Nghị định 93/1999/NĐ-CP của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thống kê

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • Tiếng Anh
  • Hiệu lực
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Nội dung MIX

    - Tổng hợp lại tất cả các quy định pháp luật còn hiệu lực áp dụng từ văn bản gốc và các văn bản sửa đổi, bổ sung, đính chính…

    - Khách hàng chỉ cần xem Nội dung MIX, có thể nắm bắt toàn bộ quy định pháp luật hiện hành còn áp dụng, cho dù văn bản gốc đã qua nhiều lần chỉnh sửa, bổ sung.

  • Tải về
Mục lục
Tìm từ trong trang
Tải văn bản
Văn bản tiếng việt
Văn bản tiếng Anh
Bản dịch tham khảo
Lưu
Theo dõi hiệu lực VB

Đây là tiện ích dành cho thành viên đăng ký phần mềm.

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản LuatVietnam và đăng ký sử dụng Phần mềm tra cứu văn bản.

Báo lỗi
Tình trạng hiệu lực: Đã biết
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng: Đã biết

NGHỊ ĐỊNH

CỦA CHÍNH PHỦ SỐ 93/1999/NĐ-CP NGÀY 07 THÁNG 9 NĂM 1999
VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC THỐNG KÊ

 

CHÍNH PHỦ

 

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 30 tháng 9 năm 1992;

Căn cứ Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính ngày 06 tháng 7 năm 1995;

Căn cứ Pháp lệnh Kế toán và Thống kê ngày 20 tháng 5 năm 1988;

Theo đề nghị của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê,

NGHỊ ĐỊNH:

 

CHƯƠNG I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

 

Điều 1. Phạm vi và đối tượng áp dụng

1. Vi phạm hành chính trong lĩnh vực thống kê là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy định của Nhà nước về chế độ thống kê mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính.

2. Cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực thống kê bị xử phạt theo Nghị định này và các quy định của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính.

3. Cá nhân, tổ chức nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực thống kê trên lãnh thổ Việt Nam đều bị xử phạt theo Nghị định này, trừ trường hợp Điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác.

 

Điều 2. Nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính

1. Việc xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực thống kê phải do người có thẩm quyền quy định tại các điều 12, 13, 14 và 15 của Nghị định này tiến hành.

2. Mọi vi phạm hành chính trong lĩnh vực thống kê phải được phát hiện kịp thời và phải bị đình chỉ ngay. Việc xử lý phải được tiến hành nhanh chóng, công minh.

3. Một hành vi vi phạm hành chính chỉ bị xử phạt một lần. Cá nhân, tổ chức thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính thì bị xử phạt về từng hành vi vi phạm. Nhiều cá nhân, tổ chức cùng thực hiện một hành vi vi phạm hành chính thì mỗi cá nhân, tổ chức vi phạm đều bị xử phạt.

4. Việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thống kê phải căn cứ vào tính chất, mức độ vi phạm, nhân thân và những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng để quyết định hình thức, biện pháp, mức xử phạt thích hợp.

5. Nghiêm cấm việc giữ lại các vụ vi phạm có dấu hiệu tội phạm để xử phạt vi phạm hành chính.

 

Điều 3. Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính

1. Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thống kê là một năm kể từ ngày thực hiện hành vi vi phạm hành chính. Trường hợp vi phạm hành chính trong lĩnh vực thống kê đã hết thời hiệu xử phạt thì không bị xử phạt.

2. Cá nhân bị khởi tố hoặc có quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục tố tụng hình sự mà có quyết định đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ vụ án, nếu hành vi đó có dấu hiệu vi phạm hành chính trong lĩnh vực thống kê thì bị xử phạt vi phạm hành chính; thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong trường hợp này là ba tháng kể từ ngày có quyết định đình chỉ nói trên.

Điều 4. Các hình thức xử phạt

1. Đối với mỗi hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực thống kê, cá nhân, tổ chức vi phạm phải chịu một trong các hình thức xử phạt chính sau đây:

a) Cảnh cáo;

b) Phạt tiền.

2. Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính trong lĩnh vực thống kê, còn bị áp dụng một hoặc nhiều hình thức phạt bổ sung và biện pháp khác theo quy định tại khoản 2, khoản 3 của Điều 11 Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính.

