Cảm ơn quý khách đã gửi báo lỗi.
Quốc hội thông qua Nghị quyết 204/2025/QH15 về giảm thuế giá trị gia tăng vào ngày 17/6/2025 với 452 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành (chiếm 94,56% tổng số đại biểu).
Nghị quyết 204/2025/QH15 về giảm thuế giá trị gia tăng có nhiều điểm mới. Đặc biệt, mở rộng đối tượng áp dụng mức thuế GTGT giảm 2% (từ 10% còn 8%) cho các lĩnh vực như vận chuyển, logistic, dịch vụ công nghệ thông tin - những ngành có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế số.
Khác với các chính sách ngắn hạn trước đây, thời gian áp dụng chính sách giảm thuế được kéo dài đến hết năm 2026, giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong sản xuất kinh doanh.
Nghị quyết này áp dụng đối với các nhóm hàng hóa, dịch vụ quy định tại khoản 3 Điều 9 Luật Thuế giá trị gia tăng số 48/2024/QH15 (còn 8%), trừ một số nhóm hàng hóa, dịch vụ sau: Viễn thông, hoạt động tài chính, ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm, kinh doanh bất động sản, sản phẩm kim loại, sản phẩm khai khoáng (trừ than), sản phẩm hàng hóa và dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt (trừ xăng).
Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2025 đến hết 31/12/2026.
Trước đó, dự thảo Nghị quyết, Chính phủ đề xuất tiếp tục giảm 2% thuế suất thuế giá trị gia tăng đối với các nhóm hàng hóa, dịch vụ đang áp dụng mức thuế suất 10% (còn 8%), trừ một số nhóm hàng hóa, dịch vụ không được giảm.
Dự thảo Nghị quyết mở rộng thêm đối tượng được giảm thuế so với quy định tại các Nghị quyết của Quốc hội trước đây và kéo dài thời gian giảm thuế đến hết năm 2026. Theo đó, kinh doanh vận chuyển, logistic, hàng hoá, dịch vụ công nghệ thông tin thuộc đối tượng được giảm thuế.
Bên cạnh đó, theo quy định của pháp luật về thuế giá trị gia tăng thì hoạt động dạy học, dạy nghề và dịch vụ y tế thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng nên cũng không cần phải giảm thuế.
Đối với các dịch vụ như hoạt động tài chính, ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng nên không cần phải giảm thuế giá trị gia tăng, trong khi đó dịch vụ viễn thông, bất động sản là những ngành có tăng trưởng trong thời gian qua và cũng không thuộc đối tượng được giảm thuế giá trị gia tăng theo quy định tại Nghị quyết 43/2022/QH15.
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Doanh nghiệp, số 76/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 17/6/2025 và có hiệu lực từ 01/7/2025.
Khoản 1 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung Luật Doanh nghiệp, số 76/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số khoản của Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2020, số 59/2020/QH14 như sau:
- Về sửa đổi, bổ sung khoản 5 về cổ tức như sau:
“5. Cổ tức là khoản lợi nhuận sau thuế được trả cho mỗi cổ phần bằng tiền hoặc bằng tài sản khác.”;
Quy định trước đó: Cổ tức là khoản lợi nhuận ròng được trả cho mỗi cổ phần bằng tiền mặt hoặc bằng tài sản khác.
Bên cạnh đó, sửa đổi, bổ sung khoản 14 về giá thị trường của phần vốn góp hoặc cổ phần như sau:
- Giá giao dịch bình quân trong vòng 30 ngày liền kề trước ngày xác định giá hoặc giá thỏa thuận giữa người bán và người mua hoặc giá do một tổ chức thẩm định giá xác định đối với cổ phiếu niêm yết, đăng ký giao dịch trên hệ thống giao dịch chứng khoán;
- Giá giao dịch trên thị trường tại thời điểm liền kề trước đó hoặc giá thỏa thuận giữa người bán và người mua hoặc giá do một tổ chức thẩm định giá xác định đối với phần vốn góp hoặc cổ phần không thuộc điểm a khoản này.”;
Sửa đổi, bổ sung khoản 16 như sau:
“16. Giấy tờ pháp lý của cá nhân là một trong các loại giấy tờ sau đây: thẻ Căn cước, thẻ Căn cước công dân, Hộ chiếu, giấy tờ chứng thực cá nhân hợp pháp khác.”;
(Quy định trước đó là : thẻ Căn cước công dân, Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu, giấy tờ chứng thực cá nhân hợp pháp khác.)
