân trong một
gia đình trí thức Nho học. Ông sớm giác ngộ cách mạng, năm 16 tuổi trở thành cán bộ của Đảng. Tháng
8/1945, ông lãnh đạo nhân dân Ngã Sáu, Sài Gòn đứng lên cướp chính quyền. Được phân công phụ
Cần Thơ, Hoài
Nhơn
102
trách Tuyên huấn của Trung ương Cục. Đầu năm 1949, bị giặc bắt, giam ở Sài Gòn. Tháng 11/1949,
ông cùng 42 chiến sĩ vượt ngục, trở về khu 9 hoạt động. Ông là nhà lãnh đạo tài năng, nhà chính trị bản
lĩnh, vừa chủ bút - nhà báo nổi tiếng, nhà văn xuất sắc, nhà hoạt động tình báo chiến lược. Trên các
cương vị công tác, ông đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của Đảng và nhân dân giao phó. Để lại một
khối lượng tác phẩm đồ sộ trên các lĩnh vực: Chính luận, xã luận, báo chí, văn chương, thi phú, kịch
bản phim truyện, sân khấu, cải lương.
121
Trần Quý Hai
(1913 - 1985)
Trung tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam, tên thật là Bùi Chấn, quê xã Tịnh Thiện, huyện Sơn
Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi. Ông tham gia cách mạng từ năm 1930 tại địa phương, bị Pháp bắt giam nhiều
lần, năm 1944 bị giam tại huyện Ba Tơ. Tại đây ông cùng các đồng chí lãnh đạo giành chính quyền ở
tỉnh Quảng Ngãi. Cùng năm làm Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi và nhiều chức vụ đảng, chính quyền và
quân sự tại các địa phương và các chiến trường Trung bộ, Lào. Năm 1961, 1962, 1973 là Thứ trưởng
Bộ quốc phòng kiêm Trưởng ban cơ yếu Trung ương, Ủy viên BCH Trung ương Đảng. Ông được Đảng
và Nhà nước tặng thưởng nhiều huân chương cao quí, trong đó có Huân chương Hồ Chí Minh và Huân
chương Sao Vàng.
Quảng Ngãi
122
Trần Đại Nghĩa
(1913 - 1997)
Giáo sư, Thiếu tướng, anh hùng lao động, kĩ sư, viện sĩ Hàn lâm Liên Xô, tên thật là Phạm Quang
Lễ. Quê ở xã Xuân Hiệp, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long. Ông đã cùng với các chiến hữu chế tạo một
số loại vũ khí phục vụ chiến tranh du kích đóng vai trò quyết định chiến thắng trong cuộc kháng chiến
chống Pháp suốt 9 năm (1945-1954) của Việt Nam. Trong kháng chiến chống Mỹ, ông cũng góp phần
lớn trong việc cải tạo các loại hỏa tiễn đất đối không cùng các loại khí giới khác. Ông từng giữ chức vụ:
Cục Trưởng Cục Quân giới; Thứ trưởng Bộ Công Thương; Thứ trưởng Bộ Công nghiệp; Chủ nhiệm
Ủy ban kiến thiết cơ bản Nhà nước; Bộ trưởng Chủ nhiệm Ủy ban khoa học và kỹ thuật Nhà nước;
Viện trưởng Viện Khoa học Việt Nam; Chủ tịch Liên hiệp các Hội KH-KT Việt Nam. Ông được trao
tặng nhiều Huân chương và giải thưởng Hồ Chí Minh.
Hà Nội, Đà
Nẵng,
TP.HCM, Quy
Nhơn
123
Trần Hoàn
(1928 - 2003)
Nhạc sĩ, nhà hoạt động cách mạng, quê xã Hải Tân, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Sau Cách
mạng tháng Tám năm 1945, ông hoạt động tuyên truyền ở Liên khu 4, sau đó làm Giám đốc Sở Văn
hóa, Thông tin Hải Phòng. Sau Hiệp định Geneve ông tập kết ra Bắc phụ trách công tác văn hóa, văn
nghệ, tuyên huấn của Đảng. Năm 1983-1987 là Phó Trưởng Ban Văn hóa, Văn nghệ Trung ương,
Trưởng ban Tuyên giáo, Phó Bí thư Thành ủy Hà Nội, Ủy viên BCH Trung ương Đảng khóa VI, VII,
Bộ trưởng Bộ Văn hóa-Thông tin, Bí thư Đảng đoàn, Chủ tịch Ủy ban toàn quốc các Hội Văn học
Nghệ thuật Trung ương. Các tác phẩm của ông: Sơn nữ ca, Lời người ra đi, Giữa Mạc Tư Khoa nghe
câu hò Nghệ Tĩnh, Một mùa xuân nho nhỏ,…. Ông được Nhà nước tặng nhiều huân chương cao quí,
trong đó có Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học, nghệ thuật.
TP. Huế
124
Trần Đăng Ninh
(1910 - 1955)
Nhà hoạt động cách mạng, quê làng Quảng Nguyên, xã Quảng Phú, Hà Nội. Tham gia cách mạng
năm 1930, gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1935. Năm 1940, ông được cử lên chiến khu
chuẩn bị cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn. Tháng 11/1940 được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương lâm thời
Hà Nội
103
Trung ương Đảng. Năm 1941, ông làm Bí thư Xứ ủy Bắc kỳ, tham gia Hội nghị Quân sự cách mạng
Bắc kì chuẩn bị cướp chính quyền năm 1945. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, tham gia lãnh đạo
công tác vận động nhân dân chuẩn bị xây dựng căn cứ kháng chiến. Năm 1946 là Thanh tra dân vận;
năm 1947 Trưởng Đặc ủy đoàn đi kiểm tra, thăm hỏi, động viên nhân dân, cán bộ tích cực tham gia
kháng chiến chống Pháp. Năm 1950 là Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần Bộ Quốc phòng trong kháng
chiến chống Pháp cho đến ngày mất.
125
Trần Đình Tri
(1915 - 1997)
Nhà hoạt động cách mạng, quê thôn Đông Gia, làng Gia Cốc, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam.
Tham gia cách mạng từ những năm 30, từng là thành viên tổ chức thanh niên phản đế ở Huế. Năm
1945 là một trong những người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa cướp chính quyền thân Nhật tại Đà Nẵng.
Ông từng giữ các chức vụ: Chủ tịch Ủy ban khởi nghĩa Đà Nẵng; Chủ tịch Ủy ban hành chánh thành
phố Đà Nẵng; Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chánh tỉnh Quảng Nam trong 9 năm kháng chiến
chống Pháp; Tổng Thư ký Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa trong nhiều nhiệm kỳ.
Đà Nẵng,
Quảng Nam
126
Trần Kỳ Phong
(1872 - 1941)
Nhà hoạt động cách mạng, thường gọi là Tú Trần, quê làng Châu Me, xã Bình Châu, huyện Bình
Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Ông đỗ Tú tài năm 18 tuổi, sau đó tham gia phong trào Duy Tân, tích cực vận
động cứu nước. Năm 1908, phong trào Duy Tân lên cao, ông bị Pháp bắt lưu đày Côn Đảo. Ông bị
giam ở Côn Lôn đến năm 1921 mới được trả tự do. Sau khi ra tù ông tham gia hoạt động bí mật thành
lập Đảng Tân Việt, Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí hội ở Quảng Ngãi.
Quảng Ngãi,
Quy Nhơn
127
Trần Hữu Tước
(1913 - 1983)
Bác sĩ y khoa, Anh hùng lao động, quê Hà Nội, tham gia phong trào Việt kiều ở Paris. Sau năm
1945, ông tham gia các tổ chức Việt kiều yêu nước tại Pháp. Nhất là cuối năm 1946, nhân phái đoàn
Việt Nam sang Pháp dự Hội nghị Fontainebleau, đáp lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông cùng
một số trí thức, nhà khoa học về nước tham gia kháng chiến chống Pháp. Sau Hiệp định Genève ông về
tiếp quản Hà Nội, được Bộ Y tế cử làm Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai, kiêm Chủ nhiệm bộ môn Tai,
Mũi, Họng của trường Đại học Y khoa Hà Nội. Từ năm 1969, ông giữ chức Viện trưởng Viện Tai,
Mũi, Họng. Từng là Đại biểu Quốc hội các khóa III-IV, Chủ tịch Hội Tai, Mũi, Họng Việt Nam, Phó
Chủ tịch Hội chữ thập đỏ Việt Nam. Được Nhà nước tặng nhiều danh hiệu cao quí, trong đó có danh
hiệu Anh hùng lao động.
Hà Nội
128
Trần Huy Liệu
(1901 - 1969)
Giáo sư viện sĩ, nhà cách mạng, nhà sử học, quê ở làng Vân Cát, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Từ
năm 1924, ông tham gia viết báo, làm chủ bút tờ Đông Pháp thời báo và tham gia các tổ chức yêu nước.
Tháng 8/1928 bị bắt, kết án 5 năm tù đày đi Côn Đảo. Năm 1935, ông ra tù, sau đó được kết nạp vào
Đảng Cộng sản Đông Dương. Tháng 8/1945, được Đại hội Quốc dân Tân Trào bầu làm Phó Chủ tịch
Uỷ ban Dân tộc giải phóng, rồi làm Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền. Ngày 27/8/1945, được cử làm Trưởng
đoàn đại biểu vào Huế chấp nhận sự thoái vị của Bảo Đại. Sau đó, giữ các chức vụ: Chủ tịch Hội Văn
hoá cứu quốc, Trưởng ban nghiên cứu văn sử địa thuộc Trung ương Đảng, Viện trưởng Viện Sử học,
Phó chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học xã hội Việt Nam. Năm 1963, là Viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học Đức.
Ông còn là một nhà báo xuất sắc, một nhà văn tên tuổi, để lại nhiều tác phẩm có giá trị. Năm 1996,
Hà Nội,
TP.HCM, Vinh,
Quy Nhơn
104
được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học xã hội.
129
Trần Quý Kiên
(1911 - 1965)
Nhà hoạt động cách mạng, còn có tên là Đinh Xuân Nhạ, Dương Văn Ty, quê ở Hà Nội. Ông
tham gia cách mạng năm 1929, vào Đảng tháng 5/1930, thuộc thế hệ đảng viên lớp đầu tiên của Đảng.
Ông tham gia hoạt động cách mạng liên tục, đảm trách những chức vụ: Ủy viên Thường vụ Xứ ủy Bắc
Kỳ, Bí thư Thành ủy Hà Nội (1938), Bí thư Chiến khu Quang Trung (trước Cách mạng tháng Tám -
1945); Đại diện của Chính phủ và Xứ ủy Bắc Kỳ phụ trách Giải phóng hai tỉnh Sơn La, Lai Châu
(9/1945-6/1946), Bí thư Tỉnh ủy Quảng Yên (nay là Quảng Ninh), Ủy viên Thường vụ Liên khu Ủy
liên khu 3; Trưởng ban Căn cứ địa Trung ương Việt Bắc ATK; Bí thư Đảng ủy khối Cơ quan Dân
chính Đàng Trung ương đầu tiên (nay là Bí thư Đảng ủy Khối các cơ quan Trung ương); Thứ trưởng -
Phó Văn phòng Thủ tướng phủ. Ở cương vị nào ông cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, có những
cống hiến to lớn cho cách mạng. Suốt đời ông đã trung thành với Đảng, với Cách mạng, làm việc tận
tụy, liêm khiết. Ông được Đảng và nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao Vàng, Huân chương Hồ
Chí Minh và nhiều phần thưởng cao quý khác.
Hà Nội,
TP.HCM
130
Trần Văn Cẩn
(1910 - 1994)
Họa sĩ, quê Hải Phòng. Năm 1936 tốt nghiệp trường Cao Đẳng Mĩ thuật Đông Dương ngành hội họa.
Từ ấy trở thành một tài năng lớn của nghệ thuật một trong Tứ kiệt của giới hội họa với câu "Nhất Trí,
nhì Lân, tam Vân, tứ Cẩn". Những năm 60 ông giảng dạy tại Đại học Mĩ thuật Hà Nội. Là một họa sĩ
tầm cỡ của nền hội họa Việt Nam hiện đại, góp phần làm sáng giá cho lịch sử nghệ thuật sơn dầu nước
ta. Và cũng là một giáo sư hội họa tài năng đã đào tạo được nhiều thế hệ họa sĩ Việt Nam đương đại.
Các tác phẩm tiêu biểu của ông: Em Thúy (sơn dầu, 1943); Thiếu nữ (lụa, 1944); Tát nước đồng
chiêm (sơn mài, 1958)… Ông
được trao tặng nhiều huân chương cao quý, trong đó có Huân chương
Lao động
hạng Nhất và được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I về văn học nghệ thuật (1996).
Hà Nội, Quy
Nhơn
131
Trần Văn Giáp
(1898 - 1973)
Học giả, quê ở huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương. Ông học chữ Hán thi đỗ Tam trường, sau
chuyển sang học chữ Pháp. Năm 1916, làm ở trường Viễn Đông Bác cổ. Sau sang Pháp học trường Cao
học thực hành Sorbonne, Viện Cao học Hán học. Sau Cách mạng tháng Tám, ông công tác ở Bộ Giáo
dục, Ban Nghiên cứu Văn sử địa, Viện Sử học Việt Nam. Tích cực đóng góp nhiều công trình nghiên
cứu sử học, văn học rất sáng giá cho nền học thuật Việt Nam. Trong quá trình học tập và công tác ở
nước ngoài ông cũng sưu tầm nhiều cổ thư và tư liệu quý về lịch sử nước nhà. Ông để lại nhiều công
trình bề thế bằng tiếng Việt, tiếng Pháp và chữ Hán giúp các học giả, những người nghiên cứu một
nguồn tài liệu xác tín nhất về lịch sử văn hóa Việt Nam.
Đà Nẵng, Quy
Nhơn
132
Trần Văn Kỳ
(1915 - 1968)
Thiếu tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam, còn có tên Hoàng Sâm, quê xã Văn Hóa, huyện Tuyên
Hóa, tỉnh Quảng Bình. Tham gia cách mạng, gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1933. Ông
từng chỉ huy các trận đánh giành chiến thắng vẻ vang ở Phai Khắt (1944), Nà Ngần. Tham gia Ủy ban
giải phóng, phụ trách quân sự khu giải phóng gồm 6 tỉnh: Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Cạn, Hà Giang,
Tuyên Quang, Thái Nguyên. Năm 1946-1950 là Khu trưởng Khu II, chỉ huy mặt trận Tây Tiến, Tư lệnh
liên khu III, Đại đoàn trưởng Đại đoàn 312, Đại đoàn 304, Chỉ huy mặt trận Trung Lào. Đại biểu Quốc
Hà Nội
lấy tên “Hoàng
Sâm”
105
hội các khóa II, III. Được Đảng và Nhà nước tặng Huân chương chiến công hạng Nhất, Huân chương
Hồ Chí Minh.
133
Trần Văn Trà
(1919 - 1996)
Thượng tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam, tên thật là Nguyễn Chấn, quê xã Tịnh Long, huyện
Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi. Năm 1938 gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương. Năm 1939 bị bắt giam
tại nhà lao Thừa Thiên một thời gian. Năm 1941 lên Đà Lạt rồi vào hoạt động tại Sài Gòn, năm 1944,
bị Pháp bắt một lần nữa. Sau Cách mạng tháng Tám và Toàn quốc kháng chiến 1946, ông giữ chức Ủy
viên Khu bộ Việt Minh ở Sài Gòn, Khu trưởng khu 8, Phó Tư lệnh Nam Bộ. Từ năm 1955-1962 ông
tập kết ra miền Bắc, giữ chức Phó Tổng tham mưu trưởng QĐNDVN, Giám đốc học viện Quân sự.
Năm 1963, vào Nam làm Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam, năm 1973 là Trưởng đoàn đại biểu Quân
sự Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam trong Ban liên hiệp Quân sự bốn bên. Sau ngày
30/4/1975, giữ chức Chủ tịch Ủy ban Quân quản Sài Gòn - Gia Định, Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu
7, năm 1978 được bổ nhiệm chức Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Phó Chủ tịch Hội cựu chiến binh Việt
Nam... Ông từng là Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Đại biểu Quốc hội khóa VI, được phong Trung
tướng năm 1959, Thượng tướng năm 1974. Được Nhà nước tặng nhiều huân chương cao quí, trong đó
có Huân chương Hồ Chí Minh.
TP.HCM
134
Trịnh Công Sơn
(1939 - 2001)
Nhạc sĩ, quê ở huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế. Thuở nhỏ ông học tiểu học và trung học ở
Huế. Năm 17 tuổi, ông bắt đầu sáng tác nhạc, năm 1959 xuất bản tác phẩm đầu tiên là bài Ướt mi. Năm
1962 ông vào học ở Trường Sư phạm Quy Nhơn, trong thời gian này ông sáng tác các ca khúc Biển
nhớ, Diễm xưa, Hạ trắng. Ông được xem là một trong những nhạc sĩ lớn của âm nhạc đại chúng Việt
Nam với nhiều tác phẩm rất phổ biến. Số tác phẩm của ông để lại trên 600 ca khúc, trong số đó có hàng
trăm ca khúc được biết rộng rãi, thịnh hành trong công chúng hôm nay. Ông còn là một nhà thơ, một
họa sĩ, một ca sĩ và một diễn viên không chuyên. Với gia tài nghệ thuật để lại, Trịnh Công Sơn trở
thành một thần tượng âm nhạc, ông sống mãi trong niềm thương mến, trong tâm tưởng của người Việt
Nam qua nhiều thế hệ.
Huế, Hà Nội,
Quy Nhơn
135
Trịnh Đình Cửu
(1906 - 1990)
Nhà hoạt động cách mạng, quê làng Định Công, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội. Tham gia cách
mạng từ năm 1927, gia nhập Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội dự các lớp học chính trị do
Nguyễn Ái Quốc tổ chức. Năm 1930 sang Hương Cảng tham dự hội nghị thành lập Đảng Cộng sản
Đông Dương, sau khi về nước ông bị Pháp bắt đày ra Côn Đảo. Sau khi ra tù, ông vẫn tiếp tục hoạt
động bí mật cho đến Cách mạng tháng Tám năm 1945. Ông được Nhà nước tặng Huân chương Hồ Chí
Minh.
Hà Nam
136
Trương Vân Lĩnh
(1902 - 1945)
Nhà hoạt động cách mạng, quê làng Tụy Anh, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Năm 1923 sang Thái
Lan, Trung Quốc, gia nhập Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội hoạt động chống Pháp ở hải
ngoại. Năm 1930 ông đến Hương Cảng hoạt động cho Đảng Cộng sản Đông Dương, đến năm 1932 ông
bị mật thám bắt ở Thượng Hải, chúng giải ông về giam ở Hà Nội, Huế, bị tòa án Nam Triều kết án khổ
sai chung thân giam ở Lao Bảo, Ban Mê Thuột. Năm 1942, ông vượt ngục về Thanh Hóa, Thái
Hà Nội,
TP.HCM
106
Nguyên, được Trung ương Đảng giao nhiệm vụ đào tạo cán bộ quân sự cho Xứ ủy Bắc Kỳ. Năm 1944,
trên đường đi công tác, ông bị Pháp bắt tại Thái Nguyên đưa vào giam ở nhà lao Hỏa Lò, Hà Nội. Cách
mạng tháng Tám thành công, ông được cử phụ trách Trường Quân chính Hà Nội.
137
Tú Mỡ
(1900 - 1976)
Nhà thơ, bút danh Tú Mỡ, tên thật là Hồ Trọng Hiếu, quê Hà Nội. Ông chuyên về lối thơ trào
phúng, dí dỏm mà sâu sắc. Năm 1936, ông cộng tác với báo Phong hóa, Ngày nay và nhóm Tự lực văn
đoàn. Ông tham gia kháng chiến chống Pháp và tích cực sinh hoạt trong Hội Văn học nghệ thuật, góp
phần công sức của mình vào công cuộc cứu nước và xây dựng nền văn hóa mới. Các tác phẩm tiêu biểu
của ông như: Tấm Cám (1955); Thơ Tú Mỡ (1971); Ông và Cháu (1970); Dòng nước ngược (1934,
1941, 1946),…
Năm 2000, ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật đợt II.
TP.HCM, Đà
Nẵng
138
Ung Văn Khiêm
(1910 - 1991)
Nhà hoạt động cách mạng, quê xã Tấn Mỹ, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Năm 1928, được tổ
chức đưa sang Quảng Châu dự lớp huấn luyện do Nguyễn Ái Quốc tổ chức. Về nước làm Bí thư Đặc
ủy Hậu Giang. Năm 1930, ông là Bí thư Xứ ủy Nam Kỳ. Năm 1931, ông bị bắt xử án 5 năm cầm cố và
đày ra Côn Đảo. Năm 1935, mãn án ông về Chợ Mới hoạt động trong Ủy ban Hành động của Đông
Dương Đại hội, tổ chức nhiều cuộc mít tinh công khai chống Pháp và đòi tự do, dân chủ. Từng giữ các
chức vụ: Xứ ủy viên Xứ ủy Nam Bộ (1945); Đại biểu Quốc hội khóa I đơn vị Long Xuyên (1946); Bộ
Trưởng Bộ Nội vụ, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa (1954). Ông được
Đảng và Nhà nước tặng Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập.
TP HCM
139
Văn Cao
(1923 - 1995)
Nhạc sĩ, nhà văn, nhà thơ, hoạ sĩ, một người tài danh của văn hoá Việt Nam thế kỷ XX. Tên đầy đủ
là Nguyễn Văn Cao, quê ở huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Ông sáng tác và để lại những tác phẩm có
tính lịch sử, đặc biệt là những ca khúc được ghi nhận là một sự tổng hợp hài hoà của nhạc - hoạ - văn -
thơ với những: Thiên thai, Trương Chi, Bắc Sơn, Làng tôi, Trường ca sông Lô… Ông để lại nhiều tác
phẩm đặc sắc của cả bốn thể loại, nhạc, hoạ, thơ, văn, nhưng chỉ riêng bài Tiếng quân ca cũng đủ đưa
tên tuổi ông lên vị trí hàng đầu các nhạc sĩ Việt Nam, bởi nó đã trở thành Quốc ca của nước ta. Ông
được tặng thưởng nhiều Huân, Huy chương cao quý, được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn
học nghệ thuật 1996.
Hà Nội, Đà
Nẵng, Quy
Nhơn
140
Võ Đông Giang
(1923 - 1998)
Nhà ngoại giao, cựu Bộ trưởng, Đại tá Quân đội Nhân dân Việt Nam, quê xã An Hiệp, huyện Tuy
An, tỉnh Phú Yên, tên thật là Phan Bá. Năm 1946-1949 là Ủy viên Ban chấp hành Việt Minh, Phó chủ
tịch Ủy ban hành chánh, Tỉnh ủy viên, Bí thư Tỉnh ủy Gia Lai. Từ năm 1950-1954 là Ủy viên Ban
Tuyên huấn, Phó văn phòng Liên khu ủy khu 5, Trưởng ban chính trị Trung đoàn 120. Trưởng đoàn đại
diện Quân đội Nhân dân Việt Nam trong Ban liên hiệp quân sự Tây nguyên, cán bộ nghiên cứu Ban thi
hành Hiệp định đình chiến Trung ương, Phó vụ trưởng Ban Thống nhất Trung ương. Năm 1963-1975
Trưởng đoàn Đại diện Mặt trận dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ở Cu Ba, Vụ trưởng Ban
Thống nhất Trung ương ở Hà Nội, Phó trưởng đoàn quân Giải phóng miền Nam Việt Nam tại Ban Liên
hiệp Quân sự 4 bên và 2 bên tại Tân Sơn Nhất - Sài Gòn, trợ lí Thứ trưởng Bộ Ngoại giao. Năm 1979
làm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước CHXHCNVN tại Campuchia. Đến năm 1983 là Quốc vụ khanh
Nha Trang
107
Bộ Ngoại giao với hàm Bộ trưởng; Chủ tịch Ủy ban Quốc gia UNESCO của Việt Nam. Năm 1987-
1992 giữ chức Bộ trưởng Chủ nhiệm Ủy ban Quan hệ kinh tế với nước ngoài, Bộ trưởng, Phó chủ
nhiệm Ủy ban Nhà nước về Hợp tác và Đầu tư cho đến ngày nghỉ hưu (1992). Nhà nước tặng thưởng
Huân chương Độc lập hạng nhất, Huân chương hữu nghị của các nước Lào, Cu Ba, Tiệp Khắc, Liên Xô
(trước đây) và nhiều huân chương cao quí khác.
141
Võ Oanh
(1890 - 1977)
Nhà văn, nhà yêu nước, quê xã Văn Lâm, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Năm 1908 ông tham gia
tích cực vào cuộc chống sưu thuế ở Nghệ Tĩnh nên bị Pháp bắt giam một thời gian. Ra tù, ông tiếp tục
hoạt động chống Pháp trong lĩnh vực văn hóa, báo chí. Từ năm 1928-1929, ông là thành viên của tổ
chức Tân Việt Cách mạng đảng. Năm 1941, ông bị thực dân Pháp bắt giam, đày ra Côn Đảo. Năm
1946, ông lại bị Pháp bắt đày ra Côn Đảo lần thứ hai, đến 1949 mới được trả tự do. Ông tiếp tục hoạt
động yêu nước trong lòng đô thị, sinh nhai với nghề viết báo ở Sài Gòn. Năm 1966, được cử làm Ủy
viên Ủy ban Trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, Ủy viên Hội đồng cố vấn
Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam. Được Nhà nước tặng nhiều Huân, huy chương
cao quí.
TP HCM
142
Vũ Kỳ
(1921 - 2005)
Nhà hoạt động cách mạng, quê ở Thường Tín, Hà Nội. Tên thật là Vũ Long Chuẩn, Ðồng chí Vũ
Kỳ đảm nhiệm nhiều chức vụ do Ðảng và Nhà nước giao phó: Chánh Văn phòng Chủ tịch nước, Thư
ký riêng của Bác Hồ, Ủy viên Ban phụ trách xây dựng Bảo tàng Hồ Chí Minh, Giám đốc Bảo tàng Hồ
Chí Minh, Đại biểu Quốc hội khóa VIII. Ông là người biết và lưu giữ nhiều tài liệu tối mật của cách
mạng Việt Nam hiện đại, nhất là những tài liệu về hai cuộc kháng chiến chống Pháp, Mỹ. Ông được
tặng nhiều Huân chương cao quý, trong đó có Huân chương Hồ Chí Minh.
Hoài Nhơn
143
Vũ Ngọc Nhạ
(1928 - 2002)
Nhà hoạt động cách mạng, vị tướng tình báo, quê ở Vũ Thư, Thái Bình. Ông từng là cố vấn cho
một số chính trị gia cao cấp của chính quyền ngụy Sài Gòn, là nhân vật chủ chốt trong vụ án cụm tình
báo A.22 làm rung động chính trường Sài Gòn vào cuối năm 1969. Được phong hàm Thiếu tướng Quân
đội Nhân dân Việt Nam.
Đà Nẵng
144
Vũ Ngọc Phan
(1902 - 1987)
Nhà nghiên cứu văn học, quê Bắc Ninh. Ông viết văn, soạn sách, dịch thuật, nổi tiếng là một cây
bút tiểu luận phê bình văn học sáng giá từ lúc còn trẻ. Sau Cách mạng Tháng Tám, ông là Tổng thư ký
UB vận động Hội nghị văn hóa toàn quốc, Ủy viên thường trực Đoàn Văn hóa kháng chiến, Ủy viên
BCH Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam. Ông mất năm 1987 tại Hà Nội, để lại nhiều tác phẩm văn học
có giá trị, tiêu biểu là bộ “Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam” được tái bản nhiều lần, “Nhà văn hiện
đại”, “Trên đường nghệ thuật”… Được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.
Hà Nội, Đà
Nẵng
145
Vương Thừa Vũ
(1910 - 1980)
Nhà hoạt động cách mạng, tên gọi khác là Nguyễn Văn Đồi, quê xã Vĩnh Quỳnh, huyện Thanh Trì,
Hà Đông (nay là Hà Nội). Tham gia cách mạng từ rất sớm, từng ra nước ngoài học quân sự tại Trường
võ bị Hoàng Phố. Năm 1942 bị Pháp bắt giam tại Thái Nguyên. Năm 1945 tham gia bạo động cướp
chính quyền tại Nghĩa Lộ. Từng giữ chức: Chỉ huy Bảo an binh Hà Nội, Khu trưởng Khu II (1945);
Phân khu trưởng phân khu Bình Trị Thiên (1947-1948); Đại Đoàn trưởng kiêm Chính ủy Đại đoàn 308
Hà Nội
108
chỉ huy các mặt trận ở Bắc bộ và Điện Biên Phủ (1949-1950); Chủ tịch Ủy ban Quân chính Hà Nội,
Phó Tổng Tham mưu trưởng QĐNDVN kiêm Giám đốc Học viện Quân chính kiêm Tư lệnh Quân khu
4. Ngoài ra ông còn là tác giả của một số tác phẩm quân sự hiện đại, được Đảng và nhà nước tặng Huân
chương Hồ Chí Minh.
146
Xuân Diệu
(1916 - 1985)
Nhà thơ lớn, nhà lý luận phê bình, tên thật là Ngô Xuân Diệu, quê làng Trảo Nha, huyện Can Lộc,
tỉnh Hà Tĩnh, sinh ra tại quê mẹ ở làng Tùng Giản, Tuy Phước, Bình Định. Lúc nhỏ học ở Quy Nhơn,
sau ra Huế học, đậu Tú tài năm 1940. Ông sớm có tài văn chương, từng làm viên chức ở Sở Thương
chánh. Năm 1944, ông tham gia phong trào Việt Minh. Sau Cách mạng tháng Tám 1945, tham gia công
tác cách mạng trong Hội Văn hóa cứu quốc. Sau đó, trải qua các chức vụ: Đại biểu Quốc hội khoá I, Ủy
viên thường vụ Hội Nhà văn Việt Nam, Ủy viên Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam, Ủy viên
BCH Hội Hữu nghị Việt Xô; năm 1983, Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm khoa học Cộng hòa dân chủ
Đức. Được tặng thưởng nhiều Huân, Huy chương cao quí, truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn
học nghệ thuật năm 1996. Ông là một nhà thơ tiêu biểu của phong trào Thơ Mới, nhà thơ tình nổi tiếng,
nhà thơ lớn của nền văn học Việt Nam hiện đại. Ông để lại gần 50 cuốn sách các loại.
Quy Nhơn, Hà
Nội, Đà Nẵng
147
Yến Lan
(1916 - 1998)
Nhà thơ, tên thật là Lâm Thanh Lang, bút danh Yến Lan, quê ở phường Nhơn Hưng, thị xã An
Nhơn, Bình Định. Thuở nhỏ ông học trường Quốc học Quy Nhơn, từng làm thơ, viết văn đăng các báo
ở Sài Gòn, Hà Nội, là một trong 4 nhà thơ của nhóm “Bàn thành tứ hữu”. Sau Cách mạng tháng Tám
1945, ông tham gia Hội Văn hoá cứu quốc, giữ chức Uỷ viên Văn hoá kháng chiến miền Nam Trung bộ
ở Liên khu 5. Năm 1955, tập kết ra Bắc, công tác ở Hội Nhà văn Việt Nam, Tạp chí Văn học. Để lại
các tác phẩm: Bóng giai nhân, Bến My Lăng, Những ngọn đèn, Lẵng hoa hồng, Thơ Yến Lan… Được
Nhà nước tặng thưởng nhiều huân, huy chương; Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật năm
2007.
An Nhơn, Quy
Nhơn
109
NHÓM 5: TÊN CÁC ANH HÙNG, LIỆT SĨ, NHÀ HOẠT ĐỘNG CÁCH MẠNG
TIÊU BIỂU CỦA ĐẤT NƯỚC
STT
HỌ VÀ TÊN
TÓM TẮT TIỂU SỬ
ĐÃ ĐẶT TÊN
ĐƯỜNG
1
Bành Văn Trân
(1933 - 1967)
Anh hùng liệt sĩ, chiến sĩ đặc công nội thành, quê phường Tân Sơn Nhì, quận Tân Bình, thành
phố Hồ Chí Minh. Ông tham gia chống chính quyền Sài Gòn, rồi gia nhập đội đặc công. Năm
1965 được phân công làm chính trị viên một đơn vị, đã chỉ huy và tham gia đánh nhiều trận, quan
trọng nhất là trận đánh sân bay đêm 2/12/1966, phá hủy 200 máy bay hiện đại, hàng chục xe quân
sự, tiêu diệt và làm bị thương nhiều sĩ quan và binh sĩ Mỹ, một số lớn sĩ quan và binh sĩ Sài Gòn,
làm chấn động chính quyền Mỹ, được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân tháng
9/1967. Sau đó ông bị bắt, bị đày đi Côn Đảo và bị sát hại ở đó.
TP.HCM
2
Bế Văn Cấm
(1945 - 1967)
Anh hùng liệt sĩ, ông là chiến sĩ xuất sắc của Trung đoàn 14, từng tham gia những trận đánh
công kiên ở Bình Long, Tây Ninh. Ông có tài sử dụng súng chống xe tăng B41, triệt hạ nhiều lô
cốt nguy hiểm của địch, diệt ba xe bọc thép của địch ngay trong Sân bay Cà Tum. Ông đã diệt
một lúc 20 tên giặc bằng một quả đạn B41. Ông hi sinh trong trận phục kích bọn giặc đổ bộ
đường không.
TP.HCM
3
Bế Văn Đàn
(1931 - 1954)
Anh hùng liệt sĩ thời kháng chiến chống Pháp, dân tộc Tày, quê quán xã Quang Vinh, huyện
Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng. Ông vào bộ đội công tác tích cực, chiến đấu dũng cảm. Trong trận đánh
quân Pháp ở vùng Mường Pôn năm 1954, ông xông xáo quả cảm, hi sinh thân mình làm giá súng
cho đồng đội bắn giết giặc, góp phần làm nên thắng lợi chiến dịch Điện Biên Phủ lừng lẫy. Được
truy tặng Huân chương Quân công hạng Nhì, danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang ngày
31/5/1955.
Hà Nội, Đà
Nẵng, Quy
Nhơn
4
Bông Văn Dĩa
(1905 - 1996)
Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam. Quê ở Cà Mau, tham gia Nam Kỳ khởi nghĩa
năm 1940, sau đó bị Pháp bắt tù đày. Cách mạng Tháng 8 thành công, ông trở về tiếp tục chống
Pháp. Thành lập Hội Việt kiều ở Thái Lan, thành lập hai đơn vị quân kháng chiến Cửu Long 1 và
Cửu Long 2 đưa về nước để tham gia đánh Pháp. Sau Hiệp định Genève ông được giao nhiệm vụ
dùng ghe bầu theo đường biển đi ra miền Bắc báo cáo Trung ương về tình hình, nhận tài liệu, khí
giới đưa vào Nam. Tháng 6/1962, ông chỉ huy con tàu đầu tiên chở vũ khí vào Nam, khai mở con
đường Hồ Chí Minh trên biển. Được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ
trang năm 1967.
TP.HCM, Cà
Mau
5
Bùi Hữu Diên
Liệt sĩ, nhà thơ, nhà báo, nhà hoạt động cách mạng tiền bối, quê thôn Chỉ Bồ, huyện Thụy An,
TP.HCM
110
(1903 - 1935)
tỉnh Thái Bình. Ông là một trong những hội viên đầu tiên của Việt Nam thanh niên cách mạng
đồng chí hội ở tỉnh Thái Bình; gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1930. Ông gây dựng
phong trào cách mạng và tổ chức các cuộc đấu tranh của nông dân huyện Duyên Hà - Tiên Hưng,
tỉnh Thái Bình năm 1930. Năm 1931, ông bị kết án tù chung thân và đày biệt xứ sang I-bi-ni ở
Guy-an thuộc Pháp. Đến năm 1935, ông mất tại Guy-an (Guyane), sau một thời gian bị bệnh lao
và bị tra tấn dã man. Ông sáng tác nhiều thơ văn, báo chí cách mạng.
6
Bùi Văn Ba
(1929 - 1998)
Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, chiến sĩ đặc công, quê ở Sài Gòn. Ông nhập ngũ cách
mạng tháng 8/1945, tham gia chiến đấu trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ. Từng tham
gia nhiều trận đánh lớn ở Miền Đông Nam Bộ, Sân bay Tân Sơn Nhất, kho đạn Phú Thọ (Tân
Bình). Được tặng thưởng Huân chương chiến công hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Ba,
danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (1956).
TP.HCM
7
Bùi Văn Ngữ
(1910 - 1942)
Liệt sĩ, bí danh là Bảy Xuyến, quê làng Tân Thới Nhất, huyện Hóc Môn (nay là quận 12 TP.
Hồ Chí Minh). Năm 1927 - 1928 tham gia Hội kín Nguyễn An Ninh, năm 1930 gia nhập Đảng
Cộng sản Đông Dương. Năm 1931 là Tỉnh ủy viên tỉnh Gia Định, Bí thư Tỉnh ủy Gia Định, Xứ ủy
viên Xứ ủy Nam Kì. Năm 1940, ông bị Pháp bắt cùng với các đồng chí: Nguyễn Văn Cừ, Phạm
Văn Đồng... Trong tù ông bị tra tấn rất dã man, nhưng vẫn khẳng khái không khai báo, nên một số
cơ sở đảng ở Hóc Môn vẫn giữ được bí mật cách mạng. Năm 1941, ông bị lưu đày Côn Đảo cùng
với các ông Lê Hồng Phong, Lê Duẩn, Bùi Văn Thủ, Dương Bạch Mai, Nguyễn Văn Tạo... Trong
tù ông bị hành hạ dã man và hi sinh vào năm 1942 cùng với anh ruột là Bùi Văn Thủ.
TP.HCM
8
Châu Văn Liêm
(1902 - 1930)
Liệt sĩ cách mạng, quê ở Ô Môn, Cần Thơ. Sớm giác ngộ cách mạng. Năm 1926 tham gia tổ
chức Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội. Năm 1929, ông đại diện Kỳ bộ Nam Kỳ đi dự
Đại hội ở Hương Cảng, sau đó về thành lập An Nam Cộng sản đảng. Ngày 3/2/1930, ông là một
trong những đại biểu đảng bộ miền Nam, dự đại hội thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam tại Cửu
Long, Trung Quốc. Ngày 4/5/1930, ông trực tiếp lãnh đạo cuộc biểu tình với hàng nghìn quần
chúng tham dự đấu tranh đòi giải phóng dân tộc, đòi giảm sưu thuế…. Ông và một số đồng chí đã
bị thực dân Pháp sát hại.
Đà Nẵng, Cần
Thơ, TP.HCM,
Quy Nhơn
9
Cù Chính Lan
(1930 - 1952)
Anh hùng liệt sĩ, quê ở Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu, Nghệ An. Bộ đội chủ lực, Tiểu đội trưởng bộ
binh thuộc Sư đoàn 304, tham gia các chiến dịch lớn trong kháng chiến chống Pháp. Mưu trí, gan
dạ lập nhiều thành tích trong chiến đấu, được nêu gương “Anh hùng tay không diệt giặc”. Trong
trận đánh đồn Cô Tô năm 1951, hai lần anh bị thương nhưng vẫn nén đau, phá hai hàng rào mở
đường cho đơn vị vào đánh chiếm cứ điểm, anh dũng hy sinh khi trận đánh vừa kết thúc. Được
truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang ngày 19/5/1952.
Đà Nẵng, Hà
Nội, Quy Nhơn
10
Đặng Thùy Trâm
(1942 - 1970)
Liệt sĩ cách mạng, quê ở thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Thuở nhỏ theo gia đình
sống tại Hà Nội, là cựu học sinh trường Chu Văn An, Hà Nội. Năm 1966, tốt nghiệp Đại học Y
Hà Nội, Quy
Nhơn
111
Dược, sau đó tình nguyện vào chiến đấu tại chiến trường Liên Khu 5 ở Quảng Ngãi. Tại đây,
đồng chí được phân công phụ trách bệnh viện Dân quân y tại huyện Đức Phổ, Quảng Ngãi. Ngày
22/6/1970, trong một chuyến công tác, đồng chí bị địch phục kích và hy sinh. Là tác giả cuốn
“Hồi ký Đặng Thùy Trâm”.
11
Đặng Thái Thuyên
(1897 - 1931)
Liệt sĩ cách mạng, quê làng Hải Côn, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Năm 1926, sau khi tham
gia Việt Nam thanh niên Cách mạng đồng chí hội, ông được chọn đưa sang Quảng Châu (Trung
Quốc) tham dự lớp huấn luyện chính trị do Nguyễn Ái Quốc hướng dẫn. Sau khi bế mạc lớp học ở
Quảng Châu, ông được cử về hoạt động ở Thái Lan. Trong một chuyến về nước công tác, ông bị
địch bắt giam ở nhà lao Kon Tum. Giữ vững tinh thần bất khuất, ông bị giết năm 1931.
Quy Nhơn
12
Đinh Núp
(1914 - 1999)
Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Quê ở làng Tơ Tung, huyện K’bang, tỉnh Gia Lai.
Tham gia cách mạng năm 1935. Tham gia cướp chính quyền tại địa phương năm 1945. Ông vận
động đồng bào dân tộc tham gia các tổ du kích, xây dựng làng chiến đấu chống các cuộc càn quét
của quân Pháp làm tiêu hao nhiều đơn vị địch. Từng tham gia đánh Mỹ ở Tây Nguyên, giữ các
chức vụ: Chủ tịch Ủy ban Mặt trận tổ quốc tỉnh Gia Lai - Kon Tum (1976); Đại biểu Quốc hội; Ủy
viên Hội đồng Nhà nước khóa VI; được tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Ba, Huân
chương chiến công hạng Nhất.
