Thông tư 79/2000/TT-BTC của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn bổ sung việc giảm, miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp đối với vùng lũ lụt, vung khó khăn.

Thuộc tính Nội dung VB gốc Tiếng Anh Hiệu lực VB liên quan Lược đồ Nội dung MIX Tải về
LuatVietnam.vn độc quyền cung cấp bản dịch chính thống Công báo tiếng Anh của Thông Tấn Xã Việt Nam
LuatVietnam.vn độc quyền cung cấp bản dịch chính thống Công báo tiếng Anh của Thông Tấn Xã Việt Nam
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng: Đã biết

THÔNG TƯ

CỦA BỘ TÀI CHÍNH SỐ 79/2000/TT-BTC NGÀY 28 THÁNG 7 NĂM 2000 HƯỚNG DẪN BỔ SUNG VIỆC GIẢM, MIỄN THUẾ SỬ DỤNG ĐẤT
NÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI VÙNG LŨ LỤT, VÙNG KHÓ KHĂN

Căn cứ quy định tại Điều 21, 22 Chương V Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp về chính sách giảm, miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp do thiên tai; chính sách miễn thuế hoặc giảm thuế cho hộ nông dân sản xuất ở vùng cao, miền núi, biên giới và hải đảo, hộ nông dân thuộc dân tộc thiểu số mà sản xuất và đời sống còn nhiều khó khăn;

Căn cứ điểm 4 Mục I về thực hiện miễn giảm thuế SDĐNN cho nông dân vùng bị lũ lụt, các đối tượng chính sách, hộ nghèo, xã đặc biệt khó khăn quy định tại Nghị quyết số 24/1999/QH/10 ngày 29/11/1999.

Căn cứ Điều 16, 17, 18 Chương V Nghị định số 74/CP ngày 25/10/1993 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành luật thuế sử dụng đất nông nghiệp;

Căn cứ Quyết định 135/1998/QĐ-TTg ngày 31/7/1998 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt chương trình phát triển kinh tế- xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa

Căn cứ Quyết định số 1073/QĐ/TTg ngày 17/11/1999 của Thủ tướng Chính phủ về khắc phục hậu quả lũ lụt tại các tỉnh, thành phố: Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định;

Để góp phần khắc phục hậu quả lũ lụt, giúp nông dân sớm ổn định và phát triển sản xuất, ổn định đời sống;

Thực hiện chủ trương xoá đói, giảm nghèo đối với nông nghiệp và nông thôn của Đảng và Nhà nước, Bộ Tài chính hướng dẫn bổ sung việc giảm, miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp (SDĐNN) cho các hộ sản xuất nông nghiệp thuộc vùng bị lũ lụt; Xã đặc biệt khó khăn miền núi, vùng sâu, vùng xa; hộ sản xuất nông nghiệp thuộc diện nghèo, đói như sau:

 

I. MIỄN, GIẢM THUẾ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI HỘ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP THUỘC VÙNG BỊ LŨ LỤT:

 

1. Hộ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản (gọi chung là hộ nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp) thuộc vùng bị lũ lụt được xét giảm, miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp theo năm hoặc theo vụ bị thiên tai quy định tại Điều 17 Chương V Nghị định số 74/CP ngày 25/10/1993 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành luật Thuế sử dụng đất nông nghiệp; Trong trường hợp bị thiệt hại nặng còn được miễn giảm thuế SDĐNN cụ thể như sau:

a. Hộ sản xuất nông nghiệp trong vùng bị lũ lụt đời sống và sinh hoạt có nhiều khó khăn thuộc diện Nhà nước phải cứu đói được xét miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp một năm.

b. Hộ bị thiệt hại nặng về tài sản: nhà cửa đổ nát hư hỏng trên 40%; Trâu, bò bị chết, tư liệu sản xuất chủ yếu khác bị hư hỏng nặng, bị mất, bị lũ cuốn trôi được xét miễn thuế SDĐNN theo tiết a trên đây còn được xét miễn hoặc giảm thuế của năm tiếp theo sau năm bị lũ lụt để giúp ổn định đời sống.