Bên cạnh đó, bổ sung khoản 35 vào sau khoản 34 như sau:
“35. Chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp có tư cách pháp nhân (sau đây gọi là chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp) là cá nhân có quyền sở hữu trên thực tế vốn điều lệ hoặc có quyền chi phối đối với doanh nghiệp đó, trừ trường hợp người đại diện chủ sở hữu trực tiếp tại doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ và người đại diện phần vốn nhà nước tại công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên theo quy định của pháp luật về quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp.”.
Đây là thông tin được quy định tại Nghị định 158/2025/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc được Chính phủ ban hành ngày 25/6/2025.
Về đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, Điều 3 Nghị định 158/2025/NĐ-CP quy định như sau:
(1) Người lao động thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc thực hiện theo quy định tại các điểm a, b, c, g, h, i, k, l, m và n khoản 1 và khoản 2 Điều 2 của Luật Bảo hiểm xã hội.
Người lao động quy định tại các điểm a, b, c, i, k, 1 khoản 1 và khoản 2 Điều 2 của Luật Bảo hiếm xã hội được cử đi học, thực tập, công tác trong và ngoài nước mà vẫn hưởng tiền lương ở trong nước thì thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc.
(2) Chủ hộ kinh doanh của hộ kinh doanh có đăng ký kinh doanh quy định tại điểm m khoản 1 Điều 2 của Luật Bảo hiểm xã hội tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc bao gồm:
- Chủ hộ kinh doanh của hộ kinh doanh có đăng ký kinh doanh nộp thuế theo phương pháp kê khai;
- Chủ hộ kinh doanh của hộ kinh doanh có đăng ký kinh doanh không thuộc đối tượng có đăng ký kinh doanh nộp thuế theo phương pháp kê khai tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc từ ngày 01/7/2029.
(3) Đối tượng quy định tại (2) này và điểm n khoản 1 Điều 2 của Luật Bảo hiểm xã hội đồng thời thuộc nhiều đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 2 của Luật Bảo hiểm xã hội thì việc tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc thực hiện như sau:
- Đối tượng quy định tại khoản 2 Điều này đồng thời thuộc đối tượng quy định tại một trong các điểm b, c, d, đ, e, i, a, 1, k, n, h và g khoản 1 Điều 2 của Luật Bảo hiểm xã hội thì tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo đối tượng tương ứng quy định tại điểm b, c, d, đ, e, i, a, 1, k, n, h hoặc g khoản 1 Điều 2 của Luật Bảo hiểm xã hội theo thứ tự đến trước;
- Đối tượng quy định tại điểm n khoản 1 Điều 2 của Luật Bảo hiểm xã hội đồng thời thuộc đối tượng quy định tại một trong các điểm b, c, d, đ, e, i, a, l và k khoản 1 Điều 2 của Luật Bảo hiểm xã hội thì tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo đối tượng tương ứng quy định tại điểm b, c, d, đ, e, i, a, 1 hoặc k khoản 1 Điều 2 của Luật Bảo hiểm xã hội theo thứ tự đến trước.
(4) Đối tượng hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc quy định tại điểm a khoản 7 Điều 2 của Luật Bảo hiểm xã hội gồm:
Người đang hưởng trợ cấp mất sức lao động hằng tháng;
- Người đang hưởng trợ cấp hằng tháng theo quy định tại Nghị định số 09/1998/NĐ-CP
- Người đang hưởng trợ cấp hằng tháng theo quy định tại Quyết định số 91/2000/QĐ-TTg; Quyết định số 613/QĐ-TTg…
(5) Đối tượng quy định tại điểm a khoản 1 Điều 2 của Luật Bảo hiểm xã hội làm việc không trọn thời gian, có tiền lương trong tháng tính theo quy định tại khoản 2 Điều 7 của Nghị định này thấp hơn tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thấp nhất; người lao động làm việc theo hợp đồng thử việc theo quy định của pháp luật lao động không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc.