Gia Lai, Đà
Nẵng, Quy
Nhơn
13
Đoàn Văn Bơ
(1917 - 1958)
Liệt sĩ cách mạng, còn có tên là Cao Hoài Đông, quê ở Mỏ Cày, Bến Tre. Năm 1945, ông
tham gia hoạt động cách mạng trong tổ chức Thanh niên tiền phong. Kháng chiến chống Pháp
bùng nổ, ông vào chiến khu hoạt động. Năm 1954, ông ở lại hoạt động nội thành, được cử vào
Thường vụ Đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn. Năm 1958, ông bị bắt và hi sinh ở nhà lao Gia Định.
TP.HCM
14
Hà Quang Vóc
(1947 - 1974)
Anh hùng liệt sĩ, chiến sĩ đặc công rừng Sác, quê ở tỉnh Quảng Ninh. Từng giữ các chức vụ:
Trung đội Trưởng đặc công. Trong trận đánh năm 1973, đơn vị ông đột nhập vào kho xăng Nhà
Bè đốt cháy hàng triệu lít xăng gây tiếng vang lớn trong và ngoài nước. Năm 1974, trong một trận
đánh khác cũng tại Nhà Bè, ông hi sinh. Được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng
vũ trang nhân dân năm 1976.
TP.HCM
15
Hoàng Đình Giong
(1904 - 1947)
Nhà hoạt động cách mạng, tên thật là Vũ Đức, quê xã Đề Thám, huyện Hòa An, tỉnh Cao
Bằng. Tham gia cách mạng năm 1925 trong tổ chức Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí
hội. Năm 1929, được kết nạp Đảng Cộng sản Đông Dương, đến năm 1933, xây dựng phong trào
cách mạng ở Hải Phòng, Hồng Quảng. Năm 1945, trực tiếp lãnh đạo giành chính quyền và làm
chủ tình hình tỉnh Cao Bằng, sau đó nhận nhiệm vụ phụ trách bộ đội Nam tiến tăng cường lực
lượng đánh Pháp ở Nam Bộ.
Năm 1946, ông là Khu trưởng Khu 9, đoàn kết đồng bào các dân tộc
để đánh Pháp, xây dựng căn cứ U Minh, xây dựng lực lượng vũ trang Khu 9. Tháng 1/1947, ông
là Khu trưởng Khu 6. Tháng 3/1947, trên đường ra Bắc để báo cáo tình hình, đến Ninh Thuận bị
Cao Bằng
112
quân Pháp phục kích, ông hy sinh ngày 17/3/1947.
16
Hồ Thị Kỷ
(1949 - 1970)
Anh hùng liệt sĩ, quê ở xã Tân Lợi, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau. Nhập ngũ năm 1968, tham
gia nhiều cuộc phản kích các lực lượng quân đội Sài Gòn, Mỹ trong nội ô thị xã Cà Mau, phá hủy
nhiều cơ sở hậu cần địch. Bà hi sinh trong lúc ôm mìn lao vào xe chở cảnh sát địch ngày 3/4/1970.
Năm 1972, được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Huân chương chiến
công hạng Nhất.
TP.HCM
17
Hồ Tùng Mậu
(1896 - 1951)
Liệt sĩ, nhà hoạt động cách mạng, người làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An,
tên thật là Hồ Bá Cự. Năm 1919, ông sang Xiêm, rồi sang Trung Quốc hoạt động cách mạng,
tham gia Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội. Ba lần bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam
vào các năm 1927, 1928 và 1929. Góp phần tích cực vào việc hợp nhất các tổ chức cộng sản Việt
Nam tại Hội nghị ngày 3/2/1930 ở Hương Cảng. Năm 1931, bị thực dân Pháp bắt, kết án tù chung
thân, trải qua các nhà lao Vinh, Lao Bảo, Kon Tum, Buôn Ma Thuột, Trà Khê. Sau Cách mạng
tháng Tám, giữ các chức vụ: Chủ tịch Ủy ban kháng chiến Liên khu IV, Trưởng ban Thanh tra
Chính phủ (1947), Uỷ viên Ban Chấp hành TƯ Đảng. Hy sinh trên đường vào Liên khu IV công
tác. Được truy tặng Huân chương Sao Vàng, Huân chương Hồ Chí Minh.
Đà Nẵng, Huế,
Quy Nhơn
18
Huỳnh Đình Hai
(1920 - 1950)
Liệt sĩ, bí danh hoạt động là Hai Râu. Quê ở xã Long Thuận, tỉnh Tiền Giang. Ông tham gia
cách mạng trong tổ chức công đoàn, tích cực hoạt động cướp chính quyền tại Sài Gòn. Đến kháng
chiến chống Pháp, ông được tổ chức giao nhiều chức vụ quan trọng như: Tham mưu trưởng lực
lượng công đoàn xung phong, Ủy viên Ủy ban kháng chiến đầu tiên của thành phố Sài Gòn,
Thành đội trưởng Thành đội dân quân Sài Gòn. Ông hi sinh năm 1950 tại Thủ Đức
TP.HCM
19
Huỳnh Văn Bánh
(1922 - 1969)
Liệt sĩ, quê xã Vĩnh Lộc, huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh. Là cán bộ nòng cốt của
Đảng Cộng sản Việt Nam, tham gia cách mạng từ năm 1945, trải qua 9 năm kháng chiến chống
Pháp. Trong kháng chiến chống Mỹ, ông được cử vào Ban Thường vụ Khu ủy Sài Gòn – Gia
Định, phụ trách an ninh phân khu I. Ông hi sinh tại huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương sau một đợt
bom rải thảm của B52.
TP.HCM
20
Kim Đồng
(1928 - 1943)
Anh hùng liệt sĩ, dân tộc Nùng, tên thật là Nông Văn Dền, quê làng Nà Mạ, châu Hà Quảng,
tỉnh Cao Bằng. Tham gia hoạt động cách mạng từ tuổi 13, làm nhiệm vụ giao liên, từng liên lạc
dẫn đường cho Bác Hồ đi công tác. Hy sinh khi mới 15 tuổi, được dựng tượng đài kỉ niệm ở Nà
Mạ, truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân ngày 23/9/1997.
Hà Nội, Quy
Nhơn…
21
Lê Anh Xuân
(1940 - 1968)
Liệt sĩ, nhà thơ, tên thật là Ca Lê Hiến, quê ở huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Năm 1954, tập kết
ra miền Bắc, học Trường học sinh miền Nam. Năm 1964 về miền Nam công tác ở Tiểu ban Giáo
dục thuộc Ban Tuyên huấn Trung ương Cục, rồi chuyển sang công tác ở ngành Văn nghệ Giải
phóng. Trong cuộc Tổng tiến công Tết Mậu thân, ông hy sinh ngày 25/5/1968 ở vùng phụ cận Sài
Gòn. Ông để lại các tập thơ: Tiếng gà gáy, Hoa dừa, Trường ca Nguyễn Văn Trỗi và bài thơ nổi
TP.HCM, Quy
Nhơn
113
tiếng Dáng đứng Việt Nam…
22
Lê Đình Chinh
( 1960 - 1978)
Anh hùng liệt sĩ, quê ở xã Hoằng Quang, huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hóa. Được điều
động vào biên giới Tây Nam chiến đấu chống bọn PônPốt - IêngXari năm 1978. Anh đã mưu trí
dũng cảm, tấn công địch bằng tay không đánh gục hàng chục tên giặc, góp phần tích cực cùng đơn
vị và nhân dân đánh đuổi kẻ thù qua khỏi biên giới. Lúc đó anh là thượng sĩ, tiểu đội trưởng thuộc
đại đội 6, tiểu đoàn 12, Bộ tư lệnh Công an nhân dân vũ trang. Sau khi anh hy sinh, Trung ương
Đoàn TNCS Hồ Chí Minh đã tuyên dương công trạng và truy tặng Huy hiệu “Vì thế hệ trẻ”, phát
động trong thế hệ trẻ phong trào “Sống, chiến đấu rực lửa anh hùng như Lê Đình Chinh”. Ngày
31/10/1978, được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Huế, Quy Nhơn
23
Lê Đình Thụ
(1919 - 1978)
Liệt sĩ, bí danh Vũ Hồng. Quê xã Sơn An, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Trong thời gian
tham gia cách mạng ông từng giữ các chức vụ: Cán bộ Tổng Công đoàn Nam Bộ hoạt động tại Sài
Gòn-Chợ Lớn (1945); Bí thư Quận ủy quận II Sài Gòn (1950); Đặc khu ủy viên dự khuyết, Chánh
Văn phòng Đặc khu ủy Sài Gòn-Chợ Lớn (1954); Đại biểu Liên hiệp Công đoàn Sài Gòn, Ủy viên
Ban tổ chức Đại hội mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam lần thứ I, Chánh Văn phòng
Khu ủy khu Sài Gòn-Gia Định (1962); Thành ủy viên, Chánh Văn phòng và Ủy viên thường trực
Thành ủy Đảng bộ thành phố (1975-1976). Do công lao và các chức vụ trên ông được thưởng
Huân chương Quyết thắng hạng Nhất, Huân chương chống Mỹ cứu nước hạng Nhất.
TP. HCM
24
Lê Minh Xuân
(1935 - 1968)
Anh hùng liệt sĩ, quê ở xã Tân Mỹ, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An. nhập ngũ năm 1963, từng
giữ chức chỉ huy từ Tiểu đội trưởng đến Trung đoàn phó, Tư lệnh phó Quân khu 2; Chỉ huy Tiểu
đoàn 6 giữ vững căn cứ kháng chiến, tiêu diệt nhiều địch (1964-1967); Trong cuộc tổng tấn công
Tết Mậu Thân 1968, Tiểu đoàn của ông đánh vào phía Tây Sài Gòn, chiếm nhiều mục tiêu quan
trọng và trụ lại trong thành phố lâu nhất. ông hi sinh trong trận đánh ở cầu Bình Tân và được truy
phong Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
TP.HCM
25
Lê Tấn Quốc
(1919 - 1968)
Anh hùng liệt sĩ, quê xã Phú Thọ Hòa, quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh. Ông chiến đấu
ở nhiều mặt trận thuộc miền Đông Nam Bộ. trong chiến dịch Mậu Thân 1968, ông là Đại đội
trưởng Biệt động Thành, chỉ huy đánh chiếm Dinh Độc lập Sài Gòn. Ông hi sinh trong trận đánh
này và được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân năm 1972.
TP. HCM, Quy
Nhơn
26
Lê Thị Hồng Gấm
(1951 - 1970)
Anh hùng liệt sĩ, quê ở xã Long Hưng, huyện Châu Thành, Tiền Giang. Năm 16 tuổi, bà tham
gia du kích, được phân công làm giao liên, nhiều lần dũng cảm đưa cán bộ vượt qua vòng vây của
kẻ thù. Tháng 12/1968, làm Xã đội phó, cùng du kích xã chiến đấu 49 trận, diệt và làm bị thương
217 tên địch. Tháng 8/1969, được cử làm Trung đội phó du kích vành đai liên xã. Bà cùng đơn vị
đánh 10 trận, diệt 63 tên địch, bắn rơi 1 máy bay lên thẳng. Ngày 18/4/1970, trên đường công tác,
bà bị máy bay địch bao vây, một mình với khẩu súng trên tay bà đã tiêu diệt nhiều tên địch và bắn
rơi 1 máy bay lên thẳng. Do địch quá đông, bà bị thương nặng và anh dũng hy sinh. Được tặng
thưởng Huân chương Quân công giải phóng hạng Ba, Huân chương Chiến công giải phóng hạng
TP.HCM, Quy
Nhơn
114
Nhì, truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân ngày 20/9/1971.
27
Lê Thị Riêng
(1925 - 1968)
Liệt sĩ, quê ở Bạc Liêu. Tích cực tham gia kháng chiến từ năm 1945. Sau Hiệp định Geneve,
bà được bầu làm Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam, Phó Trưởng
Hội Liên hiệp Phụ nữ Giải phóng miền Nam. Trong một chuyến công tác, bà bị địch bắt giam tại
nhà lao Biên Hòa, mặc dù bị tra tấn dã man nhưng bà vẫn bất khuất kiên cường. Trong cuộc tổng
tiến công Tết Mậu Thân, bà bị địch sát hại trên đường Hồng Bàng (Sài Gòn).
TP.HCM
28
Lê Văn Khương
(1914 - 1941)
Liệt sĩ, tục gọi là Mười Đen, quê xã Bà Điểm, huyện Hóc Môn, là đảng viên Đảng Cộng sản
Đông Dương từ những ngày đầu mới thành lập Đảng ở Nam Kỳ. Ngày 21/4/1940 hội nghị Xứ ủy
ở Tân Hương bàn về khởi nghĩa, đã bầu ông vào Ban thường vụ Xứ ủy kiêm Bí thư tỉnh ủy Gia
Định, trực tiếp thảo kế hoạch và chỉ đạo khởi nghĩa tại địa phương. Cuộc khởi nghĩa thất bại, đến
tháng 3/1941 ông bị bắt và bị tra tấn cực hình, ông hy sinh ngay tại phòng tra tấn Huyện đường
Hóc Môn.
TP HCM
29
Lê Văn Quới
(? - 1940)
Liệt sĩ, tức Bảy Quới. Trong cuộc Nam Kì khởi nghĩa ngày 23/11/1940, ông chỉ huy dân quân
chống địch khi chúng từ Mĩ Tho kéo xuống. Ông bắn chết tên Trung úy Pháp Pétri ở cầu Thầy
Tùng, địch đem quân bao vây đội võ trang cách mạng ở gò Cây Dương. Ông cùng đồng đội dũng
cảm chiến đấu, đến lúc cùng kiệt, ông và các đồng chí Năm Giác, Bảy Chè dùng gươm đâm bụng
tự sát.
TP HCM
30
Lê Văn Sĩ
(1910 - 1948)
Liệt sĩ, tên gọi khác là Võ Sĩ, quê ở thôn Minh Tân, xã Đức Minh, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng
Ngãi. Tham gia tổ chức Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội năm 1927. Tháng 12/1945,
ông giữ chức Chính ủy Quân khu 8, khi giặc Pháp chiếm thị xã Sa Đéc, ông theo lực lượng vũ
trang xuống Khu 9. Năm 1947, ông làm Bí thư Thành ủy Sài Gòn, đến tháng 10/1948, trong một
cuộc càn quét lớn của địch vào vùng Láng Le, Vườn Thơm (Long An), ông hi sinh tại đây.
TP HCM
31
Lý Chính Thắng
(1917 - 1946)
Liệt sĩ, quê ở huyện Hương Sơn, Hà Tĩnh, tên thật là Nguyễn Đức Huỳnh. Ông vào miền Nam
hoạt động cách mạng, tham gia Thành uỷ Sài Gòn - Chợ Lớn và gây cơ sở Đảng ở khu vực Đa
Kao. Tháng 3/1945, ông được phái ra Bắc để bắt liên lạc với Trung ương, sau đó vào Nam đem
theo quyết định khởi nghĩa vũ trang cho Xứ uỷ Nam Kì. Cách mạng tháng Tám thành công, rồi
kháng chiến toàn quốc bùng nổ, lực lượng ta rút vế An Phú Đông, ông lập trạm đón tiếp cán bộ từ
thành phố ra và phụ trách tờ báo Cảm tử của quân đội. Thực dân Pháp tấn công An Phú Đông,
quân ta chống cự anh dũng, ông bị thương nặng, sau đó được đưa vào nhà thương Chợ Rẫy và mất
ở đó.
Hà Nội, TP
HCM, Quy
Nhơn
32
Lý Tự Trọng
(1914 - 1931)
Liệt sĩ, chiến sĩ cộng sản, tên thật là Lê Văn Trọng, quê ở xã Thạch Minh, huyện Thạch Hà,
tỉnh Hà Tĩnh. Năm 10 tuổi, Lý Tự Trọng sang Trung Quốc học tập, học giỏi, nói thạo tiếng Hán và
tiếng Anh. Tại đây, ông tham gia hoạt động trong Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí hội.
Năm 1929, về nước hoạt động với nhiệm vụ thành lập đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và
làm liên lạc cho Xứ uỷ Nam Kỳ với Đảng. Ngày 9/2/1931, trong buổi mít tinh kỉ niệm một năm
Hà Nội, TP
HCM, Quảng
Nam, Cần Thơ,
Quy Nhơn…
115
cuộc khởi nghĩa Yên Bái tổ chức tại Sài Gòn, khi mật thám đến đàn áp, ông đã bắn chết thanh tra
mật thám Legrant. Ông bị bắt và bị kết án tử hình.
33
Mạc Thị Bưởi
(1927 - 1951)
Anh hùng liệt sĩ, quê ở xã Tân Hưng, huyện Nam Thanh, tỉnh Hải Dương. Từ năm 1946, bà
tham gia công tác phụ nữ, du kích xã, xây dựng cơ sở và làm nhiệm vụ liên lạc bảo vệ, giúp đỡ
cán bộ hoạt động ở địa phương. Kiên trì bám dân, bám làng, xây dựng cơ sở và các tổ du kích
thường xuyên hoạt động chống địch. Cuối năm 1950, bà nhận nhiệm vụ liên lạc cho bộ đội đánh
bốt Thanh Dung, bốn lần dũng cảm bò qua ba lớp rào kẽm gai ra vào vị trí địch để báo cáo tình
hình và truyền đạt mệnh lệnh chỉ huy, góp phần quan trọng vào thắng lợi trận đánh. Năm 1951,
trong khi làm nhiệm vụ bà không may rơi vào ổ phục kích của địch, giặc tra tấn dã man nhưng
không khuất phục được, cuối cùng đã sát hại bà. Nhà nước truy tặng Huân chương Quân công
hạng Nhì và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang ngày 31/8/1955.
Hà Nội,
TP.HCM, Đà
Nẵng, Quy
Nhơn
34
Ngô Huy Tăng
(1912 - 1933)
Liệt sĩ, quê xã Phùng Chí Kiên, huyện Mĩ Hào, tỉnh Hưng Yên. Tham gia Việt Nam Thanh
niên Cách mạng đồng chí hội (1928). Ông tích cực tuyên truyền vận động công nhân tham gia đấu
tranh, chống áp bức bóc lột. Ông hoạt động đắc lực, hoàn thành nhiệm vụ khó khăn. Từng bị địch
bắt nhiều lần. Sau khi ra tù, ông được điều động về công tác tại Hà Nội, được chỉ định tham gia
Thành ủy, phụ trách công tác Công vận. Ông bị sốt rét ác tính mất trong nhà tù Hỏa Lò năm 1933.
Quảng Ninh
35
Nguyễn Bình
(1908 - 1951)
Anh hùng liệt sĩ, Trung tướng Quân đội nhân dân Việt Nam, tên thật là Nguyễn Phương Thảo,
quê làng An Phú, xã Giai Phạm, huyện Yên Mĩ, tỉnh Hưng Yên. Năm 1929-1930, tham gia Việt
Nam Quốc Dân đảng, cùng với Nguyễn Thái Học tham gia khởi nghĩa chống Pháp. Sau khi cuộc
khởi nghĩa Yên Bái thất bại, ông bị Pháp bắt giam ở Hỏa Lò rồi đày ra Côn Đảo. Sau khi ra tù,
ông bí mật hoạt động chống Pháp lập căn cứ ở Đông Triều. Sau Tổng khởi nghĩa tháng 8 năm
1945 và Nam Bộ kháng chiến, ông lo việc thống nhất các lực lượng vũ trang tại chiến trường Nam
Bộ. Ông được đặc cách phong Quân hàm Trung tướng, Ủy viên Quân sự Nam Bộ kiêm Khu
trưởng Khu 7 (miền Đông Nam Bộ) với toàn quyền quyết định các việc thuộc lĩnh vực quân sự tại
Nam Bộ. Ông hi sinh trên đường đi nhận công tác mới tại Hà Nội. Năm 2000 được truy tặng danh
hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang, truy tặng Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân
công, Huân chương chiến thắng hạng nhất.
Quảng Ninh
36
Nguyễn Công Bao
(? - 1973)
Chiến sĩ đặc công Rừng Sác, quê tại Nhà Bè. Ông nhập ngũ và chiến đấu ở Nhà Bè, Rừng Sác.
Từng là Trung đội phó đơn vị đặc công chỉ huy đơn vị đánh vào kho xăng dầu Nhà Bè vào đêm
3/12/1973 gây cho địch nhiều thiệt hại. Trên đường rút lui ông bị lực lượng hải thuyền địch bao
vây, ông tử thương trên sông.
TP HCM,
Quảng Ninh
37
Nguyễn Công Thành
(1939 - 1967)
Anh hùng liệt sĩ, có tên khác là Nguyễn Văn Kịp, Đồng Đen, quê làng Phú Thọ Hòa, quận Tân
Bình, TP. Hồ Chí Minh. Ông tham gia cách mạng từ những năm 60, vào lực lượng vũ trang biệt
động Sài thành, tham dự nhiều trận đánh ở nội thành Sài Gòn. Nổi danh nhất là trận đột nhập sân
bay Tân Sơn Nhất và địa đạo ở quận Tân Bình. Ông hi sinh ngày 26/9/1967, ở đường Địa Đạo
Đã đặt tên
đường “Đồng
Đen” ở TP
HCM, Huế
116
quận Tân Bình.
38
Nguyễn Hới
(1909 - 1933)
Liệt sĩ, nguyên quán làng Thương Cốc, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương. Năm 1925 tham gia
phong trào vận động học sinh bãi khóa đòi ân xá Phan Bội Châu. Năm 1927 được kết nạp vào Việt
Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí hội, từng học lớp chính trị theo chương trình của Nguyễn
Ái Quốc tại Trung Quốc. Về nước, ông hoạt động tại Hải Phòng. Tháng 3/1929, ông được cử làm
Bí thư tỉnh bộ Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí hội. Sau khi Đảng Cộng sản Đông
Dương thành lập, ông làm Bí thư Tỉnh ủy, rồi tham gia Xứ ủy Bắc Kì phụ trách các tỉnh Hà Nam,
Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình. Ngày 3/2/1930, Đảng Cộng sản Đông Dương thành lập, ông
trực tiếp làm Bí thư Tỉnh ủy Nam Định. Ngày 6/5/1930 ông bị bắt tại Nam Định rồi bị kết án 20
năm khổ sai, giam ở Hỏa Lò, Hà Nội, Đến tháng 8/1930 bị đày ra Côn Đảo. Cuối 1933, ông vượt
ngục Côn Đảo bằng cách thả bè vượt biển, nhưng bè bị đắm. Ông hi sinh lúc mới 24 tuổi.
Vũng Tàu
39
Nguyễn Kiệm
(1912 - 1951)
Liệt sĩ, nhà hoạt động cách mạng, quê xã Văn Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Gia
nhập Đảng cộng sản Đông Dương từ năm 1936. Tháng 8/1945, ông tham gia khởi nghĩa cướp
chính quyền tại Sài Gòn, được cử làm Ủy viên thường vụ Đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn kiêm Bí thư
Ban cán sự nội thành. Trong cao trào đấu tranh của sinh viên học sinh năm 1950 ở Sài Gòn - Chợ
Lớn, ông bị bắt giam ở bót Catinat và bị sát hại ngày 16/6/1951.
TP HCM, Ngệ
An
40
Nguyễn Nghiêm
(1903 - 1931)
Liệt sĩ, nhà hoạt động cách mạng, quê ở huyện Đức Phổ, Quảng Ngãi. Thuở nhỏ ông học ở
trường Pháp-Việt Quy Nhơn. Trước năm 1930, ông gia nhập Việt Nam Thanh niên cách mạng
đồng chí hội. Tháng 2/1930 được đề cử làm Bí thư đầu tiên của tỉnh Đảng bộ Quảng Ngãi. Hưởng
ứng phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh, ông lãnh đạo quần chúng nhân dân khởi nghĩa kéo đến chiếm
Huyện đường Đức Phổ, xử những tên có nợ máu với nhân dân. Thực dân Pháp và tay sai đàn áp
đẫm máu cuộc khởi nghĩa. Ông bị giặc bắt và bị tuyên án tử hình năm 1931. Ông là người cộng
sản kiên cường, nêu cao tấm gương oanh liệt ngay trên quê hương mình.
Quảng Ngãi, Đà
Nẵng, Quy
Nhơn
41
Nguyễn Phan Vinh
(1933 - 1968)
Anh hùng liệt sĩ, quê xã Điện Nam, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Năm 1963, ông là
Trung úy thuyền trưởng hải quân. Năm 1967, ông chỉ huy đoàn tàu không số vượt đường Hồ Chí
Minh trên biển Đông với nhiệm vụ chuyên chở vũ khí quân dụng chi viện cho chiến trường miền
Nam. Năm 1968, ông đã anh dũng chỉ huy được 11 chuyến tàu hải quân tới đích an toàn. Ông hi
sinh trong lần chở tàu vũ khí đến Vũng Rô (Phú Yên). Ông được Nhà nước truy tặng danh hiệu
Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, tặng thưởng huân chương Quân công, huân chương chiến
công,..
Đà Nẵng, Hoài
Nhơn
42
Nguyễn Phong Sắc
(1902 - 1931)
Liệt sĩ, chiến sĩ cộng sản, tên thật là Nguyễn Văn Sắc, quê làng Bạch Mai, Hà Nội. Ông tham
gia Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội đầu năm 1927. Năm 1929, cùng các đồng chí
Ngô Gia Tự, Nguyễn Đức Cảnh thành lập tổ chức Đảng ở trong nước. Tháng 7/1929, ông được
phân công vào phụ trách khu vực Trung kỳ. Sau một thời gian ngắn, ông xây dựng lực lượng và
cho ra đời chi bộ cộng sản đầu tiên ở thành phố Vinh, Nghệ An. Phong trào công nhân Nhà máy
Hà Nội, Quy
Nhơn
117
Diêm Bến Thủy, phong trào nông dân Hưng Nguyên nổi dậy chống lại chế độ hà khắc của thực
dân Pháp. Phong trào bị đàn áp, thực dân Pháp ra sức truy lùng những người cầm đầu của các
cuộc nổi dậy và đấu tranh này. Tháng 5/1931, ông bị thực dân Pháp bắt và bị xử tử hình.
43
Nguyễn Thái Bình
(1948 - 1972)
Liệt sĩ, quê làng Trường Bình, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An. Trong thời gian học tập tại
Mỹ, ông đã tích cực tham gia phong trào phản chiến, phản đối Mỹ tiến hành chiến tranh xâm lược
Việt Nam. Ngày 10/2/1972, ông cùng 9 sinh viên khác đột nhập và chiếm tòa Lãnh sự Việt Nam
Cộng hòa tại New York, đòi Hoa Kỳ rút khỏi Việt Nam vô điều kiện, đòi trả tự do cho tù nhân
chính trị tại Việt Nam. Ông bị cảnh sát bắt giữ. Trên đường về nước ngày 2/7/1972, ông đã khống
chế chiếc máy bay Boeing 747 của hãng Pan American, yêu cầu chuyển hướng tới Hà Nội. Tuy
nhiên, ông đã bị sát hại tại sân bay Tân Sơn Nhất. Ông để lại lá thư ngỏ gửi cho nhân dân yêu
chuộng hòa bình và công lý trên thế giới và lá thư gửi Tổng thống Nixon lên án các hành động tội
ác chiến tranh ở Việt Nam.
TP.HCM, Quy
Nhơn
44
Nguyễn Thị
Minh Khai
(1910 - 1941)
Liệt sĩ, nhà hoạt động cách mạng, quê quán xã Vịnh Yên, tỉnh Nghệ An. Tham gia cách mạng
rất sớm, là đại biểu chính thức Đại hội 7 Quốc tế cộng sản tại Mat-xcơ-va. Nguyên thành viên Xứ
ủy Nam kỳ và Bí thư Thành ủy Sài Gòn-Chợ Lớn (1936-1940). Bị địch bắt giam tháng 7/1940,
trong tù vẫn tiếp tục liên lạc lãnh đạo phong trào cách mạng bên ngoài. Bị địch xử bắn ngày
28/8/1941 tại Hóc Môn.
Hà Nội,
TP.HCM, Quy
Nhơn…
45
Nguyễn Thị Nhỏ
(1908 - 1946)
Liệt sĩ, quê ở Vĩnh Long, lên Sài Gòn sinh sống. Sớm giác ngộ cách mạng, gia nhập tổ
chức Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí hội, bị địch bắt ngày 23/9/1929, giam một thời
gian rồi được tự do. Ra khỏi tù bà được kết nạp vào An Nam cộng sản đảng, công tác ở xưởng Ba
Son. Năm 1931, bà được bầu làm Bí thư Thành ủy Chợ Lớn. Cuối năm đó lại được cử làm Ủy
viên Xứ ủy lâm thời Nam Kì. Sau Cách mạng tháng Tám, bà tham gia kháng chiến chống Pháp rồi
bệnh mất ở Vĩnh Long.
TP.HCM
46
Nguyễn Văn Bảo
(1916 - 1966)
Liệt sĩ, quê xã Hanh Thông, quận Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh. Tham gia cách mạng từ phong
trào Đông Dương đại hội năm 1936-1939. Năm 1946 làm Chủ nhiệm Mặt trận Việt Minh tỉnh Gia
Định, sau đó chuyển qua hoạt động quân sự, cấp bậc Đại tá kiêm Chính ủy Sư đoàn 330. Sau Hiệp
định Geneve, ông ở lại miền Nam hoạt động, giữ chức Chính ủy Bộ chỉ huy Đặc khu Sài Gòn -
Gia Định. Ông hi sinh tại Củ Chi năm 1966.
TP.HCM
47
Nguyễn Văn Bé
(1941 - 2002)
Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, quê ở phường Phú Cường, Thủ Dầu Một, Bình Dương.
Được tuyên dương anh hùng khi làm Đại đội phó Đại đội 304, Tiểu đoàn bộ đội địa phương Phú
Lợi, Thủ Dầu Một. Trong chiến đấu, ông luôn nêu cao tinh thần dũng cảm tích cực chủ động tiến
công, mưu trí trong mọi tình huống gay go ác liệt, nhiều lần bị thương vẫn không rời vị trí, ngoan
cường chỉ huy đơn vị giữ vững trận địa, lập công xuất sắc. Từ năm 1961-1967, tham gia chiến
đấu 60 trận, diệt 85 tên địch, bắt sống 8 tên, thu 30 súng. Được tặng thưởng Huân chương Chiến
công Giải phóng hạng nhì, Chiến sĩ thi đua 2 năm liền (1965-1966), danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ.
TP.HCM, Quy
Nhơn
118
Ngày 17/9/1967, được tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
48
Nguyễn Văn Ngọ
(1906 - 1954)
Liệt sĩ, quê làng Hạ Đổng, xã Công Hiền, huyện Vĩnh Bảo, TP. Hải Phòng. Năm 1927, ông gia
nhập tổ chức Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội và làm đảng đoàn trong Quốc dân Đảng do ta
bố trí. Tháng 8/1929, ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương hoạt động ở Bắc Kỳ. Đầu năm
1930, ông là ủy viên Xứ ủy Bắc Kỳ, được Xứ ủy điều về công tác ở Thái Bình. Cuối năm 1930,
ông bị bắt giam, bị kết án đày đi các nhà tù Hải Phòng, Sơn La. Năm 1937, ông ra tù, trở về tiếp
tục hoạt động cách mạng. Cuối năm 1939, lại bị địch bắt lần 2, đày qua nhiều nhà lao. Đầu 1945,
thoát khỏi nhà tù đế quốc về hoạt động cách mạng trong phong trào Việt Minh. Từ sau Cách mạng
tháng Tám 1945 đến năm 1950, ông giữ chức Bí thư Tỉnh ủy, kiêm Chủ tịch tỉnh Thái Bình. Năm
1951, ông được Trung ương điều về Liên khu III. Năm 1953, ông làm Giám đốc Sở Tư pháp Liên
khu III. Năm 1954, được Trung ương cử đi công tác và hy sinh tại Trung Quốc.
Huế, TP. HCM
49
Nguyễn Văn Trỗi
(1940 - 1964)
Anh hùng liệt sĩ, quê ở xã Điện Thắng, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Từng làm nghề thợ
điện ở nhà máy điện Chợ Quán, tại đây ông giác ngộ cách mạng rồi tham gia vào tổ chức biệt
động vũ trang thuộc Đại đội Quyết tử 65 cánh Tây Nam Sài Gòn. Tháng 5/1964, ông xin Ban chỉ
huy quân sự biệt động, cho phép đánh bom phái đoàn quân sự cao cấp của chính phủ Mỹ do
Robert Macnamara cầm đầu sang miền Nam nghiên cứu tình hình chiến tranh Việt Nam. Giữa lúc
đang gài mìn tại gầm cầu Công Lý thì bị lộ, ông bị địch bao vây và bị bắt. Trong lao tù, địch dùng
nhiều cực hình, nhưng không khuất phục được ông. Ngày 15/10/1964, địch đưa ông ra xử bắn.
Nhà nước truy tặng Huân chương Thành đồng hạng Nhất, danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang
nhân dân ngày 17/10/1964.
Đà Nẵng,
Quảng Nam,
TP.HCM, Quy
Nhơn…
50
Nguyễn Viết Xuân
(1934 - 1964)
Anh hùng liệt sĩ, quê ở xã Ngũ Kiên, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc, là Thiếu uý, Chính
trị viên Đại đội pháo cao xạ, tham gia các trận đánh trả cuộc chiến phá hoại miền Bắc của không
quân Mỹ. Trong trận đánh ngày 18/11/1964 tại Quảng Bình, ông chỉ huy đơn vị bắn rơi 2 máy
bay của địch. Ông bị thương nặng nhưng không rời trận địa, vẫn tiếp tục chỉ huy bộ đội chiến đấu
với lời động viên nổi tiếng: “Nhằm thẳng quân thù mà bắn”. Ông hy sinh vì vết thương quá nặng.
Được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhì, truy tặng Huân chương Quân công hạng
Ba, danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân năm 1967.
Hà Nội, Quy
Nhơn
51
Phạm Hồng Thái
(1895 - 1924)
Chiến sĩ cộng sản, quê ở Hưng Nguyên, Nghệ An. Tham gia các hoạt động yêu nước chống
Pháp, tổ chức các cuộc bãi công ở Nhà máy đèn Bến Thuỷ (Vinh) năm 1920, cuộc bãi công ở mỏ
kẽm chợ Chu (Bắc Cạn). Đầu năm 1924, cùng với Lê Hồng Phong và Lê Thiết Hùng sang Thái
Lan, Trung Quốc, gia nhập tổ chức Tâm tâm xã ở Quảng Châu. Nhận nhiệm vụ ném tạc đạn giết
tên Toàn quyền Meclanh tại Quảng Châu, anh dũng hy sinh khi làm nhiệm vụ ngày 19/4/1924.
Hải Phòng,
Huế, TP.HCM,
Quy Nhơn…
52
Phạm Ngọc Thảo
Nhà hoạt động tình báo, Anh hùng liệt sĩ, quê quán tỉnh Bến Tre. Xuất thân trong một gia đình
TP.HCM, Quy
119
(1922 - 1965)
điền chủ có quốc tịch Pháp. Sau 1945, ông làm giao liên rồi trở thành cán bộ chỉ huy quân đội
trong kháng chiến chống Pháp. Năm 1953-1954 là sĩ quan chỉ huy cấp Trung đoàn tại chiến
trường Tây Nam Bộ. Sau 1954, ông ở lại miền Nam hoạt động, tham gia quân đội Sài Gòn, giữ
nhiều chức vụ quan trọng, làm việc tại Phủ Tổng thống, được Ngô Đình Diệm tin cậy trong công
tác chính trị, an ninh nội bộ. Năm 1963, được cử làm Tùy viên Văn hóa của Tòa Đại sứ Việt Nam
tại Hoa Kỳ. Năm 1965, bị chính quyền Sài Gòn triệu hồi về nước vì nghi vấn hoạt động tình báo
của ông. Ông đã liên hệ các lực lượng làm cuộc đảo chính, làm chủ Đài Phát thanh Sài Gòn một
thời gian, sau bị địch bắt và bị sát hại. Với các công lao đóng góp cho sự nghiệp cách mạng trong
hoạt động tình báo, ông được Nhà nước truy phong liệt sĩ, truy tặng danh hiệu Anh hùng lực
lượng vũ trang. Ông còn là một nhà báo, để lại nhiều bài viết trong Tạp chí Bách khoa ở Sài Gòn
về đề tài du kích chiến tranh nhân dân.
Nhơn
53
Phạm Văn Cội
(1940 - 1967)
Anh hùng liệt sĩ, quê xã Nhuận Đức, quận Củ Chi, TP. Hồ Chí Minh. Ông tham gia đánh Mỹ
từ lúc còn trẻ tuổi, từng chiến đấu khắp mặt trận ở Bến Cát, Củ Chi và lập được nhiều chiến công,
ông hi sinh tại chiến trường năm 1967. Được phong tặng Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
TP.HCM
54
Phạm Xuân Ẩn
(1927 - 2006)
Tướng tình báo, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, quê làng Bình Phước, tỉnh Đồng Nai.
Tham gia cách mạng từ tháng 10/1945. Năm 1950, được điều sang hoạt động ở lĩnh vực tình báo,
len lỏi vào bộ máy Sài Gòn. Ông từng được chế độ Sài Gòn cử đi du học Mỹ. Sự nghiệp giải
phóng miền Nam, thống nhất đất nước có công lao đóng góp rất lớn của cá nhân ông. Ông được
mệnh danh là “Nhà tình báo chiến lược đại tài, một điệp viên hoàn hảo”, một người lính quả cảm
và giàu trí tuệ của ngành tình báo Quốc phòng Việt Nam. Ngoài làm tình báo, ông còn là một nhà
báo giỏi.
Đà Nẵng, Đồng
Hới, Quy Nhơn
55
Phan Đình Giót
(1922 - 1954)
Anh hùng liệt sĩ, quê ở huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh. Năm 1945 tham gia tự vệ chiến
đấu, đến năm 1950, xung phong vào bộ đội chủ lực. Mùa đông năm 1953, đơn vị tham gia chiến
dịch Điện Biên phủ. Ngày 13/3/1954, đơn vị của ông nổ súng tấn công cứ điểm Him Lam. Ông đã
anh dũng chiến đấu tiêu diệt các hỏa điểm của địch và lao cả thân mình vào bịt kín lỗ châu mai
dập tắt hỏa điểm lợi hại nhất của địch, tạo điều kiện cho toàn đơn vị xông lên, tiêu diệt gọn cứ
điểm Him Lam, giành thắng lợi trong trận đánh mở màn chiến dịch Điện Biên Phủ. Ông được truy
phong danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang năm 1955.
Hà Nội,
TP.HCM, Quy
Nhơn
56
Phan Thị Ràng
(1937 - 1962)
Anh hùng liệt sĩ, còn gọi là chị Sứ, Tư Phùng, quê ở xã Lương Phi, huyện Xà Tón (Tri Tôn),
tỉnh An Giang. Xuất thân trong một gia đình có truyền thống cách mạng, năm 1950, bà bắt đầu
cuộc đời hoạt động cách mạng khi chỉ mới 13 tuổi. Năm 1960, được phân công về công tác tại xã
Thổ Sơn, huyện Hòn Đất, bà tích cực vận động quần chúng, xây dựng lực lượng, dự trữ lương
thực, vận động thanh niên nhập ngũ và tổ chức chiến đấu. Tháng 01/1962, giặc mở cuộc càn quét
với quy mô lớn, tập trung lực lượng tấn công vào khu vực Ba Hòn, lực lượng của ta chưa đầy 20
Rạch Giá
120
người, phải đương đầu với giặc trên 2.000 tên. Bà vừa là liên lạc giữa các đơn vị trong khu căn cứ,
vừa tổ chức vận động nhân dân đấu tranh chính trị, binh vận, tiếp tế lương thực cho bộ đội chiến
đấu. Bọn giặc đốt lửa, hun khói vào hang, thả thuốc độc xuống suối, tìm cách tiêu diệt lực lượng
ta. Ở bên ngoài bà tổ chức công khai vận động quần chúng đấu tranh chính trị và làm công tác
binh vận. Kết hợp cả ba mũi giáp công, trong 05 ngày chiến đấu ta đã diệt và làm tan rã trên 100
tên địch. Bà tổ chức vận động nhân dân và gia đình khiêng xác binh sĩ ra Tri Tôn và Rạch Giá đòi
bồi thường thiệt mạng và chấm dứt cuộc càn. Trước khí thế đấu tranh mạnh mẽ của quân và dân
ta, buộc kẻ địch phải dỡ bỏ cuộc càn. Đêm ngày 08 rạng sáng ngày 09/01/1962, trên đường đi làm
nhiệm vụ, bà lọt vào ổ phục kích của giặc. Bị giặc tra tấn dã man nhưng không thể lung lay được
tinh thần, ý chí của người cách mạng, bọn giặc đem bà đến chân núi Hòn Đất hành quyết. Sự hy
sinh và tấm gương sáng ngời của bà đã truyền thêm sức mạnh và lòng căm thù giặc cho các lực
lượng vũ trang và nhân dân Nam bộ quyết tâm đánh địch bảo vệ quê hương. Ngày 20/12/1984, bà
được Chủ tịch nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
57
Phùng Chí Kiên
(1901 - 1941)
Liệt sĩ, còn có tên là Nguyễn Vĩ, quê làng Mĩ Quang Thượng, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ
An. Năm 1926, ông sang Quảng Châu dự lớp huấn luyện đầu tiên do Nguyễn Ái Quốc tổ chức,
tham gia khởi nghĩa Quảng Châu (12/12/1927) do đảng Cộng sản Trung Quốc tổ chức. Năm 1931,
bị phát xít Nhật bắt giam, năm 1934 ông được bầu vào Ban chấp hành Trung ương Đảng hoạt
động ở nước ngoài. Năm 1936, ông trực tiếp chỉ đạo khu căn cứ Bắc Sơn đến tháng 7 cùng năm
ông bị Pháp bắt tại châu Ngân Sơn thuộc tỉnh Bắc Cạn, ông bị giặc Pháp chém, bêu đầu ở cầu
Ngân Sơn để trấn áp tinh thần cách mạng của nhân dân. Sau cách mạng Tháng Tám, ông được Hội
đồng Chính phủ truy phong quân hàm cấp tướng.
