• Tổng quan
  • Nội dung
  • VB gốc
  • Tiếng Anh
  • Hiệu lực
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Nội dung hợp nhất 

    Tính năng này chỉ có tại LuatVietnam.vn. Nội dung hợp nhất tổng hợp lại tất cả các quy định còn hiệu lực của văn bản gốc và các văn bản sửa đổi, bổ sung, đính chính... trên một trang. Việc hợp nhất văn bản gốc và những văn bản, Thông tư, Nghị định hướng dẫn khác không làm thay đổi thứ tự điều khoản, nội dung.

    Khách hàng chỉ cần xem Nội dung hợp nhất là có thể nắm bắt toàn bộ quy định hiện hành đang áp dụng, cho dù văn bản gốc đã qua nhiều lần chỉnh sửa, bổ sung.

    =>> Xem hướng dẫn chi tiết cách sử dụng Nội dung hợp nhất

  • Tải về
Lưu
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao . Vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem chi tiết.
Theo dõi VB
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao . Vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem chi tiết.
Ghi chú
Báo lỗi
In

Quyết định 4814/QĐ-UBND Cần Thơ duyệt Báo cáo hiện trạng môi trường biển và hải đảo 2026

Ngày cập nhật: Thứ Sáu, 18/09/2026 08:51 (GMT+7)
Cơ quan ban hành: Ủy ban nhân dân Thành phố Cần Thơ
Số công báo:
Số công báo là mã số ấn phẩm được đăng chính thức trên ấn phẩm thông tin của Nhà nước. Mã số này do Chính phủ thống nhất quản lý.
Đang cập nhật
Số hiệu: 4814/QĐ-UBND Ngày đăng công báo: Đang cập nhật
Loại văn bản: Quyết định Người ký: Trần Chí Hùng
Trích yếu: Về việc phê duyệt Báo cáo hiện trạng môi trường biển và hải đảo thành phố Cần Thơ giai đoạn 2021 - 2025
Ngày ban hành:
Ngày ban hành là ngày, tháng, năm văn bản được thông qua hoặc ký ban hành.
17/09/2026
Ngày hết hiệu lực:
Ngày hết hiệu lực là ngày, tháng, năm văn bản chính thức không còn hiệu lực (áp dụng).
Đang cập nhật
Ngày áp dụng:
Ngày áp dụng là ngày, tháng, năm văn bản chính thức có hiệu lực (áp dụng).
Đã biết
Tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao. Vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem chi tiết.
Tình trạng hiệu lực:
Cho biết trạng thái hiệu lực của văn bản đang tra cứu: Chưa áp dụng, Còn hiệu lực, Hết hiệu lực, Hết hiệu lực 1 phần; Đã sửa đổi, Đính chính hay Không còn phù hợp,...
Đã biết
Tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao. Vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem chi tiết.
Lĩnh vực: Tài nguyên-Môi trường

TÓM TẮT QUYẾT ĐỊNH 4814/QĐ-UBND

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải Quyết định 4814/QĐ-UBND

Tải văn bản tiếng Việt (.pdf) Quyết định 4814/QĐ-UBND PDF (Bản có dấu đỏ)

Vui lòng Đăng nhập để tải văn bản. Nếu chưa có tài khoản, vui lòng Đăng ký tại đây!

Tình trạng hiệu lực: Đã biết
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng hiệu lực: Đã biết
ỦY BAN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Số: /QĐ-UBND
Cần Thơ, ngày tháng 9 năm 2026
QUYẾT ĐỊNH
Về việc phê duyệt Báo cáo hiện trạng môi trường biển và hải đảo thành phố
Cần Thơ giai đoạn 2021 - 2025
ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 16 tháng 6 năm 2025;
Căn cứ Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo ngày 25 tháng 6 năm 2015;
Căn cứ Luật Bảo vệ môi trường ngày 17 tháng 11 năm 2020;
Căn cứ Nghị quyết số 202/2025/QH15 ngày 12 tháng 6 năm 2025 của Quốc
hội về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh;
Căn cứ Nghị định số 40/2016/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2016 của Chính
phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tài nguyên, môi trường biển
và hải đảo; Nghị định số 65/2025/NĐ-CP ngày 12 tháng 3 năm 2025 của Chính
phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 40/2016/NĐ-CP và Nghị định
số 11/2021/NĐ-CP;
Căn cứ Thông tư số 02/2022/TT-BTNMT ngày 10 tháng 01 năm 2022 của Bộ
trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật
Bảo vệ môi trường, được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 07/2025/TT-BTNMT ngày
28 tháng 02 năm 2025, Thông tư số 07/2025/TT-BNNMT ngày 16 tháng 6 năm 2025
và Thông tư số 09/2026/TT-BNNMT ngày 29 tháng 01 năm 2026;
Theo đề nghị của Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tại Tờ trình số
11784/TTr-SNNMT ngày 09/9/2026.
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Phê duyệt Báo cáo hiện trạng môi trường biển và hải đảo thành phố
Cần Thơ giai đoạn 2021 - 2025, chi tiết theo Báo cáo đính kèm.
Điều 2. Báo cáo hiện trạng môi trường biển và hải đảo thành phố Cần Thơ
giai đoạn 2021 - 2025 là một trong những cơ sở để các sở, ban, ngành, địa phương
và các tổ chức, cá nhân có liên quan khai thác, sử dụng thông tin, số liệu trong
Báo cáo phục vụ công tác lập quy hoạch, kế hoạch và thực hiện các nhiệm vụ
quản lý, bảo vệ môi trường trên địa bàn thành phố.
Điều 3. Sở Nông nghiệp và Môi trường có trách nhiệm công bố, công khai
Báo cáo hiện trạng môi trường biển và hải đảo thành phố Cần Thơ giai đoạn 2021
- 2025 theo quy định.
4814
17
2
Điều 4. Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân thành phố; Giám đốc Sở Nông
nghiệp và Môi trường; Thủ trưởng các sở, ban, ngành thành phố; Chủ tịch Ủy ban
nhân dân xã, phường và các cơ quan, đơn vị có liên quan chịu trách nhiệm thi
hành Quyết định này kể từ ngày ký./.
Nơi nhận:
- Như Điều 4;
- Bộ Nông nghiệp và Môi trường;
- Cục Biển và Hải đảo Việt Nam;
- CT và các PCT UBND thành phố;
- Cổng Thông tin điện tử TPCT;
- Cổng Thông tin điện tử SNNMT;
- VP UBND TP (2H);
- Lưu: VT.VK
TM. ỦY BAN NHÂN DÂN
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH
Trần Chí Hùng
UÛY BAN NHAÂN DAÂN THAØNH PHOÁ CAÀN THÔ
SÔÛ NOÂNG NGHIEÄP VAØ MOÂI TRÖÔØNG

