• Tổng quan
  • Nội dung
  • Tiêu chuẩn liên quan
  • Lược đồ
  • Tải về
Lưu
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao . Vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem chi tiết.
Theo dõi VB
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao . Vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem chi tiết.
Ghi chú
Báo lỗi
In

Tiêu chuẩn TCVN 14488-4:2025 Ngân hàng lõi - Dịch vụ tài chính di động - Phần 4: Thanh toán di động cho cá nhân

Ngày cập nhật: Thứ Tư, 04/02/2026 15:10 (GMT+7)
Số hiệu: TCVN 14488-4:2025 Loại văn bản: Tiêu chuẩn Việt Nam
Cơ quan ban hành: Bộ Khoa học và Công nghệ Lĩnh vực: Tài chính-Ngân hàng
Trích yếu: ISO/TS 12812-4:2017 Ngân hàng lõi - Dịch vụ tài chính di động - Phần 4: Thanh toán di động cho cá nhân
Ngày ban hành:
Ngày ban hành là ngày, tháng, năm văn bản được thông qua hoặc ký ban hành.
28/07/2025
Hiệu lực:
Đã biết
Tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao. Vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem chi tiết.
Người ký: Đang cập nhật
Tình trạng hiệu lực:
Cho biết trạng thái hiệu lực của văn bản đang tra cứu: Chưa áp dụng, Còn hiệu lực, Hết hiệu lực, Hết hiệu lực 1 phần; Đã sửa đổi, Đính chính hay Không còn phù hợp,...
Đã biết
Tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao. Vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem chi tiết.

TÓM TẮT TIÊU CHUẨN VIỆT NAM TCVN 14488-4:2025

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 14488-4:2025

Tải văn bản tiếng Việt (.pdf) Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 14488-4:2025 PDF (Bản có dấu đỏ)

Đây là tiện ích dành cho tài khoản thành viên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Tải văn bản tiếng Việt (.doc) Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 14488-4:2025 DOC (Bản Word)

Đây là tiện ích dành cho tài khoản thành viên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Tình trạng hiệu lực: Đã biết
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng hiệu lực: Đã biết

TIÊU CHUẨN QUỐC GIA

TCVN 14488-4:2025

ISO/TS 12812-4:2017

NGÂN HÀNG LÕI - DỊCH VỤ TÀI CHÍNH DI ĐỘNG - PHẦN 4: THANH TOÁN DI ĐỘNG CHO CÁ NHÂN

Core banking - Mobile financial services - Part 4: Mobile payments- to-persons

 

Lời nói đầu

TCVN 14488-4:2025 hoàn toàn tương đương ISO/TS 12812-4:2017

TCVN 14488-4:2025 do Ban kỹ thuật tiêu chuẩn quốc gia TCVN/TC 68 “Dịch vụ tài chính” biên soạn, Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia thẩm định, Bộ Khoa học và Công nghệ công bố.

Bộ TCVN 14488:2025 (ISO 12812) “Ngân hàng lõi - Dịch vụ tài chính di động” gồm các TCVN sau:

- TCVN 14488-1:2025 (ISO 12812-1:2017) - Phần 1: Khuôn khổ chung

- TCVN 14488-2:2025 (ISO/TS 12812-2:2017) - Phần 2: Bảo mật và bảo vệ dữ liệu cho các dịch vụ tài chính di động

- TCVN 14488-3:2025 (ISO/TS 12812-3:2017) - Phần 3: Quản lý vòng đời ứng dụng tài chính

- TCVN 14488-4:2025 (ISO/TS 12812-4:2017) - Phần 4: Thanh toán di động cho cá nhân

- TCVN 14488-5:2025 (ISO/TS 12812-5:2017) - Phần 5: Thanh toán di động cho doanh nghiệp

Lời giới thiệu

Bộ TCVN 14488 (ISO 12812) là một bộ tiêu chuẩn nhiều phần, đề cập đến các hệ thống có khả năng tương tác và bảo mật cho việc cung cấp, vận hành và quản lý các dịch vụ tài chính di động.

Tiêu chuẩn này đề cập đến cách người trả tiền tương tác với một người để bắt đầu và hoàn tất thanh toán di động. Một người này có thể là một cá nhân hoặc một chủ thể kinh doanh nhỏ được pháp luật công nhận là “người” nhưng khi thanh toán có tính chất ngẫu nhiên (ví dụ: khi mục đích là chuyển tiền giữa những người quen biết với nhau, chẳng hạn như thành viên gia đình, bạn bè hoặc hàng xóm, hoặc khi mối quan hệ giữa hai người là ngẫu nhiên, chẳng hạn như trả tiền cho người trông trẻ, bảo mẫu, thợ sửa chữa...).

Các công cụ thanh toán được sử dụng trong thanh toán di động cho cá nhân được cung cấp bởi các ứng dụng dịch vụ tài chính di động phù hợp có sẵn hoặc được truy cập thông qua thiết bị di động. Thiết bị di động này, sử dụng một môi trường bảo mật phù hợp, lưu trữ hoặc cung cấp quyền truy cập vào các dữ liệu nhạy cảm. Dữ liệu nhạy cảm bao gồm thông tin cấu hình ứng dụng, dữ liệu tài khoản cá nhân và dữ liệu xác thực người dùng (thông tin xác thực), bao gồm cả khóa mật mã.

Tiêu chuẩn này bao gồm một bộ các yêu cầu và một số khuyến nghị nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho khả năng tương tác của thanh toán di động cho người dùng. Tiêu chuẩn này cũng nêu rõ nhu cầu về các cơ chế bảo vệ người tiêu dùng (ví dụ: bao gồm các điều khoản hợp đồng công bằng, các quy tắc về tính minh bạch của các khoản phí, làm rõ trách nhiệm pháp lý, cơ chế khiếu nại và giải quyết tranh chấp).

Mục tiêu của tiêu chuẩn này là cung cấp cho các MFSP các điều khoản kỹ thuật cho phép phát triển các dịch vụ thanh toán di động cho cá nhân có khả năng tương tác, trong đó người trả tiền hoặc người thụ hưởng sử dụng thiết bị di động để thực hiện giao dịch thanh toán cho một cá nhân.

Thanh toán di động cho cá nhân có thể yêu cầu người trả tiền nhập mã định danh duy nhất của người nhận tiền. Người nhận tiền từ giao dịch thanh toán di động cho cá nhân (ví dụ: thành viên gia đình, bạn bè) phải có khả năng xác minh số tiền đã nhận và lý do thanh toán. Mặc dù tiêu chuẩn tập trung vào thanh toán di động cho cá nhân trong giao dịch từ tài khoản sang tài khoản, hệ thống thanh toán di động cho cá nhân cũng đã được triển khai trong tình huống mà người trả tiền và/ hoặc người nhận tiền không có tài khoản ngân hàng. Theo góc nhìn rộng hơn, thì thanh toán di động cho cá nhân và đặc biệt là kiều hối có thể tạo điều kiện cho việc hội nhập tài chính sau này (xem Phụ lục A).

Tiêu chuẩn này phân biệt giữa thanh toán di động gần cho người dùng và thanh toán từ xa cho người dùng:

- Thanh toán di động gần cho người dùng là khoản thanh toán được chuyển từ thiết bị di động này sang thiết bị di động khác, trong đó người trả tiền và người nhận tiền có mặt trực tiếp tại cùng một địa điểm. Trong tiêu chuẩn này, các thiết bị di động như vậy được cho là cho phép thiết lập kênh giao tiếp không tiếp xúc hoặc kênh giao tiếp khác. Một ví dụ là công nghệ giao tiếp trường gần (NFC) (xem ISO 18092), có trên thiết bị di động hỗ trợ công nghệ NFC. Công nghệ NFC ở chế độ được gọi là ngang hàng thiết lập kênh không tiếp xúc giữa hai thiết bị giao tiếp. Tiêu chuẩn này không loại trừ việc sử dụng các công nghệ gần khác như bluetooth năng lượng thấp, mã QR.

- Thanh toán di động từ xa cho cá nhân là hình thức thanh toán mà cả người trả tiền và người nhận tiền đều không có mặt trực tiếp tại cùng một địa điểm, nghĩa là thiết bị di động thiết lập kênh liên lạc bằng mạng không dây.

Liên quan đến việc triển khai thanh toán di động cho cá nhân, cần cân nhắc các yếu tố sau:

- Đổi mới công nghệ là linh hoạt, đặc biệt đối với các thiết bị di động và hệ điều hành, ví di động và cơ sở hạ tầng thanh toán. Do đó, các yêu cầu phải linh hoạt để xử lý các công nghệ hiện tại và tương lai.

- Các vấn đề về quy định và chính sách cần được giải quyết đối với hoạt động của hệ thống thanh toán bằng cách đảm bảo tuân thủ pháp luật và quy định quốc gia và đa quốc gia (ví dụ: xác minh danh tính khách hàng (KYC); chống rửa tiền (AML), Văn phòng kiểm soát tài sản nước ngoài của Hoa Kỳ (OFAC), và chống tài trợ khủng bố (CFT), bảo vệ dữ liệu/ quyền riêng tư và bảo vệ khách hàng)

- Sử dụng thanh toán di động cho cá nhân trên toàn cầu ở 2 khu vực sau:

a) Triển khai các thiết bị di động ở các nước đang phát triển thường gặp thách thức do ranh giới địa lý, thiếu cơ sở hạ tầng ngân hàng tập trung và nhu cầu cung cấp dịch vụ tài chính di động cá nhân chưa có hoặc chưa sử dụng dịch vụ ngân hàng

b) Mạng xã hội được hàng triệu hoặc thậm chí hàng tỷ người sử dụng trong các hệ thống dựa trên các dịch vụ giữa các cá nhân (ví dụ: âm nhạc, trò chơi, mối quan hệ). Nhiều dịch vụ trong số này tạo ra các mối quan hệ thanh toán trực tiếp giữa người với người, có thể liên quan đến việc sử dụng thanh toán di động giữa người với người.

Thanh toán di động cho cá nhân là một loại dịch vụ tài chính di động. Nội dung của tiêu chuẩn này có liên quan chặt chẽ với các phần khác của bộ tiêu chuẩn. Các nhà triển khai tiềm năng các giải pháp thanh toán bán lẻ di động nên tham khảo TCVN 14488-5 (ISO 12812-5). Cả TCVN 14488-4 (ISO 12812-4) và TCVN 14488-5 (ISO 12812-5) đều hướng đến hỗ trợ tất cả các công nghệ khả thi và không có ý định ưu tiên bất kỳ công nghệ cụ thể nào. Do đó, các triển khai riêng lẻ dịch vụ thanh toán di động cho cá nhân có thể phụ thuộc nhiều vào hoặc yêu cầu áp dụng các phần khác của TCVN 14488 (ISO 12812). Cụ thể:

- TCVN 14488-1 (ISO 12812-1) mô tả khuôn khổ chung và định nghĩa cho tiêu chuẩn;

- TCVN 14488-2 (ISO 12812-2) chỉ rõ các yêu cầu và khuyến nghị về bảo mật và bảo vệ dữ liệu;

- TCVN 14488-3 (ISO 12812-3) chỉ rõ các yêu cầu và khuyến nghị chung để quản lý các ứng dụng tài chính di động

Hình 1 đến Hình 6 hoặc một phần trong số đó được cung cấp bởi Hội đồng thanh toán châu Âu.

 

NGÂN HÀNG LÕI - DỊCH VỤ TÀI CHÍNH DI ĐỘNG - PHẦN 4: THANH TOÁN DI ĐỘNG CHO CÁ NHÂN

Core banking - Mobile financial services - Part 4: Mobile payments- to-persons

1 Phạm vi áp dụng

Tiêu chuẩn này cung cấp các yêu cầu và khuyến nghị toàn diện, cũng như các trường hợp sử dụng cụ thể để triển khai các dịch vụ thanh toán di động liên thông giữa các cá nhân

Trọng tâm được đặt vào các nguyên tắc điều hành chức năng của các hệ thống và quy trình thanh toán di động cho cá nhân, cũng như trình bày các vấn đề kỹ thuật, tổ chức, kinh doanh, pháp lý và chính sách liên quan, tận dụng cơ sở hạ tầng kế thừa của các công cụ thanh toán hiện có (xem TCVN 14488-1:2025 (ISO 12812-1:2017), Phụ lục C).

Tiêu chuẩn này bao gồm các mục sau:

a) Các yêu cầu áp dụng cho thanh toán di động cho cá nhân;

b) Các khuyến nghị liên quan đến cơ chế vận hành của các dịch vụ thanh toán di động liên thông cho cá nhân;

c) Mô tả các trường hợp sử dụng khác nhau của thanh toán di động cho cá nhân;

d) Mô hình liên thông tổng quát cho việc cung cấp các dịch vụ thanh toán di động cho cá nhân;

e) Các khuyến nghị cho việc triển khai kỹ thuật của kiến trúc tổng quát cho chương trình thanh toán di động cho cá nhân;

f) Các khuyến nghị cho chuyển tiền di động;

g) Các trường hợp sử dụng cùng với luồng giao dịch tương ứng;

h) Thảo luận về việc hòa nhập tài chính cho những người không có hoặc ít có khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng (Phụ lục A);

i) Một số khía cạnh pháp lý cần cân nhắc đối với thanh toán di động cho cá nhân (Phụ lục B).

Tiêu chuẩn này được cấu trúc như sau:

- Điều 6 nêu ra các yêu cầu mà một chương trình thanh toán di động cho cá nhân phải tuân thủ.

- Điều 7 và Điều 9 cung cấp các cấp độ triển khai khác nhau cho tính liên thông của các dịch vụ thanh toán di động cho cá nhân.

- Điều 7 mô tả các nguyên tắc liên thông cho các dịch vụ thanh toán di động cho cá nhân.

- Điều 8 mô tả:

1) Một kiến trúc ba lớp cấp cao cho các chương trình thanh toán di động cho cá nhân;

2) Các công cụ thanh toán được duy trì bởi các chương trình này;

3) Chi tiết xử lý cho một loạt các trường hợp sử dụng quan trọng của thanh toán di động cho cá nhân sử dụng các công cụ thanh toán này.

- Điều 9 cung cấp mô tả từng bước về luồng dữ liệu cho các triển khai khác nhau của thanh toán di động cho cá nhân: trung tâm ngân hàng, trung tâm phi ngân hàng và trung tâm thẻ. Chúng có thể được sắp đặt vào trường hợp xử lý được nêu trong Điều 8, nơi bản chất của các nhà cung cấp dịch vụ thanh toán được trừu tượng hóa.

2 Tài liệu viện dẫn

Các tài liệu viện dẫn sau đây là rất cần thiết cho việc áp dụng tiêu chuẩn. Đối với tài liệu viện dẫn ghi năm công bố thì áp dụng phiên bản được nêu. Đối với tài liệu viện dẫn không ghi năm công bố thì áp dụng phiên bản mới nhất, bao gồm cả các bản sửa đổi.

TCVN 14488-1:2025 (ISO 12812-1:2017), Ngân hàng lõi - Dịch vụ tài chính di động - Phần 1: Khuôn khổ chung

TCVN 14488-2:2025 (ISO/TS 12812-2:2017), Ngân hàng lõi - Dịch vụ tài chính di động - Phần 2: Bảo mật và bảo vệ dữ liệu cho dịch vụ tài chính di động

TCVN 14488-5:2025 (ISO/TS 12812-5:2017), Ngân hàng lõi - Dịch vụ tài chính di động - Phần 5: Thanh toán di động cho doanh nghiệp

3 Thuật ngữ và định nghĩa

Tiêu chuẩn này sử dụng các thuật ngữ và định nghĩa trong TCVN 14488-1:2025 (ISO 12812-1:2017) và những thuật ngữ và định nghĩa sau:

3.1

Đại lý (agent)

Chủ thể chuyển tiền đến một nhà cung cấp dịch vụ tài chính di động thay mặt cho người trả tiền hoặc chi tiền từ nhà cung cấp dịch vụ tài chính di động đến người nhận thanh toán.

CHÚ THÍCH 1: Định nghĩa này đặc biệt áp dụng cho dịch vụ chuyển tiền và bao gồm cả hệ thống ba và bốn bên.

3.2

Thanh toán di động cho cá nhân (mobile payments to person)

Thanh toán di động mà người nhận là một cá nhân.

3.3

Chuyển tiền di động (mobile remittance)

Chuyển tiền thông qua thiết bị di động giữa hai người, dù có hoặc không ở cùng một quốc gia.

3.4

Nhà cung cấp dịch vụ chuyển tiền di động (mobile remittance service provider)

Chủ thể cung cấp dịch vụ chuyển tiền di động.