Đà Nẵng, Nghệ
An
58
Thái Văn Lung
(1916 - 1946)
Luật sư, chiến sĩ cách mạng, quê ở Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh. Ông từng du học ở Pháp
và đỗ Cử nhân. Về nước, ông sớm giác ngộ đứng vào hàng ngũ cách mạng. Tháng 3/1945 được
Xứ ủy Nam Kỳ giao nhiệm vụ tổ chức Thanh niên tiền phong Sài Gòn, Chợ Lớn. Sau ngày Nam
Bộ kháng chiến, ông tham gia Ủy ban kháng chiến xã, sau được cử làm Chủ tịch Ủy ban kháng
chiến quận Thủ Đức. Ông bị thực dân Pháp bắt và hy sinh năm 1946.
TP.HCM, Quy
Nhơn
59
Tô Hiệu
(1912 - 1944)
Liệt sĩ, nhà hoạt động cách mạng, quê ở huyện Văn Giang, Hải Dương. Sớm tham gia hoạt
động cách mạng, năm 1929, ông vào Sài Gòn hoạt động cùng anh ruột là Tô Chấn trong Việt Nam
Quốc dân đảng. Năm 1930, ông bị bắt đày ra Côn Đảo và gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam.
Năm 1934, được trả tự do về hoạt động tại Hà Nội, năm 1938, phụ trách các tỉnh duyên hải Bắc bộ
và là Bí thư Thành ủy Hải Phòng. Năm 1939, ông bị bắt đày lên Sơn La và hy sinh năm 1944.
Hà Nội, Quy
Nhơn
60
Tô Ký
(1919 - 2001)
Thiếu tướng QĐNDVN, nhà hoạt động cách mạng, quê ở xã Mỹ Bình, huyện Củ Chi, TP, Hồ
Chí Minh. Là chiến sĩ cách mạng kiên cường ở Hóc Môn, từng tham gia khởi nghĩa Nam Kỳ năm
1940. Sau Cách mạng tháng 8, ông chỉ huy các mặt trận Tây Bắc Sài Gòn, Gia Định. Suốt 9 năm
kháng chiến chống Pháp, ông cùng đơn vị bám trụ trên đất Gia Định và Hóc Môn. Từng giữ các
TP.HCM, Nha
Trang, Hoài
Nhơn
121
chức vụ: Chính ủy Sư đoàn 338; Chánh án Tòa án Quân sự trung ương; Chỉ huy các lực lượng
quân giải phóng ở chiến trường Đông Nam Bộ, Sài Gòn, Gia Định; Chỉ huy trưởng Bộ Tư lệnh
thành phố Hồ Chí Minh,.. Ông được tặng Huân chương Độc lập hạng Nhất, năm 2010 được truy
tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
61
Tô Vĩnh Diện
(1924 - 1953)
Anh hùng liệt sĩ, quê ở Nông Cống, Thanh Hóa, tham gia bộ đội năm 1949. Trong chiến dịch
Điện Biên Phủ, phụ trách Tiều đội trưởng đơn vị pháo cao xạ. Trên đường đơn vị hành quân đến
trận địa, đường dốc dây kéo pháo đứt, pháo lao xuống dốc. Không quản ngại hiểm nguy, anh lao
thân mình vào chèn bánh xe, giữ pháo không rơi xuống vực. Nhà nước tặng thưởng Huân chương
chiến công hạng Nhất, truy tặng Huân chương Quân công hạng Hai và danh hiệu Anh hùng LLVT
nhân dân ngày 7/5/1956.
Hà Nội, Quảng
Nam, Đà Nẵng,
Quy Nhơn
62
Trần Can
(1931 - 1954)
Anh hùng liệt sĩ, quê ở Yên Thành, Nghệ An. Là Đại đội phó bộ binh thuộc Trung đoàn 209,
Sư đoàn 312. Ông tham gia chiến dịch Tây Bắc 1952 và lập công lớn. Trong trận Him Lam mở
đầu chiến dịch Điện Biên Phủ 1954, ông chỉ huy đơn vị diệt sở chỉ huy địch, cắm cờ “Quyết
chiến, Quyết thắng” lên trung tâm căn cứ. Ông anh dũng hy sinh vào ngày 7/5/1954, ngày kết thúc
chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử. Được Nhà nước truy tặng Huân chương Quân công hạng nhì và
danh hiệu Anh hùng LLVTND ngày 7/5/1956.
Quy Nhơn
63
Trần Não
(1908 - 1933)
Nhà hoạt động cách mạng, liệt sĩ, bí danh là Hoàng Tuyền, Trần Văn Minh quê làng Khánh
An, thị xã Cà Mau, tỉnh Bạc Liêu (nay thuộc tỉnh Cà Mau). Ông tham gia Việt Nam Thanh niên
Cách mạng đồng chí hội, rồi gia nhập An Nam cộng sản đảng. Từng là Ủy viên trung ương An
Nam cộng sản đảng, Bí thư Thành ủy Sài Gòn - Chợ Lớn năm 1931-1932. Năm 1933, ông bị Pháp
bắt giam, bị tra tấn dã man, mất tại nhà thương Chợ Quán - Chợ Lớn (nay là bệnh viện Nhiệt đới
Thành phố Hồ Chí Minh) lúc mới 25 tuổi.
TP HCM
64
Trần Phú Cương
(1929 - 1968)
Anh hùng liệt sĩ, quê xã Nại Văn, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Năm 1954 ở lại hoạt động bí
mật ở nội thành Sài Gòn, năm 1962 tham gia đội biệt động 159, làm công tác vận chuyển vũ khí,
đưa rước cán bộ ra vào thành phố gây cơ sở trong giới thợ mộc, thợ hồ ở vùng Chợ Đũi, đường
Hồng Thập Tự, chợ Bến Thành. Đào hầm trong nhà chứa vũ khí. Trong công tác vận chuyển vũ
khí đã có nhiều sáng kiến qua mắt địch, bình tĩnh và mau lẹ xử trí nhiều trường hợp khó khăn,
nguy hiểm tưởng chừng không thể vượt qua. Trong chiến dịch Mậu Thân 1968, ông hi sinh trong
khi chỉ huy đánh chiếm đài phát thanh, được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang
nhân dân năm 1978.
TP.HCM
65
Trần Quốc Thảo
(1914 - 1957)
Liệt sĩ, tên thật là Hồ Xuân Lưu. Quê làng Cổ Thành, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.
Từng tham gia Mặt trận Dân chủ tại Quảng Trị, góp phần vào việc khôi phục lại Đảng bộ Cộng
sản Đông Dương tỉnh Quảng Trị. Từng phụ trách công tác tuyên huấn Xứ ủy Trung kỳ; Bí thư
Ban Công vận Xứ ủy (1949); Thường vụ Đặc khu Sài Gòn-Chợ Lớn kiêm Phó Tổng Thư ký Công
đoàn Việt Nam (1950); Bí thư Khu ủy Sài Gòn-Chợ Lớn (1957). Trong thời gian làm Bí thư, ông
TP.HCM
122
đã đưa phong trào đấu tranh chính trị phát triển mạnh tại nội thành.
66
Trần Thị Lý
(1933 - 2000)
Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, quê ở Điện Bàn, Quảng Nam, còn có tên là Trần Thị
Nhâm. Bà tham gia kháng chiến chống Pháp, là Chánh văn phòng huyện Hội Phụ nữ Điện Bàn,
tham gia các đường dây bí mật của Tỉnh ủy Quảng Nam. Sau 1954, bà ở lại địa phương hoạt động,
nhiều lần bị địch bắt, bị tra tấn dã man “điện giật, dùi đâm, dao cắt, lửa nung” nhưng vẫn kiên
cường chiến đấu. Gương chiến đấu bất khuất của bà được nhà thơ Tố Hữu thể hiện qua bài thơ
“Người con gái Việt Nam”, là người tiêu biểu cho phụ nữ Việt Nam được Bác Hồ tặng 8 chữ
vàng: Anh hùng, Bất khuất, Trung hậu, Đảm đang. Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng
vũ trang nhân dân ngày 02/2/1992.
Đà Nẵng, Quy
Nhơn
67
Trần Toại
(1890 - 1948)
Liệt sĩ, hiệu Kim Tương, quê xã Đức Dân, huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi. Năm 1930, ông
gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương, tham gia gây dựng cơ sở cách mạng và trở thành Bí thư
Huyện ủy Ba Tơ. Năm 1931, được Xứ ủy Trung kỳ điều đến Phú Yên chỉ đạo phong trào, được cử
làm Bí thư Tỉnh ủy Phú Yên. Sau đó bị địch bắt, đưa ra xét xử và bị kết án tù khổ sai chung thân,
giam giữ ở nhà lao Buôn Mê Thuột. Do bị bệnh, ông được thực dân Pháp thả về quản thúc ở địa
phương. Ông bắt liên lạc với các tù chính trị đang bị giam giữ ở Căng an trí Ba Tơ để xây dựng cơ
sở cách mạng ngay trong nhà tù, rồi tham gia lãnh đạo cuộc khởi nghĩa ở Ba Tơ (Quảng Ngãi).
Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, ông được cử làm Chủ tịch Ủy ban Cách mạng tỉnh
Quảng Ngãi. Năm 1948, ông mất vì bệnh nặng, được Nhà nước truy tặng Huân chương Hồ Chí
Minh.
Quảng Ngãi,
Tuy Hòa
68
Trần Văn Đang
(1942 - 1965)
Anh hùng liệt sĩ, quê huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long. Năm 1964 nhập ngũ trong lực lượng
quân báo vũ trang, năm 1965 nhận nhiệm vụ đánh câu lạc bộ không quân Mỹ gần cổng sân bay
Tân Sơn Nhất. Trên đường tiếp cận mục tiêu, ông bị bắt cùng chất nổ mang theo. Ông bị kết án tử
hình và bị bắn tại pháp trường. Được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang
nhân dân.
TP.HCM
69
Trần Văn Ơn
(1931 - 1950)
Anh hùng liệt sĩ, quê làng Phước Thạnh, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Ông học trường
Pétrus Ký, là cột trụ của phong trào học sinh yêu nước thời ấy. Là một trong những thành viên
lãnh đạo sinh viên, học sinh trong các cuộc đấu tranh biểu tình lớn tại Sài Gòn. Ngày 9-1-1950,
ông dẫn đầu đoàn biểu tình với hàng trăm biểu ngữ, khẩu hiệu đòi quyền lợi cho học sinh, phản
đối độc lập giả hiệu. Cuộc biểu tình bị đàn áp đẫm máu. Ông dũng cảm đương đầu với dùi cui, che
chở cho các học sinh nhỏ tuổi và nữ sinh, ông bị trúng đạn và anh dũng hy sinh. Sau cái chết của
ông đã dấy lên một làn sóng phản đối mạnh mẽ trong học sinh, sinh viên và các tầng lớp đồng bào
đô thị. Ngày 9-1 được lấy làm Ngày kỷ niệm học sinh, sinh viên tranh đấu hàng năm. Ông được
truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân ngày 23/3/2000.
TP.HCM, Quy
Nhơn
70
Trần Văn Mười
(1947 - 1969)
Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, quê xã Tân Xuân, huyện Hóc Môn, TP. Hồ Chí Minh.
Năm 1968, ông hướng dẫn tổ du kích phối hợp với bộ đội địa phương tập kích cụm đóng quân
TP. HCM
123
địch ở Bàu Môn, tiêu diệt nhiều lính Mỹ, tập kích cụm xe Mỹ ở ngã tư Xuân Thới, diệt một số xe
tăng. Ngày 10/2/1969 ông bị phát hiện ở hầm bí mật, ông chiến đấu với quân địch và mưu trí trốn
thoát được về cơ sở tiếp tục chiến đấu, được Bộ Tư lệnh Quân khu tuyên dương và phát động học
tập trong toàn quân khu. Ngày 4/9/1969 trên đường đi công tác, ông bị quân địch phục kích và hi
sinh.
71
Trừ Văn Thố
(1936 - 1963)
Anh hùng liệt sĩ, quê xã Thanh Hòa, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang. Ông nhập ngũ năm
1962, là chiến sĩ trinh sát đặc công. Ngày 18/10/1963, trong trận đánh đồn Cây Trường,
huyện
Bến Cát (nay thuộc tỉnh Bình Dương), ông bị thương vào đùi và vẫn tiếp tục chiến đấu. Bộc
phá
và thủ pháo không diệt được hoả điểm, súng máy trong lô cốt đối phương cản đường tiến
quân. Ông đã xông lên, lấy thân mình lấp
lỗ châu mai, vô hiệu hóa hỏa lực đối phương, tạo điều
kiện cho đồng đội tiếp tục chiến đấu. Năm 1965, ông được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực
lượng vũ trang nhân dân.
Bình Dương,
Quy Nhơn
72
Trương Văn Thành
(1945 - 1979)
Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, quê xã Tăng Nhơn Phú, huyện Thủ Đức, TP. Hồ Chí
Minh. Ông gia nhập bộ đội từ các năm 1951-1952 ở địa phương. Sau năm 1954 ở lại hoạt động tại
địa phương trong ngành thông tin liên lạc suốt từ 1954-1967. Đặc biệt trong chiến dịch Mậu thân
(1968) với nhiệm vụ bảo vệ đường dây liên lạc giữa nội thành và vùng ven để hiệp đồng tác chiến
đã đem lại thắng lợi cao. Do thành tích trên, ông được tuyên dương là Anh hùng lực lượng vũ
trang nhân dân năm 1970.
TP.HCM
73
Võ Thị Sáu
(1933 - 1953)
Anh hùng liệt sĩ, tên thật là Nguyễn Thị Sáu, quê ở thị trấn Đất Đỏ, huyện Long Đất, tỉnh Bà
Rịa - Vũng Tàu. Xuất thân trong một gia đình lao động yêu nước, năm 12 tuổi, tham gia trinh sát
Đội Công an xung phong địa phương, tham gia nhiều trận đánh các đồn bốt của giặc Pháp và tay
sai. Năm 1950, trong một lần đi công tác bị sa lưới địch, bị giam cầm tra tấn dã man ở khám Chí
Hoà, Sài Gòn, nhưng bà vẫn không khai nửa lời. Địch kết án tử hình và đày đi Côn Đảo, hy sinh
ngày 23/1/1953. Hình ảnh “Người con gái Đất Đỏ” kiên trung ngã xuống là tấm gương sáng cho
biết bao thế hệ thanh niên Việt Nam học tập noi theo. Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực
lượng vũ trang nhân dân ngày 02/8/1993.
TP.HCM, Quy
Nhơn
74
Võ Văn Tần
(1894 - 1941)
Liệt sĩ, nhà hoạt động cách mạng, quê ở xã Đức Hoà, huyện Đức Hoà, tỉnh Chợ Lớn (nay
thuộc tỉnh Long An.). Sớm tham gia hoạt động yêu nước trong tổ chức của Nguyễn An Ninh, sau
chuyển sang tổ chức Đảng Cộng sản (1929). Bí thư Huyện uỷ đầu tiên huyện Đức Hoà (1930),
trực tiếp tổ chức cuộc đấu tranh của nông dân ở Đức Hoà ngày 4/6/1930, bị thực dân Pháp kết án
tử hình vắng mặt. Bí thư Tỉnh uỷ Chợ Lớn (1931), Bí thư Tỉnh ủy Gia Định (1932). Từ 1936, tổ
chức lãnh đạo phong trào đấu tranh dân chủ ở Sài Gòn và các tỉnh Nam Kỳ; Bí thư Xứ uỷ Nam
Kỳ, Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng (1937 - 1940). Ông bị thực dân Pháp bắt năm 1940
và xử bắn tại Hóc Môn năm 1941.
TP.HCM, Quy
Nhơn
124
NHÓM 6: TÊN CÁC DANH NHÂN, NHÂN VẬT LỊCH SỬ TIÊU BIỂU QUÊ Ở BÌNH ĐỊNH,
HOẶC CÓ CỐNG HIẾN VỚI TỈNH BÌNH ĐỊNH, VỚI PHONG TRÀO TÂY SƠN
ST
T
HỌ VÀ TÊN
TÓM TẮT TIỂU SỬ
ĐÃ ĐẶT TÊN
ĐƯỜNG
1
Bùi Điền
( ? - 1887)
Chí sĩ yêu nước, quê ở Mỹ Hòa, huyện Phù Mỹ. Hưởng ứng chiếu Cần vương, ông cùng
Mai Xuân Thưởng lãnh đạo nghĩa quân kháng Pháp ở Bình Định, Phú Yên. Ông chiến đấu
dũng cảm tận tụy hy sinh vì tổ quốc. Năm 1887, sa cơ bị giặc bắt, ông khẳng khái chịu chết
từ chối mọi cám dỗ của giặc.
Quy Nhơn, TT
Bình Dương
2
Bùi Thị Nhạn
(Thế kỷ XVIII)
Nữ tướng thời Tây Sơn, người làng Phú Xuân (Tây Sơn, Bình Định), Bà được xếp trong
Tây Sơn ngũ phụng thư, cùng tham gia tổ chức, huấn luyện và điều khiển một đoàn tượng
binh gồm 100 thớt voi và đoàn nữ binh hàng nghìn người của nghĩa quân Tây Sơn. Bà là vợ
của Nguyễn Huệ - là Hoàng Thái hậu, mẹ của vua Quang Toản.
Quy Nhơn, Phú
Phong
3
Bùi Thị Xuân
(? - 1802)
Đô đốc, Nữ tướng thời Tây Sơn, quê ở thôn Phú Xuân, xã Tây Xuân, huyện Tây Sơn. Là
người tài ba, dũng cảm, tham gia phong trào Tây Sơn từ buổi đầu, hết lòng giúp nhà Tây Sơn
dựng nghiệp.
Năm 1778 vua Thái Đức phong chức Đô đốc chỉ huy quân cấm vệ bảo vệ kinh
thành Hoàng Đế. Từ năm 1786 đến 1792, dưới cờ nghĩa của Nguyễn Huệ, bà cùng chồng là
Thiếu phó Trần Quang Diệu nhiều lần vào Nam, ra Bắc góp phần tiêu diệt các tập đoàn
phong kiến phản động Lê, Trịnh, Nguyễn. Sau đó được vua Cảnh Thịnh giao giữ trọng trách
chỉ huy đạo quân cấm vệ, bảo vệ kinh đô Phú Xuân. Năm 1802, bà chỉ huy 5.000 quân tham
gia trận đánh ở Lũy Trấn Ninh (Quảng Bình) khiến quân Nguyễn Ánh khiếp sợ. Khi triều
Tây Sơn bị lật đổ, bà thà chết quyết không hàng giặc, hiên ngang đón nhận cái chết trước
pháp trường.
Hà Nội, TP.HCM,
Huế, Quy Nhơn,
Phú Phong…
4
Bùi Tuyển
(1861 - 1914)
Chí sĩ yêu nước, thường gọi là ông Đốc học Bả Canh, quê làng Bả Canh, xã Đập Đá,
huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Từng tham gia phong trào Cần Vương tại Bình Định, giữ
chức Tán lý Quân vụ, ông bị bắt và quản thúc tại gia khi phong trào tan vỡ. Sau đó giữ chức
Huấn đạo huyện Bồng Sơn, Giáo thụ phủ Tuy Phước, Đốc học tỉnh Bình Định. Ông có công
đào tạo nhân tài, được nhân dân Bình Định tôn là Đương thế tôn sư vì học trò của ông có
nhiều người thành đạt.
Quy Nhơn
5
Chàng Lía
(TK XVIII)
Thủ lĩnh phong trào nông dân nửa đầu thế kỷ XVIII, tên thật là Võ Văn Doan, quê ở
huyện Phù Ly, Bình Định. Nổi tiếng là người giỏi võ, có khí phách, có tinh thần đấu tranh
chống áp bức bất công, thường lấy của nhà giàu phân phát cho dân nghèo. Ông tập hợp nghĩa
quân lập căn cứ ở Truông Mây, nghĩa quân nhiều lần tấn công Phủ thành Quy Nhơn, cướp
Quy Nhơn, TT
Tăng Bạt Hổ
125
phá kho lương, gây cho quan quân triều đình nhiều phen khốn đốn. Cuộc khởi nghĩa về sau bị
đàn áp, nhưng đây là tiền đề cho phong trào khởi nghĩa nông dân Tây Sơn bùng nổ sau này.
6
Đào Doãn Địch
(1833 - 1885)
Chí sĩ yêu nước, lãnh tụ phong trào Cần Vương chống Pháp ở Bình Định. Quê Phước
Hoà, Tuy Phước. Năm 1885, chiêu mộ hơn 600 nghĩa binh ứng nghĩa Cần Vương chiếm
thành Bình Định làm căn cứ chống Pháp. Sau bị thương nặng trong trận đánh tại cầu Trường
Úc, ông giao quyền chỉ huy cho Mai Xuân Thưởng và mất tại Bình Khê ngày 20/9/1885.
Quy Nhơn, Tuy
Phước
7
Đào Duy Từ
(1572 - 1634)
Danh thần, nhà văn hóa lớn, quê ở làng Hoa Trai, Tĩnh Gia, Thanh Hóa. Tinh thông
kinh sử, lý số, binh thư đồ trận. Ông lưu lạc vào Nam đến phủ Hoài Nhơn (tỉnh Bình Định
ngày nay), được tiến cử lên Chúa Nguyễn. Có nhiều đóng góp quan trọng với nhà Nguyễn về
chính trị, văn hoá, quân sự. Đề xướng việc đắp luỹ Trường Dục, luỹ Thầy chống Trịnh, định
lại phép thu thuế, luyện tập quân sĩ… Được phong tước Lộc Khê hầu. Ông bị bệnh mất năm
1634. Chúa Nguyễn truy phong công thần. Có công phát triển nghệ thuật hát bội ở Đàng
Trong, để lại các tác phẩm: Hổ trướng khu cơ (quân sự học), Tư dung vãn và Ngọc Long
cương vãn (văn học). Ông là người có công khai phá mở mang vùng đất Bình Định. Hiện
còn di tích lưu niệm đền thờ ông ở thôn Ngọc Sơn, phường Hoài Thanh Tây và thôn Cự Tài,
xã Hoài Phú, thị xã Hoài Nhơn.
Hà Nội, TP.HCM,
Đà Nẵng, Huế,
Quy Nhơn, An
Nhơn …
8
Đào Phan Duân
(1865 - 1947)
Danh sĩ, người thôn Biểu Chánh, Phước Hưng, Tuy Phước. Ông đậu Cử nhân năm 1894
tại Trường thi Bình Định, liền năm sau đi thi Hội, đậu Phó bảng. Rồi trải qua các chức vụ: Đề
học Phú Yên, Án sát Nghệ An, Phủ Doãn Thừa Thiên, đến Tuần phủ Khánh Hoà. Ông làm
quan trải 2 triều Thành Thái và Duy Tân. Là một nhà Nho có tư tưởng yêu nước, tiến bộ;
được nhân dân và sĩ phu đương thời kính trọng.
Quy Nhơn, Tuy
Phước
9
Đào Tấn
(1845 - 1907)
Nhà văn hoá lớn, hậu tổ nghệ thuật sân khấu tuồng, quê ở làng Vinh Thạnh, Phước Lộc,
Tuy Phước. Ông đỗ Cử nhân năm 1864, làm quan thăng dần lên Tổng đốc Nghệ An, Phủ
doãn Thừa Thiên,
Thượng thư Bộ Hình, Thượng thư Bộ Binh, Thượng thư Bộ Công, rồi Hiệp
tá Đại học sĩ. Ông nổi tiếng thanh liêm, công bằng, giỏi văn chương; là một nhà soạn tuồng
xuất sắc, một nhà thơ lớn, nhà đạo diễn mẫu mực, nhà lý luận sân khấu sắc sảo; ông đã đào
tạo nên nhiều lớp nghệ sỹ tài năng. Ông để lại một sự nghiệp nghệ thuật đồ sộ và những đóng
góp to lớn cho nền nghệ thuật sân khấu Tuồng, cũng như kho tàng di sản văn hóa Việt Nam.
Hà Nội, Đà Nẵng,
Huế, Quy Nhơn,
Tuy Phước,
TT Bình Định,
Bình Dương…
10
Đào Thụy Thạnh
(1876 - ...)
Danh sĩ cuối triều Nguyễn, con Hiệp biện Đại học sĩ Đào Tấn (1845-1907), quê làng
Vĩnh Thạnh, tổng Nhơn Ân, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Cựu học sinh trường Quốc tử
giám. đậu cử nhân năm Quí mão (1903) tại Trường thi Bình Định, em cử nhân Đào Bá Quát,
anh trai cử nhân Đào Nhữ Tuyên. Ông nức tiếng văn chương tài hoa không kém gì thân phụ,
thuở trẻ từng được sĩ phu khen ngợi là tay biện sĩ, ứng đối nhanh nhẹn và xác đáng. Sau khi
đỗ Cử nhân, làm quan thời Pháp chiếm nước ta, thăng đến chức Án sát. Thi ca của ông mang
nhiều nỗi u uẩn được truyền tụng khá nhiều.
Quy Nhơn
126
11
Đặng Thành Tích
(... - 1887)
Chí sĩ Cần vương kháng Pháp, quê tỉnh Quảng Ngãi, ông nhiệt thành tham gia phong trào
Cần vương, dưới cờ khởi nghĩa của nhà lãnh tụ kháng chiến vùng Bình Định, Phú Yên là Mai
Xuân Thưởng. Ông dũng cảm chống xâm lăng, từng đánh nhiều trận lớn. Cuối cùng ông bị tử
thương, hi sinh vào năm 1887. Chủ tướng Mai Xuân Thưởng và anh em đồng chí đều thương
tiếc ông và càng căm giận quân cướp nước.
Quy Nhơn
12
Đặng Tiến Đông
(1738 - 1797)
Đô đốc thời Tây Sơn, quê ở Chương Mỹ, Hà Tây, làm quan thời Lê-Trịnh, sau ra giúp
nhà Tây Sơn. Trong trận Ngọc Hồi - Đống Đa ông chỉ huy một trong 5 cánh quân đại phá
quân Mãn Thanh năm Kỷ Dậu (1789). Dưới triều Quang Trung, ông giữ chức Vệ Quốc
Thượng Tướng quân, trấn thủ hai xứ Thanh Hóa và Nghệ An. Thời vua Cảnh Thịnh, giữ chức
Đại Tướng thống vũ thắng vệ thiên hùng hiệu. Ngoài việc quan, ông còn có công chiêu tập
dân làng khai khẩn đất hoang, mở mang thôn xóm, chăm lo tu bổ một số đền chùa
Hà Nội, Quy Nhơn,
Phú Phong,
An
Nhơn
13
Đặng Văn Chấn
(Thế kỷ XVIII)
Đô đốc thời Tây Sơn, từng vào Nam truy kích Nguyễn Ánh, uy danh lừng lẫy. Năm
1784, tham gia trận đánh quân Xiêm xâm lược đại thắng tại Rạch Gầm, Xoài Mút. Năm Kỷ
Dậu 1789, sau trận đại thắng quân Thanh, ông cùng với
Ngô Văn Sở, Phan Huy Ích, Võ Huy
Tấn đưa đoàn sứ thần giả vua Quang Trung sang Yên Kinh (Trung Quốc) chầu vua Càn
Long. Năm 1793, ông điều khiển thủy quân đem hơn 30 chiếc thuyền từ Phú Xuân vào giải
vây thành Quy Nhơn, ông tận trung hết mình với nhà Tây Sơn.
Quy Nhơn
14
Đặng Xuân Phong
(Thế kỷ XVIII)
Danh tướng thời Tây Sơn, người làng Dõng Hòa, huyện Tuy Viễn (nay là huyện Tây
Sơn), võ nghệ cao cường, sức mạnh hơn người, có tài cưỡi ngựa bắn cung. Tham gia góp sức
giúp nhà Tây Sơn nắm giữ việc quân cơ, lập được nhiều công trạng, đánh quân Trịnh ở phía
Bắc, chặn quân Nguyễn ở phía Nam. Đầu đời Tây Sơn giữ chức Kinh lược An phủ sứ bộ
Thuận Hoá, năm Cảnh Thịnh thứ 3, phong chức Thái Phó. Khi chết được ban chức Thái Sư,
truy phong tước Quốc Công.
Quy Nhơn
15
Đậu Khâm
(1762 - 1792)
Danh tướng thời Tây Sơn, quê ở Trung Đô, Nghệ An. Tham gia phong trào Tây Sơn năm
1786, phụ trách công tác hậu cần. Trong chiến dịch Ngọc Hồi - Đống Đa được vua Quang
Trung lựa chọn bố trí trong đội tượng binh làm nhiệm vụ tiên phong trong mũi tiến công do
Quang Trung chỉ huy và lập nhiều chiến công xuất sắc. Sau chiến thắng, ông được vua sắc
phong Bắc thành chánh quản Hùng uy võ vệ Thượng tướng quân. Thời Cảnh Thịnh sắc cho
lập đền thờ tại quê nhà.
Vinh
16
Đậu Yên
(1759 - 1792)
Danh tướng thời Tây Sơn, quê ở Trung Đô, Nghệ An. Tham gia phong trào Tây Sơn năm
1786, phụ trách công tác hậu cần. Trong chiến dịch Ngọc Hồi - Đống Đa được vua Quang
Trung lựa chọn bố trí trong đội tượng binh làm nhiệm vụ tiên phong trong mũi tiến công do
Quang Trung chỉ huy và lập nhiều chiến công xuất sắc. Sau chiến thắng, ông được vua sắc
phong Đô Yên hầu Tham đốc Quận Công. Thời Cảnh Thịnh sắc cho lập đền thờ tại quê nhà.
Vinh
17
Đinh Văn Nhưng
Danh sư, còn gọi là Ông Chảng, quê ở Bằng Châu, thị trấn Đập Đá, huyện An Nhơn, ông
An Nhơn, Quy
127
(Ông Chảng)
(Thế kỷ XVIII)
là thầy giáo dạy võ ba anh em nhà Tây Sơn và là người có công lớn trong việc giúp nhà Tây
Sơn dựng nghiệp.
Nhơn
18
Đoàn Nguyễn Tuấn
(1750 - ? )
Văn thần đời Lê và Tây Sơn, quê ở Quỳnh Côi, Thái Bình. Ông nổi tiếng văn chương,
đỗ Tiến sĩ, tính khiêm nhường, làm quan có tiếng thanh liêm, giúp nhà Tây Sơn làm quan đến
Tả thị lang Bộ Lại, sĩ phu đương thời đều trọng vọng ông. Để lại tác phẩm chính Hải Ông thi
tập và một số bài phú bằng chữ Hán viết thời Quang Trung, Quang Toản.
TP.HCM, Huế,
Quy Nhơn, Thái
Bình, Đà Nẵng
19
Đoàn Văn Cát
( ? - 1799)
Đô đốc thời Tây Sơn, dày công giúp nhà Tây Sơn gây dựng đại nghiệp, ông được trọng
vọng, giữ chức Đô đốc. Năm 1798 được giao trấn giữ Phú Yên, sau đó bị bệnh mất năm
1799.
Quy Nhơn
20
Đô đốc Bảo
(Thế kỷ XVIII)
Đại đô đốc, danh tướng thời Tây Sơn, tên thật là Đặng Xuân Bảo. Ông là tướng tiên
phong, chỉ huy đạo quân thứ ba, là lực lượng cơ động gồm kỵ binh và tượng binh trong trận
tiêu diệt đồn Ngọc Hồi - Đống Đa. Cánh quân của Đô đốc Bảo theo đường qua Sơn Minh
(Ứng Hòa - Hà Tây) rồi tiến xuống Đại Áng (Thường Tín - Hà Tây) áp sát thành Thăng Long
- Hà Nội, đồng thời chặn đánh quân giặc thua trận từ Ngọc Hồi chạy đến vùng Đầm Mực
(Thanh Trì - Hà Nội), góp phần giành thắng lợi có ý nghĩa quyết định giải phóng kinh thành
Thăng Long Xuân Kỷ Dậu 1789.
Thời vua Quang Toản, ông được phong là Bình Đông
Tướng quân. Người đời khen ông là tướng giàu uy đức, ông đi đến đâu là trật tự xã hội ở đó
được nhanh chóng thiết lập và củng cố. Ông là một trong những người quyết chí đánh trả
Nguyễn Phúc Ánh. Trong một trận đánh với quân Nguyễn ở Thanh Hóa vào năm 1802 ông bị
bắt. Đô đốc Bảo tuyệt thực 5 ngày rồi hi sinh.
Quy Nhơn, Phú
Phong, An Nhơn,
Vĩnh Thạnh
21
Đô đốc Long
(Thế kỷ XVIII)
Đại đô đốc, danh tướng thời Tây Sơn, tên thật là Đặng Văn Long, người huyện Tuy
Viễn, phủ Quy Nhơn. Khi Tây Sơn khởi nghĩa ông tham gia vào quân đội Tây Sơn với phẩm
hàm Đại Đô đốc. Ông tham gia cùng vua Quang Trung đánh quân Thanh trong trận Ngọc Hồi
– Đống Đa năm 1789. Đời vua Cảnh Thịnh, giữ chức Tả võ uy tướng quân, canh giữ chốn
biên thuỳ nhiều phen lập chiến công, được phong chức Tả võ lâm quân đại tướng quân.
Quy Nhơn, Phú
Phong, Tuy Phước,
An Nhơn
22
Đô đốc Lộc
(Thế kỷ XVIII)
Đại đô đốc, danh tướng trụ cột triều Tây Sơn, tên thật Nguyễn Văn Lộc, người làng Kỳ
Sơn, huyện Tuy Viễn (nay là xã Phước Sơn, huyện Tuy Phước, Bình Định). Ông chỉ huy một
trong 5 đạo quân tinh nhuệ của nghĩa quân Tây Sơn góp phần đánh bại 29 vạn quân Thanh
xâm lược, tham gia chỉ huy nhiều trận thuỷ chiến đánh bại quân Nguyễn Ánh ở đầm Thị Nại.
Quy Nhơn, Phú
Phong, Tuy Phước,
An Nhơn
23
Lý Văn Bưu
(Đô đốc Mưu)
(Thế kỷ XVIII)
Đô đốc, võ tướng nhà Tây Sơn, còn gọi là Đô đốc Mưu, quê ở làng Đại Khoan, huyện
Phù Cát, Bình Định, Ông là một trong bảy vị tướng đuợc tôn là Tây Sơn Thất Hổ Tướng. Nổi
tiếng từ tuổi niên thiếu về tài đức, võ nghệ. Tham gia phong trào Tây Sơn, ông được phong
chức Đô đốc, phụ trách tổ chức tập luyện đoàn chiến mã và rèn luyện nghĩa binh, Nhờ tài
thao lược, ông lập công lớn trong trận đánh quân Xiêm ở phía Nam năm 1784. Ông tháp tùng
vua Quang Trung ra Bắc tảo Thanh, cùng Đô đốc Đặng Văn Long tiến chiếm các đồn Yên
Quy Nhơn, An
Nhơn, Phú Phong
128
Quyết, Nhân Mục và Khương Thượng quân Thanh không kịp trở tay, góp phần giải phóng
kinh thành Thăng Long năm 1789.
24
Đô Đốc Tuyết
(Thế kỷ XVIII)
Đại đô đốc thời Tây Sơn, tên thật là Nguyễn Văn Tuyết, người An Nhơn, huyện Tuy
Viễn
, phủ Quy Nhơn (nay thuộc huyện Tây Sơn), ông là một trong bảy vị tướng được tôn là
Tây Sơn thất hổ tướng. Ông nổi tiếng từ nhỏ về võ nghệ và sức mạnh hơn người. Khi Tây
Sơn khởi nghĩa, ông tham gia nghĩa quân với phẩm hàm Đô đốc. Ông tham gia cùng vua
Quang Trung đánh quân Thanh ở trận Ngọc Hồi - Đống Đa năm 1789.
Quy Nhơn, Phú
Phong, Tuy Phước,
An Nhơn
25
Hồ Công Thuyên
(TK XVIII)
Văn thần triều Tây Sơn, ông theo giúp anh em nhà Nguyễn Tây Sơn từ lúc phong trào
mới dấy, được Bắc Bình vương Nguyễn Huệ trọng đãi. Ông làm đến Thượng thư bộ Hình,
tước Thuyên Quang Hầu. Năm Đinh tị 1787, ông vâng lệnh Nguyễn Huệ đem thư đi triệu
thỉnh La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp lần thứ ba, ông làm tròn được sứ mạng.
TT Phù Mỹ, Quy
Nhơn
26
Hồ Phi Chấn
(TK XVIII)
Đại Đô đốc thời Tây Sơn, quê ở Thach Văn, Thạch Hà, Hà Tĩnh. Tham gia phong trào
Tây Sơn trong cuộc tuyển quân năm 1788 của vua Quang Trung, ông đã lập nhiều công lớn
trong chiến dịch Ngọc Hồi - Đống Đa. Được Quang Trung sắc phong chức Đại đô đốc Anh
liệt tướng quân. Thời Cảnh Thịnh sắc phong ông chức Vệ quốc tướng quân, Đô đốc Đồng trị,
tước Quang Hiển Hầu. Mộ và Nhà thờ Hồ Phi Chấn (tại xã Thạch Văn) được xếp hạng Di
tích lịch sử quốc gia năm 2019.
Hà Tĩnh
27
Hồ Sĩ Tạo
(1869 - 1934)
Chí sĩ yêu nước, quê ở Hòa Cư, nay là phường Nhơn Hưng, thị xã An Nhơn. Ông đỗ Cử
nhân năm 1891, năm 1904 đỗ Tiến sĩ, được bổ làm Thừa phái Bộ Lại, sau làm Tri huyện
Ninh Hòa, Khánh Hòa. Hưởng ứng phong trào Duy tân, ông cùng các chí sĩ yêu nước tích
cực hoạt động, lãnh đạo phong trào kháng thuế ở miền Trung năm 1908. Phong trào bị thực
dân Pháp đàn áp dữ dội, ông bị bắt giam ở nhà lao Bình Định, bị kết án trảm quyết, sau được
vua Duy Tân giao đình nghị giảm xuống còn khổ sai. Năm 1920 dưới triều vua Khải Định
ông được ân xá. Trong thời gian mắc vòng lao lý ông thường dùng thơ văn để ký thác tâm sự,
thể hiện lập trường vì dân vì nước, cho hay thực dân chỉ có thể giam được thân ông nhưng
không đoạt nổi chí ông. Ra tù ông chơi thân với chiến sĩ Cần Vương Nguyễn Trọng Trì và
nhà đạo học mô phạm Đào Phan Duân. Năm 1934, ông lâm bệnh rồi mất tại quê nhà.
Quy Nhơn,
An Nhơn
28
Huỳnh Thị Cúc
(Thế kỷ XVIII)
Nữ tướng thời Tây Sơn. Bà theo phò tá nữ tướng Bùi Thị Xuân, được truyền dạy bài
"kiếm pháp song kiếm" bí truyền. Bà tham gia tổ chức huấn luyện đội tượng binh của nghĩa
quân Tây Sơn, lập được nhiều thành tích nên được xếp vào hàng "Tây Sơn Ngũ phụng thư".
Bà từng theo Bùi Thị Xuân đi bình Xiêm La và đánh Lào. Tháng 2/1802, bà tham gia trận
Trấn Ninh ở Quảng Bình. Khi quân Tây Sơn đại bại, bà tình nguyện ở lại ngăn chặn
quân Nguyễn, để Đô đốc Bùi Thị Xuân đưa vua Cảnh Thịnh qua sông chạy về phương Bắc.
Trong lúc ác chiến, bà bị trọng thương và hy sinh sau đó.
Quy Nhơn
129
29
Huỳnh Ngạc
(TK XIX)
Chí sĩ yêu nước, sinh ra và lớn lên tại làng Tiên Thuận (nay thuộc xã Tây Thuận, huyện
Tây Sơn, Bình Định). Ông xuất thân từ gia đình khá giả, tuy không thi cử đỗ đạt nhưng là
người giỏi cả văn lẫn võ. Ông thường được nhân dân gọi là cọp Bình Định vì từng giao chiến
với hổ. Năm 1887, phong trào Cần Vương bùng nổ, ông đứng ra cùng Mai Xuân Thưởng
khởi nghĩa, được Mai Nguyên soái phong chức Tán Tương quân vụ tại Tiên Thuận, ông cùng
với Khiển Trực, Khiển Nhàn chăm lo xây dựng kho lương thực của nghĩa quân Cần Vương
Bình Định tại Hòn Kho. Năm 1887, phong trào Cần Vương thất bại, Mai Xuân Thưởng bị bắt,
ông cùng nghĩa quân chuyển lương thực ở kho vào rừng cất giấu và lẫn tránh ở đó, nhờ vào sự
giúp đỡ của đồng bào Bana. Sau một thời gian ngắn, tình hình yên ổn, ông cùng những người còn
lại trở về vừa mở trường dạy học, vừa tổ chức nhân dân đắp đập dẫn nước vào ruộng. Ông được
nhân dân lập miếu thờ phụng vì những công lao của ông với làng Tiên Thuận.