BAÙO CAÙO
HIEÄN TRAÏNG MOÂI TRÖÔØNG BIEÅN
VAØ HAÛI ÑAÛO THAØNH PHOÁ CAÀN THÔ
GIAI ÑOAÏN 2021 - 2025
Cần Thơ, tháng 6 năm 2026
i
MỤC LỤC
MỤC LỤC ............................................................................................................. I
DANH MỤC CÁC BẢNG .............................................................................. VII
DANH MỤC CÁC HÌNH ................................................................................. IX
DANH MỤC BIỂU ĐỒ ...................................................................................... X
LỜI NÓI ĐẦU ..................................................................................................... 1
TRÍCH YẾU ........................................................................................................ 3
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ
TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA THÀNH PHỐ CẦN
THƠ ...................................................................................................................... 7
1.1. Tổng quan đặc điểm điều kiện tự nhiên ........................................................ 7
1.1.1. Khái quát đặc điểm vùng biển Việt Nam và khu vực biển thành phố
Cần Thơ .............................................................................................. 7
1.1.2. Đặc điểm vị trí địa lý .......................................................................... 8
1.1.3. Đặc điểm địa hình ............................................................................... 9
1.1.4. Đặc điểm thổ nhưỡng ....................................................................... 10
1.1.5. Khí hậu ............................................................................................. 10
1.2. Tình hình phát triển kinh tế - xã hội............................................................ 11
1.2.1. Tình hình phát triển kinh tế .............................................................. 11
1.2.2. Tình hình xã hội ................................................................................ 15
1.2.3. Đặc điểm kinh tế - xã hội khu vực ven biển ..................................... 18
CHƯƠNG 2. SỨC ÉP CỦA PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI ĐỐI VỚI
MÔI TRƯỜNG BIỂN ....................................................................................... 22
2.1. Sức ép dân số, vấn đề di cư, đô thị hóa và biến đổi khí hậu – nước biển dâng
..................................................................................................................... 22
2.1.1. Sức ép dân số và mật độ khu vực ven biển ...................................... 22
2.1.2. Quá trình tập trung dân cư và đô thị hóa vùng ven biển .................. 23
2.1.3. Biến đổi khí hậu, nước biển dâng và các tác động liên quan ........... 24
2.2. Sức ép từ hoạt động nông nghiệp và thủy sản ............................................ 26
2.2.1. Hoạt động nông nghiệp .................................................................... 26
2.2.2. Nuôi trồng thủy sản .......................................................................... 29
2.2.3. Khai thác thủy sản ven biển .............................................................. 33
ii
2.3. Sức ép hoạt động công nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải, kinh tế hàng
hải, phát triển năng lượng, tác động giao khu vực biển, khai thác cát biển và nguồn
thải từ sông Hậu ra cửa biển ................................................................................ 36
2.3.1. Sức ép hoạt động công nghiệp ven biển ........................................... 36
2.3.2. Sức ép của hoạt động xây dựng, san lấp và lấn biển ........................ 38
2.3.3. Sức ép của hoạt động giao thông vận tải và hoạt động cảng ............ 40
2.3.4. Tác động từ việc giao khu vực biển cho tổ chức, cá nhân khai thác, sử
dụng tài nguyên biển ......................................................................... 41
2.3.5. Phát triển năng lượng vùng ven biển ................................................ 42
2.3.6. Khai thác cát biển ............................................................................. 44
2.3.7. Nguồn thải từ hệ thống sông Hậu và các thủy vực ven biển: ........... 45
2.4. Sức ép hoạt động du lịch và dịch vụ, kinh doanh, thương mại ................... 47
2.4.1. Đặc điểm phát triển du lịch, dịch vụ và thương mại ven biển .......... 47
2.4.2. Sức ép từ hoạt động du lịch, dịch vụ và thương mại ven biển ......... 48
CHƯƠNG 3. HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC .................................. 50
3.1. Nước mặt lục địa ......................................................................................... 50
3.1.1. Tài nguyên nước mặt lục địa thành phố Cần Thơ ............................ 50
3.1.2. Diễn biến ô nhiễm ............................................................................. 51
3.2. Diễn biến môi trường biển ven bờ .............................................................. 73
3.2.1. Kết quả quan trắc bổ sung năm 2026: .............................................. 75
3.2.2. Kết quả quan trắc định kỳ nước biển ven bờ giai đoạn 2021 - 2025: ..
......................................................................................................... 79
3.3. Các vấn đề nổi cộm về môi trường biển tại các đảo, cụm đảo ................... 86
3.3.1. Ô nhiễm rác thải sinh hoạt, rác thải nhựa; công tác thu gom, xử lý còn
hạn chế .............................................................................................. 86
3.3.2. Ô nhiễm nước biển ven đảo do nước thải sinh hoạt, nuôi trồng và chế
biến thủy sản quy mô nhỏ ................................................................. 88
3.3.3. Suy thoái hệ sinh thái ven đảo (rừng ngập mặn, bãi triều), suy giảm
nguồn lợi thủy sản ............................................................................. 90
3.3.4. Xói lở bờ đảo, xâm nhập mặn, tác động của biến đổi khí hậu và nước
biển dâng ........................................................................................... 91
3.3.5. Áp lực từ giao thông hàng hải, neo đậu tàu thuyền và hoạt động du
lịch .................................................................................................... 91
3.3.6. Đánh giá tổng hợp tác động của nguồn thải nội địa đến môi trường
nước biển ven bờ khu vực các xã đảo............................................... 92
CHƯƠNG 4. HIỆN TRẠNG ĐA DẠNG SINH HỌC ................................... 94
iii
4.1. CÁC HỆ SINH THÁI BIỂN VÀ VEN BIỂN ............................................ 94
4.1.1. Hệ sinh thái cửa sông ........................................................................ 94
4.1.2. Hệ sinh thái rừng ngập mặn .............................................................. 96
4.1.3. Hệ sinh thái bãi triều và bãi bồi ........................................................ 98
4.1.4. Hệ sinh thái vùng nước ven bờ ......................................................... 99
4.2. Thành phần loài và đa dạng sinh học ........................................................ 100
4.2.1. Thành phần loài .............................................................................. 100
4.2.2. Phân loại theo giá trị bảo tồn và kinh tế ......................................... 107
4.2.3. Vùng phân bố .................................................................................. 110
4.3. Hiện trạng nguồn lợi thủy hải sản ............................................................. 111
4.4. Các yếu tố tác động đến đa dạng sinh học ................................................ 113
4.4.1. Biến đổi khí hậu .............................................................................. 113
4.4.2. Xâm nhập mặn ................................................................................ 113
4.4.3. Thay đổi dòng chảy và phù sa ........................................................ 114
4.4.4. Suy thoái và thu hẹp sinh cảnh ven biển ........................................ 114
4.4.5. Tác động từ hoạt động khai thác thủy sản ...................................... 114
4.4.6. Ô nhiễm môi trường biển: .............................................................. 115
CHƯƠNG 5. QUẢN LÝ RÁC THẢI ĐẠI DƯƠNG .................................... 116
5.1. Khái quát tình hình công tác quản lý rác thải đại dương trên địa bàn thành
phố Cần Thơ ...................................................................................................... 116
5.2. Quản lý rác thải đại dương ........................................................................ 119
5.2.1. Các nguồn phát sinh rác thải đại dương ......................................... 119
5.2.2. Hiện trạng phân loại, thu gom, vận chuyển, xử lý ......................... 124
5.2.3. Các điểm nóng ô nhiễm rác thải biển ............................................. 127
CHƯƠNG 6. TÁC ĐỘNG CỦA Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG BIỂN .......... 130
6.1. Tác động của các nguồn gây ô nhiễm đối với môi trường biển và ven biển ..
................................................................................................................... 130
6.1.1. Tác động của các nguồn ô nhiễm từ đất liền .................................. 130
6.1.2. Tác động của các nguồn ô nhiễm từ hoạt động kinh tế biển và ven biển
...................................................................................................... 132
6.1.3. Tác động của ô nhiễm từ rác thải nhựa .......................................... 134
6.2. Khai thác thiếu bền vững, gia tăng mức độ suy giảm tài nguyên biển ..... 136
6.2.1. Suy giảm nguồn lợi thủy sản ven bờ .............................................. 136
6.2.2. Tác động của khai thác cát biển đến địa mạo và hệ sinh thái ven bờ ..
...................................................................................................... 137
iv
6.3. Suy giảm chất lượng môi trường nước biển.............................................. 139
6.4. Tác động của ô nhiễm môi trường biển đối với các vấn đề kinh tế - xã hội,
cảnh quan và hệ sinh thái .................................................................................. 141
6.4.1. Đối với phát triển kinh tế - xã hội ................................................... 141
6.4.2. Đối với cảnh quan môi trường ........................................................ 143
6.4.3. Đối với hệ sinh thái ......................................................................... 145
6.5. Biến đổi khí hậu, thiên tai, nước biển dâng, sự cố môi trường ................. 146
6.5.1. Tác động của biến đổi khí hậu, thiên tai, nước biển dâng lên môi
trường biển ...................................................................................... 146
6.5.2. Sự cố môi trường biển .................................................................... 148
6.6. Xung đột môi trường ................................................................................. 149
6.6.1. Xung đột giữa các hoạt động kinh tế .............................................. 149
6.6.2. Xung đột lợi ích giữa các nhóm...................................................... 150
CHƯƠNG 7. QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG BIỂN VÀ HẢI ĐẢO ................. 151
7.1. Tình hình thực hiện các chỉ tiêu về môi trường trong Kế hoạch phát triển
kinh tế - xã hội ................................................................................................... 151
7.1.1. Tổng quan tình hình kinh tế - xã hội, môi trường thành phố Cần Thơ
giai đoạn 2021 - 2025 ..................................................................... 151
7.1.2. Đánh giá mức độ hoàn thành các chỉ tiêu về môi trường trong Kế
hoạch phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Cần Thơ trong giai
đoạn 2021 - 2025 ............................................................................ 152
7.2. Hệ thống chính sách và văn bản quy phạm pháp luật ............................... 153
7.2.1. Hệ thống văn bản triển khai thực hiện các chính sách, pháp luật về bảo
vệ môi trường, môi trường biển – ven biển của Trung ương ......... 153
7.2.2. Các văn bản pháp lý và chương trình, kế hoạch của thành phố Cần
Thơ liên quan đến quản lý môi trường biển và hải đảo giai đoạn 2021
– 2025 ............................................................................................. 156
7.3. Hệ thống quản lý môi trường .................................................................... 160
7.3.1. Hệ thống tổ chức bộ máy quản lý môi trường từ cấp thành phố đến
cấp xã, phường ................................................................................ 160
7.3.2. Hệ thống tổ chức bộ máy quản lý môi trường biển và hải đảo theo mô
hình hai cấp, phân công trách nhiệm giữa các cơ quan quản lý nhà
nước có liên quan ............................................................................ 161
7.4. Vấn đề tài chính, đầu tư cho công tác bảo vệ môi trường biển ................. 162
7.4.1. Đầu tư từ ngân sách Nhà nước cho công tác bảo vệ môi trường biển .
....................................................................................................... 162
v
7.4.2. Đầu tư từ việc huy động sự tham gia của cộng đồng, doanh nghiệp và
các nguồn lực xã hội hóa ................................................................ 163
7.5. Triển khai thực hiện các công cụ quản lý môi trường .............................. 164
7.5.1. Công tác thực hiện đánh giá tác động môi trường, kế hoạch bảo vệ
môi trường ...................................................................................... 164
7.5.2. Hoạt động thanh tra, kiểm tra và xử lý các vụ việc vi phạm pháp luật
về môi trường ................................................................................. 165
7.5.3. Công tác kiểm soát ô nhiễm và xử lý các nguồn gây ô nhiễm môi
trường .............................................................................................. 166
7.5.4. Công tác quan trắc và cung cấp thông tin môi trường ................... 168
7.5.5. Hiện trạng áp dụng các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường 169
7.5.6. Tình hình cấp phép, quản lý hoạt động nhận chìm ở biển theo quy định
tại Nghị định số 40/2016/NĐ-CP ................................................... 170
7.6. Hoạt động nghiên cứu khoa học công nghệ và vấn đề áp dụng các công nghệ
mới ................................................................................................................... 171
7.6.1. Hoạt động nghiên cứu khoa học công nghệ trong lĩnh vực môi trường
...................................................................................................... 171
7.6.2. Hoạt động chuyển giao khoa học công nghệ .................................. 172
7.6.3. Vấn đề áp dụng sản xuất sạch hơn và công nghệ thân thiện với môi
trường .............................................................................................. 173
7.7. Nâng cao nhận thức cộng đồng và vấn đề xã hội hóa công tác bảo vệ môi
trường biển và hải đảo ....................................................................................... 173
7.7.1. Các chương trình, kế hoạch hành động nhằm nâng cao nhận thức cộng
đồng ................................................................................................ 174
7.7.2. Hoạt động xã hội hóa, huy động sự tham gia của cộng đồng, tổ chức,
doanh nghiệp ................................................................................... 179
7.8. Hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường Biển và hải đảo ............................ 185
7.8.1. Tổng quan hoạt động hợp tác quốc tế giai đoạn 2021 – 2025 ....... 185
7.8.2. Hỗ trợ kỹ thuật, chuyển giao công nghệ và nâng cao năng lực quản lý
môi trường biển .............................................................................. 186
7.8.3. Đánh giá kết quả hợp tác quốc tế và định hướng giai đoạn tiếp theo ..
...................................................................................................... 187
CHƯƠNG 8. CÁC THÁCH THỨC TRONG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG BIỂN
VÀ HẢI ĐẢO, PHƯƠNG HƯỚNG, CƠ HỘI VÀ GIẢI PHÁP TRONG 5
NĂM TỚI ......................................................................................................... 188
8.1. Các thách thức về môi trường biển và hải đảo.......................................... 188
vi
8.2. Phương hướng, cơ hội và giải pháp bảo vệ môi trường Biển và hải đảo trong
5 năm tới ............................................................................................................ 189
8.2.1. Phương hướng chung về bảo vệ môi trường biển và hải đảo gắn với
phát triển bền vững ......................................................................... 191
8.2.2. Các cơ hội trong công tác bảo vệ môi trường biển và hải đảo ....... 191
8.2.3. Các nhóm giải pháp ưu tiên bảo vệ môi trường biển và hải đảo giai
đoạn 2026 – 2030 ............................................................................ 192
8.2.4. Tổ chức thực hiện, lộ trình triển khai và các chỉ tiêu giám sát....... 201
KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ .............................................................................. 206
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................... 210
vii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1. Tổng hợp sáu xã/phường ven biển thành phố Cần Thơ ..................... 18
Bảng 2.1. Diện tích nuôi tôm tại khu vực ven biển ............................................ 29
Bảng 2.2. Cơ cấu đội tàu cá và công tác kiểm soát hành trình (VMS) giai đoạn
2021 – 2025 ......................................................................................................... 34
Bảng 2.3. Ước tính khối lượng rác thải nhựa phát sinh từ đội tàu khai thác thủy
sản giai đoạn 2021 – 2025 ................................................................................... 35
Bảng 2.4. Số phương tiện đăng ký giao thông đường thủy ................................ 40
Bảng 2.5. Một số khu vực khai thác và nghiên cứu cát biển tại Cần Thơ .......... 45
Bảng 2.6. Tính chất hoạt động của các loại hình dịch vụ ven biển .................... 47
Bảng 2.7. Ma trận tổng hợp rủi ro các sức ép môi trường .................................. 49
Bảng 3.1. Các vị trí lấy mẫu nước mặt phục vụ báo cáo Hiện trạng Biển và Hải
đảo trên địa bàn thành phố Cần Thơ ................................................................... 51
Bảng 3.2. Các vị trí quan trắc chất lượng nước mặt giai đoạn 2021 – 2025 ...... 59
Bảng 3.3. Chỉ số VN_WQI và sự phù hợp với mục đích sử dụng ...................... 61
Bảng 3.4. Chỉ số VN_WQI qua các đợt quan trắc nước mặt tại khu vực thành phố
Cần Thơ ............................................................................................................... 61
Bảng 3.5. Phương pháp phân tích mẫu ............................................................... 74
Bảng 3.6. Điểm quan trắc môi trường nước biển ven bờ .................................... 74
Bảng 3.7. Khối lượng chất thải rắn và rác thải nhựa phát sinh tại các xã đảo .... 87
Bảng 3.8. Lượng nước thải sinh hoạt phát sinh tại các xã đảo ........................... 88
Bảng 4.1. Diễn biến diện tích rừng ngập mặn giai đoạn 2021 – 2025 ................. 97
Bảng 4.2. Danh mục các loài cá tiêu biểu ......................................................... 101
Bảng 4.3. Danh mục loài giáp xác tiêu biểu ..................................................... 103
Bảng 4.4. Danh mục loài nhuyễn thể tiêu biểu ................................................. 105
Bảng 4.5. Loài quý hiếm, nguy cấp ghi nhận tại vùng biển Cần Thơ và vùng lân
cận ..................................................................................................................... 107
Bảng 4.6. Sản lượng khai thác thủy sản giai đoạn 2021 – 2025 ....................... 111
Bảng 5.1. Khối lượng CTRSH trên địa bàn các xã, phường ven biển .............. 120
Bảng 5.2. Một số chương trình, dự án thu gom rác nổi trên kênh rạch và khu vực
cửa cống ............................................................................................................ 125
Bảng 6.1. Đánh giá nguy cơ môi trường liên quan khai thác cát biển .............. 139
Bảng 7.1. Tổng hợp chỉ tiêu môi trường giai đoạn trước sáp nhập .................. 151
Bảng 7.2. Kinh phí và ngân sách cho công tác bảo vệ môi trường biển thành phố
giai đoạn 2021 - 2025 ........................................................................................ 163
viii
Bảng 7.3. Thống kê các hoạt động tuyên truyền biển và hải đảo tiêu biểu giai đoạn
2021 – 2025 ....................................................................................................... 176
Bảng 7.4. Tổng hợp các dự án/chương trình xã hội hóa bảo vệ môi trường biển tại
Cần Thơ giai đoạn 2021 – 2025 ........................................................................ 183
Bảng 8.1. Tổng hợp các nhóm thách thức và định hướng giải pháp ưu tiên .... 190
Bảng 8.2. Phân công thực hiện các nhóm giải pháp bảo vệ môi trường biển và hải
đảo thành phố Cần Thơ giai đoạn 2026 – 2030 ................................................ 199
Bảng 8.3. Các chỉ tiêu giám sát thực hiện công tác bảo vệ môi trường biển và hải
đảo đến năm 2030 .............................................................................................. 204
ix
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1. Bản đồ hành chính Cần Thơ sau sáp nhập ............................................ 8
Hình 3.1. Vị trí lấy mẫu nước mặt báo cáo hiện trạng môi trường biển và hải đảo
thành phố Cần Thơ .............................................................................................. 52
Hình 3.2. Vị trí các điểm quan trắc nước biển ven bờ trên địa bàn thành phố Cần
Thơ ...................................................................................................................... 80
Hình 4.1. Cửa sông Mỹ Thanh và Trần Đề ......................................................... 95
Hình 4.2. Khu sinh thái rừng ngập mặn xã Cù Lao Dung (địa phận An Thạnh Nam
cũ) ........................................................................................................................ 96
Hình 4.3. Hình ảnh một số loài cá tiêu biểu ...................................................... 102
Hình 4.4. Hình ảnh một số loài giáp xác tiêu biểu ............................................ 104
Hình 4.5. Một số loài nhuyển thể tiêu biểu ....................................................... 106
Hình 4.6. Rong biển và cỏ biển ......................................................................... 106
Hình 5.1. Thành phần các loại chất thải rắn trên địa bàn các xã ven biển ........ 119
Hình 5.2. Cảng biển Trần Đề ............................................................................ 122
Hình 5.3. Khu du lịch sinh thái Hồ Bể và Mỏ Ó .............................................. 122
Hình 5.4. Tổng quan nguồn phát sinh rác thải đại dương ................................. 124
Hình 5.5. Hiện trạng rác thải tại cửa sông Trần Đề .......................................... 128
Hình 5.6. Hiện trạng rác thải tại cửa Định An .................................................. 128
Hình 5.7. Hiện trạng rác thải tại khu vực bãi triều Vĩnh Châu ......................... 129
Hình 5.8. Hiện trạng rác thải tại khu vực Cù Lao Dung ................................... 129
x
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1. Xu thế biến động nhiệt độ không khí trung bình năm .................... 24
Biểu đồ 2.2. Sự biến động bất thường của tổng lượng mưa năm ........................ 25
Biểu đồ 3.1. Giá trị nhiệt độ tại các điểm lấy mẫu nước mặt .............................. 52
Biểu đồ 3.2. Giá trị pH tại các điểm lấy mẫu nước mặt ...................................... 53
Biểu đồ 3.3. Giá trị DO tại các điểm lấy mẫu nước mặt ..................................... 53
Biểu đồ 3.4. Giá trị BOD
5
tại các điểm lấy mẫu nước mặt ................................. 54
Biểu đồ 3.5. Giá trị COD tại các điểm lấy mẫu nước mặt .................................. 54
Biểu đồ 3.6. Giá trị TSS tại các điểm lấy mẫu nước mặt .................................... 55
Biểu đồ 3.7. Giá trị Amoni tại các điểm lấy mẫu nước mặt ................................ 55
Biểu đồ 3.8. Giá trị nitrit tại các điểm lấy mẫu nước mặt ................................... 56
Biểu đồ 3.9. Giá trị tổng nitơ tại các điểm lấy mẫu nước mặt ............................ 56
Biểu đồ 3.10. Giá trị tổng photpho tại các điểm lấy mẫu nước mặt ................... 57
Biểu đồ 3.11. Giá trị Sắt tại các điểm lấy mẫu nước mặt .................................... 57
Biểu đồ 3.12. Giá trị Coliforms tại các điểm lấy mẫu nước mặt ........................ 58
Biểu đồ 3.13. Giá trị TOC tại các điểm lấy mẫu nước mặt ................................. 58
Biểu đồ 3.14. Giá trị pH tại các điểm quan trắc nước biển ven bờ ..................... 75
Biểu đồ 3.15. Giá trị DO tại các điểm quan trắc nước biển ven bờ .................... 76
Biểu đồ 3.16. Giá trị TSS tại các điểm quan trắc nước biển ven bờ ................... 76
Biểu đồ 3.17. Giá trị Amoni tại các điểm quan trắc nước biển ven bờ ............... 77
Biểu đồ 3.18. Giá trị P-PO
4
3-
tại các điểm quan trắc nước biển ven bờ .............. 77
Biểu đồ 3.19. Giá trị sắt tổng tại các điểm quan trắc nước biển ven bờ ............. 78
Biểu đồ 3.20. Giá trị Coliforms tại các điểm quan trắc nước biển ven bờ .......... 78
Biểu đồ 3.21. Giá trị trung bình thông số pH giai đoạn năm 2021 – 2025 ......... 81
Biểu đồ 3.22. Giá trị trung bình thông số DO giai đoạn năm 2022 – 2025 ........ 82
Biểu đồ 3.23. Giá trị trung bình thông số TSS giai đoạn năm 2021 – 2025 ....... 82
Biểu đồ 3.24. Giá trị trung bình thông số Amoni giai đoạn 2021 – 2025 ........... 83
Biểu đồ 3.25. Giá trị trung bình thông số P-PO
4
3-
giai đoạn 2021 – 2025 .......... 84
Biểu đồ 3.26. Giá trị trung bình thông số Sắt tổng giai đoạn 2021 – 2025 ........ 85
Biểu đồ 3.27. Đánh giá của người dân về xu hướng thay đổi của nguồn lợi thủy
sản trong 05 năm qua ........................................................................................... 90
Biểu đồ 5.1. Mức độ xuất hiện rác thải trên biển qua khảo sát cộng đồng ven biển
........................................................................................................................... 120
Biểu đồ 5.2. Tần suất ghi nhận các loại chất thải trên mặt biển ....................... 121
Biểu đồ 5.3. Tỷ lệ các phương thức xử lý CTRSH của hộ dân ......................... 127
1
LỜI NÓI ĐẦU
Thành phố Cần Thơ được hình thành trên cơ sở hợp nhất Cần Thơ (cũ), Hậu
Giang và Sóc Trăng theo Nghị quyết số 202/2025/QH15 của Quốc hội. Sau sáp
nhập, thành phố không chỉ mở rộng đáng kể về quy mô diện tích, dân số và không
gian phát triển kinh tế mà còn trở thành địa phương có vai trò trung tâm của vùng
Đồng bằng sông Cửu Long trong kết nối giao thương nội vùng và phát triển kinh
tế biển. Với đường bờ biển dài hơn 72 km, trải dài qua các xã, phường như Vĩnh
Châu, Vĩnh Phước, Cù Lao Dung, Lai Hòa, Trần Đề và Vĩnh Hải, thành phố có
điều kiện thuận lợi để phát triển các ngành kinh tế biển, logistics, nuôi trồng và
khai thác thủy sản, năng lượng tái tạo cũng như du lịch sinh thái ven biển. Khu
vực ven biển còn sở hữu hệ sinh thái đặc trưng với rừng ngập mặn, bãi triều và
vùng cửa sông Hậu, đóng vai trò quan trọng trong bảo tồn đa dạng sinh học, điều
hòa khí hậu và giảm nhẹ tác động của biến đổi khí hậu.
Trong giai đoạn 2021 – 2024, nền kinh tế thành phố duy trì tốc độ tăng trưởng
tương đối ổn định với mức tăng trưởng GRDP bình quân khoảng 7,3 - 7,6%/năm,
và tiếp tục đạt mức 7,23% trong năm 2025. Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch tích
cực theo hướng giảm dần tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch
vụ. Cụ thể, khu vực công nghiệp và dịch vụ giữ vai trò động lực tăng trưởng chính:
năm 2025, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) toàn thành phố tăng 10,0 - 10,43%,
trong khi tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng mạnh
20,02%. Đối với khu vực ven biển, các hoạt động kinh tế chủ lực như nuôi trồng
tôm nước lợ, khai thác thủy sản ven bờ, phát triển năng lượng tái tạo, cũng như
dịch vụ logistics và cảng biển đã góp phần quan trọng vào việc chuyển dịch cơ
cấu kinh tế chung, tạo việc làm và nâng cao đời sống cho người dân.
Tuy nhiên, cùng với quá trình phát triển kinh tế, công nghiệp hóa và đô thị
hóa diễn ra nhanh chóng, môi trường biển và ven biển của thành phố đang chịu
nhiều áp lực ngày càng gia tăng. Ô nhiễm môi trường nước tại một số khu vực
ven biển vẫn còn xảy ra do nước thải từ hoạt động nuôi tôm thâm canh, sinh hoạt
dân cư và các hoạt động sản xuất chưa được thu gom, xử lý triệt để trước khi thải
ra môi trường.
Bên cạnh đó, mặc dù công tác bảo vệ và phục hồi rừng ngập mặn đã đạt được
nhiều kết quả tích cực, thể hiện qua việc diện tích rừng nhìn chung được duy trì
ổn định và có xu hướng tăng trong giai đoạn 2021 – 2025, song tại một số khu
vực ven biển vẫn ghi nhận hiện tượng suy giảm cục bộ. Nguyên nhân chủ yếu liên
quan đến tác động của sạt lở bờ biển, triều cường, thời tiết cực đoan và các yếu tố
bất lợi do biến đổi khí hậu, ảnh hưởng đến khả năng duy trì và phát triển hệ sinh
thái rừng ven biển.
2
Nguồn lợi thủy sản tự nhiên vùng ven biển cũng có xu hướng suy giảm do
áp lực khai thác kéo dài trong nhiều năm. Ngoài tác động của hoạt động khai thác,
các yếu tố như nước biển dâng, biến đổi chế độ thủy văn tại khu vực cửa sông,
suy giảm chất lượng môi trường nước, suy thoái các sinh cảnh quan trọng (rừng
ngập mặn, bãi bồi ven biển) và sự suy giảm nguồn thức ăn tự nhiên đã ảnh hưởng
đến khả năng phục hồi và tái tạo quần thể thủy sinh vật.
Đặc biệt, rác thải nhựa phát sinh tại các cửa sông, bãi biển, khu dân cư ven
biển và hoạt động khai thác thủy sản đang trở thành một trong những vấn đề môi
trường đáng quan ngại. Ô nhiễm do chất thải nhựa không chỉ làm suy giảm chất
lượng cảnh quan và môi trường sống của các loài sinh vật biển mà còn ảnh hưởng
đến hoạt động nuôi trồng, khai thác thủy sản, phát triển du lịch ven biển và sức
khỏe cộng đồng.
Trong bối cảnh đó, việc xây dựng Báo cáo Hiện trạng Môi trường Biển và
Hải đảo thành phố Cần Thơ giai đoạn 2021 – 2025 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
nhằm đánh giá toàn diện hiện trạng chất lượng môi trường nước biển ven bờ, hệ
sinh thái và đa dạng sinh học; nhận diện các nguồn gây ô nhiễm, những tồn tại
trong công tác quản lý và năng lực ứng phó đối với các sự cố môi trường biển;
đồng thời phân tích các thách thức đặt ra trong giai đoạn phát triển mới sau sáp
nhập. Trên cơ sở đó, báo cáo đề xuất các giải pháp quản lý, bảo vệ môi trường
biển phù hợp với điều kiện thực tế của thành phố, góp phần thực hiện mục tiêu
phát triển bền vững kinh tế biển theo Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018
của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về Chiến lược phát triển bền vững
kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Báo cáo được xây dựng với sự tham gia của các cơ quan quản lý nhà nước,
các nhà khoa học, chuyên gia trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường biển cùng
các sở, ngành và địa phương trên địa bàn thành phố. Sở Nông nghiệp và Môi
trường thành phố Cần Thơ kỳ vọng báo cáo sẽ là nguồn tài liệu tham khảo hữu
ích phục vụ công tác nghiên cứu, tuyên truyền và phổ biến thông tin môi trường
cho cộng đồng; đồng thời là cơ sở quan trọng hỗ trợ công tác quản lý, xây dựng
chính sách và định hướng các giải pháp bảo vệ môi trường biển, hải đảo của thành
phố trong giai đoạn 2026 – 2030. Qua đó, góp phần nâng cao nhận thức, trách
nhiệm của cơ quan quản lý, doanh nghiệp và cộng đồng trong việc bảo vệ tài
nguyên, môi trường biển và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững của thành phố
trong tương lai.
3
TRÍCH YẾU
Báo cáo Hiện trạng Môi trường Biển và Hải đảo Cần Thơ giai đoạn 2021 –
2025 được Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố Cần Thơ xây dựng theo quy
định của Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo năm 2015 và Luật Bảo vệ
môi trường năm 2020. Đây là báo cáo hiện trạng môi trường biển đầu tiên của
thành phố sau khi hợp nhất Cần Thơ (cũ), Hậu Giang và Sóc Trăng theo Nghị
quyết số 202/2025/QH15 của Quốc hội. Sau sáp nhập, thành phố chính thức có
không gian biển với đường bờ biển dài hơn 72 km tiếp giáp Biển Đông, tạo điều
kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế biển, đồng thời đặt ra yêu cầu cấp thiết đối
với công tác quản lý, bảo vệ tài nguyên và môi trường biển trong giai đoạn phát
triển mới.
Mục đích của báo cáo là đánh giá tổng thể hiện trạng, diễn biến và xu hướng
chất lượng môi trường biển và ven biển giai đoạn 2021 – 2025; nhận diện các
nguồn gây ô nhiễm, các áp lực từ phát triển kinh tế – xã hội và những vấn đề môi
trường nổi cộm tại khu vực ven biển. Trên cơ sở đó, báo cáo đề xuất các giải pháp
quản lý, bảo vệ môi trường phù hợp với điều kiện thực tiễn của thành phố sau sáp
nhập, trong đó tập trung vào chuyên đề quản lý rác thải nhựa vùng ven biển và
cửa sông.
Phạm vi đánh giá tập trung vào vùng biển ven bờ, cửa sông và các hệ sinh
thái ven biển thuộc địa bàn thành phố, bao gồm khu vực Vĩnh Châu, Vĩnh Phước,
Cù Lao Dung, Lai Hòa, Trần Đề, Vĩnh Hải và vùng cửa sông Hậu đổ ra Biển
Đông. Thời gian đánh giá trong giai đoạn 2021 – 2025, đồng thời cập nhật, bổ
sung số liệu quan trắc thực hiện vào tháng 3/2026, gồm: số liệu quan trắc tại 03
cửa sông Định An, Trần Đề, Mỹ Thanh và số liệu quan trắc nước biển ven bờ tại
06 điểm thuộc địa bàn các xã, phường ven biển.
Báo cáo là tài liệu phục vụ cho các cơ quan quản lý nhà nước của thành phố
và chính quyền địa phương cấp xã trong công tác quản lý, xây dựng kế hoạch, quy
hoạch và hoạch định chính sách bảo vệ môi trường biển; đồng thời cung cấp cơ
sở dữ liệu cho các tổ chức nghiên cứu, chuyên gia, cơ sở đào tạo và các tổ chức
liên quan phục vụ nghiên cứu khoa học. Ngoài ra, báo cáo còn góp phần nâng cao
nhận thức của cộng đồng, doanh nghiệp và người dân khu vực ven biển về trách
nhiệm bảo vệ tài nguyên, môi trường biển và phát triển bền vững.
Báo cáo được xây dựng theo khung phân tích DPSIR (Động lực – Sức ép –
Hiện trạng – Tác động – Đáp ứng), bảo đảm tính hệ thống và khả năng liên kết
giữa các nhóm thông tin. Người đọc quan tâm đến chất lượng môi trường nước
mặt nội địa và chất lượng nước biển ven bờ có thể tham khảo Chương 3; nội dung
về hệ sinh thái và đa dạng sinh học tại Chương 4; chuyên đề quản lý rác thải đại
dương tại Chương 5; các giải pháp quản lý, bảo vệ môi trường biển và hải đảo tại
Chương 8 cùng phần Kết luận của báo cáo.
4
Tóm tắt các chương mục của báo cáo:
Chương 1 – Tổng quan điều kiện tự nhiên và kinh tế – xã hội: giới thiệu
đặc điểm địa lý, khí hậu, chế độ thủy văn và hải văn vùng ven biển thành phố Cần
Thơ; đồng thời phác thảo bức tranh phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2021 –
2025, bao gồm tốc độ tăng trưởng, cơ cấu các ngành kinh tế biển, hạ tầng cảng
biển và các hoạt động hội nhập quốc tế. Chương này xác lập bối cảnh nền tảng để
phân tích các sức ép và hiện trạng môi trường ở các chương tiếp theo.
Chương 2 – Sức ép phát triển kinh tế – xã hội đối với môi trường biển:
phân tích các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội và yếu tố tự nhiên đang tạo áp
lực lên môi trường biển, ven biển thành phố Cần Thơ. Các sức ép chủ yếu được
xác định bao gồm gia tăng dân số, đô thị hóa, biến đổi khí hậu và nước biển dâng;
hoạt động nông nghiệp, nuôi trồng và khai thác thủy sản; phát triển công nghiệp,
hạ tầng, giao thông, cảng biển, năng lượng và khai thác tài nguyên; cùng với các
hoạt động du lịch, dịch vụ ven biển. Kết quả đánh giá cho thấy tải lượng chất thải
từ đất liền, áp lực khai thác tài nguyên, suy giảm sinh cảnh tự nhiên, gia tăng rác
thải nhựa và các tác động của biến đổi khí hậu đang làm gia tăng nguy cơ suy
thoái môi trường biển, đòi hỏi các giải pháp quản lý tổng hợp nhằm bảo đảm phát
triển kinh tế biển theo hướng bền vững.
Chương 3 – Hiện trạng môi trường nước: trình bày kết quả quan trắc chất
lượng nước biển ven bờ giai đoạn 2021 – 2025, bao gồm chuỗi số liệu định kỳ và
đợt quan trắc bổ sung đến tháng 3/2026. Nhìn chung, phần lớn thông số chất lượng
nước còn nằm trong ngưỡng cho phép của QCVN 10:2023/BTNMT; tuy nhiên,
một số khu vực cửa sông và vùng nuôi trồng thủy sản tập trung ghi nhận dấu hiệu
ô nhiễm hữu cơ, dinh dưỡng và vi sinh cục bộ, có xu hướng gia tăng theo thời gian.
Chương 4 – Hiện trạng đa dạng sinh học: đánh giá hiện trạng tài nguyên
sinh học vùng ven biển, bao gồm các hệ sinh thái đất ngập nước, rừng ngập mặn,
bãi triều và nguồn lợi thủy sinh. Diện tích rừng ngập mặn và rừng phòng hộ ven
biển giai đoạn 2021 – 2025 nhìn chung duy trì tương đối ổn định, có biến động
tăng giảm nhẹ theo từng năm. Giai đoạn 2023 – 2024 diện tích giảm nhẹ do tác
động của sạt lở, triều cường và thời tiết cực đoan. Đến năm 2025, diện tích tăng
lên 6.810,13 ha chủ yếu do cập nhật phạm vi thống kê và mở rộng phạm vi rừng
phòng hộ ven biển. Tuy nhiên, nguồn lợi thủy sản ven bờ có xu hướng suy giảm
do áp lực khai thác kéo dài, cùng với tác động của biến đổi khí hậu, suy giảm chất
lượng môi trường nước và suy thoái các sinh cảnh quan trọng như rừng ngập mặn,
bãi bồi ven biển, làm ảnh hưởng đến khả năng phục hồi và tái tạo nguồn lợi thủy
sản tự nhiên.
Chương 5 – Quản lý rác thải đại dương: đánh giá hiện trạng phát sinh, thu
gom và xử lý rác thải vùng ven biển, tập trung vào rác thải nhựa và các nguồn
phát sinh từ hoạt động sinh hoạt, du lịch, nuôi trồng thủy sản, khai thác thủy sản
5
và giao thông đường thủy. Chương phân tích khối lượng phát sinh ước tính, các
khu vực có nguy cơ tích tụ rác thải cao, đồng thời đánh giá thực trạng công tác
thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải tại khu vực ven biển. Kết quả cho thấy rác
thải nhựa đã trở thành một trong những áp lực môi trường đáng quan ngại đối với
hệ sinh thái và cảnh quan ven biển; công tác quản lý vẫn còn gặp nhiều khó khăn
do hạ tầng thu gom, xử lý chưa đồng bộ và đặc điểm phân tán của các khu dân cư
ven biển. Điều này đòi hỏi các giải pháp quản lý tổng hợp nhằm kiểm soát rác thải
ngay từ nguồn phát sinh, góp phần giảm thiểu nguy cơ ô nhiễm môi trường biển.
Chương 6 – Tác động của ô nhiễm môi trường biển: đánh giá các tác động
của ô nhiễm và suy thoái môi trường biển đối với chất lượng nước, hệ sinh thái,
nguồn lợi thủy sản, hoạt động kinh tế và sức khỏe cộng đồng vùng ven biển. Kết
quả cho thấy môi trường biển chịu ảnh hưởng từ nhiều nguồn ô nhiễm khác nhau,
bao gồm nước thải sinh hoạt, hoạt động nuôi trồng thủy sản, giao thông thủy và
rác thải nhựa. Các tác động nổi bật được ghi nhận là suy giảm chất lượng nước
biển ven bờ, suy giảm nguồn lợi thủy sản và sinh cảnh tự nhiên, gia tăng nguy cơ
dịch bệnh trong nuôi trồng thủy sản, ảnh hưởng đến cảnh quan và các hoạt động
kinh tế biển. Chương cũng phân tích vai trò của biến đổi khí hậu, xói lở bờ biển
và các xung đột môi trường trong việc làm gia tăng áp lực đối với tài nguyên, môi
trường biển và hệ sinh thái ven biển.
Chương 7 – Quản lý môi trường biển và hải đảo: đánh giá tổng thể công
tác quản lý nhà nước về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo giai đoạn 2021 –
2025 trên địa bàn thành phố Cần Thơ. Kết quả cho thấy hệ thống cơ chế, chính
sách và bộ máy quản lý từng bước được hoàn thiện; các chỉ tiêu môi trường cơ
bản đạt và vượt kế hoạch đề ra. Công tác đánh giá tác động môi trường, cấp phép
môi trường, thanh tra, kiểm tra, quan trắc và kiểm soát ô nhiễm được triển khai
tương đối đồng bộ, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý môi trường biển và ven
biển. Thành phố cũng đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số,
tăng cường tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng, thúc đẩy xã hội hóa và
mở rộng hợp tác quốc tế trong bảo vệ môi trường, phục hồi hệ sinh thái và thích
ứng với biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, công tác quản lý vẫn còn một số khó khăn
như nguồn lực tài chính và nhân lực chuyên môn còn hạn chế, hạ tầng kỹ thuật
chưa đồng bộ, việc ứng dụng công nghệ tiên tiến còn gặp nhiều thách thức và sự
liên kết, chia sẻ dữ liệu giữa các địa phương chưa thực sự hiệu quả.
Chương 8 – Các thách thức trong bảo vệ môi trường biển và hải đảo,
phương hướng, cơ hội và giải pháp trong 5 năm tới: phân tích các thách thức
chủ yếu đối với môi trường biển Cần Thơ giai đoạn 2026 – 2030, gồm gia tăng ô
nhiễm từ đất liền, suy giảm nguồn lợi thủy sản, suy thoái hệ sinh thái, tác động
của biến đổi khí hậu, hạn chế hạ tầng và bất cập trong quản lý. Trên cơ sở đó, đề
xuất định hướng phát triển kinh tế biển bền vững, bảo vệ môi trường và thích ứng
khí hậu; đồng thời xác định cơ hội từ chuyển đổi số, khoa học công nghệ, liên kết
6
vùng và hợp tác quốc tế. Các nhóm giải pháp ưu tiên tập trung vào kiểm soát ô
nhiễm, phục hồi hệ sinh thái, giảm rác thải nhựa đại dương, hiện đại hóa quan trắc
và cơ sở dữ liệu, hoàn thiện thể chế, huy động nguồn lực và thúc đẩy cộng đồng
cùng tham gia bảo vệ môi trường biển, hải đảo.
Kết luận và kiến nghị: môi trường biển Cần Thơ đang đối mặt với áp lực ô
nhiễm, suy giảm nguồn lợi và rủi ro thiên tai lớn, đòi hỏi phải quản lý tổng hợp
kịp thời. Báo cáo kiến nghị các nhóm giải pháp đồng bộ: UBND thành phố sớm
ban hành Kế hoạch quản lý vùng bờ (ICZM) giai đoạn 2026 – 2030, phục hồi
rừng ngập mặn và siết chặt kiểm soát xả thải; nâng tỷ lệ thu gom rác lên trên 95%,
ngăn chặn khai thác tận diệt và hỗ trợ sinh kế bền vững cho ngư dân; các Bộ ngành
cùng đối tác quốc tế (GIZ, UNDP, World Bank, IUCN) ưu tiên hỗ trợ hướng dẫn
kỹ thuật và nguồn vốn để địa phương triển khai hiệu quả.
7
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ
TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
1.1. TỔNG QUAN ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN
1.1.1. Khái quát đặc điểm vùng biển Việt Nam và khu vực biển thành phố
Cần Thơ
a. Khái quát đặc điểm vùng biển Việt Nam:
Biển Đông là một biển nửa kín, được bao quanh bởi bờ biển của nhiều quốc
gia và vùng lãnh thổ: phía Bắc giáp Trung Quốc (bao gồm cả đảo Đài Loan), phía
Tây và Tây Nam giáp với Việt Nam, Campuchia, Thái Lan; phía Nam và Đông
Nam giáp với Malaysia, Singapore, Indonesia, Brunei, Philippines. Với tổng diện
tích ước tính khoảng 3,9 triệu km
2
, chiều dài khoảng 3.500 km, chiều rộng khoảng
1.100 km, Biển Đông sở hữu hai vịnh lớn là Vịnh Bắc Bộ và Vịnh Thái Lan. Vịnh
Bắc Bộ diện tích khoảng 126.250 km
2
và Vịnh Thái Lan diện tích khoảng 293.000
km
2
. Việt Nam là quốc gia ven biển nằm ở phía Tây Biển Đông, có vị trí chiến lược
quan trọng. Nước ta sở hữu hơn 3.000 hải đảo ven bờ cùng với hai quần đảo xa bờ
có ý nghĩa đặc biệt về kinh tế, chính trị và quốc phòng là Hoàng Sa (thuộc Thành
phố Đà Nẵng) và Trường Sa (thuộc tỉnh Khánh Hòa).
Đặc điểm nổi bật nhất tạo nên tính nhạy cảm và sự trù phú về sinh thái của
vùng biển nước ta là tỷ lệ tiếp cận bờ biển cực kỳ cao (trung bình cứ 100 km² đất
liền lại có 1 km bờ biển, cao gấp 6 lần so với mức trung bình toàn cầu). Sự tương
tác mãnh liệt giữa hệ thống lục địa thông qua 114 cửa sông, cửa lạch và đại dương
đã kiến tạo nên các hệ sinh thái đới bờ đa dạng như rừng ngập mặn, rạn san hô,
thảm cỏ biển và vùng triều lầy cửa sông. Tuy nhiên, đây cũng là khu vực chịu sự
tác động trực tiếp từ các rủi ro thiên tai như bão, áp thấp nhiệt đới, nước biển dâng
và các hệ lụy từ quá trình phát triển kinh tế ven bờ.
b. Khái quát đặc điểm khu vực biển thành phố Cần Thơ
Sự kiện hợp nhất thành phố Cần Thơ (cũ), tỉnh Hậu Giang và tỉnh Sóc Trăng
theo Nghị quyết số 202/2025/QH15 của Quốc hội không chỉ là sự thay đổi về địa
giới hành chính, mà còn được xem là một bước ngoặt chiến lược trong công tác
quy hoạch không gian phát triển bền vững của Đồng bằng sông Cửu Long
(ĐBSCL). Lần đầu tiên, thành phố Cần Thơ chính thức sở hữu đường bờ biển dài
72 km kết nối trực tiếp với Biển Đông qua địa bàn các xã, phường: Vĩnh Châu,
Vĩnh Phước, Cù Lao Dung, Lai Hòa, Trần Đề, Vĩnh Hải và kết nối trực tiếp với
Biển Đông, nằm ở mạn sườn Đông Nam của Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL)
với ba cửa sông lớn đổ ra Biển Đông là Định An, Trần Đề và Mỹ Thanh, đặc điểm
này đã tạo thành vùng sinh thái cửa sông chuyển tiếp đặc thù, chịu ảnh hưởng sâu
sắc bởi chế độ bán nhật triều không đều.
8
Không gian biển này còn được định vị là xung lực phát triển cho các ngành
kinh tế biển mũi nhọn của thành phố bao gồm: nuôi trồng thủy sản (tôm, nghêu),
năng lượng tái tạo (điện gió) và logistics cảng biển (cảng Trần Đề). Tuy nhiên,
song hành cùng tiềm năng phát triển, khu vực này cũng đang phải đối mặt với các
thách thức môi trường ngày càng gay gắt, bao gồm tình trạng xâm nhập mặn lấn
sâu vào nội địa, xói lở bờ biển, suy thoái rừng ngập mặn và nguy cơ ô nhiễm từ
nuôi trồng thủy sản. Thực trạng này đòi hỏi thành phố cần có các giải pháp quản
lý tổng hợp vùng bờ và các chiến lược thích ứng bền vững nhằm bảo đảm tài
nguyên biển trong giai đoạn phát triển mới.
1.1.2. Đặc điểm vị trí địa lý
Hnh 1.1. Bản đồ hành chính Cần Thơ sau sáp nhập
9
Thành phố Cần Thơ sau sáp nhập (bao gồm TP. Cần Thơ, tỉnh Hậu Giang và
tỉnh Sóc Trăng) đã mở ra một thực thể lãnh thổ tích hợp đồng thời ba chức năng
chiến lược: đô thị – trung tâm dịch vụ cấp vùng (Cần Thơ), công nghiệp – logistics
nội đồng (Hậu Giang) và kinh tế biển – cảng nước sâu – năng lượng tái tạo (Sóc
Trăng). Thành phố sau sáp nhập với diện tích tự nhiên hơn 6.360 km², quy mô
dân số 4.199.806 người với số lượng đơn vị hành chính là 103 đơn vị hành chính
cấp xã, phường (31 phường và 72 xã).
Địa giới của thành phố Cần Thơ tiếp giáp như sau:
- Phía Đông, Đông Nam giáp tỉnh Vĩnh Long và Biển Đông;
- Phía Tây giáp tỉnh An Giang;
- Phía Nam giáp tỉnh Cà Mau;
- Phía Bắc giáp tỉnh Đồng Tháp và tỉnh An Giang.
1.1.3. Đặc điểm địa hnh
Cần Thơ mang đặc trưng địa hình của đồng bằng phù sa thấp, bằng phẳng,
đan xen với không gian cửa sông và bãi triều ven biển rộng lớn điển hình của hạ
lưu sông Mê Kông. Độ cao trung bình so với mực nước biển nhìn chung rất thấp,
phổ biến từ 0,5 – 2,5 mét (vùng nội đồng có nơi dưới 0,4 m). Địa hình có xu hướng
cao ở các dải đất ven sông Hậu, thấp dần về phía nội đồng và thoải dần ra các bãi
bồi hướng Biển Đông.
Địa hình thành phố được chia thành ba dạng chính là:
- Vùng đồng bằng ven sông Hậu (Cần Thơ cũ): Đây là vùng có địa hình cao
nhất, với độ cao từ 1,5 đến 2,5 m, hình thành bởi quá trình bồi tụ phù sa lâu đời
của sông Hậu. Nền đất tại đây tương đối vững chắc, cực kỳ thuận lợi cho việc
phát triển các khu đô thị nén, trung tâm thương mại và hạ tầng công nghiệp nặng.
- Vùng trũng nội đồng (Hậu Giang (trước sáp nhập)): Địa hình trũng thấp
với độ cao từ 0,3 đến 0,8 m. Bề mặt địa hình bị chia cắt mạnh bởi mạng lưới kênh
rạch nội đồng dày đặc. Do đặc thù địa hình thấp, vùng này đóng vai trò như một
túi chứa nước tự nhiên, nhưng đồng thời cũng là khu vực nhạy cảm, dễ bị tổn
thương do tình trạng ngập úng vào mùa lũ và xâm nhập mặn lấn sâu vào mùa khô.
- Vùng ngập triều ven biển và cửa sông (Sóc Trăng trước sáp nhập): Độ cao
biến động mạnh từ dưới 0,5 m (vùng trũng nội đồng) đến 1,0–1,5 m (gờ đê tự
nhiên ven các cửa sông). Khu vực ven biển có địa hình ngập triều điển hình, với
hệ thống bãi bồi và rừng ngập mặn phát triển.
10
1.1.4. Đặc điểm thổ nhưỡng
Tài nguyên đất của thành phố Cần Thơ thể hiện sự đa dạng và phân hóa rõ
rệt theo không gian, phản ánh lịch sử bồi tụ phức tạp của hệ thống sông Mekong
và tác động của chế độ thủy triều biển Đông. Các nhóm đất chính được phân chia
thành ba tiểu vùng tương ứng với đặc điểm đại hình và mức độ phản ánh của nước
mặn, nước ngọt:
- Nhóm đất phù sa (Fluviols): Phân bố chủ yếu ven sông Hậu và các kênh
trục lớn thuộc khu vực Cần Thơ cũ. Nhóm đất chiếm ưu thế, thành phần cơ giới
từ thịt nhẹ đến trung bình, giàu dinh dưỡng, độ phì nhiêu cao, ít bị nhiễm phèn,
mặn. Là vùng đất tốt nhất cho sản xuất nông nghiệp thâm canh, phát triển vùng
nguyên liệu tập trung phục vụ công nghiệp chế biến.
- Nhóm đất mặn (Salic Fluvisols/Gleysols): Phân bố rộng rãi tại khu vực ven
biển và các cửa sông thuộc địa bàn Sóc Trăng (trước sáp nhập), đặc biệt tại các
huyện Trần Đề, Cù Lao Dung, Vĩnh Châu. Đất mặn chịu ảnh hưởng trực tiếp của
xâm nhập mặn theo mùa và thủy triều, có hàm lượng muối hòa tan cao. Mặc dù có
độ phì tiềm tàng khá, nhưng độ mặn là yếu tố hạn chế chính đối với canh tác nông
nghiệp truyền thống. Nhóm đất này đặc biệt phù hợp cho các mô hình nuôi trồng
thủy sản nước lợ – mặn. Xu hướng gia tăng xâm nhập mặn do biến đổi khí hậu và
nước biển dâng đang làm mở rộng diện tích đất mặn, thu hẹp không gian sản xuất
lúa và cây trồng nước ngọt, đặt ra yêu cầu cấp thiết về quy hoạch sử dụng đất thích
ứng và chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông – ngư nghiệp một cách linh hoạt, bền vững.
- Nhóm đất phèn (Thionic Fluvisols): Chiếm diện tích đáng kể tại khu vực nội
đồng trũng thấp thuộc Hậu Giang (trước sáp nhập) và một phần Sóc Trăng (trước
sáp nhập). Đất phèn tiềm tàng hoặc phèn hoạt động có đặc điểm chua (pH thấp),
nghèo lân, chứa nhiều độc chất như sắt (Fe²⁺), nhôm (Al³⁺) và sunfat. Khi bị xáo
trộn hoặc oxy hóa, đất phèn giải phóng axit sulfuric gây độc cho cây trồng và ô
nhiễm nguồn nước. Việc cải tạo và sử dụng đất phèn đòi hỏi hệ thống thủy lợi điều
tiết nước tinh vi, kỹ thuật lên liếp, rửa phèn và lựa chọn cây trồng phù hợp.
1.1.5. Khí hậu
Thành phố Cần Thơ nằm hoàn toàn trong đới khí hậu nhiệt đới gió mùa cận
xích đạo, mang những nét đặc trưng điển hình của vùng Nam Bộ: Khí hậu nóng
năm quanh năm, với nhiệt độ trung bình năm trên toàn vùng dao động trong
khoảng 27 – 28°C và hai mùa mưa – khô rõ rệt.
- Mùa mưa: từ tháng 5 đến tháng 11, chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam.
Lượng mưa chiếm khoảng 90-95% tổng lượng mưa năm. Mưa nhiều vào các tháng
7 – 10 thường kèm theo giông, sấm sét và gió mạnh.
11
- Mùa khô: từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau chịu ảnh hưởng của gió mùa
Đông Bắc. Thời tiết nắng gắt, ít mưa, độ ẩm thấp hơn, dễ xảy ra hạn hán cục bộ
và xâm nhập mặn ở khu vực ven sông.
1.2. TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
1.2.1. Tnh hnh phát triển kinh tế
Giai đoạn 2021 - 2025, thành phố Cần Thơ có nhiều biến động quan trọng
về không gian phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là việc thực hiện sắp xếp đơn vị
hành chính cấp tỉnh và hợp nhất thành phố Cần Thơ với tỉnh Hậu Giang và tỉnh
Sóc Trăng từ ngày 01/7/2025. Sau hợp nhất, thành phố Cần Thơ mới có diện tích
tự nhiên 6.360,83 km², trở thành địa phương có quy mô lãnh thổ lớn nhất vùng
Đồng bằng sông Cửu Long, đồng thời sở hữu hệ thống không gian phát triển đa
dạng bao gồm khu vực đô thị trung tâm, vùng nông nghiệp - công nghiệp Hậu
Giang (trước sáp nhập) và vùng kinh tế biển Sóc Trăng (trước sáp nhập). Việc mở
rộng không gian phát triển tạo điều kiện thuận lợi cho liên kết nội vùng, khai thác
hiệu quả các lợi thế về công nghiệp, dịch vụ, nông nghiệp và kinh tế biển, đồng
thời tạo nền tảng hình thành cực tăng trưởng mới của khu vực Đồng bằng sông
Cửu Long (Cục Thống kê thành phố Cần Thơ, 2025).
Trong giai đoạn 2021 - 2024, kinh tế thành phố duy trì tốc độ tăng trưởng
tương đối ổn định với mức tăng trưởng GRDP bình quân khoảng 7,3 - 7,6%/năm.
Năm 2024, quy mô GRDP toàn thành phố (sau chuẩn hóa theo đơn vị hành chính
mới) đạt khoảng 349.127,73 tỷ đồng; GRDP bình quân đầu người đạt khoảng 86
triệu đồng/người/năm (Cục Thống kê thành phố Cần Thơ, 2025). Đến năm 2025,
mặc dù phải đồng thời thực hiện quá trình chuyển đổi mô hình quản lý và sắp xếp
bộ máy hành chính sau sáp nhập, nền kinh tế địa phương vẫn duy trì được đà tăng
trưởng tích cực. Tốc độ tăng trưởng GRDP năm 2025 đạt 7,23%, thấp hơn mục
tiêu 8,3% đề ra nhưng vẫn thuộc nhóm tăng trưởng khá của khu vực. Quy mô nền
kinh tế theo giá hiện hành đạt khoảng 306.170 tỷ đồng, vượt mức dự kiến trong
Đề án sắp xếp đơn vị hành chính; GRDP bình quân đầu người đạt 94,94 triệu
đồng/người/năm, tăng đáng kể so với giai đoạn trước hợp nhất (Cục Thống kê
thành phố Cần Thơ, 2025).
Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng giảm dần tỷ trọng khu vực
nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ. Đến năm 2025, khu vực công
nghiệp - xây dựng và dịch vụ tiếp tục giữ vai trò động lực tăng trưởng chính của
nền kinh tế. Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế diễn ra đồng thời với quá trình
đô thị hóa, mở rộng các khu công nghiệp, phát triển logistics và các hoạt động
kinh tế biển, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất và gia tăng giá trị sản xuất
trên địa bàn.
Lĩnh vực công nghiệp tiếp tục giữ vai trò là động lực tăng trưởng quan trọng.
Năm 2025, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) toàn thành phố tăng từ 10,0 - 10,43%
so với năm trước. Các địa phương trước khi sáp nhập đều ghi nhận mức tăng
12
trưởng tích cực, trong đó Hậu Giang (trước sáp nhập) tăng khoảng 10,91%, Cần
Thơ (trước sáp nhập) tăng 7,87% và Sóc Trăng (trước sáp nhập) tăng khoảng 8,5%
trong 6 tháng đầu năm. Các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục đóng vai
trò chủ đạo, đặc biệt là chế biến nông sản, thủy sản, sản xuất thực phẩm, năng
lượng tái tạo và vật liệu xây dựng. Một số ngành có tốc độ tăng trưởng nổi bật
như sản xuất giày da, năng lượng điện gió và sản xuất xi măng. Sự phát triển mạnh
mẽ của công nghiệp chế biến góp phần nâng cao giá trị gia tăng cho các sản phẩm
nông nghiệp, thủy sản của địa phương, đồng thời làm gia tăng nhu cầu sử dụng
tài nguyên nước, năng lượng và hạ tầng xử lý chất thải công nghiệp.
Hoạt động đầu tư tiếp tục duy trì xu hướng tăng trưởng tích cực. Tổng vốn
đầu tư thực hiện toàn xã hội năm 2025 đạt khoảng 84.680 tỷ đồng, tăng 10,45%
so với năm trước (Cục Thống kê thành phố Cần Thơ, 2025). Nguồn vốn đầu tư
tập trung vào phát triển hạ tầng giao thông, khu công nghiệp, logistics, năng lượng
tái tạo, đô thị và các công trình phục vụ phát triển kinh tế biển. Các dự án trọng
điểm như tuyến cao tốc Châu Đốc - Cần Thơ - Sóc Trăng, tuyến cao tốc Bắc -
Nam phía Đông, các khu công nghiệp mới và hệ thống cảng biển đang từng bước
hoàn thiện, góp phần tăng cường khả năng kết nối giữa thành phố với các tỉnh
trong khu vực và các trung tâm kinh tế lớn của cả nước.
Một trong những thay đổi quan trọng sau sáp nhập là việc thành phố Cần
Thơ sở hữu khoảng 72 km đường bờ biển thuộc địa bàn tỉnh Sóc Trăng trước đây.
Đây là điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế biển theo hướng tổng hợp, bao
gồm dịch vụ cảng biển, logistics, năng lượng tái tạo ngoài khơi, khai thác và nuôi
trồng thủy sản, du lịch biển và các dịch vụ hậu cần nghề cá. Quy hoạch Thành
phố Cần Thơ thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 xác định vùng Đông
Nam là vùng động lực phát triển kinh tế biển với các ngành kinh tế chủ đạo gồm
dịch vụ cảng biển, công nghiệp cơ khí, sửa chữa và đóng tàu, logistics biển, du
lịch sinh thái và du lịch biển (Ban Thường vụ Thành ủy Cần Thơ, 2025).
Hoạt động thương mại và dịch vụ tiếp tục tăng trưởng mạnh. Năm 2025, tổng
mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt khoảng 360.072 tỷ đồng,
tăng 20,02% so với năm 2024. Hệ thống trung tâm thương mại, siêu thị, chợ đầu
mối và các cơ sở dịch vụ tiếp tục được mở rộng nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng
ngày càng tăng của người dân và doanh nghiệp. Khu vực dịch vụ ngày càng khẳng
định vai trò là một trong những trụ cột quan trọng của nền kinh tế thành phố.
Hoạt động xuất nhập khẩu đạt nhiều kết quả tích cực. Kim ngạch xuất khẩu
năm 2025 đạt khoảng 5,508 tỷ USD, tăng 10,8% so với năm trước. Các mặt hàng
xuất khẩu chủ lực gồm thủy sản chế biến, gạo, nông sản thực phẩm chế biến, hàng
may mặc và sản phẩm công nghiệp. Việc hợp nhất vùng nguyên liệu nông nghiệp
và thủy sản của Hậu Giang, Sóc Trăng với hệ thống logistics và dịch vụ của Cần
Thơ (trước sáp nhập) đã tạo điều kiện thuận lợi để nâng cao năng lực cạnh tranh
và mở rộng thị trường xuất khẩu.
13
Ngành nông nghiệp tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế
và bảo đảm an ninh lương thực. Năm 2025, sản lượng lúa toàn thành phố đạt trên
4,7 triệu tấn, vượt kế hoạch đề ra và tăng nhẹ so với năm 2024. Bên cạnh sản xuất
lúa, các loại cây ăn trái có giá trị kinh tế cao tiếp tục được mở rộng diện tích và
ứng dụng các quy trình sản xuất tiên tiến nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế.
Nuôi trồng và khai thác thủy sản tiếp tục là ngành kinh tế quan trọng, đặc
biệt tại khu vực ven biển. Các mô hình nuôi tôm thâm canh, bán thâm canh, nuôi
tôm công nghệ cao và nuôi kết hợp nhiều đối tượng thủy sản tiếp tục được mở
rộng. Đáng chú ý, mô hình nuôi cá rô phi nước lợ kết hợp trong các vùng nuôi
tôm nhằm cải thiện chất lượng nước ao nuôi đã được triển khai và bước đầu mang
lại hiệu quả kinh tế cũng như môi trường. Hoạt động chế biến thủy sản tiếp tục
phát triển mạnh, tạo việc làm cho hàng chục nghìn lao động và đóng góp đáng kể
vào kim ngạch xuất khẩu của địa phương. Tuy nhiên, sự gia tăng diện tích nuôi
thâm canh và mật độ nuôi cao cũng tạo áp lực lớn đối với môi trường nước, hệ
sinh thái ven biển và công tác quản lý chất thải trong nuôi trồng thủy sản.
Du lịch tiếp tục phục hồi và phát triển mạnh sau đại dịch COVID-19. Năm
2025, thành phố đón khoảng 11,19 triệu lượt khách du lịch, tăng 18% so với năm
2024; tổng doanh thu du lịch đạt khoảng 9.991 tỷ đồng, tăng 20% so với năm trước.
Sự kết hợp giữa du lịch sông nước, du lịch sinh thái, du lịch văn hóa Khmer và các
sản phẩm du lịch biển đã góp phần đa dạng hóa sản phẩm du lịch và nâng cao sức
hấp dẫn của địa phương. Trong tương lai, khu vực ven biển được kỳ vọng sẽ trở
thành một trong những không gian phát triển du lịch trọng điểm của thành phố.
Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn năm 2025 đạt khoảng 25.805 tỷ đồng,
vượt dự toán được giao và tăng 8,3% so với năm 2024. Kết quả này phản ánh sự
phục hồi và phát triển tích cực của các hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa
bàn. Tuy nhiên, công tác giải ngân vốn đầu tư công còn gặp nhiều khó khăn do
vướng mắc trong công tác giải phóng mặt bằng, điều chỉnh quy hoạch và hoàn
thiện các thủ tục pháp lý sau sáp nhập. Tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công năm 2025
mới đạt khoảng 51,74% kế hoạch được giao, thấp hơn yêu cầu đặt ra.
Định hướng phát triển không gian kinh tế trong thời gian tới được xác lập
theo mô hình đa cực, gắn với 04 vùng động lực phát triển và 06 hành lang kinh tế
trọng điểm theo Quy hoạch thành phố Cần Thơ thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến
năm 2050. Trong đó, vùng phía Bắc tập trung phát triển công nghiệp chế biến,
công nghiệp hỗ trợ và logistics; vùng trung tâm phát triển dịch vụ chất lượng cao,
thương mại, tài chính, giáo dục, y tế và kinh tế số; vùng phía Tây phát triển nông
nghiệp ứng dụng công nghệ cao, công nghiệp chế biến nông sản và năng lượng
tái tạo; vùng Đông Nam tập trung phát triển kinh tế biển với các ngành chủ lực
như dịch vụ cảng biển, logistics, công nghiệp cơ khí, đóng mới và sửa chữa tàu
biển, nuôi trồng và chế biến thủy sản, du lịch sinh thái và du lịch biển. Định hướng
này tạo cơ sở để phát huy lợi thế tổng hợp của địa phương sau khi mở rộng không
gian phát triển, đồng thời tăng cường tính kết nối giữa các vùng kinh tế trong nội
tỉnh và với khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.
14
Trong giai đoạn tới, kinh tế biển được xác định là một trong những động lực
tăng trưởng mới của thành phố Cần Thơ. Việc sở hữu khoảng 72 km đường bờ biển
cùng hệ thống cửa sông, vùng bãi bồi, rừng ngập mặn và ngư trường ven bờ tạo
điều kiện thuận lợi để phát triển các ngành kinh tế biển theo hướng tổng hợp, hiện
đại và bền vững. Xu thế phát triển sẽ tập trung vào mở rộng hệ thống cảng biển và
dịch vụ logistics; phát triển nuôi trồng thủy sản công nghệ cao gắn với vùng nguyên
liệu và công nghiệp chế biến; nâng cao năng lực dịch vụ hậu cần nghề cá; phát triển
năng lượng tái tạo ngoài khơi; khai thác hiệu quả tiềm năng du lịch sinh thái, du
lịch biển và du lịch cộng đồng; đồng thời thúc đẩy các mô hình kinh tế tuần hoàn
và tăng trưởng xanh trong khai thác, sử dụng tài nguyên biển. Những định hướng
này phù hợp với Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm
2030, tầm nhìn đến năm 2045, đồng thời góp phần nâng cao khả năng thích ứng
với biến đổi khí hậu và sử dụng hiệu quả tài nguyên vùng ven biển.
Bên cạnh đó, quá trình phát triển kinh tế của thành phố sẽ gắn chặt với xu
thế tăng cường liên kết vùng trong Đồng bằng sông Cửu Long. Sau khi hợp nhất,
thành phố Cần Thơ vừa giữ vai trò trung tâm kinh tế, thương mại, dịch vụ, giáo
dục và logistics của vùng, vừa trở thành đầu mối kết nối giữa khu vực nội địa với
không gian kinh tế biển. Việc đầu tư đồng bộ các tuyến giao thông chiến lược như
cao tốc Châu Đốc - Cần Thơ - Sóc Trăng, cao tốc Bắc - Nam phía Đông, hệ thống
quốc lộ, đường thủy nội địa và các cảng biển sẽ góp phần tăng cường kết nối giữa
các vùng sản xuất nông nghiệp, thủy sản với các trung tâm chế biến, xuất khẩu và
dịch vụ logistics. Đồng thời, sự liên kết với các địa phương trong vùng Đồng bằng
sông Cửu Long và các trung tâm kinh tế lớn sẽ thúc đẩy hình thành chuỗi giá trị
sản xuất - chế biến - tiêu thụ quy mô lớn, nâng cao năng lực cạnh tranh của các
ngành nông nghiệp, thủy sản, công nghiệp chế biến và dịch vụ biển.
Tuy nhiên, cùng với quá trình mở rộng không gian phát triển kinh tế biển và
tăng cường liên kết vùng, áp lực đối với tài nguyên thiên nhiên và môi trường biển
dự báo sẽ tiếp tục gia tăng. Việc phát triển hạ tầng cảng biển, khu công nghiệp,
logistics, đô thị ven biển, mở rộng nuôi trồng thủy sản tập trung và gia tăng lưu
lượng vận tải đường thủy có thể làm gia tăng nhu cầu sử dụng tài nguyên, phát
sinh chất thải và nguy cơ ô nhiễm môi trường nước, suy giảm chất lượng hệ sinh
thái ven biển nếu không được quản lý hiệu quả. Đồng thời, môi trường biển của
thành phố không chỉ chịu tác động từ các hoạt động phát triển trong phạm vi địa
phương mà còn chịu ảnh hưởng của các nguồn thải từ lưu vực sông Hậu, hệ thống
cửa sông và các hoạt động kinh tế của các địa phương lân cận thông qua quá trình
lan truyền nước, bùn cát và chất ô nhiễm. Do đó, trong giai đoạn tới, yêu cầu tăng
cường liên kết vùng trong quản lý tổng hợp tài nguyên, bảo vệ môi trường biển,
chia sẻ dữ liệu quan trắc, kiểm soát nguồn thải và phối hợp ứng phó với biến đổi
khí hậu sẽ ngày càng trở nên cấp thiết, góp phần bảo đảm mục tiêu phát triển kinh
tế biển theo hướng bền vững.
15
1.2.2. Tnh hnh xã hội
Giai đoạn 2021 - 2025, cùng với những chuyển biến mạnh mẽ về kinh tế,
thành phố Cần Thơ cũng đạt được nhiều kết quả tích cực trong phát triển xã hội,
nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, cải thiện đời sống người dân và bảo đảm an
sinh xã hội. Việc hợp nhất thành phố Cần Thơ với tỉnh Hậu Giang và tỉnh Sóc
Trăng từ ngày 01/7/2025 đã hình thành một không gian xã hội rộng lớn với đặc
điểm dân cư đa dạng, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội nhưng
đồng thời cũng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với công tác quản lý dân cư, cung cấp
dịch vụ công và bảo đảm phát triển bền vững.
Theo Đề án sắp xếp đơn vị hành chính, thành phố Cần Thơ sau hợp nhất có
quy mô dân số khoảng 4,2 triệu người. Tuy nhiên, số liệu dân cư thực tế thường
trú năm 2025 đạt trên 3,2 triệu người. Thành phố có 103 đơn vị hành chính cấp
xã, gồm 31 phường và 72 xã, phân bố trên không gian rộng lớn từ khu vực đô thị
trung tâm đến các vùng nông thôn, vùng ven biển và cửa sông. Mật độ dân cư tập
trung cao tại khu vực nội thành Cần Thơ, trong khi các địa bàn ven biển và vùng
sản xuất nông nghiệp có mật độ dân số thấp hơn nhưng lại giữ vai trò quan trọng
trong phát triển kinh tế biển, nông nghiệp và bảo đảm an ninh lương thực của địa
phương (Cục Thống kê thành phố Cần Thơ, 2025).
Cơ cấu dân cư của thành phố mang tính đa dạng về văn hóa và dân tộc. Ngoài
cộng đồng người Kinh chiếm đa số, thành phố còn có khoảng 494.000 người dân
tộc thiểu số, chủ yếu là đồng bào Khmer sinh sống tập trung tại các địa bàn thuộc
Sóc Trăng trước đây. Đồng bào Khmer có vai trò quan trọng trong phát triển kinh
tế, bảo tồn bản sắc văn hóa truyền thống và duy trì các sinh kế gắn với nông
nghiệp, thủy sản và khai thác tài nguyên thiên nhiên tại khu vực ven biển. Việc
bảo đảm sinh kế bền vững, nâng cao trình độ dân trí và khả năng thích ứng với
biến đổi khí hậu cho cộng đồng dân cư ven biển, đặc biệt là đồng bào dân tộc
Khmer, tiếp tục là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của địa phương trong
những năm tới (UBND thành phố Cần Thơ, 2025).
Nguồn lao động của thành phố tương đối dồi dào, tạo điều kiện thuận lợi cho
phát triển các ngành công nghiệp, dịch vụ, nông nghiệp công nghệ cao và kinh tế
biển. Năm 2025, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt khoảng 65,2%, trong đó tỷ lệ lao
động có văn bằng, chứng chỉ đạt khoảng 32,5% (Cục Thống kê thành phố Cần
Thơ, 2025). Chất lượng nguồn nhân lực từng bước được cải thiện thông qua việc
mở rộng mạng lưới cơ sở đào tạo nghề, tăng cường liên kết giữa cơ sở đào tạo và
doanh nghiệp, đồng thời đẩy mạnh đào tạo lao động phục vụ các ngành kinh tế
trọng điểm như công nghiệp chế biến, logistics, du lịch và nuôi trồng thủy sản
công nghệ cao.
16
Hoạt động giải quyết việc làm đạt nhiều kết quả tích cực. Năm 2025, các dự
án đầu tư trên địa bàn đã tạo việc làm trực tiếp cho khoảng 94.622 lao động thông
qua hơn 698 dự án đầu tư trong nước và 78 dự án có vốn đầu tư nước ngoài. Riêng
tại khu vực Sóc Trăng trước đây, trong 6 tháng đầu năm 2025 đã giải quyết việc
làm cho khoảng 14.500 lao động. Việc mở rộng các khu công nghiệp, cụm công
nghiệp, trung tâm logistics và các cơ sở chế biến nông sản, thủy sản đã tạo ra nhu
cầu lao động lớn, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động từ khu vực nông nghiệp
sang công nghiệp và dịch vụ (Cục Thống kê tỉnh Sóc Trăng, 2025; Cục Thống kê
thành phố Cần Thơ, 2025).
Lĩnh vực giáo dục và đào tạo tiếp tục được quan tâm đầu tư. Thành phố Cần
Thơ giữ vai trò là trung tâm giáo dục và đào tạo lớn của vùng Đồng bằng sông
Cửu Long với hệ thống các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và
cơ sở giáo dục nghề nghiệp tương đối hoàn chỉnh. Mạng lưới trường học các cấp
được đầu tư nâng cấp, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện và đáp
ứng nhu cầu học tập của người dân trên địa bàn. Công tác đào tạo nghề cho lao
động nông thôn, lao động vùng ven biển và lao động thuộc hộ nghèo tiếp tục được
đẩy mạnh nhằm nâng cao khả năng tiếp cận việc làm và cải thiện thu nhập cho
người dân.
Lĩnh vực y tế tiếp tục phát triển theo hướng nâng cao chất lượng khám chữa
bệnh và mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ y tế của người dân. Thành phố hiện là
trung tâm y tế chuyên sâu của vùng Đồng bằng sông Cửu Long với hệ thống bệnh
viện đa khoa, chuyên khoa và cơ sở y tế tuyến cơ sở được đầu tư tương đối đồng
bộ. Các chương trình chăm sóc sức khỏe cộng đồng, phòng chống dịch bệnh, bảo
vệ sức khỏe bà mẹ và trẻ em được triển khai thường xuyên. Hệ thống y tế cơ sở
tại các vùng ven biển và nông thôn từng bước được củng cố nhằm đáp ứng nhu
cầu chăm sóc sức khỏe của người dân trong điều kiện biến đổi khí hậu, thiên tai
và các nguy cơ dịch bệnh ngày càng phức tạp.
Công tác an sinh xã hội và giảm nghèo tiếp tục được triển khai đồng bộ, góp
phần nâng cao chất lượng cuộc sống và thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các
khu vực. Thành phố đã ban hành và tổ chức thực hiện Kế hoạch triển khai Chương
trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững năm 2025 với mục tiêu giảm tỷ lệ
hộ nghèo đa chiều toàn thành phố xuống dưới 0,63% và tỷ lệ hộ nghèo trong đồng
bào dân tộc thiểu số xuống dưới 1,58% (UBND thành phố Cần Thơ, 2025).
Để thực hiện mục tiêu này, nhiều chương trình hỗ trợ sinh kế, đào tạo nghề,
hỗ trợ tín dụng ưu đãi và phát triển sản xuất đã được triển khai rộng rãi. Quỹ “Vì
người nghèo” của thành phố đã huy động được trên 2.400 tỷ đồng để hỗ trợ xây
dựng và sửa chữa hơn 15.000 căn nhà cho các hộ nghèo, hộ có hoàn cảnh khó
khăn về nhà ở. Đồng thời, các mô hình phát triển kinh tế hộ gia đình, sản xuất
nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, sản xuất theo tiêu chuẩn OCOP và liên kết
chuỗi giá trị tiếp tục được nhân rộng, góp phần tạo việc làm và nâng cao thu nhập
cho người dân nông thôn (UBND thành phố Cần Thơ, 2025).
17
Các tổ chức chính trị - xã hội tiếp tục phát huy vai trò trong công tác giảm
nghèo và phát triển cộng đồng. Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp đã triển khai nhiều
chương trình hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế, tiếp cận vốn vay ưu đãi, đào tạo
nghề và ứng dụng công nghệ số trong sản xuất kinh doanh. Lũy kế đến năm 2025,
các chương trình hỗ trợ của Hội đã giúp khoảng 8.257 hộ phụ nữ thoát nghèo và
cận nghèo, góp phần cải thiện đời sống và tăng cường khả năng tự chủ kinh tế cho
phụ nữ tại các khu vực nông thôn và ven biển.
Bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế tiếp tục được mở rộng phạm vi bao phủ.
Thành phố bảo đảm 100% người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo được hỗ trợ tham
gia bảo hiểm y tế theo quy định. Các chính sách trợ giúp xã hội, chăm sóc người
có công với cách mạng, người cao tuổi, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn và
các đối tượng bảo trợ xã hội tiếp tục được thực hiện đầy đủ, góp phần bảo đảm ổn
định xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.
Hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch cộng đồng tiếp tục được duy trì và phát
triển. Thành phố là nơi giao thoa của nhiều giá trị văn hóa đặc sắc giữa cộng đồng
người Kinh, Khmer và Hoa. Các lễ hội truyền thống như lễ hội Oóc Om Bóc, đua
ghe Ngo, các hoạt động văn hóa dân gian Nam Bộ và các loại hình nghệ thuật truyền
thống tiếp tục được bảo tồn và phát huy. Đây không chỉ là giá trị văn hóa đặc sắc
của địa phương mà còn là nguồn lực quan trọng cho phát triển du lịch sinh thái, du
lịch cộng đồng và du lịch văn hóa tại khu vực ven biển và vùng cửa sông.
Song song với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, thành phố tiếp tục đẩy
mạnh chuyển đổi số và cải cách hành chính. Sau khi hợp nhất, hệ thống cơ sở dữ
liệu dân cư, dịch vụ công trực tuyến và các nền tảng quản lý của ba địa phương
được từng bước tích hợp, đồng bộ hóa nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước
và chất lượng phục vụ người dân. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản
lý đất đai, tài nguyên nước, môi trường, thủy sản và phòng chống thiên tai được
tăng cường, tạo nền tảng thuận lợi cho phát triển đô thị thông minh và quản lý
tổng hợp tài nguyên vùng ven biển.
Nhìn chung, giai đoạn 2021 - 2025, thành phố Cần Thơ đạt nhiều thành tựu
quan trọng về phát triển xã hội, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và cải thiện
đời sống nhân dân. Tuy nhiên, quá trình đô thị hóa, gia tăng dân số, phát triển
công nghiệp, mở rộng các khu nuôi trồng thủy sản và tác động của biến đổi khí
hậu cũng đang đặt ra những thách thức mới đối với công tác quản lý xã hội, bảo
vệ môi trường và phát triển bền vững vùng ven biển. Đây là những vấn đề cần
được quan tâm trong quá trình xây dựng các chính sách quản lý tài nguyên, môi
trường biển và hải đảo của thành phố trong thời gian tới.
18
1.2.3. Đặc điểm kinh tế - xã hội khu vực ven biển
Khu vực ven biển thành phố Cần Thơ sau sáp nhập bao gồm 06 xã, phường:
Cù Lao Dung, Trần Đề, Vĩnh Châu, Vĩnh Phước, Lai Hòa và Vĩnh Hải. Đây là
vùng không gian đặc thù nằm ở phía Đông Nam thành phố, tiếp giáp trực tiếp với
Biển Đông, đồng thời là khu vực cửa ngõ kết nối giữa hệ thống sông Hậu với vùng
biển ven bờ Đồng bằng sông Cửu Long. Sự hình thành khu vực ven biển đã tạo
ra bước chuyển quan trọng về không gian phát triển của thành phố Cần Thơ, từ
một đô thị trung tâm nội vùng trở thành địa phương có đầy đủ các yếu tố phát
triển kinh tế biển, logistics cảng biển và năng lượng tái tạo ven biển.
Khu vực ven biển có vai trò đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển
kinh tế biển của thành phố, đồng thời là vùng chịu tác động nhạy cảm của biến
đổi khí hậu, nước biển dâng, xâm nhập mặn và xói lở bờ biển. Đây cũng là khu
vực tập trung nhiều hệ sinh thái đặc thù như bãi triều, rừng ngập mặn, vùng cửa
sông và vùng nuôi trồng thủy sản nước lợ quy mô lớn.
Bảng 1.1. Tổng hợp sáu xã/phường ven biển thành phố Cần Thơ
STT
Đơn vị
Diện tích
(km
2
)
Dân số
(người)
Đặc điểm nổi bật
1
Cù Lao Dung
150,13
44.937
Cù lao giữa sông Hậu, phát triển nông
nghiệp sinh thái, nuôi thủy sản và du
lịch cộng đồng
2
Trần Đề
93,92
52.771
Trung tâm cảng biển, logistics, khai
thác thủy sản và cửa ngõ ra biển
3
Vĩnh Châu
98,26
68.437
Trung tâm nuôi tôm nước lợ và sản xuất
nông nghiệp ven biển
4
Vĩnh Phước
103,15
51.897
Khu vực nuôi trồng thủy sản và sản xuất
nông nghiệp thích ứng mặn
5
Lai Hòa
55,37
29.426
Khu vực ven biển có đông đồng bào
Khmer sinh sống, phát triển thủy sản và
thương mại nhỏ
6
Vĩnh Hải
83,75
27.820
Vùng ven biển kết hợp nuôi thủy sản,
khai thác biển và điện gió ven biển
Tổng
584,58
275.288
Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Nhà xuất bản Tài nguyên - Môi trường và Bản đồ Việt
Nam, Bản đồ tra cứu các đơn vị hành chính Việt Nam. Truy cập trực tuyến tại:
https://sapnhap.bando.com.vn/ (ngày 16/05/2026)
Theo các số liệu tổng hợp từ báo cáo kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh
năm 2025 và phương hướng nhiệm vụ của 6 xã, phường ven biển, có thể tóm tắt
tình hình kinh - tế xã hội khu vực ven biển thành phố Cần Thơ như sau:
19
a. Đặc điểm phát triển kinh tế:
Kinh tế khu vực ven biển phát triển chủ yếu dựa trên nông nghiệp thích ứng
mặn, nuôi trồng thủy sản, khai thác thủy sản và các hoạt động thương mại – dịch
vụ ven biển. Trong đó, thủy sản là ngành kinh tế chủ lực và có tốc độ phát triển
nhanh nhất.
Theo số liệu tổng hợp năm 2025, tổng sản lượng thủy sản tại các địa phương
ven biển đạt quy mô lớn, trong đó xã Trần Đề đạt khoảng 81.514 tấn, xã Cù Lao
Dung đạt 29.580 tấn, phường Vĩnh Phước đạt 29.415 tấn, phường Vĩnh Châu đạt
28.067 tấn, xã Lai Hòa đạt 16.880 tấn và xã Vĩnh Hải đạt khoảng 12.248 tấn. Các
địa phương ven biển hiện đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu sản xuất thủy sản
của toàn thành phố, đặc biệt đối với nuôi trồng thủy sản nước lợ và khai thác hải
sản ven bờ.
Nuôi tôm nước lợ là ngành sản xuất đặc trưng của khu vực ven biển. Phường
Vĩnh Phước có diện tích nuôi thủy sản khoảng 6.020 ha, trong đó riêng diện tích
nuôi tôm thẻ chân trắng đạt khoảng 3.521 ha với sản lượng khoảng 23.706 tấn.
Xã Lai Hòa có diện tích nuôi thủy sản khoảng 3.468,6 ha với tổng sản lượng thủy
sản đạt trên 16.880 tấn. Xã Vĩnh Hải có diện tích nuôi thủy sản khoảng 3.559 ha.
Các mô hình nuôi tôm sú, tôm thẻ chân trắng thâm canh và bán thâm canh tiếp
tục phát triển mạnh tại Vĩnh Châu, Vĩnh Phước, Lai Hòa và Vĩnh Hải, góp phần
nâng cao giá trị sản xuất và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn ven biển.
Bên cạnh thủy sản, sản xuất nông nghiệp ven biển cũng có sự phân hóa rõ
rệt theo điều kiện sinh thái từng địa phương. Xã Cù Lao Dung phát triển mạnh
cây mía với diện tích khoảng 3.150 ha trong tổng số khoảng 7.600 ha gieo trồng
cây hàng năm; diện tích cây ăn trái đạt khoảng 2.376 ha. Địa phương hiện có 10
mã số vùng trồng xuất khẩu với diện tích khoảng 197 ha cho các sản phẩm như
nhãn Idor, thanh nhãn và dừa.
Tại phường Vĩnh Châu, hành tím tiếp tục là sản phẩm nông nghiệp đặc trưng
với diện tích khoảng 3.504 ha và sản lượng khoảng 58.832 tấn; tổng diện tích sản
xuất rau màu đạt khoảng 5.341 ha với sản lượng trên 125.514 tấn. Trong khi đó,
phường Vĩnh Phước có diện tích hành tím khoảng 524 ha với sản lượng khoảng
8.810 tấn; xã Lai Hòa có diện tích hành tím khoảng 164 ha. Những sản phẩm nông
nghiệp đặc trưng này góp phần hình thành vùng chuyên canh nông nghiệp thích
ứng mặn đặc trưng của khu vực ven biển thành phố.
Hoạt động khai thác thủy sản và dịch vụ hậu cần nghề cá tập trung chủ yếu
tại xã Trần Đề. Trong năm 2025, địa phương ghi nhận khoảng 20.249 lượt tàu
thuyền cập cảng, trong đó có khoảng 19.618 lượt tàu khai thác xa bờ; tổng lượng
hàng hóa thông qua cảng đạt khoảng 156.100 tấn, riêng thủy sản đạt khoảng
89.000 tấn. Đây là cơ sở quan trọng để phát triển hệ thống logistics nghề cá và
định hướng hình thành cảng cửa ngõ quốc tế của vùng Đồng bằng sông Cửu Long
trong tương lai (Ủy ban nhân dân xã Trần Đề, 2025).
20
Ngoài ra, chương trình OCOP tại khu vực ven biển đạt nhiều kết quả tích
cực. Xã Cù Lao Dung hiện có 07 sản phẩm OCOP và 03 điểm giới thiệu sản phẩm;
xã Trần Đề có 07 sản phẩm OCOP đạt chuẩn 3 sao; phường Vĩnh Châu có 24 sản
phẩm OCOP được chứng nhận của 08 doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ kinh doanh.
Các sản phẩm OCOP góp phần nâng cao giá trị nông sản địa phương, thúc đẩy
phát triển kinh tế nông thôn và tăng cường liên kết sản xuất – tiêu thụ sản phẩm.
Bên cạnh các ngành kinh tế truyền thống, khu vực ven biển còn có tiềm năng
lớn về phát triển năng lượng tái tạo và logistics biển. Các địa phương như Vĩnh
Châu và Vĩnh Hải có điều kiện thuận lợi để phát triển điện gió ven biển và điện
gió ngoài khơi nhờ tốc độ gió ổn định và vùng bãi bồi rộng. Đồng thời, khu vực
Trần Đề được xác định là trung tâm động lực phát triển kinh tế biển gắn với định
hướng hình thành cảng biển nước sâu Trần Đề theo quy hoạch hệ thống cảng biển
quốc gia.
b. Đặc điểm dân cư, lao động và an sinh xã hội:
Dân cư khu vực ven biển phân bố chủ yếu dọc theo các tuyến sông, cửa sông,
đê biển và các trục giao thông chính. So với khu vực nội ô trung tâm, mật độ dân
cư thấp hơn và mang đặc trưng dân cư nông thôn ven biển. Cơ cấu dân cư khá đa
dạng, bao gồm các dân tộc Kinh, Khmer và Hoa; trong đó cộng đồng người Khmer
chiếm tỷ lệ tương đối cao tại các địa phương như Vĩnh Châu, Lai Hòa và Vĩnh
Hải, góp phần hình thành bản sắc văn hóa đặc trưng của vùng ven biển Nam Bộ.
Lao động tại khu vực ven biển chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực nuôi trồng
thủy sản, khai thác thủy sản, sản xuất nông nghiệp và lao động thời vụ. Công tác
giải quyết việc làm đạt kết quả khá tích cực trong năm 2025. Xã Trần Đề giải
quyết việc làm cho khoảng 1.250 lao động, đạt trên 171% kế hoạch; phường Vĩnh
Châu giải quyết việc làm cho khoảng 1.146 lao động, đạt gần 140% kế hoạch. Xã
Vĩnh Hải giải quyết việc làm cho khoảng 652 lao động; xã Cù Lao Dung giải
quyết việc làm cho khoảng 386 lao động và có 20 trường hợp xuất khẩu lao động;
xã Lai Hòa giải quyết việc làm cho khoảng 291 lao động và có 08 lao động đi làm
việc ở nước ngoài theo hợp đồng.
Sinh kế của cư dân ven biển phụ thuộc lớn vào điều kiện tự nhiên và biến
động thị trường thủy sản. Hoạt động sản xuất mang tính mùa vụ khá rõ nét, đặc
biệt trong lĩnh vực nuôi trồng và khai thác thủy sản. Một bộ phận lao động địa
phương tiếp tục tham gia lao động ngoài tỉnh hoặc xuất khẩu lao động nhằm tăng
thu nhập và giảm áp lực việc làm tại chỗ.
Hệ thống hạ tầng xã hội và điều kiện dân sinh từng bước được cải thiện. Tỷ
lệ người dân sử dụng nước sạch tại một số địa phương đạt mức khá cao như xã
Trần Đề đạt khoảng 99,9% dân số được cấp nước sạch tập trung; phường Vĩnh
Phước đạt khoảng 96% khu vực đô thị. Tuy nhiên, tại một số khu vực ven biển và
vùng dân cư phân tán, tỷ lệ tiếp cận nước sạch vẫn còn thấp, điển hình như xã Cù
Lao Dung chỉ có khoảng 32% hộ dân được sử dụng nước sạch từ hệ thống cấp
nước tập trung.
21
Công tác thu gom và xử lý chất thải sinh hoạt từng bước được cải thiện nhưng
chưa đồng đều giữa các địa phương. Xã Trần Đề đạt tỷ lệ thu gom rác thải khu
vực đô thị khoảng 95,5%, trong khi xã Cù Lao Dung hiện mới đạt khoảng 68%
kế hoạch thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt. Điều này cho thấy hạ tầng môi
trường khu vực ven biển vẫn còn nhiều hạn chế và cần tiếp tục được đầu tư đồng
bộ trong thời gian tới.
c. Hạ tầng kỹ thuật và các vấn đề môi trường:
Khu vực ven biển đang từng bước được đầu tư phát triển hệ thống hạ tầng
giao thông, thủy lợi và hạ tầng phục vụ sản xuất. Xã Cù Lao Dung hiện có tổng
chiều dài hệ thống giao thông khoảng 153,4 km, gồm các tuyến đường tỉnh, đường
huyện và giao thông nông thôn; đồng thời có 28 cây cầu, 11 bến khách ngang
sông và 06 bến thủy nội địa. Phường Vĩnh Châu và xã Lai Hòa đang triển khai
nhiều dự án nâng cấp giao thông, giải phóng mặt bằng và hoàn thiện hạ tầng phục
vụ phát triển kinh tế ven biển.
Hệ thống thủy lợi và công trình kiểm soát mặn từng bước được củng cố nhằm
phục vụ sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản thích ứng với biến đổi khí
hậu. Tuy nhiên, nhiều khu vực ven biển vẫn chịu ảnh hưởng mạnh của triều cường,
xâm nhập mặn và sạt lở bờ sông, bờ biển.
Bên cạnh tiềm năng phát triển, khu vực ven biển cũng đang đối mặt với nhiều
thách thức môi trường. Tình trạng xói lở bờ sông, bờ biển diễn biến ngày càng
phức tạp; riêng xã Cù Lao Dung ghi nhận nhiều đoạn sạt lở nghiêm trọng với tổng
chiều dài hơn 480 m, ảnh hưởng khoảng 55 hộ dân và hơn 115 ha đất sản xuất.
Ngoài ra, hoạt động nuôi tôm thâm canh phát triển nhanh đang tạo áp lực lớn
đối với môi trường nước ven biển. Một số địa phương như Vĩnh Phước, Lai Hòa
và Vĩnh Hải vẫn còn tồn tại những hạn chế trong công tác quản lý môi trường nuôi
trồng thủy sản, đặc biệt là thu gom và xử lý nước thải ao nuôi. Đồng thời, biến đổi
khí hậu, xâm nhập mặn, triều cường và thời tiết cực đoan tiếp tục là những yếu tố
tác động trực tiếp đến sản xuất, sinh kế và hệ sinh thái khu vực ven biển.
Trong bối cảnh đó, việc phát triển kinh tế biển của thành phố cần gắn với
quản lý tổng hợp vùng bờ, bảo vệ hệ sinh thái ven biển, nâng cao chất lượng hạ
tầng môi trường và tăng cường khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu nhằm bảo
đảm mục tiêu phát triển bền vững trong dài hạn.
22
CHƯƠNG 2. SỨC ÉP CỦA PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI ĐỐI VỚI
MÔI TRƯỜNG BIỂN
2.1. SỨC ÉP DÂN SỐ, VẤN ĐỀ DI CƯ, ĐÔ THỊ HÓA VÀ BIẾN ĐỔI KHÍ
HẬU – NƯỚC BIỂN DÂNG
2.1.1. Sức ép dân số và mật độ khu vực ven biển
Sau khi sáp nhập đơn vị hành chính, thành phố Cần Thơ có quy mô dân số
trên 4,19 triệu người. Trong đó, dân số sinh sống tại khu vực ven biển và vùng
đệm ven biển gồm các địa phương Cù Lao Dung, Trần Đề, Vĩnh Châu, Vĩnh
Phước và Lai Hòa khoảng 275.288 người, chiếm khoảng 6,6% dân số toàn thành
phố. Dân cư phân bố chủ yếu tại các khu vực cửa sông, ven biển, dọc theo hệ
thống sông, kênh rạch và các tuyến giao thông chính, gắn với các hoạt động nuôi
trồng thủy sản, khai thác thủy sản, dịch vụ hậu cần nghề cá và thương mại.
Mật độ dân số trung bình tại khu vực ven biển dao động khoảng 160 – 220
người/km², tuy nhiên phân bố không đồng đều giữa các địa phương. Tại các khu
vực trung tâm của xã Trần Đề, phường Vĩnh Châu và các cụm dân cư ven các
tuyến giao thông chính, mật độ dân số cục bộ có thể đạt khoảng 500 – 700
người/km². Sự tập trung dân cư tại các khu vực này làm gia tăng nhu cầu sử dụng
đất, nước sạch và các dịch vụ hạ tầng môi trường như cấp nước, thoát nước, thu
gom, vận chuyển và xử lý nước thải, chất thải rắn sinh hoạt. Trong điều kiện hạ
tầng kỹ thuật và hạ tầng môi trường tại một số khu vực ven biển chưa được đầu
tư đồng bộ, áp lực đối với các công trình thu gom, xử lý chất thải và tiêu thoát
nước có xu hướng gia tăng.
Giai đoạn 2021 – 2025, tốc độ tăng dân số tự nhiên tại các địa phương ven
biển có xu hướng chậm lại so với giai đoạn trước, tuy nhiên quy mô dân số cư trú
vẫn duy trì ở mức cao. Đồng thời, sự phát triển của các hoạt động kinh tế biển,
dịch vụ hậu cần nghề cá, thương mại và hạ tầng giao thông tiếp tục làm gia tăng
nhu cầu tập trung dân cư tại một số khu vực ven biển, đặc biệt là khu vực Trần
Đề và Vĩnh Châu. Điều này làm gia tăng nhu cầu sử dụng hạ tầng kỹ thuật, dịch
vụ công và các công trình bảo vệ môi trường.
Trong thời gian tới, cùng với quá trình phát triển kinh tế biển, mở rộng không
gian đô thị và đầu tư hạ tầng giao thông, khu vực ven biển được dự báo sẽ tiếp tục
thu hút dân cư và các hoạt động phát triển kinh tế. Quá trình này sẽ làm gia tăng
nhu cầu sử dụng đất, tài nguyên nước, hệ thống cấp nước, thoát nước, thu gom và
xử lý chất thải, đồng thời làm tăng lượng nước thải sinh hoạt và chất thải rắn phát
sinh tại khu vực ven biển. Đây là một trong những nguồn gây sức ép quan trọng
đối với công tác quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo của thành
phố trong giai đoạn tới. Các số liệu về lượng nước thải sinh hoạt và chất thải rắn
phát sinh từ khu vực ven biển được trình bày chi tiết tại Mục 2.1.2.
23
2.1.2. Quá trnh tập trung dân cư và đô thị hóa vùng ven biển
Giai đoạn 2021 – 2025, cùng với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, đầu tư
hạ tầng giao thông và định hướng phát triển kinh tế biển, quá trình tập trung dân
cư và đô thị hóa tại khu vực ven biển thành phố Cần Thơ tiếp tục diễn ra, tập trung
chủ yếu tại các địa phương Vĩnh Châu, Trần Đề và Cù Lao Dung. Sự hình thành
và mở rộng các khu dân cư, khu thương mại - dịch vụ, hạ tầng giao thông và các
công trình phục vụ phát triển kinh tế biển đã làm gia tăng nhu cầu sử dụng đất, hạ
tầng kỹ thuật và các dịch vụ môi trường tại khu vực ven biển.
Quá trình đô thị hóa làm gia tăng chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ đất
nông nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản và một phần đất tự nhiên sang đất ở, đất giao
thông, đất thương mại - dịch vụ và các công trình hạ tầng kỹ thuật. Hoạt động san
lấp mặt bằng, nâng nền và xây dựng các công trình hạ tầng diễn ra ngày càng
nhiều tại các khu vực ven biển, làm gia tăng diện tích bề mặt xây dựng, nhu cầu
vật liệu xây dựng và nhu cầu tiêu thoát nước đô thị.
Cùng với sự mở rộng không gian đô thị, nhu cầu sử dụng nước sạch cho sinh
hoạt, dịch vụ và các hoạt động kinh tế tại khu vực ven biển tiếp tục gia tăng, tạo áp
lực đối với hệ thống cấp nước và các nguồn nước phục vụ sinh hoạt. Đồng thời,
quá trình đô thị hóa cũng làm gia tăng nhu cầu đầu tư hệ thống thoát nước, thu gom
và xử lý nước thải nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển đô thị và bảo vệ môi trường.
Theo ước tính, tổng lượng nước thải sinh hoạt phát sinh tại 06 xã, phường
ven biển của thành phố khoảng 21.993,36 m³/ngày. Trong khi đó, hệ thống thu