3.5

Chương trình thanh toán di động cho cá nhân (mobile payments-to-persons program)

Mạng lưới vận hành, được điều chỉnh bởi luật pháp, quy tắc và các quy định kỹ thuật, tiêu chuẩn, cung cấp các dịch vụ thanh toán di động cho cá nhân.

3.6

Định danh người nhận thanh toán (payee identifier)

Thông tin cho phép một nhà cung cấp dịch vụ tài chính di động nhận diện người thụ hưởng dịch vụ thanh toán di động cho cá nhân.

3.7

Người không sử dụng dịch vụ ngân hàng (unbanked)

Cá nhân không có tài khoản ngân hàng hoặc không có hợp đồng với tổ chức tài chính cho các dịch vụ ngân hàng.

4 Các thuật ngữ viết tắt

ACH

Automatic Clearing House

Trung tâm bù trừ tự động

AML

Anti-Money Laundering

Chống rửa tiền

BIC

Business Identifier Code

Mã định danh doanh nghiệp

CFT

Combating the Financing of Terrorism

Chống tài trợ khủng bố

Cl

Consumers International

Tổ chức người tiêu dùng quốc tế

CSM

Clearing and Settlement Mechanism

Cơ chế bù trừ và quyết toán

IBAN

International Bank Account Number

Số tài khoản ngân hàng quốc tế

KYC

Know Your Customer

Xác minh danh tính khách hàng

MFS

Mobile Financial Service

Dịch vụ tài chính di động

MFSP

Mobile Financial Service Provider

Nhà cung cấp dịch vụ tài chính di động

5 Đặc điểm cụ thể của thanh toán di động cho cá nhân

5.1 Tổng quan

Nội dung trong điều khoản này mang tính tổng quát và có thể được áp dụng cho nhiều loại hình hệ thống thanh toán di động cho cá nhân. Mục tiêu là góp phần xây dựng sự hiểu biết chung về cách thức hoạt động của các chương trình thanh toán di động cho cá nhân khác nhau.

Các phần khác nhau trong điều khoản này cùng đề xuất một khung linh hoạt cho các chương trình thanh toán di động cho cá nhân, bao gồm:

- Những điểm tương đồng về mặt chức năng và kỹ thuật giữa các hệ thống thanh toán di động cho cá nhân, được phân loại trong Điều 8 và Điều 9;

- Thiết kế chức năng phù hợp với thanh toán di động cho cá nhân;

- Các quy định đáp ứng yêu cầu và/hoặc các ràng buộc trong khu vực, đặc biệt là những yêu cầu mang tính pháp lý hoặc quy định.

5.2 Khái niệm về thanh toán di động cho cá nhân

Tùy thuộc vào bản chất của hệ thống thanh toán di động cho cá nhân, việc chuyển tiền có thể bao gồm bất kỳ kết hợp nào sau đây:

- Một tài khoản tiền gửi hoặc tài khoản tín dụng liên kết với người trả tiền và/hoặc người nhận thanh toán;

- Một đại lý chấp nhận tiền từ người trả tiền hoặc chi trả cho người nhận qua nhiều phương thức khác nhau, bao gồm cả tiền mặt;

- Tiền điện tử do người trả tiền hoặc người nhận giữ, được lưu trữ trong máy chủ hoặc trong thiết bị di động bằng cách sử dụng môi trường bảo mật phù hợp (xem TCVN 14488-2 (ISO 12812-2)).

5.3 Kỳ vọng của người dùng

Danh sách dưới đây (không đầy đủ) làm rõ một số kỳ vọng của người dùng (người trả tiền và người nhận thanh toán) trong các hệ thống thanh toán di động cho cá nhân:

a) Người nhận luôn có sẵn tiền để sử dụng;

b) Dịch vụ dễ sử dụng;

c) Chuyển tiền và xác nhận nhanh chóng;

d) Ngày càng có nhu cầu chuyển tiền với những người đăng ký tại các MFSP khác nhau;

e) Khả năng chống lại các cuộc tấn công (trộm cắp, đánh cắp dữ liệu, v.v.);

f) Minh bạch về các khoản phí;

g) Làm rõ trách nhiệm pháp lý;

h) Có cơ chế khiếu nại và giải quyết tranh chấp.

5.4 Các bên liên quan trong một chương trình thanh toán di động cho cá nhân

5.4.1 Nhà cung cấp dịch vụ tài chính di động

MFSP ký hợp đồng với khách hàng để cung cấp dịch vụ thanh toán di động cho cá nhân trong khuôn khổ của một chương trình dịch vụ tài chính di động. MFSP có thể trực tiếp vận hành dịch vụ thanh toán di động cho cá nhân hoặc thuê ngoài một số phần của chương trình với bên thứ ba.

Vai trò chính của MFSP là phát hành các ứng dụng thanh toán di động cho cá nhân để sử dụng trong quá trình giao dịch. Nhà cung cấp dịch vụ tài chính di động cũng thực hiện các biện pháp phòng ngừa rủi ro và kiểm soát kỹ thuật nhằm đảm bảo an toàn cho giao dịch, tuân thủ theo quy tắc của chương trình dịch vụ tài chính di động. Đặc biệt MFSP kiểm soát quyền truy cập vào dịch vụ thanh toán di động cho cá nhân cho người dùng đã đăng ký thông qua cơ chế xác thực.

Một MFS mở sẽ bao gồm ít nhất một thỏa thuận kinh doanh giữa hai hoặc nhiều nhà cung cấp dịch vụ tài chính di động để cung cấp dịch vụ cho khách hàng theo các quy tắc quản trị đã được thỏa thuận (xem B.3, TCVN 14488-1:2025 (ISO 12812-1:2017)).

CHÚ THÍCH: Trong tiêu chuẩn này, từ viết tắt MFSP đề cập đến "Nhà cung cấp dịch vụ tài chính di động thanh toán cho cá nhân".

5.4.2 Nhà mạng di động

MNO vận hành mạng không dây có thể được yêu cầu để tiến hành một giao dịch thanh toán di động cho cá nhân. MNO cung cấp quyền truy cập vào mạng sau khi xác thực người dùng. MNO cũng có thể đóng vai trò là kênh phân phối cho thiết bị di động và các phương tiện xác thực liên quan.

5.4.3 Đại lý

Đại lý là chủ thể được ủy quyền thông qua hợp đồng với MFSP để chi trả tiền mặt cho người nhận thanh toán (rút tiền mặt) hoặc để nhận tiền mặt từ người trả tiền nhằm thực hiện thanh toán di động cho cá nhân đến người nhận đã chỉ định. Đại lý có thể là một thực thể được quy định pháp lý.

5.4.4 Nhà cung cấp dịch vụ tiền điện tử

Nhà cung cấp dịch vụ tiền điện tử là thực thể (có thể được quản lý theo luật hoặc quy định quốc gia) có quyền phát hành và trao đổi tiền điện tử giữa các khách hàng của họ.

6 Yêu cầu đối với thanh toán di động đến cá nhân

6.1 Tổng quan

Điều khoản này xác định một tập hợp các yêu cầu chung cho cả thanh toán di động gần (proximity) và từ xa (remote) cho cá nhân.

Những yêu cầu này tương tự như các yêu cầu đối với thanh toán trong môi trường doanh nghiệp. Trong trường hợp cụ thể có yêu cầu xuất biên lai (dạng in hoặc dạng điện tử), áp dụng các yêu cầu trong TCVN 14488-5 (ISO 12812-5).

Một giao dịch thanh toán di động cho cá nhân thường bắt đầu bằng kết nối giữa thiết bị di động của người trả tiền và một MFSP sau khi người trả tiền chọn ứng dụng cần sử dụng. Sau khi xác thực người dùng và lấy thông tin định tuyến của người nhận, MSFP của người trả tiền sẽ thiết lập kết nối thứ hai với MFSP của người nhận để thực hiện lệnh thanh toán.

Các yêu cầu trong điều khoản này áp dụng cho:

- Việc triển khai ứng dụng thanh toán di động cho cá nhân;

- Các giao thức được thực hiện giữa các MFSP tham gia giao dịch, cũng như các giao thức giữa người trả tiền/người nhận và MFSP của họ. Cụ thể, các giao thức này cần truyền dữ liệu phù hợp với 6.3, 6.4 và 6.5.

CHÚ THÍCH : Các yêu cầu về an toàn và bảo vệ dữ liệu được đề cập trong TCVN 14488-2 (ISO 12812-2).

6.2 Yêu cầu đối với thiết bị, mạng và lựa chọn ứng dụng

6.2.1 Tổng quát

Những yêu cầu này nhằm đảm bảo khách hàng có quyền tự do lựa chọn thiết bị di động và nhà mạng (MNO) để truy cập vào các dịch vụ tài chính di động sẽ được sử dụng.

6.2.2 Các yêu cầu

6.2.2.1 Một nhà cung cấp dịch vụ tài chính di động phải cho phép khách hàng (ví dụ: người trả tiền hoặc người nhận) lựa chọn thiết bị di động mà họ muốn dùng để truy cập vào dịch vụ thanh toán di động đến cá nhân, với điều kiện thiết bị đó hỗ trợ môi trường bảo mật phù hợp với các yêu cầu của MFSP và tương thích với TCVN 14488-2 (ISO 12812-2).

6.2.2.2 Một nhà cung cấp dịch vụ tài chính di động phải tạo điều kiện cho khách hàng lựa chọn MNO mà họ muốn sử dụng để xử lý dịch vụ liên lạc di động, với điều kiện nhà mạng đó hỗ trợ môi trường bảo mật phù hợp với yêu cầu của nhà cung cấp dịch vụ tài chính di động.

6.2.2.3 Một thiết bị di động phải cho phép người dùng:

- Chọn ứng dụng thanh toán di động cho cá nhân phù hợp, bao gồm ví di động, để xử lý bất kỳ giao dịch thanh toán di động cho cá nhân nào;

- Cho phép người dùng vô hiệu hóa ứng dụng dịch vụ tài chính di động (xem 7.1, TCVN 14488-3:2025 (ISO 12812-3:2017)).

6.2.2.4 Một MFSP phải đảm bảo rằng khí một ví di động được sử dụng cho thanh toán di động cho cá nhân, nó có khả năng cung cấp ít nhất các chức năng sau:

- Giao diện người dùng đáng tin cậy để:

a) Quản lý (đăng ký, cập nhật, xóa) dữ liệu có thể được dùng cho dịch vụ;

b) Cho phép người dùng lựa chọn và sử dụng dịch vụ thanh toán cho cá nhân (có thể là một giao diện quản lý tất cả các phương thức thanh toán hoặc các giao diện riêng cho từng phương thức).

- Một kho lưu trữ dữ liệu (trên thiết bị di động hoặc trên máy chủ bảo mật từ xa).

6.3 Yêu cầu ghi nhật ký

6.3.1 Tổng quan

Những yêu cầu này nhằm hỗ trợ khả năng truy vết các giao dịch và giúp khách hàng xác minh rằng các giao dịch đã được thực hiện chính xác.

6.3.2 Yêu cầu

6.3.2.1 Một MFSP phải cung cấp phương tiện để khách hàng có thể xem chi tiết từng giao dịch thanh toán di động. Nhật ký giao dịch phải hiển thị, ít nhất, 10 giao dịch gần nhất được xử lý bởi ứng dụng thanh toán di động cho cá nhân, hoặc các giao dịch gần đây được hoàn thành trong vòng 30 ngày qua, tùy thuộc vào phương án nào cung cấp nhiều thông tin hơn. Ngoài thông tin ghi nhật ký tức thời, MFSP cũng phải sẵn sàng cung cấp thêm thông tin cho khách hàng theo yêu cầu trong những điều kiện hợp lý.

6.3.2.2 Nhật ký giao dịch phải cung cấp các dữ liệu sau:

- Mã định danh giao dịch;

- Ngày giao dịch;

- Giờ giao dịch;

- Số tiền giao dịch;

- Mã loại tiền tệ của giao dịch;

- Loại giao dịch (Ví dụ ghi nợ, ghi có);

- Thông tin người nhận/người gửi (Ví dụ tên/thiết bị nhận dạng và vị trí);

- Thông tin xác minh/kiểm tra xác nhận tính toàn vẹn của giao dịch (Ví dụ mật mã).

CHÚ THÍCH: Yêu cầu cung cấp nhật ký giao dịch cho người nhận có thể không khả thi nếu người nhận là khách hàng của một nhà cung cấp dịch vụ tài chính di động khác.

6.4 Yêu cầu về thông báo

6.4.1 Tổng quan

Những yêu cầu này nhằm mục đích:

- Giảm thiểu rủi ro và hậu quả của các giao dịch thanh toán trái phép hoặc thực hiện sai, để người trả tiền và người nhận có thể thông báo cho MFSP của họ sớm nhất có thể nếu có bất kỳ khiếu nại nào liên quan đến giao dịch như vậy;

- Tăng tốc độ khả dụng của khoản tiền đối với người nhận.

6.4.2 Yêu cầu

6.4.2.1 MFSP của người trả tiền phải thông báo cho người trả tiền khi một khoản thanh toán đã được ủy quyền, phê duyệt hoặc hoàn tất.

6.4.2.2 MFSP của người nhận phải thông báo cho người nhận về trạng thái của khoản thanh toán (ví dụ: khoản tiền đã được ghi nhận vào tài khoản của người nhận).

6.4.2.3 MFSP của người nhận phải thông báo cho người nhận về khả năng truy cập số tiền đã được chuyển vào tài khoản của người nhận.

6.4.2.4 MFSP phải thực hiện việc thông báo theo mục này thông qua một phương thức liên lạc phù hợp (ví dụ: thông qua thông báo bật lên trong ứng dụng, bằng tin nhắn văn bản, email hoặc thông báo giấy).

6.5 Yêu cầu về xác thực và ủy quyền

6.5.1 Tổng quan

Những yêu cầu này nhằm giảm thiểu rủi ro và hậu quả của các giao dịch thanh toán chưa được xác thực hoặc không được ủy quyền, bằng cách sử dụng các biện pháp phòng ngừa để xác thực và ủy quyền người trả tiền và người nhận.

6.5.2 Yêu cầu

6.5.2.1 MFSP của người trả tiền phải xác thực người trả tiền để xác minh danh tính của người đó và thiết bị di động của họ, đồng thời ủy quyền giao dịch sau khi xác thực tính khả dụng của số dư và tuân thủ các thủ tục quản lý rủi ro nội bộ. Về phương pháp xác thực và ủy quyền, xem TCVN 14488-2 (ISO 12812-2). Đối với các thảo luận và tình huống sử dụng liên quan đến xác thực, ủy quyền và chấp nhận giao dịch thanh toán cho cá nhân, xem 9.2, 9.3 và 9.4.

6.5.2.2 MFSP của người nhận phải xác thực người nhận để kiểm tra xác nhận người nhận danh tính của người trả và thiết bị di động, đồng thời ủy quyền giao dịch theo các thủ tục quản lý rủi ro nội bộ của mình. Về phương pháp xác thực và ủy quyền xem TCVN 14488-2 (ISO 12812-2). Đối với các thảo luận và tình huống sử dụng liên quan đến xác thực, ủy quyền và chấp nhận giao dịch thanh toán cho cá nhân, xem 9.2, 9.3 và 9.4.

7 Các tình huống về khả năng tương tác

7.1 Tổng quan

Khả năng tương tác của một chương trình thanh toán di động cho cá nhân đề cập đến khả năng mà người trả tiền (đã đăng ký với một nhà cung cấp dịch vụ tài chính di động) có thể thực hiện giao dịch thanh toán đến một người nhận không nhất thiết phải đăng ký cùng một nhà cung cấp dịch vụ tài chính di động của người trả tiền đó. Cả hai nhà cung cấp dịch vụ tài chính di động phải có quyền truy cập vào hệ thống thanh toán di động cho cá nhân.

Tiêu chuẩn này mô tả hai tình huống về khả năng tương tác:

- Tình huống 1, khi giao dịch được xử lý trong một hệ thống thanh toán di động cho cá nhân duy nhất;

- Tình huống 2, khi giao dịch được xử lý qua các hệ thống thanh toán di động cho cá nhân khác nhau và các mô hình tương tác để hỗ trợ thanh toán.

Những nhà triển khai quan tâm đến các ví dụ cụ thể về cách khả năng tương tác giữa các nhà cung cấp dịch vụ tài chính di động được xử lý trong các tình huống SEPA/EPC có thể tham khảo tài liệu EPC 492.09.