 

CHƯƠNG II
CÁC HÀNH VI VI PHẠM HÀNH CHÍNH,
HÌNH THỨC VÀ MỨC XỬ PHẠT

 

Điều 5. Vi phạm quy định về sử dụng mẫu biểu thống kê

1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 500.000 đồng đối với các hành vi sử dụng mẫu biểu không do cơ quan có thẩm quyền ban hành hoặc theo quy định đã hết thời hạn sử dụng, bao gồm: báo cáo thống kê, phiếu điều tra, bảng hỏi, báo cáo kết quả điều tra và các quy định khác của phương án điều tra thống kê.

2. Phạt tiền từ trên 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng nếu tái phạm hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 của Điều này.

3. áp dụng biện pháp xử lý bổ sung: buộc hủy bỏ mẫu biểu thống kê đang sử dụng; lập lại báo cáo thống kê đúng mẫu quy định, gửi cho các cơ quan có thẩm quyền.

 

Điều 6. Vi phạm việc ban hành, bổ sung, sửa đổi chế độ thống kê

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

Cố ý thực hiện hoặc ép buộc người khác thực hiện hành vi bổ sung, sửa đổi mẫu biểu báo cáo thống kê, bảng phân loại thống kê; phương án điều tra thống kê, nội dung các văn bản hướng dẫn về thống kê; phương pháp tính các chỉ tiêu thống kê kinh tế, xã hội trái với chế độ thống kê hiện hành của Nhà nước.

2. Phạt tiền từ trên 4.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng đối với hành vi ban hành hệ thống chỉ tiêu thống kê, các chế độ báo cáo và điều tra thống kê không đúng thẩm quyền hoặc trái với chế độ thống kê hiện hành của Nhà nước.

3. Áp dụng biện pháp xử lý bổ sung: bãi bỏ và thu hồi mẫu biểu thống kê đã ban hành, bổ sung, sửa đổi không đúng thẩm quyền hoặc trái chế độ thống kê hiện hành của Nhà nước.

 

Điều 7. Báo cáo sai và khai man số liệu thống kê

1. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi báo cáo số liệu hụt hoặc vượt mức so với thực tế hoặc vượt quá tỷ lệ sai số cho phép trong thống kê.

2. Phạt tiền từ trên 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng đối với hành vi báo cáo sai các hiện tượng kinh tế - xã hội phát sinh.

3. Phạt tiền từ trên 7.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi khai man số liệu, cố ý báo cáo hoặc ép buộc người khác báo cáo sai số liệu thống kê.

4. Áp dụng biện pháp xử lý bổ sung: lập lại báo cáo thống kê đúng hiện tượng kinh tế - xã hội phát sinh, đúng phương pháp thống kê, gửi cho các cơ quan có thẩm quyền.

 

Điều 8. Nộp báo cáo thống kê không kịp thời, đầy đủ

1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 200.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Nộp chậm báo cáo thống kê dưới 20 ngày so với chế độ quy định;

b) Nộp không đầy đủ số lượng biểu mẫu, không đầy đủ các chỉ tiêu của kỳ báo cáo tháng, quý so với chế độ quy định.

2. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Nộp chậm báo cáo thống kê từ 20 ngày đến dưới 60 ngày so với chế độ quy định;

b) Nộp không đầy đủ số lượng biểu mẫu, không đầy đủ các chỉ tiêu của kỳ báo cáo 6 tháng, 9 tháng, năm so với chế độ quy định.

3. Phạt tiền từ trên 3.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi không báo cáo thống kê.

4. Áp dụng biện pháp xử lý bổ sung: lập lại báo cáo thống kê đúng hiện tượng kinh tế - xã hội phát sinh, đúng phương pháp thống kê, gửi cho các cơ quan có thẩm quyền.

 

Điều 9. Vi phạm phương pháp thống kê

1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 200.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi ghi chép số liệu không rõ ràng, sửa chữa, tẩy xoá các số liệu, tài liệu thống kê.

2. Phạt tiền từ trên 1.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi áp dụng sai phương pháp thống kê.

3. Phạt tiền từ trên 5.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với hành vi cố ý áp dụng sai hoặc ép buộc người khác áp dụng sai phương pháp thống kê.