Luật Cán bộ, công chức của Quốc hội 2025, số 80/2025/QH15 đã quy định rõ quyền của cán bộ công chức từ 01/7/2025. Trong đó, bao gồm quyền về tiền lương, tiền thưởng.
Điều 10 Luật Cán bộ, công chức 2025 quy định về quyền của cán bộ, công chức về tiền lương, tiền thưởng và các chế độ liên quan đến tiền lương như sau:
- Được hưởng tiền lương, tiền thưởng và các khoản thu nhập khác theo kết quả, sản phẩm của vị trí việc làm đảm nhiệm, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, địa phương.
- Được hưởng tiền làm thêm giờ, tiền lương làm việc vào ban đêm, công tác phí và các chế độ khác theo quy định.
- Cán bộ, công chức làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn hoặc trong các nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm được hưởng phụ cấp và chính sách ưu đãi theo quy định.
Điều 11 Luật này đã quy định về quyền của cán bộ, công chức về nghỉ ngơi và các quyền khác.
Theo đó, cán bộ, công chức được nghỉ hằng năm, nghỉ lễ, tết, nghỉ việc riêng, nghỉ không hưởng lương theo quy định của pháp luật về lao động.
Trường hợp do yêu cầu nhiệm vụ, cán bộ, công chức không sử dụng hoặc sử dụng không hết số ngày nghỉ hằng năm thì ngoài tiền lương còn được thanh toán thêm một khoản tiền bằng tiền lương cho những ngày không nghỉ.
Bên cạnh đó, cán bộ, công chức được bảo đảm quyền học tập, nghiên cứu khoa học, tham gia các hoạt động kinh tế, xã hội; được hưởng chính sách ưu đãi về nhà ở, chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và chế độ khác theo quy định của pháp luật;
Trường hợp bị thương hoặc hy sinh trong khi thi hành công vụ thì được xem xét hưởng chế độ, chính sách như thương binh hoặc được xem xét để công nhận là liệt sĩ.
Ngoài ra Điều 9 của Luật cũng quy định về quyền của cán bộ, công chức về bảo đảm điều kiện thi hành công vụ.
Luật Nhà giáo 2025, số 73/2025/QH15 hiệu lực từ 01/01/2026 quy định cụ thể việc xử lý kỷ luật và tam đình chỉ dạy đối với nhà giáo từ thời điểm này.
Điều 35 Luật Nhà giáo 2025, số 73/2025/QH15 quy định về xử lý kỷ luật đối với nhà giáo như sau:
- Việc xử lý kỷ luật đối với nhà giáo là viên chức trong cơ sở giáo dục công lập:
Thực hiện theo quy định về xử lý kỷ luật đối với viên chức theo quy định của pháp luật về viên chức và quy định khác của pháp luật có liên quan.
- Việc xử lý kỷ luật đối với nhà giáo làm việc theo chế độ hợp đồng lao động trong cơ sở giáo dục công lập, cơ sở giáo dục ngoài công lập:
Thực hiện theo quy định về xử lý kỷ luật đối với người lao động theo quy định của pháp luật về lao động, quy chế tổ chức và hoạt động của cơ sở giáo dục và quy định khác của pháp luật có liên quan.
- Việc xử lý kỷ luật đối với nhà giáo không được làm ảnh hưởng đến hoạt động học tập của người học. Quá trình xem xét, xử lý kỷ luật nhà giáo phải bảo đảm tính nhân văn, bảo vệ hình ảnh, uy tín của nhà giáo.
Điều 36 Luật Nhà giáo 2025 quy định về tạm đình chỉ giảng dạy đối với nhà giáo.