CHÚ THÍCH: Các hình minh họa trong Điều 7 và Điều 8 được lấy từ tài liệu EPC.

7.2 Tình huống về khả năng tương tác 1

7.2.1 Tổng quan

Trong tình huống 1, các MFSP là thành viên của cùng một hệ thống thanh toán di động đến cá nhân. Tình huống này bao gồm hai mô hình được mô tả trong 7.2.2 và 7.2.3.

Trong cả hai mô hình, MFSP tham gia vào giao dịch sẽ:

- Triển khai các giao thức chung để kết nối với hệ thống thanh toán nhằm thực hiện thanh toán bằng một công cụ thanh toán nhất định;

- Có quyền truy cập vào cơ sở hạ tầng bù trừ và quyết toán chung;

- Đăng ký khách hàng của họ cho dịch vụ thanh toán di động cho cá nhân;

- Cung cấp cho khách hàng cơ chế (ví dụ: ứng dụng thanh toán di động cho cá nhân, ví di động) để truyền lệnh thanh toán thông qua mạng truyền thông không dây.

7.2.2 Mô hình ba bên

Trong mô hình ba bên, cả người trả tiền và người nhận đều là khách hàng của cùng một nhà cung cấp dịch vụ tài chính di động. Mô hình này còn gọi là mô hình khép kín hoặc nhà cung cấp dịch vụ tài chính di động ở giữa (xem Phụ lục B, TCVN 14488-1:2025 (ISO 12812-1:2017)).

Việc chỉ có một nhà cung cấp dịch vụ tài chính di động tham gia có thể giúp đơn giản hóa việc triển khai các trường hợp sử dụng như là xác định người nhận (vì đã được MFSP biết trước), xác nhận thanh toán và đảm bảo tính kịp thời trong việc người nhận có thể sử dụng khoản tiền.

7.2.3 Mô hình bốn bên

Trong mô hình này, người trả tiền và người nhận tiền là khách hàng của các MFSP khác nhau. Mô hình bốn bên còn được gọi là mô hình mở hoặc mô hình hợp tác giữa các MFSP (xem Phụ lục B, TCVN 14488-1:2025 (ISO 12812-1:2017)).

Trong mô hình này, các MFSP triển khai các giao thức chung và có quyền truy cập vào cơ sở hạ tầng chia sẻ cho việc xử lý, thanh toán và quyết toán.

7.3 Tình huống tương tác 2 (Thanh toán liên hệ thống)

Tình huống 2 đề cập đến các lựa chọn kết nối liên hệ thống cho phép một người trả tiền thuộc nhà cung cấp dịch vụ tài chính di động của hệ thống A chuyển tiền đến người nhận thuộc nhà cung cấp dịch vụ tài chính di động của hệ thống B). Mục tiêu chính của tình huống này là giúp nhà cung cấp dịch vụ tài chính di động mở rộng lượng giao dịch và mở rộng phạm vi cung cấp dịch vụ thanh toán di động đến cá nhân cho nhiều người nhận hơn.

Các giải pháp khả thi bao gồm:

- Các thỏa thuận song phương hoặc đa phương giữa các hệ thống.

- Tạo một cơ sở hạ tầng chung (ví dụ: trung tâm kết nối) để hỗ trợ thanh toán cho cá nhân liên hệ thống và phát triển danh mục dùng chung được chia sẻ giữa các hệ thống và có chức năng tương tự như thiết kế trong 7.4. Danh mục này có thể được triển khai như một liên kết giữa các danh mục chung hiện có và có thể truy cập thông qua một giao thức chung.

- Trung tâm kết nối có thể cung cấp các cấp độ dịch vụ khác nhau tùy thuộc vào mức đầu tư, ví dụ:

a) Cung cấp dịch vụ chuyển đổi giao thức;

b) Yêu cầu triển khai giao thức cụ thể được hỗ trợ cho các PSP;

c) Cung cấp giao diện chương trình ứng dụng để dịch vụ được vận hành (ví dụ: truy cập danh mục chung).

CHÚ THÍCH: Các phiên bản tương lai của tiêu chuẩn này có thể cung cấp các giải pháp kỹ thuật cho khả năng tương tác liên hệ thống.

Hình 1 - Mô hình tương tác cho tình huống 2

Hình 1 mô tả các giao diện cần thiết để truyền hướng dẫn thanh toán giữa các bên liên quan khác nhau. Đối với tình huống 2, việc định tuyến hướng dẫn thanh toán yêu cầu cả hai hệ thống phải triển khai một giao diện để MFSP của mỗi hệ thống có thể truy cập vào cơ sở hạ tầng chung.

7.4 Mô hình tương tác để hỗ trợ thanh toán

7.4.1 Tổng quan

Mối quan tâm đầu tiên của chương trình thanh toán di động cho cá nhân là hỗ trợ việc khởi tạo thanh toán bằng cách sử dụng một định danh (ví dụ: bí danh) của người nhận để giúp người trả tiền dễ dàng thao tác, nhưng vẫn đủ để truy xuất thông tin định tuyến đến người nhận.

Tiêu chuẩn này đề xuất hai mô hình tương tác nhằm hỗ trợ thanh toán đến cá nhân:

- Mô hình tương tác trực tiếp, trong đó người trả tiền cung cấp cho MFSP của mình thông tin cần thiết để định tuyến hướng dẫn thanh toán đến MFSP của người nhận. Mô hình này dựa trên cơ sở hạ tầng hiện có và cung cấp khả năng tương tác trực tiếp giữa người trả tiền và người nhận (xem 7.4.2).

- Mô hình cơ sở hạ tầng chung, trong đó mỗi nhà cung cấp dịch vụ tài chính di động tham gia sẽ triển khai truy cập vào một cơ sở hạ tầng chung (Cl). Nhà cung cấp dịch vụ tài chính di động của người trả tiền gửi yêu cầu đến cơ sở hạ tầng chung bằng cách sử dụng định danh của người nhận (ví dụ: bí danh) và nhận lại thông tin định tuyến cần thiết cho giao dịch thanh toán (ví dụ: số tài khoản người nhận thông qua số tài khoản ngân hàng quốc tế/mã định danh doanh nghiệp cho chuyển khoản tín dụng/ giao dịch chuyển tiền điện tử). Mô hình này được mô tả trong 7.4.3.

CHÚ THÍCH: Hiện có nhiều phiên bản của mô hình cơ sở hạ tầng chung.

7.4.2 Mô hình tương tác trực tiếp

Mô hình tương tác trực tiếp phụ thuộc vào khả năng của người trả tiền hoặc người nhận trong việc chuyển tiếp tất cả thông tin thanh toán liên quan (như mã định danh doanh nghiệp, số tài khoản ngân hàng quốc tế, số tài khoản chính, tên, địa chỉ, v.v.) cho MFSP của mình. Thông tin về giao dịch thanh toán sẽ được người trả tiền cung cấp trực tiếp cho MFSP của họ. Việc triển khai mô hình tương tác trực tiếp như vậy trong hệ thống thanh toán di động cho cá nhân có nghĩa là MFSP của người trả tiền không cần chọn thông tin bổ sung để tạo hướng dẫn thanh toán chung

Theo cách này, giao dịch thanh toán di động cho cá nhân có thể được thực hiện theo bốn bước:

- Khởi tạo thanh toán bởi người trả tiền, bao gồm cả thông tin về người nhận;

- Tạo lệnh thanh toán bởi nhà cung cấp dịch vụ tài chính di động của người trả tiền;

- Ghi nợ tài khoản của người trả tiền và ghi có tài khoản của người nhận;

- Thông báo cho người nhận về việc tiền đã sẵn sàng sử dụng.

7.4.3 Cơ sở hạ tầng chung

Trong mô hình này, khả năng tương tác sẽ đạt được thông qua việc sử dụng một cơ sở hạ tầng chung tập trung, có thể có nhiều hình thức và mục đích khác nhau, và thậm chí có thể được triển khai theo mô hình phân tán. Mục đích chính của cơ sở hạ tầng này là đóng vai trò như một dịch vụ định tuyến hoặc danh mục thông tin, như mô tả trong Hình 2. Cơ sở hạ tầng tập trung này cũng có thể cung cấp nhiều dịch vụ giá trị gia tăng khác (ví dụ như dịch vụ giao nhận), tuy nhiên các dịch vụ đó không nằm trong phạm vi của TCVN 14488 (ISO 12812).

Hình 2 - Mô hình cơ sở hạ tầng chung

Hình 2 bổ sung một bước trước khi nhà cung cấp dịch vụ tài chính di động của người trả tiền tạo lệnh thanh toán. Thông tin cần thiết cho giao dịch sẽ được nhà cung cấp dịch vụ tài chính di động của người trả tiền truy xuất từ máy chủ trung tâm, dựa trên bí danh của người nhận do người trả tiền cung cấp cho MFSP.

Mô hình tương tác thông qua cơ sở hạ tầng chung cho thấy 2 ưu điểm so với mô hình tương tác trực tiếp:

- Tránh gây bất tiện cho người trả tiền khi phải lấy thông tin tài khoản của người nhận.

- Tránh việc người nhận phải tiết lộ thông tin tài khoản cá nhân của mình cho người trả tiền.

Mô hình này dựa vào việc người dùng đã đăng ký tin tưởng vào danh mục thông tin. Đặc biệt, việc quản lý danh mục Cl phải tuân thủ các yêu cầu bảo vệ dữ liệu được nêu trong 6.3, TCVN 14488- 2:2025 (ISO 12812-2:2017).

8 Mô hình triển khai

8.1 Tổng quan

Một chương trình thanh toán di động cho cá nhân đề cập đến một thỏa thuận chính thức giữa các MFSP hoặc là thành viên của cùng một hệ thống, hoặc có quyền truy cập vào các hệ thống thanh toán theo các quy tắc quản trị chung cho việc xử lý, quyết toán và/hoặc thanh toán các giao dịch thanh toán di động cho cá nhân.

Có rất nhiều chương trình thanh toán di động trên thị trường hiện nay có điểm chung là sử dụng thiết bị di động để khởi tạo giao dịch thanh toán từ người trả tiền đến người nhận, bất kể người trả tiền và người nhận có đang ở cùng một vị trí địa lý hay không.

Sự đa dạng của các mô hình cung cấp dịch vụ thanh toán di động cho cá nhân có thể được xem là kết quả của ba xu hướng thị trường khác nhau:

- Sự xuất hiện của các công nghệ mới giúp nâng cao khả năng giao tiếp của cá nhân;

- Nhu cầu về các phương pháp cho phép người dùng kiểm soát tốt hơn số dư tài khoản của họ (bao gồm tài khoản ngân hàng và phi ngân hàng);

- Tính mở của thị trường thanh toán di động đối với các bên tham gia mới.

Theo một cách nhất quán với các phần khác của tiêu chuẩn này, điều khoản này sử dụng thuật ngữ MFSP để chỉ chủ thể liên quan trực tiếp đến người trả tiền hoặc người nhận. Tuy nhiên, trong thực tế, thông tin trao đổi giữa các bên tham gia vào chương trình thanh toán di động cho cá nhân sẽ phụ thuộc vào bản chất của từng MFSP (ví dụ: MFSP có phải là tổ chức tài chính hay không). Do đó, khi được yêu cầu bởi một tình huống cụ thể thanh toán di động cho cá nhân, bản chất của MFSP cần được chỉ định rõ.

Tiêu chuẩn này đề xuất một kiến trúc cấp cao để cung cấp dịch vụ thanh toán di động cho cá nhân thông qua ba lớp chức năng.

8.2 Kiến trúc cấp cao và công nghệ mạng

8.2.1 Lớp 1: Cơ sở hạ tầng dùng để truyền tải thông điệp khởi tạo và ủy quyền thanh toán

Lớp 1 đề cập đến mạng truyền dẫn cần thiết cho người dùng trong hệ thống thanh toán di động cho cá nhân — bao gồm hệ thống, người trả tiền và người nhận để thỏa thuận, khởi tạo và xác nhận giao dịch thanh toán bằng thiết bị di động. Ví dụ: người dùng mạng di động 3G+ hoặc 4G có các chức năng kết nối được đặc trưng bởi:

- Thiết lập kết nối dữ liệu tương đối nhanh chóng;

- Tốc độ truyền dữ liệu tương đối cao, phụ thuộc vào triển khai kỹ thuật, chất lượng dịch vụ (QoS) khả dụng và khả năng truy cập mạng (hoặc chế độ dự phòng);

- Khả năng duy trì kết nối liên tục mà không cần thiết lập lại kết nối;

- Khả năng sử dụng đồng thời thoại và dữ liệu;

- Tốc độ nhanh và tải xuống ổn định cho các ứng dụng và dịch vụ thanh toán di động cho cá nhân.

Tùy thuộc vào công nghệ thiết bị di động và hợp đồng giữa người trả tiền và nhà cung cấp dịch vụ tài chính di động, Lớp 1 có thể được triển khai qua các nhà mạng khác nhau.

Dù sử dụng công nghệ truyền thông nào (ví dụ: không dây, Internet), việc truyền thông giữa các bên đến một giao dịch thanh toán từ xa là rất quan trọng. Người nhận cũng cần được thông báo rằng họ đã có thể truy cập khoản tiền được chuyển đến. Các yêu cầu về việc thông báo này đã được nêu trong 6.4.

8.2.2 Lớp 2: Cơ sở hạ tầng chung dùng để hỗ trợ thanh toán

Thành phần hỗ trợ thanh toán nhằm mục đích:

- Xác định công cụ thanh toán được sử dụng bởi hai bên. Có thể có nhiều mô hình khác nhau. Hai bên có thể tự nguyện chia sẻ thông tin về công cụ thanh toán (ví dụ: tham chiếu tài khoản) với nhau; hoặc có thể dựa vào một hình thức liên kết (thông qua cơ sở hạ tầng chung được chia sẻ) giữa các định danh di động và công cụ thanh toán thuộc về các MFSP tham gia xử lý giao dịch;

- Thiết lập một cách rõ ràng các định danh cần thiết để định tuyến giao dịch thanh toán di động đến người nhận được chỉ định bởi người trả tiền;

- Thiết lập thứ tự lệnh thanh toán tương ứng do MFSP của người trả tiền tạo ra.

8.2.3 Lớp 3: Chuyển giá trị và di chuyển quỹ

Việc chuyển giá trị thực tế hoặc di chuyển quỹ sẽ được thực hiện bằng cách sử dụng các công cụ thanh toán hiện có.

Cả hai MFSP của người trả tiền và người nhận tiền đều được giả định là có quyền truy cập vào hệ thống bù trừ và quyết toán (CSM), có thể là trực tiếp hoặc gián tiếp (thông qua ngân hàng có quyền truy cập trực tiếp vào hệ thống bù trừ và quyết toán). Các chức năng mà hệ thống bù trừ và quyết toán hỗ trợ có thể bao gồm:

- Nhận giao dịch bù trừ từ MFSP của người trả tiền, dù là trực tiếp hoặc gián tiếp;

- Thực hiện bù trừ và chuyển tiếp giao dịch cho MFSP của người nhận tiền, đảm bảo rằng mọi dữ liệu giao dịch của MFSP của người trả tiền được truyền tải đầy đủ và không bị thay đổi;

- Xử lý ngoại lệ (ví dụ: hoàn trả, từ chối, thu hồi);

- Sắp xếp để việc quyết toán có thể đạt được giữa các nhà cung cấp dịch vụ tài chính di động;

- Cung cấp các thủ tục quản lý rủi ro và các dịch vụ liên quan khác.

CHÚ THÍCH: Thuật ngữ CSM không nhất thiết chỉ một thực thể (ví dụ: có thể việc bù trừ và việc quyết toán do hai thực thể khác nhau thực hiện).

8.3 Phân loại thanh toán di động cho cá nhân

8.3.1 Tổng quan

Các nguyên tắc chi phối việc phân loại này bao gồm:

- Việc phân loại thanh toán di động cho cá nhân không mang tính đầy đủ, toàn diện;

- Trong tiêu chuẩn này, thanh toán di động cho cá nhân chủ yếu sử dụng ba loại công cụ thanh toán hiện có: chuyển khoản, thẻ tín dụng và tiền điện tử. Do đó, có thể sử dụng các hệ thống thanh toán hiện hành để xử lý loại hình thanh toán này;

- Dòng xử lý giao dịch chính xác đối với từng công cụ thanh toán có thể thay đổi theo khu vực địa lý, nhưng chúng chia sẻ một tập hợp thông điệp chung nhằm cung cấp chức năng cốt lõi;

- Thanh toán di động cho cá nhân có thể diễn ra trong môi trường gần (giao tiếp vật lý, ví dụ: thiết bị di động sử dụng công nghệ không tiếp xúc như NFC) hoặc từ xa;

- Một MFSP nhất định có thể cung cấp nhiều dịch vụ thanh toán di động đến cá nhân, khác nhau về các yếu tố như; (1) thời điểm thanh toán, (2) quyền kiểm soát của người trả tiền đối với khoản ghi nợ trên tài khoản của mình (3) một thực tế rằng số tiền cần được chuyển có được MFSP nắm giữ hay không, (4) chính sách bảo mật;

- Trường hợp chuyển tiền di động đã được xử lý như một phân loại riêng biệt trong (8.4) bởi vì tính đặc thù trong quy trình thanh toán. Dịch vụ này thường liên quan đến các đại lý trung gian - điều không thấy trong các loại thanh toán di động cho cá nhân khác.