c. Hộ gia đình trong vùng lũ lụt có bố, mẹ, vợ hoặc chồng, con (trong cùng một hộ) bị chết; bị mất tích (từ một người trở lên); bị thương nặng phải điều trị dài ngày thì được miễn thuế SDĐNN một năm, nếu đã được xét miễn thuế theo quy định tại tiết a trên đây cũng được xem xét để miễn hoặc giảm thuế của năm tiếp theo.

d. Hộ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản (gồm cả các doanh nghiệp) thuộc vùng lũ lụt có diện tích ruộng vườn, đất nuôi trồng thủy sản, đất rừng trồng bị nước lũ làm sói lở; cuốn trôi hoặc bị đất, cát vùi lấp phải đầu tư cải tạo lại ruộng đồng, hệ thống bờ vùng, bờ thửa, kênh mương nội đồng thì được miễn thuế SDĐNN một năm đối với diện tích này. Nếu diện tích này năm tiếp theo sản xuất vẫn chưa ổn định, còn phải tăng thêm chi phí đầu tư để cải tạo tiếp thì được xét miễn, giảm thuế của năm đó.

2. Giảm tối đa 80% thuế sử dụng đất nông nghiệp 1 năm đối với:

a. Hộ sản xuất nông nghiệp (gồm cả các doanh nghiệp) trong vùng lũ lụt, bị thiệt hại về tài sản gồm: nhà cửa đổ nát hư hỏng dưới 40%; một số tư liệu sản xuất chủ yếu khác bị hư hỏng, bị mất phải đầu tư mua sắm lại..

b. Hộ sản xuất nông nghiệp trong vùng lũ lụt có diện tích lúa, hoa màu, cây cối, thủy sản nuôi bị hư hại (bao gồm cả lúa, hoa màu chưa đến vụ thu hoạch phải chuyển đổi cây trồng hoặc đã thu hoạch về nhà nhưng bị ngâm nước; lẫn với đất đá, cát sỏi); bị lên mầm; bị hư hỏng thì tuỳ theo mức độ thiệt hại của từng loại để xét giảm thuế SDĐNN theo mức độ thiệt hại như quy định tại Điều 17 Chương V Nghị định số 74/CP ngày 25/10/1993 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành luật thuế sử dụng đất nông nghiệp.

3. Việc xét miễn, giảm thuế cho hộ sản xuất nông nghiệp tại điểm 1 và 2 Mục I Thông tư này được thực hiện ngay trong vụ hoặc năm bị lũ lụt.

4. Số thuế miễn giảm chính sách xã hội (nếu có) cộng với số thuế miễn giảm thiên tai lũ lụt trong năm không vượt quá số thuế ghi thu trên sổ bộ thuế của năm xét miễn giảm thuế.

5. Các đối tượng thuộc diện được miễn hoặc giảm thuế SDĐNN theo quy định trên đây, trong năm bị lũ lụt nếu đã nộp thuế vào ngân sách Nhà nước thì số thuế được miễn, được giảm này sẽ được chuyển trừ vào số thuế phải nộp của các năm tiếp theo sau năm bị lũ lụt.

 

II. MIỄN, GIẢM THUẾ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI HỘ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP Ở VÙNG CAO, MIỀN NÚI,
BIÊN GIỚI VÀ HẢI ĐẢO, HỘ NÔNG DÂN THUỘC DÂN TỘC THIỂU SỐ, CÁC HỘ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP KHÁC MÀ
SẢN XUẤT VÀ ĐỜI SỐNG CÒN NHIỀU KHÓ KHĂN
THUỘC DIỆN HỘ XOÁ ĐÓI CỦA ĐỊA PHƯƠNG:

 

Miễn, giảm thuế SDĐNN hàng năm cho các hộ sản xuất nông nghiệp thuộc đối tượng chính sách xã hội đã được quy định cụ thể tại Điều 16 Chương V Nghị định số 74/CP ngày 25/10/1993 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành luật thuế sử dụng đất nông nghiệp và hướng dẫn cụ thể tại điểm 2a, 2b Mục I Thông tư số 60 TC/TCT ngày 14/7/1994 của Bộ Tài chính hướng dẫn bổ sung việc giảm, miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp. Nay Bộ Tài chính hướng dẫn thêm về miễn giảm theo chính sách xã hội như sau:

1. Đối với các xã thuộc chương trình thực hiện Quyết định 135/1998/QĐ-TTg ngày 31/7/1998 và Quyết định số 1232/QĐ/TTg ngày 24/12/1999 của Thủ tướng Chính phủ về chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn, miền núi và vùng sâu, vùng xa:

a. Hộ sản xuất nông nghiệp được miễn thuế SDĐNN hàng năm gồm:

Hộ sản xuất nông nghiệp sản xuất và đời sống có khó khăn được xác định là hộ đói, hộ nghèo ở địa phương (trừ các hộ sản xuất khá và đời sống thường xuyên ổn định).