gom và xử lý nước thải tập trung tại nhiều khu vực ven biển vẫn chưa được đầu
tư đồng bộ, làm gia tăng áp lực đối với công tác thu gom, xử lý nước thải và quản
lý nguồn thải phát sinh từ các khu dân cư ven biển.
Bên cạnh nước thải sinh hoạt, quá trình đô thị hóa cũng làm gia tăng lượng
chất thải rắn sinh hoạt phát sinh. Tổng khối lượng chất thải rắn sinh hoạt tại 06
xã, phường ven biển ước tính khoảng 157,4 tấn/ngày. Khối lượng chất thải ngày
càng tăng đặt ra yêu cầu mở rộng năng lực thu gom, vận chuyển và xử lý chất
thải, đồng thời làm gia tăng nguy cơ phát sinh các điểm tập kết chất thải không
đúng quy định và thất thoát chất thải từ khu dân cư ra hệ thống sông, kênh rạch
và khu vực ven biển nếu không được quản lý hiệu quả.
Ngoài các nguồn thải sinh hoạt, quá trình đô thị hóa còn làm gia tăng nhu
cầu phát triển hạ tầng giao thông, cấp điện, cấp nước, viễn thông và các công trình
công cộng. Hoạt động xây dựng, cải tạo và mở rộng các công trình hạ tầng làm
gia tăng nhu cầu khai thác vật liệu xây dựng, vận chuyển vật liệu, phát sinh chất
thải xây dựng và các nguồn phát thải trong quá trình thi công, tạo thêm sức ép đối
với công tác quản lý môi trường tại khu vực ven biển.
24
Nhìn chung, quá trình tập trung dân cư và đô thị hóa vùng ven biển đã làm
gia tăng nhu cầu sử dụng đất, hạ tầng kỹ thuật, tài nguyên nước và các dịch vụ
môi trường, đồng thời làm tăng lượng nước thải sinh hoạt, chất thải rắn sinh hoạt
và chất thải phát sinh từ hoạt động xây dựng. Đây là một trong những nguồn gây
sức ép quan trọng đối với môi trường biển và hải đảo, đòi hỏi công tác quy hoạch,
đầu tư hạ tầng môi trường và quản lý nguồn thải phải được thực hiện đồng bộ
trong quá trình phát triển đô thị ven biển.
2.1.3. Biến đổi khí hậu, nước biển dâng và các tác động liên quan
Trong giai đoạn 2021 – 2025, biến đổi khí hậu và nước biển dâng tiếp tục là
một trong những nguồn sức ép tự nhiên quan trọng đối với môi trường biển, vùng
cửa sông và khu vực ven biển của thành phố Cần Thơ. Các biểu hiện của biến đổi
khí hậu ngày càng rõ nét thông qua xu thế gia tăng nhiệt độ, biến động bất thường
của lượng mưa, gia tăng tần suất các hiện tượng thời tiết cực đoan, triều cường,
xâm nhập mặn và sạt lở bờ biển. Những yếu tố này đang làm thay đổi các điều
kiện tự nhiên, thủy văn và địa mạo ven biển, tạo ra áp lực ngày càng lớn đối với
các hệ sinh thái biển và ven biển.
Nhiệt độ không khí tại khu vực có xu hướng gia tăng trong những năm gần
đây, đặc biệt vào mùa khô khi nhiệt độ cao nhất có thời điểm vượt 35
0
C. Cùng
với đó, các đợt nắng nóng kéo dài xuất hiện thường xuyên hơn, làm thay đổi chế
độ nhiệt của môi trường nước tại các vùng cửa sông và ven biển. Đây là một trong
những yếu tố gây áp lực lên các quá trình sinh thái tự nhiên và làm gia tăng tính
nhạy cảm của các hệ sinh thái thủy sinh trước những biến động môi trường. Dữ
liệu quan trắc khí tượng giai đoạn 2021 – 2025 cho thấy xu thế tăng nhiệt rõ rệt,
đặc biệt đạt đỉnh cực đoan vào các năm 2024 và 2025 trên toàn khu vực.
Biểu đồ 2.1. Xu thế biến động nhiệt độ không khí trung bnh năm
25
Bên cạnh xu thế gia tăng nhiệt độ, chế độ mưa trên địa bàn cũng có nhiều
biến động bất thường. Nhiều trận mưa lớn với cường độ cao xuất hiện trong thời
gian ngắn, xen kẽ với các giai đoạn khô hạn kéo dài, làm gia tăng tính bất ổn của
chế độ dòng chảy và quá trình trao đổi nước giữa sông, cửa sông và vùng ven
biển. Tính chất bất ổn của khí hậu khu vực được thể hiện rõ qua biên độ dao động
tổng lượng mưa năm giữa các năm.
Biểu đồ 2.2. Sự biến động bất thường của tổng lượng mưa năm
Sự gia tăng các hiện tượng thời tiết cực đoan được thể hiện qua tần suất thiên
tai xảy ra liên tục trong giai đoạn 2021 - 2025. Năm 2021 ghi nhận 185 vụ thiên
tai; năm 2022 ghi nhận 34 vụ; năm 2023 xảy ra 27 vụ dông, lốc cùng nhiều sự cố
sạt lở; năm 2024 tiếp tục xuất hiện các đợt lốc, sét, mưa lớn và sạt lở; đến năm
2025 ghi nhận 78 đợt mưa dông lốc, 06 đợt ngập lụt, triều cường và nhiều điểm
sạt lở trên địa bàn. Diễn biến này cho thấy mức độ bất ổn của điều kiện khí hậu
khu vực đang có xu hướng gia tăng rõ rệt (Nguồn: Chi cục Thủy lợi tỉnh Sóc
Trăng 2021 – 2024; Chi cục Thủy lợi thành phố Cần Thơ, 2025).
Triều cường và nước biển dâng là những sức ép nổi bật đối với khu vực cửa
sông và ven biển. Trong giai đoạn 2021 – 2025, nhiều đợt triều cường vượt mức
báo động III và liên tục xác lập các mốc lịch sử mới. Ngày 12/10/2022, mực
nước đỉnh triều tại trạm Cần Thơ đạt 2,27 m; đến ngày 06/11/2025 tiếp tục tăng
lên 2,35 m, vượt báo động III khoảng 35 cm và là mức cao nhất từng được ghi
nhận tại khu vực. Xu thế gia tăng mực nước triều phản ánh ảnh hưởng ngày càng
rõ nét của nước biển dâng kết hợp với các yếu tố khí tượng thủy văn cực đoan
đối với vùng cửa sông và ven biển (Nguồn: Chi cục Thủy lợi tỉnh Sóc Trăng
2021–2024; Chi cục Thủy lợi thành phố Cần Thơ, 2025).
26
Cùng với triều cường, tình trạng xâm nhập mặn có xu hướng xuất hiện sớm
hơn và kéo dài hơn trong những năm gần đây. Từ mùa khô 2023 – 2024, xâm
nhập mặn xuất hiện sớm hơn trung bình nhiều năm khoảng 01 tháng. Độ mặn cao
nhất trên sông Hậu ghi nhận đạt 24,2‰ tại Trần Đề và 20,6‰ tại Long Phú; phạm
vi ảnh hưởng của mặn trên sông Hậu đạt 55 – 60 km và trên sông Mỹ Thanh đạt
65 – 70 km. Đến mùa khô 2024 – 2025, xâm nhập mặn tiếp tục xuất hiện từ cuối
tháng 12/2024 và duy trì ở mức cao đến tháng 4/2025. Diễn biến này phản ánh áp
lực ngày càng lớn của nước biển dâng và sự suy giảm nguồn nước mùa khô đối
với khu vực cửa sông và ven biển (Nguồn: Chi cục Thủy lợi tỉnh Sóc Trăng 2021
– 2024; Chi cục Thủy lợi thành phố Cần Thơ, 2025).
Dưới tác động tổng hợp của nước biển dâng, triều cường, sóng biển và các
hiện tượng thời tiết cực đoan, tình trạng sạt lở bờ sông, bờ biển và đê biển tiếp tục
diễn biến phức tạp tại nhiều khu vực. Đặc biệt, khu vực ven biển Vĩnh Châu
thường xuyên xuất hiện các điểm xâm thực mạnh trên tuyến đê biển, nhất là đoạn
K39 – K45 và khu vực xã Vĩnh Hải. Diễn biến này cho thấy áp lực ngày càng gia
tăng đối với sự ổn định của đường bờ, hệ thống đê biển và các hệ sinh thái ven
biển trong bối cảnh biến đổi khí hậu và nước biển dâng ngày càng rõ nét.
Nhìn chung, nhiệt độ gia tăng, biến động bất thường của lượng mưa, gia tăng
tần suất các hiện tượng thời tiết cực đoan, triều cường đạt mức kỷ lục, xâm nhập
mặn lấn sâu và tình trạng sạt lở bờ biển diễn biến phức tạp là những sức ép chủ
yếu do biến đổi khí hậu và nước biển dâng gây ra đối với môi trường biển, vùng
cửa sông và ven biển thành phố Cần Thơ trong giai đoạn 2021 – 2025.
2.2. SỨC ÉP TỪ HOẠT ĐỘNG NÔNG NGHIỆP VÀ THỦY SẢN
2.2.1. Hoạt động nông nghiệp
Tại khu vực các xã, phường ven biển như Cù Lao Dung, Trần Đề, Vĩnh
Châu, Vĩnh Phước, Lai Hòa và Vĩnh Hải, hoạt động sản xuất nông nghiệp tiếp tục
duy trì quy mô lớn với cơ cấu cây trồng đặc thù thích ứng điều kiện xâm nhập
mặn và nước lợ. Các địa phương này hình thành các vùng chuyên canh quy mô
lớn đối với lúa chất lượng cao, hành tím, rau màu, cây ăn trái và mô hình luân
canh lúa – tôm. Trong đó, xã Cù Lao Dung có tổng diện tích gieo trồng cây hàng
năm đạt khoảng 7.600 ha, với cây mía là cây trồng chủ lực chiếm khoảng 3.150
ha; diện tích cây ăn trái đạt 2.376 ha, bao gồm nhiều vùng sản xuất phục vụ xuất
khẩu. Xã Trần Đề duy trì diện tích lúa gần 6.800 ha, chủ yếu là lúa thơm và lúa
đặc sản. Phường Vĩnh Châu và phường Vĩnh Phước tiếp tục là vùng chuyên canh
hành tím lớn của khu vực với tổng diện tích trên 4.000 ha. Trong khi đó, xã Lai
Hòa và xã Vĩnh Hải phát triển mạnh rau màu, cây công nghiệp ngắn ngày và mô
hình canh tác kết hợp phục vụ nuôi trồng thủy sản.
27
Sự mở rộng quy mô sản xuất nông nghiệp tại các địa phương ven biển kéo
theo nhu cầu lớn về sử dụng phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật (BVTV)
và các chế phẩm hỗ trợ canh tác. Trong hoạt động trồng trọt, việc sử dụng phân
bón hóa học và thuốc BVTV với khối lượng lớn làm phát sinh lượng hóa chất
tồn dư đáng kể. Các chất này theo nước mưa hoặc nước tưới chảy tràn vào kênh
rạch, sông ngòi, làm gia tăng hàm lượng các chất dinh dưỡng như nitơ và
photpho trong nước.
Đặc biệt, khu vực ven biển có nền nông nghiệp đặc trưng với mô hình luân
canh lúa – tôm và canh tác lúa hai vụ tại các vùng có hệ thống đê bao ngăn mặn.
Đây là một trong những vùng sản xuất nông nghiệp trọng điểm của Đồng bằng
sông Cửu Long, đồng thời cũng là nguồn phát sinh đáng kể các chất dinh dưỡng
và hóa chất nông nghiệp vào hệ thống thủy vực. Trong mô hình lúa – tôm, quá
trình tháo rửa đồng ruộng sau vụ lúa và cấp thoát nước ao nuôi thường diễn ra
trực tiếp thông qua mạng lưới kênh nội đồng, làm tăng khả năng lan truyền chất
ô nhiễm sang các thủy vực tiếp nhận.
Theo ước tính của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc
(FAO, 2018) và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2020), mức sử dụng
phân bón tại Đồng bằng sông Cửu Long trung bình khoảng 200 – 250 kg/ha/năm,
trong khi hiệu quả hấp thu của cây trồng chỉ đạt khoảng 30 – 50%. Phần dinh
dưỡng còn lại, tương đương khoảng 50 – 70% lượng phân bón sử dụng (khoảng
100 – 175 kg/ha/năm), không được cây trồng hấp thụ sẽ tồn lưu trong đất hoặc
có khả năng thất thoát ra môi trường thông qua quá trình rửa trôi, thấm lọc hoặc
dòng chảy mặt.
Dựa trên diện tích gieo trồng năm 2025 tại các địa phương ven biển, ước
tính lượng dinh dưỡng dư thừa tiềm năng phát sinh như sau: khu vực Cù Lao
Dung khoảng 760 – 1.330 tấn/năm; khu vực Trần Đề khoảng 680 – 1.190
tấn/năm; khu vực chuyên canh hành tím và rau màu tại Vĩnh Châu, Vĩnh Phước
khoảng 934 – 1.635 tấn/năm. Như vậy, tổng lượng dinh dưỡng dư thừa tiềm năng
phát sinh tại các khu vực nông nghiệp ven biển ước tính khoảng 2.374 – 4.155
tấn/năm. Đây là nguồn áp lực không điểm có khả năng góp phần làm gia tăng
nguy cơ phú dưỡng nguồn nước và tác động đến môi trường khu vực cửa sông
– ven biển.
Bên cạnh phân bón hóa học, việc sử dụng thuốc BVTV trong sản xuất lúa,
hành tím và rau màu tại các địa phương ven biển cũng là nguồn gây ô nhiễm đáng
kể. Các vùng chuyên canh hành tím tại Vĩnh Châu và Vĩnh Phước thường có tần
suất sử dụng thuốc BVTV cao do đặc điểm cây trồng dễ phát sinh sâu bệnh trong
điều kiện khí hậu nóng ẩm và đất cát ven biển. Trong khi đó, các vùng sản xuất
lúa thâm canh tại Trần Đề và các khu vực luân canh lúa – tôm thường sử dụng
đồng thời thuốc trừ sâu, thuốc trừ cỏ và phân bón vô cơ nhằm duy trì năng suất.
Các hoạt chất phổ biến như nhóm organophosphate và pyrethroid có độc tính cao
đối với sinh vật thủy sinh và khả năng tích lũy sinh học trong chuỗi thức ăn.
28
Theo nghiên cứu của Cục Bảo vệ Thực vật (2021), tồn dư thuốc BVTV đã
được phát hiện trong trầm tích và nước tại nhiều kênh rạch thuộc vùng ven biển
Đồng bằng sông Cửu Long, trong đó một số điểm có nồng độ vượt ngưỡng an
toàn sinh thái. Điều này đặt ra nguy cơ suy giảm đa dạng sinh học, đặc biệt là các
loài thủy sinh nhạy cảm như cá, giáp xác và động vật đáy.
Đáng chú ý, trong mô hình lúa – tôm, sự luân phiên giữa nước ngọt và nước
mặn có thể làm thay đổi tính chất hóa học của các hợp chất tồn dư. Một số hoạt
chất BVTV có thể bị biến đổi hoặc kéo dài thời gian tồn lưu trong môi trường
nước lợ – mặn, từ đó làm tăng nguy cơ độc tính đối với tôm nuôi và các loài sinh
vật khác. Ngoài ra, việc xả nước từ ao nuôi sau mỗi vụ sản xuất, chứa dư lượng
thức ăn, chất thải hữu cơ, bùn đáy và hóa chất xử lý ao, cũng góp phần làm gia
tăng tải lượng ô nhiễm ra môi trường xung quanh.
Trong lĩnh vực chăn nuôi, hoạt động chăn nuôi tại khu vực ven biển tiếp tục
phát triển ổn định với quy mô đàn vật nuôi tương đối lớn và phân bố rộng tại các
địa phương. Xã Cù Lao Dung có đàn bò khoảng 1.860 con, đàn heo khoảng 9.030
con và đàn gia cầm khoảng 70.150 con; sản lượng thịt hơi xuất chuồng đạt khoảng
2.308 tấn. Xã Trần Đề có tổng đàn gia súc khoảng 6.897 con và đàn gia cầm khoảng
65.315 con. Xã Lai Hòa duy trì đàn gia súc khoảng 910 con và đàn gia cầm khoảng
20.123 con. Xã Vĩnh Hải có tổng đàn gia súc và gia cầm khoảng 16.380 con, trong
đó gia cầm chiếm khoảng 15.000 con, còn lại gồm bò, heo và dê. Quy mô chăn
nuôi tuy không lớn theo hướng công nghiệp tập trung nhưng phân bố rộng trong
khu dân cư và xen kẽ với vùng sản xuất nông nghiệp – thủy sản.
Tuy nhiên, nước thải và chất thải chăn nuôi chứa hàm lượng cao chất hữu
cơ, vi sinh vật gây bệnh, chất dinh dưỡng như amoni, nitrat và phosphat. Nếu
không được thu gom, xử lý đúng quy định, các nguồn thải này có thể xả trực tiếp
ra kênh rạch hoặc thấm xuống tầng nước ngầm, gây ô nhiễm môi trường nước và
phát sinh mùi hôi cục bộ. Tại các địa phương ven biển, nhiều hộ chăn nuôi nhỏ lẻ
chưa đầu tư đầy đủ hệ thống xử lý chất thải, dẫn đến nguy cơ phát sinh ô nhiễm
môi trường.
Ngoài ra, trong năm 2025, dịch tả lợn Châu Phi (ASF) xuất hiện tại một số
địa phương ven biển như Cù Lao Dung và Trần Đề. Tại xã Cù Lao Dung, dịch
bệnh xuất hiện từ tháng 10/2025, lan ra 5 ấp và buộc tiêu hủy 337 con heo với
tổng khối lượng khoảng 25.441 kg. Tại xã Trần Đề, ghi nhận 10 trường hợp ASF
tại 5 ấp, tiêu hủy khoảng 146 con với tổng khối lượng khoảng 11.366 kg. Quá
trình tiêu hủy vật nuôi bệnh và xử lý chất thải phát sinh nếu không được kiểm soát
nghiêm ngặt có thể làm gia tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường đất và nước mặt
xung quanh.
29
Tổng hợp các yếu tố trên cho thấy, hoạt động sản xuất nông nghiệp và chăn
nuôi tại các địa phương ven biển đang tạo ra áp lực đáng kể lên môi trường nước
mặt và hệ sinh thái ven biển. Áp lực này không chỉ mang tính cục bộ mà còn có
tính lan truyền theo không gian thông qua mạng lưới kênh rạch dày đặc, làm gia
tăng nguy cơ ô nhiễm liên vùng. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, nước biển dâng
và xâm nhập mặn ngày càng gia tăng, các tác động này có xu hướng trở nên phức
tạp và khó kiểm soát hơn, đòi hỏi các giải pháp quản lý tổng hợp, bao gồm giảm
thiểu sử dụng hóa chất nông nghiệp, thúc đẩy canh tác bền vững, kiểm soát nước
thải chăn nuôi và tăng cường giám sát chất lượng môi trường nước tại các khu
vực sản xuất tập trung.
2.2.2. Nuôi trồng thủy sản
Nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là nuôi tôm nước lợ, hiện là một trong những
ngành kinh tế chủ lực của khu vực ven biển thành phố Cần Thơ, đóng vai trò quan
trọng trong phát triển kinh tế, tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân.
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển nhanh về quy mô diện tích và sản lượng, hoạt
động nuôi trồng thủy sản cũng đang tạo ra nhiều sức ép đối với môi trường vùng
ven biển, cửa sông và các hệ sinh thái tự nhiên.
Khu vực ven biển thành phố hiện hình thành các vùng nuôi thủy sản tập trung
quy mô lớn tại các địa phương như phường Vĩnh Châu, phường Vĩnh Phước, xã
Trần Đề, xã Cù Lao Dung, xã Lai Hòa và xã Vĩnh Hải, với đối tượng nuôi chủ
yếu là tôm thẻ chân trắng và tôm sú. Trong giai đoạn 2021 - 2025, diện tích nuôi
tôm nước lợ luôn duy trì ở mức cao, dao động từ khoảng 51.000 - 54.660 ha.
Trong đó, tôm thẻ chân trắng chiếm ưu thế với khoảng 75 - 76% tổng diện tích
nuôi, tương đương từ 38.300 - 41.460 ha, phần còn lại là tôm sú. Đáng chú ý, mô
hình nuôi thâm canh và bán thâm canh chiếm tỷ trọng rất lớn, đạt khoảng 93,7%
năm 2021 và 94,5% năm 2022, phản ánh xu hướng gia tăng cường độ sản xuất
trong khu vực.
Bảng 2.1. Diện tích nuôi tôm tại khu vực ven biển
Năm
Tổng diện tích nuôi tôm
(ha)
Tôm thẻ chân trắng
(ha)
Tôm sú
(ha)
2021
53.000
40.000
13.000
2022
54.660
41.460
13.200
2023
53.511,3
40.071,1
13.440,2
2024
51.069
-
-
2025
51.000
38.300
12.700
Nguồn: Chi cục Thủy sản tỉnh Sóc Trăng (2021, 2023, 2024); Chi cục Thủy
sản và Kiểm ngư thành phố Cần Thơ (2025); Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Sóc
Trăng (2022)
30
Hoạt động nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là nuôi tôm thâm canh và siêu thâm
canh tại khu vực ven biển, đã và đang tạo ra nhiều sức ép đối với môi trường biển
và ven biển. Các sức ép chính được phân tích như sau:
a. Gia tăng tải lượng chất hữu cơ và dinh dưỡng ra môi trường biển:
Hoạt động nuôi tôm thâm canh và siêu thâm canh là một trong những nguồn
gây sức ép đáng kể đến môi trường nước ven biển. Trong quá trình nuôi, các ao
nuôi phát sinh lượng nước thải lớn từ hoạt động thay nước, xi-phông đáy ao và thu
hoạch, chứa nhiều chất rắn lơ lửng, chất hữu cơ, thức ăn dư thừa, phân thải cùng
các hợp chất chứa nitơ và phốt pho.
Theo Viện Kinh tế và Quy hoạch Thủy sản (2015), Lưu lượng thải trung bình
trên mỗi hecta sau mỗi vụ nuôi tôm khoảng 9.000 - 12.000 m³/ha. Với tổng diện
tích nuôi tôm nước lợ của thành phố khoảng 51.000 ha (năm 2025), hoạt động
nuôi tôm nước lợ phát sinh lượng nước thải rất lớn sau mỗi vụ nuôi, khoảng 459
đến 612 triệu m
3
, tạo áp lực đáng kể đối với hệ thống kênh rạch, vùng cửa sông
và vùng nước ven biển nếu không được thu gom, xử lý và quản lý phù hợp.
Bên cạnh lượng nước thải phát sinh lớn, hoạt động nuôi tôm còn tạo ra tải
lượng chất ô nhiễm hữu cơ và dinh dưỡng đáng kể. Theo Ngô Thụy Diễm Trang
và cộng sự (2022), với sản lượng tôm thẻ chân trắng năm 2024 khoảng 188.200
tấn, tải lượng ô nhiễm phát sinh từ nước thải nuôi tôm ước tính khoảng 27.289 –
33.688 tấn COD/năm, 10.840 – 14.591 tấn tổng nitơ (TKN)/năm và 2.353 – 3.068
tấn tổng phốt pho (TP)/năm. Đối với tôm sú, theo hệ số phát thải của Pham và
cộng sự (2010), với sản lượng khoảng 23.800 tấn/năm, tải lượng ô nhiễm phát
sinh ước tính khoảng 18.312 tấn COD/năm, 6.164 tấn BOD/năm, 27.846 tấn
TSS/năm, 714 tấn tổng nitơ (TN)/năm và 88,1 tấn tổng phốt pho (TP)/năm. Đây
là nguồn phát sinh lượng lớn chất hữu cơ, chất rắn lơ lửng và các chất dinh dưỡng
có khả năng gây áp lực đáng kể lên môi trường tiếp nhận nếu nước thải không
được thu gom, xử lý đạt yêu cầu trước khi xả ra môi trường.
Nguồn gốc của tải lượng ô nhiễm này chủ yếu xuất phát từ thức ăn dư thừa,
chất bài tiết của tôm, xác sinh vật và quá trình phân hủy các chất hữu cơ trong ao
nuôi. Theo Boyd và Tucker (2012), chỉ khoảng 20 – 30% lượng nitơ và 15 – 25%
lượng phốt pho trong thức ăn được chuyển hóa thành sinh khối tôm, phần còn lại
tồn tại trong nước hoặc tích tụ trong bùn đáy dưới dạng các hợp chất hữu cơ và
vô cơ.
Các nghiên cứu tại Đồng bằng sông Cửu Long cũng cho thấy nước thải từ ao
nuôi tôm thâm canh thường có nồng độ COD dao động từ 80 – 250 mg/L, tổng
nitơ (TN) từ 4 – 15 mg/L và tổng phốt pho (TP) từ 0,5 – 3,0 mg/L, cao hơn đáng
kể so với nền chất lượng nước tự nhiên tại các vùng ven biển (Nguyễn Thanh
Phương và cộng sự, 2021; Trần Ngọc Hải và cộng sự, 2023).
31
b. Suy thoái chất lượng trầm tích và môi trường đáy:
Trong quá trình nuôi tôm thâm canh và siêu thâm canh, lượng bùn đáy phát
sinh liên tục từ thức ăn dư thừa, chất thải của tôm, xác sinh vật chết và các chất
rắn lơ lửng lắng tụ. Theo Tổng cục Thủy sản (2017) và Đỗ Thị Cẩm Vân, Vũ Đắc
Duy (2019), lượng bùn thải khô phát sinh từ ao nuôi tôm thâm canh dao động
khoảng 1,5 – 2,0 tấn/ha/vụ. Với tổng diện tích nuôi tôm nước lợ của thành phố
khoảng 51.000 ha, khối lượng bùn thải khô phát sinh ước tính khoảng 76.500 –
102.000 tấn/vụ. Đây là nguồn chất thải có hàm lượng chất hữu cơ, nitơ và phốt
pho cao; nếu không được thu gom, lưu chứa và xử lý phù hợp trước khi thải ra
môi trường sẽ làm gia tăng áp lực ô nhiễm đối với hệ thống kênh cấp, thoát nước,
vùng cửa sông và vùng nước ven biển.
Khối lượng bùn thải lớn tích tụ trong ao nuôi cũng là nguyên nhân làm suy
giảm chất lượng trầm tích và môi trường đáy. Nghiên cứu của Trường Đại học
Cần Thơ cho thấy hàm lượng chất hữu cơ, tổng nitơ và tổng phốt pho trong bùn
đáy ao nuôi thâm canh cao hơn đáng kể so với nền đất tự nhiên. Sự tích tụ kéo dài
của lớp bùn hữu cơ làm giảm khả năng khuếch tán oxy vào nền đáy, thúc đẩy quá
trình phân hủy yếm khí và phát sinh các khí độc như amoniac (NH₃), hydro sunfua
(H₂S) và metan (CH₄). Khi bùn đáy được xả bỏ trực tiếp hoặc theo nước xi-phông
ra hệ thống kênh rạch mà không qua xử lý, các chất ô nhiễm tích tụ trong bùn có
thể tiếp tục phát tán ra vùng cửa sông và vùng nước ven biển, làm gia tăng tải
lượng chất hữu cơ, chất dinh dưỡng và chất rắn lơ lửng, góp phần suy giảm chất
lượng môi trường nước và trầm tích đáy.
Bên cạnh đó, tại các vùng nuôi sử dụng nước mặn thường xuyên, hiện tượng
natri hóa đất (sodification) có thể làm suy giảm cấu trúc đất, giảm khả năng thấm
nước và gia tăng nguy cơ thoái hóa đất tại khu vực ven biển nếu không có các
biện pháp cải tạo và quản lý phù hợp.
c. Ô nhiễm hóa chất, kháng sinh và nguy cơ kháng kháng sinh:
Áp lực dịch bệnh trong nuôi tôm thâm canh dẫn đến việc sử dụng phổ biến
các loại hóa chất khử trùng và thuốc kháng sinh. Kết quả khảo sát tại Đồng bằng
sông Cửu Long cho thấy khoảng 75% cơ sở nuôi tôm có sử dụng kháng sinh trong
quá trình nuôi hoặc khi xảy ra dịch bệnh.
Theo Rico et al. (2013), từ 70 – 80% lượng kháng sinh đưa vào ao nuôi không
được hấp thụ hoàn toàn mà phát tán ra môi trường thông qua phân thải và nước
ao. Các hoạt chất thường được ghi nhận gồm Oxytetracycline, Florfenicol,
Sulfamethoxazole, Trimethoprim và một số nhóm Fluoroquinolone.
Dư lượng kháng sinh tồn lưu trong nước và trầm tích có thể làm thay đổi cấu
trúc quần xã vi sinh vật tự nhiên, thúc đẩy sự hình thành các chủng vi khuẩn kháng
thuốc, trong đó có các loài Vibrio spp. gây bệnh nguy hiểm trên tôm. Đây là một
trong những vấn đề môi trường mới nổi được nhiều tổ chức quốc tế cảnh báo đối
với ngành nuôi trồng thủy sản thâm canh.
32
d. Phát sinh rác thải nhựa và vi nhựa:
Mô hình nuôi tôm thâm canh hiện nay sử dụng khối lượng lớn vật liệu nhựa
như bạt lót HDPE, ống PVC, phao nổi, lưới che và bao bì thức ăn. Dưới tác động
của bức xạ mặt trời, nhiệt độ cao và quá trình mài mòn cơ học, các vật liệu này
dần phân rã thành các hạt vi nhựa thứ cấp có kích thước nhỏ hơn 5 mm.
Theo nghiên cứu của GIZ và Viện Nghiên cứu Hải sản (2023), riêng tỉnh Sóc
Trăng (trước sáp nhập) phát sinh khoảng 15.790 tấn chất thải nhựa mỗi năm từ
hoạt động nuôi tôm. Phần lớn lượng chất thải này chưa được thu gom và tái chế
triệt để, một phần bị đốt ngoài trời hoặc thất thoát trực tiếp ra môi trường.
Các hạt vi nhựa có khả năng hấp phụ kim loại nặng, thuốc bảo vệ thực vật và
kháng sinh, từ đó trở thành tác nhân vận chuyển các chất ô nhiễm trong môi trường
biển. Sự tích tụ vi nhựa trong chuỗi thức ăn biển hiện được xem là một trong những
nguy cơ môi trường đáng quan tâm tại vùng ven biển thành phố Cần Thơ.
e. Nguy cơ phát sinh dịch bệnh và tác động đến nguồn lợi thủy sản tự nhiên:
Sự gia tăng diện tích nuôi tôm thâm canh và siêu thâm canh tại khu vực ven
biển thành phố Cần Thơ làm gia tăng áp lực kiểm soát dịch bệnh và bảo vệ môi
trường thủy vực. Mật độ nuôi cao, lượng thức ăn công nghiệp lớn, tích tụ chất hữu
cơ cùng việc sử dụng hóa chất, chế phẩm xử lý môi trường làm tăng nguy cơ phát
sinh dịch bệnh, đặc biệt trong bối cảnh biến đổi khí hậu gây nhiệt độ tăng, xâm
nhập mặn và biến động chất lượng nguồn nước.
Tại các vùng nuôi tôm tập trung, hoạt động cấp thoát nước thường xuyên
giữa các ao nuôi làm gia tăng nguy cơ lây lan dịch bệnh. Khi dịch bệnh bùng phát
trên diện rộng, lượng nước thải, bùn thải và xác thủy sản phát sinh lớn có thể gây
áp lực lên hệ thống kênh rạch, vùng cửa sông và khu vực ven biển tiếp nhận nước
thải từ hoạt động nuôi trồng thủy sản.
Bên cạnh đó, việc gia tăng tải lượng chất hữu cơ, chất dinh dưỡng, hóa chất
và các chất xử lý môi trường phát sinh từ hoạt động nuôi thâm canh có thể tạo
thêm sức ép đối với các hệ sinh thái thủy sinh tự nhiên tại khu vực cửa sông và
ven biển.
f. Mâu thuẫn giữa mở rộng nuôi tôm và bảo tồn rừng ngập mặn:
Tại khu vực ven biển thành phố Cần Thơ, nhu cầu mở rộng diện tích nuôi
tôm nước lợ, đặc biệt là nuôi thâm canh và siêu thâm canh, tạo ra áp lực nhất định
đối với công tác bảo tồn và phục hồi rừng ngập mặn ven biển. Trong điều kiện giá
trị kinh tế từ nuôi tôm cao hơn đáng kể so với nhiều loại hình sản xuất khác, người
dân và doanh nghiệp có xu hướng ưu tiên chuyển đổi hoặc sử dụng quỹ đất ven
biển cho mục đích nuôi trồng thủy sản, làm gia tăng nguy cơ thu hẹp diện tích
rừng ngập mặn và vùng đệm sinh thái nếu không được quản lý chặt chẽ.
33
Sự suy giảm hoặc phân mảnh rừng ngập mặn không chỉ làm mất nơi cư trú,
sinh sản và kiếm ăn của nhiều loài thủy sinh, chim nước và sinh vật ven biển mà
còn làm suy giảm khả năng phòng hộ bờ biển, chống xói lở, hấp thụ carbon và lọc
tự nhiên các chất ô nhiễm từ hoạt động nuôi trồng thủy sản. Trong khi đó, việc
gia tăng diện tích nuôi thâm canh thường kéo theo nhu cầu cấp thoát nước lớn, sử
dụng nhiều thức ăn công nghiệp, hóa chất và chế phẩm xử lý môi trường, làm tăng
nguy cơ ô nhiễm nguồn nước và tác động tiêu cực đến các hệ sinh thái rừng ngập
mặn lân cận.
Mặt khác, các mô hình nuôi sinh thái kết hợp bảo tồn rừng ngập mặn như
tôm – rừng được đánh giá là hướng phát triển bền vững hơn, góp phần duy trì độ
che phủ rừng, bảo vệ đa dạng sinh học và nâng cao khả năng thích ứng với biến
đổi khí hậu. Tuy nhiên, do năng suất và lợi nhuận ngắn hạn thường thấp hơn so
với mô hình nuôi thâm canh nên việc nhân rộng còn gặp nhiều khó khăn.
Do đó, mâu thuẫn giữa mục tiêu gia tăng sản lượng và hiệu quả kinh tế từ
nuôi tôm với yêu cầu bảo tồn, phục hồi rừng ngập mặn ven biển là một trong
những thách thức quan trọng đối với quản lý tài nguyên và môi trường vùng ven
biển thành phố Cần Thơ. Việc giải quyết hài hòa mối quan hệ này có ý nghĩa quyết
định đối với mục tiêu phát triển kinh tế biển bền vững và bảo tồn các hệ sinh thái
ven biển trong dài hạn.
2.2.3. Khai thác thủy sản ven biển
Khai thác thủy sản là một trong những hoạt động kinh tế biển truyền thống
và đóng vai trò quan trọng đối với sinh kế của cộng đồng ngư dân ven biển thành
phố Cần Thơ. Trong giai đoạn 2021 – 2025, sản lượng khai thác biển duy trì ở
mức cao, dao động khoảng 56.000 – 63.000 tấn/năm (chi tiết tại Bảng 4.6), chiếm
tỷ trọng lớn trong tổng sản lượng khai thác thủy sản của địa phương. Việc duy trì
hoạt động khai thác với quy mô lớn trong thời gian dài đã tạo áp lực đáng kể lên
nguồn lợi thủy sản tự nhiên và các hệ sinh thái biển, đặc biệt tại khu vực ven bờ
và vùng cửa sông.
Một trong những sức ép lớn nhất đối với môi trường biển là cường lực khai
thác tập trung tại các vùng biển ven bờ. Mặc dù tổng số tàu cá có xu hướng giảm
trong những năm gần đây, hoạt động khai thác vẫn duy trì sản lượng tương đối ổn
định, cho thấy áp lực khai thác trên mỗi đơn vị tàu có xu hướng gia tăng. Điều
này làm gia tăng nguy cơ khai thác vượt khả năng phục hồi tự nhiên của các quần
đàn thủy sản, đặc biệt đối với các loài có giá trị kinh tế cao và các loài sinh sống
tại vùng biển ven bờ.
34
Bảng 2.2. Cơ cấu đội tàu cá và công tác kiểm soát hành trình (VMS) giai
đoạn 2021 – 2025
Năm
Tổng số tàu cá
(chiếc)
Tàu cá ≥15 m
(chiếc)
Tàu cá <15 m
(chiếc)
Tỷ lệ lắp đặt
VMS
2021
998
338
660
98%
2022
998
337
661
100%
2023
1.000
342
658
100%
2024
804
342
462
100%
2025
796
347
449
100%
Nguồn: Tổng hợp từ các báo cáo của Chi cục Thủy sản tỉnh Sóc Trăng (2021,
2023, 2024); Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Sóc Trăng (2022); Chi cục Thủy sản
và Kiểm ngư thành phố Cần Thơ (2025)
Mặc dù tổng số tàu cá đã giảm từ khoảng 1.000 chiếc năm 2023 xuống còn
796 chiếc năm 2025, nhóm tàu cá có chiều dài dưới 15 m vẫn chiếm khoảng 56,4%
tổng số tàu cá. Đây là nhóm tàu hoạt động chủ yếu tại vùng ven bờ và vùng lộng,
nơi tập trung nhiều bãi đẻ, bãi giống và khu vực sinh trưởng của các loài thủy sinh.
Việc nhóm tàu này vẫn chiếm tỷ trọng lớn cho thấy cường lực khai thác tiếp tục
tập trung tại các vùng biển ven bờ, tạo sức ép đáng kể đối với công tác quản lý,
bảo vệ và phục hồi nguồn lợi thủy sản.
Ngoài sức ép do cường lực khai thác và việc sử dụng một số ngư cụ có tính
chọn lọc thấp, hoạt động khai thác thủy sản còn gây sức ép đối với môi trường
biển thông qua việc phát sinh nước thải, chất thải rắn, dầu mỡ và rác thải nhựa.
Nếu không được thu gom, quản lý phù hợp, các nguồn thải này có thể làm gia
tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường biển và ảnh hưởng đến các hệ sinh thái ven bờ.
Trong các loại chất thải phát sinh từ hoạt động khai thác thủy sản, rác thải
nhựa là một trong những nguồn gây sức ép đáng kể đối với môi trường biển. Rác
thải nhựa phát sinh chủ yếu từ bao bì thực phẩm, chai lọ nhựa, túi nilon, hộp xốp,
dây cước, phao nổi, ngư lưới cụ hư hỏng và các vật tư phục vụ khai thác. Theo
kết quả khảo sát tại một số địa phương ven biển Việt Nam, lượng rác thải nhựa
phát sinh từ tàu cá dao động từ khoảng 200 đến trên 2.000 kg/tàu/năm, phụ thuộc
vào nghề khai thác, quy mô tàu, vùng hoạt động và thời gian bám biển. Trong cơ
cấu rác thải nhựa phát sinh, ngư lưới cụ và vật tư khai thác chiếm tỷ trọng lớn nhất
(khoảng 70%), tiếp theo là vật liệu phục vụ bảo quản và phân loại sản phẩm
(khoảng 20%), trong khi rác thải sinh hoạt chỉ chiếm khoảng 3 – 7% tổng lượng
phát sinh. Tuy nhiên, rác thải sinh hoạt trên tàu lại là nguồn có nguy cơ thất thoát
ra biển cao nhất, chiếm khoảng 60% tổng lượng rác nhựa rò rỉ, chủ yếu do tập
quán xả trực tiếp các chai nhựa, túi nilon, hộp xốp và bao bì sau sử dụng trong
quá trình khai thác (WWF Việt Nam, 2020).
35
Căn cứ số lượng tàu cá hoạt động trên địa bàn thành phố Cần Thơ trong giai
đoạn 2021 – 2025 và áp dụng hệ số phát sinh trung bình 1.100 kg rác thải
nhựa/tàu/năm, khối lượng rác thải nhựa phát sinh từ đội tàu khai thác thủy sản
được ước tính khoảng 875,6 – 1.100 tấn/năm, trung bình khoảng 1.011,1 tấn/năm.
Nếu áp dụng tỷ lệ thất thoát trung bình 5,6% theo kết quả khảo sát trên phạm vi
cả nước (WWF Việt Nam, 2020), lượng rác thải nhựa có nguy cơ phát tán trực
tiếp ra môi trường biển từ hoạt động khai thác thủy sản trên địa bàn ước khoảng
49 – 61,6 tấn/năm. Đây là nguồn gây sức ép đáng kể đối với môi trường biển và
các hệ sinh thái ven bờ nếu không được quản lý, thu gom và đưa vào bờ xử lý
theo quy định.
Bảng 2.3. Ước tính khối lượng rác thải nhựa phát sinh từ đội tàu khai thác
thủy sản giai đoạn 2021 – 2025
Năm
Số tàu cá
(chiếc)
Hệ số phát sinh
(kg/tàu/năm)
Khối lượng phát sinh
(tấn/năm)
2021
998
1.100
1.097,8
2022
998
1.100
1.097,8
2023
1.000
1.100
1.100,0
2024
804
1.100
884,4
2025
796
1.100
875,6
Ghi chú: Khối lượng rác thải nhựa được ước tính theo phương pháp hệ số
phát sinh. Hệ số 1.100 kg/tàu/năm được xác định là giá trị trung bình của khoảng
phát sinh rác thải nhựa (200 – 2.000 kg/tàu/năm) tổng hợp từ kết quả khảo sát
các đội tàu khai thác thủy sản tại Quảng Ninh, Phú Yên và Kiên Giang; giá trị
chỉ mang tính đại diện phục vụ đánh giá hiện trạng do chưa có số liệu điều tra
riêng cho thành phố Cần Thơ.
Trong những năm qua, công tác chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không
báo cáo và không theo quy định (IUU) đã được triển khai quyết liệt. Tỷ lệ lắp đặt
thiết bị giám sát hành trình (VMS) đối với tàu cá có chiều dài từ 15 m trở lên đạt
từ 98 – 100%, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động khai thác trên biển.
Tuy nhiên, tình trạng mất kết nối thiết bị giám sát hành trình vẫn còn xảy ra. Năm
2021 ghi nhận khoảng 70 tàu mất kết nối VMS; năm 2023 có 107 tàu mất kết nối
khi vào bờ ngừng hoạt động và 32 tàu mất kết nối ngoài khơi; năm 2024 ghi nhận
120 tàu mất kết nối khi vào bờ và 14 tàu mất kết nối ngoài khơi. Thực trạng này
làm giảm hiệu quả giám sát hoạt động khai thác và tiềm ẩn nguy cơ phát sinh các
hành vi khai thác không tuân thủ quy định.
36
Đối với các hành vi vi phạm khai thác IUU, tình hình đã có chuyển biến tích
cực trong những năm gần đây. Năm 2021 ghi nhận 01 tàu cá của địa phương vi
phạm vùng biển nước ngoài và bị lực lượng chức năng Malaysia bắt giữ; tuy nhiên
từ năm 2022 đến năm 2025 không ghi nhận trường hợp tàu cá nào vi phạm vùng
biển nước ngoài. Kết quả này phản ánh hiệu quả của các biện pháp tuyên truyền,
kiểm tra, kiểm soát và quản lý hoạt động khai thác thủy sản trên biển.
Nhìn chung, hoạt động khai thác thủy sản ven biển vẫn đang tạo sức ép đáng
kể đối với nguồn lợi thủy sản và hệ sinh thái biển thông qua cường lực khai thác
cao, sự tập trung của đội tàu tại các vùng ven bờ và nguy cơ khai thác vượt khả
năng phục hồi của nguồn lợi tự nhiên. Mặc dù công tác quản lý nghề cá và chống
khai thác IUU đã đạt được nhiều kết quả tích cực, việc tiếp tục kiểm soát cường
lực khai thác, bảo vệ các khu vực sinh sản và sinh trưởng của nguồn lợi thủy sản,
đồng thời tăng cường các biện pháp phục hồi nguồn lợi và bảo tồn hệ sinh thái
biển vẫn là yêu cầu cần thiết nhằm bảo đảm phát triển nghề cá theo hướng bền
vững trong thời gian tới.
2.3. SỨC ÉP HOẠT ĐỘNG CÔNG NGHIỆP, XÂY DỰNG, GIAO THÔNG
VẬN TẢI, KINH TẾ HÀNG HẢI, PHÁT TRIỂN NĂNG LƯỢNG, TÁC
ĐỘNG GIAO KHU VỰC BIỂN, KHAI THÁC CÁT BIỂN VÀ NGUỒN
THẢI TỪ SÔNG HẬU RA CỬA BIỂN
2.3.1. Sức ép hoạt động công nghiệp ven biển
Hoạt động công nghiệp tại khu vực ven biển đang bước vào giai đoạn tăng
tốc, gắn với định hướng hình thành các khu công nghiệp (KCN) và cụm công
nghiệp (CCN) phục vụ kinh tế biển, logistics và chế biến nông – thủy sản. Theo
quy hoạch, khu vực này có khoảng 10 khu công nghiệp với tổng diện tích gần
5.000 ha và 18 cụm công nghiệp với tổng diện tích gần 1.000 ha, trong đó tập
trung chủ yếu tại các địa bàn ven biển như Trần Đề, Vĩnh Châu và khu vực cửa
Mỹ Thanh.
Trong đó, các khu công nghiệp trọng điểm gồm Khu công nghiệp Trần Đề
(khoảng 160 ha), Khu công nghiệp Mỹ Thanh (khoảng 217 ha) và Khu công
nghiệp Đại Ngãi. Khu công nghiệp Trần Đề đã từng bước đi vào hoạt động từ năm
2025, gắn với hệ thống cảng cá Trần Đề và định hướng phát triển Cảng biển Trần
Đề trong tương lai; Khu công nghiệp Mỹ Thanh được định hướng phát triển theo
mô hình công nghiệp sạch, công nghiệp khí – điện và dịch vụ logistics biển. Bên
cạnh đó, các cụm công nghiệp ven biển được quy hoạch nhằm phục vụ chế biến
nông sản, thủy sản, kho lạnh và dịch vụ hậu cần nghề cá; tuy nhiên, hạ tầng bảo
vệ môi trường tại một số khu vực vẫn đang trong quá trình đầu tư, hoàn thiện.
37
Song song với sự phát triển các khu, cụm công nghiệp, ngành chế biến thủy
sản tiếp tục là lĩnh vực công nghiệp chủ lực tại khu vực ven biển thành phố. Theo
kết quả rà soát hiện trạng, khu vực ven biển hiện có khoảng 08 cơ sở, doanh nghiệp
và hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực chế biến, sơ chế thủy sản, tập trung chủ
yếu tại các địa bàn Trần Đề, Vĩnh Châu, Vĩnh Phước, Lai Hòa, Vĩnh Hải và Cù
Lao Dung. Trong đó có các doanh nghiệp chế biến quy mô lớn như Nhà máy chế
biến tôm xuất khẩu Fimex VN, Nhà máy Chế biến Thủy sản Cao cấp Trần Đề,
Công ty TNHH Chế biến Thủy sản Vạn Xuân, Công ty TNHH Thủy sản Kim Anh
(Cơ sở 2), cùng các cơ sở chế biến và hợp tác xã như Công ty TNHH Thủy sản
Tấn Phát, Cơ sở Chế biến hải sản khô Ba Tri, Hợp tác xã Artemia và Thủy sản
Vĩnh Châu, Hợp tác xã Thủy sản Sinh thái Cù Lao Dung và Trại nuôi tôm, sơ chế
Vĩnh Tân (Vina Cleanfood). Các cơ sở này hình thành chuỗi liên kết từ thu mua
nguyên liệu, sơ chế, chế biến đông lạnh, bảo quản, kho lạnh đến xuất khẩu, với
tổng công suất thiết kế đạt hàng chục nghìn tấn sản phẩm mỗi năm, góp phần thúc
đẩy phát triển kinh tế biển của thành phố.
Sự phát triển của ngành chế biến thủy sản kéo theo nhu cầu sử dụng nước,
năng lượng và hạ tầng logistics ngày càng lớn, đồng thời phát sinh lượng đáng kể
nước thải sản xuất, phụ phẩm chế biến, bùn thải, chất thải rắn và khí thải công
nghiệp. Đây là một trong những nguồn gây sức ép quan trọng đối với môi trường
nước mặt, vùng cửa sông và vùng biển ven bờ nếu không được thu gom, xử lý và
kiểm soát hiệu quả.
Áp lực môi trường từ hoạt động công nghiệp thể hiện rõ nhất ở nước thải sản
xuất, đặc biệt đối với ngành chế biến thủy sản – lĩnh vực chiếm tỷ trọng lớn trong
cơ cấu công nghiệp ven biển. Nước thải phát sinh chứa hàm lượng cao các chất
hữu cơ, chất rắn lơ lửng (TSS), dầu mỡ, nitơ, phốt pho và vi sinh vật. Nếu không
được thu gom và xử lý đạt quy chuẩn trước khi xả thải, các nguồn thải này sẽ làm
gia tăng tải lượng các chất ô nhiễm đưa vào hệ thống sông, kênh rạch, vùng cửa
sông và vùng biển ven bờ, tạo sức ép đối với công tác quản lý và bảo vệ môi
trường nước.
Bên cạnh đó, hoạt động chế biến còn phát sinh lượng lớn chất thải rắn công
nghiệp và phụ phẩm thủy sản như đầu, xương, nội tạng, vỏ tôm, bùn thải từ hệ
thống xử lý nước thải, bao bì và vật liệu đóng gói. Nếu không được phân loại, thu
gom, tái sử dụng hoặc xử lý đúng quy định, các loại chất thải này có thể gây phát
sinh mùi hôi, ô nhiễm thứ cấp đối với môi trường đất và nước, đồng thời làm gia
tăng nguy cơ phát sinh dịch bệnh và côn trùng tại khu vực xung quanh.
Ngoài ra, hoạt động công nghiệp còn phát sinh khí thải từ các lò hơi, máy
phát điện, phương tiện vận chuyển và các dây chuyền sản xuất, với các thành phần
chủ yếu gồm bụi, SO₂, NOₓ, CO và hợp chất hữu cơ bay hơi (VOC). Các chất ô
nhiễm này có khả năng phát tán trong khí quyển, lắng đọng xuống bề mặt đất và
nguồn nước thông qua quá trình khuếch tán hoặc nước mưa, góp phần làm suy
giảm chất lượng môi trường không khí và môi trường nước khu vực ven biển.
38
Bên cạnh các nguồn thải, quá trình mở rộng các khu công nghiệp, cụm công
nghiệp, cảng biển và hạ tầng logistics cũng làm gia tăng nhu cầu sử dụng đất ven
biển, tiềm ẩn nguy cơ thu hẹp diện tích rừng ngập mặn, bãi triều và đất nuôi trồng
thủy sản nếu không được quy hoạch hợp lý. Đồng thời, việc gia tăng lưu lượng
vận tải hàng hóa và hoạt động sản xuất cũng tạo áp lực ngày càng lớn lên hệ thống
hạ tầng thu gom, xử lý nước thải và chất thải tập trung.
Nhìn chung, phát triển công nghiệp ven biển là động lực quan trọng thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế, giải quyết việc làm và nâng cao giá trị chuỗi sản xuất thủy
sản của thành phố. Tuy nhiên, cùng với quá trình phát triển đó là sự gia tăng đáng
kể các nguồn gây áp lực đối với môi trường nước, không khí, đất và hệ sinh thái
ven biển. Vì vậy, cần tiếp tục đầu tư đồng bộ hạ tầng bảo vệ môi trường, nâng cao
hiệu quả thu gom và xử lý chất thải, tăng cường giám sát việc chấp hành các quy
định về bảo vệ môi trường của các cơ sở sản xuất, đồng thời thúc đẩy áp dụng sản
xuất sạch hơn và kinh tế tuần hoàn nhằm bảo đảm phát triển công nghiệp ven biển
theo hướng bền vững.
2.3.2. Sức ép của hoạt động xây dựng, san lấp và lấn biển
Quá trình phát triển hạ tầng khu công nghiệp, đô thị và cảng biển tại khu vực
ven biển đang kéo theo nhu cầu san lấp mặt bằng quy mô lớn, đặc biệt tại các
vùng đất ngập nước ven biển – nơi có địa hình thấp và thuận lợi cho chuyển đổi
mục đích sử dụng đất. Sau khi điều chỉnh không gian phát triển theo quy hoạch,
áp lực san lấp tại các khu vực cửa sông – ven biển như Trần Đề, Vĩnh Châu và
khu vực lân cận tăng mạnh, gắn liền với sự hình thành đồng thời của ba nhóm dự
án lớn gồm: điện gió, khu công nghiệp và hạ tầng cảng biển – logistics.
Trong giai đoạn 2021 – 2025, cấu trúc các dự án ven biển cho thấy mức độ
tác động không gian ngày càng rõ rệt. Nhóm dự án đã và đang triển khai gồm các
khu công nghiệp Trần Đề và Mỹ Thanh (đã trình bày tại mục 2.3.1) đang trong giai
đoạn xây dựng hạ tầng và kêu gọi đầu tư; cùng hệ thống các dự án điện gió ven
biển với tổng công suất khoảng 1.435 MW (chi tiết tại mục 2.3.5). Song song, tuyến
cao tốc Châu Đốc – Cần Thơ – Sóc Trăng đoạn qua tỉnh Sóc Trăng (trước sáp nhập)
dài khoảng 58,4 km đang thi công với nhu cầu san lấp khoảng 8,1 triệu m³ cát, cùng
các công trình cầu lớn như cầu Đại Ngãi đang triển khai. Đây là nhóm dự án tạo ra
áp lực trực tiếp lớn nhất đối với hoạt động khai thác và san lấp vật liệu.
Ở nhóm dự án chuẩn bị đầu tư, đáng chú ý là Khu kinh tế ven biển Trần Đề
với quy mô khoảng 40.000 ha bao trùm không gian Trần Đề – Vĩnh Châu – Long
Phú, cùng các khu công nghiệp mở rộng và khu công nghiệp – đô thị – dịch vụ
Trần Đề quy mô khoảng 850 ha. Đây là các dự án sẽ tạo ra nhu cầu san lấp và
chuyển đổi đất quy mô rất lớn trong giai đoạn sau 2025, đặc biệt khi gắn với hành
lang logistics của cảng Trần Đề.
39
Nhóm dự án theo quy hoạch dài hạn có tác động mang tính cấu trúc không
gian rõ nét nhất là cảng nước sâu Trần Đề, với tổng diện tích khoảng 4.960 ha
(trong đó 960 ha ngoài khơi và 4.000 ha khu hậu cần phía bờ), tổng vốn dự kiến
trên 61.500 tỷ đồng, kèm theo hệ thống cầu vượt biển khoảng 18 km và đê chắn
sóng hơn 8 km. Đây là dự án có tính chất lấn biển quy mô lớn nhất khu vực Đồng
bằng sông Cửu Long, hiện đang trong giai đoạn hoàn thiện quy hoạch chi tiết và
chuẩn bị đầu tư, chưa triển khai san lấp thực tế nhưng sẽ là nguồn phát sinh khối
lượng san lấp rất lớn trong tương lai.
Một trong những tác động đáng kể của các hoạt động trên là suy giảm hệ
sinh thái đất ngập nước ven biển. Đây là các hệ sinh thái có giá trị sinh thái cao,
đóng vai trò là nơi cư trú, sinh sản và ươm giống của nhiều loài thủy sinh. Việc
san lấp trực tiếp làm mất sinh cảnh tự nhiên, làm suy giảm đa dạng sinh học và
gián đoạn hành lang sinh thái sông – cửa sông – biển. Đặc biệt, các khu vực bãi
triều và rừng ngập mặn bị thu hẹp sẽ làm giảm chức năng “bộ lọc sinh học” tự
nhiên, từ đó suy giảm khả năng tự làm sạch môi trường ven biển.
Bên cạnh đó, hoạt động san lấp và xây dựng quy mô lớn còn làm thay đổi
chế độ thủy động lực và hình thái bờ biển. Việc can thiệp vào địa hình tự nhiên
có thể làm thay đổi hướng và tốc độ dòng chảy tại cửa sông, gián đoạn quá trình
vận chuyển bùn cát và phá vỡ cân bằng bồi tụ – xói lở. Thực tế tại nhiều khu vực
ven biển cho thấy xu hướng xói lở gia tăng, đặc biệt tại các đoạn đê biển xung
yếu, trong bối cảnh suy giảm rừng phòng hộ và gia tăng các công trình nhân tạo
ven bờ.
Quá trình thi công san lấp cũng làm gia tăng độ đục và ô nhiễm môi trường
nước. Việc sử dụng khối lượng lớn cát, đất và vật liệu san lấp có thể làm tăng hàm
lượng chất rắn lơ lửng (TSS), giảm khả năng xuyên sáng của nước, ảnh hưởng
đến hệ sinh thái thủy sinh và hoạt động nuôi trồng thủy sản. Nếu nguồn vật liệu
không được kiểm soát chặt chẽ, nguy cơ phát sinh ô nhiễm thứ cấp (kim loại nặng,
chất hữu cơ) là đáng lưu ý, đặc biệt trong các khu vực cửa sông – ven biển có hệ
sinh thái nhạy cảm.
Đáng chú ý, các hoạt động san lấp đất ngập nước diễn ra đồng thời với quá
trình phát triển công nghiệp, đô thị hóa và nuôi trồng thủy sản, tạo ra áp lực tích
lũy lên môi trường ven biển. Sự cộng hưởng này làm gia tăng tải lượng ô nhiễm
tại vùng cửa sông, suy giảm khả năng chống chịu của hệ sinh thái trước biến đổi
khí hậu, đồng thời làm gia tăng rủi ro ngập lụt và xâm nhập mặn. Trong bối cảnh
Đồng bằng sông Cửu Long là khu vực chịu tác động mạnh của nước biển dâng,
việc suy giảm các vùng đệm tự nhiên như đất ngập nước sẽ làm tăng đáng kể mức
độ tổn thương sinh thái – xã hội.
40
Về khung pháp lý, các quy định hiện hành như Luật Bảo vệ môi trường 2020
và Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo 2015 đã quy định tương đối đầy
đủ về đánh giá môi trường chiến lược (ĐMC), đánh giá tác động môi trường
(ĐTM) và quản lý tổng hợp vùng bờ. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai vẫn còn hạn
chế, đặc biệt trong giám sát hoạt động san lấp phân tán, kiểm soát nguồn vật liệu
và điều phối quản lý liên vùng, liên ngành đối với các dự án có quy mô không
gian lớn.
Tổng thể, trong bối cảnh phát triển nhanh các dự án ven biển giai đoạn 2021
– 2025 và định hướng mở rộng mạnh sau năm 2025, hoạt động san lấp và lấn biển
tại khu vực ven biển cần được kiểm soát chặt chẽ hơn thông qua quy hoạch không
gian tích hợp, tăng cường giám sát môi trường, và bảo tồn các hệ sinh thái đất
ngập nước còn lại, nhằm bảo đảm cân bằng giữa phát triển kinh tế và tính bền
vững môi trường lâu dài.
2.3.3. Sức ép của hoạt động giao thông vận tải và hoạt động cảng
Sự phát triển của hệ thống giao thông vận tải, đặc biệt là giao thông đường
thủy nội địa, hàng hải và hoạt động cảng, đã góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế -
xã hội và kinh tế biển của thành phố Cần Thơ. Tuy nhiên, cùng với sự gia tăng quy
mô vận tải và lưu lượng tàu thuyền, các hoạt động này cũng làm gia tăng áp lực về
phát sinh chất thải và nguy cơ ô nhiễm đối với khu vực cửa sông và ven biển.
Bảng 2.4. Số phương tiện đăng ký giao thông đường thủy
Hạng mục
Năm
2021
Năm
2022
Năm
2023
Năm
2024
Tháng
5/2025
Cấp đăng ký phương tiện
thủy nội địa
341
495
441
413
106
(Nguồn: Sở Xây dựng, 2025)
Theo số liệu thống kê, số phương tiện thủy nội địa được cấp đăng ký có sự
biến động qua các năm, từ 341 phương tiện năm 2021 tăng lên 495 phương tiện
năm 2022, sau đó giảm còn 441 phương tiện năm 2023 và 413 phương tiện năm
2024. Đến tháng 5 năm 2025 đã có thêm 106 phương tiện được cấp đăng ký. Cùng
với hoạt động vận tải thường xuyên trên các tuyến sông và vùng cửa sông, các
phương tiện thủy phát sinh nước thải sinh hoạt, nước la canh, dầu mỡ, chất thải
rắn sinh hoạt, chất thải nguy hại và khí thải từ động cơ, làm gia tăng tải lượng chất
ô nhiễm phát sinh từ hoạt động giao thông đường thủy.
Bên cạnh giao thông đường thủy nội địa, hoạt động cảng biển và hậu cần
nghề cá tại khu vực ven biển cũng là nguồn gây sức ép đáng kể đối với môi trường.
Cảng cá Trần Đề là cảng cá loại I và là trung tâm dịch vụ hậu cần nghề cá của khu
vực Đồng bằng sông Cửu Long. Giai đoạn 2021 – 2025, hoạt động của cảng duy
trì ở quy mô lớn. Trong 6 tháng đầu năm 2022, cảng tiếp nhận 9.512 lượt tàu cá
41
với sản lượng thủy sản bốc dỡ đạt 35.067 tấn. Đến năm 2023, tổng lượng hàng
hóa thông qua cảng đạt khoảng 105.195 tấn. Năm 2025, địa phương ghi nhận
khoảng 20.249 lượt tàu thuyền cập cảng, trong đó có khoảng 19.618 lượt tàu khai
thác xa bờ; tổng lượng hàng hóa thông qua cảng đạt khoảng 156.100 tấn, riêng
thủy sản đạt khoảng 89.000 tấn. Quy mô hoạt động này phản ánh cường độ khai
thác, vận chuyển, bốc dỡ hàng hóa và dịch vụ hậu cần nghề cá ngày càng lớn tại
khu vực cửa sông và ven biển.
Với quy mô tiếp nhận khoảng 20.249 lượt tàu thuyền cập cảng trong năm
2025, trong đó phần lớn là tàu khai thác xa bờ, cảng cá Trần Đề tạo ra áp lực lớn
đối với công tác quản lý chất thải. Theo kết quả ước tính tại mục 2.2.3, đội tàu
khai thác thủy sản trên địa bàn phát sinh khoảng 875,6 – 1.100 tấn rác thải nhựa
mỗi năm. Với tần suất cập cảng lớn, lượng rác thải này chủ yếu tập trung tại khu
vực cảng cá và các cơ sở dịch vụ hậu cần nghề cá, làm gia tăng yêu cầu về năng
lực thu gom, phân loại và xử lý nhằm hạn chế nguy cơ phát tán ra môi trường.
Bên cạnh rác thải nhựa, hoạt động của tàu thuyền và hệ thống cảng còn phát
sinh nhiều nguồn gây sức ép khác đối với môi trường biển và hải đảo, bao gồm
nước thải sinh hoạt từ tàu thuyền, nước la canh, dầu mỡ, chất thải nguy hại, khí
thải từ động cơ và các chất thải phát sinh trong quá trình bốc dỡ thủy sản, bảo
quản, cung ứng nhiên liệu, cung ứng nước đá, sửa chữa tàu thuyền và thu mua hải
sản. Các hoạt động này diễn ra thường xuyên với cường độ lớn tại khu vực cảng,
làm gia tăng tải lượng chất ô nhiễm và nguy cơ xảy ra các sự cố môi trường nếu
không được quản lý chặt chẽ.
Nhìn chung, cùng với sự phát triển của hệ thống giao thông đường thủy, hoạt
động cảng và dịch vụ hậu cần nghề cá, khối lượng tàu thuyền, hàng hóa và các
hoạt động khai thác, vận chuyển, bốc dỡ có xu hướng gia tăng, kéo theo sự gia
tăng tải lượng nước thải, chất thải rắn, khí thải, chất thải nguy hại và nguy cơ phát
sinh các sự cố môi trường. Đây là một trong những nhóm nguồn gây sức ép quan
trọng cần được kiểm soát trong công tác quản lý môi trường biển và hải đảo của
thành phố.
2.3.4. Tác động từ việc giao khu vực biển cho tổ chức, cá nhân khai thác, sử
dụng tài nguyên biển
Việc triển khai Nghị định số 11/2021/NĐ-CP về giao khu vực biển cho tổ
chức, cá nhân khai thác và sử dụng tài nguyên biển đã hình thành một khung pháp
lý quan trọng, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và khai thác không gian biển.
Tuy nhiên, trong bối cảnh khu vực ven biển đang phát triển nhanh, quá trình triển
khai trên thực tế phát sinh nhiều vấn đề phức tạp, đặc biệt là chồng lấn không gian
sử dụng biển và gia tăng áp lực môi trường tích lũy.
42
Tại khu vực cửa sông Hậu và vùng ven biển, không gian biển hiện đang được
khai thác đồng thời cho nhiều mục đích kinh tế khác nhau. Trong đó, điện gió
ngoài khơi và ven bờ là lĩnh vực chiếm quy mô lớn nhất, với khoảng 19 dự án
được cấp chủ trương đầu tư; thông tin chi tiết về tiến độ và công suất từng nhóm
dự án được trình bày tại mục 2.3.5. Song song đó, khu vực biển còn được sử dụng
cho nuôi trồng thủy sản, phát triển cảng biển Trần Đề, giao thông hàng hải và khai
thác cát biển với khối lượng lớn tại các mỏ B1.1, B1.2, B1.4 và B1.5 (chi tiết tại
mục 2.3.6), tạo nên sự chồng lấn không gian ngày càng rõ nét.
Sự đồng thời tồn tại của các loại hình khai thác này làm gia tăng tác động
tích lũy và tương tác đa chiều trong không gian biển. Ví dụ, ô nhiễm từ thượng
nguồn kết hợp với gia tăng độ đục do khai thác cát và hoạt động xây dựng hạ tầng
cảng biển, cùng với thay đổi dòng chảy do các công trình điện gió ngoài khơi, có
thể làm suy giảm đáng kể khả năng tự làm sạch của môi trường biển.
Về phương diện quản lý, mặc dù các dự án đều phải thực hiện đánh giá tác
động môi trường (ĐTM) theo quy định pháp luật, nhưng phần lớn các đánh giá
hiện nay vẫn mang tính đơn dự án, chưa phản ánh đầy đủ tác động tích lũy liên
ngành và liên vùng trong cùng một không gian biển. Điều này dẫn đến khoảng
trống trong đánh giá tổng thể sức chịu tải môi trường của khu vực ven biển.
Ngoài ra, việc giao khu vực biển có tính chất liên vùng – đặc biệt tại khu vực
cửa sông Hậu và vùng giáp ranh giữa các địa phương – đòi hỏi cơ chế phối hợp
quản lý thống nhất. Tuy nhiên, hệ thống quản lý hiện nay vẫn chủ yếu vận hành
theo địa giới hành chính, dẫn đến khó khăn trong kiểm soát dòng thải, biến động
môi trường và các tác động lan truyền xuyên ranh giới.
Như vậy, bên cạnh việc hoàn thiện khung pháp lý về giao khu vực biển, cần
thiết phải tăng cường cách tiếp cận quản lý tổng hợp vùng bờ (ICZM) và quy
hoạch không gian biển (MSP), đồng thời chú trọng đánh giá tác động tích lũy và
thiết lập cơ chế phối hợp liên vùng. Đây là điều kiện quan trọng để đảm bảo hài
hòa giữa khai thác hiệu quả tài nguyên biển và bảo vệ môi trường, hướng tới phát
triển bền vững khu vực ven biển.
2.3.5. Phát triển năng lượng vùng ven biển
Trong bối cảnh nhu cầu năng lượng gia tăng và yêu cầu chuyển dịch sang
mô hình phát triển ít phát thải, khu vực ven biển thành phố Cần Thơ đang trở
thành không gian phát triển năng lượng trọng điểm của Đồng bằng sông Cửu
Long. Với lợi thế về điều kiện tự nhiên và hạ tầng, khu vực này hội tụ cả hai nhóm
nguồn năng lượng chính gồm năng lượng tái tạo (điện gió ven bờ, ngoài khơi) và
năng lượng truyền thống (nhiệt điện). Sự phát triển song song này tạo động lực
tăng trưởng, nhưng đồng thời cũng làm gia tăng áp lực lên môi trường biển, đòi
hỏi cách tiếp cận quản lý tổng hợp và kiểm soát tác động tích lũy.
43
a. Điện gió ven bờ và ngoài khơi:
Khu vực ven biển thành phố Cần Thơ được đánh giá là một trong những vùng
có tiềm năng điện gió cao nhất cả nước. Theo Quy hoạch Điện VIII (Quyết định số
500/QĐ-TTg năm 2023), tốc độ gió trung bình tại khu vực ven biển Cần Thơ đạt
khoảng 6,0 – 7,5 m/s ở độ cao 80 – 100 m, tương ứng tiềm năng kỹ thuật ước tính
khoảng 2.000 – 3.500 MW.
Điều kiện tự nhiên khu vực tương đối thuận lợi cho phát triển cả điện gió ven
bờ lẫn ngoài khơi. Đối với điện gió ven bờ, nền địa chất phù hợp cho xây dựng
móng cọc và móng jacket cố định; khoảng cách từ bờ đến vùng tiềm năng chỉ từ
10 – 30 km giúp tối ưu chi phí truyền tải; hệ thống bãi bồi và vùng triều rộng hỗ
trợ công tác thi công và lắp đặt. Đối với điện gió ngoài khơi xa bờ, tiềm năng gió
lớn hơn nhưng đòi hỏi công nghệ móng nổi hoặc móng trọng lực phức tạp hơn,
chi phí đầu tư và yêu cầu quản lý môi trường cũng cao hơn tương ứng. Hạ tầng
ven biển và cảng Trần Đề đóng vai trò quan trọng trong logistics phục vụ cả hai
loại hình phát triển này.
Trong giai đoạn 2021 - 2025, trên địa bàn có tổng cộng 19 dự án điện gió đã
được cấp quyết định chủ trương đầu tư với tổng công suất khoảng 1.395 MW,
trong đó 7 dự án đã vận hành thương mại (~340 MW), 2 dự án hoàn thành đang
làm thủ tục COD (~60 MW), 2 dự án đang thi công (~52,4 MW) và 8 dự án chưa
triển khai. Các dự án tập trung chủ yếu tại khu vực Trần Đề và Vĩnh Châu, từng
bước hình thành cụm năng lượng tái tạo ven biển có quy mô lớn tại vùng đồng
bằng sông Cửu Long (Nguồn: Thành Ủy Cần Thơ, 2026).
Bên cạnh những lợi ích về phát triển năng lượng tái tạo, hoạt động xây dựng
và vận hành các dự án điện gió ven bờ và ngoài khơi cũng tạo ra một số nguồn
gây sức ép đối với môi trường biển. Các nguồn sức ép chủ yếu bao gồm hoạt động
thi công móng trụ, lắp đặt cáp ngầm, nạo vét và vận chuyển vật liệu; hoạt động
vận hành, bảo dưỡng thiết bị; phát sinh tiếng ồn, chất thải, nước thải và chất thải
nguy hại trong quá trình thi công, vận hành; nguy cơ rò rỉ dầu, hóa chất từ thiết
bị; đồng thời làm gia tăng nhu cầu sử dụng không gian biển và khả năng chồng
lấn với các hoạt động khai thác thủy sản, giao thông hàng hải và các mục đích sử
dụng biển khác.
Trong bối cảnh các dự án năng lượng tái tạo ven biển được định hướng phát
triển trong thời gian tới, các hoạt động này sẽ làm gia tăng nhu cầu quản lý không
gian biển, kiểm soát nguồn thải, chất thải và các rủi ro môi trường phát sinh trong
suốt vòng đời của dự án.
b. Nhiệt điện và các nguồn năng lượng liên quan:
Bên cạnh năng lượng tái tạo, khu vực ven biển chịu ảnh hưởng của sông
Hậu còn tập trung các dự án nhiệt điện quy mô lớn, góp phần bảo đảm an ninh
năng lượng của khu vực. Điển hình là Nhà máy Nhiệt điện Long Phú có công
suất thiết kế khoảng 1.200 MW, sử dụng than nhập khẩu làm nhiên liệu.
44
Hoạt động của các nhà máy nhiệt điện là một trong những nguồn gây sức
ép đối với môi trường biển và ven biển thông qua việc phát sinh nước làm mát,
nước thải sản xuất, khí thải, tro xỉ và chất thải nguy hại trong quá trình vận hành.
Trong đó, nước làm mát sau sử dụng có nhiệt độ cao hơn nguồn tiếp nhận; nước
thải phát sinh từ các công đoạn xử lý nước, vệ sinh thiết bị và hệ thống phụ trợ;
khí thải từ quá trình đốt than chứa các chất ô nhiễm như SO₂, NOₓ và bụi; tro xỉ
phát sinh với khối lượng lớn, cùng các loại chất thải nguy hại như dầu mỡ thải,
hóa chất và bùn thải từ hệ thống xử lý nước.
Ngoài các nguồn thải trong quá trình vận hành, hoạt động nhập khẩu, lưu
giữ và vận chuyển than, vận chuyển tro xỉ và nguyên vật liệu phục vụ nhà máy
cũng làm gia tăng lưu lượng phương tiện, phát sinh bụi, tiếng ồn và nguy cơ phát
tán chất ô nhiễm trong khu vực cảng và tuyến vận tải.
Trong bối cảnh khu vực ven biển tập trung nhiều hoạt động phát triển như
công nghiệp, cảng biển, giao thông hàng hải và năng lượng tái tạo, hoạt động
của các nhà máy nhiệt điện tiếp tục làm gia tăng tải lượng nước thải, khí thải,
chất thải rắn và chất thải nguy hại phát sinh, tạo thêm sức ép đối với công tác
quản lý và kiểm soát các nguồn thải tại khu vực ven biển.
2.3.6. Khai thác cát biển
Trong giai đoạn 2021 – 2025, nhu cầu vật liệu san lấp phục vụ các dự án giao
thông trọng điểm vùng Đồng bằng sông Cửu Long gia tăng mạnh, đặc biệt là dự
án đường cao tốc Châu Đốc – Cần Thơ – Sóc Trăng và tuyến cao tốc Bắc – Nam
phía Đông. Trong bối cảnh nguồn cát sông ngày càng hạn chế, khu vực biển Cần
Thơ được nghiên cứu và đưa vào khai thác cát biển phục vụ san lấp.
Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường),
khu B1 ngoài khơi cửa Định An được đánh giá có trữ lượng tài nguyên cát biển
lớn và đã được triển khai khai thác thử nghiệm từ năm 2024. Đây là mỏ cát biển
đầu tiên tại Việt Nam được khai thác phục vụ các công trình giao thông.
Các báo cáo chuyên ngành giai đoạn 2021 – 2025 cho thấy hoạt động cấp
phép và xác nhận khai thác cát biển tại khu vực ven biển Cần Thơ có xu hướng
gia tăng nhanh nhằm đáp ứng nhu cầu vật liệu san lấp cho các dự án hạ tầng trọng
điểm. Lũy kế đến năm 2025, cơ quan quản lý đã cấp 03 Bản xác nhận khai thác
cho các nhà thầu thi công dự án giao thông trọng điểm và 01 giấy phép khai thác
cát biển quy mô lớn. Trong đó:
- 02 mỏ cát biển thuộc Tiểu khu B1.1 và B1.2 có tổng trữ lượng được xác
nhận khoảng 3.647.689 m³ nhằm cung ứng vật liệu cho dự án đường bộ cao tốc
Bắc – Nam phía Đông. Tính đến ngày 22/10/2025, sản lượng khai thác thực tế đạt
khoảng 1.083.366 m³, tương đương khoảng 29,78% trữ lượng được xác nhận.
45
- 01 mỏ cát biển thuộc Tiểu khu B1.4 có trữ lượng khoảng 2.000.000 m³ được
xác nhận phục vụ Dự án thành phần 4 thuộc tuyến cao tốc Châu Đốc – Cần Thơ
– Sóc Trăng giai đoạn 1, hiện đang trong giai đoạn chuẩn bị khai thác.
- Ngoài ra, mỏ cát biển B1.5 đã được cấp giấy phép khai thác với trữ lượng
rất lớn, khoảng 17.203.202 m³, cho thấy quy mô khai thác cát biển tại khu vực
ven biển đang có xu hướng mở rộng đáng kể trong thời gian tới.
Bảng 2.5. Một số khu vực khai thác và nghiên cứu cát biển tại Cần Thơ
Khu vực
Quy mô/Thông tin chính
Tình trạng
Tiểu khu B1.1 – B1.2
ngoài khơi cửa Định
An
Tổng trữ lượng xác nhận 3.647.689 m³;
đã khai thác 1.083.366 m³ tính đến
22/10/2025
Đang khai
thác
Tiểu khu B1.4
Trữ lượng khoảng 2.000.000 m³ phục
vụ cao tốc Châu Đốc – Cần Thơ – Sóc
Trăng
Chuẩn bị khai
thác
Mỏ cát biển B1.5
Trữ lượng được cấp phép khoảng
17.203.202 m³
Đã cấp phép
Khu B2 – B4 vùng
biển Sóc Trăng
Đang nghiên cứu, đánh giá tài nguyên
Chưa khai
thác thương
mại
(Nguồn: Sở NN&MT Cần Thơ, 2026; Thành Ủy Cần Thơ, 2026)
Hoạt động khai thác cát biển bao gồm các công đoạn nạo hút, bơm, vận
chuyển và tập kết vật liệu bằng tàu chuyên dụng. Quá trình này làm gia tăng lưu
lượng phương tiện hoạt động trên biển, nhu cầu sử dụng nhiên liệu, phát sinh nước
thải, chất thải từ tàu và các rủi ro trong quá trình khai thác, vận chuyển.
Việc mở rộng quy mô khai thác cát biển trong giai đoạn 2021 – 2025 làm gia
tăng cường độ khai thác tài nguyên khoáng sản biển và nhu cầu sử dụng không gian
biển phục vụ hoạt động khai thác, vận chuyển vật liệu. Đồng thời, hoạt động khai
thác cát biển làm gia tăng áp lực đối với công tác quản lý tài nguyên khoáng sản,
kiểm soát sản lượng khai thác, giám sát phạm vi khai thác và quản lý các nguồn
phát sinh trong quá trình khai thác, vận chuyển cát biển tại khu vực ven biển.
2.3.7. Nguồn thải từ hệ thống sông Hậu và các thủy vực ven biển:
Hệ thống sông Hậu và các thủy vực liên thông là tuyến tiếp nhận, vận chuyển
và thoát nước chính của thành phố Cần Thơ ra biển. Các nguồn thải phát sinh
trong lưu vực được dẫn truyền theo hệ thống sông, kênh rạch và công trình thủy
lợi, sau đó đổ ra vùng cửa sông và biển ven bờ thông qua các cửa Định An, Trần
Đề và Mỹ Thanh. Do đó, môi trường biển ven bờ không chỉ chịu sức ép từ các
hoạt động kinh tế diễn ra tại khu vực ven biển mà còn chịu ảnh hưởng đáng kể từ
các nguồn thải phát sinh trong toàn bộ lưu vực sông Hậu.
46
Hệ thống tiêu thoát nước ra biển bao gồm các cửa sông tự nhiên như Định
An, Trần Đề và Mỹ Thanh, cùng mạng lưới kênh rạch, công trình thủy lợi và các
tuyến tiêu ven biển, đặc biệt tại khu vực Vĩnh Châu với các cống Lai Hòa (cống
số 2), cống số 4, cống số 5 và cống Xẻo Cốc. Các tuyến kênh trục như Trà Niên,
5 Căn, Sườn, kênh cặp đê sông Mỹ Thanh, cùng các kênh KN3, Tà Nu, Tà Men,
Hai Lạc, Xẻo Nạn, Ông Chát và Lung Giá có chức năng thu gom, dẫn nước từ nội
đồng ra các cửa sông và vùng ven biển. Hệ thống thủy văn này đồng thời là tuyến
vận chuyển các nguồn thải từ đất liền ra môi trường biển.
Nguồn thải điểm trong lưu vực chủ yếu phát sinh từ các khu công nghiệp,
cụm công nghiệp, cơ sở sản xuất, khu đô thị, khu dân cư tập trung, cơ sở y tế,
thương mại, dịch vụ, cảng biển, cảng cá, bến thủy nội địa và khu neo đậu tàu
thuyền. Các hoạt động này phát sinh nước thải, chất thải rắn, chất thải nguy hại
và các loại chất ô nhiễm đặc trưng theo từng lĩnh vực, bao gồm chất hữu cơ, chất
rắn lơ lửng (TSS), chất dinh dưỡng (nitơ, photpho), dầu mỡ, vi sinh vật và một số
hóa chất đặc thù. Nếu không được quản lý, thu gom và xử lý phù hợp, các nguồn
thải này sẽ làm gia tăng tải lượng chất ô nhiễm đưa vào hệ thống sông Hậu và các
thủy vực liên thông.
Bên cạnh nguồn thải điểm, nguồn thải không điểm cũng là một trong những
nguồn gây sức ép lớn đối với môi trường nước trong lưu vực. Hoạt động sản xuất
nông nghiệp phát sinh phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và chất dinh dưỡng theo
dòng chảy mặt vào hệ thống sông, kênh rạch. Hoạt động nuôi trồng thủy sản phát
sinh chất hữu cơ, chất dinh dưỡng và chất rắn từ thức ăn dư thừa, chất thải của
thủy sản và quá trình cải tạo ao nuôi. Ngoài ra, nước mưa chảy tràn từ khu dân
cư, khu đô thị và các tuyến giao thông còn mang theo chất rắn lơ lửng, dầu mỡ,
rác thải và các chất ô nhiễm khác vào nguồn tiếp nhận.
Ngoài các nguồn thải phát sinh trong phạm vi thành phố, sông Hậu còn tiếp
nhận tải lượng ô nhiễm từ toàn bộ lưu vực thượng nguồn. Các chất ô nhiễm được
vận chuyển theo dòng chảy từ các địa phương thượng lưu và khu vực ngoài lãnh
thổ trước khi theo sông Hậu ra biển. Đồng thời, sự thay đổi chế độ dòng chảy, lưu
lượng nước và lượng phù sa trong lưu vực cũng làm thay đổi khả năng vận chuyển,
pha loãng và phân tán các nguồn thải trước khi đổ ra vùng cửa sông và ven biển.
Các nguồn thải từ lưu vực sông Hậu chủ yếu bao gồm chất hữu cơ, chất rắn
lơ lửng (TSS), chất dinh dưỡng (nitơ, photpho), dầu mỡ, vi sinh vật, rác thải nhựa
và các thành phần ô nhiễm đặc trưng từ hoạt động công nghiệp, nông nghiệp, nuôi
trồng thủy sản, sinh hoạt và giao thông thủy. Các chất ô nhiễm này được vận
chuyển liên tục theo hệ thống sông, kênh rạch ra vùng cửa sông và biển ven bờ,
tạo nên tải lượng ô nhiễm tổng hợp đối với môi trường biển.
47
Trong giai đoạn 2021 – 2025, cùng với quá trình phát triển kinh tế - xã hội,
đô thị hóa, công nghiệp hóa và mở rộng các hoạt động sản xuất trong toàn lưu
vực, quy mô các nguồn thải vào hệ thống sông Hậu tiếp tục gia tăng. Điều này
làm gia tăng áp lực đối với công tác quản lý nguồn thải, kiểm soát tải lượng ô
nhiễm và bảo vệ môi trường nước tại khu vực cửa sông và ven biển. Diễn biến
chất lượng môi trường nước biển ven bờ dưới ảnh hưởng của các nguồn thải từ hệ
thống sông Hậu được trình bày và đánh giá tại Chương 3, Mục 3.2.
2.4. SỨC ÉP HOẠT ĐỘNG DU LỊCH VÀ DỊCH VỤ, KINH DOANH,
THƯƠNG MẠI
2.4.1. Đặc điểm phát triển du lịch, dịch vụ và thương mại ven biển
Khu vực ven biển thành phố Cần Thơ đang phát triển đa dạng các hoạt động
du lịch, dịch vụ và thương mại, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng tăng tỷ trọng dịch vụ và kinh tế biển. Các hoạt động nổi bật gồm du lịch
sinh thái ven biển, dịch vụ lưu trú và ăn uống, vận tải thủy, logistics cảng biển,
thương mại và các dịch vụ hỗ trợ sản xuất, khai thác thủy sản.
Không gian phát triển tập trung chủ yếu tại khu vực Cù Lao Dung, Vĩnh
Châu và cửa sông Trần Đề. Trong đó, Cù Lao Dung và Vĩnh Châu có lợi thế về
hệ sinh thái rừng ngập mặn, bãi bồi và cảnh quan ven biển, thuận lợi cho phát
triển du lịch sinh thái và nghỉ dưỡng; khu vực Trần Đề được định hướng trở thành
trung tâm logistics và cửa ngõ giao thương quan trọng của vùng Đồng bằng sông
Cửu Long thông qua hệ thống cảng biển và dịch vụ hậu cần.
Cùng với quá trình phát triển kinh tế biển, quy mô các hoạt động du lịch,
thương mại và dịch vụ ven biển có xu hướng tiếp tục gia tăng trong thời gian tới.
Sự phát triển này tạo động lực tăng trưởng kinh tế và việc làm cho địa phương,
nhưng đồng thời cũng làm gia tăng nhu cầu sử dụng tài nguyên, phát sinh chất
thải và tạo áp lực ngày càng lớn lên môi trường vùng cửa sông, ven biển.
Bảng 2.6. Tính chất hoạt động của các loại hình dịch vụ ven biển
Loại hnh dịch vụ
Địa bàn trọng điểm
Tính chất hoạt động
Du lịch sinh thái, nghỉ
dưỡng
Cù Lao Dung, Vĩnh Châu
Hoạt động theo mùa, tăng
mạnh vào các dịp lễ, tết và
mùa du lịch
Dịch vụ lưu trú, ăn
uống
Các đô thị và điểm du lịch
ven biển
Tập trung đông khách tại các
khu vực du lịch và trung tâm
dân cư
Logistics, cảng biển
Trần Đề
Hoạt động thường xuyên,
gắn với vận tải hàng hóa và
dịch vụ hậu cần
Thương mại, vận tải
thủy
Khu vực cửa sông và ven
biển
Phục vụ giao thương hàng
hóa trong tỉnh và liên vùng
48
2.4.2. Sức ép từ hoạt động du lịch, dịch vụ và thương mại ven biển
Cùng với quá trình phát triển kinh tế biển, các hoạt động du lịch, dịch vụ và
thương mại tại khu vực ven biển thành phố Cần Thơ có xu hướng mở rộng cả về
quy mô và loại hình. Mặc dù hiện nay quy mô các hoạt động này chưa lớn so với
công nghiệp hoặc nuôi trồng thủy sản, sự gia tăng số lượng cơ sở lưu trú, nhà
hàng, khu vui chơi, điểm tham quan, cơ sở kinh doanh dịch vụ và các hoạt động
thương mại ven biển đang làm gia tăng các nguồn gây sức ép đối với môi trường
thông qua việc phát sinh chất thải, gia tăng nhu cầu sử dụng đất và mở rộng hạ
tầng phục vụ phát triển du lịch.
Hoạt động của các cơ sở lưu trú, nhà hàng, khu du lịch, cơ sở kinh doanh ăn
uống và các loại hình dịch vụ ven biển phát sinh nước thải sinh hoạt và nước thải
dịch vụ với thành phần chủ yếu gồm chất hữu cơ, chất rắn lơ lửng, chất dinh
dưỡng, dầu mỡ và các chất tẩy rửa. Khối lượng nước thải có xu hướng tăng vào
các dịp lễ, tết và mùa cao điểm du lịch, làm gia tăng áp lực đối với hệ thống thu
gom, thoát nước và xử lý nước thải tại các khu vực tập trung hoạt động dịch vụ
ven biển. Đồng thời, sự phát triển của hoạt động du lịch cũng kéo theo lượng chất
thải rắn sinh hoạt phát sinh ngày càng lớn, bao gồm thức ăn thừa, bao bì, chai
nhựa, túi ni lông, ly, hộp và các sản phẩm nhựa dùng một lần. Trong điều kiện
năng lực thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải chưa đáp ứng kịp tốc độ phát
sinh, nguy cơ thất thoát chất thải từ các khu du lịch, khu dịch vụ và khu vực công
cộng vào hệ thống sông, kênh rạch, vùng cửa sông và ven biển có xu hướng gia
tăng, làm tăng tải lượng chất thải đưa ra môi trường biển.
Bên cạnh các nguồn thải phát sinh, quá trình phát triển du lịch, dịch vụ và
thương mại còn làm gia tăng nhu cầu sử dụng không gian ven biển để xây dựng
cơ sở lưu trú, nhà hàng, khu vui chơi, điểm tham quan, công trình thương mại và
các hạng mục hạ tầng phục vụ du lịch. Nhiều khu vực ven biển và cửa sông có xu
hướng được khai thác với cường độ ngày càng cao nhằm đáp ứng nhu cầu đầu tư
và mở rộng các loại hình dịch vụ. Quá trình này làm gia tăng nhu cầu sử dụng đất,
vật liệu xây dựng và các nguồn lực phục vụ phát triển hạ tầng, đồng thời tạo áp
lực đối với công tác quy hoạch, quản lý sử dụng đất và tổ chức không gian phát
triển tại khu vực ven biển.
Nhìn chung, mặc dù quy mô hoạt động du lịch, dịch vụ và thương mại ven
biển hiện nay chưa phải là nguồn gây sức ép lớn nhất đối với môi trường biển của
thành phố, xu hướng mở rộng các hoạt động này trong thời gian tới sẽ tiếp tục làm
gia tăng lượng nước thải, chất thải rắn, nhu cầu sử dụng không gian ven biển và
hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế. Đây là những nguồn sức ép cần được xem xét
trong quá trình quản lý tài nguyên, môi trường và quy hoạch phát triển bền vững
vùng ven biển.
49
Trên cơ sở các phân tích về sức ép phát triển kinh tế - xã hội đối với môi
trường biển tại các mục 2.1 đến 2.4, các nhóm sức ép chính được tổng hợp và
đánh giá mức độ rủi ro như trong bảng sau:
Bảng 2.7. Ma trận tổng hợp rủi ro các sức ép môi trường
Nhóm sức ép
Mức độ
tác động
Khả năng
xảy ra
Phạm vi
ảnh hưởng
Khả năng
kiểm soát
Mức độ
rủi ro
Công nghiệp ven biển,
cảng biển, năng lượng,
khai thác cát biển, nguồn
thải sông Hậu
Rất cao
Cao
Rộng
Trung
bình –
thấp
Rất cao
Nuôi trồng và khai thác
thủy sản ven biển
Cao
Cao
Trung bình
– rộng
Trung
bình
Cao
Đô thị hóa, dân số, di cư
ven biển
Trung
bình – cao
Cao
Rộng
Trung
bình
Cao
Nông nghiệp ven biển
Trung
bình
Trung
bình – cao
Trung bình
Trung
bình
Trung
bình
Du lịch, dịch vụ, thương
mại ven biển
Trung
bình
Trung
bình
Cục bộ
Khá cao
Trung
bình
50
CHƯƠNG 3. HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC
3.1. NƯỚC MẶT LỤC ĐỊA
3.1.1. Tài nguyên nước mặt lục địa thành phố Cần Thơ
Thành phố Cần Thơ sở hữu hệ thống tài nguyên nước mặt phong phú với
mạng lưới sông, kênh, rạch phân bố rộng khắp trên toàn địa bàn. Hệ thống này
được hình thành từ các nhánh hạ lưu của sông Mê Kông kết hợp với mạng lưới
kênh đào nhân tạo phát triển trong hơn một thế kỷ qua, tạo nên một trong những
vùng có mật độ sông ngòi, kênh rạch cao nhất cả nước. Nguồn nước mặt giữ vai
trò đặc biệt quan trọng đối với cấp nước sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp, nuôi
trồng thủy sản, giao thông thủy, phát triển kinh tế - xã hội và duy trì các hệ sinh
thái đất ngập nước, cửa sông, ven biển.
Hệ thống sông chính của thành phố gồm sông Hậu, sông Cần Thơ, sông Mỹ
Thanh, sông Cái Lớn cùng nhiều sông nhánh và phụ lưu khác. Trong đó, sông Hậu
là trục thủy văn quan trọng nhất, chảy xuyên suốt địa bàn thành phố từ Bắc xuống
Nam, cung cấp nguồn nước ngọt chủ yếu cho khu vực nội đồng và vùng ven biển.
Bên cạnh đó, sông Mỹ Thanh và các cửa sông Trần Đề, Định An có vai trò quan
trọng trong trao đổi nước giữa đất liền và biển Đông, đồng thời là các tuyến xâm
nhập mặn chính trong mùa khô. Ở phía Tây, hệ thống sông Cái Lớn giữ vai trò tiêu
thoát nước và dẫn truyền ảnh hưởng thủy triều biển Tây vào nội đồng.
Ngoài hệ thống sông tự nhiên, thành phố còn có mạng lưới kênh rạch dày
đặc với hàng nghìn tuyến kênh lớn nhỏ kết nối các vùng sản xuất, khu dân cư và
các tuyến giao thông thủy. Các tuyến kênh trục như Xáng Xà No, Quản Lộ –
Phụng Hiệp, Cái Sắn, Lái Hiếu, Phụng Hiệp và Ô Môn – Xà No vừa thực hiện
chức năng dẫn nước ngọt, tiêu thoát lũ, kiểm soát xâm nhập mặn, vừa phục vụ
giao thông vận tải và phát triển nông nghiệp của toàn vùng.
Chế độ thủy văn của thành phố chịu ảnh hưởng tổng hợp của dòng chảy từ
thượng nguồn sông Mê Kông, chế độ thủy triều biển Đông và biển Tây, cùng sự
phân hóa mùa mưa – mùa khô đặc trưng của Đồng bằng sông Cửu Long. Mùa
mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, cung cấp phần lớn lượng nước trong năm,
trong khi mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 thường xuất hiện tình trạng suy giảm
dòng chảy và gia tăng ảnh hưởng của thủy triều. Sự tương tác giữa dòng chảy
thượng nguồn và chế độ triều tạo nên các biến động thủy văn theo mùa, làm gia
tăng nguy cơ ngập úng trong mùa lũ và xâm nhập mặn trong mùa khô, đặc biệt tại
khu vực ven biển và vùng cửa sông.
Xét theo đặc điểm nguồn nước và điều kiện thủy văn, tài nguyên nước mặt
của thành phố có thể chia thành ba vùng chính. Vùng trung tâm Cần Thơ là khu
vực có nguồn nước ngọt tương đối ổn định nhờ được cấp trực tiếp từ sông Hậu.
Vùng Hậu Giang (trước sáp nhập) là khu vực chuyển tiếp giữa vùng ngọt và vùng
chịu ảnh hưởng mặn, có vai trò điều tiết và phân phối nguồn nước cho khu vực
nội đồng. Vùng ven biển Sóc Trăng (trước sáp nhập) chịu ảnh hưởng trực tiếp của
51
thủy triều biển Đông và quá trình xâm nhập mặn thông qua các cửa sông lớn, đồng
thời là khu vực có mối liên hệ chặt chẽ nhất giữa nguồn nước mặt lục địa và môi
trường biển ven bờ.
Nhìn chung, thành phố Cần Thơ có nguồn tài nguyên nước mặt dồi dào, hệ
thống sông ngòi và kênh rạch phát triển, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh
tế - xã hội. Tuy nhiên, dưới tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dâng, xâm
nhập mặn, ngập lụt và nhu cầu khai thác sử dụng nước ngày càng gia tăng, công
tác quản lý và bảo vệ tài nguyên nước mặt cần được tăng cường nhằm bảo đảm
phát triển bền vững và duy trì các chức năng sinh thái của vùng cửa sông, ven biển.
3.1.2. Diễn biến ô nhiễm
Môi trường nước mặt trên địa bàn thành phố Cần Thơ bị tác động bởi nhiều
nguồn như: Nước thải sinh hoạt, nước thải từ các hoạt động sản xuất công nghiệp,
nông nghiệp,… tùy theo từng khu vực và đặc điểm phát triển kinh tế - xã hội,
nguồn nước mặt chịu sự ảnh hưởng của các nguồn thải khác nhau.
Diễn biến chất lượng môi trường nước mặt được đánh giá trên cơ sở kế thừa
và tổng hợp số liệu quan trắc từ hai nguồn, bao gồm: (i) kết quả quan trắc tại 03
vị trí đặc trưng là khu vực cửa sông Định An, cửa sông Trần Đề và cửa sông Mỹ
Thanh được thực hiện trong tháng 2/2026 và tháng 3/2026; (ii) số liệu từ chương
trình quan trắc môi trường định kỳ hàng năm của 03 địa phương trước khi sáp
nhập (giai đoạn 2021 – 2025).
a. Kết quả quan trắc tại cửa sông Định An, cửa sông Trần Đề và cửa sông
Mỹ Thanh:
Vị trí các điểm quan trắc được trình bày trong bảng bên dưới.
Bảng 3.1. Các vị trí lấy mẫu nước mặt phục vụ báo cáo Hiện trạng Biển và
Hải đảo trên địa bàn thành phố Cần Thơ
STT
Vị trí lấy mẫu
Hệ toạ độ VN 2000
kinh tuyến trục
105
o
, múi chiếu 3
o
Thông số
X
Y
Nhiệt độ, pH, Oxy hòa tan
(DO), Nhu cầu oxy sinh
học (BOD
5
), Nhu cầu oxy
hóa học (COD), Tổng chất
rắn lơ lửng (TSS), Amoni
(NH
4
+
tính theo N), Nitrit
(NO
2
-
tính theo N), Tổng
Nitơ, Tổng Photpho, Sắt
(Fe), Coliforms, Tổng
Cacbon hữu cơ (TOC),
Dầu mỡ tổng.
1
Khu vực cửa Định An
1060301
641512
2
Khu vực cửa sông Trần Đề
1050253
634145
3
Khu vực sông Mỹ Thanh
1042156
628586
52
Hnh 3.1. Vị trí lấy mẫu nước mặt báo cáo hiện trạng môi trường biển và
hải đảo thành phố Cần Thơ
- Thông số nhiệt độ: Nhiệt độ tại các vị trí quan trắc dao động từ 28,4
0
C –
29,3
0
C. Cao nhất là 29,3
0
C tại khu vực sông Mỹ Thanh.
Biểu đồ 3.1. Giá trị nhiệt độ tại các điểm lấy mẫu nước mặt
- Thông số pH: Môi trường nước mặt tại các vị trí lấy mẫu có giá trị pH dao
động trong khoảng 7,35 – 7,50; không có sự chênh lệch lớn về giá trị pH trong
nước mặt tại các vị trí lấy mẫu. Chất lượng nước mặt có giá trị pH đạt mức A của
QCVN 08:2023/BTNMT.
53
Biểu đồ 3.2. Giá trị pH tại các điểm lấy mẫu nước mặt
- Thông số DO: Hàm lượng oxy hòa tan trong nước mặt tại các vị trí lấy mẫu
có giá trị dao động trong khoảng 5,21 – 5,62 mg/L. So với QCVN 08:2023/BTNMT
hàm lượng DO chưa đạt giá trị giới hạn tại mức C (chất lượng nước trung bình)
nhưng đều trên giá trị giới hạn đối với mức B (nước mặt có chất lượng trung bình).
Biểu đồ 3.3. Giá trị DO tại các điểm lấy mẫu nước mặt
54
- Thông số BOD
5
: Hàm lượng nhu cầu oxy sinh hóa tại các vị trí lấy mẫu dao
động từ 3,93 – 4,83 mg/L. Tại các vị trí lấy mẫu khu vực cửa Định An, khu vực
sông Mỹ Thanh vượt mức A (chất lượng nước tốt), riêng vị trí khu vực cửa sông
Trần Đề đều nằm trong giới hạn cho phép của quy chuẩn.
Biểu đồ 3.4. Giá trị BOD
5
tại các điểm lấy mẫu nước mặt
- Thông số COD: Hàm lượng nhu cầu oxy hóa học tại các vị trí lấy mẫu
dao động từ 14,6 – 44,50 mg/L. Tại vị trí khu vực cửa Định An và khu vực
sông Mỹ Thanh đều có hàm lượng vượt giá trị cho phép tại mức B (chất lượng
nước trung bình).
Biểu đồ 3.5. Giá trị COD tại các điểm lấy mẫu nước mặt
55
- Thông số TSS: Hàm lượng tổng chất rắn lơ lửng tại các vị trí lấy mẫu dao
động từ 53,5 – 183,10 mg/L. Các vị trí quan trắc đều vượt mức A (chất lượng nước
tốt). So với mức B, khu vực cửa Định An và cửa sông Trần Đề đều đạt, riêng khu
vực sông Mỹ Thanh có giá trị vượt mức B.
Biểu đồ 3.6. Giá trị TSS tại các điểm lấy mẫu nước mặt
- Thông số amoni: Hàm lượng amoni tại các vị trí lấy mẫu dao động từ 0,039
– 0,05 mg/L. Tất cả các các vị trí lấy mẫu đều nằm trong giới hạn quy chuẩn
QCVN 08:2023/BTNMT – Bảng 1.
Biểu đồ 3.7. Giá trị Amoni tại các điểm lấy mẫu nước mặt
56
- Thông số nitrit: Hàm lượng Nitrit dao động trong khoảng 0,039 – 0,042
mg/L. Riêng tại vị trí khu vực sông Mỹ Thanh không phát hiện và 02 vị trí còn lại
đều nằm trong giới hạn cho phép của Quy chuẩn.
Biểu đồ 3.8. Giá trị nitrit tại các điểm lấy mẫu nước mặt
- Thông số tổng nitơ: Hàm lượng Tổng Nitơ dao động trong khoảng 0,88 –
0,988 mg/L. Tại vị trí lấy mẫu đều vượt mức A (chất lượng tốt) và nằm trong giới
hạn cho phép của mức B (chất lượng trung bình).
Biểu đồ 3.9. Giá trị tổng nitơ tại các điểm lấy mẫu nước mặt
57
- Thông số tổng photpho: Hàm lượng Tổng Photpho dao động trong khoảng
từ 0,062 – 126 mg/L. Trong đó, vị trí lấy mẫu khu vực sông Mỹ Thanh vượt mức
A (chất lượng nước tốt).
Biểu đồ 3.10. Giá trị tổng photpho tại các điểm lấy mẫu nước mặt
- Thông số sắt: Hàm lượng Sắt dao động trong khoảng 0,181 – 0,843 mg/L.
Tại vị trí lấy mẫu khu vực cửa Định An và khu vực sông Mỹ Thanh vượt quy
chuẩn QCVN 08:2023/BTNMT tại Bảng 1.
Biểu đồ 3.11. Giá trị Sắt tại các điểm lấy mẫu nước mặt
58
- Thông số Coliforms: Mật độ Coliforms tại các vị trí quan trắc dao động từ
17 – 170 MPN/100ml. Tất cả các vị trí lấy mẫu đều nằm trong giới hạn cho phép
mức A (chất lượng nước tốt).
Biểu đồ 3.12. Giá trị Coliforms tại các điểm lấy mẫu nước mặt
- Thông số TOC: Hàm lượng TOC dao động trong khoảng 0,79 – 2 mg/L. Tất
cả các vị trí lấy mẫu đều nằm trong giới hạn cho phép mức A (chất lượng nước tốt).
Biểu đồ 3.13. Giá trị TOC tại các điểm lấy mẫu nước mặt
- Thông số dầu mỡ tổng: Tại các vị trí lấy mẫu đều có kết quả không phát hiện.
59
Nhận xét chung:
Kết quả quan trắc cho thấy chất lượng nước tại ba khu vực cửa sông nhìn chung
còn duy trì ở mức tương đối tốt đối với các thông số pH, amoni, nitrit, Coliform,
TOC và dầu mỡ tổng. Tuy nhiên, một số thông số phản ánh ô nhiễm hữu cơ và chất
rắn lơ lửng như COD, BOD₅ và TSS có giá trị cao hơn tại khu vực cửa Định An và
sông Mỹ Thanh so với cửa sông Trần Đề. Điều này cho thấy mức độ tác động của
các nguồn thải không đồng đều giữa các khu vực cửa sông. Trong thời điểm quan
trắc, khu vực cửa Định An và sông Mỹ Thanh ghi nhận một số thông số hữu cơ và
chất rắn lơ lửng cao hơn so với cửa sông Trần Đề, phản ánh sự khác biệt về điều kiện
thủy động lực, khả năng trao đổi nước, đặc điểm sử dụng đất trong lưu vực và cường
độ các hoạt động kinh tế - xã hội tại từng khu vực.
Đối với các thông số dinh dưỡng, tổng Nitơ và tổng Photpho có xu hướng tăng
cục bộ tại một số vị trí cửa sông nhưng nhìn chung vẫn chưa ghi nhận dấu hiệu phú
dưỡng trên diện rộng. Mật độ Coliform tại các vị trí đều nằm trong giới hạn cho phép,
cho thấy chưa xuất hiện dấu hiệu ô nhiễm vi sinh đáng kể trong thời điểm quan trắc.
Những biến động cục bộ của các thông số hữu cơ, dinh dưỡng chủ yếu liên quan đến
đặc điểm thủy văn vùng cửa sông, sự trao đổi nước giữa sông và biển, hoạt động sản
xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và nguồn nước thải từ khu dân cư ven sông.
Các khu vực này cần tiếp tục được theo dõi trong các chương trình quan trắc định kỳ
nhằm đánh giá xu thế biến động lâu dài và phục vụ công tác quản lý, bảo vệ môi
trường biển và hải đảo.
b. Kết quả quan trắc chất lượng môi trường nước mặt giai đoạn 2021 - 2025:
Trong giai đoạn 2021 – 2025, mạng lưới quan trắc chất lượng nước mặt trên
địa bàn thành phố Cần Thơ (sau sáp nhập) gồm tổng cộng 132 vị trí quan trắc; số
lượng thực hiện quan trắc hằng năm dao động từ 101 – 129 vị trí/năm. Các vị trí
quan trắc này thuộc địa bàn thành phố Cần Thơ, tỉnh Hậu Giang và tỉnh Sóc Trăng
trước thời điểm thực hiện sáp nhập đơn vị hành chính. Cụ thể như sau:
Bảng 3.2. Các vị trí quan trắc chất lượng nước mặt giai đoạn 2021 – 2025
TT
Năm
Vị trí quan trắc
Khu vực thành phố Cần Thơ trước sáp nhập
1
2021
38 (Theo mạng lưới)
2
2022
38 (Theo mạng lưới)
3
2023
42 (Trên các tuyến sông, rạch chính)
4
2024
42 (Trên các tuyến sông, rạch chính)
5
2025
42 (Trên các tuyến sông, rạch chính)
Khu vực tỉnh Hậu Giang trước sáp nhập
1
2021
44
60
TT
Năm
Vị trí quan trắc
2
2022
46
3
2023
48
4
2024
50
5
2025
52
Khu vực tỉnh Sóc Trăng trước sáp nhập
1
2021
19
2
2022
35
3
2023
35
4
2024
35
5
2025
35
Để đánh giá chất lượng nước mặt trên địa bàn thành phố Cần Thơ (sau sáp
nhập) giai đoạn 2021 – 2025, báo cáo sử dụng Chỉ số chất lượng nước Việt Nam
(VN_WQI). Đây là chỉ số được tính toán từ các thông số quan trắc nước mặt nhằm
phản ánh định lượng hiện trạng chất lượng nguồn nước và mức độ phù hợp đối với
các mục đích sử dụng thông qua thang điểm đánh giá cụ thể.
Bộ dữ liệu phục vụ tính toán VN_WQI gồm 132 vị trí quan trắc nước mặt
phân bố trên địa bàn thành phố Cần Thơ sau sáp nhập với tỉnh Hậu Giang và tỉnh
Sóc Trăng theo Nghị quyết 202/2025/QH15. Để thuận tiện cho việc phân tích và
đánh giá, các vị trí quan trắc được chia thành ba tiểu vùng không gian như sau:
- Tiểu vùng I – thành phố Cần Thơ cũ (1 – 45): gồm hệ thống kênh rạch nội
ô, vàm sông thuộc địa phận thành phố Cần Thơ cũ, bao gồm các sông Cái Răng,
Bình Thủy, Ô Môn, Thốt Nốt, Phong Điền và khu vực KCN Trà Nóc.
- Tiểu vùng II – Hậu Giang (trước sáp nhập) (46 – 97): gồm hệ thống kênh
Xáng Xà No, sông Cái Lớn, sông Ba Láng, kênh Nàng Mau và sông Hậu đoạn qua
địa phận tỉnh Hậu Giang (trước sáp nhập).
- Tiểu vùng III – Sóc Trăng (trước sáp nhập) (98 – 132): gồm hệ thống
sông Hậu, sông Maspero, các kênh nội đồng Sóc Trăng và khu vực Ngã Năm, Kế
Sách, Vĩnh Châu, Cù Lao Dung, Phú Lộc.
Việc phân loại chất lượng nước theo VN_WQI được áp dụng theo Quyết
định số 1460/QĐ-TCMT, gồm các mức: 91 – 100 (Rất tốt), 76 – 90 (Tốt), 51 – 75
(Trung bình), 26 – 50 (Kém) và 0 – 25 (Rất kém). Chỉ số WQI được thể hiện bằng
thang điểm tương ứng với các mức đánh giá, màu sắc và biểu tượng nhằm phản
ánh khả năng đáp ứng của nguồn nước đối với các mục đích sử dụng khác nhau,
cụ thể như sau:
61
Bảng 3.3. Chỉ số VN_WQI và sự phù hợp với mục đích sử dụng
Khoảng
WQI
Chất lượng
nước
Màu
sắc
Phù hợp với mục đích sử dụng
91 - 100
Rất tốt
Sử dụng tốt cho mục đích cấp nước sinh hoạt
76 - 90
Tốt
Sử dụng cho mục đích cấp nước sinh hoạt nhưng
cần các biện pháp xử lý phù hợp
51 - 75
Trung bình
Sử dụng cho mục đích tưới tiêu và các mục đích
tương đương khác
26 - 50
Kém
Sử dụng cho giao thông thủy và các mục đích tương
đương khác
10 - 25
Ô nhiễm nặng
Nước ô nhiễm nặng, cần biện pháp xử lý trong
tương lai
< 10
Ô nhiễm rất nặng
Nước nhiễm độc, cần có biện pháp khắc phục xử lý
Chỉ số chất lượng nước mặt khu vực thành phố Cần Thơ trong báo cáo này
được tính toán thông qua 3 nhóm thông số:
- Nhóm I: pH.
- Nhóm IV (nhóm thông số hữu cơ và dinh dưỡng): DO, BOD
5
, COD, N-
NH
4
+
, N-NO
3
-
, N-NO
2
-
, P-PO
4
3-
.
- Nhóm V (thông số vi sinh): Coliforms.
Kết quả đánh giá chất lượng nước mặt giai đoạn 2021 – 2025 như sau:
Bảng 3.4. Chỉ số VN_WQI qua các đợt quan trắc nước mặt tại khu vực
thành phố Cần Thơ
TT
Ký hiệu điểm quan trắc
Giá trị WQI qua các đợt quan trắc
nước mặt
Năm
2021
Năm
2022
Năm
2023
Năm
2024
Năm
2025
I
Cần Thơ cũ
1
Nhà máy nước Cần Thơ 1 (đường 30/4)
86
96
66
71
40
2
Vàm rạch Khai Luông
68
97
75
56
39
3
Vàm rạch Cái Khế
66
93
79
79
38
4
Vàm rạch Sang Trắng (Khu CN Trà Nóc)
43
96
91
72
75
5
Vàm Trà Nóc (Cầu Trà Nóc)
43
96
90
73
60
6
Vàm sông Bình Thủy (gần Chùa Miên)
80
96
91
71
85
7
Vàm rạch Cam
43
95
91
70
77
8
Chợ Cái Răng
44
97
81
82
84
62
TT
Ký hiệu điểm quan trắc
Giá trị WQI qua các đợt quan trắc
nước mặt
Năm
2021
Năm
2022
Năm
2023
Năm
2024
Năm
2025
9
Vàm Cái Cui
64
97
75
83
87
10
Vàm Cái Sâu
82
96
72
83
87
11
Vàm rạch Bến Bạ
74
97
72
84
87
12
Trên sông Cái Răng Bé (KV Phường
Thường Thạnh)
78
95
70
84
86
13
Vàm Ô Môn
67
65
83
83
87
14
Chợ Ô Môn
68
80
81
82
84
15
Vàm rạch Chanh (gần KCN Trà Nóc)
45
86
80
82
87
16
Chợ thị trấn Bằng Tăng
44
87
81
84
86
17
Vàm Thốt Nốt
82
95
84
84
86
18
Ngã 3 Bà Chiêu (cầu Bà Chiêu cũ)
78
95
83
83
86
19
Vàm Thơm Rơm
45
97
82
85
84
20
Vàm Cần Thơ Bé
45
98
82
76
83
21
Cầu Bắc Đuôn (nay là cầu 30/4)
64
97
85
76
86
22
UBND phường Trung Nhứt
44
93
85
77
86
23
Vàm Cái Sắn (Khu vực cầu Cái Sắn Lớn
– QL 80)
83
95
83
76
86
24
Vàm Mỹ Khánh (Khu vực Cầu Trường
Tiền cũ)
82
96
37
78
86
25
Chợ Phong Điền
44
97
38
80
87
26
Ngã 3 ông Hào (Khu vực Chợ Trường Long)
68
85
35
79
87
27
Vàm rạch Xà No (đối diện bến phà Vàm Sáng)
83
96
36
79
87
28
Chợ Thới Lai
63
94
74
77
84
29
Kênh Ranh giao với kinh Xáng Ô Môn (khu
vực Trụ Sở UBND Xã Trường Xuân A)
43
94
81
76
85
30
Kinh Thị Đội giao với kinh Ngang (cầu
kinh Ngang)
60
89
65
74
85
31
Kinh KH6 (Khu vực Cầu số 1 - xã Thới Hưng)
43
97
37
72
86
32
Cầu quay - Thị trấn Cờ Đỏ
43
95
37
72
84
33
Cầu Kênh Ranh (Khu vực Chợ Nóc Bằng,
xã Thới Đông)
43
95
38
34
85
63
TT
Ký hiệu điểm quan trắc
Giá trị WQI qua các đợt quan trắc
nước mặt
Năm
2021
Năm
2022
Năm
2023
Năm
2024
Năm
2025
34
Ngã ba Cầu số 10 - kênh Cái Sắn (thuộc
thị trấn Vĩnh Thạnh)
41
89
78
81
86
35
Đầu Kênh D (tiếp giáp kênh Cái Sắn
thuộc thị trấn Thạnh An)
41
90
77
82
85
36
Vàm rạch Đầu Sấu
79
70
39
37
Vàm rạch Rau Răm
80
80
38
38
Khu vực cách nhà máy Nước 2 khoảng
80m (gần nhà hàng Song Hỷ)
91
72
78
39
Rạch Cái Da (khu vực cầu Cái Da)
62
85
86
40
Rạch Cái Nai (khu vực cầu Cái Nai)
65
83
86
41
Cầu Xẻo Tre (Ấp Tân A, Xã Tân Thới)
37
80
86
42
Đầu Kênh E (tiếp giáp kênh Cái Sắn thuộc
xã Thạnh Tiến)
75
82
85
43
Họng nhà máy Nước 2
81
96
44
UBND xã Giai Xuân
73
97
45
Kinh E giao với kinh Đòn Giông
63
90
II
Hậu Giang (trước sáp nhập)
46
Kênh Xáng Xà No, gần nhà máy nước Vị
Thanh
37
52
64
38
68
47
Kênh Xáng Xà No, hợp lưu với sông Cái
Tư (sông Ba Voi) gần nhà máy đường Vị
Thanh
56
56
64
68
72
48
Sông Cái Tư - Kho tàng bến bãi gần cầu
Cái Tư
35
50
72
66
78
49
Sông Cái Lớn, gần UBND xã Hoả Tiến
56
62
69
60
77
50
Ngã tư Kênh Xáng Nàng Mau, TT. Nàng
Mau (nay là xã Vị Thủy)
33
50
64
57
81
51
Kênh Xáng Xà No, gần UBND xã Vị Thanh
52
57
70
69
74
52
Kênh Xáng Nàng Mau – chợ xã Vĩnh Tường
51
52
65
67
82
53
Hợp lưu sông Cái Lớn - Kênh Xáng Nàng
Mau, gần chợ xã Vĩnh Thuận Tây (nay là
xã Vĩnh Thuận Đông)
53
58
67
67
74
54
Ngã 4 sông Ba Láng – chợ Cái Tắc, TT.
Cái Tắc (nay là xã Đông Phước)
60
55
65
66
82
55
Sông Ba Láng, bến đò số
37
66
70
70
82
64
TT
Ký hiệu điểm quan trắc
Giá trị WQI qua các đợt quan trắc
nước mặt
Năm
2021
Năm
2022
Năm
2023
Năm
2024
Năm
2025
56
Nhánh sông Ba Láng chợ Rạch Gòi
60
56
64
63
77
57
Kênh xáng Xà No, gần chợ Một Ngàn
56
66
69
68
76
58
Vàm Cái Dầu, gần chợ Ngã Sáu, TT Ngã
Sáu (nay là xã Châu Thành)
65
68
73
70
91
59
Kênh Xáng Mái Dầm, cầu Phú Hữu, xã
Phú Hữu
72
74
77
69
64
60
Vàm Cái Cui, xã Đông Phú (nay là xã
Châu Thành)
77
80
85
76
91
61
Vàm Cái Dầu, TT.Mái Dầm (nay là xã
Châu Thành)
81
81
85
76
91
62
Vàm Mái Dầm, TT.Mái Dầm (nay là xã
Châu Thành)
77
83
85
74
67
63
Vàm Cái Côn, TT.Mái Dầm (nay là xã
Châu Thành)
83
77
88
72
72
64
Vàm Cái Dầu - CCN Đông Phú
78
75
83
70
64
65
Kênh Ba Ngàn - Kênh Cái Côn
61
68
65
70
74
66
Kênh Xáng Búng Tàu, gần nhà máy
đường Phụng Hiệp
37
58
59
66
66
67
Kênh Mang Cá - Phụng Hiệp
41
62
68
67
71
68
Ngã 4 kênh Lái Hiếu, gần chợ Cây
Dương, TT.Cây Dương
62
57
51
61
71
69
Ngã 3 kênh Lái Hiếu - kênh Cái Cao
35
58
64
62
68
70
Kênh Nhà Nước, gần chợ Kinh Cùng, TT.
Kinh Cùng
48
53
63
59
63
71
Kênh Xáng Nàng Mau gần chợ Cầu Trắng
Lớn
58
67
62
61
83
72
Ngã tư Kênh Xáng Nàng Mau - kênh
Đông Lợi
56
63
66
65
83
73
Kênh Xáng Búng tàu, tại vị trí ngã năm
Búng tàu, TT.Búng Tàu (nay là xã Tân
Phước Hưng)
62
61
66
65
68
74
Kênh Hậu Giang 3, trong khu bảo tồn thiên
nhiên Lung Ngọc Hoàng, Phương Ninh
83
77
70
67
69
75
Sông Cái Lớn - gần nhà máy đường Cồn
Long Mỹ Phát
34
55
60
57
71
76
Kênh Mười Thước gần chợ Vĩnh Viễn -
huyện Long Mỹ
46
49
59
57
70
65
TT
Ký hiệu điểm quan trắc
Giá trị WQI qua các đợt quan trắc
nước mặt
Năm
2021
Năm
2022
Năm
2023
Năm
2024
Năm
2025
77
Hợp lưu kênh Xáng Búng Tàu - kênh Xẻo
Môn, gần chợ Trà Lồng
57
54
60
64
73
78