Quy Nhơn
30
Kiều Phụng
(Thế kỷ XVIII)
Danh tướng, Đô đốc thủy quân nhà Tây Sơn, quê làng Chiên Đàn, xã Tam Đàn, tỉnh
Quảng Nam. Thuở trẻ ông theo nghĩa quân Tây Sơn phục vụ ở các đội hải thuyền dưới quyền
Bắc Bình vương Nguyễn Huệ. Từ các năm 1780 - 1786, ông từng tham gia và chỉ huy các
trận lớn đánh bại các đạo thủy quân của Nguyễn Ánh từ Quảng Ngãi đến Sài Côn. Ông là
người góp công lớn đánh thắng quân Xiêm trong trận Rạch Gầm - Xoài Mút ở Mĩ Tho năm
1785, khiến quân Xiêm phải trốn về nước bỏ cả tàu thuyền, vũ khí. Ông từng tham gia góp
phần làm nên chiến thắng Đống Đa năm 1789, ông phục vụ suốt triều Quang Trung, Cảnh
Thịnh. Hiện nay khu mộ ông hãy còn dấu tích ở ấp Đồng Lăng tại xã Tam Đàn, thị xã Tam
Kì, tỉnh Quảng Nam. Tỉnh Quảng Nam đã có quyết định công nhận là di tích văn hóa lịch sử.
Đà Nẵng
31
Lê Công Miễn
(1740 - 1800)
Danh sĩ thời Tây Sơn, quê ở Phước Hiệp, Tuy Phước, Bình Định. Năm 1775, quân Trịnh
chiếm Thuận Hóa mời ông ra làm quan, nhưng ông từ chối. Sau ông theo nhà Tây Sơn (thời
Nguyễn Nhạc) năm 1784, giữ trọng trách giảng sách cho vua kiêm Thị lang Bộ Lễ. Năm
1795, dưới triều Cảnh Thịnh, giữ chức Thượng thư Bộ Hình. Ông tham khảo bộ luật Hồng
Đức và luật nhà Thanh để soạn bộ luật “Hình Thư ”, rất tiếc nay bộ luật này không còn nữa.
Tuy Phước, Quy
Nhơn, Hoài Nhơn
32
Lê Đại Cang
(1771 - 1847)
Danh thần đời Nguyễn, quê ở Phước Hiệp, Tuy Phước, ông là cháu gọi Lê Công Miễn là
chú ruột, là người văn, võ song toàn, được tiến cử ra làm quan và phụng sự suốt 3 triều vua
đầu tiên của nhà Nguyễn, trải qua các trọng trách: Quản lý đê chính Bắc thành, Tổng trấn Bắc
Thành, Tổng đốc Sơn Tây - Hưng Hóa - Tuyên Quang, Tổng đốc Hà Nội - Ninh Bình,
Thượng thư bộ Binh, Cai bạ Quảng Nam, Tuần phủ An Giang - Hà Tiên, Trấn Tây Tham tán
Đại thần, Bố chánh Hà Nội… Ông được sử sách triều Nguyễn ghi nhận là có nhiều công lao
trong xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước, nhất là xây dựng hệ thống đê điều trên mảnh
đất ngàn năm văn hiến Hà Nội và bảo vệ miền biên viễn phương Nam, để lại dấu ấn đậm nét
trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, giáo dục, văn hóa, ngoại giao. Ông còn là một nhà văn có
tiếng đương thời, để lại các bộ sách: Nam hành, Tục Nam hành, Tĩnh Ngu thi tập, Lê Thị gia
Quy Nhơn, Hoài
Nhơn
130
phổ...
33
Lê Đình Lý
( ? - 1858)
Danh tướng đời Nguyễn, quê ở huyện Phù Mỹ. Triều Gia Long ông giữ chức Giản binh
rồi lên Hữu quân Đô thống. Tháng 7/1858, quân Pháp tấn công cảng Đà Nẵng rồi vây hãm
hai thành An Hải và Điện Hải. Triều đình sai ông làm Tổng thống cùng Tham tri Bộ Hộ Phan
Khắc Thận làm Tham tán đem 2.000 cấm binh từ Huế vào Quảng Nam chống giữ. Ông đã chỉ
huy quân ta án ngữ ba mặt bắc, tây, nam, đồng thời áp dụng lối đánh phục kích, du kích để
cầm chân không cho địch tiến sâu vào nội địa. Trong một trận phục kích ở xã Cẩm Lệ, mặc
dù bên ta thắng thế, đánh lui được địch, song vì quả cảm xông lên dẫn đầu đoàn quân đuổi
giặc, nên ông bị trúng đạn. Trị thương được vài hôm thì ông mất, được triều đình truy tặng
Chưởng Phủ sự và cho thờ ở đền Hiển Trung.
Đà Nẵng, Quy
Nhơn, TT Phù Mỹ
34
Lê Quốc Cầu
(TK XVIII)
Võ tướng nhà Tây Sơn, quê làng Anh Sơn, tỉnh Nghệ An. Ông tham gia nghĩa quân Tây
Sơn. Năm Nhâm tí 1792, ông được phong tước Bá, rồi tước Hầu (Quí sửu 1793), đến Bính
thìn 1796, ông được phong làm Vệ Quốc tướng quân, Đô đốc, Cầu Ngọc Hầu. Ba người em
của ông cũng đều được phong tặng. Nay gia đình họ Lê Quốc ở Nghệ Tĩnh hãy còn giữ được
các sắc phong.
Quy Nhơn
35
Lê Tấn
(1855 - 1908)
Chí sĩ Cần Vương chống Pháp, quê làng An Cửu, xã Phước Hưng, huyện Tuy Phước, tỉnh
Bình Định. Từng tham gia phong trào Cần Vương chống Pháp, ông mở xưởng đúc vũ khí tại
Phù Cát.
Quy Nhơn
36
Lê Tuyên
(1838 - 1887)
Chí sĩ Cần Vương chống Pháp, còn có tên gọi là Lê Văn Trang, quê làng Nhơn Ân, huyện
Tuy Phước. Năm 1885, phong trào Cần Vương bùng nổ khắp nơi, ông đã xuất của cải trong
nhà ra cùng với võ sư Lê Văn Thống chiêu mộ nghĩa dũng luyện tập võ nghệ. Khi nghe tin
Mai Xuân Thưởng dựng cờ khởi nghĩa ở Lộc Đổng, ông đem toàn bộ lực lượng của mình
tham gia. Ông được Mai Xuân Thưởng phong chức Phó tướng và Lê Văn Thống được phong
chức Lãnh binh. Từ năm 1885 - 1887, ông đã tổ chức nhiều trận đánh với Pháp ở Cẩm Văn,
Bàu Sấu… Thực dân Pháp và Trần Bá Lộc vì không bắt được ông nên đã dùng thủ đoạn chia
rẽ nội bộ nghĩa quân và gia đình dòng họ ông. Lê Tuyên đành phải ra nộp mình cho giặc.
Thực dân Pháp tìm đủ mọi cách mua chuộc nhưng ông trả lời rằng: “Ta thà chết chứ không
bao giờ khuất phục”. Ngày 7/6//1887, ông bị xử chém cùng với Mai Xuân Thưởng tại chợ Gò
Chàm (nay thuộc thôn Cẩm Văn, phường Nhơn Hưng, thị xã An Nhơn).
Quy Nhơn
37
Lê Truân
(1883 - ?)
Chí sĩ yêu nước, còn có tên là Lê Chuân, quê làng Thanh Lương, huyện Hoài Ân, tỉnh
Bình Định. Đậu thủ khoa cử nhân tại trường thi Bình Định. Ông có tinh thần yêu nước, tư
tưởng chống thực dân Pháp. Ông bị can án trong vụ lãnh đạo chống sưu cao thuế nặng cùng
với Tiến sĩ Hồ Sĩ Tạo.
Quy Nhơn
38
Lê Văn Chân
(1817 - ?)
Vị khai khoa Tiến sĩ tỉnh Bình Định, quê làng Trà Lương, xã Mỹ Trinh, huyện Phù Mỹ,
tỉnh Bình Định. Ông thi đậu Cừ nhân năm Minh Mạng thứ 15 (1834), qua năm sau đỗ Đệ tam
Quy Nhơn, TT
Bình Dương
131
giáp Tiến sĩ lúc 18 tuổi, là người đỗ đại khoa nhỏ tuổi nhất lúc bấy giờ. Ông làm quan đến
chức Tuần phủ tỉnh Hưng Yên, nổi tiếng thanh liêm, chính trực. Mộ ông ở thôn Hội Khánh,
xã Mỹ Hòa, huyện Phù Mỹ.
39
Lê Văn Hưng
(? - 1795)
Danh tướng thời Tây Sơn, người thôn Kiên Dõng, huyện Tây Sơn. Là người có sức
mạnh, trí dũng và sở trường về môn đánh côn (hay gọi là roi trường). Tham gia phong trào
Tây Sơn, nhiều lần đánh bại quân Nguyễn ở Diên Khánh. Ông là một trong bảy vị tướng
được tôn là Tây Sơn thất hổ tướng. Đời vua Cảnh Thịnh đóng đô ở Phú Xuân, ông nắm giữ
binh quyền rất thịnh, các hiệu lịnh của quân Tây Sơn đều do ông ban bố.
Quy Nhơn, TT Phú
Phong
40
Lê Văn Thủ
(TK XVIII)
Danh tướng thời Tây Sơn, quê làng Trường Xuân, thị xã Tam Kì, tỉnh Quảng Nam. Ông
theo phò tá Bắc Bình vương Nguyễn Huệ lập được nhiều chiến công từ Nam ra Bắc, được
phong tước hầu; đương thời gọi là Thủ tài hầu. Năm 1789 ông dẫn đầu một cánh quân lớn
cùng tiến ra Bắc với vua Quang Trung diệt quân Mãn Thanh. Ông chỉ huy đạo quân trên hiệp
đồng tiêu diệt đồn Hạ Hồi và Ngọc Hồi để cánh quân đông nam tiến chiếm Thăng Long.
Trong trận này ông là một trong các mãnh tướng của hoàng đế Quang Trung góp công lớn
trong chiến thắng mùa xuân năm Kỉ dậu (1789). Sau khi vua Quang Trung qua đời ông vẫn
cầm quân trong quân ngũ đời vua Cảnh Thịnh.
Đà Nẵng, Quy
Nhơn
41
Lê Văn Trung
( ? - 1798)
Danh tướng đời Tây Sơn, người huyện Phù Mỹ, Bình Định. Từng giữ chức Tư Lệ thời
Quang Trung, rồi Đại Tư lệ thời Quang Toản. Năm 1793, được bổ làm Chiêu Thảo sứ đem
quân vào giải vây thành Quy Nhơn đang bị quân Nguyễn Ánh vây hãm, rồi trấn nhậm tại đó.
Sau biến cố Quy Nhơn năm 1798 do Nguyễn Bảo (con Nguyễn Nhạc) âm mưu liên kết với
quân Nguyễn chiếm phủ thành Quy Nhơn không thành, ông bị người gièm pha sau bị giết hại
ở Phú Xuân năm 1798.
Quy Nhơn, TT
Bình Dương
42
Mai Xuân Thưởng
(1860 - 1887)
Chí sĩ yêu nước, quê ở Phú Lạc, Bình Thành, Tây Sơn. Năm 1877, ông đỗ Tú tài, đến
năm 1884 đỗ Cử nhân tại Trường thi Bình Định. Năm 1885, ông cùng Đào Doãn Địch lãnh
đạo phong trào Cần Vương chống Pháp ở Bình Định, gây cho thực dân Pháp nhiều tổn thất.
Pháp và tay sai dùng mọi thủ đoạn để đàn áp phong trào. Ông bị bắt và bị xử chém ở Gò
Chàm ngày rằm tháng tư năm Đinh Hợi (1887).
Hà Nội, TP.HCM,
Đà Nẵng, Quy
Nhơn, An Nhơn,
TT Phú Phong,
Diêu Trì, Bình
Dương
43
Ngô Thì Nhậm
(1746 - 1803)
Danh sĩ cuối thời Hậu Lê đến Tây Sơn, người làng Tả Thanh Oai, huyện Thanh Trì, Hà
Nội. Xuất thân trong một gia đình khoa bảng, dòng dõi của “Ngô Gia Văn Phái” nổi tiếng.
Ông đỗ Cử nhân năm 1765, đỗ Tiến sĩ năm 1775, làm quan đến Giám sát Ngự sử đạo Sơn
Nam. Tham gia phong trào Tây Sơn, ông là người có công lao lớn đóng góp vào trận đại phá
quân Thanh. Sau chiến thắng oanh liệt năm 1789, ông được vua Quang Trung giao phụ trách
công tác ngoại giao với nhà Thanh. Ông là một tài năng lớn trên nhiều lĩnh vực: chính trị,
ngoại giao, văn học, sử học, triết học, quân sự…lĩnh vực nào cũng có những cống hiến xuất
Hà Nội, Đà Nẵng,
Quy Nhơn, Phú
Phong, An Nhơn
132
sắc. Ông để lại nhiều tác phẩm có giá trị trong kho tàng văn học sử nước ta.
44
Ngô Tùng Nho
(1813 - ?)
Sơ bổ tri phủ Tuy Biên, quê làng Thuận Nghĩa, xã Bình Thành, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình
Định. Ông đỗ Tiến sĩ năm 36 tuổi, khi làm Tri phủ Tuy Biên, ông có đủ tài đức và thanh
liêm, được triều đình truy tặng là Hàn lâm thị giảng học sĩ.
Quy Nhơn
45
Ngô Văn Sở
(? - 1795)
Danh tướng nhà Tây Sơn, người huyện Bình Khê, phủ Quy Nhơn. Tham gia giúp nhà
Tây Sơn rất dày công trận. Năm 1787 được cử làm Tham tán quân vụ và kiêm nhiệm vụ trấn
thủ Thăng Long. Năm 1788 quân Thanh xâm lược nước ta, ông được cử đem quân đi tiên
phong tiến đánh giặc lập chiến công trận Hạ Hồi, Bình Vọng, Đống Đa. Sau đó ông được
giao nhịêm vụ trấn giữ Bắc Hà. Năm 1790, được phong làm Thủy sư đô đốc. Năm 1792,
được tiến phong chức vụ Đại đổng lí, tước Quận công, coi sóc việc quân dân nơi Thăng
Long, ông mất năm 1795.
Hà Nội, Đà Nẵng,
Cần Thơ, Quy
Nhơn, Phú Phong,
An Nhơn
46
Nguyễn Bá Huân
(1853 - 1915)
Danh sĩ, quê ở làng Vân Sơn, thị xã An Nhơn. Xuất thân trong một gia đình có truyền
thống Nho học nên ông có điều kiện trau dồi việc học, nhưng đi thi nhiều lần không đậu, ông
ở nhà dạy học và sáng tác thơ văn. Hưởng ứng chiếu Cần vương, ông tham gia khởi nghĩa
cùng Mai Xuân Thưởng, giữ chức Tham tán quân vụ, trấn thủ mật khu Linh Đổng. Cuộc khởi
nghĩa bị đàn áp, ông trốn thoát được. Về sau ông thường cùng với Đào Tấn và các danh sĩ
đương thời đàm đạo, bình phẩm thơ văn, nghệ thuật. Ông để lại nhiều tư liệu quý giá về triều
đại Tây Sơn: Tây Sơn Tiềm Long Lục, Tây Sơn Cân Quắc anh hùng truyện, Tây Sơn danh
tướng chinh Nam truyện …
Quy Nhơn, An
Nhơn
47
Nguyễn Cang
(? - 1886)
Chí sĩ yêu nước, quê ở Bình Định. Ông tham gia phong trào Cần Vương chống Pháp cùng
với Mai Xuân Thưởng, là Đại tướng trong Bộ tham mưu của nghĩa quân. Tháng 12/1886,
Trần Bá Lộc đem quân lên Lộc Đổng đàn áp nghĩa quân. Mai Nguyên soái cử ông dẫn một
đạo binh xuống chận địch tại Thú Thiện. Nghĩa quân phục kích ở hai bên đường chờ giặc đến
đổ xô ra đánh. Quân giặc chết và bị thương rất nhiều. Ông bị trúng đạn trọng thương, đưa về
căn cứ thì mất.
Quy Nhơn
48
Nguyễn Diêu
(1822 - 1860)
Chí sĩ, quê ở làng Nhơn Ân, Tuy Phước. Có tài văn chương, nhưng chỉ thi đỗ Tú Tài,
làm nghề dạy học. Đào Tấn là học trò đã làm rạng danh cụ Tú Nguyễn Diêu. Ông dùng văn
chương do mình làm ra để dạy học trò đừng thấy nghèo khó mà thối chí. Để lại rất nhiều thơ
văn được người đời truyền tụng. Soạn nhiều vở tuồng hát bội nổi tiếng như Ngũ hổ bình tây,
Liệu Đố vv… Tuồng của ông văn chương lưu loát, giản dị, thâm trầm, tao nhã, đơn sơ mà
bóng bẩy được các lớp nghệ sĩ lưu truyền đến ngày nay.
Quy Nhơn, Tuy
Phước
49
Nguyễn Duy Cung
(1839 - 1885)
Chí sĩ yêu nước trong phong trào Cần vương chống Pháp, người làng Vạn Tượng, huyện
Chương Nghĩa, nay thuộc xã Nghĩa Dũng, thành phố Quảng Ngãi. Nổi tiếng học giỏi từ thuở
nhỏ, năm Mậu Thìn (1868), ông thi đỗ Cử nhân tại trường thi Hương Bình Định. Sau đó được
bổ chức Hành tẩu tại kinh đô, tiếp đó được cử về Quảng Ngãi giữ chức Bang biện Sơn phòng
Đà Nẵng, TP HCM
133
Nghĩa Định, rồi thăng Thương biện Sơn phòng. Ông có quan hệ chặt chẽ và tạo điều kiện
thuận lợi giúp các sĩ phu yêu nước xây dựng lực lượng Nghĩa hội, huấn luyện hương binh,
xây dựng căn cứ, sẵn sàng đánh Pháp. Năm 1885, ông được Tôn Thất Thuyết điều vào Bình
Định, nhậm chức Án sát nhằm tăng cường lực lượng kháng Pháp, củng cố hơn nữa mối quan
hệ giữa 2 tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định trong công cuộc chống ngoại xâm. Ông bí mật liên lạc
với một số quan lại văn thân yêu nước, xây dựng lực lượng Nghĩa hội Bình Định, hình thành
căn cứ địa, chuẩn bị cho cuộc chiến đấu lâu dài. Năm 1885, Lê Trung Đình và Nguyễn Tự
Tân lãnh đạo nhân dân hưởng ứng chiếu Cần vương đánh thành Quảng Ngãi, ông đã đem
quân cứu viện, nhưng việc không thành, trở về Bình Định tiếp tục chống Pháp dưới sự lãnh
đạo của Mai Xuân Thưởng. Ông thân hành chỉ huy phòng tuyến từ Cầu Gành (An Nhơn) đến
núi Chớp Vung (Phù Mỹ) để ngăn chặn giặc Pháp tấn công tỉnh thành từ phía biển, kêu gọi
các sĩ phu, văn thân và nhân dân đứng lên chống Pháp. Khi Pháp đánh vào Quy Nhơn, ông đã
anh dũng chống cự, bị bắt và sau đó bị xử bắn. Trong thời gian bị giam trong ngục, đã cắn
ngón tay lấy máu viết “Hịch kêu gọi chống Pháp” bằng chữ Hán, lời lẽ rất kiên quyết, hào
hùng; bài hịch đã có tác dụng động viên chiến đấu rất lớn trong thời gian đó.
50
Nguyễn Đáng
(1835 - 1887)
Chí sĩ yêu nước chống Pháp, người làng Đại An (nay thuộc xã Nhơn Mỹ, An Nhơn, Bình
Định). Ông vốn là người rất thông minh, hiếu học nhưng nhiều lần thi Hương mà chỉ đậu Tú
tài. Ông không ra làm quan mà ở nhà mở trường dạy học. Năm 1885, hưởng ứng chiếu Cần
Vương, ông tham gia phong trào Cần Vương ở Bình Định, được Mai Xuân Thưởng phong
chức Kiểm binh, lãnh đạo đội quân đóng giữ núi Đại An - phía Tây căn cứ núi Kỳ Đồng và
Bàu Sấu. Đầu năm 1887, quân Pháp và Trần Bá Lộc kéo quân từ Quy Nhơn lên bao vây căn
cứ núi Kỳ Đồng và Bàu Sấu. Tại núi Đại An, ông tổ chức nhiều cuộc chiến đấu với quân
Pháp và Trần Bá Lộc nhưng bị thất bại. Ông bị thương nhưng đã tìm cách trốn vào vùng núi
rừng tỉnh Phú Yên và cuối cùng chết ở đó. Thi hài ông được đưa về chôn cất tại quê nhà ở
thôn Đại An.
Quy Nhơn
51
Nguyễn Hân
(TK XIX)
Chí sĩ yêu nước, Quê làng An Lương, xã Mỹ Chánh, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định. Tuy
đậu Cử nhân nhưng ông không ra làm quan mà ở nhà dạy học. Ông cùng Mai Xuân Thưởng
tham gia phong trào Cần Vương ở Bình Định. Ngoài ra ông còn là Hội trưởng Hội Khổng
học tại Văn chỉ Mỹ Cát.
Quy Nhơn
52
Nguyễn Huy Lượng
(1750 - 1808)
Văn thần cuối thời Hậu Lê đến triều Tây Sơn, quê làng Phú Thị, nay thuộc huyện Gia
Lâm, Hà Nội. Ông đỗ Hương cống, làm quan nhà Lê chức Phụng Nghi thuộc bộ Lễ. Sau làm
quan nhà Tây Sơn, đóng góp nhiều công sức với chức Hữu thị lang bộ Hộ. Ông là một tác giả
tiêu biểu của nền quốc văn tiến bộ thời Tây Sơn.
TP.HCM, Đà
Nẵng, Quy Nhơn
53
Nguyễn Hữu Tiến
(1602 - 1665)
Danh tướng thời Chúa Nguyễn, quê quán Hoài Nhơn, Bình Định. Ông là con rể Đào Duy
Từ, năm 1631 được tiến cử lên Chúa Sãi, được phong chức Đội trưởng trông coi Hải quân
Quy Nhơn
134
sau thăng đến Cai đội, Chưởng cơ, Chưởng dinh tiết chế. Ông từng trải trận mạc, lập được
nhiều chiến công lớn. Năm 1648, lập công lớn trong các trận đánh với chúa Trịnh được
phong tước Thuận Nghĩa Hầu. Năm 1660, ông đem quân vượt Sông Gianh chiếm đất Nghệ
An, Thanh Hóa, vỗ an dân chúng, cai trị được một thời gian. Sau đó đốc xuất dân binh đắp
luỹ Trấn Ninh giúp cho việc biên phòng vững vàng. Ông chẳng những là một danh tướng mà
còn là một nhà chính trị có tài. Năm 1665, ông mất, được Chúa Nguyễn truy tặng Tiết chế
Quận công, được thờ ở Thái miếu và Võ miếu nhà Nguyễn.
54
Nguyễn Lữ
(1754 - 1788)
Thủ lĩnh phong trào Tây Sơn, quê làng Kiên Mỹ, Tây Sơn, Bình Định. Năm 1771, cùng
hai anh là Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Tây Sơn. Tương truyền là
người lập ra thế võ “Hùng kê quyền” sử dụng trong binh lính Tây Sơn. Tham gia chỉ huy
đánh bại quân Nguyễn ở Gia Định, quân Trịnh ở Phú Xuân. Năm 1778, Nguyễn Nhạc lên
ngôi Hoàng đế phong ông làm Tiết chế. Đến năm 1787, được phong Đông Định vương cai
quản vùng đất Gia Định. Năm 1788 quân Nguyễn Ánh phản công, ông lui binh về Quy Nhơn
một thời gian sau thì mất.
Huế, Quy Nhơn,
Phú Phong, Tuy
Phước, An Nhơn,
TT Bình Dương
55
Nguyễn Đăng Lâm
(Thế kỷ XVIII)
Danh tướng thời Tây Sơn, quê ở Cát Tường, Phù Cát, Bình Đinh. Ông là chỉ huy quân
hậu vệ vua Cảnh Thịnh, là người nhiều lần tham gia chiến trận đánh quân Nguyễn, lập nhiều
công trạng. Năm 1776, Cảnh Thịnh gia phong chức Hùng liệt tướng quân hộ quán sứ, tước
Phú Nhuận Hầu. Năm 1800 vua Cảnh Thịnh gia phong chức Đô ty, tước Phú Lộc Hầu. Hiện
Bảo tàng Quang Trung còn lưu giữ các Sắc phong Cảnh Thịnh năm thứ 4 (1796) và Sắc
phong Cảnh Thịnh năm thứ 8 (1800).
56
Nguyễn Thiếp
(1723 - 1804)
Danh sĩ thời Tây Sơn, người huyện Can Lộc, Hà Tĩnh. Ông là người học rộng, tài cao, thi
đỗ Hương giải năm 1743, chán cảnh xã hội rối ren, bỏ về nhà làm ruộng, dạy học. Sau ra giúp
nhà Tây Sơn lập Viện Sùng Chính, biên dịch các sách chữ Hán ra chữ Nôm, thực hiện các
biện pháp cải cách giáo dục, đào tạo nhân tài. Triều Tây Sơn bị lật đổ, ông quay về quê, mất
năm 1804. Người đương thời gọi ông là La Sơn phu tử.
Hà Nội, Vinh, Hà
Tĩnh, Quy Nhơn,
Diêu Trì, An Nhơn
57
Nguyễn Trung Trực
(1838 - 1868)
Anh hùng chống Pháp, quê gốc ở xóm Lưới, thôn Vĩnh Hội, xã Cát Hải, huyện Phù Cát,
sinh ra ở Long An, gia đình sinh sống bằng nghề chài lưới ở vùng hạ lưu sông Vàm Cỏ. Ông
tham gia chống Pháp cùng với Trương Định, chỉ huy nghĩa quân lập chiến công phục kích đốt
cháy tàu L’Espérance của Pháp trên vàm sông Nhật Tảo ngày 10/12/1861. Ông được triều
đình phong chức Quyền sung Quản đạo. Sau đó nghĩa quân tấn công thiêu rụi đồn Kiên Giang,
làm chủ nơi này một tuần lễ. Ông bị giặc Pháp bắt và hiên ngang thà chịu chết chớ không chịu
đầu hàng giặc, ông bị xử chém tại Rạch Giá ngày 28/10/1868. Trước khi bị hành quyết, ông để
lại câu nói bất hủ: “Bao giờ Tây nhổ hết cỏ nước Nam thì mới hết người Nam đánh Tây”. Để
tưởng nhớ và tri ân công đức của ông, nhiều địa phương đã lập Đền thờ ông như: Rạch Giá, các
tỉnh miền Tây Nam bộ, Bình Định, hàng năm tổ chức lễ tưởng niệm trọng thể.
Hà Nội, TP.HCM,
Nha Trang, Quy
Nhơn, TT Ngô
Mây…
135
58
Nguyễn Trọng Trì
(1854 - 1922)
Danh sĩ, quê ở làng Vân Sơn, xã Nhơn Hậu, thị xã An Nhơn, ông đã từng tham gia phong
trào Cần Vương chống Pháp do Mai Xuân Thưởng lãnh đạo (1885 - 1887), Tham gia soạn
thảo sách Tây Sơn lương tướng ngoại truyện, nói lên tâm chí của ông đối với nghĩa quân Tây
Sơn. Ông mất năm 1922, thọ 68 tuổi. Mộ táng tại Tân Đức, Nhơn Mỹ.
Quy Nhơn,
An Nhơn
59
Nguyễn Văn Hiển
(1827 - 1865)
Danh thần triều Nguyễn, tên thường gọi là ông Hoàng giáp Vĩnh Ân, quê làng Vĩnh Ân,
xã Cát Hanh, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định. Ông từng đỗ Hội nguyên Đệ nhị giáp tiến sĩ
xuất thân, sau Thám Hoa, Bảng nhãn, Trạng nguyên. Ông từng được bổ chức Hàn lâm viện
Tu soạn, sau thăng Hàn lâm viện Thị độc. ông mở trường dạy học tại làng Vĩnh Ân, học trò
của ông nhiều người thành đạt. Để lại tác phẩm Đồ Bàn thành ký rất có giá trị.
Quy Nhơn, TT Ngô
Mây
60
Ninh Tốn
(1743 - ? )
Văn thần thời Tây Sơn, quê ở Yên Mô, Ninh Bình. Thời Lê - Trịnh, ông thi đỗ Tiến sĩ năm
1778, giữ các chức vụ:Thiêm sai tri binh phiên kiêm Quốc sử quốc luật toản tu; Đông các đại
học sĩ; Hình bộ hữu thị lang. Thời Tây Sơn, ông giữ các chức vụ: Hàn lâm trực học sĩ (1788),
Binh Bộ thượng thư. Tác phẩm: Chuyết sơn thi tập; Chuyết sơn thi tập đại toàn; Tiền Lê tiến
sĩ Ninh Tốn thi tập.
Đà Nẵng, Ninh
Bình, TP HCM
61
Phạm Cần Chính
(Thế kỷ XVIII)
Danh tướng thời Tây Sơn, người huyện Phù Cát, Bình Định. Ông có tài võ nghệ, sức
mạnh phi thường, lại tinh thông binh pháp. Được vua Quang Trung giao nhiệm vụ huấn
luyện binh sĩ. Năm 1791, ông tháp tùng Võ Văn Dũng đi dẹp cuộc bạo loạn của Trần Quang
Châu ở Bắc Ninh. Năm 1800, được cử làm Trấn thủ Quảng Nam. Năm 1801, ông chỉ huy
quân đánh đại bại thuỷ binh Nguyễn Ánh và quan quân Lê Văn Duyệt phải bỏ trốn vào Quy
Nhơn. Khi nghe tin Bắc thành thất thủ, ông mở kho phân phát hết quân lương và quân trang
cho binh sĩ, khuyên mọi người về quê quán làm ăn sinh sống, còn mình thì một thương một
ngựa đi ra phương Bắc.
Quy Nhơn, Phù Cát
62
Phan Huy Ích
(1751 - 1822)
Văn thần triều Tây Sơn, quê ở làng Thạch Châu, Thạch Hà, Hà Tĩnh. Năm 1771, đỗ đầu
khoa thi Hương ở Nghệ An, năm 1775 đỗ đầu khoa thi Hội. 14 năm làm quan dưới thời vua
Lê - chúa Trịnh. Tháng 5/1788, Nguyễn Huệ ra Bắc, xuống chiếu cầu hiền, ông cùng một số
sĩ phu Bắc Hà ra hợp tác với nhà Tây Sơn, được giao phụ trách các công việc ngoại giao,
tham gia đoàn sứ sang triều cống vua Càn Long. Nhà Tây Sơn sụp đổ, ông trở về quê hương
mở trường dạy học .
Hà Nội, TP.HCM,
Quy Nhơn, Phú
Phong, Diêu Trì
63
Phan Văn Lân
(Đô đốc Lân)
(Thế kỷ XVIII)
Đại đô đốc, danh tướng nhà Tây Sơn. Khi ba anh em nhà Tây Sơn phất cờ khởi nghĩa,
Phan Văn Lân là một trong những người hưởng ứng đầu tiên. Ông giúp nhà Tây Sơn lập
được nhiều công lao lớn. Mùa đông năm 1787, ông được giao cùng Ngô Văn Sở, Vũ Văn
Nhậm đem quân ra Bắc diệt Nguyễn Hữu Chỉnh. Sau đó Nguyễn Huệ đích thân ra Bắc diệt
Vũ Văn Nhậm, trao quyền chỉ huy Bắc Hà cho ông và Ngô Văn Sở. Trong trận Ngọc Hồi -
Đống Đa giải phóng Thăng Long, ông chỉ huy cánh quân Tiên phong góp phần đánh tan 29
vạn quân Thanh xâm lược năm 1789. Sau đó ông được giao ở lại Thăng Long làm Tổng trấn
Quy Nhơn đặt tên
“Phan Văn Lân”;
An Nhơn đặt tên
“Đô đốc Lân”
136
Bắc Hà. Ông mất đột ngột tại nhiệm sở năm 1793.
64
Tăng Bạt Hổ
(1858 - 1906)
Chí sĩ yêu nước, quê ở làng An Thường, huyện Hoài Ân. Tham gia phong trào Cần
vương chống Pháp ở Bình Định năm 1885. Phong trào Cần Vương thất bại, ông bôn tẩu
nhiều nơi Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan để lo việc cứu nước. Tham gia tích cực các phong
trào yêu nước chống Pháp: Duy Tân, Đông Du, là người có đóng góp lớn cho các hoạt động
yêu nước chống Pháp của dân tộc Việt Nam vào cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX. Ông bị
bệnh, mất ở Huế năm 1907.
Hà Nội, Quy Nhơn,
Đà Lạt, TPHCM,
An Nhơn, Diêu Trì,
Bình Dương
65
Trần Cao Vân
(1866 - 1916)
Chí sĩ yêu nước, quê ở làng Tư Phú, Điện Bàn, Quảng Nam. Học vấn uyên thâm, văn
chương lỗi lạc. Tham gia phong trào Cần vương chống Pháp ở Nam Trung bộ. Năm 1898,
cùng với Võ Trứ lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống Pháp tại Phú Yên, Bình Định. Bị bắt kết án
tù khổ sai, ra tù ông tham gia phong trào Duy tân, Việt Nam Quang phục hội và lãnh đạo
cuộc khởi nghĩa ở Huế năm 1916. Bị bắt kết án tử hình ở An Hòa (Huế).
Hà Nội, Huế, Đà
Nẵng, Quy Nhơn,
An Nhơn, Diêu Trì,
Hoài Nhơn
66
Trần Đăng Phong
(1819 - 1887)
Chí sĩ yêu nước, Quê làng An Lương, xã Mỹ Chánh, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định.
Từng làm Thương biện, Binh bộ Lang trung trấn thủ thành Bình Định chống Pháp. Ông hi
sinh tại thành Bình Định năm 1887, được phong Trần Hầu.
Quy Nhơn
67
Trần Đức Hòa
(Thế kỷ XVI)
Danh thần thời Chúa Nguyễn, quê ở Hoài Sơn, Hoài Nhơn, Bình Định. Tổ cụ ông đều
làm quan nhà Lê. Ông giữ chức Cẩm y vệ Đô chỉ huy sứ, sau có công được phong Cống
Quận công, làm chức Khám lý phủ Quy Nhơn. Ông có công tiến cử Đào Duy Từ cho Chúa
Nguyễn. Trong mấy mươi năm trấn thủ Quy Nhơn, ông có công lớn với chúa Nguyễn và có
nhiều ân đức với nhân dân Bình Định, trong thì phủ úy, gìn giữ an ninh cho dân an cư lạc
nghiệp, ngoài thì vận cấp quân lương giúp chúa Nguyễn chống cự lại với chúa Trịnh, là
người đã cưu mang đưa các giáo sĩ phương Tây đến Nước Mặn (Bình Định) truyền giáo,
phiên âm, sáng tạo hình thành chữ Quốc ngữ. Khi mất được Chúa Nguyễn phong phúc thần,
cho lập đền thờ tại quê nhà hàng năm hương khói.
Quy Nhơn, Hoài
Nhơn
68
Trần Quang Diệu
(1746 - 1802)
Đại Đô đốc, danh tướng trụ cột triều Tây Sơn, quê ở Mộ Đức, Quảng Ngãi. Tham gia
phong trào Tây Sơn từ buổi đầu dựng nghiệp, đóng góp nhiều công lao, chỉ huy tiến công
quân Xiêm trong trận Rạch Gầm - Xoài Mút, dẹp yên các cuộc quấy nhiễu biên giới phía
Tây, chỉ huy mở con đường hành quân theo đường núi ra Nghệ An góp phần đại phá 29 vạn
quân Thanh. Năm 1790, làm Đốc Trấn Nghệ An, trông coi việc xây thành Phượng Hoàng
Trung Đô. Năm 1792, giữ chức Thiếu Phó, tận tình giúp vua Cảnh Thịnh. Triều Tây Sơn bị
lật đổ, ông bị nhà Nguyễn hành hình năm 1802.
Hà Nội, Đà Nẵng,
Hải Dương, Vinh,
TP.HCM, Quy
Nhơn, Phú Phong,
An Nhơn…
69
Trần Thị Lan
(Thế kỷ XVIII)
Nữ tướng thời Tây Sơn, là vợ Đô đốc Nguyễn Văn Tuyết và là em ruột bà Trần Thị Huệ
(vợ đầu của Nguyễn Nhạc), người thôn Trường Định, huyện Tây Sơn. Bà rất giỏi võ nghệ,
kiếm thuật, luyện thân đi nhẹ như chim én nên có tên hiệu Ngọc Yến, được xếp là một trong
Tây Sơn ngũ phụng thư. Bà tham gia tổ chức, huấn luyện, điều khiển đội tượng binh và nữ
Quy Nhơn
137
binh lập nên nhiều chiến công cho nhà Tây Sơn.
70
Trần Văn Kỷ
(1755 - 1801)
Văn thần triều Tây Sơn. Quê Vân Trình, tổng Vĩnh Xương, huyện Hương Trà (Thừa
Thiên Huế). Được vua Quang Trung trọng dụng, tin cẩn và phong làm Trung thư lịnh (phụ
trách việc văn thư) tước Kỷ Thiện Hầu. Ông có nhiều công lao đóng góp với nhà Tây Sơn.
Năm 1801, Nguyễn Ánh chiếm Phú Xuân (Huế), ông không đầu hàng nhà Nguyễn, tự trầm
mình chết.
TP.HCM, Huế,
Quy Nhơn, Phú
Phong
71
Trần Văn Thiều
(TK XIX)
Danh sĩ triều Nguyễn, Quê làng An Thường, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định. Từng là
Hành tẩu Bộ Lại, Huấn đạo, Tri huyện. Năm 1878, ông có công thực hiện công tác khẩn
hoang tại cao nguyên An Khê. Nhờ công này ông được phong hàm Điền tịch.
Quy Nhơn
72
Trương Văn Đa
(Thế kỷ XVIII)
Danh tướng đời Tây Sơn, Phò mã của Trung ương Hoàng đế Nguyễn Nhạc. Ông phục vụ
dưới trướng Nguyễn Nhạc lập được nhiều chiến công ở Gia Định được Nguyễn Nhạc gả con
gái cho. Từng theo Nguyễn Huệ đánh tan quân Nguyễn Ánh ở Cà Mau, Phú Quốc. Năm
1783, ông chỉ huy quân tấn công Chân Lạp. Ông cũng tham gia lập chiến công trong trận
Rạch Gầm – Xoài Mút đánh tan quân Xiêm xâm lược năm 1785. Sau đó ông được giao
nhiệm vụ ở lại trông coi đất Gia Định.
An Nhơn, Phú
Phong, Quy Nhơn
73
Trương Văn Hiến
(Thế kỷ XVIII)
Danh sĩ, quê ở Nghệ An, chán ghét chế độ đương thời, bỏ vào An Thái (An Nhơn, Bình
Định) mở trường dạy học. Là thầy giáo dạy cả văn và võ cho ba anh em nhà Tây Sơn từ thuở
nhỏ. Nhiều học trò ông sau này là danh tướng của nhà Tây Sơn.
Quy Nhơn, An
Nhơn, Phú Phong
74
Trương Công Hy
(1727 - 1800)
Danh thần triều Tây Sơn, sinh tại làng Thanh Quất, nay là làng Thanh Quýt, xã Điện
Thắng Trung, TX Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Ông là vị quan nổi tiếng thanh liêm, được
trọng dụng và có nhiều công trạng trong 2 triều chúa Nguyễn và Tây Sơn, được phong tước
hiệu Đặc tấn Kim tử Vinh Lộc thượng đại phu, Binh bộ thương thư, Hình bộ thượng thư,
Thùy Ân hầu. Thời Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát, Trương Công Hy được bổ làm Huấn
đạo, ra kinh làm thầy dạy cho các ấu chúa nhà Nguyễn. Năm 1775, ông ra phụng sự triều Tây
Sơn, được giao giữ chức Khâm sai trấn Quảng Nam. Năm 1788, Khi Nguyễn Huệ lên ngôi
hoàng đế, ông được giao giữ chức Hình bộ Thượng thư. Năm 1798, khi đã 71 tuổi, ông xin về
quê và được vua Cảnh Thịnh phong thêm chức Binh bộ Thượng thư, tước Thùy Ân hầu. Khi
ông mất, triều đình nhà Tây Sơn đã cấp một khu đất rộng hơn 4.000 m
2
và cho xây dựng lăng
mộ với phong cách kiến trúc độc đáo. Lăng mộ ông ngày nay được công nhận là di tích lịch
sử cấp quốc gia.
Đà Nẵng, Tam Kỳ
75
Võ Duy Dương
(Thiên Hộ Dương)
(1827 - 1866)
Anh hùng chống Pháp, quê ở Cù Lâm, xã Nhơn Lộc, thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định.
Năm 1860, ông được triều đình phong chức Thiên Hộ (tục gọi là Thiên Hộ Dương) khi thực
dân Pháp xâm lược 3 tỉnh miền Đông Nam bộ, ông đã chiêu tập nghĩa quân kéo vào Nam
chiến đấu bảo vệ thành Gia Định. Ông là người lãnh đạo thắng lợi cuộc khởi nghĩa tại Đồng
Quy Nhơn, Đồng
Hới, An Nhơn;
TP.HCM đặt tên là
“Thiên Hộ Dương”
138
Tháp Mười.
76
Võ Đình Tú
(Thế kỷ XVIII)
Danh tướng thời Tây Sơn, người làng Phú Phong, huyện Tây Sơn. Có tài võ nghệ đảm
lược, giỏi binh pháp. Theo nhà Tây Sơn từ thuở còn áo vải, làm chủ sự Bộ binh, lập được
nhiều công trạng được vua Quang Trung thăng chức Tả kiểm đô ngự sử. Đầu đời Cảnh
Thịnh, được thăng chức Binh bộ Tham tri, coi việc quân ở Quy Nhơn, Phú Yên. Trong trận
đánh với quân Nguyễn ở Quy Nhơn năm 1799, ông bị trúng tên, tử nạn. Ba quân đều thương
xót.