Hộ sản xuất nông nghiệp là gia đình thương binh, bệnh binh, liệt sỹ, gia đình có công với cách mạng, được xác định là hộ sản xuất và đời sống có nhiều khó khăn.

Hộ sản xuất nông nghiệp là gia đình bộ đội, thanh niên xung phong, người tham gia kháng chiến và các hộ khác được chính quyền xã xác định có con cái bị ảnh hưởng do di chứng của chiến tranh để lại như tâm thần, bại liệt, mất khả năng lao động...v.v.

b. Giảm tối đa 50% thuế SDĐNN cho các hộ sản xuất nông nghiệp thuộc đối tượng quy định tại tiết a nêu trên chưa thuộc diện miễn thuế mà trong sản xuất nông nghiệp và đời sống có nhiều khó khăn như: hộ gia đình đông con; gặp những rủi ro trong sản xuất và làm chưa đủ ăn, thuộc diện hộ nghèo ở địa phương.

2. Đối với các xã thuộc các vùng còn lại trong cả nước.

a. Hộ sản xuất nông nghiệp được miễn thuế SDĐNN hàng năm gồm:

Hộ sản xuất nông nghiệp được xác định là các hộ đói ở địa phương.

Hộ gia đình là bộ đội, thanh niên xung phong, người tham gia kháng chiến và các hộ khác được chính quyền xã xác định có con cái bị ảnh hưởng do di chứng của chiến tranh để lại như tâm thần, bại liệt, mất khả năng lao động. v.v... mà sản xuất và đời sống có nhiều khó khăn

Hộ sản xuất nông nghiệp là gia đình thương binh, bệnh binh, liệt sỹ, gia đình có công với cách mạng, được xác định là các hộ nghèo trong sản xuất và đời sống có nhiều khó khăn.

b. Giảm tối đa 50% thuế SDĐNN ghi thu cho các đối tượng quy định tại tiết a điểm 2 trên đây mà chưa đủ điều kiện để xét miễn thuế.

c. Giảm thuế SDĐNN cho các hộ sản xuất nông nghiệp thuộc vùng chuyên sản xuất nông sản, lâm sản, thuỷ sản theo hợp đồng hoặc theo quy hoạch vùng để cung cấp nguyên liệu cho các cơ sở chế biến tập trung bị thiệt hại do nguyên nhân khách quan như: giá cả thị trường giảm mạnh, doanh thu bán nông sản phẩm không đủ bù đắp chi phí hoặc thu hoạch chậm ảnh hưởng vụ sau, phải phá bỏ. Mức giảm, miễn thuế tương ứng với tỷ lệ thiệt hại theo quy định tại Điều 17 chương V Nghị định số 74/CP ngày 25/10/1993 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp. Tỷ lệ thiệt haị căn cứ vào sản lượng thu hoạch thực tế và giá bán thực tế so với sản lượng thực tế tính theo giá cố định do UBND tỉnh quy định.

 

III. TRÌNH TỰ, THỦ TỤC, THẨM QUYỀN
GIẢI QUYẾT MIỄN GIẢM:

 

1. Căn cứ vào danh sách các xã đặc biệt khó khăn ban hành kèm theo Quyết định số 1232/QĐ/TTg ngày 24/12/1999 của Thủ tướng Chính phủ; tình hình thực tế ở từng địa phương, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương công bố danh sách cụ thể các xã đặc biệt khó khăn và các xã biên giới trên địa bàn quản lý đồng thời quy định cụ thể các tiêu chí xác định hộ nghèo, hộ đói, hộ sản xuất và đời sống có nhiều khó khăn để làm căn cứ xét miễn, giảm thuế SDĐNN hàng năm.

