• Tổng quan
  • Nội dung
  • VB gốc
  • Tiếng Anh
  • Hiệu lực
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Nội dung hợp nhất 

    Tính năng này chỉ có tại LuatVietnam.vn. Nội dung hợp nhất tổng hợp lại tất cả các quy định còn hiệu lực của văn bản gốc và các văn bản sửa đổi, bổ sung, đính chính... trên một trang. Việc hợp nhất văn bản gốc và những văn bản, Thông tư, Nghị định hướng dẫn khác không làm thay đổi thứ tự điều khoản, nội dung.

    Khách hàng chỉ cần xem Nội dung hợp nhất là có thể nắm bắt toàn bộ quy định hiện hành đang áp dụng, cho dù văn bản gốc đã qua nhiều lần chỉnh sửa, bổ sung.

    =>> Xem hướng dẫn chi tiết cách sử dụng Nội dung hợp nhất

  • Tải về
Lưu
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao . Vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem chi tiết.
Theo dõi VB
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao . Vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem chi tiết.
Ghi chú
Báo lỗi
In

Công văn 4534/UBND-KGVX Đồng Nai 2026 tổ chức lấy ý kiến Nhân dân Đề án thành lập phường và thành phố

Ngày cập nhật: Thứ Năm, 26/03/2026 14:07 (GMT+7)
Cơ quan ban hành: Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai
Số công báo:
Số công báo là mã số ấn phẩm được đăng chính thức trên ấn phẩm thông tin của Nhà nước. Mã số này do Chính phủ thống nhất quản lý.
Đang cập nhật
Số hiệu: 4534/UBND-KGVX Ngày đăng công báo: Đang cập nhật
Loại văn bản: Công văn Người ký: Nguyễn Kim Long
Trích yếu: Về việc tổ chức lấy ý kiến Nhân dân đối với Đề án thành lập các phường và thành lập thành phố Đồng Nai trực thuộc Trung ương
Ngày ban hành:
Ngày ban hành là ngày, tháng, năm văn bản được thông qua hoặc ký ban hành.
24/03/2026
Ngày hết hiệu lực:
Ngày hết hiệu lực là ngày, tháng, năm văn bản chính thức không còn hiệu lực (áp dụng).
Đang cập nhật
Ngày áp dụng:
Ngày áp dụng là ngày, tháng, năm văn bản chính thức có hiệu lực (áp dụng).
Đã biết
Tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao. Vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem chi tiết.
Tình trạng hiệu lực:
Cho biết trạng thái hiệu lực của văn bản đang tra cứu: Chưa áp dụng, Còn hiệu lực, Hết hiệu lực, Hết hiệu lực 1 phần; Đã sửa đổi, Đính chính hay Không còn phù hợp,...
Đã biết
Tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao. Vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem chi tiết.
Lĩnh vực: Hành chính

TÓM TẮT CÔNG VĂN 4534/UBND-KGVX

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải Công văn 4534/UBND-KGVX

Tải văn bản tiếng Việt (.pdf) Công văn 4534/UBND-KGVX PDF (Bản có dấu đỏ)

Vui lòng Đăng nhập để tải văn bản. Nếu chưa có tài khoản, vui lòng Đăng ký tại đây!

Tình trạng hiệu lực: Đã biết
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng hiệu lực: Đã biết
UY BAN NHAN DAN
riNH
DoNG
NAr
56:
4534/UBND-KGVX
Viv t6 chric l6v
j
ki6n Nhen dan
AOi vOi DC 6n thdnh lQp. c6q
phuong
vd thdnh
l{p
thdnh
ph6
D6ng
Nai
tryc
thuQc
Trung ucrng
CQNG
HOA XA HQI CHU NGHIA
VIFT NAM
DQc
lfp -
Tg do
- H4nh
phric
D6ngNai,
ngdy
24
thdng
3 ndm 2026
Kinh
giti:
-
So
NOi vu;
-
Vdn
phdng
Uy ban
nhdn ddn tinh;
-
86o
vd
ph6t
thanh, truydn hinh D6ng
Nai;
-
Uy
ban nhdn ddn
c6c xd,phudng.
Thuc hi€n
C6ng
v6n sO t tS+-CVA/PTW
ngity 231312026 oiua Vdn
phong
l'
Trung uong
D6ng v€
;f
ki6n cria BQ Chinh tri dOi
vdi
DO
6nx6ry dpg vd
ph6t
tri6n
D6ng Nai d6n n6m 2035, tAm nhin d6n
nfum2065.
CIn cir Luat
TO
chric chinh
quyAn
dia
phuong
sO lZtZOZStQHls;Nghi
quyiit
sri |I212025|UBTVQH15 ngity 2411212025 ciaUy
ban
Thuong vq
Qu5c
I
.^
, I
h6i v€ ti6u chudn cua don vi hnnh chinh; Uy ban
nhdn d6n tinh di
xdy dpg dg
th6o D€ 6n thdnh
lpp l0
phudng'
vd du th6o
E€
6n thdnh
l4p thdnh
ph6
D6ng
Nai tnrc thuQc Trung uong
(kdm
theo
du thdo 02
ne
an1.
Cin
cri Nghi
dfnh
s6 SZ|IZOZSND-CP
ngity
1611212025 crta Chinh
pht
huong d6n
vd viQc l6y
j
ki6n NhAn ddn AOi
vOi
viec thdnh
lQp,
gi6i
th6, nhpp,
chia, di6u chinh dia
gi6i
vd
d6i t€n
don vi hdnh chinh, tai
kho6n I Di€u 4
quy
dinh:
"Sau
khi xdy &,mS
Di
dn thdnh
lQp,
gidi thA, nhQp, chia, diiu chinh dia
gi6i
vd
d6t
tAn don vi hdnh ch{nh, Uy ban
nhdn ddn ciip tinh c6
vdn bdn kdm theo mdu
Phi€u ttiy
j,
kien, fii ti€u liiy
!,kien SIri
Uy
ban nhdn ddn ciip xd;
chi dqo, hudng
ddn Uy ban nhdn ddn
cdp xd xdy dqms ke hoqch
vd
t6
chftc triy
!,kiAn
Nhdn ddn
theo thng th6n, to dan
ph6".
p,5
Oam b6o D6 rin tri6n
khai thgc
hiQn
dirng
trinh tp, thi
tpc vd
quy
clinh
cira
ph6p
lupt; theo d6 xu6t cria SoNQi
vr,r tpi VEn
b6n si5 2712ISNV-TCBC
ngiy
231312026,
Uy
ban nhdn ddn
tinh ti5 chirc
l6y
f
kiCn Nhdn ddn,OOi
vOi O€ an
thAnh
lAp phu<rng tr6n co s& nguyOn
tr4ng c6c xd
n6u tr6n vd
OA an thAnh
lpp
Tru sd Kh6i Nhd
nu6c tinh - 56 02 <ludne
N VAn Tri, P.
TrAn Bi6n, T. D6ng
Nai
DiQn thoai:
0251.3822.501-
Fax:
0251.3823.854
Website:
http://dongnai.gov.vn
L
thdnh
ph6
DOng Nai tryc thuQc Trung
uong; Uy ban
nh6n ddn
tinh
ydu
cAu
sd,
ngdnh vd
Uy
ban nhdn ddn c6c
x5,
phudng
thyc
hiQn cric
nQi dung sau:
1. Uy ban nh6n d6n
chcxfr,
phudng
a)
T6
chric
l6y
f
kiCn NhAn ddn
AOi
vOi
pe
6n thdnh
lpp thdnh
phd E6ng
Nai tryc thuQc Trung uong;
t6ng hqp
k6t
qu6
b6o c6o Uy
ban nh6n ddn
tinh
(qua
So
NQi vp).
b) D6i v6i D6 rin thdnh
lQp
phuong,
Uy
ban nhdn dAn
c6c xd
(Long
Thdnh,
Nhon
Trpch, Trdng Bom,
Diu
Gi6y,
XuAn
Ldc, TAn Phfi, Tri An,
Edng Phri, TAn
Khai, LQc Ninh)
lay
f
ki6n Nhdn d6n
d6ng thdi
vdi
DA 6n thdnh
lap thdnh
phd
D6ng
Nai. Trucrng hqp kCt
qu6 l6y
j
kitin Nhdn ddn
ddng
f
d4t tr6n 50%
t6ng s6
NhAn d6n tr6n dia bdn
clcm vi hanh chinh c6p
x6; Uy ban
nhdn dAn xd t6ng
hqp,
b6o
c6o trinh
HQi ddng nhAn d6n cing cdp
*em x6t, cho
y
kiCn. Sau
d6 Uy
ban
nhdn dAn
xd hodn chinh hd so trinh HQi ddng
nhdn d6n cung cdp
ban hdnh
Nghi
quy6t: tdng hqp trinh Uy ban nhdn d6n
tinh
(qua
Sd
NQi vp) theo
quy
d!nh.
Thoi
gian
hodn thdnh viQc thgc
hiQn c6c
ndi
dung
tr€n trinh
Uy ban
nhdn
d6n tinh
(qua
So NQi
vp) trudc
17
giir
00 ngiry
261312026.
2. S& NQi vB
. , x.
a)
Chri
tri,
ph6i
hqp c6c co
quan,
don
vi li€n
quan hu6ng dAn chi ti6t
viec
t6 chuc
l6y
y
ki6n Nhdn ddn eOi
vOi c6c
D€ 6n, bdro dam thting
nh6t, dirng
quy
dinh cua
ph6p
lu4t.
b)
Theo
d6i,
d6n d6c,
kitim tra
vi6c
tri6n
khai tqi c6c dia
phucrng;
kfp thdi
.; ." r t'
t6ng hgp, b6o
crio
Uy
ban
nhdn
d6n
tinh
k€t
qui
lAy;i ki6n Nhdn
dAn; tham
muu
Uy
ban
nhAn ddn tinh
trinh HQi d6ng
nhdn ddn tinh xem xdt,
th6ng
qua
chir
truong thdnh lpp c6c don
vi hanh chinh
theo
quy
dinh.
Thoi
gian
hodn thdnh
trong ngiry
27/312026.
c) Ph6i hqp Vdn
phong
Uy
ban
nhdn d6n
tinh
cdng
khai
tdi liQu, k6t
qua
l6y
y
kitin NhAn ddn tr€n
C6ng thdng
tin diQn tri cria Chinh
phtr b6o cl6m
minh
b4ch, dirng
quy
dfnh.
d)
Cht
tri,
ph6i
hqp c6c co
quan,
don
vi li6n
quan
tham
muu Uy
ban
nhAn
ddn tinh
trinh HQi diing
nhAn dAn
tinh xem
xdt, ban hdnh
Nghf
quy6t
t5n thdnh
chir
trucrng thdnh
lpp thdnh
ph6
Ddng
Nai trgc
thuQc
Trung uong
vd thdnh
lap
c6c
phudng
theo
quy
dinh.
J
3.
Vin
phdng
0y
ban nhin
dfln
tinh
a) Cht
tri,
ph6i
hqp So
NQi
vu
ding t6i
dAy dn
tdi liqu
phpc vs
16y
f
kii5n
Nhdn
ddn tr€n
C6ng
thdng tin
diQn
ttr
cria Chinh
phtr;
b6o dim
cung cdp
thong
tin
kip
thoi, dAy dir
d6
phpc
vg viQc
tr5
chric
l6y
i
ki0n
Nhdn
dAn.
b) Phdi hqp So
Ngi
vu tham
muu
Uy
ban nhAn
dAn
tinh
trinh HQi
done
nhAn dAn
tinh
xem xdt,
ban hdnh
Nghi
quy6t tdn thdnh
chu
truong
thdnh
lAp
thdnh
ph6
Ddng
Nai trgc
thuQc
Trung
uctng
vd thdnh
lpp c6c
phudng theo
quy
dinh.
4.B6ovir
phit
thanh,
truydn
hinh
Ddng
Nai:
Ph6i hqp So
Ngi
vu ding
t6i
day dt tdi
lieu
phpc vu lay
f
kicn
Nh6n
d6n tren c6ng
th6ng
tin diqn ttr
cria
tinh; b6o
dam cung
c6p
th6ng rin
kip thdi,
dAy dir
d6
phpc vu
viQc t6 chfc
ldry
y
ki6n
Nh6n ddn.
Uy
ban nhdn
dan tinh
y6u
cdu Uy
ban
nhdn dAn c6c
x5,
phudng vir c6c
co
quan, dcrn vi
li6n
quan kh6n truong
tii chric
thuc
hiQn.
Trong
qu6
trinh thr,rc
hiQn,
n6u c6
kh6
khdn, vu6ng
m6c, kip
thoi
b6o
c6o Uy ban
nhan ddn
tinh
(qua
S<r
NQi
vu)
dd xem
x6t,
giei
quyrit.
(Kdm
theo Di
an thdnh lQp
cdc
phadng vd thdnh
lQp thdnh
phii
Eing
Nat
trqrc
thuQc
Trung uong)./.
Noi
nhQn:
-
Nhu tr€n;
-
V[n
phong
Chinh
phti;
-
BQ NQi
vp;
-
Thuong
trgc
Tinh ty;
- Thuorg trUc HDND
tinh;
-
Ban
Thudng tauc
UBMTTQVN
tinh;
-
Cht
tich, crlc
PCT UBND tinh;
-
Ch6nh,
cdc PCVP
UBND
tinh
-
Ding
uy,
HDND x5,
phucrng;
- Luu:
VT,
KGVX.
(VinhDV)
TM. UY
BAN
NHAN
DAN
KT. CHU
TICH
-guy6n
Kim
Long
1s:ffi,:Si;
;iffi:kT{i,,
t:l$l#*
;.;;trz3
c;
ỦY BAN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG NAI
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Số: /ĐA-UBND
Đồng Nai, ngày tháng 3 năm 2026
ĐỀ ÁN
THÀNH LẬP THÀNH PHỐ ĐỒNG NAI TRỰC THUỘC TRUNG ƯƠNG
(kèm theo Tờ trình số /TTr-UBND ngày /3/2026 của UBND tỉnh Đồng Nai)
Phần thứ nhất
CĂN CỨ CHÍNH TRỊ, PHÁP LÝ VÀ SỰ CẦN THIẾT THÀNH LẬP
THÀNH PHỐ ĐỒNG NAI TRỰC THUỘC TRUNG ƯƠNG
I. CĂN CỨ CHÍNH TRỊ, PHÁP LÝ
1. Căn cứ chính trị
- Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 24/01/2022 của Bộ Chính trị về Quy
hoạch, xây dựng và phát triển bền vững đô thị Việt Nam đến năm 2030, tầm
nhìn đến năm 2045;
- Kết luận số 224-KL/TW ngày 08/12/2025 về tiếp tục thực hiện Nghị
quyết số 06-NQ/TW ngày 24/01/2022 của Bộ Chính trị về quy hoạch, xây
dựng, quản lý và phát triển bền vững đô thị Việt Nam đến năm 2030, tầm
nhìn đến năm 2045;
- Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 07/10/2022 của Bộ Chính trị về phát
triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Đông Nam Bộ
đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045;
- Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột
phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia;
- Thông báo Kết luận số 420-TB/VPTW ngày 17/11/2025 của Văn phòng
Ban Chấp hành Trung ương Đảng về ý kiến Kết luận, chỉ đạo của đồng chí
Tổng Bí thư Tô Lâm tại buổi thăm, làm việc với các cơ quan, đơn vị tại công
trường Dự án đầu tư xây dựng Cảng hàng không quốc tế Long Thành;
- Công văn số 1184-CV/VPTW ngày 23/3/2026 của Văn phòng Ban
Chấp hành Trung ương Đảng về ý kiến của Bộ Chính trị đối với Đề án xây dựng
và phát triển Đồng Nai đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2065;
- Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Đồng Nai lần thứ XVI, nhiệm
kỳ 2025 - 2030.
DỰ THẢO
2
2. Căn cứ pháp lý
- Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa
đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15;
- Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15;
- Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn số 47/2024/QH15 đã được sửa
đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 144/2025/QH15;
- Nghị quyết số 81/2023/QH15 ngày 09/01/2023 của Quốc hội về Quy
hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050;
- Nghị quyết số 111/2025/UBTVQH15 ngày 24/12/2025 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội về phân loại đô thị;
- Nghị quyết số 112/2025/UBTVQH15 ngày 24/12/2025 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội về tiêu chuẩn của đơn vị hành chính;
- Nghị định số 321/2025/NĐ-CP ngày 16/12/2025 của Chính phủ
hướng dẫn việc lấy ý kiến Nhân dân về thành lập, giải thể, nhập, chia, điều
chỉnh địa giới và đổi tên đơn vị hành chính;
- Quyết định số 241/QĐ-TTg ngày 24/02/2021 của Thủ tướng Chính
phủ phê duyệt Kế hoạch phân loại đô thị toàn quốc giai đoạn 2021 - 2030;
- Quyết định số 586/QĐ-TTg ngày 03/7/2024 của Thủ tướng Chính phủ
phê duyệt Quy hoạch tỉnh Đồng Nai thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm
2050;
- Quyết định số 1259/QĐ-TTg ngày 24/10/2024 của Thủ tướng Chính
phủ phê duyệt Quy hoạch tỉnh Bình Phước thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến
năm 2050;
- Quyết định số 891/QĐ-TTg ngày 22/8/2024 của Thủ tướng Chính phủ
phê duyệt Quy hoạch hệ thống đô thị nông thôn thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn
đến năm 2050;
- Quyết định số 287/QĐ-TTg ngày 28/02/2022 của Thủ tướng Chính
phủ về phê duyệt Quy hoạch vùng đồng bằng sông Cửu Long thời kỳ 2021 -
2030, tầm nhìn đến năm 2050;
- Quyết định số 370/QĐ-TTg ngày 04/5/2024 của Thủ tướng Chính phủ
về quy hoạch vùng Đông Nam Bộ thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm
2050.
- Quyết định số 779/QĐ-UBND ngày 27/02/2026 của Ủy ban nhân dân
tỉnh về phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Đồng Nai, thời kỳ 2021-2030,
tầm nhìn đến năm 2050.
3
II. SỰ CẦN THIẾT THÀNH LẬP THÀNH PHỐ ĐỒNG NAI
TRỰC THUỘC TRUNG ƯƠNG
Việc thành lập thành phố Đồng Nai trực thuộc Trung ương là yêu cầu
khách quan, cấp thiết và có cơ sở thực tiễn rõ ràng. Đây không đơn thuần là
sự thay đổi về tên gọi gắn với đơn vị hành chính, mà là bước chuyển quan
trọng về mô hình phát triển và mô hình quản trị, nhằm đưa Đồng Nai từ vị thế
một tỉnh công nghiệp lớn vươn lên thành đô thị cấp vùng, có năng lực điều
phối không gian phát triển, liên kết hạ tầng, phân bổ nguồn lực và dẫn dắt
tăng trưởng cho toàn khu vực. Đây là mong muốn và khát vọng của Đảng bộ,
Chính quyền và nhân dân tỉnh Đồng Nai. Với quy mô diện tích hơn 12.737,18
km², dân số 4.491.408 người. Năm 2025: GRDP của tỉnh khoảng 677.932,31
tỷ đồng, thu ngân sách trên 102.962 tỷ đồng; GRDP bình quân đầu người đạt
152,8 triệu đồng/người, đóng góp 5% GDP của cả nước, đã phản ánh mức
phát triển kinh tế tương đối cao so với mặt bằng chung của cả nước, cùng cơ
cấu kinh tế thiên về công nghiệp - dịch vụ, Đồng Nai đã hội tụ nền tảng của
một không gian phát triển lớn, đa trung tâm, đa chức năng và có mức độ
tương tác vùng rất cao.
1. Thành lập thành phố Đồng Nai trực thuộc Trung ương là bước
cụ thể hóa chủ trương của Trung ương và các định hướng quy hoạch
phát triển quốc gia, đáp ứng yêu cầu phát triển của khu vực phía Nam
trong giai đoạn mới
1.1. Phù hợp với chủ trương, định hướng chiến lược của Trung
ương về phát triển hệ thống đô thị quốc gia
Trong những năm gần đây, Trung ương đã ban hành nhiều chủ trương,
định hướng quan trọng nhằm thúc đẩy quá trình đô thị hóa theo hướng nhanh,
bền vững và có chất lượng cao, gắn với hình thành các cực tăng trưởng lớn
của quốc gia.
Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 24/01/2022 của Bộ Chính trị về quy
hoạch, xây dựng, quản lý và phát triển bền vững đô thị Việt Nam đến năm
2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã chỉ rõ quá trình đô thị hóa của nước ta còn
nhiều hạn chế; chất lượng đô thị hóa chưa cao, phát triển đô thị còn chủ yếu
theo chiều rộng, hạ tầng chưa đồng bộ, năng lực quản trị đô thị chưa theo kịp
yêu cầu phát triển. Kết luận số 224-KL/TW ngày 08/12/2025 về tiếp tục thực
hiện Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 24/01/2022 của Bộ Chính trị đã định
hướng: Trong năm 2026, hoàn thành việc sửa đổi, bổ sung quy định pháp luật
4
về quy hoạch đô thị và nông thôn;… phát triển một số tỉnh đủ điều kiện trở
thành thành phố
1
.
Trên cơ sở đó, Bộ Chính trị đặt ra mục tiêu đẩy nhanh tốc độ và nâng
cao chất lượng đô thị hóa và trong báo cáo chính trị trình Đại hội Đại biểu
toàn quốc lần thứ XIV đã xác định mục tiêu đẩy nhanh tốc độ và nâng cao
chất lượng đô thị hóa, đến năm 2030 tỷ lệ đô thị hóa đạt trên 50%, đồng thời
hình thành các cực tăng trưởng mạnh, các vùng kinh tế trọng điểm và các đô
thị có tầm vóc khu vực và quốc tế; phát triển các đô thị xanh, thông minh,
hiện đại, kết hợp hài hòa giữa truyền thống và đổi mới sáng tạo.
Cụ thể hóa chủ trương của Bộ Chính trị, Quy hoạch tổng thể hệ thống
đô thị và nông thôn thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 tại Quyết
định số 891/QĐ-TTg ngày 22/8/2024 của Thủ tướng Chính phủ và Nghị
quyết số 306/NQ-CP ngày 05/10/2025 của Chính phủ về điều chỉnh Quy
hoạch tổng thể quốc gia đã xác định mô hình phát triển đô thị đa trung tâm,
tăng cường liên kết vùng, hình thành các chuỗi đô thị động lực Bắc - Trung -
Nam gắn với phát triển các thành phố công nghiệp hiện đại, trung tâm
logistics, trung tâm đổi mới sáng tạo và nông nghiệp công nghệ cao; đồng
thời thúc đẩy mô hình phát triển đô thị gắn với giao thông công cộng (TOD),
khai thác hiệu quả không gian ngầm, không gian số và phát triển các đô thị
sân bay có khả năng cạnh tranh trong khu vực và quốc tế.
Những định hướng chiến lược nêu trên tạo cơ sở chính trị và pháp lý
quan trọng cho việc hình thành các đô thị lớn, có vai trò dẫn dắt tăng trưởng
và lan tỏa phát triển. Trong bối cảnh đó, việc thành lập thành phố Đồng Nai
trực thuộc Trung ương là bước cụ thể hóa kịp thời và trực tiếp các chủ trương
lớn của Đảng và Nhà nước về phát triển hệ thống đô thị quốc gia, đặc biệt tại
khu vực phía Nam.
1.2. Phù hợp với các định hướng phát triển trong quy hoạch quốc
gia và quy hoạch vùng
Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm
2050 tại Nghị quyết số 81/2023/QH15 ngày 09/01/2023 của Quốc hội xác
định khu vực Thành phố Hồ Chí Minh - Đồng Nai - Bình Dương - Bà Rịa -
Vũng Tàu (nay là Thành phố Hồ Chí Minh - Đồng Nai) là vùng động lực phát
triển phía Nam, giữ vai trò dẫn dắt tăng trưởng của cả nước và hướng tới trở
thành một trong những trung tâm kinh tế năng động của khu vực Đông Nam
Á. Trong cấu trúc phát triển đó, Đồng Nai được xác định là trung tâm công
1
Tại khoản 5 Kết luận số 224-KL/TW ngày 08/12/2025 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng
5
nghiệp, logistics và đầu mối giao thông quan trọng, có vai trò thúc đẩy liên
kết kinh tế và lan tỏa phát triển trong toàn vùng.
Quy hoạch hệ thống đô thị và nông thôn quốc gia, Đồng Nai nằm trong
vùng đô thị Thành phố Hồ Chí Minh, được định hướng phát triển theo mô
hình đô thị liên kết, chia sẻ và bổ trợ chức năng phát triển với trung tâm vùng.
Quy hoạch xác định việc hình thành các trục kết nối nhanh giữa Thành phố
Hồ Chí Minh với các đô thị lớn trong khu vực thông qua hệ thống đường
Vành đai 3, Vành đai 4, các tuyến đường sắt đô thị, đường sắt kết nối sân bay
và cảng biển quốc tế, qua đó thúc đẩy liên kết vùng và lan tỏa phát triển kinh
tế - xã hội trong toàn khu vực phía Nam. Đặc biệt, đô thị sân bay Long Thành
được định hướng trở thành cửa ngõ hàng không quốc tế của vùng, gắn với
hình thành các vành đai công nghiệp - đô thị - dịch vụ dọc theo các trục giao
thông chiến lược.
Quy hoạch vùng Đông Nam Bộ thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm
2050 xác định vùng Đông Nam Bộ là động lực tăng trưởng hàng đầu của cả
nước, trung tâm công nghiệp, dịch vụ, logistics và đổi mới sáng tạo của quốc
gia. Trong cấu trúc phát triển đó, Đồng Nai cùng với Thành phố Hồ Chí Minh
giữ vai trò hạt nhân hình thành các hành lang kinh tế - công nghiệp - đô thị -
dịch vụ và đầu mối kết nối giao thương quốc tế của toàn vùng.
Quy hoạch vùng Đồng bằng sông Cửu Long xác định là trung tâm sản
xuất nông nghiệp bền vững và logistics nông sản của quốc gia, với yêu cầu
tăng cường liên kết hạ tầng, chuỗi cung ứng và thị trường với vùng Đông
Nam Bộ. Điều này đặt ra yêu cầu hình thành các trung tâm công nghiệp, dịch
vụ và logistics quy mô lớn tại Đông Nam Bộ để tiếp nhận, chế biến sâu, trung
chuyển và xuất khẩu khối lượng lớn hàng hóa của toàn vùng.
Với vị trí địa kinh tế chiến lược, hệ thống hạ tầng giao thông ngày càng
hoàn thiện và vai trò trung tâm công nghiệp - logistics của khu vực, Đồng Nai
có điều kiện thuận lợi để đảm nhận vai trò đầu mối kết nối giữa hai vùng kinh
tế lớn nhất phía Nam. Việc thành lập thành phố Đồng Nai trực thuộc Trung
ương sẽ góp phần nâng cao năng lực điều phối phát triển, thúc đẩy liên kết
vùng và khai thác hiệu quả các hành lang kinh tế chiến lược của khu vực.
1.3. Thực tiễn phát triển của tỉnh Đồng Nai đã hội tụ đầy đủ các
điều kiện để hình thành đô thị động lực tầm quốc gia
Trong những năm qua, tỉnh Đồng Nai đã tập trung huy động và sử dụng
hiệu quả các nguồn lực để phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội
theo hướng đồng bộ, hiện đại, từng bước mở rộng không gian phát triển đô
thị và nâng cao năng lực liên kết vùng.
6
Với vị trí địa chiến lược quan trọng tại khu vực phía Nam, Đồng Nai
đang từng bước khẳng định vai trò là một cực tăng trưởng năng động của
vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, giữ vai trò đầu mối kết nối giữa Đông
Nam Bộ với Tây Nguyên, Duyên hải Nam Trung Bộ và có tác động lan tỏa
đến vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Tỉnh chủ động đổi mới mô hình tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh
tế theo hướng hiện đại, nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của
nền kinh tế. Bên cạnh các ngành công nghiệp và dịch vụ truyền thống, Đồng
Nai đang tập trung phát triển các động lực mới như kinh tế hàng không, kinh
tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn; đồng thời thu hút đầu tư có chọn lọc
vào các lĩnh vực công nghệ cao, công nghiệp sinh thái, công nghiệp hỗ trợ,
nông nghiệp công nghệ cao và các dịch vụ giá trị gia tăng cao như logistics,
giáo dục – đào tạo, y tế và thương mại. Đồng Nai định hướng phát triển hệ
thống đô thị theo hướng hiện đại, thông minh và bền vững, mở rộng không
gian đô thị gắn với hệ thống hạ tầng giao thông chiến lược và mô hình phát
triển đô thị gắn với giao thông công cộng (TOD). Đặc biệt, khu vực Long
Thành – Nhơn Trạch được định hướng trở thành đô thị động lực mới gắn với
Cảng hàng không quốc tế Long Thành, với quy mô dân số dự kiến khoảng 2,5
triệu người, hình thành hệ sinh thái phát triển gồm công nghiệp, dịch vụ,
logistics và đô thị hiện đại.
Những điều kiện phát triển nêu trên cho thấy Đồng Nai đã hội tụ đầy đủ
các yếu tố để hình thành một đô thị quy mô lớn, một cực tăng trưởng có sức
lan tỏa mạnh trong khu vực và cả nước.
1.4. Yêu cầu hình thành đô thị trực thuộc Trung ương để phát huy
hiệu quả các định hướng phát triển
Trong bối cảnh quy mô kinh tế, dân số và mức độ đô thị hóa của Đồng
Nai ngày càng tăng, mô hình tổ chức hành chính cấp tỉnh hiện nay đang dần
bộc lộ những hạn chế trong quản lý, điều hành và phát triển đô thị quy mô
lớn, đa trung tâm và có tính liên kết vùng cao. Việc thành lập thành phố Đồng
Nai trực thuộc Trung ương là bước đi cần thiết nhằm cụ thể hóa các định
hướng trong quy hoạch tổng thể quốc gia, quy hoạch vùng và quy hoạch hệ
thống đô thị; đồng thời tạo cơ chế quản lý và phát triển phù hợp để phát huy
đầy đủ tiềm năng và lợi thế của địa phương để Đồng Nai có điều kiện đóng
góp lớn hơn, quan trọng hơn cho mục tiêu phát triển kinh tế của đất nước
trong kỷ nguyên mới.
2. Việc thành lập thành phố Đồng Nai trực thuộc Trung ương xuất
phát từ vị trí, vai trò và tầm quan trọng chiến lược của tỉnh Đồng Nai đối
7
với khu vực phía Nam, không gian siêu đô thị Thành phố Hồ Chí Minh
và cả nước
2.1. Đồng Nai có vị trí địa lý chiến lược, giữ vai trò cực tăng trưởng
quan trọng của khu vực phía Nam
Đồng Nai có vị trí địa lý đặc biệt quan trọng trong cấu trúc phát triển
của khu vực phía Nam và cả nước, được xác định là một trong những cực
tăng trưởng năng động của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Nằm ở vị trí
trung tâm của vùng Đông Nam Bộ và trong không gian phát triển của siêu đô
thị Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai là điểm giao thoa của nhiều hành lang
kinh tế và trục kết nối chiến lược, liên kết trực tiếp với Thành phố Hồ Chí
Minh và giữ vai trò cầu nối giữa Đông Nam Bộ với Tây Nguyên, Duyên hải
Nam Trung Bộ và lan tỏa mạnh mẽ đến khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.
Với vị trí đó, Đồng Nai không chỉ là cửa ngõ giao thương quan trọng mà còn
là đầu mối điều phối các dòng lưu chuyển hàng hóa, dịch vụ, đầu tư trong
toàn vùng phía Nam.
Đồng Nai xác định là một trong những không gian phát triển động lực
quan trọng, kết nối với trung tâm siêu đô thị Thành phố Hồ Chí Minh. Sự
phát triển của Đồng Nai tạo ra các cực tăng trưởng mới, thúc đẩy quá trình
phát triển cân bằng và bền vững của toàn vùng và cả nước. Đặc biệt, với việc
hình thành Cảng hàng không quốc tế Long Thành - một trong những công
trình hạ tầng chiến lược quan trọng của quốc gia - Đồng Nai có điều kiện trở
thành trung tâm logistics và trung chuyển hàng không quốc tế của khu vực
phía Nam. Khi kết hợp với hệ thống cảng biển nước sâu của thành phố Hồ
Chí Minh, mạng lưới đường cao tốc, đường vành đai và các tuyến đường sắt
liên vùng, Đồng Nai sẽ hình thành mạng lưới kết nối đa phương thức hiện
đại, tạo lợi thế nổi bật để trở thành cửa ngõ giao thương quốc tế, trung tâm
kết nối các chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu.
Đồng Nai còn sở hữu quy mô phát triển lớn cả về dân số và kinh tế.
Với dân số hơn 4,49 triệu người và diện tích tự nhiên 12.737,18 km², tỉnh có
không gian phát triển rộng và nguồn lực xã hội dồi dào. Quy mô GRDP đạt
khoảng 677.932,31 tỷ đồng, xếp thứ 4 cả nước, chỉ sau ba thành phố trực
thuộc Trung ương là Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và Hải Phòng; đồng
thời đứng đầu trong nhóm các tỉnh nếu không tính các đô thị trực thuộc Trung
ương. Những chỉ số này phản ánh rõ vai trò ngày càng quan trọng của Đồng
Nai trong cấu trúc kinh tế quốc gia, đồng thời cho thấy dư địa lớn để phát
triển lên tầm đô thị quy mô lớn.
Việc phát triển hành lang kinh tế - sinh thái dọc sông Đồng Nai sẽ mở
ra không gian phát triển mới, thúc đẩy quá trình mở rộng đô thị, nâng cao
8
chất lượng môi trường sống và từng bước hình thành một đô thị hiện đại, có
sức lan tỏa mạnh mẽ trong vùng và cả nước.
Với những lợi thế nổi bật về vị trí địa kinh tế, hạ tầng chiến lược và quy
mô phát triển, Đồng Nai hội tụ đầy đủ điều kiện để trở thành trung tâm công
nghiệp - logistics - đô thị hiện đại của khu vực phía Nam, cửa ngõ giao
thương quốc tế quan trọng của Việt Nam và một cực tăng trưởng có sức cạnh
tranh trong khu vực Đông Nam Á.
2.2. Đồng Nai là cửa ngõ kết nối liên vùng, liên quốc gia và quốc tế
Với vị trí địa lý đặc biệt quan trọng trong cấu trúc không gian phát
triển, Đồng Nai giữ vai trò là đầu mối kết nối chiến lược giữa các trung tâm
kinh tế lớn trong nước và các hành lang giao thương quốc tế; cùng với hệ
thống hạ tầng giao thông ngày càng hoàn thiện nằm ở vị trí trung tâm vùng
Đông Nam Bộ, tỉnh trở thành cửa ngõ kết nối đa hướng, góp phần thúc đẩy
giao thương, vận tải và liên kết phát triển giữa các vùng kinh tế của đất nước
cũng như với khu vực và thế giới.
Thứ nhất, cửa ngõ kết nối quốc tế. Đồng Nai có đường biên giới tiếp
giáp với Vương quốc Campuchia, với Khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Hoa Lư
giữ vai trò là đầu mối trung chuyển hàng hóa quan trọng giữa Việt Nam và
Campuchia. Đây là khu vực có nhiều tiềm năng phát triển thương mại biên
giới, logistics và dịch vụ cửa khẩu, đồng thời có thể tham gia sâu hơn vào các
hành lang kinh tế hợp tác giữa hai quốc gia trong khu vực tiểu vùng sông
Mekong.
Thứ hai, cửa ngõ kết nối vùng Đông Nam Bộ với vùng Đồng bằng sông
Cửu Long và thành phố Hồ Chí Minh. Với vị trí liền kề trung tâm kinh tế lớn
nhất cả nước, Đồng Nai trở thành điểm trung chuyển quan trọng trong mạng
lưới giao thương, vận tải và logistics của khu vực phía Nam, góp phần thúc
đẩy sự liên kết và lan tỏa phát triển giữa các vùng kinh tế trọng điểm.
Thứ ba, cửa ngõ kết nối với khu vực miền Trung và Tây Nguyên. Các
trục giao thông huyết mạch đi qua địa bàn tỉnh đóng vai trò quan trọng trong
việc vận chuyển hàng hóa, kết nối các trung tâm sản xuất, công nghiệp và
dịch vụ của vùng Đông Nam Bộ với khu vực Tây Nguyên và Duyên hải Nam
Trung Bộ, qua đó hình thành mạng lưới giao thương liên vùng ngày càng chặt
chẽ.
Thứ tư, cửa ngõ hàng không quốc tế. Với sự hình thành và đưa vào khai
thác Cảng hàng không quốc tế Long Thành, Đồng Nai sẽ trở thành một trong
những trung tâm trung chuyển hàng không quan trọng của khu vực châu Á -
Thái Bình Dương góp phần nâng cao năng lực kết nối quốc tế của Việt Nam,
9
đồng thời thúc đẩy phát triển các ngành dịch vụ logistics, thương mại và kinh
tế hàng không.
2.3. Đồng Nai sở hữu hệ thống hạ tầng giao thông đồng bộ, hiện đại
và mang tính đột phá
Một trong những yếu tố tạo nên lợi thế nổi bật của Đồng Nai là hệ
thống kết cấu hạ tầng giao thông đang được đầu tư phát triển mạnh mẽ và có
tính liên kết vùng cao. Tỉnh được xác định là cửa ngõ chiến lược của vùng
kinh tế trọng điểm phía Nam, nơi hội tụ và kết nối các loại hình giao thông
quan trọng như đường bộ, đường hàng không, đường sắt và đường thủy nội
địa. Đặc biệt, các công trình động lực mang tầm quốc gia và quốc tế như
Cảng hàng không quốc tế Long Thành, cảng nước sâu Phước An cùng mạng
lưới các tuyến cao tốc và trục giao thông liên vùng đang từng bước hình
thành một hệ thống hạ tầng logistics hiện đại, góp phần nâng cao năng lực kết
nối và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của toàn khu vực.
Đối với hạ tầng đường bộ, nhiều công trình giao thông quy mô lớn đã
và đang được triển khai, góp phần hoàn thiện mạng lưới giao thông chiến
lược của khu vực phía Nam. Các tuyến cao tốc và trục giao thông liên vùng
như Phan Thiết – Dầu Giây, Biên Hòa – Vũng Tàu, Bến Lức – Long Thành,
Dầu Giây – Liên Khương, Gia Nghĩa – Chơn Thành, cùng hệ thống Vành đai
3 và Vành đai 4 Thành phố Hồ Chí Minh đang từng bước hình thành mạng
lưới kết nối liên hoàn giữa Đồng Nai với các trung tâm kinh tế lớn và các khu
vực động lực của cả nước. Hệ thống giao thông này không chỉ nâng cao hiệu
quả vận tải mà còn tạo hành lang phát triển mới cho công nghiệp, đô thị và
dịch vụ.
Đặc biệt, Cảng hàng không quốc tế Long Thành là dự án hạ tầng mang
tính chiến lược quốc gia, có quy mô khoảng 5.000 ha (thuộc top 6 của thế
giới) với tổng mức đầu tư hơn 16 tỷ USD, được quy hoạch đạt tiêu chuẩn 4F -
cấp cao nhất theo tiêu chuẩn của Tổ chức Hàng không dân dụng quốc tế
(ICAO). Khi hoàn thành toàn bộ các giai đoạn, sân bay dự kiến đạt công suất
khoảng 100 triệu hành khách và 5 triệu tấn hàng hóa mỗi năm, trở thành một
trong những trung tâm trung chuyển hàng không lớn của khu vực châu Á -
Thái Bình Dương. Sự hiện diện của công trình này không chỉ tạo ra bước
ngoặt về hạ tầng giao thông mà còn mở ra cơ hội hình thành đô thị sân bay và
trung tâm logistics hiện đại mang tầm khu vực, quốc tế.
Việc hình thành mạng lưới hạ tầng giao thông đa phương thức và các
công trình động lực quy mô lớn đang tạo ra nền tảng phát triển mới cho Đồng
Nai, thúc đẩy mạnh mẽ các ngành logistics, thương mại và dịch vụ hiện đại,
đồng thời nâng cao khả năng tham gia của địa phương vào chuỗi cung ứng
10
khu vực và toàn cầu. Đây cũng là điều kiện quan trọng để khai thác hiệu quả
các lợi thế phát triển của tỉnh, mở rộng không gian đô thị và hình thành các
cực tăng trưởng mới trong tương lai; Đồng Nai sẽ cùng với thành phố Hồ Chí
Minh dẫn dắt vùng Đồng bằng Sông Cửu Long và Tây Nam bộ phát triển
vượt bậc; đưa Đồng Nai ra cả nước và đưa cả nước về với Đồng Nai, có vai
trò lan tỏa mạnh mẽ đối với khu vực phía nam và cả nước, trở thành cực tăng
trưởng có vai trò quan trọng của khu vực Đông Nam Á.
3. Thành lập thành phố Đồng Nai trực thuộc Trung ương xuất phát
từ thực trạng phát triển kinh tế - xã hội và yêu cầu động lực thúc đẩy sự
phát triển của vùng kinh tế phía Nam nước ta.
3.1. Đồng Nai là một trong những trung tâm công nghiệp và động
lực tăng trưởng quan trọng của khu vực phía Nam
Trong nhiều năm qua, Đồng Nai luôn duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế
ổn định và thuộc nhóm dẫn đầu cả nước, đóng vai trò quan trọng trong thúc
đẩy phát triển kinh tế - xã hội của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Với quy
mô kinh tế lớn, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp - dịch vụ
hiện đại, Đồng Nai từng bước khẳng định vị thế là một trong những động lực
tăng trưởng quan trọng của khu vực phía Nam và của cả nước.
Hiện là một trong những trung tâm công nghiệp lớn của Việt Nam, với
89 khu công nghiệp được quy hoạch, tập trung tại các địa bàn phát triển năng
động như Biên Hòa, Nhơn Trạch, Long Thành, Đồng Xoài, Đồng Phú, Chơn
Thành và Trảng Bom. Hiện có 45 quốc gia có doanh nghiệp đang hoạt động
sản xuất công nghiệp tại các khu công nghiệp Đồng Nai với 2.269 dự án và
tổng vốn đầu tư đăng ký là 44,38 tỷ USD, không chỉ đóng góp quan trọng vào
tăng trưởng kinh tế của địa phương mà còn giữ vai trò quan trọng trong chuỗi
sản xuất, xuất khẩu của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và cả nước.
Trong giai đoạn 2021-2025, kinh tế - xã hội của tỉnh tiếp tục duy trì đà
tăng trưởng tích cực, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng hiện đại, môi
trường đầu tư - kinh doanh ngày càng được cải thiện, qua đó tiếp tục khẳng
định vai trò của Đồng Nai là một trong những trung tâm công nghiệp lớn và
động lực tăng trưởng quan trọng của khu vực phía Nam.
3.2. Quy mô và cơ cấu kinh tế lớn, tạo nền tảng vững chắc cho phát
triển đô thị trực thuộc Trung ương
Cơ cấu kinh tế của tỉnh tiếp tục chuyển dịch mạnh theo hướng công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, trong đó khu vực công nghiệp - xây dựng chiếm
khoảng 54,97% GRDP, giữ vai trò chủ đạo; khu vực dịch vụ chiếm 26,42%,
từng bước phát triển theo hướng chất lượng cao; và khu vực nông, lâm
11
nghiệp, thủy sản chiếm 12,13%, đang chuyển đổi theo mô hình nông nghiệp
công nghệ cao và sản xuất quy mô lớn. GRDP bình quân đầu người năm 2025
ước đạt khoảng 152,8 triệu đồng/người, phản ánh mức phát triển kinh tế
tương đối cao so với mặt bằng chung của cả nước.
Quy mô kinh tế lớn cùng cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng hiện
đại đã tạo nền tảng vững chắc để Đồng Nai phát triển trở thành một đô thị
lớn, trung tâm công nghiệp - dịch vụ quan trọng của khu vực phía Nam, đáp
ứng các điều kiện cần thiết để hình thành đô thị trực thuộc Trung ương.
3.3. Yêu cầu hình thành động lực phát triển mới cho vùng kinh tế
phía Nam và cả nước
Với vị trí địa kinh tế thuận lợi cùng tiềm năng phát triển lớn, Đồng Nai
từ lâu đã được xác định là một trong những cực tăng trưởng quan trọng của
vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, đồng thời giữ vai trò kết nối giữa các
trung tâm kinh tế lớn, các hành lang thương mại của khu vực và quốc tế.
Trong bối cảnh vùng Đông Nam Bộ được định hướng trở thành động
lực tăng trưởng hàng đầu của cả nước, việc thành lập thành phố Đồng Nai
trực thuộc Trung ương sẽ tạo cơ sở để phát huy hiệu quả hơn các tiềm năng
và lợi thế phát triển của địa phương; mô hình đô thị trực thuộc Trung ương sẽ
giúp nâng cao năng lực quản trị đô thị, tăng cường khả năng điều phối phát
triển và liên kết vùng, qua đó khai thác hiệu quả các lợi thế về công nghiệp,
logistics, dịch vụ thương mại và kinh tế hàng không.
Trên nền tảng đó, Đồng Nai có điều kiện phát huy vai trò là trung tâm
tăng trưởng quan trọng của khu vực, góp phần thúc đẩy sự phát triển năng
động của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và cả nước; đóng góp tích cực
vào tăng trưởng kinh tế quốc gia và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền
kinh tế trong giai đoạn mới.
Sau khi được thành lập, thành phố Đồng Nai sẽ phát triển theo mô hình
thành phố công nghiệp, đô thị hiện đại, trung tâm logistics và nông nghiệp
công nghệ cao, gắn kết hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi
trường, đẩy mạnh ứng dụng khoa học - công nghệ và chuyển đổi số trong
quản trị đô thị, nâng cao chất lượng sống của người dân và từng bước xây
dựng một đô thị năng động, có sức cạnh tranh cao trong khu vực. Qua đó
hình thành một cực tăng trưởng mới của khu vực phía Nam, có khả năng lan
tỏa mạnh mẽ, thúc đẩy liên kết vùng, nâng cao hiệu quả khai thác hệ thống hạ
tầng chiến lược và đóng góp quan trọng vào sự phát triển bền vững của nền
kinh tế quốc gia.
12
4. Việc thành lập thành phố Đồng Nai trực thuộc Trung ương xuất
phát từ lịch sử hình thành, yêu cầu bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa
-lịch sử đặc sắc của dân tộc và thực tiễn phát triển đô thị trên địa bàn
tỉnh
4.1. Đồng Nai có bề dày lịch sử hơn 325 năm hình thành và phát
triển
Vùng đất Đồng Nai gắn liền với tiến trình mở cõi về phương Nam của
dân tộc Việt Nam. Năm 1698, Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh được chúa
Nguyễn Phúc Chu cử vào kinh lược vùng đất phương Nam, lập dinh Trấn
Biên, đặt nền móng cho quá trình hình thành và phát triển của vùng đất Biên
Hòa - Đồng Nai ngày nay. Đây được xem là dấu mốc lịch sử quan trọng trong
tiến trình xác lập chủ quyền và tổ chức quản lý hành chính của nhà nước
phong kiến Việt Nam đối với vùng đất Nam Bộ.
Đến năm 1808, dưới triều vua Gia Long, dinh Trấn Biên được đổi
thành trấn Biên Hòa, trở thành một trong năm trấn thuộc Gia Định thành, với
địa giới hành chính rộng lớn bao gồm phần lớn vùng đất thuộc các tỉnh Đồng
Nai, Bình Dương, Bình Phước, Bà Rịa - Vũng Tàu và một phần Thành phố
Hồ Chí Minh ngày nay. Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử và những lần điều
chỉnh địa giới hành chính, vùng đất Đồng Nai vẫn luôn giữ vị trí quan trọng
trong quá trình hình thành, phát triển và định hình không gian kinh tế - xã hội
của Nam Bộ.
Trong lịch sử phát triển của vùng đất này, Nông Nại đại phố (nay thuộc
Cù lao Hiệp Hòa) từng là một trong những thương cảng sầm uất bậc nhất của
Nam Bộ vào thế kỷ XVII - XVIII, đóng vai trò trung tâm giao thương quan
trọng của khu vực. Truyền thống thương mại, giao lưu kinh tế và văn hóa
hình thành từ rất sớm đã tạo nền tảng quan trọng cho quá trình phát triển đô
thị của Đồng Nai trong giai đoạn hiện nay.
Kế thừa những giá trị lịch sử đó, trong những năm gần đây Đồng Nai
đã đẩy mạnh quá trình đô thị hóa, phát triển kết cấu hạ tầng và mở rộng
không gian đô thị với nhiều quy hoạch mang tầm chiến lược. Việc đầu tư các
công trình hạ tầng động lực như Cảng hàng không quốc tế Long Thành, hệ
thống cao tốc và các trục giao thông liên vùng đang từng bước tạo nên diện
mạo mới cho hệ thống đô thị của tỉnh, hướng tới mục tiêu xây dựng Đồng Nai
trở thành đô thị hiện đại, phát triển bền vững và đủ điều kiện trở thành thành
phố trực thuộc Trung ương.
4.2. Đồng Nai là vùng đất giàu bản sắc văn hóa và có hệ thống di
sản phong phú
13
Không chỉ có bề dày lịch sử lâu đời, Đồng Nai còn là vùng đất hội tụ và
giao thoa của nhiều giá trị văn hóa đặc sắc. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có sự
sinh sống của 47 trong tổng số 54 dân tộc anh em của Việt Nam, hơn 863 cơ
sở tín ngưỡng và 24 tổ chức thuộc 10 tôn giáo (trong đó, phần lớn là Phật
giáo và Công giáo), tạo nên sự đa dạng văn hóa phong phú và bản sắc đặc
trưng của vùng Đông Nam Bộ.
Toàn tỉnh có 121 di tích được xếp hạng (trong đó có 6 di tích quốc gia
đặc biệt) tiêu biểu như Văn miếu Trấn Biên - biểu tượng văn hóa, giáo dục
của vùng Nam Bộ; Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh - ghi dấu công lao xác lập chủ
quyền và tổ chức bộ máy hành chính tại phương Nam; Chiến khu Đ - di tích
cách mạng, Địa điểm thành lập Chi bộ Đông Dương Cộng sản Đảng ở Phú
Riềng (được thành lập năm 1929, trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời
ngày 03/02/1930), Núi Bà Rá - Thác Mơ - di tích lịch sử, danh lam thắng
cảnh quan trọng gắn với các cuộc kháng chiến của dân tộc gắn với địa danh
Phước Long là tỉnh đầu tiên của miền Nam được giải phóng (ngày
06/01/1975); bên cạnh đó, còn có nhiều loại hình di sản phong phú như di
tích khảo cổ học, di tích lịch sử - văn hóa, kiến trúc nghệ thuật, tín ngưỡng,
tôn giáo và các địa điểm lưu niệm danh nhân.
Những giá trị văn hóa - lịch sử đặc sắc đó đã tạo nên bản sắc riêng của
Đồng Nai, đồng thời là nguồn lực quan trọng để phát triển du lịch văn hóa, du
lịch lịch sử và giáo dục truyền thống, nơi hội tụ tinh hoa lan tỏa văn hóa
nghĩa tình Đồng Nai góp phần nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân và
quảng bá hình ảnh địa phương.
4.3. Việc thành lập thành phố Đồng Nai trực thuộc Trung ương tạo
điều kiện bảo tồn và phát huy hiệu quả các giá trị văn hóa - lịch sử
Việc thành lập thành phố Đồng Nai trực thuộc Trung ương không chỉ
nhằm tạo động lực mới cho phát triển kinh tế - xã hội mà còn mở ra cơ hội
quan trọng để bảo tồn, tôn tạo và phát huy các giá trị văn hóa - lịch sử đặc sắc
của địa phương. Công tác quản lý và bảo tồn di sản sẽ được nâng cao thông
qua cơ chế quản lý hiện đại, nguồn lực đầu tư lớn hơn và hệ thống chính sách
phát triển phù hợp, sẽ tạo điều kiện thuận lợi để huy động các nguồn lực tài
chính, nguồn vốn xã hội hóa và sự tham gia của các tổ chức, chuyên gia trong
và ngoài nước vào công tác bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị các di sản văn
hóa.
Việc phát triển Đồng Nai trở thành thành phố trực thuộc Trung ương sẽ
góp phần kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế năng động với bảo tồn các
giá trị văn hóa, truyền thống đấu tranh cách mạng, tinh thần yêu nước, dũng
cảm, kiên cường với phong trào đấu tranh tại Nhà lao Tân Hiệp, các căn cứ
14
cách mạng như Chiến khu Đ, Rừng sác, Căn cứ Bộ Chỉ huy Miền (Tà
Thiết),… và giá trị xây dựng hình ảnh một đô thị hiện đại, văn minh nhưng
vẫn giữ gìn và phát huy bản sắc lịch sử - văn hóa đặc trưng của vùng đất hơn
325 năm hình thành và phát triển. Qua đó, Đồng Nai không chỉ phát huy hiệu
quả các giá trị di sản phục vụ cho sự phát triển của địa phương mà còn góp
phần bảo tồn và lan tỏa các giá trị văn hóa của dân tộc Việt Nam trong tiến
trình hội nhập và phát triển.
5. Việc thành lập thành phố Đồng Nai trực thuộc Trung ương xuất
phát từ yêu cầu bảo đảm nhiệm vụ quốc phòng, an ninh trong tình hình
mới
Đồng Nai có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về quốc phòng – an
ninh, vừa là địa bàn có đường biên giới trên bộ tiếp giáp với Vương quốc
Campuchia, vừa là cửa ngõ giao thương quốc tế năng động của khu vực phía
Nam. Đồng thời, Đồng Nai nằm trên trục kết nối giữa vùng Tây nguyên với
vùng Đông Nam bộ, vùng Tây Nam bộ và Thành phố Hồ Chí Minh. Với vị trí
đó, Đồng Nai được xem là một trong những địa bàn trọng yếu trong thế trận
quốc phòng - an ninh của Quân khu 7, giữ vai trò “phên giậu” bảo vệ khu vực
phía Nam của Tổ quốc và trục kết nối đảm bảo thế trận phòng thủ quốc phòng
- an ninh giữa khu vực Đông Nam bộ và Tây Nguyên.
Trong những năm qua, tỉnh luôn quan tâm kết hợp chặt chẽ giữa phát
triển kinh tế - xã hội với củng cố quốc phòng - an ninh, xây dựng thế trận
quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc, bảo đảm
giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội và sẵn sàng xử lý hiệu quả
các tình huống phát sinh. Trong bối cảnh tình hình khu vực và thế giới có
nhiều biến động, yêu cầu bảo đảm quốc phòng - an ninh ngày càng đặt ra cao
hơn, do đó việc xây dựng và phát triển Đồng Nai trở thành thành phố trực
thuộc Trung ương có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao năng lực quản
lý, điều hành và bảo vệ vững chắc chủ quyền, an ninh quốc gia.
5.1. Tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về quốc
phòng - an ninh
Mô hình thành phố trực thuộc Trung ương sẽ tạo điều kiện kiện toàn tổ
chức bộ máy quản lý nhà nước theo hướng tinh gọn, hiệu lực và hiệu quả
hơn, bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất từ Trung ương đến địa phương
trong thực hiện các nhiệm vụ quốc phòng - an ninh.
Đồng thời, cơ chế quản lý phù hợp sẽ góp phần tăng cường sự phối hợp
chặt chẽ giữa quân đội, công an, biên phòng và các lực lượng chức năng,
nâng cao năng lực nắm bắt tình hình, chủ động phòng ngừa và kịp thời xử lý
15
các vấn đề liên quan đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và bảo vệ chủ
quyền biên giới quốc gia.
5.2. Tăng cường nguồn lực đầu tư cho quốc phòng gắn với phát
triển hạ tầng chiến lược
Khi trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, Đồng Nai sẽ có điều
kiện huy động và phân bổ nguồn lực hiệu quả hơn để đầu tư cho các công
trình quốc phòng, khu kinh tế - quốc phòng và hiện đại hóa lực lượng vũ
trang địa phương.
Bên cạnh đó, với mạng lưới cao tốc liên vùng, cao tốc Gia Nghĩa -
Chơn Thành được quy hoạch và đầu tư theo tiêu chuẩn hiện đại đã đảm bảo
kết nối liên thông giữa khu vực Tây Nguyên với hệ thống hạ tầng chiến lược
như Cảng hàng không quốc tế Long Thành, cảng nước sâu Phước An,…
không chỉ phục vụ phát triển kinh tế vùng, liên vùng mà còn có ý nghĩa quan
trọng trong bảo đảm khả năng cơ động chiến lược, hậu cần và phục vụ nhiệm
vụ quốc phòng khi cần thiết.
5.3. Củng cố “thế trận lòng dân” và bảo đảm an ninh khu vực biên
giới
Việc phát triển Đồng Nai trở thành thành phố trực thuộc Trung ương sẽ
tạo điều kiện nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, đặc biệt là
tại các khu vực biên giới, vùng còn nhiều khó khăn. Khi đời sống người dân
được cải thiện và niềm tin đối với chính quyền được củng cố sẽ góp phần xây
dựng “thế trận lòng dân” vững chắc, tạo nền tảng quan trọng để giữ vững ổn
định chính trị và trật tự an toàn xã hội từ cơ sở. Nhân dân không chỉ là chủ
thể của quá trình phát triển kinh tế - xã hội mà còn là lực lượng quan trọng
trong bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, góp phần xây dựng khu vực biên giới hòa
bình, ổn định và phát triển bền vững.
5.4. Nâng cao năng lực ứng phó với các thách thức an ninh truyền
thống và phi truyền thống
Với vị thế là đô thị trực thuộc Trung ương, Đồng Nai sẽ có điều kiện
tăng cường hợp tác quốc tế, giao lưu biên giới và đối ngoại nhân dân, góp
phần xây dựng môi trường hòa bình, ổn định phục vụ phát triển. Với năng lực
quản lý đô thị hiện đại và nguồn lực phát triển lớn hơn, địa phương sẽ chủ
động hơn trong việc ứng phó với các thách thức an ninh phi truyền thống như
thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu và các rủi ro kinh tế - xã hội, qua đó góp
phần bảo đảm ổn định chung của khu vực và cả nước.
Từ vị trí chiến lược, vai trò kết nối và yêu cầu bảo đảm quốc phòng - an
ninh trong tình hình mới, việc thành lập thành phố Đồng Nai trực thuộc
16
Trung ương là bước đi cần thiết nhằm nâng cao năng lực quản lý nhà nước,
củng cố thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân, đồng thời phát
huy vai trò của Đồng Nai là địa bàn trọng yếu về quốc phòng - an ninh của
Quân khu 7 và khu vực phía Nam.
Việc hình thành thành phố trực thuộc Trung ương trên cơ sở địa giới
hành chính tỉnh Đồng Nai cũng phản ánh đúng vị thế, tiềm năng và thực tiễn
phát triển của địa phương, phù hợp với các chủ trương, định hướng lớn của
Đảng và Nhà nước trong quá trình hội nhập và phát triển.
17
Phần thứ hai
LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ HIỆN TRẠNG CỦA TỈNH ĐỒNG NAI
I. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH TỈNH ĐỒNG NAI
Tỉnh Đồng Nai và tỉnh Bình Phước cùng có chung nguồn gốc lịch sử, là
vùng đất đã được chứng kiến rất nhiều sự thay đổi về địa giới hành chính
cũng như tên gọi của mình. Quá trình hình thành và phát triển của khu vực
Đồng Nai - Bình Phước là một tiến trình lịch sử liên tục, phản ánh rõ nét quá
trình mở rộng lãnh thổ quốc gia, tổ chức quản lý hành chính và phát triển
kinh tế - xã hội qua các thời kỳ, đồng thời là cơ sở thực tiễn quan trọng cho
việc sắp xếp, tổ chức lại không gian phát triển trong giai đoạn hiện nay.
Từ trước khi có dấu chân người Việt thì tại đây đã trải qua nhiều biến
cố lịch sử gắn liền với các vương quốc Phù Nam và Chân Lạp. Tới khoảng
thế kỷ XVII, do chính sách mở rộng lãnh thổ về phía Nam của chúa Nguyễn,
đã bắt đầu có những đợt di dân người Việt tới đây.
Năm 1698 được coi là dấu mốc quan trọng khi Thống suất Nguyễn
Hữu Cảnh (còn có tên Nguyễn Hữu Kính) được chúa Nguyễn Phúc Chu cử
vào kinh lược xứ Đàng Trong đã thành lập dinh Trấn Biên, tiền thân của tỉnh
Biên Hoà sau này. Năm Gia Long thứ 7 (1808), dinh Trấn Biên được đổi
thành trấn Biên Hòa, huyện Phước Long thuộc dinh Trấn Biên được nâng lên
thành phủ Phước Long, các tổng được nâng lên thành huyện. Trấn Biên Hòa
(gồm 1 phủ Phước Long) là một trong 5 trấn dưới thời Gia Long, thuộc Gia
Định thành.
Trấn Biên Hoà (1808 - 1832) hay tỉnh Biên Hòa (1832 - 1861) có địa
giới hành chính rộng lớn, bao gồm vùng đất các tỉnh Đồng Nai, Bà Rịa -
Vũng Tàu, Bình Phước, Bình Dương và một phần của Thành phố Hồ Chí
Minh ngày nay, với tổng diện tích lên đến trên 17.000 km².
* Biên Hoà thời nhà Nguyễn
Ban đầu tỉnh Biên Hòa có 2 phủ Phước Long và Phước Tuy. Đến năm
1840 đặt thêm 4 phủ: Tân Định, Tân Bình, Tân Lợi, Tân Thuận và nhiều
huyện. Theo Hiệp ước Nhâm Tuất năm 1862, Biên Hòa bị cắt nhượng cho
Pháp cùng với Gia Định và Định Tường.
* Biên Hoà thời Pháp thuộc
Năm 1876, tỉnh Biên Hòa bị Pháp giải thể và biến thành 3 tiểu khu:
Biên Hòa, Thủ Dầu Một và Bà Rịa. Theo Nghị định ngày 20 tháng 12 năm
1899 của Toàn quyền Đông Dương, đổi tên tất cả các tiểu khu thành tỉnh.
18
Thời kỳ này, địa giới tỉnh Biên Hòa bao gồm tỉnh Đồng Nai, một phần các
tỉnh Bình Phước và Bình Dương hiện tại. Năm 1939, tỉnh Biên Hòa có 5
quận: Châu Thành, Long Thành, Xuân Lộc, Tân Uyên, Núi Bà Rá.
* Đồng Nai - Biên Hoà thời Việt Nam Cộng hòa
Ngày 22 tháng 10 năm 1956, Ngô Đình Diệm ra Sắc lệnh 143-NV chia
tỉnh Biên Hòa thành 3 tỉnh: Biên Hòa, Long Khánh, Phước Long (có thêm
phần đất của tỉnh Thủ Dầu Một). Từ đó, tiền thân của tỉnh Bình Phước và
Đồng Nai được tách ra.
1. Đối với tỉnh Đồng Nai
Ngày 23/1/1959, tách một phần đất quận Tân Uyên, cùng phần đất của
các tỉnh khác lập tỉnh Phước Thành. Khi đó tỉnh Biên Hòa phía bắc giáp tỉnh
Phước Thành, phía Đông giáp tỉnh Long Khánh, phía Đông Nam giáp tỉnh
Phước Tuy, phía Tây và Tây nam giáp hai tỉnh Bình Dương và Gia Định.
Năm 1972, tỉnh Biên Hòa có 6 quận là: Quận Đức Tu, Công Thanh,
Tân Uyên, Dĩ An, Long Thành và Nhơn Trạch. Tháng 02/1976, tỉnh Biên
Hòa được sáp nhập với Bà Rịa và Long Khánh thành tỉnh Đồng Nai mới, tỉnh
lỵ đặt tại thành phố Biên Hòa, thị xã Vũng Tàu và 9 huyện: Châu Thành,
Duyên Hải, Long Đất, Long Thành, Tân Phú, Thống Nhất, Vĩnh Cửu, Xuân
Lộc, Xuyên Mộc. Từ năm 1976 đến nay, tên gọi tỉnh Đồng Nai được giữ
nguyên, song có thay đổi nhiều lần địa giới, đơn vị hành chính cấp xã, cấp
huyện.
2. Đối với tỉnh Bình Phước
Sau khi được tách ra từ tỉnh Biên Hòa, tiền thân tỉnh Bình Phước gồm
hai tỉnh Bình Long và Phước Long. Ngày 30/01/1971, Trung ương cục miền
Nam quyết định thành lập phân khu Bình Phước. Cuối năm 1972, phân khu
Bình Phước giải thể, tỉnh Bình Phước chính thức được thành lập.
Sau kháng chiến chống Mỹ thắng lợi, để đáp ứng nhu cầu phát triển
kinh tế - văn hóa - xã hội, ngày 02/7/1976, tại kỳ họp thứ nhất quốc hội khóa
VI, Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra quyết định thành
lập tỉnh Sông Bé bao gồm: Thủ Dầu Một, Bình Phước và 03 xã thuộc huyện
Thủ Đức (TP. Hồ Chí Minh), chia thành 07 huyện và 01 thị xã. Tháng
02/1978, huyện Bình Long được chia thành 02 huyện: Bình Long và Lộc
Ninh. Năm 1988, huyện Phước Long chia thành 02 huyện: Phước Long và Bù
Đăng.
Ngày 01/01/1997, tỉnh Bình Phước được tái lập gồm 05 huyện phía Bắc
tỉnh Sông Bé là: Đồng Phú, Bình Long, Lộc Ninh, Phước Long và Bù Đăng.
Tỉnh lỵ đặt ở thị trấn Đồng Xoài (huyện Đồng Phú).
19
Ngày 01/9/1999, Chính phủ ban hành Nghị định số 90/1999/NĐ-CP
thành lập thị xã Đồng Xoài; ngày 20/02/2003, Chính phủ ban hành Nghị định
số 17/2003/NĐ-CP thành lập huyện Chơn Thành và Bù Đốp được tách ra từ
huyện Bình Long và Lộc Ninh. Ngày 01/05/2003 hai huyện Chơn Thành và
Bù Đốp chính thức đi vào hoạt động. Tỉnh Bình Phước có 08 huyện, thị, 94
xã phường và thị trấn. Từ năm 1999, địa giới cấp tỉnh được ổn định, song có
thay đổi nhiều lần về địa giới hành chính cấp xã, cấp huyện.
3. Từ ngày 01/7/2025 đến nay
Trên cơ sở tổng kết thực tiễn và yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới,
thực hiện các chủ trương của Trung ương về sắp xếp đơn vị hành chính, từ
ngày 01/7/2025, hai tỉnh Đồng Nai và Bình Phước được sáp nhập, hình thành
một đơn vị hành chính cấp tỉnh mới. Việc sáp nhập này đánh dấu bước
chuyển có tính chiến lược từ mô hình phát triển phân tán sang tích hợp, tạo
lập không gian phát triển thống nhất, phát huy hiệu quả tổng hợp giữa công
nghiệp - đô thị - dịch vụ với nông nghiệp công nghệ cao và quỹ đất phát triển.
Đồng thời, tạo điều kiện nâng cao năng lực cạnh tranh, thu hút đầu tư quy mô
lớn, tinh gọn bộ máy quản lý và hình thành nền tảng để phát triển đô thị cấp
vùng, hướng tới mục tiêu trở thành thành phố trực thuộc Trung ương.
II. HIỆN TRẠNG CỦA TỈNH ĐỒNG NAI
1. Đặc điểm điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý
1.1. Vị trí địa lý
Ngày 12/6/2025, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 202/2025/QH15 về
việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, theo đó sắp xếp toàn bộ diện tích tự
nhiên và quy mô dân số của tỉnh Bình Phước và tỉnh Đồng Nai để thành lập
tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Đồng Nai. Sau khi sắp xếp, tỉnh Đồng Nai có vị trí
địa lý nằm ở trung tâm vùng Đông Nam Bộ, là khu vực kết nối quan trọng
giữa vùng kinh tế trọng điểm phía Nam với Tây Nguyên và các tỉnh Nam
Trung Bộ.
Sau khi sắp xếp, tỉnh Đồng Nai có diện tích tự nhiên khoảng 12.737,18
km², chiếm khoảng 3,84% diện tích tự nhiên cả nước và khoảng 45,4% diện
tích của vùng Đông Nam Bộ. Quy mô dân số khoảng 4,49 triệu người, mật độ
dân số trung bình khoảng 352,6 người/km². Toàn tỉnh có 95 đơn vị hành
chính cấp xã, gồm 72 xã và 23 phường; trong đó phường Trấn Biên là trung
tâm chính trị, hành chính, kinh tế và văn hóa – xã hội của tỉnh. Ranh giới
hành chính được xác định như sau:
- Phía Tây và Tây Nam giáp Thành phố Hồ Chí Minh.
- Phía Tây Bắc giáp tỉnh Tây Ninh.
20
- Phía Đông giáp tỉnh Lâm Đồng.
- Phía Bắc giáp Vương quốc Campuchia.
Tỉnh có tọa độ địa lý từ khoảng 10°30' đến 12°19' vĩ độ Bắc và từ
106°24' đến 107°35' kinh độ Đông.
Đồng Nai nằm liền kề Thành phố Hồ Chí Minh, cách trung tâm thành
phố khoảng 30 km, thuộc khu vực phát triển năng động nhất của cả nước.
Tỉnh có hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông tương đối đồng bộ với đầy đủ
năm loại hình giao thông gồm đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa,
đường hàng hải và đường hàng không. Đặc biệt, dự án Cảng hàng không
quốc tế Long Thành có quy mô khoảng 5.000 ha, công suất thiết kế đạt
khoảng 100 triệu hành khách và 5 triệu tấn hàng hóa mỗi năm khi hoàn thành
toàn bộ các giai đoạn, được xác định là công trình hạ tầng chiến lược có ý
nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của vùng Đông Nam Bộ và cả nước.
1.2. Khí hậu
Đồng Nai có khí hậu nhiệt đới gió mùa phân thành hai mùa rõ rệt, là
mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô
kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Trong mùa khô, hướng gió chủ yếu
trong nửa đầu mùa là Bắc – Đông Bắc, nửa cuối mùa chuyển sang hướng
Đông – Đông Nam. Trong mùa mưa, gió chủ yếu là gió mùa Tây Nam thịnh
hành từ cuối tháng 5 đến đầu tháng 8.
-
Mưa: Tổng lượng mưa năm khá lớn, dao động khoảng 1.500 – 2.400
mm/năm, ở những vùng đón gió mùa Tây Nam như các huyện phía bắc có thể
lớn hơn. Mùa khô: thường từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau; mùa mưa từ
khoảng tháng 5 đến tháng 10 (hoặc tháng 11) tùy vùng.
-
Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình toàn tỉnh dao động quanh mức (26-
27
o
C) trong giai đoạn 2015-2021. Nhiệt độ trung bình tháng biến thiên ít,
tháng có nhiệt độ cao nhất và thấp nhất chênh nhau khoảng 2,8-4,8
o
C. Nhiệt
độ chênh lệch giữa ngày và đêm khá lớn, tại vùng cao có thể lên tới 10 –
15
o
C, mùa khô nhiệt độ dao động nhiều hơn mùa mưa. Nhiệt độ duy trì ổn
định, nhiệt độ thấp nhất rơi vào các tháng 1 và tháng 2, nhiệt độ cao nhất
thường rơi vào các tháng 3, tháng 4, tháng 5.
-
Gió: Tại mỗi địa phương hướng và tốc độ gió không đồng nhất, do
ảnh hưởng của địa hình. tần suất lặng gió là cao nhất, từ 25 – 40% số lần quan
trắc trong năm.
-
Độ ẩm không khí: Độ ẩm không khí trung bình các năm lớn hơn 80%,
những tháng có độ ẩm cao nhất là từ tháng 6 - 11 và những tháng có độ ẩm
thấp nhất là từ tháng 1 - 4. Vùng đồng bằng và vùng đồi thấp có độ ẩm thấp
21
hơn vùng cao và vùng ven biển. Trong năm, mùa mưa (tháng 5 - tháng 11) có
độ ẩm cao hơn nhiều so với mùa khô. Độ ẩm tháng cao nhất năm 2021 là
tháng 10 đạt 90% và độ ẩm tháng thấp nhất tháng 3 đạt 71%.
Nhìn chung, với khí hậu thuận lợi, Đồng Nai có nhiều tiềm năng cho
phát triển kinh tế nói chung và đặc biệt là sản xuất nông nghiệp, với các cây
trồng nhiệt đới rất điển hình. Bên cạnh đó, khí hậu ôn hòa cũng giúp Đồng
Nai có quỹ rừng lớn, đa dạng về loài, có giá trị phòng hộ, đóng vai trò quan
trọng trong việc bảo vệ môi trường sinh thái vùng Đông Nam Bộ, bảo vệ,
điều hòa dòng chảy các con sông lớn như: Sông Bé, sông Sài Gòn, sông Đồng
Nai… góp phần giảm lũ đột ngột đối với các tỉnh vùng hạ nguồn và đảm bảo
nguồn sinh thuỷ trong mùa khô kiệt và bảo vệ nguồn tài nguyên nước phục vụ
nhu cầu phát triển của tỉnh cũng như cho sự phát triển rừng bền vững của các
địa phương lân cận. Tuy nhiên, hầu hết các sông chảy qua địa phận tỉnh Đồng
Nai đều có độ dốc với lòng sông có nhiều ghềnh, không thuận lợi cho hoạt
động vận tải đường thủy.
Khí hậu của Đồng Nai mang đặc trưng khí hậu nhiệt đới gió mùa cận
xích đạo, có hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa thường kéo dài
từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm phần lớn lượng mưa trong năm; mùa khô kéo
dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Lượng mưa trung bình hàng năm dao
động từ khoảng 1.500 đến 2.400 mm. Nhiệt độ trung bình năm khoảng 26–
27°C, độ ẩm không khí trung bình trên 80%. Nhìn chung, với khí hậu thuận
lợi, Đồng Nai có nhiều tiềm năng cho phát triển kinh tế nói chung và đặc biệt
là sản xuất nông nghiệp, với các cây trồng nhiệt đới rất điển hình. Bên cạnh
đó, khí hậu ôn hòa cũng giúp Đồng Nai có quỹ rừng lớn, đa dạng về loài, có
giá trị phòng hộ, đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ môi trường sinh
thái vùng Đông Nam Bộ, bảo vệ, điều hòa dòng chảy các con sông lớn như:
sông Bé, sông Sài Gòn, sông Đồng Nai… góp phần giảm lũ đột ngột đối với
các tỉnh vùng hạ nguồn và đảm bảo nguồn sinh thuỷ trong mùa khô kiệt và
bảo vệ nguồn tài nguyên nước phục vụ nhu cầu phát triển của tỉnh cũng như
cho sự phát triển rừng bền vững của các địa phương lân cận.
1.3. Địa hình
Tỉnh Đồng Nai nằm ở vị trí chuyển tiếp quan trọng giữa Nam Tây
Nguyên - cao nguyên Di Linh, M’nông với vùng Đông Nam Bộ và đồng bằng
hạ lưu hệ thống sông Đồng Nai. Địa hình của tỉnh vì vậy mang tính đa dạng,
phân hóa rõ rệt theo hướng Đông Bắc - Tây Nam, thấp dần từ vùng cao
nguyên, đồi núi xuống vùng đồng bằng ven sông và vùng trũng chịu ảnh
hưởng triều cường. Địa hình tỉnh Đồng Nai gồm ba dạng địa hình chủ yếu;
Địa hình đồi núi và cao nguyên thấp; địa hình đồi lượn sóng – trung du; và
22
địa hình đồng bằng, đồng bằng thấp ven sông, ven triều, đan xen với các
thung lũng và bậc thềm phù sa cổ.
Địa hình đồi núi và cao nguyên thấp: Khu vực phía Bắc và Đông Bắc
tỉnh Đồng Nai (mới), bao gồm phần lớn địa bàn tỉnh Bình Phước (cũ) và vùng
giáp ranh huyện Tân Phú (Đồng Nai cũ) - Lâm Đồng - Đắk Nông, có địa hình
đồi núi thấp và cao nguyên thấp, là phần kéo dài của rìa phía Nam dãy
Trường Sơn và các cao nguyên bazan. Địa hình có độ cao phổ biến từ 200 –
500 m, cá biệt có những đỉnh núi cao vượt trội như núi Bà Rá (723 m) và núi
Chứa Chan (837 m). Địa hình khu vực này chủ yếu là đồi núi thấp dạng vòm,
đồi bát úp, ít bị chia cắt sâu, độ dốc phổ biến dưới 15°, xen kẽ các dải núi kéo
dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam. Bề mặt địa hình được phủ chủ yếu bởi
bazan và trầm tích lục nguyên, tạo nên các cao nguyên thấp tương đối bằng
phẳng ở khu vực phía Đông Bắc, giáp cao nguyên M’nông và cao nguyên Di
Linh. Đây là vùng địa hình có cao độ lớn nhất của tỉnh, đóng vai trò quan
trọng về sinh thái rừng đầu nguồn và phát triển cây công nghiệp lâu năm.
Địa hình đồi lượn sóng và trung du: Chiếm diện tích lớn nhất trong tỉnh
Đồng Nai (mới) là vùng địa hình đồi lượn sóng và trung du, phân bố liên tục
từ khu vực trung tâm Bình Phước (cũ) kéo dài xuống các khu vực Xuân Lộc,
Long Khánh, Thống Nhất và nhiều khu vực nội tỉnh Đồng Nai (cũ). Địa hình
có cao độ phổ biến từ 20 - 200 m, bề mặt địa hình tương đối bằng phẳng,
lượn sóng nhẹ, độ dốc nhỏ (khoảng 3 - 8°). Đây là dạng địa hình hình thành
trên bazan và phù sa cổ, ít bị chia cắt, thuận lợi cho phát triển nông nghiệp
hàng hóa quy mô lớn, hình thành các vùng chuyên canh cây công nghiệp, cây
ăn trái và phát triển đô thị, khu công nghiệp. Địa hình trung du này tạo thành
vùng chuyển tiếp mềm mại giữa khu vực đồi núi cao phía Bắc – Đông Bắc và
vùng đồng bằng thấp phía Nam – Tây Nam của tỉnh.
Địa hình đồng bằng và đồng bằng thấp ven sông, ven triều: Khu vực
phía Nam và Tây Nam tỉnh Đồng Nai (mới), chủ yếu thuộc địa bàn Đồng Nai
(cũ) như Biên Hòa, Vĩnh Cửu, Long Thành, Nhơn Trạch, có địa hình đồng
bằng và đồng bằng thấp ven sông Đồng Nai, chiếm tỷ lệ nhỏ hơn nhưng giữ
vai trò quan trọng về phát triển đô thị, công nghiệp, dịch vụ và nông nghiệp
lúa nước. Địa hình đồng bằng bao gồm các bậc thềm sông cao 2 – 10 m, phân
bố dọc theo sông Đồng Nai và các phụ lưu, được bồi tụ bởi phù sa hiện đại.
Xen kẽ là vùng trũng thấp trên trầm tích đầm lầy hạ lưu, có cao độ từ 0,3 – 2
m, nhiều nơi thấp hơn mực nước biển, chịu ảnh hưởng trực tiếp của thủy
triều, ngập nước theo mùa, mạng lưới sông rạch chằng chịt và có rừng ngập
mặn phân bố. Đây là khu vực có nền địa chất yếu, giàu sét và vật chất hữu cơ,
cần được quản lý chặt chẽ trong phát triển xây dựng và hạ tầng kỹ thuật.
23
Nhìn chung địa hình tỉnh Đồng Nai tương đối thoải, ít bị chia cắt mạnh,
phần lớn diện tích có độ dốc dưới 15°, hình thành các tiểu vùng địa hình rõ
rệt từ cao nguyên – trung du – đồng bằng. Đặc điểm này tạo điều kiện thuận
lợi cho tổ chức không gian phát triển kinh tế – xã hội đa dạng, đồng thời đòi
hỏi sự phân vùng hợp lý trong khai thác tài nguyên đất, bảo vệ rừng đầu
nguồn, kiểm soát ngập lụt và thích ứng biến đổi khí hậu trong dài hạn.
1.4. Thủy văn
Hệ thống thủy văn của tỉnh thuộc lưu vực sông Đồng Nai – một trong
ba hệ thống sông lớn của Việt Nam. Các con sông chính gồm sông Đồng Nai,
sông Bé, sông La Ngà, sông Sài Gòn cùng với hệ thống sông Vàm Cỏ và
nhiều sông suối nhỏ khác. Hệ thống sông ngòi không chỉ đóng vai trò quan
trọng trong việc cung cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt mà còn tạo điều
kiện thuận lợi cho phát triển giao thông thủy nội địa và các hoạt động kinh tế
liên quan.
Chế độ thủy văn của các sông trong tỉnh có sự phân hóa rõ rệt giữa mùa
mưa và mùa khô. Mùa lũ thường kéo dài khoảng 5–6 tháng, trong khi mùa
khô kéo dài khoảng 6–7 tháng. Khu vực hạ lưu sông Đồng Nai còn chịu ảnh
hưởng của chế độ bán nhật triều của biển Đông, tác động nhất định đến điều
kiện thủy văn và môi trường sinh thái của khu vực.
1.5. Tài nguyên đất
Đồng Nai có quỹ đất phong phú và phì nhiêu, thích hợp cho phát triển
các cây công nghiệp, cây ăn quả nhiệt đới có giá trị kinh tế cao, nền đất cứng
thuận lợi cho xây dựng nhiều loại công trình tạo cho Đồng Nai có lợi thế về
đất đai để phát triển nông nghiệp, công nghiệp và nhiều ngành kinh tế khác.
Chất lượng đất có thể chia thành 3 nhóm chung sau:
-
Các loại đất hình thành trên đá bazan: Gồm đất đá bọt, đất đen, đất đỏ
có độ phì nhiêu cao. Các loại đất này thích hợp cho các cây công nghiệp ngắn
và dài ngày như: cao su, cà phê, tiêu,…
-
Các loại đất hình thành trên phù sa cổ và trên đá phiến sét như đất
xám, nâu xám, loang lổ. Các loại đất này thường có độ phì nhiêu kém, thích
hợp cho các loại cây ngắn ngày như đậu, đỗ… một số cây ăn trái và cây công
nghiệp dài ngày như cây điều…
Các loại đất hình thành trên phù sa mới như đất phù sa, đất cát chiếm
một phần nhỏ, phân bố chủ yếu ven các sông như sông Đồng Nai, La Ngà.
Chất lượng đất tốt, thích hợp với nhiều loại cây trồng như cây lương thực,
hoa màu, rau quả…
1.6. Tài nguyên nước
24
1.6.1. Tài nguyên nước mặt
Đồng Nai có nguồn nước mặt rất phong phú, được cung cấp bởi hệ
thống sông suối chính là sông Đồng Nai; sông La Ngà; sông Buông; sông
Ray; sông Xoài, sông Thị Vải, sông Măng, sông Chiu Riu …, lưu lượng nước
phụ thuộc theo mùa, thường tập trung lớn trong mùa mưa, ở mùa khô lượng
nước chỉ còn khoảng 20% tổng lượng nước trong năm
2
. Tổng lượng nước mặt
hàng năm tỉnh Đồng Nai nhận được từ hệ thống sông Đồng Nai và các sông
suối nhỏ khác khoảng 26.552 tỷ m3, cụ thể
3
: Sông Đồng Nai; sông La Ngà;
sông Bé; sông Lá Buông; sông Ray; hệ thống suối Cả - sông Thị Vải; sông
Măng; sông Chiu Riu.
1.6.2. Tài nguyên nước dưới đất:
Trên địa bàn tỉnh Đồng Nai tồn tại 14 tầng chứa nước, trong đó gồm 04
tầng chứa nước lỗ hổng (gồm tầng qh, qp2-3, qp1, n22) và 10 tầng chứa nước
khe nứt (Bqp3, Bqp2, Bn22-3, Bn2-qp1, Bn13, k, j3-k1, j1-2, t2, p3-t1). Với
nước lỗ hổng các khu vực có mức độ giàu nước từ trung bình đến giàu tập
trung ở phía tây nam, như khu Bắc Biên Hoà, Bắc Long Thành, Thành Tuy
Hạ, phía tây huyện Thống Nhất, tập trung ở phía nam, tây nam như khu vực
Chơn Thành, Bình Long và Đồng Phú; với nước khe nứt tập trung ở khu
Long Khánh, phía tây huyện Thống Nhất, diện nhỏ ở Tân Phú, phía tây nam
huyện Vĩnh Cửu, Bù Đốp, Lộc Ninh, phía Tây Nam Phước Long, Bình Long,
Chơn Thành, thị xã Đồng Xoài và phía Tây Đồng Phú. Theo kết quả “Điều
tra đánh giá sơ bộ tài nguyên nước dưới đất trên địa bàn tỉnh Đồng Nai” do
Liên đoàn Quy hoạch và điều tra Tài nguyên nước miền Nam thực hiện: Trữ
lượng tiềm năng nước dưới đất trên địa bàn tỉnh Đồng Nai là 8.156.368
m3/ngày.
2
Tổng lượng nước mặt hàng năm tỉnh Đồng Nai (trước sắp xếp) nhận được từ hệ thống sông Đồng Nai và các
sông suối nhỏ khác là 26.545 tỷ m3; tổng lượng nguồn nước mặt trung bình hàng năm của tỉnh Bình Phước
(trước sắp xếp) vào khoảng 7,18 tỷ m
3
3
+ Sông Đồng Nai: cung cấp một lượng dòng chảy trung bình năm khoảng 346,86 m3/s, tương đương với tổng
lượng 10,94 tỷ m
3
/năm.
+ Sông La Ngà: cung cấp lưu lượng trung bình 186 m
3
/s, tương đương với tổng lượng khoảng 5,86 tỷ m
3
/năm.
+ Sông Bé: Hàng năm, sông Bé bổ sung vào dòng chính sông Đồng Nai lưu lượng bình quân 255,47 m
3
/s, tương
đương với tổng lượng 8 tỷ m
3
.
+ Sông Lá Buông: Hàng năm, sông Lá Buông cung cấp một lượng dòng chảy khoảng 356,67 triệu m
3
, ứng lưu
lượng bình quân khoảng 11,31 m
3
/s.
+ Sông Ray: Tổng lượng dòng chảy trung bình năm từ tỉnh Đồng Nai khoảng 454 triệu m
3
, ứng với lưu lượng
trung bình 14,41 m
3
/s.
+ Hệ thống suối Cả – Sông Thị Vải: Hàng năm cung cấp lượng dòng chảy khoảng 371,69 triệu m3, tương đương
với lưu lượng 11,79 m
3
/s.
+ Sông Măng: Với phần diện tích trong tỉnh 325 km
2
, có module dòng chảy trung bình 33,7 l/s.km
2
, lưu lượng
trung bình 10,99 m
3
/s, tổng lượng trung bình 0,35 tỷ m
3
.
+ Sông Chiu Riu, với phần diện tích trong tỉnh 48 km
2
, có module dòng chảy trung bình 24,03 l/s.km
2
, lưu lượng
trung bình 1,15 m
3
/s, tổng lượng trung bình 0,04 tỷ m
3
.
25
Đồng Nai là tỉnh có tốc độ đô thị hóa cao, với nhiều khu công nghiệp
lớn như Biên Hòa, Amata, Long Thành, Nhơn Trạch, Becamex - Bình Phước,
Minh Hưng - Sikico, Minh Hưng - Hàn Quốc và Minh Hưng III, … đã và
đang hình thành nhu cầu rất lớn về cấp nước phục vụ sản xuất, sinh hoạt và
dịch vụ. Nhu cầu sử dụng nước tăng mạnh không chỉ về lượng mà còn về chất
lượng, gây áp lực lên các nguồn nước mặt, nước ngầm, trong khi hệ thống
cấp thoát nước chưa đồng bộ. Việc mở rộng hạ tầng, san lấp mặt bằng cũng
làm biến đổi dòng chảy tự nhiên, ảnh hưởng đến khả năng trữ nước, thẩm
thấu nước mưa, làm gia tăng nguy cơ ngập lụt và suy giảm nước ngầm.
Trong những năm gần đây, biến đổi khí hậu diễn biến ngày càng cực
đoan: hạn hán kéo dài, mưa cực đoan, lũ quét và ngập úng cục bộ. Những
biến động này làm suy giảm trữ lượng nước mặt và nước ngầm, làm gia tăng
mức độ ô nhiễm khi lưu lượng dòng chảy thấp, đồng thời gây áp lực lớn cho
cấp nước sinh hoạt, sản xuất và bảo vệ hệ sinh thái. Đây là xu hướng chung,
tác động trực tiếp đến nguồn tài nguyên nước của tỉnh.
Mặc dù có tài nguyên và mạng lưới sông hồ phong phú, mật độ dày
nhưng khả năng phục vụ tưới tiêu cho sản xuất nông nghiệp là rất hạn chế.
Nguyên nhân là do dòng sông hẹp, dốc, khả năng gây lũ cao vào mùa mưa
nhưng lại hạn hán vào mùa khô. Tình trạng hạn hán xảy ra khi lượng mưa
thấp dẫn đến thiếu nước trên diện rộng và các hồ chứa không trữ đủ lượng
nước nhu cầu làm ảnh hưởng đáng kể đến năng suất cây trồng.
Vấn đề nghiêm trọng hơn là đảm bảo cung cấp nước cho chuyển đổi cơ
cấu cây trồng sang hướng tăng diện tích cây ăn trái và phát triển khu, cụm
công nghiệp, đô thị trong tương lai tại địa bàn khu vực phía bắc của tỉnh. Đây
là thách thức rất lớn đối với tỉnh tỉnh trong quá trình phát triển.
1.7. Khoáng sản
Khoáng sản tỉnh Đồng Nai phong phú về chủng loại và đa dạng về loại
hình nguồn gốc. Trong số đó, vật liệu xây dựng có tiềm năng nhất, điển hình
một số khoáng sản gồm: Than bùn, các nhóm kim loại (Vàng, Nhôm (Quặng
bauxit), Chì – kẽm, Thiếc…); các nhóm phi kim loại: Khoáng sản thuộc
nhóm phi kim loại khá phong phú, có tiềm năng, trữ lượng lớn, như: Kaolin,
bột màu tự nhiên, đá vôi, thạch anh mạch và nguyên vật liệu xây dựng như
đá, sét gạch ngói, puzolan, laterit,…); nước khoáng – nóng…
Theo quy hoạch được phê duyệt tỉnh Đồng Nai và Bình Phước (trước
sắp xếp):
-
Tổng số quy hoạch: 319 mỏ/khu vực, trong đó: Theo phân cấp quy
hoạch, có Quy hoạch cấp Quốc gia: 42 mỏ/khu vực; quy hoạch cấp tỉnh: 277
26
mỏ/khu vực.
-
Tổng diện tích đất quy hoạch khoáng sản: 87.992,8 ha.
-
Tổng trữ lượng khoáng sản quy hoạch: 3.809.925.100 m
3
và 390
m3/ng.đ (nước khoáng).
2. Diện tích tự nhiên và cơ cấu các loại đất
2.1. Diện tích tự nhiên
Giai đoạn 2021 - 2025 đánh dấu một bước chuyển mình mang tính
chiến lược trong công tác quản lý và khai thác tài nguyên đất đai trên địa bàn
tỉnh, đặc biệt là sau quá trình kiện toàn và sáp nhập đơn vị hành chính để hình
thành một không gian phát triển rộng lớn với tổng diện tích tự nhiên đạt
1.273.718 ha. Hiện trạng sử dụng đất năm 2024 phản ánh rõ nét sự giao thoa
giữa một nền kinh tế nông nghiệp quy mô lớn và tốc độ công nghiệp hóa, đô
thị hóa mạnh mẽ của vùng động lực Đông Nam Bộ.
Quỹ đất nông nghiệp vẫn giữ vai trò chủ đạo khi chiếm tỷ trọng lớn với
83,72%, không chỉ bảo đảm an ninh lương thực và giá trị sinh thái rừng đầu
nguồn tại khu vực hồ Trị An hay Cát Tiên, mà còn là không gian trọng yếu
cho các vùng chuyên canh cây lâu năm và nông nghiệp ứng dụng công nghệ
cao. Song song với đó, sự mở rộng của nhóm đất phi nông nghiệp lên mức
16,08% đã tạo lập nền tảng hạ tầng kỹ thuật và xã hội vững chắc, định hình
nên các hành lang công nghiệp - logistics và mạng lưới đô thị đa trung tâm
hiện đại. Việc đánh giá chi tiết hiện trạng sử dụng đất trong giai đoạn này là
cơ sở then chốt để tối ưu hóa nguồn lực, giải quyết các điểm nghẽn về chồng
lấn quy hoạch và hiện thực hóa tầm nhìn về một tỉnh phát triển bền vững, hài
hòa giữa bảo tồn sinh thái và bứt phá kinh tế.
2.2. Cơ cấu các loại đất
2.2.1. Đất nông nghiệp
Đất nông nghiệp trên địa bàn toàn tỉnh có quy mô diện tích lớn, đạt
khoảng 1.065.295 ha, chiếm 83,64% diện tích tự nhiên, phản ánh vai trò chủ
đạo của lĩnh vực nông nghiệp trong cơ cấu sử dụng đất của tỉnh. Diện tích đất
nông nghiệp phân bố chủ yếu tại các xã có quỹ đất tự nhiên rộng, địa hình
thuận lợi và truyền thống phát triển nông - lâm nghiệp, tập trung nhiều tại xã
Trị An, xã Đăk Lua, xã Phước Sơn, xã Tân Lợi, xã Bù Gia Mập, xã Thọ Sơn,
xã Phú Lý, xã Định Quán,…
a) Đất trồng cây hàng năm:
Diện tích 69.051 ha, chiếm 6,48% diện tích đất nông nghiệp của toàn
tỉnh, phân bố chủ yếu tại các khu vực có điều kiện địa hình tương đối bằng
27
phẳng, chủ động được nguồn nước tưới và thuận lợi cho cơ giới hóa sản xuất,
phục vụ phát triển các loại cây lương thực, cây thực phẩm và cây công nghiệp
ngắn ngày, bao gồm:
- Đất trồng lúa: Toàn tỉnh có 28.325 ha đất trồng lúa, chiếm 41,02%
diện tích đất trồng cây hàng năm của tỉnh. Trong đó, đất chuyên trồng lúa
(canh tác 2 - 3 vụ/năm) có diện tích 17.003 ha, chiếm 60,03% diện tích đất
trồng lúa; đất trồng lúa còn lại (bao gồm các khu vực sản xuất 1 vụ lúa/năm
hoặc kết hợp 1 vụ lúa - 1 vụ cây màu) có diện tích 11.321 ha, chiếm 39,97%
diện tích đất trồng lúa. Cụ thể:
+ Đất chuyên trồng lúa: Có diện tích là 17.009 ha, phân bố tập trung
chủ yếu tại các xã Nhơn Trạch, Xuân Phú, An Phước, Phú Lâm, Tân Phú,…
Các khu vực này có điều kiện địa hình tương đối bằng phẳng, đất đai phù hợp
với canh tác lúa nước và được đầu tư hệ thống thủy lợi khá đồng bộ, bảo đảm
khả năng chủ động nguồn nước tưới tiêu. Phần lớn diện tích đất chuyên trồng
lúa có điều kiện canh tác ổn định từ 2-3 vụ/năm, tạo thuận lợi cho thâm canh,
tăng năng suất và nâng cao hệ số sử dụng đất. Việc duy trì, bảo vệ và sử dụng
hiệu quả quỹ đất chuyên trồng lúa có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm
an ninh lương thực, ổn định sinh kế cho người dân nông thôn, đồng thời góp
phần thực hiện mục tiêu phát triển nông nghiệp bền vững trên địa bàn tỉnh.
+ Đất trồng lúa còn lại: Có diện tích 11.321 ha, phân bố chủ yếu tại các
khu vực có điều kiện tưới tiêu còn hạn chế, thường xuyên chịu ảnh hưởng của
ngập úng trong mùa mưa hoặc thiếu nước tưới trong mùa khô, tập trung tại
các xã Thiện Hưng, Tân Hưng, Phước Sơn, Tân Tiến, Xuân Phú,… Tại các
khu vực này, hệ thống thủy lợi nhìn chung chưa đồng bộ, việc canh tác chủ
yếu phụ thuộc vào điều kiện thời tiết theo mùa, dẫn đến năng suất và sản
lượng sản xuất chưa ổn định..
- Đất trồng cây hàng năm khác: Đất trồng cây hàng năm khác: Diện
tích 40.726 ha, chiếm 58,98% diện tích đất trồng cây hàng năm, phân bố tập
trung tại các xã Định Quán, xã Xuân Đông, xã Xuân Bắc, xã Đại Phước, xã
Phước Thái, xã Phước An, xã Hưng Thịnh,… Cơ cấu cây trồng chủ yếu bao
gồm các loại cây như bắp, đậu, mì, mía, cỏ,… phù hợp với điều kiện đất đai,
khí hậu và tập quán canh tác của từng vùng. Đây là nguồn nguyên liệu chính
cho chăn nuôi và công nghiệp chế biến.
b) Đất trồng cây lâu năm: Toàn tỉnh có diện tích 640.221 ha, chiếm
60,10% đất nông nghiệp, phân bố tập trung tại các xã Tân Lợi, xã Đồng Tâm,
xã Bình Tân, xã Phước Sơn,… Cơ cấu cây trồng chủ yếu là các loại cây công
nghiệp lâu năm như điều, cao su, tiêu, cà phê và các loại cây ăn quả như bưởi,
quýt, chôm chôm, măng cụt, sầu riêng,… phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng
28
và khí hậu của từng vùng. Việc hình thành các vùng chuyên canh tập trung đã
và đang góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất, tạo nguồn nguyên liệu ổn
định cho công nghiệp chế biến, phát triển chuỗi giá trị nông sản và thúc đẩy
sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa, bền vững.
c) Đất lâm nghiệp: Tổng diện tích đất lâm nghiệp trên địa bàn toàn
tỉnh 339.730 ha, chiếm 31,89% diện tích đất nông nghiệp. Quỹ đất lâm
nghiệp giữ vai trò quan trọng bảo vệ môi trường sinh thái, bảo tồn đa dạng
sinh học, phòng hộ đầu nguồn, điều tiết nguồn nước và ứng phó với biến đổi
khí hậu, đồng thời là không gian phát triển kinh tế lâm nghiệp bền vững;
trong đó:
- Đất rừng đặc dụng: Có diện tích 134.446 ha, chiếm 39,57% diện tích
đất lâm nghiệp, phân bố tập trung chủ yếu tại các xã Trị An, xã Đak Lua, xã
Bù Gia Mập, xã Phú Lý,… các khu rừng có giá trị đặc biệt về sinh thái và đa
dạng sinh học như Khu Bảo tồn Thiên nhiên và Văn hóa Đồng Nai, Vườn
quốc gia Cát Tiên, Vườn quốc gia Bù Gia Mập,… Rừng đặc dụng giữ vai trò
cốt lõi trong bảo tồn hệ sinh thái rừng tự nhiên, bảo vệ các loài động, thực vật
quý hiếm, nguồn gen đặc hữu, đồng thời có ý nghĩa quan trọng trong nghiên
cứu khoa học, giáo dục môi trường và phát triển du lịch sinh thái.
- Đất rừng phòng hộ: Diện tích 75.895 ha, chiếm 22,34% diện tích đất
lâm nghiệp, phân bố tập trung chủ yếu tại các xã Định Quán, xã Bom Bo, xã
Hưng Phước, xã Thọ Sơn, xã Bù Gia Mập, xã Phước An,… Phần lớn diện
tích đất rừng phòng hộ hiện do các Ban Quản lý rừng phòng hộ trực tiếp quản
lý, sử dụng, bao gồm: Ban Quản lý rừng phòng hộ Tân Phú, Xuân Lộc, Long
Thành, Đắk Mai, Bù Đốp, Lộc Ninh và Bù Đăng. Rừng phòng hộ có vai trò
quan trọng trong bảo vệ đất, bảo vệ nguồn nước, phòng chống xói mòn, sạt
lở, điều tiết dòng chảy và giảm thiểu tác động của thiên tai, đồng thời góp
phần bảo đảm an ninh môi trường và phát triển bền vững cho các khu vực hạ
du.
- Đất rừng sản xuất: Diện tích 129.389 ha, chiếm 38,09% đất lâm
nghiệp, phân bố chủ yếu tại xã Thanh Sơn, xã Tân Lợi, xã Phước Sơn, xã Thọ
Sơn, xã Lộc Thành, xã Đak Ơ,... Phần lớn diện tích đất rừng sản xuất hiện
thuộc phạm vi quản lý, sử dụng của các tổ chức, doanh nghiệp lâm nghiệp và
cao su, như: Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp La Ngà, Tổng Công ty Tập
đoàn Tân Mai, Công ty TNHH MTV Cao su Phú Riềng, Công ty TNHH
MTV Cao su Lộc Ninh, Công ty TNHH MTV Cao su Bình Long, Công ty Cổ
phần Cao su Sông Bé, Công ty TNHH MTV Cao su Bình Phước,… Rừng sản
xuất giữ vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế lâm nghiệp, cung cấp
29
nguyên liệu cho công nghiệp chế biến gỗ và cao su, tạo việc làm, nâng cao
thu nhập cho người lao động.
- Trong đó, đất rừng sản xuất là rừng tự nhiên: Diện tích 25.313 ha,
phân bố tập trung chủ yếu ở xã Thanh Sơn, xã Tân Lợi, xã Lộc Thành, xã Trị
An,... Đây là quỹ rừng có giá trị quan trọng về sinh thái và cảnh quan, cần
được bảo vệ, khoanh nuôi phục hồi, bảo đảm giá trị bảo tồn tài nguyên rừng,
môi trường sinh thái.
d) Đất nuôi trồng thủy sản: Có diện tích 8.010 ha, chiếm 0,75% diện
tích đất nông nghiệp. Diện tích này phân bố tập trung chủ yếu tại các xã
Phước An, xã Tân An, xã Tân Phú, xã Tân Tiến, xã Bình Minh,... Hoạt động
nuôi trồng thủy sản chủ yếu là nuôi thủy sản nước ngọt, nước lợ với quy mô
sản xuất còn phân tán; diện tích nuôi tập trung chưa nhiều, phần lớn là các ao
nuôi nhỏ lẻ, kết hợp trong khuôn viên hộ gia đình.
đ) Đất chăn nuôi tập trung: Diện tích 4.442 ha, chiếm 0,42% diện
tích đất nông nghiệp, quỹ đất này phân bố chủ yếu tại các xã Xuân Thành, xã
Lộc Tấn, xã Xuân Hòa, xã Lộc Thạnh, xã Long Hà, xã Lộc Thành, xã Tân
Hưng, xã Xuân Đông,... các hoạt động chăn nuôi chủ yếu là các trang trại
chăn nuôi heo có quy mô lớn được bố trí tại các khu vực có khoảng cách ly
phù hợp với khu dân cư, thuận lợi cho kiểm soát dịch bệnh và bảo vệ môi
trường.
e) Đất nông nghiệp khác: Diện tích 3.842 ha, chiếm 0,36% diện tích
đất nông nghiệp, loại đất này chủ yếu được sử dụng cho các cơ sở nghiên
cứu, sản xuất và lai tạo giống cây trồng, vật nuôi, các trung tâm nông nghiệp
ứng dụng công nghệ cao, khu thực nghiệm, đào tạo và chuyển giao tiến bộ
khoa học - kỹ thuật phục vụ phát triển nông nghiệp,... tập trung chủ yếu ở các
xã Gia Kiệm, xã Nha Bích, phường An Lộc, xã Tân Lợi, xã Hưng Thịnh, xã
Trảng Bom, xã Thống Nhất,... Đây là quỹ đất có vai trò quan trọng trong việc
thúc đẩy đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn giống, phát triển
nông nghiệp hiện đại và nâng cao hiệu quả, giá trị gia tăng của ngành nông
nghiệp trên địa bàn tỉnh.
2.2.2. Đất phi nông nghiệp: Đất phi nông nghiệp toàn tỉnh có diện tích
205.315 ha, chiếm 16,12% diện tích tự nhiên, là không gian chủ yếu phục vụ
phát triển đô thị, công nghiệp, thương mại - dịch vụ, hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng
xã hội, quốc phòng - an ninh và các mục đích công cộng khác, đóng vai trò
quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa và phát triển kinh tế -
xã hội của tỉnh.
a) Đất ở: Diện tích 29.522 ha, chiếm 14,38% đất phi nông nghiệp.
Trong đó, đất ở được phân thành hai nhóm chính là đất ở tại nông thôn và đất
30
ở tại đô thị, phản ánh đặc điểm phân bố dân cư và mức độ đô thị hóa trên địa
bàn tỉnh. Cơ cấu sử dụng đất như sau:
- Đất ở tại nông thôn: Diện tích 19.379 ha, chiếm 65,64% diện tích đất
ở trên địa bàn tỉnh. Đất ở nông thôn phân bố chủ yếu tại khu vực trung tâm
các xã, dọc theo các tuyến giao thông chính như quốc lộ, tỉnh lộ, đường liên
xã, liên ấp; ngoài ra còn phân bố rải rác xen kẽ trong các khu vực sản xuất
nông nghiệp. Diện tích đất ở nông thôn tập trung nhiều tại các xã Nhơn
Trạch, Phước An, Xuân Lộc, Long Thành, Trảng Bom, Dầu Giây, Lộc
Ninh,… phản ánh nhu cầu đất ở gắn với phát triển kinh tế nông thôn và quá
trình đô thị hóa lan tỏa.
- Đất ở tại đô thị: Diện tích 10.143 ha, chiếm 34,36% diện tích đất ở,
thuộc các đơn vị hành chính phường trên địa bàn. Đây là các khu dân cư có
quy mô tương đối lớn, với đất ở của người dân tập trung chủ yếu dọc theo các
trục giao thông chính và trong các khu đô thị hiện hữu, khu đô thị mới. Diện
tích đất ở đô thị phân bố nhiều tại các phường Long Hưng, Long Bình, Chơn
Thành, Trấn Biên, Tân Triều, Bình Phước,…
b) Đất xây dựng trụ sở cơ quan: Diện tích 634 ha, chiếm 0,31% diện
tích đất phi nông nghiệp. Chỉ tiêu này có ở tất cả các xã, phường trên địa bàn
tỉnh, tập trung nhiều ở phường Bình Phước, xã Lộc Thạnh, xã Tân Khai, xã
Đồng Phú, xã Bù Đăng, xã Phú Nghĩa, xã Phú Riềng,… là nơi làm việc của
các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và các đơn
vị sự nghiệp công lập, phục vụ trực tiếp cho hoạt động quản lý nhà nước và
cung ứng dịch vụ công.
c) Đất quốc phòng, an ninh: Diện tích 18.186 ha, chiếm 8,86% diện
tích đất phi nông nghiệp, giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong bảo đảm quốc
phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội và chủ quyền lãnh thổ quốc gia; trong
đó:
- Đất quốc phòng: Diện tích 15.834 ha, chiếm 87,07% diện tích đất
quốc phòng, an ninh, chủ yếu tập trung tại các xã Xuân Hòa, phường Long
Bình, phường Tân Triều, phường Tam Phước,… với các công trình như
trường bắn Quốc gia Khu vực 3, Tổng kho Long Bình, sân bay Biên Hòa,…
Đây là những khu vực bố trí các công trình, cơ sở phục vụ nhiệm vụ quốc
phòng trọng yếu, có vai trò chiến lược trong thế trận quốc phòng toàn dân và
khu vực phòng thủ của tỉnh.
- Đất an ninh: Diện tích 2.351 ha, chiếm 12,93% diện tích đất quốc
phòng, an ninh, chủ yếu phân bố ở các xã Minh Đức, xã Xuân Thành, xã
Xuân Hòa,… phần lớn diện tích đất an ninh được sử dụng cho các cơ sở giam
giữ, giáo dục cải tạo và đào tạo lực lượng như: Trường giáo dưỡng số 4,
31
Trường Đại học Phòng cháy chữa cháy, Trường Cao đẳng Cảnh sát Nhân dân
VI,... góp phần bảo đảm an ninh trật tự, an toàn xã hội và đào tạo nguồn nhân
lực cho lực lượng công an nhân dân.
d) Đất xây dựng công trình sự nghiệp: Diện tích 4.475 ha, chiếm
2,18% nhóm đất phi nông nghiệp, sử dụng cho hoạt động sự nghiệp công lập
trong các lĩnh vực văn hóa, xã hội, y tế, giáo dục - đào tạo, thể dục - thể thao,
khoa học - công nghệ, môi trường, khí tượng thủy văn và các công trình sự
nghiệp khác, đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng đời sống
vật chất, tinh thần của người dân và bảo đảm an sinh xã hội; cụ thể:
- Đất xây dựng cơ sở văn hóa: Có diện tích 321 ha, chiếm 7,18% đất
xây dựng công trình sự nghiệp, đây là diện tích xây dựng các công trình văn
hóa gồm trung tâm hội nghị, nhà văn hóa, trung tâm văn hóa, câu lạc bộ; công
trình có tính biểu trưng, nghệ thuật (tượng đài ngoài trời, cổng chào, quảng
trường, bia tưởng niệm...); nhà thiếu nhi, trung tâm hoạt động thanh thiếu nhi,
nhà bảo tàng, nhà triển lãm, thư viện, và các công trình văn hóa khác được
Nhà nước thành lập hoặc cho phép hoạt động…; diện tích phân bổ chủ yếu ở
xã Trảng Bom, xã Dầu Giây, phường Bình Long, phường Trấn Biên,...
- Đất xây dựng cơ sở xã hội: Diện tích 218 ha, chiếm 4,88% đất xây
dựng công trình sự nghiệp, là diện tích xây dựng các công trình trung tâm
cung cấp dịch vụ công tác xã hội, cơ sở bảo trợ xã hội; trung tâm chữa bệnh -
giáo dục - lao động xã hội; cơ sở trợ giúp trẻ em; cơ sở chăm sóc người cao
tuổi, người khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt; cơ sở nuôi dưỡng trẻ em
có hoàn cảnh khó khăn và các cơ sở dịch vụ xã hội khác được Nhà nước
thành lập hoặc cho phép hoạt động; tập trung chủ yếu tại xã Phú Nghĩa, xã
Xuân Thành, phường Chơn Thành,...
- Đất xây dựng cơ sở y tế: Diện tích 983 ha, chiếm 21,97% đất xây
dựng công trình sự nghiệp, tập trung chủ yếu tại xã Phú Nghĩa, phường
Phước Long, phường Tân Triều, phường Long Hưng,... gồm các công trình
Bệnh viện, trung tâm y tế, trạm y tế và các cơ sở khám chữa bệnh khác nhằm
đáp ứng nhu cầu khám và chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân.
- Đất xây dựng cơ sở giáo dục và đào tạo: Diện tích 1.991 ha, chiếm đa
số diện tích đất xây dựng công trình sự nghiệp (44,49%). Bao gồm các công
trình như: trường đại học, cao đẳng, dạy nghề và hệ thống các trường Trung
học Phổ thông, Trung học cơ sở, Tiểu học, Mầm non trên địa bàn tỉnh. Tập
trung chủ yếu ở phường Long Hưng, phường Bình Phước, xã Nhơn Trạch, xã
Phước An, xã Trảng Bom,…
- Đất xây dựng cơ sở thể dục – thể thao: Diện tích 656 ha, chiếm
14,65% đất xây dựng công trình sự nghiệp, tập trung chủ yếu ở xã Trảng
32
Bom, phường Phước Tân, xã Đại Phước,… chủ yếu diện tích đất thuộc dự án
Sân golf Long Thành và Sân golf Trảng Bom; còn các công trình thể dục - thể
thao khác đa số phân bố đều ở các xã, phường trên địa bàn tỉnh.
- Đất xây dựng cơ sở khoa học và công nghệ: Diện tích 214 ha, chiếm
4,77% đất xây dựng công trình sự nghiệp, phân bố chủ yếu tại xã Xuân
Đường với 213 ha (Trung tâm Nghiên cứu Công nghệ sinh học Đồng Nai).
- Đất xây dựng cơ sở khí tượng thủy văn: Diện tích 5 ha, là đất xây
dựng các công trình về khí tượng thủy văn, gồm trạm khí tượng thủy văn,
trạm giám sát biến đổi khí hậu và công trình khí tượng thủy văn khá, tập
trung ở xã Trị An, phường Tam Hiệp, xã Định Quán, xã La Ngà.
- Đất xây dựng cơ sở ngoại giao: trên địa bàn tỉnh không có loại đất
này.
- Đất xây dựng công trình sự nghiệp khác: Diện tích 87 ha, chiếm
1,95% đất xây dựng công trình sự nghiệp, phân bố chủ yếu tại phường Minh
Hưng, xã Phước An, phường Tam Hiệp, xã Hưng Phước, xã Định Quán,
phường Bình Phước,...
đ) Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp
Diện tích 24.787 ha, chiếm 12,07% diện tích đất phi nông nghiệp, là
nhóm đất giữ vai trò quan trọng trong phát triển công nghiệp, thương mại -
dịch vụ và các hoạt động kinh tế phi nông nghiệp khác của tỉnh; cụ thể:
- Đất khu công nghiệp, cụm công nghiệp: Diện tích 13.749 ha, chiếm
55,47% đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp, chủ yếu là diện tích đất
xây dựng các công trình sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, khu công
nghệ thông tin tập trung,… trong đó:
+ Đất khu công nghiệp: Diện tích 12.745 ha, chiếm đa số diện tích đất
khu công nghiệp, cụm công nghiệp của tỉnh (92,70%), phân bố chủ yếu tại xã
Nhơn Trạch (Khu công nghiệp Nhơn Trạch I, II, III, IV), phường Chơn
Thành (Khu công nghiệp Becamex - Bình Phước), xã An Phước (Khu công
nghiệp An Phước, Khu công nghiệp Long Thành), xã Tân Khai, xã Phước
An,…
+ Đất cụm công nghiệp: Diện tích 1.004 ha, phân bố chủ yếu tại xã
Đồng Phú, phường Trảng Dài, xã Thống Nhất, xã Bù Đăng, xã Nhơn Trạch,...
đây là diện tích của các cụm công nghiệp trên địa bàn như: Cụm công nghiệp
Tân Phú, Tân Tiến, Minh Hưng 1, Minh Hưng 2, Dốc 47, gốm Tân Hạnh,
Phú Thạnh - Vĩnh Thanh, Thạnh Phú - Thiện Tân, Vật liệu xây dựng Hố Nai
3,…
33
- Đất thương mại, dịch vụ: Diện tích 1.928 ha, chiếm 7,78% diện tích
đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp, gồm các trung tâm thương mại,
siêu thị, khu du lịch,… trên địa bàn tỉnh; tập trung chủ yếu tại xã Phước An
(Công ty Cổ phần Dầu khí Đầu tư khai thác Cảng Phước An, khu du lịch sinh
thái Bò Cạp Vàng,...), phường Long Hưng (chủ yếu là Khu du lịch Sơn
Tiên,...), xã Đại Phước, phường Tam Phước, phường Phước Tân, phường
Biên Hòa, phường Bình Phước,…
- Đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp: Diện tích 6.564 ha, chiếm
26,48% diện tích đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp, tập trung chủ yếu
tại xã Lộc Thành, xã Phước Thái, xã Minh Đức, phường Phước Tân, phường
Hố Nai,... chủ yếu là các công ty, lò gạch, nhà máy chế biến như Công ty xi
măng Hà Tiên, Nhà máy chế biến mủ Hoàng Anh, Kho hàng trung chuyển
Logistic, Công ty cổ phần hữu hạn Vedan Việt Nam, Lò gạch Hiệp Phương,...
- Đất sử dụng cho hoạt động khoáng sản: Diện tích 2.546 ha, chiếm
10,27% diện tích đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp đa số thuộc các
mỏ khai thác khoáng sản, chủ yếu ở phường Phước Tân (gồm: Mỏ đá Phước
Tân, Mỏ đá Tân Cang 1, Mỏ đá Tân Cang 2, Mỏ đá Tân Cang 3, Mỏ đá Tân
Cang 4, Mỏ đá Tân Cang 5), xã Minh Đức (chủ yếu là Công ty cổ phần khai
khoáng phát triển Rạng Đông, Mỏ đá Thanh Lương, Mỏ đá nhà máy xi măng
Xuân Thành), phường Trảng Dài (gồm: Mỏ đá Thiện Tân 1, 2, 4, 9, Mỏ đá
Thạnh Phú 1, 2, 3),...
e) Đất sử dụng vào mục đích công cộng
Diện tích 43.007 ha, chiếm 20,95% diện tích đất phi nông nghiệp, đóng
vai trò quan trọng trong việc phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật - xã
hội, phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh
và nâng cao chất lượng sống của người dân. Trong đó:
-
Đất công trình giao thông: Diện tích 34.903 ha, chiếm đa số diện tích
đất sử dụng vào mục đích công cộng (81,16%), phân bố nhiều ở địa bàn có
các đường Quốc lộ, Tỉnh lộ, đường cao tốc đi qua như: xã Long Thành, xã
Nhơn Trạch, xã Phước An, phường Chơn Thành, phường Bình Phước, xã
Xuân Hòa,…
-
Đất công trình thủy lợi: Diện tích 3.322 ha, chiếm 7,72% đất sử dụng
vào mục đích công cộng, phần lớn diện tích đất thủy lợi thuộc hệ thống công
trình thủy lợi hồ Phước Hòa, hồ Đồng Xoài, hồ Suối Giai, hồ Đa Tôn, đập
Đồng Hiệp, hồ Cầu Mới,… diện tích phân bố chủ yếu ở các xã Nha Bích, xã
Đồng Phú, phường Đồng Xoài, phường Hàng Gòn,…
-
Đất công trình cấp nước, thoát nước: Diện tích 329 ha, chiếm 0,76%
34
đất sử dụng vào mục đích công cộng, phần lớn tập trung ở phường Long
Bình, xã Phước An, xã Nhơn Trạch, phường Biên Hòa,...
-
Đất công trình phòng, chống thiên tai: Diện tích 11 ha, tập trung ở
phường Trấn Biên (9 ha) và phường Tam Hiệp (2 ha).
-
Đất có di tích lịch sử – văn hóa danh lam thắng cảnh, di sản thiên
nhiên: Diện tích 231 ha thuộc các công trình di tích đã được xếp hạng, phân
bố chủ yếu ở xã Bom Bo, phường Trấn Biên, xã Trị An, xã Bù Đăng, xã
Thuận Lợi, xã Dầu Giây,... Một số công trình di tích lịch sử có diện tích lớn
như: Di tích lịch sử Tà Thiết, Khu bảo tồn văn hóa Sóc Bom Bo, Di tích
Chiến khu D, di tích Văn miếu Trấn Biên, di tích Địa đạo Cây Cầy, khu di
tích Thác Đứng,…
-
Đất công trình xử lý chất thải: Diện tích 454 ha, chiếm 1,05% đất sử
dụng vào mục đích công cộng, tập trung chủ yếu ở xã Gia Kiệm, xã Long
Phước, xã Tân An , xã Hưng Thịnh,...
-
Đất công trình năng lượng, chiếu sáng công cộng: Diện tích 2.415 ha,
chiếm 5,62% đất sử dụng vào mục đích công cộng, chủ yếu là các công trình
lớn như: Thủy điện Trị An, Thủy điện Thác Mơ, trạm biến điện, trụ điện của
các đường điện cao thế 110KV, 220KV, 500KV; diện tích tập trung nhiều tại
phường Phước Long, xã Lộc Tấn, xã Lộc Thạnh, xã Trị An, xã Nghĩa
Trung,...
-
Đất công trình hạ tầng bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin:
Diện tích 31 ha bao gồm diện tích của bưu điện, trạm viễn thông,… phân bố
tương đối đều ở các xã, phường trong tỉnh.
-
Đất chợ dân sinh, chợ đầu mối: Diện tích 118 ha phân bố tại tất cả các
xã, phường trong tỉnh.
-
Đất khu vui chơi, giải trí công cộng, sinh hoạt cộng đồng: Diện tích
1.194 ha, chiếm 2,78% đất sử dụng vào mục đích công cộng, gồm đất công
viên, cây xanh; khu vui chơi giải trí, công trình nhà văn hóa khu phố, ấp,…
phục vụ nhu cầu văn hóa của người dân, tập trung chủ yếu ở xã Nhơn Trạch,
xã Đại Phước, phường Long Hưng, phường Bình Phước, xã Long Thành, xã
Phước An, phường Chơn Thành,…
g) Đất tôn giáo: Diện tích 1.099 ha, chiếm 0,54% nhóm đất phi nông
nghiệp, là đất xây dựng chùa, nhà thờ, nhà nguyện, thánh thất và các cơ sở
tôn giáo khác đã được cơ quan có thẩm quyền công nhận là cơ sở tôn giáo
hợp pháp trên địa bàn tỉnh; phân bố nhiều tại xã Phước Thái, phường Phước
Tân, xã Thống Nhất, xã Long Phước, phường Long Bình.
35
h) Đất tín ngưỡng: Diện tích 88 ha, chiếm 0,04% đất phi nông nghiệp;
chủ yếu là đất xây dựng các đình, đền, miếu, am phục vụ các mục đích tín
ngưỡng dân gian; phần lớn do cộng đồng dân cư quản lý, sử dụng. Tập trung
chủ yếu ở phường Tân Triều, xã Long Thành, phường Trấn Biên, xã Nhơn
Trạch, xã Phước An,…
i) Đất nghĩa trang, nhà tang lễ, cơ sở hỏa táng; đất cơ sơ lưu trữ tro
cốt: Diện tích 2.161 ha, chiếm 1,05% đất phi nông nghiệp, chủ yếu phân bố ở
xã Tân An, xã Bình An, phường Long Bình, xã Gia Kiệm, xã Phước Thái,…
với các công trình như: Nghĩa trang Vĩnh Hằng, Nghĩa trang Giáo xứ Bắc
Hải, Nghĩa trang liệt sĩ Đồng Nai, Nghĩa trang cán bộ, nghĩa trang Biên Hòa,
Nghĩa trang Giáo xứ Lộc Lâm, Nghĩa trang Giáo xứ Kẻ Sặt,…
k) Đất có mặt nước chuyên dùng: Diện tích 81.281 ha, chiếm 39,59%
đất phi nông nghiệp, tập trung lớn ở các công trình hồ thủy điện Trị An, hồ
Gia Ui, hồ Sông Ray, sông Đồng Nai, Nhà Bè, Đồng Thanh, Thị Vải, hồ thủy
điện Thác Mơ,... Phân bố chủ yếu tại xã Trị An, xã Thanh Sơn, xã Thống
Nhất, xã La Ngà, xã Bom Bo, xã Phú Nghĩa,…
l) Đất phi nông nghiệp khác: Diện tích 75 ha, chiếm phần nhỏ trong
đất phi nông nghiệp. Tập trung chủ yếu ở xã Nha Bích, xã Tân Hưng, xã
Long Hà, phường Bình Phước,...
2.2.3. Nhóm đất chưa sử dụng
Diện tích đất chưa sử dụng trên địa bàn tỉnh là 3.108 ha, chiếm 0,24%
diện tích tự nhiên của toàn tỉnh; trong đó, phần lớn diện tích là đất do Nhà
nước thu hồi theo quy định của pháp luật đất đai chưa giao, chưa cho thuê;
còn lại là phần nhỏ diện tích đất đồi núi chưa sử dụng
4
…
3. Quy mô dân số và cơ cấu lao động
Đồng Nai là tỉnh đa dân tộc, nhiều tôn giáo; trong đó dân tộc thiểu số
chiếm 9,4% dân số toàn tỉnh và 25 tổ chức tôn giáo thuộc 10 tôn giáo với
2.179 cơ sở tôn giáo, 2.603 chức sắc, 9.197 nhà tu hành, 34.335 chức việc,
2.656.312 tín đồ (chiếm khoảng 60% dân số toàn tỉnh).
4
- Đất do Nhà nước thu hồi theo quy định của pháp luật đất đai chưa giao, chưa cho thuê: Diện tích 3.102 ha,
chiếm tỷ lệ lớn nhất trong diện tích đất chưa sử dụng (99,79%), tập trung nhiều nhất ở xã Xuân Hòa, xã An Viễn,
xã Bình An, phường Biên Hòa, xã Cẩm Mỹ, xã Trảng Bom, xã Phước An,…
- Đất bằng chưa sử dụng: Diện tích rất nhỏ trong tổng diện tích đất chưa sử dụng của toàn tỉnh (0,02%) là 0,5 ha,
phân bố tại địa bàn xã Đồng Phú và xã Lộc Ninh.
- Đất đồi núi chưa sử dụng: Diện tích 06 ha, chiếm 0,19% tổng diện tích đất chưa sử dụng của toàn tỉnh, phân bố
tại địa bàn xã Phú Hòa, xã Định Quán, xã Xuân Đông và xã Phú Vinh
- Núi đá không có rừng cây: Diện tích rất nhỏ trong tổng diện tích đất chưa sử dụng của toàn tỉnh (0,004%) là 0,1
ha ở xã Đak Lua.
36
Dân số toàn tỉnh đến năm 2025 là 4.491.408 người, tăng 300,3 nghìn
người, tương ứng 7,2% so với năm 2021 (năm 2021 đạt 4.193,4 nghìn người),
trong đó dân số nữ là 2.232,9 nghìn người, tăng 7,96%. Quy mô tổng dân số
Đồng Nai hiện chiếm khoảng 4,43% dân số cả nước và là tỉnh có dân số thứ 5
cả nước. Bình quân giai đoạn 2021-2025 tăng 1,4%, chia ra: thành thị tăng
1,9%; nông thôn tăng 1,1%.
Cơ cấu lao động có sự chuyển dịch mạnh, giảm dần tỷ trọng khu vực
nông nghiệp và công nghiệp, tăng nhanh tỷ trọng khu vực dịch vụ. Khu vực
công nghiệp đang có quy mô lao động lớn nhất trong nền kinh tế, cụ thể năm
2025, tỷ trọng cơ cấu lao động của các khu vực lần lượt là: Nông, lâm nghiệp
và thủy sản 18,6%; Công nghiệp -xây dựng 46,6% và dịch vụ 34,8%.
Quy mô lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên tăng từ 2.357.460 người
năm 2021 lên 2.503.667 người vào năm 2025. Như vậy, sau 5 năm, thị trường
lao động địa phương đã được bổ sung thêm 146.207 người, bình quân mỗi
năm tăng thêm khoảng 36.500 người với tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng
cấp, chứng chỉ có xu hướng tăng trong giai đoạn 2021- 2025, tạo nền tảng
nguồn lực quan trọng để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của tỉnh.
Cơ cấu lao động có sự chuyển dịch mạnh, giảm dần tỷ trọng khu vực nông
nghiệp và công nghiệp, tăng nhanh tỷ trọng khu vực dịch vụ. Khu vực công
nghiệp đang có quy mô lao động lớn nhất trong nền kinh tế, cụ thể năm 2025,
tỷ trọng cơ cấu lao động của các khu vực lần lượt là: Nông, lâm nghiệp và
thủy sản 18,6%; Công nghiệp - xây dựng 46,6% và dịch vụ 34,8%.
4. Tình hình phát triển kinh tế
4.1. Các chỉ tiêu chung
4.1.1. Tốc độ tăng trưởng kinh tế
Giai đoạn 2021-2025, nền kinh tế thế giới, khu vực và cả nước trong đó
có Đồng Nai chịu ảnh hưởng tác động nặng nề của đại dịch Covid -19, tác
động của cuộc xung đột tại Ukraine và sự cạnh tranh giữa các nước lớn, áp
lực lạm phát, tỷ giá, chi phí sản xuất kinh doanh gia tăng; nhu cầu các thị
trường xuất khẩu truyền thống thu hẹp; thu hút đầu tư trong nước, đầu tư
nước ngoài và đăng ký thành lập mới doanh nghiệp giảm so với giai đoạn
trước; tiến độ giải ngân vốn đầu tư công chậm. Những yếu tố trên đã tác động
mạnh mẽ đến tăng trưởng, phát triển kinh tế của tỉnh, dự ước tổng sản phẩm
quốc nội (GRDP) trên địa bàn tỉnh bình quân giai đoạn 2021-2025 (theo giá
so sánh 2010) tăng khoảng 6,59%; riêng năm 2025 tăng 9,63% so với năm
2024.
37
Mức tăng trưởng GRDP 9,63% năm 2025 là mức tăng trưởng vô cùng
ấn tượng. Đây đồng thời là mức tăng trưởng cao nhất trong vòng 10 năm trở
lại đây của Đồng Nai, thể hiện rõ sự phục hồi mạnh mẽ và bứt phá của nền
kinh tế sau giai đoạn khó khăn, khẳng định hiệu quả của công tác chỉ đạo,
điều hành quyết liệt của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh; sự vào cuộc đồng bộ
của cả hệ thống chính trị; niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp và người dân.
Kết quả tăng trưởng năm 2025 của các ngành, lĩnh vực chủ yếu tiếp tục
tăng trưởng tốt, trong đó lĩnh vực công nghiệp – xây dựng tăng trưởng
11,52%, (riêng công nghiệp tăng trưởng 10,42%); lĩnh vực dịch vụ tăng
trưởng 9,39% và lĩnh vực nông, lâm, thủy sản tăng trưởng 3,22%.
4.1.2. Cơ cấu kinh tế
Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) năm 2025 của tỉnh đạt
677.932 tỷ đồng, tương đương 27.030 triệu USD, với quy mô kinh tế này,
Đồng Nai là một trong những tỉnh có đóng góp lớn vào ngân sách và tổng sản
phẩm quốc nội (GDP) của cả nước, khẳng định vị thế là một cực tăng trưởng
quan trọng trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.
Tỉnh đã huy động và sử dụng khá hiệu quả các nguồn lực lao động, vốn
và khoa học công nghệ cho tăng trưởng kinh tế, đặc biệt là việc huy động
nguồn vốn đầu tư từ khu vực đầu tư nước ngoài, nguồn vốn này luôn chiếm tỷ
trọng cao trong tổng nguồn vốn đầu tư toàn xã hội, kế đến là việc áp dụng
rộng rãi khoa học công nghệ vào sản xuất góp phần nâng cao hiệu quả sản
xuất kinh doanh các ngành sản xuất có trình độ công nghệ cao, tạo ra giá trị
gia tăng lớn và có khả năng cạnh tranh cao. Cơ cấu kinh tế ngành chuyển dịch
mạnh theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp, xây dựng, giảm tỷ trọng nông,
lâm nghiệp và thuỷ sản, cụ thể: năm 2020, cơ cấu GRDP trong nông lâm
nghiệp và thủy sản, công nghiệp và xây dựng, dịch vụ và thuế sản phẩm là
13,16% - 54,94% - 24,33% - 7,56%. Đến năm 2025, cơ cấu GRDP của các
khu vực lâm nghiệp và thủy sản, công nghiệp và xây dựng, dịch vụ, thuế sản
phẩm lần lượt là 12,13%; 54,97%; 26,42%; 6,48%.
Năm 2020, tổng sản phẩm bình quân đầu người (GRDP/người) của tỉnh
(theo giá hiện hành) đạt 4.689 USD. Đến năm 2025, tổng sản phẩm bình quân
đầu người (GRDP/người) dự kiến đạt khoảng triệu đồng/người, tương đương
6.015 USD, tăng gần 1,45 lần so với năm 2020.
4.1.3. Thu nhập bình quân đầu người
Thu nhập bình quân đầu người của Đồng Nai năm 2025 là 86 triệu
đồng/người/năm, tương đương 3.430 USD.
4.2. Quy mô phát triển các ngành
38
4.2.1. Về tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Đồng Nai
giai đoạn 2021-2025 có xu hướng tăng mạnh, năm 2025 đạt 425.128 tỷ đồng,
gấp 2,1 lần năm 2021, giai đoạn 2021-2025 đạt 1.535.862 tỷ đồng.
Trong tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng của
tỉnh, tổng mức bán lẻ hàng hoá chiếm tỷ trọng lớn nhất, chiếm 67,79-77,62%
tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng toàn tỉnh (giai đoạn
2021-2025) và có mức tăng trưởng ổn dịnh qua các năm. Trong khi đó, doanh
thu du lịch mặc dù có tăng nhưng không đáng kể, chiếm tỷ trọng tương đối
thấp trong tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng toàn
tỉnh, chỉ chiếm khoảng 0,01-0,11%. Qua đây cho thấy hoạt động thương mại
bán lẻ vẫn giữ vai trò chính trong cơ cấu tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh
thu dịch vụ tiêu dùng, tuy nhiên lĩnh vực du lịch chưa phát huy hết tiềm năng,
doanh thu du lịch hàng năm còn hạn chế.
Giai đoạn 2021-2025, trong cơ cấu tổng mức bán lẻ hàng hoá của Đồng
Nai sau sáp nhập, nhóm hàng lương thực, thực phẩm chiếm tỷ trọng lớn nhất,
dao động từ 31,57%-34,64%, đạt 32,49% vào năm 2025. Điều này cho thấy
nhu cầu tiêu dùng thiết yếu của dân cư tiếp tục giữ vai trò chủ đạo trong hoạt
động bán lẻ. Nhóm xăng dầu là nhóm hàng có tỷ trọng lớn thứ hai và có xu
hướng tăng, năm 2025 đạt 18,01%. Nhóm đồ dùng, dụng cụ và trang thiết bị
gia đình duy trì tỷ trọng tương đối ổn định trong giao đoạn 2021-2024 và có
xu hướng giảm nhẹ vào năm 2025, còn 13,28%, cho thấy đây là nhóm hàng
có nhu cầu tiêu dùng tương đối ổn định.
Một số nhóm hàng khác như gỗ và vật liệu xây dựng có xu hướng giảm
tỷ trọng, từ 12,49% (năm 2021) xuống còn 11,64% (năm 2025). Các nhóm
hàng có giá trị lớn như ô tô các loại và phương tiện đi lại chiếm tỷ trọng nhỏ
và xu hướng giảm dần trong giai đoạn 5 năm qua.
Nhìn chung, cơ cấu tổng mức bán lẻ hàng hoá Đồng Nai giai đoạn
2021-2025 vẫn tập trung chủ yếu vào nhóm hàng tiêu dùng thiết yếu và xăng
dầu; trong khi đó các nhóm hàng tiêu dùng có giá trị gia tăng cao chiếm tỷ
trọng còn thấp.
4.2.2. Thương mại điện tử
Hoạt động thương mại điện tử có bước phát triển tích cực sau sáp nhập
tỉnh, với 02 Sàn thương mại điện tử đang vận hành, hỗ trợ gần 160 doanh
nghiệp và cơ sở sản xuất, cung cấp hàng trăm sản phẩm OCOP và sản phẩm
công nghiệp nông thôn tiêu biểu lên sàn. Tỷ lệ người dân thanh toán không
dung tiền mặt của Đồng Nai đối với các dịch vụ cung cấp điện, nước và mua
39
sắm trực tuyến ngày càng tăng. Bên cạnh đó, hiện có 100% đơn vị viễn thông
chấp nhận thanh toán không dùng tiền mặt; các cơ sở khám, chữa bệnh và
bệnh viện cũng đang từng bước ứng dụng thanh toán không dùng tiền mặt;
các cửa hàng, đại lý bán lẻ có thực hiện thanh toán đơn hàng thông qua hình
thức chuyển khoản, quét mã...; 100% cơ sở giáo dục đại học trên địa bàn tỉnh
đã tổ chức đưa vào giảng dạy học phần thương mại điện tử và 100% trường
học ứng dụng thanh toán không dùng tiền mặt. Điều này cho thấy xu hướng
chuyển đổi số trong thương mại ngày càng rõ nét, mở rộng kênh tiêu thụ hàng
hóa và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp địa phương.
4.2.3. Xuất nhập khẩu hàng hóa
Mặc dù chịu tác động từ biến động kinh tế – chính trị toàn cầu và ảnh
hưởng kéo dài của dịch Covid-19, hoạt động xuất nhập khẩu của tỉnh vẫn duy
trì tăng trưởng tích cực. Các doanh nghiệp trên địa bàn đã chủ động đổi mới,
tận dụng hiệu quả các cơ hội từ hội nhập kinh tế quốc tế để mở rộng thị
trường, nâng cao năng lực cạnh tranh và từng bước phục hồi hoạt động sản
xuất.
Tổng kim ngạch xuất khẩu của Đồng Nai trong 5 năm qua có xu hướng
tăng, giai đoạn 2021-2025 đạt 139.919 triệu USD, tăng khoảng 1,4 lần giai
đoạn 2016-2020, bình quân tăng 9,35%/năm, đóng góp chủ yếu từ khối FDI
(chiếm 75-85%). Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của tỉnh như dệt may, giày
dép, gỗ, điện tử, điều, cao su…. Hiện tay, Đồng Nai đã xuất khẩu hàng hoá
qua 182 quốc gia, trong đó các thị trường tiêu thụ chính là Hoa Kỳ, Nhật Bản,
Trung Quốc, Hàn Quốc và EU.
Giai đoạn 2021-2025, tổng kim ngạch nhập khẩu đạt khoảng 99.465
triệu USD, tăng khoảng 1,2 lần giai đoạn 2016-2020; năm 2025 đạt 24.247
triệu USD. Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu của Đồng Nai là nguyên liệu
phục vụ sản xuất hàng xuất khẩu (dệt may, da giày, hoá chất, gỗ mỹ nghệ),
máy móc, thiết bị, phụ tùng phục vụ các dự án FDI mới và dự án mở rộng sản
xuất. Hiện nay, Đồng Nai nhập khẩu hàng hoá từ 145 quốc gia, vùng lãnh
thổ; trong đó, Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất, tiếp đến là Hàn
Quốc, Đài Loan, Nhật Bản với kim ngạch nhập khẩu hàng năm từ 1-2 tỷ
USD.
Nhìn chung, Đồng Nai nằm trong nhóm địa phương xuất siêu hàng đầu
cả nước, đóng góp lớn vào cán cân thương mại quốc gia. Giai đoạn 2021-
2025, Đồng Nai duy trì tỷ lệ xuất siêu cao, từ 4.330 triệu USD vào năm 2021
và đến năm 2025 xuất siêu tăng lên đến 8.464 triệu USD.
4.2.4. Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng
40
Sản xuất công nghiệp phát triển theo đúng định hướng và tiếp tục giữ
vai trò chủ đạo, là động lực cho tăng trưởng kinh tế. Giá trị sản xuất công
nghiệp năm 2025 của Đồng Nai ước đạt khoảng 1,65 triệu tỷ đồng, chiếm tỷ
trọng 50,35% GRDP. Tốc độ tăng trưởng năm 2025 đạt 9,63%, cao hơn bình
quân cả nước, giữ vững vai trò đầu tàu công nghiệp chế biến - chế tạo của
vùng Đông Nam Bộ. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến - chế tạo tiếp tục
là động lực tăng trưởng chủ lực, chiếm khoảng trên 90% cơ cấu toàn ngành
công nghiệp và duy trì mức tăng trưởng cao 10,19% năm 2025. Trên địa bàn
tỉnh có 89 khu công nghiệp theo quy hoạch, trong đó 44 khu công nghiệp đã
đi vào hoạt động, đóng góp trên 80% giá trị sản lượng công nghiệp và tạo
việc làm cho khoảng 680.000 lao động; 63 cụm công nghiệp được quy hoạch
(tổng diện tích 3.701,96 ha); trong đó 12 cụm công nghiệp đi vào hoạt động
(tổng diện tích 613,55 ha), hiện có 239 dự án đăng ký trong các cụm công
nghiệp (trong đó 150 dự án đã đi vào hoạt động); 11 cụm công nghiệp đã xây
dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung.
Các chính sách phát triển công nghiệp được quan tâm, Đồng Nai đã thu
hút đầu tư của 45 quốc gia và vùng lãnh thổ đến đầu tư tại tỉnh. Lũy kế đến
nay có 2.509 dự án trong nước còn hiệu lực với số vốn đăng ký khoảng
602.954,5 tỷ đồng và 2.269 dự án FDI còn hiệu lực với số vốn đăng ký
khoảng 44,39 tỷ USD. Một số tập đoàn lớn và các công ty có thương hiệu lớn
trên thế giới đã chọn Đồng Nai là điểm đến đầu tư như: Hyosung, Bosch,
Schaeffler, Olympus, Coherent, Toshiba, Nestlé, Ajinomoto, C.P, Posco,..
Các dự án đầu tư vào Đồng Nai có ngành nghề đa dạng, có chọn lọc với quy
mô và trình độ công nghệ ngày càng được nâng cao, sử dụng ít lao động, ít
tác động đến môi trường. Kết quả thu hút đầu tư nêu trên đã khẳng định Đồng
Nai là một trong những trung tâm công nghiệp lớn của cả nước và khu vực,
giữ vai trò quan trọng trong chuỗi cung ứng công nghiệp và xuất khẩu của
Việt Nam.
4.2.5. Nông nghiệp, lâm nghiệp
Sản xuất nông nghiệp phát triển, xây dựng nông thôn mới đạt kết quả
vượt bậc. Cơ cấu ngành nông nghiệp chuyển dịch đúng định hướng, đẩy
mạnh phát triển nông nghiệp sạch, nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp ứng
dụng công nghệ cao.
4.3. Tình hình thu chi ngân sách
Trong giai đoạn 2021-2025, việc quản lý điều hành ngân sách nhà nước
trên địa bàn tỉnh diễn ra trong bối cảnh nền kinh tế chịu tác động ảnh hưởng
nặng nề của đại dịch Covid -19, đồng thời bên cạnh đó việc triển khai thực
hiện các chính sách thuế mới để tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ người dân, doanh
41
nghiệp, người lao động trên địa bàn tỉnh đã tác động làm giảm đáng kể nguồn
thu ngân sách cũng như tạo áp lực lớn cho công tác điều hành thu ngân sách
của cả nước nói chung và Đồng Nai nói riêng. Trước tình hình đó, để đảm
bảo hoàn thành nhiệm vụ thu ngân sách nhà nước và chi ngân sách địa
phương, tỉnh đã tập trung chỉ đạo quyết liệt các ngành các cấp thực hiện đồng
bộ các giải pháp tăng thu ngân sách bền vững, trong đó chú trọng đẩy mạnh
khai thác các nguồn thu nội địa, các nguồn thu từ đất; triệt để tiết kiệm chi,
đặc biệt là chi sự nghiệp có tính chất đầu tư, hạn chế sử dụng ngân sách cho
việc mua sắm mới phương tiện, tài sản công theo quy định.