Sông Hậu, giữa Vàm Mái Dầm đến vàm
Cái Côn
89
55
67
67
74
79
Sông Hậu, giữa vàm Cái Cui và vàm Cái
Dầu
91
92
91
68
77
80
Sông Hậu, đoạn giữa vàm Cái Dầu đến
vàm Mái Dầm
91
92
85
67
72
81
Sông Ba Láng - Cảng KCN Tân Phú Thạnh
55
86
85
67
78
82
Kênh Chủ Chẹt - gần CCN Vị Thanh
49
59
65
56
34
83
Kênh Mỹ Thuận, gần UBND P.Lái Hiếu,
Tp.Ngã Bảy
53
31
56
57
75
84
Kênh Hậu Giang 3 - Kênh Thầy Năm, xã
Long Trị
46
49
69
57
64
85
Hợp lưu sông Cái Trầu - kênh Trà Ban
48
50
34
47
72
86
Kênh Long Mỹ 2, gần UBND xã Xà Phiên
48
44
58
55
65
87
Ngã 3 Sông Cái Lớn - kênh Hội Đồng, xã
Thuận Hưng (nay là xã Xà Phiên)
53
53
62
55
71
88
Sông Cái Ngang Dừa, gần chợ Lương Nghĩa
50
50
65
53
74
89
Ngã tư Kênh Mười Thước - rạch Tràm
Tróc, gần chợ xã Thuận Hưng, huyện
Long Mỹ nay là xã Xà Phiên)
49
46
57
58
65
90
Sông Ba Láng - Cảng KCN Tân Phú Thạnh
42
50
52
52
78
91
Kênh Chủ Chẹt - gần CCN Vị Thanh
43
50
54
53
34
92
Kênh xáng Xà No - CCN Nhơn Nghĩa A
57
66
72
93
Kênh Hậu Giang 3 - nội đồng vùng Mía
Phụng Hịệp
60
68
74
94
Rạch Vong - gần KCN Tân Phú Thạnh
65
71
95
Hợp lưu Sông Nước Đục - kênh Mới, gần
bến phà Tư Sáng
68
78
96
Hợp lưu Sông Cái Lớn - Kênh Ba Nghiệp
75
97
Kênh Xáng Búng Tàu - Tại vị trí Ngã năm
Búng Tàu, xã Tân Phước Hưng
68
III
Sóc Trăng (trước sáp nhập)
98
Kênh Xáng
30
24
50
67
81
99
Kênh 30/4
32
38
59
72
79
66
TT
Ký hiệu điểm quan trắc
Giá trị WQI qua các đợt quan trắc
nước mặt
Năm
2021
Năm
2022
Năm
2023
Năm
2024
Năm
2025
100
Sông Maspero khu vực Khán Đài
35
33
33
78
81
101
Sông Hậu tại xã Nhơn Mỹ
88
88
91
78
88
102
Kênh số 1, TT Kế Sách
51
68
73
66
76
103
Sông Hậu - Cái Côn
30
86
89
95
73
104
Kênh Thạnh Lợi
64
40
45
66
80
105
Sông Nhu Gia
34
65
66
81
86
106
Sông Saintard
55
46
41
70
95
107
Kênh TT Long Phú
39
45
58
60
78
108
Kênh TX Vĩnh Châu
43
32
26
70
70
109
Kênh Cổ Cò đi Vĩnh Châu
87
61
69
79
76
110
Sông Bến Bạ - TT Cù Lao Dung
33
47
44
69
84
111
Kênh TT Phú Lộc
81
33
57
51
84
112
Kênh TX Ngã Năm
62
34
59
77
86
113
Kênh TT Huỳnh Hữu Nghĩa
58
35
73
75
80
114
Kênh chợ Lịch Hội Thượng
43
33
45
66
89
115
Kênh TT Châu Thành
44
40
47
54
69
116
Kênh Mang Cá
54
55
69
83
117
Kênh Thạnh Mỹ - Hòa Tú 1
60
73
78
87
118
Sông Dù Tho - Ngọc Đông
59
68
77
74
119
Sông Mỹ Thanh - Hòa Tú II
62
47
70
80
120
Rạch Trà Niên - Hòa Đông
68
75
69
85
121
Kênh Mới Trà Vôn
64
69
71
80
122
Sông Hậu - An Thạnh I
85
92
93
85
123
Kênh Nàng Rền - Châu Hưng
57
63
80
86
124
Kênh Sa Di
55
50
70
75
125
Kênh Xáng - Nàng Rền, P3
43
66
85
80
126
Kênh Cái Trầu
56
62
74
83
127
Kênh Xáng Mỹ Phước
68
73
86
82
128
Kênh Quản lộ Phụng Hiệp
35
55
76
90
129
Kênh So Đũa
34
46
79
79
130
Kênh Tiếp Nhựt
30
52
60
79
131
Kênh Tổng Cáng
55
53
78
73
132
Kênh 30/4 - Phú Tân
52
30
51
96
67
(i) Diễn biến theo từng năm trên toàn vùng:
❖ Năm 2021 – Chất lượng nước ở mức trung bình, phân hóa rõ giữa các
tiểu vùng:
Kết quả quan trắc năm 2021 cho thấy chất lượng nước mặt trên toàn vùng
nhìn chung ở mức trung bình, tuy nhiên có sự phân hóa khá rõ giữa các tiểu vùng.
Tại Tiểu vùng I (khu vực thành phố Cần Thơ trước sáp nhập), phần lớn các điểm
quan trắc dao động trong khoảng 43 – 86; nhiều khu vực trung tâm đô thị và dọc
sông Hậu duy trì chất lượng nước ở mức trung bình đến khá. Tuy nhiên, một số
điểm chịu tác động của hoạt động công nghiệp và đô thị như Vàm rạch Sang
Trắng, Vàm Trà Nóc, Vàm rạch Cam, Chợ Phong Điền, Kênh KH6 – xã Thới
Hưng và Cầu Kênh Ranh – Chợ Nóc Bằng chỉ đạt WQI khoảng 41 – 45, phản ánh
dấu hiệu ô nhiễm hữu cơ và dinh dưỡng tại các tuyến kênh nội đồng và khu vực
tiếp nhận nước thải.
Tại Tiểu vùng II (Hậu Giang trước sáp nhập), chất lượng nước chủ yếu ở
mức trung bình, với nhiều điểm dao động trong khoảng 48 – 68. Một số vị trí ghi
nhận WQI thấp như Kênh Xáng Xà No gần Nhà máy nước Vị Thanh (37), sông
Cái Tư gần cầu Cái Tư (35), Ngã tư Kênh Xáng Nàng Mau (33), Ngã ba kênh Lái
Hiếu – kênh Cái Cao (35) và sông Cái Lớn gần Nhà máy đường Cồn Long Mỹ
Phát (34). Các khu vực này chủ yếu chịu ảnh hưởng từ hoạt động sản xuất nông
nghiệp, công nghiệp chế biến và nước thải sinh hoạt khu vực dân cư tập trung.
Tiểu vùng III (Sóc Trăng trước sáp nhập) là khu vực có chất lượng nước thấp
nhất trong năm 2021. Nhiều điểm quan trắc chỉ đạt mức “Kém”, như Kênh Xáng
(30), Kênh 30/4 (32), sông Maspero khu vực Khán Đài (35), sông Hậu – Cái Côn
(30), sông Nhu Gia (34), Kênh TT Long Phú (39) và sông Bến Bạ – thị trấn Cù
Lao Dung (33). Kết quả này cho thấy chất lượng nước tại khu vực nội thị và hệ
thống kênh nội đồng của Sóc Trăng còn chịu áp lực lớn từ nước thải sinh hoạt,
nuôi trồng thủy sản và sản xuất nông nghiệp.
❖ Năm 2022 – Chất lượng nước cải thiện rõ tại Tiểu vùng I:
Năm 2022 ghi nhận xu hướng cải thiện đáng kể về chất lượng nước mặt, đặc
biệt tại Tiểu vùng I. Hầu hết các điểm quan trắc khu vực trung tâm thành phố Cần
Thơ trước sáp nhập và dọc sông Hậu đạt mức “Tốt” đến “Rất tốt”, với giá trị
VN_WQI phổ biến từ 90 – 98. Một số vị trí đạt giá trị rất cao gồm Vàm Cần Thơ
Bé (98), Vàm rạch Khai Luông (97), Chợ Cái Răng (97), Vàm Cái Cui (97), Vàm
Thơm Rơm (97) và Kênh KH6 – xã Thới Hưng (97). Kết quả này cho thấy khả
năng pha loãng và tự làm sạch của hệ thống sông rạch được cải thiện rõ trong năm
quan trắc.
Tuy nhiên, một số khu vực vẫn duy trì chất lượng nước ở mức trung bình
hoặc cải thiện chậm. Đáng chú ý, Vàm Ô Môn chỉ đạt WQI khoảng 65, thấp hơn
đáng kể so với nhiều điểm quan trắc khác trong Tiểu vùng I.
68
Tại Tiểu vùng II, chất lượng nước nhìn chung cải thiện so với năm 2021, với
nhiều điểm tăng lên mức trung bình đến khá. Các điểm trên sông Hậu đoạn qua
Hậu Giang trước sáp nhập đạt giá trị rất cao, như điểm giữa Vàm Cái Cui – Vàm
Cái Dầu và đoạn giữa Vàm Cái Dầu – Vàm Mái Dầm cùng đạt WQI khoảng 92.
Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vị trí có chất lượng nước thấp như Kênh Mỹ Thuận gần
UBND phường Lái Hiếu (31), Kênh Long Mỹ 2 gần UBND xã Xà Phiên (44),
Kênh Hậu Giang 3 – Kênh Thầy Năm (49) và Hợp lưu sông Cái Trầu – kênh Trà
Ban (50).
Đối với Tiểu vùng III, chất lượng nước vẫn còn phân hóa mạnh. Một số điểm
tiếp tục duy trì WQI thấp như Kênh Xáng (24), Kênh TX Vĩnh Châu (32), Kênh
TT Phú Lộc (33), Kênh TX Ngã Năm (34), Kênh Quản lộ Phụng Hiệp (35), Kênh
So Đũa (34) và Kênh Tiếp Nhựt (30). Tuy nhiên, nhiều điểm trên sông Hậu và
khu vực ven sông lớn đạt chất lượng nước khá tốt, như sông Hậu tại xã Nhơn Mỹ
(88) và sông Hậu – An Thạnh I (85).
❖ Năm 2023 – Xuất hiện suy giảm cục bộ tại khu vực phía Tây và Tây
Nam Cần Thơ:
Kết quả năm 2023 cho thấy chất lượng nước mặt tiếp tục duy trì ở mức trung
bình đến khá tại nhiều khu vực, tuy nhiên đã xuất hiện hiện tượng suy giảm cục
bộ tại một số tuyến kênh nội đồng và khu vực sản xuất nông nghiệp tập trung
thuộc Tiểu vùng I.
Mặc dù nhiều điểm quan trắc tại khu vực trung tâm và dọc sông Hậu vẫn duy
trì WQI khoảng 70 – 91, một số vị trí ghi nhận giá trị giảm mạnh xuống mức
“Kém”, tập trung chủ yếu tại khu vực Phong Điền – Cờ Đỏ – Thới Lai và phía
Tây Nam thành phố Cần Thơ trước sáp nhập. Các điểm có WQI thấp gồm Vàm
Mỹ Khánh (37), Chợ Phong Điền (38), Ngã ba Ông Hào – Chợ Trường Long (35),
Vàm rạch Xà No đối diện bến phà Vàm Sáng (36), Kênh KH6 – xã Thới Hưng
(37), Cầu quay thị trấn Cờ Đỏ (37), Cầu Kênh Ranh – Chợ Nóc Bằng (38) và Cầu
Xẻo Tre xã Tân Thới (37). Kết quả này phản ánh dấu hiệu gia tăng ô nhiễm hữu
cơ tại một số tuyến kênh nội đồng và khu vực sản xuất nông nghiệp tập trung.
Tại Tiểu vùng II, chất lượng nước nhìn chung ổn định hơn so với năm trước,
với phần lớn các điểm dao động trong khoảng 60 – 75. Các điểm trên sông Hậu
tiếp tục duy trì chất lượng nước tốt, trong đó đoạn giữa Vàm Cái Cui – Vàm Cái
Dầu đạt WQI 91.
Tiểu vùng III ghi nhận xu hướng cải thiện tương đối rõ so với giai đoạn
2021–2022. Nhiều điểm đã vượt ngưỡng WQI 60 – 70 như Kênh số 1 thị trấn Kế
Sách (73), Kênh TT Huỳnh Hữu Nghĩa (73), Kênh Xáng Mỹ Phước (73), sông
Hậu – An Thạnh I (92) và Rạch Trà Niên – Hòa Đông (75). Tuy nhiên, vẫn còn
một số điểm chất lượng nước thấp như Kênh TX Vĩnh Châu (26), Kênh 30/4 –
Phú Tân (30), Hợp lưu sông Cái Trầu – kênh Trà Ban (34) và sông Saintard (41).
69
❖ Năm 2024 – Chất lượng nước phục hồi trên diện rộng:
Năm 2024 ghi nhận xu hướng phục hồi chất lượng nước tương đối rõ ở cả
ba tiểu vùng. Tại Tiểu vùng I, phần lớn các điểm quan trắc đạt WQI khoảng 70 –
85, thuộc mức “Tốt”. Nhiều khu vực từng suy giảm trong năm 2023 đã phục hồi
đáng kể, như Vàm Mỹ Khánh tăng từ 37 lên 78, Chợ Phong Điền từ 38 lên 80,
Ngã ba Ông Hào – Chợ Trường Long từ 35 lên 79, Vàm rạch Xà No từ 36 lên 79
và Cầu Xẻo Tre từ 37 lên 80.
Tuy nhiên, Cầu Kênh Ranh – Chợ Nóc Bằng tiếp tục là điểm có chất lượng
nước thấp nhất Tiểu vùng I khi chỉ đạt WQI khoảng 34, cho thấy tình trạng ô
nhiễm cục bộ vẫn kéo dài tại khu vực này.
Tại Tiểu vùng II, chất lượng nước nhìn chung duy trì ổn định ở mức trung
bình đến khá. Tuy nhiên, một số điểm xuất hiện xu hướng suy giảm cục bộ, đáng
chú ý là Kênh Xáng Xà No gần Nhà máy nước Vị Thanh giảm từ 64 năm 2023
xuống còn 38 năm 2024. Bên cạnh đó, chất lượng nước trên sông Hậu đoạn qua
Hậu Giang (trước sáp nhập) giảm so với giai đoạn 2021 - 2023, với WQI dao động
khoảng 67 – 68.
Tiểu vùng III ghi nhận mức cải thiện mạnh nhất trong giai đoạn 2021 - 2024.
Nhiều điểm lần đầu đạt WQI trên 70 sau nhiều năm duy trì ở mức thấp, như sông
Maspero khu vực Khán Đài (78), sông Saintard (70), Kênh Nàng Rền – Châu
Hưng (80), Kênh Xáng – Nàng Rền (85), Kênh Xáng Mỹ Phước (86) và Kênh
Quản lộ Phụng Hiệp (76). Kết quả này cho thấy xu hướng cải thiện tích cực về
chất lượng nước tại khu vực Sóc Trăng.
❖ Năm 2025 – Chất lượng nước tiếp tục cải thiện, nhưng xuất hiện suy
giảm tại một số kênh rạch nội thành:
Năm 2025 ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực về chất lượng nước mặt trên phạm
vi toàn vùng. Tại Tiểu vùng I, phần lớn các điểm quan trắc đạt WQI khoảng 83 –
87, thuộc mức “Tốt” đến “Rất tốt”. Nhiều khu vực như Ô Môn, Thốt Nốt, Bằng
Tăng, Phong Điền và Trường Long ghi nhận xu hướng cải thiện rõ so với giai
đoạn 2021 – 2023.
Tiểu vùng II cũng ghi nhận xu hướng cải thiện tương đối rõ, với nhiều điểm
đạt mức “Tốt”, như Vàm Cái Dầu gần chợ Ngã Sáu (91), Vàm Cái Cui – xã Đông
Phú (91), Vàm Cái Dầu – thị trấn Mái Dầm (91), Kênh Xáng Nàng Mau gần chợ
Cầu Trắng Lớn (83), Ngã tư Kênh Xáng Nàng Mau – kênh Đông Lợi (83) và Kênh
Xáng Nàng Mau – chợ xã Vĩnh Tường (82). Tuy nhiên, Kênh Chủ Chẹt gần CCN
Vị Thanh tiếp tục duy trì WQI thấp (34) tại cả hai vị trí quan trắc, phản ánh tình
trạng ô nhiễm kéo dài tại khu vực này.
Tiểu vùng III là khu vực có mức cải thiện mạnh nhất trong toàn bộ giai đoạn
nghiên cứu. Nhiều điểm đạt mức “Tốt” đến “Rất tốt”, tiêu biểu như Kênh 30/4 –
Phú Tân (96), sông Saintard (95), Kênh Quản lộ Phụng Hiệp (90), Kênh chợ Lịch
Hội Thượng (89), sông Hậu tại xã Nhơn Mỹ (88), Kênh Nàng Rền – Châu Hưng
(86) và sông Hậu – An Thạnh I (85). So với năm 2021, nhiều khu vực nội thị Sóc
Trăng trước sáp nhập đã cải thiện rõ rệt về chất lượng nước.
70
Bên cạnh xu hướng cải thiện chung, năm 2025 vẫn ghi nhận hiện tượng suy
giảm chất lượng nước tại một số tuyến kênh rạch nội thành thuộc Tiểu vùng I.
Các điểm có WQI thấp gồm Nhà máy nước Cần Thơ 1 (đường 30/4) đạt 40, Vàm
rạch Khai Luông đạt 39, Vàm rạch Cái Khế đạt 38, Vàm rạch Đầu Sấu đạt 39 và
Vàm rạch Rau Răm đạt 38. So với giai đoạn 2023–2024, các điểm này đều giảm
đáng kể, cho thấy dấu hiệu gia tăng ô nhiễm tại khu vực kênh rạch nội đô và các
tuyến tiếp nhận nước thải sinh hoạt đô thị. Đây là khu vực cần tiếp tục theo dõi và
tăng cường kiểm soát nguồn thải nhằm đảm bảo chất lượng nguồn nước phục vụ
sinh hoạt và phát triển đô thị bền vững.
(ii) Đánh giá theo tiểu vùng:
❖ Khu vực thành phố Cần Thơ trước sáp nhập:
o Tiểu vùng ven sông Hậu – nội thành (điểm 1 – 12):
Chất lượng nước tại tiểu vùng này biến động khá rõ trong giai đoạn 2021 –
2025. Năm 2022 ghi nhận mức cải thiện cao nhất, với phần lớn điểm quan trắc
đạt WQI khoảng 93 – 97. Tuy nhiên, từ năm 2023 bắt đầu xuất hiện xu hướng suy
giảm tại một số tuyến rạch nội thành. Đến năm 2025, nhiều điểm giảm xuống mức
thấp như Vàm rạch Khai Luông (39), Vàm rạch Cái Khế (38), Vàm rạch Đầu Sấu
(39) và Vàm rạch Rau Răm (38), thuộc mức “Xấu”. Kết quả này cho thấy áp lực
ô nhiễm tại khu vực nội đô có xu hướng gia tăng, đặc biệt tại các tuyến kênh rạch
tiếp nhận nước thải sinh hoạt và chịu ảnh hưởng của khả năng trao đổi dòng chảy
hạn chế.
o Tiểu vùng Ô Môn – Thốt Nốt (điểm 13 – 23):
Đây là tiểu vùng có xu hướng ổn định và cải thiện tương đối tốt trong khu
vực thành phố Cần Thơ cũ. Sau giai đoạn chất lượng nước còn ở mức trung bình
năm 2021, nhiều điểm quan trắc tăng dần và duy trì ổn định ở mức “Tốt” trong
giai đoạn 2023 – 2025, với WQI phổ biến khoảng 80 – 87. Tiểu vùng này chịu
ảnh hưởng tích cực từ hệ thống sông Hậu và các tuyến sông lớn, đồng thời ít chịu
tác động trực tiếp từ các nguồn thải công nghiệp tập trung.
o Tiểu vùng Phong Điền – Cờ Đỏ – Thới Lai (điểm 24 – 33):
Đây là tiểu vùng có mức biến động lớn nhất trong mạng lưới quan trắc khu
vực Cần Thơ trước sáp nhập. Năm 2021, nhiều điểm chỉ đạt WQI khoảng 43 – 44;
đến năm 2022 phục hồi mạnh lên mức 85 – 97. Tuy nhiên, năm 2023 ghi nhận xu
hướng suy giảm rõ rệt khi nhiều điểm giảm xuống mức “Xấu”, với WQI khoảng
35 – 38 như Vàm Mỹ Khánh, Chợ Phong Điền, Ngã ba Ông Hào – Chợ Trường
Long, Vàm rạch Xà No, Kênh KH6 – xã Thới Hưng và Cầu quay thị trấn Cờ Đỏ.
Hiện tượng này có thể liên quan đến áp lực từ hoạt động sản xuất nông nghiệp và
điều kiện thủy văn bất lợi trong mùa khô. Đến giai đoạn 2024 – 2025, phần lớn
các điểm đã phục hồi trở lại mức 80 – 87. Riêng điểm Cầu Kênh Ranh – Chợ Nóc
Bằng vẫn ghi nhận WQI thấp bất thường trong năm 2024 (34), trước khi cải thiện
lên 85 vào năm 2025.
71
o Tiểu vùng Vĩnh Thạnh – Thạnh An (điểm 34 – 35, 42):
Chất lượng nước tại tiểu vùng này có xu hướng cải thiện tương đối rõ trong
giai đoạn 2021 – 2025. Từ mức WQI khoảng 41 năm 2021, các điểm quan trắc
tăng dần và đạt khoảng 82 – 86 vào năm 2025, phản ánh xu hướng cải thiện chất
lượng nước tại hệ thống kênh Cái Sắn và khu vực nội đồng lân cận.
❖ Khu vực Hậu Giang (trước sáp nhập):
o Tiểu vùng Vị Thanh và vùng Tây sông Hậu (điểm 46 – 55, 66 – 70, 75 – 77):
Đây là tiểu vùng có chất lượng nước thấp và tốc độ cải thiện chậm hơn so
với nhiều khu vực khác trong toàn vùng. Trong giai đoạn 2021 – 2025, phần lớn
các điểm quan trắc dao động trong khoảng WQI 50 – 70. Một số điểm như Kênh
Xáng Xà No gần Nhà máy nước Vị Thanh mặc dù có cải thiện từ 37 lên 68 nhưng
vẫn chủ yếu ở mức “Trung bình”. Kết quả này cho thấy khu vực vẫn chịu áp lực
từ hoạt động đô thị, sản xuất công nghiệp và đặc điểm hệ thống kênh đào có khả
năng trao đổi dòng chảy hạn chế.
o Tiểu vùng Châu Thành – Mái Dầm (điểm 58 – 64):
Đây là tiểu vùng có chất lượng nước tốt nhất trong khu vực Hậu Giang (trước
sáp nhập). Năm 2025, nhiều điểm duy trì WQI khoảng 70 – 91, đặc biệt như Vàm
Cái Dầu – Ngã Sáu (91), Vàm Cái Cui – xã Đông Phú (91) và Vàm Cái Dầu – thị
trấn Mái Dầm (91). Kết quả này phản ánh ảnh hưởng tích cực từ hệ thống sông
Hậu và các tuyến sông lớn trong khu vực. Tuy nhiên, một số điểm như Kênh Xáng
Mái Dầm và Vàm Mái Dầm có xu hướng giảm nhẹ trong giai đoạn 2024 – 2025,
cần tiếp tục theo dõi trong các năm tiếp theo.
o Điểm nóng Kênh Chủ Chẹt – gần CCN Vị Thanh (điểm 82, 91):
Hai điểm quan trắc tại Kênh Chủ Chẹt đều ghi nhận WQI khoảng 34 trong
năm 2025, thuộc mức “Xấu”. Đây là khu vực có dấu hiệu ô nhiễm kéo dài trong
nhiều năm liên tiếp và cần được ưu tiên kiểm soát nguồn thải cũng như tăng cường
giám sát chất lượng nước.
o Sông Hậu đoạn qua Hậu Giang trước sáp nhập (điểm 78 – 80):
Các điểm quan trắc trên sông Hậu đoạn qua Hậu Giang trước sáp nhập duy
trì chất lượng nước tương đối tốt trong phần lớn giai đoạn 2021 – 2025. Tuy nhiên,
giá trị WQI có xu hướng giảm dần từ mức rất cao năm 2021 – 2023 xuống khoảng
67 – 68 vào năm 2024. Đến năm 2025, chất lượng nước phục hồi nhẹ, đạt khoảng
72 – 77 nhưng vẫn thấp hơn giai đoạn đầu. Kết quả này cho thấy cần tiếp tục theo
dõi xu hướng biến động chất lượng nước trên các thủy vực lớn chịu ảnh hưởng từ
hoạt động phát triển kinh tế - xã hội ven sông.
❖ Khu vực Sóc Trăng (trước sáp nhập):
o Tiểu vùng nội thành Sóc Trăng trước sáp nhập (điểm 98 – 100, 108):
72
Đây là tiểu vùng có chất lượng nước thấp trong giai đoạn đầu, với WQI chỉ
khoảng 24 – 43 trong các năm 2021 – 2022. Tuy nhiên, từ năm 2023 trở đi chất
lượng nước cải thiện rõ rệt và duy trì xu hướng tăng liên tục. Đến năm 2025, Kênh
Xáng đạt WQI 81, Kênh 30/4 đạt 79 và sông Maspero đạt 81, tương ứng mức
“Tốt”. Kết quả này phản ánh xu hướng cải thiện tích cực đối với hệ thống kênh
rạch nội thị của khu vực Sóc Trăng.
o Tiểu vùng sông Hậu – Kế Sách (điểm 101 – 103, 122):
Đây là tiểu vùng duy trì chất lượng nước tốt và tương đối ổn định trong toàn
khu vực Sóc Trăng (trước sáp nhập). Các điểm trên sông Hậu như An Thạnh I và
Nhơn Mỹ thường xuyên đạt WQI ở mức “Tốt” đến “Rất tốt”. Đặc biệt, điểm sông
Hậu – Cái Côn đạt WQI 95 vào năm 2024, phản ánh chất lượng nền tương đối tốt
của khu vực sông chính.
o Tiểu vùng Ngã Năm – Vĩnh Châu – Kênh Nàng Rền (điểm 110 – 115, 123
– 126):
Tiểu vùng này ghi nhận xu hướng cải thiện khá rõ trong giai đoạn 2021 –
2025. Nhiều điểm tăng từ mức “Xấu” hoặc “Trung bình” giai đoạn 2021 – 2022
lên mức “Tốt” vào năm 2025. Điển hình như Kênh TX Vĩnh Châu tăng từ 26 năm
2023 lên 70 năm 2025; Kênh TX Ngã Năm tăng từ 34 năm 2022 lên 86 năm 2025;
Kênh Nàng Rền – Châu Hưng đạt 86 năm 2025.
o Tiểu vùng kênh Quản lộ Phụng Hiệp và các kênh nội đồng phía Nam (điểm
119 – 132):
Đây là khu vực có mức cải thiện mạnh trong giai đoạn 2024 – 2025. Nhiều
điểm đạt WQI ở mức “Tốt” đến “Rất tốt”, như Kênh 30/4 – Phú Tân (96), Kênh
Quản lộ Phụng Hiệp (90), Kênh So Đũa (79) và Kênh Tiếp Nhựt (79) trong năm
2025. Kết quả này cho thấy chất lượng nước tại các tuyến kênh nội đồng phía
Nam Sóc Trăng đã được cải thiện đáng kể trong những năm gần đây.
(iii) Xu thế dài hạn và kết luận:
Nhìn tổng thể giai đoạn 2021 – 2025, chất lượng nước mặt trên phạm vi thành
phố Cần Thơ sau sáp nhập có xu hướng cải thiện tương đối rõ. Phần lớn các điểm
quan trắc ghi nhận giá trị WQI tăng so với giai đoạn đầu, đặc biệt tại khu vực Sóc
Trăng (trước sáp nhập) và một số khu vực thuộc Hậu Giang (trước sáp nhập).
Trong đó, khu vực Sóc Trăng (trước sáp nhập) là nơi có mức cải thiện nổi
bật nhất. Nhiều tuyến kênh nội thị và nội đồng từng ở mức “Kém” trong giai đoạn
2021 – 2022 đã tăng lên mức “Tốt” vào năm 2025. Khu vực Hậu Giang (trước
sáp nhập) cũng ghi nhận xu hướng cải thiện tương đối ổn định, đặc biệt tại các
điểm thuộc khu vực Châu Thành – Mái Dầm. Hệ thống sông Hậu và các tuyến
sông chính nhìn chung vẫn duy trì chất lượng nước ở mức khá đến tốt trong phần
lớn thời gian quan trắc.
73
Bên cạnh xu hướng cải thiện chung, kết quả quan trắc cũng cho thấy một số
dấu hiệu cần tiếp tục theo dõi và kiểm soát. Đáng chú ý là sự suy giảm chất lượng
nước tại một số tuyến kênh rạch nội thành Cần Thơ trong năm 2025 như Vàm rạch
Khai Luông, Vàm rạch Cái Khế, Vàm rạch Đầu Sấu và Vàm rạch Rau Răm. Đây
là khu vực chịu áp lực lớn từ hoạt động đô thị và có liên quan đến nguồn nước phục
vụ sinh hoạt, do đó cần được tăng cường giám sát và kiểm soát nguồn thải.
Ngoài ra, khu vực Phong Điền – Cờ Đỏ – Thới Lai cho thấy tính biến động
lớn về chất lượng nước giữa các năm. Trong khi Kênh Chủ Chẹt gần CCN Vị
Thanh tiếp tục là khu vực có chất lượng nước thấp kéo dài trong nhiều năm liên
tiếp. Các khu vực này cần được ưu tiên theo dõi nhằm phục vụ công tác quản lý
và bảo vệ chất lượng nguồn nước mặt trong thời gian tới.
Trong bối cảnh sáp nhập đơn vị hành chính, việc thống nhất hệ thống quan
trắc, chia sẻ dữ liệu và tăng cường phối hợp quản lý nguồn thải giữa các địa
phương là điều cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả kiểm soát ô nhiễm và bảo vệ tài
nguyên nước trên phạm vi toàn vùng.
3.2. DIỄN BIẾN MÔI TRƯỜNG BIỂN VEN BỜ
Trên địa bàn thành phố hiện có 05 vị trí quan trắc chất lượng nước biển định
kỳ, bao gồm: xã Vĩnh Hải, xã An Thạnh Nam, xã Trung Bình, xã Vĩnh Tân và xã
An Thạnh 3. Bên cạnh đó, để phục vụ báo cáo nhiệm vụ, công tác lấy mẫu nước
biển ven bờ được thực hiện bổ sung tại 06 vị trí, gồm: phường Vĩnh Phước,
phường Vĩnh Châu, xã Cù Lao Dung, xã Trần Đề, xã Lai Hòa và xã Vĩnh Hải.
Như vậy, việc đánh giá chất lượng nước biển trong báo cáo được tổng hợp
trên cơ sở kết hợp giữa dữ liệu quan trắc định kỳ giai đoạn 2021 – 2025 và kết
quả lấy mẫu bổ sung (năm 2026) tại các khu vực ven bờ trọng điểm.
Phương pháp lấy mẫu nước biển ven bờ: TCVN 6663-1:2011; TCVN 6663-
3:2011; TCVN 6663-3:2016; TCVN 5998:1995.
Việc xác định độ sâu lấy mẫu được thực hiện theo hướng dẫn của TCVN
5998:1995 (ISO 5667-9:1992), trên cơ sở xem xét mục tiêu quan trắc, đặc điểm
thủy động lực học và điều kiện thực tế của khu vực khảo sát. Đối với các vị trí
biển ven bờ có cột nước nông, mẫu nước được thu tại tầng mặt, ở độ sâu khoảng
0,3 – 0,5 m dưới mặt nước.
Phương pháp phân tích mẫu được trình bày trong bảng bên dưới.
74
Bảng 3.5. Phương pháp phân tích mẫu
TT
Tên thông số
Tên/số hiệu phương pháp sử dụng/phương pháp đo
I
Phương pháp đo đạc tại hiện trường
1
pH
TCVN 6492:2011
2
DO
TCVN 7325:2016
II
Thành phần môi trường nước mặt, nước dưới đất và nước biển
1
TSS
TCVN 6625:2000
2
N-NH
4
+
SMEWW 4500-NH
3
.B&F:2023
3
Fe
TCVN 6177:1996
4
Tổng Coliform
SMEWW9221B:2023
5
Động vật nổi
SMEWW 10200:2023
6
Động vật đáy
SMEWW 10500:2023
7
Dầu mỡ khoáng
SMEWW 5520B&F:2023
8
Phosphate (PO
4
3-
)
SMEWW 4500-PO
4
3-
.E:2023
Vị trí và tọa độ các điểm quan trắc được mô tả như sau:
Bảng 3.6. Điểm quan trắc môi trường nước biển ven bờ
TT
Tên điểm quan
trắc
Tọa độ
(VN2000, múi chiếu 3ᵒ)
Thông số
Thời gian
lấy mẫu
Điều kiện
thủy triều
X
Y
I
Vị trí quan trắc nước biển ven bờ trên địa bàn thành phố Cần Thơ (02 tháng/đợt)
1
Vĩnh Hải
1034311
630106
pH, DO,
TSS, Amoni
(NH
4
+
tính
theo Nitơ),
Phosphate
(PO
4
3-
tính
theo
Phosphor),
tổng
Coliform,
dầu mỡ
khoáng, Fe
tổng, Động
vật nổi, Động
vật đáy.
Tháng quan
trắc: 02, 4,
6, 8, 10, 11.
-
2
An Thạnh Nam
1047660
637019
-
3
Trung Bình
1044456
632998
-
4
Vĩnh Tân
1023808
599051
-
5
An Thạnh 3
10566168
643028
-
II
Vị trí lấy mẫu báo cáo Hiện trạng (02 đợt vào tháng 03/2026)
75
TT
Tên điểm quan
trắc
Tọa độ
(VN2000, múi chiếu 3ᵒ)
Thông số
Thời gian
lấy mẫu
Điều kiện
thủy triều
X
Y
1
Xã Cù Lao Dung
1047337
636986
pH, DO,
TSS, tổng
Coliform,
Amoni (NH
4
+
tính theo
Nitơ),
Phosphate
(PO
4
3-
tính
theo
Phosphor),
Sắt (Fe), Dầu
mỡ khoáng.
Ngày
25/03/2026
và ngày
26/03/2026
Nước đang
lớn
2
Xã Trần Đề
1044134
632967
Nước lớn
3
Phường Vĩnh
Châu
1027949
614702
4
Phường Vĩnh
Phước
1023492
599030
5
Xã Lai Hòa
1021042
591393
6
Xã Vĩnh Hải
1033992
630076
3.2.1. Kết quả quan trắc bổ sung năm 2026:
- Thông số pH: Môi trường nước biển tại các vị trí quan trắc trong 2 đợt của
năm 2026 có giá trị dao động trong khoảng 6,60 – 7,60 không có sự chênh lệch lớn
về giá trị pH tại các vị trí quan trắc. So với QCVN 10:2023/BTNMT chất lượng
nước biển trên địa bàn có giá trị pH nằm trong giới hạn quy chuẩn.
Biểu đồ 3.14. Giá trị pH tại các điểm quan trắc nước biển ven bờ
- Thông số DO (hàm lượng oxy hòa tan): Hàm lượng oxy hòa tan trong nước
biển trong 2 đợt của năm 2026 có giá trị dao động trong khoảng 4,70 – 6,65 mg/L.
So với bảng 1, QCVN 10:2023/BTNMT hàm lượng DO tại đợt 1 đều đạt giá trị
giới hạn. Riêng vị trí phường Vĩnh Châu, xã Lai Hòa và xã Vĩnh Hải tại đợt 2 có
giá trị thấp hơn giới hạn cho phép.
76
Biểu đồ 3.15. Giá trị DO tại các điểm quan trắc nước biển ven bờ
- Hàm lượng tổng chất rắn lơ lửng (TSS) trong nước biển vùng ven bờ ghi
nhận mức độ phân hóa rõ rệt giữa 02 đợt quan trắc năm 2026. Trong đợt 1, hàm
lượng TSS tại tất cả các điểm trạm đều ghi nhận giá trị vượt giới hạn cho phép
của QCVN 10:2023/BTNMT. Bước sang đợt 2, hàm lượng TSS có xu hướng giảm,
riêng tại trạm Trần Đề và Cù Lao Dung, thông số này đã giảm xuống dưới ngưỡng
giới hạn quy chuẩn.
Biểu đồ 3.16. Giá trị TSS tại các điểm quan trắc nước biển ven bờ
0
1
2
3
4
5
6
7
Xã Trần Đề Phường Vĩnh
Châu
Phường Vĩnh
Phước
Xã Lai Hòa
Xã Vĩnh Hải
Xã Cù Lao Dung
mg/L
Giá trị thông số DO năm 2026
Đợt 1
Đợt 2
QCVN 10:2023/BTNMT - Bảng 2
77
- Thông số Amoni: Hàm lượng N-NH
4
+
trong nước biển trong 2 đợt của năm
2026 có giá trị dao động trong khoảng 0,06 – 0,074 mg/L. Các vị trí quan trắc đều
nằm trong giới hạn của QCVN 10:2023/BTNMT.
Biểu đồ 3.17. Giá trị Amoni tại các điểm quan trắc nước biển ven bờ
- Thông số Photphat tính theo P (P-PO
4
3-
): Hàm lượng P-PO
4
3-
trong nước
biển trong 2 đợt của năm 2026 có giá trị dao động trong khoảng 0,01 – 0,052
mg/L. Các vị trí quan trắc đều nằm trong giới hạn của QCVN 10:2023/BTNMT.
Biểu đồ 3.18. Giá trị P-PO
4
3-
tại các điểm quan trắc nước biển ven bờ
78
- Thông số sắt tổng (Fe): Hàm lượng Fe trong nước biển trong 2 đợt của năm
2026 có giá trị dao động trong khoảng 0,230 – 1,480 mg/L. Trong đợt 1, có 4/6 vị
trí và đợt 2 có 2/6 vị trí vượt giới hạn cho phép của QCVN 10:2023/BTNMT.
Biểu đồ 3.19. Giá trị sắt tổng tại các điểm quan trắc nước biển ven bờ
- Thông số dầu mỡ tổng: Hàm lượng đầu mỡ tổng trong nước biển trong 2
đợt của năm 2026 đều có kết quả không phát hiện.
- Thông số Coliforms: Mật độ coliforms trong nước biển trong 2 đợt của
năm 2026 đều nằm trong giới hạn của quy chuẩn QCVN 10:2023/BTNMT.
Biểu đồ 3.20. Giá trị Coliforms tại các điểm quan trắc nước biển ven bờ
79
Nhận xét:
Kết quả quan trắc bổ sung năm 2026 cho thấy chất lượng nước biển ven bờ
trên địa bàn thành phố nhìn chung còn tương đối tốt. Các thông số pH, amoni,
photphat, dầu mỡ khoáng và Coliform đều nằm trong giới hạn quy chuẩn kỹ thuật
tại hầu hết các vị trí quan trắc. Điều này cho thấy chưa ghi nhận dấu hiệu ô nhiễm
dinh dưỡng và ô nhiễm vi sinh trên diện rộng tại khu vực biển ven bờ trong thời
điểm khảo sát.
Xét theo không gian, chất lượng nước biển có sự khác biệt giữa các khu vực
quan trắc. Một số vị trí như Vĩnh Châu, Vĩnh Phước, Lai Hòa và Vĩnh Hải ghi
nhận hàm lượng DO thấp hơn giới hạn quy chuẩn trong đợt quan trắc thứ hai;
trong khi thông số Fe vượt quy chuẩn cục bộ tại một số vị trí ở cả hai đợt quan
trắc. Hàm lượng TSS có xu hướng cao tại hầu hết các vị trí trong đợt 1 và giảm rõ
rệt trong đợt 2, riêng khu vực Trần Đề và Cù Lao Dung đã giảm xuống dưới giới
hạn quy chuẩn. Kết quả này cho thấy chất lượng nước biển ven bờ chịu ảnh hưởng
đáng kể của điều kiện thủy văn, chế độ thủy triều và quá trình khuếch tán, trao đổi
nước giữa vùng cửa sông và biển.
Xét theo thời gian, so sánh giữa hai đợt quan trắc năm 2026 cho thấy hàm
lượng TSS và Fe có xu hướng giảm tại nhiều vị trí, trong khi các thông số pH,
amoni, photphat, dầu mỡ khoáng và Coliform biến động không đáng kể. Riêng DO
giảm tại một số khu vực trong đợt quan trắc thứ hai nhưng chỉ mang tính cục bộ,
chưa phản ánh xu thế suy giảm chất lượng nước biển trên toàn vùng nghiên cứu.
Các biến động cục bộ của TSS, DO và Fe có thể liên quan đến đặc điểm thủy
động lực vùng ven bờ, chế độ thủy triều, quá trình vận chuyển bùn cát từ hệ thống
cửa sông ra biển, cũng như ảnh hưởng tổng hợp của các hoạt động phát triển kinh
tế - xã hội ven biển như nuôi trồng thủy sản, giao thông thủy và sinh hoạt ven biển.
Tuy nhiên, với kết quả quan trắc hiện có, chưa ghi nhận dấu hiệu ô nhiễm hữu cơ,
dinh dưỡng hoặc vi sinh trên diện rộng; các khu vực có biến động cần tiếp tục
được theo dõi trong các chương trình quan trắc định kỳ nhằm đánh giá xu thế diễn
biến lâu dài của môi trường biển ven bờ.
3.2.2. Kết quả quan trắc định kỳ nước biển ven bờ giai đoạn 2021 - 2025:
Vị trí các điểm quan trắc nước biển ven bờ được thể hiện trong hình bên dưới.
80
Hnh 3.2. Vị trí các điểm quan trắc nước biển ven bờ trên địa bàn thành phố Cần Thơ
81
Kết quả quan trắc như sau:
Thông số pH:
Giá trị trung bình pH tại các vị trí quan trắc giai đoạn năm 2021 – 2025 dao
động từ 7,02 – 7,68 có tính kiềm. Giá trị thấp nhất ghi nhận tại tại vị trí xã Vĩnh
Tân (năm 2023) và cao nhất tại tại vị trí xã An Thạnh Nam (năm 2021). Nhìn
chung, giá trị pH tại các vị trí quan trắc qua các năm có xu hướng biến động nhẹ
và vẫn duy trì ổn định đều nằm trong giới hạn cho phép của QCVN
10:2023/BTNMT – Bảng 1.
Biểu đồ 3.21. Giá trị trung bình thông số pH giai đoạn năm 2021 – 2025
Thông số DO:
DO là lượng oxy hoà tan trong nước cần thiết cho sự hô hấp của các sinh
vật sống dưới nước (cá, lưỡng cư, thuỷ sinh,v.v...) thường được tạo ra do sự hoà
tan từ khí quyển hoặc do quang hợp của tảo. Nồng độ oxy tự do dao động mạnh
phụ thuộc vào nhiệt độ, sự phân huỷ hoá chất, sự quang hợp của tảo và v.v... Khi
nồng độ DO thấp, các loài sinh vật sống dưới nước giảm hoạt động hoặc bị chết.
Do vậy, DO là một chỉ số quan trọng để đánh giá khả năng tự làm sạch của nguồn
nước, cũng như chất lượng môi trường nước.
Giá trị trung bình thông số DO tại các vị trí quan trắc giai đoạn năm 2022 –
2025 dao động từ 5,05 – 6,24 (mg/L) với giá trị thấp nhất ghi nhận tại tại vị trí xã
Vĩnh Hải (năm 2022) và cao nhất tại tại vị trí xã Trung Bình (năm 2023). Nhìn
chung, giá trị DO vẫn nằm trong giới hạn cho phép của QCVN 10:2023/BTNMT
– Bảng 1.
Sự biến động DO giữa các năm và giữa các vị trí quan trắc có thể liên quan
đến điều kiện thủy động lực, nhiệt độ nước, hàm lượng chất hữu cơ, độ đục, cũng
như ảnh hưởng của các nguồn nước từ cửa sông đổ ra biển. Tuy nhiên, giá trị DO
nhìn chung vẫn duy trì trong giới hạn quy chuẩn, cho thấy môi trường nước biển
ven bờ vẫn bảo đảm điều kiện oxy hòa tan cho hệ sinh thái thủy sinh.
82
Biểu đồ 3.22. Giá trị trung bình thông số DO giai đoạn năm 2022 – 2025
Thông số tổng chất rắn lơ lửng (TSS):
Tổng chất rắn lơ lửng thể hiện hàm lượng cặn lơ lửng trong nước, khi hàm
lượng TSS cao chúng làm ảnh hưởng đến giá trị cảm quan của nguồn nước cũng
như làm giảm sự xuyên thấu của ánh sáng, ảnh hưởng đến sự phát triển của thực
vật phù du trong nước. Giá trị trung bình thông số TSS tại các vị trí quan trắc giai
đoạn năm 2021 – 2025 dao động từ 79,02 – 334 (mg/L) vượt từ khoảng 1,5 lần –
6,68 lần so với giới hạn cho phép của QCVN 10:2023/BTNMT – Bảng 1.
Biểu đồ 3.23. Giá trị trung bình thông số TSS giai đoạn năm 2021 – 2025
83
Nguyên nhân chủ yếu liên quan đến điều kiện tự nhiên vùng ven bờ như thủy
triều, sóng gió, mưa lớn, dòng chảy mang phù sa từ đất liền, sạt lở bờ sông – bờ
biển và quá trình bồi lắng trầm tích; bên cạnh đó, các hoạt động kinh tế – xã hội
ven biển như nuôi trồng và khai thác thủy sản, tàu thuyền hoạt động gần bờ và xáo
trộn đáy biển có thể làm gia tăng cục bộ hàm lượng TSS tại một số thời điểm.
Xét theo không gian, hàm lượng TSS có sự khác biệt giữa các vị trí quan
trắc, phản ánh ảnh hưởng của điều kiện thủy văn, đặc điểm địa hình cửa sông và
cường độ vận chuyển bùn cát tại từng khu vực.
Thông số Amoni (NH
4
+
tính theo N):
Giá trị trung bình thông số Amoni tại các vị trí quan trắc giai đoạn năm 2021
– 2025 dao động từ 0,02 – 0,278 (mg/L) với giá trị thấp nhất ghi nhận tại vị trí xã
Vĩnh Hải (năm 2022) và cao nhất tại tại vị trí xã An Thạnh Nam (năm 2023) vượt
gấp 2,18 lần so với giới hạn cho phép của QCVN 10:2023/BTNMT – Bảng 2 về
chất lượng nước biển vùng ven bờ nhằm mục đích bảo vệ sức khỏe con người và
hệ sinh thái biển.
Việc xuất hiện giá trị amoni vượt quy chuẩn tại một số thời điểm cho thấy
có dấu hiệu gia tăng cục bộ nguồn dinh dưỡng trong môi trường nước biển ven
bờ. Nguyên nhân có thể liên quan đến nước từ hệ thống sông mang theo chất dinh
dưỡng từ hoạt động sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và quá
trình phân hủy chất hữu cơ.
Biểu đồ 3.24. Giá trị trung bình thông số Amoni giai đoạn 2021 – 2025
Thông số Photphat tính theo P (P-PO
4
3-
):
Giá trị trung bình thông số Photphat tại các vị trí quan trắc giai đoạn năm
2021 – 2025 dao động từ 0,023 – 0,23 (mg/L) với giá trị thấp nhất ghi nhận tại vị
trí xã Trung Bình (năm 2022) và cao nhất tại tại vị trí xã Trung Bình (năm 2024)
84
vượt gấp 1,15 lần so với giới hạn cho phép của QCVN 10:2023/BTNMT – Bảng
2 về chất lượng nước biển vùng ven bờ nhằm mục đích bảo vệ sức khỏe con người
và hệ sinh thái biển.
Sự biến động hàm lượng photphat (P-PO₄³⁻) qua các năm chịu ảnh hưởng
của cả điều kiện tự nhiên và hoạt động kinh tế - xã hội. Các yếu tố như lượng mưa,
chế độ thủy triều, quá trình trao đổi nước giữa sông và biển, cùng với nguồn dinh
dưỡng từ hoạt động nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và nước thải sinh hoạt ven
biển có thể làm gia tăng cục bộ hàm lượng photphat tại một số thời điểm.
Biểu đồ 3.25. Giá trị trung bình thông số P-PO
4
3-
giai đoạn 2021 – 2025
Thông số Sắt tổng (Fe):
Giá trị trung bình thông số sắt tổng tại các vị trí quan trắc giai đoạn năm 2021
– 2025 dao động từ 0,86 – 3,30 (mg/L) vượt gấp 1,7 lần – 6,6 lần so với giới hạn
cho phép của QCVN 10:2023/BTNMT – Bảng 2 về chất lượng nước biển vùng
ven bờ nhằm mục đích bảo vệ sức khỏe con người và hệ sinh thái biển. Giá trị
thấp nhất ghi nhận tại vị trí xã An Thạnh 3 (năm 2025) và cao nhất tại tại vị trí xã
Vĩnh Hải (năm 2023).
Nguyên nhân gia tăng hàm lượng sắt (Fe) chủ yếu do yếu tố tự nhiên vùng
ven bờ, đặc biệt trong mùa mưa khi quá trình rửa trôi từ đất liền và phân hủy chất
hữu cơ trong điều kiện yếm khí làm giải phóng sắt từ trầm tích. Bên cạnh đó, các
hoạt động ven biển (xả thải, nuôi trồng thủy sản, nạo vét và giao thông thủy) góp
phần làm xáo trộn trầm tích, gây tăng Fe cục bộ.
85
Biểu đồ 3.26. Giá trị trung bình thông số Sắt tổng giai đoạn 2021 – 2025
Nhận xét chung:
Kết quả quan trắc giai đoạn 2021 – 2025 cho thấy chất lượng nước biển ven
bờ trên địa bàn thành phố nhìn chung tương đối ổn định. Các thông số pH và DO
duy trì trong giới hạn quy chuẩn qua các năm, phản ánh điều kiện môi trường
nước biển cơ bản đáp ứng yêu cầu đối với hệ sinh thái thủy sinh. Tuy nhiên, một
số thông số như TSS, Fe, amoni và photphat ghi nhận vượt quy chuẩn tại một số
vị trí và thời điểm, cho thấy vẫn tồn tại các khu vực chịu tác động cục bộ của các
nguồn phát sinh chất ô nhiễm.
Xét theo không gian, một số thông số có xu hướng tăng cục bộ tại từng vị trí
quan trắc trong các năm khác nhau, như amoni tại xã An Thạnh Nam (năm 2023),
photphat tại xã Trung Bình (năm 2024) và Fe tại xã Vĩnh Hải (năm 2023). Điều
này cho thấy chất lượng nước biển ven bờ có sự khác biệt giữa các khu vực, phản
ánh ảnh hưởng tổng hợp của điều kiện tự nhiên và các hoạt động phát triển kinh
tế - xã hội tại từng địa phương.
Xét theo thời gian, các thông số chất lượng nước có xu hướng biến động qua
từng năm nhưng chưa ghi nhận xu thế suy giảm rõ rệt trên toàn vùng nghiên cứu.
Các biến động cục bộ của amoni và photphat cho thấy có thời điểm xuất hiện dấu
hiệu gia tăng dinh dưỡng; trong khi TSS và Fe chịu ảnh hưởng lớn của điều kiện
tự nhiên và quá trình vận chuyển bùn cát. Đối với thông số Coliform, kết quả quan
trắc các năm đều nằm trong giới hạn quy chuẩn, chưa ghi nhận dấu hiệu ô nhiễm
vi sinh cục bộ tại các vị trí quan trắc.
Nhìn chung, chất lượng nước biển ven bờ vẫn đáp ứng yêu cầu đối với phần
lớn mục đích sử dụng, tuy nhiên cần tiếp tục duy trì quan trắc định kỳ tại các khu
vực cửa sông và ven biển nhằm theo dõi diễn biến chất lượng môi trường và kịp
thời phát hiện các biến động bất thường.
86
3.3. CÁC VẤN ĐỀ NỔI CỘM VỀ MÔI TRƯỜNG BIỂN TẠI CÁC ĐẢO,
CỤM ĐẢO
Căn cứ Hướng dẫn của Thủ tướng Chính phủ tại Quyết định số 40/2025/QĐ-
TTg ngày 31/10/2025 về tiêu chí, trình tự, thủ tục công nhận xã đảo và xã An toàn
khu trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Toàn thành phố, hiện đã
công nhận 03 xã (xã An Thạnh, Cù Lao Dung và Phong Nẫm) là xã đảo.
Thời gian qua, Thành ủy, Ủy ban nhân dân thành phố đã tập trung phát triển
kinh tế - xã hội các xã đảo. Hệ thống giao thông được kết nối thuận lợi với Quốc
lộ 60, Quốc lộ Nam Sông Hậu, đặc biệt dự án cầu Đại Ngãi bắc qua sông Hậu (dự
kiến trước 2030) sẽ là động lực lớn, giúp rút ngắn thời gian di chuyển giữa 02 xã
An Thạnh, Cù Lao Dung với tỉnh Vĩnh Long, rút ngắn khoảng cách đi thành phố
Hồ Chí Minh đến 80 km. Ngoài giao thông, thành phố còn chú trọng nâng cấp hạ
tầng thủy lợi, cứng hóa mặt đê với hơn 80 km đê sông và 23 km đê biển; tận dụng
lợi thế cửa sông lớn (Định An, Trần Đề), đáp ứng vận chuyển bằng tàu thuyền
lớn, phục vụ kinh tế biển và du lịch. Sản xuất phát triển theo hướng nông nghiệp
công nghệ cao kết hợp với du lịch sinh thái, góp phần nâng cao đời sống vật chất
tinh thần của người dân. Hiện nay, cả 03 xã đều đã được công nhận đạt chuẩn
nông thôn mới.
3.3.1. Ô nhiễm rác thải sinh hoạt, rác thải nhựa; công tác thu gom, xử lý còn
hạn chế
a. Ô nhiễm rác thải sinh hoạt, rác thải nhựa:
Chất thải nhựa phát sinh từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm chất thải rắn
(CTR) sinh hoạt, CTR trong nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng và các hoạt động
kinh tế - xã hội khác. Trong thực tế, khối lượng chất thải nhựa thất thoát ra môi
trường chủ yếu có nguồn gốc từ CTR sinh hoạt, do các dòng chất thải nhựa phát
sinh từ nông nghiệp, công nghiệp và xây dựng thường được quản lý, thu gom và
xử lý tương đối hiệu quả.
Thực tế cho thấy rất nhiều vật dụng trong gia đình đều có nguồn gốc từ nhựa.
Theo Phạm Thị Mai Thảo (2021), kết quả khảo sát về phát sinh rác thải nhựa tại
thành phố Hà Nội cho thấy túi ni lông và bao bì đóng gói phát sinh nhiều nhất,
chiếm 69,8%; chai dầu gội đầu, sữa tắm chiếm 62,5%; chai nhựa, bình nhựa chiếm
58%; hộp đựng sữa chua, ống hút chiếm 48,6%; đường ống nước, vỏ bọc dây điện
chiếm 43,2%; hộp xốp, cốc nhựa dùng một lần chiếm 23,9%. Điều này khẳng định
hầu hết các sản phẩm thiết yếu trên thị trường đều có nguồn gốc từ nhựa. Do đó,
để giảm lượng rác thải nhựa cần có các giải pháp nghiên cứu và phát triển sản
phẩm thay thế thân thiện với môi trường.
Khối lượng CTR sinh hoạt phát sinh trên địa bàn các đơn vị hành chính thuộc
vùng đảo và ven biển được tính toán dựa trên số dân và định mức phát thải. Sau khi
thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính theo Quyết định số 19/2025/QĐ-TTg, số liệu
về CTR sinh hoạt và rác thải nhựa trên các xã đảo được trình bày tại bảng bên dưới.
87
Bảng 3.7. Khối lượng chất thải rắn và rác thải nhựa phát sinh tại các xã đảo
TT
Đơn vị hành chính
Dân số
(người)
Định mức
(kg/người/ngày)
CTR sinh
hoạt
(kg/ngày)
Rác thải
nhựa
(kg/ngày)
1
Xã An Thạnh
37.711
0,65
24.512
2.402
2
Xã Cù Lao Dung
44.937
0,65
29.209
2.862
3
Xã Phong Nẫm
6.416
0,65
4.170
409
Tổng
89.064
-
57.892
5.673
Ghi chú:
- Định mức phát sinh chất thải rắn sinh hoạt nông thôn theo hướng dẫn của Bộ
Tài nguyên và Môi trường (2017).
- Tỷ lệ rác thải nhựa được tính theo kết quả khảo sát tại bãi rác xã An Thạnh 2
năm 2026 với tỷ lệ là 9,8%.
b. Thực trạng thu gom, xử lý:
(i) Khu vực xã Cù Lao Dung và xã Anh Thạnh:
Trên địa bàn, công tác thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt do Công ty
TNHH Xây dựng Huỳnh Khánh Toàn thực hiện. Hiện có 03 bãi rác gồm bãi rác
An Thạnh 1 (xã An Thạnh), bãi rác An Thạnh 2 và bãi rác An Thạnh 3 (xã Cù
Lao Dung). Trong đó, bãi rác An Thạnh 2 là bãi rác sử dụng chung và hiện đã
ngừng hoạt động. Phương thức xử lý chất thải chủ yếu là lưu chứa kết hợp sử dụng
chế phẩm sinh học nhằm tăng khả năng phân hủy chất thải và giảm thiểu mùi hôi
phát sinh.
Công tác thu gom hiện chỉ bao phủ các khu vực nội ô, trung tâm xã, chợ,
trường học. Tỷ lệ thu gom rác thải toàn địa bàn đạt khoảng 60%, trong đó khu vực
đô thị đạt 91%. Tỷ lệ thu gom tại khu vực nông thôn còn thấp do hạ tầng giao
thông không đảm bảo cho phương tiện tiếp cận vùng sâu, vùng xa. Đồng thời, trên
địa bàn đang triển khai xây dựng phương án thu gom, vận chuyển và xử lý CTR
sinh hoạt theo cơ cấu hành chính mới.
Tại các khu vực chưa được tổ chức thu gom, người dân buộc phải tự xử lý
bằng các phương pháp: đào hố chứa, đốt, hoặc vứt chất thải ven đường và xuống
sông, kênh, rạch - gây tác động tiêu cực đến chất lượng môi trường không khí,
nước mặt, đất và nước ngầm.
(ii) Khu vực xã Phong Nẫm:
Do địa bàn có điều kiện giao thông không thuận lợi, không thể vận chuyển
CTR về bãi rác tập trung, các cơ quan chức năng phối hợp hướng dẫn người dân
tại các ấp tự thu gom và xử lý bằng biện pháp chôn lấp hoặc đốt theo quy định.
88
Tại các khu vực không tổ chức được thu gom, một bộ phận người dân tự
xử lý rác bằng cách ủ phân hoặc đốt; một số hộ vứt rác xuống kênh, mương, gây
ô nhiễm nguồn tiếp nhận và ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường nước mặt trong
khu vực.
3.3.2. Ô nhiễm nước biển ven đảo do nước thải sinh hoạt, nuôi trồng và chế
biến thủy sản quy mô nhỏ
a. Ô nhiễm nước thải sinh hoạt, nuôi trồng và chế biến thủy sản quy mô nhỏ:
Đối với nước thải sinh hoạt:
Nước thải sinh hoạt là nguồn thải phát sinh thường xuyên từ các hoạt động
sinh hoạt hằng ngày của người dân như tắm giặt, vệ sinh cá nhân, chế biến thực
phẩm và vệ sinh hộ gia đình. Thành phần nước thải chứa nhiều chất hữu cơ, chất
rắn lơ lửng, dầu mỡ, chất dinh dưỡng và vi sinh vật gây bệnh. Khi không được
thu gom, xử lý đạt quy chuẩn trước khi xả thải, các chất ô nhiễm hữu cơ dễ bị
phân hủy yếm khí, phát sinh mùi hôi và làm gia tăng nồng độ BOD, COD trong
nguồn tiếp nhận, từ đó ảnh hưởng đến chất lượng nước mặt khu vực ven biển, cửa
sông và kênh rạch nội đồng.
Trên địa bàn các xã đảo, lượng nước thải sinh hoạt phát sinh tương đối lớn
do dân cư phân bố tập trung tại các khu dân cư ven sông, ven biển. Tổng lượng
nước thải sinh hoạt phát sinh ước tính khoảng 7.125,1 m³/ngày, cụ thể như sau:
Bảng 3.8. Lượng nước thải sinh hoạt phát sinh tại các xã đảo
TT
Xã
Số dân
(người)
Hệ số cấp nước
(m
3
/ngày)
Nước thải
(m
3
/ngày)
1
Xã An Thạnh
37.711
0,08
3016,9
2
Xã Cù Lao Dung
44.937
0,08
3595,0
3
Xã Phong Nẫm
6.416
0,08
513,3
Tổng
89.064
7.125,1
Ghi chú:
Định mức phát sinh nước thải sinh hoạt nông thôn theo QCVN 01:2021/BXD:
Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về quy hoạch xây dựng, tiêu chuẩn cấp nước ≥80
lít/ngày/người.
Đối với nước thải nuôi trồng và chế biến thủy sản:
Nuôi trồng thủy sản là ngành kinh tế chủ lực tại khu vực ven biển và các xã
đảo. Theo số liệu tổng hợp từ báo cáo kinh tế - xã hội của các địa phương, tổng
diện tích nuôi trồng thủy sản của ba địa phương gồm xã An Thạnh, xã Phong Nẫm
và xã Cù Lao Dung đạt khoảng 4.305 ha. Trong đó, diện tích nuôi tôm khoảng
3.275 ha, chiếm tỷ trọng chủ đạo; diện tích nuôi các loài thủy sản khác khoảng
1.030 ha.
89
Cụ thể, xã An Thạnh có tổng diện tích nuôi trồng thủy sản khoảng 714 ha,
gồm 473 ha nuôi tôm và 241 ha nuôi các loài thủy sản khác. Xã Phong Nẫm có
khoảng 189 ha mặt nước nuôi trồng thủy sản. Trong khi đó, xã Cù Lao Dung có
quy mô nuôi trồng lớn nhất với khoảng 3.402 ha, trong đó diện tích nuôi tôm đạt
2.802 ha (gồm 2.350 ha tôm thẻ chân trắng và 452 ha tôm sú), phần diện tích còn
lại khoảng 600 ha nuôi các loài thủy sản khác.
Cùng với sự phát triển nhanh của ngành nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là nuôi
tôm thâm canh và bán thâm canh, lượng nước thải phát sinh ngày càng lớn. Trong
quá trình nuôi, lượng thức ăn dư thừa, chất thải hữu cơ, bùn đáy ao, hóa chất, chế
phẩm sinh học và dư lượng kháng sinh có thể tích tụ trong môi trường nước. Khi
xả thải trực tiếp ra sông, kênh rạch hoặc vùng ven biển mà không qua xử lý sẽ làm
gia tăng tải lượng ô nhiễm hữu cơ, chất dinh dưỡng và vi sinh vật gây bệnh trong
nguồn nước tiếp nhận.
Theo Viện Kinh tế và Quy hoạch Thủy sản (2015), Lưu lượng thải trung bình
trên mỗi hecta sau mỗi vụ nuôi tôm khoảng 9.000 - 12.000 m³/ha. Với tổng diện
tích nuôi tôm tại các xã đảo khoảng 3.275 ha, lượng nước thải phát sinh sau mỗi
vụ nuôi ước khoảng 29,5 – 39,3 triệu m
3
. Đây là nguồn gây sức ép đáng kể đối
với môi trường nước khu vực ven biển, đặc biệt trong điều kiện hệ thống xử lý
nước thải tập trung chưa được đầu tư đồng bộ.
b. Thực trạng thu gom, xử lý:
- Đối với nước thải sinh hoạt: Hiện nay, tại các xã đảo hầu như chưa được
đầu tư hệ thống thu gom và xử lý nước thải sinh hoạt tập trung; ngoại trừ hệ thống
xử lý nước thải tại chợ An Thạnh 3 với công suất khoảng 200 m³/ngày đêm. Phần
lớn nước thải sinh hoạt từ hộ gia đình chỉ được xử lý sơ bộ qua bể tự hoại trước
khi xả ra môi trường. Do đó, nồng độ các chất ô nhiễm trong nước thải sau xử lý
sơ bộ nhìn chung chưa bảo đảm đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường. Bên cạnh đó,
tỷ lệ hộ dân nông thôn sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh mới đạt khoảng 75,48%, cho
thấy nguy cơ nước thải sinh hoạt và chất thải sinh hoạt chưa được quản lý triệt để
vẫn còn tương đối lớn, gây ảnh hưởng đến chất lượng nước mặt tại khu vực kênh
rạch, sông và vùng cửa sông ven biển.
- Đối với nước thải nuôi trồng thủy sản: Nước thải từ hoạt động nuôi trồng
thủy sản có lưu lượng xả thải lớn, đặc biệt vào thời điểm thay nước ao nuôi và
cuối vụ nuôi. Hiện nay, phần lớn nước thải từ các ao nuôi, nhất là mô hình nuôi
tôm công nghiệp và bán công nghiệp, vẫn được xả trực tiếp ra môi trường mà
chưa qua xử lý đạt quy chuẩn. Thành phần ô nhiễm chủ yếu gồm chất hữu cơ, chất
rắn lơ lửng, Nitơ, Photpho, dư lượng thức ăn, hóa chất và vi sinh vật như Coliform.
Việc xả thải kéo dài có thể làm gia tăng hiện tượng phú dưỡng hóa, suy giảm oxy
hòa tan, phát sinh dịch bệnh thủy sản và ảnh hưởng đến chất lượng môi trường
nước vùng ven biển, cửa sông và hệ sinh thái thủy sinh khu vực.
90
3.3.3. Suy thoái hệ sinh thái ven đảo (rừng ngập mặn, bãi triều), suy giảm
nguồn lợi thủy sản
Hệ sinh thái ven biển, bao gồm rừng ngập mặn và bãi triều tại khu vực ven
biển thành phố Cần Thơ, giữ vai trò quan trọng trong bảo vệ bờ biển, điều hòa
môi trường nước, duy trì đa dạng sinh học và là nơi cư trú, sinh sản của nhiều loài
thủy sản. Tuy nhiên, trong thời gian dài, hệ sinh thái này đang chịu tác động tổng
hợp từ biến đổi khí hậu, nước biển dâng, sạt lở bờ biển và các hoạt động phát triển
kinh tế ven biển, dẫn đến suy giảm chức năng sinh thái ở nhiều khu vực.
Rừng ngập mặn – được xem là “lá chắn xanh” của vùng ven biển – có xu
hướng bị thu hẹp và suy giảm chất lượng tại một số khu vực do tác động của xói
lở bờ biển, triều cường, nước biển dâng và chuyển đổi mục đích sử dụng đất trong
các giai đoạn phát triển trước đây. Một số khu vực rừng trồng mới hoặc rừng phục
hồi chưa đạt trạng thái ổn định sinh thái, làm giảm khả năng cung cấp dịch vụ hệ
sinh thái như cố định bùn cát, giảm sóng và tạo sinh cảnh cho thủy sinh.
Sự suy giảm và phân mảnh sinh cảnh rừng ngập mặn và bãi triều đã kéo theo
suy giảm nguồn lợi thủy sản ven bờ. Đây là các khu vực đóng vai trò quan trọng
trong chuỗi thức ăn, là nơi ươm giống tự nhiên của nhiều loài tôm, cá, cua. Khi
diện tích sinh cảnh tự nhiên bị thu hẹp hoặc suy thoái, khả năng tái tạo nguồn lợi
thủy sản bị suy giảm, làm giảm trữ lượng và kích thước cá thể khai thác.
Bên cạnh đó, áp lực khai thác thủy sản ven bờ kéo dài, ô nhiễm môi trường
nước cửa sông – ven biển và biến đổi khí hậu tiếp tục làm gia tăng mức độ suy
giảm đa dạng sinh học. Một số nghiên cứu khu vực Đồng bằng sông Cửu Long
cũng ghi nhận xu hướng dịch chuyển cơ cấu loài khai thác theo hướng giảm các
loài có giá trị kinh tế cao và tăng các loài kích thước nhỏ, phản ánh sự suy giảm
chất lượng nguồn lợi.
Kết quả khảo sát xã hội học tại khu vực ven biển cho thấy phần lớn ý kiến
đánh giá nguồn lợi thủy sản có xu hướng suy giảm rõ rệt trong những năm gần
đây (115/119 ý kiến, tương đương 96,6%), không ghi nhận xu hướng cải thiện
đáng kể.
Biểu đồ 3.27. Đánh giá của người dân về xu hướng thay đổi của nguồn lợi
thủy sản trong 05 năm qua
91
Nhìn chung, hệ sinh thái ven các xã đảo đang có dấu hiệu suy giảm chức
năng sinh thái ở mức độ cục bộ, thể hiện qua suy giảm chất lượng sinh cảnh rừng
ngập mặn, bãi triều và nguồn lợi thủy sản. Điều này đặt ra yêu cầu tăng cường
bảo vệ, phục hồi và quản lý tổng hợp hệ sinh thái ven biển theo hướng bền vững
và thích ứng với biến đổi khí hậu.
3.3.4. Xói lở bờ đảo, xâm nhập mặn, tác động của biến đổi khí hậu và nước
biển dâng
Khu vực các xã đảo trên địa bàn đang chịu tác động rõ rệt của tình trạng xói
lở bờ biển, xâm nhập mặn và biến đổi khí hậu, nước biển dâng. Trong những năm
gần đây, diễn biến xói lở có xu hướng gia tăng cả về phạm vi và mức độ, đặc biệt
tại các đoạn bờ không được che chắn bởi rừng ngập mặn hoặc đã bị suy giảm
thảm thực vật bảo vệ. Quá trình xói lở làm mất đất, thu hẹp diện tích sinh cảnh
ven biển, ảnh hưởng trực tiếp đến hệ sinh thái bãi triều, rừng ngập mặn cũng như
cơ sở hạ tầng và sinh kế của người dân khu vực đảo.
Bên cạnh đó, xâm nhập mặn ngày càng diễn biến phức tạp, đặc biệt vào mùa
khô khi lưu lượng nước ngọt từ thượng nguồn suy giảm. Nước mặn xâm nhập sâu
vào nội đồng không chỉ làm thay đổi đặc tính môi trường nước mà còn ảnh hưởng
đến sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và nguồn nước sinh hoạt. Hiện
tượng này có xu hướng gia tăng dưới tác động của biến đổi khí hậu và các hoạt
động khai thác, sử dụng nước ở thượng nguồn.
Biến đổi khí hậu và nước biển dâng được xác định là nguyên nhân nền tảng
làm gia tăng các hiện tượng nêu trên. Theo các kịch bản biến đổi khí hậu tại Việt
Nam, mực nước biển có xu hướng dâng lên trong dài hạn, kết hợp với gia tăng tần
suất và cường độ của các hiện tượng thời tiết cực đoan như bão, triều cường, gây
áp lực lớn lên hệ thống bờ biển và các khu vực đảo. Sự cộng hưởng của các yếu
tố này không chỉ làm gia tăng nguy cơ xói lở và xâm nhập mặn mà còn đe dọa
đến tính ổn định của hệ sinh thái khu vực xã đảo, đặt ra yêu cầu cấp thiết về các
giải pháp thích ứng và quản lý tổng hợp vùng bờ.
3.3.5. Áp lực từ giao thông hàng hải, neo đậu tàu thuyền và hoạt động du lịch
Khu vực xã đảo đang chịu áp lực ngày càng gia tăng từ hoạt động giao thông
hàng hải, neo đậu tàu thuyền và phát triển du lịch. Sự gia tăng mật độ tàu thuyền
qua lại, đặc biệt tại các tuyến luồng chính và khu vực cửa sông, làm gia tăng nguy
cơ ô nhiễm môi trường nước do rò rỉ nhiên liệu, dầu mỡ, chất thải sinh hoạt từ tàu
nếu không được quản lý chặt chẽ. Hoạt động neo đậu tàu thuyền, nhất là tại các
khu vực chưa được quy hoạch bến bãi hợp lý, có thể gây xáo trộn trầm tích đáy,
làm tăng độ đục của nước và ảnh hưởng đến các hệ sinh thái nhạy cảm như bãi
triều và rừng ngập mặn.
92
Bên cạnh đó, sự phát triển của hoạt động du lịch ven biển, mặc dù mang lại
lợi ích kinh tế, nhưng cũng tạo ra áp lực đáng kể lên môi trường. Gia tăng lượng
khách du lịch kéo theo phát sinh chất thải rắn, nước thải sinh hoạt và nguy cơ ô
nhiễm cục bộ nếu hệ thống thu gom, xử lý chưa đáp ứng yêu cầu. Các hoạt động
du lịch tự phát hoặc thiếu kiểm soát như đi lại bằng ca nô, tàu cao tốc, tham quan
sinh thái… có thể làm suy giảm chất lượng môi trường nước, gây xáo trộn sinh
cảnh và ảnh hưởng đến tập tính sinh sống của các loài sinh vật.
Ngoài ra, việc phát triển hạ tầng phục vụ giao thông và du lịch (bến cảng,
cầu tàu, khu dịch vụ) nếu không được quy hoạch và đánh giá tác động môi trường
đầy đủ có thể làm thay đổi cảnh quan tự nhiên, gia tăng nguy cơ xói lở cục bộ và
suy giảm chức năng của hệ sinh thái ven biển. Do đó, cần tăng cường công tác
quản lý, quy hoạch hợp lý và kiểm soát chặt chẽ các hoạt động liên quan nhằm
giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường khu vực các xã đảo.
3.3.6. Đánh giá tổng hợp tác động của nguồn thải nội địa đến môi trường
nước biển ven bờ khu vực các xã đảo
Để đánh giá toàn diện hiện trạng môi trường tại khu vực các xã đảo gồm An
Thạnh, Cù Lao Dung và Phong Nẫm, cần xem xét trong mối liên hệ giữa áp lực
phát sinh nguồn thải nội địa với kết quả quan trắc chất lượng nước biển ven bờ tại
các khu vực tiếp giáp trực tiếp như Cù Lao Dung, An Thạnh Nam và An Thạnh 3
đã trình bày tại mục 3.2. Việc đối chiếu các nguồn dữ liệu cho phép nhận diện
một số đặc điểm và xu hướng môi trường nổi bật như sau:
Thứ nhất, mặc dù khu vực các xã đảo phát sinh lượng nước thải sinh hoạt và
nước thải từ hoạt động nuôi trồng thủy sản tương đối lớn, các thông số hóa lý cơ
bản như pH và DO tại khu vực nước biển ven bờ nhìn chung vẫn duy trì trong
giới hạn cho phép theo QCVN 10:2023/BTNMT. Điều này cho thấy khu vực cửa
sông – ven biển chịu ảnh hưởng mạnh của chế độ thủy triều và dòng chảy từ các
cửa sông lớn như Định An và Trần Đề, góp phần tăng cường quá trình pha loãng,
xáo trộn và tự làm sạch tự nhiên của môi trường nước. Tuy nhiên, khả năng tự
làm sạch này chỉ mang tính hỗ trợ tự nhiên và có thể suy giảm nếu tải lượng ô
nhiễm tiếp tục gia tăng trong tương lai.
Thứ hai, kết quả quan trắc giai đoạn 2021 – 2025 và đợt bổ sung năm 2026
cho thấy thông số tổng chất rắn lơ lửng (TSS) và sắt tổng (Fe) có xu hướng vượt
giới hạn tại một số khu vực ven đảo. Diễn biến này có thể liên quan đồng thời đến
các yếu tố tự nhiên và hoạt động của con người. Khu vực các xã đảo nằm trong
vùng chịu ảnh hưởng trực tiếp của quá trình bồi tụ phù sa từ hệ thống sông Mê
Kông nên nền TSS tự nhiên tương đối cao. Đồng thời, tình trạng xói lở bờ biển,
sạt lở bờ sông và quá trình rửa trôi đất ven bờ trong mùa mưa có thể làm gia tăng
lượng vật chất lơ lửng và kim loại tự nhiên đi vào môi trường nước.
93
Thứ ba, mặc dù các chỉ tiêu vi sinh tại khu vực nước biển ven bờ nhìn chung
chưa ghi nhận dấu hiệu ô nhiễm nghiêm trọng, áp lực từ rác thải nhựa phát sinh
tại các xã đảo đang có xu hướng gia tăng. Do điều kiện thu gom và xử lý chất thải
tại khu vực nông thôn ven biển còn hạn chế, một phần chất thải nhựa có nguy cơ
thất thoát vào hệ thống sông rạch, sau đó di chuyển và tích tụ tại khu vực cửa
sông, bãi triều và rừng ngập mặn. Tình trạng này không chỉ ảnh hưởng đến cảnh
quan môi trường mà còn có thể gây tác động lâu dài đến hệ sinh thái ven biển và
môi trường sống của các loài thủy sinh.
Trên cơ sở tổng hợp hiện trạng phát sinh nguồn thải và kết quả quan trắc môi
trường, có thể nhận định mức độ tác động của các nhóm nguồn thải đến môi
trường nước biển ven bờ khu vực các xã đảo như sau: hoạt động nuôi trồng thủy
sản được đánh giá là nguồn gây áp lực lớn nhất do phát sinh đồng thời nước thải,
bùn thải và chất thải nhựa; hoạt động sinh hoạt khu vực ven biển có mức độ tác
động trung bình, chủ yếu thông qua nước thải sinh hoạt và chất thải rắn; hoạt động
nông nghiệp gây áp lực ở mức trung bình do phát sinh nguồn thải không điểm
chứa dinh dưỡng và thuốc bảo vệ thực vật; trong khi các hoạt động sản xuất, kinh
doanh, dịch vụ hiện có mức độ tác động từ thấp đến trung bình do quy mô còn
hạn chế và cơ bản đã thực hiện các biện pháp quản lý môi trường theo quy định.
Nhìn chung, môi trường nước biển ven bờ khu vực các xã đảo hiện vẫn duy
trì trạng thái tương đối ổn định đối với các chỉ tiêu hóa lý cơ bản. Tuy nhiên, áp
lực tích lũy từ nguồn thải nội địa, đặc biệt là chất rắn lơ lửng, chất thải nhựa và
các hoạt động kinh tế ven biển, đang tạo ra những nguy cơ tiềm ẩn đối với chất
lượng môi trường nước trong dài hạn. Điều này cho thấy cần tăng cường kiểm
soát nguồn thải từ đất liền, kết hợp với mở rộng mạng lưới quan trắc môi trường
nhằm theo dõi và quản lý kịp thời các biến động môi trường tại khu vực ven biển
và hải đảo.
94
CHƯƠNG 4. HIỆN TRẠNG ĐA DẠNG SINH HỌC
4.1. CÁC HỆ SINH THÁI BIỂN VÀ VEN BIỂN
Khu vực biển và ven biển thành phố Cần Thơ nằm ở hạ lưu hệ thống sông
Mê Kông, là nơi giao thoa giữa môi trường nước ngọt từ hệ thống sông Hậu và
nước mặn của Biển Đông. Dưới tác động tổng hợp của chế độ thủy triều, dòng
chảy, quá trình vận chuyển và bồi tụ phù sa, khu vực này đã hình thành các hệ
sinh thái đặc trưng gồm hệ sinh thái cửa sông, rừng ngập mặn, bãi triều, bãi bồi
và vùng nước ven bờ. Các hệ sinh thái này có mối liên kết chặt chẽ về cấu trúc và
chức năng, tạo thành một chỉnh thể sinh thái thống nhất, giữ vai trò quan trọng
trong duy trì cân bằng tự nhiên, bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững
kinh tế biển.
Các hệ sinh thái biển và ven biển không chỉ là nơi cư trú, sinh sản và ươm
dưỡng của nhiều loài thủy sinh, chim nước và các nhóm sinh vật đặc trưng vùng
cửa sông mà còn cung cấp nhiều dịch vụ hệ sinh thái thiết yếu như bảo vệ bờ biển,
giảm tác động của sóng và triều cường, giữ và bồi tụ phù sa, điều hòa chu trình vật
chất, cải thiện chất lượng môi trường nước, hấp thụ và lưu trữ cacbon, góp phần
nâng cao khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu. Đồng thời, đây cũng là nền tảng
tự nhiên quan trọng cho các hoạt động khai thác, nuôi trồng thủy sản, giao thông
đường thủy, du lịch sinh thái và sinh kế của cộng đồng dân cư ven biển.
Các hệ sinh thái biển và ven biển của thành phố Cần Thơ có sự khác biệt về
đặc điểm tự nhiên, cấu trúc quần xã sinh vật và chức năng sinh thái, đồng thời
chịu tác động của các quá trình tự nhiên và hoạt động phát triển kinh tế - xã hội
vùng ven biển. Vì vậy, việc đánh giá đặc điểm phân bố, cấu trúc, giá trị sinh thái
và hiện trạng của từng hệ sinh thái là cơ sở quan trọng để nhận diện các giá trị cần
bảo tồn, các sức ép môi trường và đề xuất các giải pháp quản lý, bảo vệ và sử
dụng bền vững tài nguyên, môi trường biển và ven biển.
4.1.1. Hệ sinh thái cửa sông
Hệ sinh thái cửa sông là hệ sinh thái đặc trưng của vùng biển thành phố Cần
Thơ, hình thành tại khu vực chuyển tiếp giữa nước ngọt từ hệ thống sông Hậu,
sông Mỹ Thanh với nước mặn của Biển Đông. Trên địa bàn thành phố, hệ sinh
thái này phân bố chủ yếu tại cửa Định An, cửa Trần Đề và cửa Mỹ Thanh, chịu
ảnh hưởng đồng thời của dòng chảy từ lưu vực sông Mê Kông và chế độ bán nhật
triều không đều của Biển Đông. Đây là vùng chuyển tiếp có tính động lực cao,
nơi diễn ra thường xuyên quá trình pha trộn giữa nước ngọt và nước mặn, vận
chuyển phù sa, trao đổi vật chất và năng lượng giữa lục địa với biển, tạo điều kiện
thuận lợi cho sự hình thành các sinh cảnh có năng suất sinh học cao.
95
Hnh 4.1. Cửa sông Mỹ Thanh và Trần Đề
Đặc điểm nổi bật của hệ sinh thái cửa sông là sự biến động theo mùa của chế
độ thủy văn và quá trình bồi tụ – xói lở. Vào mùa mưa, lưu lượng nước từ thượng
nguồn tăng mạnh làm giảm độ mặn và tăng lượng phù sa đưa ra biển; trong khi
mùa khô chịu ảnh hưởng rõ hơn của thủy triều và xâm nhập mặn. Sự tương tác
giữa dòng chảy sông và thủy triều tạo nên các bãi triều, bãi bồi giàu phù sa và chất
hữu cơ, là nền tảng quan trọng cho sự phát triển của các quần xã sinh vật vùng
cửa sông.
Nguồn dinh dưỡng dồi dào cùng điều kiện thủy văn đặc thù đã tạo nên năng
suất sinh học cao cho hệ sinh thái cửa sông. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim
Liên và cộng sự (2020) ghi nhận 221 loài thực vật nổi thuộc 5 ngành, 15 lớp, 48
bộ, 59 họ và 88 giống tại vùng cửa sông Hậu thuộc Sóc Trăng (trước sáp nhập),
trong đó ngành tảo khuê có thành phần loài đa dạng hơn các ngành tảo khác. Cấu
trúc quần xã thực vật nổi có sự biến động theo mùa, chịu ảnh hưởng của độ mặn,
chế độ dòng chảy và điều kiện thủy triều, phản ánh tính năng động của môi trường
cửa sông và khả năng thích nghi của sinh vật trước các biến động tự nhiên. Thực
vật nổi đóng vai trò là sinh vật sản xuất sơ cấp, cung cấp nguồn thức ăn cho động
vật phù du và các bậc dinh dưỡng cao hơn trong chuỗi thức ăn vùng cửa sông.
Bên cạnh đó, khu vực cửa sông và vùng biển ven bờ còn là nơi phân bố của
nhiều loài cá, tôm, cua và nhuyễn thể có giá trị kinh tế. Hệ sinh thái cửa sông đồng
thời là nơi sinh sản, ươm dưỡng và kiếm ăn của nhiều loài thủy sinh trong các giai
đoạn phát triển khác nhau của vòng đời, góp phần duy trì và bổ sung nguồn lợi thủy
sản cho vùng biển Tây Nam Bộ. Hoạt động khai thác thủy sản của địa phương cũng
tập trung chủ yếu tại khu vực cửa sông và vùng nước ven bờ, cho thấy vai trò đặc
biệt quan trọng của hệ sinh thái này đối với sinh kế của cộng đồng ven biển.
Ngoài giá trị về đa dạng sinh học và nguồn lợi thủy sản, hệ sinh thái cửa sông
còn thực hiện nhiều chức năng sinh thái quan trọng như điều hòa dòng chảy, vận
chuyển và lưu giữ phù sa, trao đổi vật chất giữa lục địa và biển, góp phần hình
thành bãi bồi ven biển và duy trì sự phát triển của các hệ sinh thái liền kề như
rừng ngập mặn, bãi triều và vùng nước ven bờ. Các quá trình sinh địa hóa diễn ra
tại khu vực cửa sông còn góp phần hấp thu, chuyển hóa và phân hủy một phần
chất hữu cơ, chất dinh dưỡng từ lưu vực trước khi lan truyền ra vùng biển, qua đó
hỗ trợ duy trì chất lượng môi trường nước và cân bằng sinh thái.
96
4.1.2. Hệ sinh thái rừng ngập mặn
Rừng ngập mặn là hợp phần quan trọng nhất của hệ sinh thái biển và ven biển
thành phố Cần Thơ, phân bố chủ yếu dọc theo tuyến bờ biển và khu vực cửa sông
thuộc các phường Vĩnh Châu, Vĩnh Phước, các xã Vĩnh Hải, Lai Hòa, Trần Đề và
Cù Lao Dung. Đây là kiểu hệ sinh thái đặc trưng của vùng ven biển nhiệt đới, được
hình thành trên nền đất bùn hoặc bùn pha cát, chịu ảnh hưởng thường xuyên của
chế độ thủy triều và quá trình bồi tụ phù sa từ hệ thống sông Mê Kông. Điều kiện
tự nhiên đặc thù đã tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển của các quần xã thực
vật ngập mặn, đồng thời hình thành các sinh cảnh có năng suất sinh học cao và giữ
vai trò quan trọng trong duy trì cân bằng sinh thái vùng cửa sông – ven biển.
Thảm thực vật rừng ngập mặn trên địa bàn thành phố có thành phần loài
tương đối đa dạng, gồm các loài cây ngập mặn chính như đước đôi (Rhizophora
apiculata), mắm trắng (Avicennia alba), bần chua (Sonneratia caseolaris), dà vôi
(Ceriops decandra) cùng một số loài cây tham gia khác. Sự phân bố các loài thực
vật ngập mặn có sự phân hóa theo điều kiện địa hình, chế độ ngập triều và độ mặn
của môi trường. Tại các bãi bồi mới hình thành, loài tiên phong thường là mắm
trắng với khả năng thích nghi cao trên nền bùn mềm và chịu ngập triều thường
xuyên. Khi nền đất dần ổn định, các loài đước và bần phát triển ưu thế, hình thành
các quần xã rừng ngập mặn có cấu trúc ổn định hơn. Quá trình diễn thế tự nhiên
này góp phần mở rộng diện tích bãi bồi, gia tăng khả năng giữ phù sa và tạo điều
kiện cho sự phát triển của các sinh cảnh ven biển.
Hnh 4.2. Khu sinh thái rừng ngập mặn xã Cù Lao Dung (địa phận An
Thạnh Nam cũ)
Trong giai đoạn 2021 – 2025, diện tích rừng ngập mặn và rừng phòng hộ ven
biển trên địa bàn nhìn chung được duy trì tương đối ổn định, mặc dù có biến động
giữa các năm. Năm 2021, diện tích rừng ngập mặn đạt 5.936,46 ha; năm 2022
tăng lên 5.963,84 ha nhờ triển khai các chương trình trồng mới và phục hồi rừng.
Giai đoạn 2023 – 2024 ghi nhận xu hướng giảm nhẹ, còn 5.944,49 ha và 5.935,05
ha, chủ yếu do tác động của sạt lở bờ biển, triều cường, thời tiết cực đoan và suy
giảm cục bộ tại một số khu vực rừng phòng hộ. Đến năm 2025, diện tích rừng
97
phòng hộ chắn sóng, lấn biển được công bố đạt 6.810,13 ha. Sự gia tăng này chủ
yếu phản ánh việc cập nhật phạm vi thống kê và phân loại hiện trạng rừng theo
kết quả kiểm kê mới, do đó không hoàn toàn tương đồng với chuỗi số liệu diện
tích rừng ngập mặn các năm trước (Chi cục Kiểm lâm tỉnh Sóc Trăng, 2021 –
2024; Chi cục Kiểm lâm thành phố Cần Thơ, 2025).
Bảng 4.1. Diễn biến diện tích rừng ngập mặn giai đoạn 2021 – 2025
Ghi chú: Năm 2025 sử dụng số liệu diện tích rừng phòng hộ chắn sóng, lấn
biển theo công bố hiện trạng rừng của thành phố Cần Thơ; số liệu không hoàn
toàn tương đồng với chỉ tiêu rừng ngập mặn các năm trước.
Rừng ngập mặn thực hiện nhiều chức năng sinh thái quan trọng đối với vùng
biển và ven biển thành phố. Hệ thống rễ chống của cây đước và rễ thở của cây
mắm có tác dụng làm giảm năng lượng sóng, giữ lại phù sa, ổn định nền đáy và
hạn chế xói lở bờ biển. Đồng thời, rừng ngập mặn là nơi cư trú, sinh sản, ươm
dưỡng và kiếm ăn của nhiều loài cá, tôm, cua, nhuyễn thể, chim nước và các nhóm
động vật đáy, góp phần duy trì nguồn lợi thủy sản tự nhiên cũng như tính đa dạng
sinh học của vùng cửa sông và ven biển. Nhiều nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các
khu vực có rừng ngập mặn phát triển thường có mật độ và sinh khối động vật đáy,
giáp xác và cá con cao hơn đáng kể so với các khu vực không có rừng ngập mặn,
khẳng định vai trò của hệ sinh thái này như một "vườn ươm tự nhiên" đối với
nhiều loài thủy sinh có giá trị kinh tế.
Bên cạnh vai trò bảo vệ bờ biển và duy trì đa dạng sinh học, rừng ngập mặn
còn là một trong những hệ sinh thái có khả năng hấp thụ và lưu trữ cacbon hiệu
quả nhất trong các hệ sinh thái ven biển. Sinh khối cây rừng cùng lớp trầm tích
giàu chất hữu cơ dưới tán rừng góp phần lưu giữ lượng lớn cacbon trong thời gian
dài, qua đó giảm phát thải khí nhà kính và nâng cao khả năng thích ứng với biến
đổi khí hậu. Đồng thời, rừng ngập mặn còn tham gia điều hòa chu trình dinh
dưỡng, cải thiện chất lượng môi trường nước và tạo điều kiện thuận lợi cho phát
triển các hoạt động nuôi trồng thủy sản, khai thác thủy sản và du lịch sinh thái
theo hướng bền vững.
Năm
Diện tích (ha)
Tăng/giảm so với năm trước (ha)
2021
5.936,46
-
2022
5.963,84
+27,38
2023
5.944,49
-19,35
2024
5.935,05
-9,44
2025
6.810,13
+875,08
*
98
Nhìn chung, trong giai đoạn 2021 – 2025, hệ sinh thái rừng ngập mặn của
thành phố Cần Thơ vẫn duy trì được vai trò là tuyến phòng hộ tự nhiên quan trọng
và là sinh cảnh có giá trị cao về đa dạng sinh học. Công tác trồng mới, khoanh
nuôi tái sinh và bảo vệ rừng đã góp phần duy trì diện tích và từng bước nâng cao
khả năng phòng hộ của rừng ven biển. Tuy nhiên, chất lượng rừng giữa các khu
vực vẫn chưa đồng đều; một số diện tích là rừng trồng hoặc rừng đang trong giai
đoạn phục hồi nên cấu trúc quần xã và chức năng sinh thái chưa đạt như rừng tự
nhiên trưởng thành. Ngoài ra, sạt lở bờ biển, nước biển dâng, thay đổi chế độ bồi
tụ phù sa và áp lực từ các hoạt động phát triển kinh tế ven biển vẫn là những thách
thức lớn đối với công tác bảo tồn và phát triển rừng ngập mặn. Trong thời gian
tới, cần tiếp tục tăng cường bảo vệ rừng hiện có, phục hồi các khu vực rừng bị suy
thoái, kết hợp với quản lý tổng hợp vùng bờ nhằm duy trì tính toàn vẹn của hệ
sinh thái, bảo tồn đa dạng sinh học và nâng cao khả năng chống chịu của vùng
ven biển trước tác động của biến đổi khí hậu.
4.1.3. Hệ sinh thái bãi triều và bãi bồi
Hệ sinh thái bãi triều và bãi bồi phân bố dọc theo vùng cửa sông và ven biển
thành phố Cần Thơ, tập trung tại khu vực cửa Định An, cửa Trần Đề, cửa Mỹ
Thanh và dọc bờ biển thuộc các phường Vĩnh Châu, Vĩnh Phước, các xã Lai Hòa
và Cù Lao Dung. Đây là các sinh cảnh được hình thành dưới tác động tổng hợp
của dòng chảy từ hệ thống sông Mê Kông, chế độ thủy triều Biển Đông và quá
trình bồi lắng trầm tích ven biển. Sự lắng đọng liên tục của phù sa đã tạo nên các
bãi bùn và bãi cát ngập triều có diện tích biến động theo mùa và theo diễn biến
bồi tụ – xói lở, đồng thời là nền tảng cho quá trình hình thành và mở rộng rừng
ngập mặn ven biển.
Bãi triều là khu vực chịu ảnh hưởng trực tiếp của thủy triều, luân phiên ngập
và phơi bãi theo chu kỳ ngày đêm. Điều kiện môi trường đặc thù với nền đáy giàu
bùn, chất hữu cơ và dinh dưỡng tạo môi trường sống thuận lợi cho nhiều nhóm
sinh vật đáy như giun nhiều tơ (Polychaeta), thân mềm hai mảnh vỏ (Bivalvia),
thân mềm chân bụng (Gastropoda) và giáp xác.
Các bãi triều còn là nơi kiếm ăn của nhiều loài chim nước và chim di cư,
đồng thời là khu vực sinh sản, ươm dưỡng tự nhiên của nhiều loài cá, tôm, cua và
nhuyễn thể có giá trị kinh tế. Mối liên kết sinh thái giữa bãi triều với rừng ngập
mặn và vùng nước ven bờ tạo nên chuỗi sinh cảnh liên hoàn, góp phần duy trì
nguồn lợi thủy sản tự nhiên và tính đa dạng sinh học của vùng cửa sông – ven
biển. Sự hiện diện của các quần xã động vật đáy với mật độ cao cũng đóng vai trò
quan trọng trong quá trình phân hủy chất hữu cơ, tái tuần hoàn dinh dưỡng và duy
trì cân bằng sinh thái của môi trường đáy.
99
Bãi bồi ven biển được hình thành từ quá trình bồi lắng phù sa do hệ thống
sông Hậu và sông Mỹ Thanh mang ra biển. Đây là dạng địa hình có tính động cao,
thường xuyên biến đổi dưới tác động của dòng chảy, sóng và thủy triều. Kết quả
nghiên cứu về diễn biến địa hình vùng cửa sông cho thấy quá trình bồi tụ và xói
lở diễn ra đồng thời, làm thay đổi hình thái đường bờ và phạm vi các bãi bồi theo
không gian và thời gian. Các bãi bồi mới hình thành không chỉ góp phần mở rộng
quỹ đất tự nhiên mà còn tạo điều kiện cho các loài thực vật tiên phong như mắm
trắng (Avicennia alba) phát triển, tạo tiền đề cho quá trình diễn thế hình thành
rừng ngập mặn.
Ngoài vai trò tạo lập sinh cảnh, bãi triều và bãi bồi còn thực hiện nhiều chức
năng sinh thái quan trọng như giữ lại trầm tích và chất dinh dưỡng, giảm năng
lượng sóng trước khi tác động vào bờ, góp phần ổn định đường bờ và hạn chế xói
lở. Các sinh cảnh này còn tham gia điều hòa chu trình vật chất, hỗ trợ quá trình tự
làm sạch môi trường nước và duy trì nguồn thức ăn cho nhiều nhóm sinh vật ở
các bậc dinh dưỡng khác nhau. Đồng thời, đây cũng là khu vực có giá trị đối với
khai thác thủy sản ven bờ, thu hái nhuyễn thể và phát triển các mô hình sinh kế
gắn với hệ sinh thái tự nhiên của cộng đồng ven biển.
4.1.4. Hệ sinh thái vùng nước ven bờ
Hệ sinh thái vùng nước ven bờ của thành phố Cần Thơ phân bố dọc theo khu
vực biển ven bờ từ cửa Định An đến cửa Mỹ Thanh, chịu ảnh hưởng đồng thời
của nguồn nước ngọt từ hệ thống sông Hậu, sông Mỹ Thanh và nước mặn từ Biển
Đông. Đây là vùng chuyển tiếp giữa hệ sinh thái cửa sông và vùng biển khơi, có
sự biến động theo mùa về độ mặn, nhiệt độ, hàm lượng chất dinh dưỡng và chế
độ thủy động lực. Quá trình trao đổi nước thường xuyên dưới tác động của dòng
chảy và thủy triều tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các quần xã sinh
vật phù du, sinh vật đáy và nguồn lợi thủy sản ven bờ, hình thành một trong những
hệ sinh thái có năng suất sinh học cao của vùng biển Tây Nam Bộ.
Đặc điểm nổi bật của hệ sinh thái vùng nước ven bờ là sự phong phú về
nguồn dinh dưỡng do chịu ảnh hưởng của lượng phù sa và vật chất hữu cơ từ hệ
thống sông Mê Kông. Đây là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của quần xã
thực vật phù du, đóng vai trò là sinh vật sản xuất sơ cấp trong chuỗi thức ăn biển.
Kết quả nghiên cứu tại vùng biển ven bờ Sóc Trăng cho thấy thành phần thực vật
nổi và động vật phù du tương đối đa dạng, trong đó nhóm tảo silic
(Bacillariophyta) và giáp xác chân chèo (Copepoda) chiếm ưu thế. Cấu trúc quần
xã có sự biến động theo mùa và chịu ảnh hưởng rõ rệt của độ mặn, nhiệt độ, hàm
lượng chất dinh dưỡng và chế độ thủy văn. Sự phát triển của các nhóm sinh vật
phù du tạo nguồn thức ăn quan trọng cho cá, giáp xác, nhuyễn thể và các bậc dinh
dưỡng cao hơn trong hệ sinh thái biển.
100
Bên cạnh đó, vùng nước ven bờ là nơi phân bố của nhiều loài cá, tôm, cua,
mực và nhuyễn thể có giá trị kinh tế, đồng thời là khu vực di cư, kiếm ăn và sinh
trưởng của nhiều loài thủy sản trong các giai đoạn khác nhau của vòng đời. Kết
quả khảo sát khu hệ cá vùng biển ven bờ Sóc Trăng – Bạc Liêu (trước sáp nhập)
ghi nhận thành phần loài phong phú với nhiều loài thuộc các họ cá lượng
(Leiognathidae), cá đù (Sciaenidae), cá trích (Clupeidae), cá úc (Ariidae) và nhiều
nhóm cá biển khác có giá trị khai thác (Hà Phước Hùng và cs., 2022). Nguồn lợi
thủy sản phong phú đã tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển nghề khai thác hải
sản ven bờ, góp phần quan trọng vào sinh kế của cộng đồng ngư dân địa phương.
Ngoài giá trị về đa dạng sinh học và nguồn lợi thủy sản, hệ sinh thái vùng
nước ven bờ còn thực hiện nhiều chức năng sinh thái quan trọng như điều hòa chu
trình vật chất, vận chuyển chất dinh dưỡng, duy trì cân bằng sinh địa hóa và hỗ
trợ quá trình tự làm sạch của môi trường biển. Đồng thời, đây cũng là môi trường
kết nối giữa các hệ sinh thái cửa sông, rừng ngập mặn, bãi triều và vùng biển xa
bờ, tạo điều kiện cho sự trao đổi vật chất, năng lượng và sự di cư của nhiều loài
sinh vật biển. Mối liên kết này góp phần duy trì tính ổn định và khả năng phục hồi
của toàn bộ hệ sinh thái biển và ven biển thành phố.
4.2. THÀNH PHẦN LOÀI VÀ ĐA DẠNG SINH HỌC
4.2.1. Thành phần loài
a. Nhóm cá (Pisces):
Có khoảng 350 – 450 loài cá thuộc nhiều bộ, họ khác nhau được ghi nhận tại
vùng biển thành phố Cần Thơ (thuộc khu vực tỉnh Sóc Trăng (trước sáp nhập)),
trong đó phần lớn thuộc lớp Cá xương (Osteichthyes). Thành phần loài cá phân bố
theo gradient độ muối từ vùng cửa sông ra khơi, với các nhóm sinh thái chính sau:
Cá vùng cửa sông và ven bờ (chiếm ~60% thành phần loài): Bao gồm các
loài cá đặc trưng như cá đù (Johnius spp.), cá mòi (Clupanodon thrissa), cá chét
(Silurus spp.), cá trác (Priacanthus spp.), cá chai (Platycephalus spp.), cá bơn
(Psettodes erumei), cá đuối (Raja spp.). Nhóm này có mật độ cao nhất quanh vùng
cửa ba sông lớn trong mùa mưa khi nước ngọt đẩy mạnh phù sa và chất dinh
dưỡng ra vùng ven bờ.
Cá vùng khơi (chiếm ~40%): Các loài cá nổi di cư như cá ngừ vằn
(Katsuwonus pelamis), cá thu (Scomberomorus spp.), cá nục (Decapterus spp.),
cá trích (Sardinella spp.), cá hố (Trichiurus lepturus), cá bạc má (Rastrelliger
kanagurta) là những đối tượng khai thác quan trọng của nghề lưới vây và lưới kéo
(Viện Nghiên cứu Hải sản, 2020).
101
Bảng 4.2. Danh mục các loài cá tiêu biểu
STT
Tên Việt
Nam
Tên khoa học
Họ
Sinh cảnh
chính
Giá trị
kinh tế
Tnh
trạng
bảo tồn
1
Cá đù đỏ
Sciaenops
ocellatus
Sciaenidae
Cửa sông,
ven bờ
Cao
LC
(IUCN)
2
Cá mòi cờ
hoa
Clupanodon
thrissa
Clupeidae
Cửa sông
Cao
NT
3
Cá hố
Trichiurus
lepturus
Trichiuridae
Ven bờ –
khơi
Trung
bình
LC
4
Cá thu
chấm
Scomberomors
guttatus
Scombridae
Khơi
Cao
NT
5
Cá nục sò
Decapterus
maruadsi
Carangidae
Ven bờ –
khơi
Cao
LC
6
Cá bạc má
Rastrelliger
kanagurta
Scombridae
Khơi
Cao
LC
7
Cá ngát
Plotosus canius
Plotosidae
Cửa sông
Trung
bình
LC
8
Cá chẽm
Lates calcarifer
Latidae
Cửa sông,
lợ
Cao
LC
9
Cá đuối
bồng
Himantura
uarnak
Dasyatidae
Đáy ven bờ
Trung
bình
VU
(IUCN)
10
Cá mập
đầu búa
Sphyrna lewini
Sphyrnidae
Khơi
Thấp/KT
EN
(IUCN)
11
Cá chai
Platycephalus
indicus
Platycephalida
e
Đáy ven bờ
Trung
bình
LC
12
Cá trác
cam
Priacanthus
hamrur
Priacanthidae
Ven bờ
Trung
bình
LC
Nguồn: Viện Nghiên cứu Hải sản (2020); IUCN Red List (2023)
Ghi chú: LC = Least Concern; NT = Near Threatened; VU = Vulnerable; EN =
Endangered.
Cá đù đỏ (Sciaenops ocellatus)
Cá mòi cờ hoa (Clupanodon thrissa)
102
Cá nục sò (Decapterus maruadsi)
Cá chai (Platycephalus indicus)
Cá trác cam (Priacanthus hamrur)
Cá đuối bồng (Himantura uarnak)
Hnh 4.3. Hình ảnh một số loài cá tiêu biểu
b. Nhóm giáp xác (Crustacea):
Giáp xác là nhóm có giá trị kinh tế hàng đầu của vùng biển thuộc thành phố
Cần Thơ. Đã ghi nhận khoảng 80 – 120 loài thuộc các bộ Mười chân (Decapoda),
giáp xác chân chèo (Copepoda) và nhiều nhóm khác. Các đối tượng quan trọng
bao gồm:
- Tôm sú (Penaeus monodon): Loài nuôi trồng và khai thác chủ lực, phân bố
chủ yếu vùng ven bờ và cửa sông, nơi có độ muối 15–25‰.
- Tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei): Loài nhập nội, hiện là đối
tượng nuôi trồng chủ yếu, cũng xuất hiện ở vùng tự nhiên.
- Tôm đất (Metapenaeus ensis): Phổ biến vùng cửa sông và bãi triều, khai
thác bằng nghề lú, đáy cạn.
- Tôm ch (Metapenaeus brevicornis): Loài tôm nhỏ, phổ biến ven bờ.
- Cua biển (Scylla serrata, S. tranquebarica, S. paramamosain): Ba loài cua
biển quan trọng, phân bố trong rừng ngập mặn và vùng bãi triều, có giá trị kinh tế
và xuất khẩu rất cao.
103
- Ghẹ xanh (Portunus pelagicus): Loài giáp xác bơi lội tự do, phân bố rộng
từ ven bờ đến khơi.
Bảng 4.3. Danh mục loài giáp xác tiêu biểu
STT
Tên Việt
Nam
Tên khoa học
Sinh cảnh
Giá trị
KT
Tnh
trạng
1
Tôm sú
Penaeus monodon
Ven bờ, cửa
sông
Rất cao
NT
(IUCN)
2
Tôm thẻ chân
trắng
Litopenaeus vannamei
Ven bờ (nuôi)
Rất cao
NT
3
Tôm đất
Metapenaeus ensis
Cửa sông, bãi
triều
Cao
LC
4
Tôm chì
Metapenaeus
brevicornis
Ven bờ
Trung
bình
LC
5
Cua biển
Scylla serrata
RNM, bãi
triều
Rất cao
LC
6
Ghẹ xanh
Portunus pelagicus
Ven bờ –
khơi
Cao
LC
7
Tôm tít
Harpiosquilla harpax
Đáy bùn ven
bờ
Trung
bình
LC
8
Tôm vỗ
Metapenaeopsis
palmensis
Đáy ven bờ
Thấp
LC
Nguồn: Bộ NN&PTNT (2021); Viện Nghiên cứu Hải sản (2020)
Tôm sú (Penaeus monodon)
Tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus
vannamei)
Tôm đất (Metapenaeus ensis)
Tôm tít (Harpiosquilla harpax)
104
Tôm vỗ (Metapenaeopsis palmensis)
Tôm chì (Metapenaeus brevicornis)
Cua biển (Scylla serrata)
Ghẹ xanh (Portunus pelagicus)
Hnh 4.4. Hnh ảnh một số loài giáp xác tiêu biểu
c. Nhóm nhuyễn thể (Mollusca):
Nhóm nhuyễn thể tại vùng biển thuộc thành phố Cần Thơ ghi nhận khoảng
150 – 200 loài, trong đó nhiều loài có giá trị kinh tế và sinh thái cao. Đặc biệt, các
bãi triều là nơi tập trung của các loài hai mảnh vỏ (Bivalvia) quan trọng:
- Nghêu Bến Tre (Meretrix lyrata): Loài nhuyễn thể hai mảnh vỏ có sản
lượng khai thác lớn nhất khu vực ĐBSCL, phân bố trên các bãi cát – bùn ven biển
thuộc khu vực tỉnh Sóc Trăng (trước sáp nhập) và các tỉnh lân cận. Đây là loài có
giá trị xuất khẩu quan trọng, đặc biệt sang thị trường EU, Nhật Bản, Hàn Quốc.
- Sò huyết (Tegillarca granosa): Phổ biến trên các bãi triều lầy và vùng rừng
ngập mặn.
- Hàu cửa sông (Crassostrea lugubris, C. rivularis): Gắn liền với các cấu trúc
cứng ở vùng cửa sông và ven bờ.
- Điệp quạt (Chlamys nobilis): Phân bố vùng ven bờ có chất đáy cát sạch.
- Mực nang (Sepia spp.) và mực ống (Loligo spp.): Hai nhóm đầu túc
(Cephalopoda) quan trọng về kinh tế.
105
Bảng 4.4. Danh mục loài nhuyễn thể tiêu biểu
STT
Tên Việt
Nam
Tên khoa học
Sinh cảnh
Giá trị
KT
Tình trạng
1
Nghêu Bến
Tre
Meretrix lyrata
Bãi triều cát
– bùn
Rất cao
Chưa đánh giá
đầy đủ
2
Sò huyết
Tegillarca
granosa
Bãi triều lầy
Cao
NT (IUCN)
3
Hàu cửa
sông
Crassostrea
lugubris
Cửa sông
Cao
LC
4
Điệp quạt
Chlamys nobilis
Ven bờ, đáy
cát
Trung
bình
LC
5
Mực nang
vân hổ
Sepia pharaonis
Ven bờ
Cao
LC
6
Mực ống
trắng
Uroteuthis
chinensis
Ven bờ –
khơi
Cao
LC
7
Ốc hương
Babylonia
areolata
Đáy cát ven
bờ
Rất cao
LC
8
Bạch tuộc
Octopus vulgaris
Đáy cứng
Trung
bình
LC
Nguồn: Viện Nghiên cứu Hải sản (2020); IUCN Red List (2023).
Nghêu Bến Tre (Meretrix lyrata)
Sò huyết (Tegillarca granosa)
Hào cửa sông (Crassostrea lugubri)
Điệp quạt (Chlamys nobilis)
106
Mực nang vân hổ (Sepia pharaonis)
Mực ống trắng (Uroteuthis chinensis)
Ốc hương (Babylonia areolata)
Bạch tuộc (Octopus vulgaris)
Hnh 4.5. Một số loài nhuyển thể tiêu biểu
d. Thực vật thủy sinh (Thực vật phù du và Macroalgae):
Thực vật phù du (phytoplankton) tại vùng biển thuộc thành phố Cần Thơ
được ghi nhận với khoảng 150 – 200 loài thuộc các ngành tảo Silic
(Bacillariophyta), tảo Hai roi (Dinoflagellata), tảo Lam (Cyanophyta) và tảo Lục
(Chlorophyta). Trong đó, tảo Silic chiếm ưu thế về số lượng loài và sinh khối, đặc
biệt vào đầu mùa khô và giai đoạn chuyển mùa khi nước biển trong hơn và ánh
sáng dồi dào. Mật độ tế bào thực vật phù du dao động từ 10⁴ đến 10⁶ tế bào/lít ở
vùng cửa sông giàu dinh dưỡng (Viện Hải dương học, 2018).
Rong biển và cỏ biển: Vùng ven bờ ghi nhận một số loài cỏ biển (Halophila
ovalis, Thalassia hemprichii) ở dạng thảm rải rác dưới chân triều thấp. Thảm cỏ
biển tuy không tập trung thành quần xã lớn như ở Phú Quốc hay Côn Đảo nhưng
vẫn có chức năng sinh thái quan trọng là nơi ươm dưỡng của các loài giáp xác
nhỏ và cá con.
Hnh 4.6. Rong biển và cỏ biển
107
4.2.2. Phân loại theo giá trị bảo tồn và kinh tế
a. Loài có giá trị kinh tế cao:
Theo thống kê của ngành thủy sản tỉnh Sóc Trăng (trước sáp nhập), khoảng
50 – 70 loài trong tổng số thành phần loài ghi nhận được là đối tượng khai thác
và nuôi trồng có giá trị kinh tế cao, bao gồm: tôm sú, tôm thẻ chân trắng, cua biển,
ghẹ xanh, nghêu, sò huyết, ốc hương, mực ống, mực nang, cá thu, cá nục, cá bạc
má, cá chẽm và cá mòi (Sở NN&PTNT Sóc Trăng, 2022).
b. Loài quý hiếm, nguy cấp:
Kết quả tổng hợp từ các nguồn tài liệu chuyên ngành, cơ sở dữ liệu bảo tồn
quốc gia và quốc tế, các công trình nghiên cứu khoa học và kết quả khảo sát tại
khu vực ven biển Đồng bằng sông Cửu Long cho thấy vùng biển thành phố Cần
Thơ là nơi phân bố hoặc có khả năng xuất hiện của nhiều loài thủy sinh quý, hiếm
có giá trị bảo tồn cao. Các loài này thuộc nhiều nhóm phân loại khác nhau như
rùa biển, cá xương, cá sụn, giáp xác cổ đại và thú biển; trong đó có nhiều loài
được xếp hạng nguy cấp, cực kỳ nguy cấp trong Danh lục Đỏ của Liên minh Bảo
tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN), Sách Đỏ Việt Nam, đồng thời được bảo vệ theo
Công ước CITES và các quy định của pháp luật Việt Nam.
Sự hiện diện của các loài quý, hiếm phản ánh giá trị đa dạng sinh học và vai
trò sinh thái quan trọng của hệ sinh thái biển, ven biển và cửa sông trong khu vực.
Danh mục các loài thủy sinh quý, hiếm được tổng hợp tại bảng bên dưới.
Bảng 4.5. Loài quý hiếm, nguy cấp ghi nhận tại vùng biển Cần Thơ và vùng
lân cận
STT
Tên phổ
thông
Tên khoa học
Nhóm
phân
loại
Tình
trạng
bảo tồn
Căn cứ bảo
vệ
Sinh cảnh,
phân bố
1
Vích
(Rùa
xanh
biển)
Chelonia mydas
Rùa
biển
EN
(IUCN);
EN (Sách
Đỏ Việt
Nam
2007)
CITES Phụ
lục I; NĐ
37/2024/NĐ-
CP; NĐ
64/2019/NĐ-
CP
Vùng biển ven
bờ, cửa sông, bãi
cát ven biển; ghi
nhận 03 cá thể
tại cửa biển Trần
Đề năm 2023.
2
Đồi mồi
Eretmochelys
imbricata
Rùa
biển
CR
(IUCN);
CR (Sách
Đỏ Việt
Nam
2007)
CITES Phụ
lục I; NĐ
37/2024/NĐ-
CP; NĐ
64/2019/NĐ-
CP
Phân bố vùng
biển phía Nam
Việt Nam; kiếm
ăn tại vùng ven
biển ĐBSCL.
3
Đồi mồi
dứa
Lepidochelys
olivacea
Rùa
biển
VU
(IUCN);
EN (Sách
Đỏ Việt
Nam
2007)
CITES Phụ
lục I; NĐ
37/2024/NĐ-
CP; NĐ
64/2019/NĐ-
CP
Vùng biển ven
bờ và vùng nước
mở nhiệt đới;
phân bố xác lập
tại vùng biển
Nam Bộ.
108
STT
Tên phổ
thông
Tên khoa học
Nhóm
phân
loại
Tình
trạng
bảo tồn
Căn cứ bảo
vệ
Sinh cảnh,
phân bố
4
Cá ngựa
đen
Hippocampus
kuda
Cá
xương
VU
(IUCN);
EN (Sách
Đỏ Việt
Nam
2007)
CITES Phụ
lục II; NĐ
26/2019/NĐ-
CP
Cửa sông, rừng
ngập mặn, thảm
cỏ biển; sinh
cảnh phù hợp tại
Cù Lao Dung và
Long Phú.
5
Cá ngựa
gai
Hippocampus
spinosissimus
Cá
xương
VU
(IUCN);
VU (Sách
Đỏ Việt
Nam
2007)
CITES Phụ
lục II; NĐ
26/2019/NĐ-
CP
Vùng biển ven
bờ, đáy bùn cát,
thảm cỏ biển;
phân bố rộng tại
vùng biển Nam
Bộ.
6
Cá mập
đầu búa
hình vỏ
sò
Sphyrna lewini
Cá sụn
CR
(IUCN)
CITES Phụ
lục II; Nhóm
I - NĐ
26/2019/NĐ-
CP
Phân bố tại vùng
biển nhiệt đới
Đông Nam Á; có
khả năng xuất
hiện tại vùng
biển Nam Bộ.
7
Cá đuối
nạng
(nhóm
Mobula
spp.)
Mobula spp.
Cá sụn
VU - EN
(IUCN)
CITES Phụ
lục II; Nhóm
I - NĐ
26/2019/NĐ-
CP
Vùng biển mở
và ven bờ nhiệt
đới; phân bố tại
vùng biển phía
Nam Việt Nam.
8
Sam ba
gai
Tachypleus
tridentatus
Giáp
xác cổ
đại
VU
(IUCN);
EN (Sách
Đỏ Việt
Nam
2007)
Sách Đỏ Việt
Nam 2007
Bãi triều bùn cát,
cửa sông nước lợ
- mặn; sinh cảnh
phù hợp tại khu
vực ven biển
Cần Thơ
9
Sam
đuôi tròn
(So biển)
Carcinoscorpius
rotundicauda
Giáp
xác cổ
đại
DD
(IUCN);
EN (Sách
Đỏ Việt
Nam
2007)
Sách Đỏ Việt
Nam 2007
Bãi triều bùn
mềm, rừng ngập
mặn, cửa sông;
phân bố tại vùng
ven biển Việt
Nam.
10
Cá heo
lưng gù
Ấn Độ -
Thái
Bình
Dương
Sousa chinensis
Thú
biển
VU
(IUCN)
Sách Đỏ Việt
Nam 2007;
NĐ
26/2019/NĐ-
CP
Vùng cửa sông
lớn, vùng biển
ven bờ nông;
sinh cảnh phù
hợp tại khu vực
cửa Định An và
Mỹ Thanh.
Nguồn: Tổng hợp từ Danh lục Đỏ IUCN, Sách Đỏ Việt Nam (2007), Công ước
CITES, Nghị định số 26/2019/NĐ-CP, Nghị định số 37/2024/NĐ-CP và các kết quả
nghiên cứu, khảo sát về đa dạng sinh học vùng biển Sóc Trăng và Đồng bằng sông Cửu
Long giai đoạn 2018–2025.
109
Dưới đây là hình ảnh về một số loài quý hiếm, nguy cấp:
Rùa xanh (Chelonia mydas)
Đồi mồi (Eretmochelys imbricata)
Đồi mồi dứa (Lepidochelys olivacea)
Cá ngựa đen (Hippocampus kuda)
Cá ngựa gai (Hippocampus spinosissimus)
110
Cá mập đầu búa hình vỏ sò (Sphyrna
lewini)
Sam ba gai (Tachypleus tridentatus)
So biển (Carcinoscorpius rotundicauda)
Cá heo bứu (Sousa chinensis)
4.2.3. Vùng phân bố
Vùng cửa sông (0 – 3 km từ bờ):
Đây là vùng có tính biến động cao nhất về độ muối, nhiệt độ, độ đục và lưu
tốc dòng chảy. Thành phần loài ít đa dạng hơn nhưng mật độ cá thể của một số
loài thích nghi đặc biệt rất cao. Các loài ưu thế bao gồm cá ngát (Plotosus canius),
cá chẽm (Lates calcarifer), cá thát lát (Notopterus notopterus) ở tầng nước ngọt –
lợ; tôm đất, tôm chì và ghẹ xanh con ở bãi nền. Đây là vùng bãi đẻ quan trọng của
nhiều loài tôm biển và là vùng ươm dưỡng ấu trùng của tôm sú tự nhiên (Viện
Nghiên cứu Hải sản, 2019).
Vùng ven bờ (3 – 20 hải lý):
Vùng này có chất đáy biển chủ yếu là bùn mềm đến bùn cát, thích hợp cho
các loài đáy như cá đù, cá bơn, tôm tít, nghêu, sò. Tầng nước giữa là nơi tập trung
của các đàn cá nổi nhỏ (cá trích, cá nục, cá bạc má). Độ sâu phổ biến 5–30 m.
Năng suất khai thác cao nhất tập trung tại vùng này, chiếm khoảng 60–70% tổng
sản lượng khai thác biển của tỉnh (Sở NN&PTNT Sóc Trăng, 2022).
111
Vùng xa bờ (>20 hải lý):
Độ sâu từ 30 – 100 m, chất đáy cát bùn đến cát. Đây là vùng phân bố của
các loài cá nổi lớn di cư (cá thu, cá ngừ, cá cờ) và một số loài giáp xác xa bờ.
Các tàu có công suất lớn hoạt động nghề lưới vây, câu cá ngừ tại vùng này (Bộ
NN&PTNT, 2022).
Ngoài ra, theo nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Hải sản (2019, 2020) xác
định có một số khu vực bãi đẻ và bãi giống quan trọng:
- Cửa Trần Đề – Định An: Bãi giống và bãi đẻ của tôm sú, ghẹ xanh, cua
biển và một số loài cá đáy
- Bãi triều Vĩnh Châu: Bãi giống nghêu, bãi ươm của ấu trùng giáp xác nhỏ.
- Vùng nước ven biển Cù Lao Dung: Khu vực ươm dưỡng ấu trùng cá và tôm,
có rừng ngập mặn che phủ
Mùa sinh sản của các loài chính: Tôm sú sinh sản từ tháng 3 – tháng 7, ấu
trùng tập trung cao nhất ở vùng cửa sông vào tháng 4 – 6. Cá chẽm sinh sản vào
đầu mùa mưa (tháng 5 – 6). Nghêu đẻ rải rác quanh năm, cao điểm vào mùa khô.
Cua biển sinh sản chủ yếu từ tháng 7 – tháng 10 (Nguyễn Văn Hảo, 2005; Viện
Nghiên cứu Hải sản, 2019).
4.3. HIỆN TRẠNG NGUỒN LỢI THỦY HẢI SẢN
Vùng biển thành phố Cần Thơ là khu vực chuyển tiếp giữa môi trường nước
ngọt, nước lợ và nước mặn, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của nhiều hệ
sinh thái thủy sinh và nguồn lợi thủy hải sản phong phú. Kết quả điều tra cho thấy
khu vực biển và ven biển có khoảng 661 loài cá, 35 loài tôm, trong đó có nhiều
loài có giá trị kinh tế cao như tôm sú, tôm thẻ chân trắng, tôm hùm, tôm rồng; 23
loài mực thuộc các nhóm mực nang, mực ống và mực sim, cùng nhiều loài cua,
ghẹ và động vật thân mềm khác. Nguồn lợi thủy sản phong phú đã tạo nền tảng
quan trọng cho phát triển kinh tế biển, đảm bảo sinh kế cho cộng đồng ngư dân
ven biển và đóng góp đáng kể vào tăng trưởng kinh tế địa phương.
Thủy sản tiếp tục là một trong những ngành kinh tế quan trọng của thành
phố, trong đó khai thác thủy sản biển giữ vai trò chủ đạo. Sản lượng khai thác
thủy sản giai đoạn 2021 – 2025 được trình bày tại bảng bên dưới.
Bảng 4.6. Sản lượng khai thác thủy sản giai đoạn 2021 – 2025
Năm
Khai thác biển (tấn)
Khai thác nội địa (tấn)
2021
63.161
5.221
2022
56.407
5.466
2023
59.815
12.253
2024
56.315,8
11.952,1
2025
60.000
-
Nguồn: Tổng hợp từ các báo cáo của Chi cục Thủy sản tỉnh Sóc Trăng (2021,
2023, 2024); Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Sóc Trăng (2022); Chi cục Thủy sản
và Kiểm ngư thành phố Cần Thơ (2025)
112