4. Áp dụng biện pháp xử lý bổ sung: buộc tính lại theo đúng phương pháp thống kê; lập lại báo cáo gửi cho các cơ quan có thẩm quyền.

 

Điều 10. Vi phạm chế độ cung cấp, công bố số liệu, tài liệu thống kê

1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 500.000 đồng nếu cung cấp không đầy đủ, không chính xác số liệu, tài liệu thống kê theo yêu cầu hợp pháp của người có thẩm quyền.

2. Phạt tiền từ trên 500.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Gây trở ngại hoặc trì hoãn việc cung cấp số liệu, tài liệu thống kê theo yêu cầu hợp pháp của người có thẩm quyền.

b) Không cung cấp số liệu, tài liệu thống kê theo yêu cầu hợp pháp của người có thẩm quyền.

3. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với hành vi cung cấp, công bố những số liệu, tài liệu thống kê theo quy định chưa được công bố, công khai và những số liệu thống kê khi chưa được giải mật.

4. Áp dụng các biện pháp xử lý bổ sung: buộc cung cấp số liệu, tài liệu thống kê cho cơ quan, người có thẩm quyền.

Điều 11. Vi phạm chế độ bảo quản số liệu, tài liệu thống kê

1. Phạt tiền từ 200.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với vi phạm quy định về bảo quản số liệu, tài liệu thống kê; để hư hỏng các tài liệu thống kê nhưng còn khả năng khôi phục.

2. Phạt tiền từ trên 1.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Để hư hỏng các tài liệu thống kê đến mức không còn khả năng khôi phục;

b) Để thất lạc các tài liệu thống kê.

3. Phạt tiền từ trên 5.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với hành vi hủy bỏ, ép buộc người khác huỷ bỏ số liệu, tài liệu thống kê khi chưa hết niên hạn quy định.

 

4. Áp dụng biện pháp xử lý bổ sung: buộc khôi phục lại tài liệu thống kê còn khả năng khôi phục; thực hiện bảo quản tài liệu, số liệu thống kê theo đúng quy định của Nhà nước.

 

CHƯƠNG III
THẨM QUYỀN, THỦ TỤC XỬ PHẠT, KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VÀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC THỐNG KÊ

 

Điều 12. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Thanh tra chuyên ngành thống kê

1. Thanh tra viên chuyên ngành thống kê các cấp đang thi hành công vụ có quyền:

a) Phạt cảnh cáo;

b) Phạt tiền đến 200.000 đồng.

c) Áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung và các biện pháp khác: tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính trong lĩnh vực thống kê có giá trị đến 500.000 đồng và áp dụng các biện pháp khác quy định tại khoản 3 Điều 5; khoản 3 Điều 6; khoản 4 Điều 7; khoản 4 Điều 9; khoản 4 Điều 10; khoản 4 Điều 11 của Nghị định này.

2. Chánh Thanh tra chuyên ngành thống kê các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có quyền:

a) Phạt cảnh cáo;

b) Phạt tiền đến 10.000.000 đồng;

c) Áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung: áp dụng các biện pháp quy định tại khoản 3 Điều 5; khoản 3 Điều 6; khoản 4 Điều 7; khoản 4 Điều 9; khoản 4 Điều 10; khoản 4 Điều 11 của Nghị định này.

3. Chánh Thanh tra chuyên ngành thống kê thuộc Tổng cục Thống kê có quyền:

a) Phạt cảnh cáo;

b) Phạt tiền đến 20.000.000 đồng;

c) Áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung và các biện pháp khác quy định tại khoản 2 Điều 4 của Nghị định này.

 

Điều 13. Thẩm quyền xử phạt của ủy ban nhân dân cấp huyện, tỉnh

1. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện có quyền:

a) Phạt cảnh cáo;

b) Phạt tiền đến 10.000.000 đồng;

c) Áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung và các biện pháp khác theo quy định tại khoản 2 Điều 4 của Nghị định này.

2. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có quyền:

a) Phạt cảnh cáo;

b) Phạt tiền đến 20.000.000 đồng;

c) Áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung và các biện pháp khác theo quy định tại khoản 2 Điều 4 của Nghị định này.

 

Điều 14. Uỷ quyền xử phạt vi phạm hành chính

Trong trường hợp người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về thống kê quy định tại khoản 2 và 3 Điều 12; Điều 13 của Nghị định này vắng mặt hoặc Uỷ quyền thì cấp phó được xử phạt theo thẩm quyền của cấp trưởng.