Giai đoạn 2021- 2025, tổng thu ngân sách trên địa bàn tỉnh đạt gần 407
nghìn tỷ đồng, chiếm 14,61% GRDP giai đoạn 2021-2025; trong đó: Thu nội
địa trên 298 nghìn tỷ đồng, chiếm 73% tổng thu ngân sách; thu từ hoạt động
xuất nhập khẩu đạt khoảng 108 nghìn tỷ đồng. Thu ngân sách đạt được kết
quả trên do sự phối hợp chặt chẽ của các cơ quan đơn vị liên quan trong việc
việc triển khai đồng bộ các giải pháp về thu ngân sách trên địa bàn một cách
hiệu quả như: rà soát, khai thác các nguồn thu; quản lý và khai thác tốt các
khoản thu từ thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân trong hoạt
động chuyển nhượng bất động sản, chuyển nhượng vốn góp phần làm tăng
thu cho ngân sách; công tác tuyên truyền, hỗ trợ và phổ biến kịp thời các
chính sách đến các đối tượng nộp thuế và người dân trên địa bàn; đặc biệt
công tác cải cách quản lý thuế tạo thuận lợi cho người dân nộp thuế (tỷ lệ nộp
hồ sơ khai thuế thông qua phương thức điện tử đạt 99% so với tổng lượt hồ
sơ khai thuế đã nộp).
Tổng chi ngân sách địa phương giai đoạn 2021-2025 đạt khoảng 219,3
nghìn tỷ đồng, trong đó: Chi đầu tư phát triển trên 100 nghìn tỷ đồng, chiếm
44% so với tổng chi cân đối ngân sách địa phương; chi thường xuyên khoảng
121,7 nghìn tỷ đồng, chiếm 56% so với tổng chi ngân sách địa phương.
Tỉnh đã bảo đảm đầy đủ nguồn lực để thực hiện nhiệm vụ chi ngân
sách năm 2025, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng – an
ninh và quản lý nhà nước; đồng thời bảo đảm chi trả lương, lương hưu, trợ
cấp xã hội, chăm lo các đối tượng chính sách; bố trí nguồn cho phát triển
khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, sắp xếp tổ chức bộ máy, triển khai mô
hình chính quyền địa phương 2 cấp; chi trả kịp thời các chế độ, chính sách
theo Nghị định số 178/2024/NĐ-CP và Nghị định số 67/2025/NĐ-CP của
Chính phủ, cũng như tổ chức các hoạt động kỷ niệm, thăm hỏi, tặng quà nhân
dân nhân.
5. Tình hình phát triển văn hóa - xã hội
5.1. Giáo dục và đào tạo; giáo dục nghề nghiệp
42
Giáo dục và đào tạo, giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn tỉnh thời gian
qua tiếp tục có bước phát triển mạnh mẽ, toàn diện cả về quy mô, chất lượng,
cơ cấu và hiệu quả, từng bước khẳng định vai trò là một trong những trụ cột
quan trọng trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực, phục vụ trực tiếp cho
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của địa phương.
5.1.1. Về quy mô
Hệ thống mạng lưới cơ sở giáo dục và giáo dục nghề nghiệp được quy
hoạch, sắp xếp theo hướng đồng bộ, liên thông, phù hợp với phân bố dân cư
và định hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Toàn tỉnh hiện có 1.401 cơ
sở giáo dục và đào tạo, trong đó 1.348 cơ sở mầm non và phổ thông, 44 cơ sở
giáo dục nghề nghiệp và 9 cơ sở giáo dục đại học, phân hiệu đại học. Quy mô
người học tiếp tục duy trì ở mức cao, với khoảng 1,061 triệu học sinh mầm
non, phổ thông; hằng năm tuyển mới gần 19 nghìn sinh viên trình độ đại học
và trên 56 nghìn học viên giáo dục nghề nghiệp. Điều này thể hiện rõ vai trò
của tỉnh là một trong những trung tâm đào tạo nguồn nhân lực lớn của khu
vực.
Quy mô lớp học cơ bản được kiểm soát theo quy định, góp phần nâng
cao chất lượng giáo dục; tỷ lệ học sinh/lớp ở các cấp học nhìn chung tiệm cận
mức tối đa cho phép, phản ánh áp lực dân số cơ học lớn nhưng đồng thời
cũng cho thấy nỗ lực của địa phương trong việc đảm bảo điều kiện học tập
cho người dân.
5.1.2. Về chất lượng
Giáo dục mầm non phát triển theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, chú
trọng chăm sóc toàn diện cả về thể chất và tinh thần cho trẻ. 100% cơ sở tổ
chức bán trú; các chỉ số về suy dinh dưỡng, thấp còi, thừa cân, béo phì đều
được kiểm soát ở mức thấp, phản ánh hiệu quả của công tác nuôi dưỡng,
chăm sóc và giáo dục trẻ.
Giáo dục phổ thông tiếp tục có chuyển biến rõ nét về chất lượng và
hiệu quả. Tỷ lệ học sinh hoàn thành chương trình, tốt nghiệp các cấp duy trì ở
mức cao và ổn định; kết quả thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2025 đạt
98,37%, thuộc nhóm các địa phương có chất lượng giáo dục tốt trong cả
nước. Công tác phân luồng, hướng nghiệp từng bước đi vào thực chất, gắn
với nhu cầu của thị trường lao động.
Đối với giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học, công tác đào tạo
ngày càng gắn kết chặt chẽ với doanh nghiệp và nhu cầu thực tiễn của nền
kinh tế. Trên 80% học viên, sinh viên sau tốt nghiệp có việc làm hoặc tự tạo
việc làm, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ kỹ thuật, công nghiệp chế
43
biến, dịch vụ và kinh tế. Đây là yếu tố quan trọng góp phần nâng cao năng
suất lao động và năng lực cạnh tranh của tỉnh.
5.1.3. Công tác đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục được triển
khai đồng bộ, toàn diện theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực người
học. Giáo dục STEM được triển khai rộng khắp tại 100% trường tiểu học;
hoạt động dạy học gắn với thực tiễn, tăng cường trải nghiệm sáng tạo. Việc
dạy và học ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh, được chú trọng theo hướng hội
nhập, nâng cao năng lực giao tiếp và sử dụng trong thực tế. Tỉnh đã chủ động
triển khai thí điểm giảng dạy một số môn khoa học bằng tiếng Anh, tăng
cường hợp tác quốc tế, từng bước hình thành môi trường giáo dục song ngữ,
tạo nền tảng cho hội nhập sâu rộng.
5.1.4. Hệ thống trường đạt chuẩn quốc gia tiếp tục được mở rộng cả về
số lượng và chất lượng. Đến hết năm 2025, toàn tỉnh có 785 trường đạt chuẩn
quốc gia, chiếm tỷ lệ 70,66%, cao hơn bình quân chung của cả nước; trong đó
có 49 trường đạt chuẩn mức độ 2. Kết quả này thể hiện sự quan tâm đầu tư
đồng bộ của tỉnh, đồng thời khẳng định chất lượng giáo dục ngày càng được
nâng cao theo hướng chuẩn hóa và hiện đại hóa.
5.1.5. Công tác xã hội hóa giáo dục đạt nhiều kết quả nổi bật, trở thành
điểm sáng của tỉnh trong huy động nguồn lực ngoài ngân sách. Toàn tỉnh có
243 cơ sở giáo dục ngoài công lập, chiếm 18% tổng số cơ sở giáo dục, cao
hơn nhiều so với bình quân chung cả nước. Các mô hình xã hội hóa đa dạng,
linh hoạt, trong đó có mô hình doanh nghiệp đầu tư trường học phục vụ con
em công nhân, đã góp phần giải quyết nhu cầu học tập trong các khu công
nghiệp. Đồng thời, nhiều cơ sở giáo dục chất lượng cao, trường quốc tế được
hình thành, cung cấp các chương trình đào tạo tiên tiến, cấp bằng quốc tế, đáp
ứng nhu cầu ngày càng cao của người dân và chuyên gia nước ngoài.
Tỉnh cũng đã thu hút hiệu quả các nhà đầu tư lớn trong và ngoài nước
tham gia phát triển giáo dục, từng bước hình thành hệ sinh thái giáo dục đa
dạng, hội nhập quốc tế, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
5.1.6. Chuyển đổi số trong giáo dục được xác định là khâu đột phá và
được triển khai đồng bộ trên toàn ngành. Hệ thống cơ sở dữ liệu giáo dục của
tỉnh được xây dựng, kết nối với hệ thống quốc gia, phục vụ hiệu quả công tác
quản lý và điều hành. Các ứng dụng như học bạ số, tuyển sinh trực tuyến,
quản lý thư viện điện tử, thanh toán không dùng tiền mặt… được triển khai
rộng rãi, góp phần nâng cao tính minh bạch, tiết kiệm chi phí và hiện đại hóa
hoạt động giáo dục.
5.1.7. Các điều kiện bảo đảm phát triển giáo dục tiếp tục được quan
tâm đầu tư toàn diện. Đội ngũ giáo viên với trên 49 nghìn người cơ bản đáp
44
ứng yêu cầu về số lượng, từng bước nâng cao về chất lượng; tỷ lệ giáo viên
đạt chuẩn và trên chuẩn đạt 79,1% và tiếp tục được chuẩn hóa theo quy định
của Luật Giáo dục năm 2019. Cơ sở vật chất trường lớp được tăng cường
theo hướng kiên cố, hiện đại, với trên 29 nghìn phòng học, trong đó trên 91%
là phòng học kiên cố.
Ngân sách dành cho giáo dục được ưu tiên bố trí ở mức cao, năm 2025
chiếm 23% tổng chi ngân sách địa phương, đảm bảo và vượt quy định của
Trung ương. Bên cạnh đó, tỉnh đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách đặc
thù nhằm phát triển giáo dục, bao gồm các chính sách hỗ trợ giáo viên, phát
triển giáo dục ngoài công lập, ưu đãi đối với trường chuyên, trường dân tộc
nội trú…, tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy toàn ngành phát triển.
Về tổng thể, giáo dục và đào tạo của tỉnh đã có bước phát triển vững
chắc, toàn diện, từng bước tiệm cận với các chuẩn mực tiên tiến trong khu
vực; giữ vai trò then chốt trong nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực chất
lượng cao, bồi dưỡng nhân tài. Đây chính là nền tảng quan trọng để tỉnh thực
hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển nhanh, bền vững, đóng góp tích cực vào
sự nghiệp phát triển chung của vùng và cả nước trong giai đoạn tới.
5.2. Y tế và an sinh xã hội
5.2.1. Y tế
Công tác dân số và chăm sóc sức khỏe Nhân dân đạt nhiều kết quả tích
cực; chất lượng dân số từng bước được nâng cao, tuổi thọ trung bình đạt 76,7
tuổi. Các chỉ số chăm sóc sức khỏe toàn dân có chuyển biến rõ rệt: Tỷ lệ trẻ
em dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ vắc xin luôn duy trì trên 95%; tỷ lệ
suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi giảm mạnh (theo cân nặng từ 9,3% năm
2020 xuống dưới 6% năm 2025; theo chiều cao từ 22,5% xuống dưới 16%).
Tỷ suất tử vong trẻ em dưới 1 tuổi giảm từ 7,95‰ năm 2020 xuống còn 6‰
năm 2025; tỷ suất tử vong trẻ em dưới 5 tuổi giảm từ 14‰ xuống còn 12‰,
thấp hơn mức trung bình chung của cả nước.
Y tế dự phòng tiếp tục được chú trọng, ngân sách chi cho y tế dự phòng
hàng năm đạt trên 30% tổng chi y tế. Công tác phòng, chống dịch bệnh được
triển khai chủ động, hiệu quả; nhiều dịch bệnh nguy hiểm được kiểm soát,
đặc biệt là dịch Covid-19. Các chương trình mục tiêu y tế được triển khai
đồng bộ; tỷ lệ mắc và tử vong của nhiều bệnh truyền nhiễm nguy hiểm giảm;
công tác bảo đảm an toàn thực phẩm, vệ sinh môi trường, nước sạch và phòng
chống bệnh nghề nghiệp được tăng cường.
Chất lượng khám, chữa bệnh tiếp tục được nâng cao; nhiều kỹ thuật
mới, kỹ thuật cao được triển khai tại các bệnh viện, như can thiệp tim mạch,
45
phẫu thuật nội soi, hỗ trợ sinh sản, sàng lọc trước sinh và sau sinh, ghép giác
mạc, PET/CT trong điều trị ung thư. Một số bệnh viện đạt chứng nhận quốc
tế về điều trị đột quỵ. Các giải pháp giảm quá tải bệnh viện được thực hiện
hiệu quả; hệ thống y tế công lập giữ vai trò chủ đạo, kết hợp với khu vực y tế
tư nhân, từng bước nâng cao năng lực cung ứng dịch vụ y tế.
Chuyển đổi số trong lĩnh vực y tế được đẩy mạnh, triển khai hồ sơ sức
khỏe điện tử, bệnh án điện tử, thanh toán viện phí không dùng tiền mặt, tra
cứu bảo hiểm y tế bằng căn cước công dân, đặt lịch khám trực tuyến… góp
phần nâng cao hiệu quả quản lý và tạo thuận lợi cho người dân.
Hệ thống y tế cơ sở tiếp tục được củng cố và phát triển; đến năm 2025
có 77,4% xã, phường đạt tiêu chí quốc gia về y tế; 100% trạm y tế có bác sĩ
làm việc; 90,5% trạm y tế đủ điều kiện khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế.
Nguồn nhân lực y tế được quan tâm đào tạo, phát triển, đạt 10 bác sĩ, 4,6
dược sĩ và 16,5 điều dưỡng/vạn dân, thuộc nhóm cao của cả nước và đứng
thứ hai khu vực Đông Nam Bộ.
Tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt 95% dân số. Cơ sở hạ tầng và trang
thiết bị y tế tiếp tục được đầu tư nâng cấp; hệ thống y tế phát triển cả về quy
mô và chất lượng, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu chăm sóc sức khỏe
Nhân dân. Toàn tỉnh hiện có hệ thống bệnh viện, trung tâm y tế, trạm y tế
được đầu tư đồng bộ; khu vực y tế ngoài công lập phát triển mạnh. Tổng số
giường bệnh đạt hơn 13,4 nghìn giường, tương đương 30 giường bệnh/vạn
dân, đứng thứ hai khu vực Nam Bộ.
5.2.2. An sinh xã hội
- Thực hiện đồng bộ, hiệu quả hoạt động chăm lo các đối tượng là
người có công, bảo trợ xã hội được quan tâm. Chương trình mục tiêu quốc gia
giảm nghèo bền vững được triển khai hiệu quả; đảm bảo người nghèo được
tiếp cận và thụ hưởng các dịch vụ xã hội cơ bản. Đến cuối năm 2025 tỉnh
Đồng Nai đã hoàn thành chương trình mục tiêu xóa nhà tạm, nhà dột nát với
2.005 căn nhà. Chính sách hỗ trợ của Nhà nước đối với người lao động được
quan tâm, tạo môi trường thu hút lao động chất lượng cao từ ngoài tỉnh đến
làm việc, sinh sống. Tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đến năm 2025 trên địa bàn
tỉnh Đồng Nai đạt 95%. Việc đầu tư, nâng cấp các công trình, dự án nước sạch
được tập trung thực hiện. Đã thực hiện hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc
gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi,
không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân vùng sâu,
vùng xa, vùng biên giới.
- Công tác bảo trợ xã hội trên địa bàn tỉnh tiếp tục được triển khai đồng
bộ, hiệu quả, góp phần bảo đảm an sinh xã hội và chăm lo đời sống cho các
46
đối tượng yếu thế. Việc tiếp nhận, quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng đối tượng
bảo trợ xã hội được thực hiện tốt; các hoạt động phục hồi chức năng, hỗ trợ
sinh hoạt, tạo điều kiện cho đối tượng đủ điều kiện trở về gia đình, hòa nhập
cộng đồng được quan tâm thực hiện. Toàn tỉnh hiện có gần 141,9 nghìn đối
tượng bảo trợ xã hội và hưu trí xã hội hưởng trợ cấp thường xuyên.
Giai đoạn 2021–2025, tổng kinh phí thực hiện chính sách trợ cấp bảo
trợ xã hội và hưu trí xã hội đạt hơn 3.834 tỷ đồng, bảo đảm chi trả đầy đủ, kịp
thời. Việc chi trả trợ cấp không dùng tiền mặt được đẩy mạnh, đến cuối năm
2025 đạt 90,4%. Các chính sách trợ giúp đột xuất, hỗ trợ mai táng phí cho đối
tượng bảo trợ xã hội được thực hiện kịp thời, góp phần ổn định đời sống nhân
dân.
Hiện nay, toàn tỉnh có 21 cơ sở trợ giúp xã hội, gồm 02 cơ sở công lập
đang chăm sóc 415 đối tượng và 19 cơ sở ngoài công lập chăm sóc 1.373 đối
tượng, đáp ứng nhu cầu chăm sóc, trợ giúp các nhóm đối tượng yếu thế trên
địa bàn tỉnh.
5.3. Văn hóa, thông tin, thể dục thể thao
5.3.1. Lĩnh vực văn hóa
Đồng Nai là địa phương có truyền thống lịch sử lâu đời, hơn 325 năm
hình thành và phát triển, gắn liền với tiến trình mở cõi phương Nam của dân
tộc. Trên địa bàn hiện có cộng đồng 47 dân tộc cùng sinh sống, tạo nên sự đa
dạng về bản sắc văn hóa. Công tác xây dựng và phát triển văn hóa được triển
khai đồng bộ, chú trọng bảo tồn và phát huy giá trị di sản. Toàn tỉnh hiện có
121 di tích được xếp hạng, gồm 06 di tích quốc gia đặc biệt, 42 di tích quốc gia
và 73 di tích cấp tỉnh, cùng gần 1.500 di tích đã kiểm kê. Các di tích tiêu biểu
như Văn miếu Trấn Biên, Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh, Chiến khu Đ, Tà Thiết,
Sóc Bombo, … là những địa chỉ văn hóa – lịch sử quan trọng của vùng Đông
Nam Bộ.
Đồng Nai duy trì hơn 100 lễ hội truyền thống hằng năm, phản ánh đời
sống tín ngưỡng phong phú của nhiều cộng đồng dân cư. Trong giai đoạn
2020–2025, tỉnh đã bố trí hơn 161 tỷ đồng cho công tác trùng tu, tôn tạo di
tích. Hệ thống thiết chế văn hóa được đầu tư với 09 thiết chế cấp tỉnh, 257
trung tâm văn hóa – thể thao cấp xã, 1.693 nhà văn hóa – khu thể thao ấp, khu
phố và 14 nhà văn hóa dân tộc. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời
sống văn hóa” đạt kết quả tích cực, với trên 90% khu dân cư và trên 95% hộ
gia đình đạt chuẩn văn hóa. Nhìn chung, lĩnh vực văn hóa phát triển toàn
diện, vừa bảo tồn giá trị truyền thống, vừa nâng cao đời sống tinh thần nhân
dân.
47
5.3.2. Lĩnh vực thông tin (báo chí, truyền thông)
Hoạt động thông tin, báo chí và truyền thông của tỉnh phát triển ổn
định, đáp ứng yêu cầu tuyên truyền phục vụ nhiệm vụ chính trị, kinh tế – xã
hội. Đồng Nai hiện có đầy đủ các loại hình báo chí: báo in, báo điện tử, phát
thanh và truyền hình. Báo điện tử Đồng Nai duy trì hoạt động thường xuyên;
hệ thống phát thanh phát sóng khoảng 18 giờ/ngày; truyền hình Đồng Nai vận
hành 03 kênh (ĐNRTV1, ĐNRTV2, ĐNRTV3) trên nhiều nền tảng (vệ tinh,
truyền hình số, Internet, OTT).
Hệ thống thông tin cơ sở được củng cố với 100% xã, phường có đài
truyền thanh, trong đó 53 địa phương ứng dụng công nghệ thông tin – viễn
thông với 1.823 cụm loa thông minh; đồng thời, 100% cơ quan hành chính
nhà nước và xã, phường có cổng hoặc trang thông tin điện tử, tích cực sử
dụng nền tảng số và mạng xã hội để cung cấp thông tin. Hoạt động in ấn và
xuất bản phát triển với 108 doanh nghiệp in, trong đó 31 cơ sở in xuất bản
phẩm. Mạng lưới phát hành sách được mở rộng, nhiều chương trình sách lưu
động phục vụ vùng sâu, vùng xa. Lĩnh vực thông tin đã góp phần nâng cao
hiệu quả quản lý nhà nước, thúc đẩy chuyển đổi số và tạo sự đồng thuận xã
hội.
5.3.3. Lĩnh vực thể dục thể thao
Phong trào thể dục thể thao phát triển mạnh mẽ, tỷ lệ người dân tham
gia tập luyện thường xuyên đạt khoảng 42% dân số, tỷ lệ hộ gia đình thể thao
đạt 29%. 100% trường học thực hiện chương trình giáo dục thể chất chính
khóa.
Cơ sở vật chất thể thao được đầu tư với 97,9% xã, phường có trung tâm
văn hóa – thể thao, 95,9% khu dân cư có nhà văn hóa, cùng hàng trăm công
trình thể thao và gần 900 dụng cụ thể thao ngoài trời. Công tác xã hội hóa thể
thao được đẩy mạnh với nhiều sân bóng đá, hồ bơi, sân tập luyện.
Thể thao thành tích cao đạt kết quả nổi bật: Giai đoạn 2021–2025 giành
hơn 4.000 huy chương, trong đó có 904 huy chương vàng quốc gia và 137
huy chương vàng quốc tế. Công tác đào tạo vận động viên được chú trọng với
817 vận động viên tại Trung tâm Huấn luyện và 303 vận động viên tại trường
năng khiếu, trong đó 307 vận động viên đạt đẳng cấp quốc gia. Thành tích
này khẳng định vị thế của Đồng Nai trong hệ thống thể thao quốc gia.
5.3.4. Lĩnh vực du lịch
Du lịch Đồng Nai có bước phát triển tích cực, từng bước trở thành
ngành kinh tế dịch vụ quan trọng. Tỉnh đã huy động hơn 4.000 tỷ đồng vốn
đầu tư từ doanh nghiệp để phát triển hạ tầng và các khu, điểm du lịch. Hiện
48
có 31 khu, điểm du lịch, 224 cơ sở lưu trú với khoảng 5.800 phòng, trong đó
39 cơ sở đạt tiêu chuẩn từ 1 đến 5 sao.
Các điểm du lịch tiêu biểu: Vườn quốc gia Cát Tiên, Khu Bảo tồn thiên
nhiên - văn hóa Đồng Nai, Suối Mơ, núi Chứa Chan, Chiến khu Đ, Sơn Tiên,
Sóc Bombo, Tà Thiết,… thu hút đông đảo du khách. Giai đoạn 2020–2025,
lượng khách du lịch tăng trưởng bình quân 22,5%/năm, doanh thu tăng
khoảng 33,9%/năm. Năm 2025, tỉnh đón khoảng 5,2 triệu lượt khách, trong đó
có hơn 5,06 triệu khách nội địa và 137 nghìn khách quốc tế.
Ngành du lịch tạo việc làm cho khoảng 6.000 lao động trực tiếp và hơn
10.000 lao động gián tiếp, đồng thời thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp,
làng nghề. Du lịch góp phần bảo tồn giá trị văn hóa – lịch sử, nâng cao ý thức
bảo vệ môi trường và quảng bá hình ảnh địa phương. Trong bối cảnh hạ tầng
giao thông ngày càng hoàn thiện, đặc biệt với dự án Cảng hàng không quốc tế
Long Thành, du lịch Đồng Nai có tiềm năng bứt phá mạnh mẽ.
Các lĩnh vực văn hóa, thông tin, thể dục thể thao và du lịch của tỉnh
Đồng Nai đã đạt nhiều thành tựu quan trọng, phát triển theo hướng toàn diện
và bền vững. Việc kết hợp giữa bảo tồn giá trị truyền thống với hiện đại hóa,
chuyển đổi số đã góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân
dân, đồng thời tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội. Đây là nền
tảng để Đồng Nai tiếp tục phát triển, hướng tới mục tiêu trở thành đô thị hiện
đại, văn minh trong thời gian tới.
6. Tình hình phát triển cơ sở hạ tầng
6.1. Giao thông
Trong cấu trúc phát triển của vùng Đông Nam Bộ, Đồng Nai giữ vị trí
đặc biệt quan trọng trong hệ thống giao thông quốc gia. Với vị trí tiếp giáp
trực tiếp với Thành phố Hồ Chí Minh, nằm trên các hành lang giao thông kết
nối vùng kinh tế trọng điểm phía Nam với Tây Nguyên, Nam Trung Bộ và
các hành lang kinh tế quốc tế, Đồng Nai được xác định là một trong những
đầu mối giao thông chiến lược của khu vực phía Nam.
Trong những năm qua, cùng với quá trình công nghiệp hóa và đô thị
hóa nhanh, hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông của tỉnh đã được đầu tư mạnh
mẽ, từng bước hình thành mạng lưới giao thông đa phương thức bao gồm
đường bộ, đường sắt, đường thủy và hàng không. Trên địa bàn tỉnh hiện có
khoảng 596 km quốc lộ và hơn 1.098 km đường tỉnh, kết nối các trung tâm đô
thị, khu công nghiệp và các vùng kinh tế trong tỉnh với các địa phương trong
khu vực. Hệ thống giao thông này đã góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển
49
công nghiệp, thương mại, dịch vụ logistics và mở rộng không gian đô thị của
tỉnh.
6.1.1. Về hạ tầng giao thông đối ngoại và liên kết vùng
Đồng Nai là một trong những địa phương có mạng lưới giao thông liên
vùng phát triển mạnh của cả nước. Trên địa bàn tỉnh đã hình thành các trục
giao thông quan trọng như Quốc lộ 1, Quốc lộ 20, Quốc lộ 51, Quốc lộ 56,
Quốc lộ 13 và Quốc lộ 14, đóng vai trò kết nối Đồng Nai với Thành phố Hồ
Chí Minh, Tây Nguyên, Nam Trung Bộ và khu vực cửa khẩu quốc tế Hoa Lư.
Đặc biệt, mạng lưới đường cao tốc liên vùng đang từng bước được
hoàn thiện, tạo thành các hành lang phát triển kinh tế quan trọng của khu vực
phía Nam. Các tuyến cao tốc như Thành phố Hồ Chí Minh – Long Thành –
Dầu Giây, Phan Thiết – Dầu Giây, Biên Hòa – Vũng Tàu, Bến Lức – Long
Thành, Gia Nghĩa – Chơn Thành, Thành phố Hồ Chí Minh – Thủ Dầu Một –
Chơn Thành và Dầu Giây – Liên Khương đang hình thành mạng lưới giao
thông tốc độ cao kết nối Đồng Nai với các trung tâm kinh tế lớn, các cảng
biển quốc tế và các vùng kinh tế động lực của cả nước.
Bên cạnh đó, các tuyến Vành đai 3 và Vành đai 4 của vùng Thành phố
Hồ Chí Minh đang được triển khai xây dựng theo tiêu chuẩn đường cao tốc,
tạo điều kiện tăng cường liên kết giữa các đô thị, khu công nghiệp và các
trung tâm logistics của toàn vùng.
Đặc biệt, Cảng hàng không quốc tế Long Thành là công trình trọng
điểm quốc gia, được quy hoạch với diện tích khoảng 5.000 ha, công suất thiết
kế 100 triệu hành khách và 5 triệu tấn hàng hóa mỗi năm. Khi hoàn thành, sân
bay Long Thành được định hướng trở thành trung tâm trung chuyển hàng
không quốc tế của khu vực Đông Nam Á và là động lực phát triển quan trọng
đối với vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Sự hình thành của sân bay Long
Thành đang thúc đẩy mạnh mẽ quá trình phát triển các ngành logistics,
thương mại quốc tế, dịch vụ tài chính và công nghiệp công nghệ cao của tỉnh.
6.1.2. Về hệ thống giao thông nội tỉnh
Sau khi hợp nhất với tỉnh Bình Phước, mạng lưới giao thông nội tỉnh
của Đồng Nai có quy mô lớn, kết nối toàn bộ không gian phát triển từ khu
vực đô thị phía Nam đến khu vực cửa khẩu quốc tế Hoa Lư.
Hệ thống đường tỉnh dài hơn 1.098 km đóng vai trò quan trọng trong
việc kết nối các khu công nghiệp, khu đô thị, khu du lịch và các vùng sản
xuất nông nghiệp. Nhiều tuyến giao thông trọng điểm đang được đầu tư nhằm
tăng cường kết nối với sân bay Long Thành và các khu công nghiệp lớn của
50
tỉnh, tiêu biểu như các tuyến ĐT.25B, ĐT.25C, ĐT.769, ĐT.770B, ĐT.773 và
ĐT.769E.
Ngoài ra, các dự án cầu kết nối với Thành phố Hồ Chí Minh như cầu
Cát Lái, cầu Phú Mỹ 2 và cầu Đồng Nai 2 đang được nghiên cứu triển khai,
góp phần mở rộng không gian phát triển đô thị và tăng cường liên kết kinh tế
giữa Đồng Nai với trung tâm vùng.
6.1.3. Về hạ tầng đường sắt
Tuyến đường sắt Bắc – Nam đi qua địa bàn tỉnh với chiều dài khoảng
87 km, đóng vai trò quan trọng trong vận tải hành khách và hàng hóa.
Trong thời gian tới, mạng lưới đường sắt của tỉnh sẽ tiếp tục được phát
triển với nhiều tuyến quan trọng như đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam, tuyến
Biên Hòa – Vũng Tàu, tuyến Biên Hòa – Lộc Ninh và tuyến Chơn Thành –
Đắk Nông, qua đó tăng cường khả năng vận chuyển hàng hóa giữa các khu
công nghiệp của Đồng Nai với hệ thống cảng biển và cửa khẩu quốc tế.
Bên cạnh đó, các tuyến đường sắt đô thị và metro đang được nghiên
cứu triển khai, đặc biệt là tuyến metro kéo dài từ Suối Tiên đến trung tâm
hành chính tỉnh Đồng Nai và Cảng hàng không quốc tế Long Thành, góp
phần hình thành hệ thống giao thông công cộng khối lượng lớn kết nối trực
tiếp giữa Thành phố Hồ Chí Minh với các trung tâm kinh tế của tỉnh.
6.1.4. Về hạ tầng giao thông đường thủy và logistics
Đồng Nai có hệ thống sông ngòi thuận lợi cho phát triển giao thông
đường thủy nội địa với các tuyến sông chính như sông Đồng Nai, sông Thị
Vải, sông La Ngà và sông Cái. Trên địa bàn tỉnh hiện có 90 km luồng hàng
hải, 73 km luồng đường thủy nội địa quốc gia, 154 km luồng đường thủy nội
địa cấp tỉnh, tạo điều kiện thuận lợi cho vận tải hàng hóa và kết nối với hệ
thống cảng biển của vùng Đông Nam Bộ.
Theo quy hoạch phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam, cảng biển
Đồng Nai thuộc nhóm cảng biển số 4 và là cảng biển loại I trong hệ thống
cảng biển quốc gia, với các khu bến quan trọng như Phước An, Gò Dầu,
Phước Thái, Nhơn Trạch và Long Bình Tân. Hệ thống cảng này đóng vai trò
quan trọng trong hoạt động xuất nhập khẩu của khu vực và hỗ trợ phát triển
công nghiệp, logistics của tỉnh.
Song song với đó, tỉnh cũng đang định hướng phát triển mạng lưới
cảng cạn (ICD) và các trung tâm logistics đa phương thức, kết nối hiệu quả
giữa đường bộ, đường sắt, cảng biển và sân bay Long Thành.
6.2. Các công trình xây dựng công cộng
51
- Về tín ngưỡng: Toàn tỉnh hiện có 863 cơ sở tín ngưỡng, trong đó đa
số được xây dựng trước năm 2000. Hệ thống chùa, đền, đình, miếu có 10 cơ sở
được xếp hạng di tích cấp quốc gia và 33 cơ sở được xếp hạng di tích cấp tỉnh.
- Về tôn giáo: Có 24 tổ chức thuộc 10 tôn giáo đang hoạt động hợp
pháp với 2.179 cơ sở, quản lý hơn 2,6 triệu tín đồ (chiếm khoảng 60% dân
số). Bên cạnh đó, địa bàn còn ghi nhận 18 nhóm Tin Lành chưa được công
nhận và 14 hiện tượng tôn giáo mới.
- Về hoạt động tham quan: Bảo tàng Đồng Nai và các cụm di tích lịch sử
trọng điểm trung bình hàng năm đón 230.953 lượt khách đến tham quan, dâng
hương, tìm hiểu và học tập.
- Về giáo dục:
+ Giáo dục phổ thông (Năm học 2025-2026): Mạng lưới bao gồm 539
trường mầm non; 404 trường tiểu học; 296 trường THCS và 107 trường
THPT. Trong đó, có 03 trường THPT chuyên và 10 trường phổ thông dân tộc
nội trú.
+ Giáo dục đại học và nghề nghiệp: Có 06 trường đại học (tỷ lệ công
lập và ngoài công lập là 50/50). Mạng lưới giáo dục nghề nghiệp có 75 cơ sở,
bao gồm 11 trường cao đẳng, 07 trường trung cấp và các trung tâm giáo dục
nghề nghiệp khác.
- Về văn hóa cơ sở:
+ Cấp tỉnh: Hệ thống bao gồm Trung tâm Văn hóa – Điện ảnh , Bảo tàng
công lập, Nhà hát nghệ thuật , 21 công trình tượng đài, 10 nhà bia và Thư viện
Đồng Nai (hợp nhất từ 2 tỉnh cũ, với cơ sở 2 lưu trữ hơn 140.000 bản sách, tài
liệu).
+ Cấp cơ sở: Thiết chế văn hóa cấp huyện đã chuyển giao cho cấp
xã/phường quản lý. Hiện có 93/95 xã/phường thành lập Trung tâm Dịch vụ tổng
hợp (đạt 97,89%). Đối với cấp thôn/ấp, có 1.707/1.775 cơ sở có Nhà văn hóa
(tuy nhiên 20,3% chưa đạt chuẩn do thiếu quỹ đất).
- Về thể dục thể thao:
+ Công trình công lập: Toàn tỉnh có 05 công trình trọng điểm đủ tiêu
chuẩn quốc gia và 29 công trình cấp tỉnh (sân vận động, nhà thi đấu, hồ bơi).
Cấp cơ sở có 95 trung tâm cấp xã và 1.703 khu thể thao ấp/khu phố.
+ Công trình xã hội hóa: Mạng lưới ngoài công lập phát triển mạnh với
hơn 4.000 công trình (bao gồm 204 hồ bơi, 170 sân Pickleball, 610 sân bóng
đá nhân tạo).
Sự phân bố hạ tầng thể thao chưa đồng đều, chủ yếu tập trung tại khu
vực đô thị và Nam Đồng Nai. Một số công trình hiện đã xuống cấp.
52
- Về Y tế:
+ Quy mô và Phân bố: Hệ thống y tế bao phủ rộng khắp với 8 bệnh
viện/viện tuyến Trung ương, 3 bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh, 3 bệnh viện khu
vực, 5 bệnh viện chuyên khoa, cùng 22 trung tâm y tế và 95 trạm y tế cấp xã.
Khối tư nhân đóng góp 12 bệnh viện và hàng trăm phòng khám. Tuy nhiên,
06 bệnh viện tuyến tỉnh hiện đang tập trung cục bộ tại vùng Biên Hòa cũ.
+ Năng lực tiếp nhận: Toàn tỉnh có 13.470 giường bệnh (đạt 30
giường/vạn dân, quy mô lớn thứ 2 Nam Bộ). Dù công suất sử dụng chung duy
trì trên 70%, một số bệnh viện công lập tuyến tỉnh đang trong tình trạng quá
tải với công suất trên 90%.
6.3. Cấp điện, chiếu sáng công cộng
Trong những năm gần đây, hệ thống chiếu sáng đô thị đang được quan
tâm đầu tư, nâng cấp, ngầm hóa hệ thống cáp điện; các đèn chiếu sáng đã
được chuyển đổi từ các loại đèn truyền thống sang các công nghệ chiếu sáng
tiết kiệm năng lượng hơn như đèn LED, hướng tới hiện đại hóa và tiết kiệm
năng lượng, đồng thời bảo đảm các hoạt động của đô thị được diễn ra an toàn,
bảo đảm trật tự an ninh đô thị, đáp ứng yêu cầu thẩm mỹ, làm đẹp cảnh quan
môi trường và góp phần định vị bản sắc riêng cho các đô thị.
Các tuyến đường đô thị đầu tư mới đều đảm bảo hệ thống chiếu sáng
đầy đủ, hiện đại và hầu hết được kết nối đồng bộ với Trung tâm điều khiển
cho phép việc quản lý vận hành hệ thống chiếu sáng được linh hoạt theo
khung giờ và nhu cầu của từng tuyến đường, báo hiệu kịp thời nếu có sự cố
xảy ra trên lưới, giúp thuận lợi trong quá trình quản lý vận hành, kiểm soát và
khắc phục sự cố.
Tuy nhiên, hệ thống chiếu sáng đô thị chủ yếu được đầu tư cùng các dự
án đường giao thông, công trình công cộng và các dự án đầu tư có công năng
phụ vụ hỗn hợp (dự án phát triển nhà ở, trung tâm thương mại dịch vụ,
chợ…); bên cạnh đó trên các tuyến đường đô thị hiện hữu vẫn còn khá nhiều
tuyến cáp điện, hệ thống chiếu sáng đi nổi, chưa được ngầm hóa do chi phí hạ
tầng cao; các tuyến đường hẻm và các tuyến đường nhỏ hiện hữu chủ yếu
được đầu tư lắp đặt bằng nguồn vốn xã hội hóa, vận động nhân dân tự nguyện
lắp đặt nên chưa đảm bảo được tiêu chí chiếu sáng công cộng theo hướng
xanh, hiệu quả và bền vững.
6.4. Cấp nước sinh hoạt
Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Đồng Nai có khoảng 20 đơn vị cấp nước
sinh hoạt và khu công nghiệp; trong đó, lĩnh vực cấp nước đô thị phần lớn
được cung cấp bởi các đơn vị: Công ty Cổ phần cấp nước Đồng Nai; Công ty
53
Cổ phần cấp nước Gia Tân; Công ty Cổ phần Cấp nước Hồ Cầu Mới; Công ty
cổ phần cấp thoát nước Bình Phước; Công ty cổ phần Nước - Môi trường
Bình Dương…
Hệ thống cấp nước hiện hữu tại các đô thị của tỉnh Đồng Nai đã cơ bản
đáp ứng về công suất, áp lực, lưu lượng và chất lượng nguồn nước cho người
dân sử dụng, cũng như phục vụ các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ;
với trên 30 nhà máy cấp nước, cung cấp trên 700.000m
3
/ngày đêm; trong đó,
nhiều công trình quy mô lớn đóng vai trò cấp nước chủ lực cho các đô thị và
khu công nghiệp, tiêu biểu như Nhà máy nước Thiện Tân công suất 200.000
m³/ngày, nhà máy nước Nhơn Trạch công suất 100.000 m³/ngày, Hệ thống
cấp nước Hồ Cầu Mới công suất 90.000 m³/ngày, các nhà máy nước Gia Tân,
Long Bình, Biên Hòa, Đồng Xoài, Chơn Thành với công suất từ 30.000
m³/ngày trở lên, cùng với các hệ thống công trình cấp nước nhỏ lẻ khác và
mạng lưới tuyến ống truyền tải được phân phối đến từng đô thị, được đầu tư
đầy đủ theo các trục đường chính, hình thành mạng lưới tương đối hoàn
chỉnh, bảo đảm cung cấp nước cho các đô thị, khu công nghiệp và khu dân cư
tập trung với công suất phục vụ đáp ứng nhu cầu sử dụng đến năm 2030. Tỷ
lệ dân số đô thị được cung cấp nước sạch qua hệ thống cấp nước tập trung
của tỉnh hiện nay ước đạt khoảng 79%.
Bên cạnh những kết quả đạt được thì lĩnh vực cấp nước sạch sinh hoạt
vẫn còn một số hạn chế nhất định như: Một số khu vực đô thị ít dân và các
tuyến đường hẻm chưa được đầu tư đầy đủ hệ thống tuyến ống phân phối và
một số khu vực mới phát triển lên đô thị gần đây thì người dân vẫn quen sử
dụng nguồn nước từ giếng khoan, giếng đào nên tỷ lệ đấu nối sử dụng nước
sạch chưa cao nên Đồng Nai đang tiếp tục xây dựng kế hoạch cấp nước đô thị
cụ thể để bổ sung, nâng cấp, mở rộng thêm các công trình cấp nước và mạng
lưới tuyến ống đến các khu vực chưa được phủ kín, phục vụ nhu cầu đấu nối
sử dụng nước sạch giai đoạn 2026-2030 và những năm tiếp theo.
6.5. Bưu chính, viễn thông
6.5.1. Về bưu chính
- Trong những năm qua, hạ tầng bưu chính chuyển dịch nhanh chóng,
các dịch vụ bưu chính chuyển dần từ dịch vụ truyền thống sang dịch vụ
chuyển phát hàng cho thương mại điện tử và hỗ trợ các dịch vụ công. Hạ tầng
bưu chính phát triển rộng khắp từ thành thị đến nông thôn, vùng sâu, vùng xa.
- Đến năm 2025, trên địa bàn tỉnh Đồng Nai hiện có hơn 30 doanh
nghiệp bưu chính trong đó có 07 doanh nghiệp bưu chính nội tỉnh đang hoạt
động. Trong đó, có 537 điểm phục vụ bưu chính. Bán kính phục vụ bình quân
đạt 2,8 km/điểm, số dân phục vụ bình quân đạt 7.360 người/điểm.
54
- Tỷ lệ xã có điểm phục vụ bưu chính đạt 100%.
6.5.2. Về viễn thông
- Hạ tầng mạng băng rộng cố định (Cáp quang – Fiber to the Home –
FTTH)
+ Đồng Nai đã hoàn thành việc chuyển đổi sang mạng cáp quang và đạt
mức độ phủ sóng rất cao, tạo nền tảng vững chắc cho Internet tốc độ cao. Hạ
tầng viễn thông cố định băng thông rộng cáp quang đã được thiết lập đến
100% các ấp, tổ dân phố thuộc các xã, phường trên địa bàn tỉnh, đủ năng lực
đáp ứng nhu cầu kết nối internet băng thông rộng, tốc độ cao tới các ấp, khu
phố, trường học, bệnh viện, trung tâm cộng đồng trên toàn tỉnh.
+ Tỷ lệ phủ sóng: Gần 100% các xã, phường và hầu hết các hộ gia đình
trên địa bàn tỉnh đã được phủ sóng mạng cáp quang (FTTH).
+ Tốc độ: Tốc độ truy cập Internet trung bình của người dân và doanh
nghiệp được cải thiện liên tục, đáp ứng nhu cầu học tập, làm việc và giải trí
chất lượng cao. Các công nghệ tiên tiến như XGS-PON cũng đang được các
nhà mạng triển khai.
+ Mức độ thâm nhập: Tỷ lệ người dân/doanh nghiệp sử dụng dịch vụ
băng rộng cố định đạt mức cao, phản ánh sự phát triển của Kinh tế số và Xã
hội số.
- Hạ tầng Mạng Di động
+ Hạ tầng di động ở Đồng Nai đã đạt mức độ phổ cập rộng rãi, đồng
thời đi tiên phong trong việc triển khai công nghệ mới. Trên toàn tỉnh có
khoảng 7.200 trạm thu phát sóng thông tin di động 3G/4G/5G, phủ sóng đến
các khu dân cư, thôn/khu phố của các xã, phường góp phần đảm bảo thông tin
liên lạc cho các cấp chính quyền địa phương phục vụ phát triển kinh tế - xã
hội và nhu cầu người dân.
+ Mạng 4G: Phạm vi phủ sóng 4G đạt mức độ gần như 100% diện tích
dân cư và các Khu công nghiệp. Chất lượng mạng 4G được duy trì ổn định, là
nền tảng chính cho truy cập Internet di động.
+ Mạng 5G: Hiện nay tỷ lệ phủ sóng 5G trên địa bàn đã phủ sóng
84,1% dân số trên địa bàn tỉnh, việc triển khai 5G tập trung vào việc phục vụ
các ứng dụng công nghiệp thông minh, sản xuất tự động và phát triển các
dịch vụ công nghệ cao.
- Hạ tầng Viễn thông phục vụ Chính quyền số:
+ Hệ thống hạ tầng viễn thông chuyên dùng được đầu tư để đảm bảo
tính bảo mật và liên thông cho các cơ quan nhà nước. Các nền tảng số/phần
55
mềm dùng chung của cơ quan nhà nước đều được vận hành tập trung tại
Trung tâm tích hợp dữ liệu tỉnh và trên nền tảng điện toán đám mây do doanh
nghiệp trong nước cung cấp, bảo đảm an toàn thông tin; đã triển khai hệ
thống chữ ký số đến 100% các sở, ngành, đơn vị sự nghiệp thuộc các sở, ban,
ngành, xã, phường trong tỉnh.
+ Mạng truyền số liệu chuyên dùng: Đã hoàn thiện kết nối mạng truyền
số liệu chuyên dùng từ cấp tỉnh (các Sở, Ban, Ngành) đến cấp xã, đảm bảo
triển khai vận hành các hệ thống thông tin dùng chung của tỉnh. Đến nay,
100% cơ quan Đảng và Nhà nước từ cấp tỉnh đến cấp xã đã kết nối mạng
truyền số liệu chuyên dùng.
+ Hệ thống Hội nghị truyền hình: Hệ thống hội nghị truyền hình được
sử dụng rộng rãi, giúp tiết kiệm chi phí, thời gian đi lại và nâng cao hiệu quả
chỉ đạo, điều hành từ tỉnh xuống cơ sở.
- Hạ tầng Viễn thông phục vụ Khu công nghiệp:
+ Đồng Nai có số lượng Khu công nghiệp lớn, do đó hạ tầng viễn thông
tại đây được ưu tiên đầu tư vượt trội.
+ Sẵn sàng kết nối IoT: Hạ tầng mạng tại các Khu công nghiệp được
thiết kế để hỗ trợ các ứng dụng IoT (Internet of Things), sản xuất thông minh
và tự động hóa quy trình.
+ Kết nối quốc tế: Các Khu công nghiệp được đảm bảo chất lượng
đường truyền Internet tốc độ cao và ổn định để phục vụ hoạt động xuất nhập
khẩu dữ liệu, kết nối với chuỗi cung ứng toàn cầu của các doanh nghiệp FDI.
6.6. Công viên cây xanh
Đồng Nai đang chú trọng đầu tư phát triển hệ thống công viên, cây
xanh theo hướng hiện đại, bền vững, gắn liền với quy hoạch tổng thể và nâng
cao chất lượng sống cho người dân; hầu hết các đô thị của Đồng Nai đều có
công viên. Trong thời gian gần đây, tỉnh Đồng Nai đã có nhiều kế hoạch,
chương trình, chỉ thị, quy định để phát triển và nâng cao chất lượng hệ thống
công viên, cây xanh.
Theo số liệu thống kê, tổng diện tích các công viên, vườn hoa, quảng
trường… tại các đô thị trên toàn tỉnh Đồng Nai (trước khi hợp nhất) có
khoảng: 13.359.863 m2, tỷ lệ cây xanh công viên trên đầu người là 7,65
m2/người. Một số đô thị có tỷ lệ cây xanh cao như Long Khánh (11,59
m²/người) và Long Giao (10,17 m²/người).
Tuy nhiên, số lượng và quy mô các công viên chưa đáp ứng được nhu
cầu cần thiết của người dân; cây canh tại các đô thị phân bổ chưa đồng đều,
56
một số đô thị có mật độ cây xanh còn thấp như đô thị Hiệp Phước cũ (0,98
m2/người); đô thị Tân Phú cũ (1,06 m2/người).
Hiện nay, tỉnh Đồng Nai đang tiếp tục rà soát, tính toán các công viên
kết hợp bãi đỗ xe phù hợp với nhu cầu của từng địa phương để có kế hoạch,
lộ trình đầu tư cụ thể từng giai đoạn, đáp ứng nhu cầu của nhân dân địa
phương và khu vực lân cận.
6.7. Thoát nước, thu gom chất thải rắn, vệ sinh môi trường và
nghĩa trang
6.7.1. Về thoát nước
Hệ thống thoát nước đô thị trên địa bàn tỉnh trong thời gian qua đã từng
bước được đầu tư thông qua các dự án giao thông, khu đô thị và khu công
nghiệp. Nhiều tuyến cống thoát nước và hệ thống tiêu thoát nước đã được xây
dựng, góp phần cải thiện khả năng thoát nước đô thị.
Tại khu vực Bình Phước trước khi sáp nhập, hệ thống thoát nước đô thị
đã được đầu tư với tổng chiều dài khoảng 800 km cống và tuyến thoát nước.
Tại khu vực Đồng Nai trước đây, nhiều dự án cải thiện hệ thống thoát nước
và chống ngập đã được triển khai, góp phần giảm mạnh số điểm ngập trên địa
bàn.
Trong bối cảnh tốc độ đô thị hóa và phát triển công nghiệp diễn ra
nhanh chóng, đặc biệt tại các khu vực Biên Hòa, Nhơn Trạch, Trảng Bom và
Long Thành, nhu cầu đầu tư hệ thống thoát nước đồng bộ và quy mô lớn đang
ngày càng gia tăng. Do đó, nhiều dự án thoát nước và chống ngập đang tiếp
tục được nghiên cứu và triển khai nhằm từng bước hoàn thiện hệ thống hạ
tầng thoát nước đô thị của tỉnh.
Hệ thống xử lý nước thải tập trung đô thị trên địa bàn tỉnh đang trong
quá trình đầu tư và mở rộng nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển đô thị và bảo vệ
môi trường. Hiện nay, một số nhà máy xử lý nước thải đô thị đã được đưa vào
vận hành, tiêu biểu như Nhà máy xử lý nước thải thành phố Đồng Xoài công
suất khoảng 10.000 m³/ngày đêm, nhà máy xử lý nước thải Long Bình công
suất khoảng 3.000 m³/ngày đêm, nhà máy xử lý nước thải tại thị xã Phước
Long... Bên cạnh đó, nhiều dự án xử lý nước thải đô thị quy mô lớn đang
được triển khai và đang thực hiện các thủ tục chuẩn bị đầu tư tại các đô thị
trọng điểm như Biên Hòa, Long Khánh, Nhơn Trạch, Trảng Bom và Long
Thành. Các dự án này khi hoàn thành sẽ góp phần nâng cao đáng kể tỷ lệ thu
gom và xử lý nước thải đô thị, từng bước đáp ứng các mục tiêu của Chiến
lược phát triển thoát nước đô thị quốc gia.
57
Các khu công nghiệp đều được đầu tư hệ thống xử lý nước thải tập
trung, với trên 40 nhà máy xử lý nước thải công nghiệp đang vận hành. Tổng
công suất xử lý nước thải tại các khu công nghiệp đạt hàng trăm nghìn
m³/ngày đêm, góp phần kiểm soát ô nhiễm môi trường và bảo đảm phát triển
công nghiệp xanh, hiện đại, bền vững.
Các khu vực đô thị mới hình thành đều được đầu tư đầy đủ, đồng bộ hệ
thống hạ tầng kỹ thuật thoát nước và xử lý nước thải, đảm bảo quy chuẩn hiện
hành; đối với các đô thị hiện hữu đã hình thành từ lâu đang từng bước được
đầu tư bổ sung hệ thống thoát nước và xử lý nước thải.
6.7.2. Về thu gom chất thải rắn, vệ sinh môi trường
Hệ thống xử lý chất thải rắn gồm 09 khu xử lý tập trung, trong đó có
các khu quy mô lớn như Quang Trung (130 ha), Bàu Cạn (104 ha) và Vĩnh
Tân (81 ha); cơ sở xử lý chất thải rắn thành phố Đồng Xoài với công suất
khoảng 100 tấn/ngày. Hệ thống xử lý chất thải đang từng bước chuyển đổi
theo hướng tăng cường tái chế, giảm chôn lấp, phù hợp với xu hướng phát
triển kinh tế tuần hoàn và đô thị xanh.
6.7.3. Về nghĩa trang
Hiện nay trên địa bàn tỉnh có 19 khu nghĩa trang tập trung với quy mô
khác nhau, trong đó một số nghĩa trang có quy mô lớn như nghĩa trang công
viên Vĩnh Hằng (212 ha), nghĩa trang Long Đức (79 ha), nghĩa trang Long
Khánh (70 ha). Bên cạnh đó, trên địa bàn tỉnh còn khoảng 526 ha nghĩa trang
nhỏ lẻ phân bố tại nhiều địa phương.
Đồng Nai đang chuyển dịch mạnh mẽ từ mô hình nghĩa trang truyền
thống, phân tán sang các công viên nghĩa trang hiện đại, quy mô lớn, đáp ứng
nhu cầu ngày càng cao về dịch vụ mai táng nhân văn và đảm bảo cảnh quan,
môi trường. Việc phát triển các công viên nghĩa trang hiện đại không chỉ giải
quyết nhu cầu mai táng mà còn góp phần tạo nên cảnh quan đô thị văn minh,
thân thiện với môi trường. Đa số các nghĩa trang được đầu tư theo quy hoạch,
đáp ứng quy mô, chất lượng phục vụ nhu cầu mai táng của nhân dân, các
nghĩa trang theo quy hoạch đã lồng ghép các nhà hỏa táng để phục vụ nhu cầu
thiết yếu của nhân dân, vừa góp phần bảo vệ môi trường, vừa tiết kiệm quỹ
đất và giảm chi phí dịch vụ. Đồng Nai đang quyết tâm, từng bước chuyển đổi
mô hình nghĩa trang truyền thống sang mô hình nghĩa trang công viên và cơ
sở hỏa táng hiện đại, nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất và bảo đảm vệ sinh
môi trường.
Tuy nhiên, công tác quản lý và di dời các nghĩa trang nhỏ lẻ, tự phát
vẫn là một vấn đề khó khăn, lâu dài. Trong thời gian tới Đồng Nai sẽ tiếp tục
58
quản lý có hiệu quả, đảm bảo quy mô, chất lượng, môi trường, giá chuyển
nhượng phần mộ và các dịch vụ nghĩa trang, đồng thời xác định cụ thể lộ
trình di dời các nghĩa trang nhỏ lẻ, tự phát.
Hiện nay, Đồng Nai đang tổ chức điều chỉnh quy định quản lý nghĩa
trang và cơ sở hỏa táng trên địa bàn tỉnh để phân công, phân cấp cụ thể trong
việc quản lý, đầu tư xây dựng nghĩa trang và cơ sở hỏa táng được đồng bộ,
phù hợp với mô hình tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp.
6.8. Nhà ở
Theo kết quả tổng hợp, hiện trạng nhà ở đến năm 2025 trên địa bàn
toàn tỉnh có 1.225.723 căn nhà, tổng diện tích nhà ở là 122.700.657 m² sàn,
diện tích nhà ở bình quân đầu người là 27,3 m
2
/người, tỷ lệ nhà ở kiến cố và
bán kiên cố đạt 99,5%, tỷ lệ nhà ở thiếu kiên cố và đơn sơ giảm còn 0,5%,
trong đó:
- Khu vực đô thị có 529.981 căn nhà, tổng diện tích nhà ở là
52.924.834 m² sàn, diện tích nhà ở bình quân đầu người là 28,0 m
2
/người, tỷ
lệ nhà ở kiên cố và bán kiên cố đạt 99,8%, tỷ lệ nhà ở thiếu kiên cố và đơn sơ
giảm còn 0,2%,;
- Khu vực nông thôn có 695.742 căn nhà, tổng diện tích nhà ở là
69.775.822 m² sàn, diện tích nhà ở bình quân đầu người là 26,8 m
2
/người, tỷ
lệ nhà ở kiên cố và bán kiên cố đạt 98,6 %, tỷ lệ nhà ở thiếu kiên cố và đơn sơ
giảm còn 1,4%.
* Hiện trạng các loại hình nhà ở phát triển theo dự án
- Hiện nay trên địa bàn tỉnh có 370 dự án nhà ở thương mại, tổng quy
mô thực hiện khoảng 13.331 ha, dự kiến khi hoàn thành sẽ có cung ứng cho
thị trường khoảng 395 nghìn căn nhà, tương ứng khoảng 52 triệu m
2
sàn. Cụ
thể như sau: Tại khu vực tỉnh Đồng Nai (cũ) có 254 dự án nhà ở thương mại
đang triển khai, tổng quy mô khoảng 9.669 ha, số lượng nhà dự kiến hoàn
thành khoảng 280 nghìn căn nhà, tương ứng khoảng 37,6 triệu m
2
sàn; Tại
khu vực tỉnh Bình Phước (cũ) 116 dự án nhà ở thương mại đang triển khai,
tổng quy mô khoảng 3.662 ha, số lượng nhà dự kiến hoàn thành khoảng
115.000 căn nhà, tương ứng khoảng 14,4 triệu m
2
sàn.
- Trên địa bàn tỉnh có 73 dự án nhà ở xã hội đang triển khai, tổng quy
mô thực hiện khoảng 332,87 ha, dự kiến khi hoàn thành sẽ có cung ứng cho
thị trường khoảng 69.883 căn nhà, tương ứng khoảng 3,8 triệu m
2
sàn, cụ thể
như sau: Có 68 dự án nhà ở xã hội chung cho các nhóm đối tượng đã hoàn
thành trong giai đoạn 2021-2025 và hiện nay đang triển khai, tổng quy mô
thực hiện khoảng 306,35 ha, dự kiến khi hoàn thành sẽ có cung ứng cho thị
59
trường khoảng 64.672 căn nhà, tương ứng khoảng 3,5 triệu m
2
sàn; Có 04 dự
án nhà ở xã hội cho công nhân đang triển khai, tổng quy mô thực hiện khoảng
23,77 ha, dự kiến khi hoàn thành sẽ có cung ứng cho thị trường khoảng 4.753
căn nhà, tương ứng khoảng 270.167 m
2
sàn; có 01 dự án nhà lưu trú công
nhân đang triển khai là dự án “Khu nhà ở công nhân Công ty TNHH HaoHua
(Việt Nam)” tại Khu công nghiệp Minh Hưng Sikico, dự án có quy mô 438
căn, diện tích sàn khoảng 21.900 m
2
, đáp ứng được cho 1.800 công nhân
thuê ở.
* Hiện trạng nhà ở theo chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình
đầu tư công về nhà ở
- Công tác hỗ trợ nhà ở cho người có công với cách mạng: Thực hiện
Quyết định số 21/2024/QĐ-TTg ngày 22/11/2024 của Thủ tướng Chính phủ
về mức hỗ trợ xây dựng mới hoặc cải tạo, sửa chữa nhà ở đối với người có
công với cách mạng, thân nhân liệt sĩ và tỷ lệ phân bổ vốn hỗ trợ từ ngân sách
trung ương, tỷ lệ đối ứng vốn hỗ trợ từ ngân sách địa phương giai đoạn 2023 -
2025, hiện nay trên địa bàn tỉnh Đồng Nai (sau sáp nhập) đã hoàn thành việc
hỗ trợ nhà ở cho người có công với cách mạng và thân nhân liệt sĩ. Theo đó,
tổng số nhà ở của người có công với cách mạng đã được hỗ trợ xây mới, sửa
chữa là 168 căn nhà (37 căn xây mới, 131 căn sửa chữa).
- Chương trình xoá nhà tạm, nhà dột nát: Thực hiện Quyết định số
539/QĐ-TTg ngày 19//6/2024 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành kế
hoạch triển khai Phong trào thi đua Chung tay xoá nhà tạm, nhà dột nát trên
phạm vi cả nước năm 2025. Tổng số nhà ở đã được hỗ trợ xây mới, sửa chữa
trên địa bàn tỉnh Đồng Nai (sau khi sáp nhập) là 1.230 căn nhà với tổng số
kinh phí đã thực hiện là 111.187,14 triệu đồng.
* Hiện trạng nhà ở của cá nhân tự xây dựng
Nhà ở do dân tự xây dựng chiếm chủ yếu trong tổng số nhà ở hiện hữu
và xây mới trên địa bàn tỉnh. Trong 05 năm từ 2020-2024, diện tích nhà ở do
dân tự xây toàn tỉnh hoàn thành khoảng 13,5 triệu m
2
sàn nhà ở, nhà ở được
phát triển dọc theo các trục đường giao thông, được xây dựng từ 1-4 tầng, chủ
yếu là nhà ở có chất lượng kiên cố.
7. Tình hình quốc phòng, an ninh, trật tự và an toàn xã hội
7.1. Về quốc phòng
Đồng Nai có vị trí chiến lược về kinh tế, chính trị-xã hội, văn hóa và
Quốc phòng-An ninh (QPAN) trọng điểm phía Nam của đất nước, là cửa ngõ
giao thông huyết mạch, kết nối giao thương với các tỉnh, thành phố theo các
trục lộ chính như: Quốc lộ 1A, 13, 14, 20, 51, 56, cao tốc Long Thành - Dầu
60
Giây, cao tốc Dầu Giây - Phan Thiết, cao tốc Biên Hòa - Vũng Tàu, cao tốc
Dầu Giây - Đà Lạt, cao tốc Gia Nghĩa - Chơn Thành… nối liền các tỉnh miền
Trung, Tây Nguyên đi TP.HCM và đồng bằng Sông Cửu long. Có cửa khẩu
thông thương với Campuchia (04 Cửa Khẩu: 01 cửa khẩu quốc tế (Hoa Lư),
Lộc Thịnh, Hoàng Diệu, Tân Tiến và 01 lối mở (Tuần Lung), đi kèm 04 cửa
khẩu là 04 Trạm kiểm soát) tạo nhiều cơ hội để phát triển thương mại, du lịch
và xuất khẩu.
Trên địa bàn tỉnh có 12 hang động, tập trung chủ yếu ở các địa bàn Tân
Phú 03, Xuân Lộc 03, Long Khánh 01, Trảng Bom 01, Định Quán 01, nằm
trong quần thể vườn quốc gia Bù Gia Mập 03.
Tỉnh đã hoàn thành việc phân giới cắm mốc với 03 tỉnh đối diện
Campuchia, gồm có 28 cột mốc chính tại 19 vị trí cột mốc, từ mốc 61 đến
mốc 79; trong đó có 01 mốc 3: mốc 73 (1,2,3); 08 vị trí mốc đôi: 61(1,2),
62(1,2), 65(1,2), 66(1,2), 74(1,2), 78(1,2), 79(1,2) (mốc 79(1) do tỉnh Tây
Ninh quản lý) và 10 vị trí mốc đơn: 63, 64, 67, 68, 69, 70, 71, 72, 75, 76.
Ngày 23/6/2018 hoàn thành công tác phân giới cắm mốc 353 mốc phụ tại 81
vị trí, từ mốc phụ 60/9 giáp tỉnh Đắk Nông đến mốc phụ 78/6, gồm 34 vị trí
mốc đơn, 122 vị trí mốc đôi = 224 mốc, 25 vị trí mốc ba = 75 mốc.
Đồng Nai là tỉnh có vị trí quan trọng về quốc phòng, an ninh trong thế
trận khu vực phòng thủ của Quân khu 7, là tuyến phòng thủ quan trọng bảo vệ
hướng Đông của thành phố Hồ Chí Minh, vừa là bàn đạp cơ động lực lượng,
đồng thời là trung tâm liên kết các tỉnh Nam Tây nguyên và các tỉnh Đông
Nam bộ, những yếu tố trên tạo nên vị thế đặc biệt của Đồng nai trong việc xây
dựng củng cố thế trận quốc phòng toàn dân, gắn với thế trận an ninh nhân dân
góp phần bảo vệ vững chắc khu vực Đông Nam Bộ trong mọi tình huống, là
cửa ngõ kết nối với các tỉnh trong vùng kinh tế trọng điểm Đông Nam bộ với
Tây Nguyên, cửa ngõ giao thương với nước bạn Campuchia.
Từ tháng 01/07/2025, thực hiện Nghị quyết số 202/2025/QH15 ngày 12
tháng 6 năm 2025 của Quốc hội về sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, tỉnh
Đồng Nai đã sát nhập với tỉnh Bình Phước và giữ tên là tỉnh Đồng Nai, Trung
tâm hành chính đặt tại Phường Trấn Biên (phường Thanh Bình, Tp.Biên Hòa
cũ). Toàn tỉnh sau sáp nhập có 95 đơn vị hành chính cấp xã, phường. Gồm:
72 xã và 23 phường (Trong đó, có 55 xã, phường thuộc tỉnh Đồng Nai cũ và
40 xã, phường thuộc tỉnh Bình Phước cũ), với tổng: 452 khu phố; 1.320 ấp,
16 đồn biên phòng và 59 đơn vị của Bộ Quốc phòng, 23 đơn vị của Quân khu
đứng chân trên địa bàn tỉnh.
Sau sáp nhập Bộ CHQS tỉnh đã tham mưu cho Tỉnh ủy, UBND tỉnh điều
chỉnh quy hoạch thế trận phòng thủ, căn cứ chiến đấu, căn cứ hậu phương, phân
61
căn cứ hậu cần - kỹ thuật, công trình chiến đấu trên địa bàn tỉnh, phù hợp với
nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh.
7.2. An ninh, trật tự và an toàn xã hội
Từ năm 2023 đến nay, tình hình ANTT trên địa bàn được giữ vững; đã
bảo đảm tuyệt đối an ninh, an toàn các mục tiêu trọng điểm, Đoàn lãnh đạo
Đảng, Nhà nước và các sự kiện chính trị, văn hóa, xã hội, lễ hội; an ninh
chính trị nội bộ, an ninh kinh tế, an ninh biên giới, an ninh xã hội, an ninh dân
tộc, tôn giáo, an ninh mạng tiếp tục được bảo đảm; không để xảy ra bị động,
bất ngờ, bạo loạn, khủng bố, phá hoại, hình thành các tổ chức chính trị đối
lập, không để hình thành “điểm nóng” phức tạp kéo dài liên quan ANTT. Lực
lượng Công an đã chủ động tham mưu cấp ủy, chính quyền chủ động xử lý
nhiều vấn đề phát sinh từ cơ sở; tăng cường tấn công, trấn áp các loại tội
phạm; đồng thời nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về ANTT, TTATGT,
PCCC và CNCH. Theo đánh giá của Bộ Công an, năm 2024 Đồng Nai là một
trong 10 địa phương kéo giảm tội phạm về trật tự xã hội nhiều nhất cả nước.
Từ năm 2023 đến nay, trung bình mỗi năm, toàn tỉnh phát hiện khoảng
2.800 vụ phạm tội về TTXH, bắt xử lý khoảng 4.800 đối tượng, đồng thời có
chiều hướng giảm trong những năm gần đây
5
. Các kết quả này cho thấy năng
lực kiểm soát tình hình, công tác phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm có
nhiều chuyển biến tích cực, là nền tảng quan trọng để phục vụ nhiệm vụ xây
dựng Đề án thành lập thành phố Đồng Nai trong điều kiện địa bàn mở rộng
và ngày càng phức tạp hơn. Công tác đấu tranh với tội phạm về ma túy đạt
được nhiều kết quả rất tích cực, đã triệt xóa nhiều đường dây tội phạm ma túy
hoạt động liên tỉnh, xuyên quốc gia với quy mô lớn; nhiều tụ điểm tổ chức,
chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy “núp bóng” cơ sở đầu tư kinh doanh
ngành nghề có điều kiện
6
.
Công tác quản lý hành chính về TTXH đã tạo chuyển biến tích cực
phục vụ quản trị xã hội, phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật; đảm
bảo ANTT tại cơ sở; ứng dụng triệt để tiện ích của Đề án số 06 tạo nền tảng
5
Năm 2023, tội phạm về TTXH trên địa bàn phát hiện 3.657 vụ, bắt 5.698 đối tượng; năm 2024, tội phạm về
TTXH phát hiện 2.855 vụ, bắt 5.137 đối tượng, giảm 820 vụ (22,31%) so với năm 2023; năm 2025, phát hiện 1.978
vụ, bắt 3.548 đối tượng, giảm 877 vụ (30,72%) so với năm 2024 (số liệu so sánh với cả 02 tỉnh Đồng Nai (cũ) và
Bình Phước (cũ)); Quý I/2026, tội phạm về TTXH phát hiện 480 vụ (giảm 125 vụ (-20,66%) so với cùng kỳ năm
2025), bắt xử lý 911 đối tượng, hầu hết các loại tội phạm đều giảm, trong đó các tội nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm
trọng giảm sâu, như: Giết người (-47,06%), Cố ý gây thương tích (-13,16%), Cướp tài sản (-25%), Lừa đảo chiếm
đoạt tài sản (-18%), Trộm cắp tài sản (-31,58%), Hủy hoại tài sản (-63,64%), Đánh bạc (-35,9%)...
6
Trong năm 2023, đã phát hiện 1.260 vụ, bắt xử lý 2.847 đối tượng mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma
túy; năm 2024, đã phát hiện 1.289 vụ, bắt xử lý 2.755 đối tượng (nhiều hơn 19 vụ so với năm 2023); năm 2025,
đã phát hiện 1.184 vụ, bắt xử lý 2.173 đối tượng mua bán, tàng trữ, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (ít hơn
105 vụ, 582 đối tượng so với năm 2024); Quý I/2026, phát hiện 312 vụ, bắt xử lý 632 đối tượng (ít hơn 25,18%
số vụ, 15,85% số đối tượng so với Quý I/2025).
62
cho quản trị xã hội hiện đại, cải cách hành chính và phục vụ Nhân dân tốt
hơn. Công tác bảo đảm TTATGT được triển khai quyết liệt, tai nạn giao thông
được kiềm giảm cả 3 tiêu chí
7
; không để xảy ra TNGT đặt biệt nghiêm trọng.
Công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ được triển khai đồng bộ,
đảm bảo yêu cầu phòng cháy, không để xảy ra cháy lớn gây hậu quả đặc biệt
nghiêm trọng
8
.
Tuy nhiên, thực trạng ANTT trên địa bàn tỉnh cũng cho thấy nhiều áp
lực lớn. Đó là địa bàn rộng, dân số đông, biến động dân cư cơ học mạnh, số
lượng lao động nhập cư và lực lượng làm việc trong các khu công nghiệp rất
lớn; nhiều công trình, dự án trọng điểm đang triển khai đồng thời phát sinh
nhiều vấn đề liên quan đến tranh chấp, khiếu kiện
9
; khu vực biên giới, dân
tộc, tôn giáo có những yếu tố đặc thù; không gian mạng phát triển nhanh;
trong khi đó yêu cầu quản trị ANTT ngày càng chuyển từ mô hình quản lý
hành chính truyền thống sang quản trị đô thị số, dự báo sớm, chỉ huy tích
hợp, điều hành theo dữ liệu thời gian thực.
8. Hiện trạng tổ chức bộ máy, biên chế cán bộ, công chức trong hệ
thống chính trị
8.1. Tổng số biên chế hưởng lương từ ngân sách nhà nước được giao
(tạm giao năm 2026): 13460 biên chế (trong đó cấp tỉnh 3326 biên chế, cấp
xã 10134 biên chế), cụ thể:
- Khối Đảng: 2278 biên chế (trong đó cấp tỉnh 334 biên chế, cấp xã
1944 biên chế)
- Khối Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể: 1277 biên chế (trong đó cấp
tỉnh 182 biên chế, cấp xã 1095 biên chế)
- Khối Chính quyền: 9.905 biên chế (trong đó cấp tỉnh 2810 biên chế,
cấp xã 7095 biên chế)
7
Năm 2023, xảy ra 1.027 vụ, làm chết 795 người, bị thương 480 người; năm 2024, xảy ra 1.061 vụ, làm chết 751
người, bị thương 524 người (tăng 34 vụ, giảm 44 người chết, tăng 44 người bị thương so với năm 2023); năm 2025,
xảy ra 932 vụ, làm chết 669 người, bị thương 400 người (giảm 131 vụ, 90 người chết, 118 người bị thương so với
năm 2024); Quý I/2026, xảy ra 244 vụ tai nạn giao thông, làm chết 168 người, bị thương 107 người (tăng 46 vụ
(244/198), tăng 20 người chết (168/148), tăng 19 người bị thương 107/88 so với cùng kỳ năm 2025.
8
Năm 2023, xảy ra 128 vụ cháy, làm chết 02 người, bị thương 02 người; năm 2024, xảy ra 96 vụ cháy, làm chết
05 người, bị thương 10 người (giảm 32 vụ; tăng 04 người chết, tăng 08 người bị thương so với năm 2023); năm
2025, xảy ra 78 vụ cháy, làm chết 02 người, bị thương 09 người (giảm 18 vụ; giảm 03 người chết, giảm 01 người
bị thương so với năm 2024); Quý I/2026, xảy ra 27 vụ, làm chết 04 người, bị thương 01 người (giảm 02 vụ, tăng
03 người chết, tăng 01 người bị thương so với cùng kỳ năm 2025).
9
Hiện nay, trên địa bàn tỉnh còn 22 vụ việc khiếu kiện đông người, phức tạp về ANTT (04 vụ liên quan đồng
bào DTTS, 05 vụ liên quan tôn giáo), 169 đối tượng đầu đơn khiếu kiện.
63
8.2. Tổng số biên chế hưởng lương từ ngân sách nhà nước hiện có:
11540 biên chế (trong đó cấp tỉnh 2936 biên chế, cấp xã 8604 biên chế), cụ
thể:
- Khối Đảng: 2278 biên chế (trong đó cấp tỉnh 334 biên chế, cấp xã
1944 biên chế)
- Khối Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể: 1277 biên chế (trong đó cấp
tỉnh 182 biên chế, cấp xã 1095 biên chế)
- Khối Chính quyền: 7985 biên chế (trong đó cấp tỉnh 2420 biên chế,
cấp xã 5565 biên chế)
8.3. Số lượng thành viên Ủy ban nhân dân tỉnh: 20 người
8.4. Số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp
- Cấp tỉnh: 85 người.
- Cấp xã: 2211 người.
III. ĐÁNH GIÁ CHI TIẾT CÁC ĐIỀU KIỆN, TIÊU CHUẨN
THÀNH LẬP THÀNH PHỐ ĐỒNG NAI TRỰC THUỘC TRUNG ƯƠNG
1. Điều kiện thành lập thành phố Đồng Nai trực thuộc Trung ương
1.1. Tỉnh Đồng Nai có diện tích tự nhiên là 12.737,18 km
2
; quy mô dân số
là 4.491.408 người; có 95 đơn vị hành chính cấp xã, gồm: Dự kiến 33 phường, 62
xã.
1.2. Địa giới hành chính tỉnh Đồng Nai: Phía Tây và Tây Nam giáp Thành
phố Hồ Chí Minh; phía Tây Bắc giáp tỉnh Tây Ninh; phía Đông giáp tỉnh Lâm
Đồng; phía Bắc giáp Vương quốc Campuchia.
2. Đánh giá các tiêu chuẩn thành lập thành phố trực thuộc Trung
ương
2.1. Quy mô dân số
- Quy định: Tối thiểu 2.500.000 người.
- Dân số của Đồng Nai đến nay là 4.491.408 người,
- Đánh giá: Vượt.
2.2. Diện tích tự nhiên
- Quy định: Diện tích tự nhiên từ 2.500 km
2
trở lên;
- Hiện trạng: Tỉnh Đồng Nai hiện có 12.737,18 km
2
diện tích tự nhiên
(đạt 509,5% tiêu chuẩn);
- Đánh giá: Vượt.
64
2.3. Tỷ lệ số phường trên tổng số đơn vị hành chính cấp xã
- Quy định: Từ 30% trở lên;
- Hiện trạng: Tỉnh Đồng Nai hiện có 95 đơn vị hành chính cấp xã, gồm:
23 phường, 72 xã; trong đó:
Qua rà soát có ít nhất 10 xã đủ điều kiện thành lập phường theo quy
định tại Nghị quyết số 112/2025/UBTVQH15 ngày 24/12/2025 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội, đây là những xã trọng điểm phát triển kinh tế xã hội và
an ninh, quốc phòng và được thành lập trên cơ sở sáp nhập từ các xã và các
thị trấn cũ, theo quy định chuyển tiếp tại khoản 3 Điều 15 Nghị quyết số
111/2025/UBTVQH15 ngày 24/12/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về
phân loại đô thị thì phạm vi các thị trấn cũ được xác định là đô thị loại III.
Hiện nay, tỉnh đã xây dựng Đề án thành lập 10 phường để trình cấp có thẩm
quyền xem xét, quyết định (trình song song với Đề án thành lập thành phố
Đồng Nai).
Do đó, sau khi chuyển các xã trên thành phường thì tổng số phường
trên địa bàn tỉnh là 33/95, đạt tỷ lệ 34,73%. (Bảng đánh giá, đối chiếu tiêu chí
của 10 phường đính kèm)
2.4. Tỷ lệ đô thị hóa từ 45% trở lên
2.4.1. Quy định: Từ 45% trở lên;
2.4.2. Hiện trạng: Tỉnh Đồng Nai có quy mô dân số là 4.491.408 người,
trong đó quy mô dân số đô thị 33 phường (bao gồm 10 xã nâng cấp lên phường
theo báo cáo tại mục 2.3 nêu trên) là 2.559.636 người, tỷ lệ đô thị hóa đạt
56,99%.
2.4.3. Đánh giá: Đạt.
2.5. Vị trí, chức năng được xác định trong quy hoạch hoặc định
hướng đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt là trung tâm tổng hợp cấp
quốc gia hoặc cấp vùng về kinh tế, tài chính, văn hóa, giáo dục, đào tạo,
du lịch, y tế, khoa học và công nghệ, đầu mối giao thông, giao lưu trong
nước và quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của
vùng hoặc cả nước.
2.5.1. Hiện trạng
Theo Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm
2050 tại Nghị quyết số 81/2023/QH15 ngày 09/01/2023 của Quốc hội; Quy
hoạch hệ thống đô thị nông thôn thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 tại
Quyết định số 891/QĐ-TTg 22/8/2024 của Thủ tướng Chính phủ; Quyết định số
370/QĐ-TTg ngày 04 tháng 5 năm 2024 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
65
Quy hoạch vùng Đông Nam Bộ thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050;
Quyết định số 1489/QĐ-TTg ngày 24 tháng 11 năm 2023, Quyết định số
1259/QĐ-TTg ngày 24 tháng 10 năm 2024 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
Quy hoạch tỉnh Bình Phước thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050; Quyết
định số 586/QĐ-TTg ngày 03 tháng 7 năm 2024 của Thủ tướng Chính phủ phê
duyệt Quy hoạch tỉnh Đồng Nai thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050;
Quyết định 779/QĐ-UBND ngày 27/02/2026 của UBND tỉnh Đồng Nai phê
duyệt điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Đồng Nai thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến
năm 2050, định hướng xây dựng, phát triển Đồng Nai là một tỉnh trọng điểm
trong khu vực Nam Bộ và cả nước, có khu vực biên giới, lấy cảng hàng không
quốc tế Long Thành, hành lang ven sông Đồng Nai làm động lực mới cho phát
triển đột phá. Thu hút đầu tư có chọn lọc, có trọng tâm, trọng điểm, hướng tới
các ngành công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp sinh thái, công nghiệp hỗ
trợ, công nghiệp sinh học; đổi mới sáng tạo; nông nghiệp công nghệ cao; dịch
vụ tổng hợp, trọng tâm là giáo dục - đào tạo, y tế, logistics, du lịch.
Theo đó, thành phố Đồng Nai sau khi được thành lập là cửa ngõ của
Vùng kinh tế trọng điểm Đông Nam bộ, Nam bộ và cả nước theo mô hình phát
triển “thủ phủ công nghiệp
10
, đô thị hiện đại, trung tâm logictis và nông nghiệp
công nghệ cao”, gắn kết hạ tầng, không gian xanh, sinh thái, bảo vệ môi trường
với kết cấu hạ tầng hiện đại, dịch vụ công nghệ cao, ứng dụng công nghệ để
nâng cao chất lượng quản lý và cuộc sống người dân.
2.5.2. Đánh giá: Đạt.
2.6. Có khu vực đã được công nhận là đô thị loại I trở lên hoặc đạt
tiêu chí của đô thị loại loại I trở lên
2.6.1. Tiêu chí về vai trò, vị trí và điều kiện phát triển kinh tế - xã hội
(1) Tiêu chuẩn 1.I.01: Đã triển khai đầu tư, xây dựng một trong các khu
chức năng hoặc thuộc khu chức năng có vai trò cấp quốc gia, quốc tế
Trên địa bàn tỉnh có Cảng hàng không quốc tế Long Thành là công
trình trọng điểm quốc gia, được quy hoạch với diện tích khoảng 5.000 ha,
công suất thiết kế 100 triệu hành khách và 5 triệu tấn hàng hóa mỗi năm.
Theo chỉ đạo của Chính phủ, giai đoạn 1 dự án đang được tập trung triển khai
với mục tiêu hoàn thành và đưa vào khai thác trong tháng 6/2026. Khi hoàn
thành, sân bay Long Thành được định hướng trở thành trung tâm trung
chuyển hàng không quốc tế của khu vực Đông Nam Á và là động lực phát
triển quan trọng đối với vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.
10
Hiện nay toàn tỉnh có 89 Khu công nghiệp với 43 Khu công nghiệp đã đi vào hoạt động
66
Đánh giá: Đạt.
(2) Tiêu chuẩn 1.I.02: Là trung tâm tổ chức ≥ 02 sự kiện quốc tế cấp
khu vực trở lên bình quân 03 năm gần nhất
Hiện nay, tỉnh Đồng Nai đang lập và chuẩn bị phê duyệt khu đô thị sân
bay Long Thành. Dự kiến trong thời gian tới, khi các hạng mục công trình với
quy mô tầm cỡ quốc tế trong khu đô thị sân bay được triển khai đầu tư và đưa
vào vận hành sẽ là nơi tổ chức các sự quốc tế cấp khu vực.
Đánh giá: Chưa đạt
(3) Tiêu chuẩn 1.I.03: Thu nhập bình quân đầu người trên năm so với
thu nhập bình quân đầu người trên năm của cả nước trong 03 năm gần nhất.
Giai đoạn 2023-2025, thu nhập bình quân đầu người của tỉnh Đồng Nai
lần lượt là 73,84 - 80,08 - 86 triệu đồng/người/năm; luôn cao hơn so với cả
nước giai đoạn 2023-2025 là 59,48 - 64,98 -71,02 triệu đồng/người/năm.
Đánh giá: Đạt.
(4) Tiêu chuẩn 1.I.04: Tốc độ tăng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP)
trong 03 năm gần nhất đạt hoặc vượt tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước
(GDP)
Giai đoạn 2023-2025, tốc độ tăng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP)
bình quân hàng năm của tỉnh Đồng Nai là 7,18%; cao hơn tốc độ tăng tổng
sản phẩm trong nước (GDP) bình quân hàng năm là 6,84%.
Đánh giá: Đạt.
(5) Tiêu chuẩn 1.I.05: Thu hút đầu tư trong nước hoặc đầu tư trực tiếp
nước ngoài (FDI) thuộc nhóm 10 tỉnh, thành phố đứng đầu trong cả nước
Năm 2025, thu hút FDI tỉnh Đồng Nai đạt 4.228,8 triệu USD, xếp hạng
4 cả nước, chỉ sau TP. Hồ Chí Minh (7.089,7 triệu USD), Bắc Ninh (5.688,9
triệu USD) và Hà Nội (4.436,5 triệu USD).
Đánh giá: Đạt.
(6) Tiêu chuẩn 1.I.06: Thuộc nhóm các địa phương không nhận bổ sung
cân đối từ ngân sách trung ương
Căn cứ dự toán thu - chi ngân sách năm 2026 được Thủ tướng Chính
phủ giao, tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Đồng Nai đạt
100.400.000 triệu đồng; trong đó thu ngân sách địa phương được hưởng theo
phân cấp là 52.899.742 triệu đồng. Tổng thu ngân sách địa phương là
58.317.670 triệu đồng, bằng tổng dự toán chi ngân sách địa phương cùng
năm. Trong cơ cấu thu ngân sách địa phương không có khoản bổ sung cân đối
67
từ ngân sách trung ương. Ngân sách địa phương bảo đảm cân đối thu - chi
theo dự toán được giao, không phát sinh nhu cầu đề nghị ngân sách trung
ương bổ sung cân đối. Tỉnh Đồng Nai thuộc nhóm địa phương tự cân đối
ngân sách, không nhận trợ cấp cân đối từ ngân sách Trung ương.
Đánh giá: Vượt.
2.6.2. Tiêu chí mức độ đô thị hóa
(1) Tiêu chuẩn 1.II.07: Quy mô dân số đô thị ≥ 2.500.000 người
Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Đồng Nai có 23 phường, trong đó có: 07
phường đạt trình độ phát triển đô thị đối với đơn vị hành chính trong đô thị
loại II (Biên Hòa, Trấn Biên, Tam Hiệp, Long Bình, Phước Tân, Tam Phước,
Xuân Lập), 16 phường đạt trình độ phát triển đô thị đối với đơn vị hành chính
trong đô thị loại III (Long Hưng, Trảng Dài, Hố Nai, Tân Triều, Bảo Vinh,
Long Khánh, Hàng Gòn, Bình Lộc, Đồng Xoài, Bình Phước, Phước Long,
Phước Bình, Bình Long, An Lộc, Minh Hưng, Chơn Thành).
Bên cạnh đó, hiện có 10 xã đủ điều kiện thành lập phường theo quy
định tại Nghị quyết số 112/2025/UBTVQH15 ngày 24/12/2025 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội, gồm các xã: Long Thành, Nhơn Trạch, Trảng Bom,
Xuân Lộc, Tân Phú, Trị An, Dầu Giây, Đồng Phú, Lộc Ninh, Tân Khai. Đây
là những xã trọng điểm phát triển kinh tế xã hội và an ninh, quốc phòng và đã
được định hướng phát triển thành đơn vị hành chính đô thị (phường) tại điều
chỉnh Quy hoạch tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2050
được UBND tỉnh Đồng Nai phê duyệt tại Quyết định số 779/QĐ-UBND ngày
27/02/2026. Sau khi thực hiện thủ tục thành lập 10 phường mới trên toàn bộ
địa giới hành chính hiện hữu của 10 xã nêu trên thì tổng quy mô dân số đô thị
địa bàn tỉnh Đồng Nai là: 2.501.757 người.
Đánh giá: Vượt.
(2) Tiêu chuẩn 1.II.08: Tỷ lệ đô thị hóa từ 45%
Sau khi thực hiện thủ tục thành lập 10 phường mới trên toàn bộ địa giới
hành chính hiện hữu của 10 xã thì trên địa bàn Đồng Nai có 33/95 phường
với dân số đô thị là 2.501.757 người.
Dân số toàn tỉnh Đồng Nai hiện có: 4.836.798 người
Do đó, tỷ lệ đô thị hóa: 2.501.757/4.836.798 = 51,72%
Đánh giá: Vượt.
(3) Tiêu chuẩn 1.II.09: Tổng quy mô dân số các đô thị loại II ≥ 600.000
người
68
Trên địa bàn tỉnh Đồng Nai hiện có 03 đô thị loại II, gồm: toàn bộ
phạm vi của thành phố Biên Hòa cũ, thành phố Long Khánh cũ, thành phố
Đồng Xoài cũ.
- Dân số trong phạm vi của thành phố Biên Hòa cũ (Phường Biên Hòa,
phường Trấn Biên, phường Tam Hiệp, phường Long Bình, phường Long
Hưng, phường Phước Tân, phường Tam Phước, một phần phường Trảng Dài
(không bao gồm xã Thiện Tân của huyện Vĩnh Cửu cũ), một phần phường Hố
Nai (không bao gồm xã Hố Nai 3 của huyện Trảng Bom cũ), một phần
phường Tân Triều (không bao gồm xã Tân Bình, Bình Lợi, Thạnh Phú của
huyện Vĩnh Cửu cũ): 1.123.418 người
- Dân số trong phạm vi của thành phố Long Khánh cũ (Phường Bình
Lộc (không bao gồm phạm vi xã Xuân Thiện của huyện Thống Nhất cũ),
phường Bảo Vinh, phường Xuân Lập, phường Long Khánh, phường Hàng
Gòn): 169.840 người
- Dân số trong phạm vi của thành phố Đồng Xoài cũ (phường Đồng
Xoài, phường Bình Phước): 153.797 người
Do đó, tổng quy mô dân số các đô thị loại II trên địa bàn tỉnh hiện nay
là: 1.123.418 + 169.840 + 153.797=1.447.055 người>600.000 người.
Đánh giá: Vượt.
(4) Tiêu chuẩn 1.II.10: Có 50% số phường trở lên trên tổng số phường
đạt trình độ phát triển đô thị loại II
Sau khi thực hiện thủ tục thành lập 10 phường mới trên toàn bộ địa giới
hành chính hiện hữu của 10 xã thì trên địa bàn Đồng Nai có 33/95 phường,
trong đó có 07 phường đạt trình độ phát triển đô thị loại II.
Tỷ lệ số phường trên tổng số phường đạt trình độ phát triển đô thị loại
II: (7/33) x 100%=21,21%
Đánh giá: Chưa đạt.
2.6.3. Tiêu chí trình độ phát triển hạ tầng và tổ chức không gian đô thị
(1) Tiêu chuẩn 1.III.11: Có ≥ 02 đầu mối hạ tầng giao thông cấp khu
vực và quốc tế, cửa ngõ chính, trung tâm kết nối vùng
* Về hạ tầng giao thông đối ngoại và liên kết vùng
Đồng Nai là một trong những địa phương có mạng lưới giao thông liên
vùng phát triển mạnh của cả nước. Trên địa bàn tỉnh đã hình thành các trục
giao thông quan trọng như Quốc lộ 1, Quốc lộ 20, Quốc lộ 51, Quốc lộ 56,
69
Quốc lộ 13 và Quốc lộ 14, đóng vai trò kết nối Đồng Nai với Thành phố Hồ
Chí Minh, Tây Nguyên, Nam Trung Bộ và khu vực cửa khẩu quốc tế Hoa Lư.
Mạng lưới đường cao tốc liên vùng đang từng bước được hoàn thiện,
tạo thành các hành lang phát triển kinh tế quan trọng của khu vực phía Nam.
Các tuyến cao tốc như Thành phố Hồ Chí Minh - Long Thành - Dầu Giây,
Phan Thiết - Dầu Giây, Biên Hòa - Vũng Tàu, Bến Lức - Long Thành, Gia
Nghĩa - Chơn Thành, Thành phố Hồ Chí Minh - Thủ Dầu Một - Chơn Thành
và Dầu Giây - Liên Khương đang hình thành mạng lưới giao thông tốc độ cao
kết nối Đồng Nai với các trung tâm kinh tế lớn, các cảng biển quốc tế và các
vùng kinh tế động lực của cả nước. Bên cạnh đó, các tuyến Vành đai 3 và
Vành đai 4 của vùng Thành phố Hồ Chí Minh đang được triển khai xây dựng
theo tiêu chuẩn đường cao tốc, tạo điều kiện tăng cường liên kết giữa các đô
thị, khu công nghiệp và các trung tâm logistics của toàn vùng.
Đặc biệt, Cảng hàng không quốc tế Long Thành là công trình trọng
điểm quốc gia sẽ được đưa vào hoạt động tháng 6/2026.
* Về hạ tầng đường sắt
Tuyến đường sắt Bắc - Nam đi qua địa bàn tỉnh với chiều dài khoảng
87 km, đóng vai trò quan trọng trong vận tải hành khách và hàng hóa.
Trong thời gian tới, mạng lưới đường sắt của tỉnh sẽ tiếp tục được phát
triển với nhiều tuyến quan trọng như đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam, tuyến
Biên Hòa – Vũng Tàu, tuyến Biên Hòa – Lộc Ninh và tuyến Chơn Thành –
Đắk Nông, qua đó tăng cường khả năng vận chuyển hàng hóa giữa các khu
công nghiệp của Đồng Nai với hệ thống cảng biển và cửa khẩu quốc tế.
* Về hạ tầng giao thông đường thủy và logistics
Trên địa bàn Đồng Nai hiện có 90 km luồng hàng hải, 73 km luồng
đường thủy nội địa quốc gia, 154 km luồng đường thủy nội địa cấp tỉnh, tạo
điều kiện thuận lợi cho vận tải hàng hóa và kết nối với hệ thống cảng biển của
vùng Đông Nam Bộ. Theo quy hoạch phát triển hệ thống cảng biển Việt
Nam, cảng biển Đồng Nai thuộc nhóm cảng biển số 4 và là cảng biển loại I
trong hệ thống cảng biển quốc gia, với các khu bến quan trọng như Phước
An, Gò Dầu, Phước Thái, Nhơn Trạch và Long Bình Tân. Hệ thống cảng này
đóng vai trò quan trọng trong hoạt động xuất nhập khẩu của khu vực và hỗ
trợ phát triển công nghiệp, logistics của tỉnh.
Đánh giá: Đạt.
(2) Tiêu chuẩn 1.III.12: Có giao thông vận tải hành khách công cộng
bao phủ 100% đô thị loại II
70
Hiện nay, các đô thị loại II trên địa bàn tỉnh đều có các tuyến xe buýt
phục vụ nhu cầu đi lại cho người dân đô thị. Bên cạnh đó, trên địa bàn các đô
thị còn có các phương tiện phục vụ nhu cầu di chuyển của người dân đến các
mọi miền trên cả nước như các tuyến xe khách liên tỉnh, tuyến đường sắt Bắc
- Nam.
Đánh giá: Đạt.
(3) Tiêu chuẩn 1.III.13: Có ≥ 05 công trình kiến trúc, khu nhà ở, khu đô
thị đã được đầu tư xây dựng đạt giải thưởng quốc gia, quốc tế
Trên địa bàn tỉnh Đồng Nai có 05 công trình kiến trúc đã được đầu tư
xây dựng đạt giải thưởng quốc gia, quốc tế, cụ thể:
- Trường mầm non Farming Kindergarten tại phường Biên Hòa: đã
giành giải nhất Công trình của năm (Building of the year 2015) ở hạng
mục Công trình Giáo dục (Educational Architects) trên ArchDaily (Tạp chí
hàng đầu về kiến trúc trên thế giới) bình chọn; được Viện Kiến trúc Hoàng
gia Anh (RIBA) đề cử vào danh sách 30 công trình kiến trúc tiêu biểu trên thế
giới của năm 2016
- Trường quốc tế SNA Marianapolis Biên Hòa: Công trình đạt giải
Đồng Giải thưởng kiến trúc quốc gia 2022 – 2023, hạng mục Kiến trúc công
cộng
- Trụ sở văn phòng CP Việt Nam: Công trình đạt giải Bạc Giải thưởng
kiến trúc quốc gia 2024 – 2025.
- Khu văn phòng nhà máy ATAD Đồng Nai: Hội đồng Công trình
Xanh Hoa Kỳ (US Green Building Council – USGBC) vào tháng 9.2017, đã
chính thức trao 2 chứng nhận công trình xanh cho ATAD Đồng Nai, gồm:
Chứng nhận nhà máy đạt chuẩn LEED Gold và chứng nhận khu văn phòng
đạt chuẩn LEED PLATINUM. Như vậy, ATAD là doanh nghiệp đầu tiên tại
châu Á có công trình nhà máy kết cấu thép đạt chuẩn LEED Gold, và cũng là
công ty đầu tiên tại Việt Nam có văn phòng nhà máy được chứng nhận LEED
PLATINUM, cấp độ cao nhất của chuẩn LEED.
- Văn miếu Trấn Biên: là công trình kiến trúc tiêu biểu 50 năm thống
nhất đất nước; thuộc nhóm 30 địa danh lịch sử tiêu biểu tại Việt Nam. Ngày
02/07/2013, Tổ chức Kỷ lục Việt Nam đã xác lập kỷ lục đến Trung tâm Văn
miếu Trấn Biên với nội dung "Mô hình trống đồng làm bằng hoa lớn nhất ".
Đánh giá: Vượt.
(4) Tiêu chuẩn 1.III.14: Phát triển đô thị bền vững đạt một trong các
tiêu chuẩn sau: Đô thị thông minh mức độ 1 hoặc 50% số lượng đô thị loại II,
71
loại III có năng lực chống chịu, thích ứng với biến đổi khí hậu đạt mức khá
trở lên
Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Đồng Nai đang triển khai lập Đề án phát
triển đô thị thông minh theo quy định tại Nghị định số 269/2025/NĐ-CP ngày
14 tháng 10 năm 2025 của Chính phủ về việc phát triển đô thị thông minh.
Sau khi đề án được hoàn thành và đưa vào triển khai thực hiện sẽ từng bước
xây dựng, phát triển Đồng Nai trở thành đô thị thông minh bền vững.
Tại các đô thị loại II, loại III trên địa bàn tỉnh, đa số đều không chịu
ảnh hưởng lớn bởi biến đổi khí hậu, do ảnh hưởng bởi khí hậu chung của
miền Đông Nam bộ nên trên địa bàn các đô thị nhiệt độ thường tăng cao
trong mùa nắng nóng, để cải thiện tình hình chung này hiện nay tại các đô thị
đều gia tăng tỷ lệ cây xanh, mặt nước, đẩy nhanh tiến độ đầu tư công viên cây
xanh, hồ điều hòa theo quy hoạch được duyệt để giảm hiệu ứng đảo nhiệt
trong thời tiết nắng nóng kéo dài.
Đối với ba đô thị gồm Biên Hòa, Long Thành và Nhơn Trạch thuộc
khu vực phía Tây Nam của tỉnh Đồng Nai, có đặc điểm địa hình thấp, nhiều
khu vực ven sông Đồng Nai chịu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và nước
biển dâng, trong quá trình lập và phê duyệt quy hoạch chung các đô thị này,
nội dung quy hoạch cao độ nền và thoát nước mặt đã được nghiên cứu, đề
xuất trên cơ sở lồng ghép các kịch bản biến đổi khí hậu theo quy định. Các
nội dung này đã được phê duyệt tại: Quyết định số 2302/QĐ-UBND ngày
25/7/2014 của UBND tỉnh về điều chỉnh quy hoạch chung thành phố Biên
Hòa; Quyết định số 455/QĐ-TTg ngày 22/3/2016 của Thủ tướng Chính phủ
về điều chỉnh quy hoạch chung đô thị mới Nhơn Trạch; Quyết định số
3264/QĐ-UBND ngày 07/10/2016 của UBND tỉnh về điều chỉnh quy hoạch
chung thị trấn Long Thành và Quyết định số 628/QĐ-UBND ngày
03/3/2016 của UBND tỉnh về quy hoạch chung xây dựng Khu phức hợp đô
thị dịch vụ công nghiệp Long Thành.
Ngoài ra, tỉnh Đồng Nai đã ban hành và triển khai Kế hoạch hành
động ứng phó với biến đổi khí hậu trên địa bàn tỉnh, lồng ghép nội dung
thích ứng vào quy hoạch tỉnh, quy hoạch đô thị và chương trình phát triển
đô thị. Các đô thị loại II, loại III đã từng bước triển khai phương án phòng
chống thiên tai, nâng cao năng lực chống chịu của hệ thống hạ tầng kỹ thuật
và môi trường đô thị. Với việc triển khai đồng bộ các giải pháp nêu trên,
năng lực chống chịu và thích ứng với biến đổi khí hậu của các đô thị loại II,
loại III trên địa bàn tỉnh đã được nâng cao; qua rà soát, trên 50% số lượng
đô thị loại II, loại III đạt mức khá trở lên.
Đánh giá: Vượt.
72
(5) Tiêu chuẩn 1.III.15: Hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới
theo giai đoạn gần nhất đã được cấp có thẩm quyền công nhận
- Tỉnh Đồng Nai (cũ): Được công nhận hoàn thành xây dựng nông thôn
mới (NTM) theo Quyết định số 1423/QĐ-TTg ngày 18/10/2019 của Thủ
tướng Chính phủ và tiếp tục duy trì, giữ vững, nâng cao chất lượng các tiêu
chí về tỉnh hoàn thành xây dựng nông thôn mới theo Quyết định số 321/QĐ-
TTg ngày 08/3/2022, Quyết định số 125/QĐ-TTg ngày 15/01/2025 của Thủ
tướng Chính phủ.
+ Trước thời điểm 30/6/2025, toàn tỉnh 116/116 xã đạt chuẩn NTM
(100%); 114/116 xã đạt chuẩn NTM nâng cao (98,2%); 43 xã đạt chuẩn
NTM kiểu mẫu; 11 đơn vị cấp huyện hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông
thôn mới hoặc đạt chuẩn NTM; 05 huyện (Xuân Lộc, Thống Nhất, Định
Quán, Cẩm Mỹ, Vĩnh Cửu) đạt chuẩn NTM nâng cao và huyện Xuân Lộc
hoàn thành đề án thí điểm NTM kiểu mẫu.
- Tỉnh Bình Phước (cũ): Trước 30/06/2026, toàn tỉnh có 81 xã đạt
chuẩn NTM; 29 xã đạt chuẩn NTM nâng cao; 01 xã đạt chuẩn NTM kiểu
mẫu; 3 đơn vị cấp huyện hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới, còn
05 xã chưa công nhận nông thôn mới, cụ thể:
+ Đối với 03 xã (Bù Gia Mập, Lộc Phú, Phú Văn): UBND tỉnh Bình
Phước (cũ) dự kiến 03 xã đạt chuẩn nông thôn mới vào cuối năm 2025. Thực
hiện chỉ tiêu được giao, các xã đã tập trung hoàn thiện các tiêu chí, chỉ tiêu xã
nông thôn mới theo Bộ tiêu chí xã nông thôn mới tỉnh Bình Phước giai đoạn
2021 – 2025 ban hành tại Quyết định số 700/QĐ-UBND ngày 28/3/2025. Tuy
nhiên, do thực hiện chính quyền địa phương 02 cấp, các địa phương chưa kịp
hoàn thiện hồ sơ để trình công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới theo quy
định.
- Đối với 02 xã (Nghĩa Bình và xã Đồng Nai): Xã Nghĩa Bình (cũ) và
xã Đồng Nai (cũ) không thực hiện nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới, do
100% diện tích của hai xã nằm trong quy hoạch khoáng sản theo Quyết định
số 866/QĐ-TTg ngày 18/7/2023 của Thủ tướng Chính phủ (Cụ thể theo Kế
hoạch số 33/KH-UBND ngày 24/01/2025 của UBND tỉnh Bình Phước về xây
dựng nông thôn mới năm 2025).
Sau khi hợp nhất tỉnh Đồng Nai và tỉnh Bình Phước thành tỉnh Đồng
Nai mới. Theo hướng dẫn của trưng ương, qua rà soát, tỉnh Đồng Nai cơ bản
đáp ứng các tiêu chí tỉnh hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới theo
Quyết định số 321/QĐ-TTg ngày 08/3/2022 và Quyết định số 125/QĐ-TTg
ngày 15/01/2025 của Thủ tướng Chính phủ.
73
Một số kết quả nổi bật như:
+ Thu nhập bình quân đầu người toàn tỉnh năm 2025 đạt 86,01 triệu
đồng/người/năm, tăng 22,16 triệu đồng so năm 2021 (2021: 63,85 triệu
đồng); tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều của trung ương đạt 0,24%.
+ Hệ thống giao thông nông thôn đã phát triển cả về số lượng và nâng
cấp về chất lượng. Tỷ lệ đường xã được nhựa hóa hoặc bê tông hóa đạt
89,44%.
+ Về phát triển sản xuất nông nghiệp: tăng trưởng ổn định, bình quân
khoảng 3,8 - 4%/năm; các hình thức tổ chức tiếp tục đổi mới, toàn tỉnh có 560
chuỗi liên kết, 523 hợp tác xã, 490 sản phẩm OCOP, tiêu biểu trong đó 11 SP
đạt OCOP 5 sao.
+ Hệ thống thủy lợi và nước sạch nông thôn: toàn tỉnh có 215 công
trình thủy lợi đang hoạt động, diện tích tưới, tiêu từ các công trình 52.678 ha,
bên cạnh đó có trên 85 ngàn ha cây trộng cạn áp dụng hệ thống tưới tiên tiến,
tiết kiệm nước. Cuối năm 2025, tỷ lệ người dân nông thôn sử dụng nước sạch
đạt 79%.
+ Hệ thống trường học các cấp, mầm non, tiểu học, trung học cơ sở khu
vực nông thôn được củng cố và nâng cấp: toàn tỉnh có 70,65 % trường mầm
non, phổ thông
11
công lập đạt chuẩn quốc gia.
+ Công tác chăm sóc sức khỏe ngày càng hoàn thiện: 100% xã có trạm
y tế, trong đó có một số trạm y tế xã được nâng cấp thành phòng khám đa
khoa, trung tâm y tế khu vực; tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế đến cuối
năm 2025 đạt 95%.
+ Cơ sở hạ tầng thương mại nông thôn: toàn tỉnh có 136 chợ nông thôn
(tỉnh Đồng Nai cũ có 91 chợ; tỉnh Bình Phước cũ có 45 chợ) đạt chuẩn theo
quy định, về cơ bản đã đáp ứng nhu cầu mua bán, trao đổi hàng hóa của Nhân
dân khu vực nông thôn. Sàn giao dịch thương mại điện tử tỉnh Đồng Nai thực
hiện bước đầu đã thu hút nhiều doanh nghiệp, cơ sở tham gia.
+ Việc tuyên truyền phổ biến chủ trương, chính sách, pháp luật bảo vệ
môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu ngày càng được chú trọng: 100%
xã có tổ chức thu gom rác thải sinh hoạt trên địa bàn, tỷ lệ thu gom và xử lý
rác thải sinh hoạt đạt 78,5%, 44% số hộ dân toàn tỉnh thực hiện phân loại
chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn.
Đánh giá: Đạt.
11
Phổ thông, gồm: Tiểu học, Trung học cơ sở, Trung học phổ thông
74
Từ các kết quả phân tích đánh giá như đã nêu trên, hiện trạng tỉnh
Đồng Nai đạt 13/15 tiêu chuẩn của đô thị loại I (02 tiêu chuẩn chưa đạt là:
tiêu chuẩn số 2: Là trung tâm tổ chức ≥ 02 sự kiện quốc tế cấp khu vực trở
lên bình quân 03 năm gần nhất; Tiêu chuẩn số 10: có 50% số phường trở lên
trên tổng số phường đạt trình độ phát triển đô thị loại II).
Đối chiếu theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 9 Nghị quyết
111/2025/UBTVQH15: “a) Đô thị loại I phải có tối thiểu là 12 tiêu chuẩn đạt
theo quy định tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị quyết này, trong đó: tiêu
chí vai trò, vị trí và điều kiện phát triển kinh tế - xã hội đạt tối thiểu là 05 tiêu
chuẩn; tiêu chí mức độ đô thị hóa đạt tối thiểu là 03 tiêu chuẩn; tiêu chí trình
độ phát triển hạ tầng và tổ chức không gian đô thị đạt tối thiểu là 04 tiêu
chuẩn.”; thì hiện trạng phát triển đô thị trên địa bàn Đồng Nai hiện nay đã đạt
tiêu chí đô thị loại I. Hiện nay, Đồng Nai đã có Tờ trình số 40/TTr-UBND
ngày 23/3/2026 của UBND tỉnh Đồng Nai về việc đề nghị công nhận tỉnh
Đồng Nai đạt tiêu chí đô thị loại I.
2.6.5. Cơ cấu và trình độ phát triển kinh tế - xã hội
a) Cân đối thu chi ngân sách
Căn cứ dự toán thu – chi ngân sách năm 2026 được Thủ tướng Chính
phủ giao, tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn Đồng Nai đạt
100.400.000 triệu đồng; trong đó thu ngân sách địa phương được hưởng theo
phân cấp là 52.899.742 triệu đồng. Tổng thu ngân sách địa phương là
58.317.670 triệu đồng, bằng tổng dự toán chi ngân sách địa phương cùng
năm. Trong cơ cấu thu ngân sách địa phương không có khoản bổ sung cân đối
từ ngân sách trung ương. Ngân sách địa phương bảo đảm cân đối thu – chi
theo dự toán được giao, không phát sinh nhu cầu đề nghị ngân sách trung
ương bổ sung cân đối. Đồng Nai thuộc nhóm địa phương tự cân đối ngân
sách, không nhận trợ cấp cân đối từ ngân sách Trung ương và đóng góp lớn
cho ngân sách nhà nước, đạt quy định của thành phố.
+ Đánh giá: Vượt.
b) Thu nhập bình quân đầu người/tháng so với trung bình cả nước (lần)
Giai đoạn 2023-2025, thu nhập bình quân đầu người của Đồng Nai lần
lượt là 73,84 - 80,08 - 86 triệu đồng/người/năm; luôn cao hơn so với cả nước
giai đoạn 2023-2025 là 59,48 - 64,98 -71,02 triệu đồng/người/năm; vượt mức
quy định của thành phố là tối thiểu bằng với trung bình cả nước.
+ Đánh giá: Vượt.
c) Mức tăng trưởng kinh tế trung bình 03 năm gần nhất (%)
75
Giai đoạn 2023-2025, tốc độ tăng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP)
bình quân hàng năm của Đồng Nai là 7,18%; cao hơn tốc độ tăng tổng sản
phẩm trong nước (GDP) bình quân hàng năm là 6,84%; vượt mức quy định
của thành phố là tối thiểu bằng với trung bình cả nước.
+ Đánh giá: Vượt.
d) Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều trung bình 03 năm gần nhất
(%)
+ Hiện trạng: Giai đoạn 2023-2025, Đồng Nai có tỷ lệ hộ nghèo theo
chuẩn nghèo đa chiều (năm 2023 là 0,33%, năm 2024 là 0,26%, năm 2025 là
0,25%) thấp hơn so với tỷ lệ hộ nghèo bình quân của cả nước (năm 2023 là
2,93%; năm 2024 là 1,93%; năm 2025 là 1,3%).
+ Đánh giá: Vượt.
đ) Tỷ trọng công nghiệp, xây dựng và dịch vụ trong cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế GRDP của tỉnh năm 2025: Nông, lâm nghiệp, thủy sản
chiếm 12,13%, Công nghiệp – xây dựng là 54,97%, Dịch vụ là 26,42% và
Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 6,48%. Như vậy tổng tỷ trọng
Công nghiệp – xây dựng và Dịch vụ là 81,39%, vượt quy định của thành phố
là tối thiểu 80%.
+ Đánh giá: Vượt.
Phần thứ ba
PHƯƠNG ÁN THÀNH LẬP THÀNH PHỐ ĐỒNG NAI
TRỰC THUỘC TRUNG ƯƠNG
I. PHƯƠNG ÁN THÀNH LẬP THÀNH PHỐ ĐỒNG NAI TRỰC
THUỘC TRUNG ƯƠNG
Thành lập thành phố Đồng Nai trên cơ sở nguyên trạng toàn bộ địa giới
hành chính tỉnh Đồng Nai với 12.737,18 km
2
diện tích tự nhiên và quy mô
dân số là 4.491.408 người.
II. KẾT QUẢ SAU KHI THÀNH LẬP THÀNH PHỐ ĐỒNG NAI
TRỰC THUỘC TRUNG ƯƠNG
1. Thành phố Đồng Nai có diện tích tự nhiên là 12.737,18 km
2
; quy mô
dân số là 4.491.408 người; có 95 đơn vị hành chính cấp xã, gồm: 33
phường
12
, 62 xã.
12
Gồm 23 phường hiện nay và 10 xã: Long Thành, Nhơn Trạch, Trảng Bom, Dầu Giây, Xuân Lộc, Đồng Phú,
Tân Khai, Lộc Ninh, Trị An, Tân Phú
76
2. Địa giới hành chính tỉnh Đồng Nai: Phía Tây và Tây Nam giáp
Thành phố Hồ Chí Minh; Phía Tây Bắc giáp tỉnh Tây Ninh; Phía Đông giáp
tỉnh Lâm Đồng; Phía Bắc giáp Vương quốc Campuchia.
Phần thứ tư
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA
THÀNH PHỐ ĐỒNG NAI SAU KHI THÀNH LẬP
I. ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC THÀNH LẬP THÀNH
PHỐ ĐỒNG NAI
1. Tác động đến hoạt động quản lý nhà nước
1.1. Tác động tích cực
Việc thành lập thành phố Đồng Nai trực thuộc Trung ương trên cơ sở
toàn bộ địa giới hành chính hiện hữu tạo ra bước chuyển căn bản về mô hình
quản trị, từ cấp tỉnh sang mô hình chính quyền đô thị quy mô lớn, hiện đại,
qua đó nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trên tất cả các lĩnh vực.
Trước hết, về tổ chức bộ máy, việc chuyển đổi này tạo điều kiện tái cấu trúc
hệ thống chính quyền theo hướng tinh gọn, giảm tầng nấc trung gian, tăng
tính trực tiếp trong điều hành và nâng cao trách nhiệm giải trình của các cấp
chính quyền. Đồng thời, đây là cơ sở để chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, công
chức, viên chức theo tiêu chuẩn cao hơn, phù hợp với yêu cầu quản trị đô thị
hiện đại.
Trong lĩnh vực điều hành và cải cách hành chính, mô hình thành phố
trực thuộc Trung ương cho phép đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, rút ngắn
quy trình giải quyết công việc, qua đó nâng cao chất lượng phục vụ người dân
và doanh nghiệp. Yêu cầu quản trị đô thị với quy mô dân số lớn cũng tạo
động lực thúc đẩy chuyển đổi số, xây dựng chính quyền số và quản trị dựa
trên dữ liệu, góp phần nâng cao tính minh bạch và hiệu quả điều hành.
Đối với lĩnh vực kinh tế, tài chính - ngân sách, việc nâng cấp đơn vị
hành chính giúp nâng cao vị thế, tạo thuận lợi trong thu hút đầu tư, mở rộng
không gian phát triển và tăng khả năng huy động, phân bổ nguồn lực. Trên
nền tảng quy mô kinh tế lớn và nguồn thu ngân sách ổn định, thành phố có
điều kiện phát triển theo hướng công nghiệp hiện đại, dịch vụ chất lượng cao
và logistics, qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh.
Trong lĩnh vực quy hoạch, xây dựng và phát triển đô thị, việc thành lập
thành phố trực thuộc Trung ương cho phép lập quy hoạch tích hợp trên phạm
vi toàn đô thị, bảo đảm tính đồng bộ giữa phát triển công nghiệp, đô thị và hạ
77
tầng. Điều này góp phần nâng cao hiệu quả quản lý đất đai, kiểm soát phát
triển không gian đô thị, hình thành cấu trúc đô thị đa trung tâm và tăng cường
liên kết vùng.
Về văn hóa – xã hội, việc nâng cấp đơn vị hành chính tạo điều kiện cải
thiện chất lượng cung ứng dịch vụ công, nâng cao đời sống vật chất và tinh
thần của người dân, đồng thời tạo thêm nhiều cơ hội việc làm và thu hút
nguồn nhân lực chất lượng cao. Trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường, quy
mô quản lý lớn cho phép áp dụng các phương thức quản lý hiện đại, ứng dụng
công nghệ số trong giám sát, góp phần sử dụng hiệu quả tài nguyên và bảo vệ
môi trường. Đối với quốc phòng – an ninh, việc tổ chức lại bộ máy theo mô
hình đô thị giúp nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các lực lượng, tăng cường
khả năng kiểm soát tình hình an ninh trật tự trong điều kiện đô thị hóa nhanh.
Nhìn chung, việc thành lập thành phố Đồng Nai trực thuộc Trung ương
tạo ra nền tảng quan trọng để nâng cao chất lượng quản lý nhà nước, thúc đẩy
phát triển toàn diện và bền vững trên tất cả các lĩnh vực.
1.2. Hạn chế, khó khăn
Bên cạnh những tác động tích cực, quá trình chuyển đổi mô hình quản
lý cũng đặt ra nhiều khó khăn, thách thức cần được nhận diện đầy đủ. Trước
hết, việc sắp xếp lại tổ chức bộ máy và đơn vị hành chính trên quy mô lớn sẽ
dẫn đến biến động đáng kể về nhân sự, phát sinh yêu cầu bố trí, sắp xếp lại
đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, đồng thời phải giải quyết chế độ đối
với số cán bộ dôi dư, bảo đảm ổn định tổ chức trong giai đoạn chuyển tiếp.
Trong hoạt động quản lý nhà nước, khối lượng công việc tăng đột biến
khi phải đồng thời triển khai nhiều nhiệm vụ như xây dựng mô hình chính
quyền đô thị, hoàn thiện thể chế, điều chỉnh quy hoạch, chuyển đổi hệ thống
quản lý và số hóa dữ liệu. Điều này tạo áp lực lớn về nguồn lực, thời gian và
năng lực điều hành, nhất là trong bối cảnh yêu cầu phối hợp liên ngành, liên
cấp ngày càng cao.
Về thể chế, một số quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp yêu cầu
của mô hình đô thị quy mô lớn, đặc biệt trong các lĩnh vực phân cấp, quản lý
biên chế, tài chính – ngân sách và quản lý đô thị, dẫn đến những vướng mắc
trong quá trình tổ chức thực hiện. Đồng thời, chất lượng đội ngũ cán bộ ở một
số lĩnh vực, nhất là cấp cơ sở, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu về quản trị hiện
đại, chuyển đổi số và quản lý đô thị.
Bên cạnh đó, quá trình đô thị hóa nhanh với quy mô dân số lớn cũng
gây áp lực đáng kể lên hệ thống hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội, bao gồm
giao thông, nhà ở, y tế, giáo dục và môi trường. Sự gia tăng dân số cơ học,
78
đặc biệt là lao động nhập cư, đặt ra thách thức trong quản lý dân cư, bảo đảm
an sinh xã hội và giữ gìn trật tự an toàn xã hội. Ngoài ra, phát triển công
nghiệp với mật độ cao tiềm ẩn nguy cơ gia tăng ô nhiễm môi trường và áp lực
sử dụng tài nguyên nếu không được kiểm soát chặt chẽ.
1.3. Giải pháp
Để phát huy các tác động tích cực và khắc phục những khó khăn, thách
thức nêu trên, cần triển khai đồng bộ các giải pháp phù hợp với yêu cầu của
mô hình thành phố trực thuộc Trung ương. Trước hết, cần tập trung hoàn
thiện thể chế và cơ chế chính sách theo hướng tăng cường phân cấp, phân
quyền, bảo đảm tính chủ động, linh hoạt trong quản lý, đồng thời tháo gỡ các
vướng mắc về tổ chức bộ máy, biên chế, tài chính – ngân sách và quản lý đô
thị.
Song song đó, việc sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy cần được thực
hiện theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, gắn với vị trí việc làm và nâng
cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Công tác đào tạo, bồi
dưỡng cần được đẩy mạnh nhằm nâng cao năng lực quản trị, đặc biệt trong
các lĩnh vực chuyển đổi số, quy hoạch đô thị và quản lý hiện đại, đồng thời có
chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao.
Trong lĩnh vực quản lý nhà nước, cần đẩy mạnh cải cách hành chính
gắn với chuyển đổi số, xây dựng chính quyền số, phát triển hệ thống cơ sở dữ
liệu dùng chung, nâng cao hiệu quả điều hành và cung ứng dịch vụ công.
Đồng thời, cần tập trung hoàn thiện quy hoạch đô thị, ưu tiên đầu tư phát triển
hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội đồng bộ, kiểm soát chặt chẽ quá trình phát
triển đô thị theo quy hoạch được phê duyệt.
Đối với các lĩnh vực kinh tế – xã hội, cần có giải pháp phát triển cân
đối giữa các khu vực, bảo đảm an sinh xã hội, phát triển nhà ở, nâng cao chất
lượng dịch vụ y tế, giáo dục và quản lý hiệu quả lao động nhập cư. Trong lĩnh
vực tài nguyên và môi trường, cần tăng cường kiểm soát ô nhiễm, ứng dụng
công nghệ trong giám sát và quản lý, hướng tới phát triển bền vững.
Về tổng thể, cần bảo đảm nguồn lực thực hiện thông qua việc huy động
đa dạng các nguồn lực tài chính, kết hợp giữa ngân sách nhà nước và xã hội
hóa, đồng thời xây dựng lộ trình triển khai phù hợp, bảo đảm tính khả thi và
hiệu quả trong quá trình chuyển đổi và phát triển thành phố Đồng Nai trực
thuộc Trung ương.
2. Tác động đến phát triển kinh tế - xã hội
2.1. Tác động tích cực
79
- Thứ nhất, nâng cao vị thế, quy mô, thuận lợi trong việc Đồng Nai chủ
động quyết định các dự án lớn. Đồng thời, sẽ tạo sức bật mới, động lực mới
của vùng Đông Nam Bộ, khu vực phía nam, góp phần thực hiện chiến lược
phát triển đô thị quốc gia.
- Thứ hai, phát huy vai trò của các chủ thể ngoài nhà nước tham gia vào
công việc quản trị đô thị, hướng tới sự đồng thuận xã hội, kết hợp hài hòa lợi
ích của chủ thể Nhà nước với lợi ích của chủ thể ngoài Nhà nước và lợi ích
của cư dân đô thị. Đồng thời, huy động các chủ thể tham gia có hiệu quả vào
các hoạt động quản trị đô thị (dịch vụ công, dịch vụ hành chính công, dịch vụ
sự nghiệp công và dịch vụ công ích) đáp ứng yêu cầu của người dân.
- Thứ ba, các hoạt động quản lý nhà nước và cung ứng dịch vụ công
được thực hiện công khai, minh bạch như là một tất yếu khách quan của dân
cư đô thị trong quá trình xây dựng, tổ chức thực thi chính sách, chiến lược
quy hoạch và cung ứng dịch vụ công của chính quyền đô thị.
- Thứ tư, xây dựng đô thị thông minh, hiện đại. Xây dựng đô thị thông
minh, hiện đại trên cơ sở ứng dụng công nghệ thông tin và nhất là công nghệ
số góp phần rút ngắn được thời gian phát triển, hướng tới quản trị thành phố
hoạt động hiệu lực, hiệu quả.
- Thứ năm, về chính sách, đầu tư và phát triển hạ tầng: Được hưởng cơ
chế, chính sách đặc thù, phân cấp quản lý cao hơn, thu hút vốn FDI và đầu tư
công mạnh mẽ. Hạ tầng kỹ thuật và xã hội, nhất là hạ tầng giao thông kết nối
được đầu tư đồng bộ, hiện đại, nâng cao chất lượng sống người dân.
- Thứ sáu, kinh tế tăng trưởng phát triển: Đồng Nai trở thành một cực
tăng trưởng năng động, có sức cạnh tranh và sức lan tỏa lớn, đi đầu trong phát
triển kinh tế hàng không, kinh tế bạc, kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tầm
thấp, công nghiệp công nghệ cao, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và
chuyển đổi số. Đồng Nai trở thành thành phố công nghiệp công nghệ cao, đô
thị hiện đại, trung tâm logistics và nông nghiệp công nghệ cao tiêu biểu của
cả nước.
- Thứ bảy, về an sinh xã hội, chất lượng, mức sống dân cư: Khi kinh tế
tăng trưởng phát triển, thu hút đầu tư phát huy hiệu quả, các nguồn lực được
huy động và đầu tư có trọng tâm, trọng điểm; các cơ chế chính sách được
triển khai đồng bộ góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân
như: tạo việc làm bền vững, thu nhập cải thiện, đặc biệt với công nhân và
người thu nhập thấp. Các chương trình nhà ở xã hội gắn với hạ tầng thiết yếu
như trường học, cơ sở y tế, thiết chế văn hóa được chú trọng đầu tư phát triển.
Môi trường sống lành mạnh, thúc đẩy lối sống tích cực và tăng cường các
hoạt động cộng đồng; người dân được tiếp cận dịch vụ công tốt nhất, như
80
giảm thời gian chờ khám bệnh, nâng chất lượng giáo dục, phát triển giao
thông công cộng để giảm ùn tắc và áp lực đô thị….
2.2. Hạn chế, khó khăn và thách thức
Thứ nhất, áp lực về quản lý nhà nước: Bộ máy quản lý đô thị lớn, phức
tạp, đòi hỏi năng lực quản trị cao. Cơ cấu tổ chức bộ máy chính quyền thành
phố thuộc thành phố trực thuộc Trung ương phải tinh gọn, thống nhất, hiệu
lực, hiệu quả. Việc chuyển đổi mô hình tổ chức quản lý nhà nước từ tỉnh sang
thành phố trực thuộc Trung ương cũng đặt ra những yêu cầu mới về nâng cao
năng lực quản lý nhà nước của đội ngũ cán bộ, công chức; trong đó, có các
lĩnh vực như quy hoạch đô thị, quản lý trật tự đô thị, kiến trúc cảnh quan.
- Thứ hai, về quy hoạch và quản lý đô thị: Việc quy hoạch không gian,
quản lý dân cư và đảm bảo dịch vụ công (giáo dục, y tế, an ninh trật tự) trở
nên phức tạp hơn khi quy mô dân số tăng lên. Đồng thời, việc gia tăng dân số
tác động nhiều đến quy hoạch phát triển mạng lưới giao thông, cấp thoát
nước, xử lý rác thải và chống ngập úng khi đô thị hóa nhanh.
- Thứ ba, thách thức về phát triển kinh tế, an sinh xã hội: Để bảo đảm
đạt và duy trì tiêu chuẩn thành phố trực thuộc Trung ương, đòi hỏi phải tăng
cường huy động các nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội, chuyển dịch cơ cấu
kinh tế theo hướng công nghiệp – dịch vụ -nông nghiệp phù hợp với các tiềm
năng, lợi thế của tỉnh, trong đó, xây dựng các hành lang kinh tế, vành đai
công nghiệp, hệ thống đô thị, các ngành dịch vụ, logistics gắn với các hành
lang giao thông kết nối vùng, liên vùng và quốc tế; đẩy mạnh cơ cấu lại
ngành nông nghiệp gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng và xây dựng nông
thôn mới theo hướng bền vững, thân thiện với môi trường, thích ứng với biến
đổi khí hậu đảm bảo tăng trưởng GRDP cao và bền vững.
- Thứ tư, về môi trường và xã hội: Nguy cơ ô nhiễm, rác thải đô thị và
gia tăng chênh lệch giàu nghèo.
2.3. Giải pháp
- Thứ nhất, về cơ cấu tổ chức bộ máy:
+ Xây dựng bộ máy quản lý nhà nước đủ năng lực thực hiện chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền thành phố tinh gọn, thống nhất,
hiệu lực, hiệu quả.
+ Đổi mới mạnh mẽ quản trị đô thị theo hướng chính quyền số, kiến tạo
và phục vụ. Vận hành đồng bộ hiệu quả chính quyền địa phương hai cấp, bảo
đảm trơn tru, đồng bộ, rõ thẩm quyền, trách nhiệm, phải phục vụ người dân,
doanh nghiệp nhanh hơn, hiệu quả hơn; đặc biệt chú ý đến năng lực cấp xã.
Thực hiện số hóa dữ liệu về quy hoạch, đất đai, đầu tư, xây dựng và công
81
khai trên nền tảng số. Thực hiện quyết liệt, hiệu quả cải cách hành chính,
hướng tới một mô hình quản trị đô thị hiện đại, minh bạch và dựa trên dữ
liệu.
- Thứ hai, về quy hoạch, quản lý đô thị:
+ Tập trung nguồn lực để cải tạo hạ tầng kỹ thuật của thành phố, chỉnh
trang đô thị hiện tại vừa bảo tồn phát huy các giá trị bản sắc văn hóa, vừa hiện
đại các công trình mới, hài hòa các môi trường văn hóa - xã hội và môi
trường tự nhiên. Song song đó, chú trọng đầu tư xây dựng các đô thị mới, đô
thị ven sông, hình thành một chuỗi đô thị hiện đại, đồng bộ về kết cấu hạ tầng
- kinh tế kỹ thuật, hạ tầng kết cấu văn hóa - xã hội…
+ Phát triển đô thị gắn với mô hình TOD, phát triển nén, hỗn hợp, thiết
lập các không gian đặc trưng quanh các nhà ga giao thông công cộng. Đối với
các khu vực đô thị có mật độ dân số cao, xem xét phát triển không gian ngầm
cho các công trình hạ tầng hoặc các công trình xây dựng để tối ưu hoá nguồn
lực đất đai…
+ Đầu tư, nâng cấp xây dựng phát triển hạ tầng giao thông, điện nước,
viễn thông và các dịch vụ tương xứng với vị thế mới của thành phố.
- Thứ ba, về nguồn lực đầu tư và tăng trưởng kinh tế:
+ Triển khai quyết liệt các cơ chế, chính sách để huy động và phân bổ
hiệu quả mọi nguồn lực phát triển; tạo cơ chế mới thu hút nguồn lực và cơ
cấu lại thu – chi ngân sách theo hướng tăng kỷ luật tài chính, ưu tiên chi đầu
tư phát triển và giảm dần chi thường xuyên; đồng thời khai thác hiệu quả tài
sản công, …
+ Phát triển mạnh khu vực kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan
trọng nhất của tăng trưởng, xây dựng môi trường đầu tư kinh doanh minh
bạch, ổn định, chi phí thấp và thủ tục nhanh; hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ, siêu
nhỏ và hộ kinh doanh chuyển đổi lên doanh nghiệp; đồng thời cung cấp các
nền tảng số, dịch vụ tư vấn pháp lý, kế toán, quản trị và đào tạo nhân lực.
Cùng với đó là khuyến khích khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo và phát triển các
doanh nghiệp công nghệ, logistics, công nghiệp hỗ trợ và dịch vụ cảng hàng
không, …
- Thứ tư, về đảm bảo an sinh xã hội, nâng cao chất lượng và mức sống
của người dân.
+ Tiếp tục quan tâm đầu tư cho con người, đặc biệt quan tâm đến lực
lượng lao động, nhất là công nhân trong các khu công nghiệp, công nhân
cảng biển, người lao động nhập cư và các nhóm yếu thế trong xã hội. Phát
triển công nghiệp gắn với phát triển đồng bộ hạ tầng xã hội cho người lao
82
động. Đẩy mạnh chương trình phát triển nhà ở xã hội, khu lưu trú công nhân,
đồng thời xây dựng các thiết chế văn hóa, giáo dục, y tế, nhà trẻ và dịch vụ
công cộng ngay trong hoặc gần các khu công nghiệp để người lao động có
điều kiện sinh sống ổn định, an toàn và nhân văn.
+ Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực,
tạo cơ hội học tập suốt đời cho người dân. Phát triển mạnh hệ thống đào tạo
nghề hiện đại gắn với nhu cầu của các ngành công nghiệp, logistics, kinh tế
cảng hàng không và công nghệ cao, qua đó nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo có
bằng cấp, chứng chỉ lên mức cao hơn trong những năm tới.
+ Phát triển hệ thống y tế theo hướng hiện đại, công bằng và lấy người
dân làm trung tâm. Chú trọng đầu tư nâng cao năng lực hệ thống y tế từ tuyến
cơ sở đến tuyến chuyên sâu, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong khám
chữa bệnh, phòng chống dịch bệnh và chăm sóc sức khỏe cộng đồng….
+ Xây dựng hệ thống an sinh xã hội toàn diện và bao trùm. Triển khai
hiệu quả các chương trình giảm nghèo bền vững, tạo sinh kế và cơ hội việc
làm cho người dân; hỗ trợ các nhóm dễ bị tổn thương; mở rộng mạng lưới
bảo trợ xã hội; đồng thời phát triển thị trường lao động hiện đại, minh bạch và
linh hoạt.
- Thứ năm, về bảo vệ môi trường: Song song với phát triển kinh tế,
nâng cao chất lượng mức sống người dân, thực hiện xây dựng môi trường
sống xanh, an toàn và bền vững. Tăng cường quản lý tài nguyên, kiểm soát ô
nhiễm môi trường, đẩy mạnh phân loại và xử lý chất thải, phát triển đô thị
xanh và thích ứng với biến đổi khí hậu, qua đó bảo vệ sức khỏe và tương lai
lâu dài của người dân.
3. Tác động về môi trường
3.1. Tác động tích cực
- Chuyển đổi tư duy quản lý: Việc thành lập thành phố trực thuộc
Trung ương tạo động lực chuyển đổi mạnh mẽ từ mô hình kinh tế truyền
thống sang kinh tế xanh, kinh tế số và kinh tế tuần hoàn, giúp giảm thiểu phát
thải từ gốc; đồng thời tăng cường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; ứng dụng công
nghệ số trong quản lý môi trường.
- Thúc đẩy đầu tư đồng bộ hạ tầng bảo vệ môi trường: Tập trung nguồn
lực xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật môi trường theo hướng hiện
đại, thông minh và bền vững, thay thế cho các hạ tầng phân tán, lạc hậu; thúc
đẩy đầu tư vào hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt đô thị, chất thải rắn, thoát
nước đô thị, góp phần cải thiện chất lượng môi trường.
83
- Phát triển đô thị sinh thái: Mô hình đô thị giàu bản sắc, gắn kết giữa
đô thị - công nghiệp - dịch vụ - sinh thái sẽ hình thành những "lá phổi xanh"
quy mô lớn, giúp bảo vệ đa dạng sinh học và chủ động thích ứng với biến đổi
khí hậu.
- Giảm thiểu ô nhiễm nông nghiệp: Định hướng phát triển nông nghiệp
hữu cơ, công nghệ cao giúp cắt giảm đáng kể lượng hóa chất, thuốc bảo vệ
thực vật xả thải ra môi trường đất và nguồn nước sông Đồng Nai.
3.2. Hạn chế, khó khăn
- Gia tăng áp lực ô nhiễm môi trường và nguy cơ quá tải hạ tầng kỹ
thuật môi trường: Áp lực từ quy mô dân số và đô thị hóa, sự gia tăng dân số
cơ học và phát triển nóng các khu vực đô thị sân bay, trung tâm logistics tạo
áp lực cực lớn lên khả năng tiếp nhận và xử lý của hệ thống thoát nước, xử lý
thải và thu gom chất thải rắn sinh hoạt hiện hữu, làm gia tăng áp lực và nguy
cơ ô nhiễm môi trường.
- Xung đột lợi ích phát triển: Sự mâu thuẫn giữa mục tiêu phát triển
công nghiệp công nghệ cao, logistics với yêu cầu bảo tồn nghiêm ngặt tài
nguyên nước và đa dạng sinh học tại các khu vực nhạy cảm, khu vực cần bảo
vệ nghiêm ngặt về môi trường.
3.3. Giải pháp
- Số hóa quản lý môi trường: Đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ,
chuyển đổi số trong việc lập bảng theo dõi chi tiết các chỉ tiêu môi trường và
chuẩn hóa số liệu thống kê, kiểm soát phát thải.
- Quy hoạch hạ tầng đi trước một bước: Sở Xây dựng phối hợp Sở
Nông nghiệp và Môi trường sớm hoàn thiện quy hoạch hạ tầng kỹ thuật, nhất
là các hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt đô thị tập trung và nhà máy xử lý
rác thải hiện đại cho các đô thị mới.
- Tăng cường rà soát hiện trạng: Tổ chức rà soát toàn bộ hồ sơ bản đồ,
hiện trạng công tác bảo vệ môi trường tại 10 xã dự kiến lên phường để có
phương án đầu tư công trình bảo vệ môi trường tương xứng với cấp hành
chính mới, đáp ứng các chỉ tiêu môi trường.
- Phát triển đô thị xanh: Khuyến khích hình thành các mô hình đô thị
xanh, tiết kiệm năng lượng, tái sử dụng chất thải, tăng cường diện tích cây
xanh đô thị; phát triển giao thông công cộng, giảm phát thải khí nhà kính.
- Hợp tác liên ngành và cộng đồng: Thiết lập cơ chế phối hợp chặt chẽ
giữa các sở ngành và địa phương để nắm bắt dư luận, tạo sự đồng thuận xã
84
hội trong công tác bảo vệ môi trường, hài hòa giữa phát triển và bảo vệ môi
trường.
4. Tác động về quốc phòng, an ninh
4.1. Về quốc phòng
Trong những năm tới, tình hình chính trị - an ninh thế giới, khu vực khả
năng tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường; tình hình KT-XH tiếp tục có
những bước phát triển mới, LLVT tỉnh thực hiện nhiệm vụ trong điều kiện
thuận lợi, QP-AN tiếp tục được củng cố và giữ vững; quan hệ đối ngoại được
củng cố và tăng cường. LLVT tỉnh tiếp tục được đầu tư, xây dựng theo hướng
cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, nhiều chủ trương lớn của
Đảng, Nhà nước về nhiệm vụ quân sự, quốc phòng được triển khai thực hiện.
Trong nước và trên địa bàn tỉnh, tình hình KT-XH tiếp tục phát triển,
QP-AN được giữ vững, an sinh xã hội được bảo đảm; công tác xây dựng,
chỉnh đốn Đảng, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực sẽ đạt nhiều kết quả.
4.1.1. Tác động tích cực
Tạo chuyển biến mạnh mẽ và toàn diện sức mạnh tổng hợp trong xây
dựng nền quốc phòng toàn dân, tiềm lực khu vực phòng thủ không ngừng
được củng cố, tăng cường.
Giữ vững ổn định chính trị - xã hội, nắm tình hình địa bàn, bảo đảm an
ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn, hạn chế các điểm nóng,
không để xảy ra bất ổn, tạo môi trưởng ổn định lâu dài.
Tạo điều kiện phát triển kinh tế, môi trường an ninh ổn định giúp thu
hút đầu tư trong và ngoài nước; các khu công nghiệp, dự án lớn phát triển
thuận lợi góp phần tăng trưởng kinh tế.
Luôn luôn củng cố khu vực phòng thủ vững chắc, xây dựng thế trận
quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, kết hợp chặt chẽ giữ
phát triển kinh tế với củng cố quốc phòng.
Nâng cao chất lượng LLVT địa phương, lực lượng quân sự, công an
được tổ chức chính quy, tinh nhuệ sẵn sàng xử lý hiệu quả các tình huống an
ninh truyền thống và phi truyền thống.
Đẩy mạnh phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, nâng cao ý
thức cảnh giác, trách nhiệm của người dân, huy động được sức mạnh toàn dân
tham gia giữ gìn an ninh trật tự.
Nâng cao hiệu quả công tác phòng chống tội phạm và tệ nạn xã hội,
kiềm chế kéo giảm các loại tội phạm, đặc biệt ở khu đô thị, khu công nghiệp,
đảm bảo môi trường sống an toàn cho người dân.
85
Tăng cường công tác phối hợp giữa các lực lượng, công an, quân sự và
các lực lượng khác phối hợp chặt chẽ trong xử lý các tình huống, góp phần
nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về an ninh trật tự.
Chủ động làm tốt công tác phòng ngừa các nguy cơ mất an ninh, kịp
thời phát hiện ngăn chặn các âm mưu gây rối, phá hoại, bảo đảm an ninh kinh
tế, an ninh nội bộ và an ninh thông tin.
4.1.2. Hạn chế, khó khăn
Các vấn đề an ninh phi truyền thống về thiên tai, hạn hán, dịch bệnh, an
ninh chính trị tuyến biên giới diễn biến phức tạp, hoạt động của các thế lực
phản động, phần tử chống đối, hoạt động tôn giáo trái pháp luật tiếp tục xảy
ra; thông tin trên mạng xã hội đa chiều, khó kiểm soát; những vấn đề bất cập
trong xã hội, bức xúc trong nhân dân, hiện tượng khiếu kiện đất đai, đình
công, lãn công tại các khu công nghiệp… chưa được giải quyết dứt điểm và
sự gia tăng dân số ở các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh vẫn tiềm ẩn những
nhân tố gây mất ổn định.
Các thế lực thù địch, đối tượng phản động, cơ hội chính trị tăng cường
hoạt động chống phá trên nhiều lĩnh vực; tiếp tục lợi dụng các vấn đề “dân chủ”,
“nhân quyền”, dân tộc, tôn giáo, tuyên truyền kích động thực hiện chiến lược
“Diễn biến hòa bình”, “phi chính trị hóa LLVT”, bạo loạn lật đổ. Các vấn đề bất
cập trong xã hội, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, suy thoái tư tưởng chính
trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của một bộ phận cán
bộ, đảng viên vẫn còn diễn ra. Trên một số địa bàn trọng điểm của tỉnh, tiềm ẩn
những nhân tố gây mất ổn định về an ninh trật tự.
Các đối tượng thù địch trong và ngoài nước lợi dụng các vấn đề nhạy
cảm trong công tác quản lý nhà nước về KT-XH gắn với tăng cường củng cố
QP-AN để gia tăng các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước; tạo dư luận
trái chiều trong công tác xây dựng Đề án thành lập thành phố Đồng Nai trực
thuộc trung ương, nhất là trên không gian mạng.
4.1.3. Giải pháp
Giữ vững vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối
với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ bảo vệ Tổ quốc. Xây dựng cấp ủy, tổ chức
đảng các cấp thật sự trong sạch, vững mạnh, có năng lực lãnh đạo và sức chiến
đấu cao; phát huy hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành của chính quyền; không
ngừng củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân.
Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội. Giữ vững
môi trường hoà bình, ổn định để phát triển KT-XH. Bảo vệ Tổ quốc là trách
nhiệm, nghĩa vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân; nêu cao cảnh giác, nắm và
86
dự báo chính xác tình hình, chuẩn bị mọi mặt để bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa,
từ khi chưa lâm nguy, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống.
Kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc;
phát huy mọi tiềm năng, thế mạnh của tỉnh, tranh thủ tối đa và khai thác có
hiệu quả mọi thuận lợi, thời cơ từ bên ngoài; nắm chắc nhiệm vụ phát triển
KT-XH là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt, phát triển văn hóa là nền
tảng tinh thần, bảo đảm QP-AN là trọng yếu, thường xuyên.
Phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân, của cả hệ thống
chính trị, lấy xây dựng thế trận lòng dân làm cơ sở, từng bước xây dựng tiềm
lực QP-AN, các tiềm lực trong khu vực phòng thủ; xây dựng nền quốc phòng
toàn dân, gắn xây dựng thế trận an ninh nhân dân, Biên phòng toàn dân vững
chắc.
Tăng cường, mở rộng quan hệ đối ngoại, hợp tác và hội nhập quốc tế;
thực hiện tốt quan điểm “đối tác”, “đối tượng”, hợp tác và đấu tranh; chủ
động phòng ngừa, kịp thời phát hiện và xử lý có hiệu quả các vấn đề có ảnh
hưởng đến an ninh quốc gia.
4.2. Về an ninh, trật tự
4.2.1. Tác động tích cực
Việc thành lập Thành phố Đồng Nai trực thuộc Trung ương có tác động
tích cực rất lớn đối với công tác bảo đảm ANTT trên địa bàn. Trước hết, nó
tạo cơ sở chính trị - pháp lý để nâng cấp mô hình quản trị địa bàn, tổ chức
không gian phát triển và huy động nguồn lực đầu tư cho hạ tầng an ninh, hạ
tầng số, giao thông thông minh, PCCC, trung tâm chỉ huy điều hành tác chiến
quản lý ANTT, cơ sở dữ liệu, camera giám sát, các thiết chế quản lý đô thị
hiện đại. Cùng với đó là các đột phá về nguồn nhân lực chất lượng cao, hạ
tầng giao thông đồng bộ, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi
số. Điều này tạo điều kiện để lực lượng Công an chuyển mạnh sang phương
thức bảo đảm ANTT trên nền tảng số, kết hợp quản trị xã hội hiện đại với
quản lý chặt chẽ ngay từ cơ sở.
