Theo đó, các công trình nhà ở riêng lẻ nhiều tầng, nhiều căn hộ phải rà soát và bố cục lại toàn bộ khu vực để xe đảm bảo diện tích tối thiểu 6m2 chỗ để xe máy, xe đạp cho mỗi căn hộ. Nếu không bảo đảm diện tích để xe theo số lượng căn hộ/cư dân tại tòa nhà thì phải có phương án gửi xe bên ngoài để đảm bảo quy chuẩn quy định.
Bảo đảm khoảng cách giữa các xe, giải pháp ngăn cháy; ngăn cách khu vực để xe với sảnh căn hộ, thang bộ. Có quy định về sử dụng phương tiện giao thông của tòa nhà.
Khu vực sạc điện cho xe sử dụng điện phải được bố trí riêng để bảo đảm khoảng cách an toàn với các phương tiện xung quanh; không được sạc pin qua đêm; quá trình sạc pin phải được theo dõi an toàn; bộ sạc phải phù hợp hệ thống pin xe; bổ sung thiết bị chữa cháy chuyên dụng phù hợp để xử lý sự cố cháy nổ pin xe điện.Đối với các công trình đã đưa vào sử dụng: Nghiên cứu giải pháp đã được đề xuất như trên. Tổ chức rà soát, xây dựng phương án thoát nạn để đảm bảo an toàn khi xảy ra sự cố, vận động tháo bỏ/cắt các chuồng cọp, tạo lối thoát nạn trong trường hợp phát sinh mất an toàn phòng, chống cháy nổ tại mỗi công trình.
Thực hiện ngay giải pháp ngăn cách khu vực để xe với khu vực ở. Rà soát về điều kiện thang thoát hiểm, lối thoát nạn, bổ sung lối thoát nạn đảm bảo các quy định về phòng cháy hiện hành.Đối với công trình xây dựng mới, kiểm soát chặt chẽ việc tuân thủ các quy định về quy hoạch, xây dựng, phòng cháy, chữa cháy, quản lý việc cấp giấy phép xây dựng, quản lý chất lượng, quản lý trật tự xây dựng theo quy định.
Trong đó, bảo đảm việc kiểm soát việc thiết kế về khu vực đỗ xe, bố trí lối thoát nạn, hệ thống cấp điện; hệ thống phòng cháy, chữa cháy công trình; các tổ chức, cá nhân thiết kế, thẩm tra thiết kế phải có đủ điều kiện năng lực theo quy định của pháp luật.
Đối với nhà chung cư cũ, các quận, huyện, thị xã tổ chức triển khai ngay các giải pháp để giảm thiểu nguy cơ mất an toàn như: tổ chức rà soát, xây dựng phương án thoát nạn khi xảy ra sự cố, vận động tháo bỏ/cắt các chuồng cọp, tạo lối thoát nạn tại mỗi công trình.
Xem chi tiết Công văn 3690/UBND-SXD.
Nếu có thắc mắc, mời bạn đọc gọi đến tổng đài 19006192 để được giải đáp.
Căn cứ Nghị định số 123/2020/NĐ-CP quy định về hóa đơn, chứng từ, tại Khoản 2 Điều 19 quy định xử lý hóa đơn có sai sót như sau:
2. Trường hợp hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế hoặc hóa đơn điện tử không có mã của cơ quan thuế đã gửi cho người mua mà người mua hoặc người bán phát hiện có sai sót thì xử lý như sau:
b) Trường hợp có sai: mã số thuế; sai sót về số tiền ghi trên hóa đơn, sai về thuế suất, tiền thuế hoặc hàng hóa ghi trên hóa đơn không đúng quy cách, chất lượng thì có thể lựa chọn một trong hai cách sử dụng hóa đơn điện tử như sau:
b1) Người bán lập hóa đơn điện tử điều chỉnh hóa đơn đã lập có sai sót. Trường hợp người bán và người mua có thỏa thuận về việc lập văn bản thỏa thuận trước khi lập hóa đơn điều chỉnh cho hóa đơn đã lập có sai sót thì người bán và người mua lập văn bản thỏa thuận ghi rõ sai sót, sau đó người bán lập hóa đơn điện tử điều chỉnh hóa đơn đã lập có sai sót.