 

Điều 15. Phân định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính

1. Uỷ ban nhân dân cấp huyện, tỉnh có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thống kê thuộc địa phương.

2. Cơ quan thanh tra chuyên ngành thống kê các cấp có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thống kê thuộc chức năng quản lý Nhà nước của ngành thống kê.

3. Trường hợp hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực thống kê thuộc thẩm quyền xử phạt của nhiều cơ quan, thì việc xử phạt vi phạm hành chính do cơ quan thụ lý đầu tiên thực hiện.

 

Điều 16. Thủ tục xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thống kê

Thủ tục xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thống kê được thực hiện theo quy định tại Chương VI của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính ngày 06 tháng 7 năm 1995.

 

Điều 17. Cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thống kê

Việc cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thống kê được thực hiện theo quy định tại Điều 55 của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính ngày 06 tháng 7 năm 1995.

 

Điều 18. Chuyển hồ sơ vi phạm để truy cứu trách nhiệm hình sự

Khi xét thấy hành vi vi phạm pháp luật thống kê có dấu hiệu phạm tội, người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính phải chuyển ngay hồ sơ cho cơ quan có thẩm quyền giải quyết.

 

Điều 19. Xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi chống đối người thi hành công vụ trong lĩnh vực thống kê

 

Việc xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi chống đối người thi hành công vụ trong lĩnh vực thống kê được thực hiện theo Điều 92 của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính và các quy định tại các điểm a, b khoản 2, điểm c khoản 3 Điều 5 Nghị định số 49/CP ngày 15 tháng 8 năm 1996 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự.

 

Điều 20. Thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính

Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thống kê hết hiệu lực thi hành sau một năm, kể từ ngày ra quyết định xử phạt. Trong trường hợp cá nhân, tổ chức bị xử phạt cố tình trốn tránh, trì hoãn thì không áp dụng thời hiệu quy định tại Điều này.

 

Điều 21. Khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với quyết định xử phạt vi phạm hành chính

Việc khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thống kê được thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.

Điều 22. Xử lý vi phạm

Việc xử lý vi phạm đối với người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thống kê thực hiện theo Điều 91 của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính.

CHƯƠNG IV
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 23. Thời hiệu thi hành

Nghị định này có hiệu lực sau 15 ngày kể từ ngày ký, thay thế quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thống kê tại Nghị định số 52/HĐBT ngày 19 tháng 02 năm 1992 của Hội đồng Bộ trưởng. Các quy định trước đây trái với Nghị định này đều bái bỏ.

Điều 24. Điều khoản thi hành

1. Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê chịu trách nhiệm hướng dẫn thi hành Nghị định này.

2. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm thi hành Nghị định này.

thuộc tính Nghị định 93/1999/NĐ-CP

Nghị định 93/1999/NĐ-CP của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thống kê
Cơ quan ban hành: Chính phủSố công báo:
Đã biết

Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Số công báo. Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!

Số hiệu:93/1999/NĐ-CPNgày đăng công báo:Đang cập nhật
Loại văn bản:Nghị địnhNgười ký:Nguyễn Tấn Dũng
Ngày ban hành:07/09/1999Ngày hết hiệu lực:
Đã biết

Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Ngày hết hiệu lực. Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!

Áp dụng:
Đã biết

Vui lòng đăng nhập tài khoản để xem Ngày áp dụng. Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!

Tình trạng hiệu lực:
Đã biết

Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Tình trạng hiệu lực. Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!

Lĩnh vực:Vi phạm hành chính
TÓM TẮT VĂN BẢN

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

tải Nghị định 93/1999/NĐ-CP

Tình trạng hiệu lực: Đã biết
Nội dung văn bản đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tình trạng hiệu lực: Đã biết

THE GOVERNMENT
-------
SOCIALIST REPUBLIC OF VIET NAM
Independence - Freedom - Happiness
------------
No: 93/1999/ND-CP
Hanoi, September 7, 1999
 