8.3.2 Thanh toán chuyển khoản tín dụng qua di động

người trả tiền sử dụng thiết bị di động của mình để khởi tạo một giao dịch chuyển khoản tín dụng đến tài khoản của người nhận. Mô hình này còn được gọi là quá trình “đẩy”. Sau khi giao dịch chuyển khoản tín dụng được cho phép, tài khoản của người trả tiền sẽ bị ghi nợ ngay lập tức và tài khoản của người nhận sẽ được ghi có, do đó có quyền truy cập vào khoản tiền đã chuyển. Các tài khoản này có thể là tài khoản ngân hàng hoặc tài khoản thanh toán do một MFSP nắm giữ, không nhất thiết phải là một tổ chức tài chính. Việc chuyển tiền giữa các tài khoản ngân hàng của các MFSP thường được xử lý sau.

8.3.3 Thanh toán bằng thẻ qua di động

Khách hàng sử dụng thiết bị di động của mình để khởi tạo giao dịch thanh toán bằng thẻ tới tài khoản thẻ của người khác và giao dịch này được truyền qua mạng thẻ. Các phương thức xử lý cụ thể có thể phụ thuộc vào loại thẻ (ghi nợ, tín dụng, trả trước) được sử dụng để tài trợ cho khoản thanh toán. Tùy thuộc vào mô hình kinh doanh liên quan, người trả tiền phải cung cấp thông tin thẻ để thực hiện giao dịch hoặc thông tin thẻ của người trả tiền đã được đăng ký trước với MFSP.

Trong một số triển khai thanh toán bằng thẻ di động, dữ liệu giao dịch nhạy cảm thực tế (ví dụ: PAN - số thẻ chính) được thay thế bằng mã hóa token, một đại diện tạm thời có thể có cùng cấu trúc dữ liệu như dữ liệu gốc. Các mã hóa token cũng đóng vai trò là một cơ chế để xử lý việc lưu trữ dữ liệu nhạy cảm sau khi giao dịch được ủy quyền. Mã hóa Token cũng có thể được sử dụng cho các khoản thanh toán giữa người với người qua di động.

8.3.4 Chuyển tiền điện tử

Khoản tiền điện tử cần được gửi có thể là:

- Được lưu trữ cục bộ trên thiết bị di động của người trả tiền; hoặc

- Được lưu trữ trong tài khoản trả trước do MFSP nắm giữ. Việc phát hành và vận hành tiền điện tử có thể được thực hiện bởi các tổ chức cụ thể có thể chịu sự điều chỉnh của các quy định pháp lý đặc thù.

8.4 Chuyển tiền kiều hối qua di động

Một tình huống cụ thể của chuyển tiền từ xa qua di động, thường là xuyên biên giới và tái diễn, là khi người trả tiền là lao động di cư. Không giống như chuyển tiền trong nước, chuyển tiền xuyên biên giới thường liên quan đến quá trình chuyển đổi tiền tệ được thực hiện bằng cách chuyển tiền mặt hoặc tiền điện tử giữa các tài khoản của người trả tiền và người nhận, vấn đề chuyển đổi (ví dụ: chuyển tiền này có nhiều rủi ro do mất giá và khả năng chuyển đổi tiền tệ) có nghĩa là các rủi ro cụ thể được liên kết với hình thức chuyển tiền này.

Dòng tiền từ những người sống ở hai quốc gia khác nhau ảnh hưởng đến dịch vụ tài chính di động ở cả hai quốc gia. Tầm quan trọng của chuyển tiền, và những khó khăn liên quan, đã ngày càng được công nhận trong những năm gần đây. Truyền thống, các dịch vụ chuyển tiền đã được cung cấp bởi các MFSP cụ thể hình thành nên một thị trường độc lập với các mạng lưới thanh toán truyền thống; tuy nhiên, các mô hình kinh doanh bổ sung đã được xác định trong những năm gần đây liên quan đến việc sử dụng các công cụ tài chính mới.

Có một số lý do khiến chuyển tiền qua di động đóng vai trò đáng kể, cũng như cung cấp các tính năng quan trọng trong việc sử dụng chúng:

- Thị trường chuyển tiền toàn cầu có quy mô toàn cầu;

- Khối lượng chuyển tiền lớn về tổng thể;

- Đây là nguồn tài trợ bên ngoài lớn nhất ở nhiều quốc gia đang phát triển;

- Có tính chất chu kỳ ngược và phù hợp với nhiều kiểu sử dụng khác nhau. Chúng phù hợp hơn với nhu cầu của từng cá nhân so với viện trợ chính thức hoặc đầu tư trực tiếp nước ngoài;

- Các trường hợp kinh doanh cá nhân có thể cung cấp dịch vụ hữu ích cho sự phát triển của các nền kinh tế mới nổi;

- Cơ hội thị trường cho các nhà cung cấp dịch vụ tài chính di động đang gia tăng khi các dòng tiền chuyển từ kênh phi chính thức sang chính thức, và về lâu dài, di cư quốc tế, thương mại và dòng đầu tư cũng có khả năng gia tăng.

- Ngoài việc cung cấp dịch vụ chuyển tiền cho những người không có hoặc ít được tiếp cận với ngân hàng ở quy mô quốc tế hoặc trong nước, các nhà cung cấp dịch vụ tài chính di động cũng có thể cung cấp dịch vụ chuyển tiền cho các giao dịch mang tính chất không chính thức (ví dụ: thanh toán cho cá nhân quen biết nhau hoặc cho các dịch vụ thông thường);

- Việc cung cấp dịch vụ chuyển tiền có thể thu hút khách hàng mới cho các dịch vụ khác (ví dụ: gửi tiền, cho vay và sản phẩm bảo hiểm). Đồng thời, quá trình này có thể khuyến khích chuyển tiền từ tài khoản đến tài khoản thay vì từ tiền mặt sang tiền mặt. Quá trình này có thể khuyến khích tiết kiệm của khách hàng;

- Cần có sự minh bạch trong việc công bố trước tất cả các khoản phí cho khách hàng, bao gồm cả các khoản phí biến đổi trong chuỗi giao dịch, như tỷ giá hối đoái tại cả hai đầu giao dịch. Để biết thêm thông tin, xem Phụ lục A.

8.5 Mô tả tổng quát về các trường hợp sử dụng quan trọng

8.5.1 Tổng quan

Phần này cung cấp một số thông tin chung về quy trình giao dịch cho một số trường hợp sử dụng quan trọng đối với thanh toán di động cho cá nhân. Mặc dù những trường hợp sử dụng này được lấy căn cứ từ các quy định khu vực (ví dụ: được công bố bởi Hội đồng Thanh toán Châu Âu - EPC), chúng mang tính chất khái quát và có thể đại diện cho các phương thức thanh toán tương tự ở các khu vực khác trên thế giới. Phần này bao gồm hai loại công cụ thanh toán được sử dụng cho thanh toán di động cho cá nhân: thẻ và chuyển khoản tín dụng. Những người triển khai có thể tham khảo ví dụ cụ thể về cách những trường hợp sử dụng này đã được áp dụng trong bối cảnh EPC/SEPA, bằng cách tham khảo tài liệu trong EPC Document EPC 492.09 phiên bản 4.0.

Một mô tả chi tiết đầy đủ hơn, bao gồm yêu cầu và khuyến nghị, được trình bày tại Điều 9.

8.5.2 Thanh toán di động qua thẻ cho cá nhân

Hình 3 minh họa ví dụ về trải nghiệm người dùng đối với thanh toán di động cho cá nhân, được khởi tạo bởi một thiết bị di động nơi mà khách hàng (người trả tiền), muốn thực hiện một khoản thanh toán cá nhân đến một khách hàng thứ hai (người nhận tiền) sử dụng thiết bị di động và thẻ của mình.

Trong trường hợp này, sự khác biệt chính giữa thanh toán này và thanh toán thẻ thông thường là giao dịch được khởi tạo bởi người trả tiền, thay vì người nhận tiền. Thanh toán được xử lý qua các mạng thẻ và được ghi nợ vào tài khoản thanh toán của người trả tiền phù hợp với các điều khoản đã thỏa thuận giữa khách hàng và tổ chức phát hành thẻ. Người nhận tiền sẽ thường (nhưng không nhất thiết) được nhận diện bằng thông tin thẻ của họ và các quy trình thanh toán sẽ được áp dụng dưới nền tảng tài khoản thanh toán. Tùy theo quy tắc chương trình thẻ, có thể sử dụng bí danh (ví dụ: số điện thoại di động) và cũng có thể có các tùy chọn khác để xác định và thanh toán cho người nhận (ví dụ: tài khoản thanh toán).

Một điều kiện tiên quyết trong tình huống này là người trả tiền đã đăng ký với một hệ thống thẻ thanh toán cho cá nhân với nhà phát hành thẻ của mình (có thể, nhưng không nhất thiết, cụ thể cho thiết bị di động). Nhiều chương trình đã cung cấp dịch vụ riêng nhưng cần có khả năng tương tác mở để được chấp nhận rộng rãi.

Hình 3, minh họa các bước sau:

a) Người trả tiền quyết định số tiền cần thanh toán.

b) Người trả tiền chọn ứng dụng thanh toán di động cho cá nhân qua thẻ của mình.

c) Truy xuất dữ liệu thanh toán:

1) Người trả tiền nhập số tiền.

2) Người trả tiền nhập mã định danh của người nhận tiền (i) thủ công, hoặc (ii) trong chế độ tiếp xúc gần thì mã này có thể được truy xuất tự động bằng cách sử dụng công nghệ không tiếp xúc hoặc các giao diện cục bộ khác, hoặc (iii) mã định danh có thể được lưu trong thiết bị di động hoặc trong ví di động.

3) Người trả tiền xác nhận số thẻ sẽ được sử dụng.

d) Người trả tiền xác định thông tin định danh của người nhận dựa trên mã định danh duy nhất của người nhận.

e) Người trả tiền gửi khoản thanh toán đến MFSP của người nhận tiền.

f) Người nhận tiền sau đó chuyển khoản thanh toán vào tài khoản thanh toán thực tế của mình (có thể có hoặc không có thông báo đi kèm).

Một biến thể hoặc phần mở rộng của trường hợp sử dụng này có thể bao gồm khả năng gửi các khoản thanh toán "khẩn cấp" hoặc "nhanh", và hỗ trợ các tình huống sau:

- Người nhận tiền cần sử dụng tiền gấp trong trường hợp khẩn cấp.

- Người nhận tiền cần sự chắc chắn về việc nhận tiền để có thể tiến hành giao dịch tiếp theo (ví dụ: bán hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ giữa các cá nhân không có mối quan hệ chính thức).

Hình 3 - Tình huống thanh toán bằng thẻ (trong trường hợp khẩn cấp)

Bảng 1 - Thanh toán di động cho cá nhân bằng thẻ

Thanh toán cho cá nhân bằng thẻ

Loại/ hạng

Chủ yếu là các khoản thanh toán cho cá nhân và một số trường hợp thanh toán trong môi trường kinh doanh bình thường (ví dụ: doanh nghiệp nhỏ hoặc cá nhân kinh doanh tự do). Luồng thông tin như trong Hình 3.

Dạng truyền dữ liệu

Từ xa

Công cụ thanh toán

Thẻ thanh toán

Điều kiện tiên quyết

- Người nhận có thể được xác định bằng một mã định danh duy nhất, thường là (nhưng không nhất thiết) một thẻ thanh toán.

- MFSP của người nhận tiền hoặc người nhận tiền đã đăng ký thông tin định danh tài khoản của mình trong một cơ sở hạ tầng chung (ví dụ: thư mục định tuyến).

- Người trả tiền có thẻ thanh toán và đã đăng ký với chương trình thanh toán bằng thẻ cho cá nhân do MFSP (tổ chức phát hành thẻ) cung cấp.

Người khởi tạo thanh toán

Người trả tiền: Bước 1 đến 3

Thanh toán được hỗ trợ bởi

MFSP của người trả tiền và người nhận tiền: Bước 4 đến 5 và bước 7 đến 10. Tổ chức phát hành thẻ: Bước 6. Xác nhận thanh toán tùy chọn được xác định bởi MFSP của người nhận tiền đến MFSP của người trả tiền: Bước 9 đến 10.

Hoàn tất thanh toán

Xem 9.5

8.5.3 Thanh toán cho cá nhân qua chuyển khoản bằng ghi có

8.5.3.1 Tổng quan

Trong toàn bộ điều này, thuật ngữ “chuyển khoản bằng ghi có” được hiểu là bất kỳ giao dịch nào như SEPA Credit Transfer, ACH. Có ba hình thức chuyển khoản tín dụng được phân biệt: "cốt lõi" (core) (8.5.3.2), "khẩn cấp" (urgent) (8.5.3.3) và "bí danh" (alias) (8.5.3.4). Việc sắp đặt các hình thức chuyển khoản tín dụng này thành các luồng giao dịch chi tiết dẫn đến việc hoàn tất thanh toán vào tài khoản của người nhận tiền được mô tả tại Điều 9.

8.5.3.2 Chuyển khoản bằng ghi có - Cốt lõi

Hình 4 minh họa một ví dụ cơ bản về trải nghiệm người dùng khi thanh toán được khởi tạo bằng thiết bị di động, trong đó một khách hàng (người trả tiền) thực hiện thanh toán từ tài khoản thanh toán của mình đến tài khoản thanh toán của một khách hàng khác (người nhận tiền). Người trả tiền và người nhận tiền có thể, và thường là, khách hàng của các MFSP khác nhau (mô hình bốn bên).

Trường hợp sử dụng này không giả định rằng người trả tiền và người nhận tiền có mối quan hệ tin cậy trước đó. Cả người trả tiền và người nhận tiền sẽ nhận được mức độ dịch vụ từ cùng một MFSP. Trong một số hoàn cảnh, trường hợp người sử dụng áp dụng thanh toán cho cá nhân khi các doanh nghiệp nhỏ có liên quan nhau hoặc khi các cá nhân có mối quan hệ làm việc không chính thức (ví dụ: trả công cho người giữ trẻ, thợ sửa chữa). Hình 4 minh họa các bước sau:

a) Người nhận tiền cung cấp tất cả thông tin tài khoản cần thiết cho người trả tiền; trong chế độ tiếp xúc gần, thông tin này có thể được truy xuất tự động thông qua thiết bị không tiếp xúc hoặc các giao diện cục bộ khác;

b) Người trả tiền cung cấp toàn bộ thông tin tài khoản của người nhận tiền cho MFSP của mình thông qua thiết bị di động. Thông tin này có thể được người trả tiền nhập đầy đủ hoặc truy cập thông qua người nhận tiền đã đăng ký trước, thường bằng ứng dụng cụ thể hoặc trình duyệt di động;

c) Người trả tiền sau khi được xác thực bởi MFSP của mình, ủy quyền lệnh thanh toán tuân thủ các yêu cầu bảo mật do MFSP đó quy định;

d) MFSP của người trả tiền sau đó xử lý và gửi lệnh chuyển khoản tín dụng đến MFSP của người nhận tiền, nơi khoản thanh toán được ghi có cho người nhận tiền;

e) Tùy chọn MFSP của người nhận tiền gửi tin nhắn xác nhận thanh toán đến MFSP của người trả tiền. Thông tin này được thể hiện bằng dấu ngoặc trong Hình 4.

CHÚ THÍCH: Trong một số triển khai, việc xác nhận thanh toán ngay lập tức cho người trả tiền có thể không khả thi.