Hóa đơn điện tử điều chỉnh hóa đơn điện tử đã lập có sai sót phải có dòng chữ “Điều chỉnh cho hóa đơn Mẫu số... ký hiệu... số... ngày... tháng... năm”.
b2) Người bán lập hóa đơn điện tử mới thay thế cho hóa đơn điện tử có sai sót trừ trường hợp người bán và người mua có thỏa thuận về việc lập văn bản thỏa thuận trước khi lập hóa đơn thay thế cho hóa đơn đã lập có sai sót thì người bán và người mua lập văn bản thỏa thuận ghi rõ sai sót, sau đó người bán lập hóa đơn điện tử thay thế hóa đơn đã lập có sai sót.
Hóa đơn điện tử mới thay thế hóa đơn điện tử đã lập có sai sót phải có dòng chữ “Thay thế cho hóa đơn Mẫu số... ký hiệu... số... ngày... tháng... năm”.
Người bán lý số trên hóa đơn điện tử mới điều chỉnh hoặc thay thế cho hóa đơn điện tử đã lập có sai sót sau đó người bán gửi cho người mua (đối với trường hợp sử dụng hóa đơn điện tử không có mã của cơ quan thuế) hoặc gửi cơ quan thuế để cơ quan thuế cấp mã cho hóa đơn điện tử mới để gửi cho người mua (đối với trường hợp sử dụng hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế).
Căn cứ Thông tư số 78/2021/TT-BTC, tại Điều 12 hướng dẫn xử lý chuyển tiếp:
6. Kể từ thời điểm doanh nghiệp, tổ chức, hộ, cá nhân kinh doanh sử dụng hóa đơn điện tử theo quy định tại Nghị định số 123/2020/NĐ-CP và quy định tại Thông tư này, nếu phát hiện hóa đơn đã lập theo quy định tại Nghị định số 51/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010, Nghị định số 04/2014/NĐ-CP ngày 17/01/2014 của Chính phủ và các văn bản hướng dẫn của Bộ Tài chính mà hóa đơn này có sai sót thì người bán và người mua phải lập văn bản thỏa thuận ghi rõ sai sót, người bán thực hiện thông báo với cơ quan thuế theo Mẫu số 04/SS- HĐĐT ban hành kèm theo Nghị định số 123/2020/NĐ-CP và lập hóa đơn hóa đơn điện tử mới (hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế hoặc hóa đơn điện tử không có mã) thay thế cho hóa đơn đã lập có sai sót. Hóa đơn điện tử thay thế hóa đơn đã lập có sai sót phải có dòng chữ “Thay thế cho hóa đơn Mẫu số... ký hiệu... số.. ngày... tháng... năm”. Người bán ký số trên hóa đơn điện tử mới thay thể hóa đơn đã lập có sai sót (hóa đơn lập theo Nghị định số 51/2010/NĐ-CP, Nghị định số 04/2014/NĐ-CP của Chính phủ và các văn bản hướng dẫn của Bộ Tài chính) để gửi cho người mua (đối với trường hợp sử dụng hóa đơn điện tử không có mã) hoặc người bán gửi cơ quan thuế để được cấp mã cho hóa đơn điện tử thay thế hóa đơn đã lập (đối với trường hợp sử dụng hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế)...
Dựa vào các quy định nêu trên:
- Trường hợp Công ty thực hiện lập hóa đơn điện tử theo Nghị định 123/2020/NĐ-CP đã gửi cho người mua mà người mua hoặc người bán phát hiện có sai sót về số tiền ghi trên hóa đơn, sai về thuế suất, tiền thuế thì:
- Trường hợp phát hiện hóa đơn đã lập theo Nghị định 51/2010/NĐ-CP, Nghị định 04/2014/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn của Bộ Tài chính mà hóa đơn này có sai sót thì:
Người bán và người mua phải lập văn bản thỏa thuận ghi rõ sai sót, người bán thực hiện thông báo với cơ quan thuế theo Mẫu số 04/SS- HĐĐT ban hành kèm theo Nghị định 123/2020/NĐ-CP.
Đồng thời, lập hóa đơn hóa đơn điện tử mới thay thế cho hóa đơn đã lập có sai sót theo quy định tại Khoản 6 Điều 12 Thông tư số 78/2021/TT-BTC.
Xem chi tiết Công văn 77225/CTHN-TTHT.