Trong giai đoạn 2021 – 2025, sản lượng khai thác biển duy trì ở mức tương đối
cao, dao động từ khoảng 56.000 – 63.000 tấn/năm. Tuy nhiên, xét theo xu hướng dài
hạn, sản lượng khai thác biển có dấu hiệu giảm so với đầu giai đoạn. Năm 2021, sản
lượng khai thác biển đạt 63.161 tấn; đến năm 2024 giảm còn 56.315,8 tấn, tương ứng
giảm khoảng 10,8%. Mặc dù sản lượng năm 2025 được ước đạt khoảng 60.000 tấn,
nhưng mức phục hồi chưa đáng kể so với giai đoạn trước.
Xu hướng suy giảm sản lượng khai thác biển phản ánh những biến động của
nguồn lợi thủy sản tự nhiên dưới tác động tổng hợp của nhiều yếu tố. Cường lực
khai thác duy trì ở mức cao trong thời gian dài, đặc biệt tại các vùng biển ven bờ,
đã làm gia tăng áp lực lên các quần đàn thủy sản có giá trị kinh tế. Bên cạnh đó,
biến đổi khí hậu, hiện tượng nước biển dâng, thay đổi chế độ thủy văn cửa sông,
suy giảm chất lượng môi trường sống và sự biến động của nguồn thức ăn tự nhiên
cũng ảnh hưởng đến khả năng tái tạo nguồn lợi thủy sản.
Đối với khai thác thủy sản nội địa, sản lượng có xu hướng tăng trong giai
đoạn gần đây. Từ mức 5.221 tấn năm 2021, sản lượng khai thác nội địa tăng lên
trên 12.000 tấn vào các năm 2023 – 2024. Kết quả này cho thấy vai trò ngày càng
quan trọng của các hệ sinh thái sông, kênh, rạch và vùng ngập nước trong việc
cung cấp nguồn lợi thủy sản phục vụ nhu cầu sinh kế của người dân. Tuy nhiên,
sự gia tăng sản lượng khai thác nội địa cũng đặt ra yêu cầu tăng cường quản lý,
bảo vệ các thủy vực tự nhiên nhằm bảo đảm khai thác bền vững và duy trì khả
năng phục hồi của nguồn lợi thủy sản.
Trước những áp lực ngày càng gia tăng đối với nguồn lợi thủy sản tự nhiên,
địa phương đã triển khai nhiều hoạt động tái tạo và phục hồi nguồn lợi thủy sản.
Trong giai đoạn 2021 – 2025, toàn vùng đã thực hiện thả trên 12 triệu con tôm sú
giống và khoảng 500 nghìn con cua giống ra môi trường biển, đồng thời bổ sung
nhiều loài cá bản địa vào các thủy vực nội đồng nhằm phục hồi quần đàn thủy
sinh tự nhiên. Riêng năm 2023, địa phương đã tổ chức 04 đợt thả giống với tổng
số trên 4,5 triệu con giống các loại; năm 2024 tiếp tục thả hơn 2 triệu con tôm sú
giống ra vùng biển ven bờ. (Nguồn: Tổng hợp từ các báo cáo của Chi cục Thủy
sản tỉnh Sóc Trăng (2021, 2023, 2024); Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Sóc Trăng
(2022); Chi cục Thủy sản và Kiểm ngư thành phố Cần Thơ (2025)).
Song song với hoạt động tái tạo nguồn lợi, công tác bảo vệ hệ sinh thái thủy
sinh và quản lý nguồn lợi thủy sản tiếp tục được triển khai thông qua các mô hình
quản lý dựa vào cộng đồng. Tại khu vực ven biển, địa phương duy trì hoạt động
của Ban đại diện 05 Nhóm Đồng quản lý nghề cá ven bờ tại các địa bàn Trần Đề,
Cù Lao Dung và Vĩnh Châu. Các nhóm đồng quản lý thường xuyên phối hợp với
cơ quan chuyên môn trong việc theo dõi tình hình khai thác, tuyên truyền nâng
cao nhận thức cộng đồng, giám sát hoạt động khai thác thủy sản và tham gia bảo
vệ nguồn lợi thủy sản tại các vùng biển ven bờ. Việc duy trì mô hình đồng quản
lý đã góp phần tăng cường vai trò của cộng đồng địa phương trong công tác bảo
tồn nguồn lợi thủy sản, đồng thời hỗ trợ giảm thiểu các hoạt động khai thác có
nguy cơ gây suy giảm nguồn lợi và tác động đến hệ sinh thái biển.
113
Tuy nhiên, công tác khoanh vùng bảo vệ hệ sinh thái thủy sinh hiện còn có
sự khác biệt giữa khu vực ven biển và khu vực nội địa. Trong khi mô hình đồng
quản lý nghề cá ven bờ đã được duy trì và phát huy hiệu quả tại nhiều địa phương
ven biển, việc triển khai xây dựng các khu bảo tồn vùng nước nội địa vẫn gặp
nhiều khó khăn và chưa thể thực hiện theo kế hoạch. Nguyên nhân chủ yếu xuất
phát từ sự chồng lấn giữa các quy hoạch ngành, quy hoạch sử dụng đất và quy
hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, gây khó khăn trong việc xác định
phạm vi bảo vệ, cơ chế quản lý và bố trí nguồn lực đầu tư. Điều này cho thấy công
tác bảo tồn hệ sinh thái thủy sinh nội địa vẫn còn nhiều hạn chế và cần được tiếp
tục nghiên cứu, hoàn thiện trong thời gian tới.
Nhìn chung, nguồn lợi thủy hải sản của thành phố Cần Thơ vẫn duy trì được
tính đa dạng sinh học tương đối cao và tiếp tục giữ vai trò quan trọng đối với phát
triển kinh tế biển cũng như sinh kế của cộng đồng ven biển. Tuy nhiên, xu hướng
giảm sản lượng khai thác biển trong giai đoạn 2021 – 2025 cho thấy nguồn lợi
thủy sản tự nhiên đang chịu tác động tổng hợp của nhiều yếu tố như điều kiện thời
tiết, biến đổi khí hậu, thay đổi môi trường sống, cường lực khai thác và các yếu
tố kinh tế - xã hội. Mặc dù địa phương đã triển khai nhiều hoạt động tái tạo nguồn
lợi và phát huy hiệu quả mô hình đồng quản lý nghề cá ven bờ, vẫn cần tiếp tục
tăng cường công tác điều tra, quan trắc, bảo vệ và phục hồi nguồn lợi thủy sản
nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, bảo đảm khai thác và sử dụng bền vững trong
thời gian tới.
4.4. CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN ĐA DẠNG SINH HỌC
4.4.1. Biến đổi khí hậu
Biến đổi khí hậu là một trong những yếu tố tác động mạnh mẽ đến đa dạng
sinh học và nguồn lợi thủy sản vùng biển, ven biển thành phố Cần Thơ. Sự gia
tăng nhiệt độ nước biển, thay đổi chế độ mưa, gia tăng tần suất và cường độ các
hiện tượng thời tiết cực đoan đang làm thay đổi điều kiện sinh sống của nhiều loài
sinh vật biển. Theo IPCC (2021), nhiệt độ nước biển tại khu vực Biển Đông có xu
hướng tăng khoảng 0,2 – 0,4°C mỗi thập kỷ, ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng,
sinh sản, phân bố và khả năng thích nghi của các loài thủy sinh vật.
Bên cạnh đó, nước biển dâng làm gia tăng nguy cơ ngập thường xuyên đối
với các khu vực bãi triều, cửa sông và rừng ngập mặn ven biển. Sự thay đổi điều
kiện thủy văn và môi trường sống có thể làm thu hẹp diện tích sinh cảnh tự nhiên,
ảnh hưởng đến nơi cư trú, sinh sản và kiếm ăn của nhiều loài thủy sinh vật. Đối
với khu vực ven biển thành phố Cần Thơ, biến đổi khí hậu còn góp phần làm gia
tăng tình trạng xói lở bờ biển, suy giảm bồi tụ và gia tăng mức độ tổn thương của
các hệ sinh thái ven biển.
4.4.2. Xâm nhập mặn
Xâm nhập mặn có xu hướng gia tăng do tác động tổng hợp của biến đổi khí
hậu, nước biển dâng và sự suy giảm dòng chảy từ thượng nguồn sông Mê Kông.
Ranh giới mặn – ngọt ngày càng dịch chuyển sâu vào nội đồng, làm thay đổi đặc
điểm môi trường sống của các hệ sinh thái cửa sông và ven biển.
114
Sự thay đổi độ mặn ảnh hưởng trực tiếp đến thành phần loài và cấu trúc quần
xã sinh vật, đặc biệt là các loài cá nước ngọt, cá nước lợ, động vật đáy và các loài
thực vật thủy sinh. Đồng thời, hiện tượng này cũng tác động đến chu kỳ sinh
trưởng, sinh sản và di cư của nhiều loài thủy sinh vật, làm thay đổi nguồn thức ăn
tự nhiên và ảnh hưởng đến năng suất sinh học của các thủy vực ven biển.
4.4.3. Thay đổi dòng chảy và phù sa
Nguồn phù sa từ hệ thống sông Mê Kông có vai trò quan trọng trong việc
duy trì năng suất sinh học, bồi đắp bãi triều và hình thành các sinh cảnh đặc trưng
vùng cửa sông, ven biển. Tuy nhiên, việc xây dựng các công trình thủy điện trên
thượng nguồn cùng với những thay đổi về chế độ dòng chảy đã làm suy giảm đáng
kể lượng phù sa vận chuyển về Đồng bằng sông Cửu Long.
Sự suy giảm phù sa không chỉ làm giảm nguồn dinh dưỡng tự nhiên mà còn
góp phần gia tăng xói lở bờ biển, thu hẹp diện tích bãi bồi và làm suy giảm chất
lượng sinh cảnh của nhiều loài thủy sinh vật đáy. Điều này ảnh hưởng trực tiếp
đến khả năng tái tạo nguồn lợi thủy sản và làm giảm năng suất sinh học của các
hệ sinh thái ven biển.
4.4.4. Suy thoái và thu hẹp sinh cảnh ven biển
Các hệ sinh thái rừng ngập mặn, bãi bồi ven biển và vùng cửa sông là những
sinh cảnh quan trọng đối với đa dạng sinh học biển, đồng thời đóng vai trò là nơi
sinh sản, cư trú, kiếm ăn và ươm giống tự nhiên của nhiều loài thủy sinh vật có
giá trị kinh tế.
Tuy nhiên, quá trình phát triển kinh tế - xã hội, mở rộng nuôi trồng thủy sản,
xây dựng hạ tầng và tác động của xói lở bờ biển đã làm suy giảm hoặc thu hẹp
một số khu vực sinh cảnh tự nhiên. Sự suy thoái các hệ sinh thái quan trọng này
làm giảm khả năng cung cấp nơi cư trú, nguồn thức ăn và điều kiện sinh sản cho
nhiều loài sinh vật, từ đó ảnh hưởng đến tính đa dạng sinh học và khả năng phục
hồi của nguồn lợi thủy sản tự nhiên.
4.4.5. Tác động từ hoạt động khai thác thủy sản
Hoạt động khai thác thủy sản là nguồn sinh kế quan trọng của cộng đồng ven
biển nhưng cũng là một trong những áp lực lớn đối với đa dạng sinh học và nguồn
lợi thủy sản. Việc khai thác kéo dài với cường độ cao, đặc biệt tại các khu vực
ven bờ, cửa sông và bãi giống, bãi đẻ đã làm suy giảm trữ lượng nguồn lợi tự
nhiên và làm thay đổi cấu trúc quần xã sinh vật.
Một số nghề khai thác có tính chọn lọc thấp như lưới kéo đáy có thể tác động
tiêu cực đến hệ sinh thái đáy biển do khai thác cả các loài phi mục tiêu, cá con và
các giai đoạn non của nhiều loài thủy sản. Ngoài ra, việc sử dụng các hình thức
khai thác mang tính hủy diệt như xung điện, hóa chất hoặc ngư cụ bị cấm (mặc
dù đã giảm đáng kể) vẫn tiềm ẩn nguy cơ gây suy giảm đa dạng sinh học và ảnh
hưởng đến khả năng tái tạo nguồn lợi thủy sản.
115
4.4.6. Ô nhiễm môi trường biển:
Ô nhiễm môi trường biển là một trong những nguyên nhân quan trọng gây
suy giảm đa dạng sinh học và chất lượng sinh cảnh ven biển. Các nguồn ô nhiễm
chủ yếu bao gồm nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp, nước thải từ hoạt
động nuôi trồng thủy sản, chất thải rắn sinh hoạt, rác thải nhựa và các hoạt động
giao thông đường thủy.
Sự gia tăng hàm lượng chất hữu cơ, chất dinh dưỡng (nitơ, photpho) và các
chất ô nhiễm khác trong môi trường nước có thể dẫn đến hiện tượng phú dưỡng
hóa, suy giảm hàm lượng oxy hòa tan và ảnh hưởng đến sức khỏe của các quần
xã sinh vật thủy sinh. Bên cạnh đó, rác thải nhựa và vi nhựa có thể gây tổn thương
trực tiếp cho sinh vật biển hoặc xâm nhập vào chuỗi thức ăn, làm gia tăng các rủi
ro đối với đa dạng sinh học và hệ sinh thái biển. Các sự cố ô nhiễm cục bộ từ hoạt
động vận tải biển, cảng biển hoặc nuôi trồng thủy sản cũng có thể gây ảnh hưởng
tiêu cực đến môi trường sống của các loài sinh vật ven biển.
Nhìn chung, đa dạng sinh học và nguồn lợi thủy sản vùng biển, ven biển
thành phố Cần Thơ đang chịu tác động tổng hợp của cả các yếu tố tự nhiên và
hoạt động nhân sinh. Những tác động này không chỉ làm suy giảm chất lượng sinh
cảnh và nguồn lợi thủy sản mà còn ảnh hưởng đến khả năng phục hồi của các hệ
sinh thái ven biển. Do đó, việc tăng cường bảo tồn đa dạng sinh học, phục hồi hệ
sinh thái tự nhiên, kiểm soát ô nhiễm và khai thác hợp lý nguồn lợi thủy sản là
những yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm phát triển kinh tế biển bền vững trong thời
gian tới.
116
CHƯƠNG 5. QUẢN LÝ RÁC THẢI ĐẠI DƯƠNG
Hiện nay, chưa có các nghiên cứu hoặc đánh giá mang tính toàn diện về tải
lượng rác thải phát sinh và xả trực tiếp ra môi trường biển trên địa bàn. Phần lớn
các nghiên cứu hiện có chủ yếu tập trung vào việc phân tích tải lượng chất thải
rắn sinh hoạt hoặc xem xét riêng lẻ theo từng ngành, từng hoạt động phát sinh,
với phạm vi và thời điểm nghiên cứu còn hạn chế, do đó chưa phản ánh đầy đủ
bức tranh tổng thể cho toàn vùng ven biển của thành phố Cần Thơ. Báo cáo này
tiếp cận theo hướng đánh giá định tính kết hợp bán định lượng, dựa trên các tiêu
chí như quy mô phát sinh, mức độ ảnh hưởng, đặc trưng thành phần chất thải và
cơ chế phát tán. Mặc dù chưa thể lượng hóa chi tiết tải lượng chất thải cho từng
nhóm nguồn, cách tiếp cận này vẫn cho phép nhận diện tương đối đầy đủ các
nguồn thải chính, xu hướng phát sinh và các nguy cơ tiềm ẩn đối với môi trường
nước và trầm tích biển ven bờ. Các nhóm nguồn thải chính được xem xét trong
báo cáo bao gồm hoạt động sinh hoạt dân cư; hoạt động khai thác và nuôi trồng
thủy sản; hoạt động du lịch ven biển; cùng với các nguồn liên quan khác. Chuỗi
số liệu sử dụng trong báo cáo từ năm 2021 đến năm 2025, do đó tên một số địa
danh vẫn theo tên gọi cũ (trừ số liệu thống kê do theo quy định, số liệu niên giám
thống kê có độ trễ 01 năm).
5.1. KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH CÔNG TÁC QUẢN LÝ RÁC THẢI ĐẠI
DƯƠNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Với đặc điểm nằm ở hạ lưu sông Hậu với hệ thống sông ngòi, kênh rạch dày
đặc kết hợp 72 km đường bờ biển (phân bố dọc theo 06 xã, phường: Cù Lao Dung,
Trần Đề, Vĩnh Hải, Vĩnh Châu, Vĩnh Phước, Lai Hòa), tạo điều kiện thuận lợi cho
phát triển kinh tế biển, giao thông thủy và nuôi trồng thủy sản, đồng thời cũng đặt
ra thách thức lớn trong công tác quản lý môi trường. Đặc biệt, mạng lưới sông
ngòi liên thông trực tiếp với Biển Đông làm gia tăng nguy cơ phát tán chất thải
rắn từ đất liền ra môi trường biển, nhất là rác thải nhựa. Các hoạt động sinh hoạt,
sản xuất, dịch vụ và nuôi trồng thủy sản nếu không được kiểm soát hiệu quả sẽ
góp phần làm gia tăng tải lượng ô nhiễm, ảnh hưởng đến hệ sinh thái thủy sinh và
môi trường biển ven bờ. Do đó, công tác quản lý rác thải trên sông, kênh, rạch
được xác định là một nội dung trọng tâm trong kiểm soát rác thải đại dương từ
nguồn nội địa.
Theo số liệu từ Báo cáo công tác bảo vệ môi trường năm 2025 của thành phố
Cần Thơ, tổng khối lượng CTRSH được thu gom và xử lý trên địa bàn thành phố
là 520.736,8 tấn, tương đương khoảng 1.712,95 tấn/ngày. Trong thời gian qua,
công tác thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn thành
phố đã được tổ chức tương đối đồng bộ. Tỷ lệ thu gom chất thải rắn sinh hoạt tại
khu vực đô thị đạt mức cao (khoảng 96,76%), trong khi khu vực nông thôn từng
117
bước được cải thiện. Hệ thống thu gom chủ yếu được thực hiện thông qua 19 đơn
vị thu gom, vận chuyển và 5 cơ sở xử lý tập trung kết hợp với khoảng 30 bãi rác
quy mô nhỏ (1 - 2 ha) phân bố rải rác. Theo kết quả phỏng vấn và thu thập thông
tin từ các xã, phường ven biển trên địa bàn, hiện nay các đơn vị chủ lực đảm nhận
thu gom, vận chuyển tại các khu vực ven biển như: Công ty cổ phần công trình
đô thị Sóc Trăng, Công ty TNHH MTV Công trình đô thị Vĩnh Châu, Công ty
TNHH xây dựng Huỳnh Khánh Toàn (xã Cù Lao Dung),…
Tuy nhiên, tại các khu vực ven sông, kênh, rạch, bến thủy nội địa, chợ nổi
và khu dân cư phân tán ven biển, công tác thu gom còn gặp khó khăn do đặc thù
địa hình ở một số khu vực ven biển xa, nơi thói quen xả thẳng hoặc tự đốt vẫn
còn. Bên cạnh đó một lượng rác chưa được thu gom hoặc tồn đọng tại các điểm
tập kết tự phát, rất dễ bị cuốn trôi theo hệ thông sông ngòi làm gia tăng nguy cơ
phát tán ra môi trường biển thông qua hệ thống dòng chảy và xuất hiện tình trạng
tích tụ rác tại các khu vực ven kênh, sông và bờ biển rất phổ biến nhất là khi mưa
lớn hoặc triều cường cao.
Kết quả khảo sát cộng đồng được thực hiện với 120 phiếu điều tra hộ
dân/hộ đánh bắt và 30 cơ sở kinh doanh tại các khu vực ven biển (ấp Cảng – xã
Trần Đề; Vĩnh An, Cà Lăng B – phường Vĩnh Châu; ấp Mỹ Thanh – xã Vĩnh
Hải; khu vực Tân Nam – xã Vĩnh Phước; ấp Xung Tham B – xã Lai Hòa; ấp
Nguyễn Tăng – xã Cù Lao Dung) cho thấy, 57,9% người được hỏi nhận định
chất lượng môi trường biển đã “xấu đi” trong 5 năm gần đây, trong khi chỉ 10,9%
cho rằng có cải thiện, phản ánh xu hướng suy giảm rõ rệt về chất lượng môi
trường. Đồng thời, trên 74% người dân thường xuyên quan sát thấy rác nổi trên
sông, kênh rạch và biển, cho thấy tình trạng ô nhiễm rác thải là hiện tượng phổ
biến và dễ nhận diện trong thực tế.
Công tác thu gom rác tại sông, kênh, rạch được ưu tiên nhằm ngăn chặn rác
phát tán ra biển. Thành phố duy trì định kỳ các chương trình ra quân thu gom rác
thải, vớt rác nổi và phát quang bờ sông. Điểm nổi bật của giai đoạn này là sự
chuyển mình rõ nét từ quản lý truyền thống sang mô hình tích hợp công nghệ hiện
đại, hợp tác quốc tế và sự tham gia của cộng đồng, được triển khai đồng bộ trên
địa bàn thành phố.
Một trong những dự án tiêu biểu là Interceptor 003 (tên gọi René) do Tổ
chức The Ocean Cleanup (Hà Lan) triển khai trên sông Cần Thơ, hợp tác với Công
ty Coca-Cola Việt Nam, Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố Cần Thơ (trước
đây là Sở Tài nguyên và Môi trường) và hỗ trợ của UNDP. Hệ thống được hạ thủy
thử nghiệm tháng 12/2021, chính thức vận hành từ tháng 4/2022. Đây là hệ thống
thu gom rác tự động thế hệ thứ hai, vận hành bằng năng lượng mặt trời, với công
suất thiết kế tối đa 50 tấn/ngày. Theo báo cáo của UNDP (2026), lũy kế đến năm
2025, hệ thống đã thu gom 244,8 tấn rác thải nổi, trong đó khoảng 60% là rác hữu
cơ và lục bình, 20 - 25% là rác nhựa (UNDP, 2026; The Ocean Cleanup, 2025).
118
Đồng thời, năm 2024, thành phố triển khai thí điểm dự án Clear Rivers
(Recycled Island Foundation - Hà Lan) với khoản viện trợ 122.000 USD. Dự án
lắp đặt bẫy rác thụ động (Litter Trap) trên rạch Cái Khế (quận Ninh Kiều trước sáp
nhập), thu gom trung bình ~28,23 kg nhựa/ngày, kết hợp mô hình tái chế cộng đồng
và giám sát AI-CCTV (Nguyen Truong Thanh et al., 2025; VietnamPlus, 2024).
Trên các khu vực ven biển như xã Trần Đề, phường Vĩnh Châu còn triển
khai các giải pháp chuyên biệt gắn với ngành nuôi trồng thủy sản. Nổi bật là dự
án “Establishing a sustainable, efficient, and scalable system for collecting and
converting used pond liners” (2024, hợp tác với Dow), tập trung thu gom và tái
chế lưới lót ao nuôi tôm – một nguồn rác nhựa lớn đặc thù của vùng. Bên cạnh
đó, dự án “Protecting the marine environment and coral reefs” (gọi tắt là
3RproMar) do GIZ hỗ trợ đã được mở rộng, nhằm giảm thiểu ô nhiễm nhựa từ
nuôi trồng thủy sản và rác xuyên biên giới từ thượng nguồn sông Mê Kông.
Tổng thể, giai đoạn 2021 - 2025 đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong quản
lý rác thải đại dương tại Cần Thơ. Việc ứng dụng giải pháp công nghệ cao
(Interceptor 003, Clear Rivers) kết hợp các dự án điểm (Dow, 3RproMar) đã hình
thành được một hệ thống quản lý sơ bộ, tương đối hiện đại và phù hợp với đặc thù
địa phương, giúp giảm thiểu một phần nguy cơ rác phát tán ra biển. Tuy nhiên,
các dự án chỉ đang ở giai đoạn tạo nền tản quan trọng về công nghệ và mô hình
quản lý, để đạt hiệu quả thực chất, cần chuyển từ thí điểm sang triển khai đồng bộ
trên diện rộng, gắn với tăng cường nguồn lực và hoàn thiện cơ chế quản lý phù
hợp với điều kiện địa phương.
Ngoài các dự án tiêu biểu được thực hiện trên địa bàn, các chương trình tuyên
truyền chống rác thải nhựa trên địa bàn cũng triển khai song song (như ngày “Chủ
nhật xanh”, phong trào “Nói không với bao bì nylon”, triển khai giảm nhựa trong
trường học, cơ quan…) góp phần nâng cao nhận thức của cộng đồng, tiêu biểu là
phản ánh qua tỷ lệ người được hỏi sẵn sàng tham gia làm sạch môi trường đạt
93,3%. Bên cạnh đó, UBND thành phố cũng phát động chương trình phân loại tại
nguồn (mục tiêu 70% hộ gia đình đến 2030) và phát động phong trào chống rác
thải nhựa (giảm 70% sản phẩm nhựa dùng một lần). Tuy nhiên, tính đến nay chỉ
26,9% hộ dân khảo sát thực hiện phân loại chất thải tại nguồn và có 21,8% người
dân biết rõ quy định xử phạt xả thải xuống sông, biển, phần đông người được hỏi
chỉ nghe qua nhưng chưa rõ chiếm 54,6%. Từ đó cho thấy công tác tuyên truyền,
phổ biến pháp luật đã bước đầu tác động tích cực đến nhận thức của người dân,
thể hiện qua sự quan tâm và sẵn sàng tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường.
Tuy nhiên, việc chuyển hóa nhận thức thành hành vi cụ thể vẫn còn hạn chế, cho
thấy đây là quá trình lâu dài, đòi hỏi phải được duy trì thường xuyên, liên tục và
gắn với các biện pháp quản lý, giám sát hiệu quả.
119
5.2. QUẢN LÝ RÁC THẢI ĐẠI DƯƠNG
5.2.1. Các nguồn phát sinh rác thải đại dương
Sau khi sắp xếp đơn vị hành chính, thành phố Cần Thơ có 103 đơn vị hành
chính cấp xã, gồm 31 phường và 72 xã. Trong đó, có 06 đơn vị hành chính giáp
biển gồm: xã Cù Lao Dung, xã Trần Đề, xã Vĩnh Hải, phường Vĩnh Châu, phường
Vĩnh Phước và xã Lai Hòa, với tổng chiều dài đường bờ biển khoảng 72 km, tiếp
giáp Biển Đông. Khu vực ven biển có đặc trưng địa hình điển hình của vùng Đồng
bằng sông Cửu Long, bao gồm các cửa sông lớn (Trần Đề, Định An, Mỹ Thanh),
bãi triều thấp và đai rừng ngập mặn mỏng.
Với đặc điểm tự nhiên nêu trên, khu vực ven biển không chỉ đóng vai trò là
vùng chuyển tiếp giữa lục địa và đại dương mà còn là vùng tiếp nhận và tích tụ
rác thải từ nhiều nguồn khác nhau. Rác thải có thể được vận chuyển từ nội đồng
thông qua hệ thống sông, kênh rạch đồng thời chịu ảnh hưởng của rác trôi dạt từ
ngoài khơi vào theo chế độ sóng, gió và dòng chảy biển.
Xét về nguồn phát sinh, rác thải đại dương trên địa bàn chủ yếu bao gồm: (i)
sinh hoạt dân cư ven biển; (ii) hoạt động nuôi trồng thủy sản; (iii) khai thác thủy
sản; (iv) hoạt động du lịch ven biển; và (v) dòng chảy từ hệ thống kênh rạch nội
đồng. Các nguồn này phát sinh đa dạng các loại chất thải, trong đó rác thải nhựa
chiếm tỷ lệ cao, với đặc tính nhẹ, khó phân hủy và dễ phát tán, dẫn đến khả năng
tồn lưu lâu dài trong môi trường.
a. Sinh hoạt dân cư ven biển:
Đây là nguồn phát sinh chiếm tỷ trọng lớn nhất, bao gồm các loại rác thải
sinh hoạt hàng ngày như chất thải hữu cơ (chiếm tỷ lệ lớn), nhựa có khả năng tái
chế, nhựa khó tái chế, thủy tinh, giấy, vải và một số thành phần khác. Trong đó,
chất thải nhựa chiếm tỷ lệ đáng kể, có đặc tính nhẹ, khó phân hủy và dễ bị cuốn
trôi theo dòng chảy ra sông, kênh rạch và cuối cùng là môi trường biển.
Hnh 5.1. Thành phần các loại chất thải rắn trên địa bàn các xã ven biển
64,9%
4,5%
5,3%
3,3%
3,6%
3,9%
14,5%
Rác hữu cơ
Rác nhựa có khả năng tái chế
Rác nhựa không có khả năng tái chế
Thuỷ tinh
Giấy
Vãĩ
Khác
120
Hiện nay, quy mô dân số của thành phố là 4.199.824 người, trong đó dân số
ven biển có 274.917 người chiếm 6,6% dân số toàn thành phố. Theo thống kê sơ
bộ, khối lượng CTRSH được thu gom xử lý 520.736,8 tấn, tương đương khoảng
1.712,95 tấn/ngày. Tỷ lệ thu gom chất thải rắn sinh hoạt tại khu vực đô thị đạt
mức cao (khoảng 96,76%), song tỷ lệ này giảm mạnh ở các xã ven biển và trên
các tàu cá (ước tính dưới 40 – 50%), như vậy còn khoảng 3,24 – 50% lượng CTR
thông thường phát sinh chưa được thu gom.
Bảng 5.1. Khối lượng CTRSH trên địa bàn các xã, phường ven biển
STT
Xã/Phường
Dân số
(người)
Định mức
(kg/người/ngày)
CTR sinh hoạt
(kg/ngày)
1
Vĩnh Châu
68.437
0,80
43.799,7
2
Vĩnh Phước
51.897
0,80
33.214,1
3
Cù Lao Dung
44.973
0,65
23.386,0
4
Vĩnh Hải
27.820
0,65
14.466,4
5
Trần Đề
52.771
0,65
27.440,9
6
Lai Hòa
29.019
0,65
15.089,9
TỔNG CỘNG
274.917
-
157.396,9
(Nguồn: Số liệu dân số từ Niên giám thống kê năm 2025)
Ghi chú: Định mức phát sinh chất thải rắn sinh hoạt tại khu vực nông thôn được
áp dụng theo hướng dẫn của Bộ Tài nguyên và Môi trường là 0,65 kg/người/ngày; đối
với khu vực đô thị loại V, áp dụng định mức 0,8 kg/người/ngày theo QCVN
01:2021/BXD.
Đáng chú ý, trên 80% số hộ được phỏng vấn ghi nhận tình trạng rác thải xuất
hiện trên biển với tần suất “thỉnh thoảng” đến “rất thường xuyên”, phản ánh mức
độ phổ biến và liên tục của hiện tượng ô nhiễm.
Biểu đồ 5.1. Mức độ xuất hiện rác thải trên biển qua khảo sát cộng đồng
ven biển
121
Kết quả khảo sát cho thấy các loại chất thải quan sát được trên mặt biển có
mức độ ghi nhận khác nhau. Trong đó, túi ni-lông được ghi nhận nhiều nhất với
82% số người được khảo sát lựa chọn; tiếp theo là vỏ chai nhựa (35%). Các loại
chất thải khác được ghi nhận với tỷ lệ thấp hơn, gồm rác sinh hoạt tổng hợp (23%)
và thực vật trôi nổi như lục bình, thân cây (20%). Xốp được ghi nhận ở mức 6%,
trong khi hiện tượng dầu loang chỉ được 1% số người khảo sát ghi nhận.
Biểu đồ 5.2. Tần suất ghi nhận các loại chất thải trên mặt biển
b. Hoạt động khai thác và nuôi trồng thủy hải sản:
Hoạt động khai thác và nuôi trồng thủy sản là một trong những nguồn phát
sinh chất thải đáng kể tại khu vực ven biển thành phố Cần Thơ. Tuy nhiên, mức
độ đóng góp vào rác thải đại dương giữa hai loại hình hoạt động có sự khác biệt
rõ rệt.
Đối với hoạt động khai thác thủy sản, chất thải phát sinh trực tiếp trên biển
bao gồm lưới hỏng, dây cước, phao xốp, bao bì vật tư, chai lọ nhựa và rác sinh
hoạt từ tàu cá. Các loại chất thải này có khả năng thất thoát trực tiếp ra môi trường
biển trong quá trình khai thác, neo đậu hoặc bốc dỡ thủy sản. Đặc biệt, ngư cụ bị
mất hoặc bị bỏ lại trên biển có thể tồn lưu lâu dài, tiếp tục gây tác động đến sinh
vật biển và được xem là một trong những nguồn phát sinh rác thải nhựa đại dương
quan trọng. Theo UNDP-MONRE (2023), rác thải từ hoạt động thủy sản, chủ yếu
là lưới nylon, dây cước và phao xốp, chiếm khoảng 20 – 30% tổng lượng rác thải
nhựa trên biển Việt Nam.
Tại khu vực cảng cá Trần Đề, lưu lượng tàu cá hoạt động và cập cảng lớn tạo
ra khối lượng đáng kể chất thải sinh hoạt, ngư lưới cụ hư hỏng, dây cước, lưới
nylon, bao bì vật tư và phụ phẩm thủy sản. Nếu không được thu gom, lưu giữ và
xử lý phù hợp, các loại chất thải này có thể phát tán theo hệ thống sông, cửa sông
ra biển, góp phần làm gia tăng áp lực rác thải biển và rác thải nhựa đại dương trên
địa bàn.
82%
35%
23%
20%
6%
1%
3%
0% 20% 40% 60% 80% 100%
Loại
Không có
Dầu loang
Xốp
Thực vật (lục bình, thân cây,...)
Rác sinh hoạt
Vỏ chai nhựa
Túi nilong
122
Đối với hoạt động nuôi trồng thủy sản, chất thải phát sinh chủ yếu gồm bao
bì thức ăn, bao bì thuốc thú y thủy sản, vật liệu nhựa như bạt HDPE, ống dẫn
nước, phao nổi và các thiết bị nuôi hư hỏng. Phần lớn các chất thải này phát sinh
tại các vùng nuôi trên đất liền hoặc khu vực ven biển như Vĩnh Châu, Vĩnh Hải
và Trần Đề. Do đó, đây không phải là nguồn phát sinh rác thải đại dương trực tiếp.
Tuy nhiên, trong trường hợp không được thu gom và quản lý phù hợp, các chất
thải nhựa này có thể theo hệ thống kênh rạch, sông ngòi và cửa sông phát tán ra
biển, trở thành nguồn đóng góp gián tiếp vào rác thải đại dương.
Hnh 5.2. Cảng biển Trần Đề
c. Hoạt động du lịch ven biển:
Hoạt động du lịch ven biển trên địa bàn thành phố Cần Thơ tập trung tại các
khu vực như Vĩnh Châu, Vĩnh Hải, Cù Lao Dung, đang có xu hướng phát triển
nhờ lợi thế cảnh quan hoang sơ, đường bờ biển dài và hệ sinh thái ven biển đặc
trưng. Các khu vực này thu hút du khách bởi sự kết hợp giữa biển, rừng ngập mặn
và văn hóa địa phương, kéo theo sự gia tăng các hoạt động dịch vụ ăn uống, nghỉ
dưỡng và vui chơi giải trí.
Hnh 5.3. Khu du lịch sinh thái Hồ Bể và Mỏ Ó
123
Tuy nhiên, đi kèm với sự gia tăng lượng khách du lịch là sự gia tăng đáng kể
chất thải phát sinh, chủ yếu từ các hoạt động tiêu dùng ngắn hạn tại bãi biển.
Thành phần chất thải đặc trưng bao gồm: nhựa dùng một lần (ly, hộp, ống hút),
chai nước, bao bì thực phẩm, túi ni-lông và rác thực phẩm. Đây đều là các loại
chất thải có đặc tính nhẹ, khó phân hủy và dễ phát tán.
Đặc điểm nổi bật của nguồn thải từ du lịch ven biển là tính thời vụ rõ rệt, tập
trung vào các dịp lễ, cuối tuần và mùa cao điểm du lịch, phân bố cục bộ tại bãi
biển và các quán ăn, nhưng dễ lan rộng do tác động của gió và thủy triều, khó
kiểm soát tức thời, do phụ thuộc nhiều vào ý thức du khách và năng lực thu gom
tại chỗ
Trong điều kiện hạ tầng thu gom còn hạn chế tại một số khu vực ven biển,
rác thải phát sinh từ du lịch nếu không được thu gom kịp thời sẽ nhanh chóng bị
cuốn trôi ra biển, đặc biệt trong các thời điểm triều cường hoặc mưa lớn. Ngoài
ra, hoạt động kinh doanh nhỏ lẻ ven biển (quán ăn, hàng rong) thường sử dụng
nhiều vật liệu nhựa dùng một lần, góp phần làm gia tăng tải lượng rác thải nhựa.
Mặc dù so với các nguồn như sinh hoạt dân cư hay thủy sản, quy mô phát
sinh từ du lịch có thể không lớn bằng, nhưng đây là nguồn có tính tập trung cao,
dễ gây ô nhiễm cục bộ và ảnh hưởng trực tiếp đến cảnh quan môi trường biển, từ
đó tác động tiêu cực đến chính hoạt động du lịch và hình ảnh địa phương.
d. Dòng chảy từ hệ thống kênh rạch nội đồng:
Kết quả tính toán cân bằng khối lượng cho thấy, tổng lượng chất thải rắn sinh
hoạt trên địa bàn các xã/phường ven biển ước tính là 219.933,6 kg/ngày, tương
đương khoảng 219,9 tấn/ngày. Tuy nhiên tỷ lệ thu gom theo mạng lưới ở các xã
ven biển và trên các tàu cá chỉ chiếm khoảng 50%, ước tính có khoảng 109,25
tấn/ngày có khả năng phát tán ra môi trường biển. Đáng chú ý, phần lớn lượng chất
thải này không phát sinh trực tiếp tại khu vực ven biển mà được vận chuyển từ nội
đồng thông qua hệ thống kênh rạch. Ước tính có khoảng 12% lượng chất thải (Báo
hiện trạng môi trường biển và hải đảo quốc gia, giai đoạn 2021 - 2025), tương
đương khoảng 13 tấn/ngày có khả năng theo dòng chảy kênh rạch ra biển. Như vậy,
xét trong tổng tải lượng rác thải ra biển, nguồn từ kênh rạch nội đồng giữ vai trò là
nguồn vận chuyển gián tiếp nhưng ổn định và liên tục.
Mặc dù tỷ trọng thấp hơn so với nguồn phát sinh trực tiếp tại khu vực ven
biển, nhưng do đặc tính phân tán rộng, khó kiểm soát và gia tăng mạnh theo mùa
mưa, nguồn thải từ hệ thống kênh rạch có ý nghĩa quan trọng trong tổng thể bài
toán quản lý rác thải đại dương. Đây được xem là mắt xích trung gian kết nối các
nguồn thải trên đất liền với môi trường biển, do đó cần được ưu tiên kiểm soát
thông qua các giải pháp ngăn chặn từ thượng nguồn và dọc theo tuyến kênh.
124
Nhìn chung, xét về mức độ tác động, nhóm nguồn từ sinh hoạt dân cư và
thủy sản đóng vai trò chủ đạo do phát sinh liên tục và trực tiếp tại khu vực ven
biển, hệ thống kênh rạch nội đồng giữ vai trò là tuyến vận chuyển trung gian, đưa
chất thải từ đất liền ra biển với quy mô ổn định theo thời gian. Các nguồn từ du
lịch ven biển và hoạt động cảng tuy có tính cục bộ hoặc thời vụ, nhưng lại có khả
năng gây ô nhiễm điểm, ảnh hưởng trực tiếp đến cảnh quan và chất lượng môi
trường ven bờ.
Hnh 5.4. Tổng quan nguồn phát sinh rác thải đại dương
5.2.2. Hiện trạng phân loại, thu gom, vận chuyển, xử lý
a. Tình hình thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt:
Trong thời gian qua, Sở Nông nghiệp và Môi trường đã phối hợp với các đơn
vị liên quan tăng cường công tác theo dõi, giám sát hoạt động thu gom, vận chuyển
và xử lý CTRSH trên địa bàn, qua đó góp phần hạn chế tình trạng tồn đọng, ùn ứ
rác thải tại các điểm tập kết tạm và điểm trung chuyển, đặc biệt tại khu vực các
phường trung tâm.
Theo Báo cáo công tác bảo vệ môi trường năm 2025, trên địa bàn thành phố
Cần Thơ, tỷ lệ thu gom CTRSH khu vực đô thị năm 2025 đạt khoảng 96,76%,
phản ánh hệ thống thu gom tại khu vực này cơ bản hoạt động hiệu quả. Tuy nhiên,
tại các xã ven biển và trên các tàu cá, tỷ lệ thu gom còn thấp, ước tính dưới 50%,
cho thấy sự chênh lệch đáng kể về mức độ tiếp cận dịch vụ môi trường giữa các
khu vực.
125
Hiện nay, hệ thống thu gom, vận chuyển CTRSH trên địa bàn chủ yếu được
thực hiện thông qua 19 đơn vị thu gom, vận chuyển và 05 cơ sở xử lý tập trung,
kết hợp với khoảng 30 bãi rác quy mô nhỏ (1 – 2 ha) phân bố rải rác. Mô hình
này bước đầu đáp ứng nhu cầu xử lý chất thải, tuy nhiên còn mang tính phân tán,
chưa đồng bộ, đặc biệt tại khu vực ven biển và nông thôn. Tại các xã, phường
ven biển, công tác thu gom chủ yếu do một số đơn vị đảm nhận theo phạm vi địa
bàn, cụ thể:
- Công ty Cổ phần công trình đô thị Sóc Trăng: Thực hiện thu gom tại một
phần địa bàn của phường Vĩnh Châu, xã Trần Đề.
- Công ty TNHH xây dựng Huỳnh Khánh Toàn: Thực hiện thu gom tại một
phần địa bàn xã Cù Lao Dung.
Đối với các khu vực nông thôn chưa có đơn vị tham gia đấu thầu hoặc nhận
đặt hàng dịch vụ, công tác thu gom chủ yếu do các tổ vệ sinh môi trường tự
phát đảm nhận, sau đó tập kết tại các điểm trung chuyển để đơn vị chức năng tiếp
nhận, vận chuyển và xử lý. Hình thức này tuy linh hoạt nhưng thiếu tính ổn định,
hiệu quả thu gom chưa cao và tiềm ẩn nguy cơ phát tán rác thải ra môi trường
xung quanh.
Bên cạnh đó, trên địa bàn thành phố cũng đã triển khai một số chương trình,
dự án thu gom rác nổi trên kênh rạch và khu vực cửa cống, góp phần kiểm soát
nguồn thải ngay từ các tuyến trung gian trước khi phát tán ra sông và biển. Các
hoạt động này chủ yếu tập trung tại các tuyến kênh chính, cửa xả và khu vực có
nguy cơ tích tụ rác cao, thông qua việc lắp đặt lưới chắn rác, bố trí nhân lực thu
gom thủ công kết hợp với phương tiện chuyên dụng. Một số dự án điển hình trên
địa bàn như sau:
Bảng 5.2. Một số chương trnh, dự án thu gom rác nổi trên kênh rạch và
khu vực cửa cống
Dự án
Thời
gian
Vị trí
chính
Công
nghệ/Đặc
điểm
Lượng thu
gom (đến
2025)
Thành phần
rác chính
Nguồn
trích dẫn
Interceptor
003
12/2021
đến nay
Sông
Cần Thơ
Tự động, năng
lượng mặt
trời, băng tải
244,8 tấn
Rác hữu cơ/lục
bình (~60%),
nhựa (~20-
25%)
UNDP
(2026)
Clear Rivers
Litter Trap
5/2024
đến
6/2025
Rạch Cái
Khế
Thụ động,
không nhiên
liệu, túi đựng
~28,23 kg
nhựa/ngày
Nhựa nổi, rác
sinh hoạt
VietnamPlu
s (2024)
Dự án Dow
(pond liners)
2024 đến
nay
Khu vực
ven biển
(Trần
Đề, Vĩnh
Châu)
Thu gom & tái
chế lưới lót ao
nuôi tôm
Tập trung
tái chế lưới
ao (chưa có
số liệu tổng)
Lưới lót ao,
bao bì thủy
sản
Dow & đối
tác (2024)
3RproMar
(GIZ)
2023 đến
nay
Toàn địa
bàn ven
biển
Giảm thiểu
nhựa từ nuôi
trồng thủy sản
Giảm ô
nhiễm nhựa
từ ao nuôi
Nhựa từ nuôi
trồng thủy
sản
GIZ (2024)
126
Nhìn chung, hệ thống thu gom chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn đã phát
huy hiệu quả tại khu vực đô thị với tỷ lệ thu gom cao và tương đối ổn định. Tuy
nhiên, khu vực ven biển vẫn là điểm nghẽn chính trong công tác quản lý chất thải
do hạ tầng thu gom còn hạn chế và phạm vi phục vụ chưa bao phủ đầy đủ, phụ
thuộc nhiều vào các tổ thu gom tự phát, dẫn đến hiệu quả thu gom chưa cao và
khó kiểm soát.
Đồng thời, việc triển khai các mô hình thu gom rác nổi bước đầu đã mang
lại hiệu quả tích cực trong việc giảm lượng rác trôi theo dòng chảy, cải thiện cảnh
quan môi trường và hạn chế tình trạng bồi lắng, tắc nghẽn dòng chảy tại các cửa
cống. Tuy nhiên, quy mô triển khai hiện nay còn hạn chế, chủ yếu mang tính cục
bộ, chưa bao phủ toàn bộ hệ thống kênh rạch, do đó hiệu quả kiểm soát tổng thể
vẫn chưa cao.
Tổng hợp các yếu tố trên cho thấy, tỷ lệ thu gom thấp tại khu vực ven biển,
kết hợp với hạn chế trong kiểm soát rác trên các tuyến kênh rạch trung gian, đã
và đang trở thành nguyên nhân trực tiếp làm gia tăng lượng rác thải phát tán ra
môi trường biển, góp phần làm trầm trọng thêm tình trạng ô nhiễm rác thải đại
dương trên địa bàn.
b. Tình hình xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại các xã, phường ven biển:
Tại các xã, phường ven biển, công tác xử lý chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH)
hiện nay được thực hiện theo hai hình thức chính: xử lý tập trung và lưu chứa tạm
thời tại các bãi rác địa phương.
Đối với các khu vực được thu gom bởi Công ty Cổ phần Công trình Đô thị
Sóc Trăng, chất thải sau thu gom được vận chuyển về Nhà máy xử lý chất thải
rắn thành phố Sóc Trăng để xử lý. Tại đây, CTRSH được xử lý bằng công nghệ
ủ phân compost với công suất khoảng 100 tấn rác hữu cơ/ngày, phần còn lại
được xử lý bằng phương pháp chôn lấp hợp vệ sinh với khối lượng khoảng 215
tấn/ngày. Mô hình này bước đầu góp phần giảm tải lượng rác thải phát sinh tại
khu vực ven biển và hạn chế phát tán ra môi trường.
Tuy nhiên, tại nhiều xã, phường ven biển chưa được thu gom đồng bộ,
các bãi rác lộ thiên vẫn tồn tại và chủ yếu đóng vai trò là điểm tập kết tạm thời.
Tại các điểm này, chính quyền địa phương định kỳ thực hiện các biện pháp như
phun xịt chế phẩm sinh học nhằm giảm mùi, kết hợp san ủi để tăng khả năng lưu
chứa. Mặc dù các biện pháp này giúp hạn chế một phần ô nhiễm thứ cấp, nhưng
về bản chất vẫn chưa phải là giải pháp xử lý triệt để.
Bên cạnh hệ thống thu gom và xử lý hiện có, tại khu vực nông thôn ven biển
vẫn tồn tại phổ biến các hình thức tự xử lý chất thải của người dân. Cụ thể, người
dân còn duy trì thói quen đốt rác tại chỗ hoặc xả trực tiếp xuống sông, kênh rạch,
đặc biệt tại các vùng nuôi tôm tập trung như Vĩnh Châu và Cù Lao Dung, nơi hạ
tầng thu gom còn hạn chế.
127
Kết quả khảo sát cho thấy, có đến 47,9% số hộ dân tự xử lý chất thải, trong
khi 1,7% thực hiện xả thải trực tiếp ra kênh, mương gần khu vực sinh sống. Tỷ lệ
này phản ánh mức độ phụ thuộc lớn vào các phương thức xử lý không chính thức,
đồng thời cho thấy khoảng trống đáng kể trong việc cung cấp dịch vụ thu gom,
vận chuyển CTRSH tại khu vực ven biển.
Biểu đồ 5.3. Tỷ lệ các phương thức xử lý CTRSH của hộ dân
Với hệ thống xử lý CTRSH đang sử dụng tại khu vực ven biển hiện phần lớn
phụ thuộc vào phương thức chôn lấp và các bãi tập kết tạm thời, tiềm ẩn nguy cơ
phát sinh ô nhiễm môi trường đất, nước và không khí, đặc biệt trong điều kiện
mưa lớn và triều cường. Đây cũng là một trong những nguyên nhân làm gia tăng
khả năng rò rỉ, phát tán rác thải ra hệ thống kênh rạch và môi trường biển nếu
không được kiểm soát chặt chẽ.
5.2.3. Các điểm nóng ô nhiễm rác thải biển
Trong bối cảnh áp lực gia tăng từ các nguồn thải trên đất liền và hoạt động
kinh tế ven biển, tình trạng ô nhiễm rác thải tại các khu vực cửa sông, bãi triều và
tuyến kênh rạch trên địa bàn thành phố Cần Thơ đang diễn biến ngày càng phức
tạp. Thực tế ghi nhận cho thấy nhiều tuyến kênh mương nội đồng đang phải tiếp
nhận tải lượng rác thải sinh hoạt lớn, dẫn đến ách tắc dòng chảy, suy giảm khả
năng tiêu thoát nước và phát sinh ô nhiễm cục bộ. Mặc dù đã triển khai các biện
pháp quản lý như lắp đặt biển cấm và tăng cường tuyên truyền, song tình trạng xả
rác không đúng quy định vẫn tiếp diễn, phản ánh hạn chế trong kiểm soát hành vi
và hạ tầng thu gom.
Ở quy mô rộng hơn, các nghiên cứu về rác thải biển tại Việt Nam cho thấy
phần lớn rác thải nhựa có nguồn gốc từ đất liền và được vận chuyển ra biển thông
qua hệ thống sông, kênh rạch, đóng vai trò là “hành lang vận chuyển” chính. Điều
này lý giải vì sao các khu vực cửa sông và ven bờ thường trở thành nơi tích tụ rác
với mật độ cao.
Theo kết quả khảo sát của Ngân hàng Thế giới sử dụng chỉ số bờ biển sạch
(CCI) cho thấy khu vực bãi biển xã Lai Hòa đạt giá trị CCI = 176, thuộc nhóm
“cực kỳ bẩn”, nằm trong nhóm các bãi biển ô nhiễm nghiêm trọng nhất trong số
các khu vực được khảo sát. Theo phương pháp đánh giá CCI, các giá trị cao phản
ánh mật độ rác lớn và mức độ ô nhiễm vượt ngưỡng cho phép.
128
Bên cạnh đó, từ hoạt động khảo sát thực địa, các khu vực điểm nóng chủ yếu
tập trung tại các vị trí giao thoa giữa nguồn phát sinh và dòng vận chuyển, nơi rác
thải có xu hướng tích tụ với mật độ cao. Điển hình ở một số điểm sau:
- Cửa sông Trần Đề: Là khu vực hội tụ rác từ hệ thống sông Hậu, kênh rạch
nội đồng và hoạt động cảng cá, tàu thuyền. Đây là điểm giao cắt của nhiều nguồn
thải, dẫn đến tải lượng rác lớn và đa dạng thành phần (nhựa, ngư cụ, rác sinh hoạt).
Hnh 5.5. Hiện trạng rác thải tại cửa sông Trần Đề
- Cửa Định An: Là cửa chính của hệ thống sông Cửu Long, tiếp nhận lượng
lớn chất thải trôi theo dòng chảy liên vùng. Đặc trưng của khu vực này là rác phân
tán rộng, chịu ảnh hưởng mạnh của thủy triều
Hnh 5.6. Hiện trạng rác thải tại cửa Định An
Khu vực bãi triều Vĩnh Châu (Lai Hòa, Vĩnh Hải): Là khu vực chịu tác
động tổng hợp từ nuôi trồng thủy sản, sinh hoạt dân cư và rác trôi dạt từ biển. Địa
hình bãi triều thấp khiến rác dễ bị giữ lại và tích tụ lâu dài.
129
Hnh 5.7. Hiện trạng rác thải tại khu vực bãi triều Vĩnh Châu
- Khu vực Cù Lao Dung: Là vùng có hoạt động nuôi trồng thủy sản phát
triển nhưng hạ tầng thu gom còn hạn chế. Rác phát sinh từ sinh hoạt và sản xuất
dễ bị cuốn trôi ra hệ thống sông và biển.
Hnh 5.8. Hiện trạng rác thải tại khu vực Cù Lao Dung
Tổng hợp các kết quả khảo sát, phân tích và đánh giá cho thấy tình trạng ô
nhiễm rác thải biển trên địa bàn thành phố Cần Thơ không phải là hiện tượng cục
bộ mà là hệ quả của quá trình tích tụ liên tục từ nhiều nguồn phát sinh khác nhau,
diễn ra trên toàn bộ không gian từ nội đồng đến ven biển. Các điểm nóng như
Vĩnh Châu, Trần Đề, Định An và Cù Lao Dung không chỉ là nơi phát sinh rác mà
chủ yếu là khu vực hội tụ cuối cùng của dòng vật chất, nơi rác thải từ sinh hoạt,
sản xuất và hệ thống kênh rạch được vận chuyển và tích tụ dưới tác động của dòng
chảy và thủy triều.
Trong đó, nguyên nhân cốt lõi làm gia tăng tải lượng rác thải ra ngoài môi
trường biển chủ yếu về hạ tầng thu gom tại khu vực ven biển, mô hình quản lý
còn phân tán, cùng với hành vi xả thải chưa được kiểm soát. Ô nhiễm rác thải đại
dương không chỉ là vấn đề của khu vực ven biển, mà là bài toán quản lý tổng hợp
liên vùng, đòi hỏi phải kiểm soát ngay từ đất liền, trên tuyến vận chuyển và tại
các điểm nóng tích tụ nếu muốn đạt hiệu quả thực chất và bền vững.
130
CHƯƠNG 6. TÁC ĐỘNG CỦA Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG BIỂN
6.1. TÁC ĐỘNG CỦA CÁC NGUỒN GÂY Ô NHIỄM ĐỐI VỚI MÔI
TRƯỜNG BIỂN VÀ VEN BIỂN
Vùng ven biển thành phố Cần Thơ là khu vực có ý nghĩa quan trọng đối với
phát triển kinh tế - xã hội, tập trung nhiều hoạt động nuôi trồng và khai thác thủy
sản, công nghiệp chế biến, logistics cảng biển, vận tải thủy, khai thác và sử dụng
tài nguyên biển. Đồng thời, đây cũng là nơi phân bố các hệ sinh thái đặc trưng
như rừng ngập mặn, bãi bồi triều và vùng cửa sông, có vai trò quan trọng trong
duy trì đa dạng sinh học, bảo vệ bờ biển, điều hòa các quá trình sinh thái và cung
cấp sinh kế cho cộng đồng dân cư ven biển.
Trong giai đoạn 2021 – 2025, cùng với quá trình phát triển kinh tế - xã hội,
môi trường biển và ven biển của thành phố tiếp tục chịu tác động từ nhiều nhóm
nguồn ô nhiễm khác nhau. Các nguồn thải phát sinh từ khu vực đất liền thông qua
hệ thống sông, kênh, rạch đổ ra biển; các hoạt động khai thác, sử dụng không gian
biển, giao thông hàng hải, cảng biển và logistics; cùng với sự gia tăng rác thải
nhựa đã và đang tạo áp lực lên chất lượng môi trường nước, trầm tích, hệ sinh thái
ven bờ và nguồn lợi thủy sản. Bên cạnh đó, quá trình phát triển các ngành kinh tế
mới như năng lượng tái tạo ven biển cũng đặt ra yêu cầu tăng cường quản lý và
giám sát nhằm hạn chế các tác động bất lợi đối với môi trường biển.
Ô nhiễm môi trường biển là kết quả tổng hợp của nhiều nguồn tác động phát
sinh từ cả đất liền và các hoạt động trên biển, trong đó mức độ ảnh hưởng phụ
thuộc vào quy mô nguồn thải, điều kiện lan truyền trong môi trường nước, khả
năng tự làm sạch của thủy vực cũng như hiệu quả quản lý, kiểm soát ô nhiễm.
Trên cơ sở phân tích nguồn gây tác động tại Chương 2, kết quả quan trắc môi
trường giai đoạn 2021 – 2025 và các thông tin, số liệu hiện có, các tác động đối
với môi trường biển và ven biển của thành phố được đánh giá theo ba nhóm nguồn
chính: (i) các nguồn ô nhiễm từ đất liền khu vực ven biển; (ii) các nguồn ô nhiễm
từ hoạt động kinh tế biển và ven biển; và (iii) ô nhiễm do rác thải nhựa trên biển.
6.1.1. Tác động của các nguồn ô nhiễm từ đất liền
Các nguồn ô nhiễm từ đất liền là nguyên nhân chủ yếu làm suy giảm chất
lượng môi trường biển trên phạm vi toàn cầu, ước tính chiếm khoảng 80% tổng
lượng chất ô nhiễm đổ ra đại dương (UNEP/GPA, 2006). Đối với thành phố Cần
Thơ, các nguồn ô nhiễm có khả năng tác động trực tiếp đến môi trường biển chủ
yếu phát sinh từ khu vực ven biển và lưu vực cửa sông, bao gồm nước thải sinh
hoạt, nước thải và chất thải từ hoạt động nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, các
khu công nghiệp, cụm công nghiệp, cơ sở chế biến thủy sản và hệ thống logistics
ven biển. Đặc điểm chung của nhóm nguồn này là các chất ô nhiễm được vận
chuyển theo hệ thống sông, kênh rạch và vùng cửa sông trước khi phát tán ra môi
trường biển, tạo ra tác động tích lũy đối với chất lượng nước, trầm tích, hệ sinh
thái và nguồn lợi thủy sản.
131
a. Biến đổi chất lượng môi trường nước biển ven bờ:
Nước thải sinh hoạt chưa được thu gom, xử lý triệt để tại các khu dân cư ven
biển tiếp tục là nguồn bổ sung đáng kể các chất hữu cơ, vi sinh vật gây bệnh và
chất dinh dưỡng vào hệ thống sông, kênh rạch. Khi theo dòng chảy đổ ra vùng
cửa sông và ven biển, các chất ô nhiễm này làm gia tăng hàm lượng BOD, COD,
nitơ và photpho, thúc đẩy quá trình phú dưỡng cục bộ, suy giảm hàm lượng oxy
hòa tan và ảnh hưởng đến chất lượng môi trường nước biển.
Hoạt động sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản tại khu vực ven biển
cũng góp phần làm gia tăng tải lượng chất ô nhiễm vào môi trường tiếp nhận.
Nước thải từ các vùng nuôi tôm thâm canh tại các địa phương ven biển chứa hàm
lượng chất hữu cơ, chất dinh dưỡng, chất rắn lơ lửng và dư lượng hóa chất, kháng
sinh tương đối cao. Kết quả quan trắc cho thấy tại một số thời điểm, nồng độ
amoni (NH₄⁺), photphat (PO₄³⁻), BOD và COD trong các kênh cấp, thoát nước và
khu vực ven biển có xu hướng gia tăng, nhiều thời điểm vượt giới hạn cho phép
của QCVN 10:2023/BTNMT. Sự tích tụ chất hữu cơ trong trầm tích tại khu vực
tiếp nhận nước thải làm hình thành các vùng yếm khí cục bộ, làm giảm hàm lượng
oxy hòa tan và gia tăng nguy cơ phát sinh dịch bệnh trên thủy sản nuôi.
Bên cạnh đó, hoạt động nạo vét ao nuôi, xả bùn đáy và dòng chảy cuốn trôi
đất canh tác làm gia tăng hàm lượng chất rắn lơ lửng (TSS), giảm khả năng xuyên
sáng của cột nước và ảnh hưởng đến quá trình quang hợp của thực vật phù du
cũng như thực vật đáy. Tại một số khu vực ven biển chịu ảnh hưởng của đất phèn,
nước thải mang theo sắt và nhôm hòa tan còn có thể làm giảm pH cục bộ, gây bất
lợi đối với các loài thủy sinh nhạy cảm.
Các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, cơ sở chế biến thủy sản và hệ thống
logistics ven biển cũng là những nguồn phát sinh chất ô nhiễm đáng chú ý. Hoạt
động chế biến thủy sản phát sinh nước thải có hàm lượng chất hữu cơ, chất rắn lơ
lửng, dầu mỡ, nitơ và photpho cao; nếu hệ thống xử lý nước thải vận hành không
ổn định hoặc xả thải không đạt quy chuẩn sẽ làm gia tăng BOD, COD, TSS và
chất dinh dưỡng tại nguồn tiếp nhận, góp phần gây suy giảm oxy hòa tan và phú
dưỡng cục bộ. Đồng thời, phụ phẩm chế biến, bùn thải và chất thải rắn công nghiệp
nếu không được thu gom, xử lý đúng quy định có thể phát sinh nước rỉ, mùi hôi
và gây ô nhiễm thứ cấp đối với môi trường đất, nước và vùng ven biển.
Cùng với quá trình phát triển Khu công nghiệp Trần Đề, Khu công nghiệp
Mỹ Thanh, các cụm công nghiệp chế biến thủy sản và hệ thống logistics ven biển,
quy mô phát sinh nước thải và chất thải dự báo sẽ tiếp tục gia tăng. Nếu hạ tầng
thu gom, xử lý nước thải tập trung, hệ thống quản lý chất thải và công tác giám
sát môi trường không được đầu tư đồng bộ, áp lực ô nhiễm tích lũy đối với hệ
thống sông, cửa sông và vùng biển ven bờ sẽ ngày càng lớn, làm gia tăng nguy cơ
suy giảm chất lượng môi trường nước và trầm tích.
132
b. Suy thoái hệ sinh thái ven bờ:
Sự gia tăng tải lượng chất hữu cơ và chất dinh dưỡng từ nước thải sinh hoạt,
nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và chế biến thủy sản đã góp phần thúc đẩy quá
trình phú dưỡng tại một số khu vực cửa sông và ven biển. Khi tảo phát triển quá
mức và phân hủy sẽ làm suy giảm oxy hòa tan, ảnh hưởng đến sinh vật đáy và các
loài nhuyễn thể có giá trị kinh tế như nghêu, sò huyết.
Dư lượng hóa chất, kháng sinh từ hoạt động nuôi trồng thủy sản có thể tồn
lưu trong trầm tích và tích lũy trong các loài nhuyễn thể, giáp xác sống đáy, gây
ảnh hưởng đến sức khỏe hệ sinh thái và làm gia tăng nguy cơ mất an toàn thực
phẩm. Một số lô hàng thủy sản của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long đã từng
bị cảnh báo hoặc từ chối tại các thị trường nhập khẩu do phát hiện dư lượng kháng
sinh vượt ngưỡng cho phép, ảnh hưởng đến uy tín và năng lực cạnh tranh của
ngành thủy sản (Bộ NN&PTNT, 2021).
Ngoài ra, việc chuyển đổi đất ven biển sang nuôi trồng thủy sản nếu thiếu
quy hoạch hợp lý cũng có thể làm thu hẹp diện tích rừng ngập mặn, giảm khả
năng bảo vệ bờ biển, suy giảm nơi cư trú, sinh sản và phát triển của nhiều loài
thủy sinh.
c. Tác động đến sức khỏe cộng đồng và sinh kế:
Ô nhiễm môi trường nước ven biển từ các nguồn phát sinh trên đất liền làm
gia tăng nguy cơ ô nhiễm vi sinh vật, đặc biệt là Coliform và các vi sinh vật gây
bệnh tại khu vực cửa sông, bãi triều và vùng ven biển, ảnh hưởng đến sức khỏe
cộng đồng thông qua các bệnh đường tiêu hóa, bệnh ngoài da và các bệnh truyền
nhiễm liên quan đến nguồn nước.
Việc sử dụng hóa chất và kháng sinh trong nuôi trồng thủy sản không đúng
quy định còn làm gia tăng nguy cơ tồn dư các chất độc hại trong thủy sản, thúc
đẩy hiện tượng kháng kháng sinh và ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm thủy
sản. Điều này không chỉ tác động đến sức khỏe người tiêu dùng mà còn ảnh hưởng
trực tiếp đến hoạt động sản xuất, xuất khẩu và sinh kế của cộng đồng ven biển.
Sự suy giảm chất lượng môi trường nước và hệ sinh thái vùng cửa sông cũng
làm giảm năng suất nuôi trồng thủy sản, gia tăng nguy cơ dịch bệnh và chi phí sản
xuất, qua đó ảnh hưởng đến thu nhập của người dân và tính bền vững của các mô
hình sinh kế phụ thuộc vào tài nguyên ven biển.
6.1.2. Tác động của các nguồn ô nhiễm từ hoạt động kinh tế biển và ven biển
Nguồn phát sinh và đặc tính của các nhóm nguồn ô nhiễm từ hoạt động kinh
tế biển và ven biển, bao gồm khai thác thủy sản, hoạt động hàng hải, cảng biển,
logistics và khai thác, sử dụng không gian biển đã được trình bày tại Chương 2.
Trong mục này, báo cáo tập trung đánh giá các tác động của các hoạt động này
đối với chất lượng môi trường nước, hệ sinh thái ven bờ, sức khỏe cộng đồng và
sinh kế người dân.
133
a. Biến đổi chất lượng môi trường nước biển ven bờ:
Không giống các nguồn ô nhiễm từ đất liền thường tập trung tại các điểm xả,
các nguồn ô nhiễm phát sinh từ hoạt động trên biển và ven biển có tính phân tán,
chịu ảnh hưởng mạnh của dòng chảy, sóng và thủy triều, làm cho chất ô nhiễm dễ
lan truyền trên phạm vi rộng và tích lũy trong môi trường nước, trầm tích ven bờ.
Hoạt động khai thác thủy sản và giao thông hàng hải làm gia tăng nguy cơ
phát sinh dầu mỡ, nhiên liệu rò rỉ, nước dằn tàu, nước la canh, chất thải sinh hoạt
từ tàu và các sự cố tràn dầu. Các chất ô nhiễm này có khả năng hình thành màng
dầu trên mặt nước, làm giảm khả năng trao đổi oxy giữa nước và khí quyển, ảnh
hưởng đến chất lượng nước biển và môi trường sống của các loài thủy sinh.
Tuyến hàng hải qua cửa Định An và cửa Trần Đề có mật độ tàu thuyền lưu
thông lớn, tiềm ẩn nguy cơ sự cố dầu loang và xả nước dằn tàu không đúng quy
định. Thực tế, vùng biển Nam Bộ đã từng ghi nhận các vệt dầu loang trôi dạt vào
bờ từ nguồn không xác định, gây ô nhiễm cục bộ khu vực rừng ngập mặn ven cửa
sông (Cục Kiểm soát ô nhiễm, Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2018). Đây là nguy
cơ thường trực cần được kiểm soát trong bối cảnh lưu lượng tàu thuyền và hoạt
động vận tải biển dự báo tiếp tục gia tăng.
Đối với hệ thống cảng biển và logistics ven biển, các hoạt động bốc xếp hàng
hóa, neo đậu tàu thuyền, bảo dưỡng phương tiện, nạo vét luồng hàng hải và lưu
giữ nhiên liệu có thể làm phát sinh dầu mỡ, chất thải từ tàu, nước dằn tàu và bùn
nạo vét. Nếu không được quản lý theo đúng quy định, các nguồn thải này có thể
gây suy giảm chất lượng nước biển, ô nhiễm trầm tích, ảnh hưởng đến sinh vật
đáy, nguồn lợi thủy sản và chức năng sinh thái của vùng cửa sông, ven biển.
Đối với các dự án điện gió ven biển và ngoài khơi, tác động đến môi trường
nước chủ yếu phát sinh trong giai đoạn thi công. Hoạt động đóng cọc móng, nạo
vét cục bộ, vận chuyển vật liệu và lắp đặt thiết bị có thể làm gia tăng độ đục của
nước, phát tán trầm tích và gây tiếng ồn dưới nước, ảnh hưởng cục bộ đến sinh
vật đáy và các loài thủy sinh. Trong giai đoạn vận hành, các dự án điện gió hầu
như không phát sinh nước thải hoặc khí thải đáng kể; tuy nhiên vẫn cần giám sát
nguy cơ rò rỉ dầu bôi trơn, tiếng ồn dưới nước và các tác động đối với giao thông
hàng hải cũng như hoạt động khai thác thủy sản.
b. Suy thoái các hệ sinh thái ven bờ:
Hoạt động khai thác thủy sản với cường độ cao, đặc biệt tại khu vực ven bờ
và cửa sông, làm gia tăng áp lực lên nguồn lợi thủy sản và các hệ sinh thái tự
nhiên. Việc sử dụng một số ngư cụ có tính hủy diệt hoặc khai thác không đúng
quy định có thể gây tổn thương nền đáy, làm suy giảm nơi cư trú, sinh sản và ươm
giống tự nhiên của nhiều loài thủy sinh.
134
Sự gia tăng lưu lượng tàu thuyền và hoạt động hàng hải cũng làm gia tăng
nguy cơ tác động đến các hệ sinh thái nhạy cảm như rừng ngập mặn, bãi triều và
vùng cửa sông thông qua dầu mỡ, chất thải từ tàu, tiếng ồn dưới nước và nguy cơ
xảy ra sự cố môi trường. Khi xảy ra sự cố dầu tràn, lớp dầu phủ trên bề mặt nước
có thể làm giảm khả năng quang hợp, gây chết cục bộ sinh vật phù du, động vật
đáy và ảnh hưởng trực tiếp đến rừng ngập mặn ven biển.
Đối với các dự án điện gió ngoài khơi, trong giai đoạn thi công, tiếng ồn từ
hoạt động đóng cọc và sự gia tăng độ đục của nước có thể ảnh hưởng cục bộ đến
tập tính di cư, sinh sản và kiếm ăn của cá và các loài thủy sinh. Tuy nhiên, các tác
động này chủ yếu mang tính cục bộ và ngắn hạn nếu áp dụng đầy đủ các biện pháp
giảm thiểu trong quá trình thi công.
c. Tác động đến sức khỏe cộng đồng và sinh kế:
Suy giảm chất lượng môi trường biển và nguồn lợi thủy sản làm giảm hiệu
quả khai thác, buộc ngư dân phải mở rộng ngư trường hoặc kéo dài thời gian đánh
bắt, dẫn đến chi phí sản xuất tăng trong khi sản lượng khai thác có xu hướng giảm.
Điều này làm gia tăng tính dễ bị tổn thương về sinh kế của cộng đồng ngư dân
ven biển.
Các sự cố ô nhiễm dầu, sự cố hàng hải hoặc ô nhiễm cục bộ tại khu vực cảng
biển có thể làm gián đoạn hoạt động khai thác, nuôi trồng thủy sản và dịch vụ hậu
cần nghề cá, đồng thời ảnh hưởng đến chất lượng hải sản và thu nhập của người
dân. Bên cạnh đó, việc mở rộng các công trình sử dụng không gian biển như cảng
biển, luồng tàu và điện gió ngoài khơi cũng có thể làm thay đổi phạm vi hoạt động
khai thác truyền thống của ngư dân, làm phát sinh xung đột trong sử dụng không
gian biển nếu thiếu cơ chế quản lý và điều phối phù hợp.
6.1.3. Tác động của ô nhiễm từ rác thải nhựa
Nguồn phát sinh, khối lượng, thực trạng thu gom và các điểm nóng ô nhiễm
rác thải đại dương trên địa bàn thành phố đã được phân tích chi tiết tại Chương 5.
Phần này tập trung đánh giá các tác động thực tế của ô nhiễm rác thải nhựa đối
với môi trường biển, hệ sinh thái và hoạt động kinh tế ven bờ.
Không giống các dạng ô nhiễm hữu cơ có thể bị phân hủy sinh học theo thời
gian, rác thải nhựa tồn lưu trong môi trường biển hàng trăm năm và tác động lên
hệ sinh thái theo nhiều cơ chế khác nhau, từ vật lý, hóa học đến sinh thái học.
Tác động vật lý lên sinh vật biển và hệ sinh thái ven bờ: Rác thải nhựa kích
thước lớn – đặc biệt là lưới nylon, dây cước và phao xốp bỏ đi từ hoạt động khai
thác thủy sản – tạo thành bẫy vô hình dưới nước, làm chết ngạt và gây thương tích
cho các loài chim biển, rùa biển và động vật biển có vú khi chúng bị vướng vào
ngư cụ ma (ghost gear). Tại các bãi triều Vĩnh Châu và Cù Lao Dung, quan sát
thực địa ghi nhận ngư cụ bỏ đi bị cuốn vào đai rừng ngập mặn, làm gãy cành,
hỏng rễ và ức chế sự tái sinh của cây con trong các khu vực phục hồi rừng.
135
Rác thải nhựa tích tụ trên bề mặt trầm tích bãi triều làm thay đổi các tính chất
vật lý của nền đáy, bao gồm độ dẫn nhiệt, khả năng giữ ẩm và độ thoáng khí, từ
đó ảnh hưởng đến quá trình sinh sản và phát triển của sinh vật đáy là nhóm sinh
vật giữ vai trò nền tảng trong chuỗi thức ăn ven bờ.
Tác động hóa học qua con đường vi nhựa: Khi nhựa phân rã dưới tác động
của bức xạ UV, sóng và ma sát cơ học, chúng tạo ra vi nhựa (microplastics, kích
thước dưới 5 mm) – dạng ô nhiễm tiềm ẩn nguy cơ cao nhất và khó kiểm soát
nhất. Kết quả nghiên cứu tại vùng biển ĐBSCL ghi nhận mật độ vi nhựa trong
nước biển ven bờ đạt 2,1 – 8,7 hạt/m³ và trong trầm tích ven bờ lên đến 247 –
1.850 hạt/kg khô (Nguyen et al., 2020). Vi nhựa có khả năng hấp phụ các chất ô
nhiễm hữu cơ bền vững (POPs) và kim loại nặng trên bề mặt với nồng độ cao gấp
nhiều lần môi trường xung quanh, trở thành vectơ vận chuyển và cô đặc hóa chất
độc hại trong hệ sinh thái biển (GESAMP, 2016).
Sinh vật phù du và nhuyễn thể lọc nước (nghêu, hàu, sò) nhầm vi nhựa với
thức ăn tự nhiên do kích thước và màu sắc tương đồng. Khi vi nhựa được tiêu thụ
bởi các sinh vật bậc thấp, chúng tích lũy sinh học và khuếch đại sinh học qua các
bậc dinh dưỡng cao hơn – dẫn đến nồng độ vi nhựa và chất độc đi kèm trong cá,
tôm ven bờ có thể cao gấp nhiều lần so với môi trường nước. Đây là con đường
mà ô nhiễm vi nhựa từ môi trường biển xâm nhập trực tiếp vào chuỗi thực phẩm
của con người, đặc biệt nguy hiểm đối với người dân ven biển có thói quen tiêu
thụ hải sản địa phương hàng ngày.
Tác động đến sản xuất thủy sản và xuất khẩu: Sự hiện diện của vi nhựa và
các chất phụ gia nhựa độc hại (chất hóa dẻo phthalate, bisphenol A) trong môi
trường nuôi trồng thủy sản đã được ghi nhận là nguyên nhân gây ảnh hưởng đến
hành vi, tốc độ tăng trưởng và khả năng sinh sản của tôm, cá nuôi (Ecotoxicology
and Environmental Safety, 2023). Tích lũy vi nhựa trong mô thủy sản không chỉ
là rủi ro sức khỏe cộng đồng mà còn là nguy cơ thương mại trực tiếp: các thị
trường nhập khẩu thủy sản lớn như EU và Nhật Bản đang từng bước siết chặt quy
định về giới hạn vi nhựa trong sản phẩm thủy sản, đặt ra áp lực tuân thủ ngày càng
cao cho ngành nuôi trồng ven biển của thành phố.
Tác động đến cảnh quan và du lịch biển: Rác thải nhựa trôi dạt vào bờ tạo ra
cảnh quan nhếch nhác tại các bãi biển, cửa sông và đai rừng ngập mặn, làm giảm
sức hút du lịch của vùng ven biển. Kết quả khảo sát CCI (Clean Coast Index) của
Ngân hàng Thế giới tại bãi biển xã Lai Hòa ghi nhận giá trị CCI = 176, thuộc
nhóm "cực kỳ bẩn", phản ánh trực tiếp mức độ ô nhiễm rác thải nhựa đang là rào
cản lớn đối với tiềm năng phát triển du lịch biển của thành phố. Theo ước tính của
UNWTO (2019), mỗi sự kiện ô nhiễm rác thải dạt bờ lớn có thể gây thiệt hại kinh
tế du lịch trực tiếp hàng tỷ đồng và ảnh hưởng lâu dài đến hình ảnh điểm đến.
136
6.2. KHAI THÁC THIẾU BỀN VỮNG, GIA TĂNG MỨC ĐỘ SUY GIẢM
TÀI NGUYÊN BIỂN
Như đã trình bày tại Chương 2, hoạt động khai thác thủy sản ven bờ và khai
thác cát biển trong giai đoạn 2021 – 2025 tiếp tục tạo áp lực lớn lên tài nguyên
biển khu vực ven biển thành phố Cần Thơ. Trong bối cảnh nguồn lợi thủy sản có
xu hướng suy giảm, tình trạng xói lở bờ biển gia tăng, suy giảm phù sa từ thượng
nguồn sông Mekong và biến đổi khí hậu ngày càng rõ nét, việc gia tăng cường lực
khai thác đang làm gia tăng nguy cơ mất ổn định sinh thái vùng ven biển.
6.2.1. Suy giảm nguồn lợi thủy sản ven bờ
Nguồn lợi thủy sản ven bờ thành phố Cần Thơ đang chịu tác động ngày càng
rõ nét từ khai thác kéo dài, suy thoái sinh cảnh ven biển, ô nhiễm môi trường và
biến đổi khí hậu. Những tác động này không chỉ làm suy giảm trữ lượng nguồn
lợi tự nhiên mà còn ảnh hưởng đến cấu trúc quần xã sinh vật biển, hiệu quả khai
thác và sinh kế của cộng đồng ngư dân ven biển.
Một trong những biểu hiện rõ nhất là sự suy giảm và biến động của sản lượng
khai thác biển trong giai đoạn 2021 – 2025. Theo số liệu của ngành thủy sản, sản
lượng khai thác biển đạt 63.161 tấn năm 2021, giảm còn 56.407 tấn năm 2022,
tăng lên 59.815 tấn năm 2023, giảm xuống 56.315,8 tấn năm 2024 và ước đạt
khoảng 60.000 tấn năm 2025. Mặc dù có sự dao động giữa các năm, sản lượng
khai thác biển nhìn chung không còn duy trì xu hướng tăng trưởng mà có dấu hiệu
chững lại và giảm so với giai đoạn trước, phản ánh khả năng khai thác của nguồn
lợi tự nhiên đang chịu nhiều áp lực (Nguồn: Chi cục Thủy sản tỉnh Sóc Trăng,
2021 – 2024; Chi cục Thủy sản và Kiểm ngư thành phố Cần Thơ, 2025).
Suy giảm nguồn lợi thủy sản còn gắn liền với quá trình suy thoái sinh cảnh
tự nhiên. Trong giai đoạn 2021 – 2025, tình trạng sạt lở bờ biển, xói lở đê biển và
suy giảm đai rừng phòng hộ ven biển tại các khu vực Vĩnh Châu, Vĩnh Hải, Trần
Đề và Cù Lao Dung đã làm thu hẹp diện tích bãi triều, rừng ngập mặn và các khu
vực sinh cư, sinh sản của nhiều loài thủy sinh. Sự mất mát các sinh cảnh quan
trọng này làm giảm khả năng tái tạo tự nhiên của nguồn lợi thủy sản ven bờ, đồng
thời làm suy giảm khả năng chống chịu của hệ sinh thái trước các tác động từ biến
đổi khí hậu và nước biển dâng.
Ngoài ra, ô nhiễm môi trường vùng cửa sông – ven biển từ hoạt động nuôi
trồng thủy sản, sản xuất nông nghiệp, sinh hoạt và các hoạt động kinh tế ven biển
cũng ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng môi trường sống của các loài thủy sản
tự nhiên. Sự gia tăng chất hữu cơ, chất dinh dưỡng và chất rắn lơ lửng trong môi
trường nước có thể làm suy giảm chất lượng nơi cư trú, ảnh hưởng đến khả năng
sinh trưởng, sinh sản và phát triển của nhiều loài thủy sinh. Cùng với đó, biến đổi
khí hậu, xâm nhập mặn và các hiện tượng thời tiết cực đoan ngày càng gia tăng
đã làm thay đổi điều kiện hải văn và môi trường sống, ảnh hưởng đến phân bố
nguồn lợi và mùa vụ khai thác thủy sản.
137
Những tác động trên đã ảnh hưởng trực tiếp đến sinh kế của cộng đồng ngư
dân ven biển. Hiệu quả khai thác giảm, chi phí sản xuất gia tăng và nguồn lợi tự
nhiên suy giảm khiến nhiều hộ dân phải thu hẹp quy mô khai thác, chuyển đổi sang
nuôi trồng thủy sản hoặc tìm kiếm sinh kế khác. Đối với các cộng đồng phụ thuộc
nhiều vào nghề khai thác ven bờ, đặc biệt là các nhóm dân cư có thu nhập thấp, sự
suy giảm nguồn lợi thủy sản đang làm gia tăng nguy cơ mất sinh kế truyền thống
và tạo thêm áp lực đối với công tác bảo đảm an sinh xã hội tại khu vực ven biển.
Nhìn chung, suy giảm nguồn lợi thủy sản ven bờ là một trong những tác động
môi trường biển đáng quan ngại tại thành phố Cần Thơ trong giai đoạn 2021 –
2025. Tình trạng này không chỉ ảnh hưởng đến đa dạng sinh học và cân bằng hệ
sinh thái biển mà còn tác động trực tiếp đến phát triển kinh tế biển và sinh kế cộng
đồng ven biển. Điều này cho thấy sự cần thiết phải tăng cường bảo vệ sinh cảnh
tự nhiên, phục hồi rừng ngập mặn, quản lý khai thác thủy sản bền vững và kiểm
soát các nguồn gây ô nhiễm môi trường ven biển trong thời gian tới.
6.2.2. Tác động của khai thác cát biển đến địa mạo và hệ sinh thái ven bờ
Trên cơ sở quy mô khai thác đã được trình bày tại mục 2.3.6, hoạt động khai
thác cát biển đang tạo ra nhiều tác động đối với môi trường biển và vùng ven bờ,
đặc biệt trong bối cảnh nguồn bùn cát tự nhiên từ sông Mekong suy giảm và khu
vực ven biển Cần Thơ đang chịu áp lực xói lở, sụt lún và biến đổi khí hậu ngày
càng gia tăng.
a. Tác động đến địa hình đáy biển và vận chuyển bùn cát:
Hoạt động khai thác cát biển bằng phương pháp hút xén thổi làm thay đổi
địa hình đáy biển tại khu vực khai thác. Việc hình thành các hố sâu cục bộ có thể
làm thay đổi hướng dòng chảy, chế độ vận chuyển bùn cát và quá trình bồi tụ tự
nhiên ven bờ.
Trong bối cảnh quy mô khai thác cát biển tại khu vực B1 ngày càng gia tăng,
với tổng trữ lượng đã được xác nhận và cấp phép lên tới trên 22,8 triệu m³, nguy
cơ tác động đến cân bằng bùn cát khu vực ven biển cần được theo dõi chặt chẽ.
Việc khai thác quy mô lớn trong điều kiện nguồn phù sa từ thượng nguồn sông
Mekong suy giảm có thể làm gia tăng tình trạng thiếu hụt vật liệu bồi tụ ven biển,
từ đó thúc đẩy quá trình xói lở và suy giảm khả năng mở rộng bãi bồi tự nhiên.
Khu vực ven biển Cần Thơ hiện là một trong những vùng chịu xói lở mạnh
của Đồng bằng sông Cửu Long. Một số đoạn bờ biển thuộc khu vực Vĩnh Hải, Lai
Hòa và Vĩnh Phước ghi nhận tình trạng sạt lở nghiêm trọng trong nhiều năm qua.
b. Xói lở bờ biển:
Xói lở bờ biển là hiện tượng diễn ra tại nhiều khu vực ven biển thành phố
Cần Thơ dưới tác động tổng hợp của các yếu tố tự nhiên và hoạt động của con
người, bao gồm biến đổi khí hậu, nước biển dâng, sóng, dòng chảy ven bờ, suy
giảm nguồn bùn cát và khai thác tài nguyên. Trong đó, hoạt động khai thác cát
biển có thể làm thay đổi địa hình đáy biển và cân bằng bùn cát tự nhiên, từ đó làm
gia tăng nguy cơ xói lở tại một số khu vực ven bờ.
138
Theo các nghiên cứu chuyên ngành và báo cáo của cơ quan quản lý nhà nước,
khu vực ven biển Vĩnh Hải, Vĩnh Phước và một số đoạn tuyến đê biển Vĩnh Châu
là những khu vực thường xuyên chịu tác động của quá trình xói lở bờ biển với mức
độ ngày càng nghiêm trọng. Kết quả phân tích biến động đường bờ cho thấy nhiều
đoạn bờ biển có tốc độ xói lở lớn, đai rừng ngập mặn và bãi bồi ven biển tiếp tục
bị thu hẹp, làm gia tăng nguy cơ sóng biển tác động trực tiếp đến các tuyến đê biển
xung yếu (Nguyễn Thị Bích Linh và ctv., 2020; Nguyễn Hồng Trung và ctv., 2022;
Võ Quốc Thành và ctv., 2025). Các nghiên cứu đều thống nhất rằng quá trình xói
lở là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố, bao gồm tác động của biến đổi khí hậu,
nước biển dâng, chế độ sóng - dòng chảy ven bờ, sự suy giảm nguồn cung trầm tích
từ thượng nguồn và suy giảm đai rừng ngập mặn. Bên cạnh đó, việc khai thác cát
lòng sông quá mức nếu không được kiểm soát hiệu quả có thể làm gia tăng tình
trạng thiếu hụt nguồn trầm tích, làm giảm lượng bùn cát vận chuyển ra vùng cửa
sông và ven biển, từ đó góp phần làm trầm trọng hơn quá trình xói lở tại một số
khu vực ven biển (Anthony và ctv., 2015; WWF Việt Nam, 2022).
c. Tác động đến chất lượng nước và hệ sinh thái đáy:
Hoạt động khai thác cát biển làm gia tăng hàm lượng chất rắn lơ lửng (TSS)
và độ đục cục bộ tại khu vực khai thác. Sự gia tăng độ đục có thể làm giảm khả
năng xuyên sáng trong nước biển, ảnh hưởng đến hoạt động quang hợp của thực
vật phù du và hệ sinh thái đáy.
Quá trình hút cát cũng tác động trực tiếp đến quần xã sinh vật đáy như giun
nhiều tơ, nhuyễn thể hai mảnh vỏ và các loài giáp xác đáy. Đây là các nhóm sinh
vật đóng vai trò quan trọng trong chuỗi thức ăn của hệ sinh thái ven biển.
Ngoài ra, khu vực cửa Định An và Trần Đề còn là vùng sinh cư, sinh sản và
ương dưỡng của nhiều loài thủy sản tự nhiên. Vì vậy, các thay đổi về nền đáy và
chất lượng nước có thể ảnh hưởng đến khả năng phục hồi nguồn lợi trong dài hạn.
Hiện nay, dữ liệu quan trắc đầy đủ trước và sau khai thác cát biển tại khu
vực B1 còn hạn chế, cần tiếp tục được bổ sung trong quá trình triển khai hoạt động
khai thác.
d. Tác động cộng hưởng và nguy cơ dài hạn:
Tác động của khai thác cát biển diễn ra đồng thời với nhiều áp lực môi trường
khác như: Sụt lún đất; Nước biển dâng; Suy giảm phù sa; Xói lở bờ biển; Suy
giảm rừng ngập mặn; Biến đổi khí hậu.
Theo nhiều nghiên cứu về Đồng bằng sông Cửu Long, khu vực ven biển
đang chịu tác động tổng hợp của cả quá trình sụt lún nền đất và nước biển dâng,
làm gia tăng nguy cơ mất đất ven biển trong dài hạn.
139
Đáng lưu ý, tổng quy mô trữ lượng cát biển đã được xác nhận và cấp phép
tại khu vực B1 đến năm 2025 đạt khoảng 22,85 triệu m³, cho thấy áp lực khai thác
vật liệu biển tại khu vực ven biển Cần Thơ đang gia tăng đáng kể. Trong trường
hợp hoạt động khai thác mở rộng trong thời gian dài mà không có hệ thống quan
trắc và đánh giá tác động đầy đủ, nguy cơ biến đổi địa hình đáy biển, mất cân
bằng vận chuyển bùn cát và gia tăng xói lở ven biển có thể trở nên rõ rệt hơn.
Bảng 6.1. Đánh giá nguy cơ môi trường liên quan khai thác cát biển
Thành phần môi trường
Nguy cơ chính
Mức độ rủi ro
Địa hình đáy biển
Thay đổi địa hình, dòng chảy
Cao
Bùn cát ven bờ
Thiếu hụt nguồn bồi tụ
Cao
Bờ biển ven biển
Gia tăng xói lở
Rất cao
Rừng ngập mặn
Suy giảm khả năng tái sinh
Cao
Sinh vật đáy
Suy giảm sinh cảnh
Cao
Nguồn lợi thủy sản
Ảnh hưởng bãi sinh sản
Cao
Sinh kế cộng đồng ven biển
Giảm nguồn lợi khai thác
Cao
Nhận định tổng hợp: Việc khai thác cát biển tại khu vực ven biển Cần Thơ
diễn ra trong bối cảnh hệ sinh thái ven biển đã chịu nhiều áp lực kéo dài. Quy mô
trữ lượng khai thác được cấp phép lớn, tập trung tại khu vực cửa Định An và vùng
biển lân cận, có thể làm gia tăng nguy cơ xói lở bờ biển, suy giảm sinh cảnh tự
nhiên và ảnh hưởng đến tính ổn định của hệ sinh thái ven biển trong dài hạn nếu
không được kiểm soát chặt chẽ thông qua quan trắc môi trường và quản lý tổng
hợp vùng bờ.
6.3. SUY GIẢM CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC BIỂN
Chất lượng môi trường nước biển là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh mức độ ô
nhiễm, khả năng chịu tải của hệ sinh thái cũng như mức độ an toàn đối với các
hoạt động phát triển kinh tế biển. Trong giai đoạn 2021 – 2025, chất lượng nước
biển ven bờ thành phố được theo dõi thông qua chương trình quan trắc môi trường
định kỳ do địa phương triển khai. Theo quy hoạch mạng lưới quan trắc, việc lấy
mẫu được thực hiện tại 05 vị trí đại diện (Vĩnh Hải, An Thạnh Nam, Trung Bình,
Vĩnh Tân và An Thạnh 3) với tần suất 02 tháng/lần, bao gồm các nhóm thông số
về nước biển, trầm tích và các yếu tố sinh thái liên quan.
Kết quả quan trắc cho thấy chất lượng môi trường nước biển có sự phân hóa
rõ rệt giữa các nhóm chỉ tiêu. Các thông số pH và oxy hòa tan (DO) tương đối ổn
định và duy trì trong giới hạn cho phép theo QCVN 10:2023/BTNMT, phản ánh
môi trường nước nhìn chung vẫn đảm bảo điều kiện cơ bản cho đời sống thủy sinh
và khả năng tự làm sạch. Tuy nhiên, bên cạnh đó đã xuất hiện các dấu hiệu suy
giảm chất lượng nước thông qua sự gia tăng của một số thông số đặc trưng, bao
gồm tổng chất rắn lơ lửng (TSS), Amoni (NH₄⁺), Photphat (PO₄³⁻) và Sắt tổng (Fe).
140
Trong đó, TSS là chỉ tiêu thể hiện rõ nhất tình trạng biến động của môi trường
nước. Giá trị TSS vượt quy chuẩn nhiều lần cho thấy độ đục của nước gia tăng đáng
kể, làm suy giảm khả năng xuyên sáng và ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình quang
hợp của thực vật phù du. Nguyên nhân của hiện tượng này là sự kết hợp giữa đặc
điểm tự nhiên vùng ven bờ – nơi chịu tác động mạnh của sóng, thủy triều và dòng
chảy mang phù sa – với các hoạt động như nuôi trồng thủy sản, giao thông thủy,
nạo vét và khai thác cát, làm gia tăng xáo trộn trầm tích đáy.
Đối với các hợp chất dinh dưỡng, sự gia tăng Amoni và Photphat phản ánh
rõ tác động của các nguồn thải có nguồn gốc từ hoạt động con người. Amoni hình
thành từ quá trình phân hủy chất hữu cơ, thường xuất hiện trong nước thải sinh
hoạt và chất thải từ nuôi trồng thủy sản, trong khi Photphat chủ yếu phát sinh từ
chất tẩy rửa và dòng chảy mang dinh dưỡng từ đất liền. Việc các thông số này
vượt quy chuẩn tại một số thời điểm cho thấy áp lực từ nguồn thải chưa được kiểm
soát hiệu quả. Đặc biệt, sự hiện diện đồng thời của Amoni và Photphat làm gia
tăng nguy cơ phú dưỡng hóa, có thể dẫn đến hiện tượng phát triển quá mức của
tảo và suy giảm oxy hòa tan khi sinh khối tảo phân hủy.
Hàm lượng Sắt tổng (Fe) cũng ghi nhận vượt quy chuẩn với mức tương đối
cao tại nhiều vị trí, phản ánh sự biến động của môi trường trầm tích và quá trình
trao đổi vật chất giữa đáy và cột nước. Ngoài các yếu tố tự nhiên như rửa trôi từ
đất liền và giải phóng sắt trong điều kiện yếm khí, các hoạt động ven biển như
nạo vét, giao thông thủy và nuôi trồng thủy sản đã góp phần làm xáo trộn trầm
tích, dẫn đến gia tăng hàm lượng Fe trong nước. Sự gia tăng này không chỉ ảnh
hưởng đến chất lượng cảm quan mà còn có thể tác động đến sinh vật nếu tích tụ
kéo dài.
Mặc dù DO vẫn nằm trong giới hạn cho phép, sự dao động theo không gian
và thời gian cho thấy môi trường nước đã chịu những tác động nhất định từ gia
tăng tải lượng hữu cơ và độ đục cao, làm giảm hiệu quả quang hợp và khả năng
tự làm sạch. Đây được xem là dấu hiệu cảnh báo sớm về nguy cơ suy giảm chất
lượng môi trường nước trong trường hợp các nguồn thải tiếp tục gia tăng.
Tổng hợp các kết quả trên cho thấy chất lượng nước biển ven bờ thành phố
Cần Thơ đang chịu tác động đồng thời của điều kiện tự nhiên và các hoạt động
phát triển kinh tế ven biển. Mặc dù chưa ghi nhận sự suy thoái nghiêm trọng trên
diện rộng, việc nhiều thông số vượt quy chuẩn tại các thời điểm khác nhau đã
phản ánh xu hướng suy giảm cục bộ và tiềm ẩn nguy cơ tích tụ ô nhiễm. Trong
bối cảnh đó, nếu không có các biện pháp kiểm soát hiệu quả, đặc biệt đối với nước
thải sinh hoạt và nuôi trồng thủy sản, chất lượng môi trường nước biển trong khu
vực có thể tiếp tục suy giảm trong thời gian tới.
141
6.4. TÁC ĐỘNG CỦA Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG BIỂN ĐỐI VỚI CÁC
VẤN ĐỀ KINH TẾ - XÃ HỘI, CẢNH QUAN VÀ HỆ SINH THÁI
6.4.1. Đối với phát triển kinh tế - xã hội
a. Tác động đến sức khỏe cộng đồng dân cư ven biển:
Ô nhiễm môi trường biển đang trở thành một trong những thách thức nghiêm
trọng đối với sức khỏe cộng đồng dân cư ven biển, đặc biệt tại các khu vực có mật
độ dân cư cao, nơi tập trung các hoạt động khai thác, nuôi trồng thủy sản và phát
triển công nghiệp ven bờ. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng ô nhiễm đại dương có
mối liên hệ trực tiếp với sự gia tăng gánh nặng bệnh tật toàn cầu (Landrigan et al.,
2020; World Health Organization, 2019).
Trước hết, ô nhiễm vi sinh trong nước biển làm gia tăng các bệnh truyền
nhiễm như tiêu chảy, tả, lỵ và viêm gan A, E. Các tác nhân gây bệnh có thể xâm
nhập vào cơ thể con người thông qua hoạt động sinh hoạt, tắm biển hoặc sử dụng
nguồn nước bị ô nhiễm.
Bên cạnh đó, các chất ô nhiễm như kim loại nặng (Hg, Pb, Cd), hợp chất hữu
cơ bền vững và vi nhựa có khả năng tích lũy sinh học (bioaccumulation) trong
chuỗi thức ăn biển và xâm nhập vào cơ thể con người thông qua tiêu thụ hải sản.
Quá trình này có thể dẫn đến các bệnh mãn tính như ung thư, rối loạn nội tiết, suy
giảm chức năng gan, thận và tổn thương hệ thần kinh (Landrigan et al., 2020;
United Nations Environment Programme, 2021). Đáng chú ý, các tác động của vi
nhựa và các hợp chất hữu cơ bền vững thường không biểu hiện ngay lập tức mà
diễn ra âm thầm ở cấp độ tế bào và hệ nội tiết. Quá trình phơi nhiễm kéo dài có
thể dẫn đến các rối loạn sinh học nghiêm trọng, khó phát hiện sớm và có nguy cơ
gây hậu quả lâu dài đối với sức khỏe cộng đồng.
Ngoài ra, việc tiếp xúc trực tiếp với nước biển ô nhiễm còn làm gia tăng các
bệnh về da và đường hô hấp như viêm da, dị ứng, viêm phế quản và hen suyễn.
Đáng chú ý, phụ nữ mang thai và trẻ em là nhóm đối tượng đặc biệt dễ bị tổn
thương do tác động của các chất độc hại, có nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe sinh
sản và sự phát triển thần kinh.
Không chỉ dừng lại ở tác động trực tiếp, ô nhiễm môi trường biển còn gây ra
các hệ lụy gián tiếp đối với sức khỏe thông qua suy giảm sinh kế, thiếu dinh dưỡng
và áp lực tâm lý. Tuy nhiên, các tác động này sẽ được xem xét cụ thể hơn dưới
góc độ kinh tế – xã hội ở các mục sau.
Nhìn chung, ô nhiễm môi trường biển gây ra các tác động đa chiều đối với
sức khỏe cộng đồng, làm suy giảm chất lượng nguồn nhân lực và gia tăng gánh
nặng y tế tại khu vực ven biển.
142
b. Tác động đến các ngành kinh tế biển:
(i) Nuôi trồng và khai thác thủy sản:
Nuôi trồng và khai thác thủy sản là ngành chịu tác động trực tiếp và nặng nề
nhất từ ô nhiễm môi trường biển. Ô nhiễm hữu cơ trong nước biển tạo điều kiện
thuận lợi cho sự phát sinh và lây lan của các tác nhân gây bệnh, đặc biệt là vi
khuẩn Vibrio spp. (gây bệnh hoại tử gan tụy cấp – AHPND, hội chứng chết sớm
– EMS) và virus đốm trắng (WSSV).
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2022), thiệt hại do dịch bệnh
tôm tại Đồng bằng sông Cửu Long mỗi năm lên đến hàng nghìn tỷ đồng, trong đó
khu vực Sóc Trăng (trước sáp nhập) ghi nhận diện tích nuôi tôm bị thiệt hại dao
động từ 5.000 – 15.000 ha/năm. Các nghiên cứu khoa học cũng chỉ ra mối tương
quan thuận giữa nồng độ chất hữu cơ, vi sinh vật gây bệnh trong nước và tỷ lệ
tôm mắc bệnh (Tendencia & de la Peña, 2001).
Bên cạnh đó, sự tích lũy sinh học của kim loại nặng (As, Hg, Cd), kháng sinh
và vi nhựa trong mô thủy sản đang trở thành vấn đề an toàn thực phẩm nghiêm
trọng. Một số lô hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam đã bị từ chối tại các thị
trường như Nhật Bản và EU do dư lượng kháng sinh vượt ngưỡng cho phép (Bộ
NN&PTNT, 2021), gây thiệt hại kinh tế và ảnh hưởng đến uy tín thương hiệu
quốc gia.
Đối với khai thác thủy sản tự nhiên, ô nhiễm môi trường làm suy giảm trữ
lượng và thu hẹp ngư trường, buộc ngư dân phải khai thác xa bờ hơn, làm gia tăng
chi phí nhiên liệu và giảm hiệu quả kinh tế (Tran, 2019). Thực tế cho thấy nhiều
hộ ngư dân ven biển đã phải chuyển đổi nghề do hoạt động khai thác ngày càng
kém hiệu quả.
Ngoài ra, ô nhiễm nhựa đang nổi lên như một thách thức mới đối với ngành
thủy sản. Vi nhựa không chỉ làm suy giảm chất lượng nước mà còn có thể hấp
phụ các chất độc hại, gây ảnh hưởng đến sinh trưởng, hành vi và khả năng sinh
sản của vật nuôi thủy sản, từ đó làm giảm năng suất và lợi nhuận (Ecotoxicology
and Environmental Safety, 2023).
(ii) Du lịch biển:
Ô nhiễm môi trường biển làm suy giảm đáng kể giá trị và sức hấp dẫn của
các điểm du lịch ven biển. Tình trạng nước biển đục, rác thải nhựa dạt vào bờ và
mùi hôi từ hoạt động nuôi trồng thủy sản ven bờ đã làm giảm chất lượng trải
nghiệm của du khách.
Theo United Nations World Tourism Organization, chất lượng môi trường
là yếu tố then chốt ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn điểm đến của du khách,
và các sự cố ô nhiễm có thể gây thiệt hại kinh tế đáng kể trong cả ngắn hạn và
dài hạn (UNWTO, 2019). Thực tế cho thấy nhiều khu vực ven biển dù có tiềm
năng nhưng chưa thể phát triển du lịch tương xứng do chất lượng môi trường
chưa đảm bảo.
143
Ngoài ra, khoảng 70 – 80% rác thải biển có nguồn gốc từ đất liền, trong khi
hoạt động du lịch cũng góp phần gây áp lực môi trường từ 20 – 30%, làm gia tăng
nguy cơ suy thoái cảnh quan và hệ sinh thái ven biển.
c. Thiệt hại kinh tế và sinh kế:
Ô nhiễm môi trường biển gây ra các thiệt hại kinh tế tổng hợp, bao gồm chi
phí trực tiếp, gián tiếp và các tổn thất phi thị trường.
Trước hết, ô nhiễm môi trường làm gia tăng đáng kể chi phí cho các hoạt
động thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải, xử lý nước thải, cải tạo môi trường,
nạo vét trầm tích ô nhiễm, phục hồi hệ sinh thái cũng như quan trắc, giám sát và
ứng phó với các sự cố môi trường. Khi mức độ ô nhiễm kéo dài hoặc diễn biến
phức tạp, chi phí đầu tư cho các hoạt động khắc phục và phục hồi môi trường
thường tăng lên đáng kể, tạo áp lực lớn đối với ngân sách nhà nước và nguồn lực
của địa phương.
Tiếp theo, chi phí phục hồi môi trường bao gồm tái tạo rừng ngập mặn, phục
hồi hệ sinh thái và cải thiện chất lượng nước. Các hoạt động này thường kéo dài
nhiều năm và đòi hỏi nguồn lực lớn (UNEP, 2021).
Bên cạnh đó, thiệt hại gián tiếp bao gồm giảm sản lượng thủy sản, mất doanh
thu du lịch, gia tăng chi phí sản xuất và suy giảm năng suất lao động. Những tổn
thất này thường có quy mô lớn và kéo dài hơn so với chi phí xử lý trực tiếp (World
Bank, 2016; OECD, 2019).
Ở cấp độ hộ gia đình, ô nhiễm môi trường biển tác động trực tiếp đến sinh
kế của người dân ven biển, đặc biệt là các cộng đồng phụ thuộc vào thủy sản. Thu
nhập giảm, chi phí sản xuất tăng và rủi ro dịch bệnh cao đã khiến một bộ phận
người dân rơi vào tình trạng khó khăn, thậm chí phải chuyển đổi sinh kế hoặc di
cư lao động. Các nghiên cứu tại Đồng bằng sông Cửu Long cũng ghi nhận xu
hướng gia tăng di cư từ các vùng ven biển do suy giảm sinh kế truyền thống
(Nguyen & Pham, 2020).
Nhìn chung, thiệt hại kinh tế do ô nhiễm môi trường biển không chỉ thể
hiện ở chi phí hữu hình mà còn bao gồm các tổn thất về đa dạng sinh học, cảnh
quan và giá trị văn hóa – xã hội, ảnh hưởng lâu dài đến phát triển bền vững của
khu vực.
Các tác động kinh tế – xã hội nêu trên có mối liên hệ chặt chẽ với sự suy
giảm chất lượng cảnh quan và hệ sinh thái ven biển, vốn là nền tảng duy trì các
hoạt động sinh kế và phát triển kinh tế tại khu vực ven biển.
6.4.2. Đối với cảnh quan môi trường
Ô nhiễm môi trường biển không chỉ tác động đến hệ sinh thái và hoạt động
kinh tế mà còn gây suy giảm rõ rệt giá trị cảnh quan môi trường ven biển – một
yếu tố quan trọng trong phát triển du lịch, bảo tồn thiên nhiên và nâng cao chất
lượng sống của cộng đồng.
144
Trước hết, rác thải rắn, đặc biệt là rác thải nhựa, là nguyên nhân trực tiếp làm
suy giảm giá trị thẩm mỹ của khu vực ven biển. Các loại bao bì nhựa, ngư cụ
hỏng, xốp, chai lọ và xác sinh vật biển bị sóng đánh dạt vào bờ tạo nên hình ảnh
nhếch nhác tại các bãi biển và khu vực cửa sông. Theo United Nations
Environment Programme (2021), rác thải nhựa chiếm tới khoảng 80% tổng lượng
rác thải biển toàn cầu, và là tác nhân chính làm suy giảm chất lượng cảnh quan
ven biển tại nhiều quốc gia.
Bên cạnh đó, ô nhiễm nước biển làm biến đổi đáng kể các đặc trưng thị giác
của môi trường. Sự gia tăng hàm lượng chất rắn lơ lửng (TSS), chất hữu cơ và
hiện tượng phú dưỡng làm nước biển chuyển sang màu đục, giảm độ trong và làm
mất đi màu xanh đặc trưng của vùng biển nhiệt đới. Tại khu vực ven biển Đồng
bằng sông Cửu Long, sự kết hợp giữa lượng phù sa lớn từ hệ thống sông Mê Kông
và chất thải từ hoạt động nuôi trồng thủy sản ven bờ càng làm gia tăng tình trạng
này. Theo Food and Agriculture Organization (2020), sự gia tăng tải lượng dinh
dưỡng và chất hữu cơ trong môi trường nước ven biển có thể làm suy giảm chất
lượng nước, gây hiện tượng tảo nở hoa và làm mất giá trị cảnh quan tự nhiên.
Ngoài ra, ô nhiễm hữu cơ từ hoạt động nuôi trồng thủy sản và nước thải sinh
hoạt ven biển còn gây phát sinh mùi hôi khó chịu do quá trình phân hủy kỵ khí
các chất hữu cơ. Các khí như H₂S, NH₃ không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe mà
còn làm giảm chất lượng không gian cảnh quan, đặc biệt tại các khu vực có mật
độ nuôi trồng thủy sản cao.
Một yếu tố quan trọng khác là sự suy thoái của hệ sinh thái rừng ngập mặn
– thành phần cấu trúc quan trọng của cảnh quan ven biển. Việc suy giảm diện tích
và chất lượng rừng ngập mặn do ô nhiễm và chuyển đổi mục đích sử dụng đất đã
làm mất đi lớp “đệm sinh thái” tự nhiên, làm gia tăng xói lở bờ biển và giảm tính
ổn định của cảnh quan. Theo International Union for Conservation of Nature
(2020), rừng ngập mặn không chỉ có giá trị sinh thái mà còn đóng vai trò quan
trọng trong bảo vệ đường bờ và duy trì cảnh quan tự nhiên ven biển.
Bên cạnh các yếu tố tự nhiên, hoạt động nuôi trồng thủy sản ven biển phát
triển thiếu quy hoạch cũng góp phần làm phân mảnh không gian cảnh quan. Hệ
thống ao nuôi, bờ đê, kênh dẫn nước và các công trình phụ trợ được xây dựng dày
đặc, thiếu đồng bộ đã làm biến đổi mạnh mẽ cấu trúc không gian ven biển, làm
giảm tính liên tục và giá trị thẩm mỹ của cảnh quan. Theo các nghiên cứu về quy
hoạch ven biển, sự phát triển không kiểm soát của nuôi trồng thủy sản là một trong
những nguyên nhân chính làm suy giảm chất lượng cảnh quan và hệ sinh thái ven
bờ (FAO, 2020).
Ngoài ra, ô nhiễm rác thải nhựa trên các bãi biển còn gây ra những thay đổi
về tính chất vật lý của môi trường nền như độ dẫn nhiệt, khả năng giữ ẩm và cấu
trúc hạt cát. Những thay đổi này không chỉ ảnh hưởng đến các loài sinh vật sống
trong cát mà còn làm biến đổi đặc điểm tự nhiên của bãi biển, từ đó ảnh hưởng đến
giá trị cảnh quan và chức năng sinh thái của khu vực ven bờ (GESAMP, 2016).
145
Nhìn chung, ô nhiễm môi trường biển làm suy giảm toàn diện giá trị cảnh
quan ven biển thông qua nhiều cơ chế khác nhau, từ ô nhiễm trực quan (rác thải),
biến đổi chất lượng nước, phát sinh mùi hôi đến suy thoái hệ sinh thái và phân
mảnh không gian. Những tác động này không chỉ ảnh hưởng đến hình ảnh môi
trường mà còn làm giảm tiềm năng phát triển du lịch, dịch vụ và chất lượng sống
của cộng đồng ven biển.
6.4.3. Đối với hệ sinh thái
Suy thoái hệ sinh thái ven biển không chỉ là hệ quả của ô nhiễm môi trường
mà còn là nguyên nhân gốc rễ làm gia tăng các tác động tiêu cực đến kinh tế – xã
hội đã được trình bày ở các mục trước.
a. Suy thoái rừng ngập mặn:
Rừng ngập mặn ven biển có vai trò quan trọng trong duy trì cân bằng sinh
thái, nhưng đang bị suy giảm cả về diện tích và chất lượng do tác động tổng hợp
của ô nhiễm, biến đổi khí hậu và hoạt động kinh tế.
Mất rừng ngập mặn đồng nghĩa với mất đi hệ thống lọc sinh học tự nhiên.
Trung bình, 2 – 5 ha rừng ngập mặn có thể xử lý nước thải cho 1 ha ao nuôi, do
đó sự suy giảm diện tích rừng đã làm giảm đáng kể khả năng tự làm sạch của môi
trường ven biển.
Ngoài ra, rừng ngập mặn là nơi sinh sản và ươm giống của khoảng 70 – 90%
loài thủy sản biển trong ít nhất một giai đoạn vòng đời. Việc suy giảm diện tích
rừng làm giảm nguồn giống tự nhiên, ảnh hưởng trực tiếp đến nuôi trồng và khai
thác thủy sản.
Bên cạnh đó, rừng ngập mặn còn là bể chứa “carbon xanh” quan trọng với
khả năng lưu trữ khoảng 1.000 tấn carbon/ha. Sự suy giảm diện tích rừng không
chỉ làm mất chức năng này mà còn góp phần gia tăng phát thải khí nhà kính.
b. Suy giảm đa dạng sinh học biển:
Ô nhiễm môi trường biển, kết hợp với suy thoái sinh cảnh và khai thác quá
mức, đang gây ra sự suy giảm đa dạng sinh học biển theo nhiều cơ chế khác nhau
tại khu vực ven biển. Các tác động này không chỉ làm giảm số lượng loài mà còn
làm biến đổi cấu trúc và chức năng của toàn bộ hệ sinh thái.
Trước hết, sự suy giảm chất lượng nước biển và ô nhiễm hữu cơ đã dẫn đến
suy giảm quần thể nhiều loài thủy sản có giá trị kinh tế và sinh thái. Nhiều loài
cá, tôm, cua có xu hướng giảm cả về số lượng lẫn phạm vi phân bố, làm mất cân
bằng cấu trúc quần xã sinh vật biển.
Bên cạnh đó, ô nhiễm và suy thoái hệ sinh thái ven bờ, đặc biệt là rừng ngập
mặn, bãi triều và vùng cửa sông, đã làm mất nơi cư trú và sinh sản của nhiều loài
thủy sản. Đây là các khu vực đóng vai trò “vườn ươm tự nhiên” cho nhiều loài
trong giai đoạn đầu vòng đời. Sự thu hẹp các sinh cảnh này đã làm gián đoạn vòng
đời sinh học, từ đó làm suy giảm nguồn lợi thủy sản trong dài hạn.
146
Một cơ chế tác động quan trọng khác là hiện tượng tích lũy sinh học
(bioaccumulation) và khuếch đại sinh học (biomagnification) của các chất ô
nhiễm như kim loại nặng và các hợp chất hữu cơ bền vững (POPs) trong chuỗi
thức ăn. Các chất độc này tích tụ dần qua các bậc dinh dưỡng và đạt nồng độ cao
ở các loài sinh vật bậc cao như cá lớn, chim biển và động vật biển có vú, gây ảnh
hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, khả năng sinh sản và tỷ lệ sống của chúng.
Ngoài ra, ô nhiễm vi nhựa và sự gia tăng bất thường của các chất dinh dưỡng
trong nước biển đã làm thay đổi cấu trúc quần xã sinh vật phù du (phytoplankton
và zooplankton) – nền tảng của chuỗi thức ăn biển. Những biến đổi này có thể
gây ra hiệu ứng lan truyền trong toàn bộ hệ sinh thái, ảnh hưởng đến các bậc dinh
dưỡng cao hơn (GESAMP, 2016).
Theo International Union for Conservation of Nature (2020), Việt Nam là
một trong những quốc gia có tỷ lệ loài sinh vật biển bị đe dọa cao tại khu vực
Đông Nam Á, với hơn 100 loài cá biển và 37 loài san hô đang ở tình trạng nguy
cấp hoặc dễ bị tổn thương. Trong khoảng 20 năm qua, Việt Nam đã mất khoảng
12% diện tích rạn san hô, và khoảng 48% diện tích còn lại đang trong tình trạng
suy thoái nghiêm trọng.
Mặc dù khu vực ven biển thành phố Cần Thơ không có hệ sinh thái rạn san hô
điển hình, song các hệ sinh thái đặc trưng như rừng ngập mặn, bãi triều và vùng
cửa sông cũng đang chịu áp lực suy thoái tương tự, phản ánh xu hướng chung của
suy giảm đa dạng sinh học biển tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.
Bên cạnh đó, ô nhiễm rác thải nhựa trên các bãi biển cát còn gây ra những
thay đổi về tính chất vật lý của môi trường nền như độ dẫn nhiệt và khả năng giữ
ẩm, từ đó ảnh hưởng đến các quá trình sinh thái phụ thuộc vào nền cát và các loài