4.2.2. Hạn chế, khó khăn
Việc thành lập Thành phố Đồng Nai cũng làm gia tăng khó khăn, thách
thức cho công tác bảo đảm ANTT. Tạo ra sự thu hút dân số cơ học lớn hơn,
tính chất đô thị, công nghiệp, biên giới, tôn giáo, dân tộc đan xen phức tạp
hơn; các áp lực về đất đai, đầu cơ bất động sản, xây dựng trái phép, giải
phóng mặt bằng, tái định cư, khiếu kiện, tranh chấp lao động, đình công, lưu
trú, ma túy, tội phạm công nghệ cao, tội phạm xuyên địa bàn và xuyên biên
giới đều có thể tăng.
87
4.2.3. Giải pháp
Vì vậy, tác động đối với ANTT là hai chiều: vừa mở ra không gian mới
để nâng tầm quản trị an ninh đô thị, vừa làm tăng yêu cầu đối với dự báo
chiến lược, quản trị dữ liệu, quản lý địa bàn, xử lý tình huống từ sớm, từ xa,
từ cơ sở.
5. Tác động về cải cách thủ tục hành chính và cung cấp dịch vụ
công
5.1. Tác động tích cực
- Tiết kiệm thời gian và chi phí tuân thủ: Tập trung thực hiện cắt giảm và
đơn giản hóa thủ tục hành chính, đặc biệt là những thủ tục liên quan trực tiếp
đến hoạt động sản xuất, kinh doanh. Các quy trình giải quyết TTHC được tái
cấu trúc, rút ngắn đáng kể, loại bỏ nhiều giấy tờ không cần thiết, giúp giảm
gánh nặng cho người dân và doanh nghiệp. Song song đó, tỉnh đã tiến hành rà
soát, đánh giá và cung cấp dịch vụ công trực tuyến ở nhiều lĩnh vực. Nhờ vậy,
người dân và doanh nghiệp có thể nộp hồ sơ, theo dõi tiến độ xử lý và tra cứu
kết quả qua mạng, hạn chế tối đa việc phải đi lại nhiều lần đến cơ quan hành
chính. Điều này không chỉ tiết kiệm chi phí tuân thủ mà còn góp phần nâng cao
sự hài lòng, tạo thuận lợi cho hoạt động sản xuất - kinh doanh, thúc đẩy môi
trường đầu tư minh bạch và hiệu quả hơn.
- Nâng cao chất lượng phục vụ người dân và doanh nghiệp: Trong thời
gian qua, Đồng Nai đã chú trọng tiếp nhận và giải quyết hồ sơ thủ tục hành
chính đúng hạn và trước thời hạn quy định, tạo thuận lợi tối đa cho người dân
và doanh nghiệp. Riêng trong năm 2025, tỷ lệ hồ sơ được giải quyết đúng hạn
và trước hạn đạt 98%, thể hiện sự quyết tâm của chính quyền trong việc nâng
cao hiệu quả phục vụ. Chất lượng dịch vụ công của tỉnh được Cổng Dịch vụ
công quốc gia đánh giá ở mức tốt, xếp hạng 04/34 tỉnh, thành phố trên cả
nước. Đây là kết quả quan trọng, góp phần cải thiện môi trường đầu tư, kinh
doanh, đồng thời cắt giảm chi phí xã hội trong quá trình thực hiện TTHC. Các
hồ sơ hành chính được xử lý nhanh chóng, minh bạch, tạo niềm tin cho người
dân và doanh nghiệp.
- Thúc đẩy chuyển đổi số: Đến nay, tỷ lệ TTHC cung cấp dịch vụ công
trực tuyến đạt 95% (100% thủ tục hành chính liên quan đến doanh nghiệp
được thực hiện trực tuyến, thông suốt, liền mạch, hiệu quả, bảo đảm minh
bạch, giảm tối đa giấy tờ); 100% TTHC được triển khai thực hiện không phụ
thuộc vào địa giới hành chính trên địa bàn tỉnh. Bảo đảm việc hoàn thiện,
nâng cấp Hệ thống thông tin giải quyết TTHC cấp tỉnh, đồng bộ hồ sơ với
Cổng dịch vụ công quốc gia; triển khai hiệu quả số hóa hồ sơ, cấp kết quả
88
điện tử và tái sử dụng thông tin, dữ liệu điện tử đối với giấy tờ đã được số
hóa.
- Cải thiện môi trường đầu tư - kinh doanh: Công tác cải cách thủ tục
hành chính tại Đồng Nai đã góp phần quan trọng trong việc cải thiện môi
trường đầu tư và kinh doanh của tỉnh. Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
(PCI) những năm gần đây có sự cải thiện rõ rệt, phản ánh nỗ lực của chính
quyền trong việc tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp. Đặc biệt, các
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đánh giá cao sự thuận tiện
trong đăng ký kinh doanh, cấp phép xây dựng và tiếp cận đất đai. Việc rút
ngắn thời gian xử lý hồ sơ, minh bạch hóa quy trình và ứng dụng công nghệ
thông tin đã giúp doanh nghiệp giảm chi phí tuân thủ, đồng thời nâng cao
niềm tin vào môi trường đầu tư của tỉnh. Những kết quả này không chỉ thúc
đẩy thu hút vốn đầu tư mới, mà còn tạo động lực cho các doanh nghiệp đang
hoạt động mở rộng sản xuất, kinh doanh, góp phần vào tăng trưởng kinh tế –
xã hội bền vững của Đồng Nai.
- Tăng sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp: triển khai hiệu quả
Tổng đài 1022, bảo đảm việc vận hành thông suốt trong tiếp nhận, xử lý phản
ánh, kiến nghị cũng như hỗ trợ, hướng dẫn người dân thực hiện thủ tục hành
chính và tra cứu thông tin. Đây là kênh tương tác trực tiếp, giúp chính quyền
lắng nghe và giải quyết kịp thời những khó khăn, vướng mắc của người dân và
doanh nghiệp. Mức độ hài lòng trong tiếp nhận và giải quyết TTHC của tỉnh
đạt 96,4%, vượt mục tiêu tối thiểu 90% theo Nghị quyết năm 2025 của Chính
phủ. Người dân và doanh nghiệp cảm nhận rõ sự minh bạch, công khai trong
quá trình giải quyết thủ tục, đồng thời tin tưởng hơn vào hiệu quả hoạt động
của cơ quan hành chính nhà nước.
5.2. Hạn chế, khó khăn
- Vẫn còn tình trạng giải quyết hồ sơ trễ hẹn cho tổ chức, công dân trên
địa bàn tỉnh.
- Công tác số hóa hồ sơ, kết quả giải quyết thủ tục hành chính vẫn còn
một vài đơn vị đôi lúc chưa đảm bảo việc số hóa hồ sơ, kết quả giải quyết theo
quy định.
5.3. Giải pháp trọng tâm
- Đẩy mạnh chuyển đổi số trong nền hành chính phục vụ, tập trung phát
triển và nâng cấp, kết nối đồng bộ, tăng cường tích hợp liên thông dữ liệu, số
hóa và khai thác tái sử dụng dữ liệu giữa các hệ thống nhằm tạo ra hệ sinh
thái dịch vụ công thống nhất, thuận tiện, hoạt động thông suốt, hiệu quả trở
thành công cụ đột phá thúc đẩy giải quyết thủ tục hành chính “phi địa giới”;
89
việc này không chỉ tiết kiệm thời gian, chi phí mà còn là xu hướng tất yếu để
nâng cao hiệu quả và chất lượng dịch vụ công, chất lượng phục vụ.
- Cải cách toàn diện thủ tục hành chính theo chỉ đạo của Trung ương,
với mục tiêu bãi bỏ các quy định, thủ tục và thành phần hồ sơ không cần
thiết, vốn đang là rào cản đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh; tập trung
tái cấu trúc quy trình giải quyết bảo đảm việc cung cấp dịch vụ công trực
tuyến góp phần xây dựng môi trường hành chính thông thoáng, thu hút nhà
đầu tư, hỗ trợ cho doanh nghiệp khởi nghiệp, đầu tư phát triển.
- Tiếp tục rà soát đẩy mạnh phân cấp, ủy quyền nhằm giảm tầng nấc,
thời gian giải quyết TTHC cho người dân và doanh nghiệp trong giải quyết
thủ tục hành chính, không để tình trạng nhũng nhiễu, tiêu cực, phiền hà cho
nhân dân; đảm bảo đúng quy định pháp luật hiện hành. Nghiên cứu, đề
xuất giải pháp tháo gỡ các vướng mắc về cơ chế, chính sách, thủ tục hành
chính, thông qua tăng cường đối thoại, lấy ý kiến người dân, doanh nghiệp
nhằm kịp thời tháo gỡ hoặc kiến nghị, đề xuất cơ quan có thẩm quyền xem
xét, giải quyết theo quy định.
- Tăng cường công tác truyền thông một cách hiệu quả, có trọng tâm
và trọng điểm về cải cách thủ tục hành chính và dịch vụ công trực tuyến.
Phát huy hiệu quả các kênh tiếp nhận phản ánh, kiến nghị của người dân và
doanh nghiệp; bảo đảm mọi ý kiến được tiếp nhận, xử lý kịp thời, minh
bạch, đúng quy định. Tập trung đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực, tinh
thần trách nhiệm và đạo đức công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức, đặc biệt
tại Bộ phận Một cửa.
6. Tác động đến nguồn vốn đầu tư
6.1. Tác động tích cực
- Việc trở thành thành phố trực thuộc Trung ương giúp Đồng Nai tăng
khả năng tiếp cận nguồn vốn đầu tư công từ ngân sách Trung ương, đồng thời
nâng cao khả năng huy động các nguồn vốn hợp pháp khác (bội chi, khai thác
quỹ đất…). Khả năng cân đối vốn giai đoạn 2026 - 2030, tạo điều kiện triển
khai các dự án hạ tầng trọng điểm, liên kết vùng như đường vành đai, kết nối
sân bay Long Thành, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.
- Môi trường kinh doanh thông thoáng, mang lại cơ hội phát triển dự án
hạ tầng (giao thông, đô thị) thu hút mạnh dòng vốn đối tác công-tư (PPP);
đồng thời tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu vốn đầu tư theo hướng từ tập trung
vào nông-lâm-ngư nghiệp sang công nghiệp, xây dựng và đặc biệt là dịch vụ,
công nghệ cao. Cùng với đó, chất lượng vốn đầu tư cũng được chú trọng nâng
90
cao, hướng tới các dự án có giá trị gia tăng cao, công nghệ tiên tiến thay vì
chỉ tập trung vào “lượng” vốn.
6.2. Hạn chế, khó khăn
- Nhu cầu vốn đầu tư công cho phát triển kinh tế -xã hội để thực hiện
các mục tiêu, định hướng phát triển để trở thành Thành phố Trực thuộc Trung
ương là rất lớn, nhất là những dự án quy mô lớn, cấp bách. Trong khi khả
năng cân đối thì thiếu hụt, tạo áp lực lớn đối với cân đối ngân sách địa
phương.
- Đồng thời, yêu cầu đầu tư, xây dựng, nâng cấp hạ tầng để đáp ứng
tiêu chí đô thị trực thuộc Trung ương làm gia tăng nhu cầu vốn đối ứng, chi
trả nợ vay (khoảng 2.000 tỷ đồng) và hạn chế khả năng bố trí vốn cho các
nhiệm vụ khác.
6.3. Giải pháp
- Thứ nhất, kiến nghị tăng tỷ lệ điều tiết ngân sách nhằm giữ lại một
phần lớn hơn từ các khoản thu phân chia (thuế, phí) cho ngân sách địa
phương, thay vì nộp hầu hết về Trung ương. Việc này nhằm mục đích tăng
nguồn lực tài chính để đầu tư phát triển hạ tầng, cải thiện dịch vụ công và tạo
động lực tăng trưởng bền vững.
- Thứ hai, cấu lại danh mục đầu tư công, ưu tiên các dự án trọng điểm,
có tính lan tỏa cao , hạn chế đầu tư dàn trải. Tăng cường huy động các nguồn
lực ngoài ngân sách như PPP, khai thác quỹ đất; đồng thời tranh thủ tối đa
nguồn vốn hỗ trợ từ Trung ương . Nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng vốn
đầu tư công; đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân. Chủ động xây dựng lộ
trình cân đối vốn trung hạn, đảm bảo an toàn nợ công và ổn định ngân sách
địa phương.
- Thứ ba, tăng cường khai thác hiệu quả quỹ đất, đẩy nhanh công tác
lập, phê duyệt quy hoạch, bồi thường, giải phóng mặt bằng để tổ chức đấu giá
quyền sử dụng đất, tạo nguồn thu cho ngân sách. Rà soát, ưu tiên bố trí các
khu đất có vị trí thuận lợi, tiềm năng cao nhằm tối đa hóa giá trị thu.
- Thứ tư, chủ động xây dựng kế hoạch phát hành trái phiếu chính quyền
địa phương phù hợp với khả năng cân đối ngân sách và trần nợ công, nhằm
huy động nguồn vốn trung và dài hạn cho các dự án hạ tầng trọng điểm. Việc
phát hành cần gắn với phương án trả nợ cụ thể, đồng thời lựa chọn thời điểm,
kỳ hạn và lãi suất phát hành hợp lý để nâng cao hiệu quả huy động vốn.
- Thứ năm, chủ động xây dựng kế hoạch vay của chính quyền địa
phương trong giai đoạn 2026–2030, bảo đảm trong giới hạn dư nợ theo quy
định của Luật Ngân sách, nhằm huy động nguồn lực bổ sung cho đầu tư các
91
dự án hạ tầng trọng điểm. Tăng cường khai thác các nguồn vay ưu đãi, vay lại
vốn vay nước ngoài (Cho vay lại) của Chính phủ với chi phí hợp lý, thời hạn
dài. Bên cạnh đó, xây dựng phương án sử dụng vốn vay hiệu quả, gắn với khả
năng trả nợ từ nguồn thu ngân sách.
7. Tác động đến kiến trúc đô thị và cảnh quan
7.1. Tác động tích cực
Việc thành lập Thành phố Đồng Nai trực thuộc Trung ương dự kiến sẽ
tạo ra những thay đổi rõ trong cách tiếp cận quy hoạch và tổ chức không gian
đô thị. Đây là điều kiện thuận lợi để nâng cao chất lượng kiến trúc đô thị và
từng bước hình thành hệ thống cảnh quan đồng bộ, hiện đại và có bản sắc.
Khi chuyển sang mô hình thành phố trực thuộc Trung ương, hệ thống quy
hoạch đô thị có điều kiện được rà soát và điều chỉnh một cách toàn diện. Các
đồ án quy hoạch hiện có cần được cập nhật phù hợp với yêu cầu phát triển
mới, nhất là trong bối cảnh các động lực lớn đang hình thành như Cảng hàng
không quốc tế Long Thành, hệ thống logistics quy mô quốc tế, các hành lang
giao thông liên vùng và các khu vực dự kiến phát triển trung tâm đổi mới
sáng tạo. Việc cập nhật quy hoạch theo hướng tích hợp đa ngành sẽ giúp tổ
chức không gian đô thị chặt chẽ hơn, hạn chế tình trạng phát triển thiếu kiểm
soát và nâng cao chất lượng môi trường sống đô thị.
Quá trình hình thành Thành phố Đồng Nai cũng tạo điều kiện để phát
triển mô hình đô thị đa trung tâm, gắn với các cực tăng trưởng hiện hữu. Các
khu vực Biên Hòa, Long Thành và Nhơn Trạch tiếp tục giữ vai trò động lực,
từng bước hình thành các khu đô thị có mức độ liên kết cao về hạ tầng và
chức năng. Không gian đô thị ven sông Đồng Nai, các khu vực gắn với sân
bay Long Thành và các đô thị dịch vụ, logistics có điều kiện được tổ chức
theo hướng hiện đại hơn, nâng cao khả năng cạnh tranh với các đô thị trong
vùng Đông Nam Bộ.
Việc chuyển sang mô hình thành phố trực thuộc Trung ương cũng mở
ra cơ hội đầu tư các công trình kiến trúc quy mô lớn và có giá trị thẩm mỹ
cao. Các khu trung tâm hành chính, trung tâm thương mại - dịch vụ, công
trình văn hóa, thể thao và hệ thống không gian công cộng có điều kiện được
đầu tư đồng bộ, qua đó từng bước định hình diện mạo đô thị rõ nét hơn và
nâng cao chất lượng cảnh quan chung.
Một thuận lợi lớn nữa là khả năng bảo tồn và phát huy các giá trị cảnh
quan tự nhiên và di sản văn hóa. Hệ thống sông Đồng Nai, hồ Trị An, hồ
Thác Mơ, núi Chứa Chan, núi Bà Rá và các khu rừng tự nhiên quy mô lớn là
những yếu tố quan trọng trong cấu trúc không gian đô thị tương lai. Việc phát
triển theo định hướng sinh thái và bền vững sẽ góp phần bảo vệ các hành lang
92
sinh thái, hình thành các vành đai xanh và các không gian mở quy mô lớn,
đồng thời nâng cao chất lượng môi trường sống và tạo bản sắc riêng cho đô
thị.
Quá trình này cũng tạo điều kiện để từng bước áp dụng các giải pháp
quy hoạch và thiết kế đô thị tiên tiến. Các khu đô thị thông minh, đô thị xanh
và các không gian công cộng thân thiện với người dân có thể được phát triển
đồng bộ với hệ thống hạ tầng kỹ thuật hiện đại. Điều này góp phần nâng cao
chất lượng kiến trúc và cảnh quan đô thị, đồng thời tăng sức hấp dẫn của
thành phố trong thu hút đầu tư và nguồn nhân lực chất lượng cao.
7.2. Hạn chế, khó khăn
Bên cạnh các tác động tích cực, quá trình hình thành Thành phố Đồng
Nai trực thuộc Trung ương cũng đặt ra nhiều thách thức đối với công tác quản
lý kiến trúc và phát triển cảnh quan đô thị, đặc biệt trong giai đoạn chuyển
đổi ban đầu.
Tốc độ đô thị hóa được dự báo tiếp tục gia tăng nhanh, kéo theo nhu
cầu lớn về phát triển khu công nghiệp, khu đô thị và các dịch vụ đô thị. Nếu
không kiểm soát chặt chẽ, áp lực phát triển có thể dẫn đến tình trạng đầu tư
thiếu đồng bộ, gia tăng mật độ xây dựng cục bộ hoặc hình thành các khu vực
đô thị chưa hoàn chỉnh về hạ tầng. Những tồn tại này có thể tác động trực tiếp
đến chất lượng không gian kiến trúc và làm giảm mỹ quan đô thị.
Một khó khăn khác là sự chênh lệch về trình độ phát triển kiến trúc
giữa các khu vực. Trong khi các đô thị trung tâm như Biên Hòa, Long Thành
và Nhơn Trạch đang phát triển nhanh với nhiều dự án quy mô lớn, một số khu
vực đô thị nhỏ hoặc khu vực chuyển tiếp từ nông thôn lên đô thị vẫn còn hạn
chế về hạ tầng kỹ thuật, không gian công cộng và chất lượng cảnh quan. Nếu
không có giải pháp điều chỉnh kịp thời, sự chênh lệch này có thể dẫn đến hình
ảnh kiến trúc đô thị thiếu đồng nhất và làm giảm tính nhận diện chung của đô
thị.
Việc bảo tồn cảnh quan tự nhiên và các giá trị di sản văn hóa trong điều
kiện phát triển nhanh cũng là một thách thức đáng lưu ý. Các khu vực ven
sông Đồng Nai, khu vực hồ, rừng và các không gian sinh thái nếu không
được quản lý chặt chẽ có nguy cơ bị thu hẹp hoặc suy giảm chất lượng môi
trường. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến cảnh quan mà còn tác động đến
tính bền vững của đô thị trong dài hạn.
Ngoài ra, yêu cầu quản lý đô thị sẽ ngày càng cao khi quy mô đô thị
mở rộng nhanh. Công tác quản lý quy hoạch, quản lý kiến trúc, kiểm soát trật
tự xây dựng và bảo vệ cảnh quan đòi hỏi đội ngũ cán bộ chuyên môn phải
93
được tăng cường cả về số lượng và năng lực. Nếu nguồn nhân lực không
được chuẩn bị đầy đủ, việc kiểm soát phát triển không gian đô thị trong giai
đoạn đầu có thể gặp nhiều khó khăn.
7.3 Giải pháp
Để phát huy các tác động tích cực và khắc phục những khó khăn trong
quá trình hình thành Thành phố Đồng Nai trực thuộc Trung ương, cần triển
khai đồng bộ các giải pháp về quy hoạch, quản lý kiến trúc và phát triển cảnh
quan đô thị, trong đó ưu tiên các nhiệm vụ có tính nền tảng và khả năng triển
khai sớm.
Trọng tâm trước hết là hoàn thiện hệ thống quy hoạch đô thị theo
hướng tích hợp và đồng bộ. Các đồ án quy hoạch chung, quy hoạch phân khu
và quy hoạch chi tiết cần được rà soát, điều chỉnh phù hợp với mô hình phát
triển đô thị đa trung tâm, bảo đảm sự kết nối hợp lý giữa các khu vực đô thị
và các không gian sinh thái tự nhiên. Đối với các khu vực có ý nghĩa quan
trọng như khu vực sân bay Long Thành, khu vực ven sông Đồng Nai và các
trung tâm đô thị mới, cần sớm xây dựng và ban hành quy chế quản lý kiến
trúc để làm cơ sở kiểm soát phát triển ngay từ giai đoạn đầu.
Một nội dung quan trọng khác là phát triển hệ thống không gian công
cộng và cảnh quan đô thị theo quy hoạch đã được xác định. Các trục cảnh
quan chính, công viên đô thị quy mô lớn và các không gian mở ven sông, ven
hồ cần được xác định rõ vị trí và quy mô trong quy hoạch, đồng thời xây
dựng kế hoạch đầu tư theo lộ trình cụ thể. Việc hình thành các vành đai xanh,
hành lang sinh thái và các khu đô thị sinh thái cần gắn chặt với các dự án phát
triển đô thị, nhằm duy trì sự cân bằng giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi
trường.
Công tác quản lý trật tự xây dựng và kiểm soát phát triển kiến trúc cần
được tăng cường ngay từ giai đoạn đầu của quá trình phát triển đô thị. Các
công trình xây dựng phải được kiểm soát chặt chẽ về chỉ tiêu quy hoạch,
chiều cao, mật độ và hình thức kiến trúc, bảo đảm tuân thủ quy hoạch và quy
chế quản lý kiến trúc đã ban hành. Đồng thời, cần đẩy mạnh ứng dụng công
nghệ số trong quản lý quy hoạch và kiến trúc đô thị, từng bước xây dựng hệ
thống cơ sở dữ liệu không gian đô thị và hệ thống quản lý đô thị thông minh,
qua đó nâng cao hiệu quả giám sát và kiểm soát phát triển không gian.
Bên cạnh các giải pháp về quy hoạch và quản lý, việc chuẩn bị nguồn
nhân lực cũng có ý nghĩa quyết định đối với hiệu quả quản lý đô thị trong giai
đoạn tới. Cần chú trọng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ trong lĩnh vực quy
hoạch, kiến trúc và quản lý đô thị, bảo đảm đáp ứng yêu cầu quản lý một đô
thị có quy mô lớn và tốc độ phát triển nhanh. Đồng thời, cần có cơ chế huy
94
động hiệu quả các nguồn lực xã hội để đầu tư các công trình kiến trúc và cảnh
quan có giá trị thẩm mỹ cao, góp phần tạo dựng hình ảnh Thành phố Đồng
Nai hiện đại, văn minh và có bản sắc riêng.
II. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA THÀNH PHỐ ĐỒNG NAI
SAU KHI THÀNH LẬP
1. Quan điểm phát triển thành phố Đồng Nai
- Xây dựng hệ thống chính trị thành phố Đồng Nai trong sạch, vững
mạnh; đội ngũ cán bộ thực sự tiêu biểu, mẫu mực về bản lĩnh chính trị, đạo
đức cách mạng, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu; bảo vệ cán bộ năng
động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.
Xây dựng và phát triển Đồng Nai là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân,
toàn quân và cả hệ thống chính trị.
- Xây dựng Đồng Nai trở thành thành phố cửa ngõ chiến lược, cực tăng
trưởng đa chức năng, trung tâm kết nối các vùng kinh tế phía Nam về hàng
không - công nghiệp công nghệ cao - logistics - thương mại biên giới - nông
nghiệp công nghệ cao - đổi mới sáng tạo với đặc trưng “thành phố sân bay”
làm đòn bẩy chiến lược, kết nối toàn cầu, phát triển ngang tầm với các thành
phố sân bay lớn trong khu vực và quốc tế.
- Quy hoạch Đồng Nai với tầm nhìn chiến lược dài hạn theo không gian
phát triển mở, hạ tầng giao thông đa chiều, cấu trúc đô thị đa tầng, đa trung
tâm hiện đại, lấy hệ thống sông và hệ sinh thái tự nhiên làm trục cảnh quan
chủ đạo; phát triển giao thông thông minh, đô thị thông minh, xanh, sinh thái
thích ứng với biến đổi khí hậu; chiến lược phát triển Đồng Nai gắn kết chặt
chẽ với các vùng Đông Nam Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên,
Đồng bằng sông Cửu Long, cả nước, khu vực và quốc tế.
- Phát triển mô hình tăng trưởng mới với nền tảng là các ngành kinh tế
trọng điểm theo hướng lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển
đổi số làm phương thức phát triển chủ đạo; lấy doanh nghiệp làm trung tâm
đổi mới sáng tạo, lấy dữ liệu làm tài nguyên chiến lược. Kết hợp chặt chẽ
giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo đảm vững chắc quốc phòng, an ninh
và đối ngoại; xây dựng khu vực biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát
triển bền vững; bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia, an ninh biên giới.
- Xây dựng và phát triển Đồng Nai “Văn minh - Hiện đại - Hạnh phúc”;
lấy con người là trung tâm, chủ thể, nguồn lực và mục tiêu của sự phát triển;
lấy giá trị văn hóa, nâng cao sức khỏe, đời sống vật chất, tinh thần của Nhân
dân là trụ cột của sự phát triển bền vững. Đổi mới tư duy phát triển; xác lập
95
thể chế đặc thù, vượt trội; phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, toàn diện gắn với
cơ chế thử nghiệm có kiểm soát và trách nhiệm giải trình, bảo đảm chính
quyền Đồng Nai có đủ thẩm quyền, công cụ và nguồn lực để phát huy tối đa
lợi thế, tổ chức thực hiện và chịu trách nhiệm toàn diện đối với các vấn đề
phát triển của địa phương.
2. Mục tiêu phát triển
2.1. Mục tiêu chung
Năm 2026: Đồng Nai trở thành thành phố. Tập trung đầu tư hệ thống
hạ tầng giao thông kết nối đồng bộ, hiện đại; xây dựng và đưa vào vận hành
các phân khu động lực, hạ tầng khung và các chức năng chủ yếu, làm cơ sở
định hình và phát triển đô thị sân bay Long Thành.
Đến năm 2035: Đồng Nai là đô thị động lực mới của quốc gia. Phát
triển Đồng Nai trở thành trung tâm công nghiệp công nghệ cao, logistics, kinh
tế hàng không và dịch vụ chất lượng cao của quốc gia và khu vực, có năng
lực cạnh tranh quốc tế; phát triển theo mô hình đô thị ven sông, đô thị đa
trung tâm, đô thị đa mục tiêu, xanh, thông minh. Phát triển kinh tế gắn chặt
với phát triển văn hóa, xã hội và bảo vệ môi trường; không ngừng nâng cao
đời sống vật chất, tinh thần và hạnh phúc của Nhân dân; bảo đảm vững chắc
quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế sâu rộng; hướng đến xây dựng thành
phố Đồng Nai kết nối toàn cầu.
Đến năm 2045: Đồng Nai trở thành trung tâm hàng không hiện đại của
khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, là trung tâm kinh tế tri thức, phát triển
năng động; chỉ số phát triển con người (HDI) đạt mức cao; quản trị đô thị
hiện đại; xã hội văn minh, an toàn, đáng sống, hạnh phúc.
Đến năm 2065: Đồng Nai là thành phố kết nối toàn cầu, có chất lượng
sống và hạnh phúc cao trên thế giới; thuộc nhóm các thành phố sân bay đa
chức năng.
2.2. Chỉ tiêu cụ thể
Giai đoạn 2026-2030: Tăng trưởng GRDP bình quân trên 10%/năm.
Đến năm 2030: Quy mô GRDP đạt trên 1.200.000 tỷ đồng; GRDP bình quân
đầu người đạt trên 250.000.000 đồng; tỷ trọng kinh tế số đạt tối thiểu 30%
GRDP; tổng vốn đầu tư toàn xã hội bình quân 5 năm khoảng 40% GRDP; tỷ
lệ đô thị hóa đạt 55%.
Giai đoạn 2031-2035: Tăng trưởng GRDP bình quân từ 10% trở lên.
Quy mô GRDP đạt khoảng 2.000.000 tỷ đồng; tỷ lệ đóng góp của kinh tế số
vào tăng trưởng đạt 40%; tỷ lệ đóng góp của các nhân tố tổng hợp (TFP) vào
96
tăng trưởng đạt 60%; GRDP bình quân đầu người đạt 380.000.000 đồng, tiệm
cận mức thu nhập của các đô thị phát triển trong khu vực.
Giai đoạn 2036-2045: Tăng trưởng GRDP bình quân từ 10% trở lên.
Quy mô GRDP đạt khoảng 4.800.000 tỷ đồng; GRDP bình quân đầu người
thuộc nhóm cao trong khu vực, đạt tối thiểu 760.000.000 đồng; tiếp tục nâng
cao năng suất, chất lượng tăng trưởng; tăng tỷ trọng kinh tế số trong GRDP.
Hoàn thành mục tiêu phát thải ròng bằng “0” (Net Zero).
Giai đoạn 2046-2065: Tăng trưởng GRDP bình quân từ 8% trở lên.
Quy mô GRDP đạt khoảng 24.000.000 tỷ đồng; GRDP bình quân đầu người
đạt 2.700.000.000 đồng.
3. Các nhiệm vụ trọng tâm và khâu đột phá
3.1. Các nhiệm vụ trọng tâm
3.1.1. Về xây dựng cơ chế chính sách, đề án
- Xây dựng đề án đề xuất Quốc hội ban hành Nghị quyết về cơ chế,
chính sách đặc thù, vượt trội phát triển Đồng Nai, trong đó có bao gồm thành
lập khu thương mại tự do.
- Xây dựng và triển khai các đề án, gồm: Đề án phát triển Đồng Nai trở
thành Thành phố trực thuộc trung ương vào năm 2035; Đề án phát triển đô thị
thông minh cho Đồng Nai; đề án nâng cao năng lực, thích ứng biến đổi khí
hậu Đồng Nai.
- Xây dựng đề án và triển khai các hoạt động phát triển kinh tế tầm thấp
trên địa bàn Đồng Nai.
- Xây dựng đề án thu hút đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học, nhân lực
trình độ cao tới sinh sống và làm việc tại Đồng Nai.
3.1.2. Về cảng hàng không quốc tế Long Thành và đô thị sân bay Long
Thành
- Hoàn thành xây dựng và đưa vào vận hành cảng hàng không quốc tế
Long Thành.
- Quy hoạch và triển khai quy hoạch đô thị sân bay Long Thành, trong
đó bao gồm khu thương mại tự do, khu công nghiệp công nghệ cao, khu công
nghệ số tập trung, khu đổi mới sáng tạo, khu giáo dục đào tạo đại học chất
lượng cao, khu logistics hàng không, trung tâm dịch vụ hàng không, đảm bảo
điều kiện làm việc và sinh sống của tầng lớp trí thức, sáng tạo trong khu vực.
- Xây dựng các công trình đủ điều kiện phục vụ các sự kiện, triển lãm,
và hội nghị cấp vùng và quốc tế.
97
3.1.3. Về phát triển đô thị và hạ tầng giao thông
- Phê duyệt quy hoạch đô thị sân bay Long Thành, đô thị Biên Hòa, đô
thị Trảng Bom, đô thị Nhơn Trạch và các quy hoạch phân khu đảm bảo tiến
độ theo kế hoạch đề ra.
- Tập trung nguồn lực quy hoạch và xây dựng tuyến đại lộ ven sông
Đồng Nai quy mô 8-10 làn xe và đường ven hồ Trị An.
- Phối hợp xây dựng hoàn thiện hệ thống đường cao tốc, quốc lộ, hạ
tầng kết nối vùng, hạ tầng giao thông kết nối phía Bắc và phía Nam Đồng
Nai, các tuyến đường sắt quốc gia và cấp vùng đi qua địa bàn tỉnh, các trung
tâm logistics dọc theo tuyến đường sắt và các tuyến đường giao thông lớn,
gắn các cảng hàng không, cảng đường thủy, cảng biển.
- Di dời các cảng thuỷ nội địa hàng hóa và vật liệu xây dựng ra khỏi
khu vực đô thị.
- Đẩy nhanh việc xây dựng tuyến đường sắt Thủ Thiêm - Long Thành;
đường sắt đô thị đoạn Suối Tiên - Trung tâm chính trị, hành chính tỉnh - Cảng
hàng không quốc tế Long Thành.
- Đẩy mạnh triển khai phát triển đô thị gắn với định hướng giao thông
công cộng (TOD).
- Tập trung thực hiện các dự án, công trình trọng điểm của tỉnh theo
Quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh.
3.1.4. Về khu công nghiệp, cụm công nghiệp
- Triển khai xây dựng và phát triển khu kinh tế cửa khẩu Hoa Lư trở
thành hạt nhân trong phát triển kinh tế - xã hội khu vực biên giới phía Bắc
Đồng Nai.
- Xây dựng các khu công nghiệp xanh, khu công nghiệp sinh thái, thực
hiện chuyển đổi các khu công nghiệp hiện hữu theo lộ trình thực hiện mục
tiêu giảm phát thải các-bon. Tập trung thu hút đầu tư các dự án hiện đại, có
giá trị gia tăng cao, công nghệ mới, thân thiện môi trường, gắn với chuỗi giá
trị toàn cầu và khu vực.
- Sắp xếp lại các khu, cụm công nghiệp đã được phê duyệt mà chưa
triển khai theo hướng gắn với các trục giao thông chính (dọc tuyến cao tốc,
vành đai), trung tâm logistics và mở rộng quy mô hợp lý, phù hợp với tiêu
chuẩn khu, cụm công nghiệp sinh thái.
98
3.2. Các khâu đột phá
3.2.1. Về định hướng chiến lược: Quy hoạch và phát triển các khu vực
hướng tới mục tiêu chiến lược về phát triển bền vững, môi trường sống tốt,
thu hút đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học, nhân lực trình độ cao đến sinh sống
và làm việc tại Đồng Nai.
3.2.2. Về kết cấu hạ tầng
- Khai thác hiệu quả cảng hàng không quốc tế Long Thành gắn với mô
hình đô thị sân bay. Hoàn thành bộ khung kết nối nội tỉnh, vùng, liên vùng và
quốc tế trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, hoàn thiện kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện
đại, thông minh, thích ứng biến đổi khí hậu trong toàn tỉnh. Thúc đẩy phát
triển đô thị gắn với định hướng giao thông công cộng (TOD).
- Phát triển hệ thống hạ tầng giao thông kết nối, huyết mạch gồm cao
tốc Biên Hòa - Vũng Tàu, vành đai 3 và vành đai 4 vùng Thành phố Hồ Chí
Minh, mở rộng cao tốc TP.HCM - Long Thành - Dầu Giây và các tuyến kết
nối trực tiếp với sân bay Long Thành; kết hợp các tuyến metro chiến lược
gồm tuyến TP.HCM - Thủ Đức - Nhơn Trạch - Long thành, tuyến Biên Hòa -
TP.HCM, tuyến Long Thành - Vũng Tàu, định hướng tuyến kết nối Long
Thành với khu vực đồng bằng sông Cửu Long và hệ thống giao thông công
cộng nhằm hình thành mạng lưới giao thông liên vùng hiện đại.
3.2.3. Về công nghiệp, đô thị
- Xây dựng Đồng Nai trở thành đô thị hiện đại, đô thị xanh và bền vững
với việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, Internet vạn vật vào hệ thống
quản lý đô thị thông minh.
- Khai thác hiệu quả hệ thống sông Đồng Nai để phát triển không gian
đô thị ven sông hiện đại, kết hợp sinh thái - văn hóa - du lịch, hình thành các
đại lộ ven sông, công viên sinh thái và các khu dịch vụ, văn hóa - nghệ thuật.
Việc phát triển không gian đô thị ven sông không chỉ tạo cảnh quan và nâng
cao chất lượng sống, mà còn thúc đẩy phát triển kinh tế dịch vụ, du lịch và
thương mại, góp phần xây dựng hình ảnh đô thị đặc trưng của Đồng Nai.
- Xây dựng các khu công nghiệp xanh, khu công nghiệp sinh thái, khu
công nghiệp công nghệ cao, thu hút các ngành như bán dẫn, robot, trí tuệ
nhân tạo và sản xuất thông minh trên cơ sở có lộ trình chuyển đổi, nâng cấp
các khu công nghiệp hiện hữu để thực hiện mục tiêu giảm phát thải các-bon.
Tập trung thu hút đầu tư các dự án hiện đại, có giá trị gia tăng cao, công nghệ
mới, thân thiện môi trường, gắn với chuỗi giá trị toàn cầu và khu vực.
3.2.4. Văn hóa và du lịch
99
Khai thác hiệu quả các lợi thế về tài nguyên thiên nhiên và văn hóa để
phát triển du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng cao cấp và du lịch văn hóa, gắn với
các khu vực trọng điểm như hồ Trị An, Núi Chứa chan, Vườn quốc gia Cát
Tiên và hệ thống sông hồ của tỉnh.
Triển khai các dự án đô thị, du lịch, dịch vụ nghỉ dưỡng đẳng cấp ven
sông, ven núi, ven hồ, tập trung phát triển các khu đô thị - du lịch - dịch vụ kề
cận sân bay Long Thành; khu đô thị - du lịch núi Chứa Chan, hồ Núi Le; khu
đô thị - du lịch hồ Suối Giai; khu đô thị - du lịch núi Bà Rá - Thác Mơ; chuỗi
đô thị ven sông Đồng Nai (tập trung các khu vực đô thị Biên Hòa, Long
Thành, Nhơn Trạch).
3.2.5. Về nguồn nhân lực
Xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo gắn với các trung tâm nghiên
cứu, doanh nghiệp công nghệ và các trường đại học, hình thành các khu đổi
mới sáng tạo tại Long Thành và Nhơn Trạch. Đồng thời, nghiên cứu thành
lập Đại học Công nghệ Quốc tế Đồng Nai, tạo nền tảng đào tạo nguồn nhân
lực chất lượng cao cho các ngành công nghệ mới. Đây sẽ là động lực quan
trọng để thúc đẩy phát triển kinh tế tri thức và công nghiệp công nghệ cao.
Thành lập các tổ hợp giáo dục và đào tạo đại học quy mô lớn tại đô thị
Long Thành, đô thị Nhơn Trạch, đô thị Long Khánh, đô thị Đồng Xoài. Đẩy
mạnh đào tạo, nâng cao năng lực và thu hút, giữ chân, trọng dụng đội ngũ
chuyên gia, nhà khoa học, nhân lực trình độ cao. Xây dựng đội ngũ cán bộ,
công chức, viên chức đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.
4. Định hướng phát triển các ngành, các lĩnh vực
4.1. Khung định hướng
Để hiện thực hóa tầm nhìn và các mục tiêu phát triển dài hạn, Đồng Nai
xây dựng khung định hướng dựa trên 3 trụ cột kinh tế, 8 ngành trọng tâm và 6
yếu tố then chốt, tạo lập nền tảng cho tỉnh trở thành hình mẫu tiên phong của
Việt Nam về nền kinh tế công nghiệp công nghệ cao và bền vững. Mô hình
này đặt trọng tâm vào sản xuất chế tạo xanh và tiên tiến, nông nghiệp công
nghệ cao, cùng với vai trò là cửa ngõ logistics mang tầm quốc tế.
4.1.1. Các trụ cột kinh tế và các ngành, lĩnh vực trọng tâm
a) Trụ cột 1: Các động lực tăng trưởng cốt lõi
Đây là nhóm ngành nền tảng, đóng vai trò then chốt trong việc củng cố
vị thế công nghiệp của Đồng Nai trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.
Trụ cột tập trung vào hai ngành chủ đạo:
100
- Chế tạo chiến lược: Bao gồm các ngành điện tử, thiết bị – linh kiện –
máy móc và vật liệu mới, là những ngành có sức hấp dẫn cao, dựa trên năng
lực sản xuất và chuỗi cung ứng mạnh của tỉnh. Đồng Nai định hướng phát
triển:
+ Các khu công nghiệp chuyên ngành, khu công nghiệp công nghệ cao,
hình thành chuỗi liên kết sản xuất quy mô lớn;
+ Trung tâm đào tạo nghề và nguồn nhân lực kỹ thuật cao, gắn kết
doanh nghiệp – cơ sở đào tạo – người lao động;
+ Các ngành công nghiệp phụ trợ phục vụ công nghiệp chế tạo.
- Công nghiệp chế biến nông sản:
Là ngành có biên độ tăng trưởng lớn, gắn kết chặt chẽ với chuỗi giá trị
nông nghiệp công nghệ cao của tỉnh. Các hướng phát triển chính:
+ Chế biến thực phẩm, đồ uống, hàng tiêu dùng từ nông sản;
+ Hình thành các trung tâm logistics lạnh, bảo quản và kiểm định chất
lượng;
+ Ứng dụng công nghệ cao vào nông nghiệp (IoT, sinh học, giống
mới), tạo đầu vào ổn định cho công nghiệp chế biến;
+ Hướng đến trở thành trung tâm chế biến nông sản chất lượng cao của
vùng Đông Nam Bộ.
Trụ cột này bảo đảm duy trì tốc độ tăng trưởng ổn định, tạo nền tảng
công nghiệp hóa – hiện đại hóa và lan tỏa sang các ngành liên quan.
b) Trụ cột 2: Các lĩnh vực tăng trưởng mới
Đây là nhóm ngành có khả năng tạo đột phá, gắn với lợi thế mới của
Đồng Nai trong giai đoạn khi sân bay Long Thành đi vào vận hành. Nhóm
ngành bao gồm ba phân khúc trọng tâm:
- Logistics & vận tải: Tận dụng vị thế cửa ngõ giao thương quốc tế,
Đồng Nai phát triển:
+ Trung tâm logistics phục vụ hàng không, hàng hải, đường bộ và
đường sắt;
+ Hệ thống kho bãi thông minh, vận tải đa phương thức;
+ Dịch vụ logistics giá trị cao phục vụ thương mại điện tử, công nghiệp
và nông nghiệp chế biến.
- Sản xuất chế tạo công nghệ cao: Là động lực tăng trưởng mới với
biên độ giá trị lớn, bao gồm:
101
+ Bán dẫn (semiconductor), vi mạch;
+ Điện tử tiên tiến và thiết bị công nghệ cao;
+ Công nghiệp hàng không – vũ trụ;
+ Công nghệ tầm thấp UAV/Drones và Robotics phục vụ công nghiệp
và logistics.
Định hướng phát triển các trung tâm công nghệ, khu công nghiệp thế hệ
mới dành riêng cho sản xuất công nghệ cao.
- Dịch vụ tài chính thương mại & đổi mới sáng tạo: Nhóm ngành dịch
vụ chất lượng cao hỗ trợ doanh nghiệp và kinh tế tri thức:
+ Trung tâm nghiên cứu & phát triển (R&D), công viên khoa học
(science park);
+ Dịch vụ tài chính thương mại, tư vấn công nghệ, chuyển đổi số;
+ Hệ sinh thái startup công nghệ, quỹ đầu tư mạo hiểm, các vườn ươm
khởi nghiệp.
Trụ cột này giúp Đồng Nai bước vào chuỗi giá trị cao hơn, tạo sức hút
với chuyên gia quốc tế và doanh nghiệp công nghệ.
c) Trụ cột 3: Các ngành đời sống và phát triển bền vững
Đây là nhóm ngành bảo đảm phát triển hài hòa kinh tế – xã hội – môi
trường, hướng Đồng Nai trở thành một tỉnh phát triển bền vững, đáng sống,
thân thiện môi trường.
- Dịch vụ đô thị: Bao gồm ba lĩnh vực cốt lõi:
+ Bất động sản đô thị – thương mại – dịch vụ: Phát triển chuỗi đô thị
hiện đại ven sông, ven hồ, ven núi; đô thị sân bay Long Thành đẳng cấp khu
vực;
+ Y tế: Xây dựng hệ thống bệnh viện – trung tâm y tế chất lượng cao;
+ Giáo dục: Phát triển các cơ sở giáo dục quốc tế, đào tạo nhân lực chất
lượng cao, các tổ hợp giáo dục – nghiên cứu.
- Du lịch: Bao gồm:
+ Du lịch sinh thái (rừng Nam Cát Tiên, hồ Trị An…); nghỉ dưỡng/sức
khỏe/y tế (góp phần xây dựng nền kinh tế bạc)
+ Du lịch văn hóa – lịch sử – tâm linh;
+ Du lịch MICE (hội nghị - hội thảo - triển lãm), gắn với sân bay Long
Thành và chuỗi đô thị cửa ngõ.
102
- Năng lượng xanh: Hướng tới mô hình tăng trưởng bền vững và Net
Zero 2050:
+ Phát triển năng lượng tái tạo (điện mặt trời, biomass);
+ Ứng dụng giải pháp tiết kiệm năng lượng và giảm phát thải carbon;
+ Hình thành hệ sinh thái công nghiệp xanh và tuần hoàn.
4.1.2. Sáu yếu tố then chốt
Để bảo đảm thành công, Đồng Nai ưu tiên triển khai sáu yếu tố then
chốt, bao gồm:
- Quy hoạch phân vùng và không gian rõ ràng, bài bản, hướng tới hình
thành các cụm động lực tăng trưởng;
- Chính sách ưu tiên đặc thù và mô hình quản trị vùng chiến lược, nâng
cao hiệu quả thu hút đầu tư và điều phối phát triển;
- Nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu của các ngành công
nghệ cao, logistics và dịch vụ mới;
- Hệ thống cơ sở hạ tầng đồng bộ, toàn diện, đặc biệt là hạ tầng giao
thông, logistics và hạ tầng số;
- Liên kết với các trung tâm trong khu vực, bảo đảm kết nối trực tiếp
với TP. Hồ Chí Minh và các đầu mối giao thương quốc tế;
- Nguồn vốn đa dạng và chất lượng cao, từ ngân sách, ODA, PPP đến
các tập đoàn kinh tế trong và ngoài nước.
4.2. Định hướng tổng thể phát triển các ngành kinh tế
4.2.1. Ngành công nghiệp
Đồng Nai định hướng phát triển công nghiệp theo hướng hiện đại, công
nghệ cao, thân thiện môi trường, với nhà đầu tư chiến lược thế hệ mới là động
lực trung tâm. Công nghiệp tiếp tục giữ vai trò trụ cột tăng trưởng của nền
kinh tế tỉnh, không chỉ đóng góp trực tiếp vào GRDP mà còn tạo nền tảng lan
tỏa cho dịch vụ, nông – lâm nghiệp và các ngành kinh tế khác.
Tầm nhìn đến năm 2050, Đồng Nai trở thành trung tâm công nghiệp hỗ
trợ quan trọng của Việt Nam và khu vực, dựa trên bốn cấu phần cốt lõi: Khu
công nghiệp chuyên ngành và khu công nghiệp công nghệ cao; Hệ thống dịch
vụ hỗ trợ công nghiệp hoàn chỉnh; Trung tâm R&D và đổi mới sáng tạo gắn
với sản xuất và Hệ thống đào tạo – giáo dục nghề nghiệp cung cấp nhân lực
chất lượng cao; chuyển đổi dần sang mô hình khu công nghiệp công nghệ
cao, thu hút các ngành như bán dẫn, robot, trí tuệ nhân tạo và sản xuất thông
minh.
103
Tầm nhìn đến năm 2050, Đồng Nai trở thành trung tâm công nghiệp hỗ
trợ quan trọng của Việt Nam và khu vực, dựa trên bốn cấu phần cốt lõi: Khu
công nghiệp chuyên ngành và khu công nghiệp công nghệ cao; Hệ thống dịch
vụ hỗ trợ công nghiệp hoàn chỉnh; Trung tâm R&D và đổi mới sáng tạo gắn
với sản xuất và Hệ thống đào tạo – giáo dục nghề nghiệp cung cấp nhân lực
chất lượng cao.
a) Mục tiêu phát triển đến năm 2030
- Tăng trưởng giá trị gia tăng ngành Công nghiệp - Xây dựng đạt 12-
13%/năm, cao gần gấp đôi giai đoạn trước;
- Công nghiệp chế biến, chế tạo tăng trưởng trung bình 12,7%/năm;
- Công nghiệp – xây dựng chiếm 61% GRDP tỉnh;
- Công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm 82% giá trị sản xuất toàn ngành
công nghiệp.
Định hướng rõ ràng là chuyển mạnh sang công nghiệp chế tạo giá trị
cao, giảm dần phụ thuộc vào các ngành thâm dụng lao động và tài nguyên.
b) Định hướng phát triển các ngành công nghiệp chủ lực
- Chế tạo máy và cơ khí - nền tảng công nghiệp hỗ trợ: Đồng Nai xác
định cơ khí - chế tạo máy là ngành chiến lược, phát huy lợi thế hệ thống khu
công nghiệp quy mô lớn và vị trí cửa ngõ Đông Nam Bộ để tham gia sâu vào
chuỗi cung ứng thiết bị và linh kiện. Trọng tâm phát triển là cơ khí phục vụ
công nghiệp, nông nghiệp và chế biến nông - lâm sản; đẩy mạnh cơ khí chính
xác, khuôn mẫu và linh kiện tiêu chuẩn cao nhằm nâng tỷ lệ nội địa hóa và
hàm lượng công nghệ. Đồng thời, tỉnh từng bước hình thành năng lực sản
xuất robot và tự động hóa, bắt đầu từ linh kiện và lắp ráp, làm nền tảng cho
hệ sinh thái robot công nghiệp.
- Điện - điện tử - ngành lan tỏa công nghệ: Ngành điện - điện tử được
định vị là trụ cột công nghệ, gắn với xu thế tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn
cầu. Đồng Nai tập trung phát triển điện tử tiên tiến phục vụ công nghiệp và y
tế, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo kết nối doanh nghiệp FDI, tập đoàn
lớn và doanh nghiệp trong nước. Song song đó là hoàn thiện chuỗi cung ứng
điện – điện tử từ linh kiện, vật tư, đóng gói đến logistics, đáp ứng tiêu chuẩn
của các tập đoàn toàn cầu.
- Ngành vật liệu – từ truyền thống sang xanh và công nghệ cao: Đồng
Nai tiếp tục khai thác lợi thế vật liệu xây dựng truyền thống, đồng thời
chuyển dịch sang vật liệu xanh và vật liệu công nghệ cao. Trọng tâm là nâng
cấp sản xuất xi măng, bê tông theo hướng tiết kiệm năng lượng, giảm phát
104
thải; kiểm soát chặt chẽ môi trường và bố trí sản xuất trong các khu, cụm
công nghiệp có hạ tầng đồng bộ; tỉnh từng bước phát triển các loại vật liệu
mới như vật liệu quang học, điện tử, composite, nano và bao bì phân hủy sinh
học.
- Chế biến nông - lâm sản - động lực giá trị gia tăng: Ngành chế biến
nông - lâm sản được xác định là động lực tăng trưởng cốt lõi, dựa trên lợi thế
vùng nguyên liệu và liên kết vùng. Định hướng phát triển là hình thành các
cụm chế biến gắn với vùng nguyên liệu, tổ chức theo chuỗi giá trị và đẩy
mạnh chế biến sâu, công nghệ cao. Đồng Nai ưu tiên phát triển thực phẩm giá
trị cao, thực phẩm xuất khẩu, sản phẩm thuần chay và Halal; đồng thời nâng
cấp chế biến lâm sản theo hướng thâm dụng vốn và công nghệ, tập trung vào
sản phẩm nội thất chất lượng cao.
- Sản xuất chế tạo công nghệ cao - trụ cột tăng trưởng mới: Đồng Nai
ưu tiên phát triển các phân khúc công nghệ cao có tính khả thi và khả năng
kết nối chuỗi giá trị toàn cầu. Trọng tâm gồm bán dẫn (OSAT) với hoạt động
lắp ráp, đóng gói, kiểm tra chip; linh kiện hàng không và dịch vụ MRO gắn
với sân bay Long Thành; robot và UAV phục vụ công nghiệp, logistics và
nông nghiệp. Tỉnh phát triển các cụm công nghiệp công nghệ cao theo mô
hình tập trung, liên kết và hỗ trợ nhằm rút ngắn thời gian triển khai và tăng
sức hấp dẫn FDI.
- Công nghiệp năng lượng - nền tảng cho tăng trưởng xanh: Ngành
năng lượng được định hướng phát triển theo hướng sạch và bền vững, gắn với
mô hình khu công nghiệp - đô thị sinh thái. Trọng tâm là phát triển điện mặt
trời, thủy điện, điện rác, sinh khối và LNG thế hệ mới; tích hợp các giải pháp
tiết kiệm năng lượng, điện mặt trời mái nhà và quản lý năng lượng thông
minh trong khu công nghiệp. Qua đó, Đồng Nai từng bước hình thành nền
tảng cho hệ sinh thái công nghiệp xanh.
c) Định hướng các ngành công nghiệp khác
- Dệt may - da giày: Duy trì ổn định việc làm, nâng cấp công nghệ,
giảm dần thâm dụng lao động, tiến tới R&D.
- Hóa chất: Tập trung hóa chất tiêu dùng, hóa mỹ phẩm, phát triển bền
vững, gắn với R&D và tiêu chuẩn an toàn cao.
- Dược phẩm và thiết bị y tế: Đi từ sản xuất - đóng gói, lắp ráp đến
R&D thuốc thế hệ mới và thiết bị y tế thông minh.
- Phương tiện vận tải: Phát triển hệ sinh thái ô tô, đặc biệt là xe điện,
linh kiện công nghệ cao, tận dụng lợi thế sân bay Long Thành.
d) Giải pháp thực hiện
105
- Hoàn thiện quy hoạch và phát triển hệ thống khu công nghiệp hiện đại
Tổ chức lại không gian phát triển công nghiệp theo hướng tập trung,
chuyên ngành và công nghệ cao, gắn với quy hoạch đô thị và hạ tầng logistics
của tỉnh. Tiếp tục nâng cấp các khu công nghiệp hiện hữu theo mô hình khu
công nghiệp sinh thái, khu công nghiệp thông minh, đồng thời phát triển các
khu công nghiệp chuyên ngành cho cơ khí chế tạo, điện – điện tử, vật liệu
mới, bán dẫn và chế biến nông – lâm sản. Hình thành các cụm công nghiệp
hỗ trợ nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia vào chuỗi
cung ứng công nghiệp.
- Thu hút nhà đầu tư chiến lược và phát triển công nghiệp công nghệ
cao
Xây dựng cơ chế, chính sách thu hút các tập đoàn công nghệ lớn và nhà
đầu tư chiến lược thế hệ mới trong các lĩnh vực công nghiệp mũi nhọn như
điện tử, bán dẫn, robot, thiết bị hàng không, vật liệu mới và công nghiệp sinh
học. Ưu tiên các dự án có hàm lượng công nghệ cao, giá trị gia tăng lớn và
khả năng lan tỏa, qua đó hình thành các cụm liên kết ngành công nghiệp công
nghệ cao và từng bước tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.
- Phát triển công nghiệp hỗ trợ và nâng cao tỷ lệ nội địa hóa
Đẩy mạnh phát triển công nghiệp hỗ trợ, đặc biệt trong các ngành cơ
khí chế tạo, điện – điện tử, ô tô, thiết bị công nghiệp và chế biến nông sản.
Tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước, hỗ
trợ doanh nghiệp nội địa tham gia chuỗi cung ứng của các tập đoàn đa quốc
gia. Đồng thời triển khai các chương trình hỗ trợ đổi mới công nghệ, nâng
cao năng lực sản xuất và tiêu chuẩn chất lượng cho doanh nghiệp công
nghiệp.
- Thúc đẩy đổi mới sáng tạo và chuyển đổi công nghệ trong sản xuất
công nghiệp
Khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nghiên cứu và phát triển
(R&D), ứng dụng công nghệ mới như tự động hóa, trí tuệ nhân tạo, robot và
sản xuất thông minh. Hình thành các trung tâm đổi mới sáng tạo và chuyển
giao công nghệ gắn với khu công nghiệp và doanh nghiệp sản xuất, góp phần
nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh của ngành công nghiệp
tỉnh.
- Phát triển công nghiệp xanh và bền vững
Thúc đẩy chuyển đổi sang mô hình sản xuất xanh, tiết kiệm năng lượng
và giảm phát thải, khuyến khích doanh nghiệp áp dụng công nghệ sạch và mô
hình kinh tế tuần hoàn trong sản xuất công nghiệp. Đồng thời phát triển các
106
nguồn năng lượng tái tạo như điện mặt trời, sinh khối và điện rác phục vụ các
khu công nghiệp, góp phần xây dựng hệ sinh thái công nghiệp thân thiện với
môi trường.
- Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ công nghiệp
Tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp, cơ sở đào tạo và viện nghiên
cứu nhằm đào tạo nguồn nhân lực kỹ thuật cao trong các lĩnh vực cơ khí, điện
tử, tự động hóa, công nghệ vật liệu và công nghệ số. Đồng thời xây dựng các
chương trình đào tạo nghề chuyên sâu gắn với nhu cầu của các ngành công
nghiệp chủ lực, bảo đảm cung ứng nguồn nhân lực chất lượng cao cho quá
trình công nghiệp hóa của tỉnh.
Việc triển khai đồng bộ các giải pháp trên sẽ tạo nền tảng để Đồng Nai
chuyển dịch mạnh sang mô hình công nghiệp công nghệ cao, giá trị gia tăng
lớn và phát triển bền vững, từng bước khẳng định vai trò là trung tâm công
nghiệp quan trọng của vùng Đông Nam Bộ và cả nước.
4.2.2. Định hướng phát triển thương mại, Dịch vụ
a) Quan điểm
Phát triển thương mại Đồng Nai sau sáp nhập theo hướng hiện đại, bền
vững, gắn chặt với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát huy tối đa tiềm
năng, lợi thế về vị trí địa - kinh tế, hạ tầng giao thông và hệ thống cửa khẩu
để thúc đẩy lưu thông hàng hóa, mở rộng thị trường trong nước và quốc tế.
Phát triển thương mại gắn với phát triển công nghiệp, nông nghiệp
hàng hóa và dịch vụ logistics, tạo động lực thúc đẩy sản xuất, tổ chức hiệu
quả các chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị và nâng cao năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp địa phương. Đồng thời phát triển thị trường nội địa vững mạnh,
kết hợp mở rộng xuất khẩu, đặc biệt là khai thác lợi thế thương mại biên giới
với Campuchia.
Phát triển thương mại theo hướng văn minh, hiện đại, gắn với chuyển
đổi số và thương mại điện tử, coi đây là một trong những động lực quan trọng
để mở rộng không gian thị trường, nâng cao hiệu quả phân phối và tiêu thụ
hàng hóa. Khuyến khích các thành phần kinh tế, đặc biệt khu vực tư nhân,
tham gia đầu tư phát triển hạ tầng thương mại và dịch vụ phân phối.
Bảo đảm hài hòa giữa hiệu quả kinh tế và xã hội, gắn phát triển thương
mại với bảo vệ môi trường, giữ gìn bản sắc văn hóa, nâng cao đời sống nhân
dân và bảo đảm quốc phòng, an ninh khu vực biên giới.
b) Mục tiêu
- Mục tiêu chung
107
Phát triển các ngành dịch vụ của tỉnh trở thành động lực tăng trưởng
quan trọng của nền kinh tế, khai thác hiệu quả lợi thế vị trí liên kết vùng, hệ
thống hạ tầng giao thông và hạ tầng logistics hiện đại; góp phần thúc đẩy
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh tỷ trọng dịch vụ, gắn với
phát triển công nghiệp hiện đại và nông nghiệp công nghệ cao.
Tập trung phát triển đa dạng, đồng bộ và chất lượng cao các ngành dịch
vụ, đặc biệt là logistics, dịch vụ thương mại, dịch vụ kinh doanh – đổi mới
sáng tạo, dịch vụ đô thị và du lịch. Hình thành các trung tâm dịch vụ quy mô
lớn, trong đó đô thị Long Thành giữ vai trò trung tâm dịch vụ tổng hợp gắn
với hàng không - logistics - thương mại - du lịch, tạo động lực lan tỏa phát
triển cho toàn tỉnh và khu vực.
Đẩy mạnh phát triển thương mại theo hướng văn minh, hiện đại và bền
vững, đóng vai trò cầu nối giữa sản xuất và thị trường; góp phần mở rộng thị
trường tiêu thụ hàng hóa, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và
xây dựng thương hiệu sản phẩm của tỉnh. Đồng thời phát triển mạnh thị
trường nội địa, thúc đẩy xuất khẩu và khai thác hiệu quả lợi thế thương mại
biên giới với Campuchia thông qua hệ thống cửa khẩu trên địa bàn.
Cùng với đó, thúc đẩy phát triển các dịch vụ mới gắn với xu hướng dân
số và nhu cầu xã hội, trong đó chú trọng phát triển kinh tế bạc với các loại
hình dịch vụ chăm sóc sức khỏe, dưỡng lão, du lịch nghỉ dưỡng và các dịch
vụ nâng cao chất lượng sống cho người cao tuổi.
Đẩy mạnh chuyển đổi số và ứng dụng thương mại điện tử, phát triển hệ
thống hạ tầng thương mại đồng bộ, hiện đại; huy động và sử dụng hiệu quả
các nguồn lực xã hội cho phát triển dịch vụ và thương mại, góp phần nâng
cao chất lượng tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội bền vững.
- Mục tiêu cụ thể đến năm 2030: Tốc độ tăng trưởng giá trị tăng thêm
(VA) của khu vực dịch vụ đạt bình quân khoảng 11 - 12%/năm giai đoạn
2025 - 2030; Tỷ trọng khu vực dịch vụ trong cơ cấu GRDP của tỉnh đạt
khoảng 28% vào năm 2030; Tỷ lệ lao động làm việc trong khu vực dịch vụ
đạt khoảng 36 - 37% tổng lao động xã hội vào năm 2030; Doanh thu bán lẻ
hàng hóa và dịch vụ tăng bình quân 12,5 - 13,5%/năm trong giai đoạn 2026–
2030; Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trên địa bàn tỉnh tăng bình quân từ
10%/năm trở lên; kim ngạch nhập khẩu tăng bình quân 11 - 13%/năm, tiếp
tục duy trì cán cân thương mại xuất siêu; Tỷ trọng bán lẻ thông qua các loại
hình phân phối hiện đại (siêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàng tiện ích…)
đạt trên 15% tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng của
tỉnh; Thương mại điện tử phát triển mạnh, phấn đấu trên 50% doanh nghiệp
nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh tham gia các sàn thương mại điện tử; hệ thống hạ
108
tầng kỹ thuật, thanh toán số và môi trường pháp lý cho thương mại điện tử
được hoàn thiện, bảo đảm an toàn, thuận lợi cho doanh nghiệp và người tiêu
dùng.
c) Giải pháp
- Phát triển thị trường và hệ thống phân phối gắn với xây dựng trung
tâm công nghiệp – logistics của vùng
Tập trung phát triển thị trường nội địa và hệ thống phân phối theo
hướng hiện đại, quy mô lớn, có tính liên kết vùng và quốc tế, phù hợp với
định hướng xây dựng thành phố Đồng Nai trở thành thành phố công nghiệp,
đô thị hiện đại, trung tâm logistics và nông nghiệp công nghệ cao của vùng
Đông Nam Bộ.
Đẩy mạnh phát triển đồng bộ hạ tầng thương mại và logistics, hình
thành các trung tâm thương mại, chợ đầu mối, trung tâm phân phối, trung tâm
logistics và hệ thống kho bãi hiện đại gắn với các khu công nghiệp, khu nông
nghiệp công nghệ cao và mạng lưới giao thông chiến lược. Qua đó từng bước
hình thành hệ sinh thái thương mại - logistics hiện đại, đóng vai trò kết nối
sản xuất của tỉnh với thị trường trong nước và quốc tế.
Tăng cường liên kết chặt chẽ giữa sản xuất - chế biến - phân phối - tiêu
dùng, hình thành các chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị bền vững đối với các
sản phẩm công nghiệp, nông sản chủ lực và sản phẩm OCOP; góp phần nâng
cao hiệu quả lưu thông hàng hóa, giảm chi phí logistics và nâng cao sức cạnh
tranh của nền kinh tế địa phương.
- Đẩy mạnh xuất nhập khẩu, nâng cao vị thế trong chuỗi cung ứng quốc
tế
Phát triển hoạt động xuất nhập khẩu theo hướng mở rộng thị trường,
nâng cao giá trị gia tăng và gắn với phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo,
qua đó đưa Đồng Nai trở thành trung tâm sản xuất và xuất khẩu quan trọng
của vùng Đông Nam Bộ.
Tăng cường xúc tiến thương mại, củng cố các thị trường xuất khẩu chủ
lực như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc, EU, Trung Quốc; đồng thời chủ động
khai thác các thị trường mới, đặc biệt trong khu vực ASEAN và các thị
trường tiềm năng khác.
Khuyến khích doanh nghiệp đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng
sản phẩm, xây dựng thương hiệu và chỉ dẫn địa lý, đáp ứng các tiêu chuẩn
quốc tế, qua đó từng bước nâng cao vị thế hàng hóa Đồng Nai trong chuỗi giá
trị và chuỗi cung ứng toàn cầu.
109
- Thúc đẩy thương mại điện tử và chuyển đổi số trong lĩnh vực thương
mại.
Đẩy mạnh phát triển thương mại điện tử và kinh tế số, coi đây là động
lực quan trọng thúc đẩy hiện đại hóa ngành thương mại và mở rộng không
gian thị trường. Tập trung phát triển hạ tầng số, thanh toán không dùng tiền
mặt, hệ thống truy xuất nguồn gốc và các nền tảng thương mại điện tử nhằm
nâng cao hiệu quả phân phối và tiêu thụ hàng hóa.
Hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ sản xuất tham gia các sàn
thương mại điện tử trong nước và quốc tế; thúc đẩy tiêu thụ nông sản, sản
phẩm công nghiệp và sản phẩm OCOP thông qua các nền tảng số. Đồng thời
tăng cường đào tạo nguồn nhân lực và nâng cao năng lực quản lý nhà nước về
thương mại điện tử, góp phần thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện trong hoạt
động sản xuất, thương mại và dịch vụ.
- Phát triển thương mại biên giới và logistics trở thành động lực tăng
trưởng mới
Phát huy lợi thế cửa khẩu quốc tế Hoa Lư và hệ thống cửa khẩu trên địa
bàn, đẩy mạnh phát triển thương mại biên giới gắn với xây dựng khu kinh tế
cửa khẩu hiện đại và trung tâm logistics liên vùng, kết nối hiệu quả với các
khu công nghiệp, vùng sản xuất nông nghiệp công nghệ cao và hệ thống hạ
tầng giao thông chiến lược của vùng Đông Nam Bộ.
Tập trung đầu tư phát triển đồng bộ hệ thống chợ biên giới, trung tâm
thương mại, kho bãi và dịch vụ logistics, tăng cường kết nối với thị trường
Campuchia và các nước ASEAN; đồng thời đẩy mạnh xúc tiến thương mại,
kết nối cung – cầu và thúc đẩy thương mại điện tử xuyên biên giới.
Cùng với đó, tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước đối với hoạt động
thương mại biên giới; phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng chức năng nhằm
tạo thuận lợi thương mại, kiểm soát buôn lậu và gian lận thương mại, bảo
đảm an ninh kinh tế, góp phần xây dựng khu vực biên giới hòa bình, hợp tác
và phát triển bền vững, qua đó tạo động lực tăng trưởng mới cho thành phố
Đồng Nai và toàn vùng Đông Nam Bộ.
4.2.3. Định hướng dịch vụ Logictics
a) Quan điểm
Phát triển dịch vụ logistics và vận tải trở thành ngành dịch vụ nền tảng,
có vai trò dẫn dắt trong nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, góp
phần đưa Đồng Nai trở thành trung tâm logistics quan trọng và hành lang
thương mại chiến lược của vùng Đông Nam Bộ. Việc phát triển logistics phải
gắn chặt với hệ thống hạ tầng giao thông chiến lược, đặc biệt là Cảng hàng
110
không quốc tế Long Thành, hệ thống cảng biển, đường cao tốc, đường sắt và
các khu công nghiệp, qua đó hình thành mạng lưới logistics hiện đại, kết nối
hiệu quả giữa sản xuất, xuất nhập khẩu và phân phối hàng hóa.
Định hướng tổ chức hệ thống logistics theo mô hình mạng lưới trung
chuyển - cửa ngõ - logistics chuyên biệt, nhằm tối ưu hóa chuỗi cung ứng,
giảm chi phí vận tải, rút ngắn thời gian lưu chuyển hàng hóa và nâng cao hiệu
quả liên kết vùng. Trên cơ sở đó, từng bước xây dựng Đồng Nai trở thành
trung tâm trung chuyển hàng hóa và dịch vụ logistics của khu vực phía Nam,
thu hút các doanh nghiệp logistics lớn trong nước và quốc tế tham gia đầu tư,
phát triển dịch vụ chất lượng cao.
Phát triển dịch vụ logistics dựa trên ba trụ cột chính:
+ Logistics trung chuyển liên vùng: Hình thành các trung tâm trung
chuyển và trạm dịch vụ logistics dọc các tuyến giao thông trọng điểm, đặc
biệt tại khu vực Trảng Bom, gắn với hệ thống kho bãi, kho lạnh và dịch vụ
logistics phục vụ nông nghiệp, công nghiệp. Các trung tâm này đóng vai trò
điều phối luồng hàng giữa các địa phương trong vùng, tăng cường kết nối vận
tải đa phương thức.
+ Logistics cửa ngõ xuất nhập khẩu: Phát triển các trung tâm logistics
quy mô lớn tại khu vực cảng Phước An và các điểm kết nối cửa khẩu, thực
hiện các chức năng container, gom – chia hàng, sang tải và chuyển đổi
phương thức vận tải. Đồng thời phát triển các dịch vụ giá trị gia tăng như
đóng gói, phân loại, bảo quản, kho lạnh, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt
động xuất nhập khẩu.
+ Logistics hỗ trợ khu thương mại tự do (FTZ): Phát triển hệ sinh thái
logistics gắn với khu thương mại tự do Long Thành theo mô hình kho ngoại
quan và trung tâm phân phối hàng hóa giá trị cao. Các dịch vụ logistics hiện
đại như đóng gói, tái xuất, xử lý hàng hóa đặc thù và quản lý chuỗi cung ứng
thông minh được triển khai đồng bộ, từng bước đưa Long Thành trở thành
cực tăng trưởng mới về logistics và thương mại quốc tế.
b) Mục tiêu
- Mục tiêu chung
Phát triển khu vực dịch vụ, trong đó logistics giữ vai trò nòng cốt, trở
thành động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế tỉnh, khai thác hiệu quả lợi
thế vị trí liên kết vùng và hệ thống hạ tầng giao thông – logistics hiện đại.
Hình thành hệ thống dịch vụ logistics, thương mại và dịch vụ hỗ trợ sản xuất
đồng bộ, hiện đại, có tính kết nối cao, phục vụ hiệu quả cho phát triển công
nghiệp, nông nghiệp công nghệ cao và thương mại quốc tế.
111
Tập trung xây dựng đô thị Long Thành trở thành trung tâm dịch vụ
tổng hợp hàng không – logistics – thương mại – đổi mới sáng tạo của tỉnh và
vùng, gắn với sự phát triển của Cảng hàng không quốc tế Long Thành và hệ
thống khu công nghiệp, khu thương mại tự do.
Đẩy mạnh liên kết với Thành phố Hồ Chí Minh và các địa phương
trong vùng Đông Nam Bộ nhằm hình thành mạng lưới dịch vụ logistics liên
vùng, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất, lưu thông và xuất nhập
khẩu hàng hóa, qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh và thu hút các ngành
dịch vụ giá trị gia tăng cao.
- Mục tiêu cụ thể đến năm 2030: Tốc độ tăng trưởng giá trị tăng thêm
(VA) khu vực dịch vụ đạt bình quân khoảng 11–12%/năm giai đoạn 2026–
2030; Tỷ trọng khu vực dịch vụ trong cơ cấu GRDP của tỉnh đạt khoảng 28%
vào năm 2030; Tỷ lệ lao động làm việc trong khu vực dịch vụ đạt khoảng 36–
37% tổng lao động xã hội.
c) Giải pháp
- Phát triển đồng bộ hạ tầng logistics và vận tải đa phương thức
Tập trung đầu tư phát triển đồng bộ hệ thống hạ tầng logistics của tỉnh
theo hướng hiện đại, có khả năng kết nối liên vùng và quốc tế, bao gồm các
trung tâm logistics, cảng cạn (ICD), kho bãi, trung tâm phân phối và hệ thống
trạm dịch vụ logistics. Việc phát triển hạ tầng logistics phải gắn chặt với các
trục giao thông chiến lược của vùng Đông Nam Bộ như hệ thống cao tốc,
đường vành đai, đường sắt và cảng biển, đặc biệt là kết nối với Cảng hàng
không quốc tế Long Thành.
Đẩy mạnh phát triển vận tải đa phương thức, tăng cường liên kết giữa
vận tải đường bộ, đường sắt, đường thủy và hàng không nhằm tối ưu hóa
luồng hàng hóa, giảm chi phí logistics và nâng cao năng lực cạnh tranh của
nền kinh tế. Qua đó từng bước hình thành hệ thống logistics hiện đại, có vai
trò trung chuyển hàng hóa quan trọng của vùng Đông Nam Bộ và khu vực
phía Nam.
Triển khai các tuyến metro chiến lược gồm tuyến TP.HCM – Thủ Đức
– Nhơn Trạch – Long thành, tuyến Biên Hòa – TP.HCM và tuyến Long
Thành – Vũng Tàu. Ngoài ra, nghiên cứu tuyến kết nối Long Thành với khu
vực đồng bằng sông Cửu Long nhằm hình thành mạng lưới giao thông liên
vùng hiện đại.
- Hình thành mạng lưới trung tâm trung chuyển và logistics nội tỉnh
112
Tổ chức không gian logistics của tỉnh theo mô hình mạng lưới trung
tâm trung chuyển – trung tâm logistics – trạm dịch vụ logistics, bố trí dọc các
hành lang vận tải trọng điểm và gắn với các khu công nghiệp, đô thị lớn.
Trọng tâm là xây dựng trung tâm trung chuyển hàng hóa tại khu vực
Trảng Bom, kết hợp trạm container cho phép chuyển đổi linh hoạt giữa các
phương thức vận tải, đồng thời cung cấp các dịch vụ hỗ trợ logistics như kho
bãi, kho lạnh và trung chuyển hàng hóa. Trung tâm này đóng vai trò là đầu
mối điều phối hàng hóa giữa các khu công nghiệp của tỉnh với hệ thống cảng
biển, sân bay và thị trường tiêu thụ của vùng.
Song song đó, phát triển các trung tâm logistics gắn với khu công
nghiệp và hệ thống cảng cạn, cùng với các trạm dịch vụ logistics dọc các
tuyến giao thông chính nhằm hỗ trợ vận tải đường dài, giảm thời gian lưu
chuyển hàng hóa và nâng cao tính thông suốt của chuỗi cung ứng. Mạng lưới
này sẽ góp phần hình thành hành lang logistics liên vùng, tăng cường vai trò
kết nối của Đồng Nai trong hệ thống logistics khu vực Đông Nam Bộ.
- Phát triển các trung tâm logistics cửa ngõ phục vụ xuất nhập khẩu
Ưu tiên phát triển các trung tâm logistics cửa ngõ quy mô lớn tại khu
vực cảng Phước An và các đầu mối giao thương quốc tế, phục vụ hoạt động
trung chuyển, lưu trữ và chuẩn bị hàng hóa xuất nhập khẩu.
Các trung tâm logistics này được tổ chức theo mô hình tổ hợp logistics
tích hợp, bao gồm hệ thống bãi container, kho bãi trung chuyển và các dịch
vụ sang tải, gom – chia hàng, chuyển đổi phương thức vận tải. Đồng thời phát
triển các dịch vụ logistics giá trị gia tăng như kho lạnh, đóng gói, phân loại và
bảo quản hàng hóa xuất khẩu, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của chuỗi cung
ứng toàn cầu.
Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số và triển khai cơ chế thông quan
nhanh, quản lý hải quan điện tử và luồng ưu tiên, góp phần rút ngắn thời gian
thông quan, giảm chi phí logistics và nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng
hóa xuất khẩu. Việc hình thành hệ thống logistics cửa ngõ sẽ giúp Đồng Nai
trở thành điểm trung chuyển quan trọng trong mạng lưới thương mại quốc tế
của khu vực phía Nam.
- Phát triển hệ sinh thái logistics gắn với khu thương mại tự do Long
Thành
Xây dựng hệ sinh thái logistics hiện đại gắn với khu thương mại tự do
Long Thành, hình thành các trung tâm phân phối quốc tế và hệ thống kho
ngoại quan phục vụ các hoạt động thương mại và chuỗi cung ứng toàn cầu.
113
Các dịch vụ logistics trọng tâm bao gồm lưu trữ, đóng gói, tái xuất, tái
chế và phân phối hàng hóa giá trị cao, phục vụ các ngành công nghiệp công
nghệ cao, thương mại điện tử và logistics hàng không. Hệ thống logistics của
khu thương mại tự do được tổ chức thành các trung tâm logistics chuyên biệt
tại khu vực Bắc và Nam Long Thành, trong đó phát triển các dịch vụ logistics
chất lượng cao cho các loại hàng hóa có giá trị lớn và yêu cầu tiêu chuẩn kỹ
thuật đặc thù.
Đồng thời đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và tự
động hóa trong quản lý kho bãi và chuỗi cung ứng, kết hợp với hệ thống an
ninh và giám sát hiện đại nhằm đảm bảo vận hành hiệu quả các cơ chế đặc
thù của khu thương mại tự do. Qua đó từng bước đưa Long Thành trở thành
trung tâm logistics hàng không và thương mại quốc tế của khu vực.
- Trong giai đoạn 2026–2030, tập trung hoàn thành các tuyến giao
thông huyết mạch gồm cao tốc Biên Hòa – Vũng Tàu, vành đai 3 và vành đai
4 vùng Thành phố Hồ Chí Minh, mở rộng cao tốc TP.HCM – Long Thành –
Dầu Giây và các tuyến kết nối trực tiếp với sân bay Long Thành.
- Hoàn thiện thể chế, chính sách và phát triển nguồn lực logistics
Tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển dịch vụ logistics theo
hướng tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp và thúc đẩy hình thành các
trung tâm logistics quy mô lớn. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, đơn
giản hóa quy trình thông quan và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với
hoạt động logistics.
Xây dựng chính sách thu hút các tập đoàn logistics lớn, doanh nghiệp
vận tải và các nhà cung cấp dịch vụ chuỗi cung ứng quốc tế đầu tư vào tỉnh;
đồng thời khuyến khích phát triển các dịch vụ logistics giá trị gia tăng và tăng
cường liên kết giữa doanh nghiệp logistics với các khu công nghiệp và doanh
nghiệp sản xuất.
Song song đó, chú trọng phát triển nguồn nhân lực logistics chất lượng
cao, tăng cường hợp tác đào tạo giữa các cơ sở giáo dục, viện nghiên cứu và
doanh nghiệp, đáp ứng yêu cầu phát triển ngành logistics trong bối cảnh hội
nhập kinh tế quốc tế và chuyển đổi số.
4.2.4. Định hướng phát triển ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản
a) Quan điểm
- Đẩy mạnh cơ cấu lại ngành nông nghiệp gắn với đổi mới mô hình
tăng trưởng và xây dựng nông thôn mới theo hướng bền vững, thân thiện với
môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu; tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị
với ba nhóm sản phẩm chủ lực (sản phẩm chủ lực quốc gia, tỉnh và đặc sản
114
của địa phương); phát triển các vùng sản xuất nông nghiệp tập trung quy mô
lớn, ứng dụng công nghệ cao, kết nối nông nghiệp với công nghiệp chế biến
sâu, xuất khẩu theo chuỗi giá trị; phát triển chăn nuôi công nghiệp quy mô
lớn, hiện đại gắn với mô hình kinh tế tuần hoàn, bảo đảm an toàn sinh học và
bảo vệ môi trường; đa dạng hóa sản phẩm nhằm nâng cao chất lượng, đáp
ứng được các tiêu chuẩn sản xuất an toàn, truy xuất nguồn gốc và phục vụ
xuất khẩu. Phát triển thủy sản theo hướng công nghệ cao, tuần hoàn, gắn
chuyển đổi số, truy xuất nguồn gốc và chuỗi giá trị; khai thác hiệu quả mặt
nước, đất nông nghiệp kém hiệu quả, nâng cao giá trị gia tăng, bảo vệ môi
trường, hướng tới phát triển xanh, bền vững.
- Bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, rừng sản xuất.
Xây dựng ngành lâm nghiệp trở thành ngành kinh tế - kỹ thuật theo hướng
hiện đại, hiệu quả, gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa bảo vệ và phát triển rừng
với khai thác hợp lý, góp phần bảo vệ môi trường, giảm nhẹ thiên tai, ứng
phó với biến đổi khí hậu. Đẩy mạnh ứng dụng khoa học và công nghệ tiên
tiến, hiện đại vào công tác bảo vệ rừng, phát triển rừng.
b) Mục tiêu
Phát triển nền nông nghiệp Đồng Nai theo hướng hiện đại, nông nghiệp
sinh thái, bền vững gắn với xây dựng nông thôn mới phồn vinh và văn minh;
nâng cao giá trị gia tăng, sản xuất hàng hoá quy mô lớn trên cơ sở phát huy
các lợi thế của từng địa phương trong tỉnh; phát triển theo hướng nông nghiệp
xanh, nông nghiệp hữu cơ, ứng dụng công nghệ cao, thông minh, hình thành
các vùng cây ăn quả, vùng nguyên liệu gắn với các nhà máy chế biến đạt tiêu
chuẩn xuất khẩu để tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh
tranh cao, tham gia chuỗi giá trị trong nước và thế giới. Đổi mới hình thức tổ
chức sản xuất trên cơ sở phát triển các doanh nghiệp, hợp tác xã nông nghiệp,
các trang trại có sự hợp tác, liên kết sản xuất chặt chẽ theo chuỗi giá trị, tạo ra
các sản phẩm chủ lực, sản phẩm đặc trưng của địa phương có giá trị kinh tế
cao.
c) Giải pháp
- Đối với ngành trồng trọt:
+ Tập trung nguồn lực đầu tư phát triển các vùng quy hoạch sản xuất
nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao từ đó làm hạt nhân nhân rộng ra các
vùng lân cận và toàn tỉnh, các vùng trọng điểm phía bắc gắn với các phường,
xã: Minh Hưng, Bù Đăng, Phước Sơn, lộc Thạnh, Lộc Tấn, Thuận Lợi, Tân
Quan, Tân Hưng, Lộc Ninh, Nghĩa Trung; phía nam gắn với các xã/ phường:
Tân Triều, Trị An, Phú Lâm, Thanh Sơn, Xuân Hòa, Xuân Định, Cẩm Mỹ,
Xuân Đường, Xuân Quế. Hình thành 01 khu nông nghiệp công nghệ cao phục
115
vụ công tác nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, hỗ trợ các doanh nghiệp sản
xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.
+ Cơ cấu lại sản xuất và quy hoạch vùng nguyên liệu: Tiếp tục rà soát,
chuyển đổi diện tích đất lúa và cây trồng kém hiệu quả sang các loại cây ăn
quả, cây công nghiệp hoặc rau màu có thị trường ổn định và giá trị kinh tế
cao. Triển khai hiệu quả các chính sách tích tụ, tập trung đất đai để hình thành
các vùng sản xuất hàng hóa tập trung chuyên canh quy mô lớn, tạo điều kiện
ứng dụng cơ giới hóa đồng bộ và các tiến bộ khoa học kỹ thuật hỗ trợ sản
xuất nông nghiệp.
+ Đẩy mạnh khoa học công nghệ và nông nghiệp thông minh: Đẩy
mạnh áp dụng rộng rãi quy trình VietGAP, GlobalGAP, nông nghiệp hữu cơ,
nông nghiệp sinh thái. Ưu tiên các mô hình nông nghiệp tuần hoàn và nông
nghiệp các-bon thấp để giảm phát thải. Sử dụng giống chịu hạn, mặn và
kháng sâu bệnh; đẩy mạnh các biện pháp thâm canh bền vững, giảm tối đa
phân bón vô cơ và hóa chất bảo vệ thực vật. Kết hợp giữa việc nhập khẩu
giống ngoại nhập năng suất cao với việc phục tráng, bảo tồn các loại giống
đặc sản, cây bản địa có lợi thế cạnh tranh riêng. Hình thành trung tâm giống
cây trồng của Vùng Đông Nam Bộ và Tây Nguyên phục vụ công tác nghiên
cứu, phát triển và cung cấp sản phẩm giống cây trồng cho tỉnh và toàn vùng.
Ứng dụng công nghệ số trong quản lý quy trình sản xuất, dự báo sâu bệnh,
giám sát mã số vùng trồng và thiết lập hệ thống truy xuất nguồn gốc (QR
Code) cho sản phẩm.
+ Phát triển chuỗi giá trị và nâng cao năng lực chủ thể: Đổi mới kinh
tế tập thể, xây dựng các Hợp tác xã (HTX), Liên hiệp HTX kiểu mới làm cầu
nối giữa người dân và doanh nghiệp. Nâng cao năng lực quản trị, tài chính và
khả năng tiếp cận thị trường cho HTX. Hình thành các chuỗi liên kết chặt
chẽ: “Cung ứng vật tư – Sản xuất – Chế biến – Tiêu thụ”. Thu hút các doanh
nghiệp đầu tư sâu vào khâu chế biến để giảm xuất khẩu thô. Hình thành
Trung tâm bảo quản và chế biến nông sản tập trung phục vụ vùng Đông Nam
Bộ và Tây Nguyên. Đào tạo, nâng cao trình độ cho nông dân, giúp họ làm
chủ công nghệ và chủ động trong việc quản lý chất lượng nông sản.
+ Đẩy mạnh đầu tư đồng bộ hạ tầng kỹ thuật phục vụ sản xuất, trọng
tâm là hiện đại hóa hệ thống thủy lợi, trạm bơm và mạng lưới giao thông nội
đồng đảm bảo cơ giới hóa xuyên suốt. Ưu tiên phát triển hạ tầng logistics
nông nghiệp gồm hệ thống kho lạnh, cơ sở sơ chế và đóng gói tại vùng
nguyên liệu nhằm giảm tổn thất sau thu hoạch. Đồng thời, nâng cấp điện lưới
sản xuất và hạ tầng số (trạm quan trắc, bản đồ số vùng trồng) để hỗ trợ canh
116
tác thông minh, đáp ứng các tiêu chuẩn truy xuất nguồn gốc và xuất khẩu bền
vững.
- Đối với ngành chăn nuôi:
Phát triển ngành chăn nuôi theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa;
trong đó tập trung phát triển 02 loại vật nuôi chủ lực của tỉnh là heo và gà
theo hướng chăn nuôi công nghiệp hiện đại, theo mô hình kinh tế tuần hoàn
hướng tới xuất khẩu. Ưu tiên phát triển chăn nuôi tại vùng, phân vùng trọng
điểm có lợi thế về đất đai, đáp ứng được các quy định về điều kiện chăn nuôi,
môi trường và phù hợp với quy hoạch tỉnh, gồm các vùng:
- Vùng 1 gồm các xã: Xuân Thành, Xuân Hòa, Xuân Đông, Hưng
Phước, Lộc Tấn, Lộc Thành, Lộc Thạnh, Long Hà, Minh Đức, Nha Bích,
Phước Sơn, Tân Hưng, Tân Lợi, Thuận Lợi, Tân Quan;
- Vùng 2 gồm các xã khu vực biên giới: Tân Tiến, Thiện Hưng, Đăk Ơ,
Bù Gia Mập;
- Vùng 3 gồm các xã: Phú Trung, Long Hà, Đa Kia, Bom Bo, Đăk
Nhau, Lộc Ninh.
- Đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ cao trong
công tác giống, thức ăn, quy trình chăn nuôi và quản lý dịch bệnh; phát triển
các mô hình chăn nuôi khép kín, an toàn sinh học, thực hành chăn nuôi tốt và
truy xuất nguồn gốc sản phẩm nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và hướng
đến xuất khẩu.
Phát triển liên kết chuỗi trong chăn nuôi giữa doanh nghiệp, hợp tác xã
và người chăn nuôi trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, trong đó lấy doanh
nghiệp làm trung tâm nhằm hỗ trợ, dẫn dắt người chăn nuôi sản xuất sản
phẩm đáp ứng nhu cầu thị trường. Khuyến khích phát triển mô hình trang trại
cao tầng, ứng dụng công nghệ cao; thu hút các doanh nghiệp, tập đoàn lớn đủ
năng lực đầu tư vào ngành chăn nuôi ứng dụng công nghệ cao theo mô hình
kinh tế tuần hoàn.
Phát triển chăn nuôi gắn với bảo vệ môi trường; đẩy mạnh xử lý chất
thải chăn nuôi để sản xuất phân bón hữu cơ, năng lượng tái tạo và phát triển
chăn nuôi côn trùng, góp phần giảm phát thải khí nhà kính. Tổ chức di dời
các cơ sở chăn nuôi ra khỏi khu vực không được phép chăn nuôi theo quy
định.
Bên cạnh phát triển các vật nuôi chủ lực, khuyến khích phát triển một
số vật nuôi có tiềm năng, lợi và ít ảnh hưởng đến môi trương thế như nuôi
ong lấy mật, chim yến và các vật nuôi mới phù hợp với điều kiện tự nhiên và
nhu cầu thị trường.
117
Phát triển hệ thống giết mổ và chế biến sản phẩm chăn nuôi theo hướng
công nghiệp, hiện đại, bảo đảm an toàn thực phẩm. Từng bước xóa bỏ các cơ
sở giết mổ nhỏ lẻ, thủ công; khuyến khích đầu tư xây dựng các cơ sở giết mổ
tập trung, ứng dụng công nghệ tiên tiến, đáp ứng yêu cầu kiểm soát vệ sinh
thú y và truy xuất nguồn gốc. Đẩy mạnh phát triển công nghiệp chế biến sâu,
đa dạng hóa sản phẩm từ thịt, nâng cao giá trị gia tăng và khả năng cạnh tranh
trên thị trường trong nước và xuất khẩu. Tăng cường liên kết giữa cơ sở giết
mổ, chế biến với vùng chăn nuôi và hệ thống phân phối nhằm hình thành
chuỗi khép kín từ sản xuất đến tiêu thụ.
Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong quản lý, giám sát và truy xuất
nguồn gốc sản phẩm chăn nuôi; xây dựng cơ sở dữ liệu ngành chăn nuôi, kết
nối đồng bộ từ sản xuất, giết mổ, chế biến đến tiêu thụ, bảo đảm minh bạch
thông tin và đáp ứng yêu cầu hội nhập thị trường.
- Đối với ngành lâm nghiệp:
+ Tiếp tục quản lý, bảo vệ chặt chẽ diện tích rừng hiện có, tổng diện
tích rừng và đất lâm nghiệp thuộc quy hoạch 3 loại rừng là 348.938 ha, trong
đó rừng đặc dụng 135.267 ha, rừng phòng hộ 81.389 ha, rừng sản xuất
132.282 ha; đẩy mạnh công tác trồng rừng, duy trì ổn định tỷ lệ che phủ rừng
qua các năm, trong đó tỷ lệ che phủ rừng đến năm 2030 đạt 24,51%; quản lý
chặt chẽ việc thực hiện các dự án chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục
đích khác, đảm bảo phù hợp với quy hoạch lâm nghiệp cấp quốc gia, quy
hoạch tỉnh.
+ Tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng, phương tiện và trang thiết bị phục
vụ công tác quản lý, bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng; chủ động
phòng cháy, chữa cháy rừng đặc biệt trong các tháng cao điểm mùa khô hàng
năm nhằm hạn chế thấp nhất cháy rừng có thể xảy ra; kiểm soát chặt chẽ việc
lấn chiếm, xây dựng trái phép trên đất rừng, xử lý nghiêm các hành vi vi
phạm trong lĩnh vực lâm nghiệp.
+ Xây dựng và triển khai Đề án hấp thụ và lưu giữ các-bon rừng trên
địa bàn tỉnh, làm cơ sở, nền tảng để tham gia thị trường tín chỉ các-bon rừng
trong và ngoài nước.
+ Tiếp tục thực hiện khoán bảo vệ rừng cho các hộ gia đình và cộng
đồng dân cư bình quân 32.508 ha/năm; thực hiện khoán bảo vệ rừng từ nguồn
chi trả dịch vụ môi trường rừng cho các đối tượng cung ứng dịch vụ môi
trường rừng trên diện tích bình quân 177.070 ha/năm; khoanh nuôi xúc tiến
tái sinh tự nhiên 323 ha/năm.
118
+ Định hướng phát triển ngành chế biến gỗ của tỉnh theo hướng sử
dụng có hiệu quả và bền vững tài nguyên rừng, thân thiện môi trường. Đẩy
mạnh chế biến đồ mộc, đồ gỗ cao cấp, gỗ ghép, ván sàn, bàn ghế và các sản
phẩm hoàn thiện bằng gỗ có giá trị cao. Kim ngạch xuất khẩu phấn đấu đến
năm 2030 đạt 2,8 tỷ USD/năm; phấn đấu 100% sản phẩm gỗ xuất khẩu trên
địa bàn tỉnh có nguồn gốc hợp pháp. Xây dựng và phát triển các vùng nguyên
liệu gỗ và lâm sản ngoài gỗ ổn định gắn với công nghiệp chế biến gỗ và quản
lý rừng bền vững. Thu hút đầu tư, tăng cường đổi mới công nghệ, ứng dụng
công nghệ hiện đại, tự động hóa, chuyển đổi số trong sản xuất, chế biến và
thương mại lâm sản. Nâng cao chất lượng, chứng chỉ và truy xuất nguồn gốc
lâm sản để đáp ứng yêu cầu của các thị trường nhập khẩu; đồng thời, tích cực
đa dạng hóa thị trường, giảm phụ thuộc vào một số thị trường truyền thống.
+ Phát triển lâm nghiệp theo hướng bền vững, đa mục tiêu, gắn quản lý,
bảo vệ rừng với phát triển kinh tế lâm nghiệp và nâng cao giá trị gia tăng của
sản phẩm rừng. Nâng cao chất lượng rừng; bảo tồn phát huy giá trị nguồn gen
và đa dạng sinh học; giảm thiểu tác hại do thiên tai; cải thiện môi trường
giảm phát thải, tăng hấp thụ cacbon và quản lý bền vững tài nguyên rừng
(REDD+), cung ứng dịch vụ môi trường rừng, chủ động ứng phó với biến đổi
khí hậu; tăng cường huy động nguồn lực để phát triển, bảo vệ, quản lý rừng
bền vững, phát triển sinh kế của cộng đồng phụ thuộc vào rừng, bảo đảm đa
dạng sinh học. Ứng dụng công nghệ thông tin, viễn thám vào quản lý rừng;
xây dựng, duy tu và nâng cấp kết cấu hạ tầng lâm nghiệp đáp ứng yêu cầu
bảo vệ và phát triển rừng.
+ Tập trung phát triển các vùng nguyên liệu gỗ tập trung gắn với công
nghiệp chế biến hiện đại, thúc đẩy ngành công nghiệp gỗ và lâm sản có giá trị
cạnh tranh cao; phát triển các loài cây đa mục đích, cây gỗ lớn, cây bản địa và
lâm sản ngoài gỗ, đồng thời mở rộng các mô hình trồng cây dược liệu, nuôi
trồng thủy sản và du lịch sinh thái dưới tán rừng. Quy hoạch và quản lý ổn
định diện tích đất lâm nghiệp theo ba loại rừng; đẩy mạnh trồng rừng, phục
hồi rừng và nâng cao hiệu quả quản lý rừng bền vững, mở rộng diện tích rừng
gỗ lớn và tăng tỷ lệ rừng được cấp chứng chỉ quản lý bền vững; thực hiện tốt
công tác phòng cháy, chữa cháy rừng. Đồng thời, phát triển kinh tế rừng gắn
với đa dạng hóa nguồn thu từ dịch vụ môi trường rừng, du lịch sinh thái,
trồng dược liệu và thị trường tín chỉ carbon rừng; nâng cao năng suất, chất
lượng rừng trồng, góp phần tăng trưởng giá trị sản xuất lâm nghiệp và duy trì
tỷ lệ che phủ rừng ổn định.
- Đối với ngành thủy sản:
119
Tổ chức phát triển nuôi trồng thủy sản theo hướng sản xuất hàng hóa
hiện đại, ứng dụng công nghệ cao và gắn với chuỗi giá trị từ sản xuất giống –
nuôi – thu hoạch – chế biến – tiêu thụ. Tập trung phát triển các đối tượng
nuôi chủ lực như cá nước ngọt, tôm thẻ chân trắng và tôm càng xanh theo
hướng thâm canh và bán thâm canh; mở rộng các mô hình nuôi công nghệ
cao như nuôi lồng bè bằng vật liệu mới, nuôi hệ thống bể nổi kết hợp lọc tuần
hoàn, nuôi tuần hoàn sinh học và các mô hình tiết kiệm nước, kiểm soát môi
trường. Hình thành mạng lưới nuôi thủy sản công nghệ cao đô thị - ven đô,
góp phần chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng ít đất - giá trị cao, ít
lao động - công nghệ cao, xanh và bền vững. Bố trí, sắp xếp lại các vùng nuôi
lồng bè trên hồ Trị An và hệ thống sông Đồng Nai - La Ngà, nhằm bảo đảm
ổn định hoạt động nuôi, kiểm soát môi trường và nâng cao hiệu quả kinh tế.
Phát triển các vùng nuôi thủy sản tập trung, kết hợp phát triển nuôi cá trên
mặt nước lớn, hồ thủy lợi nhỏ gắn với du lịch sinh thái và khai thác cảnh quan
hồ Trị An. Ứng dụng công nghệ số, IoT và trí tuệ nhân tạo trong quản lý môi
trường nuôi, truy xuất nguồn gốc và quản lý sản xuất.
4.3. Định hướng phát triển lĩnh vực văn hóa - xã hội
4.3.1. Lĩnh vực văn hóa - thể thao - du lịch
a) Quan điểm
- Trong giai đoạn tới, Đồng Nai định hướng phát triển văn hóa theo
hướng xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, gắn chặt với
quá trình phát triển kinh tế – xã hội, đô thị hóa và hội nhập quốc tế của tỉnh.
Văn hóa được xác định vừa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là nguồn lực
nội sinh quan trọng góp phần thúc đẩy phát triển bền vững, nâng cao chất
lượng cuộc sống của Nhân dân và hình thành con người Đồng Nai năng động,
nghĩa tình, sáng tạo và có trách nhiệm với cộng đồng.
- Đồng Nai cũng định hướng tiếp tục hoàn thiện và nâng cao hiệu quả
hoạt động của hệ thống thiết chế văn hóa từ tỉnh đến cơ sở, bảo đảm phục vụ
tốt nhu cầu sinh hoạt văn hóa, sáng tạo nghệ thuật và hưởng thụ văn hóa của
người dân. Hệ thống trung tâm văn hóa, nhà văn hóa, thư viện, bảo tàng và
các không gian sinh hoạt cộng đồng sẽ được đầu tư theo hướng hiện đại, đồng
bộ, phù hợp với quá trình phát triển đô thị và xây dựng nông thôn mới của
tỉnh.
- Song song với việc bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống, Đồng
Nai định hướng phát triển các hoạt động văn hóa, văn học – nghệ thuật hiện
đại, khuyến khích sáng tạo nghệ thuật, phát triển công nghiệp văn hóa và mở
rộng các hoạt động giao lưu văn hóa trong nước và quốc tế. Các hoạt động
văn hóa, nghệ thuật sẽ được tổ chức đa dạng, phong phú, gắn với các sự kiện
120
chính trị, xã hội của địa phương, góp phần nâng cao đời sống tinh thần của
Nhân dân và xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh.
- Trong lĩnh vực thể dục thể thao, Đồng Nai định hướng phát triển theo
hướng toàn diện, bền vững, kết hợp hài hòa giữa phát triển phong trào thể dục
thể thao quần chúng với nâng cao thành tích thể thao chuyên nghiệp. Thể dục
thể thao được xác định là yếu tố quan trọng nhằm nâng cao sức khỏe, thể lực
và tầm vóc của người dân, đồng thời xây dựng lối sống lành mạnh trong cộng
đồng.
- Bên cạnh đó, Đồng Nai định hướng tiếp tục đầu tư phát triển thể thao
thành tích cao theo hướng chuyên nghiệp, tập trung vào các môn thể thao
trọng điểm có thế mạnh của tỉnh. Công tác phát hiện, đào tạo và bồi dưỡng
vận động viên trẻ sẽ được chú trọng nhằm nâng cao thành tích thi đấu của các
đội tuyển thể thao tỉnh tại các giải quốc gia và quốc tế.
- Đối với lĩnh vực du lịch, Đồng Nai định hướng phát triển du lịch trở
thành ngành kinh tế quan trọng của tỉnh, khai thác hiệu quả các tiềm năng về
tài nguyên sinh thái, lịch sử và văn hóa. Các loại hình du lịch sinh thái, du
lịch văn hóa - lịch sử, du lịch cộng đồng và du lịch nông nghiệp sẽ được ưu
tiên phát triển. Các điểm du lịch tiêu biểu như Khu Bảo tồn Thiên nhiên -
Văn hóa Đồng Nai, Vườn quốc gia Cát Tiên, Vườn quốc gia Bù Gia Mập, núi
Chứa Chan, núi Bà Rá, hồ Trị An, Suối Mơ, Tà Thiết, Sóc Bombo, Sơn Tiên
và nhiều điểm du lịch sinh thái khác sẽ được khai thác và phát triển theo
hướng bền vững. Du lịch là ngành kinh tế quan trọng giúp đa dạng hóa nguồn
thu cho địa phương. Đồng Nai có tiềm năng lớn với hồ Trị An, rừng quốc gia
Cát Tiên và hệ thống sông hồ phong phú. Việc phát triển các khu du lịch sinh
thái, nghỉ dưỡng cao cấp và du lịch văn hóa sẽ góp phần nâng cao hình ảnh
của Đồng Nai như một điểm đến hấp dẫn trong khu vực Đông Nam Á.
- Đồng Nai định hướng tăng cường liên kết phát triển du lịch với các
địa phương trong vùng Đông Nam Bộ, Tây Nguyên và khu vực Đồng bằng
sông Cửu Long nhằm mở rộng thị trường khách du lịch và đa dạng hóa sản
phẩm du lịch.
- Đồng Nai định hướng phát triển theo hướng hiện đại, chuyên nghiệp
và thích ứng với xu thế chuyển đổi số trong truyền thông. Hệ thống báo chí sẽ
tiếp tục được phát triển theo hướng đa phương tiện nhằm nâng cao chất lượng
thông tin và mở rộng khả năng tiếp cận của người dân. Đồng thời, tăng cường
phát triển hệ thống thông tin cơ sở, đặc biệt là hệ thống truyền thanh cấp xã
và các cổng thông tin điện tử nhằm bảo đảm thông tin được truyền tải kịp thời
đến người dân ở mọi địa bàn.
b) Mục tiêu
121
- Mục tiêu phát triển văn hóa – thể thao – du lịch của Đồng Nai là xây
dựng môi trường văn hóa lành mạnh, phát triển con người Đồng Nai toàn
diện về nhân cách, đạo đức, tri thức và lối sống. Đồng thời nâng cao mức
hưởng thụ văn hóa của người dân và bảo đảm mọi tầng lớp Nhân dân đều có
điều kiện tham gia các hoạt động văn hóa.
- Tỉnh phấn đấu tiếp tục bảo tồn, tôn tạo và phát huy hiệu quả các di
tích lịch sử – văn hóa, nâng cao chất lượng quản lý và khai thác các di tích
gắn với giáo dục truyền thống và phát triển du lịch. Các lễ hội truyền thống
và giá trị văn hóa đặc trưng của các dân tộc trên địa bàn tỉnh được bảo tồn và
phát huy bền vững.
- Đồng Nai hướng tới mục tiêu hoàn thiện mạng lưới thiết chế văn hóa
từ tỉnh đến cơ sở theo hướng đồng bộ và hiện đại; nâng cao hiệu quả hoạt
động của các trung tâm văn hóa, thư viện và không gian sinh hoạt cộng đồng.
- Trong lĩnh vực thể dục thể thao, tỉnh phấn đấu tiếp tục nâng cao tỷ lệ
người dân tham gia tập luyện thể dục thể thao thường xuyên, mở rộng phong
trào thể thao trong trường học, cơ quan, doanh nghiệp và khu dân cư. Đồng
thời duy trì và nâng cao thành tích thi đấu thể thao tại các giải quốc gia và
quốc tế.
- Đối với lĩnh vực du lịch, Đồng Nai hướng tới mục tiêu xây dựng hình
ảnh điểm đến du lịch thân thiện, an toàn và hấp dẫn, thu hút ngày càng nhiều
du khách trong và ngoài nước; nâng cao doanh thu du lịch và chất lượng dịch
vụ du lịch.
- Tỉnh phấn đấu xây dựng hệ thống thông tin – truyền thông phát triển
đồng bộ, hiện đại; nâng cao chất lượng nội dung thông tin báo chí; phát triển
mạnh mẽ báo chí điện tử và truyền thông số nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin
ngày càng đa dạng của xã hội.
c) Giải pháp
- Đồng Nai tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng và sự
quản lý của chính quyền trong công tác phát triển văn hóa, thể thao và du
lịch. Các chủ trương, chính sách phát triển văn hóa sẽ được triển khai đồng bộ
gắn với các chương trình phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh.
- Tỉnh tập trung đầu tư bảo tồn, trùng tu và tôn tạo các di tích lịch sử –
văn hóa, đồng thời nâng cao hiệu quả khai thác các di tích gắn với giáo dục
truyền thống và phát triển du lịch. Hệ thống thiết chế văn hóa từ tỉnh đến cơ
sở tiếp tục được hoàn thiện, nâng cấp cơ sở vật chất và trang thiết bị nhằm
phục vụ tốt hơn nhu cầu sinh hoạt văn hóa của người dân.
122
- Phát triển các khu du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng cao cấp và du lịch văn
hóa để nâng cao hình ảnh của Đồng Nai như một điểm đến hấp dẫn trong khu
vực Đông Nam Á. Song song với đó, cần bảo tồn các giá trị văn hóa truyền
thống của vùng đất Đồng Nai, phát triển các lễ hội, bảo tàng và không gian
sáng tạo nhằm thu hút khách du lịch trong nước và quốc tế.
- Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” tiếp tục
được triển khai sâu rộng gắn với xây dựng gia đình văn hóa, khu dân cư văn
hóa và cơ quan, doanh nghiệp văn hóa. Các hoạt động văn hóa, văn nghệ
quần chúng, hội thi, hội diễn và giao lưu văn hóa sẽ được tổ chức thường
xuyên nhằm nâng cao đời sống tinh thần của Nhân dân.
- Trong lĩnh vực thể dục thể thao, tỉnh tiếp tục đầu tư xây dựng và nâng
cấp các công trình thể thao, mở rộng hệ thống dụng cụ thể thao ngoài trời tại
các khu dân cư và công viên công cộng. Đồng thời đẩy mạnh phong trào thể
dục thể thao quần chúng và nâng cao chất lượng đào tạo vận động viên thể
thao thành tích cao.
- Đối với lĩnh vực du lịch, Đồng Nai tiếp tục đầu tư phát triển hạ tầng
du lịch, nâng cấp hệ thống giao thông kết nối các khu, điểm du lịch và thu hút
các dự án đầu tư du lịch quy mô lớn. Công tác quảng bá và xúc tiến du lịch
tiếp tục được tăng cường thông qua các chương trình liên kết vùng và các
hoạt động truyền thông du lịch.
- Tỉnh đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong
hoạt động báo chí – truyền thông; phát triển các nền tảng truyền thông số và
các kênh thông tin đa phương tiện; đồng thời tiếp tục củng cố hệ thống thông
tin cơ sở và phát triển văn hóa đọc trong cộng đồng.
4.3.2. Lĩnh vực y tế
a) Quan điểm
- Trong giai đoạn tới, Đồng Nai định hướng phát triển hệ thống y tế
theo hướng hiện đại, đồng bộ, công bằng, hiệu quả và bền vững, bảo đảm mọi
người dân được tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe có chất lượng. Phát
triển y tế không chỉ tập trung mở rộng quy mô khám, chữa bệnh mà còn
chuyển mạnh sang mô hình chăm sóc sức khỏe toàn diện, lấy phòng bệnh,
chăm sóc sức khỏe ban đầu và quản lý sức khỏe toàn dân làm trọng tâm.
- Trên cơ sở những kết quả đạt được trong thời gian qua, khi tuổi thọ
trung bình của người dân đạt khoảng 76,7 tuổi, tỷ lệ trẻ em dưới 1 tuổi được
tiêm chủng đầy đủ vắc xin duy trì trên 95%, tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em
dưới 5 tuổi giảm đáng kể (theo cân nặng từ 9,3% năm 2020 xuống dưới 6%
123
năm 2025, theo chiều cao từ 22,5% xuống dưới 16%), Đồng Nai tiếp tục định
hướng nâng cao chất lượng hệ thống y tế từ tuyến tỉnh đến tuyến cơ sở.
- Hệ thống y tế được phát triển theo hướng cân đối giữa y tế dự phòng
và y tế điều trị, trong đó chú trọng tăng cường năng lực giám sát dịch bệnh,
phát hiện sớm và kiểm soát hiệu quả các nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe
cộng đồng. Công tác y tế dự phòng tiếp tục được quan tâm với mức chi cho y
tế dự phòng hàng năm duy trì trên 30% tổng chi y tế, góp phần nâng cao năng
lực phòng chống dịch bệnh và bảo vệ sức khỏe Nhân dân.
- Trong bối cảnh quy mô dân số lớn và tốc độ đô thị hóa nhanh, đặc
biệt với sự hình thành các khu vực phát triển mới như đô thị sân bay Long
Thành, Đồng Nai định hướng tiếp tục củng cố và nâng cao năng lực hệ thống
y tế cơ sở; 100% trạm y tế có bác sĩ làm việc; 90,5% trạm y tế đủ điều kiện
khám chữa bệnh bảo hiểm y tế, tạo nền tảng quan trọng cho việc nâng cao
chất lượng chăm sóc sức khỏe ban đầu.
- Bên cạnh đó, tỉnh định hướng phát triển hệ thống bệnh viện hiện đại,
nâng cao năng lực khám, chữa bệnh và triển khai các kỹ thuật chuyên sâu.
Hiện nay, toàn tỉnh có hơn 13,4 nghìn giường bệnh, tương đương khoảng 30
giường bệnh/vạn dân, đứng thứ hai khu vực Nam Bộ. Trong thời gian tới, các
cơ sở y tế tiếp tục được đầu tư nâng cấp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ và
đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng tăng của người dân.
- Song song với việc phát triển hệ thống y tế công lập, Đồng Nai
khuyến khích phát triển khu vực y tế ngoài công lập, thu hút các nguồn lực xã
hội đầu tư xây dựng bệnh viện, phòng khám và các trung tâm chăm sóc sức
khỏe hiện đại. Việc kết hợp giữa y tế công lập và y tế tư nhân góp phần đa
dạng hóa dịch vụ y tế và nâng cao khả năng cung ứng dịch vụ chăm sóc sức
khỏe.
- Đồng Nai định hướng đẩy mạnh chuyển đổi số trong lĩnh vực y tế,
triển khai rộng rãi hồ sơ sức khỏe điện tử, bệnh án điện tử, thanh toán viện
phí không dùng tiền mặt và các dịch vụ khám chữa bệnh trực tuyến, góp phần
nâng cao hiệu quả quản lý và tạo thuận lợi cho người dân khi tiếp cận các
dịch vụ y tế.
b) Mục tiêu
- Mục tiêu phát triển ngành y tế của Đồng Nai trong giai đoạn tới là
nâng cao toàn diện chất lượng chăm sóc sức khỏe Nhân dân, kéo dài tuổi thọ
và cải thiện chất lượng sống của người dân, đồng thời xây dựng hệ thống y tế
hiện đại, công bằng và hiệu quả; phấn đấu tiếp tục duy trì và nâng cao các chỉ
số sức khỏe cộng đồng, giữ vững tỷ lệ trẻ em được tiêm chủng đầy đủ ở mức
124
cao, giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em, đồng thời kiểm soát hiệu quả các
bệnh truyền nhiễm và các bệnh không lây nhiễm phổ biến.
- Trong lĩnh vực khám, chữa bệnh, Đồng Nai hướng tới mục tiêu nâng
cao năng lực hệ thống bệnh viện và cơ sở y tế, bảo đảm mạng lưới khám chữa
bệnh đủ khả năng đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân; phấn
đấu tiếp tục nâng cao số giường bệnh trên một vạn dân và phát triển các bệnh
viện chuyên sâu trong một số lĩnh vực có thế mạnh; đồng thời đặt mục tiêu
duy trì và mở rộng tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế ở mức khoảng 95% dân số, tạo
điều kiện để người dân được tiếp cận các dịch vụ y tế một cách thuận lợi và
bền vững.
- Bên cạnh đó, Đồng Nai hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực y tế, phấn đấu duy trì và nâng cao các chỉ số nhân lực y tế
như 10 bác sĩ, 4,6 dược sĩ và 16,5 điều dưỡng trên một vạn dân, góp phần
nâng cao năng lực cung ứng dịch vụ chăm sóc sức khỏe của toàn hệ thống y
tế.
c) Giải pháp
- Đồng Nai tiếp tục đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng và trang thiết bị cho
hệ thống y tế từ tuyến tỉnh đến tuyến cơ sở, nâng cấp các bệnh viện và trung
tâm y tế nhằm đáp ứng yêu cầu triển khai các kỹ thuật chuyên môn hiện đại.
- Tỉnh tăng cường củng cố hệ thống y tế cơ sở, nâng cao năng lực hoạt
động của các trạm y tế xã, phường, bảo đảm đủ nhân lực, trang thiết bị và
điều kiện để thực hiện tốt công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu và phòng
chống dịch bệnh.
- Trong lĩnh vực y tế dự phòng, tỉnh tiếp tục nâng cao năng lực giám sát
dịch bệnh, triển khai hiệu quả các chương trình tiêm chủng mở rộng, phòng
chống bệnh truyền nhiễm và các bệnh không lây nhiễm. Đồng thời tăng
cường công tác bảo đảm an toàn thực phẩm, vệ sinh môi trường và phòng
chống bệnh nghề nghiệp.
- Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong quản
lý và cung cấp dịch vụ y tế, mở rộng triển khai hồ sơ sức khỏe điện tử, bệnh
án điện tử, thanh toán viện phí không dùng tiền mặt và các nền tảng khám
chữa bệnh từ xa.
- Bên cạnh đó, tỉnh chú trọng phát triển nguồn nhân lực y tế thông qua
các chương trình đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn và thu hút nhân lực chất
lượng cao; đồng thời tăng cường hợp tác với các bệnh viện, trường đại học và
tổ chức y tế trong và ngoài nước nhằm chuyển giao kỹ thuật hiện đại và nâng
cao chất lượng dịch vụ y tế.
125
4.3.3. Lĩnh vực giáo dục và đào tạo
a) Quan điểm
- Trong giai đoạn tới, Đồng Nai định hướng phát triển giáo dục và đào
tạo theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế và từng bước khẳng
định vị thế là một trong những địa phương có chất lượng giáo dục đào tạo
hàng đầu của cả nước. Phát triển giáo dục được xác định là một trong những
động lực quan trọng để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu
phát triển kinh tế – xã hội, đặc biệt trong bối cảnh tỉnh đang đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa và triển khai các dự án hạ tầng chiến lược như Cảng
hàng không quốc tế Long Thành.
- Trên cơ sở mạng lưới giáo dục hiện có với 1.348 trường mầm non và
phổ thông, trong đó 1.112 trường công lập và 236 trường ngoài công lập, hệ
thống trường lớp tiếp tục được quy hoạch, sắp xếp hợp lý nhằm đáp ứng nhu
cầu học tập ngày càng tăng của người dân.
- Định hướng phát triển giáo dục của tỉnh tập trung xây dựng hệ thống
giáo dục mở, thúc đẩy mạnh mẽ chuyển đổi số trong giáo dục, tăng cường
ứng dụng khoa học – công nghệ trong giảng dạy và quản lý giáo dục; chú
trọng phát triển các mô hình giáo dục tiên tiến như giáo dục tích hợp STEM,
STEAM, giáo dục ngoại ngữ và các chương trình đào tạo có tính quốc tế
nhằm nâng cao năng lực hội nhập của học sinh, sinh viên.
- Định hướng đa dạng hóa các loại hình giáo dục, khuyến khích phát
triển giáo dục ngoài công lập, đặc biệt ở cấp mầm non và trung học phổ thông
nhằm đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng đa dạng của xã hội. Việc phát triển
giáo dục được gắn với tăng cường xã hội hóa, thu hút nguồn lực từ các tổ
chức, doanh nghiệp và nhà đầu tư trong và ngoài nước tham gia phát triển hệ
thống giáo dục của tỉnh.
- Đối với giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp, định hướng phát
triển theo hướng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với nhu cầu của
thị trường lao động và chiến lược phát triển kinh tế của địa phương. Các
chương trình đào tạo sẽ tập trung vào những lĩnh vực có nhu cầu cao như
khoa học – công nghệ, kỹ thuật, công nghệ số, kinh tế, quản trị và các ngành
nghề mới gắn với chuyển đổi số, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn.
- Trong dài hạn, Đồng Nai định hướng phát triển trở thành một trong
những trung tâm giáo dục – đào tạo và giáo dục nghề nghiệp của khu vực
Đông Nam Bộ và cả nước, thông qua việc hình thành các khu đô thị đại học
và trung tâm đào tạo quy mô lớn gắn với các khu kinh tế trọng điểm của tỉnh.
Các khu đô thị giáo dục – đào tạo dự kiến được phát triển tại khu vực Nhơn
126
Trạch với quy mô khoảng 180 ha, khu vực Bình Lộc khoảng 300 ha và khu
vực Bình An khoảng 670 ha, đồng thời thu hút các trường đại học uy tín trong
nước và quốc tế mở phân hiệu hoặc cơ sở đào tạo tại Đồng Nai.
b) Mục tiêu
- Mục tiêu phát triển giáo dục và đào tạo của Đồng Nai trong giai đoạn
tới là tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, duy trì vị thế là một
trong những địa phương có hệ thống giáo dục phát triển mạnh trong cả nước;
phấn đấu mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng mạng lưới trường lớp, bảo
đảm đáp ứng nhu cầu học tập của hơn 1,06 triệu học sinh mầm non và phổ
thông trên địa bàn tỉnh, trong đó có khoảng 225.000 trẻ mầm non, 388.000
học sinh tiểu học, 309.000 học sinh trung học cơ sở và 139.000 học sinh trung
học phổ thông.
- Tiếp tục duy trì và nâng cao hiệu quả công tác huy động học sinh đến
trường, phấn đấu giữ vững tỷ lệ 100% trẻ em 6 tuổi vào lớp 1, 100% học sinh
hoàn thành tiểu học tiếp tục học trung học cơ sở, đồng thời thực hiện tốt công
tác phân luồng học sinh sau trung học cơ sở với khoảng 75–80% học sinh học
tiếp trung học phổ thông, số còn lại tham gia học nghề hoặc các hình thức đào
tạo khác phù hợp với nhu cầu thị trường lao động.
- Trong lĩnh vực giáo dục phổ thông, tiếp tục nâng cao chất lượng dạy
và học, duy trì tỷ lệ học sinh hoàn thành chương trình lớp học ở mức cao và
nâng cao chất lượng các kỳ thi quốc gia; chú trọng phát triển giáo dục ngoại
ngữ, tăng cường năng lực giao tiếp tiếng Anh cho học sinh thông qua các
chương trình học tập và hoạt động trải nghiệm, từng bước đưa tiếng Anh trở
thành công cụ học tập và giao tiếp phổ biến trong môi trường giáo dục.
- Đồng Nai cũng đặt mục tiêu tiếp tục nâng cao tỷ lệ trường đạt chuẩn
quốc gia. Trong giai đoạn tới, tiếp tục nâng cao tỷ lệ và tăng số lượng trường
đạt chuẩn quốc gia mức độ 2 nhằm nâng cao chất lượng cơ sở vật chất và
điều kiện dạy học.
- Trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học, rộng quy
mô đào tạo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; nâng cao tỷ lệ lao động
qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ, góp phần đáp ứng nhu cầu nhân lực của
các khu công nghiệp và các ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh.
c) Giải pháp
- Đồng Nai tiếp tục đầu tư phát triển cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy
học cho hệ thống giáo dục. Trong thời gian tới, tỉnh tiếp tục đầu tư xây dựng
mới và nâng cấp các phòng học, phòng chức năng và trang thiết bị dạy học
nhằm đáp ứng yêu cầu triển khai chương trình giáo dục phổ thông mới.
127
- Chú trọng phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục.
Hiện toàn tỉnh có 49.153 giáo viên các cấp, trong đó 14.329 giáo viên mầm
non, 16.364 giáo viên tiểu học, 12.367 giáo viên trung học cơ sở và 6.093
giáo viên trung học phổ thông. Trong giai đoạn tới, tiếp tục tuyển dụng, đào
tạo và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên nhằm khắc phục tình trạng thiếu giáo viên
ở một số cấp học, đặc biệt là mầm non và tiểu học, đồng thời nâng cao tỷ lệ
giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn.
- Bên cạnh đó, Đồng Nai tiếp tục đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục nhằm
huy động các nguồn lực từ xã hội tham gia phát triển giáo dục. Hiện nay, toàn
tỉnh có 243 trường ngoài công lập, chiếm khoảng 18% tổng số trường, cao
hơn nhiều so với mức trung bình của cả nước. Nhiều doanh nghiệp đã tham
gia đầu tư xây dựng các cơ sở giáo dục phục vụ con em công nhân tại các khu
công nghiệp, đồng thời hình thành các mô hình trường quốc tế và trường chất
lượng cao.
- Tăng cường hợp tác với các trường đại học, viện nghiên cứu và doanh
nghiệp trong và ngoài nước nhằm nâng cao chất lượng đào tạo và gắn kết đào
tạo với nhu cầu của thị trường lao động. Đồng thời triển khai các chính sách
hỗ trợ phát triển giáo dục, bao gồm các nghị quyết về phát triển giáo dục
mầm non ngoài công lập, chính sách hỗ trợ giáo viên và các chương trình
phát triển giáo dục đặc thù nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển bền
vững của ngành giáo dục tỉnh trong giai đoạn tới.
- Xây dựng khu đổi mới sáng tạo quy mô lớn tại Long Thành và Nhơn
Trạch, đồng thời thành lập Đại học Công nghệ Quốc tế Đồng Nai nhằm đào
tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho các ngành công nghệ tương lai.
4.3.4. Lĩnh vực an sinh xã hội
a) Quan điểm
- Trong giai đoạn tới, Đồng Nai tiếp tục xác định bảo đảm an sinh xã
hội là một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm nâng cao chất lượng cuộc
sống của Nhân dân, củng cố ổn định xã hội và tạo nền tảng vững chắc cho
phát triển kinh tế – xã hội bền vững. Hệ thống an sinh xã hội được định
hướng phát triển theo hướng toàn diện, bao trùm và bền vững, bảo đảm mọi
người dân đều được tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản và được bảo vệ trước
các rủi ro trong cuộc sống.
- Trong bối cảnh Đồng Nai là một trong những trung tâm công nghiệp
lớn của cả nước, thu hút lượng lớn lao động từ các địa phương khác đến sinh
sống và làm việc, nhu cầu về việc làm, nhà ở, y tế, giáo dục và các dịch vụ xã
hội ngày càng gia tăng. Vì vậy, tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách an
128
sinh xã hội nhằm bảo đảm quyền lợi của người lao động, nâng cao mức sống
của người dân và tạo điều kiện để mọi người dân được thụ hưởng thành quả
phát triển.
- Đồng Nai cũng đặc biệt quan tâm đến việc phát triển hệ thống dịch vụ
xã hội dành cho lực lượng lao động tại các khu công nghiệp, khu chế xuất –
lực lượng chiếm tỷ lệ lớn trong cơ cấu dân số của tỉnh. Các chính sách về nhà
ở xã hội, nhà ở công nhân, dịch vụ y tế, giáo dục, văn hóa và phúc lợi xã hội
cho người lao động tiếp tục được quan tâm triển khai nhằm bảo đảm điều
kiện sống ổn định, góp phần thu hút và giữ chân nguồn nhân lực phục vụ phát
triển kinh tế – xã hội của tỉnh.
- Tiếp tục triển khai hiệu quả các chương trình giảm nghèo bền vững,
hỗ trợ sinh kế, đào tạo nghề và tạo việc làm cho người lao động. Đến cuối
năm 2025, tỉnh đã hoàn thành chương trình xóa nhà tạm, nhà dột nát với
2.005 căn nhà, góp phần cải thiện điều kiện sống của nhiều hộ gia đình có
hoàn cảnh khó khăn.
- Bên cạnh đó, tỉnh định hướng mở rộng diện bao phủ của các chính
sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp, trong đó tỷ lệ
bao phủ bảo hiểm y tế đạt khoảng 95% dân số. Việc phát triển hệ thống bảo
hiểm xã hội và bảo hiểm y tế góp phần bảo đảm an sinh cho người dân và
giảm thiểu rủi ro trong cuộc sống; chú trọng phát triển hệ thống cơ sở trợ giúp
xã hội và các dịch vụ xã hội chuyên nghiệp nhằm chăm sóc và hỗ trợ các
nhóm đối tượng yếu thế.
b) Mục tiêu
- Mục tiêu phát triển an sinh xã hội của Đồng Nai trong giai đoạn tới là
nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, giảm nghèo bền vững và bảo
đảm mọi người dân đều được tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản; phấn đấu
tiếp tục duy trì và nâng cao hiệu quả các chương trình giảm nghèo bền vững,
cải thiện điều kiện sống của người dân ở các khu vực còn khó khăn, đặc biệt
là vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng nông thôn.
- Đồng Nai hướng tới mục tiêu mở rộng diện bao phủ của các chính
sách bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế, duy trì tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế ở
mức cao, tạo điều kiện để người dân được tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức
khỏe và các chế độ bảo hiểm xã hội.
- Trong lĩnh vực trợ giúp xã hội, nâng cao chất lượng chăm sóc và hỗ
trợ các đối tượng bảo trợ xã hội, bảo đảm việc chi trả trợ cấp được thực hiện
đầy đủ, kịp thời và minh bạch, hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượng các
dịch vụ xã hội cơ bản như giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch và vệ sinh môi
129
trường; từng bước thu hẹp khoảng cách phát triển giữa khu vực đô thị và
nông thôn, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân.
c) Giải pháp
- Tiếp tục triển khai đồng bộ các chính sách giảm nghèo và hỗ trợ sinh
kế cho người dân thông qua các chương trình đào tạo nghề, tạo việc làm, hỗ
trợ sản xuất và tiếp cận tín dụng chính sách; tăng cường mở rộng diện bao
phủ của các chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất
nghiệp, đồng thời đẩy mạnh công tác tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức
của người dân về vai trò và lợi ích của các chính sách bảo hiểm.
- Tiếp tục thực hiện đầy đủ và kịp thời các chính sách đối với người có
công với cách mạng, các đối tượng bảo trợ xã hội, người cao tuổi, trẻ em có
hoàn cảnh đặc biệt và người khuyết tật.
- Bên cạnh đó, chú trọng phát triển hệ thống cơ sở trợ giúp xã hội, nâng
cao chất lượng chăm sóc và phục hồi chức năng cho các đối tượng yếu thế.
Đồng thời đẩy mạnh xã hội hóa trong lĩnh vực an sinh xã hội, khuyến khích
sự tham gia của các tổ chức, doanh nghiệp và cộng đồng vào các hoạt động
trợ giúp xã hội; ưu tiên đầu tư phát triển hạ tầng phục vụ an sinh xã hội như
nhà ở xã hội, hệ thống cấp nước sạch, cơ sở giáo dục, y tế và các thiết chế văn
hóa – xã hội nhằm nâng cao chất lượng sống của người dân và bảo đảm sự
phát triển hài hòa giữa các khu vực trên địa bàn tỉnh.
4.4. Định hướng phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo
và chuyển đổi số
4.4.1. Quan điểm
- Cụ thể hóa các định hướng chiến lược của Nghị quyết số 57-NQ/TW
ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ,
đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia trên địa bàn tỉnh.
- Ưu tiên phát triển một số ngành công nghiệp mũi nhọn, công nghệ
mới, công nghệ cao với các cấu phần chính gồm: các khu công nghiệp chuyên
ngành, khu công nghiệp công nghệ cao, khu công nghiệp sinh thái; dịch vụ hỗ
trợ công nghiệp; trung tâm nghiên cứu phát triển, công viên khoa học; trung
tâm đào tạo, giáo dục nghề nghiệp; trung tâm đổi mới sáng tạo, vườn ươm
khởi nghiệp.
- Chuyển đổi các khu công nghiệp hiện hữu theo hướng phát triển các
ngành công nghiệp công nghệ cao, lựa chọn sản phẩm, công đoạn có giá trị
gia tăng cao tham gia chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu. Chú trọng phát triển 3
nhóm sản phẩm mũi nhọn gồm: công nghiệp hàng không vũ trụ; công nghiệp
130
bán dẫn, sản xuất chip và trí tuệ nhân tạo; thiết bị tự động hóa và thiết bị công
nghệ thông tin.
- Đẩy mạnh đầu tư cho khoa học, công nghệ, nghiên cứu phát triển, đổi
mới sáng tạo; phát triển hạ tầng khoa học và công nghệ trở thành nền tảng vật
chất – kỹ thuật chủ yếu của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo Đồng Nai, bảo đảm
năng lực nghiên cứu, thử nghiệm, chuyển giao và ứng dụng công nghệ cao,
phục vụ trực tiếp cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và xây dựng mô
hình tăng trưởng mới của tỉnh.
- Tập trung phát triển hạ tầng khoa học công nghệ trọng điểm, gồm:
Thành lập Khu công nghệ cao, công viên khoa học và đổi mới sáng tạo, các
trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D) gắn với các khu công nghiệp, khu
kinh tế nhằm thu hút các dự án công nghệ cao, các tập đoàn công nghệ quy
mô lớn; xây dựng hạ tầng dữ liệu, nền tảng số và kết nối số trong lĩnh vực
khoa học và công nghệ; từng bước phấn đấu đến năm 2030, Đồng Nai trở
thành trung tâm nghiên cứu, đào tạo và ứng dụng khoa học công nghệ cấp
vùng và cả nước.
- Phát triển các hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, liên kết chặt chẽ giữa các
địa phương trong các ngành công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ gắn với các
chuỗi giá trị nội địa và toàn cầu. Xây dựng các trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp
sáng tạo; triển khai các nền tảng, mạng lưới đổi mới sáng tạo nhằm thu hút
nguồn lực đầu tư tạo ra các công nghệ mới, sản phẩm mới. Xây dựng đội ngũ
cán bộ khoa học công nghệ có đủ khả năng tiếp thu, làm chủ, phát triển và
chuyển giao công nghệ tiên tiến, trọng tâm là các lĩnh vực đột phá của tỉnh.
4.4.2. Mục tiêu
- Phát triển Đồng Nai là trung tâm công nghiệp công nghệ cao,
logistics, kinh tế hàng không và dịch vụ chất lượng cao của quốc gia và khu
vực; phát triển theo mô hình đô thị đa trung tâm, xanh, thông minh, có năng
lực cạnh tranh quốc tế cao. Tập trung phát triển trung tâm nghiên cứu, phát
triển các ngành công nghệ cao, chiến lược.
- Hình thành kho dữ liệu tổng hợp, tích hợp tập trung; hệ thống thông
tin phục vụ chỉ đạo, điều hành, công tác tham mưu, tổng hợp hỗ trợ ra quyết
định của Chính quyền, lãnh đạo tỉnh; kết nối, tích hợp, chia sẻ thông tin, dữ
liệu, tương tác trên môi trường điện tử với các hệ thống thông tin, cơ sở dữ
liệu của bộ, ngành, địa phương.
- Tái cấu trúc, chuyển đổi hạ tầng công nghệ thông tin thành hạ tầng số
thống nhất, ổn định, linh hoạt, ưu tiên áp dụng công nghệ điện toán đám mây
(Cloud First).
131
- Phát triển ứng dụng, dịch vụ mới theo hướng sử dụng chung hạ tầng
số, nền tảng số và các dịch vụ công nghệ thông tin sẵn có (phần mềm thương
mại); có khả năng sử dụng dữ liệu số và các công cụ phân tích thông minh để
kịp thời đưa ra các quyết sách chính xác trong các hoạt động quản lý nhà
nước; cung cấp dịch vụ công thuận tiện theo phương thức số (dịch vụ số),
mang lại giá trị gia tăng cho người dân.
- Cung cấp dữ liệu mở có thể truy cập, sử dụng dễ dàng; hoàn thiện kho
dữ liệu số đáp ứng các yêu cầu về kết nối, chia sẻ tài nguyên thông tin, dữ
liệu trong tỉnh.
4.4.3. Giải pháp
- Hoàn thiện hạ tầng số đồng bộ, hiện đại. Tăng cường đầu tư phát triển
tiềm lực khoa học và công nghệ, đảm bảo nguồn lực chi đối với lĩnh vực sự
nghiệp khoa học và công nghệ và đổi mới hạ tầng khoa học và công nghệ.
Đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu triển khai (R&D), trong đó chú trọng
nghiên cứu ứng dụng và thương mại hóa các kết quả khoa học và công nghệ.
- Triển khai quy hoạch và xây dựng khu đổi mới sáng tạo, xây dựng hệ
sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo của tỉnh theo hướng phát triển toàn
diện. Tăng cường hợp tác quốc tế trong nghiên cứu phát triển, ứng dụng,
chuyển giao công nghệ. Tạo điều kiện cho các trường đại học, các đơn vị hoạt
động khoa học và công nghệ đẩy mạnh liên kết, hợp tác trong nước và quốc
tế về khoa học và công nghệ. Tăng cường đầu tư tài chính phát triển khoa học
công nghệ, ưu tiên ngân sách cho nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao công
nghệ và hạ tầng khoa học công nghệ. Phát triển các quỹ phát triển khoa học
công nghệ, quỹ đổi mới sáng tạo, quỹ đầu tư mạo hiểm; từng bước triển khai
cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox)
- Thực hiện chuyển đổi số trên địa bàn tỉnh theo Chiến lược quốc gia
phát triển kinh tế số và xã hội số đến năm 2030. Hình thành sàn giao dịch
công nghệ của tỉnh, kết nối với các sàn giao dịch công nghệ trong khu vực và
quốc tế. Khuyến khích, thúc đẩy phát triển các tổ chức trung gian của thị
trường khoa học và công nghệ, trong đó đẩy mạnh phát triển các tổ chức môi
giới, tư vấn, xúc tiến chuyển giao công nghệ.
- Xây dựng hệ thống quản lý đô thị thông minh, giúp nâng cao hiệu quả
quản trị và chất lượng cuộc sống của người dân.
5. Định hướng quy hoạch phát triển đô thị Đồng Nai
5.1. Quan điểm tổ chức không gian phát triển đô thị Đồng Nai
Lợi thế lớn nhất của Đồng Nai là vị trí địa lý đặc biệt trong cấu trúc
phát triển của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Đồng Nai nằm ở vị trí kết
132
nối trực tiếp thành phố Hồ Chí Minh với các tỉnh Đông Nam Bộ, Tây Nguyên
và Nam Trung Bộ, đồng thời là nơi giao cắt của nhiều tuyến giao thông quan
trọng của quốc gia. Khi Cảng hàng không quốc tế Long Thành đi vào hoạt
động cùng với hệ thống cao tốc liên vùng, các tuyến vành đai Vùng thành phố
Hồ Chí Minh và mạng lưới logistics quốc tế, Đồng Nai có điều kiện thuận lợi
để phát triển thành một trung tâm giao thương và logistics quy mô lớn của
khu vực.
Trong tổ chức không gian đô thị, hạ tầng giao thông là yếu tố định hình
cấu trúc phát triển. Các trục giao thông chiến lược như hành lang Thành phố
Hồ Chí Minh - Biên Hòa - Long Thành - Dầu Giây; hành lang Biên Hòa -
Nhơn Trạch - hệ thống cảng biển Cái Mép - Thị Vải; hành lang Long Thành -
Chơn Thành - Đồng Xoài - cửa khẩu quốc tế Hoa Lư, cùng với các tuyến
vành đai và các trục kết nối sân bay Long Thành, sẽ tạo thành khung phát
triển chính của toàn bộ hệ thống đô thị. Việc bố trí các khu đô thị, khu công
nghiệp và trung tâm logistics dọc theo các hành lang này sẽ giúp khai thác
hiệu quả hạ tầng và giảm chi phí vận chuyển.
Sự hình thành Cảng hàng không quốc tế Long Thành đặt ra yêu cầu tổ
chức không gian theo tư duy đô thị sân bay. Khu vực này không chỉ phục vụ
hoạt động hàng không mà cần phát triển thành một cực tăng trưởng mới, tập
trung các hoạt động logistics hàng không, thương mại quốc tế, tài chính và
dịch vụ giá trị gia tăng. Khi đô thị sân bay được hình thành, tác động lan tỏa
sẽ không chỉ giới hạn trong phạm vi Long Thành mà còn ảnh hưởng đến toàn
bộ hệ thống đô thị của tỉnh và vùng Đông Nam Bộ.
Quá trình đô thị hóa nhanh đòi hỏi phải hình thành các cực tăng trưởng
mới nhằm phân bố hợp lý dân cư và hoạt động kinh tế. Nếu các chức năng đô
thị tập trung quá mức vào một số khu vực trung tâm, áp lực lên hạ tầng và
môi trường sống sẽ gia tăng. Vì vậy, việc phát triển các khu vực đô thị mới tại
những vị trí có lợi thế về giao thông và quỹ đất là cần thiết để mở rộng không
gian đô thị và giảm tải cho các khu vực hiện hữu.
Song song với phát triển kinh tế, bảo vệ hệ sinh thái tự nhiên cần được
xem là nguyên tắc xuyên suốt. Đồng Nai có hệ thống tài nguyên sinh thái lớn
như sông Đồng Nai, hồ Trị An, hồ Thác Mơ, Vườn quốc gia Cát Tiên, Vườn
quốc gia Bù Gia Mập, núi Chứa Chan và núi Bà Rá. Những khu vực này
không chỉ có ý nghĩa về môi trường mà còn tạo nên bản sắc cảnh quan riêng
cho đô thị. Trong quá trình phát triển, cần duy trì các hành lang xanh và vành
đai sinh thái nhằm bảo đảm cân bằng giữa phát triển đô thị và bảo vệ môi
trường.
133
Tổ chức không gian đô thị cũng cần gắn với quá trình chuyển đổi mô
hình kinh tế của địa phương. Đô thị Đồng Nai không chỉ là trung tâm công
nghiệp truyền thống mà phải từng bước phát triển các ngành công nghiệp
công nghệ cao, dịch vụ logistics quốc tế, thương mại và đổi mới sáng tạo.
Việc bố trí không gian phù hợp cho các khu công nghiệp thế hệ mới và các
trung tâm đổi mới sáng tạo sẽ góp phần nâng cao giá trị gia tăng của nền kinh
tế đô thị.
Một yêu cầu quan trọng khác là nâng cao chất lượng sống của người
dân. Hệ thống không gian công cộng, công viên đô thị và các không gian ven
sông cần được quan tâm đầu tư, tạo ra môi trường sống thuận lợi và thân
thiện với cộng đồng. Phát triển đô thị không chỉ hướng đến tăng trưởng kinh
tế mà còn phải bảo đảm các yếu tố xã hội và chất lượng môi trường sống.
Trên cơ sở các định hướng trên, cấu trúc không gian phát triển của
Thành phố Đồng Nai được hình thành theo mô hình đô thị đa trung tâm, với
vùng đại đô thị trung tâm gắn với đô thị sân bay Long Thành, các cực phát
triển tại khu vực phía Bắc và phía Đông, cùng hệ thống các hành lang kinh tế
và vành đai sinh thái. Cấu trúc này tạo ra khung phát triển rõ ràng cho giai
đoạn dài hạn và là cơ sở để thành phố thích ứng với các biến động về kinh tế
và môi trường trong tương lai.
5.2. Vùng đô thị trung tâm Biên Hòa - Long Thành - Nhơn Trạch
Vùng đô thị trung tâm Biên Hòa - Long Thành - Nhơn Trạch được xác
định là khu vực động lực quan trọng nhất trong cấu trúc phát triển không gian
của Thành phố Đồng Nai, giữ vai trò hạt nhân về kinh tế, đô thị và logistics
của toàn hệ thống đô thị. Khu vực này tập trung nhiều hạ tầng chiến lược của
quốc gia và vùng Đông Nam Bộ, như Cảng hàng không quốc tế Long Thành,
hệ thống cao tốc liên vùng, các tuyến vành đai của vùng Thành phố Hồ Chí
Minh, hệ thống cảng biển quốc tế và mạng lưới các khu công nghiệp quy mô
lớn. Việc đầu tư và hoàn thiện các tuyến hạ tầng chiến lược đang từng bước
rút ngắn khoảng cách phát triển giữa Biên Hòa, Long Thành và Nhơn Trạch.
Các đô thị này ngày càng gắn kết chặt chẽ hơn, hình thành một vùng đô thị
liên tục có quy mô lớn, nơi tập trung mật độ cao các hoạt động sản xuất và
dịch vụ của Thành phố Đồng Nai.