Theo đó, BHXH Việt Nam đề nghị BHXH các tỉnh cấp thẻ, đổi thẻ bảo hiểm y tế (BHYT) theo quy định tại Nghị định 75 như sau:
- Chuyển đổi mã mức hưởng BHYT theo quy định tại khoản 5 Điều 1 Nghị định 75:
Đổi mức hưởng BHYT từ mã 4 sang mã 2 với người tham gia kháng chiến và bảo vệ Tổ quốc (có mã đối tượng KC) quy định tại khoản 5 Điều 3 Nghị định số 146/2018/NĐ-CP.
Đổi mức hưởng BHYT từ mã 4 sang mã 3 với người phục vụ người có công với cách mạng sống ở gia đình (có mã đối tượng PV) quy định tại khoản 19 Điều 3 Nghị định số 146/2018/NĐ-CP.
- Bổ sung mã đối tượng và mã mức hưởng ghi trên thẻ BHYT đối với người tham gia BHYT mới được quy định tại Nghị định 75 và Nghị định 131/2021/NĐ-CP:
Trong thời gian chờ sửa đổi Quyết định số 1351/QĐ-BHXH ngày 16/11/2015, BHXH các tỉnh phối hợp với đơn vị quản lý đối tượng rà soát, lập danh sách và cấp thẻ BHYT của các đối tượng được bổ sung tại Nghị định 75 như sau:
Vợ hoặc chồng liệt sĩ lấy chồng hoặc vợ khác đang hưởng trợ cấp hằng tháng: mã đối tượng ký hiệu là TG và mã mức hưởng ký hiệu bằng số 3; mã khối quản lý là WG, mã khối thống kê là 37.
Người dân các xã an toàn khu, vùng an toàn khu cách mạng trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ hiện đang thường trú tại các xã an toàn khu cách mạng trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ: mã đối tượng ký hiệu là AK và mã mức hưởng ký hiệu bằng số 2; mã khối quản lý là WK, mã khối thống kê là 61.
Người dân tộc thiểu số sinh sống tại các xã khu vực II, khu vực III, thôn đặc biệt khó khăn thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2016-2020 mà các xã này không còn trong danh sách các xã khu vực II, khu vực III, thôn đặc biệt khó khăn thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025: mã đối tượng ký hiệu là DS và mã mức hưởng ký hiệu bằng số 3; mã khối quản lý là WS, mã khối thống kê là 62.
- Trường hợp người tham gia BHYT thuộc nhiều đối tượng khác nhau, nếu thẻ BHYT cũ cấp theo đối tượng khác có mức hưởng thấp hơn so với quy định mới, thì theo mức hưởng cao nhất.
Xem chi tiết Công văn 3452/BHXH-CSYT.
Nếu có thắc mắc, bạn đọc gọi ngay đến tổng đài 19006192 để được giải đáp.
Theo đó, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đồng ý với đề xuất của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội về việc nghỉ Tết Âm lịch từ ngày 08/02/2024 đến hết ngày 14/02/2024 và nghỉ lễ Quốc khánh từ ngày 31/8/2024 đến hết ngày 3/9/2024.
Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thông có trách nhiệm báo cho các cơ quan hành chính, sự nghiệp, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và doanh nghiệp, người lao động về việc nghỉ Tết Âm lịch và nghỉ lễ Quốc khánh năm 2024.
Văn phòng Chính phủ thông báo để Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và các bộ, cơ quan biết, thực hiện.Nếu có thắc mắc, bạn đọc liên hệ 19006192 để được giải đáp.
Thông tư 12 đã sửa đổi bổ sung, thay thế một số quy định của Thông tư 06/2013/TT-NHNN hướng dẫn hoạt động mua, bán vàng miếng trên thị trường trong nước của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam như sau:
- Sửa đổi quy định về thông báo kết quả giao dịch mua, bán vàng miếng với từng tổ chức tín dụng, doanh nghiệp:
Theo đó, Cục Quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước thông báo bằng văn bản cho Vụ Quản lý ngoại hối, Vụ Tài chính - Kế toán, Sở Giao dịch và Cục Phát hành và Kho quỹ về kết quả giao dịch mua, bán vàng miếng với từng tổ chức tín dụng, doanh nghiệp sau khi ký xác nhận giao dịch.
(Bổ sung quy định thông báo cho Sở Giao dịch)
- Sửa đổi, bổ sung quy định về thời hạn thanh toán tiền và thời hạn giao, nhận vàng miếng:
Vào cuối ngày ký xác nhận giao dịch và cuối ngày làm việc liền kề tiếp theo ngày ký xác nhận giao dịch, Cục Quản lý dự trữ ngoại hối lập danh sách các tổ chức tín dụng, doanh nghiệp đã thanh toán đầy đủ tiền mua vàng miếng trong ngày và thông báo bằng văn bản cho Vụ Tài chính - Kế toán, Cục Phát hành và Kho quỹ để giao vàng miếng cho tổ chức tín dụng, doanh nghiệp.