Quy Nhơn, An
Nhơn
77
Vũ Huy Tấn
(1749 - 1800)
Văn thần triều Tây Sơn, còn gọi là Vũ Huy Liễn, quê tại làng Mộ Trạch, huyện Đường
An, tỉnh Hải Dương. Năm 1768, đỗ giải nguyên rồi làm Thị nội ở Viện Hàn lâm. Tháng
5/1788, Nguyễn Huệ ra Bắc, xuống chiếu cầu hiền, ông cùng một số sĩ phu Bắc Hà ra hợp tác
với nhà Tây Sơn, ông tích cực giúp triều Tây Sơn trị nước, an dân, được thăng tới Thượng
thư Bộ công. Hai lần đi sứ Trung Quốc, rất được nể phục bởi tài ứng đối cùng thái độ quyết
liệt giáng trả sự xúc phạm của quan lại nhà Thanh, bảo vệ vẹn toàn quốc thể và lòng tự tôn
dân tộc.
Thời Cảnh Thịnh được thăng lên hàng Thượng trụ quốc, Thị trung đãi chiếu thượng
thư. Năm Canh Thân (1800), ông mất sau một cơn bệnh hiểm nghèo, hưởng dương 51 tuổi.
Tác phẩm: Hoa nguyên tuỳ bộ tập, Phụng soạn Tôn tế Bắc lai trận vong chư tướng văn.
TP.HCM, Quy
Nhơn
78
Võ Trứ
(1852 - 1898)
Chí sĩ yêu nước, quê ở làng Nhơn Ân, huyện Tuy Phước. Tham gia phong trào Cần
Vương chống Pháp cùng với Mai Xuân Thưởng ở Bình Định, cuộc khởi nghĩa thất bại, ông
lẩn tránh vào Phú Yên. Tiếp tục cùng với Trần Cao Vân tập hợp lực lượng nghĩa binh phát
động phong trào kháng Pháp, rất nhiều người dân và sĩ phu đã tin theo. Nghĩa quân hoạt động
ở vùng rừng núi phía tây bắc tỉnh Phú Yên và Bình Định. Năm 1898, ông trực tiếp chỉ huy
đạo quân từ trong khu rừng Đồng Xuân tiến về tỉnh lỵ Sông Cầu, để tập kích chiếm thành
Phú Yên. Bị thực dân Pháp đàn áp, cuộc khởi nghĩa thất bại, ông ra nộp mình để cứu dân.
Không mua chuộc được ông, quân Pháp đã đưa ông ra xử chém.
Nha Trang,
TP.HCM, Quy
Nhơn, Tuy Phước
79
Võ Văn Dũng
(1750 - 1802)
Đại Đô đốc, danh tướng thời Tây Sơn, quê ở Tây Phú, Tây Sơn, Bình Định. Giúp nhà
Tây Sơn từ buổi đầu dựng nghiệp, lập được nhiều công lao lớn, nhất là việc ổn định tình hình
Bắc Hà, tham gia chỉ huy đánh tan 29 vạn quân Thanh xâm lược. Năm 1792, thăng chức Đại
Tư Đồ, tham gia đoàn sứ bộ đưa giả vương Phạm Công Trị sang triều kiến vua nhà Thanh.
Chỉ huy nhiều trận đánh lớn đánh bại quân Nguyễn Ánh ở Quy Nhơn năm 1800 - 1801.
Hà Nội, Quy Nhơn,
Phú Phong, An
Nhơn, Bình Dương
80
Võ Văn Hiệu
(1811 - 1854)
Danh thần triều Nguyễn, quê làng Thuận Hạnh, xã Bình Thuận, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình
Định. Ông thi đậu Cử nhân năm Thiệu Trị thứ 6 (1846), qua năm sau đỗ Đệ tam giáp Tiến sĩ,
được sơ bổ làm Hàn lâm viện Biên tu. Sau thăng Tri phủ Tuy Biên, có công dẹp tan trộm
cướp, an định dân cư, được nhân dân mến mộ. Năm 1852, vua Tự Đức tặng ông hàm Hàn
lâm Viện Thị độc, sau bổ làm Tri phủ Ba Xuyên, bằng tài đức ông đã giúp dẹp thổ dân nổi
loạn, nhân dân Ba Xuyên nhờ đó được an cư lập nghiệp. Ông bị bệnh mất năm 1854, được
Quy Nhơn
139
vua Tự Đức phong hàm Thị Giảng học sĩ cho đưa linh cửu về quê mai táng, nhân dân hai phủ
Tuy Biên và Ba Xuyên vô cùng thương tiếc, tại mỗi phủ đều lập ngôi miếu thờ ông. Sử quan
triều Nguyễn xưng tụng ông là bậc Tuần Lương (người tuân giữ thành pháp và có chánh tích
lương thiện).
81
Võ Xuân Hoài
(Thế kỷ XVIII)
Văn thần triều Tây Sơn, người huyện Bình Khê (nay là huyện Tây Sơn), ông đức cao học
rộng, là ngôi sao về văn học đương thời, một trong 6 văn thần triều Tây Sơn, thường gọi là
“Lục kỳ sĩ”. Đầu đời Quang Trung làm Quốc tử giám tư nghiệp, đổi làm Hàn lâm học sĩ. Đầu
đời Cảnh Thịnh, dạy vua học, tổng tu tác phẩm “Lê triều thực lục”. Sau đó xin về hưu mở
trường dạy học, học trò đến xin học rất đông. Có công giúp nhà Tây Sơn hoạch định chính
sách trị nước, an dân, qui định thi cử, quy tụ nhiều nhân tài giúp nước.
Quy Nhơn, Phú
Phong
82
Vũ Đình Huấn
(Thế kỷ XVIII)
Đô đốc thời Tây Sơn, quê ở huyện Phù Ly, phủ Quy Nhơn. Sớm tham gia phong trào Tây
Sơn và trở thành một võ tướng của nhà Tây Sơn. Trong trận đại phá quân Thanh xuân Kỷ
Dậu 1789, ông cùng con gái Vũ Thị Đức chỉ huy quân Tây Sơn tiêu diệt đồn Gián Khẩu
(Ninh Bình), đồn tiền tiêu của giặc phòng thủ mặt nam Thăng Long. Sau trận đại thắng, ông
được phong Đô đốc và giao trấn thủ vùng Hoàng Long và đồn Gián Khẩu. Năm 1802, quân
Nguyễn tiến ra Bắc Hà, ông đem quân vào Nghệ An chặn giặc nhưng thất bại, bị quân
Nguyễn bắt, ông đã tuẫn tiết để giữ trọn lòng trung nghĩa.
Quy Nhơn, Phú
Phong, Hoài Nhơn
83
Vũ Thị Đức
( ? - 1789)
Nữ tướng thời Tây Sơn, người ở Phù Ly (nay thuộc huyện Phù Mỹ). Bà là con gái thứ hai
Đô đốc Ân Quang hầu Vũ Đình Huấn. Trong chiến dịch đại phá quân Thanh xuân Kỷ Dậu
1789, bà cùng cha chỉ huy quân Tây Sơn diệt đồn Gián Khẩu (Ninh Bình). Sau khi diệt xong
đồn, bà cưỡi voi thúc quân truy kích địch. Con voi bị sa xuống bãi lầy thuộc thôn Thượng
Hòa, xã Gia Thanh, huyện Hoa Lư không lên được. Bà đã tử trận cùng voi.
Quy Nhơn, TT
Bình Dương
140
NHÓM 7: TÊN CÁC ANH HÙNG, LIỆT SĨ TIÊU BIỂU TỈNH BÌNH ĐỊNH
STT
HỌ VÀ TÊN
TÓM TẮT TIỂU SỬ
ĐÃ ĐẶT TÊN
ĐƯỜNG
1
Biên Cương
(1929 - 1968)
Liệt sĩ, tên thật là Nguyễn Phụng Khuông, quê ở Bồng Sơn, thị xã Hoài Nhơn. Tham gia hoạt
động cách mạng từ trước Cách mạng tháng Tám 1945. Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Bí thư Thị uỷ
Quy Nhơn, chỉ huy đội đặc công đánh chiếm Đài Phát thanh Quy Nhơn trong chiến dịch Tổng tiến
công và nổi dậy Xuân Mậu Thân, anh dũng hy sinh năm 1968.
Quy Nhơn, An
Nhơn, TT Phù
Mỹ
2
Bùi Đức Sơn
(1948 - 2006 )
Anh hùng lực lượng vũ trang, quê ở Hoài Hảo, thị xã Hoài Nhơn. Nhập ngũ tháng 05/1965. Khi
được tuyên dương, là Đại đội trưởng Đại đội 72 đặc công, Trung đoàn 12, Quân khu 5. Từ 1965 - 1971,
đ/c đã đánh 50 trận ở chiến trường Khu 5. Khi làm y tá, đồng chí chiến đấu đến cùng, bảo vệ thương
binh, băng bó kịp thời và cõng 24 thương binh từ trận địa ra nơi an toàn. Riêng đồng chí đã diệt 70 tên
địch, bắn rơi 1 máy bay, phá hủy 1 kho vũ khí, thu 15 súng. Ngày 07/02/1966, tham gia đánh trận Chợ
Cát, diệt 12 tên Mỹ, bắn rơi 1 máy bay và nhiều chiến công khác. Được tặng thưởng 4 Huân chương
Chiến công giải phóng các hạng; 3 lần được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua; 7 lần được tặng danh hiệu
Dũng sĩ. Ngày 20/9/1971, được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân .
Quy Nhơn,
Hoài Nhơn
3
Đinh Ruối
(1941 - 1967)
Anh hùng liệt sĩ, dân tộc Hrê, quê xã An Quang, huyện An Lão. Khi hy sinh, là Trung đội phó du
kích xã An Quang, huyện An lão. Năm 1961, tham gia du kích, cùng anh em tổ chức đào hầm, gài
chông. Tích cực xây dựng và chỉ huy đội du kích đánh nhiều trận, diệt hơn 100 tên địch, riêng ông diệt
được 55 tên (có 48 tên Mỹ). Ngày 23/9/1967, 1 tiểu đoàn Mỹ và 1 đại đội biệt kích ngụy càn vào xã An
Mỹ bắn phá, Đồng chí đã kiên cường chiến đấu, đánh lui các đợt tấn công của địch bảo vệ nhân dân và
đã ngã xuống trên mảnh đất quê hương khi đang làm nhiệm vụ. Trận này diệt 40 tên địch, riêng đồng
chí diệt được 18 tên địch. Được Nhà nước tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng
nhất. Ngày 16/11/1978, được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Quy Nhơn, An
Lão
4
Đinh Sẵn
(1933 - 1968)
Anh hùng liệt sĩ; quê ở thôn Hưng Lương, xã Nhơn Lý, TP. Quy Nhơn, nguyên là Thị đội Phó
Thị đội Quy Nhơn. Tham gia cách mạng 10/1950, vào bộ đội thuộc E95 Quân khu V, được Đảng phân
công ở lại chiến trường miền Nam. Tháng 12/1963 làm Đội phó đội công tác 03 xã Phước Lý, Phước
Hải, Phước Châu, huyện Tuy Phước, phụ trách quân sự và an ninh. Tháng 9/1964 làm Xã đội trưởng
Phước Lý. Tháng 12/1966 làm Trợ lý tham mưu Huyện đội Tuy Phước. Tháng 3/1967 xã Phước Lý xác
nhập về thị xã Quy Nhơn, làm Phó Ban an ninh thị xã Quy Nhơn. Tháng 7/1967 điều về làm Trợ lý
tham mưu Thị đội Quy Nhơn. Ngày 30/6/1968 làm Thị đội Phó Thị đội Quy Nhơn. Anh dũng hy sinh
ngày 12/12/1968 trong trận đánh ác liệt với quân Nam Triều Tiên. Năm 2012 được Nhà nước truy tặng
danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Ông tham gia và chỉ huy 12 trận đánh nổi bật, tiêu
141
diệt hàng trăm tên địch, phá hủy và tịch thu nhiều vũ khí, phương tiện chiến tranh của địch.
5
Huỳnh Minh
(1943 - 1969)
Anh hùng liệt sĩ, quê ở Hoài Tân, thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định. Tham gia cách mạng năm
1963. Với chức vụ Xã đội phó xã Hoài Tân, đồng chí luôn dũng cảm kiên cường chiến đấu giết giặc
lập công, vừa phối hợp với các lực lượng vừa trực tiếp chỉ huy chiến đấu trên 180 trận lớn nhỏ, có
nhiều trận đánh táo bạo, hiểm hóc làm cho bọn ác ôn, Ngụy quân, Ngụy quyền của xã hoang mang lo
sợ. Đã loại khỏi vòng chiến đấu 650 tên Mỹ, Ngụy trong đó có 145 tên Mỹ, bắt sống 25 tên Ngụy, thu
56 súng và 1 máy PRC 15W. Có những trận dùng pháo lép của địch, đồng chí cải tiến đánh diệt gọn
tiểu đội biệt kích Mỹ và phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của địch. Ngày 12/8/1969 đ/c đã anh
dũng hy sinh. Ngày 27/02/2002 được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Quy Nhơn,
Hoài Nhơn
6
Huỳnh Thị Đào
(1940 - 1970)
Anh hùng liệt sĩ, quê ở xã Vĩnh Thịnh, huyện Vĩnh Thạnh. Khi hy sinh, đ/c là Thiếu úy, Huyện
đội phó Huyện đội Bình Khê. Tham gia cách mạng năm 1960. Năm 1964 làm xã đội trưởng, năm 1966
vào bộ đội huyện Bình Khê làm Trung đội trưởng sau giữ chức Huyện đội phó. Trực tiếp chiến đấu và
chỉ huy 65 trận, bản thân đã tiêu diệt và làm bị thương 95 tên, phá hủy 3 xe quân sự, đánh sập 12 lô cốt,
4 cầu, thu 25 súng các loại. Tháng 3/1967, chỉ huy 1 tổ phục kích diệt gọn 2 tiểu đội Nam Triều Tiên,
thu 23 súng, 1 máy thông tin PRC25. Ngày 6/8/1967, chỉ huy 1 tiểu đội nữ phối hợp với du kích phục
kích đánh địch trên đường 19 diệt 1 trung đội biệt kích, phá hủy 3 xe GMC. Trong trận đánh ngày
16/01/1970, đồng chí bị thương nặng và hy sinh trên bàn mổ. Được Nhà nước tặng thưởng Huân
chương Chiến công giải phóng hạng Nhì, hạng Ba, danh hiệu Chiến sĩ thi đua cấp Quân khu năm 1969.
Ngày 20/12/1994, được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Quy Nhơn,
Vĩnh Thạnh
7
Huỳnh Văn Thống
(1953 - 1973)
Anh hùng liệt sĩ, Đội phó Trinh sát vũ trang Ban an ninh huyện Phù Mỹ, quê ở Mỹ Thắng, huyện
Phù Mỹ. Năm 14 tuổi, tự nguyện tham gia du kích xã Mỹ Trinh, cùng đồng đội diệt 2 tên ấp phó, 1 tên
ấp trưởng có nhiều nợ máu với cách mạng. Trong 3 năm công tác ở lực lượng an ninh huyện Phù Mỹ,
Đ/c đã trực tiếp tham gia 17 trận đánh, diệt 25 tên địch, phối hợp cùng đồng đội chiến đấu 21 trận diệt
55 tên dịch, bắn cháy một máy bay lên thẳng, 1 xe Jeep. Hy sinh ngày 7/11/1973 trên đường về Ban an
ninh để tập huấn và nhận kế hoạch tác chiến của cấp trên. Được Nhà nước tặng thưởng nhiều phần
thưởng cao quý: Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Huân chương Quyết thắng, danh hiệu:
Dũng sĩ diệt Mỹ, Dũng sĩ diệt Ngụy,… truy tặng danh hiệu Anh hùng lược lượng vũ trang nhân dân
ngày 22/7/1998.
TT Bình
Dương, Quy
Nhơn
8
La Văn Tiến
(1940 - 1968)
Anh hùng liệt sĩ, Trung đội trưởng An ninh vũ trang - Ban an ninh tỉnh Bình Định, quê ở thôn
Cẩn Hậu, xã Hoài Sơn (Hoài Nhơn). Năm 19 tuổi (1960) thoát ly tham gia vào lực lượng an ninh. Hơn
7 năm công tác trong lực lượng an ninh vũ trang tỉnh Bình Định, đồng chí không ngại gian khổ hy sinh,
chiến đấu dũng cảm ngoan cường, lập nhiều chiến công xuất sắc (độc lập chiến đấu 20 trận, diệt 15 tên
Mỹ, 8 tên lính Nam Triều Tiên, bắn cháy 1 máy bay HU1A của Mỹ và phối hợp cùng đồng đội đánh 7
trận, diệt hàng trăm tên địch). Hy sinh 26/3/1968 trên đường tuần tra bảo vệ Ban chỉ huy tiền phương.
Quy Nhơn
142
Được Nhà nước phong tặng nhiều danh hiệu cao quý: Dũng sĩ xung kích, Dũng sĩ quyết thắng, Dũng sĩ
diệt Ngụy, Dũng sĩ diệt Mỹ, Huân chương chiến công giải phóng hạng nhì, Huân chương chiến sĩ giải
phóng hạng nhất; truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân ngày 22/7/1998.
9
Lâm Văn Thạnh
(1957 - 1978)
Anh hùng liệt sĩ, quê ở xã Nhơn Phúc, thị xã An Nhơn, là chiến sĩ Trinh sát an ninh Công an nhân
dân đã chiến đấu ngoan cường và anh dũng hy sinh trong cuộc chống Fulrô ở tỉnh Lâm Đồng, được
truy tặng Huân chương Chiến công hạng Nhì, truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân
dân ngày 27/8/1982.
An Nhơn, Quy
Nhơn
10
Lâm Văn Thật
(1946 - 1972)
Anh hùng liệt sĩ, quê ở thôn Xuân Thành, xã Mỹ An, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định. Khi hy sinh,
đồng chí là Chính trị viên Huyện đội huyện Phù Mỹ. Trong 6 năm chiến đấu và công tác, đồng chí đã
chiến đấu trên 80 trận lớn nhỏ, diệt và làm bị thương 160 tên Mỹ, ngụy, bắn rơi một máy bay lên
thẳng. Đồng chí chỉ huy đơn vị diệt gọn 4 cứ điểm quân ngụy, đánh thiệt hại nặng 2 trung đoàn 41 và
47 thuộc sư đoàn 22 quân ngụy, 8 đại đội bảo an, hàng chục trung đội dân vệ, thu nhiều vũ khí, góp
phần giải phóng 10 xã ở phía Đông Phù Mỹ. Ngày 22//10/1972, trong một trận chiến đấu không cân
sức giữa bộ đội huyện Phù Mỹ với 2 trung đoàn (41 và 47) thuộc sư đoàn 22 ngụy, sau khi đã tiêu diệt
3 đại đội địch, lực lượng ta bị bao vây, ông cùng 1 tiểu đội tự nguyện ở lại ghìm chân địch cho đội hình
quân ta rút. Trong suốt 5 giờ chiến đấu, diệt thêm hàng chục tên và đồng chí đã anh dũng hy sinh. Ông
được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, nhiều danh hiệu Chiến sĩ thi đua,
Dũng sĩ giết Mỹ, Dũng sĩ quyết thắng. Ngày 08/4/2000, được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng
vũ trang nhân dân.
TT Bình
Dương, Quy
Nhơn
11
Lâm Văn Tương
(tức Lâm Tài)
(1946 - 1967)
Anh hùng liệt sĩ, quê xã Hoài Sơn, thị xã Hoài Nhơn. Khi hy sinh, đ/c là Chuẩn úy, Trung đội
trưởng đặc công Đ10 bộ đội địa phương. Tham gia du kích từ năm 15 tuổi, 16 tuổi nhập ngũ vào đơn vị
Đ10. Trực tiếp đánh 30 trận, diệt và làm bị thương 97 tên địch, thu 3 súng, 1 máy thông tin và nhiều
chiến công khác. Ngày 22/12/1967, tham gia trận đánh vào quận lỵ Tuy Phước, đ/c bị thương nặng
nhưng vẫn gắng sức ném lựu đạn tiêu diệt và làm bị thương 20 tên địch, trong đó có Ban chỉ huy Chi
khu Tuy Phước, Ban cố vấn Mỹ - Nam Triều Tiên và đã anh dũng hy sinh. Được Nhà nước tặng thưởng
1 Huân chương Chiến công hạng Nhì, 1 Huân chương chiến công
hạng Ba; ngày 20/12/1994, được truy
tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Quy Nhơn
12
Lê Đức Cường
(1948 - 1967)
Anh hùng liệt sỹ, quê ở xã Cát Hanh, Phù Cát. Ông sinh ra trong một gia đình có truyền thống cách
mạng, tham gia du kích xã từ năm 1964, khi mới 16 tuổi. Được tổ chức phân công làm giao liên chuyển
tài liệu phục vụ công tác ở xã; đưa đón, dẫn đường cán bộ đi công tác trên địa bàn. Bằng sự thông
minh, mưu trí, sáng tạo và lòng dũng cảm, đồng chí đã vượt qua nhiều đồn bốt, mạng lưới kìm kẹp của
địch, bảo đảm chuyển tài liệu đến nơi an toàn. Tham gia cùng với lực lượng du kích xã đánh nhiều trận,
tiêu diệt nhiều sinh lực và phương tiện quân sự của địch. Riêng đồng chí đã tiêu diệt 13 tên địch và làm
bị thương nhiều tên khác; phá hủy 2 xe quân sự, tham gia diệt một tên ác ôn. Đồng chí đã chiến đấu và
TT Ngô Mây
143
hy sinh anh dũng vào ngày 17/01/1967 tại rìa núi Bà, thôn Khánh Lộc, xã Cát Hanh. Được tặng thưởng
01 Huân chương kháng chiến hạng 3, ngày 19/10/2014, được Chủ tịch nước truy tặng danh hiệu Anh
hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
13
Lê Khâm
(1907 - 1931)
Liệt sĩ, quê quán khu phố Thiện Chánh 1, phường Tam Quan Bắc, thị xã Hoài Nhơn. Tham gia hoạt
động cách mạng từ năm 1928 đến năm 1931 ở cơ sở. Trong cuộc biểu tình đêm 22 rạng sáng ngày
23/7/1931, được giao phụ trách lãnh đạo Chi bộ Huân Công. Ông phát động quần chúng và sẵn sàng đi
đầu trong tranh đấu, dũng cảm, dám đứng lên nhận trách nhiệm là người “đã đâm chết lý trưởng Huân
Công (xã Ngân)” để cứu lấy đồng chí, đồng bào. Bọn địch đã đẩy đồng chí xuống nhốt ở xà lim với
những cực hình tàn khốc nhất và kết án tử hình, đưa ông đi xử bắn vào lúc 5 giờ sáng ngày 10/12/1931
tại làng Huân Công (nay là khu phố Công Thạnh, phường Tam Quan Bắc). Ông là đảng viên đầu tiên
của huyện Hoài Nhơn bị địch kết án tử hình, gương hy sinh anh dũng, kiên trung và quả cảm của đồng
chí khiến quân thù khiếp sợ.
14
Lê Thị Khuông
(1943 - 1969)
Anh hùng liệt sĩ, quê ở xã Mỹ Thắng, huyện Phù Mỹ. Khi hy sinh, đồng chí là Xã đội phó xã Mỹ
Thắng. Năm 1964, tham gia lực lượng du kích địa phương. Tham gia nhiều trận đánh, dùng pháo cải
tiến và mìn mo tiến công phá hủy 4 xe tăng, diệt và làm bị thương hàng trăm tên địch. Ngày 27/7/1969,
trên đường đi làm nhiệm vụ, bị địch phát hiện, đồng chí chỉ huy tiểu đội chiến đấu đến cùng, khi hết
đạn, trong tay còn 1 quả mìn, chờ địch đến gần, chị bấm mìn nổ, diệt 4 tên, làm bị thương một số tên
khác và anh dũng hy sinh. Được tặng danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ, 1 Huân chương Kháng Chiến hạng
Ba và bằng khen. Ngày 31/7/1998, được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang
nhân dân.
TT Phù Mỹ,
Quy Nhơn
15
Lê Văn Tú
(1951 - 1971)
Anh hùng liệt sĩ, Đội viên trinh sát vũ trang An ninh tỉnh Bình Định; quê quán Trường Xuân, Tam
Quan Bắc, Hoài Nhơn. Sớm giác ngộ cách mạng, lúc 15 tuổi đã tham gia công tác tại địa phương, đến
năm 1968 vào lực lượng trinh sát vũ trang thuộc Ban an ninh tỉnh Bình Định. Được phân công về chiến
trường Quy Nhơn để hoạt động, độc lập chiến đấu 12 trận, diệt 30 tên cảnh sát, 40 tên tề điệp ác ôn.
Đêm ngày 7/4/1971, hy sinh trên đường cùng đoàn cán bộ an ninh thị xã đi công tác vào nội thị bị địch
phục kích. Được tặng thưởng nhiều phần thưởng cao quý: Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu
nước, Huân chương Quyết thắng, danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ, Dũng sĩ diệt Ngụy và nhiều Bằng khen,
Giấy khen các cấp; truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân ngày 27/11/2001.
Quy Nhơn,
Hoài Nhơn
16
Ngô Bàn
(1921 - 1968)
Anh hùng liệt sĩ, quê ở xã Hoài Châu Bắc, thị xã Hoài Nhơn. Khi hy sinh, là cán bộ đấu tranh
chính trị xã Hoài Châu Bắc. Tháng 5/1945, tích cực tham gia các phong trào cách mạng ở địa phương:
đi dân công hỏa tuyến, xây dựng cơ sở cách mạng, làm nòng cốt đấu tranh chính trị, binh vận. Ngày
21/01/1968, chỉ huy đoàn biểu tình quy mô lớn có băng cờ, khẩu hiệu, gậy gộc, giáo mác, tiến thẳng
vào trung tâm huyện lỵ, quân địch ngăn chặn, bắn súng ném lựu đạn làm một số đồng bào bị thương.
Đồng chí xông lên phía trước hô vang khẩu hiệu “Đả đảo đế quốc Mỹ, đế quốc Mỹ phải rút khỏi miền
Nam Việt Nam – Tất cả bà con tiến lên!”, địch điên cuồng ném lựu đạn vào đoàn biểu tình. Đ/c đã lao
Quy Nhơn
144
lên lấy thân mình đè lên một quả lựu đạn đang xì khói, anh dũng hy sinh để bảo vệ đồng bào, đồng chí.
Đồng chí được tặng thưởng 01 Huân chương Kháng chiến hạng nhất. Ngày 31/7/1998, được Nhà nước
truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
17
Ngô Lê Tân
(1933 - 1969)
Anh hùng liệt sĩ, quê ở xã Cát Khánh, Phù Cát, Bình Định, nhập ngũ 9/1950; khi được tuyên
dương Anh hùng, đồng chí là đảng viên, Trưởng xưởng Thông tin Quân khu 5. Trong chống Pháp,
công tác tại Xưởng Thông tin Khu 5. Sau năm 1955, hoạt động bí mật trong hoàn cảnh hết sức khó
khăn, thiếu thốn, một mình phụ trách sữa chữa máy vô tuyến điện cho cả 7 tỉnh miền Trung Trung Bộ.
Năm 1960, đồng chí đã lắp ráp thành công chiếc máy phát sóng vô tuyến điện đầu tiên và đặt tên là
“Giải phóng”. Năm 1962, tìm ra phương pháp điều chỉnh máy bộ đàm PRC-10 thu được của Mỹ nhanh
và chính xác, giúp cho các đơn vị trang bị sử dụng tốt… Ngoài ra, còn có nhiều sáng kiến, đóng góp
nhiều công lao to lớn trong công tác thông tin liên lạc phục vụ lãnh đạo chỉ đạo kịp thời và đơn vị chiến
đấu giành thắng lợi. Đồng chí được tặng thưởng 2 Huân chương Chiến công giải phóng hạng Ba, Huân
chương Quân công giải phóng hạng Nhì và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân ngày
17/9/1967. Ông hy sinh năm 1969
Quy Nhơn, TT
Ngô Mây
18
Ngô Mây
(1924 - 1947)
Anh hùng liệt sĩ, quê ở xã Cát Chánh, huyện Phù Cát. Tham gia cách mạng tháng 4/1947; khi hy
sinh là đội viên Đại đội Quyết tử, Trung đoàn 120, Đại đội 305 Liên khu V. Thu - Đông năm 1947, đơn
vị của đồng chí được lệnh chuẩn bị chiến đấu, mặt trận đang có phong trào vận động thi đua tiêu diệt bộ
binh và cơ giới địch. Ngô Mây thiết tha xung phong vào đội cảm tử quân để được nhận nhiệm vụ vẻ
vang đó, trước khi biết rõ trận đánh mình có thể hy sinh. Ngô Mây viết thư về động viên mẹ và đem
những đồ dùng cá nhân của mình tặng lại các đồng chí. Đầu tháng 10/1947, đơn vị lên đường đi phục
kích địch ở Suối Voi (trên đường An Khê đi Pleiku), Ngô Mây có nhiệm vụ ôm bom phá xe tăng tạo
điều kiện cho bộ binh xung phong tiêu điệt địch. Nhưng trận địa bại lộ, lực lượng quá chênh lệch, đơn
vị chống trả quyết liệt, rồi yểm trợ cho từng bộ phận rút để bảo toàn lực lượng. Ngô Mây ôm bom, chờ
một toán đông địch đến thật gần rồi mở chốt, xông thẳng vào giữa đội hình địch, hơn một trung đội lính
Âu - Phi chết, đồng chí đã hy sinh oanh liệt. Ngày 31/8/1955, được Nhà nước tặng thưởng l Huân
chương Quân công hạng nhì, tuyên dương công trạng trong toàn Liên khu.và danh hiệu Anh hùng lực
lượng vũ trang nhân dân.
Quy Nhơn,
Hoài Nhơn
19
Ngô Trọng Thiên
(1951 - 1975)
Anh hùng liệt sĩ, quê ở Tam Quan Nam, Hoài Nhơn, Bình Định. Lúc 15 tuổi, học xong lớp 7 đồng
chí thoát ly tham gia lực lượng an ninh huyện Hoài Nhơn, trong 9 năm công tác và chiến đấu, từ một
chiến sĩ, đồng chí đã trưởng thành và giữ chức vụ Trưởng ban An ninh huyện, trực tiếp chiến đấu và
chỉ huy đơn vị chiến đấu 63 trận, diệt 613 tên, làm bị thương 20 tên, phá hủy và làm hỏng 25 xe quân
sự, thu hàng trăm súng các loại. Đồng chí hy sinh sáng ngày 26/4/1975 trong lúc đi kiểm tra tình hình
vùng mới giải phóng từ thị trấn Tam Quan đi Bồng Sơn. Đồng chí được tặng 1 Huân chương chiến
công hạng Ba, 2 Huân chương Giải phóng hạng Ba, 1 Huân chương quyết thắng hạng Nhì. Ngày
28/8/1981, được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Quy Nhơn,
Hoài Nhơn
145
20
Nguyễn Bèo
(1938 - 1969)
Anh hùng liệt sĩ, quê ở Nhơn An, thị xã An Nhơn. Khi hy sinh, đ/c là Xã đội trưởng xã Nhơn An,
huyện An Nhơn. Tháng 02/1964, gia nhập lực lượng du kích xã Nhơn An. Trong quá trình tham gia
cách mạng, đ/c đã trực tiếp chiến đấu và chỉ huy đánh 25 trận, diệt và làm bị thương 78 tên, có 6 tên
Mỹ, thu 32 súng các loại, phá hủy 1 xe Jeep, thu 1 xe máy. Tháng 02/1969, địch mở trận càn vào xã
Nhơn An, lực lượng địch đông nhưng Đ/c đã kiên cường chỉ huy 12 chiến sĩ chiến đấu đến viên đạn
cuối cùng và anh dũng hy sinh. Được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng Nhì, danh hiệu
Dũng sĩ diệt Mỹ. Ngày 28/4/2000, được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang
nhân dân.
Quy Nhơn, An
Nhơn
21
Nguyễn Thị Chuẩn
(1930 - 1968)
Anh hùng liệt sĩ, quê quán xã Cát Minh, huyện Phù Cát. Từ năm 1964 - 1965, bà là cán bộ đấu tranh
chính trị thôn, được giao làm hầm bí mật che giấu, nuôi d
ưỡng cán bộ, bộ đội trong nhà và dẫn đoàn
phụ nữ đấu tranh trực diện với địch ở Phù Cát, Quy Nhơn. Bị địch bắt giam, bất chấp sự tra tấn dã man
của kẻ thù, bà vẫn một lòng kiên trung với cách mạng. Vượt ngục trở về, bà tiếp tục hoạt động cách
mạng. Năm 1965, xã Cát Khánh được giải phóng, Huyện ủy giao bà làm Đội trưởng Đội du kích, kiêm
cán bộ phụ nữ xã. Đội du kích xã đã có nhiều trận đánh táo bạo, tạo điều kiện cho các đơn vị lực lượng
vũ trang tỉnh đẩy lùi địch ra xa địa bàn xã Cát Khánh, mở rộng tuyến hành lang Núi Bà. Từ năm 1966 -
1968, bà hoạt động với nhiệm vụ du kích mật, vừa rải truyền đơn, nắm tình hình địa bàn, tiếp tế lương
thực cho căn cứ, vừa tổ chức du kích mật thực hiện diệt ác phá kiềm. Trong một lần vận chuyển lương
thực về cứ, khi phát hiện lính Nam Triều Tiên phục kích có cài mìn claymo, bà đã bình tĩnh, mưu trí
quay hướng mìn về phía địch để chúng tự bị tiêu diệt. Ngày 27/12/1968, do chỉ điểm hầm bí mật bị
địch phát hiện, bà đã chiến đấu đến hơi thở cuối cùng. Hành động hy sinh anh dũng của bà là tấm
gương sáng ngời, tạo khí thế sôi nổi cho cán bộ, chiến sĩ thi đua giết giặc lập công lúc bấy giờ. Năm
2012, bà vinh dự được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
22
Nguyễn Đình
Hoàng
(1958 - 1987)
Anh hùng liệt sĩ, quê xã Tây Phú, huyện Tây Sơn. Khi hy sinh, đ/c là Đại úy, Tiểu đoàn trưởng
Tiểu đoàn 9 bộ binh, Trung đoàn 733, Sư đoàn 315, Mặt trận 579, Quân khu V. Từ tháng 1/1979 -
1987, đồng chí đã chỉ huy đơn vị liên tục tham gia truy quét, luồn sâu đánh địch ở chiến trường nước
bạn Lào - Campuchia loại khỏi vòng chiến đấu nhiều tên địch, thu nhiều vũ khí. Nhiều trận đơn vị anh
đã thọc sâu chia cắt, tạo thuận lợi cho đơn vị bạn đánh nhanh, giải quyết nhanh chiến trường. Năm
1987, trong lần đi công tác, đồng chí bị địch phục kích và đã anh dũng hy sinh. Đồng chí là người chỉ
huy đầy bản lĩnh, vững vàng trong chiến đấu, lập được nhiều chiến công, được tặng thưởng Huân
chương chiến công hạng Ba, 2 lần là Chiến sĩ Quyết thắng, 3 lần là Chiến sĩ thi đua, truy tặng danh hiệu
Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân ngày 13/12/1989.
Quy Nhơn
23
Nguyễn Hòa
(1930 - 1963)
Anh hùng liệt sĩ, quê ở Hoài Tân, thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định. Tham gia cách mạng năm
1954. Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1956. Với cương vị là đội trưởng và Bí thư chi bộ xã
trong thời kỳ đầu cách mạng, đồng chí luôn xông xáo chỉ huy và lãnh đạo lực lượng vũ trang xã Hoài
Tân đánh địch diệt ác phá kìm, mở ra phong trào cách mạng của xã Hoài Tân trong suốt thời kỳ kháng
Quy Nhơn,
Hoài Nhơn
146
chiến chống Mỹ cứu nước. Suốt chặng đường chiến đấu, đồng chí đã trực tiếp chỉ huy đánh 9 trận, diệt
29 tên và bị thương 5 tên, bắt sống 31 tên trong đó có 1 xã trưởng ác ôn và 1 tiểu đội trưởng dân vệ, thu
256 súng các loại, 10 lựu đạn và đánh cháy 1 xe M 113. Riêng cá nhân đồng chí Hòa đã diệt 10 tên, thu
5 súng, dùng lựu đạn đánh cháy 1 xe tăng M 113. Ngày 27/02/2022, được truy tặng danh hiệu Anh hùng
lực lượng vũ trang nhân dân.
24
Nguyễn Hồng Đạo
(tức Trần Quang
Giáo)
(1929 - 1967)
Anh hùng liệt sĩ, quê xã Cát Hanh, huyện Phù Cát. Khi hy sinh, đ/c là đại úy, Tiểu đoàn trưởng
Tiểu đoàn 50 bộ đội địa phương tỉnh Bình Định. Tham gia hoạt động cách mạng năm 16 tuổi. Chỉ huy
nhiều trận đánh, tập kích vào trụ sở ngụy quyền diệt 53 tên, làm bị thương 18 tên, bắt sống 13 tên, thu
45 súng các loại, bắn cháy 3 xe bọc thép M113, đánh hỏng nặng 3 chiếc khác, bắn rơi 1 máy bay lên
thẳng. Đ/c hy sinh ngày 17/11/1967. Được Nhà nước tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải
phóng hạng Nhì, 1 hạng Ba, ngày 20/12/1994, được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang
nhân dân.
Quy Nhơn, TT
Ngô Mây
25
Nguyễn Hữu Quang
(1943 - 1982)
Anh hùng lực lượng vũ trang, quê ở xã Cát Hanh, huyện Phù Cát. Nhập ngũ tháng 9/1961. Khi
được tuyên dương Anh hùng, là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 90 công binh, Sư đoàn 3, Quân khu 5,
đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam. Từ tháng 9/1961 đến cuối năm 1969, đồng chí tham gia 54 trận
đánh, bản thân diệt 105 tên địch, bắt 2 tù binh, phá 18 xe quân sự, thu 16 súng và chỉ huy đơn vị phá
sập 7 cầu lớn, 1 đoàn xe lửa quân sự 13 toa. Đồng chí chỉ huy thực hiện hoàn thành nhiệm vụ cắt đứt
nhiều tuyến đường, cầu quan trọng vượt thời gian quy định phục vụ các chiến dịch lớn trên chiến
trường. Nhiều lần được bầu là Chiến sĩ thi đua, được tặng 3 Huân chương Chiến công giải phóng hạng
nhất, hạng nhì, hạng ba. Ngày 15/02/1970, được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang
nhân dân.
Quy Nhơn, TT
Ngô Mây
26
Nguyễn Lạc
Liệt sĩ, tên thật là Trần Quang Sinh, tham gia hoạt động cách mạng ở Quy Nhơn, đồng chí là Ủy
viên Ban cán sự Đảng Quy Nhơn từ cuối năm 1962 - đầu năm 1965 và từ giữa năm 1965 - giữa năm
1967.
Quy Nhơn
27
Nguyễn Niệm
(1944 - 1966)
Anh hùng liệt sĩ, quê ở xã Hoài Châu Bắc, thị xã Hoài Nhơn. Khi hy sinh, đ/c là du kích xã Hoài
Châu Bắc. Năm 1963, tham gia hoạt động cách mạng, luôn nêu cao tinh thần dũng cảm, linh hoạt trong
chiến đấu, cùng đơn vị diệt nhiều tên địch. Năm 1966, được phân công cùng bộ đội Sư đoàn 3 Sao
Vàng chốt giữ Đồi Mười, một vị trí nằm sát quốc lộ 1A. Quân địch tập trung lực lượng lớn có xe tăng,
pháo binh yểm trợ mở nhiều đợt tấn công hòng chiếm Đồi Mười. Cuộc chiến không cân sức diễn ra
suốt 3 ngày. Ba chiến sĩ của ta đã đẩy lùi nhiều đợt tấn công của địch. Khi hết đạn, quyết không sa vào
tay quân thù, cả 3 người hiên ngang hô vang khẩu hiệu: “Thà quyết tử cho tổ quốc quyết sinh” sử dụng
những quả lựu đạn cuối cùng gây thương vong cho địch và anh dũng hy sinh vào ngày 10/3/1966. Đồng
chí được tặng thưởng Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Ba. Ngày 11/6/1999, được Nhà nước
truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Quy Nhơn
28
Nguyễn Phăng
Anh hùng liệt sĩ, quê ở xã Mỹ Thắng, huyện Phù Mỹ. Khi hy sinh, đồng chí là Trung úy, Đại đội
Quy Nhơn, TT
147
(1948 - 1969)
trưởng Đại đội 1, Huyện đội Phù Mỹ. Sinh ra trong một gia đình có truyền thống cách mạng, năm 16
tuổi, đ/c gia nhập quân đội, lập được nhiều chiến công xuất sắc, góp phần to lớn vào thành tích của lực
lượng vũ trang nhân dân huyện Phù Mỹ. Đồng chí trực tiếp chiến đấu 48 trận,
cùng đơn vị diệt và làm
bị thương hàng trăm tên địch, riêng đồng chí diệt và làm bị thương 31 tên, thu hàng chục khẩu súng, có
2 cối 81, 1 đại liên và 2 máy thông tin. Ngày 27/7/1969 trong lúc chỉ huy đơn vị bố phòng bị địch phát
hiện, đồng chí chiến đấu kiên cường và hy sinh anh dũng. Được Nhà nước tặng thưởng 1 Huân chương
chiến công giải phóng hạng Nhì, 3 Huân chương chiến sĩ giải phóng hạng nhất, nhì, ba, Chiến sĩ thi đua
của Quân khu V. Ngày 11/6/1999, được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Bình Dương
29
Nguyễn Quảng
(1944 - 1974)
Anh hùng liệt sĩ, quê xã Mỹ Trinh, huyện Phù Mỹ. Khi hy sinh, ông là Huyện ủy viên, Chính trị
viên phó Huyện đội Phù Mỹ. Trưởng thành từ chiến sĩ liên lạc của đội du kích xã Mỹ Trinh lên Chính
trị viên phó Huyện đội Phù Mỹ, đồng chí đã chiến đấu và chỉ huy chiến đấu 215 trận lớn nhỏ, loại khỏi
vòng chiến đấu 1.612 tên Mỹ, ngụy, trong đó diệt gọn 1 trung đội Mỹ, 6 trung đội dân vệ, 3 trung đội
thanh niên chiến đấu, bắn cháy 36 xe tăng, 10 xe quân sự, 13 máy bay, thu hàng trăm súng các loại.