DECREE
ON SANCTIONING ADMINISTRATIVE VIOLATIONS IN THE FIELD OF STATISTICS
THE GOVERNMENT
Pursuant to the Law on Organization of the Government of September 30, 1992;
Pursuant to the Ordinance on Handling of Administrative Violations of July 6, 1995;
Pursuant to the Ordinance on Accounting and Statistics of May 20, 1988;
At the proposal of the General Director of Statistics,
DECREES:
Chapter I
GENERAL PROVISIONS
Article 1.- Scope and objects of application
1. Administrative violations in the field of statistics are acts committed intentionally or unintentionally by individuals or organizations, in violation of the State’s regulations on the statistical regime, which are not serious enough for being examined for penal liability but must be administratively sanctioned according to the provisions of law.
2. Individuals and organizations that commit administrative violations in the field of statistics shall be sanctioned according to this Decree and the provisions of the Ordinance on Handling of Administrative Violations.
3. Foreign individuals and organizations that commit administrative violations in the field of statistics on the Vietnamese territory shall all be sanctioned according to this Decree, except otherwise provided for by international agreements which Vietnam has signed or acceded to.
Article 2.- Principles of sanctioning administrative violations
1. The handling of administrative violations in the field of statistics shall be conducted by the competent persons defined in Articles 12, 13, 14 and 15 of this Decree.
2. All administrative violations in the field of statistics must be detected promptly and stopped immediately. The handling thereof must be conducted in a quick and fair manner.
3. An administrative violation shall be sanctioned only once. An individual or organization that commits more than one administrative violation shall be sanctioned for each of such violations. If more than one individual and/or organization commit an administrative violation, each of such individuals and/or organizations shall be sanctioned.
4. The sanctioning of an administrative violation in the field of statistics must be based on the nature and seriousness of such violation, the violator’s personal background as well as the extenuating and aggravating circumstances so as to decide the appropriate form, measure and level of sanction.
5. It is strictly forbidden to withhold violations with signs of criminal offenses for administrative sanctions.
Article 3.- Statute of limitations for sanctioning administrative violations
1. The statute of limitations for sanctioning an administrative violation in the field of statistics shall be one year after such violation is committed. Where the statute of limitations for sanctioning an administrative violation in the field of statistics has expired, such violation shall not be sanctioned.
2. In cases where an individual is prosecuted or is, by a decision, brought to trial according to the criminal procedures, if there’s a decision to suspend the investigation or the case itself and such individual’s act shows signs of an administrative violation in the field of statistics, he/she shall be sanctioned administratively; the statute of limitations for sanctioning the administrative violation in this case shall be three months after the above-said suspension decision is issued.
Article 4.- Forms of sanction
1. For each administrative violation in the field of statistics, the violating individual or organization shall be subject to one of the following forms of main sanction:
a/ Warning;
b/ Fine.
2. Depending on the nature and seriousness of his/her/its violation, the individual or organization that commits such administrative violation in the field of statistics may also be subject to one or a number of forms of additional sanction and other measures stipulated in Clauses 2 and 3, Article 11 of the Ordinance on Handling of Administrative Violations.
Chapter II
ACTS OF ADMINISTRATIVE VIOLATION, FORMS AND LEVELS OF SANCTION
Article 5.- Violating regulations on the use of statistical forms
1. A warning or a fine of from 100,000 VND to 500,000 VND for acts of using those statistical forms, which are not issued by the competent agencies or have expired in terms of their use duration according to regulations, including statistical reports, survey cards, questionnaires, reports on survey results as well as other regulations of the statistical survey plans.
2. A fine of from over 500,000 VND to 1,000,000 VND for acts of repeating the violations mentioned in Clause 1 of this Article.
3. Applying additional handling measures: Compelling the cancellation of the statistical form(s) being in use; re-making the statistical reports in strict compliance with the set forms and sending them to the competent agencies.
Article 6.- Violations in the promulgation, supplement and amendment of the statistical regime
1. A fine of from 1,000,000 VND to 4,000,000 VND for one of the following acts:
Deliberately committing or forcing others to commit acts of supplementing and/or amending forms of statistical reports and/or statistical classification tables; statistical survey plans and contents of legal documents guiding the statistical work; method of calculating economic and social statistical norms, which are contrary to the State’s current statistical regime.
2. A fine of from over 4,000,000 VND to 7,000,000 VND for act of issuing a system of statistical norms, statistical reporting and surveying regimes ultra vires or in contravention of the State’s current statistical regime.