Theo đó, trong thời hạn xem xét, xử lý kỷ luật, người đứng đầu cơ sở giáo dục quyết định tạm đình chỉ giảng dạy đối với nhà giáo nếu việc nhà giáo tiếp tục giảng dạy có thể gây khó khăn cho việc xem xét, xử lý kỷ luật hoặc ảnh hưởng đến uy tín nhà giáo và tâm lý người học;
Trường hợp người đứng đầu cơ sở giáo dục có dấu hiệu vi phạm thì cấp có thẩm quyền bổ nhiệm người đứng đầu cơ sở giáo dục ra quyết định tạm đình chỉ giảng dạy.
- Đối với nhà giáo trong cơ sở giáo dục công lập, thời gian tạm đình chỉ giảng dạy và tiền lương trong thời gian tạm đình chỉ giảng dạy thực hiện theo quy định của pháp luật về viên chức và quy định khác của pháp luật có liên quan.
- Đối với nhà giáo trong cơ sở giáo dục ngoài công lập, thời gian tạm đình chỉ giảng dạy và tiền lương trong thời gian tạm đình chỉ giảng dạy thực hiện theo quy định của pháp luật về lao động và quy định khác của pháp luật có liên quan.
Đây là quy định tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính của Quốc hội, số 88/2025/QH15 thông qua ngày 25/6/2025.
Theo khoản 7 Điều 1 Luật Xử lý vi phạm hành chính sửa đổi 2025, số 88/2025/QH15 g sửa đổi bổ sung khoản 1 Điều 54 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi bổ sung năm 2020 thì
Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính là cấp trưởng, người đứng đầu cơ quan, đơn vị được quy định tại Điều 37a của Luật này có thể giao cho cấp phó thực hiện thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính.
Việc giao quyền phải được thể hiện bằng quyết định bằng văn bản, trong đó phải xác định rõ phạm vi, nội dung, thời hạn giao quyền.
Dẫn chiếu Điều 37a được bổ sung vào Chương II Phần thứ hai và vào sau Điều 37 Luật Xử lý vi phạm hành chính, người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của Luật này gồm:
- Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp;
- Thủ trưởng tổ chức thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ giúp Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực;
Thủ trưởng tổ chức thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ được giao chức năng, nhiệm vụ kiểm tra trong phạm vi quản lý nhà nước của Bộ, cơ quan ngang Bộ, trừ trường hợp Bộ, cơ quan ngang Bộ có các chức danh quy định tại điểm đ khoản này;
- Thủ trưởng cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; Thủ trưởng Chi cục thuộc Cục thuộc Bộ và tương đương; Thủ trưởng Chi cục thuộc cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và tương đương;
- Thanh tra viên; Trưởng đoàn Thanh tra trong thời hạn thanh tra;
- Chánh Thanh tra của cơ quan thanh tra trong Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam;
- Chánh Thanh tra của cơ quan thanh tra Cơ yếu; Thủ trưởng cơ quan Thanh tra được thành lập theo điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;
- Trưởng đoàn kiểm tra của Bộ, cơ quan ngang Bộ trong thời hạn kiểm tra;...
Căn cứ theo khoản 2 Điều 87 (về cưỡng chế) và thực tiễn áp dụng thống nhất:
- Cấp phó chỉ được giao quyền khi có quyết định bằng văn bản của cấp trưởng.
- Không được tiếp tục ủy quyền lại cho người khác.
- Phải chịu trách nhiệm trước cấp trưởng và trước pháp luật về việc thực hiện thẩm quyền xử phạt.
Luật sửa đổi Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2025, số 87/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 25/6/2025, hiệu lực từ 01/7/2025.
Khoản 1 Điều 1 Luật sửa đổi đã sửa đổi Điều 4 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2025 về hệ thống văn bản quy phạm pháp luật. Theo đó, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật gồm 15 loại văn bản:
1. Hiến pháp.
2. Bộ luật, luật (sau đây gọi chung là luật), nghị quyết của Quốc hội.
3. Pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban Thường vụ Quốc hội với Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ với Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
4. Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước.
5. Nghị định, nghị quyết của Chính phủ; nghị quyết liên tịch giữa Chính phủ với Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
6. Quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
7. Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
8. Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ; thông tư của Tổng Kiểm toán nhà nước.
9. Thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ.
10. Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố (sau đây gọi chung là cấp tỉnh).
11. Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
12. Quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (bổ sung mới)
13. Văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt.
14. Nghị quyết của Hội đồng nhân dân xã, phường, đặc khu trực thuộc cấp tỉnh (sau đây gọi chung là cấp xã).
15. Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp xã (bổ sung mới)
Như vậy, Luật sửa đổi bổ sung 02 loại văn bản là:- Quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và
- Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp xã
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, số 99/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 27/6/2025, hiệu lực từ 01/7/2025.
Khoản 5 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Tố tụng hình sự 2025, số 99/2025/QH15 đã bổ sung khoản 1a vào sau khoản 1 Điều 37 về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Điều tra viên của Luật 2015 như sau:
Điều tra viên trung cấp, Điều tra viên cao cấp là Trưởng Công an cấp xã hoặc Phó Trưởng Công an cấp xã được Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp tỉnh phân công tiến hành hoạt động khởi tố, điều tra vụ án về tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng xảy ra trên địa bàn cấp xã có nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại khoản 1 Điều này, các điểm a, c khoản 1 và khoản 2 Điều 36 của Bộ luật Tố tụng hình sự, trừ quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt.
Bộ trưởng Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định chi tiết khoản này.
Khoản 6 sửa đổi, bổ sung khoản 4 và bổ sung khoản 5 vào sau khoản 4 Điều 41 về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sátnhư sau:
- Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi, quyết định của mình. Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát không được ủy quyền cho Kiểm sát viên thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, trừ trường hợp quy định tại khoản 5 Điều này.
- Trường hợp Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm Viện kiểm sát nhân dân tối cao giải quyết vụ án thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thể ủy quyền cho Kiểm sát viên giữ chức vụ Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
- Nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại điểm a khoản 1 và điểm p khoản 2 Điều này; kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm bản án, quyết định của Tòa án theo quy định của Bộ luật này;
- Quyết định phân công hoặc thay đổi Phó Viện trưởng Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên; kiểm tra hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Phó Viện trưởng Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên;
- Quyết định thay đổi hoặc hủy bỏ quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của Phó Viện trưởng Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên.
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quốc tịch Việt Nam của Quốc hội, số 79/2025/QH15 được thông qua ngày 24/6/2025 và có hiệu lực từ 01/7/2025.
Một trong những sửa đổi đáng chú ý được nêu tại khoản 5 Điều Luật Quốc tịch Việt Nam sửa đổi 2025,số 79/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung Điều 19 Luật 2008 về điều kiện được nhập quốc tịch Việt Nam
Theo đó, công dân nước ngoài và người không quốc tịch có đơn xin nhập quốc tịch Việt Nam thì có thể được nhập quốc tịch Việt Nam, nếu có đủ các điều kiện sau đây:
(1) Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật Việt Nam, trừ trường hợp là người chưa thành niên xin nhập quốc tịch Việt Nam theo cha hoặc mẹ, người chưa thành niên có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam;
(2) Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật Việt Nam; tôn trọng văn hóa, truyền thống, phong tục, tập quán của dân tộc Việt Nam;
(3) Biết tiếng Việt đủ để hòa nhập vào cộng đồng Việt Nam;
(4) Đang thường trú ở Việt Nam;
(5) Thời gian thường trú ở Việt Nam từ 05 năm trở lên tính đến thời điểm xin nhập quốc tịch Việt Nam;
(6) Có khả năng bảo đảm cuộc sống tại Việt Nam.
* Người xin nhập quốc tịch Việt Nam có vợ hoặc chồng hoặc có con đẻ là công dân Việt Nam thì có thể được nhập quốc tịch Việt Nam mà không phải đáp ứng các điều kiện quy định tại (3), (5), (6)
* Người xin nhập quốc tịch Việt Nam thuộc một trong những trường hợp sau đây thì có thể được nhập quốc tịch Việt Nam mà không phải đáp ứng các điều kiện quy định tại (3), (4), (5), (6)
- Có cha đẻ hoặc mẹ đẻ hoặc ông nội và bà nội hoặc ông ngoại và bà ngoại là công dân Việt Nam;
- Có công lao đặc biệt đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam;
- Có lợi cho Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
- Là người chưa thành niên xin nhập quốc tịch Việt Nam theo cha hoặc mẹ.