Năm 1974, được phân công về xã Mỹ Trinh và Mỹ Hòa xây dựng lực lượng, trong lúc chỉ huy trận
đánh, bị trúng đạn pháo của địch, hy sinh ngày 27/7/1974. Được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến
công hạng Nhì, 3 danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ, 2 Dũng sĩ bắn máy bay, 1 Dũng sĩ diệt xe cơ giới. Ngày
28/4/2000, được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Quy Nhơn, TT
Bình Dương
30
Nguyễn Thanh Trà
(1952 - 1975)
Anh hùng liệt sĩ, quê ở xã Mỹ Hiệp, huyện Phù Mỹ. Khi hy sinh, ông là Xã đội phó xã Mỹ Hiệp,
huyện Phù Mỹ. Sinh ra trong gia đình có truyền thống cách mạng, năm 16 tuổi, xung phong vào đội du
kích mật của xã hoạt động hợp pháp trong lòng địch. Đồng chí trực tiếp tham gia chiến đấu 17 trận, diệt
41 tên địch trong đó có tên ấp trưởng ác ôn có nhiều nợ máu với nhân dân. Trong trận đánh ngày
31/3/1975, tại cầu Cương thôn Vạn Phước. Trận đánh diễn ra ác liệt, địch phản công dùng cả pháo
105mm bắn thẳng. Trước tình thế gay go ấy, đồng chí Trà chỉ huy mũi phục kích bên trái cầu, đã xông
lên dùng khẩu đại liên M60 bắn vào đội hình địch, tạo điều kiện cho du kích xã tiêu diệt địch. Sau 3 giờ
chiến đấu ta diệt 175 tên, bắt hàng trăm tên khác, bắn cháy 1 xe Zép, thu 6 xe, 6 pháo 105mm, nhiều vũ
khí bộ binh và phương tiện chiến tranh khác. Đồng chí đã anh đũng hy sinh khi vừa tròn 23 tuổi. Đồng
chí được tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng Ba, 3 lần được du kích xã bầu là chiến sĩ xuất
sắc. Ngày 11/6/1999, được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Quy Nhơn, TT
Phù Mỹ
31
Nguyễn Thị Hãnh
(1949 - 1972)
Anh hùng liệt sĩ, quê ở xã Mỹ Tài, huyện Phù Mỹ. Khi hy sinh, bà là Trung úy, Chính trị viên Đại
đội thuộc Huyện đội Phù Mỹ. Năm 14 tuổi, tham gia đội du kích mật. Với bản lĩnh gan dạ, tài trí thông
minh, đồng chí đã tiêu diệt được nhiều tên ác ôn khét tiếng gian ác. Trong trận đánh vào trụ sở xã Mỹ
Khánh trực tiếp chỉ huy đảm nhiệm mũi tiến công, đơn vị giải phóng làm chủ trụ sở. Sáng ngày
22/10/1972, địch tổ chức lực lượng mạnh phản công lấy lại. Đồng chí chỉ huy bộ đội cùng các đơn vị
chiến đấu kiên cường đánh lui nhiều đợt tiến công tấn công của địch. Khi đơn vị được lệnh rút lui để
TT Phù Mỹ,
Quy Nhơn
148
bảo tồn lực lượng, đồng chí xin ở lại trực tiếp chỉ huy một tổ, cuối cùng cả tổ hy sinh, chỉ còn lại một
mình, đồng chí đã sử dụng 5 khẩu súng chiến đấu. Khi bị thương, đồng chí dùng lựu đạn chờ địch đến
gần mới ném, tiêu diệt thêm nhiều tên địch nữa và đã anh dũng hy sinh. Qua 7 năm hoạt động, đồng chí
trực tiếp chiến đấu 34 trận, diệt và làm bị thương 114 tên địch, thu nhiều vũ khí, tài liệu quan trọng.
Được Nhà nước tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhất, 2 Huân chương Giải
phóng hạng Nhì và hạng Ba, nhiều danh hiệu chiến sĩ thi đua, chiến sĩ diệt ngụy. Ngày 23/7/1997, được
truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
32
Nguyễn Thị Hồng
Bông
(1948 - 1971)
Anh hùng liệt sĩ, còn có tên là Nguyễn Thị Cửu, quê xã Bình Hòa, huyện Tây Sơn. Khi hy sinh là
Thượng úy, Huyện đội phó Huyện đội Bình Khê. Đồng chí đã chiến đấu và chỉ huy 21 trận lớn nhỏ,
diệt và làm bị thương 132 tên địch, bắn cháy 1 xe GMC, diệt 1 đại đội lính bảo an thu 65 súng, 2 máy
PRC 25, 1 cối 60 ly và nhiều quân trang quân dụng. Tháng 01/1971, trên đường đi xây dựng cơ sở ở xã
Bình Quang, đ/c lọt vào ổ phục kích của địch, kiên cường chiến đấu đến viên đạn cuối cùng và hy sinh
anh dũng. Đồng chí được tặng thưởng 2 Huân chương chiến công giải phóng hạng Nhì, 1 hạng Ba,
Chiến sĩ thi đua Quân khu 5 và nhiều phần thưởng cao quý khác. Ngày 28/4/2000, Nhà nước truy tặng
danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Phú Phong
33
Nguyễn Thị Yến
(1958 - 1970)
Anh hùng liệt sĩ, quê ở Hoài Thanh, thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định. Năm 1967, được tổ chức
cách mạng giáo dục, dìu dắt làm cơ sở hợp pháp cho lực lượng Quân báo Huyện đội Hoài Nhơn. Tháng
8/1969, tham gia trong đội “Chim én” cùng với Phạm Thị Đào làm nhiệm vụ theo dõi, diệt trừ những
tên tề điệp ác ôn ở địa phương, hỗ trợ phong trào đấu tranh của nhân dân. Ngày 14/3/1970, tại Ngọc
An, đồng chí cùng đồng đội tiếp cận, dùng súng và lựu đạn diệt 1 tên ác ôn và một số tên lính tuỳ tùng.
Đồng chí bị địch bắt, chúng dùng mọi thủ đoạn tra tấn tàn nhẫn nhưng bà vẫn giữ tròn khí tiết, địch đã
hèn hạ sát hại. Đồng chí hy sinh khi mới 13 tuổi, được Nhà nước truy tặng Huân chương chiến công
hạng ba, danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân ngày 17/7/2002.
Quy Nhơn,
Hoài Nhơn
34
Nguyễn Trọng
(1930 - 1964)
Anh hùng liệt sĩ, quê ở Hoài Thanh, thị xã Hoài Nhơn. Khi hy sinh, đồng chí là Thôn đội trưởng
du kích xã Hoài Thanh. Trong kháng chiến chống Pháp, tham gia hoạt động cách mạng tại địa phương.
Sau năm 1954, được phân công ở lại miền Nam làm cơ sở nuôi giấu cán bộ và hoạt động bí mật trong
lòng địch, nhiều lần địch rình rập vây bắt nhưng bằng tài trí thông minh của mình, đồng chí đánh trả
quyết liệt, bảo vệ an toàn cơ sở cách mạng. Ngày 11/11/1964, địch mở cuộc càn với quy mô lớn có xe
tăng và phi pháo yểm trợ tấn công vào khu điều trị thương binh của ta. Cuộc chiến không cân sức diễn
ra quyết liệt, nhiều đồng chí đã hy sinh, cuối cùng chỉ còn lại 1 mình cố thủ bảo vệ thương binh, mặc
dù bị thương nặng nhưng đồng chí kiên cường chiến đấu, đánh xe tăng và bộ binh địch. Bị địch bắt, tra
tấn dã man, đồng chí không khai báo, hô to “Đảng Cộng sản Việt Nam muôn năm” và hy sinh anh
dũng.
Đồng chí được tặng thưởng 01 Huân chương kháng chiến hạng 3. Ngày 11/6/1999, được Nhà
nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Quy Nhơn,
Hoài Nhơn
35
Nguyễn Văn Tâm
Anh hùng liệt sĩ, quê xã Mỹ Chánh, huyện Phù Mỹ. Khi hy sinh đồng chí là Chính trị viên phó Đại
Quy Nhơn
149
(1950 - 1972)
đội 2 Huyện đội Phù Mỹ; 17 tuổi đã tự nguyện tham gia hoạt động cách mạng, từ đội viên du kích mật
đến Xã đội trưởng và Chính trị viên phó Đại đội. Đồng chí đã trực tiếp chỉ huy chiến đấu hơn 39 trận,
diệt và làm bị thương trên 100 tên địch, trong đó có nhiều tên nợ máu với nhân dân, thu giữ nhiều súng
đạn và các loại máy móc khác. Trong trận chỉ huy chiến đấu ngày 20/4/1972, đ/c bị thương nặng và anh
dũng hy sinh. Được tặng thưởng 1 Huân chương Kháng chiến hạng Ba, 1 Huân chương Chiến sĩ giải
phóng hạng Ba., 1 Huy chương chiến sĩ giải phóng. Ngày 11/6/1999, được Nhà nước truy tặng danh
hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
36
Phạm Thành
(1946 - 1969)
Anh hùng liệt sĩ, quê ở Phụng Du, Hoài Hảo, Hoài Nhơn. Khi hy sinh, đồng chí là Xã đội trưởng xã
Hoài Hảo. Trưởng thành từ chiến sĩ du kích lên Xã đội trưởng, từ năm 1964 đến tháng 6/1969, đồng chí
đã trực tiếp chiến đấu và làm bị thương 489 tên địch, có 78 tên Mỹ, bắn cháy 1 máy bay, phá hủy 3 xe
tăng, 3 xe quân sự GMC, thu 360 súng các loại và 2 máy thông tin PRC25. Tháng 6/1969, chỉ huy đội
du kích phối hợp với bộ đội địa phương chống càn, cuộc chiến diễn ra ác liệt, tổ chiến đấu của đồng chí
bị bao vây, cả tổ đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng và hy sinh. Được tặng thưởng 1 Huân chương
Chiến công hạng Nhì và hạng Ba, Chiến sĩ thi đua Quân khu 5, Dũng sĩ diệt Mỹ. Ngày 28/4/2000, được
Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Quy Nhơn,
Hoài Nhơn
37
Phạm Thị Đào
(1954 - 1970)
Anh hùng liệt sĩ, quê ở Hoài Thanh, Hoài Nhơn, Bình Định. Khi hy sinh, đồng chí là chiến sĩ bộ đội
địa phương huyện Hoài Nhơn. Đồng chí xung phong vào bộ đội năm 14 tuổi. Từ năm 1967 đến năm
1970, tham gia trong đội “Chim én” gồm các em thiếu niên làm nhiệm vụ theo dõi, diệt trừ những tên
tề điệp ác ôn ở địa phương. Đặc biệt, ngày 07/02/1970, đồng chí đã diệt được một tên ác ôn có nhiều nợ
máu với nhân dân, bị địch bắt, tra tấn dã man. Trước khi hy sinh đồng chí hô to “Hồ Chí Minh muôn
năm”, “Đảng Lao động Việt Nam muôn năm”. Chính khí phách hiên ngang lẫm liệt của đồng chí đã cổ
vũ mạnh mẽ 1.800 đồng bào ở khu đồn Ngọc An nổi dậy diệt bọn tề điệp, ác ôn. Đồng chí được tặng
thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhất. Ngày 6/11/1978, được Nhà nước truy tặng
danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Quy Nhơn,
Hoài Nhơn
38
Phan Năm
(1937 - 1973)
Anh hùng liệt sĩ, quê ở Nhơn An, An Nhơn, Bình Định. Khi hy sinh, đồng chí là ủy viên Ban
Thường vụ Huyện ủy An Nhơn, Thị ủy viên - Phó ban Tuyên huấn Thị ủy Quy Nhơn. Tham gia cách
mạng từ tháng 10/1961. Đồng chí xây dựng cơ sở cách mạng và tham gia nhiều trận đánh, cải trang
đánh địch làm tan rã 2 trung đội dân vệ, thu 3 khẩu súng, 4 lựu đạn, 10 máy bộ đàm, phá hủy xe quân
sự và diệt 26 tên địch. Ngày 28/12/1973 trên đường đi công tác đồng chí bị địch phục kích và đã anh
dũng hy sinh ở xã Nhơn Thạnh (nay là phường Nhơn Bình, thành phố Quy Nhơn). Đồng chí được tặng
thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương độc lập hạng Ba. Ngày
27/4/2012, được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
39
Phan Thỉnh
(? - 1966)
Liệt sĩ, Bí thư Huyện ủy Bình Khê từ tháng 8/1964, đồng chí đã cùng với Huyện ủy Bình Khê lãnh
đạo quần chúng nổi dậy phá ấp chiến lược giải phóng hoàn toàn các xã đông bắc huyện Tây Sơn; chỉ
đạo nhân dân tăng gia sản xuất, xây dựng hậu phương vùng giải phóng vững mạnh; góp phần cùng với
Phú Phong
150
các lực lượng vũ trang đánh thắng quân Mỹ tại Thuận Ninh (xã Bình Tân) vào 07/1965, đồng chí hy
sinh năm 1966.
40
Phan Trang
(1922 - 1965)
Anh hùng liệt sĩ, quê quán Hoài Thanh, Hoài Nhơn, Bình Định. Năm 1945 - 1947 đồng chí tham
gia hoạt động trên địa bàn huyện Hoài Nhơn với nhiều vị trí công tác và nhiệm vụ khác nhau: hoạt
động tại cơ sở, rải truyền đơn, đấu tranh chống Pháp, Nhật, tham gia cướp chính quyền Bồng Sơn, Phủ
Quy Nhơn… Năm 1949, được kết nạp vào Đảng Lao động Việt Nam. Tháng 01/1950 đến tháng
03/1950, Tỉnh uỷ Bình Định điều động đồng chí công tác tại Tây Nguyên. Từ tháng 6/1950 đến tháng
6/1951, học văn hoá chính trị đào tạo cán bộ công nông do Tỉnh uỷ Bình Định tổ chức. Từ tháng
7/1951 đến tháng 9/1954, là Xã đội trưởng dân quân xã Hoài Thanh, Chi uỷ viên chi bộ xã Hoài Thanh.
Năm 1954, đồng chí tập kết ra Bắc hoạt động đến năm 1960 và giữ nhiều cương vị khác nhau ở nhiều
địa phương khác nhau. Tháng 01/1962, đồng chí được điều động về công tác tại Ban an ninh tỉnh
Khánh Hoà, Phó Ban an ninh huyện Vạn Ninh lấy bí danh Thanh Hồng. Đồng chí chỉ huy tổ vũ trang
tuyên truyền vận động nhân dân tham gia phong trào cách mạng, thu nhiều thắng lợi gây cho địch nhiều
tổn thất nặng nề. Ngày 04/9/1965, trong lúc đi làm nhiệm vụ tổ công tác bị nghĩa quân bảo an phục
kích, các đồng chí trong tổ công tác đã chiến đấu kiên cường, giết được nhiều quân địch, giữ vững trận
địa. Trong trận chiến ác liệt, đồng chí đã anh dũng hy sinh. Tấm gương hy sinh của đồng chí và tổ công
tác đã trở thành làn sóng lan truyền khí thế cách mạng trong lực lượng vũ trang và nhân dân, tạo phong
trào thi đua giết giặc lập công trong toàn lực lượng. Với thành tích xuất sắc trong quá trình hoạt động
cách mạng, đồng chí đã được tặng thưởng nhiều Huân, Huy chương và phần thưởng cao quý. Ngày
26/01/2018 được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Hoài Nhơn
41
Trần Bá
(1923 - 1963)
Anh hùng liệt sĩ, quê ở thị trấn Diêu Trì, huyện Tuy Phước. Từ 1947 - 1951 là Bí thư Huyện uỷ
đầu tiên của huyện Tuy Phước, Tỉnh ủy viên tỉnh Bình Định. Năm 1951, vào quân đội, năm 1954 được
đặc phái vào hoạt động ở Nam bộ làm Phó Ban binh vận của Trung ương Cục miền Nam. Quá trình
công tác lập được nhiều thành tích xuất sắc về công tác binh vận, tổ chức nhiều nhân mối trong hàng
ngũ địch, kể cả một số cơ quan đầu não của chúng, thu thập nhiều tin tức quan trọng, xây dựng và phát
triển đội ngũ cán bộ hoạt động ở nhiều nơi. Năm 1958 bị địch bắt tại Sài Gòn, bị tra tấn dã man nhưng
đồng chí vẫn kiên cường giữ vững khí tiết, lúc nào cũng ở tư thế tiến công, vạch mặt kẻ thù, đồng thời
động viên đồng đội, tìm cách tổ chức cho anh em vượt ngục. Bất lực trước dũng khí của ông, địch đã
giết hại ông vào đầu năm 1963. Được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang ngày
06/11/1978.
Diêu Trì, Quy
Nhơn, Hoài
Nhơn
42
Trần Độc
Liệt sĩ, đồng chí là Bí thư Chi bộ Quy Nhơn giai đoạn 1947 - 1948, Bí thư Đảng bộ Quy Nhơn đầu
năm 1954 - 9/1954, Ủy viên Thị ủy Quy Nhơn từ tháng 4/1955 - đầu năm 1956.
Quy Nhơn
43
Trần Thị Dừa
(1922 - 1969)
Anh hùng liệt sĩ, quê ở thôn Phú Xuân, Hoài Mỹ, Hoài Nhơn. Tham gia cách mạng từ năm 1956,
chức vụ: Tổ trưởng tổ phụ nữ, cơ sở mật. Lập được nhiều thành tích xuất sắc như: Vận động nhân dân
đóng góp tiếp tế cho cách mạng. Mặc dù bị tật nguyền đồng chí vẫn mang hàng từ vùng địch về phục
Quy Nhơn
151
vụ cho cách mạng vượt qua nhiều trạm kiểm soát của địch. Trước lúc hy sinh, đồng chí đã hô vang
khẩu hiệu “Đả đảo bọn đế quốc Mỹ xâm lược, đả đảo bọn tay sai ngụy quyền. Hồ Chí Minh và cách
mạng muôn năm". Đồng chí đã anh dũng hy sinh quyết không khai báo gì cho địch, bảo vệ cơ sở cách
mạng đến cùng. Ngày 24/6/2005, được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
44
Trần Thị Liên
(1933 - 1968)
Anh hùng liệt sĩ, quê ở thôn Tân An, Hoài Châu, Hoài Nhơn. Khi hy sinh, đồng chí là cán bộ Binh
vận huyện Hoài Nhơn. Tham gia hoạt động cách mạng từ năm 17 tuổi, từ một chiến sĩ giao liên hợp
pháp, trở thành cán bộ cơ sở, rồi cán bộ binh vận huyện Hoài Nhơn. Tổ chức nhiều cuộc đấu tranh, biểu
tình giành thắng lợi lớn, làm cho địch lúng túng, hoang mạng. Rạng sáng ngày 20/01/1968, tại thị trấn
Tam Quan, đồng bào các thôn Tân An, Hội An, An Quý do bà dẫn đầu đã tiến vào quận lỵ Tam Quan
để đấu tranh chính trị, kêu gọi anh em binh sĩ quay súng trở về với nhân dân, không đi lính, không được
bắn phá, càn quét, giết hại đồng bào vô tội. Đội quân tóc dài dẫn đầu đoàn biểu tình, giương cao băng
rôn và hô vang khẩu hiệu binh vận đấu tranh với địch. Một số tên ngoan cố đã bắn vào đồng bào. Đồng
chí đã xông lên tố cáo hành vi hèn hạ của địch, chúng đã bắt bà. Sau khi bị bắt, địch dùng đủ các hình
thức tra tấn hết sức dã man, nhưng đồng chí vẫn cắn răng chịu đựng không hề khai báo. Thấy không thể
khai thác được gì, địch cột hai chân đồng chí vào sau xe, kéo từ quận lỵ Tam Quan đến Cầu Cháy và
bắn đồng chí ở đấy. Trước khi hy sinh bà đã hô vang khẩu hiệu “Đảng nhân dân cách mạng Việt Nam
muôn năm! Việt Nam nhất định thắng Mỹ!” Bị địch bắt, tra tấn dã man, song đồng chí vẫn kiên cường
chịu đựng và hô vang khẩu hiệu “Đả đảo Đế quốc Mỹ”, “Đả đảo bọn tay sai bán nước”, “Đảng Lao
động Việt Nam muôn năm”, “Dân tộc Việt Nam anh dũng tiến lên”. Được Nhà nước tặng thưởng Huân
chương kháng chiến hạng Nhất, ngày 29/1/1996, được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ
trang nhân dân.
Quy Nhơn
45
Trần Thị Kỷ
(1947 - 1966)
Anh hùng liệt sĩ, quê ở xã Nhơn Mỹ, An Nhơn. Khi hy sinh, đồng chí là y tá, du kích xã Nhơn
Mỹ, huyện An Nhơn. Tham gia hoạt động cách mạng năm 16 tuổi, đồng chí vừa chiến đấu, vừa làm
nhiệm vụ y tá, vừa chuyển thư từ, công văn, góp phần quan trọng giúp huyện lãnh đạo phong trào diệt
ác, phá kìm chuẩn bị đồng khởi. Ngày 18/5/1966, trong khi làm nhiệm vụ, đồng chí bị địch bắt, bị tra
tấn dã man như: đóng đinh vào đầu ngón tay, xăm lưỡi lê vào người… nhưng đồng chí nhất mực không
khai báo. Không khuất phục được, ngày 19/5/1966 địch đem đồng chí ra thiêu sống. Được Nhà nước
tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng Ba, ngày 20/12/1994, truy tặng danh hiệu Anh hùng lực
lượng vũ trang nhân dân.
Quy Nhơn, An
Nhơn, Hoài
Nhơn
46
Trần Thúc Tự
(1937 - 1967)
Anh hùng liệt sĩ, Ủy viên Ban an ninh huyện Phù Mỹ, quê tại thôn Trung Trường, xã Mỹ Chánh
Tây, huyện Phù Mỹ. Tham gia cách mạng tháng 12/1960, qua gần 8 năm công tác, Đồng chí độc lập
chiến đấu gần 40 trận, tiêu diệt 38 tên ác ôn có nhiều nợ máu với cách mạng, xử lý 4 tên gián điệp chui
vào nội bộ ta, tiêu diệt trên 50 tên lính ngụy và phòng vệ dân sự. Phối hợp với đồng đội đánh trên 10
trận, phá 25 ấp chiến lược, tiêu diệt và làm bị thương hàng trăm tên lính Mỹ, bắn cháy 12 xe tăng, 03
xe GMC, thu nhiều vũ khí, đạn dược, tài liệu quan trọng của địch. Xây dựng hàng trăm cơ sở bí mật để
Quy Nhơn
152
nắm tình hình phục vụ công tác đánh địch. Ngày 11/12/1967, khi chỉ huy đơn vị phối hợp với bộ đội Sư
đoàn 3 (Sao vàng) phục kích đánh địch tại thôn Trung Xuân, Mỹ Chánh, đồng chí đã anh dũng hy sinh.
Được tặng thưởng nhiều phần thưởng cao quý: Huân chương kháng chiến, Huân chương Quyết thắng;
danh hiệu: Dũng sĩ diệt Mỹ, Dũng sĩ diệt Ngụy…; truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang
nhân dân ngày 27/11/2001.
47
Trương Văn Của
(1947 - 1968)
Anh hùng liệt sĩ, quê ở làng Châu Trúc, xã Mỹ Châu, huyện Phù Mỹ. Năm 1961 đồng chí tự
nguyện xin vào lực lượng du kích địa phương, Ở tuổi 14 đã lập công xuất sắc: nắm tình hình, dẫn
đường đưa đội công tác của huyện đột nhập vào nhà của bọn ác ôn, diệt gọn mâm tề xã Mỹ Thắng và
nhiều chiến công khác. Đồng chí hi sinh năm 21 tuổi vào ngày 24/3/1968 trong lần phục kích đánh địch
ở các xã phía Bắc huyện Phù Mỹ. Được tặng thưởng Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhì,
Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhì, Huân chương Quyết thắng, danh hiệu Dũng
sĩ diệt Mỹ, truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân ngày 22/7/1998.
TT Bình
Dương, Quy
Nhơn
48
Võ Giữ
(1935 - 1969)
Anh hùng liệt sĩ, quê ở Ân Thạnh, Hoài Ân. Tham gia lực lượng vũ trang địa phương, giữ chức Xã
đội trưởng. Từ năm 1961 - tháng 9/1969 chỉ huy và tham gia 90 trận đánh, loại khỏi vòng chiến đấu
210 tên địch, trong đó có 30 lính Mỹ, 12 ác ôn, thu 160 súng các loại, bắn rơi 01 trực thăng. Đồng chí
hy sinh tháng 9/1969 trong lúc bắt đuổi một tên phản động. Được Nhà nước tặng thưởng 1 Huân
chương Kháng chiến hạng Nhì, nhiều danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ và bằng khen, giấy khen,
truy tặng
danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân ngày 20/12/1994.
TT Tăng Bạt
Hổ, Quy Nhơn
49
Võ Lai
(1939 - 1966)
Anh hùng liệt sĩ, quê ở xã Tây Giang, huyện Tây Sơn. Là cán bộ Đại đội 2, Tiểu đoàn 52 bộ binh
bộ đội địa phương tỉnh Bình Định. Cuối năm 1959, lên căn cứ tham gia lực lượng vũ trang, là một
trong những chiến sĩ giải phóng đầu tiên của tỉnh. Tham gia chiến đấu 48 trận, diệt 40 tên địch, thu 2
súng. Ngày 25/12/1965 địch đổ quân càn vào xã Bình Thuận, đại đội trưởng đi vắng. Đồng chí chỉ huy
đơn vị triển khai đội hình chiến đấu, bắn rơi 10 máy bay lên thẳng, tiêu diệt 376 tên Mỹ, giữ vững trận
địa. Trận đánh Nam Triều Tiên ở xã Bình An tháng 4/1966, Đồng chí cùng các phân đội giành giật
từng vị trí với địch, vừa trực tiếp chiến đấu, vừa chỉ huy phân đội diệt từng bộ phận địch. Tuy bị
thương nặng nhưng quyết tâm chỉ huy đơn vị đánh địch đến khi có lệnh rút ra ngoài, rồi anh dũng hy
sinh. Được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhì. Ngày 17/9/1967, được Nhà
nước tặng Huân chương Quân công giải phóng hạng Ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang
nhân dân.
Quy Nhơn, Phú
Phong
50
Võ Liệu
Liệt sĩ, quê ở thị xã Hoài Nhơn. Năm 1968, đồng chí Biên Cương, Bí thư Thị ủy Quy Nhơn hy
sinh, Tỉnh ủy điều động đồng chí Võ Liệu - Tỉnh ủy viên, Bí thư Huyện ủy Hoài Nhơn - về thay đồng
chí Biên Cương, làm Bí thư Thị ủy Quy Nhơn từ năm 1968-1971. Đồng chí cùng Thị ủy Quy Nhơn
lãnh đạo nhân dân duy trì và phát triển thế tiến công, xây dựng lực lượng, đẩy mạnh các phong trào
quần chúng nhằm đánh bại chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh của địch”.
Quy Nhơn,
Hoài Nhơn
51
Võ Mười
Anh hùng liệt sĩ, tên thật là Lê Văn Quý, quê ở Hoài Đức, thị xã Hoài Nhơn. Khi hy sinh, đồng chí
Quy Nhơn,
153
(1928 - 1968)
là Tiểu đoàn trưởng đặc công, bộ đội địa phương tỉnh Bình Định. Là một cán bộ trưởng thành từ cơ sở,
đồng chí góp phần quan trọng vào việc xây dựng đội đặc công đầu tiên của tỉnh. Cuối năm 1967, chỉ
huy đơn vị đánh chiếm quận lỵ Tuy Phước, diệt hơn 200 xe, diệt gọn 2 trung đội địch, thu 48 súng, phá
hủy nhiều kho tàng, vũ khí, kho chứa xăng của địch, giải thoát hàng trăm cán bộ của ta bị địch bắt. Sau
đó đơn vị đánh vào ấp Vĩnh Quang, diệt 1 trung đội bảo an, 18 dân vệ và hầu hết bọn ác ôn ở các xã
Phước Sơn, Phước Lý, Phước Hải, gồm 58 tên, thu 26 súng, giải phóng hơn 3000 đồng bào. Trong
cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1968, đồng chí bị trúng đạn của địch, anh dũng hy sinh. Được
tặng thưởng 2 Huân chương Chiến công giải phóng, ngày 15/2/1970, Nhà nước truy tặng danh hiệu
Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Hoài Nhơn
52
Võ Ngọc Hồ
(1946 - 1971)
Anh hùng liệt sĩ, còn có tên là Võ Diệu. Quê ở thôn Chánh Đạo, xã Mỹ Thọ, huyện Phù Mỹ, tỉnh
Bình Định. Khi hy sinh, đồng chí là Xã đội trưởng xã Mỹ Thọ.
Năm 15 tuổi ông làm liên lạc cho đội
công tác xã rồi tham gia công tác mật. Từ một chiến sĩ du kích trưởng thành Xã đội trưởng. Ông đã
tham gia chiến đấu cùng lực lượng vũ trang xã, huyện đánh 75 trận, diệt và làm bị thương 1.350 tên
địch gồm 1 tiểu đoàn quân ngụy, 4 đại đội bảo an, 5 trung đội dân vệ, 1 đoàn Bình Định. Riêng đồng
chí diệt và làm bị thương 270 tên địch, trong đó có 25 tên Mỹ, bắn rơi 2 máy bay lên thẳng, phá hỏng 2
xe tăng. Ngày 20/11/1971, trên đường lui quân, bị pháo địch bắn trúng, đồng chí bị thương nặng và đã
anh dũng hy sinh.
Đồng chí được tặng thưởng 2 Huân chương Chiến công (1 hạng nhì, 1 hạng ba),
nhiều danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ, Dũng sĩ diệt máy bay. Ngày 28/4/2000, được truy tặng danh hiệu
Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
TT Bình
Dương, Quy
Nhơn
53
Võ Nhâm
(1942 - 1969)
Anh hùng liệt sĩ, quê ở thôn Vĩnh Trường, xã Cát Hanh, huyện Phù Cát. Khi hy sinh, đồng chí là
chiến sĩ du kích xã Cát Hanh. Từ năm 1964 - 1969, tham gia đánh 13 trận, cùng tổ du kích diệt và làm
bị thương hơn 120 tên trong đó có 1 tên lính Mỹ, 13 tên lính Nam Triều Tiên, bắn cháy 2 máy bay lên
thẳng, thu nhiều vũ khí. Tháng 10/1969, địch mở trận càn lớn vào Vĩnh Kiên, đồng chí chỉ huy một tổ
du kích vượt sông La Tinh, nhưng lọt vào ổ phục kích của địch, Đ/c cùng đồng đội chiến đấu quyết liệt
với quân địch và cả tổ đã hy sinh. Được tặng thưởng 1 Huân chương kháng chiến hạng Ba, Chiến sĩ thi
đua Quân khu 5, nhiều bằng khen và giấy khen. Ngày 28/4/2000, được Nhà nước truy tặng danh hiệu
Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Quy Nhơn
54
Võ Phước
(1955 - 1970)
Anh hùng liệt sĩ, quê ở Hoài Thanh, Hoài Nhơn, Bình Định. Năm 1967, được tổ chức cách mạng
giáo dục, dìu dắt làm cơ sở hợp pháp cho lực lượng Quân báo Huyện đội Hoài Nhơn. Đồng chí đã tham
gia vào đội thiếu niên mật, cơ sở mật của cách mạng từ năm 11, 12 tuổi. Tháng 2/1969 khi mới 14 tuổi
đồng chí đã tham gia vào Đội Chim én của thiếu nhi xã Hoài Thanh. Tháng 12/1969 đồng chí được bầu
làm tổ trưởng đội Chim Én thực hiện nhiệm vụ tiêu diệt ác ôn, những kẻ có tội ác với cách mạng, có nợ
máu với nhân dân. Ngày 07/02/1970, tổ công tác do đồng chí Võ Phước chi huy làm nhiệm vụ tiêu diệt
tên ác ôn khét tiếng xã trưởng Ngọc An theo kế hoạch đã chuẩn bị. Sau khi tiêu diệt tên ác ôn, đồng
chí bị bọn địch bao vây truy bắt.
Bị địch tra tấn tàn nhẫn nhưng đồng chí vẫn giữ vững khí tiết của
Quy Nhơn,
Hoài Nhơn
154
người chiến sĩ cách mạng thiếu niên, cuối cùng bọn địch đã hèn hạ sát hại, đồng chí anh dũng hy sinh.
Được Nhà nước truy tặng Huân chương chiến công hạng ba, danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang
nhân dân ngày 17/7/2002.
55
Võ Thị Yến
(1943 - 1970)
Anh hùng liệt sĩ, quê ở thôn Tân Nghi, xã Nhơn Mỹ, An Nhơn. Khi hy sinh, đồng chí là Thượng
úy, Huyện đội phó - Huyện đội huyện An Nhơn. Tháng 1/1965, tham gia đơn vị bộ đội địa phương, vào
Đảng cộng sản Việt Nam năm 1967. Tháng 4/1967, chỉ huy đơn vị phối hợp cùng du kích xã Đập Đá
đánh nhà máy điện, diệt 5 tên, bắt sống 7 tên, thu 11 súng. Tháng 6/1968 ở thôn Ngãi Chánh, xã Nhơn
Hậu, một mình đồng chí dùng lựu đạn tiến công tiêu diệt gọn 1 trung đội địch. Tháng 8/1968, cải trang
bí mật tiếp cận chặn đánh 1 xe Jeep, diệt 2 đại úy và 1 lái xe Nam Triều Tiên, bị thương 1 Thiếu tướng
ngụy và 2 sĩ quan Nam Triều Tiên khác. Ngày 12/9/1969, cùng tổ du kích đánh trụ sở xã Nhơn Hậu
diệt 1 ấp trưởng, 1 ác ôn, 3 nghĩa quân, bị thương 1 ác ôn, 1 nghĩa quân và thu nhiều tài liệu quan
trọng. Ngày 14/02/1970, đồng chí bị một Đại đội bảo an và trung đội dân vệ bao vây, khi chúng phát
hiện ra hầm bí mật, đồng chí cùng đồng đội quyết tâm đánh địch đến cùng, dùng lựu đạn diệt 5 tên và
anh đũng hy sinh. Được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Ba, Huân chương chiến
công giải phóng hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ Giải phóng hạng Nhì, hạng Ba. Ngày 31/7/1998,
được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Quy Nhơn, An
Nhơn
56
Võ Trọng Lo
(1945 - 1970)
Anh hùng liệt sĩ, Ủy viên Ban an ninh huyện Phù Mỹ, quê ở thôn Trung Thành, xã Mỹ Quang,
huyện Phù Mỹ. Tham gia cách mạng năm 1962, làm du kích và giao liên mật, năm 1964 chuyển về Ban
an ninh huyện Phù Mỹ. Hơn 6 năm công tác, đồng chí độc lập chiến đấu trên 30 trận, tiêu diệt hàng
chục tên ác ôn và tay sai. Phối hợp với đồng đội và các lực lượng vũ trang đánh trên 15 trận, tiêu diệt
và làm tan rã 2 tiểu đoàn lính cộng hòa, 5 đại đội lính bảo an, 6 trung đội phòng vệ dân sự, bắn cháy 2
xe Jeep, 7 xe GMC, thu nhiều vũ khí, đạn dựợc và quân trang của địch. Tuyển chọn hàng trăm thanh
niên giác ngộ cách mạng bổ sung vào lực lượng an ninh, xây dựng nhiều cơ sở bí mật ở vùng tạm
chiếm nắm tình hình phục vụ đánh địch. Ngày 14/12/1970, khi chỉ huy trinh sát vũ trang phối hợp với
du kích mai phục chặn đánh địch tại xã Mỹ Quang, đồng chí đã hy sinh. Được tặng thưởng Huân
chương kháng chiến, danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ, Dũng sĩ diệt ngụy; truy tặng Anh hùng lực lượng vũ
trang nhân dân ngày 27/11/2001.
Quy Nhơn
57
Võ Trọng Sanh
(Ama Tôn)
(1934 - 1971)
Anh hùng liệt sĩ, quê ở Xã Mỹ Hiệp, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định. Nguyên là Thường vụ Huyện
ủy, Huyện đội trưởng huyện Lăk, tỉnh Đắc Lắc. Ông nhập ngũ năm 1952, là cán bộ thuộc sư đoàn 305
Quân khu V, năm 1954 đồng chí tập kết ra Bắc. Cuối tháng 8/1959, ông được cử về vùng Nam Buôn
Ma Thuột để xây dựng cơ sở cách mạng và nối đường dây liên lạc giữa Miền Trung vào Nam bộ. Năm
1965, ông trở lại quân đội làm Huyện đội phó huyện 5. Năm 1967 ông giữ chức Huyện đội trưởng
huyện 10 (H10), phát triển chiến tranh du kích xây dựng làng chiến đấu. Từ năm 1968 - 1971, thực
hiện đòn tiến công chiến lược trong tổng tấn công và nổi đậy mùa xuân năm 1968, đồng chí cùng ban
chỉ huy nổi dậy tấn công chiếm quận Lạc Thiện làm chủ 3 ngày. Năm 1971 tiêu diệt bộ máy nguỵ
TT Bình
Dương, Quy
Nhơn
155
quyền, giải phóng toàn bộ huyện Lạc Thiện. Ông hy sinh tại ấp chiến lược Buôn Va. Được truy tặng
danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân ngày 30/8/1995.
58
Võ Xán
(1917 - 1945)
Liệt sĩ, nhà hoạt động cách mạng, quê ở xã Bình Hòa, huyện Tây Sơn. Tích cực tham gia các
phong trào đấu tranh cách mạng của học sinh sinh viên, tổ chức nhiều buổi diễn thuyết tuyên truyền về
chủ nghĩa Mác-Lênin ở các huyện An Nhơn, Tây Sơn thời kỳ 1936 - 1939. Bị Pháp bắt đày qua nhiều
nhà tù: Hỏa Lò, Sơn La, Quy Nhơn. Năm 1943, là Bí thư Chi bộ Nhà lao Quy Nhơn. Tháng 3/1945,
ông thành lập Ủy ban Vận động Việt Minh, lãnh đạo khởi nghĩa giành chính quyền trong Cách mạng
tháng Tám tại Quy Nhơn thành công. Ông mất năm 1945.
Quy Nhơn, Phú
Phong
59
Vũ Bảo
(1949 - 1963)
Anh hùng liệt sĩ, tên thật là Võ Văn Bảo, quê ở thôn An Quang, xã Cát Khánh, huyện Phù Cát.
Tham gia cách mạng tháng 01/1963 vừa tròn 14 tuổi, là chiến sĩ giao liên, du kích xã. Ngày 20/7/1963,
1 đại đội lính Cộng hòa có sự chỉ điểm của bọn phản cách mạng, bất ngờ đổ quân bao vây thôn An
Quang cả ba mặt hòng tiêu diệt cán bộ chiến sĩ cách mạng hiện đang công tác tại đây. Vòng vây của
địch siết chặt dần, duy nhất chỉ có vượt sông là đường rút an toàn. Đứng trước tình thế nguy hiểm cho
đoàn cán bộ cách mạng, với lòng gan dạ sẵn có, Vũ Bảo nhanh chóng đưa đoàn cán bộ cách mạng vượt
vòng vây lên thuyền vượt sông qua thôn Vĩnh Lợi (Mỹ Thành). Vũ Bảo trực tiếp chèo thuyền gấp rút ra
đến giữa dòng thì quân địch phát hiện, chúng tập trung mọi hỏa lực bắn xối xả vào thuyền. Sợ các đồng
chí cán bộ ta thương vong, Vũ Bảo đề nghị cả đoàn lao xuống nước, tay bám vào mạn thuyền, chỉ có
một mình Vũ Bảo đứng chèo mặc cho đạn địch đang bắn xối xả trên đầu, nhưng tay anh vẫn nắm chặt
mái chèo lái thuyền lướt sóng nhanh. Dưới làn đạn của địch Vũ Bảo vẫn giữ vững tay chèo đưa thuyền
và đoàn cán bộ vào đến bờ an toàn và anh dũng hy sinh lúc 15 tuổi. Hành động hy sinh anh dũng của
đồng chí đã được Mặt trận dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Chiến sĩ
Giải phóng hạng ba. Ngày 17/7/2002, được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ
trang nhân dân.
Quy Nhơn, TT
Ngô Mây
156
NHÓM 8: TÊN CÁC ĐỒNG CHÍ BÍ THƯ, CHI ỦY CHI BỘ ĐẢNG ĐẦU TIÊN; BÍ THƯ TỈNH ỦY;
BÍ THƯ HUYỆN ỦY; NHÀ HOẠT ĐỘNG CÁCH MẠNG TIÊU BIỂU THỜI KỲ CHỐNG PHÁP
VÀ CHỐNG MỸ (ĐÃ QUA ĐỜI)
STT
HỌ VÀ TÊN
TÓM TẮT TIỂU SỬ
ĐÃ ĐẶT TÊN
ĐƯỜNG
1
Cao Thành
(1901 - 1932)
Nhà hoạt động cách mạng, quê ở Hoài Nhơn, Bình Định. Một trong 5 đảng viên đầu tiên của
Chi bộ Cửu Lợi, Hoài Nhơn. Chi bộ Cửu Lợi được thành lập vào tháng 8/1930.