2. Hộ sản xuất nông nghiệp thuộc diện xét miễn giảm thuế SDĐNN phải có đơn đề nghị gửi cơ quan thuế xã, phường trong đó trình bày rõ lý do xin miễn giảm thuế theo tiêu chuẩn quy định của UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về xã vùng sâu, vùng xa, về hộ đói, hộ nghèo.

Trường hợp vùng bị bão lũ các hộ sản xuất nông nghiệp bị thiệt hại nghiêm trọng và những xã đặc biệt khó khăn thuộc diện miễn giảm đồng loạt thì cơ quan thuế phường, xã kết hợp với UBND xã lập danh sách thay cho việc làm đơn của từng hộ sản xuất nông nghiệp.

3. Trình tự, thủ tục miễn giảm.

a. Tại xã, phường: Cơ quan thuế và hội đồng tư vấn thuế căn cứ đơn đề nghị của hộ sản xuất nông nghiệp, tình hình và mức độ thiệt hại do lũ lụt và tình hình sản xuất, đời sống của từng hộ sản xuất nông nghiệp trong xã, phường để lựa chọn, phân loại, lập danh sách và kiến nghị mức miễn giảm thuế của hộ nghèo đói, hộ sản xuất và đời sống có nhiều khó khăn trong xã, phường theo tiêu chuẩn quy định của UBND tỉnh, thành phố và quy định tại Thông tư này. Danh sách hộ sản xuất nông nghiệp được xem xét miễn, giảm thuế SDĐNN được niêm yết tại địa điểm thuận tiện của xã và thông báo cho nhân dân biết để tham gia ý kiến. Trong thời hạn 15 ngày, sau khi nghiên cứu tiếp thu ý kiến của nhân dân, cơ quan thuế báo cáo UBND xã, phường xét duyệt cụ thể danh sách từng hộ được miễn giảm thuế SDĐNN theo đúng đối tượng và số thuế được miễn giảm quy định và gửi Chi cục thuế.

b. Chi cục thuế phối hợp với Hội đồng tư vấn thuế cấp huyện (hoặc tương đương) căn cứ vào các quy định của Nhà nước và của UBND tỉnh, thành phố để kiểm tra lại tính đúng đắn, hợp pháp danh sách các hộ do cấp xã đề nghị giảm miễn thuế SDĐNN và tổng hợp báo cáo Cục thuế.

c. Cục thuế phối hợp với các ngành có liên quan xem xét mức độ thiệt hại thực tế về lũ lụt từng vùng, thực trạng về số hộ nghèo, đói, hộ sản xuất và đời sống có nhiều khó khăn để báo cáo UBND tỉnh, thành phố quyết định miễn giảm thuế SDĐNN.

d. Sau khi có quyết định miễn giảm thuế của UBND tỉnh, thành phố, danh sách hộ sản xuất nông nghiệp được miễn, giảm được niêm yết công khai tại trụ sở UBND xã và phải thông báo công khai, kịp thời đến từng hộ nộp thuế.

 

IV. TỔ CHỨC THỰC HIỆN:

 

1. Chủ tịch UBND các tỉnh có trách nhiệm: Chỉ đạo cơ quan thuế và các ngành có liên quan ở địa phương nghiên cứu quy định cụ thể tiêu chí xác định hộ đói, hộ nghèo, hộ sản xuất nông nghiệp có nhiều khó khăn để làm cơ sở cho việc xét duyệt giảm, miễn thuế SDĐNN ở địa phương kịp thời, đúng đối tượng. Chỉ đạo, kiểm tra các cơ quan chức năng thực hiện việc xét miễn giảm thuế SDĐNN và thông báo công khai, kịp thời cho hộ thuộc diện được miễn giảm thuế biết; Chỉ đạo các cơ quan thông tin, tuyên truyền ở địa phương tuyên truyền, giải thích chính sách miễn, giảm thuế SDĐNN, của Nhà nước để nhân dân biết và thực hiện.

2. Cơ quan thuế phối hợp với các ngành cùng hội đồng tư vấn thuế làm tham mưu cho UBND các cấp trong việc xác định miễn giảm thuế SDĐNN.