3. Applying additional handling measures: Abrogating and withdrawing the statistical forms, which have been issued, supplemented and/or amended ultra vires or in contravention of the State’s current statistical regime.
Article 7.- Falsely reporting and declaring statistical data
1. A fine of from 2,000,000 VND to 5,000,000 VND for act of reporting data in deficiency or excess of the actual ones or exceeding the permitted statistical error rate.
2. A fine of from over 5,000,000 VND to 7,000,000 VND for act of falsely reporting on arising socio-economic phenomena.
3. A fine of from over 7,000,000 VND to 20,000,000 VND for act of falsely declaring data, deliberately reporting, falsely or forcing others to falsely report statistical data.
4. Applying additional handling measures: Re-making the statistical reports true to the arising socio-economic phenomena in strict compliance with the statistical method and sending them to competent bodies.
Article 8.- Failing to submit statistical reports in time and adequately
1. A warning or a fine of from 200,000 VND to 1,000,000 VND for one of the following acts:
a/ Delaying the submission of statistical reports for under 20 days as compared with the prescribed regime;
b/ Failing to submit adequately the number of forms and/or the norms of the monthly and quarterly reports as prescribed.
2. A fine of from 1,000,000 VND to 3,000,000 VND for one of the following acts:
a/ Delaying the submission of statistical reports for from 20 to under 60 days as compared with the prescribed regime;
b/ Failing to submit adequately the number of forms and/or the norms of the 6-month, 9-month and annual reports as prescribed.
3. A fine of from over 3,000,000 VND to 10,000,000 VND for act of failing to make statistical reports.
4. Applying additional handling measures: Re-making the statistical true reports to the arising socio-economic phenomena in strict compliance with the statistical methods and sending them to the competent bodies.
Article 9.- Violating the statistical method
1. A warning or a fine of from 200,000 VND to 1,000,000 VND for act of recording data unclearly, modifying or erasing statistical data and/or documents.
2. A fine of from over 1,000,000 VND to 5,000,000 VND for act of wrongly applying the statistical methods.
3. A fine of from over 5,000,000 to 15,000,000 VND for act of deliberately applying wrongly or coercing others to wrongly apply the statistical methods.
4. Applying additional handling measures: Forcing the re-calculation in strict compliance with the set statistical methods; re-making the statistical reports and sending them to the competent bodies.
Article 10.- Violating the regimes of supplying and publicizing statistical data and documents
1. A warning or a fine of from 100,000 VND to 500,000 VND for act of supplying inadequate and inaccurate statistical data and documents at the lawful request of competent persons.
2. A fine of from over 500,000 VND to 2,000,000 VND for one of the following acts:
a/ Obstructing or delaying the supply of statistical data and documents at the lawful request of competent persons.
b/ Refusing to supply statistical data and documents at the lawful request of competent persons.
3. A fine of from 5,000,000 VND to 15,000,000 VND for act of supplying and/or publicizing the statistical data and documents which, according to the regulations, must not be publicized yet and the statistical data which have not been declassified yet.
4. Applying additional handling measures: Forcing the supply of statistical data and documents for competent agencies and/or persons.
Article 11.- Violating the regulations on the preservation of statistical data and documents
1. A fine of from 200,000 VND to 1,000,000 VND for act of violating the regulations on the preservation of statistical data and documents; or letting such statistical data and documents be damaged, which, however, may be restored.
2. A fine of from over 1,000,000 VND to 5,000,000 VND for one of the following acts:
a/ Letting statistical data and documents be damaged to the extent that they cannot be restored;
b/ Mislaying statistical data and documents.
3. A fine of from 5,000,000 VND to 15,000,000 VND for act of canceling or coercing others to cancel statistical data and documents before the prescribed expiry year.
4. Applying additional handling measures: Forcing the restoration of statistical data and documents which can be restored; and preservation of statistical data and documents in strict compliance with the regulations of the State.
Chapter III
SANCTIONING COMPETENCE AND PROCEDURES; COMPLAINTS, DENUNCIATIONS AND HANDLING OF ADMINISTRATIVE VIOLATIONS IN THE FIELD OF STATISTICS
Article 12.- Statistical specialized inspectorate’s competence to sanction administrative violations
1. A statistical specialized inspector on duty shall be competent:
a/ To serve a warning;
b/ To impose fines of up to 200,000 VND;
c/ To apply forms of additional sanction and other measures: confiscation of material evidences and means of administrative violation in the field of statistics, which are valued at up to 500,000 VND as well as other measures stipulated in Clause 3, Article 5; Clause 3, Article 6; Clause 4, Article 7; Clause 4, Article 9; Clause 4, Article 10; and Clause 4, Article 11 of this Decree.
2. The statistical specialized chief inspector of a province or centrally-run city shall be competent:
a/ To serve a warning;