sinh vật cư trú tại đây. Điều này cho thấy ô nhiễm nhựa không chỉ là vấn đề môi
trường bề mặt mà còn là mối đe dọa sâu rộng đối với cấu trúc và chức năng của
hệ sinh thái ven bờ.
6.5. BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU, THIÊN TAI, NƯỚC BIỂN DÂNG, SỰ CỐ MÔI
TRƯỜNG
6.5.1. Tác động của biến đổi khí hậu, thiên tai, nước biển dâng lên môi trường
biển
Biến đổi khí hậu, nước biển dâng và các hiện tượng thời tiết cực đoan đang
tạo ra những tác động ngày càng rõ nét đối với môi trường biển, hệ sinh thái ven
biển, tài nguyên nước và sinh kế của cộng đồng dân cư trên địa bàn thành phố
Cần Thơ.
Một trong những tác động nổi bật là tình trạng sạt lở bờ biển, bờ sông và đê
biển diễn biến phức tạp tại nhiều khu vực ven biển. Trong giai đoạn 2021 – 2025,
toàn khu vực ghi nhận nhiều vụ sạt lở với quy mô lớn. Năm 2021 xảy ra 143 đoạn
sạt lở với tổng chiều dài 52.345 m; năm 2022 ghi nhận 60 đoạn sạt lở và sụt lún
147
dài 3.345 m; năm 2023 xảy ra nhiều vụ sạt lở bờ sông và 88 vụ sạt lở đê cồn, đê
biển với tổng chiều dài khoảng 1.875 m; năm 2024 ghi nhận 79 đoạn sạt lở dài
2.874 m; và năm 2025 tiếp tục xảy ra 121 đợt sạt lở với tổng chiều dài khoảng
3.007 m. Tình trạng sạt lở kéo dài làm gia tăng nguy cơ mất đất ven biển, ảnh
hưởng đến cơ sở hạ tầng, khu dân cư và các hoạt động sản xuất ven bờ (Nguồn:
Chi cục Thủy lợi tỉnh Sóc Trăng 2021 – 2024; Chi cục Thủy lợi thành phố Cần
Thơ, 2025).
Triều cường và ngập lụt gia tăng cũng gây ảnh hưởng đáng kể đến môi trường
và các hoạt động kinh tế ven biển. Đặc biệt, đợt triều cường lịch sử năm 2025 kết
hợp mưa lớn đã gây ngập khoảng 9.500 ha diện tích nông nghiệp và nuôi trồng
thủy sản, gây thiệt hại khoảng 70 tỷ đồng. Tại khu vực Vĩnh Hải, sóng lớn kết hợp
triều cường đã làm hư hỏng một số công trình bảo vệ ven biển và ảnh hưởng đến
hoạt động sản xuất của người dân địa phương (Nguồn: Chi cục Thủy lợi thành
phố Cần Thơ, 2025).
Xâm nhập mặn gia tăng đang tác động trực tiếp đến tài nguyên nước và sản
xuất nông nghiệp. Trong mùa khô 2023 – 2024, khoảng 19.355 hộ dân bị ảnh
hưởng bởi tình trạng thiếu nước sinh hoạt; khoảng 573,79 ha lúa Đông Xuân muộn
bị ảnh hưởng bởi xâm nhập mặn, trong đó 32,69 ha bị thiệt hại hoàn toàn. Tình
trạng thiếu nước ngọt kéo dài làm gia tăng nhu cầu khai thác nước dưới đất, qua
đó tạo thêm áp lực đối với nguồn tài nguyên nước ngầm ven biển (Nguồn: Chi
cục Thủy lợi tỉnh Sóc Trăng 2021 – 2024).
Biến đổi khí hậu còn làm thay đổi chế độ thủy văn, độ mặn và điều kiện môi
trường tại các vùng cửa sông, ven biển. Những biến động này có thể ảnh hưởng
đến cấu trúc và chức năng của các hệ sinh thái nước ngọt, nước lợ và nước mặn,
làm thay đổi môi trường sống, nơi cư trú và sinh sản của nhiều loài thủy sinh.
Tác động của biến đổi khí hậu cũng được phản ánh qua các thiệt hại kinh tế
do thiên tai gây ra. Năm 2021, thiên tai gây thiệt hại khoảng 342,087 tỷ đồng; năm
2022 khoảng 78,369 tỷ đồng; năm 2023 khoảng 40,204 tỷ đồng; năm 2024 khoảng
31,32 tỷ đồng; và năm 2025 khoảng 109,19 tỷ đồng. Các số liệu này cho thấy mức
độ dễ bị tổn thương của khu vực ven biển trước tác động của biến đổi khí hậu và
các hiện tượng thời tiết cực đoan ngày càng gia tăng (Nguồn: Chi cục Thủy lợi
tỉnh Sóc Trăng 2021 – 2024; Chi cục Thủy lợi thành phố Cần Thơ, 2025).
Nhìn chung, biến đổi khí hậu, nước biển dâng và thiên tai đang làm gia tăng
nguy cơ suy thoái môi trường ven biển, ảnh hưởng đến tài nguyên nước, sản xuất
nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và sinh kế của cộng đồng dân cư. Các tác động
này có xu hướng kéo dài và tích lũy theo thời gian, đặt ra yêu cầu cấp thiết về tăng
cường năng lực thích ứng và quản lý bền vững tài nguyên, môi trường biển.
148
6.5.2. Sự cố môi trường biển
Hoạt động phát triển kinh tế biển, công nghiệp ven biển, cảng biển, giao
thông hàng hải và nuôi trồng thủy sản không chỉ tạo ra các nguồn ô nhiễm thường
xuyên mà còn tiềm ẩn nguy cơ xảy ra các sự cố môi trường với phạm vi ảnh hưởng
rộng và hậu quả kéo dài. Mặc dù trong giai đoạn 2021 – 2025 trên địa bàn thành
phố chưa ghi nhận các sự cố môi trường biển đặc biệt nghiêm trọng, song cùng
với định hướng phát triển Khu công nghiệp Trần Đề, Khu công nghiệp Mỹ Thanh,
Cảng biển Trần Đề và các dự án điện gió ven biển, nguy cơ xảy ra các sự cố môi
trường trong tương lai có xu hướng gia tăng nếu không được quản lý và kiểm soát
hiệu quả.
Sự cố tràn dầu và rò rỉ nhiên liệu: Vùng biển Đồng bằng sông Cửu Long,
trong đó có khu vực ven biển thành phố Cần Thơ, nằm gần các tuyến hàng hải quốc
tế và khu vực khai thác dầu khí ngoài khơi. Hoạt động vận tải biển, tàu cá, tàu dịch
vụ, phương tiện nạo vét luồng hàng hải, kho chứa nhiên liệu và các cơ sở hậu cần
nghề cá đều tiềm ẩn nguy cơ xảy ra sự cố tràn dầu, rò rỉ nhiên liệu hoặc dầu mỡ bôi
trơn. Theo Cục Kiểm soát ô nhiễm (Bộ TN&MT, 2018), vùng biển Nam Bộ đã
từng ghi nhận nhiều vệt dầu loang trôi dạt vào bờ từ nguồn không xác định, gây ô
nhiễm cục bộ vùng ven biển và ảnh hưởng đến hệ sinh thái rừng ngập mặn.
Dầu tràn tạo lớp màng trên bề mặt nước, làm giảm khả năng khuếch tán ôxy,
ảnh hưởng đến quá trình quang hợp của thực vật phù du và gây độc đối với nhiều
loài sinh vật biển, đặc biệt là trứng, ấu trùng và cá con. Khi dầu bám vào bãi triều,
rừng ngập mặn hoặc bãi nuôi nghêu, sò, quá trình phục hồi hệ sinh thái thường
diễn ra chậm và có thể kéo dài nhiều năm. Ngoài thiệt hại về môi trường, sự cố
tràn dầu còn ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động khai thác thủy sản, nuôi trồng
thủy sản, giao thông hàng hải, cảng cá, dịch vụ hậu cần nghề cá và phát triển du
lịch ven biển.
Sự cố hóa chất và chất thải nguy hại: Hoạt động của các khu công nghiệp,
cơ sở chế biến thủy sản, kho lạnh, cảng biển và trung tâm logistics có sử dụng,
lưu giữ nhiều loại hóa chất, nhiên liệu, dầu mỡ, chất tẩy rửa và chất thải nguy hại.
Trong trường hợp xảy ra cháy nổ, rò rỉ hóa chất, vỡ bồn chứa hoặc sự cố trong
quá trình thu gom, lưu giữ và vận chuyển chất thải nguy hại, các chất ô nhiễm có
thể theo hệ thống thoát nước hoặc dòng chảy mặt lan truyền ra sông, cửa sông và
vùng biển ven bờ, gây ô nhiễm nước, trầm tích và ảnh hưởng đến các hệ sinh thái
thủy sinh. Một số chất ô nhiễm có khả năng tích lũy trong trầm tích và sinh vật
biển, làm gia tăng nguy cơ tích lũy sinh học và ảnh hưởng đến an toàn thực phẩm.
Sự cố từ hoạt động giao thông thủy, cảng biển và dịch vụ hậu cần nghề
cá: Quá trình bốc xếp hàng hóa, neo đậu tàu thuyền, tiếp nhận nhiên liệu, sửa chữa
phương tiện, nạo vét luồng hàng hải và hoạt động của các cảng cá, khu neo đậu
tránh trú bão luôn tiềm ẩn nguy cơ xảy ra va chạm tàu, chìm tàu, cháy nổ hoặc
phát tán dầu mỡ và chất thải từ tàu xuống môi trường biển. Khi quy mô hoạt động
vận tải và logistics gắn với Cảng biển Trần Đề ngày càng mở rộng, nếu công tác
149
quản lý chất thải, ứng phó sự cố và kiểm soát môi trường không được thực hiện
đồng bộ sẽ làm gia tăng nguy cơ ô nhiễm cục bộ đối với vùng cửa sông và vùng
biển ven bờ.
Sự cố ô nhiễm từ nuôi trồng thủy sản: Tại các vùng nuôi tôm thâm canh,
hiện tượng tôm chết hàng loạt do dịch bệnh, ô nhiễm môi trường ao nuôi hoặc
biến động bất thường của các yếu tố thủy văn, chất lượng nước vẫn xảy ra ở một
số thời điểm. Việc xả nước ao nuôi chưa qua xử lý hoặc xả nước từ các ao nuôi bị
dịch bệnh ra kênh rạch và vùng ven biển có thể làm phát tán mầm bệnh, gia tăng
hàm lượng chất hữu cơ, chất dinh dưỡng và vi sinh vật gây bệnh, gây ô nhiễm cục
bộ nguồn nước tiếp nhận và làm tăng nguy cơ lây lan dịch bệnh sang các khu vực
nuôi lân cận.
Sự cố trong quá trình phát triển điện gió ven biển và ngoài khơi: Các dự
án điện gió ven biển và ngoài khơi có nguy cơ phát sinh sự cố trong quá trình thi
công và vận hành như rò rỉ dầu thủy lực, sự cố thiết bị hoặc tai nạn hàng hải trong
quá trình vận chuyển, lắp đặt tua bin. Mặc dù xác suất xảy ra không lớn và quy
mô tác động thường mang tính cục bộ, các sự cố này vẫn cần được kiểm soát
thông qua kế hoạch ứng phó sự cố môi trường, giám sát thường xuyên và tuân thủ
nghiêm các quy định về bảo vệ môi trường trong suốt vòng đời dự án.
Nhìn chung, nguy cơ sự cố môi trường biển trên địa bàn thành phố chủ yếu
liên quan đến hoạt động hàng hải, cảng biển, công nghiệp ven biển, dịch vụ hậu
cần nghề cá, nuôi trồng thủy sản và phát triển năng lượng tái tạo. Trong bối cảnh
quy mô các hoạt động kinh tế biển tiếp tục mở rộng, việc xây dựng kế hoạch
phòng ngừa, nâng cao năng lực ứng phó sự cố, tăng cường quan trắc, cảnh báo
sớm và phối hợp giữa các cơ quan quản lý là những giải pháp quan trọng nhằm
giảm thiểu thiệt hại đối với môi trường biển, hệ sinh thái và cộng đồng ven biển.
6.6. XUNG ĐỘT MÔI TRƯỜNG
Xung đột môi trường tại vùng ven biển Cần Thơ phản ánh sự mâu thuẫn lợi
ích ngày càng gay gắt giữa các bên liên quan trong việc sử dụng và bảo vệ không
gian và tài nguyên biển - ven biển. Đây là biểu hiện của việc thiếu một khuôn khổ
quản lý tổng hợp vùng bờ đủ mạnh và được thực thi hiệu quả.
6.6.1. Xung đột giữa các hoạt động kinh tế
- Xung đột giữa nuôi trồng thủy sản thâm canh và bảo tồn sinh thái: Đây là
dạng xung đột nổi bật nhất tại Cần Thơ. Nhu cầu mở rộng diện tích ao nuôi tôm
để tăng sản lượng và thu nhập trực tiếp xung đột với mục tiêu bảo tồn và phục hồi
rừng ngập mặn. Rừng ngập mặn vừa là vùng đệm bảo vệ bờ biển vừa là nơi sinh
sản của tôm giống tự nhiên - nguồn lợi mà chính nghề nuôi tôm phụ thuộc vào.
Việc phá RNM để lấy đất nuôi tôm tạo ra một mâu thuẫn 'tự triệt tiêu': người nuôi
tôm phá hủy chính nguồn giống tự nhiên và bộ đệm sinh thái mà họ cần dựa vào.
Theo Luật Bảo vệ Môi trường 2020 và Nghị định 08/2022/NĐ-CP, việc phá hủy
RNM cần được kiểm soát nghiêm ngặt.
150
- Xung đột giữa khai thác thủy sản và nuôi trồng thủy sản: Nước thải từ ao
nuôi tôm thâm canh (giàu chất dinh dưỡng, kháng sinh, mầm bệnh) ảnh hưởng
đến chất lượng nước biển ven bờ, gây hại cho ngư dân khai thác tự nhiên và nghề
nuôi khác. Ngược lại, hoạt động lưới kéo ven bờ của ngư dân làm hỏng ống dẫn
nước, thiết bị lấy nước biển của các trại tôm. Hai bên thường xuyên có tranh chấp
về vùng hoạt động và thiệt hại do nhau gây ra.
- Xung đột giữa phát triển công nghiệp/đô thị và bảo vệ môi trường biển: Xu
hướng phát triển khu công nghiệp, cảng biển và đô thị ven biển (trong đó có định
hướng phát triển cảng Trần Đề thành cảng nước sâu lớn của vùng ĐBSCL) mang
theo nguy cơ ô nhiễm công nghiệp, thay đổi chế độ dòng chảy ven bờ và lấn lấp
bãi triều.
6.6.2. Xung đột lợi ích giữa các nhóm
Người dân – Doanh nghiệp: Các hộ ngư dân nhỏ lẻ ven biển chịu thiệt thòi
kép từ việc doanh nghiệp nuôi tôm lớn xả thải làm ô nhiễm ngư trường truyền
thống của họ. Trong nhiều trường hợp, người dân thiếu điều kiện đo đạc, lưu trữ
bằng chứng và tiếp cận pháp lý để bảo vệ quyền lợi, trong khi doanh nghiệp có
lợi thế thương lượng và pháp lý lớn hơn. Điều này tạo ra sự bất bình đẳng trong
phân phối lợi ích và rủi ro môi trường.
Người dân – Cơ quan quản lý: Người dân ven biển không được tham gia đầy
đủ vào quá trình lập quy hoạch và quản lý tài nguyên biển. Các quyết định về cấp
phép nuôi trồng thủy sản, xả thải và bảo tồn thường được đưa ra từ trên xuống mà
thiếu cơ chế tham vấn cộng đồng thực chất. Điều này dẫn đến thiếu đồng thuận xã
hội và khó khăn trong thực thi các quy định về bảo vệ môi trường biển.
Ngư dân ven bờ – Ngư dân xa bờ: Xung đột giữa ngư dân sử dụng tàu nhỏ
khai thác ven bờ và tàu lớn hoạt động ở vùng lộng và khơi về ranh giới vùng khai
thác, nguồn lợi và an toàn hàng hải diễn ra thường xuyên. Ngư dân ven bờ phàn
nàn rằng tàu lớn xâm phạm vùng khai thác ven bờ và khai thác cạn kiệt nguồn lợi
mà họ phụ thuộc vào.
Theo Luật Thủy sản 2017 và các quy định liên quan, phân vùng khai thác và
quản lý tàu thuyền là trách nhiệm của Sở NN&PTNT, tuy nhiên năng lực giám
sát và cưỡng chế trên biển còn hạn chế, dẫn đến nhiều quy định không được tuân
thủ trên thực tế. Tình trạng này đòi hỏi một hệ thống quản lý tổng hợp vùng bờ
(ICZM) và quản lý không gian biển (Marine Spatial Planning - MSP) được xây
dựng và triển khai bài bản.
151
CHƯƠNG 7. QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG BIỂN VÀ HẢI ĐẢO
7.1. TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÁC CHỈ TIÊU VỀ MÔI TRƯỜNG
TRONG KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
7.1.1. Tổng quan tnh hnh kinh tế - xã hội, môi trường thành phố Cần Thơ
giai đoạn 2021 - 2025
Thành phố Cần Thơ đã trải qua giai đoạn 2021 – 2025 với nhiều chuyển biến
quan trọng trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội, quản lý đô thị và môi trường. Đặc
biệt là trong hai năm cuối giai đoạn đã thực hiện sáp nhập từ 03 địa phương gồm
thành phố Cần Thơ (cũ), tỉnh Hậu Giang và tỉnh Sóc Trăng. Giai đoạn đầu sau khi
thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, thành phố Cần Thơ phải đối mặt
với nhiều khó khăn và thách thức. Xuất phát từ áp lực đô thị hóa, công nghiệp
hóa, khối lượng chất thải rắn sinh hoạt, chất thải công nghiệp, nước thải, bụi khí
thải ngày càng gia tăng, nguồn tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học bị suy
giảm. Ảnh hưởng từ biến đổi khí hậu như nước biển dâng, xâm nhập mặn, hạn
hán, sạt lở, tình hình thiên tai diễn biến phức tạp cũng là một trong những yếu tố
làm chậm quá trình phát triển kinh tế xã hội.
Trong giai đoạn này, mục tiêu đặt ra cho nhóm chỉ tiêu về môi trường là duy
trì bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên, nâng cao chất lượng môi trường sống
và giảm thiểu ô nhiễm môi trường.
Bảng 7.1. Tổng hợp chỉ tiêu môi trường giai đoạn trước sáp nhập
Nhóm chỉ
tiêu
Chỉ tiêu
Quốc gia
(%)
Cần Thơ
(%)
Hậu Giang
(%)
Sóc Trăng
(%)
Chất
lượng môi
trường
Tỷ lệ hộ dân
thành thị dùng
nước sạch
95 - 100
100
98
98-100
Tỷ lệ hộ dân
nông thôn dùng
nước sạch
93 – 95
96
95
92 - 95
Quản lý
chất thải
Tỷ lệ thu gom,
xử lý CTR đô
thị đạt chuẩn
90
100
>90
90 - 95
Tỷ lệ xử lý cơ
sở gây ô nhiễm
nghiêm trọng
100
100
100
100
Hạ tầng
công
nghiệp
Tỷ lệ KCN có
HTXLNT tập
trung đạt chuẩn
92
100
100
100
Bảo tồn &
Đa dạng
sinh học
Tỷ lệ che phủ
rừng
≥ 42
Duy trì
Duy trì
2 – 3 (đặc thù
ven biển)
(Nguồn: Nghị quyết 16/2021/QH15, Kế hoạch KT-XH TP. Cần Thơ, Kế hoạch 22/KH-
UBND tỉnh Hậu Giang và Chiến lược BVMT tỉnh Sóc Trăng)
152
7.1.2. Đánh giá mức độ hoàn thành các chỉ tiêu về môi trường trong Kế hoạch
phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Cần Thơ trong giai đoạn 2021
- 2025
Theo báo cáo tình hình thực hiện phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021 –
2025 của Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ dựa trên kết quả triển khai Nghị
quyết số 11/NQ-CP ngày 30/01/2022 của Chính phủ về chương trình phục hồi và
phát triển kinh tế - xã hội và triển khai Nghị quyết số 43/2022/QH15 của Quốc
hội về chính sách tài khóa, tiền tệ hỗ trợ. Đến năm 2025 đã đạt được các kết quả
như sau:
Các kế hoạch thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn trên địa bàn thành phố
đạt kết quả cao. Tính đến đầu năm 2025, tỷ lệ thu gom và xử lý chất thải rắn sinh
hoạt đô thị bảo đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn đạt 95% (năm 2021 đạt 91,3%); tỷ lệ
thu gom và xử lý chất thải nguy hại đạt 98% (năm 2021 đạt 97%).
Duy trì cấp nước liên tục, đủ áp lực, chất lượng nước; mở rộng mạng lưới
cung cấp nước sạch, hoàn thành các chỉ tiêu về nước sạch với tỷ lệ hộ dân được
cung cấp nước sạch khu vực đô thị đạt 95% (năm 2021 đạt 91,4%); tỷ lệ hộ dân
nông thôn được cung cấp nước sạch từ các nguồn theo quy chuẩn đạt 82,74%
(năm 2021 đạt 70,2%). Đồng thời đảm bảo rà soát, xử lý các bất cập của hệ thống
thoát nước trên địa bàn thường xuyên và trong mùa mưa bão, ngập nước.
Việc thực hiện các chỉ tiêu thống kê môi trường cũng đạt được một số kết
quả như sau:
- Thành phố Cần Thơ đã thực hiện đầy đủ báo cáo bộ chỉ tiêu thống kê môi
trường theo quy định.
- Triển khai tổng hợp, tính toán các chỉ tiêu trong bộ chỉ số đánh giá kết
quả bảo vệ môi trường của địa phương theo hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp và
Môi trường.
- Thực hiện báo cáo các chỉ tiêu thống kê môi trường trong danh mục các chỉ
tiêu thống kê quốc gia gồm tỷ lệ chất thải nguy hại được thu gom; xử lý; tỷ lệ chất
thải rắn sinh hoạt được thu gom và xử lý.
- Đối với các chỉ tiêu môi trường liên quan đến hoạt động bảo vệ môi trường
biển – ven biển:
+ Hoàn thành dự án liên quan đến quan trắc chất lượng nước biển ven bờ
và bảo vệ rừng phòng hộ ven biển, hỗ trợ bảo tồn hệ sinh thái biển.
+ Xử lý rác thải nhựa ven biển đạt yêu cầu theo kế hoạch đề ra và thực hiện
báo cáo chuyên đề rác thải nhựa năm 2023.
+ Tích hợp bảo vệ môi trường biển vào quy hoạch tỉnh giai đoạn 2021 –
2030, tầm nhìn đến năm 2050, bao gồm ứng phó biến đổi khí hậu và giảm
ô nhiễm nguồn nước.
153
Tổng thể cho thấy, quy hoạch phát triển kinh tế xã hội và môi trường của
thành phố đang đi đúng hướng. Mức độ hoàn thành các chỉ tiêu môi trường đều
ổn định và tăng dần qua các năm. Những con số cải thiện rõ rệt so với năm 2021
chứng tỏ hiệu quả của các kế hoạch hành động, đặc biệt trong bối cảnh đô thị hóa
nhanh và tác động của biến đổi khí hậu.
Trong giai đoạn sắp tới, để duy trì đà tăng trưởng và vượt qua thách thức, cần
lưu ý một số vấn đề then chốt: Đầu tư đồng bộ hạ tầng thoát nước và xử lý nước
thải để giảm ngập úng mùa mưa bão; Nâng cao tỷ lệ sử dụng nước sạch, ưu tiên
vùng nông thôn và các khu vực khó khăn; Tăng cường giám sát, ứng dụng công
nghệ quan trắc tự động cho chất thải nhựa và nước biển ven bờ; Nâng cao nhận
thức cộng đồng qua các chiến dịch truyền thông, khuyến khích phân loại rác tại
nguồn và giảm thiểu nhựa dùng một lần. Đồng thời việc tích hợp bảo vệ môi trường
vào quy hoạch dài hạn cần được cụ thể hóa bằng các dự án ưu tiên, nguồn vốn đa
dạng (ngân sách nhà nước, ODA, ...) và cơ chế đánh giá định kỳ.
7.2. HỆ THỐNG CHÍNH SÁCH VÀ VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT
7.2.1. Hệ thống văn bản triển khai thực hiện các chính sách, pháp luật về bảo
vệ môi trường, môi trường biển – ven biển của Trung ương
Tình hình xây dựng hệ thống văn bản pháp luật của Trung ương về triển khai
thực hiện các chính sách pháp luật bảo vệ môi trường, môi trường biển và hải đảo
ở Việt Nam trong thời gian qua đã có nhiều chuyển biến tích cực theo hướng đồng
bộ, toàn diện và có thứ bậc rõ ràng.
Dựa trên khung pháp lý nền tảng là Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 và
Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo năm 2015 làm cơ sở cho quản lý
tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển. Nhiều Nghị định, Thông tư hướng
dẫn thi hành đã được ban hành kịp thời cùng với các chiến lược, chương trình
quốc gia về phát triển bền vững kinh tế biển, quản lý tổng hợp vùng bờ biển và
kiểm soát ô nhiễm góp phần hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho quản lý tài nguyên
và bảo vệ môi trường biển và hải đảo, thúc đẩy cơ chế phối hợp liên ngành, liên
vùng và nâng cao hiệu quả thực thi quản lý tài nguyên môi trường biển và hải đảo.
(i) Khung nền tảng pháp lý (cấp luật):
- Luật Bảo vệ môi trường năm 2020: Quy định về Đánh giá tác động môi
trường (ĐTM), quan trắc môi trường, kiểm soát ô nhiễm và bảo vệ hệ sinh thái tự
nhiên, ứng phó sự cố và quản lý chất thải. Đây là nền tảng chung cho công tác bảo
vệ môi trường bao gồm cả môi trường biển.
- Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo 2015: Quy định về quản lý
tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, đặc biệt là cơ chế quản lý vùng
bờ và kiểm soát ô nhiễm biển.
(ii) Văn bản hướng dẫn thi hành (cấp Nghị định, Thông tư):
154
- Nghị định số 08/2022/NĐ-CP của Chính phủ hướng dẫn chi tiết thi hành
một số điều của Luật Bảo vệ môi trường; Nghị định 05/2025/NĐ-CP của Chính
phủ sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 08/2022/NĐ-CP ngày 10 tháng
01 năm 2022 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo vệ môi
trường; Nghị định 48/2026/NĐ-CP của Chính phủ Sửa đổi, bổ sung một số điều
của Nghị định số 08/2022/NĐ-CP ngày 10/01/2022 của Chính phủ quy định chi
tiết một số điều của Luật Bảo vệ môi trường được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định
số 05/2025/NĐ-CP ngày 06/01/2025.
- Nghị định số 40/2016/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2016 của Chính phủ quy
định chi tiết thi hành một số điều của Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo.
- Nghị định số 41/2016/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2016 của Chính phủ
quy định quy định chi tiết việc cấp phép cho tổ chức, cá nhân nước ngoài tiến
hành nghiên cứu khoa học trong vùng biển Việt Nam.
- Nghị định số 11/2021/NĐ-CP ngày 10 tháng 2 năm 2021 của Chính phủ
quy định việc giao các khu vực biển nhất định cho tổ chức, cá nhân khai thác, sử
dụng tài nguyên biển.
- Nghị định số 65/2025/NĐ-CP ngày 12/3/2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ
dung một số điều của Nghị định số 40/2016/NĐ-CP ngày 15/5/2016 của Chính
phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tài nguyên, môi trường biển
và hải đảo và Nghị định số 11/2021/NĐ-CP ngày 10/2/2021 của Chính phủ quy
định việc giao các khu vực biển nhất định cho tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng
tài nguyên biển.
- Nghị định số 58/2025/NĐ-CP ngày 03/3/2025 của Chính phủ Quy định chi
tiết một số điều của Luật Điện lực về phát triển năng lượng tái tạo, điện năng
lượng mới, trong đó có nội dung về cơ chế hỗ trợ phát triển năng lượng gió, năng
lượng mặt trời trên biển.
- Thông tư số 10/2021/TT-BTNMT - Quy định kỹ thuật về quan trắc môi
trường và quản lý thông tin, dữ liệu quan trắc chất lượng môi trường.
- Thông tư số 02/2022/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường Quy
định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường; Thông tư
07/2025/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường Sửa đổi, bổ sung một số
điều của Thông tư số 02/2022/TT-BTNMT; Thông tư số 09/2026/TT-BNNMT
của Bộ Nông nghiệp và Môi trường Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư
số 02/2022/TT-BTNMT ngày 10/01/2022 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi
trường quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ Môi trường được
sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 07/2025/TT-BTNMT và Thông tư số
02/2022/TT-BTNMT.
155
- Thông tư số 29/2016/TT-BTNMT - Quy định kỹ thuật thiết lập hành lang
bảo vệ bờ biển, giúp ngăn chặn các hoạt động xâm hại đến hệ sinh thái ven biển
và bảo vệ quỹ đất cho phát triển bền vững.
- Thông tư số 01/2025/TT-BKHĐT ngày 02/1/2025 của Bộ Kế hoạch và Đầu
tư quy định bộ chỉ tiêu thống kê quốc gia về biển và hải đảo và bộ chỉ tiêu đánh
giá quốc gia biển mạnh.
(iii) Chiến lược phát triển (Nghị quyết, Quyết định):
Cùng với việc áp dụng các chính sách pháp luật theo khuôn khổ pháp lý của
Luật và các Nghị định, Thông tư trong công tác bảo vệ môi trường biển và hải đảo,
Đảng và Nhà nước cũng đã ban hành nhiều văn bản liên quan với mục tiêu đến năm
2030, tài nguyên biển và hải đảo được khai thác hợp lý, sử dụng hiệu quả để phát
triển nhanh và bền vững các ngành kinh tế biển và dung lịch ven biển.
(iv) Các văn bản quy phạm pháp luật khác đã triển khai:
- Nghị quyết số 139/2020/QH15 của Quốc hội phê duyệt Quy hoạch không
gian biển quốc gia giai đoạn 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
- Nghị quyết số 26/NQ-CP của Chính phủ ngày 05/3/2020 Ban hành Kế
hoạch tổng thể và kế hoạch 5 năm của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 36-NQ-
TW ngày 22 tháng 10 năm 2018 của Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung
ương Đảng khóa XII về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển đến năm 2030,
tầm nhìn đến năm 2045.
- Nghị quyết số 48/NQ-CP ngày 03/4/2023 của Chính phủ Phê duyệt Chiến
lược khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên bảo vệ môi trường biển và hải đảo
đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
- Quyết định số 1117/QĐ-TTg ngày 07/10/2024 của Thủ tướng Chính phủ
phê duyệt Quy hoạch tổng thể khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng bờ
thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
- Quyết định số 236/QĐ-TTg ngày 25/01/2025 của Thủ tướng Chính phủ ban
hành kế hoạch thực hiện quy hoạch tổng thể khai thác, sử dụng bền vững tài
nguyên vùng bờ thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
- Nghị quyết số 37/NQ-CP ngày 27/0/2025 của Chính phủ Ban hành Kế
hoạch thực hiện Quy hoạch không gian biển quốc gia thời kỳ 2021 – 2030, tầm
nhìn đến năm 2050.
- Quyết định số 1746/QĐ-TTg ngày 04/12/2019 của Thủ tướng Chính phủ
Về việc ban hành Kế hoạch hành động quốc gia về quản lý rác thải nhựa đại dương
đến năm 2030.
Việc cụ thể hóa luật định bằng hệ thống văn bản hướng dẫn chi tiết với sự
phối hợp đồng bộ giữa các cấp chính quyền đã góp phần hiệu quả trong việc duy
trì công tác quản lý rác thải nhựa và kiểm soát ô nhiễm. Hoạt động hợp tác quốc
tế được mở rộng, giúp nâng cao năng lực quản lý và hội nhập với các chuẩn mực
toàn cầu trong các lĩnh vực về biển.
156
Tuy nhiên, trong quá trình triển khai vẫn còn những khó khăn vướng mắc
như thiếu hụt nguồn lực, tài chính, hạ tầng công nghệ chưa đủ hiện đại để đáp ứng
trong việc giám sát. Sự chồng chéo trong quy định pháp luật về bồi thường thiệt
hại và kiểm soát nguồn thải từ đất liền vẫn còn là nút thắt cần tháo gỡ. Do đó cần
tiếp tục hoàn thiện thể chế, tăng cường năng lực thực thi và đẩy mạnh quản lý
tổng hợp nhằm bảo vệ môi trường biển và hải đảo một cách hiệu quả và bền vững
hơn trong giai đoạn tiếp theo.
7.2.2. Các văn bản pháp lý và chương trnh, kế hoạch của thành phố Cần
Thơ liên quan đến quản lý môi trường biển và hải đảo giai đoạn 2021
– 2025
a. Một số chính sách pháp luật về tài nguyên môi trường biển đảo đã ban
hành như sau:
- Quyết định số 890/QĐ-TTg ngày 25/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ phê
duyệt dự án "Thu gom tự động rác nổi trên sông" do tổ chức Làm sạch biển (TOC)
của Hà Lan tài trợ tại thành phố Cần Thơ.
- Quyết định số 1519/QĐ-TTg ngày 02/12/2023 của Thủ tướng Chính phủ
về phê duyệt Quy hoạch thành phố Cần Thơ thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến
năm 2050.
- Kế hoạch tổng thể và Kế hoạch 5 năm số 70/KH-UBND ngày 10/6/2020
thực hiện chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030,
tầm nhìn đến năm 2045 trên địa bàn thành phố Cần Thơ (đề ra 21 đề án, dự án,
nhiệm vụ thuộc 06 lĩnh vực trọng tâm cho giai đoạn đột phá 2021 - 2025) .
- Quyết định số 791/QĐ-UBND ngày 14/4/2021 của Ủy ban nhân dân thành
phố Cần Thơ phê duyệt dự án “Xây dựng bản đồ phân vùng rủi ro thiên tai do
biến đổi khí hậu và tăng cường mạng lưới quan trắc xâm nhập mặn tại thành phố
Cần Thơ” do Bộ Ngoại giao Hàn Quốc tài trợ thông qua Quỹ Hợp tác Mekong -
Hàn Quốc (MKCF).
- Quyết định số 508/QĐ-UBND ngày 21/02/2022 phê duyệt Chương trình
quan trắc chất lượng môi trường giai đoạn 2021 - 2025 tỉnh Sóc Trăng.
- Quyết định số 1160/QĐ-UBND ngày 01/4/2022 của Ủy ban nhân dân thành
phố Cần Thơ về việc ban hành Kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu
thành phố Cần Thơ giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
- Quyết định số 1883/QĐ-UBND ngày 21/8/2023 của Ủy ban nhân dân thành
phố Cần Thơ phê duyệt dự án hỗ trợ kỹ thuật “Xây dựng kế hoạch hành động lồng
ghép ứng phó với biến đổi khí hậu và tăng trưởng xanh giai đoạn 2023 - 2030,
tầm nhìn đến năm 2050 trên địa bàn thành phố Cần Thơ” do Ngân hàng Phát triển
Châu Á (ADB) tài trợ.
157
- Quyết định số 10/2024/QĐ-UBND ngày 05/2/2024 Quy định Khu vực, địa
điểm đổ thải, nhận chìm đối với vật chất nạo vét từ hệ thống giao thông đường
thủy nội địa, đường biển trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng và Quyết định số
11/2024/QĐ-UBND ngày 05/2/2024 Quy định về quản lý, bảo vệ hành lang bảo
vệ bờ biển trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng.
- Quyết định số 224/QĐ-UBND ngày 23/01/2025 của Ủy ban nhân dân thành
phố Cần Thơ phê duyệt dự án “Tăng cường khả năng chống chịu với biến đổi khí
hậu cho cộng đồng tại thành phố Cần Thơ” do Quỹ Z Zurich tài trợ thông qua Tổ
chức ISET (Hoa Kỳ) .
- Quyết định số 1091/QĐ-UBND ngày 09/5/2025 của Ủy ban nhân dân tỉnh
Sóc Trăng về việc công bố thủ tục hành chính sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực
biển và hải đảo thuộc phạm vi quản lý của Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh
Sóc Trăng.
- Quyết định số 1995/QĐ-UBND ngày 22/10/2025 của Ủy ban nhân dân
thành phố Cần Thơ về phê duyệt nội dung quy hoạch cần điều chỉnh để triển khai
lập điều chỉnh Quy hoạch thành phố Cần Thơ thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến
năm 2050.
- Nghị quyết số 01-NQ/TU ngày 28/10/2025 Đại hội đại biểu Đảng bộ thành
phố Cần Thơ lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030 (định hướng phát triển kinh tế biển
gắn liền với bảo vệ môi trường, bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học và thích
ứng biến đổi khí hậu).
- Quyết định số 3696/QĐ-UBND ngày 31/12/2025 của Ủy ban nhân dân
thành phố Cần Thơ phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch thành phố Cần Thơ thời kỳ
2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
- Chương trình quản lý tổng hợp vùng bờ đến năm 2030 được thành phố xây
dựng, thực thi nhằm phục vụ công tác quản lý, khai thác và sử dụng bền vững tài
nguyên vùng ven biển, đảo.
b. Các nhiệm vụ, dự án đã triển khai thực hiện:
- Dự án Thu gom tự động rác nổi trên sông do tổ chức Làm sạch biển (TOC)
của Hà Lan tài trợ (được phê duyệt năm 2020).
- Dự án “Xây dựng bản đồ phân vùng rủi ro thiên tai do biến đổi khí hậu và
tăng cường mạng lưới quan trắc xâm nhập mặn tại thành phố Cần Thơ” do Bộ
Ngoại giao Hàn Quốc tài trợ thông qua Quỹ Hợp tác Mekong - Hàn Quốc (MKCF)
(được phê duyệt năm 2021).
- Báo cáo hiện trạng môi trường biển và hải đảo tỉnh Sóc Trăng năm 2023 –
Chuyên đề “Rác thải nhựa vùng ven biển tỉnh Sóc Trăng” (năm 2023).
- Dự án hỗ trợ kỹ thuật “Xây dựng kế hoạch hành động lồng ghép ứng phó
với biến đổi khí hậu và tăng trưởng xanh giai đoạn 2023 - 2030, tầm nhìn đến năm
2050 trên địa bàn thành phố Cần Thơ” do Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB)
tài trợ (được phê duyệt năm 2023).
158
- Tổ chức các hoạt động hưởng ứng ngày Đại dương thế giới, Tuần lễ Biển
và Hải đảo Việt Nam 2024 (năm 2024).
- Dự án “Tăng cường khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu cho cộng
đồng tại thành phố Cần Thơ” do Quỹ Z Zurich tài trợ thông qua Tổ chức ISET
(Hoa Kỳ) (được phê duyệt năm 2025) .
- Dự án “Đầu tư trang thiết bị Phòng Thí nghiệm Công nghệ sinh học, Phân
tích hóa lý và Vi sinh tỉnh Sóc Trăng” với tổng mức đầu tư là 9,74 tỷ đồng .
- Dự án xây dựng Phòng Thí nghiệm thuộc Trung tâm Quan trắc Tài nguyên
và Môi trường (nay thuộc thành phố Cần Thơ) đạt tiêu chuẩn ISO/IEC
17025:2005.
- Dự án xây dựng Trại thực nghiệm công nghệ sinh học và Trung tâm Ứng
dụng Tiến bộ Khoa học và Công nghệ với tổng dự toán 40,43 tỷ đồng.
- Dự án Xây dựng và quản lý chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm trứng bào xác
Artemia Vĩnh Châu của tỉnh Sóc Trăng (trước sáp nhập).
- Dự án Xây dựng mô hình nuôi tôm sú (Penaeus monodon) kết hợp với các
đối tượng có giá trị kinh tế cao (cá đối mục, cá măng) theo hướng bền vững tại
khu vực ven biển tỉnh Sóc Trăng (trước sáp nhập).
- Đề tài Nghiên cứu quy trình nuôi Artemia ở độ mặn thấp theo chế độ dinh
dưỡng cải tiến tại thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng (trước sáp nhập) .
- Dự án Xây dựng mô hình tự động quản lý môi trường nước trong ao nuôi
tôm tại Hợp tác xã nuôi trồng thủy sản ở thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng (trước
sáp nhập).
- Dự án Cải tiến mô hình nuôi tôm thẻ trong ao đất tại thị xã Vĩnh Châu, tỉnh
Sóc Trăng (trước sáp nhập).
- Dự án Hoàn thiện quy trình sản xuất giống cá chốt nghệ (Mystus gulio)
trong điều kiện nhân tạo tại tỉnh Sóc Trăng (trước sáp nhập).
- Đề tài Nghiên cứu đánh giá hiện trạng bãi nghêu và đề xuất quy hoạch vùng
nuôi nghêu phù hợp tại vùng biển ven bờ huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng
(trước sáp nhập).
- Dự án Hoàn thiện và nhân rộng mô hình nuôi Artemia theo quy trình nuôi
ở độ mặn thấp thích ứng với biến đổi khí hậu cho vùng ruộng muối Vĩnh Châu,
tỉnh Sóc Trăng (trước sáp nhập).
- Dự án Tuyến đường trục phát triển kinh tế Đông Tây tỉnh Sóc Trăng.
- Đường giao thông đến Trung tâm xã Hòa Đông (đường Huyện 41).
- Đường giao thông đến trung tâm xã Đại Ân 1.
- Tuyến đường trục giao thông từ kênh Tư đến cống Bãi Giá.
159
- Các dự án nâng cấp, mở rộng, cải tạo các tuyến đường Tỉnh: 932, 932B,
933, 933B, 934, 935, 936, 938, 939, 940.
- Xây dựng tuyến đê bao ngăn mặn và đường phục vụ an ninh quốc phòng,
ứng cứu tàu thuyền vùng biển huyện Trần Đề.
- Dự án Nâng cấp đê biển kết hợp xây dựng hệ thống ngăn mặn từ cầu Mỹ
Thanh 2 đến ranh Bạc Liêu (đoạn từ Trà Sết đến ranh Bạc Liêu).
- Dự án Đê biển từ cầu Mỹ Thanh 2 đến ranh Bạc Liêu (đoạn cầu Mỹ Thanh
2 đến Trà Sết), thị xã Vĩnh Châu ở giai đoạn 1.
- Công trình nâng cấp đê cửa sông Tả Hữu Cù Lao Dung.
- Dự án đầu tư xây dựng công trình Gia cố sạt lở bờ biển từ đoạn K39 đến
K45, xã Vĩnh Hải, thị xã Vĩnh Châu.
- Dự án đầu tư xây dựng công trình Gia cố chống sạt lở bờ biển đặc biệt nguy
hiểm đoạn từ cống số 2 đến cống số 4, thị xã Vĩnh Châu.
- Dự án Tái cơ cấu sản xuất và phòng chống giảm nhẹ thiên tai vùng sản xuất
hành tím của đồng bào Khmer, thị xã Vĩnh Châu.
- Dự án Nâng cấp cơ sở hạ tầng phục vụ nuôi thủy sản tại thị xã Vĩnh Châu.
- Dự án Nâng cấp, mở rộng cảng cá Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng.
- Xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung tại Khu công nghiệp Trần Đề
(giai đoạn 1) với công suất đạt 4.500 m
3
.
- Phối hợp trong công tác thẩm định 02 hồ sơ đề nghị giao khu vực biển của
hai Tiểu khu B1.1 và B1.2 để khai thác, cung cấp cát biển san lấp phục vụ cho
Dự án xây dựng công trình đường bộ cao tốc Bắc – Nam phía Đông giai đoạn
2021 – 2025.
- Dự án thành phần 4 thuộc dự án xây dựng đường bộ cao tốc Châu Đốc -
Cần Thơ - Sóc Trăng.
- Dự án đầu tư xây dựng công trình cầu Đại Ngãi trên Quốc lộ 60 (dự kiến
hoàn thành trước năm 2030).
- Dự án “Chương trình quản lý tổng hợp tài nguyên vùng bờ tỉnh Sóc Trăng
đến năm 2030 và định hướng đến năm 2045” (hoặc tiêu đề tương tự trong văn bản
là "Chương trình quản lý tổng hợp vùng bờ đến năm 2030").
- Thỏa thuận toàn cầu của các thị trưởng về Khí hậu và Năng lượng (GCom)
- Dự án “Điều tra cơ bản về tài nguyên, môi trường vùng bờ tỉnh Sóc Trăng”.
- Phối hợp với Tổ chức Hợp tác Phát triển Đức (GIZ) trong khuôn Dự án “Tiết
giảm, tái sử dụng, tái chế rác thải nhựa bảo vệ môi trường biển và các rạn san hô khu
vực Đông Nam Á (3RproMar) triển khai trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng (trước sáp nhập).
160
7.3. HỆ THỐNG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG
7.3.1. Hệ thống tổ chức bộ máy quản lý môi trường từ cấp thành phố đến cấp
xã, phường
Theo Quyết định 759/QĐ-TTg ngày 14/4/2025 của Thủ tướng Chính phủ
phê duyệt Đề án sắp xếp tổ chức lại đơn vị hành chính các cấp và xây dựng mô
hình tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp, mô hình chính quyền địa phương
được tinh gọn thành 2 cấp:
- Cấp tỉnh (tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương): Giữ nguyên cơ cấu tổ
chức hiện tại, chịu sự chỉ đạo trực tiếp từ Trung ương, thực hiện chức năng quản
lý nhà nước trên địa bàn.
- Cấp xã (xã, phường trong đất liền và đặc khu ở hải đảo): bỏ cấp huyện và
thị trấn; cấp xã đảm nhận toàn bộ nhiệm vụ của cả cấp huyện và xã cũ với tối đa
4 phòng chuyên môn thuộc UBND cấp xã (do UBND cấp tỉnh quyết định cụ thể
dựa trên điều kiện địa phương để đảm bảo tinh gọn hiệu quả).
Sau khi sáp nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh, vận hành Chính quyền địa
phương hai cấp, UBND thành phố Cần thơ đã chỉ đạo cơ quan chuyên môn và
UBND các xã, phường nghiêm túc quán triệt, triển khai thực hiện đầy đủ các quy
định pháp luật về phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền cũng như chủ
động rà soát, đánh giá khả năng thực hiện tại các cơ quan đơn vị ở địa phương để
kịp thời đưa ra các đề xuất, điều chỉnh, hướng dẫn và sửa đổi hoặc kiến nghị để
có phương hướng thực hiện phù hợp theo lộ trình và tình hình thực tiễn.
Tính đến thời điểm hiện tại, đã thực hiện rà soát và xử lý 399 văn bản (135
Nghị quyết, 264 Quyết định) trên tổng số 1.310 văn bản quy phạm pháp luật của
03 địa phương trước sáp nhập (thành phố Cần Thơ, tỉnh Sóc Trăng và tỉnh Hậu
Giang). Hiện tại thành phố Cần Thơ đang tiếp tục rà soát, lập danh mục và đề xuất
hình thức xử lý cụ thể đối với từng văn bản. Đồng thời đã ban hành quy định về
chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của 14/14 cơ quan chuyên môn cấp thành phố
và 100% UBND xã, phường đã ban hành quyết định quy định chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan chuyên môn và Trung tâm Phục vụ
hành chính công.
Đến cuối năm 2025, thành phố đã cơ bản hoàn thành việc sắp xếp, tổ chức
lại các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc UBND thành phố và các cơ quan chuyên
môn theo đúng chủ trương, quy định và hướng dẫn của Bộ, ngành Trung ương.
Thành lập các phòng chuyên môn và tổ chức hành chính trực thuộc UBND cấp
xã theo định hướng và quy định của cấp có thẩm quyền, đồng thời sắp xếp lại các
đơn vị sự nghiệp công lập tiếp nhận từ cấp huyện. Tổng số xã, phường sau sắp
xếp là 103 đơn vị (31 phường 72 xã) với 299 phòng chuyên môn cấp xã không
bao gồm Trung tâm Phục vụ hành chính công.
161
Việc cơ cấu tổ chức và đội ngũ chuyên môn làm công tác quản lý môi trường
được phân công rõ ràng và cụ thể ở các cấp. Đối với cấp thành phố, công tác quản
lý môi trường được giao tập trung về Sở Nông nghiệp và Môi trường (Chi cục
Môi trường có 30 biên chế công chức, Trung tâm Quan trắc tài nguyên và môi
trường có 67 biên chế viên chức và người lao động và Phòng TNN, KS và
Biển: ....) . Một số nhiệm vụ khác liên quan được giao Ban Quản lý các khu chế
xuất và công nghiệp Cần Thơ; Sở Công Thương, Sở Khoa học và Công nghệ;
Công an thành phố phụ trách và phối hợp thực hiện. Công tác quản lý môi trường
tại cấp xã hầu hết được giao về Phòng Kinh tế, Hạ tầng và Đô thị (gồm 01 lãnh
đạo phòng và 01 chuyên viên phụ trách).
7.3.2. Hệ thống tổ chức bộ máy quản lý môi trường biển và hải đảo theo mô
hnh hai cấp, phân công trách nhiệm giữa các cơ quan quản lý nhà
nước có liên quan
Hệ thống tổ chức bộ máy quản lý môi trường biển và hải đảo tại Việt Nam
căn cứ Văn bản hợp nhất số 18/VBHN-VPQH ngày 26/2/2025, tập trung vào phân
cấp giữa Trung ương và địa phương với sự phân công rõ ràng để đảm bảo quản lý
tổng hợp tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo. Cấp trung ương chủ trì
lập chiến lược quốc gia, quy hoạch tổng thể và chương trình điều tra cơ bản trong
khi cấp địa phương thực hiện hóa các nhiệm vụ này.
Theo Quyết định số 08/2025/QĐ-UBND ngày 07/7/2025 của UBND thành
phố Cần Thơ, giao Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố Cần Thơ là cơ quan
tham mưu, trình UBND thành phố xây dựng và ban hành các kế hoạch, phương
án và các nội dung có liên quan trong công tác quản lý nhà nước và về tài nguyên
và môi trường trên địa bàn thành phố bao gồm các thủ tục hành chính liên quan
đến lĩnh vực biển và hải đảo thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở Nông nghiệp và
Môi trường.
Ở cấp phường xã, theo Nghị định số 150/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2025 của
Chính phủ, lĩnh vực Nông nghiệp và Môi trường, trong đó có biển và hải đảo (đối
với đơn vị hành chính có biển, đảo do Phòng Kinh tế, Hạ tầng và đô thị tham mưu,
giúp UBND cấp xã thực hiện chức năng quản lý nhà nước.
Sau giai đoạn sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, hình thành thành phố Cần
Thơ (gồm thành phố Cần Thơ, tỉnh Sóc Trăng và tỉnh Hậu Giang), thành phố Cần
Thơ mới đã ban hành Quyết định số 1708/QĐ-UBND ngày 27/6/2025 thành phố
Cần Thơ về việc công bố Danh mục các thủ tục hành chính lĩnh vực biển và hải
đảo thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở Nông nghiệp và Môi trường; Ủy ban
nhân dân xã, phường trên địa bàn thành phố Cần Thơ. Trong đó, các thủ tục liên
quan đến giao, trả, gia hạn khu vực biển; giấy phép nhận chìm; hoạt động liên
quan đến cấp phép nghiên cứu khoa học trong vùng biển quản lý hành chính trên
biển của cấp tỉnh; khai thác và sử dụng cơ sở dữ liệu tài nguyên môi trường biển
và hải đảo thuộc thẩm quyền của UBND cấp tỉnh thành phố. Các thủ tục liên quan
đến việc giao khu vực biển cho cá nhân Việt Nam để nuôi trồng thủy sản thuộc
thẩm quyền của UBND cấp xã.
162
Nhìn chung, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và tổ chức bộ máy quản
lý môi trường, môi trường biển và hải đảo theo mô hình hai cấp đã ở mức khá đầy
đủ và đang từng bước hoàn thiện. Luật Bảo vệ môi trường 2020 được đánh giá là
một trong những luật môi trường tiến bộ nhất trong khu vực ASEAN về tính tích
hợp và tiếp cận rủi ro (UNDP Việt Nam, 2021). Việc chuyển từ hệ thống nhiều
loại giấy phép/xác nhận sang Giấy phép môi trường về lý thuyết đơn giản hóa thủ
tục hành chính và tăng hiệu quả quản lý nhà nước.
Tuy nhiên, về mặt thực tiễn triển khai còn nhiều hạn chế cần nhìn nhận.
Khoảng cách giữa quy định pháp luật và năng lực thực thi địa phương vẫn còn
lớn. Thiếu nguồn nhân lực cán bộ chuyên trách trong lĩnh vực môi trường, cũng
như chưa được tập huấn, đào tạo bài bản chuyên sâu về các quy định mới của Luật
Bảo vệ môi trường 2020 vá các VB hướng dẫn thi hành, dẫn đến lúng túng trong
áp dụng và khó khăn trong công tác thẩm định hồ sơ tại một số địa phương.
7.4. VẤN ĐỀ TÀI CHÍNH, ĐẦU TƯ CHO CÔNG TÁC BẢO VỆ MÔI
TRƯỜNG BIỂN
7.4.1. Đầu tư từ ngân sách Nhà nước cho công tác bảo vệ môi trường biển
Nguồn kinh phí sự nghiệp bảo vệ môi trường từ ngân sách Nhà nước được
quản lý và sử dụng trên cơ sở bám sát nội dung Thông tư 02/2017/TT-BTC ngày
06/1/2017 của Bộ Tài chính và các Nghị quyết của Hội đồng nhân dân về phân
định các nhiệm vụ chi về bảo vệ môi trường của ngân sách địa phương. Trên cơ
sở nhu cầu thực tế, bám sát các mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ môi trường theo kế
hoạch phát triển kinh tế - xã hội, dự toán ngân sách và kinh phí được phân bổ cho
các hoạt động trọng tâm như: thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh
hoạt; quan trắc, giám sát chất lượng môi trường; tuyên truyền, nâng cao nhận thức
cộng đồng; hỗ trợ triển khai các mô hình phân loại rác tại nguồn và bảo tồn đa
dạng sinh học tại địa phương.
Thực hiện Nghị quyết của Hội đồng nhân dân, UBND thành phố đã giao dự
toán ngân sách nhà nước từ nguồn kinh phí sự nghiệp môi trường cho các Sở,
ngành và địa phương. Cụ thể, theo báo cáo công tác bảo vệ môi trường năm 2025,
thành phố đã phân bổ nguồn tài chính để chi cho hoạt động bảo vệ môi trường với
tổng số tiền là 600.327 triệu đồng. Trong đó, tổng số, tỷ lệ ngân sách nhà nước
đầu tư phát triển chi cho bảo vệ môi trường là 53.844 triệu đồng, chiếm 0,18%
trong tổng chi đầu tư phát triển. Tổng số, tỷ lệ ngân sách nhà nước chi hoạt động
sự nghiệp bảo vệ môi trường là 454.787 triệu đồng, chiếm 0,018% trong tổng chi
thường xuyên. Tổng số, tỷ lệ vốn ODA chi cho hoạt động bảo vệ môi trường:
91.696 triệu đồng, chiếm 34,07%.
Trong công tác bảo vệ môi trường biển trên địa bàn thành phố, các phương
án, chủ trương đầu tư chủ yếu tập trung vào các dự án quan trắc, phục hồi rừng
phòng hộ ven biển và quản lý tổng hợp tài nguyên vùng bờ.
163
Về kinh phí và ngân sách dành cho công tác bảo vệ môi trường biển giai
đoạn 2021 – 2025 được ghi nhận như sau:
Bảng 7.2. Kinh phí và ngân sách cho công tác bảo vệ môi trường biển thành
phố giai đoạn 2021 - 2025
STT
Năm
Kinh phí (triệu đồng)
1
2021
3,083
2
2022
699,6
3
2023
355,590
4
2024
936,232
5
2025
1.875
Tổng
3.869,505
(Nguồn: Sở Tài chính thành phố Cần Thơ, 2025)
Một số khó khăn, hạn chế trong quá trình thực hiện gồm: (i) Nguồn kinh phí
bố trí cho các dự án, nhiệm vụ còn hạn hẹp, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu phục vụ
công tác quản lý theo quy định; (ii) Công tác giải ngân tại một số địa phương còn
chậm, ảnh hưởng đến tiến độ triển khai và hiệu quả thực hiện các dự án, nhiệm vụ.
7.4.2. Đầu tư từ việc huy động sự tham gia của cộng đồng, doanh nghiệp và
các nguồn lực xã hội hóa
Huy động và xã hội hóa nguồn lực đóng vai trò quan trọng trong công tác bảo
vệ môi trường bằng sự tham gia tích cực của các ngành, địa phương, đoàn thể chính
trị - xã hội và cộng đồng người dân. Điều này giúp mở rộng nguồn lực, tăng tính
đồng thuận và nâng cao hiệu quả trong triển khai các mục tiêu phát triển chung.
Việc huy động các nguồn lực xã hội góp phần bổ sung nguồn lực cho Nhà
nước, giảm áp lực phụ thuộc vào ngân sách, đặc biệt trong các lĩnh vực đòi hỏi
đầu tư lớn như văn hóa, khoa học, công nghệ và an sinh xã hội. Đồng thời sự tham
gia của cộng đồng và doanh nghiệp giúp nâng cao hiệu quả và tính bền vững của
các hoạt động do bám sát nhu cầu thực tiễn và có khả năng duy trì lâu dài. Bên
cạnh đó, doanh nghiệp phát huy vai trò trách nhiệm xã hội thông qua việc tạo việc
làm, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, liên kết chuỗi giá trị và hỗ trợ phát triển địa
phương. Ngoài ra, sự tham gia của cộng đồng còn góp phần khơi dậy sức dân và
trí tuệ xã hội, tăng cường giám sát, phản biện, nâng cao tính minh bạch và tạo sự
lan tỏa tích cực trong toàn xã hội.
Trong giai đoạn vừa qua, thành phố Cần Thơ đã tích cực triển khai nhiều chủ
trương, chính sách, khuyến khích sự tham gia của cộng đồng, doanh nghiệp và
các nguồn lực xã hội hóa vào phát triển kinh tế - xã hội và đã đạt được một số kết
quả nhất định. Nhiều doanh nghiệp đã đầu tư hệ thống thu gom và xử lý chất thải
164
theo chủ trương bảo vệ môi trường, tham gia vào hỗ trợ các chương trình có mục
đích bảo vệ môi trường. Đặc biệt, lĩnh vực cung ứng và dịch vụ môi trường đã trở
thành lĩnh vực thu hút các tổ chức và cá nhân tham gia đầu tư phát triển từ nhiều
nguồn vốn, bước đầu hình thành dịch vụ môi trường ngoài công ích. Trong đó có
Công ty TNHH Năng lượng Môi trường EB Cần Thơ là chủ đầu tư Nhà máy xử
lý rác sinh hoạt (đốt rác phát điện) tại ấp Trường Thọ, xã Trường Xuân với tổng
vốn đầu tư 47 triệu USD cho nhà máy công suất xử lý 400 tấn rác/ngày, dự kiến
sản xuất 60 triệu kWh điện sạch/năm và xử lý được khoảng 70% rác sinh hoạt của
thành phố Cần Thơ (trung bình 453 tấn/ngày).
Bên cạnh đó, thành phố Cần Thơ đang kêu gọi đầu tư vào dự án “Nhà máy
Xử lý rác sinh hoạt số 2 Cần Thơ” tại xã Trường Xuân, Thới Lai với công suất
400 tấn chất thải rắn sinh hoạt/ngày.đêm.
Việc xã hội hóa đầu tư từng bước góp phần bổ sung nguồn lực quan trọng
cho ngân sách nhà nước trong bối cảnh nguồn lực công còn hạn chế, phù hợp với
xu hướng chung khi ngân sách chưa kịp thời đủ đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển.
Bên cạnh những kết quả đạt được, việc huy động nguồn lực xã hội hóa trên
địa bàn thành phố vẫn còn một số hạn chế như: cơ chế, chính sách chưa thực sự
đồng bộ; việc thu hút các nhà đầu tư lớn, có tiềm lực còn gặp khó khăn. Ngoài ra
quy mô và hiệu quả của một số dự án xã hội hóa chưa cao, chưa khai thác hết tiềm
năng và lợi thế của địa phương.
Trong giai đoạn tiếp theo, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến
khích xã hội hóa; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính; tăng cường công khai,
minh bạch; đồng thời tạo môi trường đầu tư thuận lợi nhằm thu hút mạnh mẽ hơn
sự tham gia của cộng đồng, doanh nghiệp và các nguồn lực xã hội, vốn đầu tư
nước ngoài, góp phần thực hiện hiệu quả các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội
bền vững.
7.5. TRIỂN KHAI THỰC HIỆN CÁC CÔNG CỤ QUẢN LÝ MÔI
TRƯỜNG
7.5.1. Công tác thực hiện đánh giá tác động môi trường, kế hoạch bảo vệ môi
trường
Kể từ ngày Luật Bảo vệ môi trường số 72/2020/QH14 và các văn bản hướng
dẫn thi hành có hiệu lực, công tác thực hiện đánh giá tác động môi trường trên địa
bàn thành phố Cần Thơ đã được triển khai đồng bộ, bám sát các quy định hiện
hành và có hiệu quả hơn trong việc quản lý môi trường. Sở Nông nghiệp và Môi
trường đã tăng cường công tác thẩm định, giám sát và tổ chức thanh tra kiểm tra
đối với các dự án, các cơ sở đã đi vào hoạt động trong giai đoạn trước đó. Kết hợp
với đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong công tác quản
lý hồ sơ, thông qua xây dựng cơ sở dữ liệu về môi trường trên các cổng thông tin
điện tử, tạo điều kiện thuận lợi cho việc theo dõi, đánh giá và công khai thông tin
đến người dân.
165
Công tác thẩm định hồ sơ môi cấp phép thủ tục môi trường ngày càng có
hiệu quả; Đẩy mạnh công tác thanh tra kiểm tra và phòng chống tội phạm về môi
trường, kiểm soát tốt các cơ sở có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường; Chú trọng
giám sát và xử lý kịp thời các vấn đề môi trường, đặc biệt là thu gom, xử lý chất
thải rắn; tích cực lồng ghép hiệu quả công tác bảo vệ môi trường torng các chiến
lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội của
địa phương.
Trong năm 2025, Sở Nông nghiệp và Môi trường theo ủy quyền của Chủ tịch
Ủy ban nhân dân thành phố theo luật Bảo vệ Môi trường đã tiếp nhận và xử lý
315 hồ sơ thủ tục hành chính (tiếp nhận mới và hồ sơ chuyển tiếp), gồm các thủ
tục như ĐTM, Cấp giấy phép môi trường và Thẩm định phí BVMT đối với nước
thải công nghiệp; khí thải; 100% hồ sơ tiếp nhận trực tuyến. Đến cuối năm 2025
thành phố đã phê duyệt kết quả thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường
của 12 dự án, cấp 126 Giấy phép môi trường.
Hiệu quả trong hoạt động truyền thông, giáo dục, phát động người dân tham
gia bảo vệ môi trường được nâng cao, số lượng đối tượng tham gia tích cực các
hoạt động bảo vệ môi trường tăng lên. Kết quả thực hiện các chỉ tiêu môi trường
ngày càng cao đồng thời trên địa bàn thành phố không xảy ra các sự cố ô nhiễm
môi trường nghiêm trọng.
Bên cạnh đó, để giải quyết các bất cập trong việc thực hiện đánh giá tác động
môi trường, thành phố Cần Thơ đang tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lý và tăng
cường phối hợp giữa các ngành, địa phương nhằm nâng cao hiệu quả làm việc.
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tập huấn nâng cao năng lực cán bộ, doanh nghiệp
và cộng đồng về ý thức bảo vệ môi trường ở các cấp.
7.5.2. Hoạt động thanh tra, kiểm tra và xử lý các vụ việc vi phạm pháp luật
về môi trường
Trên toàn địa bàn thành phố: Sở Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với
các cơ quan chức năng, Công an thành phố, Ban quản lý các khu chế xuất và công
nghiệp Cần Thơ cùng UBND cấp cơ sở tích cực thanh tra kiểm tra việc chấp hành
pháp luật về bảo vệ môi trường, phòng chống tội phạm môi trường, giám sát các
nguồn thải. Theo Báo cáo công tác bảo vệ môi trường thành phố Cần Thơ năm
2025, đã có 45 cơ sở bị xử lý vi phạm hành chính về môi trường với tổng số tiền
phạt là 8.284.750.000 đồng (theo Báo cáo công tác bảo vệ môi trường, 2025),
trong đó:
- Chủ tịch UBND tỉnh Sóc Trăng (trước sáp nhập) xử phạt hành vi không có
quyết dịnh phê duyệt kết quả thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường
thuộc thẩm quyền phê duyệt của UBND cấp tỉnh đối với 04 cơ sở thuộc Công ty
Cổ phần Cấp nước Sóc Trăng (1.200.000.000 đồng).
166
- Công an phường, thành phố: xử phạt vi phạm hành chính 29 cơ sở với tổng
số tiền 6.782.750.000 đồng.
- Thanh tra Sở Nông nghiệp và Môi trường trước sáp nhập xử phạt 12 cơ sở,
tổng số tiền 302.000.000 đồng.
Thanh tra kiểm tra và xử lý các vụ việc vi phạm pháp luật về môi trường
biển: Các lực lượng Biên phòng tăng cường công tác kiểm soát chặt chẽ đối với
các phương tiện nghề cá (nhất là các phương tiện đăng ký hành nghệ khai thác xa
bờ). Thường xuyên kiểm tra kiểm tra, tuần tra, giám sát bảo vệ nguồn lợi trên biển
và kiểm tra các tàu cá. Cập nhật đầy đủ các trường hợp bị xử phạt vi phạm hành
chính vào cơ sở dữ liệu xử phạt vi phạm hành chính của Tổng cục Thủy sản. Tổ
kiểm soát nghề cá tại cảng (tổ IUU) thực hiện việc kiểm tra, kiểm soát các tàu cá
ra, vào cảng (24/24h).
7.5.3. Công tác kiểm soát ô nhiễm và xử lý các nguồn gây ô nhiễm môi trường
a. Kiểm soát ô nhiễm đối với Khu công nghiệp (KCN), khu chế xuất và
Cụm công nghiệp tập trung (CNTT) và làng nghề:
Thành phố Cần Thơ hiện tại có tổng cộng 13 KCN và 02 Cụm CNTT, 01
Trung tâm Điện lực Sông Hậu và 01 Trung tâm Điều hành KCN Sông Hậu. Trong
đó có 09 KCN đang hoạt động trên tổng số 13 KCN và có 8/9 KCN đang hoạt
động đã có Hệ thống xử lý nước thải tập trung vận hành ổn định. CTNH và
CTRTT được phân loại, thu gom và xử lý theo đúng quy định. Các doanh nghiệp
có phát sinh lượng khí thải lớn trong KCN đã lắp đặt hệ thống xử lý và quan trắc
khí thải tự động, liên tục (Nhiệt điện Sông Hậu 1, Giấy Lee & Man).
Đối với Cụm CNTT: có 04/09 cụm CNTT (thuộc địa bàn tỉnh Hậu Giang
(trước sáp nhập)) đang hoạt động và có hệ thống xử lý nước thải tập trung và chưa
lắp đặt hệ thống quan trắc nước thải tự động, liên tục theo quy định.
Đối với chất thải từ hoạt động của các làng nghề: được quản lý theo hướng
dẫn của địa phương về thực hiện tiêu chí 17 về môi trường torng xây dựng xã
nông thôn mới.
Bên cạnh đó, còn có hoạt động của hầm thanh truyền thống tại xã Kế Sách
(trước đây là xã Xuân Hòa, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng). Công tác kiểm soát
bụi, khí thải từ lò gây ảnh hưởng đến vườn cây ăn trái, điều kiện sinh hoạt của các
hộ dân khu vực lân cận còn hạn chế, cần thử nghiệm các mô hình xử lý khí thải
khác hoặc có giải pháp hiệu quả hơn.
b. Kiểm soát ô nhiễm khu vực ven biển:
Một trong những giải pháp then chốt trong bảo vệ môi trường biển và hải
đảo là kiểm soát nguồn ô nhiễm từ đất liền và các hoạt động trên biển. Qua kết
quả điều tra khảo sát, các nguồn gây ô nhiễm biển chính chủ yếu là: ô nhiễm từ
rác thải nhựa, ô nhiễm từ nuôi trồng thủy sản và các hoạt động xả thải khác từ đất
liền trực tiếp ra biển.
167
Theo thống kê, rác thải nhựa vùng ven biển thành phố Cần Thơ chủ yếu phát
sinh từ các hoạt động như: sinh hoạt hàng ngày của người dân địa phương, hoạt
động sản xuất công nghiệp của các chủ cơ sở kinh doanh, sản xuất, từ hoạt động
của các tàu đánh bắt cá trên biển (ngư cụ hư hỏng, kết nhựa, bọc nhựa đựng cá,...),
hoạt động sản xuất nông nghiệp (nuôi tôm) và hoạt động thương mại dịch vụ (rác
thải nhựa từ hoạt động du lịch). Đặc biệt ở khu vực cửa sông, rác thải nhựa dễ tích
tụ trong hệ thống rễ cây dày đặc của rừng ngập mặn gây ảnh hưởng đến khả năng
phát triển của cây và hệ sinh thái rừng ngập mặn.
Vấn đề tồn đọng của rác thải nhựa không chỉ gây ảnh hưởng trực tiếp đến
môi trường và đời sống của con người mà trong quá trình phân rã dưới tác động
của các yếu tố tự nhiên như ánh sáng mặt trời, nhiệt độ, nước, ... tạo thành các hạt
vi nhựa (microplastics). Vi nhựa có kích thước rất nhỏ mắt thường không thể nhìn
thấy và có khả năng tồn tại lâu dài trong môi trường nước và các môi trường khác,
từ đó tiềm ẩn nguy cơ gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người và hệ lụy lâu dài
đến hệ sinh thái.
Hiện tại công tác thu gom phân loại tại chỗ và xử lý rác thải nhựa có hiệu
suất chưa cao. Đặc biệt khó kiểm soát đối với rác thải nhựa từ hoạt động đánh bắt
cá của các tàu cá cũng như việc thu gom, xử lý và vận chuyển tại khu vực các xã,
phường ven biển cũng gặp nhiều khó khăn. Một số trường hợp người dân phải tự
xử lý rác thải bằng hình thức đốt, chôn lấp do hạ tầng giao thông không đảm bảo
cho các phương tiện thu gom có thể đến lấy rác, chỉ thu gom ở khu vực trung tâm.
Tại các địa phương ven biển chỉ có 06 bãi rác, rác thải nhựa được thu gom và xử
lý chung với chất thải rắn sinh hoạt. Các công nghệ áp dụng tại các bãi rác hiện
nay chưa đảm bảo xử lý triệt để rác thải nhựa. Vấn đề ngừng tiếp nhận ở các bãi
rác do quá tải và vị trí không phù hợp cũng gây khó khăn trong công tác quản lý
rác thải nhựa trên địa bàn thành phố.
Ô nhiễm từ nuôi trồng thủy sản: Nước thải phát sinh từ công đoạn thay nước
định kỳ, quá trình xử lý ao nuôi và sao thu hoạch nếu không có biện pháp kiểm soát
sẽ là nguồn ô nhiễm ảnh hưởng đến môi trường. Thành phần các chất ô nhiễm tồn
tại trong nước thải từ các ao nuôi tôm chủ yếu là thức ăn thừa khi tôm không tiêu
thụ hết và chất thải trong quá trình trao đổi chất của tôm lẫn các loại vi sinh vật
khác sống trong ao. Ngoài các thành chất thải hữu cơ hiện diện trong nước thải nuôi
tôm, các hợp chất hóa học khác được sử dụng trong quá trình nuôi như chất khử
trùng, xử lý nước, vitamin, ... các chất này không có khả năng tự phân hủy và làm
tăng hàm lượng kim loại trong nước. Do đó, nước thải ra từ ao tôm thường có mùi
gây khó chịu ảnh hưởng đến môi trường không khí xung quanh.
Hoạt động kiểm soát các nguồn ô nhiễm và rác thải nhựa trên biển, cần có
sự triển khai đồng bộ giữa các cấp và cụ thể đối với từng nguồn phát sinh. Cần có
quy định cụ thể cho các loại rác thải từ các hoạt động khác nhau. Trong giai đoạn
2021 – 2023, thành phố đã triển khai nhiều hoạt động cụ thể, góp phần nâng cao
ý thức cộng đồng, giảm rác thải nhựa ra biển và tăng tỷ lệ thu gom, xử lý rác đạt
quy chuẩn môi trường tại các cảng cá và khu du lịch ven biển.
168
Giai đoạn cuối 2024 – 2025, tiếp tục đẩy mạnh kiểm soát ngư cụ, rác thải từ
các tàu cá trên biển, cải thiện thu gom – xử lý rác thải nhựa, mở rộng mô hình với
sự tham gia của cộng đồng và gắn kết các chương trình quốc gia, khu vực về giảm
ô nhiễm nhựa đại dương.
Nhìn chung, công tác kiểm soát ô nhiễm và xử lý các nguồn gây ô nhiễm
môi trường được triển khai thực hiện tốt trong giai đoạn 2021 – 2025.
Thành phố Cần Thơ luôn chú trọng trong việc phòng ngừa và khắc phục ô
nhiễm. Dưới sự chỉ đạo, đôn đốc của UBND thành phố, các cơ quan chuyên môn
và địa phương bố trí lực lượng tiếp nhận để xử lý kịp thời các phản ánh; chủ động
trong phòng ngừa và huy động nguồn lực kiểm soát ô nhiễm từ các nguồn thải,
đặc biệt đối với những nguồn có nguy cơ cao. Phối hợp kiểm soát và giám sát chặt
chẽ với các cơ sở phải thực hiện quan trắc tự động nước thải, khí thải. Sở Nông
nghiệp và Môi trường hiện đang theo dõi 18 cơ sở có nguồn thải lớn đã kết nối và
truyền dữ liệu quan trắc tự động liên tục.
7.5.4. Công tác quan trắc và cung cấp thông tin môi trường
Việc quan trắc và phân tích chất lượng môi trường nước mặt, chất môi trường
không khí xung quanh thành phố kèm theo báo cáo công tác bảo vệ môi trường
thành phố được thực hiện đầy đủ hàng năm. Giám sát quản lý dữ liệu 17 trạm
quan trắc xâm nhập mặn; quản lý dữ liệu quan trắc tự động. Các tuyến kênh, đê
bao, cống được kiểm tra thường xuyên, duy tu, sửa chữa và nạo vét kịp thời, gia
cố các hạng mục xung yếu nhằm đảm bảo công trình vận hành ổn định, an toàn,
phục vụ hiệu quả công tác điều tiết nước, phòng chống hạn và xâm nhập mặn, đáp
ứng yêu cầu sản xuất, sinh hoạt của người dân.
Thành phố đã đầu tư, triển khai thực hiện dự án đầu tư xây dựng hệ thống
quan trắc tự động, liên tục cùng với nâng cấp và đầu tư thêm cơ sở vật chất phòng
thí nghiệm, hạ tầng kỹ thuật tiếp nhận dữ liệu quan trắc tự động, thực hiện truyền
dữ liệu về Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Hiện nay, theo báo cáo công tác bảo
vệ môi trường năm 2025, số trạm quan trắc tự động nước mặt, không khí xung
quanh được thành phố quản lý có tổng cộng 20 trạm (gồm 06 trạm không khí xung
quanh và 14 trạm nước mặt).
Ngoài ra, thành phố cũng theo dõi việc lắp đặt, vận hành các trạm quan trắc
tự động của 21 doanh nghiệp trên địa bàn, trong đó có 17 trạm nước thải và 08
trạm khí thải.
Đối với hoạt động giám sát các trạm, điểm quan trắc ven biển: Thành phố đã
chỉ đạo cơ quan chuyên môn tiến hành lấy mẫu phân tích nước biển ven bờ tại 05
điểm (gồm 05 xã cũ là xã Vĩnh Hải, An Thạnh Nam, Trung Bình, Vĩnh Tân và
An Thạnh 3) với tần suất 02 tháng/lần. Qua kết quả quan trắc năm 2025, chất
lượng nước biển ven bờ tại các điểm quan trắc ở mức ổn định và có xu hướng cải
thiện rõ rệt so với các năm trước. Các thông số pH, DO, N-NH
4
+
, P-PO
4
3-
, dầu mỡ
khoáng và Coliform đều đạt quy chuẩn cho phép theo QCVN 10:2023/BTNMT
(Thành ủy Cần Thơ, 2026).
169
7.5.5. Hiện trạng áp dụng các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường
Việc sử dụng công cụ kinh tế trong quản lý môi trường tại thành phố Cần
Thơ đang dần từng bước bám sát với tình hình hoạt động cụ thể của các đối tượng,
doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn. Cụ thể thông quan việc
quản lý và thu các loại thuế, phí liên quan đến bảo vệ môi trường (thu phí bảo vệ
môi trường đối với nước và khí thải, thu phí thẩm định báo cáo ĐTM và GPMT
theo phân cấp quy mô và quy định của thành phố); Ký quỹ môi trường (cải tạo,
phục hồi môi trường đối với cá dự án khai thác khoáng sản (chủ yếu là khai thác
cát) nhằm đảm bảo các tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm phục hồi môi trường,
xử lý các rủi ro, nguy cơ ô nhiễm phát sinh; Trợ cấp môi trường (Chính sách giảm
mức thuế bảo vệ môi trường hỗ trợ doanh nghiệp); Nhãn sinh thái và Phát triển
thị trường carbon. Từ đó tại sự chuyển biến tích cực trong hành vi của các tổ chức,
cá nhân đối với hoạt động bảo vệ môi trường, tăng cường ý thức trách nhiệm bảo
vệ môi trường của doanh nghiệp, góp phần quan trọng nâng cao hiệu quả trong
quản lý môi trường tại địa phương.
Quản lý môi trường biển được áp dụng các chính sách như: Khuyến khích
doanh nghiệp đầu tư vào hạ tầng cảng biển, tạo điều kiện thuận lợi cho mọi thành
phần kinh tế tham gia khai thác, xã hội hóa đầu tư kết cấu hạ tầng, đồng thời yêu
cầu doanh nghiệp có trách nhiệm bảo vệ môi trường biển. Kết hợp ban hành chính
sách không đầu tư nhà máy công nghiệp gây ô nhiễm ngoài khu công nghiệp, hỗ
trợ di dời cơ sở sản xuất để giảm nguy cơ ô nhiễm.
Huy động nguồn lực từ ngân sách nhà nước, ODA và các chương trình mục
tiêu quốc gia, kết hợp với cải thiện môi trường đầu tư để thu hút doanh nghiệp.
Các biện pháp kiểm soát ô nhiễm bao gồm quản lý chất thải rắn, xử lý nước thải
công nghiệp và tăng cường quản lý nhà nước về tài nguyên biển nhằm duy trì hệ
sinh thái không ô nhiễm.
Nhận thức được tầm quan trọng chiến lược của biển, thành phố đã quán triệt
và triển khai hiệu quả các chủ trương, định hướng lớn qua việc cụ thể hóa Nghị
quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về
Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến
năm 2045 và Nghị quyết số 26/NQ-CP ngày 05/3/2020 của Chính phủ về Kế hoạch
5 năm triển khai Nghị quyết 36 cùng chương trình số 35-CTr/TU của Thành ủy
thành phố Cần thơ. Theo đó chú trọng vào phát huy lợi thế, khai thác giá trị kinh
tế biển và hình thành nền kinh tế biển, xác định mục tiêu đến năm 2030, tầm nhìn
đến năm 2045, kèm theo các chủ trương lớn và giải pháp chủ yếu gắn với nhiệm
vụ trọng tâm và khâu đột phá. Các ưu tiên bao gồm: phát triển kinh tế hạ tầng
đồng bộ, hiện đại; cải cách hành chính và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh,
nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Hiện nay, thành phố đã xây dựng hệ thống
hạ tầng giao thông ven biển cơ bản đồng bộ; thu gút đầu tư từ 02 doang nghiệp
170
khai thác du lịch biển đảo với tuyến tàu cao tốc Trần Đề - Côn Đảo hoạt động 3 –
4 chuyến/ngày, phục vụ 1.200 – 1.500 lượt khách; phát triển các khu du lịch sinh
thái như Hồ Bể, Mỏ Ó, rừng ngập mặn ven biển Cù Lao Dung, tạo lợi thế du lịch
biển lớn. Đồng thời thành phố đầu tư công nghệ khai thác, chế biến khoáng sản
biển hiệu quả, bền vững; tăng cường nguồn năng lượng sạch, tái tạo như điện gió
và điện mặt trời. Nhờ đó, kinh tế biển góp phần thúc đẩy tăng trưởng GRDP cao,
trở thành động lực cho phát triển vùng kinh tế trọng điểm ĐBSCL đồng thời đảm
bảo tính bền vững, quốc phòng, an ninh và trật tự.
7.5.6. Tnh hnh cấp phép, quản lý hoạt động nhận chm ở biển theo quy định
tại Nghị định số 40/2016/NĐ-CP
Thực trạng nhận chìm tại vùng biển Việt Nam: Hoạt động nhận chìm ở biển
tại Việt Nam cũng đã được tiến hành từ trước khi Luật Tài nguyên, môi trường biển
và hải đảo được ban hành theo hình thức nạo vét để tạo đường cho tàu biển ra vào
xây dựng cảng Cái Lân gần khu vực Bãi Cháy; vật chất từ hoạt động nạo vét cảng
trung chuyển Lạch Huyện, Hải Phòng với tổng khối lượng vật, chất nhận chìm gần
40 triệu m
3
và thực hiện theo cơ chế xin – cho. Hiện nay, nhu cầu nhận chìm chất
nạo vét từ lường hàng hải, cảng xuống biển tại Việt Nam đang tăng nhanh.
Từ thời điểm Luật Tài nguyên môi trường biển và hải đảo năm 2015 cùng
với Nghị định số 40/2016/NĐ-CP và các quy định pháp luật liên quan có hiệu lực,
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã cấp 45 Giấy phép nhận chìm với khối lượng
khoảng 107 triệu m
3
chất nạo vét cảng, lường; địa phương có biển cấp phép khoản
15 Giấy phép nhận chìm ở biển.
Hiện nay, theo Quyết định số 1708/QĐ-UBND ngày 27/6/2025, của UBND
thành phố Cần Thơ việc tiếp nhận hồ sơ và cấp Giấy phép nhận chìm trên địa bàn
thành phố Cần Thơ thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân thành phố.
Công tác kiểm tra, giám sát hoạt động nhận chìm ở biển:
(i) Sở Nông nghiệp và Môi trường:
- Phối hợp với Sở Xây dựng và Ủy ban nhân dân các xã, phường có liên quan
trình Ủy ban nhân dân thành phố chấp thuận, công bố mới hoặc bổ sung, điều
chỉnh danh mục các khu vực, địa điểm tiếp nhận chất nạo vét trên bờ trên địa bàn
thành phố hàng năm.
- Xây dựng kế hoạch tổ chức và kiểm tra công tác quan trắc và giám sát môi
trường hàng năm đối với các khu vực, địa điểm đổ thải, nhận chìm theo quy định.
- Chủ động hướng dẫn chủ đầu tư các dự án nạo vét công trình thủy lợi có
nhu cầu đổ chất nạo vét thực hiện theo quy định tại Nghị định số 57/2024/NĐ-CP
và phù hợp với quy định pháp luật về chuyên ngành.
- Chủ trì thẩm định phương án đổ thải, nhận chìm đối với các dự án nạo vét
các công trình thủy lợi cần đổ thải do UBND thành phố quyết định đầu tư.
171
- Phối hợp với các địa phương tổ chức khảo sát, rà soát khu vực địa điểm tiếp
nhận chất nạo vét trên địa bàn có công trình, dự án đang chuẩn bị triển khai cần
đổ chất nạo vét, đề xuất Sở Xây dựng tổng hợp theo quy định.
- Thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với các hoạt động đổ thải, nhận
chìm theo quy định.
(ii) Ủy ban nhân dân các xã, phường:
- Chủ trì phối hợp với chủ đầu tư dự án và các đơn vị có liên quan đề xuất
vị trí để làm khu vực, địa điểm đổ thải đối với vật chất nạo vét từ hệ thống giao
thông đường thủy nội địa và vùng biển gửi Sở Xây dựng tổng hợp xem xét, tham
mưu Ủy ban nhân dân thành phố công bố theo quy định.
- Tổ chức quản lý và bố trí sử dụng vật chất nạo vét tại các địa điểm đổ thải
trên địa bàn theo quy định của pháp luật (từ dự án nạo vét có tận thu sản phẩm).
7.6. HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VÀ VẤN
ĐỀ ÁP DỤNG CÁC CÔNG NGHỆ MỚI
7.6.1. Hoạt động nghiên cứu khoa học công nghệ trong lĩnh vực môi trường
Các chủ trương, chính sách phát triển liên quan đến môi trường hiện nay ưu
tiên cho các hoạt động nghiên cứu môi trường gắn liền với xây dựng đô thị thông
minh và chuyển đổi số toàn diện. Nghị quyết số 02-NQ/TU ngày 04/8/2021 của
Thành ủy Cần Thơ xác định chuyển đổi số là nhiệm vụ trọng tâm, tạo nền tảng
triển khai các nghiên cứu về hạ tầng dữ liệu, ứng dụng công nghệ thông tin trong
quản lý tài nguyên. Các chương trình khoa học công nghệ trọng điểm tập trung
hiện đại hóa hệ thống quan trắc, xây dựng các cơ sở dữ liệu (CSDL) đất đai dùng
chung và mô hình kinh tế xanh thích ứng biến đổi khí hậu.
Nghiên cứu ứng dụng nông nghiệp thông minh được lồng ghép chặt chẽ với
bảo vệ môi trường qua các phần mềm quản lý vùng trồng trọt và giám sát dịch
hại. Tại các khu vực nông nghiệp then chốt (thành phố Cần Thơ trước sáp nhập
và tỉnh Hậu Giang trước sáp nhập) đã chuyển giao công nghệ thiết bị sơ chế, bảo
quản nông sản để giảm tổn thất sau thu hoạch, đồng thời xử lý phụ phẩm nông
nghiệp bằng công nghệ cao nhằm giảm ô nhiễm hữu cơ.
Trong công tác quản lý tài nguyên nước và thích ứng biến đổi khí hậu, thành
phố đã thực hiện nghiên cứu KHCN về lắp đặt hệ thống ngăn lục bình, thu gom rác
thải tại đầu nguồn sông rạch để bảo vệ chất lượng nước mặt (khu vực Hậu Giang
trước sáp nhập). Đã hoàn thiện hệ thống bản đồ số chuyên đề phục vụ quản lý môi
trường ven biển, bao gồm bản đồ tài nguyên nước, phân vùng hạn chế khai thác
nước dưới đất và nhạy cảm đường bờ biển.
Việc ứng dụng công nghệ mới trong quản lý môi trường tại thành phố Cần
Thơ thể hiện sự tập trung vào ba mảng cốt lõi: Hệ thống quan trắc tự động kết nối
IoT, hạ tầng dữ liệu số hóa và các tổ hợp xử công nghệ xử lý chất thải hiện đại.
172
Hệ thống quan trắc môi trường đã chuyển đổi căn bản từ quan trắc định kỳ
sang giám sát liên tục, tự động bằng cảm biến IoT. Bằng cách sử dụng phần mềm
EnviSoft quản lý tập trung dữ liệu từ các khu công nghiệp, trạm quan trắc không
khí và nước mặt, hệ thống thu nhận, xử lý và truyền dữ liệu thời gian thực về
Trung tâm điều hành, hỗ trợ phản ứng kịp thời trước sự cố ô nhiễm.
Trong quản lý tài nguyên khoáng sản (khai thác cát), hệ thống giám sát cát
tự động sử dụng GPS và cảm biến hành trình để kiểm soát vị trí, khối lượng khai
thác trên sông Hậu, hạn chế khai thác trái phép gây sạt sở.
Hạ tầng dữ liệu môi trường của thành phố hiện nay được xây dựng theo
hướng “mở” và “dùng chung”. Các thủ tục hành chính hiện nay có tỷ lệ số hóa và
kết quả giải quyết cao.
Đối với khu vực ven biển: Các hoạt động nghiên cứu khoa học công nghệ
tập trung vào bảo vệ môi trường ven viển chủ yếu liên quan đến nuôi trồng thủy
sản, chống xói lở bờ biển và kiểm soát chất lượng nước.
Một số nghiên cứu trong phạm vi bao quát các vùng ven biển như Trần Đề,
Vĩnh Châu, Cù Lao Dung và Lai Hòa được thực hiện trong giai đoạn 2021 – 2025
như sau:
+ Đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường từ hoạt động nuôi tôm tại tỉnh Sóc
Trăng năm 2024 do nhóm nghiên cứu trường Đại học Cần Thơ thực hiện.
+ Nghiên cứu đánh giá nguy cơ xói lở vùng ven biển Sóc Trăng và đề xuất
giải pháp công trình giảm thiểu bằng mô hình toán (Viện Khoa học Thủy lợi miền
Nam, 2024).
7.6.2. Hoạt động chuyển giao khoa học công nghệ
Thành phố Cần Thơ đã ban hành nhiều chương trình, kế hoạch nhằm đẩy
mạnh nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao tiến bộ khoa học công nghệ vào các
lĩnh vực trọng điểm, trong đó có môi trường, nông nghiệp xanh và ứng phó biến
đổi khí hậu. Các cơ chế hỗ trợ chuyển giao công nghệ, đặt hàng nhiệm vụ khoa
học và công nghệ, vận hành sàn giao dịch công ghệ và trung tâm chuyển giao
công nghệ đã được triển khai, tạo cầu nối giữa các trường đại học, viện nghiên
cứu với doanh nghiệp và cơ quan quản lý đô thị.
Năm 2022, thành phố đã tiếp nhận Hệ thống thu gom rác thải tự động
“Interceptor 003” trên sông Cần Thơ hoạt động bằng năng lượng mặt trời do The
Ocean Cleanup chuyển giao trong dự án hợp tác với Hà Lan và Nhật Bản về quản
lý nước thông minh và năng lượng tái tạo. Bên cạnh đó cũng thực hiện một số công
nghệ thu gom, xử lý rác thải, nước mặt, nước thải dưới dạng mô hình thí điểm, sau
đó nhân rộng trong các khu dân cư, khu công nghiệp và khu du lịch ven sông.
173
Các sự kiện lớn như Tuần lễ Khoa học, Công nghệ, Đổi mới sáng tạo và
Chuyển đổi số (CASTID) năm 2025, diễn đàn đổi mới sáng tạo, hội thảo chuyên
đề về môi trường, công nghệ sạch và chuyển đổi xanh đã tạo nền tảng kết nối từ
đó chuyển giao ký kết hợp tác nhiều công nghệ môi trường, giải pháp giảm phát
thải, xử lý chất thải và quản lý tài nguyên giữa doanh nghiệp và các nhà khoa học
trong giai đoạn 2021 - 2025.
7.6.3. Vấn đề áp dụng sản xuất sạch hơn và công nghệ thân thiện với môi
trường
Thời gian qua, thành phố đã triển khai chương trình sản xuất sạch hơn trong
các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp theo Chỉ thị 04/CT-UBND ngày
17/3/2020, kết hợp xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung tại khu công
nghiệp và nhà máy xử lý rác thải. Bên cạnh đó áp dụng mô hình nông nghiệp tuần
hoàn tại các hợp tác xã như New Green Farm (40 ha) và Tiến Thuận, sử dụng máy
cơ giới hóa xử lý rơm rạ, sản xuất phân bón hữu cơ, drone phun hóa chất và hướng
tới sản xuất hữu cơ tuần hoàn. Trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản, chuyển đổi
sang công nghệ RAS, biofloc, giám sát ao nuôi thông minh, giảm hóa chất và
hướng tới sản xuất hữu cơ, tuần hoàn.
Mặc dù đã có đạt được nhiều kết quả đáng kể, thành phố Cần Thơ vẫn gặp
nhiều khó khăn trong việc áp dụng sản xuất sạch hơn và công nghệ thân thiện với
môi trường do tình hình hạ tầng xử lý nước thải sinh hoạt và công nghiệp chưa
đồng bộ. Một số cơ sở sản xuất vẫn còn sử dụng công nghệ cũ, chi phí đầu tư cho
thiết bị xử lý môi trường cao làm chậm quá trình cải tiến và đổi mới. Nhận thức
của một số bộ phận doanh nghiệp và người dân về sản xuất sạch hơn, kinh tế tuần
hoàn chưa cao. Nguồn lực tài chính và kỹ thuật chuyên sâu phục vụ cho việc tư
vấn, đánh giá sản xuất sạch hơn còn hạn chế, chưa tiếp cận được đến tất cả các
đối tượng doanh nghiệp nhỏ và vừa.
7.7. NÂNG CAO NHẬN THỨC CỘNG ĐỒNG VÀ VẤN ĐỀ XÃ HỘI HÓA
CÔNG TÁC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG BIỂN VÀ HẢI ĐẢO
Giai đoạn 2021 – 2025, công tác nâng cao nhận thức cộng đồng và xã hội
hóa hoạt động bảo vệ môi trường biển, hải đảo tại khu vực ven biển thuộc thành
phố Cần Thơ hiện nay được triển khai trong bối cảnh địa bàn này còn thuộc tỉnh
Sóc Trăng trước khi thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính. Do đó, các nội dung
đánh giá trong mục này được kế thừa và tổng hợp từ kết quả thực hiện tại tỉnh Sóc
Trăng (trước sáp nhập), nơi tập trung các hoạt động quản lý, bảo vệ môi trường
biển và hệ sinh thái ven biển của khu vực.
Trong giai đoạn này, bên cạnh các hoạt động quản lý nhà nước, địa phương
đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cộng đồng về
bảo vệ môi trường biển, bảo tồn hệ sinh thái ven biển và ứng phó với biến đổi khí
hậu. Đồng thời, nhiều mô hình xã hội hóa đã được triển khai với sự tham gia của
174
cộng đồng dân cư, doanh nghiệp, các tổ chức xã hội, tổ chức phi chính phủ và các
đối tác quốc tế nhằm huy động nguồn lực cho phục hồi rừng ngập mặn, quản lý
rác thải nhựa đại dương, bảo vệ đa dạng sinh học và phát triển sinh kế bền vững
cho cộng đồng ven biển.
7.7.1. Các chương trnh, kế hoạch hành động nhằm nâng cao nhận thức cộng
đồng
Công tác tuyên truyền về biển và hải đảo trên địa bàn thành phố Cần Thơ
giai đoạn 2021 – 2025 được triển khai trên cơ sở Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày
22/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về Chiến lược phát triển bền
vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; Nghị quyết
số 26/NQ-CP ngày 05/3/2020 của Chính phủ về Kế hoạch tổng thể và Kế hoạch
5 năm thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW; Quyết định số 729/QĐ-TTg ngày
16/6/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình truyền thông về biển
và đại dương đến năm 2030.
Với đặc thù là địa phương có khoảng 72 km bờ biển, đội tàu khai thác thủy
sản xa bờ lớn, công tác tuyên truyền được triển khai thường xuyên nhằm nâng cao
nhận thức của cán bộ, ngư dân, học sinh, đoàn viên thanh niên và cộng đồng dân
cư về bảo vệ chủ quyền biển đảo, phát triển kinh tế biển bền vững, bảo vệ môi
trường biển và chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không
theo quy định (IUU).
Trong giai đoạn 2021 – 2025, các hoạt động tuyên truyền được triển khai
thông qua bốn nhóm hình thức chủ yếu gồm: (i) tuyên truyền về chủ quyền biển
đảo và phát triển bền vững kinh tế biển; (ii) tuyên truyền pháp luật về biên giới
biển, Luật Biên phòng Việt Nam và Luật Cảnh sát biển Việt Nam; (iii) tuyên
truyền bảo vệ nguồn lợi thủy sản và chống khai thác IUU; và (iv) các hoạt động
giáo dục, truyền thông cộng đồng trong trường học và các tổ chức đoàn thể.
a. Tuyên truyền về chủ quyền biển đảo và phát triển bền vững kinh tế biển:
Trong giai đoạn 2021 – 2025, công tác tuyên truyền về chủ quyền biển đảo
tại khu vực ven biển luôn được duy trì thường xuyên. Công tác này được thực
hiện thông qua sự phối hợp giữa địa phương với Bộ Tư lệnh Vùng 2 Hải quân, Bộ
đội Biên phòng và các cơ quan thông tin, truyền thông trên địa bàn. Nội dung tập
trung vào tình hình biển đảo, chủ trương của Đảng và Nhà nước về bảo vệ chủ
quyền quốc gia trên biển, chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam,
đồng thời lồng ghép tuyên truyền về trách nhiệm của cộng đồng trong bảo vệ tài
nguyên và môi trường biển.
Trong năm 2022, Lữ đoàn 167 (Vùng 2 Hải quân) phối hợp tổ chức hội nghị
thông tin biển, đảo cho hơn 800 cán bộ, báo cáo viên và đoàn viên thanh niên
trong tỉnh. Năm 2024, Lữ đoàn 125 tiếp tục tổ chức các hoạt động tuyên truyền
tại thị xã Vĩnh Châu (trước sáp nhập) kết hợp công tác dân vận và hỗ trợ học sinh
vùng ven biển.
175
Song song đó, Bộ đội Biên phòng thường xuyên tổ chức các hội nghị thông
tin đối ngoại và biển đảo cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân khu vực biên giới
biển. Tiêu biểu, tháng 11/2023 đã tổ chức hội nghị với hơn 700 đại biểu tham
dự; tháng 6/2025 tổ chức phổ biến pháp luật cho trên 500 đại biểu, lồng ghép
nội dung bảo vệ chủ quyền biển đảo với bảo đảm an ninh khu vực biên giới biển.
b. Tuyên truyền pháp luật về biển và chống khai thác IUU:
Đây là nhóm hoạt động được triển khai thường xuyên và có quy mô lớn nhất
trong giai 2021 - 2025, hướng tới đối tượng chủ yếu là ngư dân, chủ tàu cá, thuyền
trưởng và lao động nghề cá.
Thông qua sự phối hợp giữa Bộ đội Biên phòng, Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát
biển 4, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (nay là Sở Nông nghiệp và Môi
trường) cùng các địa phương ven biển, nhiều đợt tuyên truyền được tổ chức dưới
hình thức hội nghị, tập huấn, đối thoại trực tiếp, tuyên truyền lưu động tại bến cá,
khu neo đậu và trên tàu cá.
Trong năm 2023, địa phương đã tổ chức 02 đợt tập huấn về chống khai thác
IUU cho 80 ngư dân; tuyên truyền trực tiếp cho 5.172 lượt chủ tàu và thuyền
trưởng; vận động 368 chủ tàu ký cam kết không vi phạm vùng biển nước ngoài.
Năm 2024, Hội nghị tuyên truyền Luật Cảnh sát biển Việt Nam và chống khai thác
IUU được tổ chức tại huyện Trần Đề với khoảng 200 đại biểu tham dự.
Đặc biệt, Bộ đội Biên phòng đã triển khai tuyên truyền trực tiếp đến 3.900 hộ
gia đình, 980 phương tiện với khoảng 10.100 lượt thuyền viên; tổ chức 97 cuộc
tuyên truyền tập trung cho 5.890 lượt người tham dự; cấp phát khoảng 18.000 tờ
rơi, tờ gấp tuyên truyền trong năm 2024. Chiến dịch tuyên truyền theo phương
châm “gõ cửa từng nhà, rà từng tàu” được triển khai thường xuyên, góp phần bảo
đảm 100% chủ tàu khai thác xa bờ tại các khu vực trọng điểm được tiếp cận thông
tin và tập huấn về các quy định chống khai thác IUU.
c. Tuyên truyền bảo vệ nguồn lợi thủy sản và bảo vệ môi trường biển:
Cùng với công tác chống khai thác IUU, các hoạt động tuyên truyền bảo vệ
nguồn lợi thủy sản và môi trường biển được triển khai thông qua hệ thống pano,
bảng tuyên truyền, các lớp tập huấn và hoạt động truyền thông cộng đồng tại khu
vực ven biển.
Giai đoạn 2021 – 2024, địa phương đã xây dựng và lắp đặt nhiều bảng tuyên
truyền về nghề cấm, ngư cụ cấm và bảo vệ nguồn lợi thủy sản; riêng năm 2023 có
508 trường hợp ký cam kết không sử dụng ngư cụ cấm, năm 2024 tiếp tục tổ chức
ký cam kết đối với 212 hộ dân ven biển.
Năm 2023, địa phương tổ chức 07 lớp tuyên truyền về bảo vệ nguồn lợi thủy
sản với 323 lượt người tham gia và 02 lớp tập huấn Luật Thủy sản cho 95 lượt ngư
dân. Năm 2024, tổ chức 10 lớp tuyên truyền Luật Thủy sản với khoảng 850 ngư
dân tham dự, đồng thời phối hợp tổ chức 03 đợt tập huấn cho khoảng 350 ngư dân.
Mô hình “Phiên tòa giả định” về vi phạm trong khai thác thủy sản cũng được triển
khai tại các địa phương ven biển, thu hút khoảng 340 lượt người tham dự, góp phần
nâng cao nhận thức pháp luật và ý thức bảo vệ nguồn lợi thủy sản.
176
d. Truyền thông cộng đồng, giáo dục biển đảo trong trường học và hưởng
ứng các sự kiện về biển:
Công tác giáo dục và truyền thông về biển đảo cho thế hệ trẻ được đẩy mạnh
thông qua các hoạt động trong trường học, các tổ chức đoàn thể và các sự kiện
truyền thông cộng đồng.
Tiêu biểu là cuộc thi “Em yêu biển, đảo quê hương” được tổ chức tại huyện
Trần Đề (trước sáp nhập) năm 2023 với 7.222 học sinh của 12 trường trung học cơ
sở tham gia, ghi nhận 17.624 lượt dự thi trực tuyến. Vòng chung kết được tổ chức
theo hình thức sân khấu hóa “Rung chuông vàng”, tạo hiệu ứng truyền thông tích
cực và nâng cao nhận thức của học sinh về chủ quyền biển đảo, tài nguyên và môi
trường biển.
Bên cạnh đó, hằng năm địa phương đều tổ chức các hoạt động hưởng ứng
Tuần lễ Biển và Hải đảo Việt Nam, Ngày Đại dương Thế giới (08/6) với các hình
thức như lễ phát động, ra quân làm sạch môi trường biển, treo băng rôn, khẩu hiệu,
tuyên truyền lưu động và các hoạt động truyền thông cộng đồng. Nội dung tuyên
truyền tập trung vào phát triển bền vững kinh tế biển, bảo vệ môi trường biển, bảo
tồn đa dạng sinh học, giảm thiểu rác thải nhựa đại dương và sử dụng bền vững tài
nguyên biển.
Bảng 7.3. Thống kê các hoạt động tuyên truyền biển và hải đảo tiêu biểu
giai đoạn 2021 – 2025
STT
Thời
điểm
Đơn vị chủ trì
Hình thức
Quy mô tham
gia/Kết quả
Nội dung
trọng tâm
1
2022
Lữ đoàn 167 –
Vùng 2 Hải quân
Hội nghị
thông tin
biển đảo
Trên 800 người
Chủ quyền
biển đảo; phát
triển kinh tế
biển; thu hút
nguồn nhân
lực Hải quân
2
2024
Lữ đoàn 125 –
Vùng 2 Hải quân
Hội nghị
tuyên
truyền kết
hợp công
tác dân vận
Không công bố
Chủ quyền
biển đảo; gắn
kết quân dân
vùng ven biển
3
11/2023
Bộ đội Biên phòng
tỉnh Sóc Trăng
Hội nghị
Thông tin
đối ngoại
và biển đảo
Trên 700 người
Chủ quyền
biển đảo; tình
hình Biển
Đông
4
10/2024
Bộ đội Biên phòng
tỉnh Sóc Trăng
Hội nghị
tuyên
truyền
pháp luật
Không công bố
Luật Biên
phòng Việt
Nam; chống
khai thác IUU
177
STT
Thời
điểm
Đơn vị chủ trì
Hình thức
Quy mô tham
gia/Kết quả
Nội dung
trọng tâm
5
6/2025
Bộ đội Biên phòng
tỉnh Sóc Trăng
Hội nghị
phổ biến
pháp luật
Trên 500 người
Luật Biên
phòng; bảo vệ
chủ quyền
biển đảo;
phòng chống
mua bán
người
6
Hằng
năm
Sở TN&MT và
các đơn vị liên
quan
Tuần lễ
Biển và
Hải đảo
Việt Nam
Nhiều đối tượng
tham gia
Bảo vệ môi
trường biển;
phát triển bền
vững kinh tế
biển
7
9/2023
Bộ Tư lệnh Vùng
Cảnh sát biển 4,
Ban Dân vận Tỉnh
ủy, UBND huyện
Trần Đề
Cuộc thi
“Em yêu
biển, đảo
quê
hương”
7.222 học sinh;
17.624 lượt dự
thi
Giáo dục chủ
quyền biển
đảo; tài
nguyên và
môi trường
biển
8
2023
Bộ Tư lệnh Vùng
Cảnh sát biển 4 và
các đơn vị liên
quan
Tập huấn
chống khai
thác IUU
80 ngư dân
Quy định
chống khai
thác IUU
9
2023
Bộ Tư lệnh Vùng
Cảnh sát biển 4 và
các đơn vị liên
quan
Tuyên
truyền trực
tiếp tại
cảng cá,
tàu cá
5.172 lượt chủ
tàu/thuyền
trưởng
Chống khai
thác IUU;
không vi
phạm vùng
biển nước
ngoài
10
2023
Bộ Tư lệnh Vùng
Cảnh sát biển 4 và
các đơn vị liên
quan
Vận động
ký cam kết
368 chủ tàu ký
cam kết
Chấp hành
quy định khai
thác thủy sản
11
2024
Sở NN&PTNT và
Bộ Tư lệnh Vùng
Cảnh sát biển 4
Hội nghị
tuyên
truyền
200 ngư dân, chủ
tàu
Luật Cảnh sát
biển Việt
Nam; chống
khai thác IUU
12
2023–
2025
Bộ đội Biên phòng
tỉnh Sóc Trăng,
lực lượng chức
năng
Chiến dịch
“Gõ cửa
từng nhà,
rà từng
tàu”
100% chủ tàu
khai thác xa bờ
được tiếp cận
tuyên truyền
Chống khai
thác IUU; quy
định vùng
biển khai thác
178
STT
Thời
điểm
Đơn vị chủ trì
Hình thức
Quy mô tham
gia/Kết quả
Nội dung
trọng tâm
13
2024
Bộ đội Biên phòng
tỉnh Sóc Trăng
Tuyên
truyền trực
tiếp tại
cộng đồng
ven biển
3.900 hộ dân;
980 phương tiện;
10.100 thuyền
viên; 97
cuộc/5.890
người
Chủ quyền
biển đảo;
chính sách
biên giới biển;
chống khai
thác IUU
14
2023
Chi cục Thủy sản
07 lớp
tuyên
truyền
323 người
Bảo vệ nguồn
lợi thủy sản;
bảo vệ môi
trường biển
15
2023
Chi cục Thủy sản
02 lớp tập
huấn Luật
Thủy sản
95 ngư dân
Quy định
pháp luật về
khai thác thủy
sản
16
2024
Chi cục Thủy sản
10 lớp
tuyên
truyền Luật
Thủy sản
Khoảng 850 ngư
dân
Khai thác bền
vững; chống
khai thác bất
hợp pháp
17
2024
Chi cục Thủy sản
phối hợp các địa
phương
03 đợt tập
huấn
Khoảng 350 ngư
dân
Bảo vệ nguồn
lợi thủy sản;
chống khai
thác IUU
18
2024
Chi cục Thủy sản
và địa phương ven
biển
Phiên tòa
giả định
Khoảng 340
người
Nâng cao
nhận thức
pháp luật
trong khai
thác thủy sản
Nguồn: Tổng hợp từ Báo Hải quân Việt Nam (2022); Cổng thông tin Báo
cáo viên (2023); TTXVN (2023); Báo Sóc Trăng (2024); Báo Dân tộc và Phát
triển (2024); Tạp chí Thủy sản Việt Nam (2024); Báo Nhân Dân (2025); UBND
tỉnh Sóc Trăng (2025).
Đánh giá hiệu quả nâng cao nhận thức cộng đồng về biển và hải đảo:
Giai đoạn 2021 – 2025, công tác tuyên truyền về biển và hải đảo trên địa
thành phố Cần Thơ được triển khai tương đối đồng bộ, bao phủ nhiều nhóm đối
tượng khác nhau như cán bộ, công chức, ngư dân, chủ tàu cá, học sinh, đoàn viên
thanh niên và cộng đồng dân cư ven biển. Các hình thức tuyên truyền ngày càng
đa dạng, kết hợp giữa hội nghị, tập huấn, truyền thông trực tiếp tại cộng đồng,
hoạt động trải nghiệm trong trường học và các sự kiện truyền thông đại chúng.
179
Kết quả thực hiện cho thấy hàng chục nghìn lượt người dân, ngư dân và học
sinh đã được tiếp cận thông tin về chủ quyền biển đảo, bảo vệ môi trường biển,
bảo vệ nguồn lợi thủy sản và chống khai thác IUU. Đặc biệt, tỷ lệ chủ tàu khai
thác xa bờ được tuyên truyền, tập huấn về các quy định chống khai thác IUU đạt
mức cao, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật trong hoạt động khai thác
thủy sản.
Tuy nhiên, việc đánh giá định lượng hiệu quả thay đổi nhận thức của cộng
đồng sau tuyên truyền còn gặp khó khăn do chưa có hệ thống theo dõi và đánh giá
chuyên biệt. Một số hoạt động vẫn mang tính thời điểm hoặc theo đợt cao điểm;
nội dung truyền thông về bảo tồn hệ sinh thái biển, đa dạng sinh học biển, thích
ứng với biến đổi khí hậu và giảm thiểu ô nhiễm rác thải nhựa tuy đã được lồng
ghép nhưng chưa được triển khai thường xuyên như các nội dung về chủ quyền
biển đảo và chống khai thác IUU.
7.7.2. Hoạt động xã hội hóa, huy động sự tham gia của cộng đồng, tổ chức,
doanh nghiệp
Giai đoạn 2021 – 2025, công tác bảo vệ môi trường biển và hải đảo được
triển khai không chỉ bằng nguồn lực ngân sách nhà nước mà còn huy động hiệu
quả sự tham gia của cộng đồng dân cư, doanh nghiệp, các tổ chức xã hội và các
tổ chức quốc tế. Các hoạt động xã hội hóa được thực hiện trên cơ sở các chủ
trương, chính sách của Trung ương và địa phương về bảo vệ môi trường, ứng
phó với biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên vùng bờ và phát triển bền vững kinh
tế biển.
Ở cấp quốc gia, Quyết định số 1662/QĐ-TTg ngày 04/10/2021 của Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt Đề án bảo vệ và phát triển rừng vùng ven biển ứng
phó với biến đổi khí hậu và tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 – 2030 đã tạo cơ sở
để huy động nhiều nguồn lực đầu tư cho phục hồi hệ sinh thái ven biển (Thủ tướng
