Nghị quyết 204/2025/QH15 về giảm thuế giá trị gia tăng có nhiều điểm mới. Đặc biệt, mở rộng đối tượng áp dụng mức thuế GTGT giảm 2% (từ 10% còn 8%) cho các lĩnh vực như vận chuyển, logistic, dịch vụ công nghệ thông tin - những ngành có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế số.
Khác với các chính sách ngắn hạn trước đây, thời gian áp dụng chính sách giảm thuế được kéo dài đến hết năm 2026, giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong sản xuất kinh doanh.
Nghị quyết này áp dụng đối với các nhóm hàng hóa, dịch vụ quy định tại khoản 3 Điều 9 Luật Thuế giá trị gia tăng số 48/2024/QH15 (còn 8%), trừ một số nhóm hàng hóa, dịch vụ sau: Viễn thông, hoạt động tài chính, ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm, kinh doanh bất động sản, sản phẩm kim loại, sản phẩm khai khoáng (trừ than), sản phẩm hàng hóa và dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt (trừ xăng).
Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2025 đến hết 31/12/2026.
Trước đó, dự thảo Nghị quyết, Chính phủ đề xuất tiếp tục giảm 2% thuế suất thuế giá trị gia tăng đối với các nhóm hàng hóa, dịch vụ đang áp dụng mức thuế suất 10% (còn 8%), trừ một số nhóm hàng hóa, dịch vụ không được giảm.
Dự thảo Nghị quyết mở rộng thêm đối tượng được giảm thuế so với quy định tại các Nghị quyết của Quốc hội trước đây và kéo dài thời gian giảm thuế đến hết năm 2026. Theo đó, kinh doanh vận chuyển, logistic, hàng hoá, dịch vụ công nghệ thông tin thuộc đối tượng được giảm thuế.
Bên cạnh đó, theo quy định của pháp luật về thuế giá trị gia tăng thì hoạt động dạy học, dạy nghề và dịch vụ y tế thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng nên cũng không cần phải giảm thuế.
Đối với các dịch vụ như hoạt động tài chính, ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng nên không cần phải giảm thuế giá trị gia tăng, trong khi đó dịch vụ viễn thông, bất động sản là những ngành có tăng trưởng trong thời gian qua và cũng không thuộc đối tượng được giảm thuế giá trị gia tăng theo quy định tại Nghị quyết 43/2022/QH15.
Điều 10 Luật Cán bộ, công chức 2025 quy định về quyền của cán bộ, công chức về tiền lương, tiền thưởng và các chế độ liên quan đến tiền lương như sau:
- Được hưởng tiền lương, tiền thưởng và các khoản thu nhập khác theo kết quả, sản phẩm của vị trí việc làm đảm nhiệm, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, địa phương.
- Được hưởng tiền làm thêm giờ, tiền lương làm việc vào ban đêm, công tác phí và các chế độ khác theo quy định.
- Cán bộ, công chức làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn hoặc trong các nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm được hưởng phụ cấp và chính sách ưu đãi theo quy định.
Điều 11 Luật này đã quy định về quyền của cán bộ, công chức về nghỉ ngơi và các quyền khác.
Theo đó, cán bộ, công chức được nghỉ hằng năm, nghỉ lễ, tết, nghỉ việc riêng, nghỉ không hưởng lương theo quy định của pháp luật về lao động.
Trường hợp do yêu cầu nhiệm vụ, cán bộ, công chức không sử dụng hoặc sử dụng không hết số ngày nghỉ hằng năm thì ngoài tiền lương còn được thanh toán thêm một khoản tiền bằng tiền lương cho những ngày không nghỉ.
Bên cạnh đó, cán bộ, công chức được bảo đảm quyền học tập, nghiên cứu khoa học, tham gia các hoạt động kinh tế, xã hội; được hưởng chính sách ưu đãi về nhà ở, chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và chế độ khác theo quy định của pháp luật;
Trường hợp bị thương hoặc hy sinh trong khi thi hành công vụ thì được xem xét hưởng chế độ, chính sách như thương binh hoặc được xem xét để công nhận là liệt sĩ.
Ngoài ra Điều 9 của Luật cũng quy định về quyền của cán bộ, công chức về bảo đảm điều kiện thi hành công vụ.
Điều 35 Luật Nhà giáo 2025, số 73/2025/QH15 quy định về xử lý kỷ luật đối với nhà giáo như sau:
- Việc xử lý kỷ luật đối với nhà giáo là viên chức trong cơ sở giáo dục công lập:
Thực hiện theo quy định về xử lý kỷ luật đối với viên chức theo quy định của pháp luật về viên chức và quy định khác của pháp luật có liên quan.