Trong vùng đô thị này, Biên Hòa tiếp tục giữ vai trò là trung tâm hành
chính, tài chính và thương mại truyền thống. Trong giai đoạn tới, định hướng
phát triển của Biên Hòa là tập trung tái cấu trúc không gian đô thị hiện hữu,
từng bước chuyển đổi các khu công nghiệp cũ sang các chức năng dịch vụ,
đổi mới sáng tạo và các khu đô thị chất lượng cao. Đồng thời, cần đẩy mạnh
phát triển các không gian ven sông Đồng Nai theo hướng hình thành các trục
134
cảnh quan và không gian công cộng, góp phần cải thiện môi trường sống và
tạo bản sắc đô thị.
Long Thành được xác định là cực tăng trưởng mới của vùng đô thị
trung tâm, gắn với sự hình thành Cảng hàng không quốc tế Long Thành. Với
vai trò chiến lược của sân bay trong mạng lưới hàng không quốc tế, khu vực
này có điều kiện phát triển theo mô hình đô thị sân bay, tập trung các hoạt
động logistics hàng không, thương mại quốc tế, công nghiệp công nghệ cao,
trung tâm đổi mới sáng tạo và các dịch vụ tài chính - thương mại. Sự phát
triển của Long Thành không chỉ hình thành một trung tâm đô thị mới mà còn
góp phần điều chỉnh lại cấu trúc không gian kinh tế của toàn vùng Đông Nam
Bộ.
Nhơn Trạch được định hướng phát triển thành đô thị ven sông và đô thị
công nghiệp - logistics quy mô lớn, giữ vai trò kết nối giữa vùng đô thị Đồng
Nai với Thành phố Hồ Chí Minh và hệ thống cảng biển của vùng Đông Nam
Bộ. Với lợi thế nằm trên các trục giao thông chiến lược như cao tốc Bến Lức
- Long Thành, đường Vành đai 3 Thành phố Hồ Chí Minh và hệ thống cầu
kết nối qua sông Đồng Nai, khu vực này có điều kiện thuận lợi để phát triển
các trung tâm logistics đa phương thức, kết nối trực tiếp giữa cảng biển, sân
bay và các khu công nghiệp. Các khu đô thị ven sông tại Nhơn Trạch và Đại
Phước cũng có tiềm năng trở thành những không gian đô thị sinh thái có chất
lượng cao, góp phần mở rộng không gian phát triển của vùng đô thị trung
tâm.
Sự liên kết giữa Biên Hòa, Long Thành và Nhơn Trạch sẽ hình thành
một tam giác động lực phát triển của Thành phố Đồng Nai. Trong đó, mỗi
khu vực giữ một vai trò riêng nhưng vẫn gắn kết chặt chẽ trong tổng thể
chung: Biên Hòa là trung tâm đô thị truyền thống và dịch vụ; Long Thành là
trung tâm logistics hàng không và đổi mới sáng tạo; Nhơn Trạch là trung tâm
logistics gắn với cảng biển và đô thị ven sông. Cách tổ chức này giúp sử dụng
hiệu quả quỹ đất và hạ tầng, đồng thời tạo nền tảng phát triển ổn định cho
toàn vùng đô thị.
Trong giai đoạn dài hạn, vùng đô thị Biên Hòa - Long Thành - Nhơn
Trạch tiếp tục giữ vai trò trung tâm kinh tế quan trọng của vùng Đông Nam
Bộ, có khả năng kết nối trực tiếp với vùng đô thị Thành phố Hồ Chí Minh và
hệ thống cảng biển quốc tế. Đây sẽ là khu vực tập trung các ngành công
nghiệp công nghệ cao, logistics quốc tế, dịch vụ tài chính và đổi mới sáng
tạo, đóng vai trò dẫn dắt tăng trưởng kinh tế của Thành phố Đồng Nai.
135
5.3. Các cực phát triển vùng
Không gian phát triển của Thành phố Đồng Nai được mở rộng thông
qua việc hình thành các cực phát triển vùng, nhằm khai thác hiệu quả lợi thế
về vị trí địa lý, hạ tầng giao thông và tài nguyên sinh thái của từng khu vực.
Việc hình thành các cực này giúp mở rộng không gian đô thị, phân bố hợp lý
dân cư, công nghiệp và dịch vụ, đồng thời tạo thêm các động lực tăng trưởng
mới, qua đó giảm áp lực phát triển cho khu vực đô thị trung tâm. Theo định
hướng phát triển không gian chung của thành phố, các cực phát triển được
hình thành trên cơ sở các hành lang giao thông chiến lược và những khu vực
có tiềm năng phát triển kinh tế rõ nét. Ba khu vực chính được xác định gồm
cực phát triển công nghiệp - logistics, cực phát triển đô thị - dịch vụ và cực
phát triển sinh thái.
- Cực phát triển phía Bắc: Khu vực Chơn Thành - Đồng Xoài được
định hướng phát triển thành cực công nghiệp và logistics quan trọng của khu
vực phía Bắc. Đây là khu vực có vị trí thuận lợi trong mạng lưới giao thông
kết nối giữa vùng Đông Nam Bộ với Tây Nguyên và khu vực cửa khẩu quốc
tế Hoa Lư. Khi hệ thống cao tốc và quốc lộ liên vùng tiếp tục được hoàn
thiện, khu vực này sẽ từng bước trở thành trung tâm giao thương và logistics
quan trọng, giữ vai trò cửa ngõ phía Bắc của thành phố. Lợi thế đáng chú ý
của khu vực là quỹ đất phát triển còn lớn, phù hợp để hình thành các khu
công nghiệp quy mô lớn, các trung tâm logistics liên vùng và các đô thị dịch
vụ hỗ trợ sản xuất. Việc phát triển cực Chơn Thành - Đồng Xoài góp phần
mở rộng không gian kinh tế về phía Bắc và tạo điều kiện hình thành các chuỗi
liên kết sản xuất và logistics giữa Đông Nam Bộ, Tây Nguyên và khu vực
tiểu vùng sông Mekong.
- Cực phát triển phía Đông: Khu vực đô thị Long Khánh - Xuân Lộc -
Cẩm Mỹ được định hướng phát triển thành cực đô thị và dịch vụ của khu vực
phía Đông Thành phố Đồng Nai. Khu vực này nằm trên trục giao thông quan
trọng kết nối Thành phố Hồ Chí Minh với các tỉnh Nam Trung Bộ thông qua
các tuyến cao tốc Thành phố Hồ Chí Minh - Long Thành - Dầu Giây và Dầu
Giây - Phan Thiết. Sự hình thành các tuyến giao thông này tạo điều kiện
thuận lợi cho việc phát triển các trung tâm đô thị, thương mại và dịch vụ mới
dọc theo các hành lang phát triển. Trong thời gian tới, Long Khánh và Xuân
Lộc sẽ từng bước trở thành các đô thị trung tâm của khu vực phía Đông, giữ
vai trò kết nối giữa vùng đô thị trung tâm với các khu vực sinh thái và du lịch.
Bên cạnh chức năng đô thị và dịch vụ, khu vực này còn có tiềm năng phát
triển du lịch sinh thái, dịch vụ nghỉ dưỡng, giáo dục chất lượng cao và các mô
hình nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, góp phần đa dạng hóa cơ cấu kinh
tế của thành phố.
136
- Cực phát triển sinh thái trung tâm: Khu vực đô thị Tân Phú - Định
Quán - Trị An được định hướng phát triển theo mô hình vùng sinh thái và
kinh tế xanh. Đây là khu vực có hệ sinh thái tự nhiên phong phú với các tài
nguyên đặc trưng như hồ Trị An, Vườn quốc gia Cát Tiên và hệ thống rừng tự
nhiên rộng lớn. Các hệ sinh thái này có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ
môi trường, điều hòa khí hậu và bảo đảm an ninh nguồn nước cho toàn vùng
hạ lưu sông Đồng Nai. Khu vực này được xác định là vùng sinh thái chiến
lược của thành phố, nơi ưu tiên phát triển các hoạt động du lịch sinh thái,
nghiên cứu khoa học, kinh tế rừng bền vững và các đô thị sinh thái. Việc phát
triển cần gắn với bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và khai thác hợp lý các giá trị
sinh thái, tạo ra các sản phẩm du lịch và dịch vụ có giá trị gia tăng cao.
Việc hình thành các cực phát triển vùng sẽ góp phần tạo ra cấu trúc
không gian cân bằng cho Thành phố Đồng Nai. Trong đó, vùng đô thị trung
tâm tiếp tục giữ vai trò động lực tăng trưởng chính, còn các cực phát triển
vùng đóng vai trò mở rộng không gian kinh tế và phân bố lại các hoạt động
đô thị. Cách tổ chức này giúp sử dụng hiệu quả quỹ đất và hệ thống hạ tầng,
đồng thời tạo điều kiện cho hệ thống đô thị thích ứng tốt với quá trình đô thị
hóa trong thời gian tới. Các cực phát triển vùng được kết nối với vùng đô thị
trung tâm thông qua hệ thống hạ tầng giao thông liên vùng và các hành lang
kinh tế chiến lược. Sự liên kết này từng bước hình thành mạng lưới đô thị và
kinh tế thống nhất, trong đó mỗi khu vực đảm nhận một chức năng riêng
nhưng vẫn hỗ trợ lẫn nhau trong tổng thể phát triển của thành phố.
5.4. Các hành lang phát triển kinh tế - đô thị
Bên cạnh các vùng động lực và các cực phát triển, hệ thống hành lang
kinh tế - đô thị có vai trò quan trọng trong việc tổ chức các hoạt động kinh tế
và phân bố không gian đô thị trên địa bàn Thành phố Đồng Nai. Đây là
những không gian phát triển tổng hợp, nơi tập trung các hoạt động sản xuất
công nghiệp, logistics, thương mại và dịch vụ, đồng thời giữ vai trò liên kết
giữa các đô thị và các khu vực chức năng quan trọng. Việc hình thành các
hành lang này tạo điều kiện phát triển các chuỗi liên kết kinh tế và các cụm
đô thị - công nghiệp - logistics có khả năng lan tỏa rộng, góp phần thúc đẩy
tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh của thành phố.
Hệ thống hành lang kinh tế - đô thị của Thành phố Đồng Nai được hình
thành chủ yếu trên cơ sở các tuyến hạ tầng giao thông chiến lược của quốc
gia và vùng Đông Nam Bộ, gồm các tuyến cao tốc, quốc lộ, đường vành đai
và các tuyến kết nối với hệ thống cảng biển và Cảng hàng không quốc tế
Long Thành. Trên nền tảng đó, không gian phát triển của thành phố được
định hướng theo bốn hành lang kinh tế chủ đạo, làm cơ sở định hướng phát
137
triển các khu đô thị, khu công nghiệp và các trung tâm dịch vụ trong thời gian
tới.
- Hành lang thành phố Hồ Chí Minh - Biên Hòa - Long Thành - Dầu
Giây là trục phát triển quan trọng nhất của Thành phố Đồng Nai. Hành lang
này gắn với các tuyến giao thông chiến lược như cao tốc Thành phố Hồ Chí
Minh - Long Thành - Dầu Giây, cao tốc Biên Hòa - Vũng Tàu và hệ thống
các tuyến kết nối trực tiếp với Cảng hàng không quốc tế Long Thành. Việc
đầu tư đồng bộ các tuyến hạ tầng đang hình thành một trục đô thị - công
nghiệp - dịch vụ quy mô lớn, kết nối trực tiếp thành phố Hồ Chí Minh với
trung tâm logistics hàng không Long Thành và các khu công nghiệp trọng
điểm của Đồng Nai. Dọc theo hành lang này tập trung nhiều khu công nghiệp
công nghệ cao, trung tâm logistics hiện đại, các khu đô thị mới và các trung
tâm thương mại - dịch vụ quy mô lớn, tạo động lực phát triển chính cho vùng
đô thị trung tâm Biên Hòa - Long Thành - Nhơn Trạch.
- Hành lang Biên Hòa - Long Thành - Nhơn Trạch - hệ thống cảng biển
Cái Mép - Thị Vải giữ vai trò là trục logistics quan trọng của vùng Đông Nam
Bộ. Hành lang này kết nối hệ thống sản xuất công nghiệp của Đồng Nai với
các cảng biển nước sâu của khu vực, qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt
động xuất nhập khẩu và thương mại quốc tế. Khi hạ tầng giao thông và cảng
biển được hoàn thiện, khu vực dọc theo hành lang có khả năng hình thành
chuỗi đô thị - công nghiệp - logistics liên hoàn, trở thành đầu mối trung
chuyển hàng hóa giữa các khu công nghiệp của Đồng Nai và thị trường quốc
tế.
- Hành lang Long Thành - Chơn Thành - Đồng Xoài - cửa khẩu quốc tế
Hoa Lư có vai trò kết nối khu vực Đông Nam Bộ với Tây Nguyên và các
quốc gia trong tiểu vùng sông Mekong. Đây là trục giao thương và logistics
liên vùng quan trọng, góp phần mở rộng không gian kinh tế của Thành phố
Đồng Nai về phía Bắc. Với lợi thế kết nối thuận lợi trên các tuyến giao thông
liên vùng, khu vực dọc theo hành lang có tiềm năng phát triển các khu công
nghiệp quy mô lớn, trung tâm logistics liên vùng và các đô thị dịch vụ phục
vụ sản xuất, từng bước hình thành chuỗi liên kết kinh tế giữa Đông Nam Bộ
với Tây Nguyên và khu vực ASEAN.
- Hành lang sông Đồng Nai là trục sinh thái - đô thị - dịch vụ đặc trưng
của thành phố. Khác với các hành lang kinh tế chủ yếu gắn với giao thông
đường bộ, hành lang này giữ vai trò quan trọng trong việc hình thành các
không gian đô thị ven sông, các công viên sinh thái và các khu du lịch cảnh
quan. Sông Đồng Nai không chỉ là yếu tố cảnh quan tự nhiên quan trọng mà
còn là trục tổ chức không gian đô thị có ý nghĩa lâu dài, kết nối các đô thị ven
138
sông và tạo ra các không gian công cộng có giá trị. Việc khai thác hợp lý
hành lang sông Đồng Nai sẽ góp phần nâng cao chất lượng môi trường sống,
tạo bản sắc cảnh quan riêng và thúc đẩy các hoạt động dịch vụ, du lịch gắn
với hệ sinh thái tự nhiên.
5.5. Các vành đai sinh thái
Song song với việc hình thành các vùng đô thị động lực và các hành
lang kinh tế - đô thị, việc tổ chức các vành đai sinh thái và hành lang sinh thái
chiến lược có ý nghĩa quan trọng trong cấu trúc phát triển của Thành phố
Đồng Nai. Trong điều kiện đô thị hóa và công nghiệp hóa diễn ra nhanh, các
khu vực sinh thái tự nhiên không chỉ có vai trò bảo vệ môi trường mà còn góp
phần định hướng không gian phát triển, tạo sự cân bằng giữa tăng trưởng kinh
tế và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên. Một lợi thế rõ của Thành phố Đồng Nai
so với nhiều đô thị lớn khác là sự hiện diện của hệ thống sinh thái tự nhiên có
quy mô lớn và đa dạng, trải dài từ khu vực rừng bán cao nguyên phía Bắc đến
các hệ sinh thái rừng, hồ và đồi núi ở khu vực trung du và phía Đông. Các hệ
sinh thái này tạo thành một không gian sinh thái liên hoàn, có ý nghĩa quan
trọng đối với việc bảo đảm an ninh sinh thái và điều hòa môi trường cho toàn
vùng Đông Nam Bộ.
Trên cơ sở đặc điểm tự nhiên và định hướng phát triển bền vững, cấu
trúc sinh thái của Thành phố Đồng Nai được tổ chức theo hai vành đai sinh
thái lớn và một hành lang sinh thái trung tâm. Hệ thống này tạo nên chuỗi liên
kết sinh thái theo trục Bắc - Nam, đồng thời đóng vai trò là khung bảo vệ môi
trường cho các khu vực đô thị và công nghiệp.
- Vành đai sinh thái phía Bắc gồm khu vực rừng Bù Gia Mập - hồ Thác
Mơ - núi Bà Rá, được xác định là vùng sinh thái có ý nghĩa đặc biệt đối với
toàn thành phố. Đây là khu vực tập trung hệ sinh thái rừng tự nhiên lớn của
vùng Đông Nam Bộ, bao gồm Vườn quốc gia Bù Gia Mập, hệ thống rừng
phòng hộ đầu nguồn, hồ Thác Mơ và khu vực núi Bà Rá - những khu vực có
giá trị cao về đa dạng sinh học và cảnh quan tự nhiên. Vành đai sinh thái phía
Bắc được định hướng phát triển theo mô hình kinh tế xanh, ưu tiên các hoạt
động bảo tồn thiên nhiên, phát triển du lịch sinh thái, nghiên cứu khoa học và
các mô hình kinh tế rừng bền vững. Các đô thị trong khu vực được định
hướng phát triển với quy mô phù hợp, gắn với nguyên tắc đô thị sinh thái, hạn
chế tác động đến hệ sinh thái tự nhiên và bảo đảm vai trò bảo vệ môi trường
cho khu vực phía Nam của thành phố.
- Hành lang sinh thái trung tâm hồ Trị An - Vườn quốc gia Cát Tiên là
trục sinh thái quan trọng của Thành phố Đồng Nai, giữ vai trò kết nối giữa
các hệ sinh thái phía Bắc với các khu vực sinh thái phía Đông. Khu vực Trị
139
An - Tân Phú - Định Quán có ý nghĩa đặc biệt trong việc điều tiết nguồn nước
và bảo vệ môi trường cho toàn bộ lưu vực sông Đồng Nai. Hồ Trị An là một
trong những hồ nước lớn của khu vực phía Nam, vừa có chức năng điều tiết
nguồn nước, vừa là không gian cảnh quan có tiềm năng phát triển du lịch sinh
thái và các hoạt động kinh tế gắn với mặt nước. Vườn quốc gia Cát Tiên là
khu bảo tồn thiên nhiên quan trọng của Việt Nam và khu vực Đông Nam Á,
với hệ sinh thái rừng nhiệt đới đặc trưng và đa dạng sinh học phong phú.
Hành lang sinh thái Trị An - Cát Tiên đóng vai trò như một trục sinh thái
xuyên suốt, kết nối các hệ sinh thái rừng, hồ và sông, đồng thời góp phần bảo
đảm an ninh sinh thái lâu dài cho khu vực đô thị trung tâm.
- Vành đai sinh thái phía Đông gồm khu vực núi Chứa Chan - Xuân
Lộc - Cẩm Mỹ, bao gồm các khu vực Long Khánh, Xuân Lộc và Cẩm Mỹ,
nơi có hệ sinh thái đồi núi thấp đặc trưng của vùng Đông Nam Bộ. Trong đó,
khu vực núi Chứa Chan có giá trị cảnh quan và văn hóa đặc biệt, đồng thời là
điểm du lịch tâm linh và sinh thái quan trọng. Khu vực này có địa hình bán
sơn địa với nhiều vùng cảnh quan tự nhiên và các khu vực sản xuất nông
nghiệp truyền thống. Đây là khu vực chuyển tiếp giữa vùng đô thị trung tâm
với các vùng sinh thái phía Bắc, đồng thời có tiềm năng phát triển các đô thị
sinh thái, khu du lịch nghỉ dưỡng và các hoạt động kinh tế gắn với cảnh quan
tự nhiên.
Việc hình thành các vành đai sinh thái và hành lang sinh thái nêu trên
sẽ góp phần tạo ra cấu trúc không gian phát triển cân bằng cho Thành phố
Đồng Nai. Các khu vực đô thị và công nghiệp được tổ chức gắn với các hành
lang kinh tế, trong khi các khu vực sinh thái giữ vai trò bảo vệ môi trường và
cung cấp các dịch vụ hệ sinh thái quan trọng. Đây là nền tảng để Thành phố
Đồng Nai phát triển theo định hướng đô thị xanh và bền vững, trong đó các
yếu tố tự nhiên được bảo tồn và khai thác hợp lý phục vụ cho phát triển lâu
dài. Trong điều kiện nhiều đô thị lớn đang chịu áp lực về môi trường và thiếu
hụt không gian xanh, hệ thống sinh thái của Đồng Nai là một lợi thế quan
trọng để phát triển các mô hình đô thị sinh thái và kinh tế xanh.
5.6. Tổng thể cấu trúc không gian phát triển đô thị Thành phố
Đồng Nai
Định hướng phát triển của Thành phố Đồng Nai được tổ chức theo cấu
trúc tích hợp giữa các yếu tố đô thị, kinh tế và sinh thái. Các trung tâm đô thị,
khu công nghiệp, trung tâm logistics và các vùng sinh thái được liên kết với
nhau thông qua hệ thống hạ tầng giao thông và các hành lang phát triển kinh
tế. Thành phố Đồng Nai không phát triển theo mô hình đô thị đơn cực truyền
140
thống, mà được định hình theo hướng đa trung tâm, có khả năng kết nối chặt
chẽ với các trung tâm kinh tế lớn của quốc gia và khu vực.
Trong cấu trúc này, vùng đô thị trung tâm Biên Hòa - Long Thành -
Nhơn Trạch giữ vai trò hạt nhân phát triển của toàn thành phố, là nơi tập
trung các chức năng đô thị có giá trị gia tăng cao và có khả năng lan tỏa lớn.
Khu vực này được định hướng phát triển theo mô hình đô thị hiện đại gắn với
công nghiệp, dịch vụ và logistics quốc tế, dịch vụ tài chính, thương mại quốc
tế, đổi mới sáng tạo và các chức năng đô thị hiện đại. Sự phát triển của khu
vực này gắn chặt với Cảng hàng không quốc tế Long Thành và hệ thống hạ
tầng giao thông chiến lược của vùng Đông Nam Bộ, nhất là các tuyến giao
thông huyết mạch gồm cao tốc Biên Hòa - Vũng Tàu, vành đai 3 và vành đai
4 vùng Thành phố Hồ Chí Minh, mở rộng cao tốc TP.HCM - Long Thành -
Dầu Giây và các tuyến kết nối trực tiếp với sân bay Long Thành. Những
tuyến hạ tầng này từng bước hình thành một không gian đô thị động lực có
khả năng dẫn dắt tăng trưởng của toàn thành phố.
Bên cạnh khu vực đô thị trung tâm, các cực phát triển vùng tại khu vực
phía Bắc và phía Đông được tổ chức như những không gian mở rộng quan
trọng, có vai trò phân bố lại các hoạt động công nghiệp, dịch vụ và dân cư
trong toàn bộ lãnh thổ. Các khu vực này sẽ phát triển các mô hình đô thị -
công nghiệp - dịch vụ phù hợp với điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý và lợi thế
phát triển của từng vùng. Việc hình thành các cực phát triển này góp phần tạo
ra cấu trúc đô thị đa cực, giảm áp lực cho khu vực trung tâm và tạo điều kiện
phát triển cân bằng giữa các vùng.
Hệ thống các hành lang kinh tế - đô thị là khung kết nối quan trọng của
toàn bộ cấu trúc không gian phát triển. Các hành lang này được hình thành
trên cơ sở các tuyến giao thông quốc gia và liên vùng, bao gồm hệ thống cao
tốc, quốc lộ, các tuyến vành đai và các trục kết nối với cảng biển, sân bay và
cửa khẩu quốc tế. Thông qua các hành lang này, các trung tâm đô thị, khu
công nghiệp và trung tâm logistics được liên kết thành một mạng lưới phát
triển thống nhất, tạo điều kiện cho dòng hàng hóa, dòng vốn và lực lượng lao
động lưu thông hiệu quả trong toàn bộ hệ thống đô thị. Sự phát triển của các
hành lang kinh tế đồng thời mở rộng khả năng kết nối của Thành phố Đồng
Nai với các vùng kinh tế lớn của cả nước và khu vực Đông Nam Á.
Song song với các không gian phát triển kinh tế và đô thị, hệ thống các
vành đai sinh thái và hành lang sinh thái được duy trì như một thành phần
quan trọng của cấu trúc phát triển. Các khu vực sinh thái tự nhiên, đặc biệt là
hệ thống rừng và hồ lớn tại khu vực phía Bắc và phía Đông, tạo thành các
không gian sinh thái liên hoàn có vai trò quan trọng trong việc điều hòa môi
141
trường và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên. Những khu vực này không chỉ là
vùng bảo tồn sinh thái mà còn là nền tảng để phát triển các mô hình kinh tế
xanh, du lịch sinh thái và các đô thị sinh thái với quy mô phù hợp. Việc duy
trì các vành đai sinh thái cũng giúp kiểm soát quá trình mở rộng đô thị và hạn
chế các tác động tiêu cực đến môi trường.
Tổng thể cấu trúc không gian phát triển này tạo điều kiện để Thành phố
Đồng Nai phát huy hiệu quả lợi thế vị trí địa lý chiến lược trong vùng kinh tế
trọng điểm phía Nam, đồng thời khẳng định vai trò là đầu mối kết nối quan
trọng giữa hệ thống sản xuất công nghiệp của vùng với các mạng lưới
logistics quốc tế. Sự hội tụ của các yếu tố hạ tầng chiến lược như Cảng hàng
không quốc tế Long Thành, hệ thống cảng biển, mạng lưới cao tốc liên vùng
và các trung tâm công nghiệp lớn tạo ra nền tảng thuận lợi để hình thành một
hệ thống đô thị hiện đại, có khả năng cạnh tranh trong khu vực. Mô hình tổ
chức không gian phát triển này là cơ sở để Thành phố Đồng Nai hình thành
hệ thống đô thị theo hướng hiện đại, có cấu trúc hợp lý và phân bố chức năng
rõ ràng. Đồng thời, đây cũng là nền tảng quan trọng để bảo đảm phát triển
bền vững trong dài hạn, nâng cao chất lượng môi trường sống và tăng cường
năng lực cạnh tranh đô thị. Trên cơ sở đó, Thành phố Đồng Nai từng bước
khẳng định vai trò của mình trong cấu trúc phát triển của vùng Đông Nam Bộ
và của cả nước.
5.7. Định hướng phát triển dự án nhà ở theo các vùng không gian
- Vùng động lực mới: Long Thành - Nhơn Trạch - Trảng Bom (khu vực
Cảng Hàng không quốc tế Long Thành và Thành phố sân bay)
Định hướng phát triển nhà ở thương mại: Ưu tiên phát triển các dự án
nhà ở quy mô lớn tại khu vực trung tâm đô thị sân bay Long Thành, khu vực
mở rộng đô thị Long Thành - Nhơn Trạch; phát triển các dự án nhà ở liên kế,
biệt thự, shophouse tại khu vực ven đô, gần các khu du lịch, dịch vụ. Khuyến
khích phát triển chung cư cao tầng, nhà ở kết hợp thương mại, dịch vụ, văn
phòng theo mô hình TOD dọc tuyến metro số 1, metro số 5, đường sắt đô thị
và trục Đại lộ Đồng Khởi nối Thành phố Hồ Chí Minh - sân bay Long Thành.
Định hướng phát triển nhà ở xã hội và nhà lưu trú công nhân: Phát triển
các dự án nhà ở xã hội quy mô lớn tại khu vực trung tâm hành chính mới đô
thị Long Thành, khu tái định cư các dự án trọng điểm, phát triển các dự án
nhà ở xã hội và lưu trú công nhân tại khu vực các khu công nghiệp Long
Thành, Nhơn Trạch, Trảng Bom, Sông Mây, Hòa Phú. Khuyến khích các
doanh nghiệp FDI, doanh nghiệp trong nước xây dựng nhà lưu trú công nhân
tập trung, hiện đại, đồng bộ với các công trình dịch vụ, văn hóa, thể thao, y tế,
giáo dục.
142
- Vùng đô thị trung tâm hiện hữu: Biên Hòa - Long Khánh - Nhơn
Trạch
Định hướng phát triển nhà ở thương mại: Phát triển các dự án chung cư
cao tầng tại khu vực trung tâm các phường Trảng Dài, Tân Phong, Tân Biên,
Hố Nai, Bửu Long, Long Bình, Thống Nhất, Bửu Hòa, các phường Long
Khánh, xã Nhơn Trạch, khu vực ven sông Đồng Nai, hành lang Đại lộ Đồng
Nai; phát triển các khu đô thị mới quy mô lớn như Aqua City (giai đoạn 2),
Izumi City, Gem Sky World tại khu vực mở rộng đô thị phía Bắc, Tây Bắc
các phường Biên Hòa, phía Nam các phường Long Khánh; phát triển các dự
án nhà ở liên kế, biệt thự tại khu vực ven đô, khu sinh thái ven sông..
Định hướng phát triển nhà ở xã hội: Phát triển các dự án nhà ở xã hội
tại khu vực chuyển đổi công năng của các khu công nghiệp cũ như KCN Biên
Hòa 1, KCN Tân Biên, KCN Hố Nai; khu vực tái định cư, khu vực gần trung
tâm hành chính các phường, xã; khu vực gần các khu công nghiệp Nhơn
Trạch, Amata, Long Bình, Gò Dầu.
- Vùng trung tâm mới sau sáp nhập: Đồng Xoài - Chơn Thành - Đồng
Phú
Định hướng phát triển nhà ở thương mại: Phát triển các dự án nhà ở
thương mại tại khu vực trung tâm đô thị Đồng Xoài (cũ), trung tâm đô thị
Chơn Thành (cũ), khu đô thị mới Becamex Bình Phước, khu vực mở rộng đô
thị dọc Quốc lộ 14, Quốc lộ 13; phát triển nhà ở liên kế, biệt thự tại khu vực
ven đô, khu vực sinh thái rừng, khu du lịch sinh thái.
Định hướng phát triển nhà ở xã hội: Ưu tiên phát triển nhà ở xã hội tại
khu vực trung tâm hành chính mới phường Bình Phước, phường Đồng Xoài,
khu tái định cư, khu vực gần các khu công nghiệp Minh Hưng, Đồng Xoài I,
Đồng Xoài II, Becamex Bình Phước; bảo đảm tỷ lệ diện tích trong các dự án
nhà ở thương mại để phát triển nhà ở xã hội.
Định hướng phát triển nhà lưu trú công nhân: Phát triển các dự án nhà
lưu trú công nhân trong các khu công nghiệp Minh Hưng, Đồng Xoài I, Đồng
Xoài II, Becamex Bình Phước, Phú Riềng; khuyến khích các doanh nghiệp
trong và ngoài nước đầu tư xây dựng nhà lưu trú công nhân hiện đại, chất
lượng cao.
- Vùng phát triển hành lang kinh tế và các xã, phường khác
Định hướng phát triển nhà ở thương mại: Phát triển các dự án nhà ở
thương mại tại các trung tâm đô thị Thống Nhất, Cẩm Mỹ, Tân Phú, Định
Quán, Xuân Lộc, Vĩnh Cửu, Phước Long, Bình Long, Lộc Ninh, Bù Gia
143
Mập, Bù Đốp, Bù Đăng, Hớn Quản; phát triển nhà ở liên kế, nhà ở riêng lẻ tại
khu vực nông thôn, ven đô.
Định hướng phát triển nhà ở xã hội: Phát triển nhà ở xã hội quy mô vừa
và nhỏ tại khu vực trung tâm các xã phường, khu vực gần các khu công
nghiệp, cụm công nghiệp; hỗ trợ hộ nghèo, hộ cận nghèo, đồng bào dân tộc
thiểu số cải tạo, xây dựng nhà ở kiên cố, bền vững.
5.8. Các dự án và không gian phát triển chiến lược tạo đột phá cho
cấu trúc đô thị Đồng Nai:
- Tập trung phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông theo hướng
đồng bộ, hiện đại và đa phương thức, gắn với định hướng phát triển đô thị,
công nghiệp và logistics với tính chất là một đô thị lớn cấp vùng.
+ Ưu tiên hoàn thiện mạng lưới cao tốc liên vùng và các tuyến vành đai
của vùng Thành phố Hồ Chí Minh, bao gồm các dự án cao tốc Biên Hòa –
Vũng Tàu, Bến Lức – Long Thành, Gia Nghĩa – Chơn Thành, Thành phố Hồ
Chí Minh – Thủ Dầu Một – Chơn Thành và Dầu Giây – Liên Khương. Việc
hoàn thiện các tuyến cao tốc này sẽ hình thành hệ thống giao thông tốc độ cao
kết nối trực tiếp Đồng Nai với Thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh Tây
Nguyên, Nam Trung Bộ và hệ thống cảng biển quốc tế của khu vực, qua đó
rút ngắn thời gian vận chuyển hàng hóa, nâng cao năng lực cạnh tranh của
nền kinh tế và mở rộng không gian phát triển đô thị.
+ Tập trung đầu tư hệ thống giao thông kết nối Cảng hàng không quốc
tế Long Thành, bao gồm các tuyến cao tốc, các tuyến đường trục chính đô thị
và các tuyến đường kết nối trực tiếp với sân bay. Hệ thống giao thông này sẽ
hình thành mạng lưới kết nối đồng bộ giữa sân bay Long Thành với các khu
công nghiệp, các trung tâm logistics và hệ thống cảng biển trong khu vực, tạo
nền tảng để phát triển đô thị sân bay và trung tâm logistics hàng không quy
mô lớn của khu vực phía Nam.
+ Đẩy mạnh đầu tư mạng lưới đường sắt quốc gia và đường sắt đô thị,
đặc biệt là tuyến đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam, tuyến Biên Hòa – Vũng
Tàu và tuyến Biên Hòa – Lộc Ninh nhằm tăng cường năng lực vận chuyển
hàng hóa giữa các khu công nghiệp của Đồng Nai với hệ thống cảng biển và
cửa khẩu quốc tế. Việc triển khai tuyến metro kéo dài từ Suối Tiên đến trung
tâm hành chính Đồng Nai và Cảng hàng không quốc tế Long Thành sẽ hình
thành trục giao thông công cộng khối lượng lớn kết nối trực tiếp giữa Thành
phố Hồ Chí Minh với các đô thị và trung tâm kinh tế của Đồng Nai, góp phần
thúc đẩy phát triển đô thị theo mô hình đô thị định hướng giao thông công
cộng (TOD).
144
+ Song song với việc phát triển các tuyến giao thông liên vùng, sẽ ưu
tiên đầu tư các trục giao thông động lực phát triển đô thị, tạo khung kết cấu
hạ tầng cho quá trình mở rộng không gian đô thị và hình thành các cực tăng
trưởng mới của tỉnh. Trong đó, trọng tâm là các trục phát triển chiến lược như
trục Biên Hòa – Long Thành – Nhơn Trạch gắn với Cảng hàng không quốc tế
Long Thành, trục Biên Hòa – Trảng Bom – Long Khánh – Xuân Lộc, trục
Long Thành – Chơn Thành – Đồng Xoài – cửa khẩu quốc tế Hoa Lư và trục
ven sông Đồng Nai. Các trục giao thông này sẽ đóng vai trò định hướng phát
triển các khu đô thị mới, các trung tâm công nghiệp – logistics và các khu
dịch vụ thương mại quy mô lớn, góp phần hình thành cấu trúc đô thị đa trung
tâm.
Bên cạnh đó, sẽ phát triển hệ thống trung tâm logistics, cảng cạn (ICD)
và các trung tâm trung chuyển hàng hóa đa phương thức, đặc biệt tại các khu
vực Long Thành, Nhơn Trạch, Trảng Bom, Chơn Thành và khu vực cửa khẩu
Hoa Lư. Hệ thống logistics này sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc tổ chức
các chuỗi cung ứng và vận tải hàng hóa của khu vực phía Nam, góp phần
nâng cao hiệu quả hoạt động xuất nhập khẩu và phát triển thương mại quốc
tế.
+ Ngoài ra, trong thời gian tới sẽ tăng cường khai thác giao thông
đường thủy nội địa, phát triển các tuyến vận tải hàng hóa trên sông Đồng Nai
và sông Thị Vải kết nối với hệ thống cảng biển quốc tế của vùng Đông Nam
Bộ. Việc phát triển logistics đường thủy sẽ góp phần giảm áp lực cho hệ
thống giao thông đường bộ, đồng thời nâng cao hiệu quả vận tải hàng hóa của
toàn vùng.
- Tiếp tục xây dựng mới, cải tạo, mở rộng mạng lưới đường ống cấp
nước đáp ứng nhu cầu dùng nước cho sinh hoạt và sản xuất; phủ kín mạng
lưới tuyến ống phân phối đến từng khu vực chưa có nước trong đô thị và khu
vực định hướng phát triển đô thị. Tập trung thực hiện nâng công suất các nhà
máy hiện có như: nhà máy nước Biên Hòa; nhà máy nước Thiện Tân; Nhà
máy nước Nhơn Trạch; Nhà máy nước Tâm - Hưng - Hòa; Nhà máy nước
Gia Tân; Nhà máy nước Vĩnh An; nhà máy nước Phước Long; Nhà máy nước
Đồng Xoài; Nhà máy nước Chơn Thành... đồng thời, khuyến khích các nhà
đầu tư mở rộng mạng lưới tuyến ống đến các vùng phục vụ cấp nước của đơn
vị đã và đang đăng ký cấp nước để đẩy nhanh tiến độ đầu tư và giảm chi phí
đầu tư so với xây dựng nhà máy mới.
- Từng bước hoàn thiện hệ thống hạ tầng kỹ thuật thoát nước và xử lý
nước thải theo quy hoạch để đảm bảo mục tiêu thoát nước, chống ngập và xử
lý nước thải đạt quy chuẩn bảo vệ môi trường cho các đô thị mới và các khu
145
vực đã có định hướng phát triển đô thị trong tương lai. Ưu tiên bố trí vốn để
đầu tư các dự án hệ thống thoát nước và xử lý nước thải tập trung đô thị khi
có đủ khả năng cân đối vốn đầu tư để từng bước đáp ứng chỉ tiêu môi trường
đạt chuẩn đô thị theo quy hoạch đã được phê duyệt. Đặc biệt là các dự án đã
có chủ trương đầu tư và các dự án đã xác định trong quy hoạch tỉnh như: Dự
án thoát nước và xử lý nước thải sinh hoạt tập trung Biên Hòa, công suất
39.000m³/ngày; Hệ thống thu gom nước thải và nâng công suất nhà máy xử lý
nước thải số 1 từ 3.000m³/ngày lên 9.500m³/ngày; Dự án thoát nước và xử lý
nước thải sinh hoạt tập trung thành phố Long Khánh, giai đoạn ưu tiên, công
suất 11.000m³/ngày; Nâng cấp, cải tạo nhà máy xử lý nước thải sinh hoạt tập
trung, phường Bình Phước; Hệ thống thoát nước và xử lý nước thải thị trấn
Long Thành, giai đoạn ưu tiên; Hệ thống thoát nước và xử lý nước thải thị
trấn Trảng Bom, giai đoạn ưu tiên…. Tiếp tục bố trí vốn để thực hiện duy tu,
nạo vét bùn, khơi thông cống, rãnh, kênh, mương thường xuyên định kỳ, tập
trung vào thời điểm trước và trong mùa mưa bão để đảm bảo việc tiếp nhận,
tiêu thoát nước tốt nhất trong mùa mưa.
- Thu hút đầu tư hạ tầng nghĩa trang, cơ sở hỏa táng, nhà tang lễ theo
quy hoạch để đáp ứng chỉ tiêu phát triển đô thị và nhu cầu thực tế của từng
địa phương, khu vực.
- Tập trung đầu tư các công viên đã phù hợp quy hoạch, đảm bảo tính
thẩm mỹ và công năng, hiệu quả khai thác. Kết hợp công viên và bãi xe theo
quy hoạch, ưu tiên bố trí tại các khu vực đông dân cư, các tuyến đường giao
thông nhỏ, dễ kẹt xe; thiết kế bãi xe ngầm/cao tầng thông minh, cơ chế chia
sẻ rủi ro giữa nhà nước và tư nhân (PPP) và tận dụng không gian dịch vụ phụ
trợ, kết hợp thương mại, kinh doanh khai thác.
- Rà soát các tuyến đường, công viên, bãi xe, các công trình công cộng
chưa có hệ thống chiếu sáng hoặc có nhưng không đảm bảo để thực hiện bổ
sung, nâng cấp, cải tạo hệ thống chiếu sáng công cộng, trong đó ưu tiên ứng
dụng chiếu sáng sử dụng năng lượng tái tạo, tiết kiệm năng lượng, chiếu sáng
thông minh, với hệ thống dây dẫn hạ tầng trong vỉa hè, lề đường.
III. GIẢI PHÁP NGÂN SÁCH, VỐN ĐẦU TƯ
1. Giải pháp huy động vốn đầu tư
Nguyên tắc chung: Huy động vốn theo hướng đa dạng hóa nguồn lực,
nâng cao hiệu quả phân bổ – sử dụng, bảo đảm kỷ luật tài chính và phù hợp
năng lực hấp thụ của nền kinh tế; đầu tư công giữ vai trò dẫn dắt, khu vực tư
nhân là động lực chủ yếu huy động nguồn lực xã hội theo cơ chế thị trường,
phục vụ tăng trưởng xanh, kinh tế số và đổi mới sáng tạo.
146
Ưu tiên tài chính xanh: Xây dựng danh mục dự án xanh ưu tiên,
thống nhất tiêu chí phân loại, tăng cường công bố thông tin và đo lường – báo
cáo tác động môi trường, xã hội; tạo điều kiện tiếp cận tín dụng xanh, vốn
vay ưu đãi, phát hành trái phiếu xanh/bền vững/liên kết bền vững và các
khoản vay gắn chỉ tiêu bền vững. Ưu tiên cho dự án xử lý chất thải, nước thải,
cải thiện môi trường, sản xuất sạch hơn, tiết kiệm năng lượng, hạ tầng đô thị
xanh, năng lượng tái tạo, kinh tế tuần hoàn (KCN/CCN); thiết lập cơ chế
chuẩn hóa hồ sơ – giám sát sau huy động.
1.1. Vốn đầu tư công
Tập trung ngân sách Trung ương, địa phương và nguồn hợp pháp khác;
đầu tư trọng tâm, trọng điểm cho hạ tầng khung, liên kết vùng, giao thông
chiến lược, logistics, đồng thời ưu tiên hạ tầng số, KHCN và hạ tầng xã hội
thiết yếu. Vốn nhà nước ưu tiên cho chuẩn bị dự án, GPMB – tái định cư và
hạ tầng kết nối ngoài ranh để tăng tính sẵn sàng, giảm chi phí, kéo vốn ngoài
nhà nước. Khai thác nguồn lực đất đai, tài sản công theo cơ chế thị trường
(quỹ đất sạch, đấu giá/đấu thầu dự án có sử dụng đất), bảo đảm minh bạch và
kiểm soát thất thoát. Thí điểm một số công cụ nắm bắt giá trị tăng thêm của
đất để tạo nguồn lực phát triển hạ tầng đô thị. Nghiên cứu phát hành trái
phiếu chính quyền tỉnh, vay từ các tổ chức tài chính trong nước và quốc tế.
1.2. Vốn khu vực tư nhân trong nước
Cải thiện môi trường đầu tư, rút ngắn thủ tục, giảm chi phí tuân thủ;
nâng cao chất lượng dịch vụ công và cơ chế phối hợp giữa các đơn vị, công
khai quy hoạch và danh mục dự án kêu gọi đầu tư. Tạo điều kiện tiếp cận đất
đai, hạ tầng KCN/CCN, logistics, hạ tầng số; phối hợp tổ chức tín dụng để đa
dạng hóa kênh vốn (tài trợ theo chuỗi giá trị, theo hợp đồng và dòng tiền). Ưu
tiên vào công nghiệp chế biến – chế tạo, công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ,
logistics, đô thị xanh – thông minh, nông nghiệp CNC gắn chế biến sâu.
Khuyến khích doanh nghiệp mở rộng đầu tư, tăng cường liên kết các doanh
nghiệp theo chuỗi cung ứng, cụm ngành, thúc đẩy nội địa hóa.
1.3. PPP và xã hội hóa
Đẩy mạnh PPP cho hạ tầng và một số dịch vụ công; lựa chọn loại hợp
đồng phù hợp (BOT, BTO, BOO, O&M, BTL, BLT, hợp đồng hỗn hợp), làm
rõ cơ chế chia sẻ rủi ro và giám sát hợp đồng. Ưu tiên dự án có khả năng tạo
dòng tiền, hoàn vốn và lan tỏa pgats triển: giao thông liên vùng, hạ tầng đô thị
(cấp/thoát nước, xử lý chất thải), logistics, hạ tầng số; có thể mở rộng sang y
tế, giáo dục, văn hóa – thể thao theo chủ trương xã hội hóa. Vốn nhà nước tập
trung cho chuẩn bị dự án, GPMB và hạ tầng khung để tăng tính khả thi. Tăng
cường giám sát thực hiện hợp đồng và chất lượng dịch vụ.
147
1.4. Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
Thu hút FDI có chọn lọc, nâng cao chất lượng, ưu tiên công nghệ cao,
đổi mới sáng tạo, công nghiệp hỗ trợ, logistics, dịch vụ hiện đại, sản xuất
xanh, gắn với mục tiêu hình thành cụm liên kết ngành và tăng nội địa hóa.
Chủ động quỹ đất sạch, hoàn thiện hạ tầng KCN/CCN – logistics – số; cơ chế
một cửa và xúc tiến theo ngành mục tiêu; tăng cường thẩm định công nghệ,
sàng lọc môi trường từ đầu; khuyến khích R&D, chuyển giao công nghệ và
liên kết doanh nghiệp trong nước.
1.5. ODA, vốn vay ưu đãi và nguồn hỗ trợ hợp pháp khác
Ưu tiên cho dự án lợi ích công, thu hồi vốn dài, tác động lan tỏa lớn: hạ
tầng môi trường, thoát nước – xử lý nước thải/chất thải, thích ứng BĐKH, y
tế, giáo dục, quản trị, chuyển đổi số và hiện đại hóa dịch vụ công. Chuẩn bị
dự án chặt chẽ, bảo đảm vốn đối ứng, năng lực giải ngân; quản lý rủi ro tài
khóa, giám sát – kiểm toán và công khai minh bạch, tiết kiệm, hiệu quả.
1.6. Vốn đầu tư mạo hiểm và nguồn lực đổi mới sáng tạo
Phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo: kết nối quỹ đầu
tư, nhà đầu tư thiên thần, ươm tạo – tăng tốc, chuẩn hóa quản trị và minh
bạch tài chính. Ưu tiên lĩnh vực công nghệ, giải pháp số, logistics, công
nghiệp hỗ trợ, công nghệ môi trường, sản xuất thông minh và mô hình kinh
doanh mới có khả năng mở rộng nhanh. Khuyến khích cơ chế hợp tác giữa
doanh nghiệp lớn với doanh nghiệp khởi nghiệp.
1.7. Chính sách thuế như công cụ thu hút đầu tư
Áp dụng ưu đãi thuế – phí trong khuôn khổ pháp luật theo hướng ổn
định, minh bạch, có trọng tâm cho dự án công nghệ cao, chuyển đổi số, sản
xuất xanh, tiết kiệm năng lượng, công nghiệp hỗ trợ; gắn ưu đãi với điều kiện
về công nghệ, môi trường, lao động, nội địa hóa và liên kết. Đồng thời tăng
cường quản lý thu, chống thất thu – chuyển giá – gian lận, bảo đảm kỷ luật tài
chính.
1.8. Huy động vốn qua Trung tâm tài chính quốc tế (IFC)
Khai thác vai trò của Trung tâm tài chính quốc tế như là kênh thị
trường vốn trong và quốc tế để tiếp cận nguồn vốn trung – dài hạn; hỗ trợ
doanh nghiệp nâng năng lực sử dụng công cụ tài chính hiện đại; huy động
vốn cho các chương trình, dự án ưu tiên của tỉnh gắn tăng trưởng xanh, kinh
tế số và đổi mới sáng tạo, góp phần giảm chi phí vốn và nâng năng lực cạnh
tranh.
1.9. Các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư
148
1.9.1. Đối với vốn đầu tư từ ngân sách: bảo đảm bố trí đủ vốn và đúng
tiến độ cho các dự án, bao gồm cả dự án phát triển hạ tầng chiến lược như
giao thông kết nối liên vùng, kết nối đến hàng rào khu, cụm công nghiệp,
cảng biển, hàng không, hạ tầng khu thương mại tự do, khu kinh tế chuyên
biệt, khu, cụm công nghiệp… và các dự án thuộc lĩnh vực khoa học – công
nghệ và đổi mới sáng tạo, giáo dục – đào tạo,…
1.9.2. Đối với vốn đầu tư xã hội
Chính quyền tỉnh chủ động rà soát pháp lý của từng dự án đầu tư đảm
bảo đủ điều kiện mời gọi đầu tư, tạo môi trường thuận lợi để các nhà đầu tư
dễ dàng tiếp cận với các yếu tố khởi động dự án đầu tư: đất đai, cấp điện,
nước… và các quy định pháp lý, thủ tục đầu tư…
Hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư nghiên cứu, tìm
hiểu khả năng đầu tư trên địa bàn, thực sự “đồng hành cùng doanh nghiệp”.
Khuyến khích mạnh mẽ các nhà đầu tư tư nhân trong và ngoài nước
tham gia đầu tư kinh doanh, đặc biệt trong các lĩnh vực mà tỉnh ưu tiên (xây
dựng hạ tầng các khu công nghiệp, các cảng, kho tàng, bến bãi, kết cấu hạ
tầng giao thông, hạ tầng số, các khu đô thị, phát triển du lịch, nông nghiệp
sạch, nông nghiệp công nghệ cao…).
Khuyến khích huy động các nguồn vốn xã hội xây dựng các công trình
đô thị, nhà ở xã hội, công trình văn hóa, xã hội và xây dựng nông thôn mới
hiện đại.
IV. CÁC GIẢI PHÁP KHÁC ĐỂ TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1. Về lãnh đạo, chỉ đạo
Để bảo đảm việc tổ chức thực hiện Đề án thành lập thành phố Đồng
Nai trực thuộc Trung ương đạt hiệu quả, đồng bộ và đúng tiến độ, yêu cầu đặt
ra là phải tăng cường sự lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của các cấp ủy Đảng,
đồng thời phát huy vai trò quản lý, điều hành của chính quyền các cấp, bảo
đảm sự thống nhất trong nhận thức và hành động của cả hệ thống chính trị.
Công tác lãnh đạo, chỉ đạo cần được triển khai theo hướng chủ động,
quyết liệt, có trọng tâm, trọng điểm, bám sát các mục tiêu, nhiệm vụ và lộ
trình đã được xác định trong Đề án. Các cấp ủy, chính quyền từ tỉnh đến cơ
sở cần xác định rõ đây là nhiệm vụ chính trị đặc biệt quan trọng, có ý nghĩa
chiến lược lâu dài, từ đó tập trung nguồn lực, tăng cường kiểm tra, giám sát
và kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình tổ
chức thực hiện.
149
Công tác tuyên truyền, vận động cần được đẩy mạnh, nhằm nâng cao
nhận thức, tạo sự đồng thuận trong cán bộ, đảng viên và Nhân dân về chủ
trương thành lập thành phố Đồng Nai trực thuộc Trung ương. Nội dung tuyên
truyền cần làm rõ ý nghĩa, mục tiêu, lợi ích của việc thành lập thành phố,
đồng thời giải thích, làm rõ các vấn đề liên quan đến tổ chức bộ máy, sắp xếp
đơn vị hành chính, chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức
và người lao động. Qua đó, tạo sự thống nhất cao về tư tưởng, góp phần bảo
đảm ổn định chính trị, xã hội trong quá trình triển khai.
Bên cạnh đó, công tác lãnh đạo, chỉ đạo cần gắn với việc hoàn thiện thể
chế, cơ chế, chính sách phù hợp với mô hình thành phố trực thuộc Trung
ương, nhất là trong các lĩnh vực phân cấp, phân quyền, quản lý đô thị, tài
chính – ngân sách và quản lý biên chế. Việc chủ động đề xuất các cơ chế,
chính sách đặc thù phù hợp với điều kiện thực tiễn của Đồng Nai là hết sức
cần thiết, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình phát triển nhanh và bền
vững của thành phố trong giai đoạn tới. Đồng thời, cần tăng cường công tác
kiểm tra, giám sát, đánh giá việc thực hiện Đề án theo từng giai đoạn, bảo
đảm các nhiệm vụ được triển khai đúng tiến độ, đạt chất lượng và hiệu quả.
Việc đánh giá cần được thực hiện trên cơ sở các chỉ tiêu cụ thể, có so sánh,
đối chiếu với mục tiêu đã đề ra, từ đó kịp thời điều chỉnh các giải pháp cho
phù hợp với tình hình thực tế.
Nhìn chung, giải pháp về lãnh đạo, chỉ đạo giữ vai trò then chốt, quyết
định đến thành công của việc tổ chức thực hiện Đề án, đòi hỏi sự vào cuộc
đồng bộ, quyết liệt của cả hệ thống chính trị, sự phối hợp chặt chẽ giữa các
cấp, các ngành và sự đồng thuận, ủng hộ của Nhân dân.
2. Về tổ chức bộ máy và cán bộ, công chức
Việc tổ chức bộ máy và xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức
là một trong những nội dung trọng tâm, có ý nghĩa quyết định đối với hiệu
lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền thành phố Đồng Nai trực thuộc
Trung ương. Do đó, cần triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm xây dựng hệ
thống tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu
cầu quản trị đô thị hiện đại.
Trước hết, việc tổ chức bộ máy chính quyền thành phố cần được thực
hiện theo hướng tinh gọn, giảm đầu mối, giảm tầng nấc trung gian, bảo đảm
rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ công tác giữa các cơ
quan, đơn vị. Việc sắp xếp, kiện toàn các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban
nhân dân thành phố cần bám sát quy định của Trung ương, đồng thời linh
hoạt vận dụng phù hợp với đặc thù của đô thị lớn, bảo đảm đáp ứng yêu cầu
quản lý đa ngành, đa lĩnh vực.
150
Đối với cấp cơ sở, việc sắp xếp đơn vị hành chính cần được thực hiện
theo lộ trình phù hợp, bảo đảm quy mô, tiêu chuẩn theo quy định, đồng thời
giữ vững ổn định chính trị, xã hội. Mô hình chính quyền đô thị cần được
nghiên cứu, áp dụng theo hướng tăng cường phân cấp, phân quyền, nâng cao
tính chủ động, linh hoạt của chính quyền cơ sở trong quản lý và cung ứng
dịch vụ công.
Song song với việc tổ chức bộ máy, công tác quản lý, sử dụng biên chế
cần được thực hiện chặt chẽ, hiệu quả, gắn với vị trí việc làm và khối lượng
công việc thực tế. Việc rà soát, sắp xếp lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên
chức cần bảo đảm nguyên tắc công khai, minh bạch, khách quan, đúng quy
định của pháp luật; đồng thời có giải pháp phù hợp để xử lý số lượng cán bộ
dôi dư phát sinh trong quá trình sắp xếp tổ chức bộ máy.
Công tác xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức
cần được đặc biệt chú trọng, nhằm đáp ứng yêu cầu của mô hình quản trị đô
thị hiện đại. Cần đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn,
nghiệp vụ, kỹ năng quản lý, nhất là kỹ năng quản trị đô thị, quản lý kinh tế,
chuyển đổi số và hội nhập quốc tế. Đồng thời, cần có cơ chế, chính sách phù
hợp để thu hút, trọng dụng nhân tài, nhất là đội ngũ chuyên gia, cán bộ có
trình độ cao trong các lĩnh vực then chốt như quy hoạch, xây dựng, công nghệ
thông tin, logistics và quản lý đô thị.
Bên cạnh đó, việc đổi mới phương thức quản lý cán bộ, công chức,
viên chức cần được triển khai theo hướng hiện đại, dựa trên kết quả, hiệu quả
công việc và mức độ hoàn thành nhiệm vụ. Cần xây dựng hệ thống đánh giá
cán bộ khoa học, khách quan, gắn với các chỉ tiêu cụ thể, làm cơ sở cho việc
bố trí, sử dụng, bổ nhiệm và thực hiện chế độ, chính sách đối với cán bộ,
công chức, viên chức.
Việc đẩy mạnh cải cách hành chính gắn với chuyển đổi số trong quản
lý cán bộ, công chức, viên chức cũng là yêu cầu cấp thiết, nhằm nâng cao
hiệu quả quản lý, giảm thủ tục hành chính, tăng tính minh bạch và trách
nhiệm giải trình. Hệ thống cơ sở dữ liệu về cán bộ, công chức, viên chức cần
được xây dựng đồng bộ, kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan, đơn vị,
phục vụ hiệu quả công tác quản lý.
Ngoài ra, cần bảo đảm đầy đủ chế độ, chính sách đối với cán bộ, công
chức, viên chức trong quá trình sắp xếp tổ chức bộ máy, đặc biệt là các chính
sách đối với cán bộ dôi dư, cán bộ nghỉ hưu trước tuổi, chuyển đổi vị trí công
tác, nhằm bảo đảm quyền lợi chính đáng, tạo sự đồng thuận trong quá trình
triển khai.
151
Nhìn chung, giải pháp về tổ chức bộ máy và cán bộ, công chức cần
được triển khai đồng bộ, toàn diện, bảo đảm xây dựng được hệ thống chính
quyền thành phố Đồng Nai tinh gọn, hiện đại, hoạt động hiệu lực, hiệu quả,
đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững trong giai đoạn mới.
3. Thực hiện các chương trình phát triển
3.1. Phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng hiệu quả, bền
vững, chú trọng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp sạch
Đẩy mạnh cơ cấu lại ngành nông nghiệp; phát triển nông nghiệp sinh
thái, hữu cơ, ứng dụng công nghệ cao gắn với chương trình xây dựng nông
thôn mới, nông thôn mới hiện đại. Khai thác hiệu quả chợ đầu mối và khu
vực nông sản gắn với chuỗi tiêu thụ trong và ngoài nước. Phát triển các khu
nông nghiệp chất lượng cao, khu trồng trọt và khu vực chăn nuôi với quy mô
lớn, kỹ thuật hiện đại, đảm bảo môi trường.
Đầu tư hạ tầng thủy lợi, nhất là các công trình thủy lợi, hồ chứa nước
trọng yếu trên địa bàn tỉnh. Phát triển các vùng chuyên canh với các loại cây
trồng có giá trị thương phẩm cao, phù hợp điều kiện thổ nhưỡng từng vùng.
Phát triển nuôi trồng thủy sản theo hướng công nghiệp, sinh thái. Thực hiện
đồng bộ các giải pháp bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản.
Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao, công nghệ số để hình thành nền
sản xuất nông nghiệp thông minh. Khuyến khích doanh nghiệp, hợp tác xã
xây dựng thương hiệu cho các sản phẩm nông sản gắn với chỉ dẫn địa lý, mã
số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói, đảm bảo an toàn thực phẩm và tiêu
chuẩn xuất khẩu.
Phát huy thế mạnh về vị trí địa lý và quỹ đất, xây dựng Đồng Nai trở
thành trung tâm bảo quản và chế biến nông sản, trung tâm giống cây trồng
của vùng Đông Nam Bộ và Tây Nguyên. Quản lý chặt chẽ, bảo vệ và phục
hồi rừng tự nhiên gắn với bảo tồn đa dạng sinh học, môi trường sinh thái.
3.2. Phát triển mạnh mẽ kinh tế tư nhân, mở rộng các thành phần
kinh tế
Tạo lập môi trường kinh doanh công bằng, minh bạch để hỗ trợ sự phát
triển bền vững của các doanh nghiệp và các thành phần kinh tế. Đẩy mạnh
phát triển kinh tế tư nhân, khai thác tiềm năng, sức sáng tạo của người dân và
doanh nghiệp. Phát triển đội ngũ doanh nhân có đạo đức, văn hóa kinh doanh
và tinh thần yêu nước, bản lĩnh, trí tuệ, lòng tự tôn dân tộc và khát vọng cống
hiến.
Định hướng phát triển các doanh nghiệp Nhà nước có vai trò dẫn dắt và
năng lực cạnh tranh quốc tế trong các lĩnh vực trọng điểm như công nghệ,
152
chuyển đổi số, tài chính, nông nghiệp và viễn thông. Tăng cường cơ chế giao
nhiệm vụ cho các doanh nghiệp đủ năng lực thực hiện các nhiệm vụ chiến
lược.
Chú trọng nâng cao năng lực và quy mô doanh nghiệp địa phương. Đổi
mới và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể, khuyến khích các loại hình hợp tác
xã phát triển lớn mạnh. Ưu tiên phát triển kinh tế tập thể gắn với nông nghiệp
công nghệ cao, kinh tế số, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn, kinh tế chia sẻ.
Tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài vào các ngành công nghệ cao,
có giá trị gia tăng; thúc đẩy liên kết, chuyển giao công nghệ, kỹ năng quản lý
giữa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với doanh nghiệp trong nước.
3.3. Phát triển văn hóa, thể thao và du lịch ngang tầm với phát
triển kinh tế
Xây dựng và phát triển toàn diện nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm
đà bản sắc dân tộc; xây dựng con người Đồng Nai phát triển toàn diện, thân
thiện, nghĩa tình, năng động, sáng tạo; khơi dậy tinh thần yêu nước, đoàn kết,
nhân văn, khát vọng vươn lên. Triển khai hiệu quả “Chương trình mục tiêu
quốc gia về phát triển văn hóa giai đoạn 2025-2035”, tập trung nguồn lực đầu
tư có trọng tâm, trọng điểm.
Quy hoạch, xây dựng đồng bộ thiết chế văn hóa, thể thao từ tỉnh đến cơ
sở; đầu tư các công trình hiện đại, đủ điều kiện tổ chức sự kiện cấp khu vực
và quốc tế. Phát triển phong trào thể thao quần chúng, thể thao học đường;
quan tâm đào tạo, bồi dưỡng tài năng, nâng cao thành tích thể thao ở các môn
thế mạnh của tỉnh.
Thu hẹp chênh lệch hưởng thụ văn hóa giữa thành thị và nông thôn,
vùng biên giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; bảo tồn, phát huy giá trị văn
hóa truyền thống, di sản vật thể và phi vật thể. Đầu tư trùng tu, tôn tạo di tích
lịch sử cách mạng, gắn kết khai thác giá trị văn hóa với phát triển du lịch.
Tăng cường xây dựng văn hóa công sở, văn hóa doanh nghiệp, ngăn chặn sự
xuống cấp đạo đức xã hội, phòng chống sản phẩm văn hóa độc hại.
Phát triển công nghiệp văn hóa, sản phẩm dịch vụ văn hóa, thể thao, du
lịch chất lượng cao; đẩy mạnh hợp tác, giao lưu văn hóa, ngoại giao văn hóa,
quảng bá hình ảnh Đồng Nai trong và ngoài nước. Ứng dụng công nghệ số
trong quảng bá văn hóa, du lịch, gia tăng khả năng tiếp cận cho người dân và
du khách.
Phát triển du lịch thành ngành kinh tế quan trọng, theo hướng chuyên
nghiệp, hiện đại; tập trung hình thành các cụm, điểm du lịch trọng điểm như
Hồ Trị An, Núi Chứa Chan, Núi Bà Rá, Sóc Bom Bo, Chiến khu Đ, Căn cứ
153
Tà Thiết, Vườn quốc gia Bù Gia Mập,... Nghiên cứu xây dựng trung tâm hội
nghị, nghỉ dưỡng quốc tế khu vực Cảng hàng không quốc tế Long Thành; mở
rộng liên kết tuyến du lịch liên vùng; xây dựng và hoàn thiện hệ sinh thái du
lịch thông minh gắn với chuyển đổi số.
3.4. Phát triển mạng lưới y tế hiện đại và nâng cao chất lượng
chăm sóc sức khỏe Nhân dân
Triển khai hiệu quả các quy định pháp luật về bảo vệ, chăm sóc và
nâng cao sức khỏe Nhân dân trong giai đoạn 2026 - 2030. Lồng ghép và ưu
tiên các chỉ tiêu về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe trong các quy
hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh.
Sắp xếp hệ thống y tế tinh gọn, hiệu quả, phù hợp mô hình chính quyền
địa phương 02 cấp. Kiện toàn, nâng cao năng lực hệ thống y tế dự phòng theo
hướng hiện đại. Nâng cao chất lượng, hiệu quả y tế cơ sở, nhất là khu vực
vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng khó khăn, hạn chế trong tiếp
cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe.
Nâng cao y đức, phát triển nhân lực y tế bảo đảm đồng bộ về số lượng,
chất lượng, nhất là nhân lực phục vụ y tế cơ sở, y tế dự phòng, vùng sâu,
vùng xa, vùng khó khăn, đặc biệt khó khăn, biên giới. Tăng cường hợp tác và
hội nhập quốc tế về nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao kỹ thuật, khoa học,
công nghệ, đào tạo nhân lực trong lĩnh vực y tế.
Tăng cường kết hợp quân dân y, y tế công an để đáp ứng kịp thời các
tình huống khẩn cấp về y tế công cộng và công tác chăm sóc sức khỏe Nhân
dân vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng khó khăn. Kết hợp y học
cổ truyền và y học hiện đại trong đào tạo nhân lực, phòng bệnh và khám
bệnh, chữa bệnh.
Thúc đẩy mạnh mẽ chuyển đổi số toàn diện trong ngành y tế. Vận hành
hiệu quả sổ sức khỏe điện tử, bệnh án điện tử, đơn thuốc điện tử; kết nối đồng
bộ, quản lý dữ liệu sức khỏe người dân theo vòng đời. Có cơ chế hỗ trợ thu
hút hiệu quả nhân lực công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong lĩnh vực y tế.
3.5. Phát triển giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển mới và hội nhập quốc tế
Tiếp tục đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo, gắn với yêu
cầu phát triển kinh tế - xã hội và thị trường lao động. Xây dựng đội ngũ cán
bộ quản lý giáo dục phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 02 cấp.
Xây dựng hệ thống giáo dục mở, liên thông, thúc đẩy học tập suốt đời và xây
dựng xã hội học tập.
154
Chú trọng giáo dục phẩm chất, năng lực sáng tạo, tinh thần yêu nước,
tự hào, tự tôn dân tộc; gắn giáo dục tri thức, đạo đức, lý tưởng với trách
nhiệm xã hội, lối sống văn hóa, truyền thống lịch sử, chính trị, tư tưởng, pháp
luật, kinh tế, tài chính, quốc phòng và an ninh, v.v... Chuyển đổi số toàn diện,
phổ cập và ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số, trí tuệ nhân tạo trong giáo dục
và đào tạo, hình thành môi trường học tập thông minh, học tập suốt đời.
Quy hoạch mạng lưới trường học từ tỉnh đến cơ sở; xây dựng trường
học đạt chuẩn quốc gia; xây dựng trường học thông minh, trường học hạnh
phúc. Đầu tư cơ sở vật chất trường, lớp, nhất là các trường vùng sâu, vùng
đồng bào dân tộc thiểu số, vùng biên giới. Xây dựng cơ sở giáo dục chuyên
biệt tới cấp trung học phổ thông.
Đẩy mạnh hợp tác và hội nhập quốc tế sâu rộng trong giáo dục và đào
tạo. Khuyến khích đầu tư xây dựng các trường chất lượng cao ở các cấp học,
bậc học, các cơ sở giáo dục giảng dạy chương trình quốc tế. Xây dựng chính
sách ưu đãi đối với các trường chuyên và trường phổ thông dân tộc nội trú.
Tăng cường việc dạy và học ngoại ngữ, từng bước đưa tiếng Anh trở
thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học và dạy ngôn ngữ của các nước láng
giềng; tăng cường giảng dạy một số môn bằng tiếng Anh ở những nơi có điều
kiện; đảm bảo điều kiện tổ chức dạy và học 02 buổi/ngày ở cấp học phổ
thông và thực hiện mục tiêu phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ mẫu giáo từ
03 đến 05 tuổi theo quy định.
4. Phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh
4.1. Giải pháp về môi trường, khoa học và công nghệ
4.1.1 Giải pháp bảo vệ môi trường
Tỉnh tập trung hoàn thiện và thực thi nghiêm cơ chế, chính sách, pháp
luật về bảo vệ môi trường; lồng ghép yêu cầu môi trường vào quy hoạch và
triển khai dự án, đặc biệt đối với khu/cụm công nghiệp, khu đô thị và hạ tầng
lớn; đồng thời kiện toàn năng lực cơ quan quản lý, tăng cường thanh tra theo
nhóm rủi ro, quản lý dựa trên dữ liệu và số hóa để phát hiện–xử lý vi phạm
kịp thời, minh bạch. Trọng tâm là kiểm soát chặt nguồn phát thải theo chuỗi
từ phát sinh–thu gom–xử lý–giám sát; yêu cầu hoàn thiện hệ thống xử lý
nước thải tập trung đạt chuẩn trước khi tiếp nhận dự án thứ cấp, siết kiểm soát
khí thải và chất thải rắn theo giấy phép môi trường và kiểm tra đột xuất các
cơ sở rủi ro cao. Cùng với đó, củng cố mạng lưới quan trắc không khí, nước
mặt và nước thải (kết hợp trạm nền và điểm đo tại khu vực phát thải lớn), kết
nối dữ liệu phục vụ giám sát và cảnh báo. Tỉnh triển khai đồng bộ giải pháp
giảm phát thải khí nhà kính, thúc đẩy kinh tế xanh–tuần hoàn–carbon thấp
155
(tiết kiệm năng lượng, nhiên liệu sạch, điện mặt trời mái nhà, logistics xanh,
tăng tái chế), áp dụng cơ chế đo lường–báo cáo–thẩm tra để theo dõi kết quả
và huy động tài chính xanh. Đồng thời, khuyến khích công nghệ sạch và sản
xuất sạch hơn, chuyển đổi khu công nghiệp theo hướng sinh thái, tăng tái sử
dụng nước và cộng sinh công nghiệp; huy động nguồn lực từ ngân sách, phí
dịch vụ môi trường, đặt hàng/thuê dịch vụ và xã hội hóa, kết hợp tín dụng
xanh và đầu tư tư nhân cho các giải pháp cải thiện môi trường.
4.1.2. Giải pháp về khoa học và công nghệ
- Tập trung triển khai các nội dung chỉ đạo của Nghị quyết 57-NQ/TW,
trong đó xác định khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số
là động lực then chốt, nền tảng cốt lõi cho phát triển nhanh và bền vững đất
nước trong giai đoạn mới.
- Tăng cường đầu tư phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ, đảm
bảo nguồn lực chi, bao gồm nguồn ngân sách, đối với lĩnh vực sự nghiệp
khoa học và công nghệ và đổi mới hạ tầng khoa học và công nghệ. Đẩy mạnh
các hoạt động nghiên cứu triển khai (R&D), trong đó chú trọng nghiên cứu
ứng dụng và thương mại hóa các kết quả khoa học và công nghệ.
- Triển khai quy hoạch và xây dựng khu đổi mới sáng tạo, xây dựng hệ
sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo của tỉnh theo hướng phát triển toàn
diện. Tăng cường hợp tác quốc tế trong nghiên cứu phát triển, ứng dụng,
chuyển giao công nghệ. Tạo điều kiện cho các trường đại học, các đơn vị hoạt
động khoa học và công nghệ đẩy mạnh liên kết, hợp tác trong nước và quốc
tế về khoa học và công nghệ.
- Thực hiện chuyển đổi số trên địa bàn tỉnh theo Chiến lược quốc gia
phát triển kinh tế số và xã hội số đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
Hình thành sàn giao dịch công nghệ của tỉnh, kết nối với các sàn giao dịch
công nghệ trong khu vực và quốc tế. Khuyến khích, thúc đẩy phát triển các tổ
chức trung gian của thị trường khoa học và công nghệ, trong đó đẩy mạnh
phát triển các tổ chức môi giới, tư vấn, xúc tiến chuyển giao công nghệ.
4.2. Giải pháp về cơ chế, chính sách liên kết phát triển
Đồng Nai rà soát, điều chỉnh và hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách
phát triển kinh tế – xã hội theo hướng đồng bộ, thống nhất và phù hợp với mô
hình tổ chức không gian phát triển, bảo đảm tính liên thông giữa các khu vực,
vùng động lực và hành lang phát triển. Trọng tâm là nhóm chính sách tác
động trực tiếp đến tổ chức không gian sau sắp xếp đơn vị hành chính (đất đai,
đầu tư, xây dựng, môi trường, phát triển KCN/CCN, logistics và đô thị), kịp
thời xử lý các quy định chồng chéo và khác biệt giữa các địa bàn để áp dụng
156
thống nhất toàn tỉnh; đồng thời lồng ghép yêu cầu liên kết vùng vào tiêu chí
lựa chọn dự án và phân bổ nguồn lực, ưu tiên hạ tầng khung, hành lang
logistics và cửa ngõ xuất nhập khẩu. Song song, tỉnh tăng cường liên kết phát
triển với các địa phương trong Vùng Đông Nam Bộ, Tây Nguyên và lân cận
theo hướng bổ trợ lợi thế, tập trung vào hạ tầng liên vùng, logistics, công
nghiệp, nông nghiệp, thương mại, du lịch, đào tạo nhân lực và bảo vệ môi
trường; hình thành chương trình liên kết theo hành lang phát triển gắn
KCN/đô thị với mạng lưới logistics, đặc biệt các tuyến kết nối TP.HCM và
khu vực Cảng hàng không quốc tế Long Thành.
Để bảo đảm tổ chức thực hiện hiệu quả, hoàn thiện cơ chế phối hợp
giữa các cấp, ngành và địa phương, đẩy mạnh phân cấp – phân quyền gắn
trách nhiệm giải trình; thiết lập đầu mối điều phối thực hiện quy hoạch và liên
kết vùng; chuẩn hóa quy trình giải quyết thủ tục đầu tư – đất đai – xây dựng –
môi trường theo chuỗi công việc, ứng dụng quản lý hồ sơ điện tử và theo dõi
tiến độ; tăng cường kỷ luật hành chính, công khai kết quả giải quyết thủ tục
và mức độ hài lòng, bảo đảm phân cấp đi kèm kiểm tra, giám sát và hướng
dẫn thống nhất trên toàn tỉnh.
4.3. Giải pháp về quản lý, kiểm soát phát triển đô thị và nông thôn
4.3.1. Nâng cao chất lượng lập, quản lý và thực thi quy hoạch xây dựng
Đổi mới tư duy lập quy hoạch theo hướng hiện đại; coi quy hoạch là
quá trình liên tục từ lập–thẩm định–phê duyệt–thực hiện–giám sát.
Tăng cường phối hợp liên ngành và liên địa phương sau sáp nhập, bảo
đảm thống nhất giữa các cấp/vùng và giữa quy hoạch đô thị – nông thôn.
Thành lập, vận hành hiệu quả Hội đồng thẩm định quy hoạch–kiến trúc
cấp tỉnh/cấp xã theo Luật Xây dựng và Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn.
Rà soát, cập nhật thường xuyên các đồ án quy hoạch (ưu tiên 5 vùng
kinh tế, 16 cụm tăng trưởng), phù hợp định hướng đô thị–công nghiệp–nông
nghiệp CNC và bền vững.
Nghiên cứu mô hình tốt về quản lý đô thị – nông thôn CNC; ứng dụng
phương pháp quản trị tiên tiến, hướng tới đô thị hiện đại, văn minh, thân thiện
môi trường.
4.3.2. Ứng dụng công nghệ tiên tiến trong quản lý phát triển không gian
Xây dựng, vận hành hệ thống GIS tích hợp toàn tỉnh phục vụ quản lý
không gian KT-XH, đô thị và nông thôn.
Số hóa toàn bộ bản đồ, hồ sơ quy hoạch; hình thành cơ sở dữ liệu thống
nhất để điều hành, giám sát, cập nhật quy hoạch.
157
Thiết lập Trung tâm điều hành quy hoạch – phát triển đô thị thông minh
để tăng năng lực giám sát, cảnh báo, phân tích dữ liệu và hỗ trợ ra quyết định.
Xây dựng và triển khai đề án phát triển đô thị thông minh trên địa bàn
tỉnh.
4.3.3. Kiểm soát nguồn lực đất đai và thị trường bất động sản
Hoàn thiện hệ thống thông tin đất đai và hồ sơ địa chính theo mô hình
hiện đại, tích hợp toàn tỉnh.
Thực hiện nghiêm, công khai, minh bạch giao đất/cho thuê đất/đấu giá
QSDĐ/đấu thầu dự án có sử dụng đất.
Tăng cường kiểm soát thị trường BĐS; hoàn thiện cơ chế đấu giá để
phát triển thị trường minh bạch; xử lý đầu cơ, “sốt đất”.
Ưu tiên quỹ đất cho dự án đúng định hướng: công nghiệp CNC, công
nghiệp sinh thái, đô thị xanh, nông nghiệp CNC.
Với đất du lịch và tâm linh: rà soát kỹ, quy hoạch cụ thể, phân bổ hợp
lý theo nguyên tắc tiết kiệm đất, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, bảo đảm hiệu
quả KT-XH.
4.3.4. Quản lý kiến trúc và cảnh quan theo tính chất từng vùng
Quản lý chặt kiến trúc công trình (hình thức, quy mô, vật liệu, hài hòa
cảnh quan) thông qua thẩm định thiết kế và cấp phép xây dựng đúng quy
định.
Công trình trọng điểm/điểm nhấn: tổ chức thi tuyển phương án kiến
trúc để chọn phương án tối ưu về thẩm mỹ - công năng - định hướng không
gian.
Ban hành bộ tiêu chí/quy chuẩn kiến trúc theo từng khu vực (đô thị sân
bay Long Thành, đô thị ven sông, đô thị công nghiệp - CNC, sinh thái ven
hồ/rừng, du lịch Trị An - Cát Tiên, KCN sinh thái…).
Định hướng quản lý theo đô thị xanh–sinh thái–thông minh; thúc đẩy
thiết kế tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải KNK.
4.3.5. Phát triển đô thị – nông thôn bền vững, thích ứng khí hậu, đồng
bộ hạ tầng
Phát triển đô thị–nông thôn xanh, bền vững, hiện đại; ưu tiên mô hình:
đô thị dịch vụ–thương mại ven sông, đô thị công nghiệp–CNC, đô thị sinh
thái, vùng nông nghiệp CNC.
Rà soát, điều chỉnh phân loại và quy hoạch hệ thống đô thị phù hợp cấu
trúc tỉnh mới sau sáp nhập.
158
Tăng cường quản lý đầu tư đồng bộ hạ tầng xã hội và kỹ thuật; bảo
đảm kết nối các vùng và các hành lang chiến lược (Bắc–Nam, Đông–Tây, cửa
khẩu, hàng không–logistics gắn sân bay Long Thành).
Triển khai hiệu quả chương trình/đề án quốc gia về đô thị thích ứng
BĐKH, PCTT, chỉnh trang và nâng cấp đô thị; khuyến khích vật liệu xanh,
giải pháp tiết kiệm năng lượng, công nghệ giảm phát thải trong phát triển đô
thị–nông thôn. Xây dựng và triển khai đề án phát triển đô thị thích ứng biến
đổi khí hậu trên địa bàn tỉnh.
4.4. Giải pháp phát triển nguồn nhân lực
Giải pháp phát triển nguồn nhân lực được định hướng lấy con người
làm trung tâm, gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo kinh tế xanh,
kinh tế số, đổi mới sáng tạo và hội nhập, nhằm nâng cao chất lượng lao động
kỹ thuật, lao động quản lý và nhân lực chất lượng cao phục vụ các ngành
động lực của tỉnh. Trọng tâm là tổ chức phát triển nhân lực theo các cụm ưu
tiên (công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ, logistics, dịch vụ hiện
đại, nông nghiệp công nghệ cao và các lĩnh vực “xanh” như môi trường –
năng lượng – kinh tế tuần hoàn), đồng thời đổi mới giáo dục, đào tạo nghề
theo hướng gắn chặt nhu cầu doanh nghiệp thông qua đặt hàng đào tạo, đào
tạo kép, thực tập và chuẩn đầu ra. Song song, tỉnh tăng cường hệ thống thông
tin – dự báo thị trường lao động dựa trên dữ liệu để kết nối cung cầu, đẩy
mạnh đào tạo lại và nâng kỹ năng phục vụ chuyển đổi công nghệ. Bên cạnh
đó, triển khai cơ chế thu hút và giữ chân chuyên gia, nhân lực chất lượng cao
bằng môi trường làm việc – điều kiện sống – dịch vụ hành chính thuận lợi;
khuyến khích doanh nghiệp áp dụng cơ chế tiền lương gắn năng suất, phát
triển lộ trình nghề nghiệp và phúc lợi để ổn định lao động. Các chương trình
nhân lực chuyên sâu sẽ ưu tiên cho khu vực động lực gắn với Cảng hàng
không quốc tế Long Thành và trục logistics liên vùng; đồng thời nâng cao
năng lực quản trị nhà nước và bảo đảm an sinh, hạ tầng xã hội (nhà ở công
nhân, y tế, giáo dục, thiết chế văn hóa) để tạo nền tảng nhân lực bền vững cho
phát triển dài hạn
4.5. Giải pháp đảm bảo quốc phòng, an ninh và ổn định trật tự - xã
hội; nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại
Tiếp tục đổi mới tư duy bảo đảm quốc phòng, an ninh trong kỷ nguyên
mới; lấy giữ vững ổn định quốc phòng, an ninh làm nền tảng cho phát triển
nhanh, bền vững, chất lượng cao. Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn
kết chặt chẽ với thế trận an ninh nhân dân, nền an ninh nhân dân vững chắc.
Chủ động nắm chắc tình hình, dự báo đúng, phòng ngừa từ sớm, từ xa, từ cơ
sở; bảo đảm an ninh trật tự từ cơ sở; kiên quyết không để bị động, bất ngờ,
159
không để hình thành các vấn đề phức tạp kéo dài. Chú trọng phát triển công
nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh, các công trình có tính lưỡng dụng,
phục vụ đồng thời mục tiêu dân sinh với quốc phòng, an ninh. Kết hợp chặt
chẽ giữa phát triển kinh tế xã hội với củng cố quốc phòng, an ninh.
Đổi mới toàn diện công tác, xây dựng lực lượng Quân đội nhân dân,
Công an nhân dân tinh gọn, mạnh, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; kết hợp
chặt chẽ con người với khoa học, công nghệ và dữ liệu số trong quản trị quốc
phòng, an ninh, trật tự. Nâng cao năng lực cảnh báo sớm, quản trị rủi ro, xử lý
nhanh tình huống; kéo giảm bền vững tội phạm, hướng tới xã hội trật tự, kỷ
cương, an toàn, lành mạnh, ổn định.
Nâng cao hiệu quả đối ngoại; phối hợp đồng bộ đối ngoại Đảng, ngoại
giao Nhà nước, đối ngoại Nhân dân gắn với đối ngoại quốc phòng, đối ngoại
Công an. Tăng cường hợp tác liên vùng và quốc tế trong phòng, chống tội
phạm, bảo đảm an ninh mạng, quản lý di cư, bảo vệ công dân; chủ động
thông tin đối ngoại, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, an ninh biên giới
quốc gia trong tình hình mới.
5. Nâng cao năng lực quản lý của bộ máy chính quyền mới
Việc thành lập thành phố Đồng Nai trực thuộc Trung ương kéo theo
yêu cầu cấp thiết phải nâng cao toàn diện năng lực quản lý của bộ máy chính
quyền, bảo đảm đáp ứng yêu cầu quản trị đô thị hiện đại, quy mô lớn, đa
ngành, đa lĩnh vực và có mức độ hội nhập cao. Đây là yếu tố then chốt quyết
định đến hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, đồng thời là điều kiện tiên
quyết để thực hiện thành công các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội đã đề
ra.
Trước hết, việc nâng cao năng lực quản lý cần được thực hiện trên cơ
sở hoàn thiện mô hình tổ chức và phương thức vận hành của chính quyền đô
thị theo hướng hiện đại, chuyên nghiệp, hiệu quả. Bộ máy chính quyền thành
phố cần được tổ chức tinh gọn, rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, đồng
thời bảo đảm tính liên thông, phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, đơn vị
trong hệ thống hành chính. Phương thức quản lý cần chuyển mạnh từ quản lý
hành chính truyền thống sang quản trị công hiện đại, lấy người dân và doanh
nghiệp làm trung tâm phục vụ, đề cao tính minh bạch, trách nhiệm giải trình
và hiệu quả đầu ra.
Cùng với đó, việc nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức, viên
chức cần được xác định là nhiệm vụ trọng tâm. Đội ngũ cán bộ phải có bản
lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ chuyên môn cao,
am hiểu sâu về lĩnh vực quản lý, đồng thời có tư duy đổi mới, khả năng thích
ứng nhanh với môi trường làm việc hiện đại và hội nhập quốc tế. Công tác
160
đào tạo, bồi dưỡng cần được thực hiện thường xuyên, liên tục, có trọng tâm,
trọng điểm, gắn với yêu cầu thực tiễn của từng vị trí việc làm, đặc biệt chú
trọng các lĩnh vực như quản lý đô thị, quy hoạch, tài chính công, chuyển đổi
số, quản trị dữ liệu và quản lý phát triển bền vững.
Việc đổi mới phương thức tuyển dụng, sử dụng và đánh giá cán bộ,
công chức, viên chức cũng cần được đẩy mạnh theo hướng công khai, minh
bạch, cạnh tranh, dựa trên năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Cần xây
dựng cơ chế đánh giá cán bộ theo hướng định lượng, gắn với sản phẩm cụ thể
và hiệu quả công việc, qua đó tạo động lực nâng cao chất lượng đội ngũ và
nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy chính quyền. Đồng thời, cần có
chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài, đặc biệt là đội ngũ chuyên gia trong
các lĩnh vực then chốt như công nghệ thông tin, quy hoạch đô thị, logistics,
tài chính và quản lý công.
Một trong những nội dung quan trọng trong nâng cao năng lực quản lý
là đẩy mạnh cải cách hành chính gắn với chuyển đổi số, hướng tới xây dựng
chính quyền số, kinh tế số và xã hội số. Cần tập trung hoàn thiện hệ thống hạ
tầng số, xây dựng và phát triển các cơ sở dữ liệu dùng chung, bảo đảm kết
nối, chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan, đơn vị, từ đó nâng cao hiệu quả quản lý,
điều hành. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giải quyết thủ tục hành
chính cần được đẩy mạnh, nhằm giảm thời gian, chi phí cho người dân và
doanh nghiệp, đồng thời nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm giải trình
của cơ quan nhà nước.
Song song với đó, cần đổi mới phương thức quản lý theo hướng dựa
trên dữ liệu và bằng chứng, tăng cường sử dụng các công cụ phân tích, dự
báo để hỗ trợ quá trình ra quyết định. Việc xây dựng hệ thống thông tin quản
lý, trung tâm điều hành thông minh cần được triển khai đồng bộ, góp phần
nâng cao khả năng giám sát, điều hành và xử lý kịp thời các vấn đề phát sinh
trong quản lý đô thị.
Công tác phân cấp, phân quyền cần được thực hiện mạnh mẽ, hợp lý,
bảo đảm rõ trách nhiệm giữa các cấp chính quyền, đồng thời tăng cường tính
chủ động, linh hoạt trong quản lý. Việc phân cấp cần đi đôi với kiểm tra,
giám sát, bảo đảm việc thực hiện đúng quy định của pháp luật, tránh tình
trạng buông lỏng quản lý hoặc chồng chéo, trùng lặp trong thực hiện nhiệm
vụ.
Bên cạnh đó, cần tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính, nâng cao
đạo đức công vụ và ý thức trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức.
Việc xây dựng môi trường làm việc chuyên nghiệp, minh bạch, thân thiện cần
161
được chú trọng, qua đó tạo điều kiện để cán bộ, công chức phát huy năng lực,
cống hiến cho sự phát triển của thành phố.
Công tác kiểm tra, giám sát và đánh giá hiệu quả hoạt động của bộ máy
chính quyền cần được tăng cường, bảo đảm phát hiện kịp thời những hạn chế,
bất cập để có giải pháp khắc phục. Việc đánh giá cần dựa trên các chỉ tiêu cụ
thể, có tính đo lường được, gắn với kết quả thực hiện nhiệm vụ và mức độ hài
lòng của người dân, doanh nghiệp.
Đồng thời, cần chú trọng xây dựng văn hóa công vụ hiện đại, đề cao
tinh thần phục vụ, tính chuyên nghiệp và trách nhiệm của đội ngũ cán bộ,
công chức. Việc nâng cao chất lượng phục vụ người dân và doanh nghiệp cần
được xem là thước đo quan trọng trong đánh giá hiệu quả hoạt động của bộ
máy chính quyền.
Nhìn chung, việc nâng cao năng lực quản lý của bộ máy chính quyền
thành phố Đồng Nai là nhiệm vụ có ý nghĩa quyết định, đòi hỏi phải triển
khai đồng bộ nhiều giải pháp từ hoàn thiện thể chế, tổ chức bộ máy, phát triển
nguồn nhân lực đến ứng dụng công nghệ và đổi mới phương thức quản lý.
Đây là cơ sở quan trọng để xây dựng chính quyền đô thị hiện đại, hoạt động
hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững trong giai
đoạn mới.
6. Giải pháp chuyển đổi một số giấy tờ cơ bản của công dân sau khi
thành lập
Các loại giấy tờ cần chuyển đổi gồm giấy tờ tùy thân, quyền sở hữu,
quyền sử dụng gồm những loại cơ bản như chứng minh nhân dân (thẻ căn
cước công dân), hộ chiếu quốc gia, giấy tờ hộ tịch, giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, đăng ký kinh
doanh và các giấy tờ khác theo quy định của pháp luật.
Để tạo điều kiện cho người dân thực hiện chuyển đổi các loại giấy tờ,
tài liệu có liên quan, sau khi thành lập, thành phố Đồng Nai sẽ chỉ đạo cơ
quan công an và đơn vị có liên quan lập kế hoạch tiến hành thực hiện chuyển
đổi giấy tờ cho người dân; phân công người phụ trách địa bàn, lịch làm việc
với công dân theo từng thôn, tổ dân phố; trong đó ưu tiên thực hiện đối với
những trường hợp người dân có nhu cầu chuyển đổi ngay, cấp bách. Đối với
các loại giấy tờ còn lại, UBND cấp xã có thông báo, hướng dẫn để người dân
nếu có nhu cầu chuyển đổi đến làm thủ tục tại cơ quan nhà nước có thẩm
quyền theo quy định.
162
7. Đổi tên và con dấu của các đơn vị hành chính
Khi có Nghị quyết của Quốc hội về thành lập thành phố Đồng Nai trực
thuộc Trung ương trên cơ sở địa giới hành chính tỉnh Đồng Nai, thành phố
Đồng Nai sẽ tiến hành đổi con dấu của các cơ quan, tổ chức trên địa bàn phù
hợp với tên ĐVHC mới.
163
Phần thứ năm
KIẾN NGHỊ
Việc thành lập thành phố Đồng Nai trực thuộc Trung ương là bước đi
cần thiết nhằm cụ thể hóa các quan điểm, chủ trương và định hướng lớn của
Đảng và Nhà nước về phát triển hệ thống đô thị quốc gia, đồng thời phù hợp
với các quy hoạch chiến lược đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Đây
không chỉ là yêu cầu khách quan trong quá trình phát triển và đô thị hóa mạnh
mẽ của tỉnh Đồng Nai, mà còn là giải pháp quan trọng để phát huy đầy đủ
tiềm năng, lợi thế và vai trò của địa phương trong không gian phát triển của
vùng Đông Nam Bộ và cả nước.
Việc hình thành thành phố Đồng Nai trực thuộc Trung ương sẽ tạo cơ
chế và động lực phát triển mới, góp phần xây dựng Đồng Nai trở thành một
trung tâm công nghiệp, logistics và dịch vụ hiện đại, giữ vai trò kết nối vùng
và cửa ngõ giao thương quốc tế của khu vực phía Nam. Qua đó, Đồng Nai sẽ
tiếp tục khẳng định vị thế là một cực tăng trưởng quan trọng của quốc gia tại
vùng Đông Nam Bộ, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế,
thúc đẩy liên kết vùng, mở rộng hội nhập quốc tế và tăng cường tiềm lực
quốc phòng - an ninh trong tình hình mới, góp phần quan trọng cùng đất nước
phát triển hùng cường trong kỷ nguyên mới.
Trên đây là Đề án thành lập thành phố Đồng Nai trực thuộc Trung ương./.
Nơi nhận:
TM. ỦY BAN NHÂN DÂN
CHỦ TỊCH
Nguyễn Văn Út
ĐÁNH GIÁ TIÊU CHUẨN THÀNH LẬP 10 PHƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG NAI
(Kèm theo Đề án số /ĐA-UBND ngày /3/2026 của UBND tỉnh Đồng Nai)
I. CÁC ĐỊA PHƯƠNG: LONG THÀNH, NHƠN TRẠCH, TRẢNG BOM
TT
TIÊU CHÍ
Long Thành
Nhơn Trạch
Trảng Bom
Hiện trạng
Đánh
giá
Hiện trạng
Đánh
giá
Hiện trạng
Đánh
giá
1
Quy mô dân số (từ 21.000
người trở lên)
95.992 người
Đạt
156.839 người
Đạt
95.502 người
Đạt
2
Diện tích tự nhiên (từ 5,5 km
2
trở lên)
130,12 km
2
Đạt
108,046 km
2
Đạt
68,77 km
2
Đạt
3
Vị trí, chức năng được xác định
trong quy hoạch hoặc định
hướng đã được cấp có thẩm
quyền phê duyệt
Vị trí, chức năng được xác
định trong quy hoạch hoặc
định hướng đã được cấp có
thẩm quyền phê duyệt là
trung tâm cấp tiểu vùng
trong tỉnh
Đạt
Vị trí, chức năng được xác định trong
quy hoạch hoặc định hướng đã được
cấp có thẩm quyền phê duyệt là trung
tâm cấp tiểu vùng trong tỉnh
Đạt
Vị trí, chức năng được xác định
trong quy hoạch hoặc định hướng
đã được cấp có thẩm quyền phê
duyệt là trung tâm cấp tiểu vùng
trong tỉnh
Đạt
4
Tỷ lệ quy mô dân số đô thị trên
quy mô dân số của ĐVHC (từ
50% trở lên)
50,21%
Đạt
32%
Đạt
50,24%
Đạt
5
Cơ cấu và trình độ phát triển
kinh tế - xã hội
5.1
Tỷ lệ tổng thu ngân sách địa
phương với tổng chi ngân sách
địa phương (>= 100%)
100,85%
Đạt
176,43%
Đạt
102,42%
Đạt
5.2
Tỷ trọng công nghiệp - xây
dựng và dịch vụ trong GRDP
(70%)
73,07%
Đạt
81%
Đạt
93,96%
Đạt
165
TT
TIÊU CHÍ
Long Thành
Nhơn Trạch
Trảng Bom
Hiện trạng
Đánh
giá
Hiện trạng
Đánh
giá
Hiện trạng
Đánh
giá
5.3
Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp
(>=70%)
85%
Đạt
91%
Đạt
75%
Đạt
5.4
Thu nhập bình quân đầu người
trên năm cao hơn thu nhập bình
quân đầu người trên năm của
tỉnh trong 03 năm gần nhất
Năm 2023: 73,84 triệu
Năm 2024: 80,08 triệu
Năm 2025: 86 triệu
Năm 2023: 79,65 triệu
Năm 2024: 86,45 triệu
Năm 2025: 93,05 triệu
Đạt
Năm 2023: 79,65 triệu
Năm 2024: 86,45 triệu
Năm 2025: 93,5 triệu
Đạt
Năm 2023: 81,71 triệu
Năm 2024: 88,14 triệu
Năm 2025: 95,60 triệu
Đạt
5.5
Tỷ lệ hộ nghèo (theo chuẩn
nghèo đa chiều) thấp hơn tỷ lệ
hộ nghèo của tỉnh trong 03 năm
gần nhất (0,28%/năm)
0,19%
Đạt
0,08%
Đạt
0,07%
Đạt
II. CÁC ĐỊA PHƯƠNG: DẦU GIÂY, XUÂN LỘC, TÂN PHÚ
TTT
TIÊU CHÍ
Dầu Giây
Xuân Lộc
Tân Phú
Hiện trạng
Đánh
giá
Hiện trạng
Đánh
giá
Hiện trạng
Đánh
giá
1
Quy mô dân số (từ 21.000
người trở lên)
70.264
Đạt
101.485 người
Đạt
77.025 người
Đạt
2
Diện tích tự nhiên (từ 5,5 km
2
trở lên)
98,86km
Đạt
140,5 km
2
Đạt
105,8 km
2
Đạt
166
TTT
TIÊU CHÍ
Dầu Giây
Xuân Lộc
Tân Phú
Hiện trạng
Đánh
giá
Hiện trạng
Đánh
giá
Hiện trạng
Đánh
giá
3
Vị trí, chức năng được xác
định trong quy hoạch hoặc
định hướng đã được cấp có
thẩm quyền phê duyệt
Vị trí, chức năng được xác
định trong quy hoạch hoặc
định hướng đã được cấp có
thẩm quyền phê duyệt là
trung tâm cấp tiểu vùng
trong tỉnh
Đạt
Vị trí, chức năng được xác định trong
quy hoạch hoặc định hướng đã được
cấp có thẩm quyền phê duyệt là trung
tâm cấp tiểu vùng trong tỉnh
Đạt
Là trung tâm, cấp tiểu vùng trong
tỉnh, có vai trò thúc đẩy sự phát
triển kinh tế - xã hội của tiểu
Vùng Phía Đông của tỉnh
Đạt
4
Tỷ lệ quy mô dân số đô thị
trên quy mô dân số của ĐVHC
(từ 50% trở lên)
52,04%
Đạt
54,24
Đạt
50,13%
Đạt
5
Cơ cấu và trình độ phát triển
kinh tế - xã hội
5.1
Tỷ lệ tổng thu ngân sách địa
phương với tổng chi ngân sách
địa phương (>= 100%)
100%
Đạt
103,54%
Đạt
100%
Đạt
5.2
Tỷ trọng công nghiệp - xây
dựng và dịch vụ trong GRDP
(70%)
83%
Đạt
91,82%
Đạt
72,51%
Đạt
5.3
Tỷ lệ lao động phi nông
nghiệp (>=70%)
75%
Đạt
78,64%
Đạt
71,27%
Đạt
5.4
Thu nhập bình quân đầu người
trên năm cao hơn thu nhập
bình quân đầu người trên năm
của tỉnh trong 03 năm gần
nhất Năm 2023: 73,84 triệu
Năm 2024: 80,08 triệu
Năm 2025: 86 triệu
Năm 2023: 87,89 triệu
Năm 2024: 90,89 triệu
Năm 2025: 92,4 triệu
Đạt
Năm 2023: 91,10 triệu
Năm 2024: 96,5 triệu
Năm 2025: 101,4 triệu
Đạt
Năm 2023: 76,15 triệu
Năm 2024: 83,02 triệu
Năm 2025: 89,55 triệu
Đạt
167
TTT
TIÊU CHÍ
Dầu Giây
Xuân Lộc
Tân Phú
Hiện trạng
Đánh
giá
Hiện trạng
Đánh
giá
Hiện trạng
Đánh
giá
5.5
Tỷ lệ hộ nghèo (theo chuẩn
nghèo đa chiều) thấp hơn tỷ lệ
hộ nghèo của tỉnh trong 03
năm gần nhất (0,28%/năm)
0,16%
Đạt
0,23%
Đạt
0,23%
Đạt
III. CÁC ĐỊA PHƯƠNG: TRỊ ÁN, ĐỒNG PHÚ, TÂN KHAI, LỘC NINH
TT
TIÊU CHÍ
Trị An
Đồng Phú
Tân Khai
Lộc Ninh
Hiện trạng
Đánh
giá
Hiện trạng
Đánh
giá
Hiện trạng
Đánh
giá
Hiện trạng
Đánh
giá
1
Quy mô dân số (từ 21.000
người trở lên)
51.757 người
Đạt
39.216
Đạt
39.147 người
Đạt
32.291
Đạt
2
Diện tích tự nhiên (từ 5,5
km
2
trở lên)
660,47 km
2
Đạt
138,66km2
Đạt
161,79 km
2
Đạt
67,51 km
2
Đạt
3
Vị trí, chức năng được xác
định trong quy hoạch hoặc
định hướng đã được cấp
có thẩm quyền phê duyệt
Vị trí, chức năng được
xác định trong quy
hoạch hoặc định hướng
đã được cấp có thẩm
quyền phê duyệt là
trung tâm cấp tiểu vùng
trong tỉnh
Đạt
Vị trí, chức năng được
xác định trong quy hoạch
hoặc định hướng đã được
cấp có thẩm quyền phê
duyệt là trung tâm cấp
tiểu vùng trong tỉnh
Đạt
Vị trí, chức năng được
xác định trong quy
hoạch hoặc định hướng
đã được cấp có thẩm
quyền phê duyệt là
trung tâm cấp tiểu
vùng trong tỉnh
Đạt
Vị trí, chức năng được
xác định trong quy
hoạch hoặc định
hướng đã được cấp có
thẩm quyền phê duyệt
là trung tâm cấp tiểu
vùng trong tỉnh
Đạt
4
Tỷ lệ quy mô dân số đô thị
trên quy mô dân số của
ĐVHC (từ 50% trở lên)
62,75%
Đạt
50,6%
Đạt
50,48%
Đạt
50,09%
Đạt
168
TT
TIÊU CHÍ
Trị An
Đồng Phú
Tân Khai
Lộc Ninh
Hiện trạng
Đánh
giá
Hiện trạng
Đánh
giá
Hiện trạng
Đánh
giá
Hiện trạng
Đánh
giá
5
Cơ cấu và trình độ phát
triển kinh tế - xã hội
5.1
Tỷ lệ tổng thu ngân sách
địa phương với tổng chi
ngân sách địa phương (>=
100%)
131%
Đạt
100%
Đạt
156%
Đạt
103,5%
Đạt
5.2
Tỷ trọng công nghiệp -
xây dựng và dịch vụ trong
GRDP
(>=70%)
71,79%
Đạt
93%
Đạt
71%
Đạt
70,14%
Đạt
5.3
Tỷ lệ lao động phi nông
nghiệp (>=70%)
71%
Đạt
72,3%
Đạt
71,2%
Đạt
72%
Đạt
5.4
Thu nhập bình quân đầu
người trên năm cao hơn
thu nhập bình quân đầu
người trên năm của tỉnh
trong 03 năm gần nhất
Năm 2023: 73,84 triệu
Năm 2024: 80,08 triệu
Năm 2025: 86 triệu
Năm 2023: 75 triệu
Năm 2024: 84 triệu
Năm 2025: 87. triệu
Đạt
Năm 2023: 73,84
triệu
Năm 2024: 85,37
triệu
Năm 2025: 91,68
triệu
Đạt
Năm 2023: 73,95
triệu
Năm 2024: 80,15
triệu
Năm 2025: 86,45
triệu
Đạt
Năm 2023: 85,15
triệu
Năm 2024: 89,66
triệu
Năm 2025: 93,12
triệu
Đạt
5.5
Tỷ lệ hộ nghèo (theo
chuẩn nghèo đa chiều)
thấp hơn tỷ lệ hộ nghèo
của tỉnh trong 03 năm gần
nhất
(0,28%/năm)
0%
Đạt
0,01%
Đạt
0%
Đạt
0%
Đạt
ỦY BAN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG NAI
Số: /ĐA-UBND
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Đồng Nai, ngày … tháng 3 năm 2026
ĐỀ N
THÀNH LẬP CÁC PHƯỜNG TRÊN CƠ SỞ NGUYÊN TRẠNG CÁC
XÃ: LONG THÀNH, NHƠN TRẠCH, TRẢNG BOM, XUÂN LỘC, DẦU
GIÂY, TÂN PHÚ, TRỊ AN, ĐỒNG PHÚ, TÂN KHAI, LỘC NINH
THUỘC TỈNH ĐỒNG NAI
(Kèm theo Tờ trình số /TTr-UBND ngày tháng 3 năm 2026
của Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai)
Tỉnh Đồng Nai có dân số 4.491.408 người; diện tích tự nhiên 12.737,2 km²;
quy mô kinh tế năm 2025 (GRDP) đạt 677.932 tỷ đồng. Sau sáp nhập, Đồng Nai
là tỉnh có quy mô kinh tế lớn nhất cả nước nếu chỉ xét trong khối các tỉnh; GRDP
của tỉnh đứng thứ 4 toàn quốc, sau 03 thành phố trực thuộc Trung ương là Hải
Phòng, Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Từ lâu, Đồng Nai được xác định là
cửa ngõ của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam - vùng kinh tế phát triển năng
động nhất cả nước. Tỉnh có hệ thống hạ tầng giao thông tương đối đồng bộ, hội
đủ các phương thức vận tải gồm đường bộ, hàng không, đường sắt và đường
thủy nội địa. Nổi bật là Cảng hàng không quốc tế Long Thành dự kiến đưa vào
vận hành thương mại từ quý II/2026, Cảng biển Phước An và 10 tuyến đường
cao tốc đã, đang và sẽ được triển khai. Đồng Nai đồng thời có đường biên giới
tiếp giáp Campuchia, gắn với Khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Hoa Lư. Đặc biệt,
sự hình thành đô thị sân bay Long Thành và hành lang sông Đồng Nai sẽ tạo dư
địa phát triển mới, thúc đẩy mạnh mẽ các ngành, lĩnh vực kinh tế của tỉnh trong
thời gian tới. Không chỉ là một trong những địa phương phát triển công nghiệp
hàng đầu cả nước với 82 khu công nghiệp được quy hoạch, Đồng Nai còn là
trung tâm chăn nuôi lớn, có nhiều sản phẩm nông nghiệp có thương hiệu và tiềm
năng đáng kể về du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng. Với dư địa phát triển lớn và những
nền tảng quan trọng nêu trên, Tỉnh ủy Đồng Nai đã xác định mục tiêu phấn đấu
đến năm 2030 cơ bản đạt các tiêu chuẩn của thành phố trực thuộc Trung ương.
Đồng Nai giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong kết nối liên quốc gia, liên
vùng và liên tỉnh. Thứ nhất, Đồng Nai là một trong những địa phương có đường
biên giới trên bộ với Vương quốc Campuchia, với Cửa khẩu quốc tế Hoa Lư là
đầu mối giao thương quan trọng, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế
cửa khẩu và thương mại song phương. Trong bối cảnh hợp tác phát triển theo
DỰ THẢO
2
các hành lang kinh tế giữa hai quốc gia ngày càng được thúc đẩy, Đồng Nai có
điều kiện thuận lợi để tham gia sâu hơn vào không gian hợp tác khu vực. Thứ
hai, Đồng Nai là cửa ngõ kết nối vùng đồng bằng sông Cửu Long, Thành phố
Hồ Chí Minh với vùng Đông Nam Bộ. Thứ ba, với Cảng hàng không quốc tế
Long Thành, Đồng Nai là cửa ngõ giao lưu quốc tế quan trọng của cả vùng và
cả nước.
Đồng Nai là một trong những địa phương có hệ thống hạ tầng giao thông
phát triển đồng bộ, hiện đại và có tính đột phá của cả nước. Trong những năm
qua, tỉnh đã ưu tiên đầu tư các công trình giao thông trọng điểm, qua đó tạo lợi
thế kết nối liên vùng mạnh mẽ, mở rộng không gian phát triển và thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế - xã hội.
Hạ tầng đường bộ giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong cấu trúc phát triển
của tỉnh. Nằm kề Thành phố Hồ Chí Minh, tiếp giáp nhiều tỉnh thuộc Đông Nam
Bộ, Tây Nguyên, đồng bằng sông Cửu Long và có trên 258,9 km đường biên
giới, Đồng Nai không chỉ giữ vị trí trọng yếu về quốc phòng - an ninh mà còn
là cửa ngõ mở rộng giao thương xuyên biên giới. Khu kinh tế cửa khẩu Hoa Lư
được kỳ vọng trở thành điểm trung chuyển quan trọng, gắn kết thương mại nội
địa với thị trường quốc tế. Trong nhiều năm qua, hệ thống giao thông của tỉnh
từng bước được đầu tư, hình thành mạng lưới gồm đường bộ, đường thủy, hàng
hải và hàng không. Nhiều công trình giao thông quan trọng đã đưa vào khai thác
như cao tốc Phan Thiết - Dầu Giây, cầu Nhơn Trạch, cầu Bạch Đằng 2; đồng
thời, các dự án lớn như cao tốc Biên Hòa - Vũng Tàu, Bến Lức - Long Thành,
đường Vành đai 3 và đường Vành đai 4 Thành phố Hồ Chí Minh đang được
triển khai, tạo nền tảng vững chắc cho phát triển đô thị và liên kết vùng.
Hạ tầng hàng không mang tầm quốc gia và quốc tế là lợi thế nổi bật của
Đồng Nai. Cảng hàng không quốc tế Long Thành là dự án hạ tầng đặc biệt quan
trọng, có tổng diện tích 5.000 ha, tổng mức đầu tư hơn 16 tỷ USD, được quy
hoạch đạt cấp 4F. Khi hoàn thành toàn bộ các giai đoạn, sân bay dự kiến đạt
công suất 100 triệu hành khách/năm và 5 triệu tấn hàng hóa/năm. Đây sẽ là động
lực quan trọng để phát triển logistics, dịch vụ, thương mại, du lịch chất lượng
cao và nâng cao vị thế cạnh tranh của Đồng Nai cũng như Vùng Đông Nam Bộ.
Những yếu tố nêu trên tạo cho Đồng Nai lợi thế cạnh tranh nổi trội, là động
lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của vùng Đông Nam Bộ, vùng
đồng bằng sông Cửu Long, vùng Thành phố Hồ Chí Minh và cả nước.
Để tạo điều kiện cho tỉnh Đồng Nai thực hiện hiệu quả các mục tiêu phát
triển kinh tế - xã hội, đồng thời đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước trên địa bàn,
phù hợp với nguyện vọng của Nhân dân và yêu cầu xây dựng tỉnh phát triển
3
xứng tầm thành phố trực thuộc Trung ương, việc thành lập thêm các phường là
cần thiết. Hiện nay, tỉnh Đồng Nai có 95 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc,
gồm 23 phường và 72 xã. Theo quy định, để bảo đảm một trong những điều kiện
cần thiết đối với tỉnh trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, tỷ lệ số phường
trên tổng số đơn vị hành chính cấp xã phải đạt từ 30% trở lên. Từ yêu cầu đó,
Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai xây dựng Đề án thành lập các phường trên cơ
sở nguyên trạng các xã: Long Thành, Nhơn Trạch, Trảng Bom, Xuân Lộc, Dầu
Giây, Tân Phú, Trị An, Đồng Phú, Tân Khai, Lộc Ninh, cụ thể như sau:
Phần thứ nhất
CƠ SỞ CHÍNH TRỊ, CĂN CỨ PHP LÝ VÀ SỰ CẦN THIẾT
I. CƠ SỞ CHÍNH TRỊ VÀ CĂN CỨ PHÁP LÝ
Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15; Nghị
quyết số 81/2023/QH15 ngày 09/01/2023 của Quốc hội về Quy hoạch tổng thể
quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050; Nghị quyết số
111/2025/UBTVQH15 ngày 24/12/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về
phân loại đô thị; Nghị quyết số 112/2025/UBTVQH15 ngày 24/12/2025 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội về tiêu chuẩn của đơn vị hành chính; Quyết định số
80/QĐ-TTg ngày 11/02/2023 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch
tỉnh Đồng Nai thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050; Quyết định số
891/QĐ-TTg ngày 22/8/2024 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch
hệ thống đô thị và nông thôn thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050;
Về cơ sở chính trị, việc xây dựng Đề án quán triệt ý kiến của Bộ Chính trị
tại Công văn số 1184-CV/VPTW ngày 22/3/2026 của Văn phòng Ban Chấp
hành Trung ương Đảng về Đề án xây dựng và phát triển Đồng Nai đến năm
2035, tầm nhìn đến năm 2065; đồng thời bám sát chủ trương sắp xếp đơn vị
hành chính, xây dựng chính quyền đô thị, phát triển hệ thống đô thị quốc gia và
yêu cầu phát triển tỉnh Đồng Nai trong giai đoạn mới.
II. SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC THÀNH LẬP CC PHƯỜNG: LONG
THÀNH, NHƠN TRẠCH, TRẢNG BOM, XUÂN LỘC, DẦU GIÂY, TÂN
PHÚ, TRỊ AN, ĐỒNG PHÚ, TÂN KHAI, LỘC NINH THUỘC TỈNH
ĐỒNG NAI
Việc thành lập các phường phù hợp với chủ trương của Đảng, chính sách,
pháp luật của Nhà nước và yêu cầu phát triển thực tiễn của địa phương; nhằm
cụ thể hóa chủ trương sắp xếp, kiện toàn đơn vị hành chính, xây dựng mô hình
chính quyền phù hợp với quá trình đô thị hóa; đồng thời phù hợp với định hướng
phát triển không gian đô thị, mở rộng phạm vi quản lý đô thị và nâng cao chất
lượng quản trị địa phương theo hướng văn minh, hiện đại. Việc thành lập
4
phường cũng góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trên các
lĩnh vực quy hoạch, xây dựng, đất đai, dân cư, trật tự đô thị, môi trường, hạ tầng
kỹ thuật; tăng cường năng lực tổ chức thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế
- xã hội, chỉnh trang đô thị, cải cách hành chính, chuyển đổi số; tạo điều kiện
thuận lợi hơn trong cung cấp dịch vụ công, phục vụ người dân và doanh nghiệp.
1. Đối với xã Trảng Bom
Xã Trảng Bom được thành lập trên cơ sở sắp xếp toàn bộ thị trấn Trảng
Bom và các xã Giang Điền, Quảng Tiến, Sông Trầu, có diện tích tự nhiên 68,77
km² và quy mô dân số 95.502 người. Với vị trí địa lý thuận lợi, gần các tuyến
giao thông quan trọng như Quốc lộ 1A, cao tốc Long Thành - Dầu Giây và các
tuyến đường liên tỉnh; có quỹ đất phát triển, địa hình phù hợp, các khu công
nghiệp lớn như Giang Điền, Bàu Xéo; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội cơ
bản ổn định, nguồn nhân lực dồi dào; đồng thời nằm trong định hướng quy hoạch
phát triển hệ thống đô thị của tỉnh Đồng Nai, Trảng Bom có đầy đủ điều kiện,
tiền đề thuận lợi để tiếp tục phát triển mạnh mẽ trong thời gian tới.
Việc thành lập phường Trảng Bom nhằm cụ thể hóa chủ trương sắp xếp,
kiện toàn đơn vị hành chính, xây dựng mô hình chính quyền phù hợp với quá
trình đô thị hóa; đồng thời đáp ứng yêu cầu mở rộng phạm vi quản lý đô thị và
nâng cao chất lượng quản trị địa phương theo hướng văn minh, hiện đại. Trong
những năm qua, Trảng Bom có tốc độ đô thị hóa nhanh; cơ cấu kinh tế chuyển
dịch tích cực theo hướng công nghiệp - xây dựng, thương mại - dịch vụ giữ vai
trò chủ đạo; tỷ lệ lao động phi nông nghiệp cao; mật độ dân cư tập trung; hạ tầng
kỹ thuật, hạ tầng xã hội ngày càng được đầu tư đồng bộ. Những yếu tố này cho
thấy tính chất địa bàn đã và đang chuyển mạnh từ nông thôn sang đô thị, đòi hỏi
phải tổ chức mô hình đơn vị hành chính cấp phường để phù hợp với yêu cầu
quản lý và định hướng phát triển.
2. Đối với xã Long Thành
Xã Long Thành được sáp nhập từ 04 đơn vị gồm xã Bình Sơn, xã Lộc An,
xã Long An và thị trấn Long Thành; có diện tích tự nhiên 130,12 km², dân số
95.992 người; phía Bắc giáp xã Bình An, phía Nam giáp xã Phước Thái, phía
Đông giáp xã Long Phước, phía Tây giáp xã An Phước. Long Thành có vị trí
địa lý đặc biệt quan trọng, nằm ở trung tâm vùng kinh tế trọng điểm phía Nam,
cách trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 40 km về phía Đông và liền kề
các khu vực công nghiệp năng động như Nhơn Trạch và khu vực công nghiệp -
cảng biển Bà Rịa - Vũng Tàu. Vị trí này tạo điều kiện thuận lợi để Long Thành
phát huy vai trò cửa ngõ, trung tâm kết nối và phát triển đô thị trong khu vực.
5
Vai trò, vị trí của đô thị Long Thành được xác định là đô thị gắn kết chặt
chẽ với Cảng hàng không quốc tế Long Thành, giữ vai trò cửa ngõ quốc gia
trong giao lưu quốc tế; là trung tâm dịch vụ hậu cần hỗ trợ sân bay, trung tâm
logistics, kho vận, công nghiệp đa ngành, công nghiệp công nghệ cao của vùng
Đông Nam Bộ; là đầu mối giao thông, vận tải đa phương thức có ý nghĩa đối
với quốc gia, vùng Đông Nam Bộ và tỉnh Đồng Nai; đồng thời là khu vực có vị
trí quan trọng về quốc phòng, an ninh của vùng và cả nước.
3. Đối với xã Trị An
Xã Trị An chính thức được hình thành trên cơ sở sáp nhập 03 đơn vị gồm
thị trấn Vĩnh An, xã Mã Đà và xã Trị An cũ; xã Trị An hiện có diện tích 660,47
km²; trong đó có 45.515 ha đất lâm nghiệp và 12.988,6 ha diện tích mặt nước
thuộc hồ Trị An - những lợi thế rất lớn cho phát triển kinh tế rừng, nông nghiệp
sinh thái, thủy sản và du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng gắn với bảo tồn thiên nhiên.
Với quy mô dân số 51.757 người và tốc độ đô thị hóa diễn ra ngày càng rõ, Trị
An cần được tổ chức bộ máy quản lý theo hướng đô thị để bảo đảm phát triển
đúng định hướng và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trên địa bàn.
Xã Trị An có tiềm năng lớn về du lịch sinh thái, khi hồ Trị An được định
hướng là khu du lịch quốc gia; đồng thời có lợi thế về sản xuất năng lượng sạch
với Thủy điện Trị An và các dự án điện mặt trời. Đây là khu vực có vai trò quan
trọng trong bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia và cung cấp nước sạch cho
khu vực đô thị Biên Hòa và vùng Thành phố Hồ Chí Minh. Trong giai đoạn tới,
Trị An là khu vực kết nối các địa phương lân cận thông qua các tuyến giao thông
lớn như Quốc lộ 56B kết nối với cầu Hiếu Liêm, đường tỉnh ĐT.761, cầu Mã
Đà, đường Vành đai 4, cầu Hiếu Liêm 2 kết nối với Thành phố Hồ Chí Minh.
Cùng với đó, hạ tầng đô thị, nhất là hệ thống giao thông, đang từng bước được
đầu tư; quỹ đất phát triển còn khá lớn; cảnh quan, môi trường có nhiều đặc sắc,
tạo điều kiện để hình thành đô thị xanh, thông minh, bền vững, gắn với phát
triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, du lịch, dịch vụ, nông nghiệp hữu cơ, nông
nghiệp công nghệ cao và chuỗi dịch vụ hỗ trợ liên quan.
4. Đối với xã Tân Phú
Xã Tân Phú chính thức được hình thành trên cơ sở sáp nhập nguyên trạng
diện tích tự nhiên và quy mô dân số của 05 đơn vị gồm: thị trấn Tân Phú và các
xã Phú Lộc, Trà Cổ, Phú Thanh, Phú Xuân.
Trong bối cảnh tốc độ đô thị hóa của địa phương diễn ra nhanh, mô hình tổ
chức chính quyền nông thôn hiện nay đã bộc lộ những hạn chế nhất định và
không còn phù hợp đầy đủ với yêu cầu phát triển. Việc thành lập phường Tân
Phú là bước đi cần thiết nhằm xác lập mô hình quản lý nhà nước phù hợp hơn,
6
bảo đảm năng động, hiện đại, tinh gọn; đồng thời tạo cơ sở pháp lý và điều kiện
thuận lợi để địa phương tiếp tục phát huy vai trò là khu vực phát triển công
nghiệp, thương mại, dịch vụ quan trọng của vùng.
Hiện nay, khu công nghiệp trên địa bàn có tỷ lệ lấp đầy 94%, cho thấy khả
năng thu hút đầu tư khá cao. Kế hoạch mở rộng thêm 246 ha sẽ tạo thêm dư địa
để thu hút các ngành công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ có giá trị
gia tăng lớn. Khi trở thành phường, Tân Phú sẽ có điều kiện thuận lợi hơn trong
công tác xúc tiến đầu tư, kết nối liên vùng, quản lý quy hoạch kiến trúc, cảnh
quan đô thị và trật tự xây dựng theo các quy chuẩn đô thị. Đồng thời, việc thành
lập phường cũng tạo tiền đề để tiếp tục đầu tư hệ thống giáo dục, y tế, văn hóa,
các không gian công cộng và thiết chế văn hóa - thể thao, qua đó nâng cao chất
lượng sống của Nhân dân.
5. Đối với xã Lộc Ninh
Xã Lộc Ninh được thành lập trên cơ sở sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên,
quy mô dân số của thị trấn Lộc Ninh, xã Lộc Thái và xã Lộc Thuận thành xã
mới có tên gọi là xã Lộc Ninh, với diện tích tự nhiên 67,51 km² và dân số 31.484
người. Việc sắp xếp các đơn vị hành chính thành xã Lộc Ninh mới bảo đảm các
tiêu chí về diện tích và quy mô dân số. Các đơn vị được sáp nhập có vị trí liền
kề, liên kết chặt chẽ về lịch sử, văn hóa, xã hội và kinh tế, tạo điều kiện thuận
lợi cho tổ chức bộ máy quản lý nhà nước. Khu vực có hệ thống giao thông kết
nối đồng bộ, đặc biệt là trục Quốc lộ 13 đi qua trung tâm, bảo đảm tính liên
thông, hỗ trợ hiệu quả cho điều hành, phát triển thương mại, dịch vụ và nâng
cao chất lượng phục vụ người dân sau sáp nhập; qua đó hình thành không gian
phát triển mới với quy mô lớn hơn và kế thừa các điều kiện phát triển kinh tế -
xã hội, hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội của các đơn vị trước khi sáp nhập.
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, quá trình đô thị
hóa trên địa bàn và định hướng phát triển của tỉnh Đồng Nai, việc thành lập
phường Lộc Ninh trên cơ sở nguyên trạng xã Lộc Ninh là cần thiết, thể hiện trên
các phương diện chủ yếu sau:
Trước hết, về quy mô và đặc điểm phát triển, xã Lộc Ninh hiện nay đã có
những yếu tố cơ bản của một đơn vị hành chính đô thị. Theo số liệu thống kê,
mật độ dân số ngày càng tăng, phân bố dân cư có xu hướng tập trung tại các khu
vực phát triển công nghiệp, thương mại và dọc các trục giao thông chính. Quy
mô dân số lớn cùng với sự gia tăng dân số cơ học do thu hút lao động từ các địa
phương khác đến làm việc đã tạo áp lực ngày càng lớn đối với công tác quản lý
hành chính, quản lý dân cư và cung ứng dịch vụ công.
7
Về phát triển kinh tế, trong những năm gần đây, kinh tế của xã Lộc Ninh
duy trì tốc độ tăng trưởng khá, tổng giá trị sản phẩm trên địa bàn xã Lộc Ninh
năm 2025 đạt trên 4.600 tỷ đồng, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích
cực, tăng dần tỷ trọng công nghiệp - xây dựng và thương mại - dịch vụ. Trên địa
bàn đã hình thành và phát triển các khu công nghiệp, thu hút nhiều dự án đầu tư,
góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người dân và thúc đẩy quá trình
đô thị hóa. Hoạt động thương mại, dịch vụ phát triển đa dạng với hàng trăm cơ
sở sản xuất, kinh doanh, hệ thống phân phối hàng hóa từng bước được mở rộng,
đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và giao thương trên địa bàn.
Về kết cấu hạ tầng, hệ thống hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội trên địa bàn
đã từng bước được đầu tư, nâng cấp, đặc biệt là hệ thống giao thông, điện, thông
tin liên lạc, các công trình giáo dục, y tế, văn hóa. Tuy nhiên, quá trình phát triển
nhanh cũng bộc lộ những hạn chế như hạ tầng chưa đồng bộ, một số khu vực
phát triển còn mang tính tự phát, công tác quản lý xây dựng, quản lý đất đai, bảo
vệ môi trường còn gặp nhiều khó khăn. Trong điều kiện đó, việc tổ chức lại đơn
vị hành chính theo mô hình phường sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý đô
thị, từng bước hoàn thiện hệ thống hạ tầng theo hướng đồng bộ, hiện đại.
Về xã hội, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng được
nâng cao; các chính sách an sinh xã hội được thực hiện đầy đủ, trên địa bàn
không còn hộ nghèo, tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế đạt mức cao. Hệ thống giáo
dục, y tế, văn hóa từng bước được củng cố, đáp ứng nhu cầu cơ bản của người
dân. Tuy nhiên, cùng với quá trình đô thị hóa, nhu cầu về dịch vụ công, về môi
trường sống, về chất lượng hạ tầng xã hội ngày càng cao, đòi hỏi phải có phương
thức quản lý phù hợp với đặc thù đô thị.
Mặt khác, theo quy hoạch phát triển của tỉnh Đồng Nai, khu vực Lộc Ninh
được xác định là đô thị mới, có vai trò thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của
khu vực, gắn với phát triển công nghiệp, dịch vụ và hệ thống hạ tầng đồng bộ.
Do đó, việc thành lập phường Lộc Ninh không chỉ xuất phát từ yêu cầu thực tiễn
của địa phương mà còn nhằm cụ thể hóa các định hướng quy hoạch, tạo cơ sở
pháp lý để triển khai các dự án đầu tư, phát triển đô thị trong thời gian tới.
Xã Lộc Ninh hiện đã hội tụ nhiều yếu tố cơ bản của một đơn vị hành chính
đô thị; đồng thời, những hạn chế về cơ cấu kinh tế, hạ tầng và phương thức quản
lý cũng đặt ra yêu cầu phải tổ chức lại đơn vị hành chính theo hướng phù hợp
hơn. Vì vậy, việc thành lập phường Lộc Ninh trên cơ sở nguyên trạng xã Lộc
Ninh là yêu cầu khách quan, cấp thiết, phù hợp với chủ trương của Đảng, quy
định của pháp luật và định hướng phát triển của tỉnh Đồng Nai.
6. Đối với xã Nhơn Trạch
8
Xã Nhơn Trạch được hình thành từ việc sáp nhập 05 đơn vị hành chính
gồm thị trấn Hiệp Phước, xã Long Tân, xã Phú Thạnh, xã Phú Hội và xã Phước
Thiền, thuộc địa bàn huyện Nhơn Trạch trước đây. Sau sắp xếp, xã Nhơn Trạch
trở thành đơn vị hành chính có quy mô lớn, giữ vị trí quan trọng trong tổ chức
không gian phát triển mới của tỉnh Đồng Nai.
Việc thành lập phường Nhơn Trạch trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và
quy mô dân số của xã Nhơn Trạch là yêu cầu khách quan, cấp thiết, phù hợp với
chủ trương của Đảng, Nhà nước và định hướng phát triển chung của tỉnh Đồng
Nai. Đây là bước chuyển quan trọng về mô hình quản lý, tạo cơ sở để hình thành
không gian đô thị thống nhất, hiện đại, phát huy vai trò đô thị động lực, trung
tâm công nghiệp - dịch vụ và đô thị vệ tinh quan trọng của Cảng hàng không
quốc tế Long Thành.
Nhơn Trạch nằm ở vị trí cửa ngõ phía Đông của Thành phố Hồ Chí Minh,
có ranh giới tự nhiên là sông Đồng Nai, đồng thời là đầu mối kết nối trực tiếp
với Cảng hàng không quốc tế Long Thành - công trình trọng điểm quốc gia. Với
hệ thống hạ tầng giao thông hiện đại gồm cao tốc Thành phố Hồ Chí Minh -
Long Thành - Dầu Giây, đường Vành đai 3, đường Tôn Đức Thắng (25B) và
đường Nguyễn Ái Quốc (25C), Nhơn Trạch có điều kiện thuận lợi để phát triển
thành trung tâm giao thương, logistics và dịch vụ hỗ trợ hàng không trong thời
gian tới.
Hiện nay, địa bàn có quy mô dân số 156.798 người; trong đó lực lượng lao
động nhập cư chiếm tỷ trọng lớn, thể hiện sức hút mạnh về dân cư và lao động.
Tuy nhiên, với quy mô không gian đô thị lớn và tính chất phát triển phức tạp,
mô hình quản lý hành chính cấp xã không còn đáp ứng đầy đủ yêu cầu quản lý.
Việc thành lập phường sẽ tạo cơ sở pháp lý, hành chính để Nhơn Trạch phát huy
tốt hơn lợi thế vị trí chiến lược, đảm nhận vai trò đô thị vệ tinh sân bay và trở
thành động lực phát triển quan trọng của vùng Đông Nam Bộ.
7. Đối với xã Xuân Lộc
Xã Xuân Lộc được thành lập trên cơ sở sáp nhập 05 đơn vị hành chính gồm
xã Xuân Trường, xã Xuân Thọ, xã Suối Cát, xã Xuân Hiệp và thị trấn Gia Ray;
có diện tích 140,5 km², dân số 101.485 người, gồm 31 ấp, khu phố, 452 tổ nhân
dân, với 21.779 hộ, mật độ khoảng 722 người/km². Đây là địa bàn có quy mô
lớn, dân số đông, dân cư phân bố theo hướng tập trung, đã hình thành nhiều khu
dân cư mang tính chất đô thị rõ nét. Đặc biệt, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp đạt
78,64%, phản ánh xu hướng chuyển dịch mạnh từ nông thôn sang đô thị. Những
yếu tố này cho thấy Xuân Lộc đã cơ bản hội tụ điều kiện của đơn vị hành chính
đô thị, việc tiếp tục duy trì mô hình xã không còn phù hợp với yêu cầu phát triển.
9
Hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội của Xuân Lộc đã được
đầu tư tương đối đồng bộ, với mạng lưới giao thông, trường học, cơ sở y tế, thiết
chế văn hóa - thể thao ngày càng hoàn thiện. Đặc biệt, hệ thống đường giao
thông, trường học và thiết chế văn hóa - thể thao được đầu tư khá đầy đủ, gồm
các tuyến cao tốc, quốc lộ, tỉnh lộ, đường trục chính đô thị, các trường học,
quảng trường, trung tâm hội nghị, trung tâm văn hóa - thể thao, nhà văn hóa các
ấp và nhiều công trình thể thao, đáp ứng khá tốt nhu cầu sản xuất, sinh hoạt và
rèn luyện của Nhân dân. Tuy nhiên, việc quản lý, khai thác và phát triển hạ tầng
theo định hướng đô thị cần có mô hình quản lý phù hợp hơn. Thành lập phường
sẽ giúp tổ chức không gian đô thị thống nhất, triển khai hiệu quả các quy hoạch,
huy động nguồn lực đầu tư, nâng cao chất lượng hạ tầng và dịch vụ công.
Việc thành lập phường Xuân Lộc trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và
quy mô dân số hiện có là yêu cầu khách quan, cấp thiết, phù hợp với chủ trương
của Đảng, Nhà nước về phát triển đô thị và sắp xếp đơn vị hành chính trong giai
đoạn mới. Đây là bước chuyển từ mô hình quản lý nông thôn sang quản lý đô
thị, nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; tạo động lực thúc đẩy
phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững; hoàn thiện hệ thống hạ tầng; nâng
cao chất lượng đời sống Nhân dân và phát huy hiệu quả tiềm năng, lợi thế của
địa phương trong giai đoạn tới.
8. Đối với xã Tân Khai
Xã Tân Khai được thành lập trên cơ sở sáp nhập thị trấn Tân Khai, xã Tân
Hiệp và xã Đồng Nơ, mở ra giai đoạn phát triển mới với quy mô lớn và định
hướng đô thị rõ nét. Sau khi được thành lập, xã Tân Khai có diện tích tự nhiên
khoảng 161,79 km², quy mô dân số tính đến ngày 22/3/2026 là 39.147 người,
mật độ dân số khoảng 242 người/km². Với quy mô diện tích rộng, dân số đông,
không gian phát triển lớn và vị trí địa lý thuận lợi, Tân Khai có nhiều điều kiện
để phát triển theo định hướng đô thị trong thời gian tới.
Việc thành lập phường trên cơ sở nguyên trạng xã Tân Khai là bước cụ thể
hóa định hướng quy hoạch, tạo cơ sở pháp lý để triển khai đồng bộ các chương
trình, dự án đầu tư, phát triển kết cấu hạ tầng và hình thành không gian đô thị
theo quy hoạch được phê duyệt.
Trong những năm gần đây, xã Tân Khai có tốc độ đô thị hóa khá nhanh,
quy mô dân số lớn, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng công
nghiệp - xây dựng và thương mại - dịch vụ; hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng
xã hội từng bước được đầu tư.
Tỷ lệ dân số đô thị đạt trên 50%; các khu dân cư tập trung, hoạt động sản
xuất, kinh doanh, dịch vụ phát triển đa dạng, thể hiện ngày càng rõ đặc trưng
10
của khu vực đô thị. Đây là cơ sở thực tiễn quan trọng để chuyển đổi mô hình
đơn vị hành chính từ xã sang phường.
9. Đối với xã Dầu Giây
Xã Dầu Giây được thành lập trên cơ sở nhập toàn bộ thị trấn Dầu Giây và
các xã Hưng Lộc, Bàu Hàm 2, Lộ 25, có diện tích tự nhiên 98,87 km² và quy
mô dân số 70.264 người. Với vị trí địa lý thuận lợi, gần các tuyến giao thông
quan trọng như Quốc lộ 1A, cao tốc Long Thành - Dầu Giây và các tuyến đường
liên tỉnh; có quỹ đất phát triển, địa hình phù hợp, Khu công nghiệp Dầu Giây;
an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội cơ bản ổn định, nguồn nhân lực dồi dào;
đồng thời nằm trong định hướng quy hoạch phát triển hệ thống đô thị của tỉnh,
Dầu Giây có điều kiện thuận lợi để phát triển mạnh trong thời gian tới.
Xã Dầu Giây nằm ở phía Nam tỉnh Đồng Nai. Động lực phát triển của địa
phương đến từ vị trí tiếp giáp các vùng đô thị lớn của tỉnh và của thành phố Hồ
Chí Minh, cùng hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông gồm cao tốc, quốc lộ, đường
tỉnh, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển đô thị, công nghiệp đa ngành, công
nghiệp phụ trợ, vận chuyển và các dịch vụ hỗ trợ chuỗi cung ứng hàng hóa. Đây
là địa bàn có tiềm năng phát triển thành đô thị công nghiệp, dịch vụ đầu mối
quan trọng của tỉnh, thể hiện ở các khía cạnh sau:
Xã Dầu Giây có vị trí thuận lợi để thu hút đầu tư, phát triển theo định hướng
đô thị với các yếu tố:
+ Cách Cảng hàng không quốc tế Long Thành khoảng 25 km về phía Bắc.
+ Nằm trên hành lang các tuyến giao thông lớn của quốc gia như Quốc lộ
20 (kết nối Đồng Nai - Lâm Đồng) và Quốc lộ 1 (trục kinh tế Bắc - Nam, kết
nối các đô thị trọng điểm với vùng Thành phố Hồ Chí Minh).
+ Tiếp giáp và tiếp cận trực tiếp với các đô thị động lực của tỉnh như Biên
Hòa, Long Khánh; đồng thời tiếp cận thuận tiện với các khu vực động lực của
vùng và quốc gia như Cảng hàng không quốc tế Long Thành và Thành phố Hồ
Chí Minh.
+ Khu vực đã được quản lý, đầu tư một phần theo định hướng đô thị; trong
đó thị trấn Dầu Giây trước đây là đô thị loại V, là trung tâm hành chính, chính
trị, trung tâm tổng hợp của huyện Thống Nhất cũ.
+ Kết cấu hạ tầng khung đã được đầu tư cơ bản cả về số lượng và chất
lượng, gồm hạ tầng xã hội như văn hóa, thể thao, y tế, giáo dục; hạ tầng kinh tế
với Khu công nghiệp Dầu Giây đã hình thành, hoạt động; hạ tầng kỹ thuật như
giao thông đô thị, cấp điện, cấp nước...
11
Theo phương án phát triển hệ thống đô thị tỉnh Đồng Nai đã được Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt tại Phụ lục 1 Quyết định số 586/QĐ-TTg ngày
03/7/2025, đô thị Dầu Giây cũ là đô thị loại V với quy mô diện tích 14,14 km²;
giai đoạn đến năm 2030 định hướng phát triển thành đô thị loại IV. Đối với 03
xã còn lại gồm Hưng Lộc, Bàu Hàm 2, Lộ 25, đều đã được công nhận đạt chuẩn
nông thôn mới nâng cao theo các quyết định của UBND tỉnh Đồng Nai; riêng
xã Hưng Lộc theo Quyết định số 586/QĐ-TTg cũng được định hướng phát triển
thành đô thị loại V. Hiện nay, xã Dầu Giây cơ bản đạt các tiêu chí thuộc bộ tiêu
chí nông thôn mới nâng cao năm 2025.
Theo Nghị quyết số 111/2025/UBTVQH15 ngày 24/12/2025 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội về phân loại đô thị, khu vực thị trấn Dầu Giây (cũ) được
xác định là đô thị loại III. Bên cạnh đó, phương án phát triển hệ thống đô thị
trong Quy hoạch tỉnh Đồng Nai thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 và
phương án điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Đồng Nai thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn
đến năm 2050 đang được dự thảo đều xác định xã Dầu Giây phát triển theo tiêu
chí đô thị và nằm trong vùng phát triển đô thị tập trung của tỉnh Đồng Nai.
10. Đối với xã Đồng Phú
Xã Đồng Phú được thành lập trên cơ sở sáp nhập nguyên trạng 03 đơn vị
hành chính gồm thị trấn Tân Phú, xã Tân Lập và xã Đồng Phú, có tổng diện tích
138,66 km² và dân số 39.213 người.
Việc thành lập phường Đồng Phú là yêu cầu khách quan, cấp thiết trong
bối cảnh Đồng Nai đang tăng tốc phát triển để trở thành thành phố trực thuộc
Trung ương. Quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ đã làm thay
đổi rõ nét diện mạo kinh tế - xã hội của Đồng Phú: dân số cơ học tăng nhanh,
hoạt động thương mại - dịch vụ phát triển, nhu cầu về hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng
xã hội và quản lý đô thị ngày càng cao. Trong khi đó, mô hình chính quyền cấp
xã hiện nay không còn phù hợp để đáp ứng yêu cầu quản trị hiện đại, nhất là
trong các lĩnh vực quy hoạch, quản lý đất đai, trật tự xây dựng, môi trường và
cung ứng dịch vụ công.
Việc thành lập phường Đồng Phú sẽ tạo điều kiện nâng cao hiệu lực, hiệu
quả quản lý nhà nước, bảo đảm vận hành theo mô hình chính quyền đô thị phù
hợp hơn; đồng thời là điều kiện quan trọng để thu hút đầu tư, khai thác hiệu quả
tiềm năng, lợi thế, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng
công nghiệp - dịch vụ, giảm dần tỷ trọng nông nghiệp. Qua đó, góp phần xây
dựng Đồng Phú phát triển nhanh, bền vững, đồng bộ với tiến trình đô thị hóa
của tỉnh trong giai đoạn mới.
12
III. VỀ ĐIỀU KIỆN THÀNH LẬP CC PHƯỜNG: Long Thành,
Nhơn Trạch, Trảng Bom, Xuân Lộc, Dầu Giây, Tân Phú, Trị An, Đồng Phú,
Tân Khai, Lộc Ninh. Việc thành lập 10 phường thuộc tỉnh Đồng Nai bảo
đảm các điều kiện theo quy định, cụ thể:
1. Phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch tổng thể
đơn vị hành chính, các định hướng quy hoạch, chương trình phát triển đô thị và
quy hoạch ngành, lĩnh vực liên quan đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt tại
các văn bản: Quyết định số 80/QĐ-TTg ngày 11/02/2023 của Thủ tướng Chính
phủ phê duyệt Quy hoạch tỉnh Đồng Nai thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm
2050; Quyết định số 891/QĐ-TTg ngày 22/8/2024 của Thủ tướng Chính phủ
phê duyệt Quy hoạch hệ thống đô thị và nông thôn thời kỳ 2021 - 2030, tầm
nhìn đến năm 2050.
2. Bảo đảm lợi ích chung của quốc gia, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản
lý nhà nước của chính quyền địa phương các cấp; phát huy tiềm năng, lợi thế
của tỉnh Đồng Nai nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, tiếp tục xây dựng
Đồng Nai trở thành tỉnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, có kết cấu hạ tầng đồng
bộ, hiện đại vào năm 2030. Đồng thời, tạo điều kiện đẩy mạnh tái cơ cấu kinh
tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng kết hợp chiều rộng với chiều
sâu, tạo nền tảng cho phát triển dựa nhiều hơn vào tri thức, khoa học, công nghệ
và đổi mới sáng tạo.
3. Bảo đảm yêu cầu quốc phòng - an ninh, trật tự an toàn xã hội. Việc thành
lập 10 phường không làm giảm vai trò, vị trí chiến lược của các địa bàn mà còn
tạo điều kiện củng cố tốt hơn quốc phòng - an ninh, giữ vững an ninh chính trị,
trật tự an toàn xã hội và nâng cao hiệu quả quản lý, phát triển kinh tế - xã hội
trên địa bàn.
4. Bảo đảm đoàn kết dân tộc, phù hợp với các yếu tố lịch sử, truyền thống
văn hóa của địa phương; tạo thuận lợi trong sinh hoạt, sản xuất, kinh doanh và
tạo được sự đồng thuận của Nhân dân trên địa bàn. Việc thành lập các phường
sẽ tiếp tục phát huy tiềm năng, lợi thế của từng địa phương; tạo điều kiện đầu tư
đồng bộ hệ thống hạ tầng kinh tế - xã hội, nhất là hạ tầng đô thị, giao thông, y
tế, giáo dục, các thiết chế văn hóa; qua đó giúp Nhân dân được tiếp cận, thụ
hưởng dịch vụ văn hóa, giáo dục, chăm sóc sức khỏe với điều kiện thuận lợi
hơn, chất lượng tốt hơn. Quá trình xây dựng đề án thành lập 10 phường đã nhận
được sự đồng thuận cao của Nhân dân.
5. Việc thành lập 10 phường thuộc tỉnh Đồng Nai được thực hiện trên cơ
sở bảo đảm các tiêu chuẩn của đơn vị hành chính theo quy định tại Điều 5 Nghị
13
quyết số 112/2025/UBTVQH15 ngày 24/12/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội về tiêu chuẩn của đơn vị hành chính.