Chính phủ, 2021). Ở địa phương, Kế hoạch số 102/KH-UBND năm 2021 của
UBND tỉnh Sóc Trăng về triển khai Kế hoạch hành động quốc gia quản lý rác thải
nhựa đại dương và các chương trình, dự án thích ứng với biến đổi khí hậu đã góp
phần thúc đẩy sự tham gia của doanh nghiệp, cộng đồng và các tổ chức quốc tế
trong công tác bảo vệ môi trường biển (UBND tỉnh Sóc Trăng, 2021).
Một trong những đặc điểm nổi bật của giai đoạn này là việc huy động đa
dạng nguồn lực từ các tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ (NGO), doanh
nghiệp và cộng đồng địa phương, hình thành nhiều mô hình hợp tác công – tư và
quản lý dựa vào cộng đồng trong phục hồi rừng ngập mặn, quản lý rác thải nhựa
đại dương, phát triển sinh kế thích ứng với biến đổi khí hậu và nâng cao nhận thức
bảo vệ môi trường biển.
180
a. Phục hồi hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển:
(i) Dự án: “Tăng cường khả năng chống chịu vùng ven biển của Đồng bằng
sông Cửu Long thông qua phục hồi rừng ngập mặn và các giải pháp kết hợp dựa
vào thiên nhiên”:
Dự án “Tăng cường khả năng chống chịu vùng ven biển của Đồng bằng sông
Cửu Long thông qua phục hồi rừng ngập mặn và các giải pháp kết hợp dựa vào
thiên nhiên” được triển khai giai đoạn 2024 – 2026 do Quỹ Coca-Cola (TCCF) tài
trợ, Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN) phối hợp với Sở Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn triển khai tại khu vực ven biển thị xã Vĩnh Châu (cũ) (Nguồn:
Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, 2024; Báo Lao Động, 2024).
Đây là mô hình tiêu biểu cho việc huy động nguồn lực xã hội hóa trong bảo
vệ môi trường biển, kết hợp nguồn tài trợ của doanh nghiệp với sự hỗ trợ kỹ thuật
từ tổ chức quốc tế và sự tham gia trực tiếp của cộng đồng địa phương. Dự án tập
trung phục hồi, mở rộng diện tích rừng ngập mặn ven biển, đồng thời hỗ trợ người
dân chuyển đổi sang các mô hình sản xuất thích ứng với biến đổi khí hậu nhằm
giảm áp lực lên hệ sinh thái vùng bờ. Thông qua việc kết hợp giữa bảo tồn tài
nguyên thiên nhiên và cải thiện sinh kế, dự án góp phần nâng cao khả năng chống
chịu của cộng đồng ven biển trước các tác động của nước biển dâng, xói lở bờ
biển và thời tiết cực đoan (Nguồn: Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, 2024; Báo
Lao Động, 2024).
(ii) Dự án B4 – Tăng cường khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu của
cộng đồng ven biển Đồng bằng sông Cửu Long:
Dự án “Tăng cường khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu của cộng đồng
ven biển Đồng bằng sông Cửu Long” (Dự án B4) là một trong những mô hình xã
hội hóa bảo vệ môi trường biển tiêu biểu được triển khai tại khu vực ven biển
thành phố Cần Thơ trong giai đoạn 2022 – 2024. Dự án được đồng tài trợ bởi Bộ
Khí hậu, Môi trường, Năng lượng, Cơ sở hạ tầng và Đô thị Cộng hòa Áo, Tổ chức
Bánh mì Thế giới (BfdW), Tổ chức ActionAid Quốc tế tại Việt Nam và Quỹ Hỗ
trợ chương trình, dự án an sinh xã hội Việt Nam (AFV), phối hợp thực hiện cùng
chính quyền địa phương tại thị xã Vĩnh Châu (cũ) (Nguồn: Báo Nhân Dân, 2024).
Sau hơn 2 năm triển khai tại các xã Lạc Hòa, Vĩnh Hải và Lai Hòa, dự án đã
trồng mới và phục hồi thành công khoảng 105 ha rừng ngập mặn với tỷ lệ cây
sống đạt khoảng 95%, góp phần nâng cao khả năng phòng hộ ven biển và tăng
cường hấp thụ các-bon của hệ sinh thái rừng ngập mặn (Nguồn: Báo Đại biểu
Nhân dân, 2024; Báo Nhân Dân, 2024).
Bên cạnh các kết quả về môi trường, dự án còn tạo điều kiện cho khoảng
1.400 hộ dân tham gia các hoạt động quản lý, bảo vệ và khai thác hợp lý tài nguyên
dưới tán rừng, góp phần cải thiện sinh kế và nâng cao thu nhập. Theo báo cáo của
dự án, thu nhập bình quân của các hộ tham gia tăng khoảng 40% so với trước khi
thực hiện mô hình (Nguồn: Báo Đại biểu Nhân dân, 2024).
181
Đáng chú ý, các kết quả nghiên cứu và thực tiễn triển khai của dự án còn
được sử dụng làm cơ sở xây dựng “Sổ tay hướng dẫn kỹ thuật xác định sinh khối
và trữ lượng các-bon rừng ngập mặn”, được Cục Lâm nghiệp ban hành theo Quyết
định số 316/QĐ-LN-SXLN ngày 29/10/2024 để áp dụng trên phạm vi toàn quốc
(Cục Lâm nghiệp, 2024; Báo Nhân Dân, 2025). Đây là minh chứng cho hiệu quả
của mô hình xã hội hóa trong việc kết nối nguồn lực quốc tế với nhu cầu bảo tồn
hệ sinh thái ven biển tại địa phương.
(iii) Chương trình “Sống khỏe góp xanh cùng Panasonic”:
Chương trình “Sống khỏe góp xanh cùng Panasonic” do Trung tâm Truyền
thông tài nguyên và môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường) phối hợp với Công
ty TNHH Panasonic Việt Nam triển khai là một điển hình về huy động nguồn lực
trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (CSR) trong bảo vệ môi trường và ứng phó với
biến đổi khí hậu (Nguồn: Báo VnExpress, 2025; Panasonic Việt Nam, 2025).
Thông qua cơ chế gắn kết hoạt động kinh doanh với các chương trình trồng
cây xanh và phục hồi hệ sinh thái, chương trình đã hỗ trợ triển khai hoạt động
trồng rừng ngập mặn tại xã Lai Hòa, thị xã Vĩnh Châu (cũ), góp phần tăng cường
khả năng phòng hộ của đai rừng ven biển và nâng cao nhận thức cộng đồng về vai
trò của rừng ngập mặn trong bảo vệ môi trường biển (Nguồn: Báo Nông nghiệp
và Môi trường, 2025).
Việc doanh nghiệp chủ động tham gia đầu tư cho các hoạt động bảo tồn thiên
nhiên thông qua các chương trình CSR cho thấy xu hướng ngày càng rõ nét của
khu vực tư nhân trong việc đồng hành cùng chính quyền địa phương và cộng đồng
trong bảo vệ môi trường biển và phát triển bền vững (Nguồn: Báo VnExpress,
2025; Panasonic Việt Nam, 2025).
(iv) Mô hình nuôi tôm sinh thái kết hợp bảo vệ rừng ngập mặn:
Song song với các chương trình phục hồi rừng ngập mặn, mô hình nuôi tôm
sinh thái kết hợp bảo vệ rừng ngập mặn tiếp tục được khuyến khích phát triển tại
khu vực ven biển nhằm hài hòa giữa mục tiêu bảo tồn hệ sinh thái và phát triển
sinh kế cho người dân.
Nguồn lực triển khai mô hình được huy động từ nhiều nguồn khác nhau, bao
gồm các chương trình hỗ trợ kỹ thuật của các tổ chức phi chính phủ, nguồn vốn
vay ưu đãi và các chính sách hỗ trợ của địa phương. Việc kết hợp giữa bảo vệ
rừng với sản xuất thủy sản theo hướng sinh thái đã góp phần hạn chế các tác động
tiêu cực của nuôi trồng thủy sản thâm canh đối với môi trường, đồng thời tạo thêm
động lực để người dân tham gia bảo vệ và phát triển rừng ngập mặn (Nguồn:
UBND tỉnh Sóc Trăng, 2025).
Mô hình này được xem là hướng tiếp cận phù hợp đối với khu vực ven biển
Đồng bằng sông Cửu Long, trong đó người dân vừa là đối tượng hưởng lợi trực
tiếp từ tài nguyên thiên nhiên, vừa là lực lượng nòng cốt tham gia quản lý và bảo
vệ hệ sinh thái rừng ngập mặn.
182
(v) Dự án “Chống chịu khí hậu và sinh kế bền vững Đồng bằng sông Cửu
Long (MERIT)”:
Dự án chống chịu khí hậu và sinh kế bền vững Đồng bằng sông Cửu Long
(MERIT) là một trong những chương trình có quy mô đầu tư lớn được chuẩn bị
triển khai tại khu vực ven biển thành phố Cần Thơ trong giai đoạn cuối kỳ báo
cáo. Dự án sử dụng nguồn vốn vay ODA của Ngân hàng Thế giới (WB), với tổng
mức đầu tư dự kiến trên 863 tỷ đồng, tập trung vào các hoạt động tăng cường khả
năng chống chịu của khu vực ven biển trước tác động của biến đổi khí hậu và
nước biển dâng (Nguồn: UBND tỉnh Sóc Trăng, 2025).
Bên cạnh các hạng mục hạ tầng như nâng cấp đê biển, bảo vệ bờ biển và
phục hồi rừng phòng hộ ven biển, dự án còn lồng ghép các chương trình hỗ trợ
sinh kế, chuyển đổi nghề nghiệp và nâng cao năng lực thích ứng cho cộng đồng
dân cư ven biển. Đây là mô hình huy động hiệu quả nguồn vốn quốc tế kết hợp
với nguồn lực địa phương nhằm hướng tới mục tiêu phát triển bền vững vùng ven
biển trong dài hạn (Nguồn: UBND tỉnh Sóc Trăng, 2025).
b. Quản lý rác thải nhựa đại dương:
(i) Dự án 3RproMar (GIZ/BMZ):
Dự án “Giảm thiểu, tái sử dụng và tái chế rác thải nhựa để bảo vệ môi trường
biển” (3RproMar) do Tổ chức Hợp tác quốc tế Đức (GIZ) thực hiện với nguồn viện
trợ không hoàn lại từ Bộ Hợp tác Kinh tế và Phát triển Liên bang Đức (BMZ) là
một trong những dự án quốc tế tiêu biểu trong lĩnh vực quản lý rác thải nhựa đại
dương tại khu vực ven biển thành phố Cần Thơ (GIZ Vietnam, 2023).
Dự án tập trung hỗ trợ xây dựng các giải pháp thu gom rác thải tại các khu
vực cửa sông đổ ra biển, nâng cao năng lực quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại các
địa phương ven biển và thúc đẩy hoạt động phân loại rác tại nguồn trong cộng
đồng dân cư. Cách tiếp cận của dự án hướng đến kiểm soát rác thải nhựa ngay từ
nguồn phát sinh, qua đó giảm lượng chất thải thất thoát ra môi trường biển và hệ
sinh thái ven bờ (GIZ Vietnam, 2023).
Thông qua việc huy động sự tham gia của chính quyền địa phương, cộng
đồng dân cư và các tổ chức quốc tế, dự án đã góp phần nâng cao nhận thức cộng
đồng về vấn đề ô nhiễm rác thải nhựa đại dương, đồng thời tạo tiền đề cho việc
nhân rộng các mô hình quản lý chất thải dựa vào cộng đồng trong thời gian tới.
(ii) Chương trình "Tổ tự quản môi trường biển" tại các cảng cá:
Bên cạnh các dự án hỗ trợ quốc tế, nhiều địa phương ven biển đã triển khai
mô hình “Tổ tự quản môi trường biển” tại các cảng cá nhằm phát huy vai trò của
cộng đồng ngư dân trong bảo vệ môi trường biển. Chương trình được triển khai
bằng nguồn kinh phí sự nghiệp môi trường của địa phương kết hợp với nguồn hỗ
trợ từ các chương trình thích ứng biến đổi khí hậu tại Đồng bằng sông Cửu Long
(Nguồn: UBND tỉnh Sóc Trăng, tổng hợp năm 2025).
183
Các tổ tự quản thực hiện tuyên truyền, vận động ngư dân thu gom chất thải
phát sinh trong quá trình khai thác thủy sản, hạn chế tình trạng xả rác xuống biển,
đồng thời tham gia giám sát việc thực hiện các quy định bảo vệ môi trường tại khu
vực cảng cá và bến cá. Đây là mô hình xã hội hóa có chi phí đầu tư không lớn
nhưng mang lại hiệu quả thiết thực trong việc nâng cao ý thức cộng đồng và tăng
cường trách nhiệm của người dân đối với môi trường biển.
Nhìn chung, giai đoạn 2021 – 2025 ghi nhận sự tham gia ngày càng tích cực
của cộng đồng dân cư, doanh nghiệp, các tổ chức phi chính phủ và các tổ chức quốc
tế trong công tác bảo vệ môi trường biển tại khu vực ven biển thuộc thành phố Cần
Thơ hiện nay. Các nguồn lực ngoài ngân sách đã được huy động hiệu quả cho các
hoạt động phục hồi rừng ngập mặn, quản lý rác thải nhựa đại dương, nâng cao nhận
thức cộng đồng và phát triển sinh kế thích ứng với biến đổi khí hậu. Điều này góp
phần giảm áp lực cho ngân sách nhà nước, đồng thời nâng cao tính bền vững trong
quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và tăng cường khả năng chống chịu của
cộng đồng ven biển trước các tác động của biến đổi khí hậu.
Bảng 7.4. Tổng hợp các dự án/chương trnh xã hội hóa bảo vệ môi trường
biển tại Cần Thơ giai đoạn 2021 – 2025
Dự án/Chương trnh
Chủ thể
xã hội hóa
Nguồn lực
huy động
Kết quả nổi bật
Dự án B4 – Tăng cường
khả năng chống chịu với
biến đổi khí hậu của
cộng đồng ven biển
ĐBSCL
(ActionAid/BfdW/AFV)
Cộng đồng địa
phương, chính
quyền cơ sở,
NGO quốc tế
Viện trợ quốc tế từ
Chính phủ Áo,
BfdW, ActionAid
và AFV
Phục hồi 105 ha rừng
ngập mặn; khoảng 1.400
hộ dân tham gia; thu
nhập hộ hưởng lợi tăng
khoảng 40%
Dự án phục hồi rừng
ngập mặn và giải pháp
dựa vào thiên nhiên
(IUCN – Coca-Cola)
Doanh nghiệp,
tổ chức quốc tế,
cộng đồng địa
phương
Quỹ Coca-Cola
Foundation (TCCF)
và hỗ trợ kỹ thuật
của IUCN
Phục hồi rừng ngập mặn
ven biển Vĩnh Châu; hỗ
trợ cộng đồng thích ứng
biến đổi khí hậu
Chương trình “Sống
khỏe góp xanh cùng
Panasonic”
Doanh nghiệp,
cơ quan quản lý
nhà nước, cộng
đồng
Nguồn kinh phí
trách nhiệm xã hội
doanh nghiệp
(CSR) của
Panasonic
Hỗ trợ trồng rừng ngập
mặn tại Lai Hòa; nâng
cao nhận thức cộng
đồng về bảo vệ hệ sinh
thái ven biển
Mô hình nuôi tôm sinh
thái kết hợp bảo vệ rừng
ngập mặn
Hộ nuôi trồng
thủy sản, tổ
chức hỗ trợ phát
triển, chính
quyền địa
phương
Nguồn hỗ trợ kỹ
thuật từ NGO, vốn
vay ưu đãi và các
chương trình hỗ trợ
địa phương
Góp phần bảo vệ rừng
ngập mặn, giảm áp lực
môi trường từ hoạt động
nuôi trồng thủy sản
184
Dự án/Chương trnh
Chủ thể
xã hội hóa
Nguồn lực
huy động
Kết quả nổi bật
Dự án chống chịu khí
hậu và sinh kế bền vững
Đồng bằng sông Cửu
Long (MERIT)
Chính quyền địa
phương, cộng
đồng dân cư,
nhà tài trợ quốc
tế
Vốn ODA của
Ngân hàng Thế giới
(WB) và vốn đối
ứng địa phương
Tăng cường khả năng
chống chịu ven biển;
phục hồi rừng phòng hộ;
hỗ trợ sinh kế thích ứng
biến đổi khí hậu
Dự án 3RproMar – Giảm
thiểu, tái sử dụng và tái
chế rác thải nhựa để bảo
vệ môi trường biển
(GIZ/BMZ)
Cộng đồng dân
cư, chính quyền
địa phương, GIZ
Viện trợ không
hoàn lại của Chính
phủ Đức (BMZ)
Hỗ trợ thu gom rác tại
cửa sông; thúc đẩy phân
loại rác tại nguồn và
giảm thất thoát rác thải
nhựa ra biển
Chương trình “Tổ tự
quản môi trường biển”
tại các cảng cá
Ngư dân, cộng
đồng địa
phương, chính
quyền cơ sở
Ngân sách sự
nghiệp môi trường
và các chương trình
hỗ trợ thích ứng
biến đổi khí hậu
Nâng cao vai trò cộng
đồng trong giám sát, thu
gom chất thải và bảo vệ
môi trường tại khu vực
cảng cá
Nguồn: Tổng hợp từ GIZ Vietnam (2023); Cổng Thông tin điện tử Chính phủ (2024); Báo Lao
Động (2024); Báo Đại biểu Nhân dân (2024); Báo Nhân Dân (2024, 2025); Panasonic Việt
Nam (2025); UBND tỉnh Sóc Trăng (2021, 2025).
c. Đánh giá mức độ tham gia của các bên và hiệu quả xã hội hóa:
Mức độ tham gia của các bên liên quan:
Giai đoạn 2021 – 2025 ghi nhận sự tham gia tương đối đa dạng của các chủ
thể ngoài ngân sách nhà nước trong công tác bảo vệ môi trường biển tại khu vực
ven biển thuộc thành phố Cần Thơ. Các chủ thể tham gia chủ yếu gồm: (i) cộng
đồng dân cư ven biển và các hộ nuôi trồng thủy sản tham gia các mô hình sinh kế
gắn với bảo vệ rừng ngập mặn và bảo vệ môi trường biển; (ii) doanh nghiệp thông
qua các chương trình trách nhiệm xã hội (CSR), tiêu biểu như Quỹ Coca-Cola
Foundation và Công ty TNHH Panasonic Việt Nam; (iii) các tổ chức quốc tế và tổ
chức phi chính phủ như IUCN, GIZ, ActionAid, BfdW; và (iv) các tổ chức tài chính
phát triển quốc tế như Ngân hàng Thế giới (WB) thông qua các chương trình, dự
án hỗ trợ thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững vùng ven biển.
Sự tham gia của nhiều nhóm chủ thể với các hình thức hỗ trợ khác nhau như
tài trợ tài chính, hỗ trợ kỹ thuật, nâng cao năng lực, chuyển giao mô hình quản lý
và hỗ trợ sinh kế đã góp phần bổ sung nguồn lực đáng kể cho công tác bảo vệ môi
trường biển, giảm áp lực đầu tư từ ngân sách nhà nước và tăng cường sự tham gia
của cộng đồng trong quản lý tài nguyên ven biển.
Hiệu quả của các hoạt động xã hội hóa:
185
Kết quả triển khai các chương trình, dự án cho thấy các mô hình xã hội hóa
gắn bảo vệ môi trường với phát triển sinh kế cộng đồng có hiệu quả tương đối bền
vững. Các dự án phục hồi rừng ngập mặn kết hợp hỗ trợ sinh kế, mô hình nuôi
tôm sinh thái gắn với bảo vệ rừng và các hoạt động quản lý rác thải dựa vào cộng
đồng đã góp phần nâng cao nhận thức, tăng trách nhiệm của người dân trong bảo
vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường biển.
Một số mô hình đã mang lại kết quả tích cực cả về môi trường và kinh tế -
xã hội. Điển hình, Dự án B4 không chỉ góp phần phục hồi 105 ha rừng ngập mặn
mà còn hỗ trợ khoảng 1.400 hộ dân tham gia các hoạt động sinh kế gắn với bảo
vệ rừng, qua đó cải thiện thu nhập và tạo động lực để cộng đồng tham gia bảo vệ
tài nguyên một cách chủ động, lâu dài. Các chương trình phục hồi rừng ngập mặn
do doanh nghiệp và tổ chức quốc tế hỗ trợ cũng góp phần tăng cường khả năng
phòng hộ ven biển, nâng cao khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu và bảo tồn
đa dạng sinh học khu vực ven bờ.
Trong lĩnh vực quản lý chất thải, các mô hình phân loại rác tại nguồn, thu
gom rác thải tại khu vực cửa sông và các tổ tự quản môi trường biển đã từng bước
nâng cao nhận thức cộng đồng, góp phần hạn chế tình trạng xả rác thải ra môi
trường biển và tăng cường vai trò giám sát của người dân tại địa phương.
Những tồn tại, hạn chế:
Mặc dù đạt được nhiều kết quả tích cực, phần lớn các hoạt động xã hội hóa
bảo vệ môi trường biển trong giai đoạn 2021 – 2025 vẫn phụ thuộc đáng kể vào
nguồn viện trợ quốc tế, nguồn vốn ODA hoặc nguồn tài trợ từ các tổ chức phi
chính phủ và doanh nghiệp. Nguồn lực huy động từ khu vực tư nhân trong nước
và sự tham gia chủ động của cộng đồng vẫn còn hạn chế so với nhu cầu thực tế.
Bên cạnh đó, một số mô hình mới được triển khai trong thời gian ngắn nên
chưa đủ cơ sở để đánh giá toàn diện về hiệu quả lâu dài. Khả năng duy trì và nhân
rộng kết quả sau khi các chương trình, dự án kết thúc còn phụ thuộc vào năng lực
quản lý của địa phương, nguồn kinh phí duy trì và mức độ tiếp tục tham gia của
cộng đồng. Do đó, trong giai đoạn 2026 – 2030 cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế
khuyến khích xã hội hóa, tăng cường huy động nguồn lực từ khu vực tư nhân,
đồng thời lồng ghép hiệu quả các mô hình đã được kiểm chứng vào các chương
trình phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường của địa phương nhằm bảo
đảm tính bền vững lâu dài.
7.8. HỢP TÁC QUỐC TẾ VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG BIỂN VÀ HẢI
ĐẢO
7.8.1. Tổng quan hoạt động hợp tác quốc tế giai đoạn 2021 – 2025
Giai đoạn 2021 – 2025, hoạt động hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ môi
trường biển và hải đảo tại khu vực ven biển thuộc thành phố Cần Thơ hiện nay
được triển khai trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh thực hiện các cam kết quốc tế
về biến đổi khí hậu, tăng trưởng xanh và phát triển bền vững kinh tế biển. Các
186
chương trình hợp tác tập trung vào các lĩnh vực trọng tâm như phục hồi hệ sinh thái
rừng ngập mặn, thích ứng với biến đổi khí hậu, quản lý tổng hợp vùng bờ, giảm
thiểu ô nhiễm môi trường biển và nâng cao năng lực quản lý tài nguyên môi trường.
Trong giai đoạn này, địa phương đã tiếp nhận sự hỗ trợ của nhiều tổ chức
quốc tế và đối tác phát triển như Ngân hàng Thế giới (WB), Cơ quan Phát triển
quốc tế Hoa Kỳ (USAID), Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN), Tổ chức
Hợp tác quốc tế Đức (GIZ), Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP),
ActionAid, Tổ chức Bánh mì Thế giới (BfdW) và nhiều tổ chức phát triển khác.
Nguồn hỗ trợ không chỉ bao gồm viện trợ tài chính và vốn ODA mà còn tập trung
vào chuyển giao công nghệ, hỗ trợ kỹ thuật, đào tạo nguồn nhân lực và xây dựng
các mô hình quản lý môi trường dựa vào hệ sinh thái.
Nhiều chương trình hợp tác quốc tế được triển khai trong giai đoạn này cũng
đồng thời là các mô hình xã hội hóa bảo vệ môi trường biển với sự tham gia của
cộng đồng dân cư và doanh nghiệp địa phương. Các kết quả cụ thể về huy động
nguồn lực xã hội hóa được trình bày tại Mục 7.7.2.
7.8.2. Hỗ trợ kỹ thuật, chuyển giao công nghệ và nâng cao năng lực quản lý
môi trường biển
Một trong những giá trị nổi bật của các chương trình hợp tác quốc tế trong
giai đoạn 2021 – 2025 là hỗ trợ địa phương tiếp cận các công nghệ và phương
pháp quản lý hiện đại phục vụ bảo vệ môi trường biển và vùng ven biển.
Trong lĩnh vực phục hồi hệ sinh thái ven biển, các dự án do IUCN, USAID
và các đối tác phát triển hỗ trợ đã giới thiệu các giải pháp thích ứng dựa vào thiên
nhiên (Nature-based Solutions – NbS), kết hợp giữa phục hồi rừng ngập mặn, bảo
vệ bờ biển và phát triển sinh kế thích ứng với biến đổi khí hậu. Một số mô hình
nuôi trồng thủy sản tuần hoàn (RAS) được nghiên cứu và thử nghiệm nhằm giảm
thiểu phát thải nước thải ra môi trường, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên
nước và giảm áp lực lên hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển.
Bên cạnh các kết quả về phục hồi hệ sinh thái và thích ứng với biến đổi khí
hậu, các chương trình hợp tác quốc tế còn góp phần nâng cao năng lực quản lý
môi trường biển thông qua hoạt động đào tạo, tập huấn, chia sẻ kinh nghiệm và
hỗ trợ kỹ thuật cho cơ quan quản lý địa phương. Thông qua quá trình triển khai
các dự án, nhiều phương pháp tiếp cận mới trong quản lý vùng ven biển, phục hồi
hệ sinh thái dựa vào thiên nhiên, đánh giá khả năng hấp thụ các-bon của rừng ngập
mặn và phát triển sinh kế thích ứng với biến đổi khí hậu đã được giới thiệu và áp
dụng tại địa phương, tạo cơ sở để nâng cao hiệu quả quản lý tài nguyên và bảo vệ
môi trường biển trong dài hạn.
187
Đặc biệt, thông qua Dự án B4, địa phương đã được hỗ trợ nghiên cứu và
hoàn thiện phương pháp xác định sinh khối và trữ lượng các-bon rừng ngập mặn.
Kết quả nghiên cứu thực địa tại khu vực ven biển thành phố Cần Thơ đã được Cục
Lâm nghiệp tiếp thu, sử dụng để xây dựng “Sổ tay hướng dẫn kỹ thuật xác định
sinh khối và trữ lượng các-bon rừng ngập mặn”, ban hành theo Quyết định số
316/QĐ-LN-SXLN ngày 29/10/2024 áp dụng trên phạm vi toàn quốc (Cục Lâm
nghiệp, 2024; Báo Nhân Dân, 2025). Đây là một trong những kết quả hợp tác
quốc tế có giá trị khoa học và thực tiễn nổi bật của địa phương trong giai đoạn
báo cáo.
Bên cạnh đó, nhiều chương trình đào tạo, tập huấn và nâng cao năng lực đã
được triển khai cho cán bộ quản lý, lực lượng kỹ thuật và cộng đồng địa phương về
quản lý tài nguyên ven biển, thích ứng với biến đổi khí hậu, bảo tồn đa dạng sinh
học, quản lý chất thải nhựa đại dương và phục hồi hệ sinh thái rừng ngập mặn.
7.8.3. Đánh giá kết quả hợp tác quốc tế và định hướng giai đoạn tiếp theo
Nhìn chung, hoạt động hợp tác quốc tế trong giai đoạn 2021 – 2025 đã góp
phần quan trọng trong việc nâng cao năng lực quản lý môi trường biển và hải đảo
của địa phương. Thông qua các chương trình viện trợ, hỗ trợ kỹ thuật và vốn
ODA, địa phương đã tiếp cận được nhiều phương pháp quản lý tiên tiến, công
nghệ mới và các mô hình phát triển bền vững phù hợp với điều kiện vùng ven
biển Đồng bằng sông Cửu Long.
Các chương trình hợp tác quốc tế đã hỗ trợ hiệu quả cho công tác phục hồi
hệ sinh thái rừng ngập mặn, thích ứng với biến đổi khí hậu, quản lý chất thải nhựa
đại dương, xây dựng cơ sở dữ liệu môi trường và quản lý tổng hợp vùng bờ. Đồng
thời, các dự án cũng góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng, tăng cường sự tham
gia của người dân vào các hoạt động bảo vệ môi trường và tạo tiền đề cho việc
huy động các nguồn lực xã hội hóa trong công tác bảo vệ môi trường biển.
Tuy nhiên, quy mô hợp tác quốc tế tại địa phương vẫn còn phụ thuộc nhiều
vào các chương trình hỗ trợ theo dự án, thời gian triển khai thường ngắn và phạm
vi can thiệp còn phân tán. Việc duy trì, cập nhật và vận hành các kết quả sau khi
dự án kết thúc vẫn là thách thức đối với địa phương, đặc biệt trong bối cảnh yêu
cầu quản lý môi trường biển ngày càng phức tạp dưới tác động của biến đổi khí
hậu và phát triển kinh tế biển.
Trong giai đoạn sau năm 2025, thành phố Cần Thơ cần tiếp tục mở rộng hợp
tác với các tổ chức quốc tế, các định chế tài chính phát triển và các cơ sở nghiên
cứu khoa học nhằm tranh thủ nguồn lực cho các chương trình phục hồi hệ sinh
thái ven biển, chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn, quản lý rác thải nhựa đại dương,
xây dựng hệ thống quan trắc hiện đại và phát triển cơ sở dữ liệu số phục vụ quản
lý tổng hợp tài nguyên, môi trường biển và hải đảo trên địa bàn thành phố.
188
CHƯƠNG 8. CÁC THÁCH THỨC TRONG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
BIỂN VÀ HẢI ĐẢO, PHƯƠNG HƯỚNG, CƠ HỘI VÀ GIẢI PHÁP
TRONG 5 NĂM TỚI
8.1. CÁC THÁCH THỨC VỀ MÔI TRƯỜNG BIỂN VÀ HẢI ĐẢO
Trên cơ sở đánh giá toàn diện hiện trạng môi trường biển (Chương 3), các
sức ép phát triển (Chương 2), tác động tích lũy (Chương 6) và công tác quản lý
(Chương 7), có thể nhận diện bảy nhóm thách thức mang tính hệ thống mà thành
phố Cần Thơ cần đối mặt trong giai đoạn 2026 – 2030 như sau:
(1) Gia tăng tải lượng ô nhiễm từ đất liền và các hoạt động kinh tế ven
biển: Quá trình đô thị hóa, phát triển công nghiệp, nông nghiệp và nuôi trồng thủy
sản đã làm gia tăng đáng kể lượng nước thải, chất thải rắn và các chất ô nhiễm đổ
vào môi trường biển. Mặc dù hệ thống thu gom và xử lý chất thải đã được cải
thiện, song hạ tầng xử lý nước thải tại khu vực ven biển vẫn chưa đáp ứng yêu
cầu phát triển. Nước thải sinh hoạt, nước thải từ nuôi tôm thâm canh, chế biến
thủy sản và các hoạt động sản xuất khác tiếp tục tạo áp lực lên chất lượng môi
trường nước tại các cửa sông và vùng ven biển. Bên cạnh nguồn thải tại chỗ, môi
trường biển còn chịu tác động từ lượng chất ô nhiễm được vận chuyển theo hệ
thống sông Hậu và mạng lưới sông ngòi nội vùng ra biển, làm gia tăng nguy cơ
tích tụ chất hữu cơ, dinh dưỡng và rác thải nhựa tại các khu vực cửa sông.
(2) Suy giảm nguồn lợi thủy sản và áp lực khai thác tài nguyên biển:
Nguồn lợi thủy sản tự nhiên vùng ven biển đang có xu hướng suy giảm do cường
độ khai thác cao kéo dài trong nhiều năm, đặc biệt tại các khu vực ven bờ và cửa
sông. Tình trạng khai thác quá mức, khai thác bất hợp pháp, không báo cáo và
không theo quy định (IUU), cùng với việc sử dụng một số ngư cụ có tính tận diệt
đã làm suy giảm trữ lượng và chất lượng nguồn lợi thủy sản. Bên cạnh đó, hoạt
động khai thác cát biển, phát triển cảng biển, giao thông thủy và các dự án hạ tầng
ven biển có nguy cơ làm thay đổi địa hình đáy biển, gia tăng độ đục nước và ảnh
hưởng đến các bãi đẻ, bãi giống và sinh cảnh của nhiều loài thủy sinh.
(3) Suy thoái hệ sinh thái ven biển và đa dạng sinh học: Mặc dù công tác
bảo vệ và phục hồi rừng ngập mặn đã đạt được những kết quả tích cực, song các hệ
sinh thái ven biển vẫn đang chịu nhiều sức ép từ chuyển đổi mục đích sử dụng đất,
nuôi trồng thủy sản thâm canh, phát triển hạ tầng và xói lở bờ biển. Sự suy thoái
của rừng ngập mặn, bãi bồi và các sinh cảnh cửa sông không chỉ làm giảm khả năng
phòng hộ tự nhiên trước thiên tai mà còn ảnh hưởng đến nơi cư trú, sinh sản và phát
triển của nhiều loài thủy sinh vật, dẫn đến suy giảm đa dạng sinh học biển.
189
(4) Ô nhiễm rác thải nhựa và rác thải đại dương: Rác thải nhựa đang trở
thành một trong những thách thức môi trường nổi bật tại khu vực ven biển. Nguồn
phát sinh đến từ sinh hoạt dân cư, hoạt động du lịch, nuôi trồng thủy sản, khai
thác thủy sản và giao thông đường thủy. Tình trạng rác thải nhựa tích tụ tại các
cửa sông, bãi bồi, rừng ngập mặn và khu vực ven biển không chỉ ảnh hưởng đến
cảnh quan mà còn gây tác động tiêu cực đến sinh vật biển thông qua hiện tượng
mắc kẹt, nuốt phải rác hoặc phơi nhiễm vi nhựa trong chuỗi thức ăn.
(5) Tác động ngày càng gia tăng của biến đổi khí hậu và nước biển dâng:
Biến đổi khí hậu đang làm gia tăng tính dễ tổn thương của khu vực ven biển thông
qua các hiện tượng nước biển dâng, xâm nhập mặn, triều cường, sạt lở bờ biển và
thời tiết cực đoan. Nhiều đoạn bờ biển đang tiếp tục bị xói lở với tốc độ cao, đe
dọa hệ thống đê biển, rừng phòng hộ ven biển, cơ sở hạ tầng và sinh kế của cộng
đồng dân cư. Đồng thời, biến đổi khí hậu cũng làm gia tăng nguy cơ dịch bệnh
trong nuôi trồng thủy sản, suy giảm chất lượng môi trường nước và thu hẹp không
gian sinh thái tự nhiên.
(6) Hạn chế về hạ tầng kỹ thuật và năng lực quản lý môi trường biển:
Mặc dù công tác quản lý nhà nước về môi trường biển đã được tăng cường, song
hệ thống hạ tầng bảo vệ môi trường tại khu vực ven biển vẫn còn thiếu và chưa
đồng bộ. Năng lực thu gom, xử lý chất thải, ứng phó sự cố môi trường biển và
quản lý rác thải đại dương chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu thực tiễn. Bên cạnh đó,
việc triển khai quản lý tổng hợp tài nguyên vùng bờ, chia sẻ dữ liệu giữa các ngành
và các địa phương sau sáp nhập vẫn còn gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng đến hiệu
quả quản lý môi trường biển.
(7) Thách thức trong chuyển đổi sang mô hình phát triển kinh tế biển bền
vững: Trong những năm tới, thành phố phải đối mặt với yêu cầu cân bằng giữa
mục tiêu tăng trưởng kinh tế biển và bảo vệ môi trường. Sự phát triển của nuôi
trồng thủy sản thâm canh, công nghiệp ven biển, logistics, cảng biển, năng lượng
tái tạo và du lịch biển nếu không được kiểm soát tốt có thể làm gia tăng áp lực lên
tài nguyên và môi trường biển. Đồng thời, khoảng cách giữa nhận thức và hành
vi của một bộ phận người dân, doanh nghiệp trong việc bảo vệ môi trường vẫn
còn tồn tại, đòi hỏi phải tiếp tục nâng cao nhận thức cộng đồng, thúc đẩy kinh tế
tuần hoàn và tăng cường sự tham gia của các bên liên quan trong công tác bảo vệ
môi trường biển và hải đảo.
8.2. PHƯƠNG HƯỚNG, CƠ HỘI VÀ GIẢI PHÁP BẢO VỆ MÔI
TRƯỜNG BIỂN VÀ HẢI ĐẢO TRONG 5 NĂM TỚI
Trên cơ sở các thách thức đã được nhận diện tại Mục 8.1, các nhóm giải pháp
ưu tiên được xây dựng nhằm giải quyết các vấn đề môi trường biển và hải đảo theo
hướng đồng bộ, có trọng tâm và phù hợp với điều kiện thực tiễn của thành phố. Do
một số thách thức có tính chất, nguyên nhân và phạm vi tác động tương đồng, báo
cáo thực hiện tổng hợp thành các nhóm vấn đề trọng tâm để xác định nhóm giải
pháp ưu tiên tương ứng. Mối liên hệ giữa các nhóm thách thức, nhóm giải pháp và
các nhiệm vụ triển khai trọng tâm được tổng hợp tại Bảng 8.1 dưới đây.
190
Bảng 8.1. Tổng hợp các nhóm thách thức và định hướng giải pháp ưu tiên
STT
Nhóm thách thức
chủ yếu
Nhóm giải pháp
ưu tiên
Nhiệm vụ triển khai
trọng tâm
1
Gia tăng ô nhiễm
môi trường nước từ
các nguồn thải đất
liền (sinh hoạt, nông
nghiệp, nuôi trồng
thủy sản, sản xuất,
kinh doanh, dịch
vụ)
Kiểm soát ô nhiễm
từ đất liền và các
hoạt động kinh tế
ven biển
Hoàn thiện hạ tầng thu gom,
xử lý nước thải; kiểm soát
nguồn thải; áp dụng mô hình
sản xuất sạch hơn, kinh tế
tuần hoàn trong nuôi trồng
thủy sản; tăng cường thanh
tra, kiểm tra và giám sát chất
lượng môi trường.
2
Gia tăng ô nhiễm
rác thải nhựa và
chất thải rắn ven
biển, hải đảo
Kiểm soát ô nhiễm
từ đất liền và các
hoạt động kinh tế
ven biển; Tăng
cường truyền
thông, nâng cao
nhận thức cộng
đồng
Hoàn thiện hệ thống thu
gom, phân loại, xử lý chất
thải; triển khai các mô hình
thu gom rác tại cửa sông, bãi
triều; thúc đẩy giảm nhựa
dùng một lần và phát triển
kinh tế tuần hoàn đối với chất
thải nhựa.
3
Suy giảm nguồn lợi
thủy sản và đa dạng
sinh học biển
Bảo tồn, phục hồi
hệ sinh thái và đa
dạng sinh học biển,
ven biển
Tăng cường quản lý nghề cá;
kiểm soát khai thác IUU;
phục hồi nguồn lợi thủy sản;
bảo vệ bãi giống, bãi đẻ; mở
rộng các mô hình đồng quản
lý và bảo tồn sinh cảnh tự
nhiên.
4
Suy thoái hệ sinh
thái ven biển, xói lở
bờ biển và tác động
của biến đổi khí hậu
Bảo tồn, phục hồi
hệ sinh thái và đa
dạng sinh học biển,
ven biển; Chủ động
thích ứng với biến
đổi khí hậu và quản
lý tổng hợp vùng
bờ
Phục hồi rừng ngập mặn;
triển khai quản lý tổng hợp
vùng bờ (ICZM); đầu tư các
công trình phòng chống sạt
lở kết hợp giải pháp dựa vào
thiên nhiên; tăng cường giám
sát diễn biến đường bờ.
5
Hạn chế về thể chế,
năng lực quản lý,
quan trắc và cơ sở
dữ liệu môi trường
biển
Hoàn thiện thể chế,
tăng cường năng
lực quản lý nhà
nước; hiện đại hóa
hệ thống quan trắc
và cơ sở dữ liệu
môi trường
Rà soát, hoàn thiện cơ chế,
chính sách; nâng cấp mạng
lưới quan trắc; ứng dụng
GIS, viễn thám và chuyển
đổi số; tăng cường đào tạo,
nâng cao năng lực cán bộ;
đẩy mạnh hợp tác khoa học
và huy động nguồn lực.
191
Trên cơ sở định hướng nêu tại Bảng 8.1, các nhóm giải pháp được cụ thể hóa
như sau:
8.2.1. Phương hướng chung về bảo vệ môi trường biển và hải đảo gắn với
phát triển bền vững
Đến năm 2030, phát triển các mô hình du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng
gắn với bảo vệ môi trường và bảo tồn hệ sinh thái, văn hóa biển trên địa. Đẩy
mạnh ứng dụng công nghệ số trong quản lý hoạt động du lịch nhằm kiểm soát sức
tải môi trường, giảm thiểu phát sinh chất thải, tiết kiệm tài nguyên và nâng cao
chất lượng dịch vụ du lịch theo hướng bền vững, thân thiện với môi trường.
Tăng cường quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại khu vực đô thị, xã ven biển và
các địa bàn có hoạt động du lịch, dịch vụ, bảo đảm tỷ lệ thu gom và xử lý chất
thải rắn sinh hoạt đạt trên 95%. Đồng thời, triển khai hiệu quả phân loại chất thải
rắn tại nguồn, thúc đẩy tái sử dụng, tái chế và thu hồi năng lượng từ chất thải, từng
bước giảm tỷ lệ chôn lấp, hạn chế ô nhiễm môi trường đất, nước và biển.
Đẩy mạnh trồng, phục hồi và nâng cao chất lượng rừng phòng hộ ven biển,
góp phần bảo vệ bờ biển, giảm thiểu sạt lở, ứng phó với biến đổi khí hậu và bảo
tồn đa dạng sinh học. Phấn đấu trong giai đoạn 2026 – 2030, diện tích trồng rừng
phòng hộ ven biển đạt khoảng 250 ha, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý, bảo
vệ rừng.
Phát triển kết cấu hạ tầng giao thông và logistics ven biển theo hướng bền
vững, thân thiện với môi trường, bảo đảm lồng ghép yêu cầu bảo vệ môi trường
trong quá trình quy hoạch, xây dựng và vận hành các công trình hạ tầng. Việc
hoàn thành tuyến đường bộ ven biển và hình thành các khu, cụm kinh tế biển,
trong đó có Trần Đề, cần gắn với kiểm soát chặt chẽ các nguồn gây ô nhiễm, bảo
vệ hệ sinh thái ven biển và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, góp phần hình
thành hành lang kinh tế biển phát triển theo hướng xanh và bền vững.
Phát triển các nguồn năng lượng sạch, năng lượng tái tạo từ biển theo hướng
giảm phát thải và bảo vệ môi trường, ưu tiên phát triển điện gió ngoài khơi và các
mô hình năng lượng xanh phù hợp với điều kiện tự nhiên của địa phương. Đồng
thời, tăng cường quản lý chặt chẽ hoạt động khai thác tài nguyên biển, bao gồm
khai thác cát biển, bảo đảm tuân thủ quy hoạch, đánh giá tác động môi trường và
phục hồi môi trường sau khai thác, góp phần phát triển kinh tế biển bền vững và
thích ứng với biến đổi khí hậu.
8.2.2. Các cơ hội trong công tác bảo vệ môi trường biển và hải đảo
Công tác bảo vệ môi trường trên địa bàn thành phố đang đứng trước nhiều
cơ hội thuận lợi nhờ sự quan tâm chỉ đạo của Trung ương và địa phương thông
qua việc hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật và các chương trình phát triển
bền vững. Đặc biệt, việc triển khai các quy định của Luật Bảo vệ môi trường năm
2020 và định hướng phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn trong Nghị quyết
số 36-NQ/TW đã tạo nền tảng pháp lý quan trọng để địa phương chủ động xây
dựng và thực hiện các chương trình, dự án bảo vệ môi trường một cách đồng bộ,
hiệu quả.
192
Sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ, đặc biệt trong lĩnh
vực quan trắc môi trường tự động, công nghệ xử lý chất thải, viễn thám và chuyển
đổi số, đã mở ra cơ hội lớn để nâng cao hiệu quả quản lý môi trường với chi phí
ngày càng hợp lý. Việc ứng dụng các công nghệ hiện đại như hệ thống quan trắc
môi trường trực tuyến, công nghệ viễn thám từ vệ tinh Sentinel-2 và các mô hình
xử lý chất thải tiên tiến sẽ giúp tăng cường năng lực giám sát, dự báo và kiểm soát
ô nhiễm môi trường, đặc biệt tại các khu vực ven biển và vùng nuôi trồng thủy
sản tập trung.
Xu hướng tăng cường liên kết vùng trong khu vực Đồng bằng sông Cửu
Long đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc phối hợp quản lý tài nguyên và bảo vệ
môi trường đối với các vấn đề mang tính liên vùng như sạt lở bờ biển, xâm nhập
mặn, ô nhiễm nguồn nước và suy thoái hệ sinh thái ven biển. Việc chia sẻ thông
tin, dữ liệu môi trường và phối hợp triển khai các chương trình quản lý liên tỉnh
sẽ góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên, giảm thiểu rủi ro môi trường
và tăng cường khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu trong toàn vùng.
Sự quan tâm và hỗ trợ ngày càng tăng của các tổ chức quốc tế và các đối tác
phát triển trong lĩnh vực bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu cũng
mở ra cơ hội lớn cho địa phương trong việc tiếp cận nguồn lực tài chính, công
nghệ và kinh nghiệm quản lý tiên tiến. Các chương trình hợp tác quốc tế về quản
lý chất thải, bảo vệ môi trường biển, phục hồi hệ sinh thái và phát triển kinh tế
xanh sẽ góp phần nâng cao năng lực quản lý môi trường, cải thiện chất lượng môi
trường và thúc đẩy phát triển bền vững trong giai đoạn tới.
Một cơ hội quan trọng khác là sự tham gia ngày càng tích cực của cộng đồng
dân cư và doanh nghiệp trong công tác bảo vệ môi trường. Nhận thức của người
dân về bảo vệ môi trường đã được nâng cao, thể hiện qua sự sẵn sàng tham gia
các hoạt động thu gom, phân loại chất thải, giảm thiểu rác thải nhựa và bảo vệ tài
nguyên thiên nhiên. Đồng thời, khu vực doanh nghiệp ngày càng quan tâm đến
việc đầu tư công nghệ sạch, sản xuất thân thiện với môi trường và tham gia các
mô hình kinh tế tuần hoàn, qua đó tạo thêm nguồn lực xã hội hóa quan trọng, góp
phần nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ môi trường và giảm áp lực cho ngân sách
nhà nước.
8.2.3. Các nhóm giải pháp ưu tiên bảo vệ môi trường biển và hải đảo giai
đoạn 2026 – 2030
Căn cứ hiện trạng môi trường biển và hải đảo, các nguồn gây ô nhiễm chính,
các sức ép phát triển kinh tế biển và yêu cầu thực hiện Chiến lược phát triển bền
vững kinh tế biển Việt Nam, thành phố Cần Thơ xác định 06 nhóm giải pháp ưu
tiên trong giai đoạn 2026 – 2030 nhằm kiểm soát ô nhiễm, phục hồi hệ sinh thái
và nâng cao năng lực quản lý môi trường biển theo hướng chủ động, hiện đại và
bền vững.
193
(1) Hoàn thiện thể chế và tăng cường thực thi pháp luật:
Mục tiêu: Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tài nguyên, môi
trường biển và hải đảo.
Nhiệm vụ trọng tâm:
- Rà soát, hoàn thiện các quy định địa phương liên quan đến bảo vệ môi
trường biển.
- Tăng cường cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý; từng bước chuẩn
hóa quy trình cập nhật, khai thác và chia sẻ dữ liệu tài nguyên, môi trường biển
và hải đảo giữa các đơn vị, bảo đảm thống nhất trong công tác quản lý và kết nối
đồng bộ với cơ sở dữ liệu của thành phố và cơ sở dữ liệu quốc gia theo quy định.
- Hoàn thành việc thiết lập và cắm mốc hành lang bảo vệ bờ biển theo quy
định của Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo; quản lý chặt chẽ việc sử
dụng đất, xây dựng công trình và các hoạt động phát triển trong phạm vi hành
lang bảo vệ bờ biển nhằm bảo vệ hệ sinh thái, hạn chế sạt lở và thích ứng với biến
đổi khí hậu.
- Tổ chức phân vùng khai thác, sử dụng tài nguyên vùng bờ theo chức năng
và sức chịu tải môi trường; bảo đảm hài hòa giữa phát triển công nghiệp, cảng
biển, logistics, nuôi trồng thủy sản, du lịch, bảo tồn thiên nhiên và bảo vệ môi
trường, hạn chế chồng lấn, xung đột trong khai thác, sử dụng tài nguyên vùng bờ.
- Quản lý thực hiện quy hoạch; thẩm định, kiểm tra cấp phép hoạt động và
tăng cường thanh tra, kiểm tra các cơ sở có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao.
- Ứng dụng công nghệ trong giám sát và xử lý vi phạm môi trường.
- Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ quản lý môi trường biển các cấp.
Cơ quan chủ trì: UBND thành phố.
Cơ quan phối hợp: Các sở, ngành và địa phương ven biển.
Thời gian thực hiện: 2026 – 2030.
Kết quả kỳ vọng: Nâng cao hiệu quả kiểm soát ô nhiễm, giảm thiểu vi phạm
pháp luật về môi trường biển.
(2) Kiểm soát ô nhiễm từ đất liền và các hoạt động kinh tế ven biển:
Mục tiêu: Giảm thiểu lượng chất thải phát sinh từ khu dân cư, nuôi trồng
thủy sản, chế biến thủy sản và hoạt động khai thác thủy sản xả ra môi trường biển.
Nhiệm vụ trọng tâm:
- Nâng tỷ lệ thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại khu vực ven biển đạt
trên 95%.
194
- Hoàn thiện hệ thống thu gom và xử lý nước thải tại các khu dân cư tập
trung, khu nuôi trồng thủy sản và cơ sở chế biến thủy sản.
- Kiểm soát chặt chẽ việc xả thải vào sông, kênh rạch và vùng cửa sông đổ
ra biển.
- Xây dựng các điểm thu gom chất thải và ngư cụ hư hỏng tại cảng cá, khu
neo đậu tàu thuyền.
- Triển khai phân loại chất thải rắn tại nguồn theo quy định của Luật Bảo vệ
môi trường năm 2020.
- Áp dụng mô hình nuôi trồng thủy sản tuần hoàn, nuôi tôm ít phát thải, sử
dụng hiệu quả nước và tái sử dụng phụ phẩm.
- Kiểm soát môi trường tại các cảng cá, khu neo đậu tránh trú bão, cơ sở hậu
cần nghề cá và cơ sở chế biến thủy sản.
- Khuyến khích doanh nghiệp áp dụng sản xuất sạch hơn, kiểm kê khí nhà
kính và giảm phát thải trong chuỗi giá trị thủy sản.
Cơ quan chủ trì: Sở Nông nghiệp và Môi trường.
Cơ quan phối hợp: Sở Xây dựng, UBND các xã, phường ven biển, Ban
Quản lý cảng cá.
Thời gian thực hiện: 2026 – 2030.
Kết quả kỳ vọng: Giảm đáng kể lượng rác thải và nước thải phát sinh ra môi
trường biển; hạn chế các điểm nóng ô nhiễm ven biển.
(3) Phục hồi và bảo vệ hệ sinh thái ven biển:
Mục tiêu: Tăng khả năng chống chịu của hệ sinh thái ven biển trước biến
đổi khí hậu, bảo tồn đa dạng sinh học và giảm thiểu sạt lở bờ biển.
Nhiệm vụ trọng tâm:
- Trồng mới và phục hồi khoảng 250 ha rừng phòng hộ ven biển.
- Khoanh vùng và bảo vệ các khu vực rừng ngập mặn hiện có.
- Bảo vệ các bãi triều, bãi giống, bãi đẻ và vùng sinh sản của các loài thủy sản.
- Áp dụng mô hình kết hợp giữa công trình bảo vệ bờ và giải pháp sinh thái
dựa vào thiên nhiên.
- Tăng cường cơ chế đồng quản lý nguồn lợi thủy sản với cộng đồng địa phương.
- Thực hiện đồng quản lý nguồn lợi thủy sản tại các khu vực bãi giống, bãi đẻ,
vùng sinh sản và vùng khai thác ven bờ theo quy định của Luật Thủy sản năm 2017.
- Từng bước giảm cường lực khai thác thủy sản ven bờ; khuyến khích chuyển
dịch sang khai thác xa bờ, khai thác có kiểm soát và thân thiện với hệ sinh thái.
195
- Xây dựng các khu vực bảo vệ nguồn lợi thủy sản, khu bảo vệ mùa sinh sản
và khu vực cấm khai thác có thời hạn nhằm phục hồi quần thể thủy sinh vật.
- Tăng cường giám sát việc thực hiện chống khai thác hải sản bất hợp pháp,
không báo cáo và không theo quy định (IUU), gắn với bảo vệ nguồn lợi thủy sản
và môi trường biển.
Cơ quan chủ trì: Sở Nông nghiệp và Môi trường.
Cơ quan phối hợp: Chính quyền địa phương, các tổ chức cộng đồng.
Thời gian thực hiện: 2026 – 2030.
Kết quả kỳ vọng:
- Nâng cao khả năng bảo vệ bờ biển, phục hồi sinh cảnh tự nhiên và duy trì
nguồn lợi thủy sản;
- Nguồn lợi thủy sản ven bờ được phục hồi từng bước.
- Giảm áp lực khai thác đối với các hệ sinh thái nhạy cảm.
- Nâng cao vai trò của cộng đồng trong bảo vệ tài nguyên và môi trường biển.
(4) Giảm thiểu rác thải nhựa đại dương:
Mục tiêu: Kiểm soát và giảm lượng rác thải nhựa phát sinh từ đất liền và
hoạt động thủy sản ra môi trường biển.
Nhiệm vụ trọng tâm:
- Tổ chức thường xuyên các chiến dịch làm sạch bờ biển, cửa sông và khu
vực ven biển.
- Thiết lập hệ thống thu gom ngư cụ hư hỏng tại các cảng cá.
- Hỗ trợ ngư dân chuyển đổi từ phao xốp sang vật liệu thân thiện môi trường.
- Thực hiện trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR) đối với các sản
phẩm nhựa.
- Xây dựng các mô hình cộng đồng giảm thiểu rác thải nhựa tại khu vực ven biển.
Cơ quan chủ trì: Sở Nông nghiệp và Môi trường.
Cơ quan phối hợp: UBND cấp xã, doanh nghiệp và các tổ chức đoàn thể.
Thời gian thực hiện: 2026 – 2030.
Kết quả kỳ vọng: Giảm đáng kể lượng rác thải nhựa thất thoát ra môi trường
biển; nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ môi trường biển.
(5) Hiện đại hóa hệ thống quan trắc, giám sát và chuyển đổi số:
Mục tiêu: Nâng cao năng lực theo dõi, dự báo và cảnh báo sớm các nguy cơ
ô nhiễm môi trường biển.
196
Nhiệm vụ trọng tâm:
- Đầu tư, nâng cấp mạng lưới quan trắc môi trường biển và ven biển.
- Ứng dụng công nghệ IoT, GIS, viễn thám và trí tuệ nhân tạo trong quản lý
môi trường.
- Xây dựng cơ sở dữ liệu tài nguyên và môi trường biển thống nhất trên địa
bàn thành phố.
- Kết nối, chia sẻ dữ liệu với hệ thống thông tin tài nguyên và môi trường
biển quốc gia.
- Tăng cường giám sát tự động đối với các nguồn thải lớn và các khu vực
nhạy cảm về môi trường.
- Rà soát, xây dựng và ban hành Quy chế phối hợp trong quản lý, khai thác,
cập nhật và chia sẻ dữ liệu tài nguyên, môi trường biển và hải đảo giữa các sở,
ngành, địa phương sau khi sáp nhập địa giới hành chính; chuẩn hóa cơ sở dữ liệu,
quy trình cập nhật, khai thác và chia sẻ thông tin, bảo đảm kết nối đồng bộ với cơ
sở dữ liệu tài nguyên, môi trường của thành phố và cơ sở dữ liệu quốc gia theo
quy định.
Cơ quan chủ trì: Sở Nông nghiệp và Môi trường.
Cơ quan phối hợp: Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Tài chính và các đơn vị
liên quan.
Thời gian thực hiện: 2026 – 2030.
Kết quả kỳ vọng: Hình thành hệ thống quản lý môi trường biển dựa trên dữ
liệu số, hỗ trợ ra quyết định kịp thời và chính xác.
(6) Nâng cao nhận thức cộng đồng và phát huy vai trò của các bên liên quan:
Mục tiêu: Nâng cao nhận thức, trách nhiệm và thay đổi hành vi của cộng
đồng, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội trong bảo vệ môi trường biển, hải đảo;
từng bước hình thành văn hóa ứng xử thân thiện với môi trường và phát huy vai
trò của toàn xã hội trong quản lý, bảo vệ tài nguyên biển.
Nhiệm vụ trọng tâm:
- Tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật về bảo vệ môi trường biển,
tài nguyên biển và hải đảo, bảo tồn đa dạng sinh học, chống khai thác hải sản bất
hợp pháp (IUU) và giảm thiểu rác thải nhựa đại dương.
- Đổi mới nội dung, hình thức truyền thông theo hướng đa dạng, dễ tiếp cận;
kết hợp giữa truyền thông trực tiếp, truyền thông số, mạng xã hội, hệ thống truyền
thanh cơ sở và các phương tiện thông tin đại chúng.
- Tổ chức các chiến dịch truyền thông, các phong trào cộng đồng như làm sạch
bờ biển, thu gom rác thải nhựa, trồng cây ngập mặn, Ngày Môi trường thế giới,
Tuần lễ Biển và Hải đảo Việt Nam và các hoạt động bảo vệ môi trường biển khác.
197
- Lồng ghép nội dung giáo dục bảo vệ môi trường biển và đa dạng sinh học
vào các chương trình giáo dục, hoạt động ngoại khóa tại trường học và các cơ sở
đào tạo.
- Nâng cao nhận thức cho ngư dân, hộ nuôi trồng thủy sản, doanh nghiệp chế
biến thủy sản và các cơ sở dịch vụ ven biển về sử dụng tài nguyên bền vững, giảm
phát sinh chất thải và thích ứng với biến đổi khí hậu.
- Khuyến khích cộng đồng tham gia giám sát môi trường, phát hiện và phản
ánh các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường biển; phát huy vai trò của
các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức nghề nghiệp và cộng đồng dân cư trong
quản lý tài nguyên và môi trường biển.
- Xây dựng, nhân rộng các mô hình cộng đồng tham gia bảo vệ môi trường
biển, đồng quản lý nguồn lợi thủy sản, giảm thiểu rác thải nhựa và bảo tồn hệ sinh
thái ven biển.
Cơ quan chủ trì: Sở Nông nghiệp và Môi trường.
Cơ quan phối hợp: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Sở Giáo dục và Đào
tạo; các tổ chức chính trị - xã hội; UBND các xã, phường ven biển và các đơn vị
liên quan.
Thời gian thực hiện: 2026 – 2030.
Kết quả kỳ vọng:
- Nhận thức và ý thức trách nhiệm của cộng đồng, doanh nghiệp đối với bảo
vệ môi trường biển được nâng cao.
- Giảm tình trạng xả rác thải nhựa, khai thác nguồn lợi thủy sản trái quy định
và các hành vi gây ô nhiễm môi trường biển.
- Tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong bảo vệ tài nguyên, môi trường
biển và hải đảo.
Hình thành các mô hình cộng đồng tự quản và đồng quản lý hiệu quả tại khu
vực ven biển.
(7) Huy động nguồn lực và tăng cường hợp tác:
Mục tiêu: Bảo đảm nguồn lực tài chính, khoa học công nghệ và tăng cường
hợp tác đa ngành, đa cấp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ môi trường biển
và hải đảo; đồng thời thúc đẩy phát triển kinh tế biển theo hướng xanh và bền vững.
Nhiệm vụ trọng tâm:
- Huy động và đa dạng hóa các nguồn lực tài chính từ ngân sách nhà nước,
vốn ODA, nguồn tài trợ quốc tế, các quỹ môi trường, nguồn tài chính xanh và
nguồn lực xã hội hóa phục vụ công tác bảo vệ môi trường biển và hải đảo.
198
- Nghiên cứu, xây dựng và triển khai các dự án tín chỉ carbon từ hệ sinh thái
rừng ngập mặn (Blue Carbon), tạo nguồn lực cho hoạt động bảo tồn đa dạng sinh
học, phục hồi hệ sinh thái và thích ứng với biến đổi khí hậu.
- Tăng cường áp dụng các công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường theo
nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền”, đồng thời khuyến khích đầu tư xanh,
sản xuất sạch hơn, sử dụng tiết kiệm tài nguyên và phát triển kinh tế tuần hoàn.
- Đẩy mạnh hợp tác với các tổ chức quốc tế, các viện nghiên cứu, trường đại
học, doanh nghiệp và các địa phương trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long
nhằm chia sẻ dữ liệu, trao đổi kinh nghiệm, chuyển giao công nghệ và triển khai
các chương trình, dự án về bảo vệ môi trường biển, bảo tồn đa dạng sinh học và
thích ứng với biến đổi khí hậu.
- Tăng cường liên kết vùng trong quản lý tài nguyên, môi trường biển và
vùng bờ; thúc đẩy cơ chế phối hợp giữa các địa phương ven biển trong kiểm soát
ô nhiễm, quan trắc môi trường, quản lý nguồn lợi thủy sản và ứng phó với các sự
cố môi trường liên vùng.
- Thúc đẩy xã hội hóa trong lĩnh vực bảo vệ môi trường biển; khuyến khích
doanh nghiệp đầu tư vào hạ tầng môi trường, các dự án kinh tế xanh, kinh tế tuần
hoàn và các mô hình phục hồi hệ sinh thái ven biển.
- Thúc đẩy phát triển kinh tế tuần hoàn biển và sinh kế bền vững cho cộng
đồng ven biển thông qua:
+ Phát triển các mô hình kinh tế tuần hoàn trong nuôi trồng, khai thác và
chế biến thủy sản; tăng cường tái sử dụng phụ phẩm, tái chế ngư cụ và
giảm thất thoát tài nguyên trong chuỗi giá trị thủy sản.
+ Hỗ trợ phát triển các mô hình sinh kế thích ứng với biến đổi khí hậu như
nuôi trồng thủy sản sinh thái, du lịch sinh thái cộng đồng, dịch vụ hệ sinh
thái rừng ngập mặn và các mô hình kinh tế xanh.
+ Đào tạo nghề, hỗ trợ chuyển đổi sinh kế và tạo việc làm bền vững cho
các nhóm ngư dân chịu tác động bởi việc giảm cường lực khai thác ven
bờ, phục hồi nguồn lợi thủy sản và bảo tồn hệ sinh thái biển.
+ Khuyến khích doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm xã hội, tham gia các
sáng kiến bảo vệ môi trường biển và phát triển bền vững vùng ven biển.
Cơ quan chủ trì: UBND thành phố.
Cơ quan phối hợp: Sở Tài chính, Sở Nông nghiệp và Môi trường, Sở Khoa
học và Công nghệ và các đơn vị liên quan.
Thời gian thực hiện: 2026 – 2030.
Kết quả kỳ vọng:
- Hình thành cơ chế huy động và sử dụng nguồn lực hiệu quả cho công tác
bảo vệ môi trường biển và hải đảo.
- Tăng cường hợp tác, liên kết vùng và tiếp cận các nguồn lực quốc tế.
199
- Phát triển các mô hình kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và sinh kế bền vững
cho cộng đồng ven biển.
- Nâng cao khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu và giảm áp lực khai thác
tài nguyên tự nhiên.
Bảng 8.2. Phân công thực hiện các nhóm giải pháp bảo vệ môi trường biển
và hải đảo thành phố Cần Thơ giai đoạn 2026 – 2030
STT
Nhóm giải
pháp ưu tiên
Nội dung trọng
tâm
Cơ quan
chủ tr
Cơ quan phối hợp
Giai đoạn
thực hiện
1
Hoàn thiện
thể chế và
tăng cường
thực thi pháp
luật
Xây dựng và triển
khai quản lý tổng
hợp vùng bờ; hoàn
thiện cơ chế, chính
sách; quản lý thực
hiện quy hoạch;
thẩm định, cấp
phép; tăng cường
thanh tra, kiểm tra,
giám sát và xử lý vi
phạm
UBND
thành phố
Sở Nông nghiệp và
Môi trường, các sở,
ngành liên quan,
UBND các xã,
phường ven biển
2026 –
2030
2
Kiểm soát ô
nhiễm từ đất
liền và các
hoạt động
kinh tế ven
biển
Thu gom, xử lý
chất thải; kiểm soát
nước thải; giảm
nguồn thải từ nuôi
trồng, khai thác và
chế biến thủy sản;
kiểm soát ô nhiễm
tại cảng cá, khu
neo đậu tàu thuyền
và khu dân cư ven
biển
Sở Nông
nghiệp và
Môi trường
Sở Xây dựng, Sở
Công Thương, Ban
Quản lý các khu
chế xuất và công
nghiệp, UBND các
xã, phường ven
biển và các đơn vị
liên quan
2026 –
2030
3
Phục hồi và
bảo vệ hệ
sinh thái ven
biển
Trồng mới, phục
hồi rừng ngập
mặn; bảo vệ bãi
giống, bãi đẻ; bảo
tồn đa dạng sinh
học; đồng quản lý
nguồn lợi thủy sản;
giảm cường lực
khai thác ven bờ
Sở Nông
nghiệp và
Môi trường
Chi cục Thủy sản
và Kiểm ngư, Ban
Chỉ huy Bộ đội
Biên phòng thành
phố, UBND các xã,
phường ven biển,
các tổ chức cộng
đồng
2026 –
2030
4
Giảm thiểu
rác thải nhựa
đại dương
Thu gom rác thải
nhựa; quản lý ngư
cụ hư hỏng; triển
khai trách nhiệm
mở rộng của nhà
sản xuất (EPR);
xây dựng mô hình
cộng đồng giảm
rác thải nhựa
Sở Nông
nghiệp và
Môi trường
UBND các xã,
phường ven biển,
các tổ chức đoàn
thể, doanh nghiệp,
Ban Quản lý cảng
cá và các đơn vị
liên quan
2026 –
2030
200
STT
Nhóm giải
pháp ưu tiên
Nội dung trọng
tâm
Cơ quan
chủ tr
Cơ quan phối hợp
Giai đoạn
thực hiện
5
Hiện đại hóa
quan trắc,
giám sát và
chuyển đổi số
Xây dựng cơ sở dữ
liệu tài nguyên và
môi trường biển;
ứng dụng GIS,
IoT, viễn thám và
trí tuệ nhân tạo; mở
rộng mạng lưới
quan trắc tự động;
kết nối dữ liệu với
hệ thống quốc gia
Sở Nông
nghiệp và
Môi trường
Sở Khoa học và
Công nghệ, Sở Tài
chính, các đơn vị
quan trắc, các cơ
quan chuyên môn
liên quan
2026 –
2030
6
Nâng cao
nhận thức
cộng đồng và
phát huy vai
trò của các
bên liên quan
Tuyên truyền, giáo
dục môi trường
biển; nâng cao
nhận thức về bảo
vệ tài nguyên,
chống khai thác
IUU và giảm thiểu
rác thải nhựa; xây
dựng các mô hình
cộng đồng tham
gia bảo vệ môi
trường biển
Sở Nông
nghiệp và
Môi trường
Sở Giáo dục và
Đào tạo, Sở Văn
hóa, Thể thao và
Du lịch, Ủy ban
MTTQ Việt Nam
thành phố, các tổ
chức chính trị - xã
hội, UBND các xã,
phường ven biển
2026 –
2030
7
Huy động
nguồn lực và
tăng cường
hợp tác
Huy động vốn
ODA, vốn xã hội
hóa và nguồn tài
chính xanh; phát
triển dự án Blue
Carbon; tăng
cường hợp tác
quốc tế, liên kết
vùng; phát triển
kinh tế tuần hoàn
biển và sinh kế bền
vững
UBND
thành phố
Sở Tài chính, Sở
Khoa học và Công
nghệ, Sở Nông
nghiệp và Môi
trường, các sở,
ngành liên quan và
các tổ chức quốc tế
2026 –
2030
Việc triển khai các nhóm giải pháp nêu trên cần được thực hiện theo hướng
đồng bộ, liên ngành và gắn kết chặt chẽ giữa bảo vệ môi trường với phát triển
kinh tế biển bền vững. Trong đó, Sở Nông nghiệp và Môi trường giữ vai trò cơ
quan đầu mối tham mưu, theo dõi và tổng hợp kết quả thực hiện; các sở, ngành,
địa phương và cộng đồng dân cư ven biển có trách nhiệm phối hợp triển khai theo
chức năng, nhiệm vụ được giao nhằm bảo đảm hoàn thành các mục tiêu bảo vệ
môi trường biển và hải đảo của thành phố đến năm 2030.
201
8.2.4. Tổ chức thực hiện, lộ trnh triển khai và các chỉ tiêu giám sát
a. Tổ chức thực hiện:
Để bảo đảm thực hiện hiệu quả các nhóm giải pháp ưu tiên bảo vệ môi trường
biển và hải đảo giai đoạn 2026 – 2030, thành phố Cần Thơ triển khai theo nguyên
tắc quản lý tổng hợp, liên ngành, liên vùng, dựa vào hệ sinh thái và tăng cường sự
tham gia của cộng đồng, doanh nghiệp trong công tác bảo vệ môi trường biển.
Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ là cơ quan chỉ đạo thống nhất, chịu
trách nhiệm tổ chức triển khai các mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ môi trường biển và
hải đảo trên địa bàn; chỉ đạo lồng ghép các mục tiêu bảo vệ môi trường biển vào
chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; bố trí nguồn lực thực
hiện; định kỳ kiểm tra, đánh giá kết quả và kịp thời điều chỉnh các nhiệm vụ phù
hợp với thực tiễn phát triển.
Sở Nông nghiệp và Môi trường là cơ quan đầu mối tham mưu và tổ chức
thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn về quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường
biển và hải đảo; chủ trì xây dựng và triển khai Kế hoạch quản lý tổng hợp vùng
bờ; tổ chức quan trắc, giám sát môi trường biển; xây dựng cơ sở dữ liệu tài nguyên
và môi trường biển; hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện các quy định về bảo vệ
môi trường biển và hải đảo trên địa bàn thành phố.
Các sở, ngành liên quan như Sở Tài chính, Sở Xây dựng, Sở Công Thương,
Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Công an thành phố,
Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng thành phố, Ban Quản lý các khu chế xuất và công
nghiệp, Ban Quản lý cảng cá Trần Đề và các đơn vị có liên quan có trách nhiệm
phối hợp thực hiện các nhiệm vụ thuộc lĩnh vực quản lý; tăng cường chia sẻ dữ
liệu, phối hợp thanh tra, kiểm tra, giám sát các nguồn thải và xử lý các sự cố môi
trường biển phát sinh.
UBND các xã, phường ven biển chịu trách nhiệm quản lý trực tiếp các nguồn
thải trên địa bàn; tổ chức tuyên truyền, phổ biến pháp luật; vận động cộng đồng
tham gia bảo vệ môi trường biển; giám sát việc thực hiện các quy định về bảo vệ
môi trường trong nuôi trồng thủy sản, khai thác thủy sản, du lịch và dịch vụ ven
biển; kịp thời phát hiện, xử lý hoặc kiến nghị xử lý các hành vi vi phạm pháp luật
về môi trường.
Đối với lĩnh vực khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản, cần tăng cường cơ
chế phối hợp giữa Sở Nông nghiệp và Môi trường, Bộ đội Biên phòng, lực lượng
kiểm ngư, Ban Quản lý cảng cá Trần Đề và chính quyền địa phương trong việc
kiểm soát hoạt động khai thác thủy sản, chống khai thác bất hợp pháp, không báo
cáo và không theo quy định (IUU); bảo vệ các khu vực sinh sản, bãi giống, bãi đẻ
và khu vực có hệ sinh thái nhạy cảm.
202
Khuyến khích các tổ chức chính trị - xã hội, hiệp hội nghề cá, hợp tác xã,
doanh nghiệp và cộng đồng dân cư tham gia các hoạt động giám sát cộng đồng,
đồng quản lý nguồn lợi thủy sản, bảo vệ rừng ngập mặn, thu gom chất thải ven
biển, giảm thiểu rác thải nhựa và phát triển các mô hình kinh tế xanh, kinh tế tuần
hoàn biển.
Các cơ sở giáo dục, cơ quan truyền thông, tổ chức chính trị - xã hội và các
tổ chức cộng đồng có trách nhiệm phối hợp triển khai các hoạt động tuyên truyền,
giáo dục, nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường biển, giảm thiểu rác thải nhựa
đại dương, bảo tồn đa dạng sinh học và sử dụng bền vững tài nguyên biển; từng
bước hình thành văn hóa ứng xử thân thiện với môi trường trong cộng đồng dân
cư ven biển.
b. Lộ trình triển khai thực hiện giai đoạn 2026 – 2030:
Giai đoạn 2026 – 2027: Hoàn thiện thể chế và nền tảng quản lý:
Trong giai đoạn đầu, tập trung hoàn thiện cơ sở pháp lý, tổ chức bộ máy và
các công cụ quản lý phục vụ công tác bảo vệ môi trường biển và hải đảo. Các
nhiệm vụ trọng tâm gồm:
- Rà soát, cập nhật và hoàn thiện hệ thống văn bản quản lý môi trường biển
và hải đảo phù hợp với mô hình tổ chức hành chính sau sáp nhập.
- Điều tra, đánh giá hiện trạng môi trường biển, các nguồn thải và các khu
vực nhạy cảm về môi trường.
- Xây dựng cơ sở dữ liệu tài nguyên và môi trường biển dùng chung trên địa
bàn thành phố.
- Xây dựng hệ thống chỉ tiêu giám sát môi trường biển và cơ chế chia sẻ dữ
liệu liên ngành.
- Triển khai thí điểm các mô hình giảm thiểu rác thải nhựa, mô hình đồng quản
lý nguồn lợi thủy sản và mô hình kinh tế tuần hoàn trong nuôi trồng thủy sản.
- Xây dựng và triển khai chương trình truyền thông, giáo dục và nâng cao
nhận thức cộng đồng về bảo vệ môi trường biển, giảm thiểu rác thải nhựa đại
dương và bảo tồn đa dạng sinh học.
- Xây dựng danh mục các chương trình, dự án ưu tiên để huy động nguồn
vốn đầu tư công, ODA, vốn tài trợ quốc tế và nguồn lực xã hội hóa.
- Thiết lập cơ chế phối hợp liên ngành, liên vùng và xây dựng danh mục các
dự án ưu tiên nhằm huy động nguồn lực từ ngân sách nhà nước, vốn ODA, các
quỹ môi trường và nguồn lực xã hội hóa.
Giai đoạn 2027 – 2029: Đầu tư hạ tầng, phục hồi hệ sinh thái và mở rộng
các mô hình hiệu quả:
Đây là giai đoạn triển khai đồng bộ các giải pháp kỹ thuật, công nghệ và đầu
tư hạ tầng nhằm kiểm soát ô nhiễm, phục hồi hệ sinh thái và nâng cao năng lực
quản lý môi trường biển.
203
Các nhiệm vụ trọng tâm gồm:
- Đầu tư, nâng cấp hệ thống thu gom, trung chuyển và xử lý chất thải tại các
xã, phường ven biển.
- Hoàn thiện các điểm thu gom chất thải, ngư cụ hư hỏng và chất thải từ hoạt
động khai thác thủy sản tại các cảng cá, khu neo đậu tàu thuyền.
- Mở rộng mạng lưới quan trắc môi trường biển, cửa sông và vùng nuôi trồng
thủy sản tập trung.
- Xây dựng và vận hành hệ thống thông tin không gian biển trên nền tảng
GIS, kết nối với cơ sở dữ liệu tài nguyên và môi trường biển quốc gia.
- Triển khai các chương trình phục hồi rừng ngập mặn, bảo vệ bãi giống, bãi
đẻ, khu vực sinh sản của các loài thủy sản.
- Tăng cường thực hiện các giải pháp giảm khai thác ven bờ, phát triển nghề
cá có trách nhiệm và chuyển đổi sinh kế bền vững cho ngư dân.
- Mở rộng áp dụng các mô hình nuôi trồng thủy sản tuần hoàn, tiết kiệm tài
nguyên, giảm phát thải và thích ứng với biến đổi khí hậu.
- Đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra các cơ sở có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao.
- Mở rộng các mô hình cộng đồng tham gia bảo vệ môi trường biển, đồng
quản lý nguồn lợi thủy sản và giảm thiểu rác thải nhựa.
- Triển khai các chương trình hợp tác nghiên cứu, chuyển giao công nghệ,
phát triển kinh tế tuần hoàn biển và nghiên cứu thí điểm các dự án tín chỉ carbon
từ hệ sinh thái rừng ngập mặn (Blue Carbon).
Năm 2030: Đánh giá kết quả và hoàn thiện hệ thống quản lý:
Tập trung đánh giá toàn diện kết quả thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ bảo
vệ môi trường biển và hải đảo trong giai đoạn 2026 – 2030, làm cơ sở xây dựng
định hướng cho giai đoạn tiếp theo.
Các nhiệm vụ trọng tâm gồm:
- Đánh giá kết quả thực hiện các chỉ tiêu bảo vệ môi trường biển và hải đảo.
- Đánh giá hiệu quả các chương trình phục hồi hệ sinh thái, bảo vệ nguồn lợi
thủy sản và giảm thiểu rác thải nhựa.
- Hoàn thiện cơ sở dữ liệu và hệ thống giám sát môi trường biển.
- Tổng kết, nhân rộng các mô hình quản lý hiệu quả và sáng kiến cộng đồng.
- Đánh giá hiệu quả công tác tuyên truyền, sự tham gia của cộng đồng và các
mô hình đồng quản lý nguồn lợi thủy sản.
- Đánh giá hiệu quả huy động nguồn lực, hợp tác quốc tế, liên kết vùng và
khả năng nhân rộng các mô hình kinh tế tuần hoàn biển, sinh kế bền vững.
204
- Đề xuất các nhiệm vụ, chương trình và dự án trọng điểm cho giai đoạn sau
năm 2030.
c. Cơ chế giám sát, đánh giá thực hiện:
Việc theo dõi, đánh giá kết quả thực hiện các nhiệm vụ bảo vệ môi trường
biển và hải đảo được thực hiện thông qua hệ thống chỉ tiêu giám sát, mạng lưới
quan trắc môi trường biển, cơ sở dữ liệu tài nguyên và môi trường biển, các
chương trình kiểm tra, thanh tra chuyên ngành và báo cáo định kỳ của các cơ quan
liên quan.
Sở Nông nghiệp và Môi trường chủ trì tổng hợp kết quả thực hiện hằng năm;
tham mưu UBND thành phố tổ chức đánh giá giữa kỳ vào năm 2028 và tổng kết
giai đoạn vào năm 2030. Kết quả đánh giá là cơ sở để điều chỉnh các chương trình,
dự án ưu tiên và phân bổ nguồn lực phù hợp với tình hình thực tế.
Khuyến khích áp dụng các công cụ số, hệ thống thông tin địa lý (GIS), viễn
thám, thiết bị quan trắc tự động và các nền tảng dữ liệu dùng chung nhằm nâng
cao hiệu quả giám sát, cảnh báo sớm các nguy cơ ô nhiễm và hỗ trợ quá trình ra
quyết định trong quản lý môi trường biển.
d. Các chỉ tiêu giám sát chủ yếu đến năm 2030:
Các chỉ tiêu giám sát chủ yếu được trình bày trong bảng bên dưới.
Bảng 8.3. Các chỉ tiêu giám sát thực hiện công tác bảo vệ môi trường biển
và hải đảo đến năm 2030
TT
Chỉ tiêu giám sát
Đơn vị
Mục tiêu đến năm
2030
1
Tỷ lệ thu gom và xử lý chất thải rắn sinh
hoạt khu vực ven biển
%
≥ 95
2
Tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt được phân
loại tại nguồn tại khu vực ven biển
%
60 - 70
3
Diện tích rừng phòng hộ ven biển được
trồng mới và phục hồi
ha
≥ 250
4
Tỷ lệ cơ sở nuôi trồng thủy sản quy mô
lớn thực hiện đầy đủ yêu cầu bảo vệ môi
trường
%
100
5
Tỷ lệ cơ sở chế biến thủy sản có hệ thống
xử lý nước thải đạt quy chuẩn
%
100
6
Tỷ lệ giảm lượng rác thải nhựa thất thoát
ra môi trường biển so với năm 2025
%
≥ 50
7
Tỷ lệ cảng cá, khu neo đậu tàu cá bố trí
điểm thu gom chất thải và ngư cụ sau sử
dụng
%
100
205
TT
Chỉ tiêu giám sát
Đơn vị
Mục tiêu đến năm
2030
8
Tỷ lệ dữ liệu quan trắc môi trường biển
được cập nhật trên cơ sở dữ liệu số dùng
chung
%
100
9
Tỷ lệ cán bộ quản lý môi trường biển cấp
xã được đào tạo, tập huấn định kỳ
%
100
10
Số mô hình đồng quản lý nguồn lợi thủy
sản được duy trì hoặc thành lập mới
Mô hình
≥ 05
11
Tỷ lệ cơ sở nuôi trồng thủy sản áp dụng
mô hình tuần hoàn hoặc giảm phát thải
%
≥ 30
12
Tỷ lệ ngư cụ sau sử dụng được thu gom
tại các cảng cá và khu neo đậu
%
≥ 80
13
Tỷ lệ dữ liệu môi trường biển được kết
nối, chia sẻ với cơ sở dữ liệu quốc gia
%
100
14
Tỷ lệ cộng đồng dân cư ven biển được
tiếp cận các chương trình tuyên truyền,
nâng cao nhận thức
%
≥90
e. Nguồn lực thực hiện:
Nguồn lực thực hiện các nhiệm vụ bảo vệ môi trường biển và hải đảo giai
đoạn 2026 – 2030 được huy động từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm ngân sách
nhà nước, vốn đầu tư công trung hạn, vốn ODA, vốn viện trợ không hoàn lại, các
quỹ môi trường, quỹ khí hậu, nguồn xã hội hóa từ doanh nghiệp và cộng đồng,
nguồn tài chính xanh từ thị trường carbon và các cơ chế chi trả dịch vụ hệ sinh thái.
Ưu tiên bố trí nguồn lực cho các nhiệm vụ trọng điểm gồm: xây dựng và vận
hành hệ thống quan trắc môi trường biển; phục hồi và bảo vệ rừng ngập mặn;
kiểm soát ô nhiễm và rác thải nhựa đại dương; xây dựng cơ sở dữ liệu và hệ thống
thông tin môi trường biển; phục hồi hệ sinh thái ven biển; bảo vệ nguồn lợi thủy
sản; chuyển đổi số trong quản lý môi trường biển; ứng phó với biến đổi khí hậu
và nâng cao năng lực quản lý nhà nước.
Bên cạnh nguồn vốn ngân sách, thành phố ưu tiên huy động các nguồn lực
xã hội hóa và hợp tác quốc tế thông qua các chương trình về thích ứng biến đổi
khí hậu, bảo tồn đa dạng sinh học, phục hồi hệ sinh thái ven biển, phát triển tín
chỉ carbon rừng ngập mặn (Blue Carbon), giảm thiểu rác thải nhựa đại dương và
phát triển kinh tế biển xanh. Đồng thời, nghiên cứu áp dụng các công cụ kinh tế
môi trường theo nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền”, từng bước hình
thành cơ chế tài chính bền vững phục vụ công tác bảo vệ môi trường biển và hải
đảo trong dài hạn.
Trong quá trình triển khai, ưu tiên bố trí nguồn lực trước đối với các khu vực
ven biển chịu áp lực môi trường lớn, các vùng cửa sông, khu vực nuôi trồng thủy
sản tập trung và các địa bàn có nguy cơ sạt lở, suy thoái hệ sinh thái cao nhằm nâng
cao hiệu quả đầu tư và phát huy tác động của các giải pháp bảo vệ môi trường.
206
KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
KẾT LUẬN
Báo cáo hiện trạng môi trường biển và hải đảo thành phố Cần Thơ giai đoạn
2021 – 2025 được xây dựng trong bối cảnh đặc biệt: lần đầu tiên thành phố Cần
Thơ chính thức sở hữu không gian biển sau khi hợp nhất với tỉnh Hậu Giang và
tỉnh Sóc Trăng theo Nghị quyết số 202/2025/QH15 của Quốc hội. Với đường bờ
biển dài 72 km kết nối trực tiếp Biển Đông qua ba cửa sông lớn là Định An, Trần
Đề và Mỹ Thanh, thành phố Cần Thơ đã bước vào giai đoạn phát triển kinh tế
biển với đầy đủ cả tiềm năng lẫn thách thức.
Qua tổng hợp, phân tích các số liệu quan trắc, điều tra thực địa và đánh giá
hệ thống quản lý trong giai đoạn 2021 – 2025, có thể rút ra các kết luận chính
như sau:
Về điều kiện tự nhiên và phát triển kinh tế – xã hội: Vùng ven biển thành
phố Cần Thơ mang đặc trưng sinh thái cửa sông chuyển tiếp đặc thù, chịu ảnh
hưởng sâu sắc của chế độ bán nhật triều không đều và dòng phù sa từ hệ thống
sông Mê Kông. Đây là nền tảng tự nhiên cho các ngành kinh tế biển mũi nhọn
gồm nuôi trồng thủy sản (tôm, nghêu), năng lượng tái tạo (điện gió) và logistics
cảng biển (cảng Trần Đề). Tuy nhiên, địa hình thấp, độ cao trung bình chỉ 0,5 –
2,5 m so với mực nước biển, khiến toàn vùng ven biển có mức độ phơi lộ rất cao
trước tác động của nước biển dâng và xâm nhập mặn.
Về sức ép phát triển kinh tế – xã hội đối với môi trường biển: Các hoạt động
nuôi trồng và khai thác thủy sản, phát triển cảng biển và giao thông đường thủy,
đô thị hóa ven biển, cùng với nguồn thải từ đất liền theo hệ thống sông Hậu ra cửa
biển đang tạo ra áp lực tổng hợp ngày càng gia tăng lên môi trường biển. Đặc biệt,
hoạt động nuôi tôm công nghiệp quy mô lớn tại vùng ven làm phát sinh lượng
nước thải giàu chất hữu cơ, thuốc kháng sinh và hóa chất nuôi trồng chưa được
xử lý triệt để trước khi xả ra môi trường. Hoạt động khai thác cát biển và san lấp
lấn biển cũng đang làm biến đổi đáng kể địa hình đáy biển và chế độ thủy động
lực ven bờ.
Về chất lượng môi trường nước: Kết quả quan trắc giai đoạn 2021 – 2025
cho thấy chất lượng nước biển ven bờ nhìn chung còn nằm trong ngưỡng giới hạn
cho phép của QCVN 10:2023 /BTNMT ở nhiều thông số. Tuy nhiên, đã xuất hiện
dấu hiệu suy giảm cục bộ tại các khu vực cửa sông Trần Đề, Định An, vùng nuôi
trồng thủy sản tập trung và khu vực ven biển có mật độ dân cư cao. Nồng độ
amoni, tổng chất rắn lơ lửng (TSS), photphat và Coliform tại một số điểm quan
trắc có xu hướng tăng theo thời gian, phản ánh áp lực tải lượng ô nhiễm ngày càng
tích lũy từ các nguồn trên. Đối với nước mặt lục địa, chỉ số VN-WQI tại nhiều
điểm quan trắc trên hệ thống sông, kênh rạch cho thấy mức chất lượng từ trung
bình đến kém, đặc biệt tại các thủy vực tiếp nhận nước thải đô thị và nông nghiệp
chưa qua xử lý.
207
Về đa dạng sinh học và nguồn lợi thủy sản: Đa dạng sinh học biển và ven
biển thành phố Cần Thơ có vai trò quan trọng trong bảo vệ hệ sinh thái, duy trì
nguồn lợi thủy sản và phát triển kinh tế biển. Giai đoạn 2021 – 2025, công tác bảo
vệ và phục hồi rừng ngập mặn đạt nhiều kết quả tích cực, góp phần nâng cao khả
năng phòng hộ ven biển và cải thiện sinh cảnh tự nhiên. Tuy nhiên, nguồn lợi thủy
sản ven bờ đang có xu hướng suy giảm do khai thác kéo dài với cường độ cao,
suy thoái sinh cảnh, ô nhiễm môi trường và tác động của biến đổi khí hậu. Vì vậy,
cần tiếp tục tăng cường bảo tồn các hệ sinh thái ven biển, phục hồi nguồn lợi thủy
sản và kiểm soát các nguồn gây ô nhiễm nhằm bảo đảm phát triển kinh tế biển
bền vững trong thời gian tới.
Về quản lý rác thải đại dương: Rác thải nhựa và chất thải rắn sinh hoạt ven
biển là một trong những vấn đề nổi cộm nhất trong giai đoạn hiện nay. Các điểm
nóng ô nhiễm rác thải biển được ghi nhận tại cửa sông Trần Đề, cửa Định An, bãi
triều Vĩnh Châu và khu vực Cù Lao Dung. Tỷ lệ thu gom và xử lý rác thải tại các
xã ven biển còn thấp, hạ tầng vệ sinh môi trường chưa đáp ứng nhu cầu thực tế; ý
thức phân loại rác tại nguồn của người dân chưa được hình thành đồng đều.
Về công tác quản lý môi trường biển và hải đảo: Trong giai đoạn 2021 –
2025, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về quản lý môi trường biển và hải
đảo từng bước được hoàn thiện; mạng lưới quan trắc môi trường biển được mở
rộng; hoạt động thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm được tăng cường; nhận thức
cộng đồng về bảo vệ môi trường biển được nâng lên bước đầu thông qua các
chương trình truyền thông. Tuy nhiên, hệ thống quản lý còn bộc lộ những hạn chế
cần khắc phục: sự phân công trách nhiệm giữa các sở, ngành sau hợp nhất còn
chưa rõ ràng, dẫn đến chồng chéo và thiếu đồng bộ; nguồn lực tài chính và nhân
lực cho công tác bảo vệ môi trường biển còn hạn chế so với yêu cầu; hệ thống xử
lý nước thải tập trung tại các khu vực ven biển chưa được đầu tư đúng mức; việc
ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi số trong quản lý môi trường biển
còn chậm.
Về biến đổi khí hậu và các thách thức mới nổi: Biến đổi khí hậu, nước biển
dâng và các hiện tượng thời tiết cực đoan đang tác động ngày càng rõ rệt đến vùng
biển và ven biển thành phố Cần Thơ, biểu hiện qua tình trạng xói lở bờ biển gia
tăng, xâm nhập mặn lấn sâu vào nội đồng, ngập úng cục bộ và tần suất triều cường
tăng cao. Đây là thách thức mang tính hệ thống, đòi hỏi phải có chiến lược thích
ứng dài hạn gắn kết với các mục tiêu bảo vệ môi trường biển.
Nhìn tổng thể, môi trường biển và hải đảo thành phố Cần Thơ đang ở giai
đoạn chuyển tiếp quan trọng: tiềm năng kinh tế biển rất lớn nhưng áp lực môi
trường cũng đang gia tăng nhanh chóng. Nếu không có các biện pháp quản lý tổng
hợp, đồng bộ và quyết liệt, các vấn đề môi trường biển hiện tại có nguy cơ trở
thành những điểm tới hạn không thể đảo ngược trong giai đoạn tiếp theo.
208
KIẾN NGHỊ
Để thực hiện hiệu quả mục tiêu phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ môi
trường bền vững, kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền tập trung triển khai các
nhóm giải pháp trọng tâm sau:
1. Kiến nghị đối với Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ:
Phê duyệt và tổ chức thực hiện Đề án bảo tồn và phục hồi rừng ngập mặn
ven biển thành phố Cần Thơ giai đoạn 2026 – 2030, ưu tiên các khu vực có nguy
cơ xói lở cao.
Tăng cường phân cấp, phân quyền rõ ràng và cơ chế phối hợp liên ngành
giữa Sở Nông nghiệp và Môi trường, Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng và chính
quyền các xã, phường ven biển trong quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi
trường biển, tránh chồng chéo sau hợp nhất.
2. Kiến nghị đối với Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố Cần Thơ:
Hoàn thiện và vận hành hiệu quả mạng lưới quan trắc môi trường biển ven
bờ, tăng tần suất quan trắc tại các điểm nóng ô nhiễm; từng bước đầu tư lắp đặt
các trạm quan trắc tự động, liên tục tại các cửa sông và khu vực nuôi trồng thủy
sản tập trung.
Xây dựng và vận hành cơ sở dữ liệu môi trường biển thống nhất của thành
phố, tích hợp dữ liệu từ ba địa bàn sau hợp nhất, kết nối với cơ sở dữ liệu môi
trường quốc gia và phục vụ công tác quản lý, ra quyết định theo thời gian thực.
Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra đột xuất và xử lý nghiêm các vi
phạm về xả thải ra môi trường biển, đặc biệt đối với các cơ sở nuôi trồng thủy
sản, cảng cá, nhà máy chế biến thủy sản và các dự án san lấp, lấn biển.
Triển khai đồng bộ chương trình quản lý rác thải nhựa đại dương trên địa bàn
thành phố theo Quyết định số 1746/QĐ-TTg ngày 04/12/2019 của Chính Phủ; phối
hợp với chính quyền địa phương thiết lập các tổ thu gom rác ven biển thường xuyên
tại các điểm nóng như cửa Trần Đề, cửa Định An và khu vực bãi triều Vĩnh Châu.
Rà soát, cấp phép và quản lý chặt chẽ hoạt động nhận chìm vật chất nạo vét
theo quy định tại Nghị định số 65/2025/NĐ-CP; giám sát thường xuyên các vị trí
đổ thải được cấp phép để phòng ngừa tác động môi trường.
3. Kiến nghị đối với xã, phường ven biển:
Đẩy mạnh triển khai phân loại rác tại nguồn và tăng tỷ lệ thu gom, xử lý chất
thải rắn sinh hoạt tại các xã, phường ven biển, phấn đấu đạt tỷ lệ thu gom trên
95% vào năm 2030.
209
Tăng cường kiểm soát hoạt động khai thác thủy sản ven bờ, kiên quyết xử lý
các hành vi sử dụng ngư cụ hủy diệt, khai thác trái phép trong vùng cấm và mùa
cấm; đồng thời hỗ trợ ngư dân chuyển đổi sinh kế bền vững.
Phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi trường trong việc xây dựng và triển
khai các mô hình cộng đồng tham gia bảo vệ rừng ngập mặn, tuần tra bảo vệ
nguồn lợi thủy sản và giám sát môi trường dựa vào cộng đồng.
Tích hợp nội dung bảo vệ môi trường biển và thích ứng biến đổi khí hậu vào
kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội cấp xã, phường; ưu tiên đầu tư các công trình
bảo vệ bờ biển, kè chống xói lở tại các đoạn bờ biển có nguy cơ cao.
4. Kiến nghị đối với các Bộ, ngành Trung ương:
Kiến nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường sớm ban hành hướng dẫn kỹ thuật
và tiêu chí cụ thể để triển khai Kế hoạch quản lý tổng hợp vùng bờ cấp tỉnh, thành
phố theo Quyết định số 236/QĐ-TTg ngày 25/01/2025.
Kiến nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường ưu tiên hỗ trợ kinh phí từ ngân
sách Trung ương cho các dự án phục hồi rừng ngập mặn, xử lý ô nhiễm điểm nóng
và đầu tư hạ tầng quan trắc môi trường biển tại thành phố Cần Thơ.
Kiến nghị Chính phủ tiếp tục đẩy mạnh hợp tác quốc tế với các tổ chức như
GIZ, UNDP, World Bank, IUCN trong việc hỗ trợ kỹ thuật và tài chính cho các
chương trình quản lý tổng hợp vùng bờ, bảo tồn đa dạng sinh học biển và thích
ứng biến đổi khí hậu tại vùng ven biển Đồng bằng sông Cửu Long.
210
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
I. TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT
A. Văn bản pháp luật, chiến lược, quy hoạch và báo cáo chuyên ngành
1. Bộ Khoa học và Công nghệ (2007). Sách đỏ Việt Nam – Phần động vật.
Nhà xuất bản Khoa học Tự nhiên và Công nghệ.
2. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2016). Báo cáo hiện trạng môi trường biển
và hải đảo quốc gia giai đoạn 2011 – 2015.
3. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2020). Kịch bản biến đổi khí hậu và nước
biển dâng cho Việt Nam. Nhà xuất bản Tài nguyên, Môi trường và Bản đồ
Việt Nam.
4. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2022). Hướng dẫn kỹ thuật lập kế hoạch
quản lý tổng hợp tài nguyên vùng bờ cấp tỉnh.
5. Chi cục Thủy sản Sóc Trăng (2021). Báo cáo tổng kết thực hiện các chỉ
tiêu, kế hoạch năm 2021.
6. Chi cục Thủy sản Sóc Trăng (2023). Báo cáo tình hình quản lý tàu cá và
chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy
định (IUU) năm 2023.
7. Chi cục Thủy sản Sóc Trăng (2023). Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất
năm 2023 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2024.
8. Chi cục Thủy sản Sóc Trăng (2024). Báo cáo công tác quản lý khai thác
thủy sản và giám sát hành trình tàu cá năm 2024.
9. Chi cục Thủy sản Sóc Trăng (2024). Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất
năm 2024 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2025.
10. Chi cục Thủy sản và Kiểm ngư thành phố Cần Thơ (2025). Báo cáo tình
hình thực hiện nhiệm vụ lĩnh vực thủy sản năm 2025, giai đoạn 2021–
2025 và xây dựng kế hoạch giai đoạn 2026–2030.
11. Cục Lâm nghiệp (2024). Quyết định số 316/QĐ-LN-SXLN ngày 29 tháng
10 năm 2024 về việc ban hành Sổ tay hướng dẫn kỹ thuật xác định sinh
khối và trữ lượng các-bon rừng ngập mặn.
12. Cục Thống kê thành phố Cần Thơ (2025). Niên giám Thống kê thành phố
Cần Thơ năm 2024. Nhà xuất bản Thống kê.
13. Cục Thống kê tỉnh Hậu Giang (2025). Niên giám Thống kê tỉnh Hậu Giang
năm 2024. Nhà xuất bản Thống kê.
211
14. Cục Thống kê tỉnh Sóc Trăng (2025). Niên giám Thống kê tỉnh Sóc Trăng
năm 2024. Nhà xuất bản Thống kê.
15. Cục Thủy sản (2023). Báo cáo kết quả kiểm soát tàu cá cập, rời cảng và
sản lượng thủy sản qua Cảng cá Trần Đề năm 2023.
16. Tổ chức Hợp tác Quốc tế Đức (GIZ) (2022). Phân tích dòng rác thải nhựa
trong nuôi tôm tại tỉnh Sóc Trăng.
17. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2018). Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày
22 tháng 10 năm 2018 về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt
Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
18. Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Sóc Trăng (2022). Quyết định số 590/QĐ-
UBND ngày 02 tháng 3 năm 2022 về việc phê duyệt kết quả cập nhật diễn
biến rừng năm 2021 trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng.
19. Ủy ban nhân dân tỉnh Sóc Trăng (2023). Quyết định số 317/QĐ-UBND
ngày 17 tháng 02 năm 2023 về việc công bố hiện trạng rừng năm 2022
trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng.
20. Ủy ban nhân dân tỉnh Sóc Trăng (2024). Quyết định số 265/QĐ-UBND
ngày 23 tháng 02 năm 2024 về việc công bố hiện trạng rừng năm 2023
trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng.
21. Ủy ban nhân dân tỉnh Sóc Trăng (2025). Quyết định số 340/QĐ-UBND
ngày 20 tháng 02 năm 2025 về việc công bố hiện trạng rừng năm 2024
trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng.
22. Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ (2026). Quyết định số
806/QĐ-UBND ngày 26 tháng 02 năm 2026 về việc công bố hiện trạng
rừng năm 2025 trên địa bàn thành phố Cần Thơ.
23. Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố Cần Thơ (2026). Kế hoạch thực
hiện các chỉ tiêu kinh tế – xã hội và nhiệm vụ ngành Nông nghiệp và Môi
trường giai đoạn 2026–2030.
24. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Sóc Trăng (2022). Báo cáo
tổng kết sản xuất nông nghiệp – thủy sản năm 2022.
25. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Sóc Trăng (2024). Báo cáo tổng hợp
Dự án điều tra, đánh giá diễn biến dòng chảy, bồi lắng, xói lở lòng, bờ,
bãi sông trên các sông chính thuộc tỉnh Sóc Trăng.
26. Thành ủy Cần Thơ (2026). Báo cáo tổng kết thực hiện Nghị quyết số 36-
NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam trên địa
bàn thành phố Cần Thơ.
212
27. Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam (2024). Báo cáo hiện trạng môi
trường biển và hải đảo quốc gia năm 2024.
28. Tổng cục Thống kê (2024). Niên giám Thống kê Việt Nam năm 2023. Nhà
xuất bản Thống kê.
29. Tổng cục Thống kê (2025). Bản tóm tắt kết quả Điều tra dân số và nhà ở
giữa kỳ năm 2024. Nhà xuất bản Thống kê.
30. Tổng cục Thủy sản (2017). Báo cáo hiện trạng sản xuất, môi trường và
một số giải pháp phát triển bền vững ngành tôm nước lợ Việt Nam. Bộ
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
31. Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ (2025). Báo cáo tình hình kinh tế –
xã hội năm 2024 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2025.
32. Ủy ban nhân dân tỉnh Hậu Giang (2025). Báo cáo tình hình kinh tế – xã
hội năm 2024 và phương hướng, kế hoạch năm 2025.
33. Ủy ban nhân dân tỉnh Sóc Trăng (2025). Báo cáo tình hình kinh tế – xã
hội năm 2024 và nhiệm vụ, giải pháp năm 2025.
34. Ủy ban nhân dân tỉnh Sóc Trăng (2025). Báo cáo tổng hợp kết quả thực
hiện các chương trình phát triển kinh tế – xã hội và bảo vệ tài nguyên, môi
trường vùng ven biển giai đoạn 2021–2025.
35. Ủy ban nhân dân tỉnh Sóc Trăng (2025). Tờ trình phê duyệt đề xuất chủ
trương đầu tư Dự án Chống chịu khí hậu và sinh kế bền vững Đồng bằng
sông Cửu Long (MERIT) – Hợp phần tỉnh Sóc Trăng.
36. Ủy ban Sông Mê Công Việt Nam (2022). Báo cáo tổng kết diễn biến tài
nguyên nước đến Đồng bằng sông Cửu Long mùa lũ năm 2021 và nhận
định mùa khô năm 2022.
37. Viện Hải dương học (2018). Đánh giá đa dạng sinh học biển vùng Đồng
bằng sông Cửu Long.
38. Viện Kinh tế và Quy hoạch Thủy sản (2015). Báo cáo thuyết minh tổng
hợp: Quy hoạch nuôi tôm nước lợ vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến
năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.
39. Viện Nghiên cứu Hải sản (2019). Điều tra tổng thể hiện trạng và biến
động nguồn lợi hải sản biển Việt Nam. Tập 4: Vùng biển Tây Nam Bộ.
Nhà xuất bản Nông nghiệp.
40. Viện Nghiên cứu Hải sản (2020). Báo cáo khoa học về nguồn lợi thủy sản
vùng biển ven bờ Đồng bằng sông Cửu Long.
41. Viện Nghiên cứu Hải sản (2021). Điều tra, đánh giá nguồn lợi thủy sản
vùng biển Đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2016–2020.
213
42. Viện Nghiên cứu Hải sản (2023). Báo cáo đánh giá phát sinh chất thải
nhựa trong nuôi trồng thủy sản ven biển Việt Nam.
43. WWF Việt Nam (2020). Khảo sát quốc gia về sự đóng góp của rác thải
nhựa từ hoạt động khai thác và nuôi trồng thủy sản. Dự án Giảm thiểu rác
thải nhựa đại dương tại Việt Nam.
44. WWF Việt Nam (2022). Báo cáo tổng kết ngân sách trầm tích vùng Đồng
bằng sông Cửu Long. Dự án Giảm thiểu tác động biến đổi khí hậu và
phòng chống thiên tai thông qua quản lý cát bền vững.
B. Công trình khoa học
45. Đỗ Thị Cẩm Vân và Vũ Đắc Duy (2019). Nghiên cứu thành phần hóa lý
và đặc tính chất thải rắn (bùn đáy) sinh ra từ hoạt động nuôi tôm thâm
canh vùng ven biển. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Thủy sản, 14(2), 85–
93.
46. Hà Phước Hùng, Nguyễn Trung Tín và Nguyễn Thanh Phương (2022).
Thành phần loài cá vùng ven biển Sóc Trăng–Bạc Liêu. Tạp chí Khoa học
Trường Đại học Cần Thơ, 58(3B), 214–222.
47. Huệ, V. H. (2024). Giải pháp công trình phòng chống xói lở bờ biển Vĩnh
Châu, tỉnh Sóc Trăng. Tạp chí Khí tượng Thủy văn, số 767.
48. Huỳnh Trung Tính, Võ Quốc Tuấn, Lý Trung Nguyên và Lê Quang Tâm
(2024). Hiện trạng rừng ngập mặn tỉnh Sóc Trăng thay đổi như thế nào từ
năm 2016 đến năm 2022 – Phân tích tư liệu ảnh vệ tinh. Tạp chí Khoa học
Đại học Cần Thơ, 60(3A), 52–61.
49. Ngô Thụy Diễm Trang và cộng sự (2022). Đánh giá chất lượng nước và
thải lượng từ ao nuôi tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei) thâm
canh ở tỉnh Sóc Trăng. Tạp chí Khoa học Đại học Cần Thơ, 58(1B), 213–
225. https://doi.org/10.22144/ctu.jvn.2022.024
50. Nguyễn Hồng Trung và cộng sự (2022). Đánh giá biến động đường bờ
biển thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng giai đoạn 2006–2020. Tạp chí Khí
tượng Thủy văn, số 733, 85–94.
51. Nguyễn Thanh Phương và cộng sự (2021). Hiện trạng môi trường vùng
nuôi tôm thâm canh Đồng bằng sông Cửu Long. Khoa Thủy sản, Trường
Đại học Cần Thơ.
52. Nguyễn Thị Bích Linh, Lê Văn Thắng và Nguyễn Hiếu Trung (2020).
Đánh giá hiện trạng sạt lở và diễn biến sóng biển ảnh hưởng đến đê biển
thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần
Thơ, 56 (Chuyên đề Môi trường và Biến đổi khí hậu), 136–145.
214
53. Nguyễn Thị Kim Liên, Âu Văn Hóa, Nguyễn Công Tráng, Nguyễn Thị
Khiếm, Huỳnh Trường Giang, Nguyễn Thanh Phương và Vũ Ngọc Út
(2020). Biến động thành phần thực vật nổi theo mùa ở vùng cửa sông Hậu,
tỉnh Sóc Trăng. Tạp chí Khoa học Đại học Cần Thơ, 56 (Chuyên đề Thủy
sản), 80–91. https://doi.org/10.22144/ctu.jsi.2020.010
54. Nguyễn Văn Hoàng, Lê Đình Mầu và Nguyễn Trọng Hiếu (2019). Đặc
điểm biến động đường bờ vùng ven biển Đồng bằng sông Cửu Long. Tạp
chí Khoa học và Công nghệ Biển, 19(4), 456–468.
55. Trần Ngọc Hải và cộng sự (2023). Đánh giá chất lượng nước và bùn đáy
trong hệ thống nuôi tôm thâm canh tại Sóc Trăng. Tạp chí Khoa học và
Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam.
56. Võ Quốc Thành, Võ Thị Phương Linh và Danh Minh Khánh (2025). Hiện
trạng và nguyên nhân xói lở bờ biển tại thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.
Tạp chí Khoa học và Công nghệ Thủy lợi, số 89, 103–111.
II. TÀI LIỆU TIẾNG ANH
57. Anthony, E. J., Brunier, G., Besset, M., Goichot, M., Dussouillez, P., &
Nguyen, V. L. (2015). Mekong River delta facing increased erosion due
to dams and sand mining. Nature Geoscience, 8(11), 874–879.
https://doi.org/10.1038/ngeo2530.
58. Boyd, C. E., & Tucker, C. S. (2012). Pond Aquaculture Water Quality
Management. Springer.
59. Deutsche Gesellschaft für Internationale Zusammenarbeit (GIZ). (2023).
Assessment of Plastic Waste from Shrimp Farming Systems in the Mekong
Delta.
60. Intergovernmental Panel on Climate Change (IPCC). (2021). Climate
Change 2021: The Physical Science Basis. Cambridge University Press.
61. International Union for Conservation of Nature (IUCN). (2024). Nature-
based Solutions for Coastal Resilience and Mangrove Restoration in the
Mekong Delta.
62. World Bank. (2019). Vietnam: Toward a Safe, Clean and Resilient Water
System. World Bank.
III. NGUỒN THÔNG TIN ĐIỆN TỬ
63. Báo Đại biểu Nhân dân (2024, ngày 23 tháng 12). Rừng ngập mặn mang
lại nguồn lợi lớn cho cộng đồng ven biển tỉnh Sóc Trăng.
64. Báo Lao Động (2024, ngày 25 tháng 12). Quỹ Coca-Cola và IUCN chung
tay tăng cường sức chống chịu vùng ven biển.
215
65. Báo Nhân Dân (2024, ngày 22 tháng 11). Tăng cường khả năng chống chịu
với biến đổi khí hậu của cộng đồng ven biển Đồng bằng sông Cửu Long.
66. Báo Nhân Dân (2025, ngày 10 tháng 3). Xu thế carbon xanh dương.
67. Báo Tài nguyên và Môi trường (2024, ngày 13 tháng 8). Sóc Trăng: Phát
động trồng rừng phòng hộ ven biển tại thị xã Vĩnh Châu.
68. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ (2024, ngày 24 tháng 12). Quỹ Coca-
Cola và IUCN chung tay bảo vệ vùng ven biển Đồng bằng sông Cửu Long.
69. Panasonic Việt Nam (2024, ngày 01 tháng 7). Chiến dịch “Sống khỏe góp
xanh 2024” tái khởi động, hướng tới kỷ lục 1 triệu cây.
70. Thông tấn xã Việt Nam (2022). Giá nhiên liệu tăng cao ảnh hưởng đến
hoạt động khai thác thủy sản tại Cảng cá Trần Đề.