Hình 4 - Thanh toán di động cho cá nhân qua chuyển khoản ghi có

Bảng 2 - Thanh toán di động cho cá nhân qua chuyển khoản ghi có - cốt lõi

Thanh toán cho cá nhân bằng chuyển khoản ghi có - cốt lõi

Loại/ hạng

Thanh toán cho cá nhân

CHÚ THÍCH: Phương thức thanh toán này có thể áp dụng như luồng thông tin trong Hình 4

Dạng truyền dữ liệu

Từ xa

Công cụ thanh toán

Chuyển khoản tín dụng

Điều kiện tiên quyết

Người trả tiền đã đăng ký dịch vụ thanh toán từ xa qua dịch vụ di động

Người khởi tạo thanh toán

Người trả tiền: Bước 1, 3 đến 4. Người nhận tiền: Bước 2

Thanh toán được hỗ trợ bởi

MFSP của người trả tiền và người nhận tiền: Bước 5. Xác nhận thanh toán tùy chọn được xác định bởi MFSP của người nhận tiền: Bước 6 đến 7. Để biết chi tiết, tham khảo Điều 9. Luồng dữ liệu chi tiết có thể phụ thuộc vào mô hình theo hệ thống (lấy ngân hàng làm trung tâm hoặc không)

Hoàn tất thanh toán

Xem 9.3 và 9.4

8.5.3.3 Chuyển khoản bằng ghi có - Khẩn cấp

Phần này ghi nhận một biến thể của chuyển khoản ghi có có thể được thực hiện theo chế độ “khẩn cấp”:

a) Người nhận tiền cung cấp tất cả thông tin tài khoản cần thiết cho người trả tiền.

b) Người trả tiền cung cấp toàn bộ thông tin tài khoản của người nhận tiền cho MFSP của mình qua thiết bị di động. Thông tin này có thể được nhập đầy đủ bởi người trả tiền hoặc thông qua người nhận tiền đã đăng ký trước. Điều này thường được thực hiện qua ứng dụng cụ thể hoặc trình duyệt di động.

c) Người trả tiền, sau khi được xác thực bởi MFSP của mình, sẽ ủy quyền lệnh chuyển khoản ghi có theo các yêu cầu bảo mật được nhà cung cấp dịch vụ tài chính di động đặt ra.

d) Nhà cung cấp dịch vụ tài chính di động của người trả tiền sau đó xử lý và gửi khoản thanh toán khẩn cấp đến nhà cung cấp dịch vụ tài chính di động của người nhận, nơi sẽ ghi có khoản tiền cho người nhận.

e) Người nhận tiền có thể xác nhận với MFSP của mình (gần như ngay lập tức) rằng khoản thanh toán đã được nhận (ví dụ: qua thông báo di động) và có thể truy cập vào khoản tiền đó.

f) Tùy chọn MFSP của người nhận tiền gửi thông báo xác nhận thanh toán đến MFSP của người trả tiền. Việc này được biểu thị bằng tin nhắn trong dấu ngoặc trong Hình 5.

 

Hình 5 - Thanh toán cho cá nhân khẩn cấp qua chuyển khoản ghi có

Bảng 3 - Thanh toán cho cá nhân khẩn cấp qua chuyển khoản ghi có

Thanh toán cho cá nhân bằng chuyển khoản ghi có

Loại/ hạng

Thanh toán cho cá nhân, cũng áp dụng cho thanh toán doanh nghiệp nhỏ

Dạng truyền dữ liệu

Từ xa

Công cụ thanh toán

Chuyển khoản ghi có

Điều kiện tiên quyết

Thiết lập một hệ thống chuyển khoản ghi có khẩn cấp

Người khởi tạo thanh toán

Người trả tiền: Bước 1, 3 đến 4. Người nhận: Bước 2

Thanh toán được hỗ trợ bởi

MFSP của người trả tiền và người nhận tiền: Bước 5 đến 6. Xác nhận thanh toán tùy chọn được xác định bởi MFSP của người nhận tiền: Bước 7 đến 8. Để biết chi tiết, tham khảo Điều 9. Luồng dữ liệu chi tiết có thể phụ thuộc vào mô hình theo hệ thống (lấy ngân hàng làm trung tâm hoặc không)

Hoàn tất thanh toán

Xem Điều 9.3 và 9.4

8.5.3.4 Chuyển khoản ghi có - Bí danh (Alias)

Một tình huống thứ ba cho thanh toán cho cá nhân bằng chuyển khoản ghi có giữa các cá nhân sử dụng bí danh của người nhận tiền (ví dụ: số điện thoại di động), giúp việc nhập thông tin người nhận tiền trở nên thuận tiện hơn đáng kể cho người trả tiền.

Giả định rằng:

- Người nhận tiền đã có thông tin định danh được đăng ký gắn với bí danh của mình;

- MFSP của người trả tiền sẽ hỗ trợ việc sử dụng bí danh trong hướng dẫn thanh toán trên thiết bị di động của người trả tiền;

- MFSP của người trả tiền có thể nhận diện được MFSP của người nhận tiền và truy xuất thông tin tài khoản thanh toán thông qua hạ tầng chung từ bí danh của người nhận tiền.

Trong Hình 6, các bước sau được minh họa:

a) Người nhận tiền cung cấp thông tin định danh của mình cho người trả tiền, sử dụng một bí danh (alias).

b) Người trả tiền cung cấp các thông tin cần thiết (số tiền, bí danh của người nhận tiền, v.v.) cho MFSP của mình thông qua thiết bị di động. Việc này được thực hiện bằng cách sử dụng một ứng dụng di động cụ thể hoặc trình duyệt di động.

c) Người trả tiền, sau khi được MFSP xác thực, sẽ ủy quyền lệnh chuyển khoản tín dụng theo các yêu cầu bảo mật được nhà cung cấp dịch vụ tài chính di động quy định.

d) MFSP của người trả tiền thiết lập thông tin định danh của người nhận tiền và xác định MFSP của người nhận tiền thông qua bí danh bằng một hạ tầng chung.

e) MFSP của người trả tiền gửi lệnh chuyển khoản đến MFSP của người nhận để ghi có vào tài khoản của người nhận tiền.

CHÚ THÍCH: Trong một số trường hợp triển khai, việc xác nhân thanh toán ngay lập tức cho người trả tiền có thể không khả thi

Hình 6 - Chuyển khoản tín dụng cho cá nhân sử dụng bí danh

Bảng 4 - Thanh toán di động cho cá nhân qua chuyển khoản ghi có - sử dụng bí danh

Thanh toán cho cá nhân bằng chuyển khoản ghi có

Loại/ hạng

Thanh toán cho cá nhân

Dạng truyền dữ liệu

Từ xa

Công cụ thanh toán

Chuyển khoản ghi có

Điều kiện tiên quyết

- Người nhận tiền hoặc MFSP của người nhận tiền đã đăng ký thông tin định danh trong một hạ tầng chung.

- MFSP của người trả tiền có quyền truy cập vào hạ tầng thư mục chung.

- MFSP của người trả tiền cung cấp dịch vụ thanh toán qua di động sử dụng bí danh.

Người khởi tạo thanh toán

Người trả tiền: Bước 1, 3 đến 4. Người nhận tiền: Bước 2

Thanh toán được hỗ trợ bởi

MFSP của người nhận tiền và người trả tiền: Bước 5 đến 8. Xác nhận thanh toán tùy chọn được xác định bởi MFSP của người nhận tiền: Bước 7 đến 8. Để biết chi tiết, tham khảo Điều 9. Luồng dữ liệu chi tiết có thể phụ thuộc vào mô hình theo hệ thống (lấy ngân hàng làm trung tâm hoặc không)

Hoàn tất thanh toán

Xem 9.3 và 9.4

9 Luồng giao dịch thanh toán cho cá nhân

9.1 Tổng quan

Điều 7 mô tả hai chế độ tương tác mức cao. Điều 8 cung cấp một số trường hợp sử dụng thanh toán di động cho cá nhân bằng chuyển khoản ghi có (bao gồm cả mô hình dựa trên ngân hàng và hạ tầng chung), cũng như bằng thẻ như là công cụ thanh toán và mô tả các thông điệp cơ bản được trao đổi. Tuy nhiên, tùy thuộc vào bản chất của MFSP, một giao dịch được tạo ra với cùng một công cụ thanh toán (ví dụ: chuyển khoản tín dụng) có thể được xử lý theo cách hơi khác nhau. Điều này nhằm cung cấp các giải pháp tiêu chuẩn cho việc xử lý thanh toán di động cho cá nhân, bằng cách thiết lập các luồng dữ liệu giao dịch cho một loạt các mô hình thanh toán. Tương tự như Điều 8, điểm khởi đầu là người trả tiền có:

- Đăng ký một công cụ thanh toán với một MFSP, có thể là ngân hàng (mô hình thanh toán cho cá nhân với ngân hàng là trung tâm) hoặc một tổ chức phi ngân hàng (mô hình thanh toán cho cá nhân với ngân hàng không phải trung tâm);

- Một dạng định danh nào đó cho tài khoản của người nhận tiền đủ để MFSP thực hiện định tuyến thanh toán, có thể với sự hỗ trợ của hạ tầng chung (ví dụ: thư mục chung);

- Số tiền sẽ được chuyển, mà có thể được thỏa thuận và xác nhận bởi người nhận tiền trước khi giao dịch được thực hiện.

Về phía người nhận tiền, họ cũng đã đăng ký với một MFSP để nhận thanh toán hợp lệ, và khoản tiền đó sẽ được chuyển đến tài khoản do người nhận tiền chỉ định, có thể là tài khoản ngân hàng hoặc tài khoản thanh toán do một tổ chức phi ngân hàng quản lý.

Đối với những bên triển khai cần ví dụ cụ thể về cách những trường hợp sử dụng này được áp dụng tại Hoa Kỳ, tham khảo tài liệu tham khảo [2].

9.2 Mô hình xử lý thanh toán di động cho cá nhân

Điều 9 phân biệt ba mô hình xử lý thanh toán di động cho cá nhân:

- Ngân hàng là trung tâm

- Ngân hàng không phải trung tâm

- Thẻ là trung tâm

Bất kể mô hình nào được sử dụng trong giao dịch thanh toán di động cho cá nhân, một giao dịch như vậy tuân thủ tiêu chuẩn này sẽ diễn ra qua ba giai đoạn:

a) Giai đoạn khởi tạo hoặc thiết lập: Công cụ thanh toán được người trả tiền chọn (ví dụ: chọn một ứng dụng trong ví di động), sau đỏ thiết bị di động thiết lập kết nối không dây với MFSP của họ để gửi lệnh thanh toán kèm theo định danh của người thụ hưởng.

b) Giai đoạn hỗ trợ thanh toán: Bao gồm xác thực, ủy quyền và (tùy chọn) chấp nhận trong quá trình lệnh thanh toán được xử lý. Gồm:

1) Cơ chế xác thực được MFSP của người trả tiền (về công cụ thanh toán, người trả tiền và dữ liệu thanh toán) triển khai như đã được mô tả trong TCVN 14488-2 (ISO 12812-2);

2) Ủy quyền thanh toán là kết quả của việc MFSP của người trả tiền kiểm tra xác nhận (i) tính sẵn có của số dư trong tài khoản của người trả tiền và (ii) sự tồn tại của tài khoản người nhận tiền, có thể thông qua một thư mục chung.

c) Giai đoạn bù trừ và quyết toán: MFSP tiến hành chuyển tiền giữa tài khoản của người trả tiền và tài khoản của người nhận tiền bằng một hoặc nhiều bước bù trừ và quyết toán.

9.3 Mô hình thanh toán cho cá nhân với ngân hàng là trung tâm

Thanh toán di động cho cá nhân theo mô hình ngân hàng là trung tâm cho phép chuyển tiền từ tài khoản ngân hàng của người trả tiền đến tài khoản ngân hàng của người nhận tiền thông qua mạng ACH. Trong các mô hình ngân hàng là trung tâm, khách hàng được ngân hàng tham gia hệ thống hỗ trợ trực tiếp. Người trả tiền khởi tạo giao dịch bằng cách đăng nhập vào trang web ngân hàng của mình hoặc ứng dụng di động ngân hàng, và chọn dịch vụ thanh toán di động cho cá nhân. Trong các phương pháp khác, người trả tiền cung cấp bí danh, địa chỉ email hoặc số điện thoại của người nhận tiền. Yêu cầu thanh toán được gửi trực tiếp từ người trả tiền đến ngân hàng của họ. Nếu số dư khả dụng, ngân hàng của người trả tiền sẽ chuyển tiếp yêu cầu thanh toán đến MFSP.

MFSP sẽ xác minh sự tồn tại của tài khoản ngân hàng người nhận tiền (ví dụ: bằng cách sử dụng hạ tầng thư mục chung) và truyền thông điệp lệnh thanh toán đến ngân hàng của người nhận tiền. Tùy chọn, việc thanh toán có thể phụ thuộc vào sự chấp thuận của người nhận tiền. Trong trường hợp đó, ngân hàng của người nhận tiền gửi thông báo xác nhận thanh toán về lại ngân hàng của người trả tiền thông qua MFSP.

Sau thời điểm đó, việc xử lý thanh toán sẽ phụ thuộc vào cách thức bù trừ và quyết toán:

- Thông qua một thanh toán chia nhỏ qua hệ thống ACH (xem 9.3.1), hoặc

- Một thanh toán ACH đơn lẻ từ người trả tiền đến người nhận tiền (xem 9.3.2).

9.3.1 Thanh toán chia nhỏ qua hệ thống ACH

9.3.1.1 Đặc điểm chính

Việc hoàn tất thanh toán diễn ra theo hai bước riêng biệt (còn gọi là “bước”):

- Trong bước đầu tiên của quá trình xử lý, MFSP yêu cầu ngân hàng của mình rút tiền từ tài khoản ngân hàng của người trả tiền thông qua một lệnh ghi nợ ACH. Thông tin tài khoản dùng để thực hiện ghi nợ này được người trả tiền cung cấp cho dịch vụ thanh toán cho cá nhân tại thời điểm đăng ký.

- Trong bước thứ hai, MFSP yêu cầu ngân hàng của mình chuyển tiền đến tài khoản của người nhận tiền thông qua một lệnh ghi có ACH:

a) Thông tin tài khoản để đẩy khoản ghi có (credit push) được cung cấp cho MFSP bởi người nhận tiền tại thời điểm đăng ký (nếu đã có tài khoản tại một ngân hàng tham gia), hoặc

b) Được lấy trực tiếp từ người nhận tiền (nếu không có tài khoản tại ngân hàng tham gia).

CHÚ THÍCH: Trong một số trường hợp, khoản ghi có ACH có thể được khởi tạo trước khi khoản ghi nợ ACH hoàn tất.

9.3.1.2 Mô tả luồng dữ liệu chi tiết

Các giả định cho tình huống này là: (1) Người trả tiền sử dụng thiết bị di động để gửi, ví dụ, 100 đơn vị đến người nhận tiền, (2) Cả ngân hàng người trả tiền và ngân hàng người nhận tiền đều tham gia chương trình thanh toán di động cho cá nhân, (3) Cả hai ngân hàng sử dụng cùng một nhà vận hành thanh toán bù trừ cho quá trình xử lý ACH.

Giai đoạn khởi tạo hoặc thiết lập:

a) Người trả tiền đăng nhập vào trang web ngân hàng hoặc kích hoạt ứng dụng ngân hàng trên thiết bị di động để gửi 100 đơn vị đến người nhận tiền bằng dịch vụ thanh toán cho cá nhân, đồng thời cung cấp địa chỉ email và/hoặc số điện thoại của người nhận tiền.

Giai đoạn hỗ trợ thanh toán: Xác thực, ủy quyền và chấp nhận

b) Ngân hàng người trả tiền kiểm tra xác nhận rằng người trả tiền có đủ tiền.

c) Ngân hàng người trả tiền truyền thông tin thanh toán đến MFSP.

d) MFSP kiểm tra địa chỉ email hoặc số điện thoại của người nhận tiền để xác minh rằng người nhận có tài khoản tại một ngân hàng tham gia (ví dụ: bằng cách sử dụng hạ tầng thư mục chung). Sau đó, MFSP truyền thông tin thanh toán đến ngân hàng người nhận tiền.

e) MFSP gửi email hoặc tin nhắn văn bản đến người nhận tiền để thông báo về khoản thanh toán.

Giao thức của các bước đó diễn ra như sau:

- Nếu khoản thanh toán không yêu cầu người nhận tiền chấp thuận để tiến hành, thì bước i) sẽ được thực hiện ngay sau bước e).