Người xin nhập quốc tịch Việt Nam phải có tên bằng tiếng Việt hoặc bằng tiếng dân tộc khác của Việt Nam. Trường hợp người xin nhập quốc tịch Việt Nam đồng thời xin giữ quốc tịch nước ngoài thì có thể lựa chọn tên ghép giữa tên Việt Nam và tên nước ngoài. Tên do người xin nhập quốc tịch Việt Nam lựa chọn và được ghi rõ trong Quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam.
Bên cạnh đó, người xin nhập quốc tịch Việt Nam không được nhập quốc tịch Việt Nam, nếu việc đó làm phương hại đến lợi ích quốc gia của Việt Nam.
Không sử dụng quốc tịch nước ngoài để gây phương hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân, xâm hại an ninh, lợi ích quốc gia, trật tự, an toàn xã hội của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự năm 2025, chính thức có hiệu lực từ 01/7/2025 đã nâng mức hình phạt tù đối với 08 tội danh về môi trường, an toàn thực phẩm, ma túy. Dưới đây là nội dung chi tiết.
Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự năm 2025 đã nâng mức hình phạt tù so với quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Cụ thể, theo quy định tại khoản 12,18,19,21 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự năm 2025, có 08 tội danh sau đây bị tăng mức phạt từ từ 01/7/2025:
(1) Tội gây ô nhiễm môi trường (Điều 235): Tăng mức hình phạt tù thấp nhất từ 03 tháng năm thành 02 năm tại khoản 1.
(2) Tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại (Điều 236): Tăng mức hình phạt tù thấp nhất từ 03 tháng năm thành 02 năm tại khoản 1.
(3) Tội sản xuất trái phép chất ma túy (Điều 248): Tăng mức hình phạt tù thấp nhất từ 02 năm thành 03 năm tại khoản 1.
(4) Tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Điều 249): Tăng mức hình phạt tù thấp nhất từ 01 năm thành 03 năm tại khoản 1.
(5) Tội vận chuyển trái phép chất ma túy (Điều 250): Tăng mức hình phạt tù thấp nhất từ 02 năm thành 03 năm tại khoản 1.
(6) Tội mua bán trái phép chất ma túy (Điều 251): Tăng mức hình phạt tù thấp nhất từ 02 năm thành 03 năm tại khoản 1.
(7) Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 255): Tăng mức hình phạt tù thấp nhất từ 02 năm thành 03 năm tại khoản 1.
(8) Tội vi phạm quy định về an toàn thực phẩm (Điều 317): Tăng mức hình phạt tù thấp nhất từ 01 năm thành 02 năm tại khoản 1.
Mức phạt tù thay đổi đối với các tội danh nêu trên được áp dụng để khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án đối với người thực hiện hành vi phạm tội từ 0 giờ 00 phút ngày 01/7/2025 theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 4 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2025.
Cảm ơn Quý khách đã dành thời gian đọc bản tin của chúng tôi!
Trung tâm luật việt nam - Công ty CP truyền thông quốc tế INCOM
Tại Hà Nội: Tầng 3, Tòa nhà IC, 82 phố Duy Tân, Cầu Giấy, Hà Nội - Hotline: 0938 36 1919
Tại TP.HCM: Tầng 3, số 607 - 609 Nguyễn Kiệm, Phường Đức Nhuận, TP.Hồ Chí Minh - Tel: 0938 36 1919
Email: [email protected]
Lưu ý:
* Bản tin tóm tắt nội dung văn bản chỉ mang tính chất tổng hợp, không có giá trị áp dụng vào các trường hợp cụ thể. Để hiểu đầy đủ và chính xác quy định pháp luật, khách hàng cần tìm đọc nội dung chi tiết toàn văn bản.
* Nếu không muốn tiếp tục nhận bản tin, phiền Quý khách hàng vui lòng click vào đường link dưới đây https://luatvietnam.vn/huy-dang-ky-nhan-ban-tin.html Quý vị sẽ nhận được yêu cầu xác nhận lần cuối cùng trước khi hủy bỏ địa chỉ email của mình khỏi danh sách.