- Sửa đổi, bổ sung quy định về thông báo để thanh toán tiền sau khi giao, nhận vàng miếng:
Ngay sau khi kết thúc việc giao, nhận vàng miếng, Cục Phát hành và Kho quỹ thông báo bằng văn bản cho Cục Quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước và Sở Giao dịch để thực hiện thanh toán tiền cho tổ chức tín dụng, doanh nghiệp.
(Trước đây quy định thông báo bằng văn bản cho Sở Giao dịch để thanh toán tiền cho tổ chức tín dụng, doanh nghiệp)
Nếu có thắc mắc, bạn đọc liên hệ 19006192 để được giải đáp.
Theo Điều 3 Nghị định 76, các hành vi bạo lực gia đình áp dụng đối với người chung sống như vợ chồng bao gồm:
- Bỏ mặc, không quan tâm.
- Cưỡng ép thực hiện hành vi quan hệ tình dục trái ý muốn.
- Cô lập, giam cầm.
- Cưỡng ép ra khỏi chỗ ở hợp pháp trái pháp luật.
- Kỳ thị, phân biệt đối xử về hình thể, giới, giới tính, năng lực.
- Tiết lộ hoặc phát tán thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm.
- Ngăn cản gặp gỡ người thân, có quan hệ xã hội hợp pháp, lành mạnh hoặc hành vi khác nhằm cô lập, gây áp lực thường xuyên về tâm lý.
- Ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa anh, chị, em với nhau.
- Cưỡng ép, cản trở kết hôn.
- Cưỡng ép học tập, lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả năng của họ; kiểm soát tài sản, thu nhập nhằm tạo ra tình trạng lệ thuộc về mặt vật chất, tinh thần.
- Hành hạ, ngược đãi, đánh đập, đe dọa hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khỏe, tính mạng.
- Lăng mạ, chì chiết hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm.
- Cưỡng ép chứng kiến bạo lực đối với người, con vật nhằm gây áp lực thường xuyên về tâm lý.
- Cưỡng ép trình diễn hành vi khiêu dâm; cưỡng ép nghe âm thanh, xem hình ảnh, đọc nội dung khiêu dâm, kích thích bạo lực.
- Cưỡng ép mang thai, phá thai, lựa chọn giới tính thai nhi.
Ngoài quy định về các hành vi bạo lực gia đình áp dụng đối với người chung sống như vợ chồng, Nghị định này còn quy định về hành vi bạo lực gia đình đối với người là cha, mẹ, con riêng, anh, chị, em của người đã ly hôn, của người chung sống như vợ chồng, hành vi bạo lực gia đình giữa người đã ly hôn.
Nghị định 76/2023/NĐ-CP có hiệu lực kể từ ngày 25/12/2023.Nếu có thắc mấc, bạn đọc liên hệ 19006192 để được giải đáp.
Cảm ơn Quý khách đã dành thời gian đọc bản tin của chúng tôi!
Trung tâm luật việt nam - Công ty CP truyền thông Luật Việt Nam
Tại Hà Nội: Tầng 3, Tòa nhà IC, 82 phố Duy Tân, Cầu Giấy, Hà Nội - Hotline: 0938 36 1919
Tại TP.HCM: 648 Nguyễn Kiệm, Phường Đức Nhuận, TP. Hồ Chí Minh - Tel: 028. 39950724
Email: [email protected]
Lưu ý:
* Bản tin tóm tắt nội dung văn bản chỉ mang tính chất tổng hợp, không có giá trị áp dụng vào các trường hợp cụ thể. Để hiểu đầy đủ và chính xác quy định pháp luật, khách hàng cần tìm đọc nội dung chi tiết toàn văn bản.
* Nếu không muốn tiếp tục nhận bản tin, phiền Quý khách hàng vui lòng click vào đường link dưới đây https://luatvietnam.vn/huy-dang-ky-nhan-ban-tin.html Quý vị sẽ nhận được yêu cầu xác nhận lần cuối cùng trước khi hủy bỏ địa chỉ email của mình khỏi danh sách.

Hà Nội cấm sạc xe điện qua đêm tại chung cư mini