Phần thứ hai
LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ HIỆN TRẠNG PHT TRIỂN CỦA CC
XÃ: LONG THÀNH, NHƠN TRẠCH, TRẢNG BOM, XUÂN LỘC,
DẦU GIÂY, TÂN PHÚ, TRỊ AN, ĐỒNG PHÚ, TÂN KHAI, LỘC NINH
THUỘC TỈNH ĐỒNG NAI
A. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ HIỆN TRẠNG PHT TRIỂN
I. Đối với xã Trảng Bom
1. Vị trí địa lý, địa giới hành chính và vai trò chức năng
1.1. Vị trí địa lý, địa giới hành chính
Xã Trảng Bom được hình thành trên cơ sở hợp nhất 04 đơn vị hành chính
gồm: thị trấn Trảng Bom, xã Sông Trầu, xã Quảng Tiến và xã Giang Điền. Xã
Trảng Bom là một xã Trung tâm có vị trí chiến lược, nằm trong vùng kinh tế
trọng điểm của tỉnh, có hệ thống giao thông kết nối vùng thuận lợi, trong thời
gian vừa qua có sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế, xã hội. Xã Trảng Bom có diện
tích tự nhiên là 6.877,40 ha, chiếm 0,54 % tổng diện tích của tỉnh, có ranh giới
hành chính tiếp giáp như sau:
- Phía Đông: giáp xã Bàu Hàm, xã Hưng Thịnh và xã An Viễn;
- Phía Bắc: giáp xã Tân An và xã Bàu Hàm;
- Phía Tây: giáp xã Bình Minh;
- Phía Nam: giáp xã An Viễn và phường Tam Phước.
1.2. Vai trò chức năng
Xã Trảng Bom thuộc tỉnh Đồng Nai, có vị trí địa lý thuận lợi, là địa bàn có
vai trò quan trọng trong kết nối giao thông, giao thương và phát triển công
nghiệp - dịch vụ của khu vực. Địa bàn có lợi thế trong liên kết vùng, tiếp giáp
các khu vực phát triển năng động, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình đô thị
hóa và phát triển kinh tế - xã hội, khu vực trung tâm, động lực phát triển kinh tế
- xã hội của đô thị Trảng Bom. Là địa bàn tập trung phát triển công nghiệp và
dịch vụ, xã đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu
lao động.
14
Đồng thời, xã Trảng Bom có vị trí thuận lợi trong kết nối giao thông liên
vùng, gắn với các đô thị Thành phố Hồ Chí Minh, Biên Hòa và khu vực Long
Thành. Xã giữ vai trò là khu vực trung chuyển, phát triển logistics và kho vận
phục vụ sản xuất công nghiệp. Bên cạnh đó, đây là khu vực hạt nhân phát triển
không gian đô thị, góp phần giãn dân và hình thành các khu dân cư tập trung.
Đồng thời, xã là trung tâm phát triển thương mại, dịch vụ phục vụ nhu cầu dân
sinh và sản xuất. Với các lợi thế nêu trên, xã Trảng Bom giữ vai trò quan trọng
trong quá trình phát triển đô thị và định hướng thành lập phường trong thời gian
tới.
2. Diện tích tự nhiên và cơ cấu các loại đất
2.1. Diện tích tự nhiên: Tổng diện tích tự nhiên của xã Trảng Bom là
6.877,40 ha. Trong đó, diện tích đất nông nghiệp là 4.763,12 ha, chiếm 69,26%;
diện tích đất phi nông nghiệp 1.957,45 ha, chiếm 28,46% và diện tích đất chưa
sử dụng 156,82 ha chiếm 2,28%
2.2. Cơ cấu các loại đất:
Nhóm đất nông nghiệp: Diện tích đất nông nghiệp là 4.763,12 ha, chiếm
69,26% diện tích tự nhiên, gồm: đất trồng cây hằng năm 1.110,72 ha (23,32%),
đất trồng cây lâu năm 3.211,50 ha (67,42%), đất lâm nghiệp 6,88 ha (0,14%),
đất nuôi trồng thủy sản 321,33 ha (6,75%), đất nông nghiệp khác 112,69 ha
(2,37%). Trên địa bàn không có đất chăn nuôi tập trung và đất làm muối.
Nhóm đất phi nông nghiệp: Diện tích đất phi nông nghiệp là 1.957,45 ha,
chiếm 28,46% diện tích tự nhiên, gồm: đất ở 643,95 ha (32,90%), đất xây dựng
trụ sở cơ quan 9,68 ha (0,49%), đất quốc phòng, an ninh 23,79 ha (1,22%), đất
xây dựng công trình sự nghiệp 228,31 ha (11,66%), đất sản xuất, kinh doanh phi
nông nghiệp 519,54 ha (26,54%), đất công cộng 427,60 ha (21,84%), đất tôn
giáo 20,28 ha (1,04%), đất tín ngưỡng 0,15 ha (0,01%), đất nghĩa trang 8,77 ha
(0,45%) và đất có mặt nước chuyên dùng 75,39 ha.
Đất chưa sử dụng: Diện tích đất chưa sử dụng là 156,82 ha, chiếm tỷ lệ nhỏ
trong tổng diện tích tự nhiên; toàn bộ là diện tích đất do Nhà nước thu hồi nhưng
chưa giao, chưa cho thuê.
3. Dân số, cơ cấu lao động và thành phần dân cư
3.1. Dân số: 95.502 người
3.2. Cơ cấu lao động: Cơ cấu lao động trên địa bàn xã Trảng Bom chuyển
dịch theo hướng đô thị hóa, trong đó lao động phi nông nghiệp chiếm tỷ trọng
chủ yếu, ước khoảng 75% tổng số lao động đang làm việc trên địa bàn; lao động
nông, lâm nghiệp và thủy sản còn khoảng 25%. Trong khu vực lao động phi
15
nông nghiệp, lao động công nghiệp - xây dựng chiếm tỷ trọng lớn, tiếp đến là
thương mại - dịch vụ. Cơ cấu lao động này phù hợp với đặc điểm địa bàn có tốc
độ đô thị hóa cao, tập trung nhiều cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các
khu công nghiệp, tạo nền tảng thuận lợi để phát triển xã Trảng Bom trở thành
phường trong thời gian tới.
3.3. Thành phần dân cư (thành thị/nông thôn): dân số có đặc điểm dân cư
thành thị trên địa bàn xã Trảng Bom là 47.978 người, chiếm 50,24% tổng dân
số toàn xã (47.978 người/95.502 người). Phần dân số còn lại là 47.524 người,
chiếm 49,76%, mang đặc điểm dân cư nông thôn.
4. Hiện trạng phát triển kinh tế
4.1. Chỉ tiêu phát triển kinh tế gồm:
Kinh tế trên địa bàn xã Trảng Bom phát triển theo hướng tăng tỷ trọng công
nghiệp - xây dựng và thương mại - dịch vụ, giảm dần tỷ trọng nông nghiệp. Tỷ
trọng công nghiệp - xây dựng và thương mại - dịch vụ trong cơ cấu kinh tế địa
phương ước đạt từ 75% trở lên, phù hợp với xu thế đô thị hóa và yêu cầu phát
triển đơn vị hành chính đô thị. Giá trị sản xuất các ngành kinh tế trên địa bàn
duy trì tăng trưởng ổn định qua các năm; trong đó khu vực công nghiệp - xây
dựng và thương mại - dịch vụ giữ vai trò chủ đạo, đóng góp chủ yếu vào tăng
trưởng kinh tế của địa phương.
Thu nhập bình quân đầu người: Thu nhập bình quân đầu người trên địa
bàn xã hằng năm được cải thiện, đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân
ngày càng nâng cao; mức thu nhập bình quân đầu người cơ bản cao hơn mức
bình quân chung của tỉnh trong những năm gần đây.
Tỷ lệ hộ nghèo: Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều trên địa bàn xã
duy trì ở mức thấp, giảm qua từng năm và thấp hơn mức bình quân của tỉnh,
phản ánh hiệu quả của công tác giảm nghèo và phát triển an sinh xã hội tại địa
phương. Tổng số hộ nghèo cuối năm 2025: 73/28.614 hộ, chiếm 0,26% được
UBND xã công nhận tại Quyết định số 51/QĐ-UBND ngày 14/01/2026 về việc
Công nhận danh sách hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ thoát nghèo, hộ thoát cận
nghèo cuối năm 2025 trên địa bàn xã Trảng Bom (Theo Quyết định 806/QĐ-
BNNMT ngày 11/3/2026 của Bộ trưởng BNNMT tỷ lệ nghèo đa chiều ở Đồng
Nai là 0,41%).
Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp của địa phương hiện đạt 75%.
4.2. Phát triển các ngành, lĩnh vực
- Về công nghiệp - xây dựng:
16
Công nghiệp - xây dựng là động lực tăng trưởng chính của địa phương.
Trên địa bàn có 351,93 ha đất khu công nghiệp, cụm công nghiệp, 42,53 ha đất
cơ sở sản xuất phi nông nghiệp và 89,12 ha đất sử dụng cho hoạt động khoáng
sản, tạo nền tảng quan trọng cho phát triển sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công
nghiệp, vật liệu xây dựng và đầu tư kết cấu hạ tầng. Đây là lĩnh vực có vai trò
thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, đô thị hóa.
- Về thương mại - dịch vụ:
Thương mại - dịch vụ phát triển khá, với quỹ đất thương mại, dịch vụ 35,96
ha, từng bước đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng của Nhân dân và
góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng đô thị.
Hiện nay, trên địa bàn xã có 1.703 hộ kinh doanh đang được cơ quan thuế
lập bộ quản lý, trong đó có 1.280 hộ kinh doanh thuộc diện nộp thuế và 423 hộ
kinh doanh có thu nhập thấp, không thuộc diện nộp thuế theo quy định. Bên
cạnh đó, trên địa bàn có 15 hợp tác xã và 06 tổ hợp tác đang hoạt động.
Hoạt động thương mại - dịch vụ phát triển tương đối đa dạng với các loại
hình kinh doanh như mua bán hàng hóa, dịch vụ ăn uống, vận tải, vật liệu xây
dựng, sửa chữa cơ khí, dịch vụ phục vụ sản xuất và đời sống dân sinh. Hệ thống
hộ kinh doanh, hợp tác xã, tổ hợp tác và các tổ chức tín dụng trên địa bàn đã góp
phần tích cực trong việc tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân, thúc đẩy lưu
thông hàng hóa, mở rộng dịch vụ dân sinh, đồng thời tạo nền tảng quan trọng để
địa phương tiếp tục phát triển theo hướng thương mại - dịch vụ gắn với đô thị
hóa trong thời gian tới.
- Về sản xuất nông - lâm - thủy sản:
Sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản trên địa bàn tiếp tục được
duy trì theo hướng ổn định, hiệu quả, bền vững, đồng thời giảm dần tỷ trọng
trong cơ cấu kinh tế, phù hợp với quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động và định
hướng phát triển địa phương theo hướng đô thị.
Diện tích đất nông nghiệp hiện có 4.763,12 ha, chiếm khoảng 69,26% diện
tích tự nhiên; trong đó đất trồng cây lâu năm 3.211,50 ha, đất trồng cây hằng
năm 1.110,72 ha, đất nuôi trồng thủy sản 321,33 ha. Tổng diện tích đất canh tác
nông nghiệp khoảng 1.104,5 ha, gồm 469,5 ha cây công nghiệp (chiếm 42,5%)
và 635 ha cây ăn quả (chiếm 57,5%). Cơ cấu sản xuất đang từng bước chuyển
dịch phù hợp với yêu cầu phát triển đô thị, ưu tiên nâng cao hiệu quả sử dụng
đất và phát triển các loại cây trồng có giá trị kinh tế.
Công tác khuyến nông, chuyển giao khoa học kỹ thuật, phòng trừ sâu bệnh,
hướng dẫn sản xuất đúng thời vụ được địa phương thường xuyên quan tâm thực
17
hiện. Đồng thời, địa phương tăng cường tuyên truyền, hướng dẫn các tổ chức,
cá nhân thực hiện đăng ký mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói, từng bước nâng
cao chất lượng sản xuất và mở rộng khả năng tham gia thị trường xuất khẩu
chính ngạch.
Hoạt động chăn nuôi tiếp tục phát triển với 61 trang trại và 506 hộ chăn
nuôi nhỏ lẻ; tổng đàn vật nuôi cơ bản ổn định, trong đó đàn heo, gia cầm và
chim cút chiếm tỷ trọng lớn. Công tác thú y, phòng chống dịch bệnh, tiêu độc
khử trùng được triển khai thường xuyên, góp phần bảo đảm an toàn dịch bệnh
trong chăn nuôi.
Diện tích đất lâm nghiệp trên địa bàn là 6,88 ha; công tác bảo vệ rừng,
phòng cháy chữa cháy rừng được chú trọng thực hiện, không để xảy ra cháy
rừng. Hệ thống công trình thủy lợi hiện có được vận hành ổn định, phục vụ hiệu
quả nhu cầu tưới tiêu sản xuất và điều tiết nước trên địa bàn.
5. Hiện trạng phát triển văn hóa - xã hội
5.1. Giáo dục và đào tạo
Công tác giáo dục và đào tạo trên địa bàn xã Trảng Bom tiếp tục được quan
tâm đầu tư, mạng lưới trường lớp được bố trí tương đối đồng bộ, cơ bản đáp ứng
nhu cầu học tập của Nhân dân và phù hợp với quy mô dân số, tốc độ đô thị hóa
của địa phương.
Hiện nay, trên địa bàn xã có 27 trường học, gồm 20 trường công lập và 07
trường ngoài công lập. Trong đó, khối công lập gồm: 06 trường mầm non, 06
trường tiểu học, 04 trường trung học cơ sở, 01 trường tiểu học – trung học cơ sở
và 03 trường trung học phổ thông; khối ngoài công lập gồm: 05 trường mầm
non, 01 trường tiểu học – trung học cơ sở và 01 trường liên cấp tiểu học – trung
học cơ sở – trung học phổ thông. Mạng lưới trường học được phân bố trên địa
bàn cơ bản đáp ứng yêu cầu dạy và học, tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh đến
trường.
Tổng quy mô học sinh các cấp học trên địa bàn là 26.470 học sinh. Trong
đó: bậc mầm non có 2.598 học sinh/87 lớp (công lập 1.567 học sinh/55 lớp,
ngoài công lập 1.031 học sinh/32 lớp); bậc tiểu học có 10.021 học sinh/250 lớp
(công lập 9.105 học sinh/219 lớp, ngoài công lập 916 học sinh/31 lớp); bậc trung
học cơ sở có 8.465 học sinh/186 lớp (công lập 6.982 học sinh/148 lớp, ngoài
công lập 1.483 học sinh/38 lớp); bậc trung học phổ thông có 5.386 học sinh,
trong đó công lập 4.307 học sinh/99 lớp, ngoài công lập 1.079 học sinh/28 lớp.
Quy mô học sinh tương đối lớn, phản ánh rõ đặc điểm dân cư tập trung và nhu
cầu học tập cao của địa phương trong quá trình phát triển theo hướng đô thị.
18
Cơ sở vật chất trường lớp tiếp tục được đầu tư, từng bước chuẩn hóa. Hiện
toàn xã có 11/17 trường đạt chuẩn quốc gia, đạt tỷ lệ 64,7%, trong đó có 02
trường đạt chuẩn quốc gia mức độ 2. Đây là cơ sở quan trọng góp phần nâng
cao chất lượng dạy và học, từng bước đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục trong
điều kiện đô thị hóa và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại địa phương.
Công tác huy động học sinh ra lớp được duy trì ổn định. Tỷ lệ huy động
học sinh vào lớp 1 và lớp 6 đạt 100%; tỷ lệ học sinh hoàn thành chương trình
trung học cơ sở tiếp tục theo học trung học phổ thông đạt khoảng 65%. Điều này
cho thấy công tác phổ cập giáo dục và duy trì sĩ số học sinh trên địa bàn được
thực hiện tốt, đáp ứng yêu cầu nâng cao dân trí và phát triển nguồn nhân lực cho
địa phương.
Việc tổ chức dạy học 2 buổi/ngày từng bước được triển khai phù hợp với
điều kiện thực tế. Hiện nay, 100% trường mầm non tổ chức dạy học 2 buổi/ngày;
ở cấp tiểu học có 02 trường và 01 trường tiểu học – trung học cơ sở tổ chức dạy
học 2 buổi/ngày với 100% số lớp; ở cấp trung học phổ thông có 01 trường tổ
chức dạy học 2 buổi/ngày đối với 100% số lớp, đồng thời có 02 trường tổ chức
dạy học 2 buổi/ngày đối với một số lớp cuối cấp. Việc mở rộng mô hình học 2
buổi/ngày góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đáp ứng nhu cầu
học tập ngày càng cao của học sinh và phụ huynh trên địa bàn.
Nhìn chung, hệ thống giáo dục và đào tạo trên địa bàn xã Trảng Bom được
đầu tư tương đối đồng bộ, quy mô trường lớp và học sinh lớn, tỷ lệ huy động
học sinh ra lớp đạt cao, chất lượng cơ sở vật chất từng bước được nâng lên, cơ
bản đáp ứng yêu cầu học tập của Nhân dân
5.2. Y tế
Công tác y tế, chăm sóc sức khỏe Nhân dân trên địa bàn xã Trảng Bom tiếp
tục được quan tâm. Hiện nay, trên địa bàn xã có 01 Trung tâm Y tế khu vực
Trảng Bom, 01 Trạm Y tế xã và 03 điểm Trạm Y tế. Trong đó, Trung tâm Y tế
khu vực Trảng Bom có quy mô 250 giường bệnh, gồm 04 phòng và 11 khoa,
với 222 nhân viên y tế, đồng thời có 01 cơ sở điều trị Methadone số 5. Trạm Y
tế xã hiện có 37 nhân viên y tế, gồm 04 bác sĩ, 01 kỹ sư, 05 y sĩ, 10 điều dưỡng,
06 dược sĩ, 04 nữ hộ sinh, 05 nhân viên dân số và 02 nhân viên khác.
Mạng lưới y tế cơ sở cơ bản đáp ứng yêu cầu khám, chữa bệnh ban đầu,
chăm sóc sức khỏe sinh sản, phòng, chống dịch bệnh và thực hiện các chương
trình y tế cộng đồng. Nhìn chung, hệ thống y tế trên địa bàn được bố trí tương
đối đồng bộ, đáp ứng cơ bản nhu cầu chăm sóc sức khỏe của Nhân dân, phù hợp
với quy mô dân số
5.3. Văn hóa thông tin, thể dục thể thao
19
Công tác văn hóa, thông tin, thể dục thể thao trên địa bàn xã Trảng Bom
luôn được quan tâm chỉ đạo và ưu tiên phát triển, góp phần nâng cao đời sống
tinh thần của Nhân dân, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, đáp ứng yêu
cầu phát triển kinh tế - xã hội và quá trình đô thị hóa của địa phương.
Hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao trên địa bàn tiếp tục được đầu tư, củng
cố và phát huy hiệu quả. Hiện nay, toàn xã có 22/22 nhà văn hóa ấp, khu phố,
đạt tỷ lệ 100%, bảo đảm phục vụ nhu cầu sinh hoạt cộng đồng, tổ chức hội họp,
tuyên truyền, phổ biến chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước
và các hoạt động văn hóa, văn nghệ ở cơ sở. Bên cạnh đó, xã có 01 Trung tâm
Văn hóa, Thể thao đạt chuẩn theo quy định, là nơi tổ chức các hoạt động chính
trị, văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao và sinh hoạt cộng đồng của địa phương.
Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa tiếp tục được duy
trì và phát triển; các hoạt động văn hóa, văn nghệ quần chúng được tổ chức
thường xuyên, nhất là vào các dịp lễ, tết, kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất nước
và địa phương. Hằng năm, địa phương thường xuyên tổ chức các chương trình
giao lưu văn hóa, văn nghệ, hội thi, hội diễn và các hoạt động tuyên truyền cổ
động trực quan, góp phần nâng cao nhận thức, tạo không khí phấn khởi trong
Nhân dân, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa địa phương.
Phong trào thể dục, thể thao quần chúng ngày càng phát triển rộng khắp,
thu hút đông đảo người dân tham gia. Tỷ lệ người dân tham gia hoạt động văn
hóa, văn nghệ, thể dục thể thao thường xuyên đạt trên 50%. Các giải thi đấu thể
thao quần chúng, các hoạt động giao lưu thể thao được tổ chức thường xuyên
với nhiều nội dung phong phú, phù hợp với từng đối tượng, qua đó góp phần rèn
luyện sức khỏe, tăng cường đoàn kết cộng đồng và nâng cao chất lượng đời sống
tinh thần của Nhân dân.
Công tác thông tin, tuyên truyền được triển khai thường xuyên, kịp thời
phục vụ nhiệm vụ chính trị của địa phương; nội dung tuyên truyền tập trung vào
các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, các
phong trào thi đua yêu nước, xây dựng nông thôn mới nâng cao, đô thị văn minh,
bảo vệ môi trường, an ninh trật tự và các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội
trên địa bàn.
5.4. Lao động - Thương binh và Xã hội
Công tác lao động, thương binh và xã hội, nhất là việc thực hiện chính sách
đối với người có công với cách mạng trên địa bàn xã Trảng Bom luôn được quan
tâm chỉ đạo, triển khai đầy đủ, kịp thời, đúng quy định, góp phần bảo đảm an
sinh xã hội và giữ vững ổn định chính trị - xã hội tại địa phương.
Hiện nay, trên địa bàn xã có 336 người có công và thân nhân người có công
20
với cách mạng đang hưởng trợ cấp hằng tháng, với tổng kinh phí chi trả khoảng
1,08 tỷ đồng/tháng. Ngoài ra, có 177 đối tượng đang hưởng trợ cấp thờ cúng liệt
sĩ hằng năm; khoảng 1.000 đối tượng là người hoạt động kháng chiến giải phóng
dân tộc, làm nghĩa vụ quốc tế và người có công giúp đỡ cách mạng đã được
công nhận và hưởng chế độ trợ cấp một lần theo quy định.
Địa phương hiện có 01 Nghĩa trang Liệt sĩ và 01 Nhà bia ghi tên liệt sĩ, là
nơi thực hiện công tác quản lý, chăm sóc, tổ chức các hoạt động tri ân, tưởng
niệm, giáo dục truyền thống cách mạng cho cán bộ, đảng viên và Nhân dân trên
địa bàn.
Trong thời gian qua, dưới sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng ủy,
HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ Việt Nam xã, công tác “Đền ơn đáp nghĩa” và
chăm lo gia đình chính sách được triển khai thường xuyên, hiệu quả. Các chế
độ, chính sách đối với người có công được thực hiện đầy đủ, đúng đối tượng,
đúng quy định; đồng thời địa phương tích cực huy động các nguồn lực xã hội,
phát huy vai trò của cộng đồng, tổ chức, cá nhân trong việc chăm lo đời sống
vật chất, tinh thần cho các gia đình chính sách, người có công với cách mạng.
5.5. Công tác tôn giáo - tín ngưỡng, dân tộc
Công tác tôn giáo, tín ngưỡng và dân tộc trên địa bàn xã Trảng Bom luôn
được cấp ủy, chính quyền địa phương quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện; các
chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác dân tộc,
tôn giáo được triển khai kịp thời, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân
tộc, giữ vững ổn định chính trị - xã hội trên địa bàn.
Về công tác dân tộc, trên địa bàn xã hiện có 916 hộ với 5.707 khẩu là đồng
bào dân tộc thiểu số, chiếm khoảng 6,1% dân số toàn xã; chủ yếu là các dân tộc
Hoa, Nùng, Tày, Mường..., tập trung chủ yếu tại ấp 2, ấp 6, ấp 7, ấp 8 và ấp 11,
các hộ còn lại sinh sống đan xen với hộ dân tộc Kinh trên địa bàn xã. Nguồn thu
nhập chính của đồng bào dân tộc thiểu số chủ yếu từ sản xuất nông nghiệp, lao
động làm thuê và kinh doanh buôn bán nhỏ lẻ. Đời sống vật chất, tinh thần của
đồng bào dân tộc thiểu số từng bước được cải thiện; các chính sách dân tộc, an
sinh xã hội, hỗ trợ sản xuất, giáo dục, y tế được địa phương quan tâm thực hiện.
Về tôn giáo, tín ngưỡng, trên địa bàn xã có nhiều tôn giáo đang hoạt động,
trong đó Công giáo và Phật giáo là hai tôn giáo có số lượng tín đồ lớn; ngoài ra
còn có Tin lành, Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo và Hồi giáo. Tổng số tín đồ của
02 tôn giáo lớn trên địa bàn khoảng 40.356 người, chiếm khoảng 43,52% dân số
toàn xã; trong đó Công giáo có 25.749 tín đồ, chiếm khoảng 27,73% dân số toàn
xã, và Phật giáo có 14.080 tín đồ, chiếm khoảng 15,1% dân số toàn xã.
Đối với Công giáo, trên địa bàn có 04 giáo xứ, 04 nhà thờ xứ, 25 giáo họ,
21
04 nhà nguyện và 02 dòng tu; có 05 chức sắc và khoảng 400 chức việc. Đối với
Phật giáo, trên địa bàn có 08 cơ sở Phật giáo, 08 chức sắc; ngoài ra có 01 cơ sở
trực thuộc Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo tỉnh với 01 chức sắc. Bên cạnh đó, Tin
lành có 263 tín đồ, có 01 nhà thờ, 01 điểm nhóm sinh hoạt, 01 chức sắc và 05
chức việc; Cao Đài có 236 tín đồ; Phật giáo Hòa Hảo có 145 tín đồ; Hồi giáo có
01 tín đồ là người dân tộc thiểu số.
Các hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng trên địa bàn cơ bản diễn ra ổn định,
đúng quy định của pháp luật; các cơ sở tôn giáo chấp hành tốt chủ trương của
Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tích cực tham gia các phong trào thi
đua yêu nước, hoạt động nhân đạo, từ thiện và xây dựng khối đại đoàn kết toàn
dân.
6. Hiện trạng phát triển hạ tầng xã hội
6.1. Nhà ở
Trong những năm qua, hệ thống nhà ở trên địa bàn xã Trảng Bom phát triển
tương đối đồng bộ, cơ bản đáp ứng nhu cầu sinh sống, cư trú của Nhân dân.
Cùng với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, gia tăng dân số cơ học, mở rộng
không gian dân cư và đầu tư kết cấu hạ tầng kỹ thuật, chất lượng nhà ở của người
dân từng bước được nâng lên, từng bước hình thành các khu dân cư tập trung,
tạo diện mạo ngày càng khang trang, văn minh, phù hợp với xu hướng phát triển
đô thị.
Theo hiện trạng sử dụng đất, diện tích đất ở trên địa bàn xã hiện có 643,95
ha, chiếm khoảng 32,90% diện tích đất phi nông nghiệp. Quỹ đất ở hiện nay chủ
yếu là đất ở tại nông thôn, phân bố tập trung tại khu vực trung tâm xã, các khu
dân cư hiện hữu, dọc các tuyến giao thông chính và các trục liên xã, liên ấp.
Cùng với sự phát triển của hệ thống giao thông, điện, nước, thông tin liên lạc và
các công trình hạ tầng xã hội, xu hướng phân bố dân cư ngày càng tập trung
hơn, giảm dần tình trạng cư trú phân tán, từng bước hình thành cấu trúc không
gian cư trú mang đặc điểm của khu vực đô thị.
Hiện nay, tỷ lệ nhà ở kiên cố trên địa bàn xã đạt 100% với tổng diện tích
sàn khoảng 2,384 triệu m
2
, không còn nhà tạm, nhà dột nát. Đây là một chỉ tiêu
quan trọng phản ánh chất lượng đời sống dân cư, mức độ ổn định về chỗ ở và
điều kiện hạ tầng xã hội của địa phương, đồng thời thể hiện rõ mức độ đáp ứng
yêu cầu về phát triển nhà ở trong quá trình xây dựng đơn vị hành chính đô thị.
6.2. Công trình cơ quan hành chính
Hệ thống công trình cơ quan hành chính trên địa bàn xã Trảng Bom cơ bản
được đầu tư xây dựng, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, chỉ đạo, điều hành
22
của cấp ủy, chính quyền và phục vụ nhu cầu giao dịch hành chính của tổ chức,
cá nhân trên địa bàn. Với vị trí là địa bàn trung tâm, xã Trảng Bom không chỉ
có trụ sở làm việc của chính quyền cấp xã mà còn tập trung nhiều cơ quan khu
vực đóng trên địa bàn, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý nhà nước,
giải quyết thủ tục hành chính và cung ứng dịch vụ công cho người dân.
Đặc biệt, trên địa bàn xã hiện có nhiều cơ quan, đơn vị quan trọng đóng
chân như: Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3, Tòa án nhân dân khu vực 3, Trung
tâm Phát triển quỹ đất – Chi nhánh Trảng Bom, Ban Quản lý dự án khu vực 3,
Trung tâm y tế khu vực, Thuế cơ sở 6 và một số cơ quan, đơn vị khu vực khác.
Việc tập trung các cơ quan này trên địa bàn đã góp phần khẳng định vai trò trung
tâm hành chính - dịch vụ của địa phương, đồng thời tạo lợi thế rõ nét trong việc
hình thành và phát triển không gian đô thị trung tâm của khu vực.
Trong thời gian qua, việc đầu tư, cải tạo, chỉnh trang các công trình hành
chính từng bước được quan tâm, cơ bản bảo đảm về mặt bằng làm việc, điều
kiện tiếp công dân, giải quyết thủ tục hành chính và tổ chức các hoạt động chính
trị - xã hội tại địa phương. Hệ thống công trình hành chính hiện có không chỉ
đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước ở cấp xã mà còn thể hiện vai trò là khu vực
tập trung các cơ quan công quyền
6.3. Công trình giáo dục
Giáo dục và đào tạo là lĩnh vực được địa phương quan tâm đầu tư, với hệ
thống cơ sở giáo dục tương đối đồng bộ, phân bố phù hợp theo nhu cầu dân cư,
cơ bản đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh trên địa bàn. Trong những năm
qua, mạng lưới trường lớp từng bước được củng cố, cơ sở vật chất được cải
thiện, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học, đồng thời đáp ứng yêu cầu phát
triển nguồn nhân lực phục vụ quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa của địa
phương.
Theo hiện trạng sử dụng đất, diện tích đất xây dựng cơ sở giáo dục và đào
tạo trên địa bàn là 55,57 ha. Trên địa bàn hiện có hệ thống các trường mầm non,
tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông và một số cơ sở giáo dục nghề
nghiệp, giáo dục đại học, gồm các trường công lập và ngoài công lập đang hoạt
động, phục vụ nhu cầu học tập của con em Nhân dân trong và ngoài địa bàn như
Trường THCS Lý Tự Trọng, Trường THPT Trịnh Hoài Đức, Trường TH Quảng
Biên, Trường Mầm non Quảng Tiến, Trường THCS Võ Thị Sáu, Trường TH Lê
Văn Tám, Trường Mầm non Tân lập, Trường Mầm non Hoa Lan, Trường cao
đẳng Kinh Tế Kỹ Thuật VINATEX, Trường tiểu học Cao Bá Quát, trường đại
học Lâm Nghiệp cơ sở 2, trường mầm non Ánh Dương, trường tiểu học Trảng
Bom...
23
Việc duy trì và phát triển hệ thống giáo dục với quy mô tương đối đầy đủ
ở các cấp học là điều kiện quan trọng để bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao dân
trí, đào tạo nguồn nhân lực tại chỗ và đáp ứng yêu cầu phát triển dân cư đô thị
trong tương lai. Đây cũng là một trong những tiêu chí phản ánh mức độ hoàn
thiện của hạ tầng xã hội, phù hợp với định hướng xây dựng xã Trảng Bom trở
thành phường.
6.4. Công trình y tế
Hệ thống cơ sở y tế trên địa bàn xã cơ bản đáp ứng yêu cầu chăm sóc sức
khỏe ban đầu cho Nhân dân. Trong những năm qua, công tác y tế, chăm sóc sức
khỏe cộng đồng, phòng chống dịch bệnh, khám chữa bệnh ban đầu và thực hiện
các chương trình y tế quốc gia luôn được quan tâm triển khai, góp phần nâng
cao chất lượng cuộc sống và bảo đảm an sinh xã hội trên địa bàn.
Theo hiện trạng sử dụng đất, diện tích đất xây dựng cơ sở y tế trên địa bàn
là 4,07 ha, bao gồm trung tâm y tế, trạm y tế và các cơ sở khám, chữa bệnh khác
đang hoạt động trên địa bàn. Hiện nay, trên địa bàn xã có 01 Trung tâm Y tế khu
vực Trảng Bom, 01 Trạm Y tế xã và 03 điểm Trạm Y tế. Trong đó, Trung tâm
Y tế khu vực Trảng Bom có quy mô 250 giường bệnh, gồm 04 phòng và 11
khoa, với 222 nhân viên y tế, đồng thời có 01 cơ sở điều trị Methadone số 5.
Trạm Y tế xã hiện có 37 nhân viên y tế, gồm 04 bác sĩ, 01 kỹ sư, 05 y sĩ, 10 điều
dưỡng, 06 dược sĩ, 04 nữ hộ sinh, 05 nhân viên dân số và 02 nhân viên khác.
Bên cạnh việc đáp ứng nhu cầu hiện tại, hệ thống y tế của địa phương còn
có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm điều kiện hạ tầng xã hội khi dân số tiếp
tục tăng và quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh hơn trong thời gian tới. Do đó, đây
là một trong những lĩnh vực cần tiếp tục được đầu tư nâng cao chất lượng cơ sở
vật chất, trang thiết bị và năng lực phục vụ để phù hợp với yêu cầu quản lý và
phục vụ dân cư đô thị khi thành lập phường.
6.5. Công trình văn hóa, thể dục - thể thao
Hạ tầng văn hóa, thể dục - thể thao trên địa bàn xã Trảng Bom được quan
tâm đầu tư, từng bước đáp ứng nhu cầu sinh hoạt cộng đồng, vui chơi, giải trí,
rèn luyện thể chất và nâng cao đời sống tinh thần của Nhân dân. Các công trình,
cơ sở văn hóa - thể thao không chỉ phục vụ nhu cầu sinh hoạt thường xuyên của
người dân mà còn là nơi tổ chức các hoạt động chính trị, văn hóa, văn nghệ, thể
thao quần chúng, tuyên truyền chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của
Nhà nước.
Hiện nay, trên địa bàn xã có 01 Trung tâm Văn hóa - Thể thao làm thiết
chế văn hóa, thể thao cơ bản của địa phương, phục vụ tổ chức các hoạt động hội
họp, sinh hoạt cộng đồng, văn hóa, văn nghệ, thể dục - thể thao và các phong
24
trào quần chúng. Bên cạnh đó, trên địa bàn còn có các cơ sở thể thao phục vụ
môn bóng đá, bóng bàn, cầu lông, tennis và pickleball v.v... đáp ứng nhu cầu
luyện tập, giao lưu, thi đấu thể thao của Nhân dân, nhất là thanh thiếu niên và
người lao động.
Theo hiện trạng sử dụng đất, diện tích đất xây dựng cơ sở văn hóa là 28,63
ha; diện tích đất xây dựng cơ sở thể dục - thể thao là 140,03 ha; diện tích đất
khu vui chơi, giải trí công cộng, sinh hoạt cộng đồng là 15,19 ha. Quỹ đất này
là cơ sở quan trọng để tiếp tục đầu tư, hoàn thiện hệ thống thiết chế văn hóa -
thể thao, mở rộng không gian sinh hoạt cộng đồng, vui chơi, giải trí và nâng cao
chất lượng sống của người dân trong quá trình phát triển đô thị.
6.6. Công trình thương mại - dịch vụ - du lịch
Hoạt động thương mại - dịch vụ trên địa bàn xã phát triển tương đối ổn
định, từng bước mở rộng về quy mô và đa dạng về loại hình, góp phần đáp ứng
nhu cầu tiêu dùng, sản xuất, giao thương hàng hóa và phục vụ đời sống dân cư.
Với lợi thế về vị trí địa lý, hệ thống giao thông thuận lợi, dân cư tập trung ngày
càng đông và sự phát triển của công nghiệp - xây dựng trên địa bàn, lĩnh vực
thương mại - dịch vụ có điều kiện phát triển mạnh, đóng vai trò ngày càng quan
trọng trong cơ cấu kinh tế địa phương.
Theo hiện trạng sử dụng đất, diện tích đất thương mại, dịch vụ trên địa bàn
là 35,96 ha, là quỹ đất dành cho các công trình thương mại, dịch vụ như trạm
xăng dầu, cửa hàng kinh doanh, dịch vụ phục vụ dân sinh, dịch vụ hỗ trợ sản
xuất và các hoạt động kinh doanh khác. Bên cạnh đó, diện tích đất chợ dân sinh,
chợ đầu mối là 1,37 ha, góp phần bảo đảm nhu cầu mua bán, trao đổi hàng hóa
của Nhân dân trên địa bàn và khu vực lân cận.
Ngoài quỹ đất theo hiện trạng, trên thực tế mạng lưới thương mại - dịch vụ
còn bao gồm hệ thống cửa hàng bán lẻ, cơ sở kinh doanh tổng hợp, dịch vụ ăn
uống, vận tải, sửa chữa, bưu chính, viễn thông, tài chính, ngân hàng, logistics
nhỏ lẻ và các dịch vụ phục vụ sản xuất, tiêu dùng khác phân bố tương đối tập
trung dọc các tuyến đường chính và các khu vực đông dân cư. Sự phát triển của
lĩnh vực này không chỉ phục vụ nhu cầu thiết yếu của người dân mà còn tạo
thêm việc làm, tăng thu nhập và thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
theo hướng giảm dần tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp - dịch vụ.
Đối với lĩnh vực du lịch, hiện nay trên địa bàn xã chưa hình thành rõ nét
các khu, điểm du lịch tập trung có quy mô lớn. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển
chung của hạ tầng giao thông, thương mại - dịch vụ và quá trình đô thị hóa, địa
phương có điều kiện thuận lợi để phát triển các loại hình dịch vụ gắn với thương
25
mại, ẩm thực, nghỉ ngơi, lưu trú và các hoạt động phục vụ nhu cầu dân sinh,
từng bước tạo nền tảng cho phát triển dịch vụ chất lượng cao trong tương lai.
7. Hiện trạng phát triển hạ tầng kỹ thuật đô thị
7.1. Giao thông
Hệ thống giao thông trên địa bàn xã Trảng Bom trong những năm qua được
quan tâm đầu tư, từng bước hoàn thiện, cơ bản đáp ứng nhu cầu đi lại, vận
chuyển hàng hóa, kết nối sản xuất và phục vụ đời sống dân cư. Mạng lưới giao
thông được hình thành tương đối đồng bộ, bảo đảm kết nối giữa trung tâm xã
với các khu dân cư, các ấp, các khu vực sản xuất, cơ sở giáo dục, y tế, thương
mại - dịch vụ và các khu công nghiệp trên địa bàn. Trên địa bàn có tuyến đường
Quốc lộ 1A dài khoảng 3.5km bắt đầu từ Ấp 9 và điểm cuối tại ấp Quảng Hòa,
tuyến đường sắt Bắc Nam, đường liên xã như: Trảng Bom - An Viễn, Trảng
Bom – Bàu Hàm, đường Bình Minh - Giang Điền, hệ thống giao thông nông
thôn từ xã xuống ấp cơ bản được nhựa hóa và khép kín.
- Đường bộ: Tổng chiều dài hệ thống đường bộ trên địa bàn khoảng 121
km, bao gồm các tuyến đường trục chính, đường liên xã, liên ấp, đường khu dân
cư và các tuyến đường phục vụ sản xuất. Các tuyến đường đã được đầu tư xây
dựng, nâng cấp, mở rộng nhựa hóa hoặc bê tông hóa, góp phần nâng cao năng
lực lưu thông, bảo đảm kết nối đồng bộ giữa các khu vực dân cư và các vùng
phát triển kinh tế trên địa bàn.
- Đường thủy nội địa (nếu có): Trên địa bàn xã không có tuyến đường thủy
nội địa có vai trò vận tải chính phục vụ phát triển đô thị; hoạt động giao thông
chủ yếu được thực hiện bằng đường bộ.
7.2. Thủy lợi: Hệ thống thủy lợi trên địa bàn xã cơ bản đáp ứng yêu cầu
phục vụ sản xuất nông nghiệp, tiêu thoát nước và hỗ trợ điều tiết nước tại một
số khu vực dân cư, khu vực sản xuất. Các công trình thủy lợi hiện có chủ yếu
gồm hệ thống kênh, mương, tuyến dẫn nước, các công trình điều tiết và trạm
bơm phục vụ tưới tiêu cho diện tích đất nông nghiệp trên địa bàn.
Theo hiện trạng sử dụng đất, diện tích đất công trình thủy lợi là 8,79 ha,
bao gồm các tuyến kênh, mương, công trình dẫn nước và các hạng mục liên
quan. Hệ thống này có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm nguồn nước phục
vụ sản xuất nông nghiệp, nhất là đối với các khu vực trồng cây hằng năm, cây
lâu năm và nuôi trồng thủy sản; đồng thời hỗ trợ tiêu thoát nước cục bộ trong
mùa mưa, góp phần giảm nguy cơ ngập úng tại một số khu vực trũng thấp.
Trên địa bàn xã Trảng Bom hiện có 01 công trình thủy lợi là Đập Gia Tôn,
chiều dài khoảng 800 m, tọa lạc tại ấp 11. Công trình được đưa vào sử dụng từ
26
năm 2006, hiện đang hoạt động ổn định, phục vụ tưới tiêu và điều tiết nguồn
nước cho sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản trên địa bàn. Tổng diện tích
phục vụ tưới tiêu khoảng 102,24 ha, trong đó chủ yếu phục vụ diện tích lúa, rau
màu, cây ăn trái, cây công nghiệp dài ngày và nuôi trồng thủy sản. Công tác
quản lý, bảo vệ công trình được địa phương quan tâm thực hiện thường xuyên,
góp phần bảo đảm an toàn công trình, phục vụ hiệu quả sản xuất và đời sống
Nhân dân.
7.3. Cấp điện: Hệ thống điện trên địa bàn xã Trảng Bom cơ bản được đầu
tư phủ kín, bảo đảm cung cấp điện phục vụ sinh hoạt, sản xuất, kinh doanh và
các hoạt động của cơ quan, đơn vị, trường học, cơ sở y tế trên địa bàn. Mạng
lưới điện được đấu nối từ hệ thống điện quốc gia, từng bước được đầu tư nâng
cấp, cải tạo, bảo đảm an toàn, ổn định và đáp ứng nhu cầu sử dụng điện ngày
càng tăng của Nhân dân.
Hiện nay, 100% hộ dân trên địa bàn được sử dụng điện từ lưới điện quốc
gia. Đây là tỷ lệ rất quan trọng, phản ánh mức độ hoàn thiện của hạ tầng kỹ thuật
thiết yếu và là điều kiện thuận lợi để nâng cao chất lượng đời sống dân cư, phục
vụ phát triển sản xuất, thương mại - dịch vụ, công nghiệp - xây dựng và các hoạt
động sinh hoạt cộng đồng.
Bên cạnh việc phục vụ nhu cầu dân sinh, hệ thống điện còn bảo đảm cung
cấp điện cho các khu vực sản xuất công nghiệp, thương mại - dịch vụ, trường
học, cơ sở y tế, trụ sở cơ quan và các công trình hạ tầng kỹ thuật khác. Việc bảo
đảm 100% hộ dân được cấp điện từ lưới điện quốc gia là một trong những chỉ
tiêu quan trọng thể hiện mức độ đáp ứng yêu cầu phát triển đô thị và phục vụ
dân cư tập trung.
7.4. Cấp nước: Hệ thống cấp nước trên địa bàn xã từng bước được đầu tư,
góp phần đáp ứng nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt của người dân. Bên cạnh hệ
thống cấp nước tập trung, hiện nay người dân trên địa bàn vẫn còn sử dụng kết
hợp nhiều nguồn nước khác nhau như nước giếng khoan, giếng đào, bồn chứa
hoặc các hình thức cấp nước phân tán khác để phục vụ nhu cầu sinh hoạt hằng
ngày.
Theo số liệu hiện trạng, 29% dân số trên địa bàn được cung cấp nước sạch
thông qua hệ thống cấp nước tập trung. Đây là tỷ lệ thể hiện hệ thống cấp nước
tập trung đã được hình thành nhưng chưa phủ kín toàn bộ địa bàn, nhất là tại
một số khu vực dân cư phân tán hoặc các khu vực xa mạng lưới cấp nước chính.
Việc tiếp tục đầu tư mở rộng mạng lưới cấp nước sạch tập trung là yêu cầu cần
thiết nhằm nâng cao chất lượng sống của người dân, bảo đảm tiêu chuẩn hạ tầng
kỹ thuật và đáp ứng yêu cầu phát triển đô thị trong thời gian tới.
27
Mặc dù tỷ lệ dân số sử dụng nước sạch từ hệ thống tập trung chưa cao, song
đây cũng là cơ sở để địa phương xây dựng lộ trình đầu tư, mở rộng mạng lưới
cấp nước, từng bước nâng tỷ lệ dân cư được sử dụng nước sạch, bảo đảm phù
hợp với tốc độ gia tăng dân số, nhu cầu phát triển dân cư tập trung
7.5. Thoát nước thải và vệ sinh môi trường
- Thoát nước mưa, nước thải sinh hoạt: Hệ thống thoát nước mưa và thoát
nước thải sinh hoạt trên địa bàn xã đang từng bước được đầu tư, chủ yếu gắn với
các tuyến giao thông chính, khu dân cư tập trung, khu vực trung tâm và các công
trình công cộng. Hiện nay, việc thoát nước mưa được thực hiện thông qua hệ
thống rãnh, mương thoát nước, cống dọc đường, các tuyến tiêu thoát nước tự
nhiên và hệ thống thủy lợi hiện có.
Đối với nước thải sinh hoạt, phần lớn hiện nay được thu gom, xử lý theo
hình thức phân tán tại hộ gia đình thông qua bể tự hoại, hố ga hoặc các công
trình xử lý sơ bộ trước khi thoát ra hệ thống tiêu thoát chung. Hệ thống thoát
nước sinh hoạt tập trung chưa được đầu tư đồng bộ trên toàn địa bàn; tuy nhiên,
tại các khu vực dân cư tập trung và dọc các trục giao thông chính, điều kiện tiêu
thoát nước cơ bản đáp ứng yêu cầu sinh hoạt và hạn chế tình trạng ứ đọng cục
bộ.
Trong thời gian tới, cùng với quá trình đô thị hóa và nhu cầu nâng cao chất
lượng môi trường sống, địa phương cần tiếp tục quan tâm đầu tư đồng bộ hệ
thống thoát nước mưa, thoát nước thải sinh hoạt theo hướng tách riêng, bảo đảm
khả năng thu gom, tiêu thoát và xử lý phù hợp với tiêu chuẩn hạ tầng kỹ thuật
đô thị.
- Thoát nước thải công nghiệp: Hoạt động thoát nước thải công nghiệp trên
địa bàn được quản lý tương đối chặt chẽ, nhất là tại các khu công nghiệp, cơ sở
sản xuất, kinh doanh và các cụm công nghiệp có phát sinh nước thải. Theo số
liệu hiện trạng, tỷ lệ xử lý nước thải công nghiệp đạt 100%.
Đây là chỉ tiêu quan trọng, thể hiện việc các cơ sở sản xuất công nghiệp
trên địa bàn đã thực hiện việc thu gom, xử lý nước thải theo quy định, góp phần
hạn chế ô nhiễm môi trường, bảo đảm yêu cầu phát triển công nghiệp gắn với
bảo vệ môi trường.
- Xử lý chất thải rắn: Công tác thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn
sinh hoạt trên địa bàn được thực hiện thường xuyên; tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt
được thu gom, vận chuyển và xử lý đạt khoảng 95%, góp phần bảo đảm vệ sinh
môi trường và mỹ quan đô thị.
8. Quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội
28
8.1. Quốc phòng
Công tác quốc phòng, quân sự địa phương trên địa bàn xã Trảng Bom được
duy trì thường xuyên, nền nếp, bảo đảm yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.
Lực lượng quân sự xã thực hiện nghiêm chế độ trực chỉ huy, trực ban, trực sẵn
sàng chiến đấu theo quy định; công tác quản lý quân số, vũ khí, trang bị kỹ thuật
được thực hiện chặt chẽ, đúng quy định, đáp ứng yêu cầu sẵn sàng chiến đấu và
xử lý kịp thời các tình huống phát sinh trên địa bàn.
Địa phương thường xuyên phối hợp với lực lượng Công an và các ngành
chức năng trong công tác nắm tình hình, nhất là các vấn đề liên quan đến an ninh
chính trị, trật tự an toàn xã hội, khiếu kiện đất đai, tôn giáo, dân tộc, qua đó kịp
thời tham mưu xử lý, không để phát sinh điểm nóng, vụ việc phức tạp kéo dài.
Công tác tuần tra, kiểm soát địa bàn được duy trì thường xuyên, đặc biệt phối
hợp tổ chức tuần tra sau 21 giờ hằng đêm, góp phần giữ vững ổn định địa bàn,
bảo đảm an ninh trật tự và an toàn xã hội.
Công tác xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân
dân tiếp tục được quan tâm thực hiện; địa phương chủ động nắm chắc tình hình,
dự báo, phòng ngừa và xử lý kịp thời các tình huống có thể ảnh hưởng đến quốc
phòng, an ninh trên địa bàn. Đồng thời, bảo đảm tốt công tác sẵn sàng chiến đấu,
bảo vệ an toàn các sự kiện chính trị, các ngày lễ lớn của đất nước và địa phương,
góp phần củng cố khu vực phòng thủ ngày càng vững chắc.
8.2. An ninh và trật tự an toàn xã hội
Tình hình an ninh và trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn xã Trảng Bom cơ
bản ổn định, được giữ vững; các vấn đề liên quan đến tôn giáo, dân tộc, nông
thôn, kinh tế được theo dõi, nắm chắc và xử lý kịp thời, không để phát sinh vụ
việc phức tạp.
Trên địa bàn xã có nhiều tôn giáo đang hoạt động, trong đó Công giáo và
Phật giáo là hai tôn giáo có số lượng tín đồ lớn; ngoài ra còn có Tin lành, Cao
Đài, Phật giáo Hòa Hảo và Hồi giáo. Tổng số tín đồ của 02 tôn giáo lớn trên địa
bàn khoảng 40.356 người, chiếm khoảng 43,52% dân số toàn xã; trong đó Công
giáo có 25.749 tín đồ, chiếm khoảng 27,73% dân số toàn xã, và Phật giáo có
14.080 tín đồ, chiếm khoảng 15,1% dân số toàn xã.
Trên địa bàn xã có nhiều thành phần dân tộc thiểu số cùng sinh sống; tình
hình liên quan đến đồng bào dân tộc thiểu số cơ bản ổn định, đời sống vật chất
và tinh thần từng bước được nâng lên, khối đại đoàn kết toàn dân tộc tiếp tục
được củng cố.
29
Tình hình an ninh, trật tự khu vực nông thôn trên địa bàn cơ bản ổn định;
các vụ việc phát sinh được địa phương quan tâm chỉ đạo giải quyết kịp thời,
không để hình thành điểm nóng.
Trên địa bàn xã hiện có 02 khu công nghiệp tập trung là Giang Điền và Bàu
Xéo, thu hút khoảng 16.000 công nhân lao động; số doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài chiếm khoảng 19,4%. Hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh
nghiệp và người dân cơ bản ổn định, góp phần bảo đảm an ninh, trật tự trên địa
bàn.
Công tác bảo đảm trật tự, an toàn xã hội được triển khai thường xuyên; lực
lượng chức năng chủ động tham mưu cấp ủy, chính quyền địa phương thực hiện
các biện pháp quản lý địa bàn, quản lý đối tượng, tăng cường tuần tra, kiểm soát,
phòng ngừa và xử lý vi phạm. Phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc tiếp
tục được duy trì và phát huy hiệu quả, góp phần giữ vững ổn định địa bàn.
9. Tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ công chức
9.1. Đảng ủy
Về tổ chức bộ máy khối Đảng xã có Thường trực Đảng ủy (gồm Bí thư và
các Phó Bí thư); các cơ quan tham mưu, giúp việc Đảng ủy (Ban Xây dựng
Đảng, Văn phòng Đảng ủy và cơ quan Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy); Trung tâm
Chính trị Trảng Bom.
9.2. Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân
Về bộ máy HĐND xã có Thường trực HĐND xã và 02 Ban HĐND xã (Ban
Kinh tế - Ngân sách và Ban Văn hóa - Xã hội).Về bộ máy UBND xã có 03 phòng
chuyên môn: Văn phòng HĐND-UBND xã, Phòng Kinh tế, Phòng Văn hóa-Xã
hội và Trung tâm phục vụ Hành chính công; 20 đơn vị sự nghiệp trực thuộc
UBND xã (Trung tâm Dịch vụ Công ích và Trung tâm Văn hóa -Thể thao xã,
Trạm Y tế xã và 17 đơn vị trường học).
9.3. Mặt trận Tổ quốc và các Đoàn thể
- Về bộ máy Ủy ban MTTQ xã có Ban Thường trực (gồm Chủ tịch và các
Phó Chủ tịch đồng thời là Trưởng các tổ chức chính trị - xã hội cấp xã gồm:
Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Nông dân,
Hội Cựu chiến binh). Mỗi tổ chức có Phó Chủ tịch và đội ngũ cán bộ chuyên
trách
- Cơ quan Ủy ban MTTQ xã là bộ phận nòng cốt, chịu trách nhiệm tổ chức,
điều hành các hoạt động của Mặt trận; phối hợp với chính quyền và các tổ chức
thành viên trong việc triển khai nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng
30
khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện giám sát và phản biện xã hội, tham gia
xây dựng Đảng và chính quyền.
9.4. Cán bộ, công chức cấp xã
- Tổng số cán bộ, công chức, viên chức khối Đảng, đoàn thể hiện đang bố
trí 36 người. Về trình độ chuyên môn: Thạc sỹ: 07 người (tỷ lệ 19,44%); Đại
học: 29 người (tỷ lệ 80,56%). Về lý luận chính trị: Cử nhân, cao cấp: 11 người
(tỷ lệ 30,56%); Trung cấp: 25 người (tỷ lệ 69,44%).
- Tổng số cán bộ công chức của UBND xã hiện đang bố trí 75 người, trong
đó: Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân xã bố trí 25 người; Phòng
Văn hóa - Xã hội: 16 người; Phòng Kinh tế: 26 người; Trung tâm phục vụ hành
chính công: 08 người. Về trình độ chuyên môn: Thạc sỹ: 17 người (tỷ lệ
22,67%); Đại học: 58 người (tỷ lệ 77,33%). Về lý luận chính trị: Cử nhân, cao
cấp: 14 người (tỷ lệ 18,67%); Trung cấp: 42 người (tỷ lệ 56%), Sơ cấp và chưa
qua đào tạo: 19 người (tỷ lệ 25,33%).
II. Đối với xã Long Thành
1. Vị trí địa lý, địa giới hành chính và vai trò chức năng
1.1. Vị trí địa lý, địa giới hành chính
Xã Long Thành được sáp nhập từ 04 đơn vị gồm: xã Bình Sơn, Lộc An,
Long An, và thị trấn Long Thành có diện tích đạt 130,12 km², dân số có 95.992
người, phía Bắc giáp xã Bình An, phía Nam giáp xã Phước Thái, phía Đông giáp
xã Long Phước, phía Tây giáp xã An Phước. Long Thành sở hữu vị trí địa lý đặc
biệt quan trọng, nằm ở trung tâm của Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, cách
trung tâm thành phố Hồ Chí Minh khoảng 40km về phía đông và liền kề với các
khu vực công nghiệp năng động như Nhơn Trạch (Đồng Nai) và khu vực công
nghiệp cảng biển Bà Rịa – Vũng Tàu (cũ). Vị trí này không chỉ thuận lợi về giao
thông mà còn đặt Long Thành vào một “chuỗi đô thị Đông Nam” quan trọng.
1.2. Vai trò chức năng
Vai trò, vị trí của đô thị Long Thành được xác định là đô thị gắn kết với
Cảng hàng không quốc tế Long Thành, trở thành khu vực cửa ngõ của quốc gia
đối với quốc tế. Là trung tâm dịch vụ hậu cần hỗ trợ Cảng hàng không quốc tế
Long Thành; trung tâm logistics, kho vận, công nghiệp đa ngành, công nghiệp
công nghệ cao của vùng Đông Nam Bộ; Là trung tâm liên kết, đầu mối giao
thông, vận tải đa phương thức đối với quốc gia, cực phát triển trọng điểm phía
Nam, vùng Đông Nam Bộ và tỉnh Đồng Nai; Là khu vực quan trọng về an ninh
quốc phòng của vùng Đông Nam Bộ và cả nước.
31
2. Diện tích tự nhiên và cơ cấu các loại đất
2.1. Diện tích tự nhiên: 130,12 km²
2.2. Cơ cấu các loại đất
Tổng diện tích tự nhiên của xã Long Thành là 13.011,53 ha. Trong đó, diện
tích đất nông nghiệp là 5.553,04 ha, chiếm 42,68 %; diện tích đất phi nông
nghiệp 7.419,63 ha, chiếm 57,02 % và diện tích đất chưa sử dụng là 38,86 ha,
chiếm 0,30%.
Bảng 01: Thống kê diện tích theo mục đích sử dụng
Đơn vị tính: ha
STT
Mục đích sử dụng
MÃ
Diện tích
(ha)
Tỷ lệ
(%)
Tổng diện tích tự nhiên
TTN
13.011,53
100
I
Nhóm đất nông nghiệp
NNP
5.553,04
42,68
1
Đất trồng cây hằng năm
CHN
938,80
16,91
2
Đất trồng cây lâu năm
CLN
4.470,92
80,51
3
Đất lâm nghiệp
LNP
86,41
1,56
4
Đất nuôi trồng thủy sản
NTS
47,25
0,85
5
Đất chăn nuôi tập trung
CNT
-
-
6
Đất làm muối
LMU
-
-
7
Đất nông nghiệp khác
NKH
9,66
0,17
II
Nhóm đất phi nông nghiệp
PNN
7.419,63
57,02
1
Đất ở
OTC
660,65
8,90
2
Đất xây dựng trụ sở cơ quan
TSC
12,59
0,17
3
Đất quốc phòng, an ninh
CQA
9,92
0,13
4
Đất xây dựng công trình sự nghiệp
DSN
75,19
1,01
5
Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp
CSK
680,52
9,17
32
STT
Mục đích sử dụng
MÃ
Diện tích
(ha)
Tỷ lệ
(%)
6
Đất sử dụng vào mục đích công cộng
CCC
5.790,71
78,05
7
Đất tôn giáo
TON
26,32
0,35
8
Đất tín ngưỡng
TIN
8,04
0,11
9
Đất nghĩa trang, nhà tang lễ, cơ sở hỏa táng;
đất cơ sở lưu trữ tro cốt
NTD
32,48
0,44
10
Đất có mặt nước chuyên dùng
TVC
123,20
1,66
11
Đất phi nông nghiệp khác
PNK
-
-
III
Nhóm đất chưa sử dụng
CSD
38,86
0,30
1
Đất do Nhà nước thu hồi theo quy định của
pháp luật đất đai chưa giao, chưa cho thuê
CGT
38,86
100,00
2
Đất bằng chưa sử dụng
BCS
-
-
3
Đất đồi núi chưa sử dụng
DCS
-
-
4
Núi đá không có rừng cây
NCS
-
-
5
Đất có mặt nước chưa sử dụng
MCS
-
-
- Nhóm đất nông nghiệp: Diện tích đất nông nghiệp 5.553,04 ha, chiếm
42,68 % tổng diện tích tự nhiên. Cơ cấu như sau:
+ Đất trồng cây hằng năm: Diện tích 938,80 ha, chiếm 16,91 % diện tích
đất nông nghiệp
+ Đất trồng cây lâu năm: Diện tích 4.470,92 ha, chiếm 80,51 % diện tích
đất nông nghiệp.
+ Đất lâm nghiệp: Diện tích 86,41 ha, chiếm 1,56 % diện tích đất nông
nghiệp.
+ Đất nuôi trồng thủy sản: Diện tích 47,25 ha, chiếm 0,85 % diện tích đất
nông nghiệp, chủ yếu là diện tích nuôi cá nước ngọt.
+ Đất chăn nuôi tập trung trên địa bàn xã không có loại đất này.
+ Đất làm muối: trên địa bàn xã không có loại đất này.
33
+ Đất nông nghiệp khác: Diện tích 9,66 ha, chiếm 0,17 % diện tích đất
nông nghiệp.
- Nhóm đất phi nông nghiệp
Tổng diện tích 7.419,63 ha, chiếm 57,02 % tổng diện tích tự nhiên. Trong
đó:
+ Đất ở: Diện tích 660,65 ha, chiếm 8,90 % diện tích đất phi nông nghiệp.
Toàn bộ là đất ở tại nông thôn tập trung chủ yếu ở các trục đường chính trong
xã, ngoài ra còn một số hộ sống rải rác trong nương rẫy để thuận tiện cho việc
sản xuất nông nghiệp.
+ Đất xây dựng trụ sở cơ quan: diện tích 12,59 ha, chiếm 0,17 % diện tích
đất phi nông nghiệp, là diện tích xây dựng các công trình: Trụ sở UBND và văn
phòng làm việc của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã
hội trên địa bàn xã.
+ Đất quốc phòng, an ninh: diện tích 9,92 ha, chiếm 0,13 % diện tích đất
phi nông nghiệp.
+ Đất xây dựng công trình sự nghiệp: diện tích 75,19 ha, chiếm 1,01 %
diện tích đất phi nông nghiệp, cụ thể như sau:
- Đất xây dựng cơ sở văn hóa: diện tích 7,19 ha là diện tích của Trung tâm
Văn hóa xã nhằm phục vụ nhu cầu về đời sống tinh thần của người dân.
- Đất xây dựng cơ sở xã hội: không có đất này trên địa bàn xã.
- Đất xây dựng cơ sở y tế: diện tích 6,51 ha, là diện tích trạm y tế xã, là
bệnh viện đa khoa, trung tâm y tế...
- Đất xây dựng cơ sở giáo dục và đào tạo: diện tích 53,31 ha, là diện tích
các cơ sở giáo dục có trên địa bàn thị trấn như: các cấp học mầm non, tiểu học
trung học cơ sở, tường nghề, trường cấp 3 Bình Sơn, các cấp học mầm non, tiểu
học trung học cơ sở...
- Đất xây dựng cơ sở thể dục - thể thao: diện tích 8,17 ha, là diện tích các
sân vận động trên địa bàn xã.
- Đất xây dựng cơ sở khoa học và công nghệ: diện tích 0,01 ha.
- Đất xây dựng cơ sở môi trường: không có đất này trên địa bàn xã.
- Đất xây dựng cơ sở khí tượng thủy văn: không có đất này trên địa bàn xã.
- Đất xây dựng cơ sở ngoại giao: không có đất này trên địa bàn xã.
- Đất xây dựng công trình sự nghiệp khác: không có đất này trên địa bàn
xã.
34
+ Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp: diện tích 680,52 ha, chiếm
9,17 % diện tích đất phi nông nghiệp, cụ thể:
- Đất khu công nghiệp, cụm công nghiệp: diện tích 550,39 ha, là diện tích
khu công nghiệp...
- Đất thương mại, dịch vụ: diện tích 29,39 ha, là diện tích của các trạm
xăng dầu và các công trình thương mại dịch vụ khác trên địa bàn xã...
- Đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp: diện tích 100,75 ha, là diện tích các
cơ sở sản xuất, cơ sở kinh doanh, nhà xưởng, kho bãi và lò gạch trên địa bàn xã.
+ Đất sử dụng vào mục đích công cộng: diện tích 5.790,71 ha, chiếm 78,05
% diện tích đất phi nông nghiệp, cụ thể:
- Đất công trình giao thông: diện tích 5.671,41 ha, đây là diện tích cảng
hàng không quốc tế Long Thành và toàn bộ diện tích của các tuyến đường giao
thông trên địa bàn xã.
- Đất công trình thủy lợi: diện tích 11,29 ha, bao gồm các trạm bơm, kênh,
mương rải rác trên địa bàn xã.
- Đất công trình cấp nước, thoát nước: diện tích 18,59 ha là các trạm bơm,
trạm cấp nước sinh hoạt nhỏ lẻ rải rác trên địa bàn xã như trạm cấp nước ấp suối
đục, trạm cấp nước Sông Nhạn, trạm cấp nước.
- Đất công trình phòng, chống thiên tai: không có đất này trên địa bàn xã.
- Đất có di tích lịch sử - văn hóa danh lam thắng cảnh, di sản thiên nhiên:
diện tích 6,57 ha.
- Đất công trình xử lý chất thải: diện tích 2,70 ha.
- Đất công trình năng lượng, chiếu sáng công cộng: diện tích 17,31 ha là
diện tích các công trình truyền tải điện như: Trụ điện đường điện 500kV
- Đất công trình hạ tầng bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin: diện
tích 0,89 ha, là diện tích bưu điện xã.
- Đất chợ dân sinh, chợ đầu mối: diện tích 3,68 ha là diện tích trên địa bàn
xã
- Đất khu vui chơi, giải trí công cộng, sinh hoạt cộng đồng: diện tích 58,27
ha là diện tích các công trình dành cho các hoạt động vui chơi công cộng như
công viên, cây xanh, nhà văn hóa các ấp,...
+ Đất tôn giáo: diện tích 26,32 ha, chiếm 0,35 % đất phi nông nghiệp, với
các công trình tôn giáo, trụ sở của tổ chức tôn giáo được Nhà nước cho phép
hoạt động trên địa bàn.
35
+ Đất tín ngưỡng: diện tích 8,04 ha, chiếm 0.11 % đất phi nông nghiệp, là
diện tích của các miếu trên địa bàn xã phục vụ các mục đích tín ngưỡng dân
gian, do cộng đồng dân cư quản lý và sử dụng.
+ Đất nghĩa trang, nhà tang lễ, cơ sở hỏa táng; đất cơ sở lưu trữ tro cốt:
diện tích 32,48 ha, chiếm 0,44 % đất phi nông nghiệp, là diện tích của các khu
nghĩa trang trên địa bàn xã...
+ Đất có mặt nước chuyên dùng: diện tích 123,20 ha, chiếm 1,66 % đất phi
nông nghiệp. Cụ thể:
- Đất có mặt nước chuyên dùng dạng ao, hồ, đầm, phá: diện tích 53,32 ha
- Đất có mặt nước dạng sông, ngòi, kênh, rạch, suối: diện tích 69,88 ha,
toàn bộ là đất có mặt nước dạng sông, ngòi, kênh, rạch, suối.
+ Đất phi nông nghiệp khác: trên địa bàn xã không có loại đất này.
- Đất chưa sử dụng:
Tổng diện tích: 38,86 ha, chiếm 0,30% diện tích tự nhiên. Bao gồm:
- Đất chưa sử dụng: Diện tích 38,86 ha đất do Nhà nước thu hồi theo quy
định của pháp luật đất đai chưa giao, chưa cho thuê...
- Các loại đất đồi núi chưa sử dụng (DCS), đất bằng chưa sử dụng (BCS)
và đất có mặt nước chưa sử dụng (MCS): không có.
3. Dân số, cơ cấu lao động và thành phần dân cư
3.1. Dân số 95.992 người.
3.2. Thành phần dân cư (thành thị/nông thôn): 48.202/95.992 đạt 50,21%.
4. Hiện trạng phát triển kinh tế
4.1. Chỉ tiêu phát triển kinh tế gồm: GRDP, cơ cấu ngành, thu nhập bình
quân đầu người, tỷ lệ hộ nghèo, lao động phi nông nghiệp...
- Tổng giá trị sản phẩm trên địa bàn: 37.789.626 triệu đồng.
- Giá trị sản phẩm công nghiệp – xây dựng: 27.615.169 triệu đồng, chiếm
73,07% tổng giá trị sản phẩm trên địa bàn.
- Thu nhập bình quân đầu người của xã trong 3 năm gần đây.
+ Thu nhập bình quân đầu người của xã năm 2023: 79,65 triệu đồng.
+ Thu nhập bình quân đầu người của xã năm 2024: 86,45 triệu đồng.
+ Thu nhập bình quân đầu người của xã năm 2025: 93,05 triệu đồng.
- Tỷ lệ hộ nghèo.
36
+ Tỷ lệ hộ nghèo (theo chuẩn nghèo đa chiều) của huyện (cũ) năm 2023:
0,25%.
+ Tỷ lệ hộ nghèo (theo chuẩn nghèo đa chiều) của huyện (cũ) năm 2024:
0,25%.
+ Tỷ lệ hộ nghèo (theo chuẩn nghèo đa chiều) của xã năm 2025: 0,07%.
4.2. Phát triển các ngành, lĩnh vực
- Về công nghiệp - xây dựng:
+ Trên địa bàn xã hiện có các khu công nghiệp như: Khu công nghiệp Lộc
An - Bình Sơn đang hoạt động ổn định, duy trì mức tăng trưởng, thu hút khoảng
54 doanh nghiệp đầu tư nhà máy, cơ sở sản xuất kinh doanh đang hoạt động;
Khu công nghiệp công nghệ cao Long Thành hiện đang được triển khai đầu tư
xây dựng, song song với việc thực hiện kêu gọi các doanh nghiệp đầu tư xây
dựng nhà máy, chuẩn bị hoạt động sản xuất kinh doanh.
+ Ngành xây dựng dự kiến tăng mạnh do trên địa bàn xã đang triển khai thi
công xây dựng các công trình trọng điểm như: Cảng hàng không Quốc tế Long
Thành; các tuyến đường giao thông T1, T2, Cao tốc Biên Hòa – Vũng Tàu, dự
án nâng cấp mở rộng tuyến đường cao tốc thành phố Hồ Chí Minh – Long
Thành.
- Về thương mại - dịch vụ:
+ Hoạt động thương mại - dịch vụ của các doanh nghiệp, hộ tiểu thương
tiếp tục phát triển. Hiện nay trên địa bàn xã có các doanh nghiệp tư nhân đang
hoạt động, kinh doanh các loại hình dịch vụ như: vận tải, sửa chửa cơ khí, điện
máy, xây dựng, kinh doanh vật liệu xây dựng, trang trí nội thất, dịch vụ ăn uống.
+ Trên địa bàn xã Long Thành hiện có 03 chợ đang hoạt động (01 Chợ
hạng I chợ mới Long Thành, 02 chợ hạng III chợ Long An, chợ Bình Sơn). Nhìn
chung, các chợ đã hoạt động ổn định đảm bảo sức mua của người dân trên địa
bàn, lượng hàng hóa cung ứng cho thị trường dồi dào; giá cả các mặt hàng thiết
yếu ổn định, không có tình trạng hàng hóa bị đẩy giá tăng cao bất thường. Hàng
hóa phong phú, kênh phân phối đa dạng đáp ứng nhu cầu mua sắm của người
tiêu dùng.
- Về sản xuất nông - lâm - thủy sản
+ Tình hình sản xuất nông lâm nghiệp ổn định. Tình hình dịch bệnh trên
cây trồng được kiểm soát tốt. Sản lượng lương thực đạt 4.624,34 tấn, năng suất
đạt 357,06 tấn/ha.
+ Tổng đàn gia súc, gia cầm toàn xã là 210.000 con, có 5 trang trại chăn
37
nuôi (2 trang trại gà, 3 trang trại he0).
- Tỷ lệ che phủ rừng đạt 5,74%.
5. Hiện trạng phát triển văn hóa - xã hội
5.1. Giáo dục và Đào tạo
- Về quy mô mạng lưới trường lớp: Trên địa bàn xã có 4 cấp học gồm:
Trung học phổ thông, Trung học cơ sở, Tiểu học, Mầm non. Trong đó: 01 trường
Trung học phổ thông và 01 Trung tâm Giáo dục thường xuyên – Giáo dục nghề
nghiệp trực thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo quản lý.
UBND xã quản lý 19 trường công lập (gồm: 06 trường Mầm non, 07 trường
Tiểu học, 06 trường Trung học sơ sở); 02 trường Mầm non ngoài công lập và
04 nhóm trẻ. Tổng số lớp: 369 lớp, trong đó: Mầm non 102 lớp, Tiểu học 163
lớp, Trung học sơ sở 104 lớp. Có 16/19 trường học được công nhận chuẩn quốc
gia Mức độ 1, và 03/19 trường đạt chuẩn quốc gia Mức độ 2. Nhìn chung, mạng
lưới trường lớp đã được quy hoạch và bố trí cơ bản phù hợp với điều kiện thực
tế của địa phương. Tất cả các trường học đều có đủ phòng học kiên cố.
- Quy mô học sinh: Tính đến hết học kỳ I năm học 2025-2026, tổng số học
sinh trên địa bàn là 12.502 học sinh. Trong đó: bậc Mầm non 2.826 học sinh;
bậc Tiểu học 5.308 học sinh; bậc Trung học cơ sở 4.368 học sinh. Quy mô học
sinh các cấp học có xu hướng tăng, chủ yếu tập trung ở bậc tiểu học và THCS.
- Tình hình đội ngũ cán bộ, viên chức, nhân viên ngành giáo dục: Tổng số
cán bộ quản lý, giáo viên và nhân viên hiện có 763 người, trong đó: Cán bộ quản
lý 46 người, giáo viên 580 người, nhân viên 137 người. Các trường có đội ngũ
cán bộ quản lý, giáo viên cơ bản đáp ứng yêu cầu về số lượng và trình độ đào
tạo theo quy định. Hầu hết giáo viên đạt chuẩn trình độ đào tạo, giáo viên được
tham gia đầy đủ các lớp tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn về nội dung, phương
pháp dạy học, kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển phẩm chất và năng
lực học sinh. Giáo viên cơ bản đáp ứng yêu cầu giảng dạy 02 buổi/ngày, các
trường chủ động phân công giáo viên giảng dạy phù hợp với năng lực, sở trường,
đảm bảo thực hiện đầy đủ các môn học, hoạt động giáo dục.
- Công tác Phổ cập giáo dục: Năm 2025, xã Tân Phú đạt chuẩn phổ cập
giáo dục, trong đó xoá mù chữ đạt mức 2; tiểu học mức độ 3; phổ cập THCS đạt
mức 3; THPT đạt theo quy định tại Nghị định số 20/2014/NĐ-CP ngày
24/3/2014 của Chính phủ về phổ cập giáo dục, xóa mù chữ. Huy động 100% trẻ
6 tuổi ra lớp; tuy nhiên, kinh phí chi hỗ trợ cho công tác phổ cập giáo dục, xóa
mù chữ còn hạn chế và không có biên chế thực hiện công tác Phổ cập giáo dục.
5.2. Y tế và Công tác Bảo trợ xã hội
38
- Hệ thống cơ sở y tế: Hiện nay, mạng lưới y tế trên địa bàn xã Tân Phú
bao gồm 01 Trung tâm Y tế và 01 Trạm Y tế xã, 02 phòng khám tư nhân (Việt
Hương và Vạn Thành) đảm bảo công tác chăm sóc sức khỏe toàn diện cho nhân
dân.
+ Trung tâm Y tế: Được thành lập từ năm 1991, đóng vai trò là đơn vị điều
trị trọng điểm của khu vực. Tổng số định biên là 206 cán bộ, nhân viên y tế.
Trong đó bao gồm: 02 Bác sĩ Chuyên khoa II, 09 Bác sĩ Chuyên khoa I, 31 Bác
sĩ, 18 Y sĩ, 67 Điều dưỡng, 12 Dược sĩ, 13 Kỹ thuật viên và các chức danh
chuyên môn khác. Quy mô 200 giường bệnh nội trú. Hiệu suất hoạt động đạt
bình quân 529 lượt khám ngoại trú/ngày và 130 lượt điều trị nội trú/ngày.
+ Trạm Y tế xã Tân Phú: Được hình thành trên cơ sở hợp nhất 05 Trạm Y
tế của các đơn vị hành chính cũ (Trà Cổ, Phú Lộc, Phú Thanh, Phú Xuân và Thị
trấn Tân Phú). Đây là đơn vị sự nghiệp y tế công lập trực thuộc sự quản lý nhà
nước của UBND xã Tân Phú. Với đội ngũ viên chức y tế gồm 32 người (03 Bác
sĩ, 11 Điều dưỡng, 06 Nữ hộ sinh, 09 Y sĩ, 02 Dược sĩ, 01 Kỹ sư). Hệ thống y tế
cơ sở được củng cố bởi 29 cộng tác viên y tế ấp và 66 cộng tác viên dân số. Tỷ
lệ bao phủ Bảo hiểm y tế toàn dân trên địa bàn đạt trên 95%. Duy trì hoạt động
tại 05 điểm trạm với quy mô 25 giường bệnh; tiếp nhận khám và điều trị bình
quân trên 20 lượt bệnh nhân/ngày.
- Công tác An toàn thực phẩm: Địa phương triển khai quyết liệt các biện
pháp phòng ngừa ngộ độc thực phẩm; chủ động phối hợp điều tra, truy xuất và
giám sát chặt chẽ các nguy cơ ô nhiễm thực phẩm trên địa bàn. Trong thời gian
qua, công tác kiểm tra chuyên ngành được thực hiện nghiêm túc, đúng quy định
pháp luật; không để xảy ra các vụ ngộ độc thực phẩm hay sự cố về an toàn vệ
sinh thực phẩm trên địa bàn.
- Công tác Bảo trợ xã hội: UBND xã triển khai thực hiện đầy đủ, kịp thời
các chính sách an sinh xã hội cho 3.424 đối tượng bảo trợ xã hội. Trong đó, thực
hiện chi trả chế độ hưu trí xã hội cho 1.689 người và trợ cấp khuyết tật cho 1.735
người. Công tác chi trả được hiện đại hóa thông qua hệ thống tài khoản ngân
hàng, đảm bảo tính chính xác, minh bạch và đúng thời gian quy định của Nhà
nước.
5.3. Văn hóa thông tin, thể dục thể thao
- Về phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”: Phong
trào ngày càng đi vào chiều sâu và đạt hiệu quả thực chất. Tính đến năm 2025,
tỷ lệ hộ gia đình được công nhận danh hiệu “Gia đình văn hóa” đạt 98%; 100%
ấp giữ vững danh hiệu “Ấp văn hóa”. Công tác xây dựng nếp sống văn minh
trong việc cưới, việc tang và lễ hội có chuyển biến tích cực; các hủ tục lạc hậu
39
dần được bãi bỏ, tinh thần đoàn kết cộng đồng được củng cố vững chắc thông
qua các mô hình “Gia đình văn hóa tiêu biểu”, “Ông bà mẫu mực, con cháu hiếu
thảo”.
- Về công tác quản lý và thực hiện Hương ước, Quy ước: Thực hiện Nghị
định số 61/2023/NĐ-CP của Chính phủ, 100% các ấp đã hoàn thành việc rà soát,
sửa đổi và áp dụng Hương ước, Quy ước phù hợp với thực tiễn địa phương. Các
bản Hương ước hiện nay đóng vai trò là công cụ quản lý xã hội tự quản hiệu
quả, giúp điều chỉnh hành vi cộng đồng và phát huy dân chủ cơ sở một cách
thực chất.
- Về bảo tồn văn hóa và hoạt động văn nghệ quần chúng: Công tác bảo tồn
các giá trị văn hóa phi vật thể được chú trọng, tiêu biểu là việc duy trì và tổ chức
định kỳ Lễ hội Tả Tài Phán của đồng bào dân tộc Hoa. Hệ thống các câu lạc bộ
(CLB) văn nghệ quần chúng phát triển mạnh mẽ với các loại hình đa dạng như:
Đờn ca tài tử, CLB Thơ ca và Nhạc cổ truyền, CLB Văn nghệ Người cao tuổi.
Hằng năm, địa phương tổ chức chuỗi hoạt động văn hóa chào mừng các ngày lễ
lớn và sự kiện chính trị, đặc biệt là chương trình “Mừng Đảng - Mừng Xuân”
với các hội diễn văn nghệ, liên hoan Lân - Sư - Rồng và Hội chợ hoa Xuân quy
mô lớn (255 gian hàng), tạo không gian sinh hoạt văn hóa sôi nổi cho nhân dân.
- Về phong trào Thể dục thể thao (TDTT): Phong trào TDTT quần chúng
phát triển rộng khắp với gần 34 CLB hoạt động thường xuyên ở các bộ môn:
Bóng đá, bóng chuyền, cầu lông, bóng bàn, võ thuật, cờ tướng... Địa phương
thường xuyên tổ chức các giải thi đấu quy mô mở rộng, thu hút đông đảo vận
động viên trong và ngoài tỉnh tham gia, tiêu biểu như: Giải Bida Poll 8 Ball,
Giải Cầu lông và Bóng bàn, Giải Bóng chuyền hơi nữ kỷ niệm ngày Quốc tế
Phụ nữ 08/3. Các hoạt động này không chỉ nâng cao sức khỏe cộng đồng mà
còn tạo khí thế thi đua sôi nổi trong mọi tầng lớp nhân dân.
- Công tác bảo vệ cảnh quan, môi trường: Gắn liền với tiêu chí xây dựng
nông thôn mới nâng cao và đô thị văn minh, công tác bảo vệ môi trường, xây
dựng cảnh quan “Sáng - Xanh - Sạch - Đẹp” luôn được ưu tiên hàng đầu. Môi
trường văn hóa cơ sở được cải thiện rõ rệt, góp phần quan trọng vào việc thay
đổi diện mạo địa phương theo hướng hiện đại nhưng vẫn giữ gìn được các giá
trị truyền thống.
5.4. Lao động - Thương binh và Xã hội:
- Công tác quản lý và thực hiện chính sách người có công: Tổng số đối
tượng người có công đang quản lý 612 người. Công tác chăm lo và phong trào
"Đền ơn đáp nghĩa" được thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng quy định; thường
xuyên tổ chức thăm hỏi, tặng quà nhân các dịp lễ, Tết và kỷ niệm Ngày Thương
40
binh - Liệt sĩ (27/7) đảm bảo tính trang trọng, thiết thực. Công tác hỗ trợ cải
thiện nhà ở (xây mới, sửa chữa nhà tình nghĩa), cấp đổi thẻ BHYT và thực hiện
chế độ mai táng phí được triển khai đồng bộ. Đời sống của các gia đình chính
sách trên địa bàn cơ bản ổn định, mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống trung
bình của dân cư tại địa bàn. Việc tuyên truyền, giáo dục truyền thống cách mạng
cho thế hệ trẻ gắn với phong trào "Uống nước nhớ nguồn" được thực hiện thường
xuyên, huy động tốt các nguồn lực xã hội hóa để chăm lo cho người có công.
- Công tác gia đình trẻ em: Thường xuyên quán triệt, tuyên truyền các quan
điểm, chủ trương của Đảng về xây dựng gia đình, góp phần nâng cao nhận thức
cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức về trách nhiệm trong lãnh
đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện công tác gia đình. Sự phối hợp giữa các cơ
quan, đơn vị trong triển khai các chương trình, đề án về gia đình ngày càng chặt
chẽ, hiệu quả hơn. Thông qua việc tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, công tác xây
dựng gia đình đã từng bước đi vào nền nếp, tạo chuyển biến tích cực từ nhận
thức đến hành động của cả hệ thống chính trị; vai trò của gia đình trong việc
giáo dục đạo đức, lối sống, hình thành nhân cách con người, phòng ngừa các tệ
nạn xã hội ngày càng được đề cao, góp phần củng cố nền tảng gia đình Việt
Nam trong tình hình mới.
5.5. Công tác tôn giáo - tín ngưỡng, dân tộc: Tình hình tôn giáo - tín ngưỡng
và dân tộc trên địa bàn xã Tân Phú cơ bản ổn định, có nhiều chuyển biến tích
cực, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân.
- Về Dân tộc: Trên địa bàn có 15 thành phần dân tộc thiểu số với 1.173 hộ
(6.358 nhân khẩu). Trong đó, dân tộc Hoa chiếm đa số (88% tổng số người dân
tộc thiểu số với 993 hộ/5.740 khẩu), còn lại là các dân tộc: Tày, Chăm, Nùng,
Khơme, Mường, K'ho, Ba Na, Mán, Sán Dìu, Gia Rai, Chơ Ro, Thái, Châu Mạ
và Dao. Có 01 vị đại diện người có uy tín trong đồng bào dân tộc tham gia Ủy
viên Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã và Ban chấp hành các đoàn thể xã.
Đồng bào các dân tộc sinh sống đan xen, đoàn kết, chấp hành tốt chủ trương
của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tích cực tham gia lao động sản xuất và các
phong trào tại địa phương. Đời sống vật chất, tinh thần từng bước được cải thiện,
các chính sách an sinh xã hội, giảm nghèo, y tế, giáo dục được triển khai tương
đối đầy đủ.
- Về Tôn giáo - tín ngưỡng, toàn xã có 05 tôn giáo chính gồm: Công giáo,
Phật giáo, Hòa hảo, Cao Đài và Tin Lành, có tổng cộng 15 cơ sở thờ tự. Tổng
số tín đồ tôn giáo trên địa bàn xã là 41.565 tín đồ (Phật giáo 12.355; Công giáo
27.769; Cao đài: 976; Phật giáo Hòa hảo 254, Tin lành: 211); có 44 vị chức sắc,
chức việc và tín đồ tiêu biểu tham gia Ủy viên MTTQ và Ban Chấp hành các
41
đoàn thể xã. Các hoạt động tôn giáo diễn ra thuần túy, tuân thủ quy định pháp
luật. Chức sắc và tín đồ tích cực hưởng ứng các phong rào thi đua yêu nước,
đóng góp quan trọng vào công tác từ thiện và an sinh xã hội tại địa phương.
6. Hiện trạng phát triển hạ tầng xã hội
6.1. Nhà ở: Trong thời gian gần đây, tốc độ phát triển kinh tế của xã Tân
Phú tăng nhanh, đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao. Nhu cầu nhà ở
của người dân cũng như nhu cầu đầu tư các công trình công cộng, phúc lợi xã
hội trên địa bàn xã phát triển mạnh và tập trung, từng bước hình thành nên một
diện mạo đô thị ngày càng khang trang, hiện đại. Tổng số nhà ở trên địa bàn:
16.903 căn, trong đó: Nhà kiến cố và bán kiên cố là 16.877 căn chiếm tỷ lệ
99,85%; Nhà ở thiếu kiên cố, Nhà tạm, nhà đơn sơ 26 căn chiếm tỷ lệ 0,15%.
6.2. Công trình cơ quan hành chính: Trụ sở Đảng ủy - HĐND-UBND xã đã
được xây dựng kiên cố cao từ 2-3 tầng, có đủ diện tích các phòng làm việc và
trang thiết bị hiện đại đáp ứng điều kiện xây dựng chính quyền điện tử.
6.3. Công trình giáo dục: Trên địa bàn hiện có 19 trường công lập, 02
trường Mầm non dân lập và 04 nhóm trẻ thuộc quản lý của UBND xã Tân Phú.
Các công trình giáo dục cơ sở công cơ bản đáp ứng được nhu cầu học tập của
con em trên địa bàn xã. Tuy nhiên, quỹ đất dành cho giáo dục còn hạn chế, 06/07
trường THCS chưa đảm bảo số phòng học để tổ chức dạy học 02 buổi/ngày cho
100% số lớp/ trường. Một số công trình đã xuống cấp, không còn sử dụng được
(điểm cơ sở 2-trường TH Nguyễn Thị Định) đang gây khó khăn cho công tác
dạy học của nhà trường.
6.4. Công trình y tế: Trên địa bàn xã hiện có 01 Trung tâm y tế, 01 trạm y
tế, 02 phòng khám tư nhân (Việt Hương và Vạn Thành). Cơ sở bán thuốc dược
phẩm: 51 cơ sở, trong đó có 46 quầy thuốc và 05 nhà thuốc
6.5. Công trình văn hóa, thể dục - thể thao
Hạ tầng văn hóa - thể thao được đầu tư đồng bộ, hiện đại, đáp ứng tiêu
chuẩn đô thị: Trung tâm Dịch vụ tổng hợp xã có quy mô 74.000m² (bao gồm:
Trụ sở Trung tâm Văn hóa, Thư viện, Đài truyền thanh và Nhà thi đấu đa năng
sức chứa 800 chỗ ngồi). Đặc biệt, sân vận động trung tâm có khán đài 1.050 chỗ
ngồi (khánh thành năm 2022) được trang bị đường chạy đường Pitch (đường
chạy điền kinh) hiện đại, hệ thống chiếu sáng công suất lớn và các hạng mục kỹ
thuật đạt chuẩn thi đấu. 100% ấp (29/29 ấp) có Nhà văn hóa đạt chuẩn theo quy
định tại Thông tư số 06/2011/TT-BVHTTDL của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du
lịch. Hệ thống thiết chế này được quản lý chặt chẽ, khai thác hiệu quả, là địa
điểm sinh hoạt cộng đồng, hội họp và tổ chức các hoạt động văn hóa, TDTT
thường xuyên của cư dân cơ sở.
42
6.6. Công trình thương mại - dịch vụ - du lịch: Trên địa bàn xã có 2 chợ (
Chợ Tân Phú và chợ Phú Lộc ) Chợ Tân Phú có diện tích 9.168m2 giá trị đầu tư
hơn 79 tỷ đồng, chợ Phú lộc có diện tích 2.187m2 giá trên 4 tỷ đồng có 4 cửa
hàng bách hoá xanh tổng hợp phân bổ điều trên địa bàn xã, 01 cửa hàng
WINMART tổng hợp, 02 cửa hàng tiện lợi (siêu thị mini), 01 siêu thị điện máy
xanh và nhiều cửa hàng thương mại của các doanh nghiệp, hộ kinh doanh được
hình thành và chủ yếu tập trung ở 2 bên đường quốc lộ, 20 và các đường trung
tâm xã.
7. Hiện trạng phát triển hạ tầng kỹ thuật đô thị
7.1. Giao thông
- Đường bộ: Hiện nay Xã Long Thành đã được Ủy ban nhân dân tỉnh giao
tài sản kết cấu hạ tầng giao thông cụ thể:
+ Công trình đường huyện trước đây: 22,63km
+ Công trình đường trong đô thị: 34,68km
+ Công trình giao thông nông thôn tại các xã trước đây: 44km.
- Đường thủy nội địa (nếu có): Không có.
7.2. Thủy lợi
- Trên địa bàn xã có 02 công trình đang hoạt động gồm: Hồ chứa nước
chống lũ Lộc An và đập Long An. Các công trình này do Công ty TNHH MTV
Khai thác công trình thủy lợi Đồng Nai quản lý, khai thác.
- Công tác kiểm tra các công trình trước, trong và sau mùa lũ: các công
trình vận hành hiệu quả, đảm bảo nhiệm vụ sản xuất và thoát lũ trong mùa mưa
bão. Đập Long An phục vụ tưới cho 210,23 ha; diện tích tiêu thoát nước của hồ
Lộc An là 317 ha.
7.3. Cấp điện: Hệ thống cung cấp điện đảm bảo yêu cầu kỹ thuật, an toàn
theo quy định; được cấp điện từ nguồn điện lưới quốc gia qua tuyến 22kV từ
trạm TBA 110kV Định Quán và TBA 110kV Tân Phú dẫn tới. Các tuyến trung
thế từ trạm 110/22/15kV – 25MVA đi vào trung tâm xã cấp điện cho các phụ
tải, tất cả đều là đường dây trên không, sử dụng dây nhôm lõi thép đi trên trụ bê
tông ly tâm cao 12m.
- Hệ thống đèn chiếu sáng được đảm bảo chiếu sáng trong toàn bộ các khu
công viên, vườn hoa tập trung, khu công viên thể dục thể thao, các tuyến đường
Quốc lộ 20, đường tỉnh 774B, các tuyến đường Phú Xuân – Núi Tượng, Phú
Xuân -Thanh Sơn, Phú Lộc – Phú Xuân, Phú Lộc – Phú Tân, Be 129,...các tuyến
43
đường nội thị thuộc thị trấn Tân Phú cũ và các tuyến đường trục xã, trục ấp, ngõ,
xóm,... tạo điều kiện đi lại thuận tiện cho người dân.
7.4. Cấp nước: Trên địa bàn xã hiện nay có 03 công trình cấp nước tập
trung do Phân xưởng nước Tân Phú chi nhánh Xuân Lộc với công suất Q= 2.500
m3/ngày, công trình cấp nước tập trung xã Phú Điền, Phú Lộc do Trung tâm
Dịch vụ Nông nghiệp tỉnh quản lý cung cấp nước sạch cho 2.488 hộ dân. Hộ
dân sử dụng nước sạch từ các nguồn trên địa bàn xã đạt tỷ lệ 90% (15.068
hộ/16.742 hộ).
7.5. Thoát nước thải và vệ sinh môi trường
- Thoát nước mưa, nước thải sinh hoạt: Hệ thống thoát nước mưa được làm
2 lưu vực thoát nước chính với đường phân thủy chạy qua trung tâm xã từ Bắc
xuống Nam. Cụ thể: Lưu vực 1 (Suối Tre): Lưu vực nằm phía Tây, nước mưa
trong lưu vực này sẽ thoát tuyến cống hộp hiện hữu dọc tuyến đường Nguyễn
Thị Định và đường Trương Công Định sau đó theo mương hở về Suối Tre trước
khu dẫn về Đập Đức; Lưu vực 2 (Suối Tranh): Lưu vực nằm phía Đông, nước
mưa trong lưu vực này sẽ theo cống hộp dọc đường Nguyễn Chí Thanh, sau đó
theo đường Lý Thường Kiệt phía Nam Quốc lộ 20 sau đó tuyến mương hở để
thoát về Suốt Tranh. Nước thải trong khu dân cư được xử lý sơ bộ bằng bể tự
hoại.
- Thoát nước thải công nghiệp: Nước thải phát sinh từ các doanh nghiệp
trong KCN đã được thu gom và đưa về xử lý tại hệ thống xử lý nước thải tập
trung của khu công nghiệp, đảm bảo tuân thủ quy định về bảo vệ môi trường.
Trạm xử lý nước thải trong khu công nghiệp Tân Phú đã được đầu tư và đưa vào
hoạt động, hệ thống cống thoát nước thải sau xử lý nối từ khu công nghiệp ra
Quốc lộ 20 sau đó theo đường Nguyễn Thị Định, đấu vào hệ thống thoát nước
ra Đập Suối Đức. Hiện nay, trên địa bàn xã Tân Phú 100% nước thải sinh hoạt
từ các hộ dân được xử lý sơ bộ qua hệ thống bể tự hoại đúng quy chuẩn kỹ thuật
trước khi đấu nối vào mạng lưới thoát nước chung của khu vực. Hệ thống này
thường xuyên được nạo vét, duy tu, đảm bảo năng lực thoát nước và vệ sinh môi
trường đô thị.
- Xử lý chất thải rắn: Khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trên địa
bàn khoảng 45 tấn/ngày; tỷ lệ thu gom, vận chuyển và xử lý đạt 100%. Toàn bộ
chất thải sau thu gom được vận chuyển đến khu xử lý tập trung tại xã Thống
Nhất để xử lý theo quy định. Công tác quản lý chất thải được thực hiện theo chu
trình khép kín từ phát sinh – thu gom – vận chuyển – xử lý. Hệ thống thu gom
chất thải nguy hại hộ gia đình được duy trì với 05 điểm thu gom tạm thời. Việc
44
phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn đã được triển khai thí điểm, từng bước
nhân rộng.
- Vệ sinh môi trường và kiểm soát ô nhiễm: Chất lượng môi trường trên
địa bàn cơ bản được kiểm soát, chưa phát sinh điểm nóng ô nhiễm; các thành
phần môi trường (nước, không khí, đất) chịu tác động chủ yếu từ sinh hoạt dân
cư, chăn nuôi nhỏ lẻ và hoạt động xây dựng. UBND xã đã triển khai đồng bộ
các giải pháp quản lý như: tăng cường kiểm tra, giám sát, tuyên truyền nâng cao
nhận thức cộng đồng; tổ chức các hoạt động vệ sinh môi trường định kỳ; duy trì
phong trào “Ngày Chủ nhật xanh”. Công tác kiểm soát nguồn thải được thực
hiện thường xuyên; các cơ sở sản xuất, kinh doanh cơ bản chấp hành quy định
pháp luật về bảo vệ môi trường; các phản ánh của người dân được tiếp nhận, xử
lý kịp thời, đạt tỷ lệ 100%.
8. Quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội
8.1. Quốc phòng: Lực lượng vũ trang xã được tổ chức chặt chẽ, đủ thành
phần; thường xuyên được huấn luyện, bồi dưỡng nâng cao trình độ, khả năng
sẵn sàng chiến đấu. Phát huy tốt vai trò nòng cốt trong bảo vệ địa bàn, phòng
chống thiên tai, cứu hộ cứu nạn, tham gia xây dựng nông thôn mới và phát triển
kinh tế – xã hội. Lực lượng dân quân tự vệ được tổ chức, xây dựng bảo đảm tỷ
lệ theo quy định đúng quy định. Lực lượng dự bị động viên được đăng ký, quản
lý chặt chẽ. Công tác tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ hàng năm đạt 100%
chỉ tiêu. Tổ chức huấn luyện dân quân tự vệ đúng kế hoạch, nội dung. Duy trì
nghiêm chế độ trực sẵn sàng chiến đấu, phối hợp với các lực lượng xử lý kịp
thời các tình huống phát sinh. Xây dựng phương án phòng thủ phù hợp với đặc
điểm địa bàn.
8.2. An ninh và trật tự an toàn xã hội: Trong năm qua, tình hình an ninh
chính trị trên địa bàn luôn giữ vững ổn định, không xảy ra đột xuất, bất ngờ, các
mục tiêu trọng điểm được đảm bảo an toàn; tội phạm, TNXH, cháy nổ, tai nạn
giao thông được kiềm chế và làm giảm qua các năm... tạo điều kiện thuận lợi
cho phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và đảm bảo, quốc phòng, an ninh trên địa
bàn. Phong trào toàn dân bảo vệ ANTQ tiếp tục có những chuyển biến tích cực,
thu hút nhiều quần chúng nhân dân tham gia; lực lượng bảo vệ an ninh trật tự ở
cơ sở được củng cố, kiện toàn; có một số mô hình phát huy được vai trò tự quản,
tự phòng của nhân dân ngay tại cộng đồng dân cư (tổ liên gia PCCC, nhóm Zalo
kết nối bình yên...). Triển khai thực hiện tốt các kế hoạch chuyên đề đấu tranh
tội phạm có tổ chức, tội phạm ma túy và tệ nạn xã hội, kế hoạch chuyển hóa địa
bàn trọng điểm, phức tạp về trật tự, an toàn xã hội, xây dựng xã hội an toàn giai
đoạn 2017 - 2025 và tầm nhìn đến năm 2030; công tác tiếp nhận tin báo, tố giác
tội phạm, điều tra, xử lý tội phạm đã đạt được kết quả cao, không để xảy ra oan
45
sai, bức cung, nhục hình; việc thực hiện cải cách hành chính, chuyển đổi số trong
công tác đảm bảo an ninh trật tự được thực hiện mạnh mẽ, đáp ứng tốt hơn nhu
cầu của người dân. Lực lượng Công an xã đã bám sát cơ sở, gắn bó mật thiết với
nhân dân, giữ gìn bình yên ngay từ địa bàn dân cư, góp phần củng cố niềm tin
của nhân dân đối với Đảng, nhà nước và lực lượng Công an nhân dân. Bên cạnh
đó, tình hình tội phạm, tai nạn giao thông, cháy nổ tuy được kiềm chế và làm
giảm nhưng chưa bền vững, còn tiềm ẩn những yếu tố diễn biến phức tạp, nhất
là trên không gian mạng, tội phạm lợi dụng công nghệ cao.
9. Tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ công chức
9.1. Đảng ủy
- Tổng số cơ quan tham mưu, giúp việc của Đảng ủy: 03 cơ quan, đơn vị,
bao gồm: Văn phòng Đảng ủy, Ban Xây dựng Đảng Đảng ủy xã và Ủy ban Kiểm
tra Đảng ủy. Đơn vị sự nghiệp trực thuộc Đảng ủy xã: 01 đơn vị (Trung tâm
Chính trị xã)
- Tổng số cán bộ, công chức, viên chức của các cơ quan, tham mưu giúp
việc của Đảng ủy và Trung tâm Chính trị là 25 người (Thường trực Đảng ủy: 02
người, Văn phòng Đảng ủy: 08 người, Ban Xây dựng Đảng: 08 người, Ủy ban
Kiểm tra Đảng ủy: 05 người và Trung tâm Chính trị: 02 người). Hiện nay còn
thiếu 02 biên chế (01 biên chế của Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy xã và 01 biên chế
của Trung tâm Chính trị xã).
- Về cơ cấu:
+ Cơ cấu theo giới tính: 12 nam, 13 nữ;
+ Cơ cấu theo độ tuổi: từ 31-35 tuổi: 03 người; từ 36-40 tuổi: 11 người; từ
41-45 tuổi: 06 người; từ 46-50 tuổi: 03 người; từ 51-55 tuổi: 01 người và từ 56-
60 tuổi: 01 người.
+ Cơ cấu theo trình độ chuyên môn: Thạc sĩ: 05 người, Đại học: 20 người.
+ Cơ cấu theo trình độ lý luận chính trị: Cao cấp chính trị: 07 người, Trung
cấp chính trị: 18 người.
9.2. Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân
- HĐND xã gồm thường trực HĐND và 02 ban HĐND; trong đó Lãnh đạo
HĐND: 03 biên chế, gồm 01 Phó Chủ tịch HĐND và 02 Phó Trưởng ban
HĐND; các biên chế kiêm nhiệm gồm: Bí thư Đảng ủy kiêm Chủ tịch HĐND,
Trưởng ban HĐND do Chủ tịch UBMTTQVN và Chủ nhiệm UBKT đảng. Tổng
số đại biểu HĐND xã khóa II nhiệm kỳ 2026-2031 là 29 đại biểu.
Về cơ cấu:
46
+ Cơ cấu theo giới tính: 03 nam.
+ Cơ cấu theo độ tuổi: từ 41- 45 tuổi: 02 người, từ 46-50 tuổi: 01 người.
+ Cơ cấu theo trình độ chuyên môn: Thạc sĩ: 01 người, Đại học: 02 người.
+ Cơ cấu theo trình độ lý luận chính trị: Cao cấp chính trị: 01 người, Trung
cấp chính trị: 02 người.
- UBND xã gồm Chủ tịch, các Phó chủ tịch và thành lập 03 cơ quan chuyên
môm (Văn phòng HĐND và UBND, Phòng Kinh tế và Phòng Văn hóa – Xã
hội) và 01 cơ quan hành chính (Trung tâm Phục vụ hành chính công). Lãnh đạo
UBND: 03 biên chế gồm: 01 Chủ tịch và 02 Phó Chủ tịch UBND xã.
9.3. Mặt trận Tổ quốc và các Đoàn thể
- Tổng số cán bộ, công chức của cơ quan Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam xã: 13 người (gồm 01 Chủ tịch, 01 Phó Chủ tịch Thường trực đồng thời là
Chủ tịch Hội Nông dân xã, 01 Phó Chủ tịch đồng thời là Chủ tịch Hội Liên hiệp
Phụ nữ xã, 01 Phó Chủ tịch đồng thời là Bí thư Đoàn Thanh niên xã, 01 Phó
Chủ tịch đồng thời là Chủ tịch Hội Cựu Chiến binh xã và 08 chuyên viên).
- Về cơ cấu:
+ Cơ cấu theo giới tính: 04 nam, 09 nữ.
+ Cơ cấu theo độ tuổi: từ 31-35 tuổi: 03 người, từ 36 – 40 tuổi: 03 người,
từ 41- 45 tuổi: 05 người, từ 46-50 tuổi: 01 người và từ 51-55 tuổi: 01 người.
+ Cơ cấu theo trình độ chuyên môn: Thạc sĩ: 01 người, Đại học: 12 người.
+ Cơ cấu theo trình độ lý luận chính trị: Cao cấp chính trị: 03 người, Trung
cấp chính trị: 10 người.
9.4. Cán bộ, công chức cấp xã: Tổng số biên chế được giao 54 biên chế
(bao gồm 04 biên chế của Ban Chỉ huy Quân sự), trong đó 03 biên chế HĐND
và 03 biên chế lãnh đạo UBND; còn lại 48 biên chế tại, cụ thể như sau:
- Văn phòng HĐND và UBND: Hiện tại đã bố trí 12/12 biên chế, gồm: 01
Chánh Văn phòng, 01 Phó Chánh Văn phòng và 10 công chức).
- Phòng Văn hoá – Xã hội: Hiện tại đã bố trí 13/13 biên chế, gồm: 01
Trưởng phòng, 02 Phó Trưởng phòng và 10 công chức.
- Phòng Kinh tế: Hiện tại đã bố trí 13/14 biên chế, gồm: 01 Trưởng phòng,
01 Phó Trưởng phòng và 11 công chức.
- Trung tâm Phục vụ hành chính công: Hiện tại đã bố trí 04/05 biên chế,
gồm: 02 Phó Giám đốc và 03 công chức.
47
- Ban chỉ huy Quân sự xã: 04/04 biên chế gồm: 01 Chỉ huy trưởng, 02 Chỉ
huy phó và 01 Trợ lý. Ngoài ra, UBND thành lập Trung tâm Dịch vụ tổng hợp
hiện tại đã bố trí 19/21 biên chế gồm: 01 Phó giám đốc và 18 viên chức.
III. Đối với xã Trị An
1. Vị trí địa lý, địa giới hành chính và vai trò chức năng
1.1. Vị trí địa lý, địa giới hành chính
Xã Trị An nằm ở phía Tây của tỉnh Đồng Nai. Phạm vi toàn bộ địa giới
hành chính của xã theo Nghị quyết số 1662/NQ-UBTVQH15 ngày 16/6/2025
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã
của tỉnh Đồng Nai năm 2025, được xác định như sau:
Phía Bắc và Đông Bắc: Giáp xã Tân Lợi và xã Phú Lý;
Phía Đông và Đông Nam: Giáp xã Thanh Sơn và xã La Ngà;
Phía Tây: Giáp thành phố Hồ Chí Minh;
Phía Nam: Giáp xã Tân An và xã Bàu Hàm
1.2. Vai trò chức năng
Xã Trị An với vị trí nằm sát hồ Trị An, một trong những hồ nước lớn nhất
khu vực Đông Nam Bộ, không chỉ cung cấp nguồn nước dồi dào mà còn tạo
điều kiện cho phát triển du lịch sinh thái và nông nghiệp. Vị trí này cũng thuận
lợi cho kết nối giao thông với thành phố Hồ Chí Minh và vùng lân cận. Là một
trong những địa phương có diện tích lớn hướng đến phát triển mạnh mẽ đô thị
dịch vụ du lịch của vùng, đặc biệt là cửa ngõ vào khu Bảo tồn Thiên nhiên Văn
hóa – Đồng Nai, nơi đã được UNESCO công nhận là vùng sinh quyển của thế
giới. Là không gian đô thị mở rộng, hỗ trợ và dung nạp, giảm áp lực cho khu
vực đô thị hiện hữu. tạo tiền đề phát triển các mô hình đô thị xanh, đô thị sinh
thái. Là hạt nhân kết nối trong chuỗi đô thị - công nghiệp - dịch vụ góp phần tạo
hành lang phát triển liên tục, cân bằng và bền vững.
Với chức năng phát triển đô thị mới - đô thị sinh thái, giảm tải nhu cầu nhà
ở cho khu vực đô thị trung tâm. Cung cấp các sản phẩm du lịch, nghỉ dưỡng khai
thác cảnh quan hồ Trị An và cảnh quan khu bảo tồn thiên nhiên và văn hóa Đồng
Nai; Có điều kiện để hình thành các trung tâm về nghiên cứu đa dạng sinh học
và chăm sóc sức khỏe.
Nhờ trở thành vị trí trung tâm trong quãng đường kết nối giữa khu vực phía
bắc tỉnh Đồng Nai (khu vực Bình Phước cũ) và khu vực phía nam tỉnh Đồng
Nai để kết nối với Sân bay Long Thành; Càng nước sâu Cái Mép – Thị Vải, là
48
vị trí lý tưởng đáp ứng cho chức năng trung chuyển cho khu vực nhờ vị trí kết
nối thuận lợi với các tuyến Quốc lộ, Vành đai.
Chức năng về bảo tồn tài nguyên và an ninh nguồn nước là nơi cân bằng,
hài hòa, khai thác tối đa về vị thế, vị trí kết nối đường bộ, đường thủy sông Đồng
Nai, cùng với các giá trị nổi bật gắn với hồ thủy điện Trị An, Khu bảo tồn Thiên
nhiên Văn hóa Đồng Nai... để Trị An phát huy được thế mạnh của mình trở
thành đô thị xanh, sinh thái, bền vững, thích ứng biến đổi khí hậu.
2. Diện tích tự nhiên và cơ cấu các loại đất
2.1. Diện tích tự nhiên:
Tổng diện tích tự nhiên của xã Trị An là 66.047,06 ha. Trong đó, diện tích
đất nông nghiệp là 51.173,34 ha, chiếm 77,48%; diện tích đất phi nông nghiệp
14.849,38 ha, chiếm 22,48 % và diện tích đất chưa sử dụng 24,34 ha, chiếm
0,04%.
2.2. Cơ cấu các loại đất
Bảng thống kê diện tích theo mục đích sử dụng
Đơn vị tính: ha
STT
Mục đích sử dụng
MÃ
Diện tích
(ha)
Tỷ lệ (%)
Tổng diện tích tự nhiên
TTN
66.047,06
100
I
Nhóm đất nông nghiệp
NNP
51.173,34
77,48
1
Đất trồng cây hằng năm
CHN
518,55
1,01
2
Đất trồng cây lâu năm
CLN
4.769,40
9,32
3
Đất lâm nghiệp
LNP
45.512,88
88,94
4
Đất nuôi trồng thủy sản
NTS
237,36
0,46
5
Đất chăn nuôi tập trung
CNT
55,38
0,11
6
Đất làm muối
LMU
-
-
7
Đất nông nghiệp khác
NKH
79,77
0,16
II
Nhóm đất phi nông nghiệp
PNN
14.849,38
22,48
49
STT
Mục đích sử dụng
MÃ
Diện tích
(ha)
Tỷ lệ (%)
1
Đất ở
OTC
292,78
1,97
2
Đất xây dựng trụ sở cơ quan
TSC
19,42
0,13
3
Đất quốc phòng, an ninh
CQA
100,06
0,67
4
Đất xây dựng công trình sự
nghiệp
DSN
40,29
0,27
5
Đất sản xuất, kinh doanh phi
nông nghiệp
CSK
66,16
0,45
6
Đất sử dụng vào mục đích công
cộng
CCC
565,20
3,81
7
Đất tôn giáo
TON
6,08
0,04
8
Đất tín ngưỡng
TIN
1,95
0,01
9
Đất nghĩa trang, nhà tang lễ, cơ
sở hỏa táng; đất cơ sở lưu trữ tro
cốt
NTD
24,29
0,16
10
Đất có mặt nước chuyên dùng
TVC
13.733,15
92,48
11
Đất phi nông nghiệp khác
PNK
-
-
III
Nhóm đất chưa sử dụng
CSD
24,34
0,04
1
Đất do Nhà nước thu hồi theo
quy định của pháp luật đất đai
chưa giao, chưa cho thuê
CGT
24,34
100,00
2
Đất bằng chưa sử dụng
BCS
-
-
3
Đất đồi núi chưa sử dụng
DCS
-
-
4
Núi đá không có rừng cây
NCS
-
-
5
Đất có mặt nước chưa sử dụng
MCS
-
-
50
3. Dân số, cơ cấu lao động và thành phần dân cư
3.1. Dân số:
Tính đến ngày 22/3/2026, xã Trị An có 11.455 hộ với 51.757 người; trong
đó dân số thường trú là 50.003 người, dân số tạm trú là 1.754 người; đồng bào
dân tộc thiểu số có 2.217 người, chiếm khoảng 4,3% dân số.
+ Dân số trong độ tuổi lao động là 30.365 người, chiếm 58,6% (tính theo
độ tuổi từ 18 đến 61).
+ Tỷ lệ dân số thành thị/ nông thôn: 32.479/ 51.757 người, chiếm 62,75%
(dân số thành thị tính theo số dân khu vực thị trấn Vĩnh An cũ).
3.2. Cơ cấu lao động: chủ yếu trong lĩnh vực nông – lâm nghiệp và dịch vụ
Cơ cấu lao động của xã Trị An đang chuyển dịch theo hướng giảm dần lao
động nông nghiệp, tăng dần lao động phi nông nghiệp, phù hợp với định hướng
phát triển đô thị sinh thái, du lịch, dịch vụ và năng lượng. Địa phương đã chú
trọng đào tạo nghề cho lao động nông thôn, tăng cường kết nối cung - cầu lao
động và hỗ trợ chuyển đổi việc làm, qua đó tạo nền tảng nhân lực cho quá trình
phát triển đô thị trong giai đoạn tới.
Xã Trị An có khoảng 16 dân tộc sinh sống (Kinh, Hoa, Chơ ro, Tày, Khmer,
Mường, Nùng, Sán Dìu, Thái, Cao Lan, Thổ, Dao,...). Trong đó, dân tộc Kinh
chiếm tỷ lệ chủ yếu với khoảng trên 48.000 người; người Hoa khoảng 900 người;
người Tày khoảng 200 người; người Nùng khoảng 190 người; người Khmer
khoảng 140 người; các dân tộc thiểu số còn lại chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong cơ cấu
thành phần dân tộc.
Xã Trị An có khoảng 16 dân tộc sinh sống (Kinh, Hoa, Chơ ro, Tày, Khmer,
Mường, Nùng, Sán Dìu, Thái, Cao Lan, Thổ, Dao,... ). Trong đó dân tộc Kinh
chiếm tỷ lệ chính với khoảng trên 48.000 người, người Hoa khoảng 900 người,
người Tày khoảng 200 người, người Nùng khoảng 190 người, người Khmer
khoảng 140 người,... các dân tộc thiểu số còn lại chiêm tỷ lệ rất nhỏ trong cơ
cấu thành phần dân tộc (khoảng 200 người).
4. Hiện trạng phát triển kinh tế
4.1. Chỉ tiêu phát triển kinh tế gồm:
- Chỉ tiêu phát triển kinh tế của xã Trị An được xem xét thông qua tốc độ
tăng giá trị sản xuất, cơ cấu kinh tế, thu nhập bình quân đầu người, tỷ lệ lao động
phi nông nghiệp và tỷ lệ hộ nghèo. Qua rà soát cho thấy cơ cấu kinh tế của địa
phương đang chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp - xây dựng,
51
thương mại - dịch vụ, giảm dần tỷ trọng nông nghiệp; đời sống Nhân dân từng
bước được cải thiện, tạo nền tảng để tổ chức quản lý theo mô hình phường.
Nhìn chung, các chỉ tiêu kinh tế chủ yếu cho thấy xã Trị An có dư địa phát
triển, khả năng huy động nguồn lực và điều kiện tiếp tục hoàn thiện các tiêu
chuẩn đô thị trong lộ trình phù hợp sau khi thành lập phường.
- Tỷ lệ hộ nghèo (theo chuẩn nghèo đa chiều):
Số hộ nghèo đầu năm 2025 (theo chuẩn nghèo đa chiều): 07 hộ, chiếm tỷ lệ
0,06% so với tổng số hộ dân; Số hộ thoát nghèo trong năm: 07 hộ; số hộ nghèo
chết, chuyển đi: 00 hộ; số hộ nghèo phát sinh mới: 00 hộ; số hộ nghèo thực
giảm: 07 hộ, cụ thể như sau:
+ Hộ nghèo A: 00 hộ, chiếm 0% so tổng số hộ dân (là hộ nghèo có ít nhất
một thành viên trong hộ còn khả năng lao động, thuộc mục tiêu của Chương
trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo);
+ Hộ nghèo B: 07 hộ, chiếm 0,06% so tổng số hộ dân (là hộ nghèo không
có thành viên nào trong độ tuổi lao động hoặc có thành viên trong độ tuổi lao
động nhưng mất khả năng lao động, không có khả năng thoát nghèo).
Đến cuối năm 2025, trên địa bàn không còn hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa
chiều.
4.2. Phát triển các ngành, lĩnh vực
- Về công nghiệp - xây dựng:
+ Trong thời gian qua, lĩnh vực công nghiệp – xây dựng trên địa bàn xã Trị
An có bước phát triển nhất định, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế
theo hướng tăng dần tỷ trọng phi nông nghiệp, cụ thể năm 2023 đạt 7,2%, năm
2024 đạt 14,9%, năm 2025 đạt 13,41%, tốc độ bình quan giai đoạn 2026-2030
dự kiến đạt 11-12%. Hoạt động xây dựng trên địa bàn xã diễn ra khá sôi động,
chủ yếu là: Xây dựng nhà ở dân dụng, công trình hạ tầng nông thôn (đường giao
thông, kênh mương, điện, nước) và các công trình phục vụ sản xuất và sinh hoạt.
Việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng từng bước được quan tâm, góp phần cải
thiện điều kiện sống của người dân và tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh
tế - xã hội.
+ Ngành công nghiệp – xây dựng có xu hướng phát triển, góp phần chuyển
dịch cơ cấu kinh tế, tạo thêm việc làm và thu nhập cho người dân trên địa bàn
xã như: Dự án nhà máy Thủy điện Trị An mở rộng, dự án Cầu Hiếu Liêm, dự
án đểm Dân cư số 6, dự án mở rộng Trường TH Cây Gáo B, dự án Cầu Mã Đà
và các dự án đường giao thông trọng điểm trên địa bàn xã.. nhằm cải thiện kết
52
nối và thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội trên địa bàn xã và đóng góp chung
vào ngành xây dựng của tỉnh Đồng Nai tăng trưởng đáng kể vào năm 2025, với
tốc độ khoảng 21,7% so với năm trước, đóng góp cho phát triển kinh tế chung
của tỉnh.
Nhìn chung, ngành công nghiệp – xây dựng của xã Trị An đang trong giai
đoạn phát triển ban đầu, có tiềm năng nhưng cần được định hướng và đầu tư bài
bản hơn để trở thành động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong thời gian tới.
- Về công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp: Hoạt động công nghiệp trên địa
bàn xã chủ yếu là quy mô nhỏ và hộ gia đình với số lượng lao động dưới 10
người, tập trung vào các ngành nghề như may mặc, chế biến nông sản, sản xuất
vật liệu xây dựng, cơ khí nhỏ, mộc dân dụng và một số ngành nghề truyền thống.
Các cơ sở sản xuất phân bố rải rác trong khu dân cư, chưa hình thành khu, cụm
công nghiệp tập trung như may mặc, sản phẩm thủ công mỹ nghệ. Quy mô sản
xuất còn hạn chế, công nghệ chưa hiện đại, chủ yếu sử dụng lao động thủ công,
năng suất và giá trị gia tăng chưa cao. Tuy nhiên, lĩnh vực này đã góp phần giải
quyết việc làm cho lao động địa phương, tăng thu nhập cho người dân, tận dụng
nguồn nguyên liệu sẵn có tại chỗ.
- Về thương mại - dịch vụ: Trong những năm gần đây, lĩnh vực thương mại
– dịch vụ trên địa bàn xã Trị An có bước phát triển tích cực, từng bước đáp ứng
nhu cầu sản xuất và đời sống của người dân, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh
tế theo hướng tăng tỷ trọng khu vực dịch vụ.
+ Hoạt động thương mại trên địa bàn xã chủ yếu là mua bán nhỏ lẻ, tập
trung tại chợ truyền thống như chợ Vĩnh An (chợ ấp 2-Vĩnh An), chợ Hiếu Liêm,
chợ ấp 1, chợ Mã Đà và các cửa hàng tạp hóa và điểm kinh doanh hộ gia đình
như hộ kinh doanh Liên Phương, Cường Bảo, của hàng Cô Nga, của hàng Cẩm
Hường.... Hệ thống phân phối hàng hóa, thiết bị công nghệ, hàng tiêu dùng như
Bách hóa xanh, Con Cưng, Thế giới di động, Điện máy xanh, của hàng Viettel...
cơ bản đáp ứng nhu cầu tiêu dùng thiết yếu của người dân; góp phần chuyển
dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng khu vực dịch vụ trên địa bàn xã.
+ Hoạt động dịch vụ: Các loại hình dịch vụ trên địa bàn xã Trị An ngày
càng đa dạng, bao gồm: Dịch vụ vận tải, giao nhận hàng hóa (Giao hàng tiết
kiệm (GHTK), Viettel Post – chuyển phát nhanh, đa dạng loại hình bưu kiện và
VNPost Express – bưu chính và giao hàng nhanh. Dịch vụ sửa chữa cơ khí, xe
máy, dịch vụ ăn uống, giải khát...Nhìn chung, dịch vụ phát triển theo hướng
phục vụ nhu cầu tại chỗ, quy mô hộ gia đình là chủ yếu. Một số loại hình dịch
vụ mới bước đầu hình thành nhưng chưa phát triển mạnh. Tỷ lệ đạt được cụ thể
53
năm 2023 đạt 14,28%, năm 2024 đạt 17,53%, năm 2025 đạt 17,08%, tốc độ bình
quan giai đoạn 2026-2030 dự kiến đạt 11-12%.
Đánh giá chung: Lĩnh vực thương mại – dịch vụ của xã Trị An có tiềm
năng phát triển, đặc biệt trong bối cảnh nhu cầu tiêu dùng ngày càng tăng. Đáp
ứng nhu cầu tiêu dùng và sinh hoạt của người dân, góp phần tăng thu nhập và
chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đáp ứng tiêu chuẩn trở thành phường vào năm
2026
- Sản xuất nông nghiệp ổn định, công tác tổ chức sản xuất được triển khai
thực hiện hiệu quả. Công tác phòng trừ dịch sâu, bệnh hại trên cây trồng và công
tác phòng, chống dịch bệnh trên gia súc, gia cầm được thực hiện đầy đủ, kịp
thời, không để bùng phát dịch bệnh;
+ Trồng trọt: Cây trồng sinh trưởng, phát triển ổn định, năng suất duy trì,
không xảy ra dịch bệnh lớn. Diện tích các loại cây trồng trên địa bàn: Xoài:
1.444,9 ha; bưởi: 300 ha; cam: 290,9 ha; quýt: 125,2 ha; chuối: 282,3 ha; điều:
515 ha; cao su: 496 ha; lúa: 77,6 ha; bắp: 149,75 ha; rau màu các loại: 36,55 ha.
+ Chăn nuôi: Tổng đàn gia súc trên địa bàn xã là 13.369 con (đàn heo
12.218 con, trâu bò 1.151 con); tổng đàn gia cầm trên địa bàn là 690.950 con
(gà 394.500 con, vịt 44.450 con, cút 252.000 con). Tình hình chăn nuôi ổn định,
công tác phòng, chống dịch bệnh trên gia súc, gia cầm được các chủ trại và hộ
chăn nuôi nhỏ lẻ triển khai thực hiện tốt, không để bùng phát dịch bệnh.
+ Thủy sản:
Tổng diện tích đất có mặt nước chuyên dùng trên địa bàn xã là 12.988,6
ha, ngoài nguồn lợi thủy sản tự nhiên trên hồ được các ngư dân đánh bắt, khai
thác, đánh bắt còn có 03 vùng nuôi cá bè (chủ yếu nuôi cá lăng, cá chép, cá
trắm...); hiện nay, Khu Bảo tồn Thiên nhiên – Văn hóa Đồng Nai đang triển khai
thực hiện dự án Sắp xếp lại vùng nuôi cá lồng bè, di dời và giải tỏa lồng bè dôi
dư trên hồ Trị An.
Diện tích ao nuôi thủy sản của các hộ dân trên địa bàn xã: 264,9 ha (chủ
yếu nuôi các loại cá truyền thống như cá chép, rô phi, cá trắm)
Trong nhiều năm qua, tình hình nuôi trồng thủy sản trên địa bàn xã có nhiều
thuận lợi, công tác hỗ trợ kỹ thuật về nuôi trồng thủy sản được quan tâm thực
hiện, công tác quản lý về lồng bè, công tác phối hợp xử lý các trường hợp sử
dụng chất nổ, xung điện, ngư cụ cấm trong khai thác thủy sản trên hồ Trị An
giữa Ủy ban nhân dân xã, Khu Bảo tồn Thiên nhiên – Văn hóa Đồng Nai và Chi
cục Chăn nuôi và Thủy sản được thực hiện tốt góp phần thực hiện tốt công tác
bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản trên địa bàn xã.
54
+ Lâm nghiệp:
Tổng diện tích có rừng trên địa bàn xã là 44.422,46 ha (rừng tự nhiên là
39.136,74 ha và rừng trồng là 5.285,72 ha) thuộc lâm phần quản lý của 02 đơn
vị chủ rừng là Khu bảo tồn thiên nhiên – Văn hóa Đồng Nai và Công ty cổ phần
Tập đoàn Tân Mai chi nhánh Đông Nam Bộ; tỷ lệ che phủ rừng là 67,26%.
Ngoài diện tích thuộc 02 đơn vị chủ rừng quản lý, trên địa bàn xã có
khoảng 700 ha rừng trồng cây keo lai nằm ngoài quy hoạch 3 loại rừng, là diện
tích rừng tự trồng tự hưởng của các hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn xã.
Rừng tự nhiên phần lớn là rừng gỗ lá rộng, đặc trưng bởi nhiều loài cây
thuộc họ Dầu, một phần diện tích rừng hỗn giao Gỗ - Lồ ô và thuần Lồ ô, tre
nứa.
Rừng trồng chủ yếu là keo lai phân bố không tập trung mà phân bố theo
cụm. Một số lô rừng trồng một mặt tiếp giáp với diện tích rừng tự nhiên, một
mặt giáp với các lô đất sản xuất nông nghiệp hoặc đường giao thông có nhiều
người, phương tiện qua lại.
Công tác phòng cháy chữa cháy và quản lý bảo vệ rừng được triển khai kịp
thời, hiệu quả không để xảy ra cháy rừng và các hành vi liên quan đến quản lý
bảo vệ rừng; công tác tuần tra, kiểm soát bảo vệ rừng; xử lý nghiêm các
trường hợp vi phạm, nhất là săn bắt, buôn bán động vật rừng (không có trường
hợp vi phạm pháp luật trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng, quản lý lâm sản).
5. Hiện trạng phát triển văn hóa - xã hội
5.1. Giáo dục và đào tạo
- Về quy mô trường lớp: Hệ thống mạng lưới trường, lớp trên địa bàn xã
được bố trí hợp lý, phù hợp với điều kiện dân cư và định hướng phát triển địa
phương.
+ Xã Trị An có 14 cơ sở giáo dục trực thuộc Ủy ban nhân dân xã (Mầm
non: 05; Tiểu học: 04; THCS: 05). Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học được
quan tâm đầu tư theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa; tỷ lệ phòng học kiên cố
đạt 100%. Tổng số phòng học là 272 phòng (Mầm non: 73; Tiểu học: 123,
THCS: 76); đảm bảo 1 lớp/ phòng học. Các phòng học được đầu tư, bố trí cơ
bản đảm bảo các điều kiện tối thiểu, đáp ứng yêu cầu tổ chức dạy học theo quy
định. Bên cạnh đó, các cơ sở giáo dục còn được trang bị tương đối đầy đủ các
phòng học bộ môn, phòng chức năng, phòng hỗ trợ học tập,.... Tuy nhiên, hiện
tại các cơ sở giáo dục cấp tiểu học, cấp THCS còn thiếu 169 bộ thiết bị dạy học
theo Chương trình GDPT 2018 (từ lớp 2 đến lớp 9).
55
+ Hiện 100% các cơ sở giáo dục trực thuộc xã đạt chuẩn quốc gia mức độ
1 trở lên, trong đó đạt chuẩn quốc gia mức độ 2 là 03/14 trường, tỉ lệ 21,4%.
+ Số lượng nhân sự tại các cơ sở giáo dục trực thuộc khoảng 578 người; tỷ
lệ cán bộ, giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn đạt 98%. Đội ngũ cán bộ quản lý,
giáo viên cơ bản đảm bảo về số lượng, cơ cấu hợp lý; trình độ chuyên môn,
nghiệp vụ từng bước được nâng cao, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục.
* Ngoài ra, trên địa bàn xã còn có 02 trường THPT (01 công lập, 01 tư
thục) và 01 Trung tâm GDNN & GDTX. Tổng số nhân sự khoảng 126 người
(THPT công lập: 75; THPT tư thục: 35, Trung tâm GDNN & GDTX: 16). Tổng
số phòng học bậc THPT là 55 phòng học (công lập: 33 phòng; tư thục: 22
phòng), Trung tâm GDNN & GDTX: 13 phòng. Hiện tại trường THPT công lập
đạt chuẩn quốc gia mức độ 1.
- Về chất lượng dạy và học
+ Chất lượng giáo dục được duy trì ổn định và từng bước nâng cao: Tỷ lệ
trẻ em mầm non huy động ra lớp đạt 90.1%, tỷ lệ trẻ em 06 tuổi vào lớp 1 đạt
100%; tỷ lệ học sinh hoàn thành chương trình tiểu học đạt 100%; tỷ lệ tốt nghiệp
trung học cơ sở đạt 100%; tỷ lệ học sinh sau tốt nghiệp trung học cơ sở tiếp tục
học trung học phổ thông và giáo dục nghề nghiệp đạt trên 95%.
+ Toàn xã đạt chuẩn phổ cập mầm non cho trẻ em 5 tuổi, duy trì phổ cập
giáo dục tiểu học và trung học cơ sở mức độ 3, chất lượng giáo dục xóa mù chữ
đạt mức độ 2.
5.2. Y tế
- Xã có 01 Trạm Y tế và 02 điểm y tế đạt chuẩn quốc gia, thực hiện chức
năng chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân trên địa bàn.
+ Tổng số cán bộ y tế: 39 người (trong đó: 04 bác sĩ, 02 y sĩ, 14 điều dưỡng,
03 hộ sinh, 06 dược sĩ, 06 dân số viên, 04 khác).
+ Trạm Y tế phối hợp với các ngành, đoàn thể thực hiện các chương trình
y tế chủ động phòng, chống dịch bệnh, tăng cường giám sát công tác Y tế dự
phòng, không để dịch bệnh lớn xảy ra trên địa bàn. Thực hiện tốt các chương
trình Y tế, phòng, chống các bệnh xã hội. Phòng, chống HIV/AIDS, đẩy mạnh
công tác chăm sóc sức khoẻ bà mẹ, trẻ em. Nâng cao chất lượng khám chữa
bệnh thực hiện tốt quy chế chuyên môn, hoàn thành các chỉ tiêu về các chương
trình Y tế Quốc gia và chuẩn quốc gia nâng cao. Tăng cường quản lý công tác
An toàn vệ sinh thực phẩm, an toàn lao động trên địa bàn thị trấn, công tác Y tế
học đường, bảo vệ sức khỏe cho người lao động. Chủ động thực hiện tốt các
công tác chuyên môn tại Trạm Y tế.
56
+ Công tác khám, chữa bệnh được duy trì thường xuyên, với: Số lượt khám
chữa bệnh trung bình: khoảng 20.000 lượt/năm (khám ngoại trú). Công tác tiêm
chủng mở rộng được triển khai đầy đủ, đạt kết quả: Tỷ lệ trẻ em dưới 1 tuổi
được tiêm chủng đầy đủ: đạt trên 95 %. Công tác phòng, chống dịch bệnh được
thực hiện chủ động: Tổ chức giám sát, xử lý kịp thời các bệnh như sốt xuất
huyết, tay chân miệng....100% ổ dịch nhỏ được khoanh vùng và xử lý kịp thời.
Không để xảy ra dịch bệnh lớn trên địa bàn. Các chương trình Y tế quốc gia
được triển khai đầy đủ, hiệu quả: như: Chương trình tiêm chủng mở rộng,
Chương trình phòng chống suy dinh dưỡng, Chương trình phòng chống bệnh
không lây nhiễm (tăng huyết áp, đái tháo đường...), Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng
chiều cao theo tuổi giảm còn khoảng 6.3%. Công tác An toàn thực phẩm trên
địa bàn xã được đảm bảo, không có trường hợp nào xảy ra ngộ độc thực phẩm.
- Ngoài ra, trên địa bàn xã còn có 01 trung tâm y tế khu vực Vĩnh Cửu.
Chức năng nhiệm vụ của Trung tâm Y tế là chăm sóc bảo vệ nâng cao sức khỏe
cán bộ nhân dân trên địa bàn, tổ chức triển khai thực hiện, tổ chức công tác khám
chữa bệnh tại Trung tâm Y tế khu vực Vĩnh Cửu và các Trạm Y tế xã (trong đó
có Trạm y tế xã Trị An). Tổng số các Khoa/Phòng gồm 04 phòng, 12 khoa, 1
Cơ sơ sở điều trị Methadone.
Tổng số cán bộ CC, VC người lao động 190. Trong đó: Đại học và sau đại
học: 114; Cụ thể: Bác sỹ CKI: 09; Bác sỹ: 33; Điều dưỡng CkI: 01; Cử nhân
điều dưỡng: 37; CN YTCC: 02; Cử nhân hộ sinh: 01; Dược sỹ 11; KTV Y đại
học: 04; Ths: 02, Cử nhân tin học: 02; Cử nhân luật 02; CN QTKD: 01; Kế toán:
08; Kỹ sư Môi trường: 01; Cao đẳng: 43 gồm: KTV y cao đẳng: 09; điều dưỡng
20; Hộ sinh 04; Dược: 08; Kế toán 02; Trung học: 8 gồm: Y Sỹ: 05; Điều Dưỡng:
01; Văn thư viên TC: 01; Điện 01; Sơ học 25 gồm: hộ lý 14; Lái xe: 4; Bảo vệ
5; Nhân viên phục vụ: 02.
5.3. Văn hóa thông tin, thể dục thể thao
- Về đời sống văn hóa: Lãnh đạo xã luôn quan tâm, hướng dẫn, chỉ đạo các
ấp tăng cường công tác tuyên truyền về lợi ích, tác dụng của việc xây dựng gia
đình văn hóa, xây dựng khu dân cư văn hóa góp phần hạn chế và đẩy lùi các tệ
nạn xã hội; thường xuyên tuyên truyền rộng rãi về 03 nội dung tiêu chuẩn gia
đình văn hóa, gắn với tuyên truyền giáo dục các tầng lớp nhân dân thực hiện tốt
Chỉ thị 27-CT/TW của Bộ Chính trị (khoá VIII) về thực hiện nếp sống văn minh
trong việc cưới, việc tang và lễ hội; thực hiện tốt các quy định về bài trừ các hủ
tục lạc hậu, mê tín dị đoan và các tệ nạn xã hội, để xây dựng môi trường văn hóa
lành mạnh, văn minh. Năm 2025, có 10.432/10.492 hộ gia đình đạt chuẩn gia
đình văn hóa, đạt tỷ lệ 99,4%; Có 38 gia đình văn hóa tiêu biểu được xét đề nghị
UBND xã khen thưởng.
57
+ Hàng năm, xã đều tổ chức tốt các hoạt động lĩnh vực công tác gia đình
như: Tổ chức các hoạt động kỷ niệm Ngày Gia đình hạnh phúc (20/3); Tổ chức
Ngày hội gia đình nhân kỷ niệm Ngày gia đình Việt Nam (28/6); Thành lập đoàn
gia đình của xã tham dự Liên hoan các Câu lạc bộ gia đình phát triển bền vững
do cấp trên tổ chức; Hiện nay, xã đang tiếp tục duy trì hoạt động của 19 CLB,
nhóm phòng chống bạo lực gia đình và 70 địa chỉ tin cậy đang hoạt động trên
địa bàn xã, đồng thời hướng dẫn các ấp rà soát, báo cáo tình hình nhân sự nếu
để thực hiện công tác kiện toàn các CLB, nhóm phòng chống bạo lực gia đình
và địa chỉ tin cậy trên địa bàn xã để tiếp tục hoạt động hiệu quả trong tình hình
mới. Bên cạnh đó, xã còn triển khai Thực hiện cuộc vận động “Xây dựng gia
đình 5 không, 3 sạch (gia đình 5 có 3 sạch)” trong các tổ, hội phụ nữ trên địa
bàn xã.
+ Chương trình xây dựng ấp văn hóa từ khi được triển khai đã được sự
quan tâm của Đảng ủy, chính quyền xã, sự đồng tình hưởng ứng tích cực của
nhân dân trên địa bàn xã, do đó chương trình ngày càng phát triển, gặt hái được
nhiều kết quả khả quan. Với phương châm lấy khu dân cư làm trung tâm để tổ
chức các hoạt động, Ban Chủ nhiệm chương trình 1 thường xuyên đa dạng hóa
các hình thức thu hút, tập hợp đoàn viên, hội viên và các tầng lớp nhân dân;
tuyên truyền, vận động nhân dân tích cực tham gia các cuộc vận động, các phong
trào thi đua yêu nước, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc như:
phong trào “Vì người nghèo – không để ai bị bỏ lại phía sau”, phong trào thi đua
“Chung tay xóa nhà tạm, nhà dột nát trên phạm vi cả nước trong năm 2025”,
phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”,
“Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”.
- Về thiết chế văn hóa:
+ Trên địa bàn xã hiện có 01 Trung tâm Dịch vụ tổng hợp, 15/19 nhà văn
hoá ấp đạt tỷ lệ 78,94% (riêng 04 ấp: cây Sung, Suối Tượng, Bà Hào, Suối Trau
thuộc diện di dời dân cư nên không xây dựng Nhà Văn hóa). Các thiết chế Thể
dục, thể thao được quan tâm xây dựng, đến nay, toàn xã có 7 sân bóng đá, 6 hồ
bơi, 12 sân bóng chuyền, 12 điểm vui chơi giải trí cho trẻ em, 12 điểm vui chơi
giải trí cho người già, 230 dụng cụ thể thao ngoài trời, 73 Câu lạc bộ, Tổ, Đội,
Nhóm Thể dục, thể thao, tỷ lệ số người tham gia tập luyện Thể dục, thể thao đạt
27.450/51028 đạt 53,79%. Các thiết chế thể thao hàng năm đều được cải tạo,
nâng cấp, đáp ứng nhu cầu tập luyện của người dân.
+ Tại các thiết chế văn hóa, thể thao, các địa điểm sinh hoạt cộng đồng,
khu đông dân cư được trang bị 210 dụng cụ thể dục, thể thao ngoài trời và 150
thiết bị trò chơi dành cho trẻ em đã góp phần tạo thuận lợi cho người dân trong
việc tập luyện Thể dục, thể thao thường xuyên, nâng cao thể lực và sức khỏe.
58
Đồng thời, duy trì hiệu quả các hoạt động tại các Trung tâm VHTT-HTCĐ; Nhà
Văn hóa ấp nhằm phục vụ Nhân dân như: giao lưu bóng đá, bóng chuyền, cầu
lông, cờ tướng, cờ vua, bóng bàn, các môn võ, các nhóm nhảy hiện đại,
aerobic,...
+ Công tác xã hội hóa lĩnh vực thể thao được triển khai, nhiều cơ sở thể
thao tư nhân được thành lập, đến nay, toàn xã có 7 sân bóng đá (trong đó sân
bóng đá 11 người; Sân bóng đá mini cỏ tự nhiên; Sân bóng đá mini cỏ nhân tạo),
6 hồ bơi, 24 sân cầu lông, đá cầu, 12 sân bóng chuyền, 2 sân tennis, 16 bàn bóng
bàn, 6 cơ sở bida (56 bàn) do tư nhân đầu tư.
+ Ngoài ra, các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao luôn chào
mừng các sự kiện của đất nước, địa phương luôn được quan tâm với đông đảo
các cơ quan, đơn vị và Nhân dân tham gia hưởng ứng như giải bóng đá, bơi lội,
cầu lông, pickleball, bóng chuyển... Các lớp năng khiếu, ngành nghề được tổ
chức thường xuyên như võ cổ truyền, Taekwomdo...
- Về thông tin truyền thông: UBND xã Trị An có hệ thống Đài truyền thanh
thông minh với 171 cụm loa trên địa bàn các ấp, điều này đã hỗ trợ rất nhiều
trong công tác thông tin tuyền thông. Đây là là một trong những nhiệm vụ quan
trọng hàng đầu trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quán triệt đến Nhân dân trên
địa bàn về chủ trương của Đảng, chính sách, Pháp luật của Nhà nước và các quy
định của địa phương. Qua đó, toàn thể cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức,
người lao động và Nhân dân nắm bắt các hoạt động của bộ máy chính quyền địa
phương, tạo sự thống nhất từ nhận thức đến hành động để cùng chung tay xây
xã Trị An ngày càng phát triển. Bên cạnh đó, Trang Thông tin điện tử xã Trị An
đã đăng tải 1.156 tin, bài, hình ảnh về các hoạt động chính trị, xã hội, văn hóa
của xã, góp phần quảng bá sâu rộng về hình ảnh, con người, kinh tế của xã nhà.
5.4. Lao động - Thương binh và Xã hội
Trong những năm qua, công tác Lao động – Thương binh và Xã hội trên
địa bàn xã Trị An luôn được cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương quan tâm
lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện đồng bộ. Các chính sách an sinh xã hội
được triển khai kịp thời, đúng đối tượng, góp phần nâng cao đời sống vật chất
và tinh thần của nhân dân, giữ vững ổn định xã hội và tạo nền tảng cho phát triển
kinh tế - xã hội của địa phương.
- Thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng
+ Công tác chăm lo đối với người có công với cách mạng luôn được địa
phương quan tâm thực hiện. Hiện nay, trên địa bàn xã có 232 đối tượng người
có công và thân nhân người có công, trong đó gồm:
59
+ Người có công với cách mạng: (đang hưởng trợ cấp hàng tháng): Anh
hùng LLVT: 01 đối tượng; Thương binh, người hưởng chính sách như thương
binh: 82 đối tượng; Bệnh binh: 30 đối tượng; Người hoạt động kháng chiến bị
nhiễm chất độc hóa học: 41 đối tượng; Người hoạt động kháng chiến bị địch bắt
tù đày: 04 đối tượng; Người có công giúp đỡ cách mạng: 02 đối tượng.
+ Thân nhân của người có công với cách mạng (thân nhân hưởng tuất liệt
sỹ; tuất thương bệnh binh, tuất chất độc hóa học; con người tham gia kháng
chiến nhiễm CĐHH, người phục vụ): Tuất Liệt sĩ: 20 đối tượng; Tuất Thương,
bệnh binh, CĐHH, người hoạt động cách mạng trước 01/01/1945: 26 đối tượng;
Con người tham gia kháng chiến nhiễm CĐHH: 19 người; Người phục vụ
thương binh, bệnh binh, CĐHH trên 81%: 04 đối tượng.