Những vùng bị bão, lũ lụt thiệt hại lớn, phải miễn giảm đồng loạt, đội thuế phường, xã phối hợp với các ngành chức năng để lập danh sách, hồ sơ theo hộ và xác định số thuế được miễn giảm của từng hộ, tổng hợp báo cáo UBND phường, xã ra thông báo công khai theo từng thôn, bản.

Những thôn, xã bị thiệt hại ít hoặc chỉ một số hộ bị thiệt hại, số hộ nghèo đói, hộ sản xuất và đời sống có nhiều khó khăn nhỏ lẻ thì cơ quan thuế phối hợp với chính quyền địa phương hướng dẫn hộ nộp thuế làm đơn và lập hồ sơ từng hộ làm cơ sở xét miễn hoặc giảm thuế theo quy định tại Thông tư này.

3. Thông tư này có hiệu lực từ ngày ký. Các quy định miễn giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp không trái với quy định tại Thông tư này vẫn có hiệu lực thi hành. Trong quá trình thực hiện nếu còn vướng mắc, đề nghị các địa phương phản ánh về Bộ Tài chính để nghiên cứu xử lý.

Thuộc tính văn bản
Thông tư 79/2000/TT-BTC của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn bổ sung việc giảm, miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp đối với vùng lũ lụt, vung khó khăn.
Cơ quan ban hành: Bộ Tài chính Số công báo: Đã biết
Số hiệu: 79/2000/TT-BTC Ngày đăng công báo: Đang cập nhật
Loại văn bản: Thông tư Người ký: Vũ Văn Ninh
Ngày ban hành: 28/07/2000 Ngày hết hiệu lực: Đang cập nhật
Áp dụng: Đã biết Tình trạng hiệu lực: Đã biết
Lĩnh vực: Đất đai-Nhà ở , Thuế-Phí-Lệ phí , Chính sách , Nông nghiệp-Lâm nghiệp
Tóm tắt văn bản
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Nội dung văn bản đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem VB liên quan.
Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!
Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Hiệu lực.
Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!

THE MINISTRY OF FINANCE
-------

SOCIALIST REPUBLIC OF VIET NAM
Independence - Freedom - Happiness
----------

No: 79/2000/TT-BTC

Hanoi, July 28, 2000

 

CIRCULAR

ADDITIONALLY GUIDING THE REDUCTION OR EXEMPTION OF AGRICULTURAL LAND USE TAX IN FLOOD-STRICKEN AREAS AND OTHER AREAS MEETING WITH DIFFICULTIES

Pursuant to the provisions of Articles 21 and 22, Chapter V of the Law on Agricultural Land Use Tax concerning the policy on reduction or exemption of agricultural land use tax due to natural disasters, the policy on tax exemption or reduction for farmer households in highland, mountainous areas, border areas and islands, and farmer households of ethnic minorities who still meet many difficulties in production and life;
Pursuant to Point 4, Item I on the exemption or reduction of agricultural land use tax for farmers in areas stricken by flood, and beneficiaries of social welfare policies, poor households, communes meeting with great difficulties as stipulated in Resolution No.24/1999/QH10 of November 29, 1999;
Pursuant to Articles 16, 17 and 18, Chapter V of Decree No. 74/CP of October 25, 1993 of the Government detailing the implementation of the Law on Agricultural Land Use Tax;
Pursuant to Decision No. 135/1998/QD-TTg of July 31, 1998 of the Prime Minister on the ratification of socio-economic development program for communes meeting with great difficulties in the mountainous, deep-lying and remote areas;
Pursuant to Decision No. 1073/QD-TTg of November 17, 1999 of the Prime Minister on overcoming the consequences of floods in the provinces and cities: Quang Binh, Quang Tri, Thua Thien-Hue, Da Nang, Quang Nam, Quang Ngai and Binh Dinh;
In order to contribute to overcoming the consequences of floods and help the farmers to stabilize and develop production and stabilize life soon;
In realization of the policy of the Party and the State on eradicating hunger and alleviating poverty in agriculture and rural areas, the Ministry of Finance provides the following additional guidance on the reduction and exemption of agricultural land use tax for the agricultural production households in the flood-stricken areas, the communes meeting with great difficulties in the mountainous, deep-lying and remote areas and the agricultural production households in the poor and hungry category:

I. EXEMPTION OR REDUCTION OF AGRICULTURAL LAND USE TAX FOR AGRICULTURAL PRODUCTION HOUSEHOLDS IN FLOOD-STRICKEN AREAS

1. Households engaged in agricultural and forestry production and aquaculture (collectively referred to as households paying agricultural land use tax) in the flood-stricken areas shall be considered for reduction or exemption of agricultural land use tax for each year or each crop affected by natural disasters as stipulated in Article 17, Chapter V of Decree No. 74/CP of October 25, 1993 of the Government detailing the implementation of the Law on Agricultural Land Use Tax. In case of heavy damage, they shall also enjoy agricultural land use tax reduction or exemption as follows:

a/ Agricultural production households in the flood-stricken areas which meet with many difficulties in life and activities and are classed hungry ones to be succored by the State shall be eligible for one-year agricultural land tax exemption.

b/ Households that suffer heavy damage in properties such as their houses are destroyed or more than 40% damaged, their bovine animals are lost, or their other main production implements are heavily damaged, lost or washed away by the flood, are eligible for agricultural land use tax exemption according to Item a above, and for the year following the flood year so that they can stabilize their life.

c/ Family households in the flood areas that have their parents or spouses or children (in the same household) killed or reported missing (one or more persons), seriously injured and requiring prolonged medical treatment shall be exempted from agricultural land use tax for one year. If they have been exempted from tax as stipulated in Item a above, they shall also be considered for tax reduction or exemption in the subsequent year.

d/ Households engaged in agricultural and forestry production and aquaculture (including enterprises) in the flood areas that have their fields or gardens or land for aquaculture, or land under planted forests that suffer from landslide caused by the flood or filled up by soil and sand and have to invest in revamping the fields, the system of field embankments and irrigation canals and ditches, shall be exempted from agricultural land use tax for one year for the affected areas. If these areas cannot be restored to stable production in the subsequent year and need more investment in further, they are eligible for tax exemption, or reduction in that year.

2. Maximum reduction by 80% of agricultural land use tax for one year for the following households:

a/ Agricultural production households (including enterprises) in the flood areas that have their properties damaged such as houses damaged by less than 40% and a number of main production means damaged or lost that require investment in reprocurement.

b/ Agricultural production households in the flood areas having their rice fields or subsidiary crop land, trees, reared aquatic products damaged (including paddy, subsidiary crops pending harvest and having to switch to other crops or having been brought home but submerged in water, or being mingled with soil, sand and pebble or having germinated or otherwise damaged). They shall, depending on the extent of the damage of each kind of crop, be considered for agricultural land use tax reduction according to stipulations in Article 17, Chapter V of Decree No. 74/CP of October 25, 1993 of the Government detailing implementation of the law on agricultural land use tax.

3. The consideration for tax exemption or reduction for agricultural production households in Points 1 and 2, Section I of this Circular shall be carried out right in the crop or year of the flood.

4. The amount of tax exempted or reduced under the social policies (if any) plus the amount of tax exempted or reduced due to the flood in a year shall not exceed the tax recorded in the tax register of the year when the exemption or reduction is considered.

5. If the subjects in the category eligible for agricultural land use tax exemption or reduction stipulated above in the flood year have paid the tax into the State budget, the tax which is exempted or reduced shall be cleared against the tax to be paid in the years following the flood year.

II. EXEMPTION OR REDUCTION OF AGRICULTURAL LAND USE TAX FOR AGRICULTURAL PRODUCTION HOUSEHOLDS IN THE HIGHLANDS, MOUNTAINOUS AREAS, BORDER AREAS AND ISLANDS, FARMER HOUSEHOLDS OF ETHNIC MINORITIES, OTHER AGRICULTURAL PRODUCTION HOUSEHOLDS, WHOSE PRODUCTION AND LIFE STILL MEET WITH MANY DIFFICULTIES IN THE CATEGORY OF HOUSEHOLDS THAT NEED HUNGER ERADICATION