- Nếu khoản thanh toán yêu cầu sự chấp thuận từ phía người nhận tiền, thì các bước f) đến h) sẽ được áp dụng:

f) Người nhận tiền đăng nhập vào trang web ngân hàng hoặc ứng dụng ngân hàng trên thiết bị di động và được thông báo rằng có một khoản thanh toán đang chờ xử lý. Người nhận tiền đồng ý nhận thanh toán và chọn tài khoản đã đăng ký để nhận tiền.

g) Ngân hàng của người nhận tiền thông báo cho MFSP rằng người nhận tiền đã chấp thuận thanh toán và chỉ định tài khoản đã đăng ký mà người nhận muốn sử dụng để nhận tiền.

h) MFSP gửi email hoặc tin nhắn văn bản đến người trả tiền để thông báo rằng người nhận tiền đã chấp thuận khoản thanh toán.

Giai đoạn bù trừ và quyết toán: thanh toán từ người trả tiền đến MFSP

i) MFSP thông báo cho ngân hàng của mình rằng họ đã được ủy quyền để rút 100 đơn vị tiền tệ từ tài khoản của người trả tiền tại ngân hàng của người này.

j) Ngân hàng gửi tệp ACH đến nhà điều hành với lệnh ghi nợ vào tài khoản ngân hàng của người trả tiền, sử dụng thông tin tài khoản do người trả tiền cung cấp cho MFSP trong quá trình đăng ký.

k) Nhà điều hành gửi tệp ACH đến ngân hàng của người trả tiền để thực hiện ghi nợ vào tài khoản ngân hàng của người trả tiền.

l) Ngân hàng của người trả tiền ghi nợ vào tài khoản ngân hàng của người trả tiền(có thể xảy ra sớm hơn).

m) Nhà điều hành ghi nợ vào tài khoản dự trữ của ngân hàng người trả tiền và ghi có vào tài khoản dự trữ của ngân hàng MFSP trong hệ thống thanh toán.

n) Ngân hàng của MFSP ghi có vào tài khoản ngân hàng của MFSP.

Giai đoạn bù trừ và quyết toán: Thanh toán từ nhà cung cấp thanh toán đến người nhận tiền

o) MFSP thông báo cho ngân hàng của mình rằng họ đã được ủy quyền để đẩy 100 đơn vị tiền tệ đến tài khoản ngân hàng của người nhận tiền.

p) Ngân hàng MFSP ghi nợ vào tài khoản của ngân hàng MFSP.

q) Ngân hàng MFSP gửi tệp ACH đến nhà điều hành với lệnh ghi có vào tài khoản ngân hàng người nhận tiền, sử dụng thông tin tài khoản do người nhận tiền cung cấp khi đăng ký với MFSP.

r) Nhà điều hành bù trừ gửi tệp ACH đến ngân hàng của người trả tiền với lệnh ghi có vào tài khoản ngân hàng của người nhận tiền.

s) Nhà điều hành bù trừ ghi nợ vào tài khoản dự trữ của ngân hàng nhà cung cấp dịch vụ tài chính di động và ghi có vào tài khoản dự trữ của ngân hàng của người nhận.

t) Ngân hàng của người nhận tiền ghi có vào tài khoản ngân hàng của người nhận tiền (có thể xảy ra sớm hơn).

Hình 7 minh họa luồng tin nhắn thực hiện trên thiết bị di động thanh toán cho cá nhân với mô hình chia nhỏ với ngân hàng là trung tâm.

Hình 7 - Mô hình chia nhỏ với ngân hàng là trung tâm

9.3.2 Thanh toán đơn lẻ với ngân hàng là trung tâm qua mô hình liên minh hệ thống ACH

9.3.2.1 Đặc điểm chính

Trong loại hình thứ hai của thanh toán di động cho cá nhân theo mô hình tập trung vào ngân hàng, tiền được chuyển bằng một giao dịch chuyển khoản ghi có đơn lẻ từ tài khoản ngân hàng của người trả tiền đến tài khoản ngân hàng của người nhận tiền. Dịch vụ này có thể được vận hành bởi các ngân hàng riêng lẻ hoặc bởi một liên minh. Liên minh đề cập đến một chương trình dịch vụ tài chính di động đa ngân hàng nhằm cung cấp dịch vụ thanh toán cho cá nhân chỉ với một lệnh thanh toán. Ngân hàng của người nhận tiền không nhất thiết phải là thành viên của liên minh.

- Khi dịch vụ thanh toán di động cho cá nhân được vận hành bởi một ngân hàng riêng lẻ, người nhận tiền có thể nhận thanh toán bằng tài khoản của mình tại bất kỳ ngân hàng nào. Ngân hàng vận hành dịch vụ sẽ gửi email hoặc tin nhắn SMS cho người nhận tiền để thông báo về khoản thanh toán và yêu cầu người nhận tiền cung cấp thông tin tài khoản ngân hàng. Ngân hàng này sau đó sử dụng thông tin đó để gửi lệnh ghi có ACH đến ngân hàng của người nhận tiền (nếu tài khoản nằm ở một ngân hàng khác), hoặc để ghi có nội bộ nếu tài khoản người nhận tiền cũng thuộc ngân hàng của người trả tiền.

- Khi dịch vụ được xử lý thông qua một liên minh ngân hàng, người nhận tiền có tài khoản tại ngân hàng thành viên có thể truy cập trực tiếp vào trang web của ngân hàng của mình để nhận thông tin thanh toán mà không cần phải cung cấp lại thông tin tài khoản. Cụ thể, liên minh có thể sử dụng địa chỉ email hoặc số điện thoại mà người trả tiền đã cung cấp để xác định xem người nhận tiền có đăng ký dịch vụ thanh toán di động tại một ngân hàng thành viên hay không:

a) Nếu người nhận tiền đã đăng ký, liên minh sẽ chuyển thông tin thanh toán đến ngân hàng của người nhận tiền, sau đó người nhận tiền có thể truy cập vào trang web ngân hàng để chấp nhận thanh toán;

b) Nếu người nhận tiền chưa đăng ký với ngân hàng trong liên minh, người nhận tiền sẽ được yêu cầu truy cập trang web của liên minh để cung cấp thông tin tài khoản.

Việc bù trừ và quyết toán sẽ bao gồm một lệnh ghi có ACH đơn lẻ từ tài khoản của người trả tiền đến tài khoản của người nhận tiền, có thể xác định hai tình huống:

- Nếu người nhận tiền đã đăng ký với ngân hàng thành viên, người nhận tiền có thể chỉ định tài khoản nào để nhận tiền. Sau khi người nhận tiền đưa ra lựa chọn này, ngân hàng của người trả tiền sẽ gửi thông tin thanh toán đến ngân hàng của người nhận tiền thông qua liên minh. Hình 8 sẽ minh họa luồng dữ liệu chi tiết cho trường hợp này.

- Nếu người nhận tiền chưa đăng ký với một ngân hàng thành viên, họ sẽ được yêu cầu cung cấp thông tin tài khoản trên trang web của liên minh thanh toán di động, và hiệp hội này sẽ chuyển tiếp thông tin đó đến ngân hàng của người trả tiền. Trong cả hai trường hợp, ngân hàng của người trả tiền sẽ sử dụng thông tin tài khoản của người nhận tiền để gửi lệnh ghi có ACH.

9.3.2.2 Luồng giao dịch chi tiết

Các giả định cho tình huống này:

- Người trả tiền sử dụng thiết bị di động để gửi 100 đơn vị tiền tệ đến người nhận tiền;

- Cả ngân hàng của người trả tiền và ngân hàng của người nhận tiền đều thuộc thành viên của liên minh;

- Họ sử dụng cùng một nhà vận hành hệ thống thanh toán bù trừ cho quá trình xử lý chuyển khoản/ACH.

Giai đoạn khởi tạo

a) người trả tiền đăng nhập vào trang web ngân hàng hoặc chọn một ứng dụng di động, chỉ định rằng họ muốn gửi 100 đơn vị tiền tệ đến người nhận tiền bằng dịch vụ thanh toán cho cá nhân, và cung cấp địa chỉ email hoặc số điện thoại của người nhận tiền.

Giai đoạn hỗ trợ thanh toán: Xác thực, ủy quyền và chấp nhận

b) Ngân hàng của người trả tiền xác minh rằng người trả tiền có đủ tiền.

c) Ngân hàng của người trả tiền truyền thông tin thanh toán đến liên minh.

d) Liên minh xác nhận từ địa chỉ email hoặc số điện thoại của người nhận rằng người nhận tiền có tài khoản tại ngân hàng thành viên và truyền thông tin thanh toán đến ngân hàng của người nhận tiền.

e) Liên minh gửi email hoặc tin nhắn cho người nhận tiền để thông báo về khoản thanh toán.

Giao thức của các bước diễn ra như sau:

- Nếu khoản thanh toán không yêu cầu sự chấp thuận từ phía người nhận tiền, thì bước j) được thực hiện ngay sau e);

- Nếu khoản thanh toán yêu cầu người nhận tiền chấp thuận, thì thực hiện các bước f) đến i):

f) Người nhận tiền đăng nhập vào trang web ngân hàng hoặc ứng dụng di động, được thông báo rằng có khoản thanh toán đang chờ phê duyệt, người nhận tiền đồng ý nhận thanh toán và chọn tài khoản để ghi có.

g) Ngân hàng của người nhận tiền gửi tin nhắn đến liên minh xác nhận rằng người nhận tiền đã chấp thuận thanh toán và cung cấp thông tin tài khoản của người nhận.

h) Liên minh chuyển thông điệp từ ngân hàng của người nhận tiền đến ngân hàng của người trả tiền.

i) Liên minh gửi email hoặc tin nhắn cho người trả tiền để thông báo rằng người nhận tiền đã chấp thuận khoản thanh toán.

Bù trừ và quyết toán

j) Ngân hàng của người trả tiền ghi nợ vào tài khoản ngân hàng người trả tiền.

k) Ngắn hàng của người trả tiền gửi tệp ACH đến nhà vận hành bù trừ để ghi có vào tài khoản ngân hàng của người nhận tiền, sử dụng thông tin tài khoản do ngân hàng người nhận tiền cung cấp.

l) Nhà vận hành bù trừ gửi tệp ACH đến ngân hàng của người nhận tiền với ghi có vào tài khoản ngân hàng của người nhận tiền.

m) Nhà vận hành bù trừ ghi nợ vào tài khoản dự trữ của ngân hàng người trả tiền và ghi có vào tài khoản dự trữ của ngân hàng người nhận tiền.

n) Ngân hàng của người nhận tiền ghi có vào tài khoản ngân hàng của người nhận tiền.

CHÚ THÍCH: Tùy thuộc vào chính sách rủi ro của ngân hàng người nhận tiền (ví dụ: nếu dịch vụ thanh toán khẩn cấp cho cá nhân được cung cấp), tài khoản của người nhận tiền có thể được ghi có sớm hơn (sau bước f)).

Hình 8 minh họa luồng thông điệp để thực hiện mô hình thanh toán di động cho cá nhân theo mô hình lấy ngân hàng là trung tâm.

Hình 8 - Mô hình liên minh với ngân hàng là trung tâm - thanh toán đơn lẻ

9.4 Mô hình ngân hàng không phải là trung tâm

9.4.1 Tổng quan

Nhà cung cấp dịch vụ tài chính di động của người trả tiền thường cung cấp một ứng dụng để quản lý công cụ thanh toán được liên kết với tài khoản thanh toán của người trả tiền.

Các mô hình thanh toán di động cho cá nhân với ngân hàng không phải là trung tâm thường yêu cầu người trả tiền phải có tài khoản thanh toán tại nhà cung cấp dịch vụ tài chính di động trung gian phi ngân hàng trước khi khởi tạo thanh toán. Nhiều giải pháp với ngân hàng không phải là trung tâm cũng yêu cầu người nhận tiền phải có sẵn một tài khoản hoặc thiết lập tài khoản mới để nhận tiền (mô hình lan truyền). Việc thiết lập tài khoản tại nhà cung cấp dịch vụ tài chính di động phi ngân hàng thường bao gồm:

- Tạo tên người dùng và mật khẩu, đồng thời cung cấp cho nhà cung cấp dịch vụ tài chính di động phi ngân hàng các thông tin cá nhân như địa chỉ nhà, địa chỉ email và số điện thoại. Các thông tin này có thể chịu sự điều chỉnh bởi quy định địa phương;

- Chỉ định nguồn cấp tiền cho các khoản thanh toán, các lựa chọn chính bao gồm tài khoản ngân hàng hoặc thẻ thanh toán.

Trong mọi trường hợp, người trả tiền khởi tạo thanh toán bằng cách đăng nhập vào trang web của nhà cung cấp dịch vụ tài chính di động hoặc sử dụng ứng dụng thanh toán di động của trung gian phi ngân hàng. Cả nhà cung cấp dịch vụ tài chính di động của người trả tiền và của người nhận tiền sẽ trung gian xử lý toàn bộ giao dịch, sử dụng hạ tầng hệ thống ngân hàng khi cần.

Tiêu chuẩn này công nhận các kịch bản khác nhau trong việc xử lý các mô hình thanh toán cho cá nhân với ngân hàng không phải là trung tâm, tùy thuộc vào việc:

a) Dịch vụ thanh toán di động cho cá nhân được cấp tiền từ tài khoản ngân hàng hoặc từ tài khoản do nhà cung cấp dịch vụ tài chính di động phi ngân hàng nắm giữ;

b) MFSP lưu trữ giá trị trong một giai đoạn trung gian của giao dịch thanh toán;

c) Hệ thống thanh toán di động cho cá nhân theo mô hình ba bên hoặc bốn bên;

d) MFSP có quyền truy cập trực tiếp hoặc gián tiếp vào các cơ sở hạ tầng bù trừ và quyết toán.

Việc các khoản thanh toán với ngân hàng không phải là trung tâm được bù trừ và hoàn tất như thế nào phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm nguồn cấp tiền được sử dụng bởi người trả tiền và cách thức người nhận tiền. Tiêu chuẩn này phân biệt 4 tình huống khác nhau, được mô tả trong 9.4.2, 9.4.3, 9.4.4 và 9.5.

9.4.2 Phương pháp ba bên với ngân hàng không phải là trung tâm được cấp tiền từ tài khoản không phải ngân hàng

9.4.2.1 Đặc điểm chính

Việc thanh toán được thực hiện thông qua chuyển khoản giữa các tài khoản trong sổ cái nội bộ. Phương thức này yêu cầu cả người trả tiền và người nhận tiền phải có tài khoản thanh toán với cùng một MFSP trước khi khởi tạo giao dịch thanh toán di động cho cá nhân. Tài khoản của người trả tiền phải được nạp tiền trước khi tiến hành thanh toán.

9.4.2.2 Luồng giao dịch chi tiết

Giai đoạn khởi tạo

a) Người trả tiền đăng nhập vào trang web hoặc ứng dụng di động của MFSP, chỉ định rằng họ muốn gửi 100 đơn vị tiền tệ cho người nhận tiền từ tài khoản ngân hàng được liên kết, và cung cấp cho MFSP địa chỉ email, số điện thoại hoặc mã người nhận tiền.

Giai đoạn hỗ trợ thanh toán: Xác thực, ủy quyền và chấp nhận

b) MFSP gửi email hoặc tin nhắn văn bản đến người nhận tiền để thông báo về khoản thanh toán.

- Nếu khoản thanh toán không yêu cầu sự chấp thuận từ người nhận tiền, thì bước e) được thực hiện ngay sau bước b);

- Nếu khoản thanh toán yêu cầu người nhận tiền chấp thuận, thì thực hiện các bước từ c) đến e):

c) người nhận tiền đăng nhập vào trang web hoặc ứng dụng của MFSP và chỉ định rằng họ muốn nhận thanh toán vào tài khoản ngân hàng đã liên kết của mình.

d) MFSP gửi email hoặc tin nhắn văn bản đến người trả tiền để thông báo rằng người nhận tiền đã chấp thuận thanh toán.

Giai đoạn quyết toán

e) MFSP ghi nợ 100 đơn vị tiền tệ từ tài khoản thanh toán của người trả tiền và ghi có 100 đơn vị tiền tệ vào tài khoản thanh toán của người nhận tiền.