+ Ngoài ra, còn có 03 đối tượng là quân nhân tham gia kháng chiến chống
Mỹ hưởng trợ cấp hàng tháng theo Quyết định 142 và 116 thân nhân đang hưởng
thờ cúng liệt sỹ.
+ Các chế độ trợ cấp, phụ cấp ưu đãi được thực hiện đầy đủ, kịp thời và
đúng quy định. Chi trả trợ cấp ưu đãi người có công hàng tháng cho đối tượng
người có công khoảng 232 đối tượng, tương ứng với 263 chế độ, với số tiền
834.519.000 đồng. Thực hiện hỗ trợ tết Nguyên đán 2026 theo Nghị quyết số
26/2025/NQ-HĐND cho 416 đối tượng người có công và thân nhân người có
công với số tiền 449.200.000 đồng; hỗ trợ theo Quyết định số 01/QĐ-CTN của
Chủ tịch nước cho 289 đối tượng với số tiền 88.800.000 đồng. Bên cạnh đó, địa
phương thường xuyên tổ chức các hoạt động thăm hỏi, tặng quà, chăm lo đời
sống vật chất và tinh thần cho các đối tượng chính sách, đặc biệt vào các dịp lễ,
Tết và Ngày Thương binh – Liệt sĩ (27/7). Vào dịp Tết Nguyên đán năm 2026,
UBND xã đã vận động và tổ chức thăm tặng quà cho 45 gia đình chính sách,
mỗi suất trị giá 1.000.000 đồng. Công tác vận động xã hội hóa trong chăm lo
gia đình chính sách được đẩy mạnh, góp phần nâng cao đời sống và thể hiện đạo
lý “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc.
- Công tác bảo trợ xã hội
+ Trong thời gian qua, việc triển khai thực hiện các chính sách trợ giúp xã
hội, hưu trí xã hội trên địa bàn xã luôn được cấp ủy, chính quyền địa phương
quan tâm chỉ đạo sát sao. Các ban, ngành, đoàn thể đã phối hợp chặt chẽ trong
tổ chức thực hiện, góp phần đảm bảo an sinh xã hội, nâng cao đời sống vật chất
và tinh thần cho Nhân dân.
+ Công tác thực hiện chính sách được triển khai kịp thời, đúng đối tượng,
đúng quy định. Các trường hợp khó khăn đột xuất do thiên tai, dịch bệnh được
60
xem xét, hỗ trợ kịp thời. Đồng thời, địa phương chú trọng tăng cường công tác
chăm sóc, bảo vệ trẻ em, người cao tuổi và các đối tượng yếu thế trong xã hội.
+ Hiện nay, trên địa bàn xã có tổng số 1.925 đối tượng đang hưởng trợ giúp
xã hội, hưu trí xã hội cụ thể gồm: Trẻ em không có nguồn nuôi dưỡng: 09 đối
tượng; Đơn thân nghèo đang nuôi con: 01 đối tượng; Người cao tuổi cô đơn
thuộc hộ nghèo: 06 đối tượng; Hưu trí xã hội: 894 đối tượng; Người khuyết tật
đặc biệt nặng: 203 đối tượng; Người khuyết tật nặng: 578 đối tượng; Hộ gia
đình, cá nhân nhận chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em không có nguồn nuôi dưỡng,
người khuyết tật đặc biệt nặng: 210 đối tượng; Đối tượng hưởng theo Nghị quyết
số 09/2022/NQ-HĐND của HĐND tỉnh Đồng Nai: 24 đối tượng.
Trong tháng 03 năm 2025, xã đã thực hiện chi trả trợ cấp cho 1.925 đối
tượng với + tổng số tiền 1,32 tỷ đồng. Trong đó, tỷ lệ chi trả không dùng tiền
mặt (qua ATM/ví điện tử) đạt 1.824/1.925 đối tượng, tương đương 94,75%.
Ngoài ra, đã hỗ trợ chi phí mai táng cho 05 trường hợp thân nhân đối tượng với
tổng số tiền 50 triệu đồng.
+ Hỗ trợ tết Nguyên đán năm 2026 cho 1.558 đối tượng hưởng trợ cấp xã
hội, hưu trí xã hội theo Nghị quyết số 26/2025/NQ-HĐND với số tiền 1,122 tỷ
đồng.
+ Nhìn chung, các chính sách trợ giúp xã hội, hưu trí xã hội trên địa bàn xã
được triển khai đồng bộ, kịp thời, đúng quy định; góp phần ổn định đời sống
Nhân dân, đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn.
+ Công tác phòng, chống tệ nạn xã hội trên địa bàn xã được cấp ủy, chính
quyền quan tâm chỉ đạo thường xuyên; triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm
phòng ngừa, phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm. 100% đối tượng
được lập hồ sơ theo dõi, quản lý. Các hành vi vi phạm pháp luật được xử lý kịp
thời theo quy định.
- Công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em và bình đẳng giới
+ Công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em được triển khai đồng bộ, đảm bảo
quyền trẻ em theo quy định 100% trẻ em dưới 6 tuổi được cấp thẻ bảo hiểm y
tế; Tỷ lệ trẻ em được tiêm chủng đầy đủ đạt trên 95%.
+ Công tác bình đẳng giới trên địa bàn xã được quan tâm triển khai thông
qua các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và lồng ghép trong
hoạt động của các ban, ngành, đoàn thể: Tổ chức tuyên truyền các chủ trương
của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về bình đẳng giới; Lồng ghép nội
dung bình đẳng giới vào các cuộc họp dân, sinh hoạt chi hội, đoàn thể; Tuyên
truyền phòng, chống bạo lực gia đình, nâng cao vai trò của phụ nữ trong gia đình
61
và xã hội. Vai trò, vị thế của phụ nữ trong gia đình và xã hội được cải thiện rõ
rệt.
- Công tác lao động việc làm
+ Phối hợp với các cơ quan cấp trên tổ chức tư vấn, giới thiệu việc làm cho
người lao động. Lao động tham gia làm việc tại các khu, cụm công nghiệp ngày
càng tăng.
+ Công tác tuyên truyền pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động cho các cơ
sở và người lao động được thực hiện thường xuyên. Các cơ sở sản xuất kinh
doanh chấp hành tương đối tốt quy định về an toàn lao động. Không có vụ tai
nạn lao động nghiêm trọng xảy ra trên địa bàn.
5.5. Công tác tôn giáo - tín ngưỡng, dân tộc
- Về tôn giáo: Trên địa bàn có 10 cơ sở tôn giáo thuộc 05 tôn giáo đang
hoạt động gồm Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Cao Đài và Phật giáo Hòa Hảo:
+ Phật giáo: Có 05 cơ sở, 01 điểm sinh hoạt tôn giáo tập trung (Đạo tràng
Thiền Lâm, ấp Suối Tượng). Chức sắc 06 người, chức việc 05 người, tín đồ
7.149 người.
+ Công giáo: Có 03 cơ sở, 04 điểm sinh hoạt ngoài cơ sở tôn giáo. Chức
sắc 04 người, chức việc 12 người, tín đồ khoảng 10.815 người.
+ Tin Lành: Có 02 Chi hội Tin Lành thuộc Hội thánh Tin Lành Việt Nam
(Miền nam), 01 điểm sinh hoạt tôn giáo tập trung Baptit Nam Phương. Chức sắc
03 người, chức việc 11 người, tín đồ 456 người.
+ Riêng đối với đạo Cao Đài tín đồ có 21 người và Phật giáo Hòa Hảo tín
đồ có 15 người không có cơ sở tôn giáo.
- Về tín ngưỡng: Trên địa bàn có 08 cơ sở tín ngưỡng thuộc các loại hình
Đình 06; Đền 01; Miếu 01. Không có cơ sở tín ngưỡng được xếp hạng di tích
cấp quốc gia đặc biệt, cơ sở tín ngưỡng được xếp hạng di tích quốc gia và cơ sở
tín ngưỡng được xếp hạng di tích cấp tỉnh. Hoạt động của các cơ sở tín ngưỡng
trên địa bàn xã chủ yếu là cầu an, cầu mùa, cầu mưa thuận gió hòa, cầu cho quốc
thái dân an, lễ giỗ các vị thần, tổ tiên, vía bà tại các miếu, đền. Nhìn chung, các
cơ sở tín ngưỡng trên địa bàn xã đều thực hiện việc đăng ký hoạt động tín
ngưỡng theo quy định. Đối với các hoạt động tín ngưỡng phát sinh đều có đăng
ký bằng văn bản gửi cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Việc tổ chức các hoạt
động tín ngưỡng luôn được đảm bảo đúng quy định của pháp luật và thuần phong
mỹ tục của địa phương, góp phần giữ vững truyền thống và bản sắc văn hóa của
dân tộc. Các cơ sở tín tín ngưỡng trên địa bàn xã điều có người đại điện hoặc
Ban quý tế quản lý do cộng đồng dân cư bầu ra.
62
- Về Dân tộc: Trên địa bàn xã Trị An hiện nay có 16 thành phần dân tộc,
trong đó dân tộc thiểu số có 425 hộ; 1663 nhân khẩu, chiếm 3.31% dân số toàn
xã. Có 02 người có uy tín tại địa bàn, là cầu nối giữa chính quyền đến với bà
con dân tộc thiểu số.
Xã có 01ấp thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số (Ấp Vĩnh An 7) theo
Quyết định số 601/QĐ-UBND ngày 10/2/2026 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng
Nai về việc phê duyệt danh sách thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền
núi, thôn đặc biệt khó khăn; xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, xã
khu vực I, II, III trên địa bàn tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2026 – 2030. UBND xã
đã thực hiện tốt các chính sách dân tộc, kịp thời xử lý những vấn đề phát sinh,
nhất là liên quan đến an ninh trật tự, thiên tai, dịch bệnh, môi trường; chú trọng
công tác chăm lo đời sống cho đồng bào dân tộc thiểu số và đồng bào theo các
tôn giáo đảm bảo đúng quy định của pháp luật, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu
quả trong công tác quản lý nhà nước về dân tộc, tôn giáo trên địa bàn.
6. Hiện trạng phát triển hạ tầng xã hội
6.1. Nhà ở
- Hiện trang nhà ở trên địa bàn xã phân bố không đều, cơ bản tập trung cao
tại khu vực thị trấn Vĩnh An cũ; trên các tuyến đường liên tỉnh ĐT.767, ĐT.768,
ĐT.762; khu vực chợ và bến xe và các tuyến đường xã và nội ấp, các trung tâm
xã cũ. Ngoài ra còn một bộ phận dân cư đang sinh sống trong khu Bảo tồn Thiên
nhiên và Văn hóa Đồng Nai. Nhà ở chủ yếu là các dãy nhà phố liên kế thấp tầng,
từ (1 - 3) tầng tập trung xung quanh các công trình hành chính trên trục đường
ĐT.767. Nhà ở riêng lẻ cơ bản có kết cấu bền vững (đạt 3 cứng);
- Hiện nay, tất cả nhà ở trên địa bàn xã đều đạt chuẩn Bộ Xây dựng và
không còn nhà tạm và nhà dột nát, đa số là nhà ở kiên cố và bán kiên cố chiếm
tỷ lệ 100%.
- Hiện trạng trên địa bàn xã không có nhà ở xã hội. Tuy nhiên, xã có bố trí
quy hoạch quỹ đất phát triển nhà ở xã hội khoảng 11ha nằm gần vị trí quy hoạch
Cụm công nghiệp Vĩnh An;
- Về nhà ở công vụ: Trên địa bàn có 04 căn nhà ở công vụ đang sử dụng
nằm trong khuôn viên trụ sở Đảng ủy.
6.2. Công trình cơ quan hành chính
Sau khi thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính, xã Trị An đã tiến hành rà soát,
bố trí lại hệ thống trụ sở cơ quan hành chính theo hướng tập trung, đồng bộ, đáp
ứng yêu cầu quản lý nhà nước trong tình hình mới. Hiện nay, trụ sở Đảng ủy,
HĐND, UBND và các tổ chức chính trị - xã hội được bố trí tại các công trình
63
kiên cố, có quy mô phù hợp, bảo đảm điều kiện làm việc cho đội ngũ cán bộ,
công chức và phục vụ nhân dân.
Trụ sở UBND xã và các phòng, ban chuyên môn được đặt tại vị trí trung
tâm, thuận lợi cho giao dịch hành chính; Trung tâm Phục vụ hành chính công
được tổ chức riêng biệt, bảo đảm thực hiện cơ chế “một cửa”, “một cửa liên
thông”, đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính. Bên cạnh đó, các cơ quan như Ban
Chỉ huy Quân sự, Công an, Trung tâm Chính trị, Trung tâm Dịch vụ tổng hợp
xã đều được bố trí trụ sở làm việc ổn định, phù hợp chức năng, nhiệm vụ.
Hệ thống trụ sở sau sáp nhập cơ bản được tận dụng từ cơ sở vật chất hiện
có của cấp huyện và các đơn vị cũ, bảo đảm tiêu chuẩn về diện tích, kết cấu, hạ
tầng kỹ thuật (điện, nước, công nghệ thông tin), đáp ứng yêu cầu hoạt động
thường xuyên và lâu dài. Các trụ sở dôi dư được bố trí sử dụng hợp lý vào mục
đích công cộng hoặc giao đơn vị quản lý, khai thác theo đúng quy định, góp
phần nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản công.
Hiện nay, hệ thống trụ sở cơ quan hành chính trên địa bàn xã được bố trí,
sắp xếp lại theo hướng tập trung, hợp lý, cụ thể như sau:
- Trụ sở Đảng ủy và các tổ chức chính trị - xã hội được bố trí tại trụ sở
Huyện ủy cũ;
- Trụ sở UBND xã và các phòng, ban chuyên môn được bố trí tại trụ sở
UBND huyện cũ;
- Trụ sở Ban Chỉ huy Quân sự xã được bố trí tại trụ sở Ủy ban MTTQ huyện
cũ và trụ sở Đội Thanh tra giao thông số 5;
- Trung tâm Phục vụ hành chính công được đặt tại Nhà một cửa UBND
huyện cũ, thực hiện chức năng tiếp nhận và giải quyết thủ tục hành chính cho tổ
chức, cá nhân;
- Trung tâm Chính trị xã Trị An được bố trí tại trụ sở Trung tâm Bồi dưỡng
chính trị huyện Vĩnh Cửu cũ;
- Trung tâm Dịch vụ tổng hợp xã được tổ chức trên cơ sở sử dụng trụ sở
Trung tâm Văn hóa - Thể thao và trụ sở Đài Truyền thanh huyện cũ.
Đối với các trụ sở UBND xã Trị An và xã Mã Đà trước đây, định hướng
sử dụng làm địa điểm sinh hoạt cộng đồng, phục vụ các thiết chế văn hóa, thể
thao, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của người dân trên địa bàn.
Các trụ sở dôi dư sau sắp xếp được giao Trung tâm Dịch vụ tổng hợp xã
quản lý, khai thác theo quy định của Nghị định số 108/2004/NĐ-CP ngày
64
23/8/2004 của Chính phủ, gồm: trụ sở UBND thị trấn Vĩnh An, trụ sở Phòng Tư
pháp và trụ sở Phòng Tài chính – Kế hoạch cũ.
Nhìn chung, tiêu chí về trụ sở cơ quan hành chính của xã Trị An cơ bản
đáp ứng yêu cầu theo quy định đối với đơn vị hành chính cấp phường, bảo đảm
điều kiện tổ chức bộ máy, phục vụ người dân và doanh nghiệp, phù hợp với định
hướng phát triển đô thị trong giai đoạn tới.
6.3. Công trình giáo dục
- Hệ thống công trình giáo dục của Trị An đầy đủ cả 3 cấp, ngoài ra xã còn
có có sở đào tạo nghề góp phần không nhỏ trong đào tạo lực lượng lao động có
tay nghề cho xã.
TT
Tên trường
Diện tích
Đạt
chuẩ
n
mức
độ
(m2)
A
Mầm non
1
Trường mầm non ấp 2
5.191
1
2
Trường mầm non đường vào nhà máy đường Trị
An
2.325
1
3
Trường Mần non Hiếu Liêm
2.728
1
4
Trường Mần non Mã Đà
9.773,30
1
4.1
Điểm Suối boon
1.502,40
1
4.2
Điểm Suối trau
273,20
1
4.3
Điểm Cây Sung
807,00
1
4.4
Điểm C3
522,00
1
4.5
Điểm Bà hào
793,00
1
5
Trường Mầm Non Sơn Ca
19.857
2
6
Trường Mầm non Phong Lan
12.298
65
B
Tiểu học
1
Trường tiểu học Trị An Đường 768
14.333
1
2
Trường tiểu học Trị An Đường dẫn cầu Hiếu Liêm
9.521
1
3
Trường Tiểu học Hiếu Liêm
16.133
1
4
Trường Tiểu học Cây Gáo B ấp VA 4
6.236
2
5
Trường Tiểu học Cây Gáo B ấp VA 3
2.132
2
6
Trường TH Kim Đồng ĐT 762
15.002
1
7
Trường TH Kim Đồng đường Lê Đại Hành
63.357
1
8
Trường TH Cây Gáo A
7.445,7
1
9
Trường TH Cây Gáo A Cơ sở 2
2527,3
1
C
Trung học cơ sở
1
Trường TH-THCS Trị An
17.094
1
2
Trường THCS Hiếu Liêm
9.612
1
3
Trường THCS Lê Quý Đôn
10.500
2
4
Trường THCS Vĩnh An
15.002,80
1
5
Trường TH&THCS Mã Đà
1
5.1
Điểm chính:
16.650
5.2
Bà Hào:
3.150
5.3
Cây Sung: 2.670
2.670
5.4
C3
1.642
5.5
Suối Tượng
714
D
Phổ thông trung học
1
Trường cấp 3 Trị An
16.746
66
2
Trường THCS THPT Hùng Vương
27.665
E
Cơ sở đào tạo nghề
1
Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục
thường xuyên
9.173
Lĩnh vực giáo dục tiếp tục phát triển theo hướng nâng cao chất lượng giáo
dục ở các cấp học. Các dự án đầu tư nâng cấp, mở rộng trường học theo hướng
đạt chuẩn quốc gia tiếp tục được triển khai thực hiện với quy mô lớn. Hệ thống
trường, lớp các cấp học được rà soát, sắp xếp lại đảm bảo hợp lý, đáp ứng ngày
càng tốt hơn nhu cầu đến trường của con em trên địa bàn. Đến nay, toàn xã có
tỷ lệ trường chuẩn quốc gia mức độ 1 là 14/14 trường đạt 100%; Tỷ lệ trường
chuẩn quốc gia mức độ 2 là 3/14 trường, đạt 21,4%. Công tác giảng dạy và học
tập được thực hiện theo đúng chương trình quốc gia, chất lượng giáo dục được
nâng lên với kết quả tốt nghiệp các cấp học hàng năm đều đạt và vượt mục tiêu
Nghị quyết đề ra. Đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên được chuẩn hóa, 100%
đạt chuẩn và trên chuẩn. Nhìn chung, hệ thống giáo dục cơ sở đầy đủ, chất lượng;
quy mô trường lớp được giữ vững, cơ sở vật chất, các trang thiết bị phục vụ dạy
và học được quan tâm đầu tư mới đảm bảo cho hoạt động giáo dục và đào tạo
của các nhà trường.)
6.4. Công trình y tế
- Trên địa bàn xã Trị An gồm có 01 Trạm y tế xã Trị An tại ấp 5 Vĩnh An
với 02 điểm y tế: điểm y tế Mã Đà và điểm y tế Trị An và 01 trung tâm y tế khu
vực Vĩnh Cửu với quy mô 200 giường bệnh.
STT
Tên công trình
Quy mô diện tích
(m
2
)
Đạt chuẩn
quốc gia
1
Điểm y tế Mã Đà
673
Đạt
2
Điểm y tế Trị An tại ấp 1 xã trị An
1.625
Đạt
3
Trạm y tế xã Trị An tại ấp Vĩnh An
5, xã Trị An
773.09
Đạt
4
Trung tâm y tế khu vực Vĩnh Cửu
25.484
Đạt
6.5. Công trình văn hóa, thể dục - thể thao
67
- Hệ thống công trình văn hóa, thể dục thể thao đầy đủ và đảm bảo cho các
hoạt động:
Bảng thống kê các công trình văn hóa, thể thao trên địa bàn xã
TT
Tên công trình
Diện tích
(m2)
A
Văn hóa
Thư viện
5.373,80
Nhà văn hóa 19 ấp
10.232,60
Trung tâm văn hóa TDTT ấp Vĩnh An 8
Trung tâm văn hóa TDTT ấp Hiếu Liêm
10.130,49
Trung tâm văn hóa TDTT ấp 1
10.154,00
B
Thể thao
Nhà thi đấu ấp Vĩnh An 8
5.777
Sân bóng đá ấp Hiếu Liêm
7.475,60
Sân bóng đá ấp 01
26.585
C
Công viên
Công viên trung tâm xã ấp Vĩnh An 8
14.089
Công viên ấp Hiếu Liêm
10.330,93
- Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” tiếp tục được
triển khai và thực hiện có hiệu quả mang lại nhiều đổi thay cả về nhận thức lẫn
hành động của người dân. Nhiều phong trào, hoạt động xây dựng mô hình văn
hóa ở cơ sở tiếp tục được triển khai đạt kết quả tốt. Hoạt động lễ hội truyền
thống được duy trì, tiếp tục bảo tồn và phát huy những giá trị di sản văn hóa
truyền thống, khơi dậy những phong tục tập quán tốt đẹp. Xã thường xuyên Tổ
chức các hoạt động văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao phục vụ nhân dân mang
lại không khí vui tươi, phấn khởi trong nhân dân. Công tác quản lý nhà nước
trên tất cả các lĩnh vực văn hóa và thông tin được chú trọng, công tác kiểm tra
68
được tăng cường, góp phần làm cho các hoạt động kinh doanh dịch vụ văn hóa,
thể thao, du lịch, thông tin và truyền thông ổn định, trật tự hơn.
- Hệ thống các thiết chế văn hóa, thể dục - thể thao, sân chơi, bãi tập, dụng
cụ luyện tập, nhà tập luyện, thi đấu các môn thể thao được quan tâm, tu sửa,
nâng cấp, xây dựng mới và chuẩn hóa, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hóa, rèn
luyện sức khỏe nâng cao thể chất, xây dựng nếp sống lành mạnh của người dân
theo hướng hiện đại và năng động. Xã có 01 công viên thể thao trên địa bàn, có
trên 25 dụng cụ tập thể dục thể thao ngoài trời đáp ứng nhu cầu luyện tập của
người dân trên địa bàn; số gia đình luyện tập thể dục thể thao thường xuyên đạt
tỷ lệ 54.69%. Một số công trình văn hóa, thể dục thể thao gồm: Thư viện, Trung
tâm văn hóa TDTT ấp Vĩnh An 8, Trung tâm văn hóa TDTT ấp Hiếu Liêm,
Trung tâm văn hóa TDTT ấp 1, Nhà thi đấu ấp Vĩnh An 8, Sân bóng đá ấp Hiếu
Liêm, Sân bóng đá ấp 01, Công viên trung tâm xã ấp Vĩnh An 8, Công viên ấp
Hiếu Liêm
6.6. Công trình thương mại - dịch vụ - du lịch
- Mạng lưới thương mại - dịch vụ thời gian qua được chú trọng đầu tư và
phát triển. Hệ thống chợ truyền thống như: chợ Vĩnh An, chợ Mã Đà, chợ Hiếu
Liêm, chợ Khu phố 1 thị trấn Vĩnh An,... với cơ sở vật chất được xây dựng kiên
cố, từng bước hiện đại hóa, đã và đang đáp ứng tốt nhu cầu mua bán trao đổi
hàng hóa, kinh doanh phục vụ đời sống sinh hoạt của người dân trên địa bàn.
Việc quản lý, hoạt động buôn bán, kinh doanh có hiệu quả đảm bảo trật tự an
toàn, văn minh thương mại, hàng hóa đa dạng phong phú đáp ứng được nhu cầu
sản xuất, kinh doanh, buôn bán phục vụ đời sống sinh hoạt người dân trên địa
bàn.
7. Hiện trạng phát triển hạ tầng kỹ thuật đô thị
7.1. Giao thông
- Đường bộ: Xã Trị An có vị trí giao thông thuận lợi với 04 tuyến đường
tỉnh lộ quan trọng (ĐT.761, ĐT.762, ĐT.767, ĐT.768) đi qua, tạo điều kiện
thuận lợi cho giao thương, thu hút đầu tư phát triển kinh tế – xã hội.
- Trong đó, tuyến đường ĐT.767 là tuyến đường giao thông trục chính
huyết mạch của địa phương, kết nối từ trung tâm hành chính xã ra tối Quốc lộ
1A, phục vụ nhu cầu đi lại, lao động của người dân đến Khu công nghiệp Sông
Mây và các vùng lân cận như khu vực Trảng Bom, Biên Hòa của tỉnh Đồng Nai
và Thành phố Hồ Chí Minh. Tuyến đường ĐT.768 dọc theo Sông Đồng Nai kết
nối với đường ĐT.762 hình thành tuyến liên vùng quan trọng từ Quốc lộ 1K
(khu vực Thành phố Hồ Chí Minh kết nối ra Quốc lộ 20, khu vực xã Dầu Giây,
69
tỉnh Đồng Nai); Tuyến đường ĐT 761 kết nối với xã Phú Lý, là tuyến chỉ dẫn
đến Khu Bảo tồn Thiên nhiên – Văn hóa Đồng Nai, Di tích Chiến khu Đ, Trung
ương Cục Miền Nam, thuận lợi cho phát triển du lịch sinh thái Hồ Trị An gắn
với du lịch về nguồn. Tất cả các ấp trên địa bàn xã đều có đường ô tô kết nối từ
trung tâm hành chính các xã đến ácc ấp, các khu dân cư đảm bảo đi lại quanh
năm, 100% tuyến đường trục chính được nhựa hóa, 98% đường liên ấp được bê
tông hóa, tạo thuận lợi cho đi lại và sản xuất. Các công trình hạ tầng kỹ thuật
kèm theo hạ tầng giao thông như hệ thống chiếu sáng, hệ thống cây xanh cũng
từng bước được thực hiện đầu tư nhằm đảm bảo an toàn giao thông và tạo cảnh
quan môi trường, diện mạo đô thị hóa ngày càng diễn ra rõ nét, khang trang,
hiện đại hơn.
- Khu vực trung tâm của xã (khu vực thị trấn Vĩnh An cũ). Có 04 tuyến phố
chính đô thị đều có vỉa hè, điện chiếu sáng, cây xanh, cây bóng mát, bao gồm
như sau:
+ Tuyến phố chính tỉnh lộ 767: Hiện trạng là tuyến đường Nguyễn Tất
Thành: Tuyến đường đã được thực hiện đầu tư với quy mô: Bề rộng mặt đường
18m, vỉa hè mỗi bên: 6,5m; dải phân cách giữa 2m, lộ giới 33m. Trên tuyến đã
được bố trí đầy đủ hệ thống điện chiếu sáng, cây xanh theo quy định.
+ Tuyến phố chính đường ĐT.762: Đường Lê Đại Hành: Tuyến đường
thuộc trong dự án: đường Quang Trung và đường Lê Đại Hành đấu nối ra đường
ĐT.768 nối dài và đường ĐT.762, huyện Vĩnh Cửu đã được UBND tỉnh phê
duyệt dự án tại Quyến định số 140/QĐ-UBND ngày 02/02/2023. Hiện nay dự
án đang được Ban Quản lý Dự án khu vực 09 đang triển khai thực hiện công tác
Bồi thường giải phóng mặt bằng.
+ Tuyến phố chính đường ĐT.768 (tuyến phố đường Phan Chu Trinh):
Hiện trạng đoạn tuyến từ TTGDNN-GDTX đến giáp đường ĐT.762 đã được
thực hiện đầu tư hoàn thành hệ thống vỉa hè, chiếu sáng, cây xanh đô thị. Đảm
bảo yêu cầu của tiêu chí đô thị văn minh.
+ Tuyến phố đường N6: (đường Quang Trung) Hiện trạng đoạn tuyến từ
giáp đường Lê Quý Đôn đến ngã tư giao với đường ĐT.768 (đường Phan Chu
Trinh) đã được thực hiện đầu tư hoàn thiện theo quy hoạch với quy mô lộ giới
22m, bề rộng mặt đường 12m, vỉa hè mỗi bên rộng 05m.
- Trong tương lai cầu Mã Đà hình thành với đường ĐT.761 kết nối từ
Phường Đồng Xoài về đường Vành đai 4 mở ra nhiều cơ hội phát triển cho địa
phương, Trị An sẽ là điểm trung tâm trên trục tuyến kết nối giữa khu vực phía
bắc tỉnh Đồng Nai (khu vực tỉnh Bình Phước cũ), khu vực Tây nguyên với khu
vực phía nam tỉnh Đồng Nai để kết nối vào tuyến đường Vành đai 4 đi Sân bay
70
Long Thành và cảng Phước An, cảng Cái mép – Thị Vải. Việc hình thành tuyến
đường sẽ càng nâng cao vị thế và tầm quan trọng trong việc liên kết, kết nối
vùng với các địa phương khác của khu vực xã Tri An
- Đường thủy nội địa (nếu có): Với diện tích mặt nước Hồ Trị An 13 ngàn
ha/32 ngàn ha với 40 đảo lớn nhỏ, chiều dài tiếp giáp mặt nước Hồ Trị an khoảng
50Km, hệ thống vận tải đường thủy chủ yếu đáp ứng nhu cầu nuôi trồng thủy
hải sản của nhân dân trong khu vực lòng hồ Trị An.
7.2. Thủy lợi
Xã Trị An có 03 công trình thủy lợi, trong đó có 02 công trình phục vụ tưới
(Trạm bơm Trị An 1, Trạm bơm Hiếu Liêm) phục vụ tưới nước cho cây ăn trái
và cây công nghiệp dài ngày với quy mô khoảng 446,67 ha/ năm và 01 công
trình phục vụ tiêu nước (Công trình Suối Sâu) phục vụ tiêu nước trên diện tích
467,64ha. Hiện nay, 03 công trình thủy lợi trên địa bàn xã đang được Trung tâm
Dịch vụ nông nghiệp khu vực 1 quản lý, vận hành.
7.3. Cấp điện
Nguồn cấp điện: Xã Trị An được cấp điện từ lưới điện quốc gia, thông qua
hệ thống điện của tỉnh Đồng Nai. Nguồn điện tương đối ổn định, đáp ứng nhu
cầu sinh hoạt và sản xuất của người dân trên toàn xã. Khu vực gần hồ Trị An và
nhà máy thủy điện Trị An có lợi thế về nguồn điện, tuy nhiên việc phân phối
vẫn phụ thuộc vào hệ thống lưới chung.
Mạng lưới truyền tải và phân phối điện: Hiện nay, trên địa bàn xã Trị An,
mạng lưới điện gồm hệ thống đường dây trung thế 22kV và lưới điện hạ thế
0,4kV đã được đầu tư tương đối hoàn chỉnh. Tổng chiều dài lưới điện ước tính
khoảng 95 km, trong đó đường dây trung thế khoảng 25 km và lưới điện hạ thế
khoảng 70 km, đảm bảo cung cấp điện đến hầu hết các khu dân cư trên địa bàn
xã. Tỷ lệ hộ dân sử dụng điện đạt gần 100%, điện phục vụ sinh hoạt hộ gia đình,
điện phục vụ sản xuất nông nghiệp và điện phục vụ tiểu thủ công nghiệp. Một
số khu vực dân cư phân tán, vùng xa trung tâm như các ấp Cây Sung, Suối
Tượng, Suối Rộp đường dây kéo dài, gây sụt áp cuối nguồn, chất lượng điện
chưa ổn định vào giờ cao điểm. Tuy nhiên, đến nay hệ thống trạm biến áp phân
phối phục vụ từng khu vực dân cư thuộc các ấp Cây Sung, Suối Tượng, Suối
Rộp đã được nâng công suất để đáp ứng nhu cầu của nhân dân.
Hạ tầng điện tại xã Trị An đã đáp ứng tiêu chí cấp điện không chỉ bảo đảm
nhu cầu sinh hoạt và sản xuất mà còn là nền tảng quan trọng để xã Trị An phát
triển kinh tế – xã hội và đủ điều kiện nâng cấp lên phường vào năm 2026.
7.4. Cấp nước
71
Trên địa bàn toàn xã có 04 nhà máy cấp nước sạch tập trung với tổng công
suất lên tới 5.240m3/ngày đêm (bao gồm: Nhà máy nước sạch Vĩnh An công
suất 4.000m3/ngày đêm; Trạm nước cấp nước tập trung Mã Đà 420m3/ngày
đêm; Trạm nước cấp nước tập trung Hiếu Liêm 580m3/ngày đêm; Trạm cấp
nước tập trung Trị An 240m3/ngày đêm) với tổng chiều dài các tuyến ống cấp
nước trên địa bàn xã là 120,36 Km, trong đó Công ty cổ phần cấp nước Đồng
Nai đang quản lý vận hành là 68,088 Km, Trung tâm dịch vụ nông nghiệp tỉnh
quản lý vận hành là 52,278 Km, tỷ lệ hộ dân trên địa bàn xã sử dụng nước sạch
tập trung tính đến hết năm 2025 đạt 83%.
7.5. Thoát nước thải và vệ sinh môi trường
- Thoát nước mưa, nước thải sinh hoạt
Tổng khối lượng nước thải sinh hoạt phát sinh trên địa bàn xã khoảng 3.739
m
3
/ ngày đêm; hầu hết lượng nước thải sinh hoạt được đưa vào bể tự hoại, thẩm
thấu hoặc qua bể lắng trước khi chảy ra mương thoát nước ra môi trường tự
nhiên;
Đối với nước mưa được chảy vào hệ thống mương thoát nước trên các
tuyến đường giao thông và chảy tràn theo địa hình tự nhiên;
Thực tế trên địa bàn xã chưa được đầu tư nhà máy thu gom, xử lý nước thải
đảm bảo theo quy định (trừ Khu tái định cư tại điểm dân cư số 6, ấp Hiếu Liêm,
xã Trị An).
- Thoát nước thải công nghiệp
Trên địa bàn xã Trị An không có các khu, cụm công nghiệp nên chưa xây
dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung; đối vơi các cơ sở hoạt động sản xuất
kinh doanh trên địa bàn xã hầu hết đáp ứng các yêu cầu thực hiện về bảo vệ môi
trường đối với nước thải phát sinh từ hoạt động sản xuất, kinh doanh.
- Xử lý chất thải rắn
Chất thải rắn sinh hoạt: Tổng khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh
trên địa bàn khoảng 8.500 tấn/ năm; chất thải rắn sinh hoạt sau khi được thu
gom, vận chuyển về Công ty Cổ phần Môi trường Sonadezi (địa bàn xã Tân An)
để xử lý theo hợp đồng đã ký đảm bảo xử lý chất thải rắn sinh hoạt bằng phương
pháp sản xuất mùn hữu cơ (compost) đảm bảo tỷ lệ chôn lấp dưới 15%.
Chất thải rắn công nghiệp thông thường: Tổng khối lượng chất thải rắn
công nghiệp thông thường phát sinh trên địa bàn 707,23 tấn/ năm, được thu gom,
xử lý theo quy định.
72
Chất thải nguy hại: Các cơ sở/doanh nghiệp trên địa bàn xã đã thực hiện
hợp đồng với đơn vị có chức năng thu gom, xử lý theo đúng quy định; thu gom,
xử lý 100% chất thải nguy hại, trong đó:
- Tổng khối lượng chất thải nguy hại phát sinh trên địa bàn xã khoảng 2.200
kg/năm.
- Chất thải y tế nguy hại phát sinh trên địa bàn xã khoảng 1.100 kg/năm.
8. Quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội
8.1. Quốc phòng
Qua các giai đoạn phát triển, lực lượng vũ trang xã không ngừng lớn mạnh,
từ lực lượng ban đầu còn đơn giản, đến nay đã được tổ chức chặt chẽ, đủ thành
phần, thường xuyên được huấn luyện, bồi dưỡng nâng cao trình độ, khả năng
sẵn sàng chiến đấu. Phát huy tốt vai trò nòng cốt trong bảo vệ địa bàn, phòng
chống thiên tai, cứu hộ cứu nạn, tham gia xây dựng nông thôn mới và phát triển
kinh tế – xã hội.
Trong thời gian qua, cùng với quá trình phát triển kinh tế – xã hội, tình hình
quốc phòng – an ninh trên địa bàn cơ bản được giữ vững, tạo điều kiện thuận lợi
cho việc xây dựng đề án thành lập phường.
Lực lượng dân quân tự vệ được tổ chức, xây dựng bảo đảm tỷ lệ theo quy
định đúng quy định. Lực lượng dự bị động viên được đăng ký, quản lý chặt chẽ.
Công tác tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ hàng năm đạt 100% chỉ
tiêu. Tổ chức huấn luyện dân quân tự vệ đúng kế hoạch, nội dung. Duy trì
nghiêm chế độ trực sẵn sàng chiến đấu, phối hợp với các lực lượng xử lý kịp
thời các tình huống phát sinh. Xây dựng phương án phòng thủ phù hợp với đặc
điểm địa bàn. Chủ động phòng chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn, đặc biệt trong
mùa mưa lũ tại khu vực Hồ Trị An.
8.2. An ninh và trật tự an toàn xã hội
Trong năm qua, tình hình an ninh chính trị trên địa bàn luôn giữ vững ổn
định, không xảy ra đột xuất, bất ngờ, các mục tiêu trọng điểm được đảm bảo an
toàn; tội phạm, TNXH, cháy nổ, tai nạn giao thông được kiềm chế và làm giảm
qua các năm... tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và
đảm bảo, quốc phòng, an ninh trên địa bàn. Phong trào toàn dân bảo vệ ANTQ
tiếp tục có những chuyển biến tích cực, thu hút nhiều quần chúng nhân dân tham
gia; lực lượng bảo vệ an ninh trật tự ở cơ sở được củng cố, kiện toàn; có một số
mô hình phát huy được vai trò tự quản, tự phòng của nhân dân ngay tại cộng
73
đồng dân cư (tổ liên gia PCCC, tổ tự quản về ANTT, nhóm Zalo kết nối bình
yên...). Triển khai thực hiện tốt các kế hoạch chuyên đề đấu tranh tội phạm có
tổ chức, tội phạm ma túy và tệ nạn xã hội, kế hoạch chuyển hóa địa bàn trọng
điểm, phức tạp về trật tự, an toàn xã hội, xây dựng xã hội an toàn giai đoạn 2017
- 2025 và tầm nhìn đến năm 2030; công tác tiếp nhận tin báo, tố giác tội phạm,
điều tra, xử lý tội phạm đã đạt được kết quả cao, không để xảy ra oan sai, bức
cung, nhục hình; việc thực hiện cải cách hành chính, chuyển đổi số trong công
tác đảm bảo an ninh trật tự được thực hiện mạnh mẽ, đáp ứng tốt hơn nhu cầu
của người dân. Lực lượng Công an xã đã bám sát cơ sở, gắn bó mật thiết với
nhân dân, giữ gìn bình yên ngay từ địa bàn dân cư, góp phần củng cố niềm tin
của nhân dân đối với Đảng, nhà nước và lực lượng Công an nhân dân. Bên cạnh
đó, tình hình tội phạm, tai nạn giao thông, cháy nổ tuy được kiềm chế và làm
giảm nhưng chưa bền vững, còn tiềm ẩn những yếu tố diễn biến phức tạp, nhất
là trên không gian mạng, tội phạm lợi dụng công nghệ cao
9. Tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ công chức
9.1. Đảng ủy
Đảng bộ xã Trị An được thành lập theo Quyết định số 2329-QĐ/TU ngày
16/6/2025 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, trên cơ sở sáp nhập 03 đơn vị hành
chính cũ gồm: thị trấn Vĩnh An, xã Trị An, xã Mã Đà.
Toàn Đảng bộ có 40 tổ chức đảng gồm: 10 đảng bộ cơ sở; 11 chi bộ cơ sở
và 19 chi bộ trực thuộc Đảng ủy xã với 1.512 đảng viên (trong đó, số lượng
trường học, Trạm Y tế xã, doanh nghiệp Nhà nước trên địa bàn mà có tổ chức
đảng trực thuộc Đảng ủy xã là 17 chi bộ, đảng bộ cơ sở).
Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ xã hiện có 25/28 đồng chí (khuyết 03
đồng chí); Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy xã có 09/09 đồng chí; Thường trực
Đảng ủy xã có 03/03 đồng chí (bao gồm: Bí thư Đảng ủy – Chủ tịch Hội Đồng
nhân dân xã, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy xã, Phó Bí thư Đảng ủy – Chủ
tịch Ủy ban nhân dân xã); Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy xã có 04 đồng chí
(trong đó có 01 đồng chí là chuyên viên cơ quan Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy xã).
Đảng ủy xã có 03 cơ quan tham mưu, giúp việc (gồm: Văn phòng Đảng ủy
xã, Ban Xây dựng Đảng Đảng ủy xã, Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy xã) và 01 đơn
vị sự nghiệp trực thuộc Đảng ủy xã (Trung tâm chính trị Trị An).
9.2. Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân
Căn cứ Nghị quyết của Thường trực HĐND tỉnh về việc chỉ định đại biểu
HĐND huyện Vĩnh Cửu nhiệm kỳ 2021 - 2026 làm đại biểu HĐND xã Trị An
khóa XII, nhiệm kỳ 2021 – 2026; Nghị quyết của Thường trực HĐND tỉnh về
74
việc chỉ định Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND, Trưởng các Ban của HĐND xã Trị
An khóa XII, nhiệm kỳ 2021 – 2026; Căn cứ việc sáp nhập đơn vị hành chính 3
xã Mã Đà, Trị An, thị trấn Vĩnh An;
HĐND xã Trị An có 98 đại biểu trong đó: Chủ tịch HĐND xã là Bí thư
Đảng ủy xã, 1 Phó Chủ tịch, 1 1Trưởng Ban Văn hóa-Xã hội là Chủ nhiệm Ủy
ban kiểm tra Đảng ủy xã, 1 Trưởng ban Kinh tế-Ngân sách là Chủ tịch Ủy ban
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã; mỗi Ban có 1 Phó Ban chuyên trách và 3 ủy
viên.
Ủy ban nhân dân xã gồm 01 Chủ tịch, 02 Phó Chủ tịch và các Ủy viên Ủy
ban nhân dân. Hiện UBND xã Trị An có 03 cơ quan chuyên môn và 01 tổ chức
hành chính, 16 đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc.
Vị trí việc làm: Hiện nay, 19 cơ quan, đơn vị đã hoàn thành việc xây dựng
Đề án vị trí việc làm và được cấp có thẩm quyền phê duyệt làm căn cứ tổ chức
thực hiện. Việc xây dựng Đề án vị trí việc làm được triển khai trên cơ sở bám
sát các quy định của cấp trên, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và
cơ cấu tổ chức của từng cơ quan, đơn vị; qua đó làm cơ sở quan trọng cho công
tác quản lý, sử dụng và bố trí đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Sau khi
được phê duyệt, các cơ quan, đơn vị đã tổ chức triển khai thực hiện nghiêm túc;
bước đầu phát huy hiệu quả trong việc phân công nhiệm vụ, nâng cao trách
nhiệm của từng cá nhân, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động
của cơ quan, đơn vị.
Quy chế làm việc: Các cơ quan, đơn vị đã xây dựng, ban hành quy chế làm
việc theo đúng quy định, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ
cấu tổ chức của từng cơ quan, đơn vị. Nội dung quy chế làm việc cơ bản bảo
đảm đầy đủ các nguyên tắc làm việc, chế độ trách nhiệm của người đứng đầu,
mối quan hệ công tác, chế độ hội họp, thông tin báo cáo và quy trình giải quyết
công việc.
9.3. Mặt trận Tổ quốc và các Đoàn thể: gồm cơ quan Ủy ban Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam xã và 04 tổ chức chính trị - xã hội (Hội Nông dân, Hội Liên hiệp
Phụ nữ, Hội Cựu Chiến binh, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh).
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã gồm 1 Chủ tịch và 4 phó Chủ tịch
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đồng thời là Chủ tịch phụ nữ, hội nông dân,
cựu chiến binh và đoàn Thanh niên. Cán bộ công chức là 11 người.
9.4. Cán bộ, công chức cấp xã
- Tổng số cán bộ, công chức, viên chức, người lao động cơ quan, đơn vị sự
nghiệp công lập thuộc Đảng ủy, HĐND, UBND, UBMTTQVN xã là 102 người,
75
trong đó Đảng ủy xã 24 (trong đó: có 01 hợp đồng 111), cơ quan Ủy ban Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam xã và các tổ chức chính trị - xã hội 17 (trong đó: có 01
hợp đồng 111), cơ quan hành chính là 61.
Đội ngũ cán bộ, công chức hiện nay cơ bản bảo đảm theo quy định, đáp
ứng yêu cầu nhiệm vụ quản lý nhà nước tại địa phương, có trình độ chuyên môn,
nghiệp vụ phù hợp với vị trí việc làm.
+ Trình độ chuyên môn: Thạc sỹ: 14, Đại học: 96, Hợp đồng 111: 02.
+ Trình độ chính trị: Cao cấp: 18, Trung cấp: 68, Sơ cấp: 02.
Cán bộ không chuyên trách xã là 11, cán bộ không chuyên trách ở ấp 39.
- Công tác đào tạo, bồi dưỡng được quan tâm, thường xuyên cử cán bộ đi
đào tạo nhằm đáp ứng tiêu chuẩn ngạch, bậc và yêu cầu vị trí việc làm.
IV. Đối với xã Tân Phú
1. Vị trí địa lý, địa giới hành chính và vai trò chức năng
1.1. Vị trí địa lý, địa giới hành chính: Xã Tân Phú tiếp giáp với các đơn vị
hành chính như sau:
- Phía Bắc giáp xã Tà Lài và xã Nam Cát Tiên.
- Phía Tây giáp xã Phú Vinh và xã Phú Hòa.
- Phía Đông giáp xã Phú Lâm.
- Phía Nam giáp xã Phú Hòa và tỉnh Lâm Đồng.
1.2. Vai trò chức năng
Xã Tân Phú được xác định là xã Trung tâm của khu vực phía Đông của tỉnh
Đồng Nai, có vị trí tiếp giáp các xã: Tà Tài, Nam Cát Tiên, Phú Lâm, Phú Hòa,
Phú Vinh và một phần tiếp giáp tỉnh Lâm Đồng (khu vực sông La Ngà).
Cơ sở hạ tầng điện, đường, trường, trạm trên địa bàn xã cơ bản đã được
đầu tư, xây dựng; dân số lớn, nguồn nhân lực dồi dào; trên địa bàn có 01 bến xe
khách, 02 chợ, 01 khu công nghiệp hoạt động hiệu quả, có Quốc lộ 20 chạy qua
địa bàn với chiều dài khoảng 10 km, nằm trên tuyến du lịch quan trọng thành
phố Hồ Chí Minh - Đà Lạt (Lâm Đồng) đóng vai trò cửa ngõ giao thông, kết nối
kinh tế giữa tỉnh Đồng Nai với các khu vực lân cận với đồng thời có diện tích
đất sản xuất nông nghiệp lớn phù hợp cho xây dựng, phát triển trang trại chăn
nuôi, nuôi trồng thủy sản và trồng các loại cây ăn trái có giá trị cao như: Sầu
riêng, Mít, Bưởi, chôm chôm... thuận lợi cho phát triển kinh tế, xã hội, công
nghiệp và thương mại, dịch vụ trên địa bàn.
Trong những năm qua, xã Tân Phú luôn là một trong những địa phương có
76
tốc độ phát triển kinh tế mạnh và đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ. Cơ
cấu kinh tế giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng dần tỷ trọng thương mại dịch vụ,
công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp. Địa phương đã phát huy lợi thế trong phát
triển thương mại - dịch vụ đa dạng, cùng với sự tham gia của nhiều thành phần
kinh tế, tạo nếp sống đô thị thay đôi theo hướng văn minh - hiện đại. Hệ thống
các khu thương mại dịch vụ lớn như: Chợ Trung tâm xã Tân Phú, bến xe Tân
Phú, các cửa hàng điện máy máy xanh, Thế giới di động, Bách Hóa xanh... Diện
mạo Tân Phú còn có sự thay đổi đáng kể với các dự án Khu tái định cư 9,7ha,
Khu Tái định cư 15 ha, Khu dân cư kết hợp thương mại dịch vụ 55ha, Khu Công
nghiệp Tân Phú, Khu công viên thể dục thể thao, Trung Tâm y tế Tân Phú,...
đây là một trong những khu vực được xây dựng đồng bộ, hiện đại, tạo điều kiện
cho sự phát triển kinh tế - xã hội cũng như thu hút đầu tư từ các nguồn bên ngoài
vào xã Tân Phú nói riêng và tỉnh Đồng Nai nói chung.
Với lợi thế về vị trí cùng sự phát triến về kinh tế - xã hội, xã Tân Phú đang
đứng trước nhiều cơ hội phát triến mới trên lộ trình trở thành phường trong giai
đoạn tới. Đây vừa là sự phản ánh thực tiễn phát triển, vừa là tâm huyết của Đảng
bộ, chính quyền và các tầng lớp nhân dân xã sau nhiều năm nỗ lực phấn đấu.
2. Diện tích tự nhiên và cơ cấu các loại đất
2.1. Diện tích tự nhiên: Tổng diện tích tự nhiên là 105,8 km².
2.2. Cơ cấu các loại đất: Theo số liệu kiểm kê đất đai năm 2024 và số liệu
Thống kê đất đai năm 2025, cơ cấu các loại đất nhóm đất nông nghiệp là
9.242,12 ha (chiếm tỷ lệ 87,35%) chủ yếu là đất trồng cây lâu năm (6.515,62
ha) và cây hàng năm (1.649,81 ha); nhóm đất phi nông nghiệp: 1.337,96 ha
(chiếm tỷ lệ 12,65%), trong đó đất ở là 478,33 ha; nhóm đất chưa sử dụng: 0,26
ha (0,002%).
3. Dân số, cơ cấu lao động và thành phần dân cư
3.1. Dân số: Tổng dân số trên địa bàn xã có 77.025 người (trong đó: Dân
số thường trú 74. 982 người, dân số tạm trú: 2.043 người) thể hiện chi tiết theo
Bảng Dân số toàn xã Tân Phú phân theo ấp năm 2026 như sau:
STT
ẤP
HỘ
THƯỜNG
TRÚ
NHÂN
KHẨU
THƯỜNG
TRÚ
HỘ TẠM
TRÚ
NHÂN
KHẨU
TẠM
TRÚ
1
Tân Phú 1
361
2071
16
35
2
Tân Phú 2
443
2045
37
77
3
Tân Phú 3
359
1960
44
85
77
4
Tân Phú 4
538
2426
20
40
5
Tân Phú 5
698
3219
23
55
6
Tân Phú 6
946
5183
58
106
7
Tân Phú 7
468
2056
50
103
8
Tân Phú 8
529
2265
29
57
9
Tân Phú 9
686
3181
41
75
10
Trà Cổ 10
626
2694
41
73
11
Trà Cổ 11
630
2872
9
60
12
Trà Cổ 12
440
1903
32
45
13
Trà Cổ 13
360
1674
16
35
14
Phú Lộc 14
467
2021
32
75
15
Phú Lộc 15
364
1548
18
39
16
Phú Lộc 16
666
3164
67
177
17
Phú Lộc 17
339
1369
17
50
18
Phú Lộc 18
217
1127
20
37
19
Thanh Thọ
419
2090
30
44
20
Thọ Lâm
554
2329
8
12
21
Ngọc Lâm 1
772
3576
47
201
22
Ngọc Lâm 2
832
4140
53
181
23
Ngọc Lâm 3
484
2266
38
76
24
Bàu Chim
398
1828
18
61
25
Thọ Lâm 1
787
3862
20
52
26
Thọ Lâm 2
664
3281
24
65
27
Ngọc Lâm 4
615
3054
23
11
28
Ngọc Lâm 5
530
2635
36
1
29
Bàu Mây
628
3143
42
115
TỔNG
15820
74982
909
2043
3.2. Cơ cấu lao động: Trong năm 2025 xã Tân Phú có 38.426 lao động
trong độ tuổi lao động; số lao động trong độ tuổi đang làm việc là 29.758 lao
động, trong đó số lao động nông nghiệp là 8.279 người chiếm 27,8% và tổng số
lao động phi nông nghiệp là 21.479 người, chiếm 72,18% (bao gồm các ngành
như: công nghiệp, xây dựng, chế tạo, thương nghiệp, vận tải, kinh doanh).
4. Hiện trạng phát triển kinh tế.
4.1. Chỉ tiêu phát triển kinh tế gồm: cơ cấu ngành, thu nhập bình quân đầu
người, tỷ lệ hộ nghèo, lao động phi nông nghiệp...
4.2. Phát triển các ngành, lĩnh vực
78
- Về công nghiệp - xây dựng: Tiếp tục khẳng định vai trò trung tâm công
nghiệp của cả vùng (huyện Tân Phú cũ); đã có những đóng góp đáng kể trong
quá trình phát triển kinh tế - xã hội của xã, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế
theo hướng công nghiệp. Với 01 khu công nghiệp Tân Phú hiện hữu với quy mô
54ha, và đang triển khai mở rộng khu công nghiệp Tân Phú giai đoạn 2 với quy
mô tổng khu công nghiệp Tân Phú khoảng 300ha. Khu công nghiệp đã thu hút
nhiều vốn đầu tư của các thành phần kinh tế và giải quyết việc làm cho nhiều
lao động trên địa bàn. Nhiều doanh nghiệp đã mở rộng sản xuất và đạt mức tăng
trưởng cao, góp phần đáng kể vào tốc độ tăng trưởng công nghiệp trên địa bàn
thành phố, chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại địa phương.
- Về thương mại - dịch vụ: Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch
vụ năm 2025 đạt 2.331.618 triệu đồng, tăng 114,21% so với năm 2024.
Các cơ sở thương mại trên địa bàn xã thời gian qua tăng nhanh về số lượng
và chất lượng, cùng với đó là sự phát triển phong phú, đa dạng về ngành nghề,
mở rộng về qui mô, với 4.069 hộ sản xuất kinh doanh cá thể, chủ yếu tập trung
vào các ngành thương mại dịch vụ, VLXD, dịch vụ vận tải, sửa chữa. Toàn xã
có 2 chợ (01 chợ hạng 1 và 01 chợ hạng 2), 04 cửa hàng bách hoá xanh tổng
hợp, 01 cửa hàng WINMART tổng hợp, 02 cửa hàng tiện lợi (siêu thị mini) và
nhiều cửa hàng thương mại của các doanh nghiệp, hộ kinh doanh được hình
thành (tập trung chủ yếu ở 2 bên trục đường Quốc lộ 20 và các tuyến đường
trung tâm xã) đáp ứng đủ nhu cầu mua sắm hàng hoá của Nhân dân trên địa bàn
và phục vụ cung cấp cho các xã vùng lân cận.
Hoạt động của các loại hình dịch vụ phát triển mạnh trên các lĩnh vực như:
bưu chính viễn thông, tài chính - tín dụng, vận chuyển hành khách, hàng hoá...
Riêng dịch vụ ngân hàng trên địa bàn xã có 02 Chi nhánh ngân hàng đang hoạt
động, 05 điểm ATM và 01 Quỹ tín dụng nhân dân.
- Về sản xuất nông - lâm - thủy sản: Trong những năm gần đây, ngành nông
nghiệp tiếp tục có nhiều chuyển biến tích cực, phát triển đáp ứng được nhu cầu
thị trường tiêu thụ; các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất được chuyển
giao và ứng dụng hiệu quả góp phần nâng cao năng suất, chất lượng nông sản;
các vùng trồng, vùng nuôi tập trung, chuyên canh đã hình thành ổn định và tiếp
tục mở rộng; hiệu quả sử dụng đất trong sản xuất nông nghiệp ngày càng cao
(giá trị sản phẩm trồng trọt đạt bình quân 220 triệu đồng/ha); cơ cấu cây trồng,
vật nuôi được đưa vào sản xuất phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu, năng
suất, chất lượng từng bước đáp ứng được nhu cầu thị trường trong nước và xuất
khẩu; một số đối tượng nông sản chủ lực có giá trị kinh tế cao phát triển ổn định
(sầu riêng, chuối cấy mô, tôm càng xanh; trang trại heo, gà vịt công nghệ cao).
79
5. Hiện trạng phát triển văn hóa - xã hội
5.1. Giáo dục và Đào tạo
- Về quy mô mạng lưới trường lớp: Trên địa bàn xã có 4 cấp học gồm:
Trung học phổ thông, Trung học cơ sở, Tiểu học, Mầm non. Trong đó: 01 trường
Trung học phổ thông và 01 Trung tâm Giáo dục thường xuyên – Giáo dục nghề
nghiệp trực thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo quản lý.
UBND xã quản lý 19 trường công lập (gồm: 06 trường Mầm non, 07 trường
Tiểu học, 06 trường Trung học sơ sở); 02 trường Mầm non ngoài công lập và
04 nhóm trẻ. Tổng số lớp: 369 lớp, trong đó: Mầm non 102 lớp, Tiểu học 163
lớp, Trung học sơ sở 104 lớp. Có 16/19 trường học được công nhận chuẩn quốc
gia Mức độ 1, và 03/19 trường đạt chuẩn quốc gia Mức độ 2. Nhìn chung, mạng
lưới trường lớp đã được quy hoạch và bố trí cơ bản phù hợp với điều kiện thực
tế của địa phương. Tất cả các trường học đều có đủ phòng học kiên cố.
- Quy mô học sinh: Tính đến hết học kỳ I năm học 2025-2026, tổng số học
sinh trên địa bàn là 12.502 học sinh. Trong đó: bậc Mầm non 2.826 học sinh;
bậc Tiểu học 5.308 học sinh; bậc Trung học cơ sở 4.368 học sinh. Quy mô học
sinh các cấp học có xu hướng tăng, chủ yếu tập trung ở bậc tiểu học và THCS.
- Tình hình đội ngũ cán bộ, viên chức, nhân viên ngành giáo dục: Tổng số
cán bộ quản lý, giáo viên và nhân viên hiện có 763 người, trong đó: Cán bộ quản
lý 46 người, giáo viên 580 người, nhân viên 137 người. Các trường có đội ngũ
cán bộ quản lý, giáo viên cơ bản đáp ứng yêu cầu về số lượng và trình độ đào
tạo theo quy định. Hầu hết giáo viên đạt chuẩn trình độ đào tạo, giáo viên được
tham gia đầy đủ các lớp tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn về nội dung, phương
pháp dạy học, kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển phẩm chất và năng
lực học sinh. Giáo viên cơ bản đáp ứng yêu cầu giảng dạy 02 buổi/ngày, các
trường chủ động phân công giáo viên giảng dạy phù hợp với năng lực, sở trường,
đảm bảo thực hiện đầy đủ các môn học, hoạt động giáo dục.
- Công tác Phổ cập giáo dục: Năm 2025, xã Tân Phú đạt chuẩn phổ cập
giáo dục, trong đó xoá mù chữ đạt mức 2; tiểu học mức độ 3; phổ cập THCS đạt
mức 3; THPT đạt theo quy định tại Nghị định số 20/2014/NĐ-CP ngày
24/3/2014 của Chính phủ về phổ cập giáo dục, xóa mù chữ. Huy động 100% trẻ
6 tuổi ra lớp; tuy nhiên, kinh phí chi hỗ trợ cho công tác phổ cập giáo dục, xóa
mù chữ còn hạn chế và không có biên chế thực hiện công tác Phổ cập giáo dục.
5.2. Y tế và Công tác Bảo trợ xã hội
- Hệ thống cơ sở y tế: Hiện nay, mạng lưới y tế trên địa bàn xã Tân Phú
bao gồm 01 Trung tâm Y tế và 01 Trạm Y tế xã, 02 phòng khám tư nhân (Việt
80
Hương và Vạn Thành) đảm bảo công tác chăm sóc sức khỏe toàn diện cho nhân
dân.
+ Trung tâm Y tế: Được thành lập từ năm 1991, đóng vai trò là đơn vị điều
trị trọng điểm của khu vực. Tổng số định biên là 206 cán bộ, nhân viên y tế.
Trong đó bao gồm: 02 Bác sĩ Chuyên khoa II, 09 Bác sĩ Chuyên khoa I, 31 Bác
sĩ, 18 Y sĩ, 67 Điều dưỡng, 12 Dược sĩ, 13 Kỹ thuật viên và các chức danh
chuyên môn khác. Quy mô 200 giường bệnh nội trú. Hiệu suất hoạt động đạt
bình quân 529 lượt khám ngoại trú/ngày và 130 lượt điều trị nội trú/ngày.
+ Trạm Y tế xã Tân Phú: Được hình thành trên cơ sở hợp nhất 05 Trạm Y
tế của các đơn vị hành chính cũ (Trà Cổ, Phú Lộc, Phú Thanh, Phú Xuân và Thị
trấn Tân Phú). Đây là đơn vị sự nghiệp y tế công lập trực thuộc sự quản lý nhà
nước của UBND xã Tân Phú. Với đội ngũ viên chức y tế gồm 32 người (03 Bác
sĩ, 11 Điều dưỡng, 06 Nữ hộ sinh, 09 Y sĩ, 02 Dược sĩ, 01 Kỹ sư). Hệ thống y tế
cơ sở được củng cố bởi 29 cộng tác viên y tế ấp và 66 cộng tác viên dân số. Tỷ
lệ bao phủ Bảo hiểm y tế toàn dân trên địa bàn đạt trên 95%. Duy trì hoạt động
tại 05 điểm trạm với quy mô 25 giường bệnh; tiếp nhận khám và điều trị bình
quân trên 20 lượt bệnh nhân/ngày.
- Công tác An toàn thực phẩm: Địa phương triển khai quyết liệt các biện
pháp phòng ngừa ngộ độc thực phẩm; chủ động phối hợp điều tra, truy xuất và
giám sát chặt chẽ các nguy cơ ô nhiễm thực phẩm trên địa bàn. Trong thời gian
qua, công tác kiểm tra chuyên ngành được thực hiện nghiêm túc, đúng quy định
pháp luật; không để xảy ra các vụ ngộ độc thực phẩm hay sự cố về an toàn vệ
sinh thực phẩm trên địa bàn.
- Công tác Bảo trợ xã hội: UBND xã triển khai thực hiện đầy đủ, kịp thời
các chính sách an sinh xã hội cho 3.424 đối tượng bảo trợ xã hội. Trong đó, thực
hiện chi trả chế độ hưu trí xã hội cho 1.689 người và trợ cấp khuyết tật cho 1.735
người. Công tác chi trả được hiện đại hóa thông qua hệ thống tài khoản ngân
hàng, đảm bảo tính chính xác, minh bạch và đúng thời gian quy định của Nhà
nước.
5.3. Văn hóa thông tin, thể dục thể thao
- Về phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”: Phong
trào ngày càng đi vào chiều sâu và đạt hiệu quả thực chất. Tính đến năm 2025,
tỷ lệ hộ gia đình được công nhận danh hiệu “Gia đình văn hóa” đạt 98%; 100%
ấp giữ vững danh hiệu “Ấp văn hóa”. Công tác xây dựng nếp sống văn minh
trong việc cưới, việc tang và lễ hội có chuyển biến tích cực; các hủ tục lạc hậu
dần được bãi bỏ, tinh thần đoàn kết cộng đồng được củng cố vững chắc thông
81
qua các mô hình “Gia đình văn hóa tiêu biểu”, “Ông bà mẫu mực, con cháu hiếu
thảo”.
- Về công tác quản lý và thực hiện Hương ước, Quy ước: Thực hiện Nghị
định số 61/2023/NĐ-CP của Chính phủ, 100% các ấp đã hoàn thành việc rà soát,
sửa đổi và áp dụng Hương ước, Quy ước phù hợp với thực tiễn địa phương. Các
bản Hương ước hiện nay đóng vai trò là công cụ quản lý xã hội tự quản hiệu
quả, giúp điều chỉnh hành vi cộng đồng và phát huy dân chủ cơ sở một cách
thực chất.
- Về bảo tồn văn hóa và hoạt động văn nghệ quần chúng: Công tác bảo tồn
các giá trị văn hóa phi vật thể được chú trọng, tiêu biểu là việc duy trì và tổ chức
định kỳ Lễ hội Tả Tài Phán của đồng bào dân tộc Hoa. Hệ thống các câu lạc bộ
(CLB) văn nghệ quần chúng phát triển mạnh mẽ với các loại hình đa dạng như:
Đờn ca tài tử, CLB Thơ ca và Nhạc cổ truyền, CLB Văn nghệ Người cao tuổi.
Hằng năm, địa phương tổ chức chuỗi hoạt động văn hóa chào mừng các ngày lễ
lớn và sự kiện chính trị, đặc biệt là chương trình “Mừng Đảng - Mừng Xuân”
với các hội diễn văn nghệ, liên hoan Lân - Sư - Rồng và Hội chợ hoa Xuân quy
mô lớn (255 gian hàng), tạo không gian sinh hoạt văn hóa sôi nổi cho nhân dân.
- Về phong trào Thể dục thể thao (TDTT): Phong trào TDTT quần chúng
phát triển rộng khắp với gần 34 CLB hoạt động thường xuyên ở các bộ môn:
Bóng đá, bóng chuyền, cầu lông, bóng bàn, võ thuật, cờ tướng... Địa phương
thường xuyên tổ chức các giải thi đấu quy mô mở rộng, thu hút đông đảo vận
động viên trong và ngoài tỉnh tham gia, tiêu biểu như: Giải Bida Poll 8 Ball,
Giải Cầu lông và Bóng bàn, Giải Bóng chuyền hơi nữ kỷ niệm ngày Quốc tế
Phụ nữ 08/3. Các hoạt động này không chỉ nâng cao sức khỏe cộng đồng mà
còn tạo khí thế thi đua sôi nổi trong mọi tầng lớp nhân dân.
- Công tác bảo vệ cảnh quan, môi trường: Gắn liền với tiêu chí xây dựng
nông thôn mới nâng cao và đô thị văn minh, công tác bảo vệ môi trường, xây
dựng cảnh quan “Sáng - Xanh - Sạch - Đẹp” luôn được ưu tiên hàng đầu. Môi
trường văn hóa cơ sở được cải thiện rõ rệt, góp phần quan trọng vào việc thay
đổi diện mạo địa phương theo hướng hiện đại nhưng vẫn giữ gìn được các giá
trị truyền thống.
5.4. Lao động - Thương binh và Xã hội:
- Công tác quản lý và thực hiện chính sách người có công: Tổng số đối
tượng người có công đang quản lý 612 người. Công tác chăm lo và phong trào
"Đền ơn đáp nghĩa" được thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng quy định; thường
xuyên tổ chức thăm hỏi, tặng quà nhân các dịp lễ, Tết và kỷ niệm Ngày Thương
binh - Liệt sĩ (27/7) đảm bảo tính trang trọng, thiết thực. Công tác hỗ trợ cải
82
thiện nhà ở (xây mới, sửa chữa nhà tình nghĩa), cấp đổi thẻ BHYT và thực hiện
chế độ mai táng phí được triển khai đồng bộ. Đời sống của các gia đình chính
sách trên địa bàn cơ bản ổn định, mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống trung
bình của dân cư tại địa bàn. Việc tuyên truyền, giáo dục truyền thống cách mạng
cho thế hệ trẻ gắn với phong trào "Uống nước nhớ nguồn" được thực hiện thường
xuyên, huy động tốt các nguồn lực xã hội hóa để chăm lo cho người có công.
- Công tác gia đình trẻ em: Thường xuyên quán triệt, tuyên truyền các quan
điểm, chủ trương của Đảng về xây dựng gia đình, góp phần nâng cao nhận thức
cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức về trách nhiệm trong lãnh
đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện công tác gia đình. Sự phối hợp giữa các cơ
quan, đơn vị trong triển khai các chương trình, đề án về gia đình ngày càng chặt
chẽ, hiệu quả hơn. Thông qua việc tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, công tác xây
dựng gia đình đã từng bước đi vào nền nếp, tạo chuyển biến tích cực từ nhận
thức đến hành động của cả hệ thống chính trị; vai trò của gia đình trong việc
giáo dục đạo đức, lối sống, hình thành nhân cách con người, phòng ngừa các tệ
nạn xã hội ngày càng được đề cao, góp phần củng cố nền tảng gia đình Việt
Nam trong tình hình mới.
5.5. Công tác tôn giáo - tín ngưỡng, dân tộc: Tình hình tôn giáo - tín ngưỡng
và dân tộc trên địa bàn xã Tân Phú cơ bản ổn định, có nhiều chuyển biến tích
cực, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân.
- Về Dân tộc: Trên địa bàn có 15 thành phần dân tộc thiểu số với 1.173 hộ
(6.358 nhân khẩu). Trong đó, dân tộc Hoa chiếm đa số (88% tổng số người dân
tộc thiểu số với 993 hộ/5.740 khẩu), còn lại là các dân tộc: Tày, Chăm, Nùng,
Khơme, Mường, K'ho, Ba Na, Mán, Sán Dìu, Gia Rai, Chơ Ro, Thái, Châu Mạ
và Dao. Có 01 vị đại diện người có uy tín trong đồng bào dân tộc tham gia Ủy
viên Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã và Ban chấp hành các đoàn thể xã.
Đồng bào các dân tộc sinh sống đan xen, đoàn kết, chấp hành tốt chủ trương
của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tích cực tham gia lao động sản xuất và các
phong trào tại địa phương. Đời sống vật chất, tinh thần từng bước được cải thiện,
các chính sách an sinh xã hội, giảm nghèo, y tế, giáo dục được triển khai tương
đối đầy đủ.
- Về Tôn giáo - tín ngưỡng, toàn xã có 05 tôn giáo chính gồm: Công giáo,
Phật giáo, Hòa hảo, Cao Đài và Tin Lành, có tổng cộng 15 cơ sở thờ tự. Tổng
số tín đồ tôn giáo trên địa bàn xã là 41.565 tín đồ (Phật giáo 12.355; Công giáo
27.769; Cao đài: 976; Phật giáo Hòa hảo 254, Tin lành: 211); có 44 vị chức sắc,
chức việc và tín đồ tiêu biểu tham gia Ủy viên MTTQ và Ban Chấp hành các
đoàn thể xã. Các hoạt động tôn giáo diễn ra thuần túy, tuân thủ quy định pháp
83
luật. Chức sắc và tín đồ tích cực hưởng ứng các phong rào thi đua yêu nước,
đóng góp quan trọng vào công tác từ thiện và an sinh xã hội tại địa phương.
6. Hiện trạng phát triển hạ tầng xã hội
6.1. Nhà ở: Trong thời gian gần đây, tốc độ phát triển kinh tế của xã Tân
Phú tăng nhanh, đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao. Nhu cầu nhà ở
của người dân cũng như nhu cầu đầu tư các công trình công cộng, phúc lợi xã
hội trên địa bàn xã phát triển mạnh và tập trung, từng bước hình thành nên một
diện mạo đô thị ngày càng khang trang, hiện đại. Tổng số nhà ở trên địa bàn:
16.903 căn, trong đó: Nhà kiến cố và bán kiên cố là 16.877 căn chiếm tỷ lệ
99,85%; Nhà ở thiếu kiên cố, Nhà tạm, nhà đơn sơ 26 căn chiếm tỷ lệ 0,15%.
6.2. Công trình cơ quan hành chính: Trụ sở Đảng ủy - HĐND-UBND xã đã
được xây dựng kiên cố cao từ 2-3 tầng, có đủ diện tích các phòng làm việc và
trang thiết bị hiện đại đáp ứng điều kiện xây dựng chính quyền điện tử.
6.3. Công trình giáo dục: Trên địa bàn hiện có 19 trường công lập, 02
trường Mầm non dân lập và 04 nhóm trẻ thuộc quản lý của UBND xã Tân Phú.
Các công trình giáo dục cơ sở công cơ bản đáp ứng được nhu cầu học tập của
con em trên địa bàn xã. Tuy nhiên, quỹ đất dành cho giáo dục còn hạn chế, 06/07
trường THCS chưa đảm bảo số phòng học để tổ chức dạy học 02 buổi/ngày cho
100% số lớp/ trường. Một số công trình đã xuống cấp, không còn sử dụng được
(điểm cơ sở 2-trường TH Nguyễn Thị Định) đang gây khó khăn cho công tác
dạy học của nhà trường.
6.4. Công trình y tế: Trên địa bàn xã hiện có 01 Trung tâm y tế, 01 trạm y
tế, 02 phòng khám tư nhân (Việt Hương và Vạn Thành). Cơ sở bán thuốc dược
phẩm: 51 cơ sở, trong đó có 46 quầy thuốc và 05 nhà thuốc
6.5. Công trình văn hóa, thể dục - thể thao
Hạ tầng văn hóa - thể thao được đầu tư đồng bộ, hiện đại, đáp ứng tiêu
chuẩn đô thị: Trung tâm Dịch vụ tổng hợp xã có quy mô 74.000m² (bao gồm:
Trụ sở Trung tâm Văn hóa, Thư viện, Đài truyền thanh và Nhà thi đấu đa năng
sức chứa 800 chỗ ngồi). Đặc biệt, sân vận động trung tâm có khán đài 1.050 chỗ
ngồi (khánh thành năm 2022) được trang bị đường chạy đường Pitch (đường
chạy điền kinh) hiện đại, hệ thống chiếu sáng công suất lớn và các hạng mục kỹ
thuật đạt chuẩn thi đấu. 100% ấp (29/29 ấp) có Nhà văn hóa đạt chuẩn theo quy
định tại Thông tư số 06/2011/TT-BVHTTDL của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du
lịch. Hệ thống thiết chế này được quản lý chặt chẽ, khai thác hiệu quả, là địa
điểm sinh hoạt cộng đồng, hội họp và tổ chức các hoạt động văn hóa, TDTT
thường xuyên của cư dân cơ sở.
84
6.6. Công trình thương mại - dịch vụ - du lịch: Trên địa bàn xã có 2 chợ (
Chợ Tân Phú và chợ Phú Lộc ) Chợ Tân Phú có diện tích 9.168m2 giá trị đầu tư
hơn 79 tỷ đồng, chợ Phú lộc có diện tích 2.187m2 giá trên 4 tỷ đồng có 4 cửa
hàng bách hoá xanh tổng hợp phân bổ điều trên địa bàn xã, 01 cửa hàng
WINMART tổng hợp, 02 cửa hàng tiện lợi (siêu thị mini), 01 siêu thị điện máy
xanh và nhiều cửa hàng thương mại của các doanh nghiệp, hộ kinh doanh được
hình thành và chủ yếu tập trung ở 2 bên đường quốc lộ, 20 và các đường trung
tâm xã.
7. Hiện trạng phát triển hạ tầng kỹ thuật đô thị
7.1. Giao thông: Đáp ứng tốt nhu cầu vận tải hàng hóa, vận chuyển hành
khách và nhu cầu đi lại của nhân dân, góp phần phát triển KT-XH, bảo đảm trật
tự an toàn giao thông trên địa bàn.
- Hạ tầng giao thông trên địa bàn xã có tổng chiều dài 301,2 km, gồm:
đường Cao tốc dài 4,6km (đang triển khai thực hiện); đường Quốc lộ dài 9,1km;
tỷ lệ nhựa hoá đạt 100%; đường tỉnh 01 tuyến dài 14km, tỷ lệ nhựa hóa đạt
100%, hiện UBND tỉnh đang triển khai nâng cấp mở rộng tuyến đường này;
đường xã quản lý 220 tuyến chiều dài 273,5km. Trong đó đường trục xã 62
tuyến chiều dài 135,5km, đường trục thôn 39 tuyến chiều dài 32,84km, đường
ngõ xóm100 tuyến chiều dài 79,07km, đường trục chính nội đồng 20 tuyến chiều
dài 26,17km.
- Hệ thống giao thông nội thị gồm:
+ Đường trục chính đô thị có lộ giới 29-30 mét gồm: Đường Nguyễn Văn
Cừ (hiện đang thi công xây dựng); Đường Nguyễn Tri Phương (hiện đang thi
công đoạn nằm trong Khu tái định cư 15ha); Đường Trịnh Hoài Đức đã đầu tư
và đưa vào sử dụng.
+ Đường chính đô thị có lộ giới từ 19-25m đã được đầu tư gồm: Đường
Nguyễn Văn Linh, Hùng Vương, Phạm Ngọc Thạch, Nguyễn Tất Thành,
Nguyễn Du, Lý Thường Kiệt (đoạn từ Lê Đại Hành đến Hùng Vương), Lê Đại
Hành (đoạn từ Nguyễn Chí Thanh đến Lý Thường Kiệt), đường Trương Công
Định.
+ Đường nội bộ có lộ giới từ 12-19 mét đã được đầu tư gồm: Đường
Nguyễn Văn Trỗi, Võ Thị Sáu, Nguyễn Thị Định, Nguyễn Chí Thanh, Nguyễn
Đình Chiểu, Nguyễn Hữu Cảnh, Nguyễn Thượng Hiền.
- Trên địa bàn xã có 01 bến xe khách liên tỉnh loại 3, quy mô diện tích
0,59ha, là đầu mối giao thông đường bộ đối ngoại phục vụ các xã phía Đông của
85
tỉnh Đồng Nai. Hiện bến xe Tân Phú đang đối lưu với các xã trong tỉnh và liên
tỉnh.
7.2. Thủy lợi: Trên địa bàn xã có 04 công trình thuỷ lợi: 03 công trình thuộc
Trung tâm Dịch vụ Nông nghiệp tỉnh Đồng Nai khu vực số VII quản lý (gồm:
công trình trạm bơm Giang Điền với diện tích phục vụ 390ha/vụ, chiều dài kênh
mương 8.173m; công trình đập suối đứt phục vụ cho 24,46ha vùng nuôi tôm
càng xanh và công trình suối Trà Cổ - Phú Thanh có nhiệm vụ tiêu nước cho
114ha đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn); 01 công trình thuộc hạng mục
công trình hồ chứa nước Đa Tôn (suối Đa Tôn) cùng 6.500m kênh mương do
Công ty TNHH MTV Khai thác Công trình thuỷ lợi Đồng Nai quản lý phục vụ
320ha đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn xã.
7.3. Cấp điện: Hệ thống cung cấp điện đảm bảo yêu cầu kỹ thuật, an toàn
theo quy định; được cấp điện từ nguồn điện lưới quốc gia qua tuyến 22kV từ
trạm TBA 110kV Định Quán và TBA 110kV Tân Phú dẫn tới. Các tuyến trung
thế từ trạm 110/22/15kV – 25MVA đi vào trung tâm xã cấp điện cho các phụ
tải, tất cả đều là đường dây trên không, sử dụng dây nhôm lõi thép đi trên trụ bê
tông ly tâm cao 12m.
- Hệ thống đèn chiếu sáng được đảm bảo chiếu sáng trong toàn bộ các khu
công viên, vườn hoa tập trung, khu công viên thể dục thể thao, các tuyến đường
Quốc lộ 20, đường tỉnh 774B, các tuyến đường Phú Xuân – Núi Tượng, Phú
Xuân -Thanh Sơn, Phú Lộc – Phú Xuân, Phú Lộc – Phú Tân, Be 129,...các tuyến
đường nội thị thuộc thị trấn Tân Phú cũ và các tuyến đường trục xã, trục ấp, ngõ,
xóm,... tạo điều kiện đi lại thuận tiện cho người dân.
7.4. Cấp nước: Trên địa bàn xã hiện nay có 03 công trình cấp nước tập
trung do Phân xưởng nước Tân Phú chi nhánh Xuân Lộc với công suất Q= 2.500
m3/ngày, công trình cấp nước tập trung xã Phú Điền, Phú Lộc do Trung tâm
Dịch vụ Nông nghiệp tỉnh quản lý cung cấp nước sạch cho 2.488 hộ dân. Hộ
dân sử dụng nước sạch từ các nguồn trên địa bàn xã đạt tỷ lệ 90% (15.068
hộ/16.742 hộ).
7.5. Thoát nước thải và vệ sinh môi trường
- Thoát nước mưa, nước thải sinh hoạt: Hệ thống thoát nước mưa được làm
2 lưu vực thoát nước chính với đường phân thủy chạy qua trung tâm xã từ Bắc
xuống Nam. Cụ thể: Lưu vực 1 (Suối Tre): Lưu vực nằm phía Tây, nước mưa
trong lưu vực này sẽ thoát tuyến cống hộp hiện hữu dọc tuyến đường Nguyễn
Thị Định và đường Trương Công Định sau đó theo mương hở về Suối Tre trước
khu dẫn về Đập Đức; Lưu vực 2 (Suối Tranh): Lưu vực nằm phía Đông, nước
mưa trong lưu vực này sẽ theo cống hộp dọc đường Nguyễn Chí Thanh, sau đó
86
theo đường Lý Thường Kiệt phía Nam Quốc lộ 20 sau đó tuyến mương hở để
thoát về Suốt Tranh. Nước thải trong khu dân cư được xử lý sơ bộ bằng bể tự
hoại.
- Thoát nước thải công nghiệp: Nước thải phát sinh từ các doanh nghiệp
trong KCN đã được thu gom và đưa về xử lý tại hệ thống xử lý nước thải tập
trung của khu công nghiệp, đảm bảo tuân thủ quy định về bảo vệ môi trường.
Trạm xử lý nước thải trong khu công nghiệp Tân Phú đã được đầu tư và đưa vào
hoạt động, hệ thống cống thoát nước thải sau xử lý nối từ khu công nghiệp ra
Quốc lộ 20 sau đó theo đường Nguyễn Thị Định, đấu vào hệ thống thoát nước
ra Đập Suối Đức. Hiện nay, trên địa bàn xã Tân Phú 100% nước thải sinh hoạt
từ các hộ dân được xử lý sơ bộ qua hệ thống bể tự hoại đúng quy chuẩn kỹ thuật
trước khi đấu nối vào mạng lưới thoát nước chung của khu vực. Hệ thống này
thường xuyên được nạo vét, duy tu, đảm bảo năng lực thoát nước và vệ sinh môi
trường đô thị.
- Xử lý chất thải rắn: Khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trên địa
bàn khoảng 45 tấn/ngày; tỷ lệ thu gom, vận chuyển và xử lý đạt 100%. Toàn bộ
chất thải sau thu gom được vận chuyển đến khu xử lý tập trung tại xã Thống
Nhất để xử lý theo quy định. Công tác quản lý chất thải được thực hiện theo chu
trình khép kín từ phát sinh – thu gom – vận chuyển – xử lý. Hệ thống thu gom
chất thải nguy hại hộ gia đình được duy trì với 05 điểm thu gom tạm thời. Việc
phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn đã được triển khai thí điểm, từng bước
nhân rộng.
- Vệ sinh môi trường và kiểm soát ô nhiễm: Chất lượng môi trường trên
địa bàn cơ bản được kiểm soát, chưa phát sinh điểm nóng ô nhiễm; các thành
phần môi trường (nước, không khí, đất) chịu tác động chủ yếu từ sinh hoạt dân
cư, chăn nuôi nhỏ lẻ và hoạt động xây dựng. UBND xã đã triển khai đồng bộ
các giải pháp quản lý như: tăng cường kiểm tra, giám sát, tuyên truyền nâng cao
nhận thức cộng đồng; tổ chức các hoạt động vệ sinh môi trường định kỳ; duy trì
phong trào “Ngày Chủ nhật xanh”. Công tác kiểm soát nguồn thải được thực
hiện thường xuyên; các cơ sở sản xuất, kinh doanh cơ bản chấp hành quy định
pháp luật về bảo vệ môi trường; các phản ánh của người dân được tiếp nhận, xử
lý kịp thời, đạt tỷ lệ 100%.
8. Quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội
8.1. Quốc phòng: Lực lượng vũ trang xã được tổ chức chặt chẽ, đủ thành
phần; thường xuyên được huấn luyện, bồi dưỡng nâng cao trình độ, khả năng
sẵn sàng chiến đấu. Phát huy tốt vai trò nòng cốt trong bảo vệ địa bàn, phòng
chống thiên tai, cứu hộ cứu nạn, tham gia xây dựng nông thôn mới và phát triển
87
kinh tế – xã hội. Lực lượng dân quân tự vệ được tổ chức, xây dựng bảo đảm tỷ
lệ theo quy định đúng quy định. Lực lượng dự bị động viên được đăng ký, quản
lý chặt chẽ. Công tác tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ hàng năm đạt 100%
chỉ tiêu. Tổ chức huấn luyện dân quân tự vệ đúng kế hoạch, nội dung. Duy trì
nghiêm chế độ trực sẵn sàng chiến đấu, phối hợp với các lực lượng xử lý kịp
thời các tình huống phát sinh. Xây dựng phương án phòng thủ phù hợp với đặc
điểm địa bàn.
8.2. An ninh và trật tự an toàn xã hội: Trong năm qua, tình hình an ninh
chính trị trên địa bàn luôn giữ vững ổn định, không xảy ra đột xuất, bất ngờ, các
mục tiêu trọng điểm được đảm bảo an toàn; tội phạm, TNXH, cháy nổ, tai nạn
giao thông được kiềm chế và làm giảm qua các năm... tạo điều kiện thuận lợi
cho phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và đảm bảo, quốc phòng, an ninh trên địa
bàn. Phong trào toàn dân bảo vệ ANTQ tiếp tục có những chuyển biến tích cực,
thu hút nhiều quần chúng nhân dân tham gia; lực lượng bảo vệ an ninh trật tự ở
cơ sở được củng cố, kiện toàn; có một số mô hình phát huy được vai trò tự quản,
tự phòng của nhân dân ngay tại cộng đồng dân cư (tổ liên gia PCCC, nhóm Zalo
kết nối bình yên...). Triển khai thực hiện tốt các kế hoạch chuyên đề đấu tranh
tội phạm có tổ chức, tội phạm ma túy và tệ nạn xã hội, kế hoạch chuyển hóa địa
bàn trọng điểm, phức tạp về trật tự, an toàn xã hội, xây dựng xã hội an toàn giai
đoạn 2017 - 2025 và tầm nhìn đến năm 2030; công tác tiếp nhận tin báo, tố giác
tội phạm, điều tra, xử lý tội phạm đã đạt được kết quả cao, không để xảy ra oan
sai, bức cung, nhục hình; việc thực hiện cải cách hành chính, chuyển đổi số trong
công tác đảm bảo an ninh trật tự được thực hiện mạnh mẽ, đáp ứng tốt hơn nhu
cầu của người dân. Lực lượng Công an xã đã bám sát cơ sở, gắn bó mật thiết với
nhân dân, giữ gìn bình yên ngay từ địa bàn dân cư, góp phần củng cố niềm tin
của nhân dân đối với Đảng, nhà nước và lực lượng Công an nhân dân. Bên cạnh
đó, tình hình tội phạm, tai nạn giao thông, cháy nổ tuy được kiềm chế và làm
giảm nhưng chưa bền vững, còn tiềm ẩn những yếu tố diễn biến phức tạp, nhất
là trên không gian mạng, tội phạm lợi dụng công nghệ cao.
9. Tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ công chức
9.1. Đảng ủy
- Tổng số cơ quan tham mưu, giúp việc của Đảng ủy: 03 cơ quan, đơn vị,
bao gồm: Văn phòng Đảng ủy, Ban Xây dựng Đảng Đảng ủy xã và Ủy ban Kiểm
tra Đảng ủy. Đơn vị sự nghiệp trực thuộc Đảng ủy xã: 01 đơn vị (Trung tâm
Chính trị xã)
- Tổng số cán bộ, công chức, viên chức của các cơ quan, tham mưu giúp
việc của Đảng ủy và Trung tâm Chính trị là 25 người (Thường trực Đảng ủy: 02
88
người, Văn phòng Đảng ủy: 08 người, Ban Xây dựng Đảng: 08 người, Ủy ban
Kiểm tra Đảng ủy: 05 người và Trung tâm Chính trị: 02 người). Hiện nay còn
thiếu 02 biên chế (01 biên chế của Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy xã và 01 biên chế
của Trung tâm Chính trị xã).
- Về cơ cấu:
+ Cơ cấu theo giới tính: 12 nam, 13 nữ;
+ Cơ cấu theo độ tuổi: từ 31-35 tuổi: 03 người; từ 36-40 tuổi: 11 người; từ
41-45 tuổi: 06 người; từ 46-50 tuổi: 03 người; từ 51-55 tuổi: 01 người và từ 56-
60 tuổi: 01 người.
+ Cơ cấu theo trình độ chuyên môn: Thạc sĩ: 05 người, Đại học: 20 người.
+ Cơ cấu theo trình độ lý luận chính trị: Cao cấp chính trị: 07 người, Trung
cấp chính trị: 18 người.
9.2. Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân
- HĐND xã gồm thường trực HĐND và 02 ban HĐND; trong đó Lãnh đạo
HĐND: 03 biên chế, gồm 01 Phó Chủ tịch HĐND và 02 Phó Trưởng ban
HĐND; các biên chế kiêm nhiệm gồm: Bí thư Đảng ủy kiêm Chủ tịch HĐND,
Trưởng ban HĐND do Chủ tịch UBMTTQVN và Chủ nhiệm UBKT đảng. Tổng
số đại biểu HĐND xã khóa II nhiệm kỳ 2026-2031 là 29 đại biểu.
Về cơ cấu:
+ Cơ cấu theo giới tính: 03 nam.
+ Cơ cấu theo độ tuổi: từ 41- 45 tuổi: 02 người, từ 46-50 tuổi: 01 người.
+ Cơ cấu theo trình độ chuyên môn: Thạc sĩ: 01 người, Đại học: 02 người.
+ Cơ cấu theo trình độ lý luận chính trị: Cao cấp chính trị: 01 người, Trung
cấp chính trị: 02 người.
- UBND xã gồm Chủ tịch, các Phó chủ tịch và thành lập 03 cơ quan chuyên
môm (Văn phòng HĐND và UBND, Phòng Kinh tế và Phòng Văn hóa – Xã
hội) và 01 cơ quan hành chính (Trung tâm Phục vụ hành chính công). Lãnh đạo
UBND: 03 biên chế gồm: 01 Chủ tịch và 02 Phó Chủ tịch UBND xã.
9.3. Mặt trận Tổ quốc và các Đoàn thể
- Tổng số cán bộ, công chức của cơ quan Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam xã: 13 người (gồm 01 Chủ tịch, 01 Phó Chủ tịch Thường trực đồng thời là
Chủ tịch Hội Nông dân xã, 01 Phó Chủ tịch đồng thời là Chủ tịch Hội Liên hiệp
Phụ nữ xã, 01 Phó Chủ tịch đồng thời là Bí thư Đoàn Thanh niên xã, 01 Phó
Chủ tịch đồng thời là Chủ tịch Hội Cựu Chiến binh xã và 08 chuyên viên).
89
- Về cơ cấu:
+ Cơ cấu theo giới tính: 04 nam, 09 nữ.
+ Cơ cấu theo độ tuổi: từ 31-35 tuổi: 03 người, từ 36 – 40 tuổi: 03 người,
từ 41- 45 tuổi: 05 người, từ 46-50 tuổi: 01 người và từ 51-55 tuổi: 01 người.
+ Cơ cấu theo trình độ chuyên môn: Thạc sĩ: 01 người, Đại học: 12 người.
+ Cơ cấu theo trình độ lý luận chính trị: Cao cấp chính trị: 03 người, Trung
cấp chính trị: 10 người.
9.4. Cán bộ, công chức cấp xã: Tổng số biên chế được giao 54 biên chế
(bao gồm 04 biên chế của Ban Chỉ huy Quân sự), trong đó 03 biên chế HĐND
và 03 biên chế lãnh đạo UBND; còn lại 48 biên chế tại, cụ thể như sau:
- Văn phòng HĐND và UBND: Hiện tại đã bố trí 12/12 biên chế, gồm: 01
Chánh Văn phòng, 01 Phó Chánh Văn phòng và 10 công chức).
- Phòng Văn hoá – Xã hội: Hiện tại đã bố trí 13/13 biên chế, gồm: 01
Trưởng phòng, 02 Phó Trưởng phòng và 10 công chức.
- Phòng Kinh tế: Hiện tại đã bố trí 13/14 biên chế, gồm: 01 Trưởng phòng,
01 Phó Trưởng phòng và 11 công chức.
- Trung tâm Phục vụ hành chính công: Hiện tại đã bố trí 04/05 biên chế,
gồm: 02 Phó Giám đốc và 03 công chức.
- Ban chỉ huy Quân sự xã: 04/04 biên chế gồm: 01 Chỉ huy trưởng, 02 Chỉ
huy phó và 01 Trợ lý. Ngoài ra, UBND thành lập Trung tâm Dịch vụ tổng hợp
hiện tại đã bố trí 19/21 biên chế gồm: 01 Phó giám đốc và 18 viên chức.
V. Đối với xã Lộc Ninh
1. Vị trí địa lý, địa giới hành chính và vai trò chức năng
1.1. Vị trí địa lý, địa giới hành chính
Xã Lộc Ninh nằm ở khu vực phía Nam của tỉnh Đồng Nai, cách trung tâm
tỉnh khoảng 100km về hướng Nam và cách cửa khẩu Hoa Lư 15km về hướng
Bắc, theo đó tuyến Quốc lộ 13 là tuyến giao thông kết nối chính của đô thị Lộc
Ninh với khu vực lân cận và tứ cận được xác định như sau:
- Phía Bắc giáp: Xã Lộc Tấn và Lộc Quang;
- Phía Nam giáp: Xã Lộc Hưng;
- Phía Tây giáp: Xã Lộc Tấn, Lộc Hưng và Lộc Thành;
- Phía Đông giáp: Xã Lộc Quang.
90
Xã Lộc Ninh là địa bàn có vị trí tương đối thuận lợi trong kết nối giao thông
và liên kết phát triển vùng. Địa bàn xã có các tuyến giao thông quan trọng đi
qua, trong đó có các trục đường chính kết nối với các khu vực lân cận và các
trung tâm kinh tế trong vùng, cửa khẩu Quốc tế Hoa Lư và Khu công nghiệp
cửa khẩu Quốc tế Hoa Lư tạo điều kiện thuận lợi cho giao lưu kinh tế, thương
mại và thu hút đầu tư. Lộc Ninh là vùng hậu cần tiểu thủ công nghiệp các sản
phẩm nông - lâm nghiệp, vật liệu xây dựng đối với các đô thị liên phường Bình
Long - An Lộc, đô thị Minh Hưng - Chơn Thành - Nha Bích về phía Bắc vốn
phát triển mạnh về lĩnh vực dân cư và công nghiệp và cửa ngõ Hoa Lư về phía
Nam, mặt khác đồng thời là trung gian liên kết vùng với Khu kinh tế Cửa khẩu
Hoa Lư. Theo đó, việc phát triển đô thị Lộc Ninh định hình rõ ràng vai trò của
đô thị Lộc Ninh trong hệ thống chuỗi các đô thị phía Bắc của tỉnh, góp phần xây
dựng trục phát triển xuyên suốt, bền vững và đồng bộ của khu vực nói riêng và
không gian tỉnh nói chung.
Xã Lộc Ninh tiếp giáp với các đơn vị hành chính trong và ngoài tỉnh, tạo
nên không gian phát triển mở, có khả năng kết nối đa chiều. Vị trí địa lý này
không chỉ thuận lợi trong phát triển kinh tế mà còn có ý nghĩa quan trọng trong
tổ chức không gian đô thị, phân bố dân cư và phát triển hệ thống hạ tầng kỹ
thuật.
Vị trí địa lý và địa giới hành chính của xã Lộc Ninh có nhiều thuận lợi cho
phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là trong bối cảnh đẩy mạnh liên kết vùng và
phát triển đô thị theo quy hoạch của tỉnh Đồng Nai.
1.2. Vai trò chức năng
Theo định hướng quy hoạch phát triển của tỉnh Đồng Nai, khu vực Lộc
Ninh được xác định là khu vực phát triển đô thị mới, gắn với phát triển công
nghiệp, thương mại - dịch vụ và hệ thống hạ tầng đồng bộ. Trên địa bàn xã đã
thu hút nhiều dự án đầu tư, đóng vai trò là động lực quan trọng thúc đẩy phát
triển kinh tế - xã hội của địa phương. Bên cạnh đó, xã Lộc Ninh còn là khu vực
có tốc độ đô thị hóa nhanh, với sự gia tăng dân số cơ học, sự phát triển của các
khu dân cư tập trung và các hoạt động thương mại, dịch vụ ngày càng đa dạng.
Vai trò của xã không chỉ dừng lại ở một đơn vị hành chính nông thôn mà đã
từng bước chuyển sang đảm nhận chức năng của một đơn vị hành chính đô thị,
với yêu cầu cao hơn về quản lý, điều hành và cung ứng dịch vụ công.
Trong tổng thể không gian phát triển của tỉnh, Lộc Ninh có vai trò là khu
vực động lực, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của khu vực phía
Nam, đồng thời là đầu mối kết nối giữa các khu vực phát triển công nghiệp, dịch
vụ và khu dân cư. Vai trò này ngày càng được khẳng định thông qua sự gia tăng
91
về quy mô kinh tế, sự phát triển của hệ thống hạ tầng và mức độ tập trung dân
cư trên địa bàn.
Từ những đặc điểm nêu trên có thể khẳng định, xã Lộc Ninh đã và đang
đảm nhận vai trò, chức năng của một đơn vị hành chính có tính chất đô thị; do
đó, việc tổ chức lại đơn vị hành chính theo mô hình phường là phù hợp với vị
trí, vai trò và định hướng phát triển của địa phương trong giai đoạn hiện nay.
2. Diện tích tự nhiên và cơ cấu các loại đất
2.1. Diện tích tự nhiên
Xã Lộc Ninh có tổng diện tích tự nhiên 6.751,05 ha (tương đương khoảng
67,51km²), diện tích tự nhiên của xã phân bố trên không gian rộng, bao gồm các
khu vực dân cư hiện hữu, khu vực sản xuất nông nghiệp, khu vực phát triển công
nghiệp và các khu đất quy hoạch cho phát triển đô thị trong thời gian tới. Phạm
vi quản lý rộng gắn với nhiều loại hình sử dụng đất khác nhau, đặt ra yêu cầu tổ
chức quản lý thống nhất, đồng bộ theo quy hoạch. Theo định hướng quy hoạch
chung đô thị mới Lộc Ninh đến năm 2050, toàn bộ diện tích tự nhiên của xã
được xác định là không gian phát triển đô thị, bao gồm các khu chức năng như
khu trung tâm hành chính, khu dân cư, khu công nghiệp, khu thương mại - dịch
vụ và hệ thống hạ tầng kỹ thuật. Việc xác định toàn bộ địa bàn trong phạm vi
quy hoạch đô thị là cơ sở quan trọng để tổ chức lại đơn vị hành chính theo mô
hình phường.
2.2. Cơ cấu các loại đất
Cơ cấu sử dụng đất trên địa bàn xã Lộc Ninh hiện nay phản ánh đặc điểm
của một đơn vị hành chính đang trong quá trình chuyển dịch từ khu vực nông
thôn sang đô thị, với tỷ trọng đất nông nghiệp còn chiếm ưu thế nhưng quỹ đất
phi nông nghiệp đang từng bước được mở rộng. Địa chất xã Lộc Ninh chủ yếu
là đất phù sa, đất xám, đất đen, đất đỏ vàng, đất dốc tụ và một số đất sông hồ...
quỹ đất cùa xã Lộc Ninh rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là đất
đỏ bazan rất phù hợp cho phát triển các loại cây công nghiệp lâu năm như: cao
su, cà phê, tiêu... đây là những cây công nghiệp mang lại hiệu quả kinh tế cao.
S
TT
Nhóm chức năng/ loại chức năng sử dụng
đất
Diện tích
(ha)
Tỉ lệ
(%)
Ghi
chú
I
Khu đất dân dụng
803,20
11,90
1
Nhóm nhà ở
491,96
7,29
2
Hỗn hợp nhóm nhà ở và dịch vụ
0,00
0,00
3
Giáo dục (trường THPT, THCS, Tiểu học, Mầm
non)
25,95
0,38
92
4
Dịch vụ - công cộng khác (y tế, văn hóa, thể dục
thể thao, thương mại,…)
45,64
0,68
5
Cơ quan, trụ sở cấp đô thị
9,67
0,14
6
Cây xanh sử dụng công cộng
0,00
0,00
7
Giao thông đô thị
181,65
2,69
8
Hạ tầng kỹ thuật khác cấp đô thị
48,33
0,72
I
I
Khu đất ngoài dân dụng
153,56
2,27
9
Sản xuất công nghiệp, kho tàng
0,00
0,00
1
0
Trung tâm giáo dục, đào tạo, nghiên cứu
0,00
0,00
1
1
Cơ quan, trụ sở ngoài đô thị
0,00
0,00
1
2
Dịch vụ, du lịch
0,00
0,00
1
3
Trung tâm y tế
0,00
0,00
1
4
Trung tâm văn hóa, thể dục thể thao
0,00
0,00
1
5
Cây xanh sử dụng hạn chế
0,00
0,00
1
6
Cây xanh chuyên dụng (nếu có)
0,00
0,00
1
7
Di tích, tôn giáo
4,52
0,07
1
8
An ninh
6,75
0,10
1
9
Quốc phòng
121,15
1,79
2
0
Giao thông đối ngoại
19,80
0,29
2
1
Hạ tầng kỹ thuật khác
0,00
0,00
2
2
Đất danh lam thắng cảnh
1,35
0,02
I
II
Khu nông nghiệp và chức năng khác
5.794,28
85,83
93
2
3
Sản xuất nông nghiệp
5.600,08
82,95
2
4
Lâm nghiệp (rừng sản xuất, rừng phòng hộ và
rừng đặc dụng)
0,00
0,00
2
5
Nuôi trồng thủy sản
7,54
0,11
2
6
Chưa sử dụng (đất bằng và đồi núi chưa sử
dụng)
0,14
0,00
2
7
Hồ, ao, đầm
116,47
1,73
2
8
Sông, suối, kênh, rạch
70,06
1,04
2
9
Mặt nước ven biển
0,00
0,00
TỔNG
6.751,05
100,00
3. Dân số, cơ cấu lao động và thành phần dân cư
3.1. Quy mô và mật độ dân số
Theo số liệu của dữ liệu dân cư, dân số của xã Lộc Ninh hiện nay là 31.484
người. Mật độ dân số trung bình đạt khoảng 266 người/km², phân bố trên toàn
bộ diện tích tự nhiên của xã. Dân số của xã Lộc Ninh có quy mô tương đối lớn
so với các đơn vị hành chính cấp xã, gắn với phạm vi diện tích rộng và sự phát
triển của các khu công nghiệp, khu dân cư và các hoạt động sản xuất, kinh doanh
trên địa bàn. Quy mô dân số này là một trong những yếu tố quan trọng trong
việc xác định tính chất và tổ chức đơn vị hành chính phù hợp.
3.2. Biến động dân số
Dân số trên địa bàn xã Lộc Ninh có sự biến động theo xu hướng tăng, bao
gồm tăng tự nhiên và tăng cơ học. Trong đó, tăng cơ học chiếm tỷ trọng đáng
kể do quá trình phát triển các khu công nghiệp và các cơ sở sản xuất, kinh doanh,
thu hút lao động từ các địa phương khác đến làm việc và sinh sống. Sự gia tăng
dân số cơ học tập trung chủ yếu tại các khu vực gần khu vực trung tâm và dọc
theo các tuyến giao thông chính, hình thành các khu dân cư tập trung với mật độ
dân số cao hơn so với các khu vực khác. Việc gia tăng dân số gắn với quá trình
đô thị hóa và phát triển kinh tế đã làm thay đổi đặc điểm dân cư trên địa bàn, từ
phân tán sang tập trung hơn, đồng thời làm tăng nhu cầu về nhà ở, hạ tầng kỹ
thuật, hạ tầng xã hội và các dịch vụ công.
94
3.3. Phân bố dân cư
Dân cư trên địa bàn xã Lộc Ninh phân bố trải dài tại 29 thôn, với đặc điểm
phân bố không đồng đều giữa các khu vực, các khu dân cư hiện hữu tập trung
chủ yếu tại khu vực trung tâm xã, dọc theo các tuyến giao thông chính và các
khu vực phát triển đô thị. Các khu vực gần trung tâm xã có mật độ dân cư cao
hơn do thu hút lao động đến làm việc và sinh sống. Trong khi đó, các khu vực
sản xuất nông nghiệp có mật độ dân cư thấp hơn, phân bố theo mô hình truyền
thống của khu vực nông thôn. Sự phân bố dân cư hiện nay phản ánh quá trình
chuyển dịch từ mô hình dân cư phân tán sang mô hình tập trung, gắn với các
trục phát triển kinh tế và hạ tầng giao thông trên địa bàn.
3.4. Cơ cấu lao động
Lực lượng lao động trên địa bàn xã Lộc Ninh chiếm tỷ lệ lớn trong tổng
dân số, tham gia vào các lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, công nghiệp - xây dựng
và thương mại - dịch vụ. Dân số trong độ tuổi lao động: 18.750 (chiếm
78.738%); trong đó: Lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế: 18.540
người; Lao động chưa có việc làm: 210 (tỷ lệ thất nghiệp: 1,12%).
Cơ cấu lao động theo trình độ: Lao động chưa qua đào tạo: 3.440 người
(18,6 %); Lao động qua đào tạo: 15.100 người (81.4%), gồm: Sơ cấp, đào tạo
nghề: 6245 người, Trung cấp, cao đẳng: 4023 người, Đại học trở lên: 4832
người, thể hiện sự chuyển biến về chất lượng nguồn nhân lực. Cơ cấu lao động
đang chuyển dịch theo hướng giảm dần lao động trong lĩnh vực nông nghiệp,
tăng dần lao động trong lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ.
Cơ cấu lao động chuyển dịch tích cực theo hướng giảm tỷ trọng nông
nghiệp, tăng công nghiệp và dịch vụ: Công nghiệp – xây dựng: Số lao động:
6850 người; Tỷ lệ: 36,9%. Thương mại – dịch vụ: Số lao động: 8250 người; Tỷ
lệ: 44,4%. Nông, lâm, ngư nghiệp: Số lao động 3440 người; Tỷ lệ: 18,6%. Tỷ lệ
lao động phi nông nghiệp tập trung chủ yếu tại các đô thị trung tâm, các cơ sở
sản xuất, kinh doanh và các hoạt động dịch vụ. Lao động trong lĩnh vực nông
nghiệp vẫn chiếm một tỷ lệ nhất định, gắn với diện tích đất nông nghiệp còn lớn
trên địa bàn. Việc chuyển dịch cơ cấu lao động gắn với quá trình phát triển kinh
tế và đô thị hóa, đồng thời chịu tác động của việc thu hút đầu tư và mở rộng các
khu công nghiệp trên địa bàn.
3.5. Thành phần dân cư
Dân cư trên địa bàn xã Lộc Ninh bao gồm dân cư tại chỗ và dân cư đến từ
các địa phương khác. Thành phần dân cư đa dạng, bao gồm người lao động trong
các khu công nghiệp, người sản xuất nông nghiệp và các đối tượng hoạt động
trong lĩnh vực thương mại - dịch vụ.
95
Tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số chiếm khoảng 4,35% tổng dân số. Các
nhóm dân cư sinh sống xen kẽ tại các khu vực dân cư, tham gia vào các hoạt
động kinh tế - xã hội trên địa bàn. Quá trình phát triển kinh tế và đô thị hóa đã
làm thay đổi cơ cấu dân cư, với sự gia tăng dân cư làm việc trong lĩnh vực công
nghiệp và dịch vụ, đồng thời hình thành các khu dân cư tập trung gắn với khu
vực trung tâm.
3.6. Xu hướng phát triển dân số và lao động
Theo định hướng quy hoạch và tình hình phát triển thực tế, dân số của xã
Lộc Ninh tiếp tục tăng trong thời gian tới, gắn với quá trình phát triển công
nghiệp và đô thị. Cơ cấu lao động tiếp tục chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng
lao động phi nông nghiệp, phù hợp với định hướng phát triển kinh tế của địa
phương. Việc gia tăng dân số và chuyển dịch cơ cấu lao động gắn với yêu cầu
phát triển hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội và nâng cao chất lượng dịch vụ công
trên địa bàn.
4. Hiện trạng phát triển kinh tế
4.1. Chỉ tiêu phát triển kinh tế gồm: GRDP, cơ cấu ngành, thu nhập bình
quân đầu người, tỷ lệ hộ nghèo, lao động phi nông nghiệp...
4.2. Phát triển các ngành, lĩnh vực
- Về công nghiệp - xây dựng:
Trong những năm qua, mục tiêu quốc gia xây dựng Nông thôn mới được
địa phương hưởng ứng và phấn đấu, theo đó các tiêu chí nông thôn mới đã được
đạt 19/19 tiêu chí tại khu vực xã Lộc Thuận (cũ), các tiêu chí nông thôn mới
nâng cao đạt 20/20 tiêu chí tại khu vực xã Lộc Thái (cũ) với các dự án đầu tư
xây dựng đã hoàn thiện và đáp ứng các tiêu chí nông thôn mới. Các nhóm ngành
nổi bật trong lĩnh vực đầu tư xây dựng chủ yếu là đầu tư xây dựng hạ tầng xã
hội cho thấy sự quan tâm đầu tư của địa phương đối với bộ mặt hiện đại hóa
theo chiều rộng và chiều sâu của đô thị.
Hiện nay với định hướng và cấu trúc không gian đô thị trong giai đoạn mới,
việc bổ sung đầu tư, cải tạo nâng cấp các dự án, hạ tầng đô thị trên địa bàn xã
đang thực hiện vừa thể hiện sự quan tâm của địa phương trong lĩnh vực đầu tư
xây dựng, vừa là động thái cần thiết trong bối cảnh hiện tại.
- Về thương mại - dịch vụ:
Với lợi thế là khu vực trung tâm của vùng huyện Lộc Ninh (cũ) đồng thời
có đường QL.13 đi dọc trục xương sống của xã, lĩnh vực thương mại – dịch vụ
vẫn luôn là mũi nhọn kinh tế với đóng góp đáng kể trong cơ cấu kinh tế của địa
phương, mạng lưới hệ thống thương mại – dịch vụ phân bố có cấu trúc cụ thể
96
trên địa bàn xã, theo đó các nhóm ngành thương mại và dịch vụ hoạt động chủ
yếu xen kẽ giữa các khu dân cư, tuyến dân cư và nhóm ngành tiểu thủ công
nghiệp sản xuất chủ yếu có mối liên hệ chặt chẽ với ngành chăn nuôi sản xuất
nông nghiệp và phân bố trong các khu sản xuất nông nghiệp của xã.
- Về sản xuất nông - lâm - thủy sản:
Xã Lộc Ninh với tổng diện tích tự nhiên khoảng 6.751,05 ha, trong đó diện
tích đất sản xuất nông nghiệp khoảng 5.600,08ha (chiếm 82,95% diện tích tự
nhiên), Lĩnh vực sản nông nghiệp trên địa bàn xã tăng trưởng ổn định và ít đột
biến đồng thời là một mũi nhọn trong cơ cấu nền kinh tế của xã. Theo đó:
Về sản xuất nông nghiệp, bên cạnh lúa nước là giống cây trồng chủ đạo
của kinh tế nông nghiệp, các loại cây trồng chủ đạo mang đặc trưng thổ nhưỡng
của khu vực Đông Nam Bộ như cà phê, điều, cao su, hồ tiêu được duy trì sản
xuất và cho năng xuất ổn định, tuy phải đối mặt với nguy cơ giảm năng xuất do
dịch bệnh và biến đổi khí hậu, nhưng công tác tuyên truyền, tập huấn bổ sung
kiến thức nông nghiệp được chuẩn bị và triển khai kịp thời, do đó duy trì được
sự ổn định trong lĩnh vực.
Về chăn nuôi, vẫn duy trì ổn định đàn gia súc, gia cầm trên mỗi hộ kinh
doanh với các loại vật nuôi chủ đạo như gia cầm có 72.978 con, đàn heo có
2.844 con, bò có 623 con ngoài ra dê cũng là vật nuôi có giá trị kinh tế cao và
rất được quan tâm, chăm sóc phủ rộng trên địa bàn xã với khoảng 1.013 con chủ
yếu phân bố ở khu vực xã Lộc Thuận (cũ) vốn có nền kinh tế chủ đạo là nông
nghiệp khoảng 882 con. Trong những năm qua công tác tuyên truyền, chăm sóc
và tiêm chủng bệnh dại được địa phương quan tâm và triển khai trên khắp địa
bàn xã nhằm chống lại các rủi ro về thiên tai, dịch bệnh, những thất thoát vật
nuôi tuy không thể tránh khỏi, tuy nhiên không làm ảnh hưởng đến sản lượng
kinh tế của địa phương.
5. Hiện trạng phát triển văn hóa - xã hội
5.1. Giáo dục và đào tạo
- Mạng lưới trường lớp: Hiện nay, trên địa bàn xã có 02 trường THPT và
14 cơ sở giáo dục trực thuộc xã quản lý, bao gồm: 5 trường mầm non, (03 công
lập; 02 ngoài công lập); 05 trường tiểu học; 3 trường trung học cơ sở (01 trường
PTDTNT THCS) và 01 trường liên cấp TH&THCS Lộc Thuận. Mạng lưới
trường lớp được phân bố tương đối hợp lý theo địa bàn dân cư, cơ bản đáp ứng
nhu cầu học tập của con em nhân dân. Các trường học đều có địa điểm ổn định,
phù hợp với quy hoạch sử dụng đất và định hướng phát triển đô thị.
97
- Quy mô học sinh, lớp học: Tổng số học sinh toàn xã là 6.171 em, với 204
lớp học, trong đó: Mầm non: 1.181em/51 lớp; Tiểu học: 2470em/89 lớp; Trung
học cơ sở: 2520 em/64 lớp. Bình quân học sinh/lớp đạt khoảng 33 em/lớp, cơ
bản phù hợp với quy định.
- Đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên: Tổng số cán bộ quản lý, giáo viên là
404 người, trong đó: Cán bộ quản lý: 32 người; Giáo viên: 372 người (bao gồm:
GV TPTĐ). Toàn xã xã có 100% CBQL đạt chuẩn trình độ đào tạo. Số giáo viên
chưa đạt chuẩn là 27 người (hiện đang đi học và đăng kí học nâng trình độ chuẩn
theo Nghị định 71/2020/NĐ-CP). Dự kiến đến hết năm 2030 có 100% CBQL,
GV, NV đạt chuẩn trình độ đào tạo.
- Cơ sở vật chất, trang thiết bị: Các trường cơ bản có đủ các phòng chức
năng như thư viện, phòng thiết bị, phòng tin học; tuy nhiên, một số phòng chưa
đáp ứng đầy đủ yêu cầu theo tiêu chuẩn trường đạt chuẩn quốc gia. Tỷ lệ trường
đạt chuẩn quốc gia đạt 8/12, đạt 66.67%. (Trường mầm non Sao Mai; trường
Tiểu học TT Lộc Ninh A, trường Tiểu học Lộc Thái A, trường Tiểu học Lộc
Thái B, trường tiểu học Lộc Thuận B; THCS Lộc Ninh, THCS Lộc Thái,
PTDTNT THCS Lộc Ninh). Hệ thống trang thiết bị dạy học từng bước được đầu
tư, nhưng chưa đồng bộ và còn thiếu ở một số hạng mục. Tổng số phòng học là
190 (Trong đó số phòng học kiên cố là 166 phòng, số phòng học bán kiên cố là
24 phòng)
- Chất lượng giáo dục và phổ cập: Xã Lộc Ninh đảm bảo điều kiện và đạt
chuẩn về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi, đạt chuẩn phổ cập giáo
dục tiểu học và trung học cơ sở đều đạt mức độ 3 (mức độ cao nhất), đạt chuẩn
xóa mù chữ mức độ 2 năm 2025.
- Về hiện đại hóa giáo dục: 100% các trường học trên địa bàn đã được kết
nối Internet, ứng dụng chuyển đổi số trong quản lý văn bản, hồ sơ học sinh. Các
trường học được ưu tiên đầu tư trong các dự án chỉnh trang đô thị (vỉa hè, hệ
thống chiếu sáng, thoát nước đồng bộ quanh khu vực trường học), đảm bảo cảnh
quan sư phạm xanh - sạch - đẹp theo chuẩn văn minh đô thị.
Nhìn chung, công tác Giáo dục và Đào tạo trên địa bàn xã Lộc Ninh đã có
bước phát triển vượt bậc cả về quy mô lẫn chất lượng. Với hệ thống trường lớp
kiên cố, tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia cao (66,67%) và kết quả phổ cập giáo
dục đạt mức độ cao nhất, ngành giáo dục địa phương không chỉ đáp ứng đầy đủ
các tiêu chí của một Phường mà còn đóng vai trò là động lực then chốt trong
việc nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực, sẵn sàng cho việc chuyển đổi
sang mô hình quản lý chính quyền đô thị."
98
Trong bối cảnh tốc độ đô thị hóa ngày càng tăng, nhu cầu học tập của nhân
dân trên địa bàn có xu hướng gia tăng cả về quy mô và chất lượng. Mạng lưới
trường lớp hiện có cơ bản đáp ứng nhu cầu. Các cơ sở giáo dục đã tích cực triển
khai chương trình giáo dục phổ thông mới; từng bước ứng dụng công nghệ thông
tin trong quản lý và giảng dạy. Tỷ lệ trường tổ chức dạy học 2 buổi/ngày đạt
75%. Việc chuyển đổi số trong giáo dục bước đầu đạt kết quả, song cần tiếp tục
đầu tư đồng bộ hơn. Hệ thống cơ sở giáo dục cơ bản phù hợp với quy hoạch phát
triển đô thị. Quỹ đất dành cho giáo dục đã được xác định trong quy hoạch; tuy
nhiên, việc mở rộng quỹ đất tại một số khu vực trung tâm còn gặp khó khăn. Hạ
tầng giao thông kết nối đến các trường học tương đối thuận lợi, đảm bảo an toàn
cho học sinh. Lĩnh vực giáo dục và đào tạo trên địa bàn xã cơ bản đáp ứng yêu
cầu để chuyển sang đơn vị hành chính phường. Các tiêu chí về quy mô, chất
lượng, phổ cập giáo dục được đảm bảo; tuy nhiên, cần tiếp tục đầu tư nâng cấp
cơ sở vật chất và bổ sung nguồn lực để đáp ứng tốt hơn yêu cầu phát triển đô
thị.
5.2. Y tế
- Về tổ chức bộ máy và mạng lưới y tế cơ sở: Trạm Y tế xã Lộc Ninh được
thành lập theo Quyết định số 2336/QĐ-UBND ngày 31/12/2025, trực thuộc Ủy
ban nhân dân xã Lộc Ninh. Sau khi được thành lập, Trạm Y tế đã từng bước
củng cố tổ chức, duy trì hoạt động ổn định và thực hiện cơ bản đầy đủ chức
năng, nhiệm vụ theo quy định. Trong thời gian qua, Trạm Y tế đã phát huy vai
trò là cơ sở y tế tuyến đầu, trực tiếp triển khai các hoạt động chăm sóc sức khỏe
ban đầu cho nhân dân, công tác phòng bệnh, khám chữa bệnh thông thường,
quản lý sức khỏe cộng đồng và thực hiện các chương trình y tế trên địa bàn.
Hiện nay, mạng lưới y tế cơ sở của xã gồm 01 Trạm Y tế chính tại Lộc Ninh và
01 điểm trạm. Việc duy trì hoạt động của cả trạm chính và điểm trạm đã tạo điều
kiện thuận lợi cho người dân trong tiếp cận dịch vụ y tế, góp phần nâng cao hiệu
quả chăm sóc sức khỏe ở cơ sở.
- Về cơ sở vật chất, hạ tầng phục vụ hoạt động y tế: Cơ sở vật chất của
Trạm Y tế xã và điểm trạm cơ bản đáp ứng yêu cầu hoạt động chuyên môn. Cụ
thể, Trạm Y tế Lộc Ninh có diện tích đất 2.320 m², diện tích nhà trạm 212 m²,
được bố trí 05 phòng chức năng gồm phòng cấp cứu, phòng khám sản, phòng
sinh, phòng tiêm chủng và phòng hành chính. Điểm trạm Lộc Thuận có diện tích
đất 1.364 m², diện tích nhà trạm 290 m², gồm 10 phòng chức năng như phòng
cấp cứu, phòng sinh, phòng kế hoạch hóa gia đình, phòng hậu sản, phòng dược,
phòng hành chính, phòng tiêm chủng, phòng khám chữa bệnh và 02 phòng lưu
bệnh. Với quy mô như trên, hệ thống cơ sở vật chất hiện có đã hỗ trợ tương đối
99
tốt cho việc tổ chức các hoạt động chuyên môn, đặc biệt là công tác khám chữa
bệnh, chăm sóc sức khỏe sinh sản, tiêm chủng và điều trị ban đầu.
- Về trang thiết bị y tế: Trang thiết bị hiện có tại Trạm Y tế và điểm trạm
cơ bản phục vụ được yêu cầu khám chữa bệnh ban đầu, chăm sóc sức khỏe bà
mẹ, trẻ em, tiêm chủng và triển khai các hoạt động chuyên môn thường xuyên.
Nhờ đó, công tác chăm sóc sức khỏe cho người dân trên địa bàn vẫn được duy
trì ổn định. Tuy nhiên, thực tế cho thấy trang thiết bị y tế vẫn còn thiếu, một số
thiết bị chưa đồng bộ, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu trong tình hình mới. Điều
này phần nào ảnh hưởng đến khả năng mở rộng chất lượng dịch vụ, nhất là khi
yêu cầu về tiêu chuẩn y tế đối với đơn vị hành chính cấp phường cao hơn so với
cấp xã. Do đó, việc rà soát, bổ sung, đầu tư trang thiết bị theo hướng đồng bộ,
hiện đại hơn là nhiệm vụ cần thiết.
- Về nhân lực y tế: Tổng số cán bộ y tế hiện có là 18 người. Trong đó gồm
01 bác sĩ, 03 y sĩ, 03 điều dưỡng, 04 hộ sinh, 04 dược sĩ, 01 kỹ thuật viên, 01
người phụ trách an toàn thực phẩm và 01 người phụ trách dân số. Nhìn chung,
đội ngũ cán bộ y tế cơ bản đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ tại địa phương,
đảm bảo duy trì các hoạt động thường xuyên của Trạm Y tế và điểm trạm. Việc
có bác sĩ làm việc tại trạm là điều kiện thuận lợi, góp phần nâng cao chất lượng
khám, tư vấn, điều trị và chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân.
- Về công tác khám chữa bệnh và quản lý sức khỏe nhân dân: Trong thời
gian qua, công tác khám chữa bệnh tại địa phương được duy trì thường xuyên.
Tổng số lượt khám chữa bệnh hằng năm đạt 1.510 lượt. Cùng với hoạt động
khám chữa bệnh, công tác quản lý sức khỏe nhân dân được triển khai nghiêm
túc. Việc theo dõi, quản lý sức khỏe đã góp phần hỗ trợ phát hiện sớm bệnh tật,
tư vấn điều trị kịp thời và nâng cao ý thức phòng bệnh trong cộng đồng. Đây là
một trong những nhiệm vụ quan trọng của y tế cơ sở, thể hiện vai trò chủ động
trong bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân ngay từ tuyến đầu. Bên cạnh đó,
hoạt động khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền tiếp tục được duy trì và từng
bước phát triển. Việc kết hợp giữa y học cổ truyền với chăm sóc sức khỏe ban
đầu đã góp phần đa dạng hóa các hình thức điều trị, đáp ứng nhu cầu của người
dân trên địa bàn.
- Về công tác chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em và kế hoạch hóa gia đình:
Công tác chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em luôn được địa phương quan tâm
thực hiện. Các hoạt động tuyên truyền, tư vấn, theo dõi thai kỳ, chăm sóc trước
sinh và sau sinh được triển khai tương đối đầy đủ. Tỷ lệ chăm sóc trước sinh đạt
96%, tỷ lệ chăm sóc sau sinh đạt 99%, tỷ lệ sinh con tại cơ sở y tế đạt 100%.
Kết quả này cho thấy người dân ngày càng quan tâm hơn đến việc tiếp cận các
dịch vụ y tế an toàn, đồng thời phản ánh hiệu quả hoạt động của mạng lưới y tế
100
cơ sở trong việc bảo vệ sức khỏe bà mẹ và trẻ em. Đối với trẻ em, công tác tiêm
chủng được triển khai nghiêm túc, đảm bảo đầy đủ các mũi vắc xin phòng bệnh
theo chương trình quy định. Việc thực hiện tốt tiêm chủng đã góp phần phòng
ngừa hiệu quả các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, nâng cao thể trạng và sức khỏe
trẻ em trên địa bàn.
- Về công tác phòng, chống dịch bệnh: Công tác phòng, chống dịch bệnh
luôn được xác định là nhiệm vụ trọng tâm của ngành y tế địa phương. Đây là
yếu tố quan trọng giúp duy trì miễn dịch cộng đồng, hạn chế nguy cơ bùng phát
các bệnh truyền nhiễm. Trong thời gian qua, trên địa bàn xã không để xảy ra
dịch bệnh lớn; công tác giám sát, xử lý dịch bệnh được thực hiện nghiêm túc,
góp phần bảo vệ sức khỏe nhân dân và giữ vững ổn định đời sống xã hội.
- Về tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế: Tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế trên địa bàn
xã đạt 100%, thể hiện sự quan tâm của địa phương trong việc đảm bảo an sinh
xã hội và quyền lợi chăm sóc sức khỏe cho người dân. Việc toàn dân tham gia
bảo hiểm y tế không chỉ giúp giảm gánh nặng chi phí khám chữa bệnh cho từng
hộ gia đình mà còn tạo điều kiện để người dân tiếp cận các dịch vụ y tế một cách
thuận lợi, bình đẳng và bền vững. Đây là một chỉ tiêu quan trọng trong đánh giá
kết quả thực hiện nhiệm vụ y tế và là điều kiện thuận lợi để địa phương tiến tới
hoàn thiện các tiêu chí theo yêu cầu xây dựng phường.
- Về các chỉ số sức khỏe cộng đồng: Các chỉ số về sức khỏe cộng đồng của
xã cơ bản đạt kết quả tích cực. Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng ở mức dưới 5%, cho
thấy công tác chăm sóc dinh dưỡng, theo dõi tăng trưởng và bảo vệ sức khỏe trẻ
em đã được thực hiện hiệu quả. Tỷ lệ sinh con tại cơ sở y tế đạt 100%; tỷ lệ
chăm sóc trước sinh đạt 96%; tỷ lệ chăm sóc sau sinh đạt 99%; tỷ lệ tiêm chủng
đầy đủ đạt trên 95%. Những kết quả nêu trên phản ánh chất lượng công tác y tế
dự phòng, chăm sóc sức khỏe ban đầu và sự phối hợp tương đối tốt giữa ngành
y tế với các ban, ngành, đoàn thể trong công tác bảo vệ sức khỏe nhân dân. Qua
đó, đời sống sức khỏe cộng đồng trên địa bàn từng bước được cải thiện và nâng
lên.
- Về công tác vệ sinh môi trường và an toàn thực phẩm: Công tác vệ sinh
môi trường trên địa bàn được chú trọng thực hiện. Tỷ lệ hộ dân sử dụng nước
sạch hoặc nước hợp vệ sinh đạt 100%; tỷ lệ hộ có nhà tiêu hợp vệ sinh cũng đạt
100%. Đây là những điều kiện quan trọng góp phần phòng ngừa dịch bệnh, nâng
cao chất lượng cuộc sống và đảm bảo các tiêu chí về môi trường trong xây dựng
đô thị. Đối với công tác an toàn thực phẩm, địa phương đã triển khai tương đối
tốt các nội dung quản lý nhà nước theo quy định.
5.3. Văn hóa, thông tin, thể dục - thể thao
101
- Công tác xây dựng và phát triển đời sống văn hóa trên địa bàn xã Lộc
Ninh trong thời gian qua được quan tâm triển khai đồng bộ, gắn với phong trào
“Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, góp phần nâng cao đời sống
tinh thần của Nhân dân. Toàn xã hiện có 29 thôn, trong đó 29/29 thôn được công
nhận danh hiệu thôn văn hóa, đạt tỷ lệ 100%; tỷ lệ hộ gia đình đạt danh hiệu gia
đình văn hóa hằng năm đạt khoảng 98,5%. Công tác gia đình được chú trọng
triển khai; các hoạt động xây dựng gia đình văn hóa, phòng, chống bạo lực gia
đình được thực hiện hiệu quả; duy trì các mô hình như Câu lạc bộ gia đình phát
triển bền vững, Câu lạc bộ gia đình hạnh phúc; công tác tuyên truyền được thực
hiện thường xuyên, góp phần nâng cao nhận thức của người dân.
- Hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở được quan tâm đầu tư; toàn xã có 01 nhà
văn hóa xã và 29/29 thôn có nhà sinh hoạt văn hóa cộng đồng, đạt tỷ lệ 100%;
một số nhà văn hóa thôn đã được nâng cấp, sửa chữa, cơ bản đáp ứng nhu cầu
sinh hoạt cộng đồng của Nhân dân. Hoạt động văn hóa, văn nghệ được duy trì
thường xuyên, tổ chức vào các dịp lễ, tết, sự kiện chính trị của địa phương; duy
trì 18 câu lạc bộ văn hóa, văn nghệ quần chúng, góp phần bảo tồn và phát huy
các giá trị văn hóa truyền thống. Công tác quản lý nhà nước về văn hóa được
tăng cường; hiện trên địa bàn xã có 08 cơ sở kinh doanh dịch vụ văn hóa (03 cơ
sở karaoke, 05 cơ sở photocopy, in ấn); công tác kiểm tra được thực hiện thường
xuyên, kịp thời phát hiện và xử lý các trường hợp vi phạm theo quy định. Công
tác quản lý di tích được quan tâm; trên địa bàn xã có 05 di tích đã được xếp hạng
và 01 di tích trong danh mục kiểm kê; việc quản lý, bảo vệ di tích cơ bản được
thực hiện tốt, tuy nhiên nhân sự trực tiếp trông coi còn hạn chế.
- Công tác thông tin, tuyên truyền trên địa bàn xã được triển khai kịp thời,
phục vụ hiệu quả nhiệm vụ chính trị và nhu cầu tiếp cận thông tin của Nhân dân.
Hệ thống truyền thanh cơ sở được đầu tư đồng bộ với 53 cụm loa truyền thanh
thông minh, phủ sóng đến 29/29 thôn, đạt tỷ lệ 100%; nội dung phát thanh được
duy trì thường xuyên, bảo đảm thông tin thông suốt. Công tác quản lý nhà nước
về thông tin, truyền thông được thực hiện đúng quy định; chủ động định hướng
thông tin và kịp thời xử lý các thông tin sai sự thật trên không gian mạng.
- Phong trào thể dục thể thao quần chúng trên địa bàn xã tiếp tục phát triển,
góp phần nâng cao sức khỏe và đời sống tinh thần của Nhân dân. Tỷ lệ người
dân tham gia luyện tập thể dục thể thao thường xuyên đạt khoảng 18%; tỷ lệ gia
đình thể thao đạt khoảng 18%. Cơ sở vật chất phục vụ hoạt động thể dục thể
thao từng bước được đầu tư; toàn xã có 01 sân vận động (sân bóng đá 11 người,
đường chạy và dụng cụ tập ngoài trời); 02 sân tennis, 01 sân bóng bàn, 01 sân
bóng chuyền; có 08/29 thôn được trang bị dụng cụ thể dục thể thao ngoài trời;
hầu hết các thôn có bố trí khu vực sân chơi, bãi tập phục vụ Nhân dân. Hằng
102
năm, xã tổ chức các giải thể thao như bóng đá, bóng chuyền, cầu lông, chạy việt
dã; duy trì hoạt động của 18 câu lạc bộ thể dục thể thao quần chúng; tham gia
đầy đủ các hội thao cấp trên và đạt một số thành tích, trong đó có Huy chương
Vàng môn bóng bàn cấp tỉnh.
Căn cứ các tiêu chí về văn hóa, thông tin, thể dục thể thao trong xây dựng
đơn vị hành chính cấp phường, qua đánh giá thực trạng cho thấy xã Lộc Ninh
cơ bản đáp ứng các yêu cầu theo quy định. Trước hết, phong trào “Toàn dân
đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” được triển khai sâu rộng, có hiệu quả, với
100% thôn đạt danh hiệu thôn văn hóa và tỷ lệ hộ gia đình văn hóa đạt trên 98%.
Đời sống văn hóa tinh thần của Nhân dân không ngừng được nâng cao, các giá
trị văn hóa truyền thống được bảo tồn và phát huy thông qua hoạt động của các
câu lạc bộ văn hóa, văn nghệ quần chúng. Hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở được
đầu tư tương đối đồng bộ; toàn xã có nhà văn hóa xã và 100% thôn có nhà sinh
hoạt cộng đồng. Các hoạt động văn hóa, văn nghệ được tổ chức thường xuyên,
gắn với các sự kiện chính trị, lễ, tết, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của Nhân dân.
Trong lĩnh vực thông tin – truyền thông, hệ thống truyền thanh cơ sở được phủ
sóng đến toàn bộ các thôn với mô hình truyền thanh thông minh; nội dung tuyên
truyền được duy trì thường xuyên, kịp thời. Việc ứng dụng công nghệ thông tin,
chuyển đổi số bước đầu đạt kết quả tích cực thông qua việc vận hành Trang
thông tin điện tử và các nền tảng mạng xã hội, góp phần nâng cao hiệu quả cung
cấp thông tin đến người dân. Phong trào thể dục thể thao quần chúng được duy
trì và phát triển; các hoạt động thi đấu thể thao được tổ chức thường xuyên; hệ
thống sân bãi, dụng cụ tập luyện từng bước được đầu tư, tạo điều kiện cho người
dân tham gia rèn luyện sức khỏe.
5.4. Lao động - Thương binh và Xã hội
Công tác lao động, việc làm và an sinh xã hội trên địa bàn xã Lộc Ninh
được tổ chức thực hiện theo các chương trình, kế hoạch của địa phương và quy
định của pháp luật. Lực lượng lao động trên địa bàn tham gia vào các lĩnh vực
sản xuất nông nghiệp, công nghiệp - xây dựng và thương mại - dịch vụ, gắn với
hoạt động của các khu công nghiệp và các cơ sở sản xuất, kinh doanh.
Lao động chưa qua đào tạo: 3.440 người (18,6 %); Lao động qua đào tạo:
15.100 người (81.4%), gồm: Sơ cấp, đào tạo nghề: 6245 người, Trung cấp, cao
đẳng: 4023 người, Đại học trở lên: 4832 người, thể hiện sự chuyển biến về chất
lượng nguồn nhân lực. Cơ cấu lao động đang chuyển dịch theo hướng giảm dần
lao động trong lĩnh vực nông nghiệp, tăng dần lao động trong lĩnh vực công
nghiệp và dịch vụ. Cơ cấu lao động chuyển dịch tích cực theo hướng giảm tỷ
trọng nông nghiệp, tăng công nghiệp và dịch vụ: Công nghiệp – xây dựng: Số
lao động: 6850 người; Tỷ lệ: 36,9%. Thương mại – dịch vụ: Số lao động: 8250
103
người; Tỷ lệ: 44,4%. Nông, lâm, ngư nghiệp: Số lao động 3440 người; Tỷ lệ:
18,6%. Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp tập trung chủ yếu tại các đô thị trung
tâm, các cơ sở sản xuất, kinh doanh và các hoạt động dịch vụ. Lao động trong
lĩnh vực nông nghiệp vẫn chiếm một tỷ lệ nhất định, gắn với diện tích đất nông
nghiệp còn lớn trên địa bàn. Việc chuyển dịch cơ cấu lao động gắn với quá trình
phát triển kinh tế và đô thị hóa, đồng thời chịu tác động của việc thu hút đầu tư
và mở rộng các khu công nghiệp trên địa bàn.
Công tác giải quyết việc làm được triển khai thông qua việc kết nối lao
động với các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh trên địa bàn và các khu
vực lân cận. Người lao động tham gia làm việc tại các khu công nghiệp, các
công trình xây dựng, các cơ sở dịch vụ và các hoạt động sản xuất khác, phù hợp
với nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp và điều kiện của người lao động.
Công tác chính sách đối với người có công với cách mạng được thực hiện
theo quy định của pháp luật, bảo đảm các chế độ, chính sách đối với các đối
tượng thụ hưởng. Các đối tượng chính sách được quản lý, theo dõi và thực hiện
chi trả chế độ theo quy định. Công tác bảo trợ xã hội được triển khai đối với các
đối tượng theo quy định, bao gồm người cao tuổi, người khuyết tật và các đối
tượng khác thuộc diện bảo trợ xã hội. Các chế độ trợ cấp được thực hiện theo
quy định của Nhà nước.
Công tác giảm nghèo được thực hiện trên địa bàn xã, hiện nay trên địa bàn
không còn hộ nghèo theo chuẩn hiện hành. Các chương trình hỗ trợ phát triển
kinh tế, tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân được triển khai theo
kế hoạch của địa phương.
Công tác bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và các chính sách an sinh xã hội
được triển khai trên địa bàn theo quy định. Người dân tham gia các loại hình
bảo hiểm theo điều kiện và quy định của pháp luật, gắn với việc bảo đảm an sinh
xã hội.
Các hoạt động lao động, việc làm và an sinh xã hội được tổ chức thực hiện
gắn với sự phát triển kinh tế của địa phương và các chương trình, kế hoạch của
cấp có thẩm quyền, bảo đảm thực hiện các chế độ, chính sách đối với người lao
động và các đối tượng trên địa bàn xã Lộc Ninh.
5.5. Công tác tôn giáo, tín ngưỡng, dân tộc
Dân số của xã Lộc Ninh là 31.484 người; trong đó đồng bào dân tộc thiểu
số có 1.369 người, chiếm 4,35% dân số toàn xã. Các dân tộc cùng sinh sống
gồm: Kinh, Tày, Nùng, Khmer, Xtiêng, Hoa, Cơ tu, Sán Dìu, Mông, Mường;
104
phân bố xen kẽ, ổn định, tập trung chủ yếu tại thôn Lộc Thuận 8 và thôn Lộc
Thuận 9. Trên địa bàn xã có 03 cơ sở tín ngưỡng gồm: Đền Trần Hưng Đạo,
Miếu Ngọc Lâm và Miếu Thôn 8 Lộc Thuận. Có 10 cơ sở tôn giáo được công
nhận và 01 điểm sinh hoạt Tin lành chưa được công nhận; trong đó Phật giáo có
08 cơ sở với 08 chức sắc và 22 chức việc; Công giáo có 01 cơ sở với 01 chức
sắc; Tin lành có 01 điểm sinh hoạt với 01 chức sắc.
Các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên địa bàn xã diễn ra bình thường, ổn
định, tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Các chức sắc, chức việc và tín đồ
các tôn giáo chấp hành tốt chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà
nước; tích cực tham gia xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Các cơ sở tôn
giáo trên địa bàn đã tích cực tham gia các hoạt động an sinh xã hội, từ thiện, hỗ
trợ người có hoàn cảnh khó khăn, học sinh nghèo hiếu học, trẻ em nhân dịp lễ,
Tết, Trung thu, Vu Lan, Giáng sinh... góp phần thực hiện chính sách an sinh xã
hội, giảm nghèo bền vững và xây dựng đời sống văn hóa tại địa phương. Tình
hình tôn giáo trên địa bàn ổn định, không phát sinh điểm nóng, không xảy ra vụ
việc phức tạp; không có hoạt động tôn giáo trái pháp luật, không có trường hợp
lợi dụng tôn giáo gây mất an ninh trật tự.
Ủy ban nhân dân xã thường xuyên quan tâm chỉ đạo công tác quản lý nhà
nước về tín ngưỡng, tôn giáo; triển khai đầy đủ các chủ trương, chính sách của
Đảng và Nhà nước. Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về tín ngưỡng,
tôn giáo được thực hiện thường xuyên; qua đó nâng cao nhận thức và ý thức
chấp hành pháp luật của người dân và các tổ chức tôn giáo. Chính quyền địa
phương duy trì công tác theo dõi, nắm bắt tình hình; tổ chức kiểm tra định kỳ;
hướng dẫn các cơ sở tôn giáo thực hiện thủ tục hành chính liên quan đến hoạt
động tôn giáo đúng quy định. Mối quan hệ giữa chính quyền và các tổ chức tôn
giáo được duy trì tốt, góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội trên địa bàn.
Công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo được thực hiện chặt chẽ,
đúng quy định; công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật được duy trì thường
xuyên; chính quyền địa phương chủ động nắm bắt tình hình, kịp thời hướng dẫn
và giải quyết các vấn đề phát sinh. Trên địa bàn không xảy ra điểm nóng, không
phát sinh vụ việc phức tạp liên quan đến tôn giáo; không có hoạt động lợi dụng
tôn giáo gây mất an ninh trật tự.
Công tác dân tộc trên địa bàn xã được triển khai thực hiện đồng bộ, hiệu
quả; các chính sách dân tộc được thực hiện đầy đủ, đúng đối tượng. Đời sống
của đồng bào dân tộc thiểu số từng bước được nâng cao; các chính sách về y tế,
giáo dục, bảo hiểm, nước sinh hoạt, hỗ trợ sinh kế được đảm bảo. Hạ tầng kinh
tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc được đầu tư đồng bộ; 100% thôn có điện lưới
105
quốc gia; hệ thống giao thông được nhựa hóa, bê tông hóa, tạo điều kiện thuận
lợi cho phát triển sản xuất và sinh hoạt.
6. Hiện trạng phát triển hạ tầng xã hội
6.1. Nhà ở
Dân cư phân bố trên địa bàn xã chịu sự chi phối của các điều kiện tự nhiên
như: địa hình, sông, suối và quá trình đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt
về cơ sở hạ tầng giao thông. Hệ thống nhà ở trên địa bàn trong những năm qua
tương đối ổn định, không có sự phát triển đột biến. Hình thức nhà ở chủ yếu là
nhà phố, nhà vườn. Mô hình nhà phố hình thành chủ yếu dọc tuyến Quốc lộ 13
và các tuyến đường nội bộ trung tâm xã. Tầng cao nhà ở phổ biến là 1 tầng và 2
tầng. Tỷ lệ nhà cao tầng thấp.
Hình thành và phát triển các khu dân cư tập trung dọc theo các trục đường
giao thông chính tại khu vực trung tâm, chủ yếu là hình thức nhà phố xen lẫn
nhà vườn.