- Việc xử lý kỷ luật đối với nhà giáo làm việc theo chế độ hợp đồng lao động trong cơ sở giáo dục công lập, cơ sở giáo dục ngoài công lập:
Thực hiện theo quy định về xử lý kỷ luật đối với người lao động theo quy định của pháp luật về lao động, quy chế tổ chức và hoạt động của cơ sở giáo dục và quy định khác của pháp luật có liên quan.
- Việc xử lý kỷ luật đối với nhà giáo không được làm ảnh hưởng đến hoạt động học tập của người học. Quá trình xem xét, xử lý kỷ luật nhà giáo phải bảo đảm tính nhân văn, bảo vệ hình ảnh, uy tín của nhà giáo.
Điều 36 Luật Nhà giáo 2025 quy định về tạm đình chỉ giảng dạy đối với nhà giáo.
Theo đó, trong thời hạn xem xét, xử lý kỷ luật, người đứng đầu cơ sở giáo dục quyết định tạm đình chỉ giảng dạy đối với nhà giáo nếu việc nhà giáo tiếp tục giảng dạy có thể gây khó khăn cho việc xem xét, xử lý kỷ luật hoặc ảnh hưởng đến uy tín nhà giáo và tâm lý người học;
Trường hợp người đứng đầu cơ sở giáo dục có dấu hiệu vi phạm thì cấp có thẩm quyền bổ nhiệm người đứng đầu cơ sở giáo dục ra quyết định tạm đình chỉ giảng dạy.
- Đối với nhà giáo trong cơ sở giáo dục công lập, thời gian tạm đình chỉ giảng dạy và tiền lương trong thời gian tạm đình chỉ giảng dạy thực hiện theo quy định của pháp luật về viên chức và quy định khác của pháp luật có liên quan.
- Đối với nhà giáo trong cơ sở giáo dục ngoài công lập, thời gian tạm đình chỉ giảng dạy và tiền lương trong thời gian tạm đình chỉ giảng dạy thực hiện theo quy định của pháp luật về lao động và quy định khác của pháp luật có liên quan.
Theo khoản 7 Điều 1 Luật Xử lý vi phạm hành chính sửa đổi 2025, số 88/2025/QH15 g sửa đổi bổ sung khoản 1 Điều 54 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi bổ sung năm 2020 thì
Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính là cấp trưởng, người đứng đầu cơ quan, đơn vị được quy định tại Điều 37a của Luật này có thể giao cho cấp phó thực hiện thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính.
Việc giao quyền phải được thể hiện bằng quyết định bằng văn bản, trong đó phải xác định rõ phạm vi, nội dung, thời hạn giao quyền.
Dẫn chiếu Điều 37a được bổ sung vào Chương II Phần thứ hai và vào sau Điều 37 Luật Xử lý vi phạm hành chính, người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của Luật này gồm:
- Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp;
- Thủ trưởng tổ chức thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ giúp Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực;
Thủ trưởng tổ chức thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ được giao chức năng, nhiệm vụ kiểm tra trong phạm vi quản lý nhà nước của Bộ, cơ quan ngang Bộ, trừ trường hợp Bộ, cơ quan ngang Bộ có các chức danh quy định tại điểm đ khoản này;
- Thủ trưởng cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; Thủ trưởng Chi cục thuộc Cục thuộc Bộ và tương đương; Thủ trưởng Chi cục thuộc cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và tương đương;
- Thanh tra viên; Trưởng đoàn Thanh tra trong thời hạn thanh tra;
- Chánh Thanh tra của cơ quan thanh tra trong Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam;
- Chánh Thanh tra của cơ quan thanh tra Cơ yếu; Thủ trưởng cơ quan Thanh tra được thành lập theo điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;
- Trưởng đoàn kiểm tra của Bộ, cơ quan ngang Bộ trong thời hạn kiểm tra;...
Căn cứ theo khoản 2 Điều 87 (về cưỡng chế) và thực tiễn áp dụng thống nhất:
- Cấp phó chỉ được giao quyền khi có quyết định bằng văn bản của cấp trưởng.
- Không được tiếp tục ủy quyền lại cho người khác.
- Phải chịu trách nhiệm trước cấp trưởng và trước pháp luật về việc thực hiện thẩm quyền xử phạt.