Annual exemption or reduction of agricultural land use tax for agricultural production households being beneficiaries of social policies has been concretely stipulated in Article 16, Chapter V of Decree No. 74/CP of October 25, 1993 of the Government detailing the implementation of the Law on Agricultural Land Use Tax and concrete guidance in Points 2a, 2b, Section I of Circular No. 60/TC/TCT of July 14, 1994 of the Ministry of Finance providing additional guidance for the reduction or exemption of agricultural land use tax. Now the Ministry of Finance provides the following further guidance on the reduction or exemption according to the social policy:

1. With regard to the communes under the program now implementing Decision No. 135/1998/QD-TTg of July 31, 1998 and Decision No. 1232/QD-TTg of December 24, 1999 of the Prime Minister on the program for socio-economic development of the communes with great difficulties, the mountainous, deep-lying and remote regions;

a/ The agricultural production households enjoying annual exemption of agricultural land use tax include:

Agricultural production households, which are meeting with difficulties in their production and life and recognized as hunger-stricken or poor families in the locality (except those households which are rated well-off and have a stable life).

Agricultural production households, which are families of war invalids, sick soldiers or fallen heroes, families having made meritorious services to the revolution and are classed as households meeting with many difficulties in production and life.

Agricultural production households, which are families of soldiers, young volunteers, former resistance war activists and other households that are recognized by the commune administration to have their children affected by aftermath of the war such as mental diseases, paralysis, loss of working capability, etc.

b/ Maximum reduction by 50% of agricultural land use tax for agricultural production households in the category stipulated in Item a above which though not yet in the category eligible for tax exemption are meeting many difficulties in agricultural production and life such as large number of children, suffering from risks in production and unable to make both ends meet, classed in the category of poor households in the locality.

2. With regard to the communes in the other areas in the whole country:

a/ Agricultural production households enjoying annual exemption of agricultural land use tax include:

Agricultural production households recognized as hunger-stricken households in the locality.

Family households of soldiers, volunteer youths, resistance war activists and other households recognized by the commune administration as having their children affected by the aftermath of war such as mental diseases, paralysis, loss of working capability, etc. and meeting with many difficulties in production and life.

Agricultural production households that are families of war invalids, sick soldiers, fallen heroes, families having made meritorious services to the revolution, families that are rated as poor households still meeting with many difficulties in production and life.

b/ Maximum reduction by 50% of agricultural land use tax for the subjects defined in Item a, Point 2 above but not yet eligible for consideration for tax exemption.

c/ Reduction of agricultural land use tax for the agricultural production households in the area of specialized production of farm produce, forest products and aquatic products under contract or according to the regional planning in order to supply raw materials for the concentrated processing establishments which suffer damage due to objective factors such as: steep drop of market prices, income from sales of agricultural produce not enough to cover production costs, delayed harvest that affects the following crop and had to be destroyed. The rate of reduction or exemption of tax shall correspond with the rate of damage stipulated in Article 17, Chapter V of Decree No. 74/CP of October 25, 1993 of the Government detailing the implementation of the Law on Agricultural Land Use Tax. The rate of damage shall be based on the real harvest output and the real selling price compared to the real output calculated according to the fixed price prescribed by the provincial People’s Committee.

III. ORDER, PROCEDURES AND COMPETENCE IN DECIDING TAX EXEMPTION OR REDUCTION

1. Basing itself on the list of the communes meeting with great difficulties announced together with Decision No. 1232/QD-TTg of December 24, 1999 of the Prime Minister, and the actual situation in each locality, the People’s Committee of the province or centrally-run city shall make public the concrete list of the communes with great difficulties and the border communes in the locality under its management, at the same time shall provide concretely for the criteria to determine the poor households, hunger-stricken households, households whose production and life still meet with many difficulties as basis to consider the annual reduction or exemption of agricultural land use tax.

2. Agricultural production households in the category eligible for consideration for reduction or exemption of agricultural land use tax shall have to send an application to the commune or ward tax office, in which they shall explain the reason to apply for tax exemption or reduction under the criteria stipulated by the People’s Committee of the province or centrally-run city concerning the deep-lying, remote communes and the hunger-stricken and poor households.

As for the storm and flood stricken areas where the agricultural production households suffer heavy losses and the communes meet with great difficulties and are eligible for uniform exemption or reduction of tax, the ward or commune tax office shall coordinate with the commune People�s Committee to draw up the list instead of separate application filed by each agricultural production household.