Các loại hình nhà ở tại địa bàn được phân bổ thành 02 loại:
- Dạng nhà ô phố: bám theo các trục đường lớn như quốc lộ 13, đường 3/2,
7/4, đường Hùng Vương,...
- Dạng nhà vườn: phân bố dọc theo các tuyến đường phụ và rải rác trong
các khu dân cư.
Nhìn chung nhà ở chưa được quản lý chặt chẽ, xây dựng tự phát, chất lượng
thấp, thiếu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội, hình thức kiến trúc lai tạp,... làm
mất vẻ mỹ quan của đô thị.
6.2. Công trình cơ quan hành chính
Khu trung tâm hành chính xã (trụ sở làm việc HĐND, UBND,...) được xây
dựng kiên cố, vị trí nằm dọc theo tuyến đường QL13, đường 3/2 và đường
Nguyễn Tất Thành nhằm tạo điều kiện tiếp cận thuận lợi cho người dân.
Đa số các công trình hành chính, dịch vụ công cộng được xây dựng mới
hoặc được cải tạo kiên cố, khang trang với quy mô 1 – 3 tầng.
6.3. Công trình giáo dục
Hệ thống các cơ sở giáo dục trên địa bàn xã bao gồm: 09 trường mẫu giáo
(vị trí nằm trên các trục đường QL13, Nguyễn Tất Thành,....), 09 trường tiểu
học (vị trí nằm trên đường Lê Hồng Phong, QL13,....), 02 trường THCS và 02
trường THPT, 02 trung tâm GDNN – GDTX.
106
Quy mô trường, lớp tiếp tục được quan tâm đầu tư, xã hội hóa lĩnh vực giáo
dục được chú trọng.
6.4. Công trình y tế
Ngành y tế của xã Lộc Ninh có nhiều chuyển biến tích cực: Công tác chăm
sóc sức khỏe của người dân được quan tâm, sự nghiệp y tế được tăng cường cả
về số lượng cán bộ y tế và cơ sở vật chất với quy mô như sau:
Công trình y tế: Trung tâm y tế khu vực Lộc Ninh, 04 điểm trạm y tế, Bệnh
viện đa khoa Cao su Lộc Ninh;
Cơ sở bảo trợ xã hội: Trung tâm bảo trợ xã hội Bình Phước tại xã Lộc Ninh.
6.5. Công trình văn hóa, thể dục - thể thao
Xã Lộc Ninh có truyền thống văn hóa cách mạng lâu đời, do đó hệ thống
công trình văn hóa, di tích mang nhiều giá trị lịch sử đối với địa phương nói
riêng và khu vực lân cận nói chung, trong tương lai việc phát triển đô thị cần
đảm bảo gắn liền với gìn giữ, phát triển các bản sắc văn hóa này, hệ thống công
trình văn hóa, thể dục- thể thao trên địa bàn xã bao gồm:
02 di tích lịch sử quốc gia: Sân bay quân sự Lộc Ninh; Trụ sở chính phủ
cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt nam (Nhà giao tế)
03 di tích lịch sử cấp tỉnh: Địa điểm chiến thắng Dốc 31; Khu di tích nơi
thành lập sư đoàn 302; Địa điểm ngụy quyền ném bom thảm sát thường dân tại
Chợ Lộc Ninh.
01 di tích lịch sử kiến trúc nghệ thuật trong danh mục kiểm kê: Nhà máy
chế biến Lộc Ninh.
Ngoài ra trên địa bàn hiện hữu 26 nhà văn hoá được xây dựng kiến cố và
có 01 sân quần vợt huyện Lộc Ninh (cũ).
03 di tích lịch sử cấp tỉnh: Địa điểm chiến thắng Dốc 31; Khu di tích nơi
thành lập sư đoàn 302; Địa điểm ngụy quyền ném bom thảm sát thường dân tại
Chợ Lộc Ninh.
6.6. Công trình thương mại - dịch vụ - du lịch
Công trình thương mại dịch vụ cơ bản đáp ứng nhu cầu của người dân trong
xã. Tuy nhiên, trong tương lai cần bố trí công trình thương mại, dịch vụ cấp đô
thị (bao gồm: chợ, siêu thị, trung tâm thương mại và các công trình thương mại,
dịch vụ khác) để đảm bảo tiêu chuẩn về phân loại đô thị.
Trên địa bàn hiện nay có 01 siêu thị hạng III trên khu hành chính diamond.
107
7. Hiện trạng phát triển hạ tầng kỹ thuật đô thị
7.1. Giao thông
- Đường bộ:
Giao thông đối ngoại: Trục chính QL13 chạy dọc qua trung tâm xã với
chiều dài 3,4km được định hướng quy hoạch hành lang bảo vệ đường bộ tính từ
tim đường ra mỗi bên tuyến. Có tổng hành lang bảo vệ đường bộ là 57m, trong
đó lộ giới quy hoạch 30m, bề rộng đất bảo trì và mương, ta – luy là 4m mỗi bên,
hành lang an toàn đường bộ 13m mỗi bên (theo Quyết định số 06/2014/QĐ–
UBND ngày 21/03/2014 của UBND tỉnh ban hành quy định về quản lý và bảo
vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Bình Phước (cũ). Các
tuyến trục ấp nối vào đường trục xã dạng xương cá để tạo sự liên thông giữa các
ấp với nhau.
Giao thông đối nội: Đường trục ấp, đường liên ấp được cứng hoá tối thiểu,
đảm bảo ô tô đi lại thuận tiện quanh năm. Mạng lưới đường phát triển dựa vào
nền địa hình, độ dốc tối đa 7% và lộ giới đường từ 12–21m.
- Đường thủy nội địa (nếu có): Không.
7.2. Thủy lợi
Trên địa bàn xã hiện có 02 công trình thủy lợi: Đập Tôn Lê Chàm và hồ
Bù Nâu do Công ty TNHH MTV Thủy lợi Đồng Nai quản lí.
7.3. Cấp điện
Nguồn cấp điện cho xã là tuyến 22kV từ trạm biến áp 110/22kV Lộc Ninh.
Hệ thống cung cấp điện cho xã (trạm điện, hệ thống hạ thế, tình hình quản
lý, vận hành và bảo dưỡng hệ thống,...) do ngành điện trực tiếp quản lý nên đạt
tiêu chuẩn về kỹ thuật và an toàn.
Điện lưới được phủ đến tận trung tâm các khu đông dân cư đạt 99% số hộ
có điện sử dụng.
Đèn đường chiếu sáng công cộng được trang bị rộng khắp trên các trục
đường chính nơi tập trung dân cư.
7.4. Cấp nước
Công trình đầu mối: NMN hồ Rừng Cấm có công suất 2.000m³/ng, lấy
nước hồ Rừng Cấm. Tỷ lệ dân cư đô thị được cấp nước sinh hoạt: 31%. Hệ thống
nước máy công cộng được đầu tư 12km.
108
- Trên địa bàn hiện nay có 01 trạm trung chuyển cấp nước tập trung do
công ty TNHH MTV Dịch vụ thủy lợi Bình Phước quản lý, thực hiện việc cung
cấp nước tập trung cho các hộ dân sinh sống dọc tuyến QL.13
7.5. Thoát nước thải và vệ sinh môi trường
- Thoát nước mưa, nước thải sinh hoạt: Xã đã xây dựng hệ thống thoát nước
mặt dọc theo một số trục đường chính nội thị và hoàn thành hệ thống thoát nước
chung ở khu vực trung tâm xã, tuy nhiên, chưa đủ để hình thành hệ thống thoát
nước đồng bộ. Tại nhiều khu vực nước mưa vẫn thoát theo chế độ tự chảy.
Xã chưa có hệ thống thoát nước thải. Nước thải sinh hoạt được xử lý sơ bộ
qua bể tự hoại tại mỗi công trình sau đó thải ra giếng thấm hoặc chảy tự nhiên.
- Thoát nước thải công nghiệp: Hiện nay trên địa bàn xã chưa có nước thải
công nghiệp.
- Xử lý chất thải rắn: Tỷ lệ rác thải y tế được thu gom, xử lý đạt 100%.
Công tác vệ sinh môi trường từng bước được cải thiện, bãi rác thải tập trung
được đầu tư nâng cấp để đảm bảo chôn lấp theo quy trình, rác thải trong đô thị
được thu gom và vận chuyển tập trung về bãi tập trung để chôn lấp và xử lý.
Khoảng 90% lượng rác thải được thu gom.
8. Quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội
8.1. Quốc phòng
Công tác quốc phòng trên địa bàn xã Lộc Ninh được tổ chức triển khai theo
quy định, gắn với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Hệ thống
tổ chức lực lượng dân quân tự vệ được kiện toàn, bố trí theo quy định, thực hiện
nhiệm vụ bảo đảm quốc phòng tại địa phương.
Lực lượng dân quân tự vệ được tổ chức tại các khu dân cư, tham gia thực
hiện các nhiệm vụ theo kế hoạch, bao gồm huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và
tham gia các hoạt động bảo đảm quốc phòng trên địa bàn. Công tác huấn luyện
dân quân tự vệ được triển khai hằng năm theo kế hoạch, nội dung huấn luyện
thực hiện theo chương trình quy định.
Công tác tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ được thực hiện theo quy
trình, bảo đảm chỉ tiêu được giao. Việc tổ chức đăng ký, quản lý công dân trong
độ tuổi thực hiện nghĩa vụ quân sự được triển khai tại địa phương theo quy định.
Các hoạt động khám tuyển, xét duyệt và gọi công dân nhập ngũ được thực hiện
theo kế hoạch của cấp có thẩm quyền.
Công tác giáo dục quốc phòng và an ninh được triển khai đến các đối tượng
theo quy định, thông qua các hoạt động tuyên truyền, phổ biến và tổ chức bồi
109
dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh. Nội dung giáo dục quốc phòng và an ninh
được lồng ghép trong các hoạt động tại địa phương.
Việc xây dựng khu vực phòng thủ được thực hiện gắn với quy hoạch phát
triển kinh tế - xã hội và hệ thống hạ tầng trên địa bàn. Các nội dung liên quan
đến quốc phòng được triển khai trong quá trình tổ chức thực hiện các nhiệm vụ
tại địa phương.
Công tác quản lý nhà nước về quốc phòng được thực hiện thông qua việc
tổ chức triển khai các nhiệm vụ theo quy định, gắn với hoạt động của các cơ
quan, đơn vị trên địa bàn. Các nội dung về quốc phòng được thực hiện theo kế
hoạch và hướng dẫn của cấp có thẩm quyền.
8.2. An ninh và trật tự an toàn xã hội
Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn xã Lộc Ninh
được tổ chức quản lý và thực hiện theo quy định. Lực lượng công an được bố trí
theo mô hình công an chính quy, thực hiện nhiệm vụ bảo đảm an ninh trật tự
trên địa bàn.
Trên địa bàn đã triển khai hệ thống camera an ninh tại các khu vực trọng
điểm, khu dân cư và các tuyến giao thông, phục vụ công tác theo dõi, quản lý
và bảo đảm an ninh trật tự. Hệ thống camera được bố trí tại các vị trí phù hợp,
hỗ trợ lực lượng chức năng trong việc giám sát tình hình an ninh trên địa bàn.
Các khu dân cư trên địa bàn đều có tổ an ninh trật tự hoạt động theo quy
định, tham gia phối hợp với lực lượng công an trong công tác bảo đảm an ninh
trật tự. Các tổ chức này được thành lập tại các khu dân cư, thực hiện nhiệm vụ
theo phân công.
Công tác phòng, chống tội phạm và tệ nạn xã hội được triển khai thông qua
các hoạt động của lực lượng công an và các tổ chức tại cơ sở. Các vụ việc phát
sinh được tiếp nhận, xử lý theo quy định của pháp luật. Các hoạt động tuần tra,
kiểm soát được tổ chức tại các khu vực trên địa bàn.
Công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông được triển khai thông qua các
hoạt động kiểm tra, xử lý vi phạm và tuyên truyền pháp luật về giao thông. Các
hoạt động này được thực hiện tại các tuyến giao thông trên địa bàn, gắn với việc
bảo đảm trật tự, an toàn giao thông.
Công tác phòng cháy, chữa cháy được triển khai tại các khu dân cư và các
cơ sở sản xuất, kinh doanh. Các hoạt động kiểm tra, tuyên truyền và hướng dẫn
phòng cháy, chữa cháy được thực hiện theo kế hoạch của lực lượng chức năng.
Các phương tiện và điều kiện phục vụ công tác phòng cháy, chữa cháy được bố
trí theo điều kiện thực tế.
110
Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về an ninh trật tự được tổ chức
tại các khu dân cư, thông qua các hoạt động của chính quyền địa phương và các
tổ chức đoàn thể. Nội dung tuyên truyền bao gồm các quy định của pháp luật
liên quan đến an ninh trật tự và các vấn đề tại địa phương.
Các hoạt động bảo đảm an ninh trật tự được triển khai gắn với sự tham gia
của các cơ quan, tổ chức và người dân trên địa bàn, phục vụ việc duy trì trật tự
an toàn xã hội tại địa phương.
9. Tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ, công chức
9.1. Đảng ủy
Đảng bộ xã Lộc Ninh được thành lập trên cơ sở sáp nhập các tổ chức đảng
của các đơn vị hành chính trước đây theo chủ trương sắp xếp đơn vị hành chính
cấp cơ sở. Hiện nay, Đảng bộ xã có 51 tổ chức đảng trực thuộc với khoảng 1.466
đảng viên, được tổ chức tại các thôn, sóc, cơ quan, đơn vị và các khu vực trên
địa bàn.
Các tổ chức đảng trực thuộc bao gồm các chi bộ tại khu dân cư và các chi
bộ trong cơ quan, đơn vị, được bố trí phù hợp với địa bàn dân cư và tổ chức sản
xuất, kinh doanh. Các chi bộ thực hiện sinh hoạt định kỳ theo quy định, triển
khai các nội dung sinh hoạt gắn với nhiệm vụ chính trị tại địa phương.
Ban Chấp hành Đảng bộ xã được kiện toàn theo quy định, thực hiện chức
năng lãnh đạo toàn diện trên các lĩnh vực của địa phương. Các đồng chí trong
Ban Chấp hành được phân công phụ trách các lĩnh vực, địa bàn và tổ chức đảng
trực thuộc, thực hiện nhiệm vụ theo quy chế làm việc.
Các cơ quan tham mưu, giúp việc của Đảng ủy được tổ chức theo quy định,
bao gồm các bộ phận tham mưu về công tác tổ chức, kiểm tra, tuyên giáo, dân
vận và các lĩnh vực khác. Các cơ quan này thực hiện nhiệm vụ tham mưu, giúp
việc cho Đảng ủy trong việc lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện các nhiệm
vụ chính trị.
Công tác sinh hoạt chi bộ được tổ chức theo định kỳ, nội dung sinh hoạt
bao gồm việc triển khai các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, đánh giá kết quả thực
hiện nhiệm vụ và triển khai nhiệm vụ trong thời gian tiếp theo. Các buổi sinh
hoạt chi bộ được tổ chức tại các khu dân cư và các cơ quan, đơn vị.
Công tác phát triển đảng viên được thực hiện theo kế hoạch, thông qua việc
tạo nguồn từ quần chúng ưu tú tại các khu dân cư, cơ quan, đơn vị và các tổ chức
trên địa bàn. Việc kết nạp đảng viên được thực hiện theo quy trình, bảo đảm tiêu
chuẩn, điều kiện theo quy định của Đảng.
111
Công tác quản lý đảng viên được thực hiện thông qua hệ thống tổ chức
đảng, bao gồm việc theo dõi, đánh giá, phân loại đảng viên theo quy định. Các
nội dung liên quan đến quản lý đảng viên được triển khai thông qua sinh hoạt
chi bộ và các hoạt động của tổ chức đảng.
Công tác kiểm tra, giám sát được triển khai theo chương trình, kế hoạch
của Đảng ủy và Ủy ban kiểm tra Đảng ủy. Các nội dung kiểm tra, giám sát được
thực hiện đối với tổ chức đảng và đảng viên, bao gồm việc chấp hành các quy
định của Đảng và việc thực hiện nhiệm vụ được giao. Các hoạt động của tổ chức
đảng trên địa bàn được triển khai gắn với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội,
quốc phòng, an ninh và các nhiệm vụ chính trị của địa phương.
9.2. Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân
Hội đồng nhân dân xã Lộc Ninh được tổ chức theo quy định của Luật Tổ
chức chính quyền địa phương năm 2025, thực hiện chức năng quyết định các
vấn đề quan trọng của địa phương theo thẩm quyền. Các kỳ họp Hội đồng nhân
dân được tổ chức theo quy định, xem xét, thông qua các nghị quyết liên quan
đến phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và các lĩnh vực khác.
Các đại biểu Hội đồng nhân dân được bầu theo quy định, tham gia vào hoạt
động của Hội đồng nhân dân và thực hiện nhiệm vụ đại biểu theo quy định. Các
hoạt động tiếp xúc cử tri được tổ chức tại các khu dân cư, phục vụ việc tiếp nhận
ý kiến, kiến nghị của cử tri.
Ủy ban nhân dân xã được tổ chức theo quy định, thực hiện chức năng quản
lý nhà nước trên địa bàn. Các thành viên Ủy ban nhân dân được phân công phụ
trách các lĩnh vực, thực hiện nhiệm vụ theo quy định của pháp luật.
Các bộ phận chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân được bố trí theo cơ cấu
tổ chức, bao gồm các lĩnh vực kinh tế, tài chính, địa chính - xây dựng, văn hóa
- xã hội và các lĩnh vực khác. Các bộ phận này thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà
nước trên địa bàn theo phân công.
Hoạt động của Ủy ban nhân dân xã được tổ chức thông qua việc ban hành
các văn bản quản lý, triển khai các chương trình, kế hoạch và tổ chức thực hiện
các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội. Các nội dung quản lý nhà nước được
triển khai tại các lĩnh vực trên địa bàn.
Công tác tiếp nhận và giải quyết thủ tục hành chính được thực hiện tại bộ
phận một cửa theo quy định. Các thủ tục hành chính được tiếp nhận, xử lý và trả
kết quả cho người dân theo quy trình, bảo đảm thực hiện nhiệm vụ quản lý hành
chính tại địa phương.
9.3. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể
112
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã Lộc Ninh được tổ chức theo quy
định, thực hiện chức năng tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân và triển
khai các hoạt động tại địa phương. Các tổ chức thành viên của Mặt trận được bố
trí tại địa phương, tham gia các hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ.
Các tổ chức chính trị - xã hội bao gồm Đoàn Thanh niên, Hội Liên hiệp
Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh và các tổ chức khác, được tổ chức
hoạt động tại các khu dân cư và các đơn vị trên địa bàn. Các tổ chức này triển
khai các phong trào và các hoạt động theo kế hoạch.
Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội được tổ
chức tại các khu dân cư, thông qua các chương trình vận động, các phong trào
và các hoạt động cộng đồng. Các hoạt động này gắn với việc vận động nhân dân
tham gia các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương.
Các tổ chức đoàn thể thực hiện các hoạt động tuyên truyền, vận động và
triển khai các chương trình, kế hoạch theo hướng dẫn của cấp trên. Các nội dung
hoạt động được triển khai tại các khu dân cư, cơ quan, đơn vị trên địa bàn.
9.4. Cán bộ, công chức cấp xã
Đội ngũ cán bộ, công chức của xã Lộc Ninh được bố trí theo quy định sau
khi thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính. Số lượng, cơ cấu cán bộ, công chức cơ
bản đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao.
Trong điều kiện quy mô dân số lớn, phạm vi quản lý rộng, khối lượng công
việc tăng, đội ngũ cán bộ, công chức thực hiện nhiệm vụ trên nhiều lĩnh vực
quản lý nhà nước tại địa phương.
VI. Đối với xã Xuân Lộc
1. Vị trí địa lý, địa giới hành chính và vai trò chức năng
1.1. Vị trí địa lý, địa giới hành chính
- Xã Xuân Lộc thuộc tỉnh Đồng Nai, nằm trong khu vực có vị trí địa lý
thuận lợi về giao thông và liên kết vùng, là địa bàn có nhiều điều kiện phát triển
kinh tế - xã hội theo hướng đô thị, đặc biệt là phát triển thương mại, dịch vụ và
du lịch.
- Phía Bắc: Giáp xã Xuân Thành.
- Phía Nam: Giáp xã Xuân Phú.
- Phía Đông: Giáp xã Xuân Hòa.
- Phía Tây: Giáp phường Long Khánh, phường Bảo Vinh.
- Xã có diện tích tự nhiên 140,5 km², gồm 31 ấp, với dân số 101.485 người,
113
là địa bàn có quy mô dân số lớn trong khu vực, mật độ dân cư tương đối cao và
có xu hướng gia tăng cơ học do quá trình đô thị hóa.
- Trên địa bàn xã có hệ thống giao thông tương đối đồng bộ, nhất là đường
cao tốc Phan Thiết - Dầu Giây, Quốc lộ 1, đường sắt Bắc - Nam, các tuyến Tỉnh
lộ (ĐT.763, ĐT.76, ĐT.766, ĐT.772)... kết nối thuận lợi với các tuyến giao
thông quan trọng của tỉnh và khu vực; đồng thời đang được đầu tư, nâng cấp
gắn với các dự án phát triển đô thị, du lịch, đặc biệt là khu vực núi Chứa Chan
và hồ Núi Le, tạo điều kiện thuận lợi cho giao thương, thu hút đầu tư và phát
triển kinh tế - xã hội.
- Với vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên như trên, Xuân Lộc có nhiều lợi thế
trong phát triển đô thị, mở rộng không gian kinh tế, hình thành các khu chức
năng đô thị theo quy hoạch, từng bước trở thành khu vực phát triển năng động
của địa phương.
1.2. Vai trò, chức năng
Xã Xuân Lộc giữ vai trò là khu vực phát triển động lực, có vị trí quan trọng
trong định hướng phát triển kinh tế - xã hội và đô thị hóa của địa phương, với
các chức năng chủ yếu sau:
- Chức năng dân cư đô thị: Là địa bàn có quy mô dân số lớn, mật độ dân
cư cao, nhu cầu về nhà ở, hạ tầng kỹ thuật và dịch vụ đô thị ngày càng tăng;
đang hình thành các khu đô thị, dân cư tập trung, từng bước mang đặc trưng của
đô thị theo hướng hiện đại.
- Chức năng thương mại - dịch vụ: Hoạt động thương mại, dịch vụ phát
triển đa dạng, đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng của Nhân dân;
đóng vai trò là khu vực giao thương, trung chuyển hàng hóa trong khu vực, đặc
biệt gắn với phát triển du lịch sinh thái và dịch vụ.
- Chức năng sản xuất, tiểu thủ công nghiệp: Trên địa bàn có nhiều cơ sở
sản xuất, kinh doanh, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, góp phần giải quyết việc
làm, nâng cao thu nhập cho người dân và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động
theo hướng phi nông nghiệp.
- Chức năng hành chính - xã hội: Là địa bàn tập trung nhiều cơ quan, đơn
vị, trường học, cơ sở y tế, thiết chế văn hóa - thể thao và các tổ chức chính trị -
xã hội; cơ bản đáp ứng nhu cầu phục vụ Nhân dân, từng bước tiệm cận tiêu chí
của đơn vị hành chính đô thị.
- Chức năng du lịch và phát triển đô thị: Với lợi thế có danh lam thắng cảnh
núi Chứa Chan và định hướng triển khai các dự án lớn như khu du lịch sinh thái,
nghỉ dưỡng, giải trí núi Chứa Chan, khu đô thị hồ Núi Le, Xuân Lộc có vai trò
114
quan trọng trong phát triển du lịch, dịch vụ và mở rộng không gian đô thị của
tỉnh Đồng Nai.
- Vai trò trong phát triển đô thị: Theo định hướng quy hoạch của tỉnh Đồng
Nai, khu vực Xuân Lộc là một trong những địa bàn có tiềm năng phát triển thành
khu đô thị, góp phần mở rộng không gian đô thị, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã
hội của địa phương. Theo Quyết định số 586/QĐ-TTg ngày 03/7/2024 của Thủ
tướng Chính phủ, Quyết định số 779/QĐ-UBND ngày 27/02/2026 của UBND
tỉnh Đồng Nai về điều chỉnh Quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến
năm 2050, xã Xuân Lộc thuộc vùng phát triển nông nghiệp công nghệ cao gắn
với đô thị giáo dục khu vực phía Đông Nam của tỉnh; được định hướng phát
triển theo mô hình kết hợp công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ, gắn với đô thị
hóa và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Đồng thời, Xuân Lộc nằm
trong không gian phát triển cụm du lịch nông nghiệp và sinh thái của tỉnh, với
các điểm nhấn quan trọng như núi Chứa Chan, hồ Núi Le, hồ Gia Măng..., góp
phần hình thành các sản phẩm du lịch đặc trưng, có khả năng liên kết vùng và
thu hút du khách.
2. Diện tích tự nhiên và cơ cấu các loại đất
2.1. Diện tích tự nhiên
- Xã Xuân Lộc có tổng diện tích tự nhiên 140,5 km² (tương đương 14.050
ha), là địa bàn có quy mô diện tích lớn, không gian phát triển rộng. Toàn xã
được chia thành 31 ấp, phân bố tương đối đồng đều.
- Với quỹ đất lớn, vị trí thuận lợi và định hướng phát triển đô thị, địa
phương có nhiều điều kiện để mở rộng không gian đô thị, phát triển các khu dân
cư, thương mại - dịch vụ, hạ tầng kỹ thuật và các khu chức năng theo quy hoạch.
2.2. Cơ cấu các loại đất
- Đất nông nghiệp: Khoảng 12.074,13 ha, chiếm 85,94% diện tích tự nhiên,
chiếm tỷ lệ chủ yếu trong cơ cấu sử dụng đất;
- Đất phi nông nghiệp: 1.868,92 ha, chiếm 13,30% diện tích tự nhiên, bao
gồm đất ở, đất giao thông, đất công trình công cộng, đất thương mại - dịch vụ,
sản xuất kinh doanh;
- Đất chưa sử dụng: 106,90 ha, chiếm 0,76% diện tích tự nhiên.
- Hiện nay, tỷ trọng đất phi nông nghiệp có xu hướng tăng nhanh, phù hợp
với quá trình đô thị hóa, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và định hướng phát triển lên
phường.
115
3. Dân số, cơ cấu lao động và thành phần dân cư
3.1. Dân số
- Xã Xuân Lộc có 21.779 hộ với 101.485 nhân khẩu; mật độ dân số khoảng
722 người/km².
- Dân cư phân bố tại 31 ấp, tập trung đông tại các khu vực có điều kiện
thuận lợi về giao thông, thương mại và dịch vụ. Quy mô dân số lớn, mật độ cao
là đặc trưng điển hình của khu vực đang đô thị hóa, đáp ứng tiêu chuẩn về dân
số của đơn vị hành chính cấp phường.
3.2. Cơ cấu lao động
- Cơ cấu lao động trên địa bàn chuyển dịch tích cực theo hướng giảm dần
tỷ trọng nông nghiệp, tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp - xây dựng và thương
mại - dịch vụ:
+ Lao động nông nghiệp: chiếm tỷ lệ 21,36%;
+ Lao động công nghiệp - xây dựng: chiếm tỷ lệ 32,81%;
+ Lao động thương mại - dịch vụ: chiếm tỷ lệ 45,83%.
- Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp ngày càng tăng, phản ánh rõ xu hướng
phát triển đô thị và là điều kiện quan trọng để thành lập phường.
3.3. Thành phần dân cư (thành thị/nông thôn)
- Hiện nay, xã Xuân Lộc được tổ chức theo mô hình đơn vị hành chính
nông thôn. Tuy nhiên:
+ Dân cư có xu hướng tập trung thành các khu đô thị, dân cư quy mô lớn;
+ Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp cao;
+ Lối sống, sinh hoạt mang đặc trưng đô thị ngày càng rõ nét.
- Có thể đánh giá, cơ cấu dân cư đã và đang chuyển dịch mạnh từ nông
thôn sang đô thị, đáp ứng yêu cầu hình thành đơn vị hành chính cấp phường.
4. Hiện trạng phát triển kinh tế
4.1. Các chỉ tiêu phát triển kinh tế
- Kinh tế xã Xuân Lộc tiếp tục tăng trưởng ổn định, cơ cấu kinh tế chuyển
dịch theo hướng tích cực. Tổng giá trị sản xuất các ngành chủ yếu năm 2025:
+ Nông, lâm, thủy sản: 2.168 tỷ đồng;
+ Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp: 2.962 tỷ đồng;
+ Thương mại - dịch vụ: 21.384 tỷ đồng.
116
- Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng: tăng tỷ trọng thương mại - dịch
vụ, công nghiệp; giảm dần tỷ trọng nông nghiệp.
- Thu nhập bình quân đầu người: 101,4 triệu đồng/người/năm;
- Tỷ lệ hộ nghèo: 0,27% (56 hộ), ở mức rất thấp;
- Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp: 78,64% (42.215/53.678 người), có xu
hướng tăng nhanh.
- Các chỉ tiêu trên cho thấy nền kinh tế phát triển theo hướng đô thị, phù
hợp với tiêu chí thành lập phường.
4.2. Phát triển các ngành, lĩnh vực
- Về công nghiệp - xây dựng:
+ Giá trị sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp năm 2025 đạt 2.962
tỷ đồng, với 712 cơ sở sản xuất, hoạt động đa dạng ngành nghề.
+ Các cơ sở sản xuất từng bước đổi mới công nghệ, mở rộng quy mô, góp
phần giải quyết việc làm và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Hoạt động xây
dựng phát triển mạnh, hạ tầng kỹ thuật và dân cư không ngừng được đầu tư,
nâng cấp, tạo diện mạo đô thị ngày càng rõ nét.
- Về thương mại - dịch vụ:
+ Thương mại - dịch vụ là lĩnh vực chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh
tế, với tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ năm 2025 đạt 21.384 tỷ
đồng.
+ Hệ thống chợ, cơ sở kinh doanh phát triển ổn định; hoạt động lưu thông
hàng hóa sôi động, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của Nhân dân và khu vực lân cận.
Đây là lĩnh vực giữ vai trò động lực trong phát triển kinh tế đô thị.
- Về sản xuất nông - lâm - thủy sản:
+ Sản xuất nông nghiệp tiếp tục được duy trì ổn định với giá trị năm 2025
đạt 2.168 tỷ đồng; diện tích sản xuất 11.367,27 ha.
+ Cơ cấu cây trồng, vật nuôi được chuyển đổi theo hướng nâng cao giá trị;
phát triển các sản phẩm chủ lực như hồ tiêu, xoài, thanh long, bưởi, ca cao...
Chăn nuôi được kiểm soát tốt, không để xảy ra dịch bệnh lớn.
+ Kinh tế tập thể phát triển với 16 hợp tác xã, hình thành các chuỗi liên kết
sản xuất; chương trình OCOP đạt kết quả tích cực. Đồng thời, địa phương duy
trì vững chắc danh hiệu nông thôn mới kiểu mẫu, tạo nền tảng quan trọng cho
phát triển đô thị bền vững.
117
5. Hiện trạng phát triển văn hóa - xã hội
5.1. Giáo dục và đào tạo
- Sự nghiệp giáo dục và đào tạo trên địa bàn xã Xuân Lộc tiếp tục được
quan tâm đầu tư, phát triển toàn diện cả về quy mô và chất lượng. Toàn xã hiện
có 27 trường học (gồm 05 trường mầm non công lập, 03 trường mầm non ngoài
công lập, 10 trường tiểu học, 6 trường trung học cơ sở, 02 trường trung học phổ
thông công lập, 01 trường TH-THCS-THPT ngoài công lập) và 01 Trung tâm
Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên và 12 cơ sở giáo dục mầm non
độc lập. Trong đó, có 20/21 trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở công lâp
đạt chuẩn quốc gia, đạt tỷ lệ 95,24%; 02 trường trung học phổ thông công lập
đạt chuẩn quốc gia tỷ lệ 100%. Hệ thống trường lớp được bố trí tương đối hợp
lý, đáp ứng nhu cầu học tập của Nhân dân, cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học
từng bước được đầu tư nâng cấp theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa.
- Công tác phổ cập giáo dục, xóa mù chữ được duy trì vững chắc; chất
lượng giáo dục ngày càng được nâng cao. Công tác huy động học sinh ra lớp
hàng năm đạt và vượt kế hoạch đề ra.
- Nhìn chung, lĩnh vực giáo dục - đào tạo phát triển ổn định, tạo nền tảng
quan trọng trong nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực phục vụ phát triển
kinh tế - xã hội và quá trình đô thị hóa của địa phương.
5.2. Y tế
- Công tác chăm sóc sức khỏe Nhân dân trên địa bàn xã Xuân Lộc được
quan tâm triển khai đồng bộ, từng bước đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh ngày
càng tăng của người dân.
- Mạng lưới y tế cơ sở được củng cố với 05 điểm trạm y tế phân bố trên địa
bàn, tạo điều kiện thuận lợi cho Nhân dân tiếp cận các dịch vụ y tế ban đầu. Đội
ngũ cán bộ y tế từng bước được kiện toàn, nâng cao trình độ chuyên môn, đáp
ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.
- Công tác phòng, chống dịch bệnh được chủ động triển khai; thường xuyên
theo dõi, giám sát tình hình dịch tễ, kịp thời phát hiện và xử lý các ổ dịch, không
để xảy ra dịch bệnh lớn trên diện rộng.
- Hoạt động khám, chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe ban đầu cho Nhân dân
được duy trì thường xuyên; công tác tiêm chủng mở rộng, chăm sóc sức khỏe
bà mẹ và trẻ em được thực hiện đầy đủ.
- Tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế đạt khoảng 95%, góp phần nâng
cao khả năng tiếp cận dịch vụ y tế và đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn.
118
- Nhìn chung, hệ thống y tế cơ sở cơ bản đáp ứng yêu cầu chăm sóc sức
khỏe Nhân dân, phù hợp với tiêu chí phát triển đô thị trong giai đoạn tới.
5.3. Văn hóa, thông tin, thể dục thể thao
- Hoạt động văn hóa, thông tin, thể dục thể thao trên địa bàn xã Xuân Lộc
được quan tâm đầu tư, phát triển đồng bộ, góp phần nâng cao đời sống tinh thần
của Nhân dân và từng bước hoàn thiện các thiết chế văn hóa theo hướng đô thị.
- Hệ thống thiết chế văn hóa - thể thao cơ sở được đầu tư tương đối hoàn
chỉnh, gồm: 01 Quảng trường, 01 Công viên, 01 Trung tâm hội nghị, 01 Trung
tâm văn hóa và Thể thao, 04 Trung tâm Văn hóa - Thể thao và Học tập cộng
đồng, 31 Nhà văn hóa ấp và 01 Nhà văn hóa dân tộc Châu Ro. Các công trình
được khai thác, sử dụng hiệu quả, phục vụ tốt nhu cầu sinh hoạt văn hóa, hội
họp, học tập cộng đồng và tổ chức các hoạt động chính trị - xã hội tại địa phương.
- Công tác tuyên truyền được thực hiện thường xuyên với nhiều hình thức
phong phú; nội dung tập trung vào các nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế - xã
hội, xây dựng nông thôn mới, đảm bảo quốc phòng - an ninh. Ứng dụng công
nghệ thông tin, chuyển đổi số trong lĩnh vực thông tin - truyền thông được đẩy
mạnh, góp phần nâng cao hiệu quả tuyên truyền và phục vụ Nhân dân.
- Các hoạt động văn hóa, văn nghệ, lễ hội truyền thống được duy trì và tổ
chức định kỳ, góp phần bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa địa phương, đặc
biệt là giá trị văn hóa của đồng bào dân tộc Châu Ro.
- Phong trào thể dục thể thao quần chúng phát triển rộng khắp; các hoạt
động thể thao, rèn luyện sức khỏe được duy trì thường xuyên, thu hút đông đảo
người dân tham gia, góp phần nâng cao thể chất và đời sống tinh thần của Nhân
dân.
- Nhìn chung, lĩnh vực văn hóa, thông tin, thể dục thể thao phát triển khá
toàn diện, hệ thống thiết chế cơ sở được đầu tư đồng bộ, là nền tảng quan trọng
để xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, đáp ứng yêu cầu phát triển đô thị
trong thời gian tới.
5.4. Lao động - Thương binh và Xã hội
- Công tác lao động, việc làm và an sinh xã hội được triển khai đồng bộ,
đạt nhiều kết quả tích cực. Công tác giải quyết việc làm được quan tâm, hàng
năm tạo việc làm cho khoảng 2.681 lao động. Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt
85,02% (48.951 người/57.572 người). Các chính sách hỗ trợ vay vốn, đào tạo
nghề, chuyển đổi việc làm được thực hiện hiệu quả.
- Công tác giảm nghèo đạt kết quả tích cực; tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 0,23%,
đời sống Nhân dân ngày càng được cải thiện.
119
- Chính sách đối với người có công với cách mạng được thực hiện đầy đủ,
kịp thời; phong trào “Đền ơn đáp nghĩa” được duy trì thường xuyên.
- Công tác bảo trợ xã hội, chăm sóc người cao tuổi, người khuyết tật, trẻ
em có hoàn cảnh khó khăn được quan tâm thực hiện, đảm bảo an sinh xã hội
trên địa bàn.
5.5. Công tác tôn giáo - tín ngưỡng, dân tộc
- Công tác quản lý nhà nước về tôn giáo, tín ngưỡng trên địa bàn xã Xuân
Lộc được thực hiện đúng quy định của pháp luật; quyền tự do tín ngưỡng, tôn
giáo của Nhân dân được tôn trọng và bảo đảm.
- Trên địa bàn xã hiện có 05 loại hình tôn giáo gồm: Công giáo, Phật giáo,
Tin Lành, Cao Đài và Tứ ân hiếu nghĩa; với khoảng 36 cơ sở sinh hoạt tôn giáo
hợp pháp, hơn 56.000 tín đồ, chiếm khoảng 53% dân số toàn xã. Các tổ chức
tôn giáo hoạt động ổn định, tuân thủ quy định pháp luật, tích cực tham gia các
phong trào thi đua yêu nước, hoạt động từ thiện, nhân đạo, góp phần phát triển
kinh tế - xã hội tại địa phương. Riêng đối với Công giáo và Tin Lành, trên địa
bàn có 07 giáo xứ và 02 chi hội Tin Lành, với tổng số gần 37.000 tín đồ, có ảnh
hưởng lớn trong đời sống xã hội và sinh hoạt cộng đồng dân cư.
- Chính quyền địa phương thường xuyên quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi
để các tổ chức tôn giáo hoạt động theo đúng quy định; kịp thời giải quyết các
nhu cầu sinh hoạt tôn giáo chính đáng; đồng thời tăng cường công tác tuyên
truyền, vận động chức sắc, chức việc, tín đồ chấp hành tốt chủ trương của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước.
- Về công tác dân tộc, xã Xuân Lộc có 1.107 hộ/4.841 khẩu đồng bào dân
tộc thiểu số, sinh sống xen kẽ tại 31 ấp, tập trung đông tại các ấp Gia Hòa, Thọ
Trung và Trung Sơn. Trên địa bàn có 02 làng dân tộc Chơ Ro tại ấp Thọ Trung
và ấp Trung Sơn, còn lưu giữ nhiều giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc.
- Các chính sách dân tộc được triển khai đầy đủ, kịp thời; đời sống vật chất
và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số từng bước được nâng lên. Tình hình
an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số
được giữ vững, khối đại đoàn kết toàn dân tộc tiếp tục được củng cố.
- Nhìn chung, tình hình tôn giáo, tín ngưỡng và dân tộc trên địa bàn xã ổn
định, đoàn kết, là yếu tố thuận lợi trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội và
xây dựng đơn vị hành chính đô thị trong thời gian tới.
6. Hiện trạng phát triển hạ tầng xã hội
6.1. Nhà ở
120
- Nhà ở của Nhân dân trên địa bàn xã Xuân Lộc phát triển ổn định, từng
bước được kiên cố hóa. Tổng số nhà ở khoảng 21.807 căn; trong đó:
+ Nhà kiên cố: 21.807 căn (100%).
+ Nhà bán kiên cố: 0 căn (0%).
+ Nhà tạm, dột nát: 0 căn (0%).
- Diện tích nhà ở bình quân đầu người đạt khoảng 21 m²/người.
- Công tác xóa nhà tạm, nhà dột nát được quan tâm thực hiện; việc phát triển
nhà ở cơ bản phù hợp với quy hoạch, từng bước hình thành các khu dân cư tập
trung, đáp ứng tiêu chí phát triển đô thị.
6.2. Công trình cơ quan hành chính
- Hệ thống trụ sở cơ quan hành chính trên địa bàn xã Xuân Lộc được đầu tư
xây dựng tương đối đồng bộ, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước và phục vụ Nhân
dân.
- Trên địa bàn xã hiện có:
+ 01 Trụ sở Đảng ủy, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã
hội, diện tích khoảng 5.077,9 m
2
.
+ 01 Trụ sở HĐND và UBND xã và 03 cơ quan chuyên môn, diện tích
khoảng 7.467,60 m
2
.
+ 01 Trung tâm Phục vụ hành chính công xã và Ban Chỉ huy Quân sự xã
diện tích khoảng 4.355,3 m
2
.
+ 01 Trụ sở Trung tâm Văn hóa, Thông tin, Thể thao và Bảo tồn thiên nhiên
núi Chứa Chan, diện tích khoảng 3.035,60 m
2
.
- Đồng thời, trên địa bàn còn có nhiều cơ quan, đơn vị ngành dọc cấp trên
đóng chân, góp phần nâng cao vai trò là trung tâm hành chính - dịch vụ của xã,
gồm:
+ Thuế cơ sở 1 tỉnh Đồng Nai;
+ Thống kê cơ sở Xuân Lộc;
+ Hạt Kiểm lâm khu vực 2;
+ Điện lực Xuân Lộc;
+ Bưu điện khu vực Xuân Lộc;
+ Bảo hiểm xã hội cơ sở Xuân Lộc;
+ Trung tâm Y tế khu vực Xuân Lộc;
121
+ Phòng Thi hành án dân sự khu vực 6 - Đồng Nai;
+ Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Đồng Nai;
+ Tòa án nhân dân khu vực 6 - Đồng Nai;
+ Ngân hàng Nông nghiệp và PTNT - Chi nhánh Xuân Lộc;
+ Phòng Giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội Xuân Lộc;
+ Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên khu vực 10.
- Tổng diện tích đất xây dựng trụ sở hành chính khoảng: 19.936... m²; tổng
diện tích sàn sử dụng khoảng: 17.084... m².
- Các trụ sở cơ quan, đơn vị cơ bản được xây dựng khang trang, có vị trí
thuận lợi, được đầu tư trang thiết bị làm việc tương đối đầy đủ; hạ tầng công nghệ
thông tin, hệ thống quản lý văn bản, chữ ký số, dịch vụ công trực tuyến được triển
khai đồng bộ.
- Việc tập trung nhiều cơ quan hành chính, đơn vị ngành dọc trên địa bàn là
điều kiện thuận lợi để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, đồng thời
khẳng định vai trò là trung tâm hành chính - chính trị, kinh tế, dịch vụ, đáp ứng
yêu cầu phát triển đơn vị hành chính đô thị trong thời gian tới.
6.3. Công trình giáo dục
- Hệ thống công trình giáo dục trên địa bàn xã Xuân Lộc được quan tâm đầu
tư theo hướng kiên cố hóa, từng bước hiện đại hóa, cơ bản đáp ứng nhu cầu dạy
và học của nhân dân, phù hợp với định hướng phát triển đô thị.
- Hiện toàn xã có 27 cơ sở giáo dục và 01 Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp
- Giáo dục thường xuyên, với đầy đủ các cấp học từ mầm non đến trung học phổ
thông. Mạng lưới trường lớp được phân bố hợp lý theo địa bàn dân cư; cơ sở vật
chất các trường cơ bản bảo đảm, tỷ lệ phòng học kiên cố cao, đáp ứng yêu cầu tổ
chức dạy học. Hệ thống phòng chức năng, trang thiết bị dạy học từng bước được
đầu tư theo hướng chuẩn hóa, đáp ứng yêu cầu triển khai Chương trình giáo dục
phổ thông 2018.
- Toàn xã hiện có:
+ 08 trường Mầm non (gồm 05 trường công lập, 03 trường ngoài công lập);
+ 10 trường Tiểu học;
+ 06 trường Trung học cơ sở;
+ 03 trường Trung học phổ thông (gồm 02 trường công lập, 01 trường ngoài
công lập liên cấp TH-THCS-THPT);
122
+ 01 Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên.
- Ngoài ra, trên địa bàn còn có 12 cơ sở giáo dục mầm non độc lập, góp phần
đáp ứng nhu cầu gửi trẻ của người dân.
- Tổng số: 27 trường học (chưa bao gồm các cơ sở mầm non độc lập). Trong
đó:
+ Số trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở công lập đạt chuẩn quốc
gia: 20/21 trường (đạt tỷ lệ 95,24%). Số trường đạt chuẩn quốc gia mức độ 2: 03
trường;
+ Số trường trung học phổ thông công lập đạt chuẩn quốc gia: 02/02 trường
(đạt tỷ lệ 100%). Số trường đạt chuẩn quốc gia mức độ 2: 01 trường.
- Tổng số phòng học: 603 phòng.
+ Cấp mầm non: 118 phòng;
+ Cấp tiểu học: 270 phòng;
+ Cấp trung học cơ sở: 97 phòng;
+ Cấp trung học phổ thông: 118 phòng.
- Tổng số phòng hành chính và chức năng: 317 phòng.
+ Cấp mầm non: 54 phòng;
+ Cấp tiểu học: 118 phòng;
+ Cấp trung học cơ sở: 95 phòng;
+ Cấp trung học phổ thông: 50 phòng;
- Tổng số học sinh: 24.011 học sinh;
+ Cấp mầm non: 3.238 trẻ;
+ Cấp tiểu học: 9.273 học sinh;
+ Cấp trung học cơ sở: 7.217 học sinh;
+ Cấp trung học phổ thông: 4.283 học sinh.
- Công tác xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia được quan tâm thực hiện, tỷ
lệ trường đạt chuẩn từng bước được nâng lên. Việc ứng dụng công nghệ thông tin
gắn với chuyển đổi số trong quản lý và giảng dạy được triển khai đồng bộ, góp
phần nâng cao chất lượng giáo dục và hiệu quả hoạt động của các cơ sở giáo dục.
- Hệ thống trường lớp được phân bố tương đối hợp lý trên địa bàn; cơ sở vật
chất, trang thiết bị dạy học từng bước được đầu tư theo hướng chuẩn hóa, hiện
đại hóa; chất lượng giáo dục không ngừng được nâng cao, góp phần quan trọng
123
trong phát triển nguồn nhân lực và đáp ứng tiêu chí hạ tầng xã hội của đơn vị hành
chính cấp phường.
6.4. Công trình y tế
Trạm Y tế xã bảo đảm đủ số lượng người làm việc và cơ cấu chức danh
nghề nghiệp theo Đề án vị trí việc làm đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt;
đội ngũ cán bộ thường xuyên được đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn chuyên môn
theo quy định. Tổng số cán bộ chuyên môn của Trạm Y tế là 48 người, gồm: 04
bác sĩ; 16 y sĩ; 01 dược sĩ đại học; 06 dược sĩ cao đẳng; 03 điều dưỡng đại học;
08 điều dưỡng cao đẳng; 05 hộ sinh cao đẳng và 05 cán bộ dân số.
Mạng lưới y tế cơ sở được củng cố rộng khắp với nhân viên y tế tại 31/31
ấp; mỗi tổ nhân dân đều có nhân viên y tế và cộng tác viên dân số được đào tạo.
Tổng số cộng tác viên dân số là 128 người, góp phần nâng cao hiệu quả công
tác chăm sóc sức khỏe ban đầu và công tác dân số – kế hoạch hóa gia đình.
Trên địa bàn xã hiện có hệ thống y tế tương đối đồng bộ, bao gồm y tế công
lập và y tế ngoài công lập, cơ bản đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe Nhân
dân. Toàn xã có 03 phòng khám đa khoa và 13 phòng khám tư nhân, 121 quầy
thuốc và 03 nhà thuốc đang hoạt động cùng đội ngũ y, bác sĩ có trình độ chuyên
môn, đã góp phần chia sẻ áp lực với y tế công lập, đa dạng hóa loại hình dịch vụ
và nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ y tế của người dân.
Ngoài ra trên địa bàn xã có Trung tâm Y tế khu vực Xuân Lộc với quy mô
300 giường bệnh, đội ngũ 275 y, bác sĩ và nhân viên y tế, thực hiện chức năng
khám, chữa bệnh, dự phòng và các dịch vụ y tế khác, góp phần nâng cao năng
lực chăm sóc sức khỏe Nhân dân trong khu vực.
Công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân luôn được quan
tâm, đưa vào Nghị quyết của Đảng ủy và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội
hằng năm của địa phương. Trạm Y tế xã thực hiện tốt nhiệm vụ chăm sóc sức
khỏe ban đầu, khám, chữa bệnh và quản lý sức khỏe cộng đồng. Hệ thống trang
thiết bị y tế cơ bản đáp ứng yêu cầu chuyên môn và được bảo dưỡng định kỳ,
sửa chữa, thay thế kịp thời.
Công tác phòng, chống dịch bệnh được triển khai chủ động, hiệu quả; thực
hiện tốt công tác giám sát, phát hiện và xử lý dịch bệnh kịp thời, không để dịch
lớn xảy ra trên địa bàn. Ban Chỉ đạo chăm sóc sức khỏe Nhân dân xã xây dựng
và triển khai kế hoạch phòng, chống dịch bệnh ngay từ đầu năm; đồng thời thực
hiện đầy đủ các Chương trình mục tiêu y tế, góp phần kiểm soát tốt dịch bệnh,
ngộ độc thực phẩm và tai nạn thương tích trên địa bàn.
6.5. Công trình văn hóa, thể dục - thể thao
124
- Hệ thống thiết chế văn hóa - thể thao gồm:
+ 01 Quảng trường
+ 01 Công viên
+ 01 Trung tâm Hội nghị
+ 01 Trung tâm Văn hóa và Thể thao (gồm sân vận động và Nhà thi đấu đa
năng)
+ 04 Trung tâm Văn hóa - Thể thao và Học tập cộng đồng
+ 31 Nhà văn hóa ấp
+ 01 Nhà văn hóa dân tộc Chơ Ro
- Ngoài ra, trên địa bàn xã còn có:
+ Sân thể thao (bóng đá, bóng chuyền, pickleball, cầu lông...): 65 sân (phân
bố tại các ấp, trường học và khu dân cư).
+ Điểm sinh hoạt cộng đồng khác: 130 điểm (khu vui chơi giải trí, điểm
sinh hoạt thanh thiếu nhi, câu lạc bộ văn hóa - thể thao, điểm sinh hoạt người
cao tuổi,...).
- Các công trình cơ bản đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hóa, hội họp, giao
lưu cộng đồng và luyện tập thể dục thể thao của Nhân dân; góp phần nâng cao
đời sống tinh thần, xây dựng nếp sống văn minh, phù hợp với tiêu chí của đơn vị
hành chính đô thị.
6.6. Công trình thương mại - dịch vụ - du lịch
- Hệ thống thương mại, dịch vụ trên địa bàn xã Xuân Lộc phát triển khá đa
dạng, từng bước hình thành các loại hình kinh doanh theo hướng đô thị, đáp ứng
nhu cầu sản xuất, tiêu dùng của Nhân dân và khu vực lân cận.
- Hệ thống thương mại, dịch vụ gồm:
+ 05 chợ truyền thống: Gia Ray, Xuân Lộc, Thọ Lộc, Xuân Thọ, Suối Cát
+... siêu thị, cửa hàng tiện lợi (các chuỗi bán lẻ hiện đại, cửa hàng tổng
hợp...).
+ 712 cơ sở công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp.
+... cơ sở kinh doanh thương mại - dịch vụ (hộ kinh doanh cá thể, doanh
nghiệp, cơ sở lưu trú, ăn uống, vận tải, dịch vụ tổng hợp...).
+ Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ ước đạt khoảng: 21.384
tỷ đồng/năm.
- Về du lịch:
125
+ Xuân Lộc có nhiều tiềm năng phát triển du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, tâm
linh, đặc biệt gắn với danh lam thắng cảnh quốc gia núi Chứa Chan – một trong
những điểm đến nổi bật của tỉnh Đồng Nai.
+ Một số dự án, điểm du lịch đang triển khai: Dự án du lịch sinh thái, nghỉ
dưỡng, giải trí núi Chứa Chan (quy mô khoảng 107 ha); Dự án Khu đô thị hồ Núi
Le (quy mô khoảng 250 ha); Các dự án phát triển đô thị, dịch vụ, du lịch khu vực
xung quanh núi Chứa Chan theo quy hoạch (tổng quy mô toàn khu khoảng 1.452
ha)
+ 15 điểm tham quan, cơ sở dịch vụ du lịch hiện hữu (khu tâm linh, điểm
tham quan tự nhiên, dịch vụ ăn uống, lưu trú...).
+ 25 điểm lưu trú (gồm nhà nghỉ, khách sạn, homestay, cơ sở lưu trú du lịch
khác).
+ Lượng khách du lịch ước đạt khoảng 250.000 - 300.000 lượt/năm, tập
trung chủ yếu vào các dịp lễ, Tết và mùa cao điểm hành hương núi Chứa Chan.
+ Hạ tầng thương mại - dịch vụ - du lịch từng bước được đầu tư, mở rộng;
các loại hình dịch vụ ngày càng đa dạng, chất lượng được nâng cao, góp phần
thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng dịch vụ, phù hợp
với tiêu chí và định hướng phát triển đơn vị hành chính đô thị.
7. Hiện trạng phát triển hạ tầng kỹ thuật đô thị
7.1. Giao thông
- Đường bộ:
+ Hệ thống giao thông trên địa bàn xã Xuân Lộc cơ bản được hình thành,
có sự kết nối với các tuyến giao thông quan trọng của tỉnh và khu vực như đường
cao tốc Phan Thiết - Dầu Giây, Quốc lộ 1, các tuyến Tỉnh lộ (ĐT.763, ĐT.765,
ĐT.766, ĐT.772), tạo điều kiện thuận lợi cho giao thương, đi lại và phát triển
kinh tế - xã hội. Mạng lưới giao thông nội bộ từng bước được đầu tư, nâng cấp,
nhiều tuyến đường liên ấp, trục chính được nhựa hóa, bê tông hóa.
- Để đáp ứng yêu cầu phát triển, cần tập trung đầu tư các tuyến giao thông
trọng điểm, cụ thể:
+ Dự án đường quanh núi Chứa Chan: chiều dài khoảng 15,6 km, quy mô
6 làn xe (nền đường rộng 45m), tổng mức đầu tư khoảng 4.188 tỷ đồng.
+ Dự án đường ĐT.766: chiều dài khoảng 4,6 km, quy mô 6 làn xe, tổng
mức đầu tư khoảng 1.235 tỷ đồng.
+ Dự án đường kết nối từ ĐT.763 đến đường quanh núi Chứa Chan, chiều
dài khoảng 1,08 km, quy mô 6 làn xe, tổng mức đầu tư khoảng 290 tỷ đồng.
126
+ Dự án đường hồ Núi Le: kết nối từ ĐT.766 đến đường Trương Công
Định, chiều dài khoảng 1,07 km, quy mô 4 làn xe, tổng mức đầu tư khoảng 159
tỷ đồng.
+ Dự án đường Ngô Đức Kế: kết nối từ ĐT.766 đến đường quanh núi Chứa
Chan, chiều dài khoảng 1,06 km, quy mô 4 làn xe, tổng mức đầu tư khoảng 158
tỷ đồng.
- Các dự án trên có ý nghĩa quan trọng trong việc hình thành mạng lưới
giao thông khung, kết nối liên vùng, giảm tải cho khu vực trung tâm, đồng thời
tạo động lực phát triển đô thị, du lịch và thu hút đầu tư.
- Đường thủy nội địa: Trên địa bàn xã không có.
7.2. Thủy lợi
- Trên địa bàn xã có 02 công trình thủy lợi. Hồ Núi Le và hồ Gia Măng là
công trình thủy lợi lớn. Trong đó, có công thủy thủy lợi hồ Gia Măng có 29,7
km kênh thủy lợi (10,2 kênh chính và 19,5 km Kênh nội đồng), công trình mới
được xây dựng và hoạt động hiệu quả.
- Hệ thống công trình thủy lợi trên địa bàn cơ bản đáp ứng nhu cầu tưới
tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp và phòng, chống thiên tai. Các tuyến kênh,
mương nội đồng được đầu tư, cải tạo từng bước; 02 hồ thủy lợi điều tiết nước,
khai thác hiệu quả phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt của người dân trên địa bàn.
7.3. Cấp điện
- Hệ thống điện lưới quốc gia đã được đầu tư phủ khắp 31 ấp, cơ bản đáp
ứng nhu cầu sinh hoạt và sản xuất của Nhân dân. Tỷ lệ hộ sử dụng điện đạt
100%.
- Lưới điện trung áp, hạ áp được nâng cấp, cải tạo định kỳ; chất lượng cung
cấp điện từng bước được nâng cao. Trên địa bàn có các trạm biến áp phân phối,
hệ thống đường dây trung - hạ thế đảm bảo cung cấp điện ổn định cho khu dân
cư, cơ sở sản xuất, kinh doanh.
7.4. Cấp nước
- Hệ thống cấp nước sinh hoạt trên địa bàn từng bước được đầu tư, mở
rộng; tỷ lệ hộ dân sử dụng nước sạch, nước hợp vệ sinh đạt 100%.
- Nguồn nước được cung cấp từ hệ thống cấp nước tập trung và các nguồn
nước hợp vệ sinh khác; từng bước mở rộng mạng lưới đường ống đến các khu
dân cư.
- Công suất nhà máy nước, chiều dài mạng lưới: 15.000 m
3
/ngày/đêm.
127
7.5. Thoát nước thải và vệ sinh môi trường
- Thoát nước mưa, nước thải sinh hoạt: Hệ thống thoát nước trên địa bàn
chủ yếu là thoát nước tự nhiên kết hợp với các tuyến mương, cống thoát nước;
một số khu vực đã được đầu tư hệ thống thoát nước kiên cố.
- Thoát nước thải công nghiệp: Nước thải từ các cơ sở sản xuất, kinh doanh
cơ bản được xử lý cục bộ trước khi xả ra môi trường theo quy định; tuy nhiên
chưa có hệ thống thu gom, xử lý tập trung.
- Số cơ sở có hệ thống xử lý đạt chuẩn: ...
- Xử lý chất thải rắn: Công tác thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn
sinh hoạt được tổ chức thực hiện thường xuyên; tỷ lệ thu gom đạt 100%. Rác
thải được thu gom và vận chuyển đến khu xử lý tập trung theo quy định.
- Phong trào bảo vệ môi trường, phân loại rác tại nguồn từng bước được
triển khai; ý thức của người dân ngày càng được nâng cao. Tuy nhiên, trước yêu
cầu phát triển đô thị, cần tiếp tục đầu tư nâng cao năng lực thu gom, xử lý chất
thải, xây dựng hệ thống quản lý môi trường đồng bộ, hiện đại.
- Nhìn chung, hệ thống hạ tầng kỹ thuật trên địa bàn xã Xuân Lộc đã được
quan tâm đầu tư, từng bước hoàn thiện, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã
hội; đồng thời cần tiếp tục nâng cấp, đồng bộ hóa theo tiêu chí đô thị để đáp ứng
yêu cầu thành lập phường trong thời gian tới.
8. Quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội
8.1. Quốc phòng
- Công tác quốc phòng trên địa bàn xã Xuân Lộc luôn được cấp ủy, chính
quyền quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện đồng bộ, hiệu quả; gắn
kết chặt chẽ giữa nhiệm vụ quốc phòng với phát triển kinh tế - xã hội, góp phần
củng cố nền quốc phòng toàn dân và thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế
trận an ninh Nhân dân vững chắc.
- Công tác quân sự, quốc phòng địa phương được triển khai toàn diện, hoàn
thành tốt các chỉ tiêu, nhiệm vụ được giao, đặc biệt là công tác tuyển chọn và
gọi công dân nhập ngũ hàng năm đạt 100% chỉ tiêu. Lực lượng Dân quân tự vệ
được xây dựng đảm bảo về số lượng, chất lượng, tổ chức biên chế phù hợp; công
tác huấn luyện quân sự, giáo dục chính trị được duy trì thường xuyên, nâng cao
trình độ sẵn sàng chiến đấu.
- Hệ thống kế hoạch sẵn sàng chiến đấu, kế hoạch phòng thủ được xây
dựng, rà soát, bổ sung kịp thời; công tác xây dựng, quản lý và huy động lực
lượng dự bị động viên được thực hiện chặt chẽ, sẵn sàng đáp ứng yêu cầu nhiệm
128
vụ trong mọi tình huống. Công tác chính sách hậu phương quân đội, chăm lo
đời sống vật chất, tinh thần cho lực lượng vũ trang được quan tâm thực hiện tốt.
8.2. An ninh và trật tự an toàn xã hội
- Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn được giữ
vững, ổn định. Các lực lượng chức năng chủ động nắm chắc tình hình, kịp thời
phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn các âm mưu, hoạt động chống phá của các thế
lực thù địch; không để phát sinh “điểm nóng”, đảm bảo an ninh trong mọi tình
huống.
- Công tác phòng, chống tội phạm và tệ nạn xã hội được triển khai đồng
bộ, hiệu quả; các loại tội phạm được kiềm chế; công tác phòng cháy, chữa cháy,
cứu nạn, cứu hộ được tăng cường. Tình hình tai nạn giao thông được kiểm soát,
từng bước kéo giảm.
- Phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc” tiếp tục được đẩy mạnh;
lực lượng tham gia bảo đảm an ninh trật tự ở cơ sở được củng cố, kiện toàn; phát
huy vai trò của Nhân dân trong công tác giữ gìn an ninh, trật tự.
- Công tác đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ nhiệm vụ đảm bảo
an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được quan tâm; hiệu lực, hiệu quả quản
lý nhà nước về an ninh trật tự từng bước được nâng cao, đáp ứng yêu cầu nhiệm
vụ trong tình hình mới và phù hợp với định hướng phát triển đô thị khi thành
lập phường.
9. Tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ công chức
9.1. Đảng ủy
- Đảng ủy xã Xuân Lộc được tổ chức, sắp xếp theo đúng quy định của Điều
lệ Đảng và các văn bản hướng dẫn của Trung ương, Tỉnh ủy; đảm bảo vai trò
lãnh đạo toàn diện đối với hệ thống chính trị trên địa bàn.
- Hiện nay, Đảng ủy xã được kiện toàn với cơ cấu gồm Bí thư, các Phó Bí
thư và các Ủy viên Ban Chấp hành; trong đó Bí thư Đảng ủy đồng thời giữ chức
danh Chủ tịch Hội đồng nhân dân xã. Đảng ủy đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo
thực hiện hiệu quả nhiệm vụ chính trị, công tác xây dựng Đảng, phát triển kinh
tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh tại địa phương.
- Công tác tổ chức bộ máy, cán bộ được thực hiện theo hướng tinh gọn,
hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 02
cấp sau sắp xếp.
9.2. Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân
- Hội đồng nhân dân xã được tổ chức đảm bảo theo quy định, gồm:
129
+ 01 Chủ tịch Hội đồng nhân dân (do Bí thư Đảng ủy xã kiêm nhiệm).
+ 01 Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân chuyên trách.
+ 02 Ban của Hội đồng nhân dân (Trưởng ban kiêm nhiệm, 02 Phó Trưởng
ban chuyên trách).
- Hoạt động của Hội đồng nhân dân từng bước được nâng cao chất lượng,
phát huy vai trò cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, quyết định các vấn
đề quan trọng và giám sát việc thực hiện.
- Ủy ban nhân dân xã được tổ chức đảm bảo theo quy định, gồm: 01 Chủ
tịch và 02 Phó Chủ tịch (trong đó 01 Phó Chủ tịch UBND kiêm Giám đốc Trung
tâm Phục vụ hành chính công xã).
- Các cơ quan chuyên môn, đơn vị sự nghiệp trực thuộc UBND xã được tổ
chức tương đối đầy đủ, gồm:
+ Văn phòng HĐND và UBND: 11/11 biên chế.
+ Phòng Kinh tế: 13/13 biên chế, có 03 người hoạt động không chuyên
trách hỗ trợ.
+ Phòng Văn hóa - Xã hội: 09/11 biên chế, có 03 người hoạt động không
chuyên trách hỗ trợ.
+ Trung tâm Phục vụ hành chính công: 09/09 biên chế, có 04 người hoạt
động không chuyên trách hỗ trợ.
+ Trung tâm Văn hóa, Thông tin, Thể thao và Bảo tồn thiên nhiên núi Chứa
Chan: 26/27 viên chức và 04 hợp đồng lao động.
+ Ban Chỉ huy Quân sự xã: 03/04 biên chế (hiện đang thực hiện quy trình
bổ nhiệm 01 Phó Chỉ huy trưởng còn thiếu).
- Tổ chức bộ máy UBND xã cơ bản đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước trên
địa bàn; các vị trí còn thiếu được bố trí kiêm nhiệm hoặc điều động, biệt phái để
đảm bảo hoạt động thông suốt.
9.3. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể
- Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội (Đoàn Thanh niên, Hội
Liên hiệp Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh...) được kiện toàn, hoạt
động theo đúng quy định.
- Các tổ chức đoàn thể đã phát huy tốt vai trò trong tập hợp, vận động Nhân
dân thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; tham
gia xây dựng Đảng, chính quyền; thực hiện các phong trào thi đua yêu nước,
chương trình phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh.
130
- Đội ngũ cán bộ Mặt trận và các đoàn thể từng bước được nâng cao về
chất lượng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.
9.4. Cán bộ, công chức cấp xã
- Căn cứ quyết định của UBND xã về việc giao biên chế năm 2026, tổng
số biên chế được giao trên địa bàn trong năm 2026 là 135 biên chế, gồm:
+ 54 biên chế công chức;
+ 81 biên chế viên chức;
+ 19 người hoạt động không chuyên trách.
- Đến nay, đã bố trí 131/135 biên chế, trong đó: công chức: 50/54 biên chế
(còn khuyết 04 biên chế); viên chức và người hoạt động không chuyên trách cơ
bản được bố trí theo quy định.
- Nhìn chung, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức của xã có trình độ
chuyên môn, phẩm chất chính trị, tinh thần trách nhiệm cao, từng bước đáp ứng
yêu cầu quản lý nhà nước và phục vụ Nhân dân trong giai đoạn chuyển đổi lên
phường.
VII. Đối với xã Nhơn Trạch
1. Vị trí địa lý, địa giới hành chính và vai trò chức năng
1.1. Vị trí địa lý, địa giới hành chính
Phía Bắc giáp: sông Đồng Nai và xã An Phước hướng ra cao tốc thành phố
Hồ Chí Minh - Long Thành - Dầu Giây
Phía Nam giáp: xã Phước An
Phía Đông giáp: xã Long Thành hướng ra QL51 và cao tốc Biên Hòa –
Vũng Tàu, sân bay Quốc tế Long Thành
Phía Tây giáp: xã Đại Phước
Với hàng loạt công trình hạ tầng chiến lược đang và sắp hoàn thành, Nhơn
Trạch được kỳ vọng sẽ trở thành trung tâm kết nối mới giữa Thành phố Hồ Chí
Minh – Sân bay quốc tế Long Thành – Cảng Phước An, đóng vai trò then chốt
trong hệ sinh thái kinh tế khu vực. Hiện nay, hàng loạt công trình giao thông
trọng điểm đang được đầu tư mạnh mẽ: Đường 25C, Đường Vành đai 3 thành
phố Hồ Chí Minh, cao tốc Bến Lức – Long Thành, cùng với các cầu Cát Lái,
Phước Khánh, Nhơn Trạch – Thủ Thiêm... đang từng bước hoàn thiện.
Khi các dự án này đi vào vận hành, Nhơn Trạch sẽ trở thành điểm giao
thương chiến lược, giúp việc di chuyển, vận chuyển hàng hóa từ thành phố Hồ
131
Chí Minh – Đồng Nai – Bà Rịa Vũng Tàu trở nên nhanh chóng và thuận tiện
hơn bao giờ hết.
Bên cạnh đó, dự án Cảng tổng hợp Phước An – một trong những cảng nước
sâu lớn của khu vực – đang được triển khai đồng bộ, sẽ tạo bước đột phá trong
phát triển logistics, kết nối trực tiếp với cụm cảng Cái Mép – Thị Vải và sân bay
Long Thành.
Sự hội tụ giữa đường bộ, đường thủy và hàng không sẽ biến Nhơn Trạch
thành “trục động lực kinh tế mới” của khu vực phía Nam.
Không chỉ có vị trí thuận lợi, Nhơn Trạch còn được thiên nhiên ưu đãi với
địa hình cao ráo, không ngập úng, quỹ đất rộng và bằng phẳng – yếu tố quan
trọng giúp phát triển đô thị, công nghiệp và hạ tầng bền vững.
Trong quy hoạch tổng thể, Nhơn Trạch được định hướng phát triển thành
đô thị loại II, mang mô hình “đô thị công nghiệp – dịch vụ – sinh thái”.
Song song đó, các dự án khu dân cư, thương mại, nghỉ dưỡng cao cấp, khu
đô thị mới dọc theo các trục đường lớn như 25B, 25C và Vành đai 3 đang được
đẩy nhanh tiến độ, tạo diện mạo hiện đại, văn minh cho vùng đất này.
Khi sân bay Long Thành đi vào hoạt động, các cây cầu kết nối hoàn thành,
và cảng Phước An chính thức khai thác, Nhơn Trạch sẽ không chỉ là vùng kinh
tế năng động của Đồng Nai, mà còn là trung tâm phát triển mới của cả vùng
Đông Nam Bộ – nơi hội tụ của thiên thời, địa lợi và nhân hòa.
1.2. Vai trò chức năng
Xã Nhơn Trạch (Đồng Nai) đóng vai trò là cửa ngõ giao thương chiến lược
phía Tây Nam tỉnh, kết nối trực tiếp với thành phố Hồ Chí Minh và nằm trong
tam giác kinh tế trọng điểm. Chức năng chính bao gồm phát triển công nghiệp,
dịch vụ logistics, là đô thị vệ tinh sân bay Long Thành và sở hữu tiềm năng du
lịch sinh thái
Sở hữu vị trí "vàng" tiếp giáp thành phố Hồ Chí Minh qua sông Nhà Bè,
sông Đồng Nai, nơi đây hội tụ các dự án trọng điểm như Đường Vành đai 3, cầu
Nhơn Trạch - Thủ Thiêm, biến Nhơn Trạch thành trục động lực kinh tế quan
trọng.
Nơi đây tập trung nhiều khu công nghiệp, thu hút đầu tư trong và ngoài
nước, đóng góp lớn vào nguồn thu ngân sách địa phương và giải quyết việc làm.
Là đơn vị hành chính mới được sáp nhập, xã thực hiện chức năng quản lý,
ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và bảo tồn, phát huy các di tích
lịch sử - văn hóa quốc gia
132
Định hướng trong thời gian tới, xã Nhơn Trạch tiếp tục đầu tư phát triển
đô thị gắn với định hướng giao thông công cộng (mô hình TOD), phát triển
mạnh mẽ thương mại, dịch vụ, du lịch theo hướng hiện đại, có giá trị gia tăng
cao phục vụ phát triển đô thị công nghiệp, đô thị vệ tinh sân bay.
Nhơn Trạch đang đi đúng hướng khi vừa tận dụng lợi thế thiên nhiên, vừa
chú trọng quy hoạch dài hạn và hạ tầng đồng bộ. Với nền tảng đất đai cao ráo,
không ngập úng; vị trí tiếp giáp thành phố Hồ Chí Minh và các đầu mối giao
thông lớn; cùng quyết tâm của chính quyền và sự đồng hành của doanh nghiệp,
Nhơn Trạch đang dần hiện thực hóa giấc mơ trở thành “thành phố cửa ngõ phía
Đông của thành phố Hồ Chí Minh” trong tương lai gần
2. Diện tích tự nhiên và cơ cấu các loại đất
2.1. Diện tích tự nhiên: Xã Nhơn Trạch được hình thành từ việc sáp nhập
5 đơn vị cũ: Thị trấn Hiệp Phước, Xã Long Tân (huyện Nhơn Trạch), Xã Phú
Thạnh, Xã Phú Hội, Xã Phước Thiền. thuộc địa bàn Huyện Nhơn Trạch, Đồng
Nai cũ trước đây. Với diện tích tự nhiên 108,24 km²
2.2. Cơ cấu các loại đất
Tổng diện tích tự nhiên của xã Nhơn Trạch là 10.804,60 ha. Trong đó, diện
tích đất nông nghiệp là 5.222,06 ha, chiếm 48,33%; diện tích đất phi nông
nghiệp 5.542,79 ha, chiếm 51,30 % và diện tích đất chưa sử dụng 39,76 ha chiếm
0.37 %.
Bảng 01: Thống kê diện tích theo mục đích sử dụng
Đơn vị tính: ha
STT
Mục đích sử dụng
MÃ
Diện tích
(ha)
Tỷ lệ (%)
Tổng diện tích tự nhiên
TTN
10.804,60
100
I
Nhóm đất nông nghiệp
NNP
5.222,06
48,33
1
Đất trồng cây hằng năm
CHN
2.430,22
46,54
2
Đất trồng cây lâu năm
CLN
2.608,34
49,95
3
Đất lâm nghiệp
LNP
-
-
4
Đất nuôi trồng thủy sản
NTS
183,49
3,51
133
STT
Mục đích sử dụng
MÃ
Diện tích
(ha)
Tỷ lệ (%)
5
Đất chăn nuôi tập trung
CNT
-
-
6
Đất làm muối
LMU
-
-
7
Đất nông nghiệp khác
NKH
-
-
II
Nhóm đất phi nông nghiệp
PNN
5.542,79
51,30
1
Đất ở
OTC
919,72
16,59
2
Đất xây dựng trụ sở cơ quan
TSC
8,10
0,15
3
Đất quốc phòng, an ninh
CQA
467,02
8,43
4
Đất xây dựng công trình sự
nghiệp
DSN
115,83
2,09
4.1
Đất xây dựng cơ sở văn hóa
DVH
5,46
4,71
4.2
Đất xây dựng cơ sở xã hội
DXH
-
-
4.3
Đất xây dựng cơ sở y tế
DYT
2,82
2,43
4.4
Đất xây dựng cơ sở giáo dục
và đào tạo
DGD
82,78
71,46
4.5
Đất xây dựng cơ sở thể dục,
thể thao
DTT
22,41
19,35
4.6
Đất xây dựng cơ sở khoa học
và công nghệ
DKH
-
-
4.7
Đất xây dựng cơ sở môi
trường
DMT
-
-
4.8
Đất xây dựng cơ sở khí tượng
thủy văn
DKT
-
-
4.9
Đất xây dựng cơ sở ngoại giao
DNG
-
-
134
STT
Mục đích sử dụng
MÃ
Diện tích
(ha)
Tỷ lệ (%)
4.10
Đất xây dựng công trình sự
nghiệp khác
DSK
2,35
2,05
5
Đất sản xuất, kinh doanh phi
nông nghiệp
CSK
2.015,29
36,36
5.1
Đất khu công nghiệp, cụm
công nghiệp
SCC
1.902,93
94,45
5.2
Đất thương mại, dịch vụ
TMD
49,30
2,45
5.3
Đất cơ sở sản xuất phi nông
nghiệp
SKC
63,06
3,1
5.4
Đất sử dụng cho hoạt động
khoáng sản
SKS
-
-
6
Đất sử dụng vào mục đích
công cộng
CCC
1.226,85
22,13
6.1
Đất công trình giao thông
DGT
970,61
79,11
6.2
Đất công trình thủy lợi
DTL
12,08
0,98
6.3
Đất công trình cấp nước, thoát
nước
DCT
37,45
3,05
6.4
Đất công trình phòng, chống
thiên tai
DPC
-
-
6.5
Đất có di tích lịch sử - văn
hóa, danh lam thắng cảnh, di
sản thiên nhiên
DDD
2,30
0,19
6.6
Đất công trình xử lý chất thải
DRA
0,08
0,02
6.7
Đất công trình năng lượng,
chiếu sáng công cộng
DNL
9,74
0,79
135
STT
Mục đích sử dụng
MÃ
Diện tích
(ha)
Tỷ lệ (%)
6.8
Đất công trình hạ tầng bưu
chính, viễn thông, công nghệ
thông tin
DBV
1,24
0,10
6.9
Đất chợ dân sinh, chợ đầu mối
DCH
2,21
0,18
6.10
Đất khu vui chơi, giải trí công
cộng, sinh hoạt cộng đồng
DKV
191,14
15,58
7
Đất tôn giáo
TON
8,36
0,15
8
Đất tín ngưỡng
TIN
5,84
0,11
9
Đất nghĩa trang, nhà tang lễ,
cơ sở hỏa táng; đất cơ sở lưu
trữ tro cốt
NTD
16,42
0,30
10
Đất có mặt nước chuyên dùng
TVC
759,36
13,70
10.1
Đất có mặt nước dạng sông,
ngòi, kênh, rạch, suối
SON
759,36
100
11
Đất phi nông nghiệp khác
PNK
-
-
III
Nhóm đất chưa sử dụng
CSD
39,76
0.37
1
Đất do Nhà nước thu hồi theo
quy định của pháp luật đất đai
chưa giao, chưa cho thuê
CGT
39,76
100
2
Đất bằng chưa sử dụng
BCS
-
-
3
Đất đồi núi chưa sử dụng
DCS
-
-
4
Núi đá không có rừng cây
NCS
-
-
5
Đất có mặt nước chưa sử dụng
MCS
-
-
* Nhóm đất nông nghiệp:
136
Diện tích đất nông nghiệp 5.222,06 ha, chiếm 48,33 % tổng diện tích tự
nhiên. Cơ cấu như sau:
- Đất trồng cây hằng năm: diện tích 2.430,22 ha, chiếm 46,54 % diện tích
đất nông nghiệp.
- Đất trồng cây lâu năm: diện tích 2.608,34 ha, chiếm 49,95 % diện tích đất
nông nghiệp.
- Đất lâm nghiệp: trên địa bàn xã không có loại đất này.
- Đất nuôi trồng thủy sản: diện tích 183,49 ha, chiếm 3,51 % diện tích đất
nông nghiệp, chủ yếu là diện tích nuôi thuỷ sản nước ngọt.
- Đất chăn nuôi tập trung: trên địa bàn xã không có loại đất này.
- Đất làm muối: trên địa bàn xã không có loại đất này.
- Đất nông nghiệp khác: trên địa bàn xã không có loại đất này.
* Nhóm đất phi nông nghiệp:
Tổng diện tích 5.542,79 ha, chiếm 51,30 % tổng diện tích tự nhiên. Trong
đó:
- Đất ở: diện tích 919,72 ha, chiếm 16,59 % diện tích đất phi nông nghiệp.
Toàn bộ là đất ở nông thôn, phân bố tập trung ở khu vực trung tâm của xã, các
tuyến đường giao thông chính của xã và đất ở thuộc các dự án trên địa bàn đã
được các cơ quan có thẩm quyền giao đất và phê duyệt quy hoạch chi tiết.
- Đất xây dựng trụ sở cơ quan: diện tích 8,10 ha, chiếm 0,15% diện tích đất
phi nông nghiệp, là diện tích xây dựng các công trình: Trụ sở UBND và văn
phòng làm việc của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã
hội trên địa bàn xã.
- Đất quốc phòng, an ninh: diện tích 467,02 ha, chiếm 8,43 % diện tích đất
phi nông nghiệp.
- Đất xây dựng công trình sự nghiệp: diện tích 115,83 ha, chiếm 2,09 %
diện tích đất phi nông nghiệp, cụ thể như sau:
+ Đất xây dựng cơ sở văn hóa: diện tích 5,46 ha là diện tích của Trung tâm
Văn hóa xã nhằm phục vụ nhu cầu về đời sống tinh thần của người dân. Chiếm
4,71% diện tích đất xây dựng công trình sự nghiệp.
+ Đất xây dựng cơ sở xã hội: trên địa bàn xã không có loại đất này.
+ Đất xây dựng cơ sở y tế: diện tích 2,82 ha, là diện tích trạm y tế xã Chiếm
2,43% diện tích đất xây dựng công trình sự nghiệp.
137
+ Đất xây dựng cơ sở giáo dục và đào tạo: diện tích 82,78 ha, là diện tích
các cơ sở giáo dục nhà nước trên địa bàn như: Trường THCS Hiệp Phước,
Trường Tiểu học Hiệp Phước, Trường Mầm non Hiệp Phước, Trường mầm non
Phú Thạnh, Trường THCS Phú Thạnh, Trường TH Phú Thạnh, Trường THPT
Phước Thiền, trường THCS Phước Thiền, Trường Mẫu giáo Hoa Sen, Trường
TH Long Tân... Chiếm 71,46% diện tích đất xây dựng công trình sự nghiệp.
+ Đất xây dựng cơ sở thể dục - thể thao: diện tích 22,41 ha, là trung tâm
văn hoá thể thao xã và đất thể dục thể thao trong các khu dân cư phát triển theo
dự án.... Chiếm 19,35% diện tích đất xây dựng công trình sự nghiệp.
+ Đất xây dựng cơ sở khoa học và công nghệ: không có đất này trên địa
bàn xã.
+ Đất xây dựng cơ sở môi trường: không có đất này trên địa bàn xã.
+ Đất xây dựng cơ sở khí tượng thủy văn: không có đất này trên địa bàn
xã.
+ Đất xây dựng cơ sở ngoại giao: không có đất này trên địa bàn xã.
+ Đất xây dựng công trình sự nghiệp khác: 2,35 ha. Chiếm 2,05% diện tích
đất xây dựng công trình sự nghiệp.
- Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp: diện tích 2.015,29 ha, chiếm
36,36 % diện tích đất phi nông nghiệp, cụ thể:
+ Đất khu công nghiệp, cụm công nghiệp: diện tích 1,902.93 ha, bao gồm
diện tích các khu công nghiệp lớn trên địa bàn như: diện tích của các khu công
nghiệp Nhơn Trạch I và KCN Nhơn Trạch III..., chiếm 94,45 % diện tích đất
sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp.
+ Đất thương mại, dịch vụ: diện tích 49,30 ha, bao gồm diện tích của trạm
xăng dầu và các công trình thương mại dịch vụ khác trên địa bàn xã, trong đó
chủ yếu là đất thương mại dịch vụ tại khu vực các khu dân cư phát triển theo dự
án..., chiếm 2,45 % diện tích đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp.
+ Đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp: diện tích 63,06 ha, bao gồm các cơ
sở sản xuất, bến bãi, cảng, nhà kho được hình thành dọc sông, rạch lớn để tận
dụng lợi thế về vị trí địa lý của xã, chiếm 3,1 % diện tích đất sản xuất, kinh
doanh phi nông nghiệp.
+ Đất sử dụng cho hoạt động khoáng sản: không có đất này trên địa bàn
xã.
- Đất sử dụng vào mục đích công cộng: diện tích 1.226,85 ha, chiếm 22,13
% diện tích đất phi nông nghiệp, cụ thể:
138
+ Đất công trình giao thông: diện tích 970,61 ha, đây là toàn bộ diện tích
các tuyến đường giao thông trên địa bàn xã, chiếm 79,11% diện tích đất sử dụng
vào mục đích công cộng.
+ Đất công trình thủy lợi: diện tích 12,08 ha, bao gồm các trạm bơm, kênh,
mương rải rác trên địa bàn xã, chiếm 0,98% diện tích đất sử dụng vào mục đích
công cộng.
+ Đất công trình cấp nước, thoát nước: 37,45 ha, bao gồm các trạm bơm,
trạm cấp nước Nhơn Trạch và các trạm cấp nước sinh hoạt nhỏ lẻ rải rác trên
địa bàn xã, chiếm 3,05% diện tích đất sử dụng vào mục đích công cộng.
+ Đất công trình phòng, chống thiên tai: không có đất này trên địa bàn xã.
+ Đất có di tích lịch sử - văn hóa danh lam thắng cảnh, di sản thiên nhiên:
diện tích 2,30 ha là di tích đình Phước Thiền, chiếm 0,19% diện tích đất sử dụng
vào mục đích công cộng.
+ Đất công trình xử lý chất thải: diện tích 0,08 ha, chiếm 0,02 % diện tích
đất sử dụng vào mục đích công cộng.
+ Đất công trình năng lượng, chiếu sáng công cộng: diện tích 9,74 ha là
diện tích hành lang đường điện, và các trụ điện truyền tải điện cho các đường
dây 110 KV, 220 KV, 500 KV phục vụ truyền tải điện năng trên địa bàn, chiếm
0,79% diện tích đất sử dụng vào mục đích công cộng.
+ Đất công trình hạ tầng bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin: diện
tích 1.24 ha, là diện tích bưu điện xã, chiếm 0,1 % diện tích đất sử dụng vào
mục đích công cộng.
+ Đất chợ dân sinh, chợ đầu mối: diện tích 2,21 ha là diện tích xây dựng
chợ phục vụ nhu cầu mua bán của người dân như: Chợ Phước Thiền, chợ Long
Tân, chợ Hiệp Phước..., chiếm 0,18 % diện tích đất sử dụng vào mục đích công
cộng.
+ Đất khu vui chơi, giải trí công cộng, sinh hoạt cộng đồng: diện tích
191.14 ha bao gồm công trình nhà văn hóa các ấp, các công trình dành cho các
hoạt động vui chơi công cộng như công viên, cây xanh trong các khu dân cư,
các công viên trong các khu dự án nhà ở trên địa bàn xã, chiếm 15,58 % diện
tích đất sử dụng vào mục đích công cộng.
- Đất tôn giáo: diện tích 8,36 ha, chiếm 0,15 % đất phi nông nghiệp, với
các công trình tôn giáo, trụ sở của tổ chức tôn giáo được Nhà nước cho phép
hoạt động trên địa bàn xã như: Chùa Quang Mỹ, Chùa Phước Quang, Chùa Ngọc
Linh, Chùa Phước Hưng Cổ Tự, Chùa Long Hoa, Chùa Khánh Lâm, Chùa Hưng
Thạnh tự, Chùa Phước Hưng tự, Chùa Long Hương, Chùa Bửu Hoa....
139
- Đất tín ngưỡng: diện tích 5,84 ha, chiếm 0,11 % đất phi nông nghiệp, với
công trình tín ngưỡng dân gian như: Miếu, đình Phước Thiền...
- Đất nghĩa trang, nhà tang lễ, cơ sở hỏa táng; đất cơ sở lưu trữ tro cốt: diện
tích 16,42 ha, chiếm 0,30 % đất phi nông nghiệp, gồm: đất nghĩa trang của các
giáo xứ, nghĩa trang liệt sĩ.
- Đất có mặt nước chuyên dùng: diện tích 759,36 ha, chiếm 13,70% đất phi
nông nghiệp. Cụ thể: Đất có mặt nước dạng sông, ngòi, kênh, rạch, suối: diện
tích 759,36 ha, toàn bộ là đất có mặt nước dạng sông, ngòi, kênh, rạch, suối trên
địa bàn xã. Chiếm 100% đất có mặt nước chuyên dùng.
- Đất phi nông nghiệp khác: không có đất này trên địa bàn xã.
* Đất chưa sử dụng:
Tổng diện tích: 39,76 ha, chiếm 0,37 % diện tích tự nhiên. Bao gồm:
+ Đất chưa sử dụng: Diện tích 39,76 ha đất do Nhà nước thu hồi theo quy
định của pháp luật đất đai chưa giao, chưa cho thuê...
+ Các loại đất đồi núi chưa sử dụng (DCS), đất bằng chưa sử dụng (BCS)
và đất có mặt nước chưa sử dụng (MCS): không có đất này trên địa bàn xã.
3. Dân số, cơ cấu lao động và thành phần dân cư
3.1. Dân số: 156.798 người
3.2. Cơ cấu lao động: Cơ cấu lao động của xã đã có sự chuyển dịch mạnh
mẽ, phản ánh đúng thực trạng phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp, thương
mại và dịch vụ. Tổng số lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế là
111.000 người, với cơ cấu cụ thể: Lao động phi nông nghiệp: 97.154 người,
chiếm tỷ lệ 87,53%. Lao động nông nghiệp: 13.846 người, chiếm tỷ lệ 12,47%.
3.3. Thành phần dân cư (thành thị/nông thôn): Tổng dân số của xã Nhơn
Trạch là 156.798 người. Quá trình đô thị hóa đã tác động sâu sắc đến sự phân
bố dân cư trên địa bàn, thể hiện qua cơ cấu như sau: Dân số khu vực đô thị:
85.916 người, chiếm tỷ lệ 54,79%, dân số khu vực nông thôn: 70.882 người,
chiếm tỷ lệ 45,21%.
4. Hiện trạng phát triển kinh tế
4.1. Chỉ tiêu phát triển kinh tế gồm: GRDP, cơ cấu ngành, thu nhập bình
quân đầu người, tỷ lệ hộ nghèo, lao động phi nông nghiệp...
- Tổng giá trị sản phẩm trên địa bàn: 197.497.280 triệu đồng.
- Giá trị sản phẩm công nghiệp – xây dựng: 191.269.101 triệu đồng, chiếm
96.8% tổng giá trị sản phẩm trên địa bàn.
140
- Thu nhập bình quân đầu người của xã trong 3 năm gần đây.
+ Thu nhập bình quân đầu người của xã năm 2023: 79,65 triệu đồng.
+ Thu nhập bình quân đầu người của xã năm 2024: 86,45 triệu đồng.
+ Thu nhập bình quân đầu người của xã năm 2025: 93,05 triệu đồng.
- Tỷ lệ hộ nghèo.
+ Tỷ lệ hộ nghèo (theo chuẩn nghèo đa chiều) của xã năm 2023: 0,21%.
+ Tỷ lệ hộ nghèo (theo chuẩn nghèo đa chiều) của xã năm 2024: 0,2%.
+ Tỷ lệ hộ nghèo (theo chuẩn nghèo đa chiều) của xã năm 2025: 0,16%.
- Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp đạt 87.53%
4.2. Phát triển các ngành, lĩnh vực
- Về công nghiệp - xây dựng:
+ Hiện nay trên địa bàn xã Nhơn Trạch có 5 Khu công nghiệp và 01 cụm
công nghiệp thu hút 391 dự án FDI với tổng vốn đầu tư 7.572,95 triệu USD, vốn
thực hiện 5.658,32 triệu USD; 142 dự án trong nước với tổng vốn đầu tư
20.540,29 tỷ đồng, vốn thực hiện 13.061,15 tỷ đồng, tạo việc làm cho hơn
131.520 lao động (trong đó số lao động nước ngoài tại các KCN trên địa bàn xã
Nhơn Trạch là 3.737 người).
+ Các dự án giao thông trọng điểm kết liên vùng và nội khu đã và đang
triển khai trên địa bàn xã làm tăng khả năng kết nối tới các tỉnh trung tâm Đông
Nam Bộ, theo đó việc giao thương với các khu công nghiệp lớn, các đô thị vệ
tinh và thành phố Hồ Chí Minh dễ dàng hơn. Giao thông và liên kết vùng thuận
tiện sẽ là “đòn bẩy” thúc đẩy kinh tế đưa Nhơn Trạch nhanh chống trở thành
thành phố vệ tinh mới xung quanh thành phố Hồ Chí Minh với trung tâm hạt
nhân là Sân bay quốc tế Long Thành. Ngành xây dựng dự kiến tăng mạnh do
trên địa bàn xã đang triển khai thi công xây dựng các công trình trọng điểm như:
đường Vành đai 3, đường Tôn Đức Thắng (25B), đường Nguyễn Ái Quốc (25C),
Mở rộng cao tốc thành phố Hồ Chí Minh – Long Thành Dầu Giây...
- Về thương mại - dịch vụ:
+ Địa bàn xã có nhiều nhà đầu tư với hơn 1151 doanh nghiệp và 6700 hộ
kinh doanh đang hoạt động ổn định góp phần rất lớn và quan trọng vào tăng
trưởng phát triển kinh tế, tạo việc làm, cải thiện đời sống nhân dân và bảo
đảm an sinh xã hội đối với tỉnh Đồng Nai nói chung và của xã Nhơn Trạch
nói riêng. Hoạt động thương mại - dịch vụ của các doanh nghiệp, hộ tiểu thương
141
tiếp tục phát triển mạnh trong năm 2026 với các loại hình dịch vụ, sản xuất đa
ngành nghề, đa quốc gia.
+ Trên địa bàn xã Nhơn Trạch hiện có 01 chợ đang hoạt động (chợ Phước
Thiền – chợ Loại 3) và 01 chợ đang triển khai xây dựng (chợ Dân Xuân – chợ
loại 2), 01 siêu thị go!; 10 cửa hàng Bách hóa Xanh; 03 cửa hàng Winmart; 02
siêu thị tiện lợi Maxidi, 01 siêu thị tiện lợi GOKU và các cửa hàng tiện ích khác
đang hoạt động ổn định. Đối với hệ thống bán lẻ này cung cấp cho người dân đa
kênh phân phối từ trực tiếp đến trực tuyến để cho người dân lựa chọn theo nhu
cầu. Ngoài ra, còn có các hệ thống giao hàng nhanh của: Viettel, Bưu Điện, Giao
hàng nhanh, giao hàng tiết kiệm...để phục vụ giao hàng cho người dân cũng như
vận chuyển hàng hóa đến nhiều khu vực trong nước và quốc tế với hàng hóa
phong phú, kênh phân phối đa dạng đáp ứng nhu cầu mua sắm của người tiêu
dùng.
- Về sản xuất nông - lâm - thủy sản
+ Tình hình sản xuất nông lâm nghiệp ổn định. Tình hình dịch bệnh trên
cây trồng được kiểm soát tốt. Sản lượng lương thực đạt 97.565 tấn, năng suất
đạt 65tạ/ha.
+ Tổng đàn gia súc, gia cầm và vật nuôi toàn xã là 17.271 con. Trong đó:
heo 124 con, trâu bò 1350 con, gia cầm 11.200 con, dê 39 con, chó mèo 4.558
con
- Tỷ lệ che phủ rừng đạt 6,88%.
5. Hiện trạng phát triển văn hóa - xã hội
5.1. Giáo dục và đào tạo
- Quy mô và mạng lưới trường lớp: Hiện nay, trên địa bàn xã có đầy đủ các
cấp học từ mầm non, tiểu học, trung học cơ sở đến trung học phổ thông; hệ thống
trường lớp được phân bố tương đối hợp lý; tổng số trường học là 28 trường và
49 Lớp mầm non độc lập, lớp mẫu giáo độc lập, nhóm trẻ độc lập, trong đó:
+ Trường THPT: 02 trường (Trường THPT Phước Thiền và THPT Nguyễn
Bỉnh Khiêm)
+ Trường THCS: 05 trường (Trường THCS Hiệp Phước, THCS Phước
thiền, THCS Phú Hội, THCS Long Tân, THCS Phú Thạnh)
+ Trường Tiểu học: 08 trường (Trường Tiểu học Phước Lai, tiểu học Hiệp
Phước, Tiểu học Phước Thiền 1, Tiểu học Phước Thiền 2, Tiểu học Phước Thiền
3, Tiểu học Phú Hội, Tiểu học Long Tân, Tiểu học Phú Thạnh)
142
+ Trường Mầm non, mẫu giáo: 6 trường công lập (Trường Mầm non Phước
Hiệp, Trường Mầm non Hiệp Phước, Trường Mầm non Phước Thiền, Trường
Mầm non Nhơn Nghĩa, Trường Mầm non Hoa Sen, Trường Mầm non Phú
Thạnh) và 7 trường tư thục (Trường Mẫu giáo Bông Sen, Trường Mầm non tư
thục Thiên Thần Nhỏ, Trường MN Tư thục Sao Việt, Trường MN Tư thục Bình
Minh, Trường MN Tư thục Ánh Bình Minh, Trường MN Tư thục Ngôi Nhà Trẻ
Thơ, Trường MN Tư thục Ánh Dương) và 49 Lớp mầm non độc lập, lớp mẫu
giáo độc lập, nhóm trẻ độc lập.
- Quy mô lớp học và số lượng học sinh: 816 lớp với 28.937 học sinh
+ Mầm non: 235 lớp với 5859 trẻ.
+ Tiểu học: 331 lớp với 12.053 học sinh
+ THCS: 180 lớp với 7785 học sinh
+ THPT: 70 lớp với 3240 học sinh
- Cơ sở vật chất: Tỷ lệ phòng học kiên cố đạt 100%; có các phòng chức
năng, đồ dùng thiết bị dạy học theo quy định.
+ Bậc học mầm non: 235/235 phòng học kiên cố, đảm bảo diện tích tối
thiểu 1,5m2/trẻ; 235/235 lớp đủ bộ thiết bị dạy học tối thiểu; 235/235 lớp đảm
bảo công trình vệ sinh khép kín.
+ Bậc học Tiểu học: 306/306 phòng học kiên cố; 306 phòng/ 330 lớp, tỉ lệ
0,93 phòng/lớp; tổng số phòng chức năng 67 phòng. Các trường đảm bảo sân
chơi, bãi tập cho học sinh.
+ Bậc học THCS: 151/151 phòng học kiên cố; 151 phòng/180 lớp đạt tỉ lệ
0,84 phòng/lớp; có 40/40 phòng chức năng, trang thiết bị dạy học theo tiêu chuẩn
Bộ GD&ĐT. Các trường đảm bảo sân chơi, bãi tập cho học sinh.
+ Bậc học THPT: 57/57 phòng học, 21/21 phòng chức năng được xây dựng
kiên cố, được trang bị thiết bị dạy học theo quy định.
- Chất lượng đội ngũ giáo viên:
+ Bậc học Mầm non: có 167/172 giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn, tỉ lệ
97,09%. Số giáo viên chưa đạt chuẩn đang trong giai đoạn tham gia các lớp đào
tạo nâng chuẩn theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
+ Bậc học Tiểu học: Tổng số giáo viên 424 giáo viên/330 lớp, đạt tỉ lệ 1,28
giáo viên/lớp; 423/424 giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn nghề nghiệp, tỉ lệ
99,06%.
143
+ Bậc THCS: Tổng số giáo viên 301/301 giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn,
tỉ lệ 100%.
+ Bậc THPT: Tổng số 125/125 giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn, tỉ lệ
100%.
- Phổ cập giáo dục:
+ Phổ cập giáo dục mầm non: xã Nhơn Trạch đạt chuẩn Phổ cập giáo dục
mầm non cho trẻ 5 tuổi với các chỉ tiêu: Tỉ lệ huy động trẻ 5 tuôỉ đến trường đạt
100%; trẻ học 2 buổi/ngày đạt 100%; trẻ 5 tuổi hoàn thành chương trình giáo
dục mầm non đạt 100%.
+ Phổ cập giáo dục Tiểu học: xã Nhơn Trạch đảm bảo tiêu chuẩn phổ cập
giáo dục Tiểu học mức độ 3 với các tiêu chí: tỉ lệ trẻ 6 tuổi vào lớp 1 đạt 100%;
tỉ lệ trẻ 11 tuổi hoàn thành chương trình tiểu học đạt 98,8%.
+ Phổ cập THCS: xã Nhơn Trạch đảm bảo tiêu chuẩn đạt chuẩn phổ cập
giáo dục THCS mức độ 3 với các tiêu chí: số thanh, thiếu niên trong độ tuổi từ
15 đến 18 tuổi tốt nghiệp THCS đạt tỉ lệ 99,83%; Tỉ lệ học sinh tốt nghiệp THCS
tiếp tục học THPT, học nghề: 95,09%.
+ Xã Nhơn Trạch đạt chuẩn xóa mù chữ mức độ 2.
- Xây dựng Trường đạt chuẩn Quốc gia: Hiện nay, trên địa bàn xã có 6
trường Mầm non, 5 trường tiểu học, 5 trường THCS đạt chuẩn Quốc gia, tỉ lệ
84,2%.
5.2. Y tế
Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân trên địa bàn được đảm bảo; chất
lượng khám, chữa bệnh và y đức của đội ngũ cán bộ, nhân viên y tế từng bước
được nâng cao. Xã đã được công nhận đạt tiêu chí quốc gia về y tế. Nguồn nhân
lực y tế được quan tâm đào tạo, thu hút thường xuyên; đến nay, 100% trạm y tế
và các điểm trạm đều có bác sĩ phục vụ. Tỷ lệ giường bệnh đạt 16,0 giường/vạn
dân (tăng 2,0 giường/vạn dân so với năm 2020), tỷ lệ bác sĩ đạt 5,0 bác sĩ/vạn
dân (tăng 1,4 bác sĩ/vạn dân so với năm 2020).
Hiện nay, trên địa bàn xã có 06 phòng khám đa khoa, 24 phòng khám
chuyên khoa, 07 phòng khám y học cổ truyền, 07 cơ sở dịch vụ y tế và 217 cơ
sở hành nghề dược. Trung tâm Y tế khu vực đóng trên địa bàn xã được đầu tư
đầy đủ các phòng chức năng và trang thiết bị hiện đại như máy nội soi, máy siêu
âm màu, máy X-quang, máy CT Scanner, thiết bị đo kiểm môi trường, máy xét
nghiệm,... tạo điều kiện thuận lợi cho công tác chẩn đoán, điều trị bệnh và phòng,
chống dịch.
144
Cơ sở vật chất y tế tiếp tục được quan tâm đầu tư, nâng cấp: đã xây mới
các điểm trạm y tế Phước Thiền, Long Tân, Hiệp Phước; sửa chữa, nâng cấp
Trạm Y tế xã Nhơn Trạch (trụ sở chính) và điểm trạm y tế Phú Thạnh; đồng thời
thường xuyên duy tu, bảo dưỡng các trạm y tế và điểm y tế trên địa bàn. Các
trạm được trang bị cơ bản các thiết bị như máy siêu âm, máy điện tim, đáp ứng
nhu cầu khám, chữa bệnh của nhân dân. Hệ thống y tế tư nhân cũng góp phần
hỗ trợ, bổ sung cho hệ thống y tế nhà nước trong công tác chăm sóc sức khỏe
nhân dân.
Công tác phòng, chống dịch bệnh được quan tâm triển khai thực hiện hiệu
quả; các dịch bệnh nguy hiểm được phát hiện và khống chế kịp thời. Các chương
trình y tế quốc gia, phòng, chống bệnh xã hội được triển khai thường xuyên, đạt
và vượt chỉ tiêu kế hoạch hằng năm; tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi được tiêm chủng
đầy đủ các loại vắc xin hằng năm đạt trên 95%.
Công tác dân số và chăm sóc trẻ em được chú trọng thực hiện; tỷ lệ tăng
dân số tự nhiên giảm còn 0,95%. Tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng thể nhẹ
cân giảm còn 4,6%, suy dinh dưỡng thể thấp còi giảm còn 5,7%.
Tỷ lệ dân số tham gia BHYT đạt 95% vào năm 2025.
Công tác quản lý nhà nước về y tế, quản lý hành nghề y, dược tư nhân và
bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm từng bước được củng cố, hoàn thiện.
5.3. Văn hóa thông tin, thể dục thể thao
Xã Nhơn Trạch được thành lập theo Nghị quyết số 1662/NQ-UBTVQH15
ngày 16/6/2025 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội về việc sắp xếp các đơn vị
hành chính cấp xã thuộc tỉnh Đồng Nai năm 2025, trên cơ sở hợp nhất, sắp xếp
toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của thị trấn Hiệp Phước, và các xã
Long Tân, Phú Thạnh, Phước Thiền, Phú Hội (huyện Nhơn Trạch cũ) thành tên
gọi mới là xã Nhơn Trạch
Hiện nay hệ thống thiết chế văn hóa trên địa bàn xã Nhơn trạch có 01
Trung tâm Văn hoá Thông tin và Thể thao xã, 05 Trung tâm Văn hoá Thể thao
– Học tập cộng đồng và 19 Nhà văn hoá ấp
Các thiết chế văn hoá- thể thao cơ sở trên địa bàn xã vẫn duy trì hoạt động
ổn định. Nhà văn hoá ấp cơ bản đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, học tập, vui chơi,
giải trí và luyện tập thể thao và người dân.
Tuy nhiên một số Nhà văn hoá chưa đủ chuẩn diện tích là 300m2 ( theo Bộ
Văn hoá Thể thao quy định) như: ấp 3 ( xã Phú Thạnh cũ) diện tích 261m2; ấp
Phú Mỹ 1 diện tích 135m2, ấp Phú Mỹ 2 diện tích 110m2( xã Phú Hội Cũ); ấp
Phước Hiệp diện tích 200m2 và 02 ấp chưa có Nhà Văn hoá: ấp 2 Phú Thạnh và
145
ấp Mỹ Khoan Hiệp Phước ( cũ) hiện đang sinh hoạt chung Trung tâm Văn hoá
Thể thao và Học tập cộng đồng, các trang thiết bị chưa được đầu tư đồng bộ.
Địa phương đã chủ động triển khai các văn bản chỉ đạo của cấp trên; bàn
hành kế hoạch hoạt động cụ thể cho từng thiết chế văn hoá- thể thao. Các hoạt
động văn hoá, văn nghệ, thể dục, thể thao quần chúng được duy trì thường
xuyên; phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” đạt nhiều
kết quả tích cực.
Thực hiện Kế hoạch số 74/KH-BCĐ ngày 09/5/2025 của Ban chỉ đạo
Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” về việc triển khai
thực hiện Phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”, Thiết chế
văn hoá, thể thao thuộc Trung tâm Dịch vụ tổng hợp trực thuộc UBND cấp xã;
Thực hiện Văn bản số 932/SVHTTDL-VH ngày 19/8/2025 của Sở Văn
hoá Thể thao và Du lịch tỉnh Đồng Nai về việc hướng dẫn triển khai, thực hiện
Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”; chức năng, nhiệm
vụ và tổ chức hoạt động của hệ thống thiết chế văn hoá, thể thao cơ sở trên địa
bàn tỉnh Đồng Nai.
Tuyên truyền trên hệ thống truyền thanh xã gồm các nội dung: Các Chỉ thị,
Nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và tình hình phát triển
kinh tế - xã hội của xã; phong trào thi đua yêu nước, các chuyên đề học tập và
làm theo tấm gương đạo đức phong cách Hồ Chí Minh, Cải cách hành chính trên
địa bàn xã, tuyên truyền biển đảo, thực hành tiết kiệm, phòng chống lụt bão, vệ
sinh an toàn thực phẩm, phòng chống tội phạm, tệ nạn xã hội, an toàn giao thông
và công tác phòng cháy chữa cháy; phòng chống dịch bệnh; các hoạt động Chào
mừng Đại hội Đảng các cấp, Đại hội Đảng bộ xã Nhơn Trạch lần thứ I, nhiệm
kỳ 2025-2030, công tác chuyển đổi số....;
Thực hiện công tác tuyên truyền các ngày lễ lớn trong năm, các sự kiện
chính trị địa phương.
Thực hiện những nhiệm vụ đột xuất của Đảng ủy, UBND xã; ngoài ra phối
kết hợp với các ban, ngành, đoàn thể...tổ chức tốt công tác tuyên truyền của địa
phương.
Các hoạt động thông tin, truyên truyền qua Trang thông tin điện tử xã và
panô, áp phích, băng rôn, khẩu hiệu, thông qua hệ thống loa đài truyền thanh;
các hoạt động văn hóa, văn nghệ, hội thi, hội diễn
Phối hợp tổ chức các hoạt động học tập cộng đồng như tuyên truyền phòng
chống bệnh sốt xuất huyết, bệnh dịch tay, chân, miệng, bệnh dịch tả lợn Châu
phi, dịch cúm gia cầm... các lớp chuyên đề về kỷ năng phòng, chống đuối nước
146
học sinh, về phòng chống bạo lực trẻ em và bạo lực học đường, về luật phòng
chống tai hại của thuốc lá...
5.4. Lao động - Thương binh và Xã hội
* Lao động:
Xã Nhơn Trạch tập trung 06 khu công nghiệp với 533 doanh nghiệp đang
hoạt động ổn định, giải quyết việc làm cho trên 130.000 công nhân đang làm
việc trên địa bàn. Bên cạnh đó, xã có 01 cụm công nghiệp với 33 dự án, có 21
dự án đang hoạt động, giải quyết việc làm cho gần 1.800 lao động.
Về lao động, Nhơn Trạch có lực lượng lao động dồi dào, tổng số lao động
trong độ tuổi chiếm 61,55% dân số toàn huyện, trong đó 65% được đào tạo nghề.
Cơ cấu lao động các ngành công nghiệp và dịch vụ chiếm phần lớn. Số lượng
lao động ngành nông nghiệp ổn định, lao động tăng trưởng nhanh vào ngành
công nghiệp và dịch vụ.
Trong giai đoạn 2020 – 2025, đã giải quyết việc làm cho trên 10.864 lao
động, tạo tiền đề thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thu hút đầu tư và phát triển cơ sở
hạ tầng cho địa phương, tỷ lệ thất nghiệp ổn định ở mức dưới 2%. Thực hiện tốt
các chương trình giải quyết việc làm và triển khai kịp thời, đồng bộ các chính
sách an sinh xã hội; giải quyết việc làm cho người lao động, người lao động trên
địa bàn huyện có việc làm, thu nhập ổn định. Công tác đào tạo nghề cho lao
động nông thôn được huyện quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện; chất lượng
nguồn nhân lực ngày càng được nâng lên.
Song song đó thường xuyên hướng dẫn các doanh nghiệp thực hiện tốt chế
độ tiền lương - tiền công, tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm tự
nguyện, cải thiện điều kiện làm việc, xây dựng tốt mối quan hệ lao động lành
mạnh giữa người sử dụng lao động và người lao động, góp phần hạn chế các
tranh chấp lao động tập thể có nguy cơ dẫn đến đình công, lãng công trên địa
bàn huyện.
Nhơn Trạch là địa bàn chuyển đổi nhanh cơ cấu lao động phi nông nghiệp,
tập trung nhiều khu công nghiệp và lực lượng lao động từ bên ngoài. Quy mô
nền kinh tế còn nhỏ, thu nhập của phần lớn dân cư, người lao động tại chỗ còn
thấp, trong khi thu hút lực lượng lao động bên ngoài chủ yếu. Lực lượng lao
động nhiều nhưng lao động chất lượng cao còn hạn chế nên cũng gây khó khăn
cho giải quyết việc làm.
Thực hiện các giải pháp thu hút lao động vào các doanh nghiệp, khuyến
khích các thành phần kinh tế đầu tư sản xuất kinh doanh để giải quyết lao động
chưa có việc làm, đồng thời tạo điều kiện cho các cơ sở dạy nghề mở rộng các
147
hình thức và nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho thanh niên. Cùng với thu hút
lao động (tăng cơ học), sẽ tập trung giải quyết việc làm cho lực lượng lao động
tại chỗ, đặc biệt là lao động nông nghiệp bị thu hồi đất cho xây dựng các công
trình phi nông nghiệp, phát triển đô thị. Động lực tăng số lượng lao động và
chuyển dịch cơ cấu lao động trong giai đoạn từ nay đến 2030 vẫn là khu vực
công nghiệp – xây dựng và khu vực dịch vụ; khu vực nông nghiệp sẽ giảm mạnh
tỷ trọng trong cơ cấu lao động xã hội để tập trung cho đẩy mạnh cơ giới hoá,
hiện đại hoá, tăng bình quân đất nông nghiệp, qua đó tăng nhanh năng suất lao
động nông nghiệp.
* Công tác người có công: Trên địa bàn xã hiện có 193 người có công, thân
nhân người có công hưởng trợ cấp thường xuyên và 652 trường hợp thờ cúng
liệt sĩ, thân nhân liệt sĩ; thờ cúng MVNAH 120 người; người hoạt động kháng
chiến (hưởng chế độ 1 lần) 48 người.
Việc tiếp nhận, quản lý, sử dụng nguồn kinh phí chi thường xuyên:
Căn cứ Quyết định số 250/QĐ-UBND ngày 21/01/2026 của UBND tỉnh
Đồng Nai v/v phân bổ kinh phí thực hiện các chế độ ưu đãi đối với người có
công CM (đợt 1) năm 2026 và Quyết định số 346/QĐ-UBND ngày 26/01/2026
v/v phân bổ kinh phí có mục tiêu từ ngân sách tỉnh để thực hiện chính sách hỗ
trợ tết nguyên đán trên địa bàn tỉnh Đồng Nai theo NQ số 26/2025/NQ-HĐND
ngày 10/12/2025 của HĐND tỉnh Đồng Nai. UBND xã Nhơn Trạch đã ban hành
Quyết định số 419/QĐ-UBND ngày 03/02/2026 v/v Phê duyệt phân bổ kinh phí
bổ sung cho Phòng Văn hóa - Xã hội thực hiện các chế độ chính sách ưu đãi đối
với người có công với cách mạng trên địa bàn xã. Đến nay, Phòng Văn hóa - Xã
hội xã đã bám sát dự toán thực hiện hoàn thành việc chi trả trợ cấp tháng
01+02/2026 cho các đối tượng người công CM trên địa bàn xã, đồng thời rà soát
lập danh sách chi trả tháng 3/2026 để tiếp tục thực hiện trợ cấp cho các đối tượng
trên theo quy định.
Công tác lập dự toán, quyết toán theo quy định: Thực hiện hướng dẫn của
Sở Nội vụ, Sở Tài chính, Phòng Văn hóa – xã hội đã tham mưu xây dựng dự
toán và thực hiện thanh quyết toán theo đúng quy định.
Trong thời gian qua, công tác chăm lo cho người có công luôn được các
cấp chính quyền địa phương quan tâm. Các chế độ, chính sách đối với người có
công và thân nhân người có công được thực hiện đầy đủ, kịp thời theo quy định
của Nhà nước. Công tác quản lý, chi trả chế độ cơ bản được thực hiện đảm bảo,
góp phần ổn định đời sống cho các đối tượng chính sách. Tuy nhiên, do số lượng
đối tượng đông, địa bàn rộng, đối tượng đa dạng, nhiều nhóm chính sách khác
nhau, nhu cầu hỗ trợ về đời sống, chăm sóc sức khỏe, cũng như công tác tri ân,
148
đền ơn đáp nghĩa vẫn còn đặt ra nhiều yêu cầu đối với địa phương trong thời
gian tới.
* Công tác Bảo trợ xã hội: Tổng số đối tượng bảo trợ xã hội trên địa bàn
xã là: 3.092 đối tượng, trong đó: Trẻ em từ 4 đến 16 tuổi: 09 đối tượng, Trẻ em
từ 16 đến 22 tuổi: 10 đối tượng, Hưu trí xã hội: 1626 đối tượng, Người khuyết
tật: 965 đối tượng, NQ 09 HĐND: 22 đối tượng, Hộ gia đình nuôi dưỡng: 460
hộ.
5.5. Công tác tôn giáo - tín ngưỡng, dân tộc
Công tác dân tộc:
Trên địa bàn hiện có 403 người thuộc các dân tộc thiểu số, chiếm tỷ lệ
0,26% tổng dân số, với 15 thành phần dân tộc khác nhau như: Hoa, Khmer,
Nùng, Mường, Tày, Chăm, Sán Dìu, Thổ, Thái, Gia Rai, Dao, M’nông, Sán
Chay, Sán Chí,...
Các dân tộc thiểu số sinh sống phân tán, không hình thành khu dân cư tập
trung, chủ yếu hòa nhập cùng cộng đồng người Kinh; trên địa bàn không có khu
vực đặc thù về dân tộc thiểu số và miền núi. Đời sống vật chất và tinh thần của
đồng bào dân tộc thiểu số cơ bản ổn định, không còn hộ nghèo, hộ cận nghèo
trong nhóm đối tượng này; tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội
trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số được giữ vững.
Công tác chăm lo, phát triển nguồn nhân lực trong đồng bào dân tộc thiểu
số được quan tâm thực hiện.
Công tác tôn giáo, tín ngưỡng:
Trên địa bàn có hệ thống cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo phong phú, gồm 38
cơ sở tín ngưỡng dân gian (12 đình, 16 miễu/miếu, 05 nhà võ, 04 nhà bia, 01
dinh Ông), trong đó có 02 cơ sở được xếp hạng di tích cấp tỉnh; cùng với đó là
20 cơ sở tôn giáo (10 chùa, 01 tịnh xá, 01 tịnh độ; 02 giáo xứ; 04 hội thánh tin
lành; 02 cao đài, 01 tịnh thất, 01 đền thờ phật mẫu).
Công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo được triển khai đồng
bộ, chặt chẽ, đúng quy định pháp luật. Các tổ chức tôn giáo, cơ sở tín ngưỡng,
chức sắc, chức việc và tín đồ trên địa bàn luôn chấp hành tốt chủ trương của
Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, tích cực tham gia các phong trào thi
đua yêu nước và hoạt động xã hội tại địa phương.
Các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo diễn ra ổn định, đúng quy định; ngoài
các dịp lễ, Tết truyền thống, các tổ chức tôn giáo đều tổ chức sinh hoạt, lễ nghi
theo chương trình đã được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận, góp phần giữ
149
vững ổn định chính trị, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và tạo nền tảng
thuận lợi trong quá trình xây dựng, phát triển địa phương theo định hướng đô
thị hóa, tiến tới thành lập phường.
6. Hiện trạng phát triển hạ tầng xã hội
6.1. Nhà ở
6.2. Công trình cơ quan hành chính:
Hiện nay trung tâm hành chính xã Nhơn Trạch được tổ chức thống nhất, kế
thừa nguyên trạng trung tâm hành chính huyện Nhơn Trạch trước đây, tập trung
toàn bộ Trụ sở làm việc Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã, Trung tâm phục vụ hành chính công...
6.3. Công trình giáo dục:
- Hệ Cao đẳng: cơ sở 2 Trường CĐ Công nghệ cao Đồng Nai.
- Hệ Trung học phổ thông: 02 trường.
- Hệ Trung học cơ sở: 05 trường.
- Hệ Tiểu học: 08 trường.
- Hệ Mầm non, mẫu giáo: 13 trường ( 06 trường công lập, 7 trường tư thục)
6.4. Công trình y tế:
Hệ thống công trình y tế trên địa bàn xã được quan tâm đầu tư, từng bước
hoàn thiện, đáp ứng yêu cầu chăm sóc sức khỏe nhân dân. Hiện nay, cơ sở y tế
công lập gồm 01 trạm y tế chính (đặt tại cơ sở Phú Hội cũ) và 04 điểm trạm y tế
trực thuộc.
Trong đó, đã xây mới 03 điểm trạm y tế tại Long Tân, Hiệp Phước và Phước
Thiền đưa vào hoạt động từ năm 2025, góp phần nâng cao khả năng tiếp cận
dịch vụ y tế của người dân. Bên cạnh đó, điểm trạm y tế Phú Thạnh và trạm y tế
chính cũng đã được sửa chữa, nâng cấp nhằm cải thiện điều kiện cơ sở vật chất,
trang thiết bị, phục vụ tốt hơn công tác khám, chữa bệnh.
Song song với hệ thống y tế công lập, mạng lưới y tế tư nhân trên địa bàn
cũng phát triển, hiện có 05 phòng khám đa khoa và 24 phòng khám chuyên khoa,
góp phần chia sẻ áp lực với hệ thống y tế nhà nước, đáp ứng nhu cầu khám, chữa
bệnh ngày càng đa dạng của người dân.
6.5. Công trình văn hóa, thể dục - thể thao
Có 01 Trung tâm Văn hoá thông tin và thể thao xã, hệ thống trang thiết bị
được đầu tư tương đối đầy đủ, có xe chuyên dùng để tổ chức các hội thi, hội
150
diễn, liên hoan hội nghị,... có 01 nhà thi đấu đa năng, 02 sân tennis để tổ chức
các giải thể dục thể thao.
Có 05 Trung tâm VHTT-HTCĐ
Có 13/19 Nhà văn hoá ấp đều đạt chuẩn theo quy định (04 NVH chưa đủ
chuẩn 300m2, 02 ấp chưa có NVH)
Cán bộ quản lý Trung tâm VHTT&TT 14 người
Cán bộ quản lý các Nhà văn hoá ấp 19 người
Kết quả hoạt động tại các thiết chế văn hóa, thể thao:
+ Đối với thiết chế văn hoá cấp xã:
- Xây dựng các hoạt động mừng Đảng, mừng xuân Bính Ngọ 2026.
- Tham gia các hội thi, hội diễn do tỉnh tổ chức.
- Lưu trữ và bảo quản các loại sách báo tại thư viện. Duy trì và phát huy số
lượng bạn đọc. Tham mưu luân chuyển sách đến các cơ sở có nhu cầu.
- Tổ chức Đại hội Thể dục, thể thao xã Nhơn Trạch lần thứ I năm 2025.
- Hướng dẫn các ấp thực hiện quy ước, hương ước, bình xét gia đình văn
hoá
- 100% các ấp tổ chức “Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc”.
+ Đối với Nhà văn hoá ấp:
Các nhà Văn hóa ấp đã xây dựng kế hoạch, chương trình hoạt động năm
2025.
- Người dân tham gia luyện tập thể dục thể thao thường xuyên, nơi tổ chức
các cuộc hội, họp và tuyên truyền cho nhân dân
Có các bộ dụng cụ thể dục thể thao ngoài trời, các trò chơi cho trẻ em tham
gia vui chơi giải trí, có các lớp múa Aerobic...
* Các công trình thể thao trên địa bàn xã:
- Sân bóng đá 11 người: 02 sân
- Sân bóng đá cỏ nhân tạo 7 người: 12 sân
- Sân bóng đá cỏ nhân tạo 5 người: 15 sân
- Sân cầu long: 32 sân
- Sân bóng chuyền: 21 sân
- Hồ bơi: 04
151
- Khu vui chơi thiếu nhi: 16 khu
6.6. Công trình thương mại - dịch vụ - du lịch
7. Hiện trạng phát triển hạ tầng kỹ thuật đô thị
7.1. Giao thông:
- Đường bộ: Hiện nay, UBND xã Nhơn Trạch đang quản lý 314 tuyến
đường bộ với tổng chiều dài 127,224km, trong đó bao gồm: 69 tuyến đường xã
với tổng chiều dài khoảng 51,603km (trong đó 49,213km mặt đường bê tông
nhựa, 2,390km mặt đường cấp phối, bề rộng phần xe chạy từ 5m-30m) và 241
tuyến đường thôn với tổng chiều dài khoảng 74,016km (trong đó 55,365km mặt
đường BTXM, 18,651km mặt đường bê tông nhựa, bề rộng đường từ 3m-6m);
04 tuyến đường trục chính nội đồng có chiều dài 1,605km (trong đó 1,405km
mặt đường BTXM và 0,2km mặt đường cấp phối, bề rộng đường từ 4m-5m).
Đồng thời, trên các tuyến đường thôn xã đang quản lý có 15 cây cầu BTCT
có chiều dài nhịp trên 6m (cầu ngắn nhất là 1 nhịp dài 6m, dài nhất là 75m với
3 nhịp), tải trọng thiết kế cầu là 5T, được xây dựng từ những năm 2001-2005.
+ Cấp tỉnh quản lý:
- Đường ĐT 769B: từ Cát Lái đến Quốc lộ 51B, là tuyến đường cấp 3 có
tổng chiều dài khoảng 28,657km, bề rộng mặt đường từ 11m-13m, đang sử dụng
bình thường.
- Đường Trần Phú: từ đường Nguyễn Văn Cừ đến cao tốc Long Thành –
Dầu Giây, có chiều dài khoảng 7,04km là tuyến đường cấp 1, đang sử dụng bình
thường.
- Đường 769C (Tôn Đức Thắng -25B): từ đường Quách Thị Trang đến
Quốc lộ 51 có tổng chiều dài khoảng 14,972km, trong đó gồm 9,33km đường
cấp 3, 0,96km đường cấp 1 và 4,682km đường cấp 4). Hiện nay tuyến đường
đang được nâng cấp toàn tuyến với lộ giới 80m gồm phần đường chính có phần
đường xe chạy rộng 24m và phần đường song hành có phần đường xe chạy rộng
10m mỗi bên, dự kiến đến 30/6/2026 hoàn thành thông xe toàn tuyến và kết nối
vào sân bay Long Thành.
- Đường Vành đai 3 - Thành phố Hồ chí Minh đoạn qua tỉnh Đồng Nai có
tổng chiều dài khoảng 11,26km. Hiện nay dự án thành phần 1A đã hoàn thành
thông xe kỹ thuật 5km đường cao tốc từ nút giao đường 25B đến cầu Nhơn
Trạch và kết nối vào cao tốc Long Thành – Dầu Giây. Dự án thành phần 3 dài
hơn 11km có điểm đầu giao với đường cao tốc Bến Lức - Long Thành, điểm
cuối giao với Mố B thuộc cầu Nhơn Trạch (gồm 5km cao tốc và đường song
152
hành). Tính đến đầu năm 2026, dự án đã hoàn thành 100% đắp nền đường,
3/5km mặt đường chính và đang khẩn trương thi công phần đường song hành
để hoàn thành toàn bộ dự án đúng thời hạn vào khoảng tháng 5/2026.
- Đường thủy nội địa:
+ Tuyến đường thủy nội địa trên đại bàn xã gồm 54 tuyến, với tổng chiều
dài 195km.
+ Về cảng thủy nội địa: 05 bến thuỷ nội địa và 02 cảng thuỷ nội địa
7.2. Thủy lợi:
Hiện UBND xã đang có 06 công trình bờ bao và kênh tiêu thực hiện lấy
nước tưới tiêu, chủ động phục vụ tốt cho hoạt động nông nghiệp tại địa
phương.
7.3. Cấp điện: Tổng chiều dài đường dây diện trên địa bàn xã là 314,6km,
trong đó:
+ Đường dây trung thế: 166,2km.
+ Đường dây hạ thế: 148,4km.
+ Trạm biến áp: 225 trạm.
7.4. Cấp nước
Tổng số tuyến ống cấp nước trên địa bàn xã là: 264 tuyến bao gồm tuyến
đường ống chính (đường cấp nước lớn) và đường ống nhánh với tổng chiều dài
tuyến ống gần 143.959m, kinh phí đầu tư khoảng 106.787 tỷ đồng, trong đó: Tỷ
lệ hộ sử dụng nước sạch đạt quy chuẩn 95% (19.419/20.441 hộ), tỷ lệ hộ sử
dụng nước sạch (nước máy) tập trung: 65,6% (13.410/20.441 hộ).
7.5. Thoát nước thải và vệ sinh môi trường
- Thoát nước mưa, nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp: Có 02 KCN
đang hoạt động, đã thực hiện hạ tầng thu gom, thoát nước thải. Các KCN đã đầu
tư và vận hành HTXL nước thải để xử lý nước thải trong KCN.
- Xử lý chất thải rắn: Tỷ lệ phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn đạt
73%
+ Tỷ lệ thu gom, xử lý chất thải sinh hoạt đạt 100%
+ Tỷ lệ thu gom, xử lý chất thải công nghiệp không nguy hại đạt 100%
+ Tỷ lệ thu gom, xử lý chất thải nguy hại đạt 100%
8. Quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội
8.1. Quốc phòng
153
- Công tác quốc phòng trên địa bàn xã Nhơn Trạch luôn được cấp ủy, chính
quyền quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện đồng bộ, hiệu quả; gắn
kết chặt chẽ giữa nhiệm vụ quốc phòng với phát triển kinh tế - xã hội, góp phần
củng cố nền quốc phòng toàn dân và thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế
trận an ninh Nhân dân vững chắc.
- Công tác quân sự, quốc phòng địa phương được triển khai toàn diện, hoàn
thành tốt các chỉ tiêu, nhiệm vụ được giao, đặc biệt là công tác tuyển chọn và
gọi công dân nhập ngũ hàng năm đạt 100% chỉ tiêu. Lực lượng Dân quân tự vệ
được xây dựng đảm bảo về số lượng, chất lượng, tổ chức biên chế phù hợp; công
tác huấn luyện quân sự, giáo dục chính trị được duy trì thường xuyên, nâng cao
trình độ sẵn sàng chiến đấu.
- Hệ thống kế hoạch sẵn sàng chiến đấu, kế hoạch phòng thủ được xây
dựng, rà soát, bổ sung kịp thời; công tác xây dựng, quản lý và huy động lực
lượng dự bị động viên được thực hiện chặt chẽ, sẵn sàng đáp ứng yêu cầu nhiệm
vụ trong mọi tình huống. Công tác chính sách hậu phương quân đội, chăm lo
đời sống vật chất, tinh thần cho lực lượng vũ trang được quan tâm thực hiện tốt.
8.2. An ninh và trật tự an toàn xã hội
- Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn được giữ
vững, ổn định. Các lực lượng chức năng chủ động nắm chắc tình hình, kịp thời
phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn các âm mưu, hoạt động chống phá của các thế
lực thù địch; không để phát sinh “điểm nóng”, đảm bảo an ninh trong mọi tình
huống.
- Công tác phòng, chống tội phạm và tệ nạn xã hội được triển khai đồng
bộ, hiệu quả; các loại tội phạm được kiềm chế; công tác phòng cháy, chữa cháy,
cứu nạn, cứu hộ được tăng cường. Tình hình tai nạn giao thông được kiểm soát,
từng bước kéo giảm.
- Phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc” tiếp tục được đẩy mạnh;
lực lượng tham gia bảo đảm an ninh trật tự ở cơ sở được củng cố, kiện toàn; phát
huy vai trò của Nhân dân trong công tác giữ gìn an ninh, trật tự.
- Công tác đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ nhiệm vụ đảm bảo
an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được quan tâm; hiệu lực, hiệu quả quản
lý nhà nước về an ninh trật tự từng bước được nâng cao, đáp ứng yêu cầu nhiệm
vụ trong tình hình mới và phù hợp với định hướng phát triển đô thị khi thành
lập phường.
9. Tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ công chức
9.1. Đảng ủy
154
- Đảng ủy xã Nhơn Trạch được tổ chức, sắp xếp theo đúng quy định của
Điều lệ Đảng và các văn bản hướng dẫn của Trung ương, Tỉnh ủy; đảm bảo vai
trò lãnh đạo toàn diện đối với hệ thống chính trị trên địa bàn.
- Hiện nay, Đảng ủy xã được kiện toàn với cơ cấu gồm Bí thư, các Phó Bí
thư và các Ủy viên Ban Chấp hành; trong đó Bí thư Đảng ủy đồng thời giữ chức
danh Chủ tịch Hội đồng nhân dân xã. Đảng ủy đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo
thực hiện hiệu quả nhiệm vụ chính trị, công tác xây dựng Đảng, phát triển kinh
tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh tại địa phương.
- Công tác tổ chức bộ máy, cán bộ được thực hiện theo hướng tinh gọn,
hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 02
cấp sau sắp xếp.
9.2. Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân
- Hội đồng nhân dân xã được tổ chức đảm bảo theo quy định, gồm:
+ 01 Chủ tịch Hội đồng nhân dân (do Bí thư Đảng ủy xã kiêm nhiệm).
+ 01 Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân chuyên trách.
+ 02 Ban của Hội đồng nhân dân (Trưởng ban kiêm nhiệm, 02 Phó Trưởng
ban chuyên trách).
- Hoạt động của Hội đồng nhân dân từng bước được nâng cao chất lượng,
phát huy vai trò cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, quyết định các vấn
đề quan trọng và giám sát việc thực hiện.
- Ủy ban nhân dân xã được tổ chức đảm bảo theo quy định, gồm: 01 Chủ
tịch và 02 Phó Chủ tịch (trong đó 01 Phó Chủ tịch UBND kiêm Giám đốc Trung
tâm Phục vụ hành chính công xã).
- Các cơ quan chuyên môn, đơn vị sự nghiệp trực thuộc UBND xã được tổ
chức tương đối đầy đủ, gồm:
+ Văn phòng HĐND và UBND.
+ Phòng Kinh tế.
+ Phòng Văn hóa - Xã hội.
+ Trung tâm Phục vụ hành chính công.
+ Ban Chỉ huy Quân sự xã.
- Tổ chức bộ máy UBND xã cơ bản đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước trên
địa bàn; các vị trí còn thiếu được bố trí kiêm nhiệm hoặc điều động, biệt phái để
đảm bảo hoạt động thông suốt.
155
9.3. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể
- Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội (Đoàn Thanh niên, Hội
Liên hiệp Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh...) được kiện toàn, hoạt
động theo đúng quy định.
- Các tổ chức đoàn thể đã phát huy tốt vai trò trong tập hợp, vận động Nhân
dân thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; tham
gia xây dựng Đảng, chính quyền; thực hiện các phong trào thi đua yêu nước,
chương trình phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh.
- Đội ngũ cán bộ Mặt trận và các đoàn thể từng bước được nâng cao về
chất lượng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.
9.4. Cán bộ, công chức cấp xã
- Căn cứ quyết định của UBND xã về việc giao biên chế năm 2026, tổng
số biên chế được giao trên địa bàn trong năm 2026 theo quy định của cấp trên
giao.
- Nhìn chung, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức của xã có trình độ
chuyên môn, phẩm chất chính trị, tinh thần trách nhiệm cao, từng bước đáp ứng
yêu cầu quản lý nhà nước và phục vụ Nhân dân trong giai đoạn chuyển đổi lên
phường.
VIII. Đối với xã Tân Khai
1. Vị trí địa lý, địa giới hành chính và vai trò chức năng
1.1. Vị trí địa lý, địa giới hành chính
Xã nằm ở khu vực phía Tây Bắc của tỉnh Đồng Nai, có vị trí địa lý tương
đối thuận lợi trong kết nối giao thông và liên kết phát triển vùng, cụ thể như sau:
Phía Đông giáp xã Tân Quan; Phía Nam giáp phường Minh Hưng (tỉnh Đồng
Nai) và xã Minh Thạnh (thành phố Hồ Chí Minh); Phía Tây giáp xã Tân Hòa
(tỉnh Tây Ninh); Phía Bắc giáp phường Bình Long và xã Minh Đức.
Xã Tân Khai có vị trí là khu vực cửa ngõ phía Tây Bắc của tỉnh Đồng Nai,
nằm trong vùng chuyển tiếp giữa các khu vực phát triển công nghiệp - đô thị và
khu vực nông nghiệp, đồng thời có vai trò kết nối với các địa phương lân cận.
Địa bàn xã có các tuyến giao thông quan trọng đi qua, tạo điều kiện thuận lợi
cho giao lưu kinh tế, thương mại, vận chuyển hàng hóa và thu hút đầu tư.
Về địa giới hành chính, xã Tân Khai tiếp giáp với nhiều đơn vị hành chính
trong và ngoài tỉnh, hình thành không gian phát triển mở, có khả năng liên kết
đa chiều. Vị trí địa lý này có ý nghĩa quan trọng trong việc tổ chức không gian
156
đô thị, phân bố dân cư, phát triển các khu chức năng và hệ thống hạ tầng kỹ
thuật theo định hướng quy hoạch.
Xã Tân Khai có diện tích tự nhiên khoảng 161,79 km², là một trong những
đơn vị hành chính có quy mô diện tích lớn của tỉnh Đồng Nai. Quy mô diện tích
lớn tạo điều kiện thuận lợi cho việc bố trí không gian phát triển đô thị, hình
thành các khu chức năng như khu dân cư, khu công nghiệp, khu thương mại -
dịch vụ và các công trình hạ tầng xã hội. Đồng thời, cũng đặt ra yêu cầu cao
trong công tác quản lý nhà nước, đặc biệt trong các lĩnh vực đất đai, quy hoạch,
xây dựng và bảo vệ môi trường.
Nhìn chung, vị trí địa lý và địa giới hành chính của xã Tân Khai có nhiều
thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt trong bối cảnh tăng cường liên
kết vùng và phát triển đô thị theo định hướng của tỉnh Đồng Nai.
1.2. Vai trò, chức năng
Theo Quy hoạch tỉnh Đồng Nai thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm
2050 (điều chỉnh) và theo dự kiến Quy hoạch chung đô thị mới Tân Khai đến
năm 2050, khu vực Tân Khai được xác định là khu vực phát triển đô thị mới,
gắn với phát triển công nghiệp, thương mại - dịch vụ và hệ thống hạ tầng đồng
bộ.
Toàn bộ địa bàn xã nằm trong phạm vi quy hoạch đô thị mới Tân Khai,
được định hướng phát triển theo mô hình đô thị công nghiệp - dịch vụ, với các
khu chức năng chính như khu trung tâm hành chính, khu dân cư, khu công
nghiệp, khu thương mại - dịch vụ và hệ thống hạ tầng kỹ thuật. Hệ thống các
khu công nghiệp trên địa bàn với quy mô lớn, định hướng tiếp tục mở rộng là
động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế và hình thành không gian đô thị.
Bên cạnh đó, xã Tân Khai là khu vực có tốc độ đô thị hóa nhanh, với sự
gia tăng dân số cơ học, sự phát triển của các khu dân cư tập trung và các hoạt
động thương mại, dịch vụ ngày càng đa dạng. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo
hướng tích cực, trong đó công nghiệp - xây dựng và thương mại - dịch vụ chiếm
tỷ trọng ngày càng cao, từng bước khẳng định vai trò của địa phương trong phát
triển kinh tế của tỉnh.
Trong tổng thể không gian phát triển của tỉnh Đồng Nai, xã Tân Khai có
vai trò là khu vực động lực phát triển của khu vực phía Tây, là đầu mối kết nối
giữa các khu công nghiệp, khu dân cư và các vùng lân cận; đồng thời góp phần
thúc đẩy liên kết vùng và phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn.
Với những đặc điểm nêu trên, xã Tân Khai không chỉ là một đơn vị hành
chính nông thôn mà đã và đang đảm nhận các chức năng của một đơn vị hành
157
chính đô thị, với yêu cầu ngày càng cao về quản lý, điều hành và cung ứng dịch
vụ công.
Do đó, việc tổ chức lại đơn vị hành chính từ xã thành phường là phù hợp
với vị trí, vai trò, chức năng và định hướng phát triển của địa phương trong giai
đoạn hiện nay.
2. Diện tích tự nhiên và cơ cấu các loại đất
2.1. Diện tích tự nhiên
Xã Tân Khai có tổng diện tích tự nhiên 161,79 km², là một trong những
đơn vị hành chính có diện tích lớn của tỉnh Đồng Nai, tạo điều kiện thuận lợi
cho việc tổ chức không gian phát triển đa dạng, bao gồm các khu vực dân cư
hiện hữu, khu vực sản xuất nông nghiệp, khu công nghiệp và các khu vực quy
hoạch phát triển đô thị.
Diện tích tự nhiên của xã phân bố trên không gian rộng, gắn với nhiều loại
hình sử dụng đất khác nhau, đòi hỏi công tác quản lý nhà nước phải được tổ
chức đồng bộ, thống nhất và phù hợp với định hướng quy hoạch phát triển.
Theo dự kiến Quy hoạch chung đô thị mới Tân Khai đến năm 2050, toàn
bộ địa bàn xã nằm trong phạm vi phát triển đô thị, được định hướng tổ chức
thành các khu chức năng như khu trung tâm hành chính, khu dân cư, khu công
nghiệp, khu thương mại - dịch vụ và hệ thống hạ tầng kỹ thuật. Đây là cơ sở
quan trọng để xem xét chuyển đổi mô hình đơn vị hành chính từ xã sang phường
trong giai đoạn tới.
2.2. Cơ cấu sử dụng đất
Cơ cấu sử dụng đất trên địa bàn xã Tân Khai hiện nay phản ánh đặc điểm
của một đơn vị hành chính đang trong quá trình chuyển dịch từ khu vực nông
thôn sang đô thị, với tỷ trọng đất nông nghiệp còn chiếm ưu thế nhưng quỹ đất
phi nông nghiệp đã và đang tăng lên rõ rệt.
Theo số liệu quy hoạch và thống kê hiện trạng: Đất nông nghiệp: 13.792,34
ha, chiếm khoảng 85,25% tổng diện tích tự nhiên; Đất phi nông nghiệp: 2.387,06
ha, chiếm khoảng 14,75% tổng diện tích tự nhiên.
Trong nhóm đất phi nông nghiệp, đã hình thành các loại đất phục vụ phát
triển kinh tế - xã hội và đô thị, bao gồm đất ở, đất sản xuất kinh doanh, đất công
trình công cộng và đất hạ tầng kỹ thuật: Đất sản xuất, kinh doanh: khoảng 946,73
ha, tập trung chủ yếu tại các khu công nghiệp và các khu vực sản xuất, kinh
doanh trên địa bàn; Đất công trình công cộng: khoảng 616,84 ha, bao gồm đất
dành cho các công trình giáo dục, y tế, văn hóa và các công trình phục vụ lợi ích
158
công cộng; Đất ở: khoảng 204,56 ha, phân bố tại các khu dân cư hiện hữu và
các khu vực phát triển dân cư.
Cơ cấu sử dụng đất nêu trên cho thấy mặc dù đất nông nghiệp vẫn chiếm
tỷ lệ lớn, nhưng đất phi nông nghiệp đã hình thành tương đối rõ nét, đặc biệt là
đất phục vụ phát triển công nghiệp và dịch vụ, tạo nền tảng quan trọng cho quá
trình đô thị hóa trên địa bàn.
2.3. Hiện trạng phân bố sử dụng đất theo không gian
Trên địa bàn xã Tân Khai, đất nông nghiệp phân bố chủ yếu tại các khu
vực ngoài trung tâm, gắn với các khu vực sản xuất truyền thống và các vùng đất
nông nghiệp tập trung.
Trong khi đó, đất phi nông nghiệp tập trung chủ yếu tại khu vực trung tâm,
dọc theo các tuyến giao thông chính và các khu công nghiệp. Các khu công
nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong quỹ đất phi nông nghiệp, đóng vai trò là khu
vực phát triển sản xuất công nghiệp, thu hút đầu tư và lao động.
Các khu dân cư hiện hữu được phân bố xen kẽ với các khu vực sản xuất,
chủ yếu dọc theo các trục giao thông, hình thành các cụm dân cư với mật độ
khác nhau. Xu hướng phân bố này cho thấy sự chuyển dịch từ mô hình phân tán
của khu vực nông thôn sang mô hình tập trung hơn, gắn với phát triển công
nghiệp và đô thị.
2.4. Xu hướng chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất
Trong những năm gần đây, cơ cấu sử dụng đất trên địa bàn xã Tân Khai có
sự chuyển dịch rõ rệt theo hướng giảm dần diện tích đất nông nghiệp, tăng dần
diện tích đất phi nông nghiệp, đặc biệt là đất phục vụ phát triển công nghiệp,
thương mại - dịch vụ và hạ tầng kỹ thuật.