Khoản 5 Điều 1 Bộ luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2025, số 99/2025/QH15 đã bổ sung khoản 1a vào sau khoản 1 Điều 37 về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Điều tra viên của Luật 2015 như sau:
Điều tra viên trung cấp, Điều tra viên cao cấp là Trưởng Công an cấp xã hoặc Phó Trưởng Công an cấp xã được Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp tỉnh phân công tiến hành hoạt động khởi tố, điều tra vụ án về tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng xảy ra trên địa bàn cấp xã có nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại khoản 1 Điều này, các điểm a, c khoản 1 và khoản 2 Điều 36 của Bộ luật Tố tụng hình sự, trừ quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt.
Bộ trưởng Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định chi tiết khoản này.
Khoản 6 sửa đổi, bổ sung khoản 4 và bổ sung khoản 5 vào sau khoản 4 Điều 41 về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sátnhư sau:
- Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi, quyết định của mình. Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát không được ủy quyền cho Kiểm sát viên thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, trừ trường hợp quy định tại khoản 5 Điều này.
- Trường hợp Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm Viện kiểm sát nhân dân tối cao giải quyết vụ án thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thể ủy quyền cho Kiểm sát viên giữ chức vụ Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
- Nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại điểm a khoản 1 và điểm p khoản 2 Điều này; kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm bản án, quyết định của Tòa án theo quy định của Bộ luật này;
- Quyết định phân công hoặc thay đổi Phó Viện trưởng Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên; kiểm tra hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Phó Viện trưởng Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên;
- Quyết định thay đổi hoặc hủy bỏ quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của Phó Viện trưởng Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên.
Bộ luật Hình sự sửa đổi 2025 đã nâng mức hình phạt tù so với quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Cụ thể, theo quy định tại khoản 12,18,19,21 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự năm 2025, có 08 tội danh sau đây bị tăng mức phạt từ từ 01/7/2025:
(1) Tội gây ô nhiễm môi trường (Điều 235): Tăng mức hình phạt tù thấp nhất từ 03 tháng năm thành 02 năm tại khoản 1.
(2) Tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại (Điều 236): Tăng mức hình phạt tù thấp nhất từ 03 tháng năm thành 02 năm tại khoản 1.
(3) Tội sản xuất trái phép chất ma túy (Điều 248): Tăng mức hình phạt tù thấp nhất từ 02 năm thành 03 năm tại khoản 1.
(4) Tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Điều 249): Tăng mức hình phạt tù thấp nhất từ 01 năm thành 03 năm tại khoản 1.
(5) Tội vận chuyển trái phép chất ma túy (Điều 250): Tăng mức hình phạt tù thấp nhất từ 02 năm thành 03 năm tại khoản 1.
(6) Tội mua bán trái phép chất ma túy (Điều 251): Tăng mức hình phạt tù thấp nhất từ 02 năm thành 03 năm tại khoản 1.
(7) Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 255): Tăng mức hình phạt tù thấp nhất từ 02 năm thành 03 năm tại khoản 1.
(8) Tội vi phạm quy định về an toàn thực phẩm (Điều 317): Tăng mức hình phạt tù thấp nhất từ 01 năm thành 02 năm tại khoản 1.
Mức phạt tù thay đổi đối với các tội danh nêu trên được áp dụng để khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án đối với người thực hiện hành vi phạm tội từ 0 giờ 00 phút ngày 01/7/2025 theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 4 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2025.
Cảm ơn Quý khách đã dành thời gian đọc bản tin của chúng tôi!
Trung tâm luật việt nam - Công ty CP truyền thông Luật Việt Nam
Tại Hà Nội: Tầng 3, Tòa nhà IC, 82 phố Duy Tân, Cầu Giấy, Hà Nội - Hotline: 0938 36 1919
Tại TP.HCM: 648 Nguyễn Kiệm, Phường Đức Nhuận, TP. Hồ Chí Minh - Tel: 028. 39950724
Email: [email protected]
Lưu ý:
* Bản tin tóm tắt nội dung văn bản chỉ mang tính chất tổng hợp, không có giá trị áp dụng vào các trường hợp cụ thể. Để hiểu đầy đủ và chính xác quy định pháp luật, khách hàng cần tìm đọc nội dung chi tiết toàn văn bản.
* Nếu không muốn tiếp tục nhận bản tin, phiền Quý khách hàng vui lòng click vào đường link dưới đây https://luatvietnam.vn/huy-dang-ky-nhan-ban-tin.html Quý vị sẽ nhận được yêu cầu xác nhận lần cuối cùng trước khi hủy bỏ địa chỉ email của mình khỏi danh sách.

Chính thức giảm thuế GTGT xuống 8% từ ngày 01/7/2025 đến hết 31/12/2026