Hình 9 - Mô hình ba bên với ngân hàng không phải là trung tâm

9.4.3 Mô hình với ngân hàng không phải là trung tâm dạng chia nhỏ, được cấp tiền từ tài khoản ngân hàng

9.4.3.1 Đặc điểm chính

Các giao dịch thanh toán di động cho cá nhân theo mô hình với ngân hàng không phải là trung tâm, được cấp tiền từ tài khoản ngân hàng, được xử lý tương tự như các phương thức tập trung vào ngân hàng. Ngân hàng của MFSP gửi hai lệnh liên tiếp đến hệ thống ACH gồm: một lệnh ghi nợ (“kéo”) và một lệnh ghi có (“đẩy”), cả hai đều được khởi tạo từ MFSP. Quá trình quyết toán diễn ra theo hai bước riêng biệt (còn gọi là legs):

- Ở bước đầu tiên, MFSP chỉ đạo ngân hàng của mình rút tiền từ tài khoản ngân hàng của người trả tiền qua lệnh ghi nợ ACH, sử dụng thông tin tài khoản do người thanh toán trả tiền cung cấp. Khoản tiền này sẽ được chuyển đến tài khoản thanh toán do MFSP đó nắm giữ.

- Ở bước thứ hai, có thể bắt đầu trước khi bước đầu tiên hoàn tất, MFSP chỉ đạo ngân hàng của mình chuyển tiền đến tài khoản của người nhận tiền thông qua lệnh ghi có ACH, sử dụng thông tin tài khoản ngân hàng của người nhận tiền đã được MFSP lưu.

Trong hầu hết các hệ thống, cả hai lệnh thanh toán đều được thực hiện thông qua mạng ACH.

9.4.3.2 Luồng giao dịch chi tiết

Giai đoạn khởi tạo

a) Người trả tiền đăng nhập vào trang web di động hoặc ứng dụng của MFSP, chỉ định rằng họ muốn thanh toán cho người nhận tiền từ tài khoản ngân hàng liên kết, và cung cấp địa chỉ email, tin nhắn hoặc số điện thoại của người nhận tiền.

Giai đoạn hỗ trợ thanh toán: Xác thực, ủy quyền và chấp nhận

b) MFSP gửi email hoặc tin nhắn cho người nhận tiền để thông báo về khoản thanh toán.

Giao thức các bước tiếp tục như sau:

- Nếu khoản thanh toán không yêu cầu người nhận tiền chấp thuận, thì bước e) được thực hiện ngay sau b);

- Nếu khoản thanh toán yêu cầu sự chấp thuận từ người nhận tiền, thì thực hiện các bước từ c) đến e).

c) Người nhận tiền đăng nhập vào trang web hoặc ứng dụng của MFSP và chỉ định rằng họ muốn nhận thanh toán vào tài khoản ngân hàng đã liên kết.

d) MFSP gửi email hoặc tin nhắn cho người trả tiền để thông báo rằng người nhận tiền đã chấp thuận khoản thanh toán.

Giai đoạn bù trừ và quyết toán: Từ người trả tiền đến MFSP

e) MFSP thông báo cho ngân hàng của mình rằng họ đã được ủy quyền để rút 100 đơn vị tiền tệ từ tài khoản ngân hàng của người trả tiền.

f) Ngân hàng của MFSP gửi tệp ACH đến nhà điều hành thanh toán bù trừ với lệnh ghi nợ tài khoản ngân hàng của người trả tiền, sử dụng thông tin tài khoản do người trả tiền cung cấp cho MFSP.

g) Nhà điều hành bù trừ gửi tệp ACH đến ngân hàng của người trả tiền để thực hiện ghi nợ.

h) Ngân hàng của người trả tiền thực hiện ghi nợ vào tài khoản ngân hàng của người trả tiền.

i) Nhà điều hành bù trừ ghi nợ tài khoản dự trữ của ngân hàng người trả tiền và ghi có vào tài khoản dự trữ của ngân hàng của MFSP.

j) Ngân hàng của MFSP ghi có vào tài khoản ngân hàng của MFSP.

Bù trừ và quyết toán: Từ MFSP đến người nhận tiền

k) MFSP thông báo cho ngân hàng của mình rằng họ đã được ủy quyền để chuyển 100 đơn vị tiền tệ đến tài khoản của người nhận tiền tại ngân hàng của người nhận tiền.

l) Ngân hàng của MFSP ghi nợ tài khoản ngân hàng MFSP.

m) Ngân hàng của MFSP gửi tệp ACH đến nhà điều hành thanh toán bù trừ với lệnh ghi có vào tài khoản ngân hàng của người nhận tiền, sử dụng thông tin tài khoản do người nhận tiền cung cấp cho MFSP trong quá trình đăng ký.

n) Nhà điều hành bù trừ gửi tệp ACH đến ngân hàng của người nhận tiền để thực hiện ghi có vào tài khoản ngân hàng của người nhận tiền.

o) Nhà điều hành bù trừ ghi nợ tài khoản dự trữ của ngân hàng MFSP và ghi có vào tài khoản dự trữ của ngân hàng của người nhận tiền.

p) Ngân hàng của người nhận tiền ghi có vào tài khoản ngân hàng của người nhận tiền.

CHÚ THÍCH: Tùy theo chính sách rủi ro của ngân hàng người nhận tiền (ví dụ: nếu có cung cấp dịch vụ thanh toán khẩn cấp cho cá nhân), tài khoản người nhận tiền có thể được ghi có sớm hơn, ngay sau bước c).

Hình 10 - Mô hình với ngân hàng không phải là trung tâm dạng chia nhỏ được cấp tiền từ tài khoản ngân hàng

9.4.4 Mô hình ba bên với ngân hàng không phải là trung tâm - thanh toán đơn lẻ được cấp tiền từ tài khoản ngân hàng

9.4.4.1 Đặc điểm chính

Trong mô hình này, MFSP không lưu trữ tài khoản thanh toán của khách hàng. Việc chuyển tiền giữa ngân hàng của người trả tiền và ngân hàng của người nhận tiền được thực hiện bằng lệnh ghi có ACH, sử dụng thông tin tài khoản ngân hàng của người trả tiền và người nhận tiền mà MFSP đã gửi.

9.4.4.2 Luồng giao dịch chi tiết

Giai đoạn khởi tạo

a) Người trả tiền đăng nhập vào trang web di động hoặc ứng dụng của MFSP, chỉ định rằng họ muốn chuyển 100 đơn vị tiền tệ đến người nhận tiền từ tài khoản ngân hàng liên kết, và cung cấp cho MFSP địa chỉ email, tin nhắn hoặc số điện thoại của người nhận tiền.

Giai đoạn hỗ trợ thanh toán: Xác thực, ủy quyền và chấp nhận

b) MFSP gửi email hoặc tin nhắn cho người nhận tiền để thông báo về khoản thanh toán.

Giao thức các bước tiếp tục như sau:

- Nếu khoản thanh toán không yêu cầu người nhận tiền chấp thuận, thì thực hiện bước e) ngay sau b);

- Nếu khoản thanh toán yêu cầu người nhận tiền chấp thuận, thì thực hiện các bước c) đến e):

c) Người nhận tiền đăng nhập vào trang web hoặc ứng dụng của MFSP và chỉ định rằng họ muốn nhận tiền vào tài khoản ngân hàng đã liên kết.

d) MFSP gửi email hoặc tin nhắn cho người trả tiền để thông báo rằng người nhận tiền đã chấp thuận thanh toán.

Giai đoạn bù trừ và quyết toán

e) MFSP truyền thông tin thanh toán đến cả ngân hàng của người trả tiền và ngân hàng của người nhận tiền.

f) Ngân hàng của người trả tiền thực hiện ghi nợ vào tài khoản ngân hàng của người trả tiền.

g) Ngân hàng của người trả tiền gửi tệp ACH đến ngân hàng của người nhận tiền với lệnh ghi có, sử dụng thông tin tài khoản đã nhận trong bước e).

h) Nhà điều hành bù trừ gửi tệp ACH đến ngân hàng của người nhận tiền để ghi có vào tài khoản của người nhận tiền.

i) Nhà điều hành bù trừ ghi nợ tài khoản trung tâm của ngân hàng người trả tiền và ghi có vào tài khoản trung tâm của ngân hàng người nhận tiền.

j) Ngân hàng của người trả tiền thực hiện ghi có vào tài khoản ngân hàng của người nhận tiền.

CHÚ THÍCH: Tùy theo chính sách rủi ro của ngân hàng người nhận tiền (ví dụ: nếu có cung cấp dịch vụ thanh toán khẩn cấp cho cá nhân), tài khoản của người nhận tiền có thể được ghi có sớm hơn (sau bước e)).

Hình 11 - Mô hình ba bên với ngân hàng không phải là trung tâm, được cấp tiền từ tài khoản ngân hàng

9.5 Thanh toán dựa trên thẻ

9.5.1 Chức năng xử lý

Trong mô hình này, người trả tiền cấp tiền cho giao dịch thông qua thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng hoặc thẻ trả trước thay vì thực hiện lệnh ghi nợ ACH vào tài khoản ngân hàng của mình. MFSP gửi một thông điệp qua mạng lưới thẻ đến ngân hàng phát hành thẻ của người trả tiền, yêu cầu phê duyệt giao dịch. Sau khi xác minh rằng tài khoản thẻ hợp lệ và có đủ tiền, MFSP của người trả tiền sẽ gửi thông báo xác nhận cho phép thanh toán hoặc giữ lại số tiền trong tài khoản của người trả tiền.

Việc bù trừ và quyết toán thanh toán từ tài khoản thẻ người trả tiền đến MFSP tương tự như các khoản thanh toán thẻ khác, bao gồm một loạt các lệnh ghi nợ ACH hoặc chuyển khoản ngân hàng giữa các bên liên quan: ngân hàng phát hành thẻ, các ngân hàng thanh toán trong mạng lưới thẻ, và ngân hàng của MFSP. Bù trừ và quyết toán thanh toán từ ngân hàng của MFSP đến tài khoản của người nhận tiền cũng giống như các phương thức trước.

Trung tâm thẻ thanh toán di động cho cá nhân có thể là:

- “Tập trung vào ngân hàng (bank-centric)”, nghĩa là chủ thẻ kết nối trực tiếp với ngân hàng phát hành và được xác thực tại đó;

- “Với ngân hàng không phải là trung tâm (non-bank-centric)”, nghĩa là chủ thẻ kết nối với một MFSP phi ngân hàng (xem 9.4).

Dù theo mô hình nào, người trả tiền chỉ có thể thực hiện thanh toán di động cho cá nhân bằng thẻ nếu ngân hàng phát hành thẻ đã tham gia chương trình. Phần tiếp theo cung cấp mô tả chi tiết về luồng dữ liệu trong trường hợp sử dụng thẻ. Trong mô hình này, chủ thẻ kết nối với MFSP. MFSP của người trả tiền và MFSP của người nhận tiền là các đơn vị riêng biệt tham gia vào chương trình thanh toán cho cá nhân. Giả định rằng việc ghi nợ tài khoản thẻ của chủ thẻ được thực hiện ngay lập tức hoặc bị giữ lại sau khi được ngân hàng phát hành phê duyệt. Tài khoản thẻ của người nhận tiền có thể được ghi có ngay lập tức hoặc không sau khi phê duyệt từ ngân hàng phát hành thẻ.

9.5.2 Luồng giao dịch chi tiết

Giai đoạn khởi tạo

a) người trả tiền đăng nhập vào trang web hoặc ứng dụng di động của MFSP, chỉ định rằng họ muốn gửi 100 đơn vị tiền tệ đến người nhận tiền từ tài khoản thẻ liên kết, và cung cấp địa chỉ email, tin nhắn hoặc số điện thoại của người nhận tiền.

Giai đoạn hỗ trợ thanh toán: Xác thực, ủy quyền và chấp nhận

b) MFSP của người trả tiền gửi email hoặc tin nhắn đến MFSP của người nhận tiền sau khi xác thực người trả tiền. Giả định rằng MFSP của người trả tiền đã biết MFSP của người nhận tiền (ví dụ: thông qua mạng lưới thẻ hoặc thư mục định tuyến).

c) MFSP của người nhận tiền xác minh rằng người nhận tiền có tài khoản thẻ hợp lệ trong hệ thống thẻ để nhận tiền, và truyền thông tin thanh toán đến người nhận tiền.

d) Người nhận tiền đăng nhập vào trang web hoặc ứng dụng di động của MFSP và chấp thuận thanh toán.

e) MFSP của người nhận tiền gửi email hoặc tin nhắn đến MFSP của người trả tiền, thông báo rằng người nhận tiền đã chấp nhận thanh toán, đồng thời cung cấp thông tin tài khoản thẻ của người nhận tiền.

f) MFSP của người trả tiền chuyển tiếp thông điệp cho người trả tiền.

g) MFSP của người trả tiền gửi thông điệp yêu cầu ủy quyền thanh toán đến mạng lưới thẻ, kèm theo thông tin chi tiết về thẻ của người trả tiền và tài khoản thẻ của người nhận tiền.

h) Mạng lưới thẻ chuyển tiếp thông điệp ủy quyền đến ngân hàng phát hành thẻ.

i) Ngân hàng phát hành thẻ, có thể yêu cầu xác thực bổ sung và kiểm tra số dư, sau đó ủy quyền giao dịch. Tùy thuộc vào loại thẻ, ngân hàng phát hành có thể tiến hành ghi nợ tức thì vào tài khoản thẻ của người trả tiền.

j) Mạng lưới thẻ gửi thông điệp phê duyệt ủy quyền quay lại MFSP của người trả tiền.

k) MFSP của người trả tiền chuyển tiếp thông điệp phê duyệt ủy quyền đến MFSP của người nhận tiền.

l) MFSP của người nhận tiền thông báo cho người nhận tiền và ngân hàng của người nhận tiền về việc giao dịch đã được ủy quyền, đồng thời truyền thông tin thanh toán đến ngân hàng của người nhận tiền.

m) Tùy thuộc vào chính sách rủi ro của ngân hàng người nhận tiền, ngân hàng người nhận tiền có thể thực hiện ghi có tức thì vào tài khoản thẻ của người nhận tiền, làm cho số tiền sẵn sàng được sử dụng.

Giai đoạn bù trừ và quyết toán: Từ tài khoản thẻ người trả tiền đến hệ thống thẻ

n) Hệ thống thẻ gửi tệp ACH đến nhà điều hành bù trừ với lệnh ghi nợ tài khoản thẻ của người trả tiền, sử dụng thông tin tài khoản do người trả tiền chủ thẻ cung cấp cho MFSP trong quá trình đăng ký.

o) Nhà điều hành bù trừ gửi tệp ACH đến ngân hàng phát hành thẻ của người trả tiền với lệnh ghi nợ.

p) Ngân hàng người trả tiền thực hiện ghi nợ vào tài khoản thẻ (nếu chưa ghi nợ trước đó, xem bước 0).

q) Nhà điều hành bù trừ ghi nợ tài khoản trung tâm của ngân hàng người trả tiền và ghi có vào tài khoản trung tâm của hệ thống thẻ.

Bù trừ và quyết toán: Từ hệ thống thẻ đến tài khoản thẻ của người nhận tiền

r) Hệ thống thẻ gửi tệp ACH đến nhà điều hành bù trừ với lệnh ghi có vào tài khoản ngân hàng của người nhận tiền, sử dụng thông tin tài khoản do MFSP của người nhận tiền cung cấp ở bước e).

s) Nhà điều hành bù trừ gửi tệp ACH đến ngân hàng người nhận tiền với lệnh ghi có vào tài khoản thẻ của người nhận.

t) Nhà điều hành bù trừ ghi nợ tài khoản của hệ thống thẻ và ghi có vào tài khoản trung tâm của ngân hàng người nhận tiền.

u) Ngân hàng người nhận tiền thực hiện ghi có vào tài khoản thẻ của người nhận tiền (có thể đã ghi có trước ở bước m)).

Hình 12 - Luồng thông điệp trong thanh toán di động cho cá nhân sử dụng thẻ

 

Phụ lục A

(Tham khảo)

Tổng quan tài chính cho thanh toán di động cho cá nhân

Số lượng tài khoản ngân hàng trên thế giới tương đương với số lượng người trưởng thành, và Ngân hàng Thế giới ước tính rằng có khoảng 150 triệu người dùng mới gia nhập thị trường dịch vụ tài chính mỗi năm. Tuy nhiên, hơn một nửa số người trưởng thành trên toàn cầu vẫn không sử dụng tài khoản ngân hàng. Nhiều người trong số này sống ở những quốc gia có mức độ bảo vệ người tiêu dùng thấp, điều này có thể khiến họ ngần ngại sử dụng các dịch vụ tài chính có sẵn, từ đó tạo ra vòng luẩn quẩn của dịch vụ kém và mức độ sử dụng thấp. Tuy nhiên, những tiến bộ gần đây trong công nghệ đã mở ra cơ hội để thu hẹp khoảng cách này. Khoảng một tỷ người tại các nước đang phát triển không có tài khoản ngân hàng, nhưng có điện thoại di động, và con số này được kỳ vọng sẽ đạt 1,7 tỷ người vào năm 2012. Việc sử dụng điện thoại di động cho chuyển tiền và ngân hàng di động gợi mở tiềm năng đáng kể cho việc mở rộng khả năng tiếp cận tài chính. Bên cạnh đó, các bằng chứng còn cho thấy lợi ích này cũng có thể mở rộng tới người tiêu dùng ở các quốc gia phát triển.