Hoài Nhơn
2
Đặng Thành Chơn
(1923 - 1991)
Nhà hoạt động cách mạng, quê ở xã Ân Đức, Hoài Ân, Bình Định. Bí thư Huyện ủy Hoài
Ân từ 01/1947 - 7/1947. Từ năm 1950-1953, ông là Bí thư Ðoàn Thanh niên Cứu quốc Khu V.
Từ năm 1954-1956, ông là Quyền Bí thư Tỉnh ủy Bình Ðịnh. Từ 1957-1961, ông là Ủy viên Ban
Thường vụ Tỉnh ủy phụ trách xây dựng lực lượng vũ trang của tỉnh. Từ 1962-1965, ông được
điều động vào Trung ương cục miền Nam tại chiến khu Dương Minh Châu, làm Phó Chủ tịch
Hội Liên hiệp Thanh niên Giải phóng miền Nam, đại diện cho thanh niên trong Mặt trận Dân tộc
Giải phóng miền Nam Việt Nam. Từ năm 1966-1967, ông được điều về Bình Ðịnh làm Phó Bí
thư Tỉnh ủy kiêm Trưởng Ban đấu tranh chính trị Khu V. Từ năm 1968-1973, ông làm Khu ủy
viên Khu V và Bí thư Tỉnh ủy Bình Ðịnh. Từ năm 1974-1975, ông được giao phụ trách An ninh
khu vực Khu V. Ðến năm 1976, ông là Phó ban Ban Dân vận Trung ương, Ðại biểu Quốc hội các
khóa VI, VII.
Quy Nhơn,
TT Tăng Bạt Hổ
3
Đinh Xuân Ba
(1930 - 2000)
Nhà hoạt động cách mạng, quê ở thị trấn An Lão, huyện An Lão. Trải qua 2 cuộc kháng
chiến chống Pháp và chống Mỹ giữ nhiều vị trí công tác khác nhau, từ 1951-1958 là Ủy viên
UBKCHC, Phó Chủ tịch UBND huyện, Thường vụ Huyện ủy. Tháng 5/1958-1959 được phân
công Bí thư Huyện ủy. Từ tháng 6/1960-12/1965 trúng cử Tỉnh ủy viên khóa 1, được phân công
Phó Ban cán sự miền Tây. Từ tháng 4/1971-12/1972, Phó Ban cán sự Miền Tây. Tháng 12/1972-
8/1975, Bí thư Huyện ủy. Tháng 9/1975 chỉ định Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch Mặt trận tỉnh Nghĩa
Bình. Tháng 12/1981-11/1991, Bí thư Huyện ủy An Lão.
TT An Lão
4
Đoàn Tính
(1904 -1988)
Nhà hoạt động cách mạng, quê ở Hoài Nhơn, Bình Định. Một trong 5 đảng viên đầu tiên của
Chi bộ Cửu Lợi, Hoài Nhơn. Chi bộ Cửu Lợi được thành lập vào tháng 8/1930.
Hoài Nhơn
5
Huỳnh Đăng Thơ
(1889 - 1982)
Nhà hoạt động cách mạng, quê xã Nhơn Mỹ, An Nhơn, Bình Định. Từ một cai đội Pháp
trở thành đảng viên cộng sản tại Nhà tù Kon Tum. Ông gây dựng phong trào cách mạng tại quê
nhà, vận động thành lập Chi bộ Hồng Lĩnh năm 1936. Sau Cách mạng tháng 8/1945, là Chủ tịch
Ủy ban Cách mạng lâm thời huyện Hoài Ân. Từ năm 1950, ông là Chủ tịch Liên Việt tỉnh Bình
Quy Nhơn, An
Nhơn, TT Tăng
Bạt Hổ, Hoài
Nhơn
157
Định, Ủy viên khu ủy Khu V. Năm 1954 tập kết ra Bắc, công tác tại Phủ Chủ tịch, được Bác Hồ
tin cậy giao nhiệm vụ Thư ký giữ con dấu và các văn từ mật.
6
Huỳnh Triếp
(1904 - 1982)
Nhà hoạt động cách mạng, quê Hoài Nhơn, Bình Định. Một trong 5 đảng viên đầu tiên của Chi
bộ Cửu Lợi, Hoài Nhơn. Chi bộ Cửu Lợi được thành lập vào tháng 8/1930.
Hoài Nhơn
7
Lê Văn Bảo
(? - 1931)
Liệt sĩ, chiến sĩ cộng sản, Bí thư Chi bộ Trường Quốc học Quy Nhơn (Trường Collège de
Quinhon). Chi bộ được thành lập vào tháng 10/1930 tại Hội quán Quảng Đông gồm 5 đảng viên,
do đồng chí Lê Văn Bảo làm Bí thư. Dưới sự lãnh đạo của các chi bộ Đảng đầu tiên của tỉnh,
cuối năm 1930 sang năm 1931, phong trào quần chúng ở Bình Định phát triển khá sôi nổi. Thực
dân Pháp và tay sai đã thực hiện khủng bố trắng nhằm đàn áp phong trào cách mạng của tỉnh,
hàng trăm cán bộ, đảng viên bị bắt bớ, tù đày, sát hại. Giữa mùa hè năm 1931, hầu hết đảng viên
của chi bộ Trường Quốc học Quy Nhơn bị bắt nhốt vào nhà lao Quy Nhơn để tra tấn, truy hỏi
nhưng mọi người đã giữ vững khí tiết, bảo vệ tổ chức. Đồng chí Lê Văn Bảo là người kiên trung,
bất khuất, bị chúng tra tấn dã man và đã hy sinh trong tù vào cuối năm 1931.
8
Lê Xuân Trữ
(1899 - 1941)
Liệt sĩ, chiến sĩ cộng sản, quê ở xã Sơn Lễ, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Sớm tham gia
hoạt động cách mạng. Năm 1930, gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương và hoạt động ở cơ quan
Xứ ủy Trung Kỳ, sau đó chuyển vào làm công nhân Nhà máy Đèn Quy Nhơn. Tháng 3/1930, ông
vận động thành lập Chi bộ Nhà máy Đèn Quy Nhơn, Chi bộ Đảng đầu tiên của tỉnh Bình Định, ông
được bầu làm Bí thư. Năm 1931 - 1933, ông bị bắt giam ở Lao Bảo. Năm 1934 - 1935 trở lại hoạt
động ở Vinh. Năm 1936 - 1937, ông tham gia Mặt trận Bình dân ở Vinh và các cuộc đình công của
công nhân xe lửa Trường Thi. Trong năm 1937, ông vào Nam hoạt động, tham gia cuộc khởi nghĩa
Nam Kỳ.
Cuộc khởi nghĩa thất bại, ông bị địch bắt và bị kết án 10 năm tù khổ sai đày ra Côn Đảo,
sau đó hy sinh tại đây.
Quy Nhơn, Hoài
Nhơn
9
Mai Dương
Nhà hoạt động cách mạng, đồng chí là Phó Bí thư, Bí thư Tỉnh ủy Bình Định từ tháng 2/1956
- 1/1960.
An Nhơn, Quy
Nhơn, Hoài Nhơn
10
Mang Thoang
(1920 - 1989)
Đại biểu Quốc hội khóa I, II, III; quê ở làng Hà Lũy, xã Canh Thuận, huyện Vân Canh. Tham
gia phong trào chống Pháp năm 1939; tham gia tổ chức Việt Minh huyện Tuy Phước tháng
5/1945. Sau khi Nhật đảo chính Pháp, được lệnh khởi nghĩa của Ủy ban khởi nghĩa huyện Tuy
Phước, ông và một số thanh niên, công nhân ở Quang Hiển (nay là Canh Hiển) chiếm lấy Đồn
Lính khố xanh từ trong tay thực dân Pháp. Ông được Huyện ủy Vân Canh quan tâm đào tạo cán
bộ người địa phương thay thế cán bộ người Kinh đảm đương các chức vụ quan trọng trong hệ
thống chính trị, giữ chức vụ Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính huyện và là Đại biểu Quốc
hội các khóa I (1946-1960), khóa II (1960-1964), khóa III (1964-1971).
TT Vân Canh
11
Ngô Đức Đệ
(1905 - 2001)
Nhà hoạt động cách mạng, quê ở Can Lộc, Hà Tĩnh, sớm tham gia hoạt động cách mạng, là
người đã xây dựng những cơ sở đầu tiên của Tân Việt cách mạng đảng ở phía Nam tỉnh Bình
Quy Nhơn
An Nhơn, Hoài
158
Định vào năm 1928, kết nạp đồng chí Huỳnh Đăng Thơ vào Đảng CSVN tại Ngục Kon Tum
ngày 10/9/1930. Đồng chí là Thường vụ Liên Khu ủy V, Bí thư Tỉnh ủy Bình Định từ 12/1952 –
5/1955.
Nhơn
12
Nguyễn Châu
Nhà hoạt động cách mạng, Bí thư đầu tiên của Chi bộ Vạn Đức, Hoài Ân (tháng 7/1931)
TT Tăng Bạt Hổ
13
Nguyễn Hồng Châu
(1920 - ?)
Nhà hoạt động cách mạng, quê ở Đức Thạnh, Mộ Đức, Quảng Ngãi. Năm 1945, ông tham gia
Uỷ ban vận động cứu quốc huyện Mộ Đức, Phó Bí thư Huyện ủy Mộ Đức. Tháng 5/1947, được
cử đi học. Năm 1949, được bầu giữ chức vụ Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, phụ trách công tác
dân vận. Từ tháng 1/1951, đồng chí được điều động giữ chức vụ Phó bí thư Tỉnh ủy Bình Định.
Đầu tháng 5/1955, Ban thường vụ Liên Khu ủy V chỉ định Tỉnh ủy Bình Định, đồng chí là Bí thư
Tỉnh ủy Bình Định từ tháng 5/1955 - 1/1956.
Quy Nhơn, Hoài
Nhơn
14
Nguyễn Nam Khánh
(1927 - 2013)
Nhà hoạt động cách mạng, Thượng tướng Quân đội nhân dân Việt Nam, quê xã Tây Phú,
huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định. Tham gia hoạt động cách mạng từ tháng 5/1945. Trong quá trình
công tác ông trải qua các chức vụ: Uỷ viên Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
khóa V, VI, VII; Ủy viên Đảng ủy Quân sự Trung ương (nay là Quân ủy Trung ương); Phó Chủ
nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, Bí thư Đảng ủy cơ quan Tổng cục Chính
trị. Được phong Quân hàm Thiếu tướng năm 1977; Trung tướng năm 1984; Thượng tướng năm
1988. Ông là một người lãnh đạo, chỉ huy uy tín của Đảng, Nhà nước và Quân đội; đã cùng với
Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng vận dụng sáng tạo đường lối chính trị, đường lối Quân
sự của Đảng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân
cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Ông là người tận tâm, tận lực với mọi
nhiệm vụ được giao, sâu sát, gắn bó yêu thương cán bộ, chiến sĩ, khiêm tốn giản dị, giàu lòng
nhân ái gần gũi với nhân dân và luôn nêu cao bản chất tốt đẹp "Bộ đội Cụ Hồ". Được Đảng, Nhà
nước tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng nhất; Huân chương Quân công hạng nhất; Huy
hiệu 65 năm tuổi Đảng.
15
Nguyễn Mân
(1899 - 1968)
Nhà hoạt động cách mạng, quê ở xã Nhơn Mỹ, thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định. Ông tham gia
cách mạng năm 1934, là Bí thư đầu tiên của Chi bộ Hồng Lĩnh, thành lập tháng 10/1936. Chi bộ
hoạt động ở địa bàn các huyện An Nhơn, Tây Sơn và Phù Cát, là một trong những lực lượng
nòng cốt của Đảng bộ Bình Định lúc bấy giờ. Năm 1945 ông tham gia khởi nghĩa cướp chính
quyền ở An Nhơn, sau đó năm 1954 tập kết ra Bắc.
An Nhơn, Quy
Nhơn
16
Nguyễn Năng
Nhà hoạt động cách mạng, Bí thư đầu tiên của Chi bộ Trà Quang, huyện Phù Mỹ (tháng
6/1931)
17
Nguyễn Xuân Nhĩ
(1912 - 1983)
Nhà hoạt động cách mạng, còn có tên là Nguyễn Công Tâm, quê ở huyện Điện Bàn, tỉnh
Quảng Nam. Năm 1938, đồng chí được bầu vào Tỉnh ủy lâm thời tỉnh Quảng Nam. Năm 1939,
với tư cách là Bí thư Phủ ủy kiêm Bí thư chi bộ Bích Trâm - La Thọ đi họp Tỉnh ủy bàn việc
củng cố bộ máy lãnh đạo và quyết định một số công việc cấp bách. Tại hội nghị này, đồng chí
Quy Nhơn, Hoài
Nhơn, Đà Nẵng,
Tam Kỳ
159
được bầu vào Tỉnh ủy chính thức. Ngày 06/01/1946, được cử tri tỉnh Quảng Nam tín nhiệm bầu
làm đại biểu Quốc hội khóa I, tiếp tục làm đại biểu lưu nhiệm của Quốc hội các khóa II, III. Đến
tháng 4/1946, được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy, kiêm Chủ nhiệm Việt Minh tỉnh Quảng Nam. Năm
1955, đồng chí là Khu ủy viên Khu V phụ trách liên tỉnh Bình Định - Phú Yên. Tháng 1/1960,
đồng chí được cử làm Bí thư Liên tỉnh gồm ba tỉnh: Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, rồi kiêm
Bí thư Tỉnh ủy Bình Định từ tháng 01/1960 - 4/1961.
18
Nguyễn Đình Thụ
(1913 - 1940)
Liệt sĩ, chiến sĩ cộng sản, quê ở xã Cẩm Phúc, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Nghệ Tĩnh. Tháng
9/1939, Chi bộ Đề Pô xe lửa Diêu Trì được thành lập, đồng chí là Bí thư đầu tiên. Ngày
22/3/1940 sau khi lãnh đạo công nhân đấu tranh chặn đoàn tàu chở lính thợ sang Pháp tại ga Diêu
Trì, đồng chí bị địch bắt và hy sinh ở nhà lao Quy Nhơn ngày 26/3/1940.
Quy Nhơn,
TT Tuy Phước,
Hoài Nhơn
19
Nguyễn Trân
(1904 - 1933)
Chiến sĩ cộng sản, quê ở thị xã Hoài Nhơn. Sớm tiếp cận chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng
cứu nước, đóng góp tích cực trong việc xây dựng các tổ chức cộng sản và phong trào cách mạng
ở Hoài Nhơn từ 1928 – 1930. Tháng 8/1930, vận động thành lập và là Bí thư Chi bộ Cửu Lợi, chi
bộ cộng sản đầu tiên của huyện Hoài Nhơn. Bị địch bắt và đày đi nhà lao Buôn Mê Thuột, hy
sinh ngày 26/7/1933.
Quy Nhơn, Hoài
Nhơn
20
Nguyễn Trung Tín
(1924 - 2015)
Nhà hoạt động cách mạng, quê quán xã Bình Quang (Vĩnh Thịnh), huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh
Bình Định. Sinh ra trên quê hương có truyền thống cách mạng, từ những năm 40, đồng chí đã
tham gia phong trào thanh niên yêu nước. Tháng 8/1945, đồng chí lãnh đạo cướp chính quyền,
làm Ủy viên thanh niên Tổng Vĩnh Thạnh. Từ 1946 - 1954, đồng chí là Bí thư chi bộ, phụ trách
công tác dân tộc Bắc An Khê và huyện Vĩnh Thạnh; Trưởng phòng dân tộc thiểu số tỉnh Bình
Định; cán bộ nghiên cứu Ban kinh tế của Văn phòng Liên khu ủy Khu 5. Sau khi Hiệp định
Giơnevơ được ký kết, đồng chí được phân công ở lại miền Nam hoạt động bí mật, trải qua các
chức vụ: Phó Bí thư Huyện ủy Vĩnh Thạnh; Bí thư Huyện ủy Vĩnh Thạnh; Bí thư Ban cán sự
huyện Tuy Phước và thị xã Quy Nhơn; Bí thư Ban cán sự Khu Nam tỉnh Bình Định; Phó Bí thư
Tỉnh ủy, phụ trách Dân vận, phụ trách Chính trị viên Tỉnh đội Bình Định; Bí thư Tỉnh ủy Bình
Định; Ủy viên Khu ủy Khu 5. Đồng chí đóng góp tích cực xây dựng và phát triển phong trào cách
mạng tỉnh nhà, lãnh đạo thành công cuộc khởi nghĩa Vĩnh Thạnh năm 1959, chiến dịch Đồng
khởi khu Đông năm 1964, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy giải phóng tỉnh Bình Định mùa Xuân
năm 1975. Sau năm 1975, đồng chí là Chủ tịch UBND tỉnh Nghĩa Bình; Chủ tịch UBND tỉnh
Lâm Đồng, Bí thư Tỉnh ủy Lâm Đồng; Bí thư Tỉnh ủy Bình Định; đại biểu Quốc hội các khóa VI,
VII; Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng các khóa VI, VII; Phái viên của Đảng và Chính
phủ tại miền Trung và Tây Nguyên. Với những công lao cống hiến đối với sự nghiệp cách mạng,
đồng chí được Đảng và Nhà nước tặng thưởng nhiều Huân, Huy chương cao quý và Huy hiệu 70
năm tuổi Đảng.
Quy Nhơn, Vĩnh
Thạnh
21
Nguyễn Văn
Nhà hoạt động cách mạng, quê ở xã Tây Bình, huyện Tây Sơn. Thời kỳ chống Pháp, đồng
Quy Nhơn, Hoài
160
(1913 - 1996)
chí là Bí thư Tỉnh ủy lâm thời Bình Định năm 1937, Bí thư Tỉnh ủy Bình Định các thời kỳ từ
tháng 2/1949 - 3/1950, 3/1950 - 2/1951.
Nhơn
22
Phạm Nhị
(1892 - 1953)
Nhà hoạt động cách mạng, Bí thư đầu tiên của Chi bộ Hà Ra - Phú Hựu, huyện Phù Mỹ
(tháng 6/1931)
23
Tôn Chất
(1903 - 1984)
Nhà hoạt động cách mạng, quê Hoài Nhơn, Bình Định. Một trong 5 đảng viên đầu tiên của chi
bộ Cửu Lợi, Hoài Nhơn. Chi bộ Cửu Lợi được thành lập vào tháng 8/1930.
Hoài Nhơn
24
Trần Văn An
Nhà hoạt động cách mạng, đồng chí là Bí thư Tỉnh ủy Bình Định từ tháng 2/1951 - 10/1951
Hoài Nhơn
25
Trần Quang Khanh
(1908 - 1999)
Nhà hoạt động cách mạng, quê ở phường Hoài Thanh Tây, thị xã Hoài Nhơn. Đồng chí là
Chủ tịch Ủy ban nhân dân Cách mạng lâm thời tỉnh Bình Định sau khởi nghĩa giành chính quyền
năm 1945, Bí thư Tỉnh ủy Bình Định các thời kỳ từ tháng 10/1951 - 12/1952, 4/1960 - 11/1964,
11/1964 - 6/1967.
Quy Nhơn, Hoài
Nhơn
26
Trần Lê
(1921 - 2003)
Nhà hoạt động cách mạng, quê ở Tam Kỳ, Quảng Nam, tên khai sinh là Lê Tuệ. Năm 1938,
ông tham gia tổ chức Đoàn Thanh niên dân chủ, hoạt động trong phong trào Mặt trận Dân chủ
Đông Dương. Năm 1941, hoạt động trong phong trào Việt Minh tại Quảng Nam. Sau đó được cử
về phụ trách phong trào cách mạng tỉnh Bình Định, chỉ đạo xây dựng lực lượng Việt Minh chuẩn
bị khởi nghĩa trong Cách mạng tháng Tám. Trong kháng chiến chống Pháp, đồng chí là Bí thư
Tỉnh ủy Bình Định các thời kỳ từ tháng 9/1945 - 01/1947, 01/1947 - 2/1949. Sau Hiệp định
Genève, ông được giao nhiệm vụ ở lại làm Bí thư Ban Cán sự Đảng Cục Nam Trung bộ, Bí thư
Khu ủy Khu VI. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, ông là Bí thư Khu ủy, kiêm
Chính ủy Quân khu VI. Từ năm 1976 giữ các chức vụ: Bí thư Tỉnh ủy Lâm Đồng, Uỷ viên Ban
chấp Trung ương Đảng nhiệm kỳ IV, V, đại biểu Quốc hội khóa VII và Viện trưởng Viện Kiểm
sát nhân dân tối cao.
Đà Lạt, Quy
Nhơn, Hoài Nhơn
27
Trần Lương
(hay Trần Nam
Trung)
(1912 - 2009)
Nhà hoạt động cách mạng, Thượng tướng Quân đội nhân dân Việt Nam, quê ở Mộ Đức,
Quảng Ngãi. Năm 1944, tham gia thành lập Ủy ban Vận động Cứu quốc tỉnh Quảng Ngãi. Ngày
11/3/1945 tham gia tổ chức quần chúng ở châu lỵ nổi dậy tuần hành thị uy, đánh chiếm nha kiểm
lý, bao vây và chiếm đồn lính khố xanh ở Ba Tơ. Từ tháng 7/1945 đến 9/1945, ông là Bí thư Ban
cán sự Đảng tỉnh Bình Định, lãnh đạo khởi nghĩa giành chính quyền cách mạng tại tỉnh Bình
Định tháng 8/1945. Tháng 9/1945, ông được cử làm Xứ ủy viên Trung Bộ, phụ trách quân sự.
Tháng 9/1946, là Chính ủy Khu V. Năm 1951, ông được điều ra chiến khu Việt Bắc, giữ chức
Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam. Trong thời gian diễn ra Chiến
dịch Điện Biên Phủ, ông được phân công chịu trách nhiệm chỉ đạo và trực tiếp về các địa phương
vận động nhân dân đóng góp, vận tải lương thực thực phẩm, quân trang phục vụ chiến dịch. Năm
1955, ông được bầu làm Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng khóa II (1955 - 1960) và được
Quy Nhơn, Đà
Nẵng (đặt tên
Trần Nam Trung)
161
phân công kiêm Bí thư Liên khu ủy Liên khu V (Nam Trung Bộ). Năm 1959, ông được điều vào
Đông Nam Bộ, tham gia tổ chức lại Xứ ủy Nam Bộ thành Trung ương Cục miền Nam. Năm
1960, ông được bầu làm Ủy viên Trung ương Đảng khóa III, giữ chức Ủy viên Quốc phòng
trong Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam. Khi Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa
Miền Nam Việt Nam được thành lập tháng 6/1969, ông được cử làm Bộ trưởng Quốc phòng
(1969 - 1976).
28
Văn Công Hựu
(1907 - 1986)
Nhà hoạt động cách mạng, Bí thư Huyện ủy An Lão đầu tiên, quê ở xã Ân Tín, huyện Hoài
Ân. Tháng 8/1945-4/1950, công tác ở địa phương, giữ các chức vụ Bí thư chi bộ, Phó Chủ nhiệm
Việt Minh xã Ân Tín, Huyện ủy viên và Ủy viên Việt Minh huyện Hoài Ân. Tháng 4/1950, Ban
cán sự Đảng huyện An Lão được thành lập, ông được cử làm Bí thư, kiêm Trưởng Ban Liên -
Việt huyện An Lão. Tháng 12/1950, Đảng bộ huyện An Lão được thành lập, tại Đại hội Đảng bộ
huyện lần thứ nhất, ông được bầu giữ chức Bí thư Huyện ủy An Lão, kiêm Ủy viên Liên Việt
huyện. Từ tháng 11/1951-12/1952, giữ chức Phó Bí thư Huyện ủy An Lão, Ủy viên Ủy ban
kháng chiến hành chính huyện. Từ năm 1954, tập kết ra Bắc, công tác ở các cơ quan: Trường Cán
bộ dân tộc Trung ương, Phòng Công thương huyện Từ Sơn, Bắc Ninh, Phòng Thương nghiệp
huyện Đông Anh, Hà Nội.
TT An Lão
162
NHÓM 9: TÊN CÁC DANH TỪ CHUNG CÓ Ý NGHĨA TIÊU BIỂU, ĐỊA DANH NỔI TIẾNG,
SỰ KIỆN LỊCH SỬ, PHONG TRÀO CÁCH MẠNG, DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA
STT
TÊN
Ý NGHĨA LỊCH SỬ
ĐÃ ĐẶT TÊN
ĐƯỜNG, CTCC
1
Âu Lạc
Quốc hiệu nước ta, Nhà nước thứ hai kế tiếp sau thời kỳ nhà nước Văn Lang của các vua
Hùng
. Kinh đô của Âu Lạc đặt tại Cổ Loa, ngày nay thuộc huyện Đông Anh - Hà Nội. Sau khi
đánh bại vua Hùng thứ 18 của Văn Lang, Thục Phán sát nhập lãnh thổ của Văn Lang và lãnh
thổ của bộ tộc
Âu Việt, hình thành nên một nhà nước mới là Âu Lạc (kết hợp giữa người Âu
Việt và người
Lạc Việt). Lãnh thổ Âu Lạc gồm lãnh thổ cũ của bộ tộc Âu Việt ở phía bắc, mà
ngày nay là một phần phía nam tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc) và lãnh thổ của Văn Lang ở
miền bắc Việt Nam. Âu Lạc có ranh giới phía bắc là sông Tả Giang (Quảng Tây) đến phía nam
là dãy núi
Hoành Sơn ở Hà Tĩnh hiện nay.
TP.HCM, Hoài
Nhơn
2
Ba Đình
Địa danh, lịch sử và thắng cảnh ở tỉnh Thanh Hoá và Hà Nội. Tên gọi chung ba thôn
Mậu Thịnh, Thượng Thọ và Mỹ Khê, trước cùng một xã chung nhau một ngôi đình ở Mỹ Khê.
Tại đây, năm 1886 - 1887 nghĩa quân Cần vương Phạm Bành, Đinh Công Tráng đóng căn cứ
hoạt động chống Pháp. Danh từ này được Hồ Chủ tịch chọn để đặt tên cho quảng trường tại
Thủ đô Hà Nội sau khi đọc Tuyên ngôn khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ngày
2.9.1945.
Hà Nội, TP.HCM,
Đà Nẵng, Hoài Nhơn
3
Bạch Đằng
Tên một con sông đổ ra cửa biển thuộc huyện Thuỷ Nguyên, tỉnh Quảng Ninh. Từ Hải
Phòng đi Quảng Ninh phải qua sông Bạch Đằng bằng chuyến phà Rừng (sông Bạch Đằng còn
có tên sông Rừng). Nơi đây ghi nhiều chiến công oanh liệt chống ngoại xâm của dân tộc ta.
Năm 938 Ngô Quyền cho đóng cọc nhọn xuống lòng sông, công phá đại quân Nam Hán. Năm
981, Lê Hoàn đánh thắng quân nhà Tống. Vào năm 1288, Trần Hưng Đạo đập tan đại thuỷ
quân Nguyên Mông do Ô Mã Nhi chỉ huy cũng trên dòng sông Bạch Đằng lịch sử này…
TP.HCM, Đà Nẵng,
Quy Nhơn, Hoài
Nhơn
4
Bắc Sơn
Sự kiện lịch sử, tên gọi cuộc khởi nghĩa diễn ra vào đêm 27/9/1940 ở châu lỵ Bắc Sơn, tỉnh
Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ Bắc Sơn, quần chúng nổi dậy cướp chính quyền, tấn công các
đồn bốt và các đơn vị lính Pháp cướp vũ khí, xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng. Cuộc
khởi nghĩa tuy bị thực dân Pháp đàn áp nhưng đã để lại những bài học quý báu về khởi nghĩa
vũ trang, xây dựng chính quyền, đặt nền móng cho việc xây dựng căn cứ địa cách mạng với
những lực lượng vũ trang đầu tiên mà sau này phát triển thành Việt Nam Cứu quốc quân. Khởi
nghĩa Bắc Sơn báo hiệu thời kỳ đấu tranh vũ trang của cách mạng Việt Nam.
Hà Nội, Đà Nẵng
5
Bình Hà
Tên viết tắt của hai tỉnh Bình Định và Hà Tĩnh. Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ gian
Quy Nhơn
163
khổ, ác liệt, thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng và Bác Hồ kính yêu, đầu năm 1960,
hai tỉnh Bình Định và Hà Tĩnh đã kết nghĩa anh em, kề vai sát cánh, sẻ chia khó khăn, gian
khổ cùng với quân và dân cả nước quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, giải phóng miền
Nam, thống nhất nước nhà. Từ đó đến nay, mối quan hệ thủy chung son sắt, gắn bó máu thịt
giữa Hà Tĩnh - Bình Định được vun đắp bằng xương máu, bằng nghĩa tình sâu nặng, ngày
càng thắm thiết, mặn mà. Tiếp nối truyền thống của các thế hệ cha anh đi trước, Bình - Hà
cùng giúp nhau đi lên từ chiến tranh, cả trong thời bình và trong sự nghiệp đổi mới hôm nay,
chính quyền và nhân dân hai tỉnh tăng cường, đẩy mạnh hợp tác trên các lĩnh vực kinh tế - xã
hội để cùng phát triển nhanh, bền vững. Nhiều công trình mang dấu ấn văn hóa truyền thống
giữa hai tỉnh được hình thành, tạo nên những nghĩa cử nặng ân tình, đoàn kết, thủy chung,
cùng nhau xây dựng quê hương ngày càng giàu mạnh.
6
Bình Khê
Địa danh và di tích lịch sử, Bình Khê là tên huyện được thành lập dưới triều Nguyễn (năm
1888) gồm 4 tổng: Vĩnh Thạnh, Phú Phong, Thuận Truyền và Trường Định (nay là huyện Tây
Sơn và Vĩnh Thạnh). Năm 1909, cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc (thân sinh Chủ tịch Hồ Chí
Minh) được bổ nhiệm giữ chức Tri huyện (1909 - 1910). Với cốt cách của một nhà nho yêu
nước, trong thời gian làm Tri huyện Bình Khê, ông luôn giữ nếp sống giản dị, không màng
danh lợi, thường giao du với các nhà nho yêu nước, bảo vệ người nghèo, giúp đỡ người yêu
nước, trừng trị nghiêm khắc bọn cường hào ức hiếp dân lành, ông được nhân dân kính yêu, trí
thức trọng vọng. Nguyễn Tất Thành đã đến Huyện đường Bình Khê (nay thuộc xã Tây Giang,
huyện Tây Sơn) thăm cha và ở lại một thời gian. Tấm gương sáng của cụ Phó bảng đã ảnh
hưởng sâu sắc đến tư tưởng, tình cảm, cuộc đời hoạt động cách mạng của anh. Đây là một
trong những địa điểm đã diễn ra cuộc gặp gỡ cha - con đầy trăn trở vận nước, thôi thúc người
thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước. Di tích Huyện
đường Bình Khê được Bộ VHTTDL xếp hạng di tích quốc gia tại Quyết định số 616/QĐ-
BVHTTDL ngày 05/3/2018.
TT Phú Phong
7
Cách mạng Tháng
Tám
Mốc sự kiện lịch sử, đánh dấu cuộc khởi nghĩa giành chính quyền cách mạng thắng lợi trên
toàn quốc năm 1945, đánh đổ chế độ thực dân, phong kiến, giải phóng dân tộc Việt Nam.
TP.HCM, Đà Nẵng,
Hoài Nhơn
8
Cần Vương
Là một phong trào yêu nước kháng Pháp nổ ra vào cuối thế kỉ XIX, do đại thần nhà
Nguyễn, Tôn Thất Thuyết nhân danh vua Hàm Nghi đề xướng trước nạn xâm lược của thực dân
Pháp.
Quy Nhơn, Tuy Hoà,
TX. An Nhơn
9
Cây số 7 Tài Lương
Di tích lịch sử, thuộc khu phố Tài Lương 3, phường Hoài Thanh Tây, thị xã Hoài Nhơn. Nơi
diễn ra sự kiện biểu tình ủng hộ phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh vào ngày 22 - 23/7/1931, là
cuộc đấu tranh của lực lượng quần chúng đầu tiên trên địa bàn huyện Hoài Nhơn, do Xứ ủy
Trung kỳ, Tỉnh ủy Bình Định, mà trực tiếp là Đảng bộ huyện Hoài Nhơn lãnh đạo. Lực lượng
Hoài Nhơn
164
3000 đảng viên và nhân dân trong huyện xuống đường đấu tranh đòi nhà cầm quyền Pháp
chấm dứt khủng bố trắng, không đàn áp phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh và Quảng Ngãi, đòi
quyền tự do, dân chủ, dân sinh, độc lập dân tộc đã làm rung chuyển toàn bộ hệ thống chính
quyền của thực dân phong kiến trên địa bàn huyện. Cuộc biểu tình là sự kiện lịch sử lớn không
chỉ của tỉnh Bình Định mà còn của miền Trung Việt Nam lúc bấy giờ, khẳng định sự lớn mạnh
của tổ chức Đảng cũng như vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong cao trào cách
mạng 1930 -1931, làm tiền đề cho cao trào dân tộc dân chủ 1936 - 1939, tiến đến tổng khởi
nghĩa cách mạng Tháng Tám 1945 giành thắng lợi. Di tích Cây số 7 Tài Lương được Bộ
VHTTDL xếp hạng di tích Quốc gia ngày 26/01/2011.
10
Chi Lăng
Tên gọi của ải Chi Lăng, một thung lũng hình bầu dục có núi đá cao kẹp chặt hai bên, với
đoạn đường độc đạo qua ải, cách biên giới Việt –Trung chừng 60km về phía nam, nay thuộc
huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn. Ải Chi Lăng là một trận địa kiểu thiên la địa võng phòng thủ
dễ, tấn công khó. Nơi đây, từng ghi dấu biết bao trận đánh oanh liệt trong lịch sử chống ngoại
xâm của dân tộc ta, đập tan các cuộc xâm lăng của phong kiến phương Bắc. Tiêu biểu là trận
đánh vào năm Bính Thìn (1076), Lý Thường Kiệt đập tan 30 vạn quân Tống; và trận năm Đinh
Mùi (1427), Lê Lợi đại phá quân Minh tiêu diệt 10 vạn quân giặc, tướng Liễu Thăng bị chém
đầu ngay tại trận.
Huế, Đà Nẵng, Vũng
Tàu
11
Chiến Thắng
Chiến thắng ngày 31 tháng 3 năm 1975 là sự kiện lịch sử, ngày giải phóng hoàn toàn thị xã
Quy Nhơn và tỉnh Bình Định trong chiến dịch Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975.
Thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương Đảng, mở cuộc quyết
chiến chiến lược giải phóng hoàn toàn miền Nam. Từ đầu tháng 3 năm 1975, quân và dân Bình
Định đã phối hợp với bộ đội Sư đoàn 3 dồn dập tấn công, nổi dậy tiêu diệt và làm tan rã phần
lớn quân ngụy, phá rã bộ máy ngụy quyền, giải phóng và giành quyền làm chủ liên hoàn từng
mảng lớn từ Bắc vào Nam tỉnh. Ngày 24/3/1975, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ra mệnh lệnh tổng
tiến công, tổng khởi nghĩa giải phóng toàn tỉnh. Từ ngày 26/3 đến trưa ngày 31/3/1975, quân
và dân toàn tỉnh đồng loạt tiến công và nổi dậy, lần lượt giải phóng hoàn toàn các huyện, dồn
tàn quân địch chạy về thị xã Quy Nhơn và khu vực bãi biển Quy Nhơn trong thế tuyệt vọng.
Đến 20 giờ ngày 31/3/1975, cờ giải phóng tung bay trên tiền sảnh Tòa Hành chính ngụy quyền
tỉnh, đánh dấu mốc son chói lọi, ngày toàn thắng của Đảng bộ, nhân dân và các lực lượng vũ
trang Bình Định. Khu vực bãi biển Quy Nhơn là nơi ghi dấu ấn thắng lợi vẻ vang của quân dân
Bình Định trong cuộc kháng chiến trường kỳ, góp phần cùng cả nước hoàn thành thắng lợi
cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Đặt tên Quảng
trường tại TP Quy
Nhơn
12
Chương Dương
Tên gọi một bến bãi ở bên phải sông Hồng thuộc xã Chương Dương, huyện Thường Tín,
tỉnh Hà Tây, nay là Hà Nội. Tên đất có từ thời nhà Ngô lập quốc. Là nơi Bình Vương Dương
Tam Kha bị Tấn Vương Ngô Xương Văn đày tới ở và hạ tước xuống làm Chương Dương
TP.HCM, Đà Nẵng,
Quy Nhơn
165
Công. Cũng chính nơi đây từng ghi nhiều chiến công chống ngoại xâm của cha ông ta ngày
trước, đặc biệt nhất là triều Trần đánh thắng đại thuỷ quân Nguyên Mông vào tháng 6/1285,
khiến Thoát Hoan phải tháo chạy. Địa danh Chương Dương được nhiều thị xã, thành phố trong
nước lấy đặt tên đường phố.
13
Cổ Loa
Kinh đô của nhà nước phong kiến Âu Lạc, dưới thời An Dương Vương vào khoảng thế kỷ
thứ 3
trước Công nguyên và thời Ngô Quyền thế kỷ 10 sau Công nguyên. Hiện nay, Cổ Loa
thuộc xã
Cổ Loa, huyện Đông Anh, Hà Nội.
Hà Nội, Đà Lạt
14
Cửu Lợi
Địa danh và tên gọi một trong những Chi bộ Đảng đầu tiên của tỉnh Bình Định; địa điểm
Nhà lưu niệm Chi bộ Cửu Lợi được UBND tỉnh xếp hạng di tích cấp tỉnh ngày 10/8/1996.
Hoài Nhơn
15
Diên Hồng
Là tên điện và tên gọi hội nghị được tổ chức trước thềm điện Diên Hồng vào năm 1284 do
Thượng hoàng
Trần Thánh Tông triệu họp các phụ lão trong cả nước để trưng cầu dân ý, hỏi
về chủ trương hòa hay chiến khi quân
Nguyên Mông sang xâm lược nước ta lần thứ 2. Hội
nghị Diên Hồng được xem như hội nghị
dân chủ đầu tiên trong lịch sử nước ta. Các phụ lão có
thể coi là những đại biểu của dân, là những người truyền đạt lại chủ trương của triều đình đến
nhân dân.
TP.HCM, Quy
Nhơn, Hoài Nhơn
16
Đại Cồ Việt
Quốc hiệu Việt Nam dưới thời nhà Đinh, nhà Tiền Lê và nhà Lý. Quốc hiệu Đại Cồ Việt
do vua
Đinh Tiên Hoàng đặt năm 968, được dùng trong 8 đời vua của 3 triều Đinh, Tiền Lê,
Lý, với quãng thời gian dài 86 năm (từ 968 - 1054). Đến năm Giáp Ngọ, niên hiệu Sùng Hưng
Đại Bảo thứ 6 (1054), vua Lý Thánh Tông mới đặt lại quốc hiệu là
Đại Việt. Ý nghĩa quốc
hiệu Đại Cồ Việt: "Đại" theo nghĩa chữ Hán là lớn, "Cồ" trong tiếng Việt cổ cũng là lớn. Đinh
Tiên Hoàng muốn ghép 2 chữ cả Hán và Việt để khẳng định nước Việt là nước lớn, dù đọc
theo ngôn ngữ nào.
Hà Nội
17
Đại La
Tên gọi trước đây của Hà Nội trong hai thế kỷ VIII và thế kỷ IX, còn có các tên gọi khác là
Đại La thành, Thành Đại La, La Thành). Thành Đại La ban đầu do
Trương Bá Nghi cho đắp
từ năm
Đại Lịch thứ 2 đời Đường Đại Tông (767), đến năm Trinh Nguyên thứ 7 đời Đường
Đức Tông
(791), Triệu Xương đắp thêm. Đến năm Nguyên Hòa thứ 3 đời Đường Hiến Tông
(808),
Trương Chu lại sửa đắp lại, năm Trường Khánh thứ 4 đời Đường Mục Tông (824), Lý
Nguyên Gia
dời phủ trị tới bên sông Tô Lịch, đắp một cái thành nhỏ, gọi là La Thành, sau đó
Cao Biền cho đắp lại to lớn hơn.
Hà Nội, Hoài Nhơn
18
Đại Việt
Quốc hiệu của nước Việt Nam tồn tại từ năm 1054 đến năm 1804. Tên gọi này chính thức
có từ thời trị vì của vua
Lý Thánh Tông (1054-1072), vua thứ 3 của nhà Lý. Năm 1400, sau
khi thay thế
nhà Trần, Hồ Quý Ly, người sáng lập nhà Hồ đã đổi quốc hiệu thành Đại Ngu
.Năm 1407,
nhà Minh xâm lược Đại Ngu và cai trị cho đến năm 1427. Năm 1428, sau khi
giành độc lập,
Lê Lợi đã lấy lại tên Đại Việt đặt làm quốc hiệu. Quốc hiệu Đại Việt tồn tại
tổng cộng trong thời gian 723 năm, bắt đầu từ thời vua Lý Thánh Tông đến thời vua Gia Long
Hoài Nhơn
166
(1054 - 1804), tên gọi Đại Việt được dùng làm quốc hiệu trong thời kỳ cai trị của các chính
quyền
nhà Lý, nhà Trần, nhà Hậu Lê, nhà Mạc, Đàng Ngoài, Đàng Trong, nhà Tây Sơn và 3
năm đầu thời
nhà Nguyễn (1802 - 1804). Trong quá trình này tên gọi chính thức Đại Việt bị
gián đoạn một lần ngắn ngủi 27 năm vào thời nhà Hồ và thời
thuộc Minh (1400 - 1427). Năm
1804, vua
Gia Long đổi tên nước thành Việt Nam, quốc hiệu Đại Việt chấm dứt hoàn toàn.