b/ To impose fines of up to 10,000,000 VND;
c/ To apply forms of additional sanction: Measures stipulated in Clause 3, Article 5; Clause 3, Article 6; Clause 4, Article 7; Clause 4, Article 9; Clause 4, Article 10; and Clause 4, Article 11 of this Decree.
3. The statistical specialized chief inspector of the General Department of Statistics shall be competent:
a/ To serve a warning;
b/ To impose fines of up to 20,000,000 VND;
c/ To apply forms of additional sanction and other measures stipulated in Clause 2, Article 4 of this Decree.
Article 13.- Sanctioning competence of the district- and provincial-level People’s Committees
1. The presidents of the district-level People’s Committees shall be competent:
a/ To serve a warning;
b/ To impose fines of up to 10,000,000 VND;
c/ To apply forms of additional sanction and other measures stipulated in Clause 2, Article 4 of this Decree.
2. The presidents of the provincial-level People’s Committees shall be competent:
a/ To serve a warning;
b/ To impose fines of up to 20,000,000 VND;
c/ To apply forms of additional sanction and other measures stipulated in Clause 2, Article 4 of this Decree.
Article 14.- Authorization to sanction administrative violations
Where a person competent to sanction administrative violations in the field of statistics defined in Clauses 2 and 3, Article 12, and Article 13 of this Decree is absent or in case of his/her authorization, his/her deputy may sanction administrative violations according to the head’s competence.
Article 15.- Determination of competence to sanction administrative violations
1. The district- and provincial-level People’s Committees shall be competent to sanction administrative violations in the field of statistics in their respective localities.
2. The statistical specialized inspectorates of different levels shall be competent to sanction administrative violations in the field of statistics, which fall under the State management function of the statistical branch.
3. In cases where an administrative violation in the field of statistics falls under the sanctioning competence of more than one agency, it shall be sanctioned by the agency which has received and processed the case first.
Article 16.- Procedures for sanctioning administrative violations in the field of statistics
The procedures for sanctioning administrative violations in the field of statistics shall comply with the provisions of Chapter VI of the Ordinance on Handling of Administrative Violations of July 6, 1995.
Article 17.- Coercive implementation of decisions on sanctioning administrative violations
The coercive implementation of decisions on sanctioning administrative violations shall comply with the provisions of Article 55 of the Ordinance on Handling of Administrative Violations of July 6, 1995.
Article 18.- Transfer of violation dossiers for examination for penal liability
If deeming that a violation of the legislation on statistics shows signs of a criminal offense, the person competent to sanction administrative violations shall have to immediately transfer such dossier to the competent agency for handling.
Article 19.- Administrative sanctions against acts of opposing officials on duty in the field of statistics
The administrative sanctions against acts of opposing officials on duty in the field of statistics shall comply with Article 92 of the Ordinance on Handling of Administrative Violations as well as the provisions at Points a and b, Clause 2; Point c, Clause 3, Article 5 of the Government’s Decree No. 49/CP of August 15, 1996 on sanctioning administrative violations in the field of security and order.
Article 20.- Statute of limitations for implementation of decisions on sanctioning administrative violations
A decision on sanctioning an administrative violation in the field of statistics shall cease to be effective one year after its issuance. Where the sanctioned individual or organization deliberately evades or delays the implementation of such decision, the statute of limitations defined in this Article shall not apply.
Article 21.- Complaints, denunciations and the settlement of complaints and denunciations about decisions on sanctioning administrative violations
The complaint and denunciation as well as the settlement of complaints and denunciations about decisions on sanctioning administrative violations in the field of statistics shall comply with the provisions of the legislation on complaints and denunciations.
Article 22.- Handling of violations
The handling of violations committed by the persons competent to sanction administrative violations in the field of statistics shall comply with the provisions of Article 91 of the Ordinance on Handling of Administrative Violations.
Chapter IV
IMPLEMENTATION PROVISIONS
Article 23.- Statute of limitations for implementation
This Decree takes effect 15 days after its signing and replaces the regulations on sanctioning administrative violations in the field of statistics issued together with Decree No. 52/HDBT of February 19, 1992 of the Council of Ministers. The earlier regulations contrary to this Decree are all now annulled.
Article 24.- Implementation provisions
1. The General Director of Statistics shall have to guide the implementation of this Decree.
2. The ministers, the heads of the ministerial-level agencies, the heads of the agencies attached to the Government, the presidents of the People’s Committees of the provinces and centrally-run cities shall have to implement this Decree.
 