Bạn chưa Đăng nhập thành viên.

Đây là tiện ích dành cho tài khoản thành viên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, vui lòng Đăng ký tại đây!

Quyết định 4814/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân Thành phố Cần Thơ về việc phê duyệt Báo cáo hiện trạng môi trường biển và hải đảo thành phố Cần Thơ giai đoạn 2021 - 2025

văn bản tiếng việt

downloadQuyết định 4814/QĐ-UBND (Bản PDF)

Vui lòng Đăng nhập để tải văn bản. Nếu chưa có tài khoản, vui lòng Đăng ký tại đây!

văn bản TIẾNG ANH

* Lưu ý: Để đọc được văn bản tải trên Luatvietnam.vn, bạn cần cài phần mềm đọc file DOC, DOCX và phần mềm đọc file PDF.

Bạn chưa Đăng nhập thành viên.

Đây là tiện ích dành cho tài khoản thành viên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, vui lòng Đăng ký tại đây!

  • Văn bản liên quan Quyết định 4814/QĐ-UBND
  • Văn bản cùng chủ đề

văn bản cùng lĩnh vực

văn bản mới nhất

CHÍNH SÁCH BẢO VỆ DỮ LIỆU CÁ NHÂN
Yêu cầu hỗ trợYêu cầu hỗ trợ
Chú thích màu chỉ dẫn
Chú thích màu chỉ dẫn:
Các nội dung của VB này được VB khác thay đổi, hướng dẫn sẽ được làm nổi bật bằng các màu sắc:
Sửa đổi, bổ sung, đính chính
Thay thế
Hướng dẫn
Bãi bỏ
Bãi bỏ cụm từ
Bình luận
Click vào nội dung được bôi màu để xem chi tiết.
×