19
Đèo Nhông - Dương
Liễu
Di tích lịch sử, thuộc xã Mỹ Phong, huyện Phù Mỹ. Đêm ngày 6 rạng sáng ngày 7/2/1965,
bộ đội địa phương và quân chủ lực mở cuộc tập kích vào chốt điểm Dương Liễu (xã Mỹ Lợi)
tiêu diệt 1 đại đội bảo an và 3 trung đội dân vệ trấn giữ. Ngày 8/2/1965, địch đem quân ra cứu
viện, lọt vào trận địa mai phục của bộ đội ta tại Đèo Nhông (nằm trên trục đường quốc lộ 1 A,
đoạn qua địa phận xã Mỹ Phong và Mỹ Trinh, huyện Phù Mỹ). Với tinh thần chiến đấu ngoan
cường và anh dũng, quân ta đã tiêu diệt hoàn toàn lực lượng ứng cứu của địch, xóa sổ 2 tiểu
đoàn bộ binh và 1 chi đoàn xe bọc thép, thu nhiều vũ khí và khí tài. Chiến thắng Đèo Nhông -
Dương Liễu vang dội đã đánh dấu bước trưởng thành của lực lượng vũ trang Quân khu và bộ
đội địa phương Bình Định, góp phần đánh bại chiến thuật trực thăng vận và thiết xa vận của
địch trong chiến lược chiến tranh đặc biệt, ghi vào lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước
một trang sử vàng chói lọi. Bộ Văn hóa xếp hạng di tích quốc gia tại Quyết định số 2015-
QĐ/BT ngày 16/12/1993.
TT Phù Mỹ, Quy
Nhơn
20
Điện Biên Phủ
Tên một đơn vị hành chính cấp phủ và cũng là tên một địa danh được thành lập từ năm
1841, thuộc tỉnh Hưng Hoá (nay là TP Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên). Đây là nơi thực dân
Pháp chọn đặt sở chỉ huy tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương, đồng thời là bãi chiến
trường chôn vùi sức mạnh chủ nghĩa thực dân Pháp tại Việt Nam. Chiến thắng Điện Biên Phủ
ngày 7.5.1954, đánh bại 11.000 quân Pháp và tay sai, bắt sống tướng chỉ huy De Castries làm
chấn động địa cầu, đưa dân tộc ta lên một tầm cao mới trên trường quốc tế.
Huế, Nha Trang, Hải
Phòng, TP.HCM,
Quy Nhơn, Hoài
Nhơn
21
Độc Lập
Danh từ chung chỉ tình trạng tự chủ, tự quyết của một đất nước, một quốc gia, một cá nhân
không phụ thuộc, hoặc bị điều khiển, cai trị bởi một thế lực khác.
Hà Nội, TP.HCM,
Nha Trang
22
Đồi Mười
Địa danh và Di tích lịch sử, trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Đồi 10 nằm ở xã Hoài
Châu Bắc, thị xã Hoài Nhơn, là chốt điểm có vị trí chiến lược quan trọng. Suốt 10 năm từ 1965
- 1975, nơi đây liên tục là điểm nóng, điểm tranh chấp một mất một còn giữa ta và địch, nơi
diễn ra nhiều trận đánh ác liệt ghi nhận những chiến công vang dội của quân và dân ta. Tiêu
biểu là ngày 7/2/1965, bộ đội chủ lực Quân khu V phối hợp với bộ đội địa phương tập kích cứ
điểm Đồi 10, tiêu diệt 1 đại đội bảo an, 4 trung đội dân vệ, toàn bộ ngụy quyền ác ôn 02 xã
Hoài Sơn, Hoài Châu, thu toàn bộ vũ khí và trang bị quân sự, tạo điều kiện cho nhân dân phía
bắc huyện Hoài Nhơn đồng loạt nổi dậy phá ấp chiến lược, bao vây bức rút hàng loạt chốt
địch. Nơi đây cũng là mồ chôn hàng ngàn lính Mỹ ngụy, đủ các loại binh chủng, đồng thời ghi
nhận biết bao gương chiến sĩ, đồng bào đã anh dũng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của
Quy Nhơn
167
đất nước, tô thắm truyền thống cách mạng kiên cường của quê hương. Bộ Văn hóa - Thông tin
xếp hạng di tích quốc gia tại Quyết định số 44/QĐ-BVHTT ngày 31/3/2006.
23
Đống Đa
Địa danh và Di tích lịch sử, tên một gò đất nằm bên phố Tây Sơn, phường Quang Trung,
quận Đống Đa, thành phố Hà Nội, ghi đậm chiến công của nhà Tây Sơn, anh hùng dân tộc
Quang Trung - Nguyễn Huệ đánh tan 29 vạn quân Thanh xâm lược giải phóng kinh thành
Thăng Long năm 1789. Tại đây có cái gò cao, tương truyền là ngôi mộ chung của hàng ngàn
binh lính tử trận. Bên cạnh gò có tượng đài vua Quang Trung trong tư thế oai phong lẫm liệt.
Hàng năm, vào ngày mùng 5 Tết, dân hai làng Khương Thượng và Đông Quan (địa điểm trại
giặc đóng quân xưa) tổ chức lễ hội long trọng kỷ niệm chiến thắng Đống Đa, Đống Đa cũng là
tên một quận của Thủ đô Hà Nội.
Huế, Đà Nẵng,
TP.HCM, Quy Nhơn
24
Đồng Khởi
Là phong trào cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân khắp miền Nam đồng loạt
nổi dậy chống lại chính quyền Mỹ - Diệm từ cuối năm
1959, đỉnh cao là năm 1960. Quần
chúng nhân dân đã giành quyền làm chủ từng mảng lớn ở nông thôn đồng bằng và miền núi.
TP.HCM, Biên Hoà,
Hoài Nhơn
25
Đông Kinh Nghĩa
Thục
Tên ngôi trường lập ra từ tháng 3 năm 1907 và chấm dứt vào tháng 11 năm 1907, cũng là
tên phong trào nhằm thực hiện cải cách xã hội vào đầu
thế kỷ XX do các chí sĩ yêu nước: Phan
Bội Châu, Phan Chu Trinh, Lương Văn Can và
Tăng Bạt Hổ khởi xướng. Đông Kinh là tên
trường, Nghĩa Thục là trường làm việc nghĩa. Lương Văn Can được cử làm Thục trưởng (Hiệu
trưởng). Nguyễn Quyền làm học giám. Mục đích của phong trào là: khai trí cho dân, phương
tiện được hoạch định: mở những lớp dạy học không lấy tiền và tổ chức những cuộc diễn thuyết
để trao đổi tư tưởng cùng cổ động trong dân chúng.
Đà Nẵng,
Hà Nội đặt tên cho
quảng trường
26
Đông Sơn
Nền văn hóa cổ từng tồn tại ở các tỉnh Bắc bộ và Bắc Trung bộ Việt Nam (Phú Thọ, Yên
Bái
, Hòa Bình, Hà Nội, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh mà trung tâm là khu vực
Đền Hùng), và ba con sông lớn của đồng bằng Bắc Bộ (sông Hồng, sông Mã và sông Lam)
vào
thời kỳ đồ đồng và thời kỳ đồ sắt sớm. Nền văn hóa này được đặt tên theo địa phương nơi
các dấu tích đầu tiên của nó được phát hiện, gần
sông Mã, Thanh Hóa. Nhiều dấu tích đặc
trưng cho văn hóa Đông Sơn cũng được tìm thấy ở một số vùng lân cận Việt Nam như ở
Vân
Nam
, Quảng Tây, Hải Nam của Trung Quốc, ở Lào hay ở Thái Lan...
TP.HCM
27
Đức Thọ
Tên một huyện thuộc tỉnh Hà Tĩnh, là địa phương kết nghĩa với thị xã Hoài Nhơn trong thời
kỳ kháng chiến chống Mỹ.
Hoài Nhơn
28
Giải Phóng
Danh từ chung chỉ sự giải thoát, thoát khỏi tình trạng bị kiềm kẹp, thống trị của một chế độ,
một thế lực khác.
Hà Nội, TP.HCM,
Hoài Nhơn
29
Giếng Truông
Địa danh văn hóa tiêu biểu thuộc phường Tam Quan Bắc, thị xã Hoài Nhơn
Hoài Nhơn
30
Hàm Tử
Địa danh lịch sử, tên một xã bên tả ngạn sông Hồng, gần bãi Màn Trù, thuộc huyện Khoái
Châu
, Hưng Yên. Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên của quân dân Đại Việt, vua
tôi nhà Trần mở cuộc phản công vào các cứ điểm quan trọng của quân Nguyên tại vùng Khoái
TP.HCM, Đà Nẵng,
Quy Nhơn
168
Châu, Hưng Yên. Tại cửa Hàm Tử, trận quyết chiến diễn ra vào cuối tháng 5/1285, 5 vạn quân
do Chiêu Văn Vương
Trần Nhật Duật chỉ huy đã nhanh chóng giành thắng lợi. Cùng với
các
trận Tây Kết, Chương Dương, Vạn Kiếp, chiến thắng Hàm Tử đã góp phần tiêu diệt và
quét sạch 50 vạn quân Nguyên ra khỏi bờ cõi, giải phóng hoàn toàn Đại Việt.
31
Hoa Lư
Địa danh lịch sử, thuộc tỉnh Ninh Bình, là kinh đô, trung tâm chính trị, văn hoá, kinh tế của
đất nước dưới các triều đại Đinh, Tiền Lê và
Lý từ năm 968 - 1010.
Hà Nội, Đà Nẵng,
Quy Nhơn
32
Hòa Bình
Danh từ chung và địa danh. Là tên gọi địa danh quen thuộc của người dân trên địa bàn khu
phố Cự Lễ, phường Hoài Hảo, thị xã Hoài Nhơn, gắn liền với tiềm thức của người dân nơi
đây.
Hoài Nhơn
33
Hoàng Sa
Tên một quần đảo lớn thuộc lãnh thổ Việt Nam, là huyện đảo thuộc TP Đà Nẵng. Gồm hơn
20 hòn đảo san hô lớn nhỏ, trải trên một vùng biển khoảng 15 nghìn km
2
, cách Cù Lao Ré
200km, cách đảo Hải Nam 230 km. Thời chúa Nguyễn, Hoàng Sa thuộc huyện Bình Sơn, phủ
Tư Nghĩa, xứ Quảng Nam. Ngày 30/3/1938, dụ của vua Bảo Đại sát nhập vào tỉnh Thừa Thiên.
Sau cách mạng Tháng Tám năm 1945, do chính quyền miền Nam quản lý. Ngày 19/1/1974 bị
Trung Quốc đánh chiếm cho tới nay. Ngày 9/12/1982, Chính phủ Việt Nam thành lập huyện
Hoàng Sa thuộc Quảng Nam - Đà Nẵng. Từ tháng 11/1996, thuộc thành phố Đà Nẵng.
TP.HCM, Đà Nẵng,
Hoài Nhơn, TT Cát
Tiến
34
Hòn Chè
Địa danh và di tích lịch sử, thuộc xã Cát Sơn, huyện Phù Cát. Là căn cứ địa cách mạng của
tỉnh Bình Định từ năm 1964 - 1975, nơi Tỉnh ủy cùng với lãnh đạo Khu ủy và Quân khu V họp
đưa ra những chủ trương, quyết sách kịp thời chỉ đạo phong trào cách mạng trong tỉnh, là địa
điểm huấn luyện, đào tạo trưởng thành nhiều cán bộ, chiến sĩ. Đây cũng là nơi diễn ra nhiều
trận đánh ác liệt của lực lượng vũ trang ta đánh bại các cuộc hành quân càn quét của quân Mỹ,
ngụy và Nam Triều Tiên, bảo vệ an toàn khu căn cứ. Khu căn cứ cách mạng Hòn Chè là nơi
ghi dấu ấn về cuộc sống, chiến đấu, hy sinh, gian khổ nhưng anh dũng, hào hùng của các thế
hệ cha anh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước; mãi mãi là một trong những
biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng trên quê hương Bình Định. UBND tỉnh xếp
hạng di tích cấp tỉnh tại Quyết định số 334/QĐ-UB ngày 20/5/2005.
TT Ngô Mây
35
Hội Sơn
Sự kiện và di tích lịch sử, thuộc xã Cát Sơn, huyện Phù Cát. Đây là khu căn cứ cách mạng
của tỉnh Bình Định, huyện Phù Cát và các đơn vị lực lượng vũ trang trong kháng chiến chống
Mỹ. Từ ngày 10 - 15/10/1965, Mỹ - ngụy mở cuộc hành quân mang tên “Lưỡi lê sáng ngời”
với hơn 6.000 quân Mỹ thuộc Sư đoàn kỵ binh bay, 170 máy bay cùng với 6 tiểu đoàn ngụy đổ
bộ vào thung lũng Hội Sơn (thuộc xã Cát Sơn) hòng tiêu diệt lực lượng cách mạng tại đây. Bộ
đội tỉnh, huyện và du kích xã Cát Sơn, Cát Hiệp cùng với một Tiểu đoàn của Sư đoàn 3 Sao
Vàng chặn đánh địch quyết liệt. Sau 5 ngày chiến đấu ta tiêu diệt 433 tên, bắn rơi 17 máy bay
và phá hỏng 23 chiếc khác, bảo vệ an toàn khu căn cứ cách mạng. Chiến thắng Hội Sơn đã
khẳng định, với thế trận chiến tranh nhân dân, lực lượng vũ trang ta có khả năng đánh Mỹ và
TT Ngô Mây
169
thắng Mỹ, mặc dù chúng chiếm ưu thế về mặt quân số và hỏa lực. UBND tỉnh xếp hạng di tích
cấp tỉnh tại Quyết định số 710/QĐ-UBND ngày 07/3/2019.
36
Hồng Lĩnh
Tên một dãy núi nổi tiếng ở Hà Tĩnh. Cùng với sông Lam, núi Hồng Lĩnh được xem là biểu
tượng hồn thiêng sông núi của xứ Nghệ với bề dày về các di sản văn hoá- lịch sử. Ở Bình
Định, tên Hồng Lĩnh được đặt làm tên tổ chức Đảng cơ sở thuộc hai Đảng bộ huyện An Nhơn
và Tây Sơn nhằm kỷ niệm phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh 1930 - 1931. Chi bộ Hồng Lĩnh
được thành lập ngày 20/10/1936 tại Hòn Chùa (thôn Đại An, xã Nhơn Mỹ, thị xã An Nhơn
ngày nay), là lực lượng nòng cốt của Đảng bộ Bình Định thời bấy giờ.
TP.HCM, Nha
Trang, TX. An Nhơn
37
Khoa Học
Danh từ chung chỉ hệ thống tri thức tích lũy trong quá trình lịch sử, giúp con người khám
phá thế giới hiện thực. Đại lộ Khoa học (Science Avenue) là tên của tuyến đường chính dẫn từ
quốc lộ 1D vào Khu Đô thị Khoa học và giáo dục Quy Hòa thuộc khu vực 2, phường Ghềnh
Ráng, TP Quy Nhơn, tại đây có Trung tâm Hội nghị Quốc tế Khoa học và Giáo dục liên ngành
ICISE, Tổ hợp Không gian khoa học. Đại lộ Khoa học mang ý nghĩa là biểu tượng tinh thần,
mở ra con đường cho sự phát triển khoa học mãi mãi không chỉ của Bình Định mà còn cả Việt
Nam và thế giới.
TP Quy Nhơn đặt tên
Đại lộ Khoa học
38
Lam Sơn
Điạ danh lịch sử chống quân Minh xâm lược, Lam Sơn là vùng núi thuộc huyện Lương
Giang, phủ Thanh Hoá, nay thuộc huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá. Đây là nơi Lê Lợi qui tụ
nhân tài hào kiệt chống lại bọn phong kiến đô hộ. Sau 10 năm trời chiến đấu gian khổ, ông
mới đánh thắng giặc Minh, giải phóng đất nước. Khi lên ngôi vua, Lê Thái Tổ đặt kinh đô tại
Thăng Long. Lam Sơn được gọi là Lam Kinh, nơi có mồ mả tổ tiên các vua Lê.
TP.HCM, Hải Phòng
39
Mậu Thân
Mốc sự kiện lịch sử, Tết Mậu Thân năm 1968 đã diễn ra cuộc tổng tiến công và vận động
quần chúng nổi dậy giành chính quyền. Chiến dịch diễn ra trên hầu hết các đô thị tại miền
Nam, đánh vào những khu vực trọng yếu của quân đội Mỹ - ngụy. Đây là một trong những
chiến dịch quân sự lớn nhất, là thắng lợi chiến lược mang tính bước ngoặt trong cuộc kháng
chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta.
Tuy Hòa, Rạch Giá
40
Mê Linh
Địa danh lịch sử chống ngoại xâm. Mê Linh nguyên là tên một huyện thuộc kinh đô
Phong Châu, quê hương của Hai Bà Trưng. Khi đánh đuổi được Tô Định, Hai Bà lên ngôi,
đóng đô tại Mê Linh. Khúc sông Hồng chảy từ Việt Trì đến Hà Nội qua đây cũng được gọi là
Mê Linh.
Nha Trang, Hải
Phòng, Đà Lạt
41
Ngọc Hồi
Địa danh, di tich lịch sử chiến thắng Ngọc Hồi là địa danh ghi lại những chiến thắng vang
dội của vua Quang Trung và nghĩa quân nhà Tây Sơn trong trận đánh quân xâm lược nhà
Thanh do Tổng đốc Lưỡng Quảng (Quảng Đông, Quảng Tây) Tôn Sĩ Nghị chỉ huy diễn ra tại
đồn Ngọc Hồi, xã Ngọc Hồi, huyện Thanh Trì vào năm 1789, góp phần làm lên chiến thắng
lịch sử vang dội Ngọc Hồi - Đống Đa của quân dân nước Việt, góp phần làm phong phú học
thuyết quân sự Việt Nam trong suốt quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc. Lễ
Hà Nội, Tuyên
Quang, Đà Nẵng,
Nha Trang, Quy
Nhơn, TT Phú Phong
170
hội kỷ niệm chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa được tổ chức long trọng vào mùng 5 Tết hàng
năm tại Gò Đống Đa (Hà Nội) và huyên Tây Sơn (Bình Định) nhằm tôn vinh người anh hùng
áo vải Quang Trung đã lập chiến công hiển hách đánh tan 29 vạn quân Thanh xâm lược.
42
Núi Bà
Địa danh và Di tích lịch sử, trong kháng chiến chống Mỹ, Núi Bà (thuộc huyện Phù Cát)
giữ vị trí chiến lược quan trọng, đặc biệt đối với địa bàn khu Đông. Nơi đây từng là căn cứ
hoạt động của Tỉnh ủy, các cơ quan, đơn vị lực lượng vũ trang của tỉnh, Thị ủy Quy Nhơn, các
Huyện ủy An Nhơn, Tuy Phước, Phù Cát. Từ căn cứ này, Tỉnh ủy đã chỉ đạo kháng chiến, mở
nhiều lớp huấn luyện, đào tạo lực lượng vũ trang và cán bộ cơ sở cách mạng; nơi đây cũng là
bàn đạp mở nhiều đợt tiến công, nổi dậy trong chiến dịch “Đồng khởi khu Đông” (1964),
chiến dịch xuân Mậu Thân (1968) và cuộc tổng tiến công, nổi dậy mùa xuân năm 1975, giải
phóng thị xã Quy Nhơn và tỉnh Bình Định. Núi Bà là biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng cách
mạng trên quê hương Bình Định, nơi ghi dấu ấn về cuộc sống gian khổ, tinh thần chiến đấu
kiên cường và những chiến công hào hùng của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ, nhân dân Bình Định
trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Bộ VHTT xếp hạng di tích
quốc gia tại Quyết định số 152-QĐ/BT ngày 25/01/1994.
Quy Nhơn, TT Ngô
Mây
43
Phong Châu
Kinh đô của nhà nước Văn Lang. Do ra đời cách đây hơn 2000 năm, các cứ liệu lịch sử để
lại rất ít cho nên tới nay, người ta vẫn chưa xác định được chính xác vị trí đặt kinh thành.
Nhiều ý kiến cho rằng kinh đô thời này, nằm giữa khoảng từ thành phố
Việt Trì ngày nay cho
tới khu vực
Đền Hùng thuộc huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ. Những phát hiện khảo cổ tại
Làng Cả (phường Thọ Sơn,
thành phố Việt Trì) cuối năm 2005 cho thấy nhiều khả năng địa
điểm này xưa chính là kinh đô Phong Châu
Nha Trang
44
Phú Xuân
Điạ danh lịch sử ở Thừa Thiên Huế. Tên Phú Xuân nghĩa là sự dồi dào, giàu có, sức trẻ
dài lâu, là một làng thuộc huyện Kim Trà, vốn tên là Thuỵ Lôi, sau Nguyễn Phúc Thái dời phủ
chúa từ Kim Long về đây, đổi thành làng Phú Xuân, nay thuộc thành phố Huế, tỉnh Thừa
Thiên Huế. Thời chúa Nguyễn Phúc Khoát đóng đô ở đây gọi thành là Phú Xuân. Khi Nguyễn
Huệ Quang Trung lên ngôi gọi là Kinh đô Phú Xuân.
Đặt tên cầu ở Huế,
TP.HCM, Hoài
Nhơn
45
Phụng Sơn
Tên đơn vị hành chính xã Hoài Xuân, thị xã Hoài Nhơn, được thành lập từ năm 1945 đến
năm 1947, năm 1947 hai xã Phụng Sơn và Vạn Thắng nhập lại và đổi tên thành xã Hoài Xuân.
Hoài Nhơn
46
Rạch Gầm - Xoài
Mút
Địa danh lịch sử, nay thuộc Mỹ Tho, Tiền Giang, nơi ghi dấu chiến công nghĩa quân Tây
Sơn dưới sự chỉ huy của người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ đánh tan 5 vạn quân Xiêm năm
1875.
Bà Rịa
47
Sư đoàn 3
Sao Vàng
Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, thành lập ngày 2/9/1965 tại Dốc Bà Bơi, nay
là xã Bok Tới, huyện Hoài Ân. Đơn vị nòng cốt của lực lượng vũ trang Quân khu V trong
kháng chỉến chống Mỹ, đứng chân chính trên chiến trường Bình Định. Từ ngày thành lập đến
TT. Tăng Bạt Hổ,
Quy Nhơn
171
năm 1975, Sư đoàn đã đánh hơn 5.500 trận với quân Mỹ, quân Nam Triều Tiên và ngụy quân
Sài Gòn, loại khỏi vòng chiến đấu hàng chục vạn tên địch, giành được những thắng lợi to lớn
trong chiến dịch mùa khô 1966 - 1967, chiến dịch Mậu Thân 1968, chiến dịch Xuân Hè 1972,
chiến dịch Tây Nguyên và chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử 1975. Năm 1976, Sư đoàn được
điều ra làm nhiệm vụ ở miền Bắc, góp phần bảo vệ vững chắc biên giới phía Bắc của Tổ quốc.
48
Tây Sơn
Địa danh một vùng đất, tên phong trào khởi nghĩa nông dân vào thế kỷ XVIII, tên triều đại
phong kiến Việt Nam từ 1771 - 1802. Thủ lĩnh phong trào là ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn
Huệ, Nguyễn Lữ định cư ở ấp Tây Sơn (nay là huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định). Tên nơi xuất
phát đã trở thành tên phong trào, gọi là phong trào Tây Sơn. Sau đó Nguyễn Huệ, Nguyễn
Nhạc làm vua, sử nước ta gọi là triều đại Tây Sơn, hay nhà Tây Sơn. Di tích Đền thờ Tây Sơn
Tam kiệt tại thị trấn Phú Phong, huyện Tây Sơn được xếp hạng di tích lịch sử quốc gia đặc biệt
năm 2014.
Hà Nội, Quy Nhơn,
TT Phù Mỹ
49
Thanh Niên
Danh từ chung chỉ thể hệ tuổi trẻ, là lực lượng xung kích, nòng cốt của đất nước, luôn đi
đầu trong mọi hoạt động, góp phần đắc lực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Hà Nội, Quy Nhơn,
TX An Nhơn, TT
Phù Mỹ,
50
Thăng Long
Địa danh lịch sử, kinh đô của nước Đại Việt thời Lý, Trần, Lê, Mạc, Lê Trung hưng từ
1010 - 1788, nay là thủ đô Hà Nội.
Hà Nội, TP.HCM
51
Tháp Đôi
Di tích kiến trúc nghệ thuật Chăm pa, niên đại thế kỷ XII – XIII, còn có tên là Tháp Hưng
Thạnh, nay thuộc phường Đống Đa, thành phố Quy Nhơn.Bộ VH xếp hạng di tích quốc gia tại
Quyết định số 92-VHTT/QĐ ngày 10/7/1980.
Quy Nhơn
52
Thống Nhất
Danh từ chung chỉ sự hợp nhất thành một khối, một chỉnh thể hoàn chỉnh có chung một cơ
cấu tổ chức, một sự điều hành chung, có sự phù hợp, nhất trí với nhau, không mâu thuẩn.
TP.HCM, Hoài
Nhơn
53
Thuận Ninh
Di tích lịch sử, thuộc xã Bình Tân, huyện Tây Sơn. Ngày 18/9/1965, Sư đoàn Không vận
số 1 của Mỹ dùng 60 máy bay trực thăng đổ hơn 2.000 quân tập kích khu vực thung lũng
Thuận Ninh (thuộc xã Bình Tân, huyện Tây Sơn). Bộ đội Sư đoàn 3 Sao Vàng cùng với du
kích địa phương đã chiến đấu ngoan cường đẩy lùi các đợt tấn công của địch, diệt 200 tên, thu
8 súng, bắn rơi 11 máy bay. Chiến thắng Thuận Ninh là trận đánh đầu tiên của lực lượng vũ
trang ta đánh bại cuộc hành quân đổ bộ đường không của quân Mỹ trên chiến trường Bình
Định, tạo nên phong trào thi đua lập công “quyết chiến quyết thắng giặc Mỹ xâm lược”. Sau
trận Thuận Ninh, buộc Mỹ phải thú nhận: “Quân giải phóng và quân du kích ở thung lũng
Thuận Ninh đánh rất giỏi, được tổ chức tốt và có kỷ luật”. UBND tỉnh xếp hạng di tích lịch sử
tại Quyết định số 4290/QĐ-UB ngày 16/12/1998.
Quy Nhơn, TT Phú
Phong
54
Trường Sa
Tên một quần đảo lớn thuộc lãnh thổ Việt Nam, là huyện đảo thuộc tỉnh Khánh Hòa, cách vịnh
Cam Ranh khoảng 250 hải lý về phía đông. Quần đảo khoảng trên 100 đảo, đá và bãi cạn, cấu
TP.HCM, Đà Nẵng,
Hoài Nhơn, TT Cát
172
tạo bởi san hô và vụn san hô, nằm trên một diện tích biển kéo dài từ tây sang đông khoảng
800km và từ bắc xuống nam khoảng 600km, tổng diện tích các đảo khoảng 10 km. Đặc sản:
vích, chim, hải sản, cá heo. Theo Lê Quí Đôn trong “Phủ biên tạp lục”, năm 1776 nhà Nguyễn
đã đặt Đội Hoàng Sa và Trường Sa. Bản đồ Việt Nam nhà Nguyễn 1834 ghi tên quần đảo là
Vạn Lý Trường Sa. Ngày 14/4/1930, toàn quyền Đông Dương De Lattre điều khiển thông báo
hạm La Malicieuse ra Trường Sa cắm cờ và dựng bia chủ quyền. Ngày 21/2/1933, Thống đốc
Nam Kỳ J. Krautheimer kí Nghị định số 4762 sáp nhập quần đảo Trường Sa vào tỉnh Bà Rịa.
Thời gian sau đó, các đảo Trường Sa, Sơn Ca, Nam Yết, Song Tử Tây, Sinh Tồn, An Bang do
quân đội Sài Gòn đóng giữ. Ngày 9/12/1982, Trường Sa được sáp nhập vào tỉnh Phú Khánh.
Từ tháng 6/1989, là huyện của tỉnh Khánh Hòa.
Tiến
55
Trường Sơn
Tên dãy núi bắt đầu từ Hoà Bình chạy vào đến tỉnh Bình Phước làm ranh giới thiên nhiên
cho hai nước Lào và Việt Nam. Trường Sơn là kho vô tận về lâm sản của nước ta. Nó còn giúp
điều hoà khí hậu và môi trường sinh thái của vùng đồng bằng. Tên Trường Sơn ngày nay được
khắp thế giới nhắc đến, nhờ vào con đường chiến lược xẻ dọc Trường Sơn để miền Bắc chi
viện cho chiến trường miền Nam, đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ đến thắng lợi.
TP.HCM, Hoài
Nhơn
56
Vạn Thắng
Tên đơn vị hành chính của xã Hoài Xuân, thị xã Hoài Nhơn, được thành lập từ năm 1945 đến
năm 1947.
Hoài Nhơn
57
Vạn Xuân
Là quốc hiệu của nước ta trong thời kỳ độc lập dưới thời nhà Tiền Lý và Triệu Việt
Vương
. Tháng 2/544, sau khi đánh bại quân nhà Lương (Trung Quốc), Lý Bí xưng là Hoàng
đế và đặt tên nước là Vạn Xuân. Quốc hiệu này tồn tại từ năm 544 đến năm
602, khi nhà Tùy
đánh bại
Lý Phật Tử và đô hộ nước ta một lần nữa. ’’Vạn’’ tức là muời ngàn, ’’Xuân’’ tức là
mùa xuân, là mùa của lễ hội đầm ấm. Lý Nam Đế mong muốn đất nước trường tồn mãi mãi.
Huế, Hoài Nhơn
58
Văn Lang
Là nhà nước đầu tiên của Việt Nam trong lịch sử. Theo bộ sử ký Đại Việt sử ký toàn thư do
sử gia
Ngô Sĩ Liên viết ở thế kỷ XV chép rằng: Đế Minh sinh ra Lộc Tục, Lộc Tục sinh ra Lạc
Long Quân
. Kế tiếp Lạc Long Quân và vợ là Âu Cơ sinh được 100 người con trai, 50 người
theo mẹ lên núi cùng suy tôn người con cả lên làm vua, hiệu là
Hùng Vương, đặt tên nước là
Văn Lang, đóng đô ở
Bạch Hạc - Phú Thọ. Nước Văn Lang được hình thành vào khoảng năm
2879 TCN và kết thúc vào năm 258 TCN bởi An Dương Vương Thục Phán.
Hoài Nhơn
59
Việt Bắc
Địa danh, lịch sử và danh thắng, căn cứ cách mạng nằm về phía đông bắc Bắc Bộ. Từ
đầu năm 1947, là khu kháng chiến gồm 6 tỉnh: Cao Bằng, Hà Giang, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Thái
Nguyên, Tuyên Quang, có các dân tộc Tày, Nùng cư trú, thủ phủ là thành phố Thái Nguyên.
Nơi Chính phủ và Hồ Chủ tịch đóng đô để lãnh đạo cách mạng kháng chiến đến ngày thắng
lợi.
Thái Nguyên, Huế
60
Xô viết Nghệ Tĩnh
Tên gọi của cao trào cách mạng đấu tranh chống Pháp của lực lượng công nhân và nông
dân ở Nghệ An và Hà Tĩnh trong năm 1930 - 1931 dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt
TP.HCM, Đà Nẵng,
Hoài Nhơn
173
Nam.
61
Yongsan
Tên một quận thuộc thành phố Seoul, Hàn Quốc, là địa phương kết nghĩa với thành phố
Quy Nhơn.
Quy Nhơn
62
3 tháng 2
Mốc sự kiện lịch sử, ngày 3/2/1930, tại Hương Cảng (Trung Quốc), đồng chí Nguyễn Ái
Quốc, thay mặt Quốc tế Cộng sản chủ trì hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Hội
nghị thông qua các văn kiện: Chính cương, Sách lược, Chương trình tóm tắt và Điều lệ của
Đảng. Đảng ta ra đời là kết quả tất yếu của cuộc đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp, là sự
khẳng định vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân Việt Nam và hệ tư tưởng Mác-Lênin đối
với cách mạng Việt Nam, là sự kiện lịch sử trọng đại, một bước ngoặt trong lịch sử cách mạng
Việt Nam, đánh dấu một mốc son chói lọi trên con đường phát triển của dân tộc ta. Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng đã quyết nghị lấy ngày 3 tháng 2 hàng năm làm ngày kỷ
niệm thành lập Đảng.
TP. HCM, Đà Nẵng,
Đà Lạt, Cần Thơ, TT
Phù Mỹ, TT Ngô
Mây, Hoài Nhơn…
63
6 tháng 2
Mốc sự kiện lịch sử, ngày 06/02/1959, cuộc khởi nghĩa vũ trang của nhân dân huyện
Vĩnh Thạnh bùng nổ. Đến 6/1959, đồng bào dân tộc đã giành quyền làm chủ 60 làng ở 9/10
xã, với tổng số dân trên 5.000 người. Với thắng lợi này, âm mưu dồn dân, cô lập lực lượng
cách mạng của địch bị thất bại hoàn toàn. Cuộc khởi nghĩa đã tạo ra thế và lực mới thúc đẩy
phát triển sâu rộng phong trào cách mạng tỉnh Bình Định, góp phần cùng với cả nước châm
ngòi một trong những ngọn lửa đồng khởi bùng cháy khắp miền Nam, ghi dấu son chói lọi vào
lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc.
TT Vĩnh Thạnh
64
28 tháng 3
Mốc sự kiện lịch sử, kỷ niệm sự kiện giải phóng thị xã Hoài Nhơn vào ngày 28/3/1975 trong
chiến dịch Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975.
Tên công viên ở thị
xã Hoài Nhơn
65
31 tháng 3
Mốc sự kiện lịch sử, trong chiến dịch Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975, cùng với
quân dân cả nước, quân và dân các huyện, thị trong tỉnh Bình Định đã đồng loạt tiến công giải
phóng hoàn toàn tỉnh nhà ngày 31 tháng 3 năm 1975, góp phần hoàn thành thắng lợi công cuộc
kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Quy Nhơn, TT Ngô
Mây
66
19 tháng 4
Mốc sự kiện lịch sử, ngày 19 tháng 4 năm 1972 ngày giải phóng huyện Hoài Ân, đây là
huyện đồng bằng đầu tiên của khu V được giải phóng trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Tên quảng trường tại
TT Tăng Bạt Hổ
67
30 tháng 4
Mốc sự kiện lịch sử, ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đánh dấu
thắng lợi của công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
TP.HCM, Đà Nẵng,
Vũng Tàu
68
1 tháng 5
Mốc sự kiện lịch sử, Ngày Quốc tế lao động, ngày lễ của giai cấp vô sản và nhân dân lao
động toàn thế giới cùng nhau đoàn kết, chiến đấu. Vào những năm 80 thế kỷ XIX, Chủ nghĩa
tư bản phát triển kéo theo sự phát triển của đội ngũ giai cấp vô sản, họ bị bóc lột và áp bức tàn
tệ, ngày làm việc từ 12 - 16 giờ. Ngày 1/5/1886 tại Mỹ , hơn 30 vạn công nhân ở Thành phố
Hậu Giang, Vĩnh
Long, Bảo Lộc, Quy
Nhơn
174
Chicago và một số thành phố khác đã rầm rộ bãi công và biểu tình thị uy, buộc các nhà tư bản
phải đáp ứng một phần yêu sách của công nhân trong đó có yêu sách đòi thực hiện chế độ ngày
làm việc 8 giờ. Cuộc đấu tranh đã giành được thắng lợi bước đầu, được sự ủng hộ của công
nhân các nước trên thế giới. Tháng 7/1889 tại Đại hội thành lập Quốc tế thứ hai ở Pari đã
thông qua Nghị quyết: Ngày 1/5/1890 những người lao động trên toàn thế giới sẽ tổ chức các
cuộc míttinh và lấy ngày đó làm ngày kỷ niệm hàng năm. Từ đó ngày 1/5 trở thành "Ngày
Quốc tế lao động".
69
19 tháng 5
Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh ngày 19/5/1890 với tên gọi là Nguyễn Sinh Cung tại làng
Hoàng Trù nay thuộc xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. "Từ buổi thiếu niên cho
đến phút cuối cùng, Hồ Chủ tịch đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng của
nhân dân ta và nhân dân thế giới. Người đã trải qua một cuộc đời oanh liệt, đầy gian khổ hy
sinh, vô cùng cao thượng và phong phú, vô cùng trong sáng và đẹp đẽ..." (trích Điếu văn của
Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam). Năm 1990, nhân kỷ niệm 100 năm
ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, UNESCO đã ra nghị quyết công nhận Chủ tịch Hồ Chí
Minh là Anh hùng giải phóng dân tộc của VN và là một nhà văn hóa kiệt xuất của thế giới. Tư
tưởng, sự nghiệp và nhân cách Hồ Chí Minh đã trở thành một hệ giá trị văn hóa không chỉ của
dân tộc Việt Nam mà còn là của cả loài người tiến bộ. Nhân dân Việt Nam tự hào vì đã sinh ra
Hồ Chí Minh. Và chính Người đã làm rạng rỡ non sông Tổ quốc ta.
Hà Nội, Buôn Mê
Thuột
70
2 tháng 9
Mốc sự kiện lịch sử, ngày Quốc khánh nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam
(02/9/1945), Bác Hồ đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa.
Đà Nẵng, TT Phù
Mỹ
71
7 tháng 12
Mốc sự kiện lịch sử, ngày 07 tháng 12 năm 1964 là ngày diễn ra sự kiện lịch sử Chiến
thắng An Lão, chiến thắng đầu tiên của miền Trung Trung bộ đã làm tiêu hao, tan rã phần lớn
sinh lực địch, là một điểm son khởi đầu cho việc đánh bại các kế hoạch và chiến lược chiến
tranh của địch. Chiến thắng An Lão là chiến thắng của tinh thần đoàn kết quân dân, đoàn kết
giữa 3 dân tộc anh em Kinh, Hrê và Bana, đánh dấu bước ngoặt trưởng thành trong cuộc đấu
tranh của quân và dân ta, đã vượt qua bao gian khổ, khó khăn, hy sinh tổn thất để tô điểm, làm
chói ngời thêm trang sử vẻ vang, hào hùng của dân tộc và quê hương.
Tên quảng trường tại
TT An Lão
175
MỤC LỤC
Trang
Phần mở đầu
2
1. Tên các vị thủy tổ dân tộc, vị vua các triều đại, anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới
5
2. Tên các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước qua các thời kỳ (đã qua đời)
13
3. Tên các danh nhân, nhân vật lịch sử tiêu biểu của đất nước
25
4. Tên các nhân vật thời cận, hiện đại đóng góp trên các lĩnh vực lịch sử, quân sự, kinh tế, chính trị,
giáo dục, y học, văn học, nghệ thuật, khoa học…
76
5. Tên các anh hùng, liệt sĩ, nhà hoạt động cách mạng tiêu biểu của đất nước
109
6. Tên các danh nhân, nhân vật lịch sử quê ở Bình Định hoặc có cống hiến với Bình Định, với phong trào
Tây Sơn
124
7. Tên các anh hùng, liệt sĩ tiêu biểu tỉnh Bình Định
140
8. Tên các đồng chí Bí thư, Chi ủy Chi bộ đảng đầu tiên, Bí thư Tỉnh ủy, Bí thư Huyện ủy, nhà hoạt động
cách mạng tiêu biểu thời kỳ chống Pháp và chống Mỹ (đã qua đời).
156
9. Tên các danh từ chung có ý nghĩa tiêu biểu, địa danh nổi tiếng, sự kiện lịch sử, phong trào cách mạng,
di tích lịch sử - văn hóa
162

Bạn chưa Đăng nhập thành viên.

Đây là tiện ích dành cho tài khoản thành viên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, vui lòng Đăng ký tại đây!

Quyết định 807/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Định ban hành Ngân hàng tên đường và công trình công cộng tỉnh Bình Định

văn bản tiếng việt

downloadQuyết định 807/QĐ-UBND (Bản PDF)

Vui lòng Đăng nhập để tải văn bản. Nếu chưa có tài khoản, vui lòng Đăng ký tại đây!

văn bản TIẾNG ANH

* Lưu ý: Để đọc được văn bản tải trên Luatvietnam.vn, bạn cần cài phần mềm đọc file DOC, DOCX và phần mềm đọc file PDF.

Bạn chưa Đăng nhập thành viên.

Đây là tiện ích dành cho tài khoản thành viên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, vui lòng Đăng ký tại đây!

  • Văn bản liên quan Quyết định 807/QĐ-UBND
  • Văn bản cùng chủ đề

văn bản cùng lĩnh vực

văn bản mới nhất

CHÍNH SÁCH BẢO VỆ DỮ LIỆU CÁ NHÂN
Yêu cầu hỗ trợYêu cầu hỗ trợ
Chú thích màu chỉ dẫn
Chú thích màu chỉ dẫn:
Các nội dung của VB này được VB khác thay đổi, hướng dẫn sẽ được làm nổi bật bằng các màu sắc:
Sửa đổi, bổ sung, đính chính
Thay thế
Hướng dẫn
Bãi bỏ
Bãi bỏ cụm từ
Bình luận
Click vào nội dung được bôi màu để xem chi tiết.
×