3. Process and procedures of tax exemption or reduction:

a/ At the commune or ward: The Tax Office and the Tax Consultancy Board shall base themselves on the application of the agricultural production households, the situation and level of damage caused by flood, and the situation of production and life of each agricultural production household in the commune or ward to select, classify and draw up the list and propose the level of tax exemption or reduction for the poor and hunger-stricken households, the households which are meeting with many difficulties in production in the commune or ward according to the criteria prescribed by the People’s Committee of the province or city and in this Circular. The list of agricultural production households eligible for agricultural land use tax exemption or reduction shall be posted up at the convenient place in the commune and notified to the people so that they may make suggestions. Within 15 days, after studying and accepting the suggestion of the people, the tax office shall report to the People’s Committee of the commune or ward for approval of each household enjoying agricultural land use tax exemption or reduction, ensuring right objects and the stipulated amount of exempted or reduced tax and send the list to the Tax Sub-department.

b/ The Tax Sub-department in coordination with the Tax Consultancy Board at district level (or equivalent) shall base itself on the stipulations of the State and the People’s Committee of the province or centrally run city to check the accuracy and legality of the list of households proposed by the commune level for reduction or exemption of agricultural land use tax and integrate them to report to the Tax Department.

c/ The Tax Department concerned in coordination with the concerned branches shall examine the extents of the real damage caused by flood in each region, the real situation of the poor and hunger-stricken households and the households meeting with many difficulties in production and life in order to report to the People’s Committee of the province or city for decision on exemption or reduction of agricultural land use tax.

d/ After the People’s Committee of the province or city has decided to exempt or reduce tax, the approved list of the agricultural production households eligible for tax exemption or reduction shall be posted up at the office of the People’s Committee of the commune and publicly and promptly announced to each tax paying household.

IV. ORGANIZATION OF IMPLEMENTATION

1. The president of the People’s Committee of the province shall have to direct the tax office and related branches in the locality to study and concretely set the criteria to determine the hunger stricken and poor households and the agricultural production households meeting with many difficulties, as basis for the timely approval of the agricultural land use tax in the locality for the right objects, direct and inspect the implementation by the specialized agencies of agricultural land use tax exemption or reduction and shall notify publicly and promptly to the households eligible for tax exemption or reduction; direct the information and propaganda agencies in the locality to popularize and explain the policy of agricultural land use tax exemption and reduction of the State for the people to understand and implement.

2. The tax office in coordination with the branches and the Tax Consultancy Board shall give advices to the People’s Committee of various levels in determining the agricultural land use tax exemption and reduction.

In the areas heavily damaged by storms and floods where tax exemption or reduction has to be carried out uniformly, the tax team of the ward and commune shall coordinate with the specialized branches in drawing up the list and dossiers of eligible households and determine the exempted or reduced tax amount of each household, then integrate them into a report to the People’s Committee of the ward or commune in order to issue a public notification to each village or hamlet.

In lightly affected hamlets or communes or where only a small number of households are affected and there are only a small number of sporadic households that are poor or hunger-stricken or meeting with many difficulties in life and production, the Tax Office in coordination with the local administration shall guide the tax paying households in making applications and compile dossier of each household as basis for the consideration of tax exemption or reduction as stipulated in this Circular.

3. This Circular takes effect after its signing. The stipulations on agricultural land use tax exemption or reduction which are not contrary to this Circular continue to be effective. In the course of implementation should any difficulty arises, the localities shall report to the Ministry of Finance for study and settlement.

 

 

 

FOR THE MINISTER OF FINANCE
VICE MINISTER




Vu Van Ninh

Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Nâng cao để xem bản dịch TTXVN. Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây.
Văn bản tiếng Anh
Công báo Tiếng Anh
* Lưu ý: Để đọc được văn bản tải trên Luatvietnam.vn, bạn cần cài phần mềm đọc file DOC, DOCX và phần mềm đọc file PDF.
Văn bản này chưa có chỉ dẫn thay đổi
Để được giải đáp thắc mắc, vui lòng gọi
1900.6192 hoặc gửi câu hỏi tại đây

Tải ứng dụng LuatVietnam Miễn phí trên

Văn bản cùng lĩnh vực
Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Lược đồ.
Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!