 
ON BEHALF OF THE GOVERNMENT
FOR THE PRIME MINISTER
DEPUTY PRIME MINISTER




Nguyen Tan Dung

Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Nâng cao để xem đầy đủ bản dịch.

Chưa có tài khoản? Đăng ký tại đây

Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Hiệu lực.

Chưa có tài khoản? Đăng ký tại đây

Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem VB liên quan.

Chưa có tài khoản? Đăng ký tại đây

Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Lược đồ.

Chưa có tài khoản? Đăng ký tại đây

Văn bản đã hết hiệu lực. Quý khách vui lòng tham khảo Văn bản thay thế tại mục Hiệu lực và Lược đồ.
văn bản TIẾNG ANH
Bản dịch tham khảo
download Decree 93/1999/ND-CP DOC (Word)
Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Tiếng Anh hoặc Nâng cao để tải file.

Chưa có tài khoản? Đăng ký tại đây

* Lưu ý: Để đọc được văn bản tải trên Luatvietnam.vn, bạn cần cài phần mềm đọc file DOC, DOCX và phần mềm đọc file PDF.

Để được giải đáp thắc mắc, vui lòng gọi

19006192

Theo dõi LuatVietnam trên YouTube

TẠI ĐÂY

văn bản cùng lĩnh vực
Thông tư 15/2022/TT-BCA của Bộ Công an về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 43/2017/TT-BCA ngày 20/10/2017 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định về trình tự cấp, thu hồi Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự và sát hạch, cấp Chứng chỉ nghiệp vụ bảo vệ; Thông tư 45/2017/TT-BCA ngày 20/10/2017 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định về trình tự đăng ký mẫu con dấu, thu hồi và hủy con dấu, hủy giá trị sử dụng con dấu, kiểm tra việc quản lý và sử dụng con dấu; Thông tư 58/2020/TT-BCA ngày 16/6/2020 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định quy trình cấp, thu hồi đăng ký, biển số phương tiện giao thông cơ giới đường bộ; Thông tư 65/2020/TT-BCA ngày 19/6/2020 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định nhiệm vụ, quyền hạn, hình thức, nội dung và quy trình tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm hành chính về giao thông đường bộ của Cảnh sát giao thông; Thông tư 68/2020/TT-BCA ngày 19/6/2020 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định về quy trình tuần tra, kiểm soát và xử lý vi phạm hành chính của Cảnh sát đường thủy...

Thông tư 15/2022/TT-BCA của Bộ Công an về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 43/2017/TT-BCA ngày 20/10/2017 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định về trình tự cấp, thu hồi Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự và sát hạch, cấp Chứng chỉ nghiệp vụ bảo vệ; Thông tư 45/2017/TT-BCA ngày 20/10/2017 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định về trình tự đăng ký mẫu con dấu, thu hồi và hủy con dấu, hủy giá trị sử dụng con dấu, kiểm tra việc quản lý và sử dụng con dấu; Thông tư 58/2020/TT-BCA ngày 16/6/2020 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định quy trình cấp, thu hồi đăng ký, biển số phương tiện giao thông cơ giới đường bộ; Thông tư 65/2020/TT-BCA ngày 19/6/2020 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định nhiệm vụ, quyền hạn, hình thức, nội dung và quy trình tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm hành chính về giao thông đường bộ của Cảnh sát giao thông; Thông tư 68/2020/TT-BCA ngày 19/6/2020 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định về quy trình tuần tra, kiểm soát và xử lý vi phạm hành chính của Cảnh sát đường thủy...

Vi phạm hành chính , Giao thông

Vui lòng đợi