Trường hợp của Kenya là minh chứng rõ nét về tiềm năng của công nghệ điện thoại di động trong việc mở rộng tiếp cận dịch vụ tài chính. Dịch vụ chuyển tiền qua điện thoại M-Pesa do Safaricom vận hành được ra mắt vào năm 2007, và chỉ sau hai năm, đã có hơn 8 triệu người dùng đăng ký, chiếm 40% dân số trưởng thành. Trong khi đó, tỷ lệ tiếp cận ngân hàng truyền thống tại Kenya chỉ tăng từ 18,9% lên 22,6% dân số trưởng thành trong giai đoạn 2006-2009. Nhóm chuyên gia về tài chính toàn diện của G20 cho rằng sự gia tăng này là nhờ vào M-Pesa. Điều này cho thấy rằng viễn thông di động và dịch vụ chuyển tiền qua điện thoại di động chính là chất xúc tác thúc đẩy tài chính toàn diện

Điều đáng chú ý là những lợi ích tiềm năng khác cũng đang bắt đầu xuất hiện ở Đông Phi, nơi hình thức thanh toán bằng điện thoại di động đang được áp dụng cho các tiện ích công cộng như nước và điện. Ví dụ, Kenya Power đã áp dụng hệ thống thanh toán bằng M-Pesa. Các bằng chứng gần đây cho thấy người tiêu dùng đã dần sử dụng dịch vụ cho các giao dịch nhỏ hơn khi họ ngày càng quen thuộc với hệ thống. Việc sử dụng hệ thống thanh toán cho các tiện ích giúp tránh được các vấn đề trong giai đoạn đầu kết nối của người thu nhập thấp với dịch vụ. Thanh toán chi phí thấp qua điện thoại di động với tần suất ngắn hơn có thể giúp tiết kiệm thời gian, chi phí và cải thiện khả năng thanh toán đúng hạn, giảm thiểu nợ đọng. Công nghệ thanh toán này mang lại lợi ích đáng kể, ngay cả với các ngành không trực tiếp liên quan đến tài chính.

Chuyển tiền quốc tế:

Từ trước cả thời kỳ phát triển công nghệ gần đây, việc chuyển tiền quốc tế đã tồn tại nhiều vấn đề nghiêm trọng liên quan đến quyền lợi người tiêu dùng. Việc cạnh tranh trong ngành có thể được cải thiện nhờ các công nghệ mới. Ngân hàng Thế giới ước tính rằng trong năm 2009, tổng lượng kiều hối đạt trên 400 tỷ USD, trong đó 80% chảy về các nước đang phát triển, chủ yếu do người lao động gửi tiền về cho gia đình ở các quốc gia OECD. Tuy nhiên, người tiêu dùng thường khó so sánh giá cả, hoặc không xác định được chi phí thực tế, do thiếu minh bạch trong cấu trúc giá dịch vụ kiều hối. Sự thiếu minh bạch này bao gồm tỷ giá chuyển đổi áp dụng cho người gửi (thường cao hơn tỷ giá mà nhà cung cấp đã mua ngoại tệ). Việc tăng cường cạnh tranh thông qua công nghệ di động có thể thúc đẩy các nhà cung cấp dịch vụ vận hành minh bạch hơn hoặc mất thị phần.

Các khu vực ít cạnh tranh thường có chi phí chuyển tiền cao hơn, đặc biệt là giữa các nước châu Phi. Ví dụ, theo Ngân hàng Thế giới, trong quý đầu năm 2011, chi phí trung bình để chuyển tiền từ Hoa Kỳ đến Mexico là 6,87%, trong khi từ Ghana đến Nigeria là 38,94%, và từ Tanzania đến Kenya là 47,24%.

Ngành này đang thu hút sự chú ý từ các cơ quan quản lý. Tại cuộc họp G8 ở Aquila, Ý năm 2009, các nước đã thống nhất tuyên bố “5x5”, đặt mục tiêu giảm chi phí trung bình toàn cầu cho kiều hối từ 10% xuống còn 5% trong vòng 5 năm, thông qua việc nâng cao minh bạch, chia sẻ thông tin và hợp tác giữa các bên. Lĩnh vực chuyển tiền qua điện thoại di động hiện đang chứng kiến sự cạnh tranh và hợp tác mạnh mẽ, kèm theo những tranh luận về việc nên quản lý thông qua ngân hàng hay các hình thức quản lý khác. Một số tranh luận xoay quanh việc liệu các dịch vụ này có nên được ngân hàng dẫn dắt hay không — như ở Ấn Độ, nơi các tổ chức tài chính vi mô (MFI) và bưu điện có thể đóng vai trò là đại lý, nhưng bị quản lý rất chặt chẽ; hay như ở Philippines, nơi các nhà mạng và ngân hàng đã cùng tham gia, và các cửa hàng nhỏ có thể đóng vai trò đại lý. Cơ quan quản lý viễn thông Ấn Độ đã chủ động đưa ra các biểu phí ngân hàng di động phù hợp cho các hộ gia đình nghèo, để đảm bảo tính khả thi về chi phí khi sử dụng ngân hàng qua điện thoại, ở châu Phi, cũng tồn tại những cách tiếp cận tương tự. Ví dụ: Kenya chọn hướng tiếp cận mở (như Philippines), trong khi Nam Phi ưu tiên phương thức chuyển tiền qua điện thoại dựa trên quản lý ngân hàng. Cả hai cách tiếp cận đều có những người ủng hộ. M-Pesa đã chủ động đưa ra quyết định phát triển hệ thống tuân theo chuẩn quản lý như một tổ chức tài chính, và hiện đang cung cấp tài khoản tiết kiệm thông qua hợp tác với ngân hàng Equity Bank tại Kenya.

Tiêu chuẩn không can thiệp vào các cuộc tranh luận về mức độ kiểm soát lập pháp, nhưng các tiêu chuẩn có thể góp phần hỗ trợ, bằng cách đề xuất một phương án thống nhất trong bối cảnh phát triển nhanh, và gợi ý cho các doanh nghiệp các hành động mà họ có thể tự thực hiện để đảm bảo tính toàn vẹn của dịch vụ.

 

Phụ lục B

(Tham khảo)

Các khía cạnh trong phạm vi pháp lý của thanh toán di động cho cá nhân

Thanh toán di động đặt ra những thách thức quan trọng về mặt quản lý pháp lý. Nhiều chương trình thanh toán sáng tạo không hoàn toàn (hoặc phần lớn) nằm trong phạm vi của một khung pháp lý quốc gia rõ ràng. Điều này dẫn đến tình trạng pháp lý không chắc chắn và thiếu bảo vệ người tiêu dùng trong một số khu vực điều mà lẽ ra phải được đảm bảo bởi các MFSP và cơ quan quản lý quốc gia. Trong mọi trường hợp, cần có các biện pháp bảo vệ người tiêu dùng hợp lý, ví dụ như những nội dung được đề cập trong phần giới thiệu của TCVN 14488-1 (ISO 12812-1), trong lời giới thiệu, đoạn c), cụ thể là: “Các cơ chế bảo vệ người tiêu dùng bao gồm điều khoản hợp đồng công bằng, quy định minh bạch về phí, làm rõ trách nhiệm pháp lý, cơ chế khiếu nại và giải quyết tranh chấp.”

Trong cùng phạm vi pháp lý (ví dụ: trong nước), các giao dịch thanh toán di động nội địa cho cá nhân là khi cả MFSP người trả tiền và người nhận tiền đều hoạt động trong cùng một khu vực pháp lý. Tuy nhiên, không phải lúc nào cũng có một luật cụ thể điều chỉnh riêng cho loại hình thanh toán này. Vì vậy, luật pháp hiện hành về thanh toán điện tử và bảo vệ người tiêu dùng thường bị áp dụng một khuôn khổ pháp lý không không rõ ràng. Điều này tạo ra khoảng trống pháp lý và có thể dẫn đến khó khăn cho các chương trình thanh toán giữa cá nhân minh bạch và cởi mở.

Giao dịch thanh toán di động cho cá nhân ở hai khu vực pháp lý khác nhau (ví dụ: giao dịch xuyên biên giới) thường liên quan đến nhiều MFSP. Ngoài MFSP của người trả tiền và người nhận tiền, còn có thể có thêm các tổ chức trung gian, làm cho các cơ quan quản lý tại mỗi quốc gia tham gia vào quy trình. Khi một MFSP trung gian hoạt động trong một khu vực pháp lý khác với người trả tiền hoặc người nhận tiền, các vấn đề pháp lý phức tạp phát sinh sẽ ảnh hưởng đến bản chất thông tin trong thông điệp - thanh toán, và các cơ chế kiểm soát đảm bảo thông tin chính xác và đầy đủ (đặc biệt đối với mục đích chống rửa tiền và tài trợ khủng bố tài chính (AML/CFT)).

Việc truyền dữ liệu của người trả tiền và/hoặc người nhận tiền đến các bên thứ ba để thực hiện giao dịch không nên làm phát sinh các lo ngại về bảo mật dữ liệu, miễn là các MFSP tuân thủ các quy định về bảo vệ dữ liệu. Các MFSP cần tuân thủ các luật và quy định bảo vệ dữ liệu. Họ phải thực hiện các bước cần thiết để đảm bảo rằng thông tin mà họ thu thập và xử lý chỉ được sử dụng cho những mục đích được pháp luật quốc gia cho phép, và phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế nếu có áp dụng.

 

Thư mục tài liệu tham khảo

[1] ISO 12812-3, Core banking - Mobile financial services - Part 3: Financial application lifecycle management.

[2] ISO/IEC 18092, Information technology - Telecommunications and information exchange between systems - Near Field Communication - Interface and Protocol (NFCIP-1).

[3] EUROPEAN PAYMENTS COUNCIL. EPC492.09 White Paper Mobile Payments v4.0 available at http://www.europeanpaymentscouncil.eu/.

[4] Bradford Terry, & Keaton Williams R. New Person-to-Person Payment Methods: Have Checks Met their Match? Operator Bank of Kansas City. Economic Review. Third Quarter 2012.

[5] CGAP Financial access 2009, measuring access to financial services around the world. CGAP/World Bank 2009. p. 2; O.P. Ardic, M. Heimann & N. Mylhenko: Access to financial services and the financial inclusion agenda around the world; policy research working paper 5537 WB/CGAP 2011. p. 6.

[6] Morawczynski O, & Pickens M. Poor people using mobile financial services: observations on customer usage and impact from M-Pesa. CGAP Brief August 2009, p. 3.

[7] Outlook for Remittance Flows 2011-13 by Sanket Mohapatra, Dilip Ratha, and Ani Silwal (Migration and development brief 16, Migration and development Unit, World Bank) 23 May 2011.

 

MỤC LỤC

Lời nói đầu

Lời giới thiệu

1 Phạm vi áp dụng

2 Tài liệu viện dẫn

3 Thuật ngữ và định nghĩa

3.1 Đại lý

3.2 Thanh toán di động cho cá nhân

3.3 Chuyển tiền di động

3.4 Nhà cung cấp dịch vụ chuyển tiền di động

3.5 Chương trình thanh toán di động cho cá nhân

3.6 Định danh người nhận tiền thanh toán

3.7 Người không sử dụng dịch vụ ngân hàng

4 Các thuật ngữ viết tắt

5 Đặc điểm cụ thể của thanh toán di động cho cá nhân

5.1 Tổng quan

5.2 Khái niệm về thanh toán di động cho cá nhân

5.3 Kỳ vọng của người dùng

5.4 Các bên liên quan trong một chương trình thanh toán di động cho cá nhân

5.4.1 Nhà cung cấp dịch vụ tài chính di động (MFSP)

5.4.2 Nhà mạng di động (MNO)

5.4.3 Đại lý

5.4.4 Nhà cung cấp dịch vụ tiền điện tử

6 Yêu cầu đối với thanh toán di động đến cá nhân

6.1 Tổng quan

6.2 Yêu cầu đối với thiết bị, mạng và lựa chọn ứng dụng

6.2.1 Tổng quan

6.2.2 Các yêu cầu

6.3 Yêu cầu ghi nhật ký

6.3.1 Tổng quan

6.3.2 Yêu cầu

6.4 Yêu cầu về thông báo

6.4.1 Tổng quan

6.4.2 Yêu cầu

6.5 Yêu cầu về xác thực và ủy quyền

6.5.1 Tổng quan

6.5.2 Yêu cầu

7 Các tình huống về khả năng tương tác

7.1 Tổng quan

7.2 Tình huống về khả năng tương tác 1

7.2.1 Tổng quan

7.2.2 Mô hình ba bên

7.2.3 Mô hình bốn bên

7.3 Tình huống tương tác 2 (Thanh toán liên hệ thống)

7.4 Mô hình tương tác để hỗ trợ thanh toán

7.4.1 Tổng quan

7.4.2 Mô hình tương tác trực tiếp

7.4.3 Cơ sở hạ tầng chung

8 Mô hình triển khai

8.1 Tổng quan

8.2 Kiến trúc cấp cao và công nghệ mạng

8.2.1 Lớp 1: Cơ sở hạ tầng dùng để truyền tải thông điệp khởi tạo và ủy quyền thanh toán

8.2.2 Lớp 2: Cơ sở hạ tầng chung dùng để hỗ trợ thanh toán

8.2.3 Lớp 3: Chuyển giá trị và di chuyển quỹ

8.3 Phân loại thanh toán di động cho cá nhân

8.3.1 Tổng quan

8.3.2 Thanh toán chuyển khoản tín dụng qua di động

8.3.3 Thanh toán bằng thẻ qua di động

8.3.4 Chuyển tiền điện tử

8.4 Chuyển tiền qua di động

8.5 Mô tả tổng quát về các trường hợp sử dụng quan trọng

8.5.1 Tổng quan

8.5.2 thanh toán di động cho cá nhân bằng thẻ

8.5.3 thanh toán cho cá nhân qua chuyển khoản tín dụng

9 Luồng giao dịch thanh toán cho cá nhân

9.1 Tổng quan

9.2 Mô hình xử lý thanh toán di động cho cá nhân

9.3 Mô hình thanh toán cho cá nhân với ngân hàng là trung tâm

9.3.1 Giao dịch chia nhỏ qua hệ thống ACH (Split payment over the ACH system)

9.3.2 Thanh toán đơn lẻ tập trung vào ngân hàng qua mô hình liên minh hệ thống ACH

9.4 Mô hình với ngân hàng không phải là trung tâm

9.4.1 Tổng quan

9.4.2 Phương pháp ba bên với ngân hàng không phải là trung tâm được cấp tiền từ tài khoản không phải ngân hàng

9.4.3 Mô hình với ngân hàng không phải là trung tâm dạng chia nhỏ, được cấp tiền từ tài khoản ngân hàng

9.4.4 Mô hình ba bên với ngân hàng không phải là trung tâm - thanh toán đơn lẻ được cấp tiền từ tài khoản ngân hàng

9.5 Thanh toán dựa trên thẻ

9.5.1 Chức năng xử lý

9.5.2 Luồng giao dịch chi tiết

Phụ lục A (Tham khảo)

Phụ lục B (Tham khảo)

Thư mục tài liệu tham khảo

Bạn chưa Đăng nhập thành viên.

Đây là tiện ích dành cho tài khoản thành viên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, vui lòng Đăng ký tại đây!

* Lưu ý: Để đọc được văn bản tải trên Luatvietnam.vn, bạn cần cài phần mềm đọc file DOC, DOCX và phần mềm đọc file PDF.

Văn bản liên quan Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 14488-4:2025

văn bản cùng lĩnh vực

văn bản mới nhất

CHÍNH SÁCH BẢO VỆ DỮ LIỆU CÁ NHÂN
Yêu cầu hỗ trợYêu cầu hỗ trợ
Chú thích màu chỉ dẫn
Chú thích màu chỉ dẫn:
Các nội dung của VB này được VB khác thay đổi, hướng dẫn sẽ được làm nổi bật bằng các màu sắc:
Sửa đổi, bổ sung, đính chính
Thay thế
Hướng dẫn
Bãi bỏ
Bãi bỏ cụm từ
Bình luận
Click vào nội dung được bôi màu để xem chi tiết.
×