Quá trình chuyển dịch này gắn với việc triển khai các dự án đầu tư, phát
triển các khu công nghiệp, mở rộng các khu dân cư và xây dựng hệ thống hạ
tầng. Theo định hướng quy hoạch, trong thời gian tới, diện tích đất phi nông
nghiệp sẽ tiếp tục được mở rộng để đáp ứng yêu cầu phát triển đô thị.
Việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất được thực hiện theo quy hoạch, kế
hoạch sử dụng đất đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, bảo đảm phù hợp với
định hướng phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
2.5. Định hướng sử dụng đất theo quy hoạch
Theo Quy hoạch chung đô thị mới Tân Khai đến năm 2050, cơ cấu sử dụng
đất trên địa bàn sẽ được điều chỉnh theo hướng tăng tỷ trọng đất xây dựng đô
159
thị, bao gồm đất ở, đất công trình công cộng, đất giao thông, đất cây xanh và các
loại đất phục vụ hạ tầng kỹ thuật.
Các khu vực đất nông nghiệp sẽ được chuyển đổi từng bước sang các mục
đích sử dụng khác phù hợp với quy hoạch, đặc biệt là phát triển khu công nghiệp,
khu đô thị mới và các công trình hạ tầng.
Việc phân bổ quỹ đất theo quy hoạch nhằm bảo đảm sử dụng hiệu quả tài
nguyên đất, đồng thời tạo cơ sở cho phát triển đô thị đồng bộ, hiện đại, phù hợp
với định hướng xây dựng phường Tân Khai trong giai đoạn tới.
3. Dân số, cơ cấu lao động và thành phần dân cư
3.1. Quy mô và mật độ dân số
Theo số liệu cập nhật dữ liệu dân cư của xã Tân Khai đến ngày 22/03/2026
là 39.147 người; với diện tích tự nhiên khoảng 161,79 km², mật độ dân số trung
bình đạt khoảng 242 người/km².
Xã Tân Khai là đơn vị hành chính có quy mô dân số tương đối lớn, gắn với
phạm vi diện tích rộng và sự phát triển của các khu công nghiệp, khu dân cư và
các hoạt động sản xuất, kinh doanh trên địa bàn. Quy mô dân số này là một trong
những yếu tố quan trọng phản ánh tính chất đô thị và làm cơ sở để tổ chức đơn
vị hành chính phù hợp.
Theo định hướng Quy hoạch chung đô thị mới Tân Khai đến năm 2050,
quy mô dân số tiếp tục tăng trong thời gian tới, dự báo:
- Đến năm 2030: khoảng 45.000 – 46.000 người;
- Đến năm 2050: khoảng 61.900 người.
Sự gia tăng dân số gắn với quá trình phát triển công nghiệp, đô thị và thu
hút lao động đến sinh sống, làm việc trên địa bàn.
3.2. Biến động dân số
Dân số trên địa bàn xã Tân Khai có xu hướng tăng qua các năm, bao gồm
cả tăng tự nhiên và tăng cơ học, trong đó tăng cơ học chiếm tỷ trọng đáng kể.
Sự gia tăng dân số cơ học chủ yếu do quá trình phát triển các khu công
nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, thu hút lực lượng lao động từ các
địa phương khác đến làm việc và sinh sống.
Dân số tăng nhanh tập trung chủ yếu tại các khu vực trung tâm, khu vực
gần các khu công nghiệp và dọc theo các tuyến giao thông chính, từng bước
hình thành các khu dân cư tập trung với mật độ cao hơn so với các khu vực nông
nghiệp truyền thống.
160
Quá trình gia tăng dân số gắn với đô thị hóa đã làm thay đổi đặc điểm dân
cư, từ phân tán sang tập trung, đồng thời làm gia tăng nhu cầu về nhà ở, hạ tầng
kỹ thuật, hạ tầng xã hội và các dịch vụ công trên địa bàn.
3.3. Phân bố dân cư
Dân cư trên địa bàn xã Tân Khai hiện được phân bố tại các ấp, khu dân cư,
với đặc điểm phân bố không đồng đều giữa các khu vực.
Các khu dân cư tập trung chủ yếu tại khu vực trung tâm, dọc theo các tuyến
giao thông chính và khu vực lân cận các khu công nghiệp, nơi có điều kiện thuận
lợi về việc làm, hạ tầng và dịch vụ.
Các khu vực gần khu công nghiệp (Minh Hưng - Sikico, Tân Khai II...) có
mật độ dân cư cao do thu hút lao động đến sinh sống và làm việc. Trong khi đó,
các khu vực sản xuất nông nghiệp có mật độ dân cư thấp hơn, phân bố theo mô
hình truyền thống của khu vực nông thôn.
Sự phân bố dân cư hiện nay thể hiện rõ xu hướng chuyển dịch từ mô hình
phân tán sang mô hình tập trung, gắn với các trục phát triển kinh tế và hệ thống
hạ tầng giao thông.
3.4. Cơ cấu lao động
Lực lượng lao động trên địa bàn xã Tân Khai chiếm tỷ lệ lớn trong tổng
dân số, tham gia vào các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp - xây dựng và
thương mại - dịch vụ.
Cơ cấu lao động đang chuyển dịch theo hướng tích cực, giảm dần tỷ trọng
lao động trong lĩnh vực nông nghiệp, tăng dần lao động trong lĩnh vực công
nghiệp và dịch vụ, phù hợp với định hướng phát triển kinh tế của địa phương.
Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp hiện đạt khoảng 71,2%, tập trung chủ yếu
tại các khu công nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh và các hoạt động dịch vụ.
Lao động trong lĩnh vực nông nghiệp vẫn chiếm tỷ lệ đáng kể, gắn với diện tích
đất nông nghiệp còn lớn trên địa bàn.
3.5. Thành phần dân cư
Dân cư trên địa bàn xã Tân Khai bao gồm dân cư tại chỗ và dân cư đến từ
các địa phương khác. Thành phần dân cư đa dạng, gồm người lao động trong
các khu công nghiệp, người sản xuất nông nghiệp và các đối tượng hoạt động
trong lĩnh vực thương mại - dịch vụ.
Tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số chiếm khoảng 5,02% tổng dân số. Các
nhóm dân cư sinh sống xen kẽ, tham gia vào các hoạt động kinh tế - xã hội và
đóng góp vào sự phát triển chung của địa phương.
161
Quá trình phát triển kinh tế và đô thị hóa đã làm thay đổi cơ cấu dân cư
theo hướng tăng nhanh dân số lao động trong lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ,
đồng thời hình thành các khu dân cư tập trung gắn với khu công nghiệp và khu
vực trung tâm.
3.6. Xu hướng phát triển dân số và lao động
Theo định hướng quy hoạch và tình hình phát triển thực tế, dân số của xã
Tân Khai sẽ tiếp tục tăng trong thời gian tới, gắn với quá trình phát triển công
nghiệp, đô thị và thu hút đầu tư.
Cơ cấu lao động tiếp tục chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng lao động
phi nông nghiệp, giảm dần lao động nông nghiệp, phù hợp với định hướng phát
triển đô thị công nghiệp - dịch vụ.
Việc gia tăng dân số và chuyển dịch cơ cấu lao động đặt ra yêu cầu phát
triển đồng bộ hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội và nâng cao chất lượng
dịch vụ công, đáp ứng yêu cầu quản lý đô thị trong giai đoạn tiếp theo.
4. Hiện trạng phát triển kinh tế
4.1. Chỉ tiêu phát triển kinh tế
Kinh tế xã Tân Khai duy trì tốc độ tăng trưởng khá, từng bước khẳng định
vai trò là khu vực phát triển năng động của tỉnh Đồng Nai.
Theo số liệu thống kê, tổng giá trị sản phẩm theo giá cố định 2010 trên địa
bàn đạt khoảng 3.088 tỷ đồng; tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt khoảng 12,8%/năm,
phản ánh xu hướng phát triển ổn định và bền vững.
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, giảm dần tỷ trọng nông
nghiệp, tăng dần tỷ trọng công nghiệp - xây dựng và thương mại - dịch vụ, cụ
thể:
- Công nghiệp - xây dựng: khoảng 1.691 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng lớn trong
cơ cấu kinh tế;
- Thương mại - dịch vụ: khoảng 300 tỷ đồng;
- Nông nghiệp: khoảng 1.087 tỷ đồng.
Cơ cấu này cho thấy khu vực công nghiệp - xây dựng giữ vai trò chủ đạo,
gắn với sự hình thành và phát triển các khu công nghiệp trên địa bàn.
Hiện nay, trên địa bàn có các khu công nghiệp với tổng diện tích trên 800
ha (Minh Hưng - Sikico, Tân Khai II...), đã và đang thu hút các dự án đầu tư,
góp phần tạo việc làm và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Theo định hướng quy
162
hoạch, quy mô khu công nghiệp tiếp tục được mở rộng lên khoảng 1.000 ha, tạo
động lực phát triển trong thời gian tới.
Khu vực thương mại - dịch vụ và công nghiệp từng bước phát triển, với
khoảng 323 doanh nghiệp và khoảng 1635 hộ sản xuất kinh doanh cá thể, hoạt
động trong các lĩnh vực buôn bán, dịch vụ ăn uống, vận tải, cung ứng vật tư và
các loại hình dịch vụ khác, phục vụ nhu cầu sản xuất và đời sống của người dân.
Trong lĩnh vực nông nghiệp, giá trị sản phẩm theo giá cố định 2010 đạt
khoảng 1.087 tỷ đồng, tiếp tục được duy trì trên diện tích đất nông nghiệp
13.792,34 ha, chiếm khoảng 85,25% tổng diện tích tự nhiên. Hoạt động sản xuất
nông nghiệp gắn với các mô hình sản xuất và xây dựng thương hiệu sản phẩm,
trên địa bàn có từ 04 đến 07 sản phẩm OCOP đã được công nhận.
Thu nhập bình quân đầu người đạt khoảng 86,45 triệu đồng/người/năm;
trên địa bàn không còn hộ nghèo theo chuẩn hiện hành, phản ánh mức sống của
người dân từng bước được nâng cao.
Cơ cấu lao động gắn với cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch rõ nét; tỷ lệ lao
động phi nông nghiệp đạt 71,2%, tập trung tại các khu công nghiệp, cơ sở sản
xuất, kinh doanh và hoạt động dịch vụ.
Thu ngân sách trên địa bàn được thực hiện theo dự toán, bảo đảm cân đối
chi ngân sách, phục vụ các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Nhìn chung, các hoạt động kinh tế trên địa bàn xã Tân Khai được triển khai
trong mối quan hệ gắn kết giữa phát triển công nghiệp, dịch vụ và sản xuất nông
nghiệp, chịu tác động mạnh của quá trình đô thị hóa và thu hút đầu tư, góp phần
hình thành cơ cấu kinh tế theo hướng đô thị.
4.2. Phát triển các ngành, lĩnh vực
- Về công nghiệp - xây dựng
Lĩnh vực công nghiệp - xây dựng giữ vai trò chủ đạo trong cơ cấu kinh tế
của xã Tân Khai, với giá trị sản phẩm theo giá cố định 2010 đạt khoảng 1.691
tỷ đồng.
Trên địa bàn đã hình thành các khu công nghiệp với tổng diện tích trên 800
ha, thu hút các dự án đầu tư sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm cho người lao
động và đóng góp vào tăng trưởng kinh tế của địa phương.
Các khu công nghiệp được bố trí theo quy hoạch, gắn với hệ thống giao
thông và hạ tầng kỹ thuật, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển sản xuất công
nghiệp và thu hút đầu tư.
163
Theo định hướng quy hoạch, khu công nghiệp tiếp tục được mở rộng với
quy mô khoảng 1.000 ha, tạo dư địa phát triển trong giai đoạn tới.
Hoạt động xây dựng diễn ra tại các khu dân cư, công trình hạ tầng kỹ thuật,
công trình công cộng và các công trình phục vụ sản xuất, kinh doanh. Việc đầu
tư xây dựng gắn với quá trình đô thị hóa, nhu cầu sử dụng đất và phát triển kinh
tế trên địa bàn.
- Về thương mại - dịch vụ
Lĩnh vực thương mại - dịch vụ có bước phát triển, với giá trị sản phẩm theo
giá cố định 2010 đạt khoảng 300 tỷ đồng.
Trên địa bàn có khoảng 323 doanh nghiệp và khoảng 1635 hộ sản xuất kinh
doanh cá thể, hoạt động trong các lĩnh vực buôn bán, dịch vụ ăn uống, vận tải,
cung ứng vật tư và các loại hình dịch vụ khác.
Các hoạt động thương mại, dịch vụ tập trung tại khu dân cư, dọc theo các
tuyến giao thông chính và khu vực gần các khu công nghiệp, phục vụ nhu cầu
của người dân và người lao động.
Các loại hình dịch vụ như vận tải, ăn uống, sửa chữa, tài chính, ngân hàng...
từng bước được hình thành và phát triển, góp phần đa dạng hóa hoạt động kinh
tế trên địa bàn.
Sự phát triển của lĩnh vực thương mại - dịch vụ gắn liền với sự gia tăng
dân số, đặc biệt là dân số cơ học do thu hút lao động đến làm việc tại các khu
công nghiệp.
- Về sản xuất nông - lâm nghiệp
Sản xuất nông nghiệp tiếp tục được duy trì, gắn với quỹ đất nông nghiệp
hiện có 13.792,34 ha, chiếm khoảng 85,25% tổng diện tích tự nhiên.
Giá trị sản phẩm theo giá cố định 2010 nông nghiệp đạt khoảng 1.087 tỷ
đồng, bao gồm các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi và các hình thức sản xuất
nông nghiệp khác.
Hoạt động trồng trọt được triển khai ổn định; chăn nuôi được duy trì với
các mô hình hộ gia đình và trang trại; công tác phòng, chống dịch bệnh được
thực hiện theo quy định.
Địa phương đã có 07 sản phẩm OCOP nông nghiệp có giá trị, góp phần
nâng cao giá trị sản phẩm theo giá cố định 2010 và thu nhập cho người dân.
Hiện trên địa bàn có 08 hợp tác xã và 06 tổ hợp tác, tham gia vào hoạt động
sản xuất nông nghiệp và các lĩnh vực liên quan.
164
Công tác quản lý, bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng và quản lý công
trình thủy lợi được triển khai theo quy định, bảo đảm phục vụ sản xuất nông
nghiệp.
Hoạt động sản xuất nông nghiệp được tổ chức trong điều kiện quỹ đất còn
lớn, đồng thời chịu tác động của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và định
hướng phát triển đô thị trong thời gian tới.
5. Hiện trạng phát triển văn hóa - xã hội
5.1. Giáo dục và đào tạo
Công tác giáo dục và đào tạo trên địa bàn xã Tân Khai được quan tâm chỉ
đạo và tổ chức thực hiện tương đối đồng bộ, đáp ứng nhu cầu học tập của Nhân
dân trên địa bàn. Hệ thống cơ sở giáo dục tiếp tục được duy trì, ổn định; cơ sở
vật chất trường, lớp từng bước được đầu tư, nâng cấp; chất lượng dạy và học
từng bước được nâng lên.
Trên địa bàn xã có 12 cơ sở giáo dục (trong đó có 01 trường THPT, 10
trường Tiểu học, Trung học cơ sở và Mầm non công lập và 01 cơ sở giáo dục
mầm non tư thục). Có 07/11 trường công lập đạt chuẩn quốc gia mức độ 1, chiếm
tỷ lệ 63,63%.
Công tác huy động học sinh trong độ tuổi đến trường được thực hiện theo
kế hoạch; hoạt động chuyên môn, giảng dạy, quản lý giáo dục được triển khai
theo quy định của ngành. Cùng với đó, việc đầu tư hoàn thiện trường lớp, trang
thiết bị dạy học tiếp tục được quan tâm nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển dân số
và nhu cầu học tập của người dân trên địa bàn.
Nhìn chung, lĩnh vực giáo dục và đào tạo của xã Tân Khai cơ bản ổn định,
từng bước phát triển về quy mô và chất lượng, phù hợp với yêu cầu phát triển
kinh tế - xã hội và định hướng đô thị hóa của địa phương.
5.2. Y tế
Trên địa bàn xã có 01 Trung tâm Y tế khu vực và 01 Trạm Y tế xã (Trạm
chính và hai điểm trạm) và có 01 phòng khám tư nhân (phòng khám Tâm Long).
Tổng số đội ngũ viên chức, người lao động y tế: 14 viên chức và 59 cộng tác
viên dân số, y tế. Công tác y tế, chăm sóc sức khỏe Nhân dân trên địa bàn xã
Tân Khai được duy trì và triển khai tương đối hiệu quả. Mạng lưới y tế cơ sở
tiếp tục được củng cố, đáp ứng yêu cầu khám, chữa bệnh ban đầu, chăm sóc sức
khỏe cộng đồng và thực hiện các chương trình y tế theo quy định.
Theo chỉ tiêu năm 2026, xã Tân Khai phấn đấu tỷ lệ dân số tham gia bảo
hiểm y tế đạt 96% và duy trì xã đạt chuẩn quốc gia về y tế. Đây là cơ sở cho
165
thấy công tác y tế của địa phương đã có nền tảng tương đối tốt, bảo đảm thực
hiện các nhiệm vụ chuyên môn và chăm sóc sức khỏe cho Nhân dân.
Công tác phòng, chống dịch bệnh, tiêm chủng mở rộng, vệ sinh môi trường,
an toàn thực phẩm và các chương trình y tế cộng đồng tiếp tục được triển khai
theo kế hoạch. Các hoạt động tuyên truyền, vận động người dân tham gia bảo
hiểm y tế, chăm sóc sức khỏe, phòng chống dịch bệnh được thực hiện thường
xuyên.
Nhìn chung, hệ thống y tế trên địa bàn cơ bản đáp ứng yêu cầu chăm sóc
sức khỏe ban đầu cho Nhân dân; chất lượng dịch vụ y tế từng bước được nâng
cao, phù hợp với yêu cầu phát triển của xã trong giai đoạn hiện nay.
5.3. Văn hóa, thông tin, thể dục - thể thao
Hiện nay trên địa bàn xã có 23 công trình văn hóa – thể thao gồm: 01 trung
tâm văn hóa – thể thao, 01 trung tâm văn hóa – thể thao cấp xã cũ (Đồng Nơ),
21 nhà văn hóa thôn ấp.
Trên địa bàn xã có 01 di tích cấp Quốc gia “Địa điểm: chiến thắng chốt
chặn Tàu Ô, 01 di tích cấp tỉnh “Đình thần Tân Khai”.
Hiện nay, các thiết chế văn hóa thể thao cơ bản đáp ứng được nhu cầu vui
chơi, giải trí, rèn luyện, tập luyện thể dục thể thao cho người dân.
Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”
tiếp tục được duy trì, các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao quần
chúng được tổ chức tại khu dân cư, góp phần nâng cao đời sống tinh thần, tăng
cường đoàn kết cộng đồng và xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh.
5.4. Lao động - Thương binh và Xã hội
Công tác lao động, việc làm và an sinh xã hội trên địa bàn xã Tân Khai
được thực hiện gắn với quá trình phát triển kinh tế của địa phương, đặc biệt là
sự phát triển của công nghiệp, xây dựng và thương mại - dịch vụ.
Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt khoảng 70%; cơ cấu lao động chuyển dịch
theo hướng giảm dần lao động nông nghiệp, tăng dần lao động trong lĩnh vực
công nghiệp, xây dựng và dịch vụ. Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp hiện đạt
khoảng 55% – 60%, phản ánh xu hướng chuyển dịch lao động phù hợp với quá
trình đô thị hóa của địa phương.
Công tác giải quyết việc làm được triển khai thông qua việc phát triển sản
xuất, kinh doanh, các khu công nghiệp, cơ sở dịch vụ và kết nối nhu cầu lao
động với doanh nghiệp trên địa bàn. Hoạt động sản xuất công nghiệp và dịch vụ
ngày càng mở rộng đã tạo thêm việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân.
166
Công tác chính sách đối với người có công, đối tượng bảo trợ xã hội, người
cao tuổi, người khuyết tật và các đối tượng xã hội khác được thực hiện theo quy
định. Các chế độ, chính sách được chi trả, quản lý và thực hiện kịp thời, góp
phần bảo đảm an sinh xã hội trên địa bàn.
Đối với công tác giảm nghèo, theo báo cáo năm 2025, sau sáp nhập trên
địa bàn xã có 06 hộ nghèo, 13 hộ cận nghèo; qua rà soát, 06 hộ nghèo đủ điều
kiện thoát nghèo, đạt 100% chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ xã. Đồng thời,
trong báo cáo đánh giá tiêu chuẩn định hướng thành phường, tỷ lệ hộ nghèo của
xã là 0%. Đây là kết quả tích cực, thể hiện hiệu quả của công tác giảm nghèo và
an sinh xã hội trên địa bàn.
Nhìn chung, lĩnh vực lao động - thương binh và xã hội của xã Tân Khai
được triển khai tương đối đồng bộ, gắn với mục tiêu nâng cao thu nhập, ổn định
đời sống và bảo đảm an sinh xã hội cho Nhân dân.
5.5. Công tác tôn giáo, tín ngưỡng, dân tộc
Công tác tôn giáo, tín ngưỡng trên địa bàn xã Tân Khai được thực hiện theo
đúng quy định của pháp luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của
Nhân dân. Các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo diễn ra ổn định, phù hợp với
phong tục, tập quán và đời sống tinh thần của người dân địa phương.
Công tác quản lý nhà nước về tôn giáo được thực hiện gắn với việc theo
dõi, hướng dẫn các tổ chức, cá nhân thực hiện sinh hoạt tôn giáo theo đúng quy
định; đồng thời lồng ghép với công tác dân vận, tuyên truyền, vận động Nhân
dân chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà
nước.
Đối với công tác dân tộc, trên địa bàn xã Tân Khai có đồng bào dân tộc
thiểu số sinh sống, chiếm khoảng 5,02% tổng dân số. Đồng bào dân tộc thiểu số
tham gia vào các hoạt động sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ và sinh
hoạt cộng đồng trên địa bàn.
Các chính sách dân tộc, an sinh xã hội, giáo dục, y tế và hỗ trợ phát triển
kinh tế đối với đồng bào dân tộc thiểu số được triển khai theo quy định, góp
phần cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người dân.
Nhìn chung, công tác tôn giáo, tín ngưỡng, dân tộc trên địa bàn xã Tân
Khai được thực hiện ổn định, đúng quy định, góp phần củng cố khối đại đoàn
kết toàn dân, giữ vững ổn định chính trị - xã hội và phục vụ mục tiêu phát triển
chung của địa phương.
167
6. Hiện trạng phát triển hạ tầng xã hội
6.1. Nhà ở
Nhà ở trên địa bàn xã Tân Khai chủ yếu là nhà ở riêng lẻ của người dân,
phân bố tại các khu dân cư hiện hữu, dọc theo các tuyến giao thông chính và tại
các khu vực dân cư tập trung trên địa bàn. Quá trình hình thành và phát triển nhà
ở gắn với lịch sử cư trú lâu dài của người dân địa phương, đồng thời chịu tác
động của quá trình phát triển kinh tế, công nghiệp và đô thị hóa.
Cùng với sự phát triển của các khu công nghiệp, khu sản xuất, kinh doanh
và gia tăng dân số cơ học, nhu cầu về nhà ở trên địa bàn có xu hướng tăng. Một
số khu vực gần trung tâm xã, gần khu công nghiệp và dọc các trục giao thông
chính đã hình thành các cụm dân cư tập trung với mật độ cao hơn so với các khu
vực nông nghiệp truyền thống.
Việc phát triển nhà ở trên địa bàn gắn với quá trình chuyển dịch cơ cấu sử
dụng đất và quy hoạch phát triển đô thị. Theo số liệu hiện trạng sử dụng đất,
diện tích đất ở của xã khoảng 204,56 ha, là quỹ đất quan trọng phục vụ nhu cầu
bố trí dân cư hiện hữu và phát triển khu dân cư trong thời gian tới.
Nhìn chung, hệ thống nhà ở trên địa bàn xã Tân Khai cơ bản đáp ứng nhu
cầu cư trú của người dân; đồng thời, quá trình phát triển nhà ở cũng đặt ra yêu
cầu tiếp tục quản lý chặt chẽ về đất đai, trật tự xây dựng và tổ chức không gian
dân cư phù hợp với quy hoạch đô thị mới.
6.2. Công trình cơ quan hành chính
Trên địa bàn xã Tân Khai hiện có hệ thống công trình cơ quan hành chính
phục vụ hoạt động của Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân xã và các
tổ chức trong hệ thống chính trị. Các công trình này được kế thừa, sử dụng sau
khi thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính, bảo đảm phục vụ hoạt động quản lý
nhà nước và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ chính trị tại địa phương.
Khu vực trung tâm hành chính của xã là nơi bố trí trụ sở làm việc của Đảng
ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân xã và các bộ phận chuyên môn. Đây
là nơi tổ chức hoạt động chỉ đạo, điều hành, tiếp công dân, giải quyết thủ tục
hành chính và triển khai các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng,
an ninh trên địa bàn.
Theo định hướng quy hoạch đô thị mới Tân Khai, khu vực trung tâm hành
chính tiếp tục được xác định là khu trung tâm tổng hợp, nơi bố trí các công trình
hành chính, công trình dịch vụ công và các công trình hạ tầng xã hội phục vụ
dân cư; việc tiếp tục sử dụng và từng bước hoàn thiện khu trung tâm hành chính
hiện có là phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương.
168
Nhìn chung, hệ thống công trình cơ quan hành chính trên địa bàn cơ bản
đáp ứng yêu cầu hoạt động của bộ máy chính quyền địa phương; là nền tảng
quan trọng để tổ chức và nâng cấp thành trung tâm hành chính phường trong
giai đoạn tới.
6.3. Công trình giáo dục
Hệ thống công trình giáo dục trên địa bàn xã Tân Khai được bố trí phục vụ
nhu cầu học tập của học sinh các cấp học, cơ bản đáp ứng yêu cầu dạy và học
của địa phương.
Theo chỉ tiêu, nhiệm vụ năm 2026 của Đảng bộ xã, trên địa bàn hiện có 10
trường học, phấn đấu đến cuối năm 2026 có thêm 01 trường đạt chuẩn quốc gia
mức độ 1 (Trường THCS Tân Khai), nâng tổng số lên 07/10 trường đạt chuẩn
quốc gia, chiếm tỷ lệ 70%.
Các cơ sở giáo dục được phân bố tại các khu vực dân cư, tạo điều kiện
thuận lợi cho học sinh đến trường. Cơ sở vật chất trường lớp từng bước được
đầu tư, cải tạo, nâng cấp; hệ thống phòng học, phòng chức năng và các công
trình phụ trợ được duy trì phục vụ công tác giảng dạy và học tập.
Việc phát triển hệ thống công trình giáo dục gắn với phân bố dân cư, nhu
cầu học tập của người dân và định hướng phát triển đô thị của địa phương. Đây
là một trong những yếu tố quan trọng bảo đảm tiêu chí hạ tầng xã hội trong quá
trình xây dựng phường.
6.4. Công trình y tế
Trên địa bàn xã Tân Khai hiện có hệ thống công trình y tế phục vụ công
tác khám, chữa bệnh ban đầu và chăm sóc sức khỏe Nhân dân. Mạng lưới y tế
cơ sở tiếp tục được củng cố, duy trì hoạt động theo quy định của ngành y tế.
Theo chỉ tiêu năm 2026, xã Tân Khai phấn đấu tỷ lệ dân số tham gia bảo
hiểm y tế đạt 96% và duy trì xã đạt chuẩn quốc gia về y tế. Điều này cho thấy
hệ thống y tế trên địa bàn hiện cơ bản đáp ứng yêu cầu chăm sóc sức khỏe cộng
đồng.
Các cơ sở y tế trên địa bàn thực hiện nhiệm vụ khám bệnh, chữa bệnh ban
đầu, chăm sóc sức khỏe cộng đồng, phòng chống dịch bệnh, tiêm chủng mở rộng
và triển khai các chương trình y tế theo kế hoạch. Hoạt động y tế được tổ chức
gắn với nhu cầu dân cư và sự phát triển của địa phương.
Nhìn chung, hạ tầng y tế của xã Tân Khai cơ bản đáp ứng yêu cầu chăm
sóc sức khỏe ban đầu cho người dân, là một trong những thành tố quan trọng
của hạ tầng xã hội phục vụ quá trình phát triển đô thị và xây dựng phường trong
thời gian tới.
169
6.5. Công trình văn hóa, thể dục - thể thao
Hệ thống công trình văn hóa, thể dục - thể thao trên địa bàn xã Tân Khai
được bố trí tại các khu dân cư, phục vụ nhu cầu sinh hoạt văn hóa, hội họp cộng
đồng và rèn luyện thể chất của người dân.
Các thiết chế văn hóa cơ sở như nhà văn hóa, điểm sinh hoạt cộng đồng,
khu sinh hoạt văn hóa tại khu dân cư được duy trì, sử dụng để tổ chức các hoạt
động hội họp, tuyên truyền, sinh hoạt cộng đồng, văn hóa, văn nghệ và các
phong trào ở cơ sở.
Hoạt động thể dục - thể thao quần chúng được tổ chức gắn với các thiết chế
văn hóa và khu dân cư, góp phần nâng cao đời sống tinh thần, xây dựng môi
trường văn hóa lành mạnh và tăng cường đoàn kết cộng đồng.
Theo Báo cáo chính trị của Đảng bộ xã, một trong những định hướng quan
trọng là phát huy truyền thống văn hóa, con người vùng đất Tân Khai, quyết tâm
xây dựng địa phương ngày càng văn minh, giàu đẹp. Đây là cơ sở để tiếp tục
đầu tư, hoàn thiện hạ tầng văn hóa - thể thao phù hợp với định hướng phát triển
đô thị văn minh.
Nhìn chung, hệ thống công trình văn hóa, thể dục - thể thao của xã Tân
Khai cơ bản đáp ứng nhu cầu sinh hoạt cộng đồng, từng bước phục vụ tốt hơn
đời sống tinh thần của Nhân dân trong điều kiện phát triển mới.
6.6. Công trình thương mại - dịch vụ - du lịch
Trên địa bàn xã Tân Khai đã hình thành hệ thống công trình thương mại -
dịch vụ gắn với hoạt động sản xuất, kinh doanh và nhu cầu tiêu dùng của người
dân. Các công trình, cơ sở này phân bố chủ yếu tại khu vực trung tâm, dọc theo
các tuyến giao thông chính và tại các khu dân cư tập trung.
Theo số liệu hiện trạng, trên địa bàn có khoảng 480 cơ sở sản xuất, kinh
doanh và khoảng 300 hộ kinh doanh cá thể, hoạt động trong các lĩnh vực buôn
bán hàng hóa, dịch vụ ăn uống, vận tải, cung ứng vật tư và các loại hình dịch vụ
khác. Đây là nền tảng quan trọng cho việc hình thành và phát triển hệ thống hạ
tầng thương mại - dịch vụ phục vụ dân cư và người lao động trên địa bàn.
Hệ thống các điểm kinh doanh, cửa hàng, cơ sở dịch vụ, chợ và điểm mua
bán hàng hóa cơ bản đáp ứng nhu cầu trao đổi hàng hóa và tiêu dùng của người
dân địa phương, đồng thời phục vụ nhu cầu của lực lượng lao động làm việc tại
các khu công nghiệp.
Đối với lĩnh vực du lịch, trong các tài liệu, báo cáo và hồ sơ quy hoạch đã
cung cấp chưa xác định các công trình du lịch cụ thể trên địa bàn xã Tân Khai.
170
Vì vậy, nội dung hạ tầng du lịch hiện chưa hình thành rõ nét và sẽ tiếp tục được
nghiên cứu, bổ sung trong quá trình phát triển sau này.
Nhìn chung, hệ thống công trình thương mại - dịch vụ trên địa bàn xã Tân
Khai đã từng bước hình thành, phát triển theo nhu cầu thực tế của địa phương;
là cơ sở để tiếp tục mở rộng, nâng cấp theo định hướng phát triển đô thị công
nghiệp - dịch vụ trong thời gian tới.
7. Hiện trạng phát triển hạ tầng kỹ thuật đô thị
7.1. Giao thông
Hệ thống giao thông trên địa bàn xã Tân Khai được hình thành tương đối
đồng bộ, giữ vai trò quan trọng trong kết nối các khu dân cư, khu sản xuất, khu
công nghiệp và các khu vực chức năng trên địa bàn.
Xã Tân Khai có vị trí thuận lợi về giao thông, trên địa bàn có các trục giao
thông quan trọng đi qua, trong đó nổi bật là Quốc lộ 13, cùng với các tuyến
ĐT.756C, ĐT.752B và hệ thống giao thông liên xã, liên khu vực, tạo điều kiện
thuận lợi cho giao lưu kinh tế, vận chuyển hàng hóa và kết nối vùng.
Bên cạnh mạng lưới giao thông đối ngoại, hệ thống giao thông nội bộ trên
địa bàn bao gồm các tuyến đường trục chính của xã, đường liên ấp, đường khu
dân cư và các tuyến phục vụ sản xuất. Các tuyến đường này từng bước được đầu
tư, nâng cấp, phục vụ nhu cầu đi lại của người dân, vận chuyển hàng hóa, nông
sản và đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Theo báo cáo năm 2025, địa phương thường xuyên chỉ đạo kiểm tra chất
lượng các công trình giao thông đã và đang đầu tư; rà soát biển báo giao thông,
đèn tín hiệu và phối hợp sửa chữa các vị trí hư hỏng do mưa lũ gây ra, xử lý các
vướng mắc phát sinh trên địa bàn.
Theo định hướng Quy hoạch chung đô thị mới Tân Khai đến năm 2050, hệ
thống giao thông của xã tiếp tục được tổ chức theo mạng lưới giao thông đô thị,
gồm giao thông đối ngoại và giao thông nội bộ; bảo đảm kết nối hiệu quả giữa
khu trung tâm hành chính, khu dân cư, khu công nghiệp, khu thương mại - dịch
vụ và các khu vực phát triển mới trên địa bàn.
Nhìn chung, hệ thống giao thông của xã Tân Khai cơ bản đáp ứng yêu cầu
phát triển hiện tại, đồng thời là nền tảng quan trọng để tiếp tục đầu tư hoàn thiện
hạ tầng giao thông theo định hướng phát triển đô thị trong thời gian tới.
171
7.2. Thủy lợi
Hệ thống công trình thủy lợi trên địa bàn xã Tân Khai được quản lý, khai
thác và sử dụng phục vụ chủ yếu cho sản xuất nông nghiệp, điều tiết nguồn nước
và phòng, chống thiên tai.
Địa phương thường xuyên phối hợp với các đơn vị liên quan trong công
tác quản lý, bảo vệ công trình thủy lợi trên địa bàn; chủ động kiểm tra mức độ
an toàn hồ, đập trước mùa mưa lũ; theo dõi tình hình thời tiết, thiên tai và tổ
chức xử lý các tình huống phát sinh có ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống Nhân
dân.
Theo báo cáo năm 2025, xã Tân Khai đã phối hợp chặt chẽ với các đơn vị
hồ chứa trong công tác quản lý, bảo vệ công trình thủy lợi; đồng thời xử lý kịp
thời các tình huống thiên tai xảy ra trên địa bàn. Trong năm, địa phương đã đề
xuất hỗ trợ sửa chữa 04 hệ thống cống thoát nước bị hư hỏng, sạt lở với tổng
kinh phí 10,3 tỷ đồng, và đã được UBND tỉnh chấp thuận chủ trương hỗ trợ.
Nhìn chung, hệ thống thủy lợi của xã cơ bản phục vụ yêu cầu sản xuất nông
nghiệp và phòng chống thiên tai; tuy nhiên, trong bối cảnh phát triển đô thị, cần
tiếp tục đầu tư, nâng cấp đồng bộ các công trình thủy lợi, thoát nước và hạ tầng
liên quan để đáp ứng yêu cầu phát triển mới.
7.3. Cấp điện
Hệ thống cấp điện trên địa bàn xã Tân Khai được đầu tư, quản lý và vận
hành theo mạng lưới điện quốc gia, cơ bản đáp ứng nhu cầu sử dụng điện trong
sinh hoạt và sản xuất của người dân, doanh nghiệp và các cơ sở sản xuất, kinh
doanh.
Theo báo cáo năm 2025, tỷ lệ hộ dân được sử dụng điện lưới quốc gia đạt
khoảng 99,43%, bảo đảm nhu cầu sinh hoạt và sản xuất trên địa bàn. Hệ thống
lưới điện được bố trí trên toàn địa bàn, phục vụ khu dân cư, khu sản xuất, khu
công nghiệp và các công trình hạ tầng xã hội.
Việc cung cấp điện được thực hiện tương đối ổn định, góp phần phục vụ
phát triển sản xuất công nghiệp, thương mại - dịch vụ, đời sống dân cư và các
hoạt động kinh tế - xã hội khác.
Theo định hướng quy hoạch đô thị mới Tân Khai, hệ thống cấp điện tiếp
tục được đầu tư, phát triển phù hợp với phân khu sử dụng đất, quy mô dân số,
sự mở rộng không gian đô thị và nhu cầu phát triển công nghiệp - dịch vụ trong
giai đoạn tới.
172
Nhìn chung, hạ tầng cấp điện của xã Tân Khai cơ bản bảo đảm yêu cầu
hiện tại và có khả năng tiếp tục mở rộng, nâng cấp phục vụ mục tiêu phát triển
đô thị.
7.4. Cấp nước
Hệ thống cấp nước trên địa bàn xã Tân Khai hiện được hình thành từ nguồn
cấp nước tập trung và nguồn nước do người dân tự khai thác, phục vụ nhu cầu
sinh hoạt và một phần nhu cầu sản xuất.
Theo báo cáo năm 2025, tỷ lệ dân số nông thôn được sử dụng nước hợp vệ
sinh đạt 100%, trong khi tỷ lệ hộ dân sử dụng nước sạch đạt 30,2%, đạt 100,7%
chỉ tiêu Nghị quyết đề ra. Điều này cho thấy việc tiếp cận nước sạch của người
dân đã có chuyển biến, nhưng tỷ lệ sử dụng nước sạch tập trung vẫn còn ở mức
chưa cao.
Hiện nay, tại một số khu vực dân cư đã được đầu tư hệ thống cấp nước tập
trung, tuy nhiên nhiều khu vực vẫn sử dụng nguồn nước tự khai thác phục vụ
sinh hoạt. Trong bối cảnh phát triển đô thị, nhu cầu mở rộng hệ thống cấp nước
sạch, nâng cao tỷ lệ hộ dân được sử dụng nước sạch là yêu cầu cần thiết.
Theo chỉ tiêu năm 2026, địa phương tiếp tục phấn đấu duy trì 100% hộ dân
sử dụng nước hợp vệ sinh và có 32% dân số sử dụng nước sạch đạt chuẩn.
Nhìn chung, hệ thống cấp nước trên địa bàn cơ bản đáp ứng nhu cầu sinh
hoạt hiện nay; tuy nhiên, cần tiếp tục đầu tư mở rộng mạng lưới cấp nước sạch
theo định hướng quy hoạch và yêu cầu phát triển đô thị trong thời gian tới.
7.5. Thoát nước thải và vệ sinh môi trường
Hệ thống thoát nước và công tác vệ sinh môi trường trên địa bàn xã Tân
Khai được tổ chức thực hiện theo điều kiện hạ tầng hiện có, phục vụ nhu cầu
sinh hoạt của người dân và các hoạt động sản xuất, kinh doanh trên địa bàn.
Đối với nước mưa và nước thải sinh hoạt, hệ thống thoát nước hiện nay chủ
yếu là các tuyến thoát nước tự nhiên, rãnh thoát nước và một số công trình thoát
nước cục bộ tại khu dân cư và dọc các tuyến giao thông. Hệ thống này từng bước
được đầu tư, sửa chữa, nhưng chưa đồng bộ theo tiêu chuẩn đô thị.
Đối với nước thải công nghiệp, các khu công nghiệp trên địa bàn thực hiện
thu gom, xử lý theo hệ thống xử lý nước thải riêng trong phạm vi dự án, bảo
đảm theo quy định về bảo vệ môi trường.
Về công tác vệ sinh môi trường, hoạt động thu gom, vận chuyển và xử lý
chất thải rắn sinh hoạt được triển khai trên địa bàn, góp phần duy trì vệ sinh môi
173
trường khu dân cư. Theo chỉ tiêu năm 2026, xã Tân Khai phấn đấu tỷ lệ thu gom
chất thải rắn sinh hoạt đạt 73,6%.
Công tác bảo vệ môi trường được thực hiện gắn với tuyên truyền, vận động
người dân tham gia giữ gìn vệ sinh môi trường, xử lý chất thải, bảo vệ cảnh quan
tại khu dân cư và nơi công cộng.
Nhìn chung, hệ thống thoát nước và công tác vệ sinh môi trường của xã
Tân Khai cơ bản đáp ứng yêu cầu hiện tại; tuy nhiên, để đáp ứng mục tiêu phát
triển đô thị trong thời gian tới, cần tiếp tục đầu tư đồng bộ hệ thống thoát nước,
xử lý nước thải, thu gom chất thải rắn và các công trình hạ tầng môi trường theo
định hướng quy hoạch.
8. Quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội
8.1. Quốc phòng
Công tác quốc phòng trên địa bàn xã Tân Khai được triển khai nghiêm túc,
gắn với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng hệ thống chính trị cơ sở
vững mạnh và bảo đảm yêu cầu xây dựng khu vực phòng thủ đi vào chiều sâu,
vững chắc.
Ngay sau khi xã Tân Khai chính thức đi vào hoạt động theo mô hình chính
quyền địa phương 02 cấp, cấp ủy, chính quyền địa phương đã quan tâm lãnh
đạo, chỉ đạo thực hiện tốt các nhiệm vụ quân sự, quốc phòng trên địa bàn. Làm
tốt công tác chuẩn bị, tổ chức thành công cuộc diễn tập chiến đấu trong khu vực
phòng thủ năm 2025. Qua đó, nâng cao vai trò của cấp uỷ, chính quyền, mặt
trận, đoàn thể đối với công tác quân sự, quốc phòng địa phương.
Công tác tuyển chọn, gọi công dân nhập ngũ và thực hiện nghĩa vụ tham
gia Công an nhân dân được triển khai theo đúng quy định. Theo chỉ tiêu năm
2026 xã Tân Khai hoàn thành 100% chỉ tiêu giao quân; hoàn thành bồi dưỡng
kiến thức quốc phòng và an ninh cho các đối tượng đạt 100% chỉ tiêu theo kế
hoạch. Đây là cơ sở quan trọng tăng cường củng cố quốc phòng địa phương, đáp
ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.
Cùng với đó, lực lượng dân quân tiếp tục được củng cố, kiện toàn; công tác
đăng ký, quản lý lực lượng dự bị động viên, quản lý công dân trong độ tuổi thực
hiện nghĩa vụ quân sự được triển khai theo quy định. Các nhiệm vụ về huấn
luyện, sẵn sàng chiến đấu, phòng chống thiên tai, cứu hộ, cứu nạn và phối hợp
giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và tham gia phong trào xây dựng
nông thôn mới trên địa bàn được thực hiện thường xuyên, hiệu quả.
174
Nhìn chung, công tác quốc phòng của xã Tân Khai được triển khai đồng
bộ, gắn với yêu cầu xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc, đáp ứng yêu cầu
nhiệm vụ bảo vệ địa bàn trong tình hình hiện nay.
8.2. An ninh và trật tự an toàn xã hội
Trong những năm qua, Đảng ủy, UBND xã quan tâm, chỉ đạo lực lượng
Công an xã chủ trì, phối hợp các ban, ngành, đoàn thể triển khai đồng bộ các
biện pháp phòng, chống tội phạm và xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an
ninh Tổ quốc. Việc phân công trách nhiệm được thực hiện rõ ràng, cụ thể theo
từng lĩnh vực công tác, từng địa bàn, từng cán bộ phụ trách; đồng thời gắn trách
nhiệm người đứng đầu trong công tác tham mưu, tổ chức thực hiện, kiểm tra,
đôn đốc, chấn chỉnh những tồn tại, hạn chế phát sinh trong quá trình triển khai
thực hiện. Qua đó, tình hình an ninh trật tự trên địa bàn xã Tân Khai cơ bản được
giữ vững ổn định, không phát sinh các vụ việc xâm phạm an ninh quốc gia hoặc
hình thành các “điểm nóng” về ANTT. Hàng năm, tình hình tội phạm, vi phạm
pháp luật, tai nạn giao thông được kéo giảm, không để hình thành các băng,
nhóm tội phạm, tụ điểm tệ nạn xã hội hoạt động phức tạp, gây bức xúc trong dư
luận quần chúng Nhân dân, góp phần tạo môi trường trong sạch, lành mạnh,
phục vụ hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương
9. Tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ, công chức
9.1. Đảng ủy
Đảng bộ xã Tân Khai được thành lập trên cơ sở sáp nhập các tổ chức đảng
của thị trấn Tân Khai, xã Tân Hiệp và xã Đồng Nơ theo chủ trương sắp xếp đơn
vị hành chính cấp xã. Sau khi thành lập, Đảng bộ xã đã nhanh chóng được kiện
toàn tổ chức, bảo đảm vai trò lãnh đạo toàn diện trên các lĩnh vực của địa
phương.
Hiện nay, Đảng bộ xã có 37 tổ chức đảng trực thuộc với khoảng 850 đảng
viên, được tổ chức tại các khu dân cư, cơ quan, đơn vị và các khu vực trên địa
bàn. Các tổ chức đảng được bố trí phù hợp với địa bàn quản lý và đặc điểm dân
cư, bảo đảm sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng đối với hệ thống chính trị
ở cơ sở.
Ban Chấp hành Đảng bộ xã được kiện toàn theo quy định, thực hiện chức
năng lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện việc thực hiện nhiệm vụ chính trị, phát triển
kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và xây dựng hệ thống chính trị. Các đồng
chí trong Ban Chấp hành được phân công phụ trách lĩnh vực, địa bàn và các tổ
chức đảng trực thuộc, thực hiện nhiệm vụ theo quy chế làm việc.
175
Các cơ quan tham mưu, giúp việc của Đảng ủy được tổ chức theo quy định,
bao gồm các lĩnh vực tổ chức, kiểm tra, tuyên giáo, dân vận... bảo đảm tham
mưu kịp thời, phục vụ công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng ủy.
Công tác xây dựng Đảng được triển khai toàn diện, trong đó công tác sinh
hoạt chi bộ được duy trì nền nếp; công tác phát triển đảng viên, quản lý đảng
viên, kiểm tra, giám sát được thực hiện theo quy định. Các hoạt động của tổ
chức đảng gắn với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và
xây dựng hệ thống chính trị tại địa phương.
9.2. Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân
Hội đồng nhân dân xã Tân Khai được tổ chức và hoạt động theo quy định
của pháp luật về tổ chức chính quyền địa phương, thực hiện chức năng quyết
định các vấn đề quan trọng của địa phương theo thẩm quyền.
Các kỳ họp Hội đồng nhân dân được tổ chức theo quy định, xem xét, thông
qua các nghị quyết về phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và các nội
dung quan trọng khác của địa phương. Hoạt động tiếp xúc cử tri được thực hiện
định kỳ, tạo điều kiện để đại biểu Hội đồng nhân dân tiếp nhận, phản ánh ý kiến,
kiến nghị của cử tri.
Ủy ban nhân dân xã Tân Khai được tổ chức theo quy định, thực hiện chức
năng quản lý nhà nước trên địa bàn. Các thành viên Ủy ban nhân dân được phân
công phụ trách từng lĩnh vực, thực hiện nhiệm vụ theo quy định của pháp luật
và phân công của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã.
Các bộ phận chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân xã được bố trí theo cơ
cấu tổ chức, bao gồm các lĩnh vực kinh tế, tài chính, địa chính - xây dựng, văn
hóa - xã hội và các lĩnh vực khác, bảo đảm thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước
trên địa bàn.
Hoạt động quản lý, điều hành của Ủy ban nhân dân xã được thực hiện thông
qua việc ban hành các văn bản quản lý, tổ chức triển khai các chương trình, kế
hoạch và thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội.
Công tác cải cách hành chính được quan tâm thực hiện; việc tiếp nhận và
giải quyết thủ tục hành chính được thực hiện tại bộ phận một cửa, bảo đảm đúng
quy trình, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và tổ chức khi thực hiện các thủ
tục hành chính.
9.3. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã Tân Khai được tổ chức theo quy
định, thực hiện chức năng tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, tham
gia giám sát và phản biện xã hội, góp phần xây dựng chính quyền vững mạnh.
176
Các tổ chức chính trị - xã hội như Đoàn Thanh niên, Hội Liên hiệp Phụ nữ,
Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh và các tổ chức khác được tổ chức và hoạt
động trên địa bàn, triển khai các phong trào thi đua, các cuộc vận động và các
chương trình công tác theo kế hoạch.
Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội được gắn
với các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh; tuyên truyền,
vận động Nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp
luật của Nhà nước; tham gia xây dựng đời sống văn hóa, xây dựng nông thôn
mới và đô thị văn minh.
Các hoạt động được triển khai tại khu dân cư, cơ quan, đơn vị và cộng đồng
dân cư, góp phần phát huy vai trò của Nhân dân trong phát triển địa phương.
9.4. Cán bộ, công chức cấp xã
Đội ngũ cán bộ, công chức xã Tân Khai được bố trí theo quy định sau khi
thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính, cơ bản đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được
giao.
Trong điều kiện xã có quy mô diện tích lớn, dân số đông, phạm vi quản lý
rộng và tốc độ phát triển nhanh, khối lượng công việc của đội ngũ cán bộ, công
chức ngày càng tăng, đặc biệt trong các lĩnh vực quản lý đất đai, xây dựng, đô
thị, dân cư, an sinh xã hội và cải cách hành chính.
Đội ngũ cán bộ, công chức được phân công thực hiện nhiệm vụ trên các
lĩnh vực quản lý nhà nước; từng bước nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn,
đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn phát triển mới.
Nhìn chung, tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ, công chức của xã Tân Khai
cơ bản ổn định, hoạt động theo quy định, bảo đảm thực hiện các nhiệm vụ quản
lý nhà nước trên địa bàn; đồng thời, trong bối cảnh phát triển đô thị, yêu cầu tiếp
tục nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức là hết sức cần thiết để đáp
ứng yêu cầu quản lý trong thời gian tới.
IX. Đối với xã Dầu Giây
1. Vị trí địa lý, địa giới hành chính và vai trò chức năng
1.1. Vị trí địa lý, địa giới hành chính
Xã Dầu Giây được thành lập trên cơ sở sáp nhập địa giới hành chính và tổ
chức bộ máy của các xã Hưng Lộc, Bàu Hàm 2, Lộ 25 và thị trấn Dầu Giây theo
Nghị Quyết số 1662/NQ-UBTVQH15, được Uỷ ban Thường vụ Quốc hội thông
qua ngày 16/6/2025 và chính thức vận hành mô hình chính quyền địa phương từ
ngày 01/7/2025. Xã có 17 ấp, diện tích đất tự nhiên 98,87km², dân số 70.264
177
người; đồng bào có đạo chiếm trên 71%; có 18 dân tộc cùng sinh sống, trong đó
dân tộc kinh chiếm 91,97%. Xã Dầu Giây nằm ở phía Nam của tỉnh Đồng Nai,
có ranh giới hành chính tiếp giáp như sau:
- Phía Đông: giáp phường Bình Lộc và phường Xuân Lập;
- Phía Bắc: giáp xã Gia Kiệm và xã Bàu Hàm;
- Phía Tây: giáp xã Hưng Thịnh;
- Phía Nam: giáp xã Bình An và xã Xuân Quế.
1.2. Vai trò chức năng
Xã Dầu Giây thuộc tỉnh Đồng Nai, có vị trí địa lý thuận lợi, là địa bàn có
vai trò quan trọng trong kết nối giao thông, giao thương và phát triển công
nghiệp - dịch vụ của khu vực. Địa bàn có lợi thế trong liên kết vùng, tiếp giáp
các khu vực phát triển năng động, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình đô thị
hóa và phát triển kinh tế - xã hội, khu vực trung tâm, động lực phát triển kinh tế
- xã hội của đô thị Dầu Giây. Là địa bàn tập trung phát triển công nghiệp và dịch
vụ, xã đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu lao
động.
Đồng thời, xã Dầu Giây có vị trí thuận lợi trong kết nối giao thông liên
vùng, gắn với các đô thị Thành phố Hồ Chí Minh, Biên Hòa và khu vực Long
Thành. Xã giữ vai trò là khu vực trung chuyển, phát triển logistics và kho vận
phục vụ sản xuất công nghiệp. Bên cạnh đó, đây là khu vực hạt nhân phát triển
không gian đô thị, góp phần giãn dân và hình thành các khu dân cư tập trung.
Đồng thời, xã là trung tâm phát triển thương mại, dịch vụ phục vụ nhu cầu dân
sinh và sản xuất. Với các lợi thế nêu trên, xã Dầu Giây giữ vai trò quan trọng
trong quá trình phát triển đô thị và định hướng thành lập phường trong thời gian
tới.
Xã Dầu Giây có vai trò và vị trí thuận lợi để thu hút, đầu tư phát triển theo
định hướng đô thị với những yếu tố:
+ Nằm trên hành lang các tuyến giao thông lớn của quốc gia: QL.20 (kết
nối 2 tỉnh Đồng Nai – Lâm Đồng); QL.1 (hành lang kinh tế Bắc Nam kết nối
các đô thị trọng điểm và với vùng thành phố Hồ Chí Minh).
+ Tiếp giáp và tiếp cận trực tiếp với các đô thị động lực của tỉnh (Biên Hòa
và Long Khánh); nằm trong vùng phát triển đô thị của tỉnh và tiếp cận thuận tiện
với các khu vực động lực của vùng và quốc gia (cảng hàng không quốc tế Long
Thành, thành phố Hồ Chí Minh...)
178
+ Khu vực đã được quản lý đầu tư một phần theo định hướng đô thị (thị
trấn Dầu Giây trước đây là đô thị loại V; là trung tâm hành chính chính trị, trung
tâm tổng hợp của huyện Thống Nhất cũ).
+ Kết cấu hạ tầng khung đã được đầu tư cơ bản cả về số lượng và chất
lượng (Hạ tầng xã hội: hệ thống văn hóa, thể thao, y tế, giáo dục; Hạ tầng kinh
tế: Khu công nghiệp Dầu Giây đã hình thành và hoạt động; Hạ tầng kỹ thuật:
giao thông đô thị, cấp điện, cấp nước....).
2. Diện tích tự nhiên và cơ cấu các loại đất
2.1. Diện tích tự nhiên: 98,86 km²
2.2. Cơ cấu các loại đất
Tổng diện tích tự nhiên của xã Dầu Giây là 9.886,42 ha. Trong đó, diện
tích đất nông nghiệp là 8.150,13 ha, chiếm 82,44%; diện tích đất phi nông
nghiệp 1.682,98 ha, chiếm 17,02% và 53,31 ha nhóm đất chưa sử dụng, chiếm
0,54%.
Bảng 01: Thống kê diện tích theo mục đích sử dụng
Đơn vị tính: ha
STT
Mục đích sử dụng
MÃ
Diện
tích (ha)
Tỷ lệ
(%)
Tổng diện tích tự nhiên
TTN
9.886,42
100
I
Nhóm đất nông nghiệp
NNP
8.150,13
82,44
1
Đất trồng cây hằng năm
CHN
1.228,56
15,07
2
Đất trồng cây lâu năm
CLN
6.757,53
82,91
3
Đất lâm nghiệp
LNP
-
-
4
Đất nuôi trồng thủy sản
NTS
16,09
0,20
5
Đất chăn nuôi tập trung
CNT
37,47
0,46
6
Đất làm muối
LMU
-
-
7
Đất nông nghiệp khác
NKH
110,48
1,36
II
Nhóm đất phi nông nghiệp
PNN
1.682,98
17,02
179
STT
Mục đích sử dụng
MÃ
Diện
tích (ha)
Tỷ lệ
(%)
1
Đất ở
OTC
554,06
32,92
2
Đất xây dựng trụ sở cơ quan
TSC
15,99
0,95
3
Đất quốc phòng, an ninh
CQA
12,82
0,76
4
Đất xây dựng công trình sự nghiệp
DSN
64,09
3,81
5
Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp
CSK
396,53
23,56
6
Đất sử dụng vào mục đích công cộng
CCC
503,49
29,92
7
Đất tôn giáo
TON
15,75
0,94
8
Đất tín ngưỡng
TIN
1,22
0,07
9
Đất nghĩa trang, nhà tang lễ, cơ sở hỏa
táng; đất cơ sở lưu trữ tro cốt
NTD
19,00
1,13
10
Đất có mặt nước chuyên dùng
TVC
100,04
5,94
11
Đất phi nông nghiệp khác
PNK
-
-
III
Nhóm đất chưa sử dụng
CSD
53,31
0,54
1
Đất do Nhà nước thu hồi theo quy định
của pháp luật đất đai chưa giao, chưa cho
thuê
CGT
53,31
100,0
0
2
Đất bằng chưa sử dụng
BCS
-
-
3
Đất đồi núi chưa sử dụng
DCS
-
-
4
Núi đá không có rừng cây
NCS
-
-
5
Đất có mặt nước chưa sử dụng
MCS
-
-
2.1.1. Nhóm đất nông nghiệp.
Diện tích đất nông nghiệp 8.150,13 ha, chiếm 82,44 % tổng diện tích tự
nhiên. Cơ cấu như sau:
- Đất trồng cây hằng năm: Diện tích 1.228,56 ha, chiếm 15,07 % diện tích
180
đất nông nghiệp
- Đất trồng cây lâu năm: Diện tích 6.757,53 ha, chiếm 82,91 % diện tích
đất nông nghiệp.
- Đất lâm nghiệp: Trên địa bàn xã không có loại đất này.
- Đất nuôi trồng thủy sản: Diện tích 16,09 ha, chiếm 0,20 % diện tích đất
nông nghiệp, chủ yếu là diện tích nuôi cá nước ngọt.
- Đất chăn nuôi tập trung: Diện tích 37,47 ha, chiếm 0,46 % diện tích đất
nông nghiệp.
- Đất làm muối: trên địa bàn xã không có loại đất này.
- Đất nông nghiệp khác: Diện tích 110,48 ha, chiếm 1,36 % diện tích đất
nông nghiệp.
2.1.2. Nhóm đất phi nông nghiệp
Tổng diện tích 1.682,98 ha, chiếm 17,02 % tổng diện tích tự nhiên. Trong
đó:
- Đất ở: Diện tích 554,06 ha, chiếm 32,92 % diện tích đất phi nông nghiệp.
Toàn bộ là đất ở tại nông thôn tập trung chủ yếu ở các trục đường chính trong
xã, ngoài ra còn một số hộ sống rải rác trong nương rẫy để thuận tiện cho việc
sản xuất nông nghiệp.
- Đất xây dựng trụ sở cơ quan: diện tích 15,99 ha, chiếm 0,95 % diện tích
đất phi nông nghiệp, là diện tích xây dựng các công trình: Trụ sở UBND và văn
phòng làm việc của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã
hội trên địa bàn xã.
- Đất quốc phòng, an ninh: diện tích 12,82 ha, chiếm 0,76 % diện tích đất
phi nông nghiệp.
- Đất xây dựng công trình sự nghiệp: diện tích 64,09 ha, chiếm 3,81 % diện
tích đất phi nông nghiệp, cụ thể như sau:
+ Đất xây dựng cơ sở văn hóa: diện tích 22,02 ha, gồm các công trình trung
tâm văn hóa, học tập cộng đồng nhằm phục vụ nhu cầu về đời sống tinh thần
của người dân.
+ Đất xây dựng cơ sở xã hội: diện tích 0,19 ha.
+ Đất xây dựng cơ sở y tế: diện tích 3,97 ha, là diện tích các trạm y tế và
các cơ sở khám chữa bệnh khác nhằm đáp ứng nhu cầu khám và chữa bệnh,
chăm sóc sức khỏe cho người dân.
181
+ Đất xây dựng cơ sở giáo dục và đào tạo: diện tích 36,28 ha, là diện tích
các cơ sở giáo dục nhà nước trên địa bàn xã như: Trường mầm non, Trường Tiểu
học, Trường THCS,...
+ Đất xây dựng cơ sở thể dục - thể thao: diện tích 0,54 ha gồm các sân vận
động, trung tâm thể dục thể thao trên địa bàn xã.
+ Đất xây dựng công trình sự nghiệp khác: diện tích 1,08 ha.
- Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp: diện tích 396,53 ha, chiếm
23,56 % diện tích đất phi nông nghiệp, cụ thể:
+ Đất khu công nghiệp, cụm công nghiệp: diện tích 351,02 ha.
+ Đất thương mại, dịch vụ: diện tích 20,99 ha,
+ Đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp: diện tích 24,52 ha.
- Đất sử dụng vào mục đích công cộng: diện tích 503,49 ha, chiếm 29,92
% diện tích đất phi nông nghiệp, cụ thể:
+ Đất công trình giao thông: diện tích 462,09 ha, chiếm đa số diện tích đất
sử dụng vào mục đích công cộng, gồm các tuyến đường lớn và các tuyến đường
nội bộ phục vụ dân sinh.
+ Đất công trình thủy lợi: diện tích 12,85 ha.
+ Đất công trình cấp nước, thoát nước: diện tích 0,88 ha.
+ Đất có di tích lịch sử - văn hóa danh lam thắng cảnh, di sản thiên nhiên:
diện tích 9,60 ha.
+ Đất công trình năng lượng, chiếu sáng công cộng: diện tích 1,58 ha.
+ Đất công trình hạ tầng bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin: diện
tích 0,57 ha.
+ Đất chợ dân sinh, chợ đầu mối: diện tích 3,06 ha chủ yếu là chợ truyền
thống phục vụ nhu cầu mua bán hang ngày của người dân.
+ Đất khu vui chơi, giải trí công cộng, sinh hoạt cộng đồng: diện tích 12,87
ha bao gồm sân vận động Đồng Nai và các sân bóng nhỏ lẻ phục vụ nhu cầu thể
thao của người dân.
- Đất tôn giáo: diện tích 15,75 ha, chiếm 0,94 % đất phi nông nghiệp, với
các công trình tôn giáo, trụ sở của tổ chức tôn giáo được Nhà nước cho phép
hoạt động trên địa bàn.
- Đất tín ngưỡng: diện tích 1,22 ha, chiếm 0,07 % đất phi nông nghiệp, là
diện tích của các đình, miếu trên địa bàn xã phục vụ các mục đích tín ngưỡng
182
dân gian, do cộng đồng dân cư quản lý và sử dụng.
- Đất nghĩa trang, nhà tang lễ, cơ sở hỏa táng; đất cơ sở lưu trữ tro cốt: diện
tích 19,00 ha, chiếm 1,13 % đất phi nông nghiệp, là diện tích của các khu nghĩa
trang trên địa bàn xã...
- Đất có mặt nước chuyên dùng: diện tích 100,04 ha, chiếm 5,94 % đất phi
nông nghiệp.
- Đất phi nông nghiệp khác: trên địa bàn xã không có loại đất này.
2.1.3. Nhóm đất chưa sử dụng:
Tổng diện tích: 53,31 ha, chiếm 0,54% diện tích tự nhiên. Toàn bộ là đất
do Nhà nước thu hồi theo quy định của pháp luật đất đai chưa giao, chưa cho
thuê.
3. Dân số, cơ cấu lao động và thành phần dân cư
3.1. Dân số 70.264 người
3.2. Cơ cấu lao động: Lao động tại xã Dầu Giây chuyển dịch từ nông nghiệp
sang các ngành phi nông nghiệp tăng nhờ việc chuyển đổi nghề nghiệp cho nông
dân, sự phát triển của khu công nghiệp Dầu Giây dẫn đến một bộ phận lớn lao
động thay đổi theo. Qua rà soát tỷ lệ lao động phi nông nghiệp của xã Dầu Giây
đạt từ 75% trở lên trên tổng số lao động đang làm việc trên địa bàn. Lao động
nông, lâm thủy sản còn khoảng 25%.
3.3. Thành phần dân cư (thành thị/nông thôn): Dân số toàn xã Dầu Giây
là: 70.264 người. Dân số có đặc điểm dân cư thành thị trên địa bàn xã Dầu Giây
là 36.564 người, chiếm 52,04% tổng dân số toàn xã (36.564 người/70.264
người).
4. Hiện trạng phát triển kinh tế
4.1. Chỉ tiêu phát triển kinh tế gồm: GRDP, cơ cấu ngành, thu nhập bình
quân đầu người, tỷ lệ hộ nghèo, lao động phi nông nghiệp...
- Tổng giá trị sản phẩm trên địa bàn: 12.677.178 triệu đồng.
- Giá trị sản phẩm công nghiệp – xây dựng: 8.340 triệu đồng, chiếm 83%
tổng giá trị sản phẩm trên địa bàn.
- Thu nhập bình quân đầu người của xã trong 3 năm gần đây.
+ Thu nhập bình quân đầu người của xã năm 2023: 86,6 triệu đồng.
+ Thu nhập bình quân đầu người của xã năm 2024: 89,5 triệu đồng.
+ Thu nhập bình quân đầu người của xã năm 2025: 92,4 triệu đồng.
183
- Tỷ lệ hộ nghèo.
+ Tỷ lệ hộ nghèo (theo chuẩn nghèo đa chiều) của huyện (cũ) năm 2023:
0,2%.
+ Tỷ lệ hộ nghèo (theo chuẩn nghèo đa chiều) của huyện (cũ) năm 2024:
0,2%.
+ Tỷ lệ hộ nghèo (theo chuẩn nghèo đa chiều) của xã năm 2025: 0,16%.
4.2. Phát triển các ngành, lĩnh vực
- Về công nghiệp - xây dựng:
Hiện nay trên địa bàn có 111 cơ sở sản xuất công nghiệp đang hoạt động
ổn định, đáp ứng sản phẩm, hàng hóa phục vụ nhân dân trên địa bàn xã cũng
như cung ứng cho thị trường trong nước và xuất khẩu.
Trên địa bàn xã Dầu Giây được quy hoạch 02 khu công nghiệp (KCN Dầu
Giây, KCN Dầu Giây giai đoạn 2) và 02 cụm công nghiệp (CCN Hưng Lộc,
CCN Lộ 25). KCN Dầu Giây diện tích hơn 330ha, đã đi vào hoạt động thu hút
29 doanh nghiệp thứ cấp thuê đất để sản xuất, tỷ lệ lấp đầy trên 92%. KCN Dầu
Giây giai đoạn 2 có diện tích 145ha đang được Ban quản lý Khu công nghiệp
triển khai lập Quy hoạch chi tiết xây dựng để mời gọi nhà đầu tư; CCN Hưng
Lộc có diện tích 22,94 đã được phê duyệt Quy hoạch 1/500, hiện nay chủ đầu
tư đang triển khai xây dựng hạ tầng kỹ thuật; CCN Lộ 25 đã được phê duyệt vào
danh mục CCN của tỉnh. Hiện nay đang mời gọi nhà đầu tư.
- Về thương mại - dịch vụ: Xã Dầu Giây có vị trí thuận lợi về kết nối giao
thông do nằm trên tuyến đường Quốc lộ 1A, Quốc lộ 20; gần nút giao các tuyến
cao tốc thành phố Hồ Chí Minh - Long Thành - Dầu Giây, Dầu Giây - Phan
Thiết, Dầu Giây – Tân Phú tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động thương mại,
dịch vụ của xã phát triển. Hiện nay, trên địa bàn có Chợ đầu mối nông sản thực
phẩm Dầu Giây, 06 chợ truyền thống; 03 cửa hàng tiện lợi và hơn khoảng 2.000
hộ kinh doanh hoạt động đáp ứng nhu cầu mua sắm, tiêu dùng của người dân
trên địa bàn.
- Về sản xuất nông - lâm - thủy sản:
Giá trị sản xuất Nông Lâm thủy sản giảm dần về cơ cấu giá trị ngành; quy
mô sản xuất nông - lâm - thủy sản thu hẹp dần, chuyển dịch sang các lĩnh vực
công nghiệp, dịch vụ có giá trị cao hơn, cụ thể: cơ cấu ngành nông nghiệp chiếm
tỷ lệ: 16,9 % và hiện đang giảm dần xuống dưới 10% (kết quả cuối năm 2025
giá trị ngành nông nghiệp là: 2.151.090 triệu đồng trên tổng giá trị thu nhập toàn
xã: 12.677.178 triệu đồng trong tổng GDRP của toàn xã).
184
Sản xuất nông nghiệp đang dần ổn định và phát triển theo hướng tăng giá
trị hàng hóa nông nghiệp; phát triển các loại cây trồng có giá trị kinh tế cao hơn
như: cà phê, điều, tiêu, ca cao và cây ăn quả... đồng thời đẩy mạnh nghề chăn
nuôi gia súc gia cầm và nuôi trồng thủy sản.
Trồng trọt: Trong sản xuất nông nghiệp đã có sự đầu tư về giống, phân bón,
đưa cơ giới hóa vào sản xuất nông nghiệp nhằm thâm canh tăng năng suất cây
trồng, nâng cao hiệu quả trong sản xuất. Diện tích gieo trồng cây hàng năm (cây
mì, cây bắp, cây mía), cây công nghiệp (cacao, tiêu, điều,...) và cây ăn quả.
Chăn nuôi: Bên cạnh sản xuất nông nghiệp tình hình phát triển chăn nuôi
chủ yếu là heo và bò trong các năm qua có bước chuyển biến rõ rệt. Tuy nhiên
do ảnh hưởng của dịch bệnh và giá cả không ổn định, nhưng số đàn gia súc, gia
cầm vẫn duy trì và phát triển ổn định. Giá trị sản xuất hàng năm đều tăng, đáp
ứng nhu cầu cải thiện đời sống của nhân dân trong xã, nâng cao kinh tế gia đình.
Thủy sản: Nghề nuôi trồng thủy sản trên địa bàn cũng có chiều hướng phát
triển, góp phần tạo công việc cho người lao động nâng cao nguồn thu nhập và
ổn định cuộc sống cho người dân.
Nhìn chung, trong những năm qua ngành nông nghiệp của xã đã có sự phát
triển ổn định theo hướng thâm canh, áp dụng việc chuyển đổi cơ cấu giống cây
trồng, vật nuôi, tăng năng suất và sản lượng, đem lại hiệu quả kinh tế và thu
nhập cho nông dân.
Lĩnh vực chăn nuôi còn gặp nhiều thách thức do chưa đáp ứng được yêu
cầu về môi trường, dịch bệnh đe nên ảnh hưởng đến cơ cấu ngành nông nghiệp.
Quy hoạch chăn nuôi giai đoạn 2025-2030 chưa phù hợp với tình hình sản xuất
nông nghiệp tại địa phương.
5. Hiện trạng phát triển văn hóa - xã hội
5.1. Giáo dục và đào tạo
Công tác giáo dục và đào tạo trên địa bàn xã Dầu Giây tiếp tục được quan
tâm đầu tư, mạng lưới trường lớp được bố trí tương đối đồng bộ, cơ bản đáp ứng
nhu cầu học tập của Nhân dân và phù hợp với quy mô dân số, tốc độ đô thị hóa
của địa phương.
Hiện nay, mạng lưới trường lớp trên địa bàn xã Dầu Giây cơ bản đầy đủ,
phân bố tương đối hợp lý theo các cấp học, đáp ứng nhu cầu học tập trước mắt
của
nhân dân. Quy mô trường lớp, số lượng học sinh các cấp học ổn định; tỷ lệ huy
động học sinh ra lớp đầu cấp và tỷ lệ học sinh hoàn thành chương trình THCS
tiếp
185
tục học THPT đạt mức cao, cho thấy công tác duy trì sĩ số và phổ cập giáo dục
được thực hiện hiệu quả. Toàn xã hiện không có trường tổ chức học ca 3, nhiều
trường đã triển khai dạy học 2 buổi/ngày, góp phần nâng cao chất lượng giáo
dục.
Năm học 2025-2026, trên địa bàn xã Dầu Giây có 19 trường công lập (trong
đó Mầm non: 08 trường, Tiểu học: 06 trường, THCS: 02 trường, TH&THCS:
03 trường), 16 lớp mầm non, mẫu giáo độc lập tư thục; hiện tại có đủ mạng lưới
trường lớp cơ bản đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân trên địa bàn xã sau sáp
nhập. Toàn xã có 330 lớp/11.906 học sinh (Trong đó Mầm non 70 lớp/1.884 HS,
Tiểu học: 161 lớp/5.721 HS, THCS 99 lớp/4.301 HS); cán bộ quản lý là 41
người, giáo viên là 556 người và nhân viên là 85 người.
Ngoài ra, xã còn có 01 trường THPT với 1.605 học sinh và 01 Trung tâm
GDNN-GDTX.Tỷ lệ trường học đạt chuẩn Quốc gia đạt 89.5%, vượt chỉ tiêu
NQ (89%).
- Về Kiểm định chất lượng: 19/19 trường đạt KĐCL từ mức độ 1 trở lên
(trong đó đạt mức độ 1: 01 trường, đạt mức độ 2: 13 trường, đạt mức độ 3: 05
trường).
- Về Chuẩn quốc gia: 17/19 trường đạt chuẩn quốc gia từ mức độ 1 trở lên
(trong đó đạt mức độ 1: 12 trường, đạt mức độ 2: 05 trường).
5.2. Y tế
Công tác y tế, chăm sóc sức khỏe Nhân dân trên địa bàn xã Dầu Giây tiếp
tục được quan tâm. Hiện nay, trên địa bàn xã có 01 Trung tâm Y tế khu vực
Thống Nhất, 01 Trạm Y tế xã và 03 điểm Trạm Y tế. Trạm Y tế xã hiện có 40
viên chức, trong đó Bác sỹ: 04 (03 bác sỹ đa khoa và 01 bác sỹ đông y); Y sỹ đa
khoa: 08; Y sỹ YHCT: 05; Nữ hộ sinh: 04; Điều dưỡng: 06; Dược sỹ: 05; Dân
số viên: 06, 01 kế toán, 01 kỹ sư thực phẩm. Mạng lưới y tế ấp gồm 17 nhân
viên đảm bảo độ bao phủ tại các địa bàn.
Trạm y tế đảm bảo đủ 14 phòng chức năng, có vườn thuốc nam mẫu với
trên 40 loại cây thuốc theo nhóm bệnh. Hệ thống y tế tư nhân phát triển mạnh
với 02 phòng khám đa khoa lớn cùng mạng lưới các phòng khám chuyên khoa
và cơ sở dược.
Mạng lưới y tế cơ sở cơ bản đáp ứng yêu cầu khám, chữa bệnh ban đầu,
chăm sóc sức khỏe sinh sản, phòng, chống dịch bệnh và thực hiện các chương
trình y tế cộng đồng. Nhìn chung, hệ thống y tế trên địa bàn được bố trí tương
đối đồng bộ, đáp ứng cơ bản nhu cầu chăm sóc sức khỏe của Nhân dân, phù hợp
với quy mô dân số.
186
5.3. Văn hóa thông tin, thể dục thể thao
Công tác văn hóa, thông tin, thể dục thể thao trên địa bàn xã Dầu Giây luôn
được quan tâm chỉ đạo và ưu tiên phát triển, góp phần nâng cao đời sống tinh
thần của Nhân dân, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, đáp ứng yêu cầu
phát triển kinh tế - xã hội và quá trình đô thị hóa của địa phương.
- Kế thừa là trung tâm của huyện Thống Nhất cũ, từ khi được thành lập đến
nay xã Dầu Giây tiếp tục tăng cường, đa dạng hóa hình thức tuyên truyền, giáo
dục giá trị văn hóa, đạo đức, lối sống, đặc biệt là cho thế hệ trẻ, thông qua các
phương tiện truyền thông cơ sở, tờ rơi và các hoạt động ngoại khóa tại trường
học. Một trong những kết quả nổi bật là ý thức văn hóa của Nhân dân được nâng
lên rõ rệt, qua công tác tuyên truyền sâu rộng, người dân đã hình thành thói quen
tiếp cận thông tin văn hóa một cách chủ động, tích cực tham gia các hoạt động cộng
đồng. Tư tưởng “văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội” ngày càng được thể hiện
qua hành động cụ thể như: Ứng xử văn minh, xây dựng gia đình hạnh phúc, quan
tâm gìn giữ cảnh quan môi trường, tự giác tuân thủ quy định địa phương.
- Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” ngày càng đi
vào thực chất, thể hiện qua tỷ lệ gia đình văn hóa đạt 99,5% (năm 2025 vượt
1,5% so với chỉ tiêu là 98%), 17/17 ấp đạt danh hiệu ấp văn hóa đạt 100%. Các
ấp đã có chuyển biến mạnh về đoàn kết cộng đồng, xây dựng nếp sống văn minh
trong cưới, tang, lễ hội, giảm tối đa các hủ tục và hành vi phản cảm.
- Đến nay, 100% các ấp đã thực hiện rà soát, sửa đổi, bổ sung hương ước -
quy ước theo đúng Nghị định 61/2023/NĐ-CP. Trên địa bàn xã có 17/17 ấp có
quy ước đảm bảo các quy định của văn bản dưới luật và đang áp dụng phù hợp
với thực tế của ấp, tổ nhân dân, phát huy vai trò tự quản của cộng đồng.
- Thường xuyên tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao tại Nhà
Văn hóa xã và các ấp trong các dịp lễ, sự kiện lớn của đất nước và địa phương
đã khuyến khích người dân chủ động tham gia và phát huy năng lực sáng tạo,
hoạt động của Đội văn nghệ của cấp xã và đội văn nghệ của các ấp thường xuyên
luyện tập các tiết mục sẵn sàng tham gia các chương trình góp vui cho các đại
hội, hội nghị tổng kết sơ kết của các ban ngành, đoàn thể. Phối hợp các trường
học tổ chức các đêm văn nghệ, các ban nghành đoàn thể, khu phố tổ chức các
chương trình văn nghệ góp vui trong các dịp tổ chức các hội nghị; các câu lạc
bộ thể dục thể thao được duy trì hoạt động thường xuyên như: Bóng đá, Yoga,
Lân sư rồng, Võ cổ truyền, Dưỡng sinh, Xe đạp,...thông qua hoạt động của các
câu lạc bộ này nhằm phát hiện các nhân tố có triển vọng đưa vào đội tuyển tham
gia các giải do huyện, tỉnh tổ chức như: bộ môn bóng đá, bóng chuyền, cầu lông,
việt dã, cờ tướng, cờ vua, kéo co, nhảy bao bố, đẩy gậy...). Hiện có 40% số
187
người dân tập luyện TDTT thường xuyên và 35% hộ đạt chuẩn gia đình thể thao.
Bên cạnh các môn truyền thống như bóng đá, võ thuật cổ truyền, địa phương
đang phát triển mạnh các bộ môn mới, hợp thời đại như: Bóng chuyền hơi nữ,
Cầu lông, và đặc biệt là Pickleball. Duy trì các giải giao lưu bóng đá, trò chơi
dân gian vào các dịp lễ hội, góp phần nâng cao sức khỏe và sự gắn kết cộng
đồng.
- Trên địa bàn xã có 03 di tích lịch sử cấp tỉnh (Đình Hưng Lộc và Đình
Dầu Giây và Vườn Cao su Dầu Giây) luôn được quan tâm, duy tu và bảo tồn
hiệu quả.
Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa tiếp tục được duy
trì và phát triển; các hoạt động văn hóa, văn nghệ quần chúng được tổ chức
thường xuyên, nhất là vào các dịp lễ, tết, kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất nước
và địa phương. Hằng năm, địa phương thường xuyên tổ chức các chương trình
giao lưu văn hóa, văn nghệ, hội thi, hội diễn và các hoạt động tuyên truyền cổ
động trực quan, góp phần nâng cao nhận thức, tạo không khí phấn khởi trong
Nhân dân, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa địa phương.
Phong trào thể dục, thể thao quần chúng ngày càng phát triển rộng khắp,
thu hút đông đảo người dân tham gia. Tỷ lệ người dân tham gia hoạt động văn
hóa, văn nghệ, thể dục thể thao thường xuyên Các giải thi đấu thể thao quần
chúng, các hoạt động giao lưu thể thao được tổ chức thường xuyên với nhiều
nội dung phong phú, phù hợp với từng đối tượng, qua đó góp phần rèn luyện
sức khỏe, tăng cường đoàn kết cộng đồng và nâng cao chất lượng đời sống tinh
thần của Nhân dân.
Công tác thông tin, tuyên truyền được triển khai thường xuyên, kịp thời
phục vụ nhiệm vụ chính trị của địa phương; nội dung tuyên truyền tập trung vào
các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, các
phong trào thi đua yêu nước, xây dựng nông thôn mới nâng cao, đô thị văn minh,
bảo vệ môi trường, an ninh trật tự và các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội
trên địa bàn.
5.4. Lao động - Thương binh và Xã hội
Công tác lao động, thương binh và xã hội, nhất là việc thực hiện chính sách
đối với người có công với cách mạng trên địa bàn xã Dầu Giây luôn được quan
tâm chỉ đạo, triển khai đầy đủ, kịp thời, đúng quy định, góp phần bảo đảm an
sinh xã hội và giữ vững ổn định chính trị - xã hội tại địa phương.
Đối với lĩnh vực bảo trợ xã hội, Ủy ban nhân dân xã đã tập trung rà soát,
quản lý và chi trả trợ cấp xã hội hằng tháng cho các đối tượng bảo trợ xã hội
188
đúng quy định; phối hợp cập nhật tăng, giảm đối tượng kịp thời; thực hiện cơ
bản đầy đủ các chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên và đột xuất. Đến nay,
trên địa bàn xã Dầu Giây có 2.708 người đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng.
Đây là nhóm đối tượng chủ yếu gồm người cao tuổi, người khuyết tật, trẻ em có
hoàn cảnh đặc biệt, người thuộc diện bảo trợ xã hội khác theo quy định hiện
hành.
Công tác tiếp nhận, xét duyệt, lập hồ sơ, quản lý đối tượng từng bước đi
vào nền nếp; việc chi trả trợ cấp cơ bản được thực hiện đúng thời gian, đúng đối
tượng, hạn chế tình trạng chậm, sót hoặc chi trả không đúng chế độ. Bên cạnh
đó, địa phương cũng quan tâm lồng ghép các chính sách hỗ trợ về bảo hiểm y
tế, mai táng phí, trợ giúp đột xuất khi gặp rủi ro, thiên tai, bệnh tật, góp phần
giảm bớt khó khăn cho các đối tượng yếu thế trong cộng đồng.
Đối với lĩnh vực Người có công, Ủy ban nhân dân xã đã tập trung rà soát,
quản lý và chi trả trợ cấp xã hội hằng tháng cho các đối tượng đúng quy định;
phối hợp cập nhật tăng, giảm đối tượng kịp thời; thực hiện cơ bản đầy đủ các
chính sách ưu đãi cho người có công với cách mạng. Hiện nay, trên địa bàn xã
Dầu Giây có 226 người có công và thân nhân người có công với cách mạng đang
hưởng trợ cấp hằng tháng, với tổng kinh phí chi trả khoảng 900 triệu đồng/tháng,
478 đối tượng hưởng trợ cấp 01 lần. Ngoài ra, có 211 đối tượng đang hưởng trợ
cấp thờ cúng liệt sĩ hằng năm.
Địa phương hiện có 01 Đền thờ Liệt sĩ và 01 nhà bia ghi danh các anh hùng
liệt sĩ là nơi thực hiện công tác quản lý, chăm sóc, tổ chức các hoạt động tri ân,
tưởng niệm, giáo dục truyền thống cách mạng cho cán bộ, đảng viên và Nhân
dân trên địa bàn xã.
Trong thời gian qua, dưới sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng ủy,
HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ Việt Nam xã, công tác “Đền ơn đáp nghĩa” và
chăm lo gia đình chính sách được triển khai thường xuyên, hiệu quả. Các chế
độ, chính sách đối với người có công được thực hiện đầy đủ, đúng đối tượng,
đúng quy định; đồng thời địa phương tích cực huy động các nguồn lực xã hội,
phát huy vai trò của cộng đồng, tổ chức, cá nhân trong việc chăm lo đời sống
vật chất, tinh thần cho các gia đình chính sách, người có công với cách mạng.
5.5. Công tác tôn giáo - tín ngưỡng, dân tộc
Công tác tôn giáo, tín ngưỡng và dân tộc trên địa bàn xã Dầu Giây luôn
được cấp ủy, chính quyền địa phương quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện; các
chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác dân tộc,
tôn giáo được triển khai kịp thời, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân
tộc, giữ vững ổn định chính trị - xã hội trên địa bàn.
189
Các hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng trên địa bàn cơ bản diễn ra ổn định,
đúng quy định của pháp luật; các cơ sở tôn giáo chấp hành tốt chủ trương của
Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tích cực tham gia các phong trào thi
đua yêu nước, hoạt động nhân đạo, từ thiện và xây dựng khối đại đoàn kết toàn
dân.
Phật giáo: Có 12 cơ sở thờ tự được nhà nước công nhận, gồm: Chùa Huệ
Viễn, Chùa Phổ Duyên, Chùa Phổ Minh, Chùa Hưng Lâm, Chùa Khánh Lâm,
Chùa Tịnh Quang, Chùa Long An, Chùa Bảo Huệ, Chùa Nhất Pháp, Niệm phật
đường Quan Thế Âm, Thiền viện Nguyên Không, Ban quản trị Chùa Trí Tịnh
với 12 vị trụ trì khoảng 15.962 tín đồ phật tử.
Công giáo: có 11 cơ sở được nhà nước công nhận, gồm: Giáo xứ Hưng
Bình, Giáo xứ Dầu Giây, Giáo xứ Xuân Đức, Giáo xứ Hưng Lộc, Giáo xứ Minh
Hòa, Giáo xứ Minh Tín, Giáo xứ Xuân Long, Giáo xứ Xuân Linh, Tu hội Têrêxa
Hài đồng Giêsu – cộng đoàn Minh Hòa, Cộng đoàn Xuân Long, Cộng đoàn
Xuân Linh, Tu viện Mân côi Đa Minh với 8 chức sắc và khoảng 29.385 tín đồ,
có 2 cơ sở chưa được nhà nước công nhận là Dòng tu Mến thánh Giá Vò Vấp,
Cộng đoàn Xuân Linh.
Tin lành: có 2 cơ sở được nhà nước công nhận gồm: Chi hội tin Lành Dầu
Giây, Chi hội Tin Lành Lộ 25, với hơn 485 tín đồ, có 1 Điểm nhóm Tin lành
Baptis Liên Hiệp chưa được nhà nước công nhận, nhưng hệ phái này được hoạt
động theo chỉ thị 01 của Chính phủ.
Cao Đài: Có 2 cơ sở được nhà nước công nhận gồm: Họ đạo Cao đài Dầu
Giây, Họ đạo Cao đài Hưng Lộc, có 2 cai quản và hơn 1.475 đạo hữu
Ngoài ra còn có các cơ sở thờ tự tín ngưỡng dân gian như: Miếu Âm hồn
địa xứ Dầu Giây, Đình làng Dầu Giây, Đền Cờn, Miếu ngũ hành Nương Nương,
Đền Đông Cuôn, Đền Ông Y, Miếu Âm Hồn, Miếu Bà Chúa Xứ, Đình Làng 97,
Đình Hưng Lộc, Miếu Bà, Miếu bà Hưng Nghĩa, Miếu 52, Miếu người Hoa,
Miếu Cây Trường, Miếu Sơn Lâm Bà Bà, Miếu thờ thổ Thần, Đình Thần, Miếu
Ông Công, Miếu Ông Hổ, Miếu Án Thủ.
- Về Dân tộc
Tình hình hoạt động vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn xã cơ bản
ổn định, đời sống nhân dân từng bước được cải thiện. Các chính sách hỗ trợ phát
triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số được triển khai kịp thời, đúng đối
tượng. Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội cơ bản ổn định; công
tác vận động quần chúng tham gia phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ
quốc” đạt kết quả tích cực.
190
Trên địa bàn xã Dầu Giây hiện nay có 18 thành phần dân tộc ít người như:
(Thái, Sán dìu, Khơ me, Châu ro, Chăm, Tày, Hoa, Nùng, Mường) trong đó có
1.451 hộ, 5.212 khẩu, chiếm tỷ lệ 0,72% dân số toàn xã.
Trên địa bàn xã có 06 người uy tín trong đồng bào dân tộc, trong đó có 02
người uy tín là đảng viên. Người uy tín am hiểu phong tục, tập quán, nắm được
tâm tư nguyện vọng của mọi người trong cộng đồng cùng với kinh nghiệm
thực tế, đã trực tiếp thuyết phục, hòa giải kịp thời, thấu tình, đạt lý nhiều vụ
việc trong thời gian qua tại cộng đồng, không để xảy ra “điểm nóng” góp phần
giữ bình yên cho nhân dân trên địa bàn. Nguồn thu nhập chính của đồng bào dân
tộc thiểu số chủ yếu từ sản xuất nông nghiệp, lao động làm thuê và kinh doanh
buôn bán nhỏ lẻ. Đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số từng
bước được cải thiện; các chính sách dân tộc, an sinh xã hội, hỗ trợ sản xuất, giáo
dục, y tế được địa phương quan tâm thực hiện.
6. Hiện trạng phát triển hạ tầng xã hội
6.1. Nhà ở
Nhà ở trên địa bàn xã phân bố không đều, đông nhất ở khu vực khu trung
tâm hành chính cũ và dọc tuyến đường QL20, QL1A và ĐT.769, còn lại phân
bố rải rác theo các khu ấp và các tuyến giao thông nông thôn. Đến nay, trên địa
bàn xã không còn nhà tạm, dột nát. Tổng số nhà ở kiên cố là 15.490 căn/15.490
căn đạt tỷ lệ 100% theo tiêu chuẩn của Bộ Xây dựng.
6.2. Công trình cơ quan hành chính
Trung tâm hành chính xã Dầu Giây được tiếp quản và sử dụng từ trụ sở các
cơ quan hành chính huyện Thống Nhất cũ, bao gồm 11 trụ sở/98.500m
2
,; Các trụ
sở này được đầu tư xây dựng và cải tạo sửa chữa định kỳ nên cơ bản đáp ứng nhu
cầu cho một chính quyền thân thiện và hiện đại.
6.3. Công trình giáo dục
Giáo dục và đào tạo là lĩnh vực được địa phương quan tâm đầu tư, với hệ
thống cơ sở giáo dục tương đối đồng bộ, phân bố phù hợp theo nhu cầu dân cư,
cơ bản đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh trên địa bàn. Trong những năm
qua, mạng lưới trường lớp từng bước được củng cố, cơ sở vật chất được cải
thiện, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học, đồng thời đáp ứng yêu cầu phát
triển nguồn nhân lực phục vụ quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa của địa
phương.
Theo hiện trạng sử dụng đất, diện tích đất xây dựng cơ sở giáo dục và đào
tạo trên địa bàn là..... ha. Trên địa bàn hiện có hệ thống các trường mầm non,
tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông và Trung tâm Giáo dục nghề
191
nghiệp – Giáo dục thường xuyên đang hoạt động, phục vụ nhu cầu học tập của
con em Nhân dân trong và ngoài địa bàn.
6.4. Công trình y tế
Hệ thống cơ sở y tế trên địa bàn xã cơ bản đáp ứng yêu cầu chăm sóc, bảo
vệ sức khỏe Nhân dân, nhất là nhu cầu khám, chữa bệnh ban đầu và chăm sóc
sức khỏe thường xuyên tại cơ sở. Trong những năm qua, công tác y tế, chăm sóc
sức khỏe cộng đồng, phòng chống dịch bệnh, khám chữa bệnh ban đầu và thực
hiện các chương trình y tế quốc gia luôn được quan tâm triển khai đồng bộ, góp
phần nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe, chủ động phòng ngừa dịch bệnh
và bảo đảm an sinh xã hội trên địa bàn.
Theo hiện trạng sử dụng đất, diện tích đất xây dựng cơ sở y tế trên địa bàn
là.... ha, bao gồm trung tâm y tế, trạm y tế và các cơ sở khám, chữa bệnh khác
đang hoạt động. Hiện nay, trên địa bàn xã có 01 Trung tâm Y tế khu vực Thống
Nhất, 01 Trạm Y tế xã và 03 điểm Trạm Y tế, cơ bản bảo đảm khả năng tiếp cận
dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe ban đầu và phục vụ nhu cầu khám, chữa bệnh
của Nhân dân trên địa bàn.
Bên cạnh việc đáp ứng nhu cầu hiện tại, hệ thống y tế của địa phương còn
có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm điều kiện hạ tầng xã hội khi dân số tiếp
tục tăng và quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh hơn trong thời gian tới. Do đó, đây
là một trong những lĩnh vực cần tiếp tục được đầu tư nâng cao chất lượng cơ sở
vật chất, trang thiết bị và năng lực phục vụ để phù hợp với yêu cầu quản lý và
phục vụ dân cư đô thị khi thành lập phường.
6.5. Công trình văn hóa, thể dục - thể thao
Hạ tầng văn hóa, thể dục - thể thao trên địa bàn xã Dầu Giây được quan
tâm đầu tư, từng bước đáp ứng nhu cầu sinh hoạt cộng đồng, vui chơi, giải trí,
rèn luyện thể chất và nâng cao đời sống tinh thần của Nhân dân. Các công trình,
cơ sở văn hóa - thể thao không chỉ phục vụ nhu cầu sinh hoạt thường xuyên của
người dân mà còn là nơi tổ chức các hoạt động chính trị, văn hóa, văn nghệ, thể
thao quần chúng, tuyên truyền chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của
Nhà nước.
- Trụ sở Đài Truyền thanh với tổng diện tích đất là 9.414m
2
. Trong đó diện
tích xây dựng các phòng làm việc và các phòng chức năng là 329m
2
.
- Trụ sở Thể dục - thể thao với tổng diện tích đất là 88.195m
2
. Trong đó
diện tích xây dựng các hạng mục bao gồm: Nhà thi đấu đa năng, Nhà điều hành,
các phòng làm việc và các phòng chức năng, sân vận động (sân bóng đá, đường
pic), sân bóng chuyền và sân bóng rổ, với tổng diện tích xây dựng là 28.414m
2
.
192
- Trụ sở Văn hóa với tổng diện tích đất là 9.000m
2
. Trong đó diện tích xây
dựng Hội trường, các phòng làm việc và các phòng chức năng là 515m
2
.
- 100% ấp có Nhà Văn hóa được sử dụng thường xuyên cho các hoạt động
cộng đồng. 100% các ấp đều có cụm thiết chế văn hóa - thể thao ấp hoạt động
ổn định.
6.6. Công trình thương mại - dịch vụ - du lịch
Hoạt động thương mại - dịch vụ trên địa bàn xã phát triển tương đối ổn
định, từng bước mở rộng về quy mô và đa dạng về loại hình, góp phần đáp ứng
nhu cầu tiêu dùng, sản xuất, giao thương hàng hóa và phục vụ đời sống dân cư.
Với lợi thế về vị trí địa lý, hệ thống giao thông thuận lợi, dân cư tập trung ngày
càng đông và sự phát triển của công nghiệp - xây dựng trên địa bàn, lĩnh vực
thương mại - dịch vụ có điều kiện phát triển mạnh, đóng vai trò ngày càng quan
trọng trong cơ cấu kinh tế địa phương.
Trên địa bàn xã Dầu Giây có 01 chợ đầu mối Nông sản thực phẩm Dầu
Giây diện tích khoảng 02ha với 216 ô vựa chuyên mua bán rau, củ, quả của
người dân địa phương và các khu vực lân lận đồng thời kết hợp phục vụ cho
khách tham quan, du lịch. Bên cạnh đó, dự án chợ Đầu mối Nông sản Dầu Giây
giai đoạn 2 với diện tích 48ha đang thực hiện công tác bồi thường giải phóng
mặt bằng và sẽ sớm đi vào hoạt động, đây là một trong những chợ đầu mối có
diện tích lớn nhất khu vực Đông Nam Bộ.
7. Hiện trạng phát triển hạ tầng kỹ thuật đô thị
7.1. Giao thông
- Đường bộ: Trên địa bàn xã có 123,42km đường giao thông, trong đó có:
23,88km đường xã và 99,54km đường ấp, ngõ xóm; Đường xã đã được nhựa
hóa đạt chuẩn 23,88km/23,88km đạt tỷ lệ 100%; Đường ấp, ngõ xóm đã được
bê tông và cứng hóa 99,54km/99,54km đạt tỷ lệ 100%.
- Đường thủy nội địa (nếu có): Trên địa bàn xã Dầu Giây không có hệ thống
đường thủy nội địa.
7.2. Thủy lợi:
Hiện nay, trên địa bàn xã có 05 công trình đập thủy lợi nhỏ và 02 hệ thống
mương tiêu thoát nước. Trong đó, 04 công trình đang hoạt động hiệu quả (Cầu
Máng, Ông Nhì, Ông Sinh, Suối Mủ), 01 công trình không còn khai thác (Ông
Công). Ngoài ra, có 01 đập dâng phục vụ cánh đồng 78A, 78B đã hoàn thành
nhưng chưa được bàn giao, chưa đưa vào sử dụng
7.3. Cấp điện
193
Đến nay, trên địa bàn toàn xã có 142,94km đường dây trung thế; 204,86km
đường dây hạ thế và 301 trạm biến áp đảm bảo cung cấp điện phục vụ sinh hoạt,
sản xuất và phát triển công nghiệp trên địa bàn xã. Số hộ dân sử dụng điện lưới
quốc gia 15.808/15.808 hộ đạt tỷ lệ 100%.
7.4. Cấp nước
Khu trung tâm xã và các khu vực dân cư tập trung đã được đầu tư hệ thống
nước sạch từ Nhà máy nước Gia Tân và Trạm cấp nước tập trung xã Lộ 25, số
hộ dân sử dụng nước sạch tập trung trên địa trên toàn xã là 1.0297/15.808 hộ đạt
tỷ lệ 65,14%.
7.5. Thoát nước thải và vệ sinh môi trường
- Thoát nước mưa, nước thải sinh hoạt
Khu vực trung tâm Thị trấn sử dụng hệ thống thoát nước mưa chung, tự
chảy. Nước mưa thoát theo hệ thống mương cống và đổ ra lưu vực sông Nhạn
và sông Thao. Mạng lưới chủ yếu là mương đan, cống hộp bê tông cốt thép, kết
hợp với một sổ rãnh hở trong khu dân cư.
Khu vực ngoại thị: Nước mưa chủ yếu tự chảy theo địa hình tự nhiên ra các
kênh rạch, suối khe tụ thủy. Các trục quốc lộ, đương tỉnh và đường huyện có các
kênh hở, tuy nhiên hệ thống kết nối chưa hoàn chỉnh, chưa được đầu tư đồng bộ
nên nhiều đoạn xuống cấp và bồi lắng, dẫn đến ngập úng, gây ngập úng cục bộ
và ảnh hưởng tới môi trường.
- Thoát nước thải công nghiệp
Nước thải công nghiệp, chế xuất, phụ trợ: Hiện nay KCN đã xây dựng trạm
xử lý nước thải công suất thiết kế 2.000 m3/ngày đêm. Nước thải sau xử lý đạt
loại B QCVN14/BTNM.
Nước thải y tế: Bệnh viện Dầu Giây hiện đã có hệ thống xử lý cục bộ đạt
tiêu chuẩn trước khi xả ra ngoài. Các trung tâm y tế trong khu vực nước thải chủ
yếu chỉ xử lý bằng bể tự hoại cục bộ.
- Xử lý chất thải rắn
Hiện nay, trên địa bàn xã Dầu Giây phát sinh khoảng 50 tấn/ngày chất thải
rắn sinh hoạt được thu gom, vận chuyển và chuyển giao trực tiếp về Khu xử lý
chất thải Quang Trung xử lý bằng phương pháp compost, tỷ lệ chôn lấp rác trơ
dưới 15%. Tỷ lệ thu gom xử lý chất thải rắn sinh hoạt đạt 100%. Tỷ lệ phân loại
chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn đạt 80%.
Tỷ lệ chất thải y tế, chất thải nguy hại được thu gom, xử lý đạt 100%.
Tỷ lệ thu gom, xử lý chất thải công nghiệp không nguy hại đạt 100%.
194
8. Quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội
8.1. Quốc phòng
Công tác quốc phòng, quân sự địa phương trên địa bàn xã Dầu Giây được
duy trì thường xuyên, nền nếp, bảo đảm yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.
Lực lượng quân sự xã thực hiện nghiêm chế độ trực chỉ huy, trực ban, trực sẵn
sàng chiến đấu theo quy định; công tác quản lý quân số, vũ khí, trang bị kỹ thuật
được thực hiện chặt chẽ, đúng quy định, đáp ứng yêu cầu sẵn sàng chiến đấu và
xử lý kịp thời các tình huống phát sinh trên địa bàn.
Địa phương thường xuyên phối hợp với lực lượng Công an và các ngành
chức năng trong công tác nắm tình hình, nhất là các vấn đề liên quan đến an ninh
chính trị, trật tự an toàn xã hội, khiếu kiện đất đai, tôn giáo, dân tộc, qua đó kịp
thời tham mưu xử lý, không để phát sinh điểm nóng, vụ việc phức tạp kéo dài.
Công tác tuần tra, kiểm soát địa bàn được duy trì thường xuyên, góp phần giữ
vững ổn định địa bàn, bảo đảm an ninh trật tự và an toàn xã hội.
Công tác xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân
dân tiếp tục được quan tâm thực hiện; địa phương chủ động nắm chắc tình hình,
dự báo, phòng ngừa và xử lý kịp thời các tình huống có thể ảnh hưởng đến quốc
phòng, an ninh trên địa bàn. Đồng thời, bảo đảm tốt công tác sẵn sàng chiến đấu,
bảo vệ an toàn các sự kiện chính trị, các ngày lễ lớn của đất nước và địa phương,
góp phần củng cố khu vực phòng thủ ngày càng vững chắc.
Quốc phòng: Thời gian qua công tác Quốc phòng địa phương trên địa bàn
xã luôn được quan tâm triển khai và tổ chức thực hiện đồng bộ có chiều sâu bảo
đảm xây dựng LLVT xã vững mạnh toàn diện đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ quốc
phòng trong tình hình mới; Công tác xây dựng, huấn luyện, SSCĐ của lực lượng
DQTV, DBĐV, công tác tuyển quân, công tác GDQP-AN luôn đạt và vượt chỉ
tiêu được giao. Việc xây dựng thế trận Quốc phòng toàn dân, công trình quốc
phòng trong khu vực phòng thủ xã luôn bảo đảm đúng quy trình, quy hoạch, kế
hoạch phát triển kinh tế, xã hội gắn với quốc phòng hiện nay của địa phương,
góp phần xây dựng thế trận QSQP vững mạnh trong tình hình mới tạo điều kiện
thuận lợi phát triển kinh tế, xã hội tại địa phương.
8.2. An ninh và trật tự an toàn xã hội
Tình hình an ninh và trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn xã Dầu Giây cơ
bản ổn định, được giữ vững; các vấn đề liên quan đến tôn giáo, dân tộc, nông
thôn, kinh tế được theo dõi, nắm chắc và xử lý kịp thời, không để phát sinh vụ
việc phức tạp.
195
Trên địa bàn xã có nhiều thành phần dân tộc thiểu số cùng sinh sống; tình
hình liên quan đến đồng bào dân tộc thiểu số cơ bản ổn định, đời sống vật chất
và tinh thần từng bước được nâng lên, khối đại đoàn kết toàn dân tộc tiếp tục
được củng cố.
Tình hình an ninh, trật tự khu vực nông thôn trên địa bàn cơ bản ổn định;
các vụ việc phát sinh được địa phương quan tâm chỉ đạo giải quyết kịp thời,
không để hình thành điểm nóng.
Công tác bảo đảm trật tự, an toàn xã hội được triển khai thường xuyên; lực
lượng chức năng chủ động tham mưu cấp ủy, chính quyền địa phương thực hiện
các biện pháp quản lý địa bàn, quản lý đối tượng, tăng cường tuần tra, kiểm soát,
phòng ngừa và xử lý vi phạm. Phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc tiếp
tục được duy trì và phát huy hiệu quả, góp phần giữ vững ổn định địa bàn.
9. Tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ công chức
9.1. Đảng ủy
Về tổ chức bộ máy khối Đảng của xã được kiện toàn theo đúng quy định,
bảo đảm vai trò lãnh đạo toàn diện. Cụ thể: Thường trực Đảng ủy (gồm Bí thư
và các Phó Bí thư); các cơ quan tham mưu, giúp việc như Ban Xây dựng Đảng,
Văn phòng Đảng ủy và cơ quan Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy. Bên cạnh đó, Trung
tâm Chính trị xã Dầu Giây giữ vai trò quan trọng trong công tác đào tạo, bồi
dưỡng lý luận chính trị, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng
viên.
Tổng số cán bộ, công chức Đảng ủy hiện có 41 cán bộ, công chức, trong
đó: Văn phòng Đảng ủy là 11 người (gồm Bí thư và Phó Bí thư Thường trực
Đảng ủy); Ban Xây dựng Đảng là 9 người; Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy là 05
người. Trung tâm Chính trị xã hiện có 04 cán bộ, viên chức. Cơ quan ủy ban
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã là 12 người.
Về trình độ chuyên môn: 6 cán bộ, công chức có trình độ Thạc sĩ (đạt
14,63%), 35 cán bộ, công chức có trình độ Đại học (đạt 85.37%).
Về lý luận chính trị: Trình độ cử nhân, cao cấp 18 người (đạt tỷ lệ 43,90%),
Trung cấp là 22 người (đạt tỷ lệ 53,66%); Sơ cấp là 01 người (đạt tỷ lệ 2,44%).
9.2. Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân
- Bộ máy Hội đồng nhân dân xã được tổ chức gồm Thường trực HĐND và
02 Ban chuyên trách là Ban Kinh tế - Ngân sách và Ban Văn hóa - Xã hội, thực
hiện chức năng giám sát và quyết định các vấn đề quan trọng tại địa phương.
196
- Bộ máy Ủy ban nhân dân xã được tổ chức với 03 phòng chuyên môn gồm:
Văn phòng HĐND-UBND, Phòng Kinh tế và Phòng Văn hóa - Xã hội; đồng
thời có Trung tâm Phục vụ Hành chính công nhằm nâng cao hiệu quả cải cách
thủ tục hành chính, phục vụ người dân và doanh nghiệp. Ngoài ra, UBND xã
quản lý 21 đơn vị sự nghiệp trực thuộc, bao gồm Trung tâm Dịch vụ tổng hợp,
Trạm Y tế và 19 đơn vị trường học, góp phần đảm bảo cung ứng các dịch vụ
công thiết yếu.
9.3. Mặt trận Tổ quốc và các Đoàn thể
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã được tổ chức với Ban Thường trực
gồm Chủ tịch và các Phó Chủ tịch. Các Phó Chủ tịch đồng thời là người đứng
đầu các tổ chức chính trị - xã hội ở cấp xã như: Đoàn Thanh niên, Hội Liên hiệp
Phụ nữ, Hội Nông dân và Hội Cựu chiến binh. Mỗi tổ chức đều có cơ cấu lãnh
đạo và đội ngũ cán bộ chuyên trách, đảm bảo triển khai hiệu quả nhiệm vụ được
giao.
Số lượng biên chế Ủy ban Mặt trận Tổ quốc gồm 12 biên chế (công chức).
Trong đó: Chủ tịch Ủy ban MTTQ xã: 01 người; Phó Chủ tịch Ủy ban MTTQ
xã đồng thời là Trưởng các tổ chức chính trị xã hội xã: 4 người. Chuyên viên: 7,
trong đó: Chuyên viên chuyên trách: 5 người; Chuyên viên kiêm Phó chủ tịch
các tổ chức chính trị xã hội xã: 2 người (Hội Liên hiệp phụ nữ xã và Hội Nông
dân xã). Về trình độ chuyên môn: Thạc sỹ: 01 người (tỷ lệ 8,33%); Đại học: 11
người (tỷ lệ 91,67%). Về lý luận chính trị: Cử nhân, cao cấp: 4 người (tỷ lệ
33,33%); Trung cấp: 8 người (tỷ lệ 66,67%); Sơ cấp và chưa qua đào tạo: 0.
9.4. Cán bộ, công chức cấp xã
Đội ngũ cán bộ, công chức của xã cơ bản được bố trí đầy đủ, đáp ứng yêu
cầu nhiệm vụ.
Tổng số cán bộ công chức của UBND xã đang thực hiện 70 người/ 79 chỉ
tiêu biên chế công chức, trong đó: Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban
nhân dân xã bố trí 24 người/ 26 chỉ tiêu biên chế; Phòng Văn hóa - Xã hội: 17
người/ 22 chỉ tiêu biên chế; Phòng Kinh tế: 22 người/24 chỉ tiêu biên chế; Trung
tâm phục vụ hành chính công: 07 người/ 07 chỉ tiêu biên chế.
Về trình độ chuyên môn: Thạc sỹ: 16 người (tỷ lệ 22,85%); Đại học: 54
người (tỷ lệ 77,15%).
Về lý luận chính trị: Cử nhân, cao cấp: 12 người (tỷ lệ 17,14%); Trung cấp:
45 người (tỷ lệ 64,28%), Sơ cấp và chưa qua đào tạo: 13 người (tỷ lệ 18,58%).
Nhìn chung, cơ cấu tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ, công chức của xã
Dầu Giây hiện nay được tổ chức tương đối hoàn chỉnh, phù hợp với quy định và
197
yêu cầu thực tiễn. Trình độ chuyên môn và lý luận chính trị của đội ngũ cán bộ
ngày càng được nâng cao, cơ bản đáp ứng yêu cầu vận hành bộ máy hành chính
trong giai đoạn hiện nay, đặc biệt là trong điều kiện phát triển lên phường.
Trong thời gian tới, để đáp ứng yêu cầu phát triển và mục tiêu nâng cấp lên
phường, xã Dầu Giây sẽ tiếp tục rà soát, kiện toàn tổ chức bộ máy theo hướng
tinh gọn, hiệu quả; chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng
đội ngũ cán bộ, công chức; đẩy mạnh cải cách hành chính, chuyển đổi số và
nâng cao chất lượng phục vụ Nhân dân.
X. Đối với xã Đồng Phú
1. Vị trí địa lý, địa giới hành chính và vai trò chức năng
1.1. Vị trí địa lý, địa giới hành chính
Xã Đồng Phú được thành lập theo Nghị quyết số 1662/NQ-UBTVQH15
ngày 16/6/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; xã có vị trí địa lý rất thuận
lợi, là địa bàn có tính chiến lược trong đảm bảo Quốc phòng – An ninh và phát
triển kinh tế trong tiểu vùng của tỉnh; với vị trí địa lý nằm ở phía Tây Nam của
tỉnh Đồng Nai, phía Nam giáp với xã Phước Thành và xã Phú Giáo của Thành
phố Hồ Chí Minh, phía Đông giáp xã Tân Lợi, phía Bắc giáp phường Bình
Phước và xã Nhan Bích.
1.2. Vai trò chức năng
Với vị trí địa lý thuận lợi, tiếp giáp với Thành phố Hồ Chí Minh và là cửa
ngõ đi các tỉnh Tây Nguyên theo trục đường chính ĐT-741 chạy dọc theo trung
tâm xã, tạo nên tuyến giao thông huyết mạch trong lưu thông hàng hóa và tạo
động lực phát triển kinh tế - xã hội của địa phương;
Bên cạnh đó, xã Đồng Phú đang được tỉnh quan tâm đầu tư hệ thống giao
thông kết nối tương đối đồng bộ, gồm các tuyến kết nối các khu công nghiệp
phía Tây Nam thành phố Đồng Xoài; các tuyến kết nối từ đường ĐT-741 với
đường Đồng Phú - Bình Dương và Khu công nghiệp Đông Nam Đồng Phú
(tuyến số 1, số 2, số 3, số 4), cùng tuyến kết nối từ ĐT-741 với Khu công nghiệp
Nam Đồng Phú mở rộng (tuyến số 5). Đây là những công trình có ý nghĩa quan
trọng trong mở rộng không gian phát triển, tăng cường kết nối và tạo động lực
cho quá trình đô thị hóa của địa phương.
Bên cạnh đó, với diện tích tự nhiên lớn (138,66 km²), dân số đông và được
thiên nhiên ưu đãi với nhiều cảnh quan đẹp; trong đó phải kể đến hồ Bà Mụ (Bàu
Cọp) và hồ Suối Giai với tổng diện tích mặt nước hơn 500 ha chạy dọc trung
tâm xã, vừa tạo điểm nhấn cho cảnh quan tự nhiên, vừa điều hòa khí hậu và mở
ra tiềm năng phát triển du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng.
Bên cạnh đó, với diện tích tự nhiên lớn (138,66km2), dân số đông, lại được
thiên nhiên ưu đãi với nhiều cảnh quan đẹp; trong đó phải kể đến hồ Bà Mụ (Bàu
Cọp) và hồ Suối Giai với tổng diện tích mặt nước hơn 500ha chạy dọc trung tâm
198
xã vừa tạo điểm nhấn cho cảnh quan tự nhiên, vừa điều hòa khí hậu và mở ra
tiềm năng du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng rất lớn.
2. Diện tích tự nhiên và cơ cấu các loại đất
2.1. Diện tích tự nhiên:
Tổng diện tích tự nhiên của xã Đồng Phú là 138,66 km²; trong đó, diện tích
đất nông nghiệp là 11.363,59 ha, chiếm 81,95%; diện tích đất phi nông nghiệp
là 2.502,25 ha, chiếm 18,05% và diện tích đất chưa sử dụng là 0,33 ha, chiếm
0,001%.
2.2. Cơ cấu các loại đất
Bảng thống kê diện tích theo mục đích sử dụng
Đơn vị tính: ha
STT
Mục đích sử dụng
Diện tích
(ha)
Tỷ lệ
(%)
Tổng diện tích tự nhiên
13.866,18
100,00
I
Nhóm đất nông nghiệp
11.363,59
81,95
1
Đất trồng cây hằng năm
120,70
0,87
2
Đất trồng cây lâu năm
11.123,12
80,22
3
Đất lâm nghiệp
0,00
-
4
Đất nuôi trồng thủy sản
35,15
0,25
5
Đất chăn nuôi tập trung
69,44
0,50
6
Đất làm muối
0,00
-
7
Đất nông nghiệp khác
15,19
0,11
II
Nhóm đất phi nông nghiệp
2.502,25
18,05
1
Đất ở
409,58
2,95
2
Đất xây dựng trụ sở cơ quan
23,82
0,17
3
Đất quốc phòng, an ninh
102,95
0,74
4
Đất xây dựng công trình sự nghiệp
56,28
0,41
5
Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp
604,89
4,36
6
Đất sử dụng vào mục đích công cộng
956,70
6,90
7
Đất tôn giáo
6,73
0,05
8
Đất tín ngưỡng
0,10
0,00
9
Đất nghĩa trang, nhà tang lễ, cơ sở hỏa táng;
đất cơ sở lưu trữ tro cốt
12,70
0,09
10
Đất có mặt nước chuyên dùng
328,50
2,37
11
Đất phi nông nghiệp khác
0,00
0,00
III
Nhóm đất chưa sử dụng
0,33
0,00
1
Đất do Nhà nước thu hồi theo quy định của
pháp luật đất đai chưa giao, chưa cho thuê
-
-
2
Đất bằng chưa sử dụng
0,33
0,001
3
Đất đồi núi chưa sử dụng
-
-
4
Núi đá không có rừng cây
-
-
199
STT
Mục đích sử dụng
Diện tích
(ha)
Tỷ lệ
(%)
5
Đất có mặt nước chưa sử dụng
-
-
3. Dân số, cơ cấu lao động và thành phần dân cư
3.1. Dân số:
Tính đến ngày 22/3/2026, xã Đồng Phú có 9.333 hộ với 39.213 người.
+ Tỷ lệ dân số thành thị/nông thôn: 19.850/39.213 người, chiếm 50,62%
(dân số thành thị tính theo số dân khu vực thị trấn Tân Phú cũ).
+ Tỷ lệ dân số thành thị/ nông thôn: 19850/39213 người, chiếm 50,62%
(dân số thành thị tính theo số dân khu vực thị trấn Tân Phú cũ).
3.2. Cơ cấu lao động: có sự chuyển dịch mạnh từ nông nghiệp sang các lĩnh
vực phi nông nghiệp
Những năm gần đây, xã Đồng Phú đã chú trọng phát triển nguồn nhân lực
gắn với nhu cầu của các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh trên địa bàn;
đồng thời quan tâm đào tạo nghề, hỗ trợ chuyển dịch việc làm và nâng dần tỷ lệ
lao động qua đào tạo. Đây là cơ sở quan trọng để đáp ứng yêu cầu quản lý và
phát triển của một đơn vị hành chính đô thị sau khi thành lập phường.
Hiện nay, trên địa bàn xã Đồng Phú có 02 khu công nghiệp đã đi vào hoạt
động ổn định: Khu công nghiệp Bắc Đồng Phú với diện tích 189 ha (đang tiếp
tục mở rộng giai đoạn 2 với quy mô 317 ha); Khu công nghiệp Nam Đồng Phú
với diện tích 69 ha (đang tiếp tục mở rộng giai đoạn 2 với diện tích 480 ha). Bên
cạnh đó, xã Đồng Phú còn có 04 cụm công nghiệp đã đi vào hoạt động ổn định,
gồm: Cụm công nghiệp Hà Mỵ với diện tích 10 ha; Cụm công nghiệp Tân Tiến
1, Tân Tiến 2 với diện tích 105 ha; Cụm công nghiệp Tân Phú 1 với diện tích 49
ha. Đây là cơ sở quan trọng thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao
động tại địa phương.
Cùng với lợi thế về các khu, cụm công nghiệp, xã Đồng Phú còn có 03 chợ,
01 siêu thị Co.opmart, 02 cửa hàng Điện máy Xanh, 03 cửa hàng Bách hóa
Xanh, 03 cửa hàng Thế giới Di động cùng nhiều loại hình kinh doanh, dịch vụ
khác.
Vì thế, trong thời gian gần đây, sự chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông
nghiệp vào lĩnh vực phi nông nghiệp chuyển biến mạnh mẽ, hiện nay tỷ lệ lao
động ở các ngành phi nông nghiệp chiếm khoảng 72%.
4. Hiện trạng phát triển kinh tế
4.1. Chỉ tiêu phát triển kinh tế gồm:
- Chỉ tiêu phát triển kinh tế của xã Đồng Phú được xem xét thông qua tốc
độ tăng giá trị sản xuất, cơ cấu kinh tế, thu nhập bình quân đầu người, tỷ lệ lao
động phi nông nghiệp và tỷ lệ hộ nghèo. Qua rà soát cho thấy cơ cấu kinh tế của
địa phương chuyển dịch rõ theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp - xây dựng và
200
dịch vụ, giảm dần tỷ trọng nông nghiệp; đây là dấu hiệu quan trọng cho thấy
Đồng Phú đã hình thành ngày càng rõ đặc trưng của khu vực đô thị.
Quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động và gia tăng tỷ trọng công nghiệp -
xây dựng, dịch vụ trong thời gian qua đã tác động tích cực đến đời sống vật chất,
tinh thần của Nhân dân; đồng thời tạo thêm dư địa để địa phương tiếp tục phát
triển thương mại, dịch vụ, công nghiệp và chỉnh trang đô thị theo quy hoạch.
- Tỷ lệ hộ nghèo (theo chuẩn nghèo đa chiều): tổng số hộ nghèo của xã
Đồng Phú hiện nay và của 03 địa phương trước khi sáp nhập chỉ còn 01 hộ,
chiếm tỷ lệ 0,01%; tổng số hộ cận nghèo là 13 hộ với 47 khẩu. Đây là cơ sở cho
thấy công tác an sinh xã hội của địa phương được quan tâm thực hiện khá tốt,
góp phần giữ vững ổn định xã hội trong quá trình phát triển đô thị.
4.2. Phát triển các ngành, lĩnh vực
- Về công nghiệp - xây dựng:
+ Trong thời gian qua, lĩnh vực công nghiệp – xây dựng trên địa bàn xã có
bước phát triển khá, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng
tăng dần tỷ trọng Công nghiệp – Xây dựng, Dịch vụ, giảm dần tỷ trọng Nông
nghiệp.
Đặc biệt, trong thời gian qua, tỉnh Bình Phước (cũ) và tỉnh Đồng Nai mới
đã quan tâm đầu tư nhiều công trình giao thông trọng điểm trên địa bàn xã Đồng
Phú như: tuyến kết nối các khu công nghiệp phía Tây Nam thành phố Đồng
Xoài; tuyến đường xuyên tâm; 05 tuyến kết nối từ đường ĐT-741 với đường
Đồng Phú - Bình Dương và Khu công nghiệp Nam Đồng Phú mở rộng. Những
công trình này vừa tạo diện mạo khang trang, vừa tăng cường khả năng kết nối
để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và đô thị hóa của địa phương.
Bên cạnh đó, xã tập trung nguồn lực duy tu, sửa chữa, chỉnh trang đô thị
và đầu tư xây dựng một số tuyến đường do xã quản lý, góp phần hoàn thiện hạ
tầng kỹ thuật và nâng cao chất lượng không gian đô thị.
- Về công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp:
Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn phát triển khá nhanh và ổn
định với 02 khu công nghiệp và 04 cụm công nghiệp với tổng diện tích gần
500ha đã đi vào hoạt động ổn định thu hút nhiều công ty, doanh nghiệp trong và
ngoài nước vào đầu tư. Đã góp phần đay nhanh sự pht kinh tế - xã hội của địa
phương và tăng nhanh tốc độ đô thi hóa.
- Về thương mại - dịch vụ: Trong những năm gần đây, lĩnh vực thương
mại – dịch vụ trên địa bàn xã có nhiều chuyển biến tích cực, hiện nay có khoảng
5.000 hộ đăng kts kinh doanh buôn bán cá thể và doanh nghiệp nhỏ và vừa. Với
lợi thế xã có 03 Chợ hoạt động rất hiệu quả cùng với hệ thống của hàng buôn
bán nhỏ lẻ dọc 2 bên trục đường chính đã thu hút một lượng tiểu thương khá
201
đông đảo, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động và phát triển
kinh tế tại địa phương.
- Về sản xuất nông - lâm - thủy sản
- Sản xuất nông nghiệp ổn định, công tác tổ chức sản xuất được triển khai
thực hiện hiệu quả. Công tác phòng trừ dịch sâu, bệnh hại trên cây trồng và công
tác phòng, chống dịch bệnh trên gia súc, gia cầm được thực hiện đầy đủ, kịp
thời, không để bùng phát dịch bệnh;
Tuy nhiên, xã chưa có quy hoạch vùng sản xuất nông nghiệp tập trung,
chưa có mô hình nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.
5. Hiện trạng phát triển văn hóa - xã hội
5.1. Giáo dục và đào tạo
- Về quy mô trường lớp: Hệ thống mạng lưới trường, lớp trên địa bàn xã
được bố trí hợp lý, phù hợp với điều kiện dân cư và định hướng phát triển địa
phương.
Xã quản lý 10 trường, gồm: 3 trường Mầm non, 3 trường Tiểu học và 4
trường THCS; trong đó có 8/10 trường đạt chuẩn quốc gia.
5.2. Y tế
- Xã có 01 Trạm Y tế (trực thuộc xa), 1 trung tâm y tế trực thuộc Sơ Y tế
và 1 Bệnh viện Hoàn Mỹ. Tỷ lệ bác sĩ/1 vạn dân và các chỉ tiêu về Y tế đều đạt
5.3. Văn hóa thông tin, thể dục thể thao
- Về đời sống văn hóa: Lãnh đạo xã luôn quan tâm, hướng dẫn, chỉ đạo
các ấp tăng cường công tác tuyên truyền về lợi ích, tác dụng của việc xây dựng
gia đình văn hóa, xây dựng khu dân cư văn hóa góp phần hạn chế và đẩy lùi các
tệ nạn xã hội;
- Về thiết chế văn hóa: Xã có 01 Trung tâm Văn hóa – Thể thao, 03 sân
vận động; 06 Nhà thi đấu đa năng (trong đó có 04 Nhà thi đấu đa năng thuộc
trường học), 20 Nhà văn hóa thôn, 01 thư viện, 01 Đài truyền thanh với 54 cụm
loa không dây.
Trung tâm Dịch vụ tổng hợp xã có 15 biên chế, gồm 1 Giám đốc, 1 Phó
Giám đốc và 13 nhân viên, cơ bản đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong giai
đoạn hiện nay;
Xã có Trang thông tin điện tử của xã thường xuyên truyên truyền, phổ
biến các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và
công tác lãnh đạo, điều hành của chính quyền địa phương.
5.4. Lao động - Thương binh và Xã hội
Trong những năm qua, công tác Lao động – Thương binh và Xã hội trên
địa bàn xã luôn được cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương quan tâm lãnh đạo,
chỉ đạo và tổ chức thực hiện đồng bộ. Các chính sách an sinh xã hội được triển
khai kịp thời, đúng đối tượng, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần
202
của nhân dân, giữ vững ổn định xã hội và tạo nền tảng cho phát triển kinh tế –
xã hội của địa phương.
- Thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng + Công tác
chăm lo đối với người có công với cách mạng luôn được địa phương quan tâm
thực hiện. Hiện nay, trên địa bàn xã có 162 đối tượng người có công và thân
nhân người có công đang hưởng trợ cấp hàng tháng (128 người có công với
cách mạng; 34 thân nhân người có công với cách mạng); 72 người có công
hưởng trợ cấp một lần; chi trợ cấp ưu đại tháng 3/2026 cho 200 người có công
và thân nhân người có công với số tiền 649 triệu đồng.
- Công tác bảo trợ xã hội + Trong thời gian qua, việc triển khai thực
hiện các chính sách trợ giúp xã hội, trợ cấp hưu trí xã hội trên địa bàn xã luôn
được cấp ủy, chính quyền địa phương quan tâm chỉ đạo sát sao. Các ban,
ngành, đoàn thể đã phối hợp chặt chẽ trong tổ chức thực hiện, góp phần đảm
bảo an sinh xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho Nhân dân. +
Công tác thực hiện chính sách được triển khai kịp thời, đúng đối tượng, đúng
quy định. Các trường hợp khó khăn đột xuất do thiên tai, dịch bệnh được xem
xét, hỗ trợ kịp thời. Đồng thời, địa phương chú trọng tăng cường công tác
chăm sóc, bảo vệ trẻ em, người cao tuổi và các đối tượng yếu thế trong xã hội.
+ Hiện nay, trên địa bàn xã có tổng số 1.310 đối tượng đang hưởng trợ giúp
xã hội, hưu trí xã hội, trong tháng 03 năm 2025, xã đã thực hiện chi trả trợ cấp
895,93 triệu đồng. Nhìn chung, các chính sách trợ giúp xã hội, hưu trí xã hội
trên địa bàn xã được triển khai đồng bộ, kịp thời, đúng quy định; góp phần ổn
định đời sống Nhân dân, đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn. - Công tác lao
động việc làm + Phối hợp với các cơ quan cấp trên tổ chức tư vấn, giới thiệu
việc làm cho người lao động. Lao động tham gia làm việc tại các khu, cụm
công nghiệp ngày càng tăng. + Công tác tuyên truyền pháp luật về an toàn, vệ
sinh lao động cho các cơ sở và người lao động được thực hiện thường xuyên.
Các cơ sở sản xuất kinh doanh chấp hành tương đối tốt quy định về an toàn
lao động. Không có vụ tai nạn lao động nghiêm trọng xảy ra trên địa bàn.
5.5. Công tác tôn giáo - tín ngưỡng, dân tộc
- Về tôn giáo: Trên địa bàn có 09 cơ sở tôn giáo thuộc 02 tôn giáo lớn (Phật
giáo và Thiên chúa giáo) đang hoạt động theo đúng quy định của pháp luật:
+ Phật giáo: Có 05 cơ sở, gồm 4 Chùa và 01 tịnh xá có tổng số tín đồ, phật
từ khoảng 2.300 người.
+ Công giáo: Có 04 cơ sở, gồm 02 giáo xứ và 02 giáo họ tới tổng số
chuawcs sắc, giáo dân khoảng 3.500 người.
Nhìn chung tôn giáo trên địa bàn xã hoạt động rất ổn định, theo đúng quy
định của pháp luật.
- Về Dân tộc: Trên địa bàn xã hiện nay có 188 hộ với 637 khẩu (chiếm
1,6% dân số), chủ yếu là dân tộc Khơ me, Tày Nùng, Dao, Hoa…
Nhìn chung đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn xã luôn chấp hành tốt
chủ trương, đường lối của đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, tập trung
203
lao động sản xuất, ổn định cuộc sống, có nhiều hộ trở thành hộ khá trong cộng
đồng dân cư.
6. Hiện trạng phát triển hạ tầng xã hội
6.1. Nhà ở
- Hiện trang nhà ở trên địa bàn xã phân bố không đều, cơ bản tập trung cao
tại khu vực thị trấn Tân Phú và khu vực trung tâm xã Tân Tiến, Tân Lập cũ và
dọc 2 bên tuyến đường ĐT-741; khu vực chợ và các tuyến đường liên xã. Nhà ở
chủ yếu được xây riêng lẻ, kết cấu gạch, bê tông, mái lợp Tol hoặc ngói được
xây dựng khá kiên cố, đảm bảo công năng sử dụng; một số hộ dân có điều kiện
thì xây dựng kiên cố, khang trang hơn. Xã chưa có các khu chung cư, nhà ở xã
hội hay dãy phố liền kề.
- Hiện nay, hầu hết nhà ở trên địa bàn xã đều đạt chuẩn của Bộ Xây dựng,
chỉ còn một vài hộ dân có nhà xây dựng đã lâu, bị xuống cấp, cần sửa chữa, xã
đã lập danh sách và lập phương án vận động để hỗ trợ người dân sửa chữa đảm
bảo an toàn trong mùa mưa.
- Về nhà ở công vụ: Trên địa bàn có 02 căn nhà ở công vụ đang sử dụng
nằm trong khuôn viên trụ sở Đảng ủy và UBND xã.
6.2. Công trình cơ quan hành chính
Sau khi thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính, xã Đồng Phú đã tiến hành
rà soát, bố trí lại hệ thống trụ sở cơ quan hành chính theo hướng tập trung, đồng
bộ, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước trong tình hình mới. Hiện nay, trụ sở
Đảng ủy, HĐND, UBND và các tổ chức chính trị - xã hội được bố trí tại các
công trình kiên cố, có quy mô phù hợp, bảo đảm điều kiện làm việc cho đội ngũ
cán bộ, công chức và phục vụ nhân dân (nhờ sử dụng Trụ sở của Huyện ủy,
UBND huyện và các phòng, ban chuyên môn của huyện Đồng Phú trước đây)
nên cơ sở vật chất khá đầy đủ và ổn định.
Trụ sở UBND xã và các phòng, ban chuyên môn được đặt tại vị trí trung
tâm, thuận lợi cho giao dịch hành chính; Trung tâm Phục vụ hành chính công
được tổ chức riêng biệt, bảo đảm thực hiện cơ chế “một cửa”, “một cửa liên
thông”, đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính. Bên cạnh đó, các cơ quan như Ban
Chỉ huy Quân sự, Công an, Trung tâm Chính trị, Trung tâm Dịch vụ tổng hợp
xã đều được bố trí trụ sở làm việc ổn định, phù hợp chức năng, nhiệm vụ.
Hệ thống trụ sở sau sáp nhập cơ bản được tận dụng từ cơ sở vật chất hiện
có của cấp huyện và các đơn vị cũ, bảo đảm tiêu chuẩn về diện tích, kết cấu, hạ
tầng kỹ thuật (điện, nước, công nghệ thông tin), đáp ứng yêu cầu hoạt động
thường xuyên và lâu dài. Các trụ sở dôi dư được bố trí sử dụng hợp lý vào mục
đích công cộng hoặc giao đơn vị quản lý, khai thác theo đúng quy định, góp
phần nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản công.
6.3. Công trình giáo dục
- Hệ thống công trình giáo dục của xã Đồng Phú khá đầy đủ cả 3 cấp (Mầm
non, Tiểu học, THCS), ngoài ra trên địa bàn xã còn 01 trường THPT với quy
204
mô hơn 1.000 học sinh, 01 Trung tâm Giáo dục thường xuyên với quy mô hơn
200 học sinh, cơ bản đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục tại địa phương.
T
T
Tên trường
Diện tích
Đạt chuẩn
mức độ
(m2)
A
Mầm non
1
Trường mầm non Tân Phú
19.559,4
Mức độ I
2
Trường mầm non Tân Tiến
11.624
Mức độ I
3
Trường Mần non Tân Lập
22.765,2
Mức độ I
B
Tiểu học
1
Trường tiểu học Tân Phú
29.099
Mức độ I
2
Trường tiểu học Tân Tiến
15.239,9
Phá chuẩn
do HS
đông
3
Trường Tiểu học Tân Lập
30.131,2
Phá chuẩn
do HS
đông
C
Trung học cơ sở
1
Trường THCS Tân Phú
25.295,7
Mức độ I
2
Trường THCS Tân Tiến
17.081,5
Mức độ II
3
Trường THCS Tân Lập
9.353
Mức độ I
4
Trường PTDTNT-THCS Đồng Phú
23.702
Mức độ I
D
Phổ thông trung học
1
Trường THPT Đồng Phú
39.989,3
Dự kiến
tháng
4/2026 làm
hs công
nhận lại
chuẩn
2
Trung tâm GDNN-GDTX khu vực 16
19.100
Mức độ II
Lĩnh vực giáo dục tiếp tục phát triển theo hướng nâng cao chất lượng giáo
dục ở các cấp học. Các dự án đầu tư nâng cấp, mở rộng trường học theo hướng
đạt chuẩn quốc gia tiếp tục được triển khai thực hiện. Hệ thống trường, lớp các
cấp học được rà soát, sắp xếp lại đảm bảo hợp lý, đáp ứng ngày càng tốt hơn
nhu cầu đến trường của con em trên địa bàn. Đến nay, toàn xã có tỷ lệ trường
205
chuẩn quốc gia là 8/10 trường, đạt 80%, dự kiến năm 2026 tiếp tục đề nghị công
nhận đạt chuẩn 01 trường, nâng mức đạt chuẩn lên 90% (Riêng trường Tiểu học
Tân Phú do quy mô lớp học và tổng số học sinh vượt quá so với quy định của
Bộ Giáo dục – Đào tạo nên không thể đạt chuẩn, xã đang đề nghị đưa vào quy
hoạch để tách thành 02 trường để đảm bảo theo quy định).
6.4. Công trình y tế
- Trên địa bàn xã Đồng Phú hiện nay có 03 Trạm Y tế cấp xã cũ trước đây,
trong đó: Trạm Y tế thị trấn Tân Phú được sử dụng để làm điểm chích ngừa cho
bà mẹ, trẻ em; điểm Trạm Y tế xã Tân Tiến được sử dụng làm trụ sở chính của
Trạm Y tế xã sau sắp xếp, điểm Trạm Y tế xã Tân Lập được sử dụng làm điểm
trạm thứ 2 để phục vụ cho người dân ở khu vực xã Tân Lập và Khu Công nghiệp
Nam Đồng Phú.
STT
Tên công trình
Quy mô diện tích (m
2
)
Đạt chuẩn quốc
gia
1
Điểm Trạm Y tế thị trấn
Tân Phú
- Diện tích khuôn viên
1.748m2;
- Diện tích sử dụng: 301m2
(30/03/2026 bỏ điểm TYT này)
Đạt tiêu chí quốc
gia về y tế xã giai
đoạn đến năm
2030, áp dụng cho
các xã, phường,
thị trấn (Theo
Quyết định số
1300/QĐ-BYT
ngày 09/3/2023
của Bộ Trưởng bộ
Y tế)
2
Điểm Trạm Y tế xã Tân
Tiến
- Diện tích khuôn viên: 2.096
m2;
- Diện tích sử dụng: 463 m2.
3
Điểm Trạm Y tế xã Tân
Lập
- Diện tích khuôn viên: 1.250
m2;
- Diện tích sử dụng: 316 m2.
6.5. Công trình văn hóa, thể dục - thể thao
- Hệ thống công trình văn hóa, thể dục thể thao đầy đủ và đảm bảo cho các
hoạt động:
Bảng thống kê các công trình văn hóa, thể thao trên địa bàn xã
TT
Tên công trình
Diện tích
(m2)
A
Văn hóa
Thư viện
500
Nhà văn hóa 20 thôn
18.500
Trung tâm văn hóa TDTT xã
18.000
Đài truyền thanh
8000
206
B
Thể thao
Nhà thi đấu trung tâm xã
5000
Nhà thi đấu Tân Lập
2000
Nhà thi đấu 4 trường THCS
5000
Sân vận động xã (Trung tâm)
35.000
Sân vận động xã Tân Tiến cũ
11.000
Sân vận động xã Tân Lập cũ
9000
Sân Tennis trung tâm (02 sân)
1000
C
Công viên
Khu hoa viên tượng đài
20000
Hoa viên quân sự
2000
Công viên Tân Liên
2000
- Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” tiếp tục được
triển khai và thực hiện có hiệu quả mang lại nhiều đổi thay cả về nhận thức lẫn
hành động của người dân. Nhiều phong trào, hoạt động xây dựng mô hình văn
hóa ở cơ sở tiếp tục được triển khai đạt kết quả tốt. Hoạt động lễ hội truyền
thống được duy trì, tiếp tục bảo tồn và phát huy những giá trị di sản văn hóa
truyền thống, khơi dậy những phong tục tập quán tốt đẹp. Xã thường xuyên Tổ
chức các hoạt động văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao phục vụ nhân dân mang
lại không khí vui tươi, phấn khởi trong nhân dân. Công tác quản lý nhà nước
trên tất cả các lĩnh vực văn hóa và thông tin được chú trọng, công tác kiểm tra
được tăng cường, góp phần làm cho các hoạt động kinh doanh dịch vụ văn hóa,
thể thao, du lịch, thông tin và truyền thông ổn định, trật tự hơn.
- Hệ thống các thiết chế văn hóa, thể dục - thể thao, sân chơi, bãi tập, dụng
cụ luyện tập, nhà tập luyện, thi đấu các môn thể thao được quan tâm, tu sửa,
nâng cấp, xây dựng mới và chuẩn hóa, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hóa, rèn
luyện sức khỏe nâng cao thể chất, xây dựng nếp sống lành mạnh của người dân
theo hướng hiện đại và năng động.
6.6. Công trình thương mại - dịch vụ - du lịch
- Mạng lưới thương mại - dịch vụ trên địa bàn xã Đồng Phú khá phong phú
và đa dạng, tuy nhiên quy mô còn nhỏ lẽ, thiếu tập trung, một số hạng mục đã
xuống cấp...
Bảng thống kê hiện trạng cơ sở thương mại – dịch vụ trên địa bàn xã
STT
Tên công trình
Diện tích (m
2
)
Địa điểm
1
Chợ Đồng Phú
10000
Thị trấn Tân Phú (cũ)
207
2
Chợ Tân Tiến
5000
Xã Tân Tiến (cũ)
3
Chợ Tân Lập
3000
Xã Tân Lập (cũ)
4
Siêu thị Coop Mart
5000
Thị trấn Tân Phú (cũ)
5
Bách hóa Tân Phú
300
Thị trấn Tân Phú (cũ)
6
Bách hóa xanh Tân Tiến
400
Xã Tân Tiến (cũ)
7
Bách hóa xanh Tân Lập
400
Xã Tân Lập (cũ)
8
Thế giới di động Tân
Phú
300
Thị trấn Tân Phú (cũ)
9
Thế giới di động
300
Thị trấn Tân Phú (cũ)
10
Điện máy xanh
1000
Xã Tân Tiến (cũ)
7. Hiện trạng phát triển hạ tầng kỹ thuật đô thị
7.1. Giao thông
- Đường bộ: Xã Đồng Phú có vị trí giao thông thuận lợi với trục đường
chính là ĐT-741 chạy dọc trung tâm xã với chiều dài khoàng 13,5km, cùng với
đó là các tuyến đường kết nối (số 1, 2, 3, 4) từ ĐT-741 vào đường Đồng Phú –
Bình Dương và khu công nghiệp Đông Nam Đồng Phú, đường số 5 kết nối từ
ĐT-741 với khu công nghiệp Nam Đồng Phú mở rộng, bên cạnh đó, tỉnh đang
đầu tư xây dựng tuyến kết nối các khu Công nghiệp phía Tây Nam thành phố
Đồng Xoài chạy song song với đường ĐT-741 sát với bờ hồ Suối Giai và tuyến
đường Xuyên tâm nối từ xã Đồng Tâm qua Tân Lợi đo qua Đồng Phú và nối với
xã Phú Giáo của thành phố Hồ Chí Minh. Đây là những tuyến giao thất huyết
mạch, nối liên xã Đồng Phú với thành phố Hồ Chí Minh và các xã trong khu
vực có dư địa phát triển lớn như xã Nha Bích, phường Bình Phước, xã Tân Lợi,
phường Đồng Xoài…
Bên cạnh đó xã còn có một hệ thống đường liên thôn, đường nội bộ được
đầu tư khá đồng bộ, đảm bảo đi lại và vận chuyển, lưu thông hàng hóa rất thuận
tiện. Hiện nay hệ thống đường liên thôn của xã với tổng chiều dài hơn 50km đều
đã được nhựa hóa theo chương trình Nông thôn mới và Nông thôn mới nâng
cao. Vói hơn 160 tuyến đường tổ dân cư với tổng chiều dài hơn 50km đã được
bê tông hóa và nhựa hóa 100% (trong đó có 10% được nhựa hóa theo tiêu chuẩn
đường đô thị).
7.2. Thủy lợi
Xã Đồng Phú có 02 hồ thủy lợi: Hồ Bà Mụ (Bàu Cọp) với tổng diện tích
mặt nước khoảng 150ha; hồ Suối Giai với tổng diện tích mặt nước hơn 400ha
trải dài theo trung tâm xã, được phục vụ cho việc tưới tiêu hàng năm của người
dân và cung cấp nước sinh hoạt cho 02 nhà máy cung cấp nước sạch của xã.
Hiện nay 02 hồ này do Công ty TNHH MTV thủy Lợi thuộc UBND tỉnh quản
lý.
208
7.3. Cấp điện
Nguồn cấp điện: Xã Đồng Phú được cấp điện từ lưới điện quốc gia, thông
qua hệ thống điện của tỉnh Bình Phước (cũ) và tỉnh Đồng Nai (hiện nay). Nguồn
điện tương đối ổn định, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt và sản xuất của người dân
trên toàn xã.
Mạng lưới truyền tải và phân phối điện trên địa bàn xã Đồng Phú có đầy
đủ từ đường dây 500KV, 110KV, 35KV, 22kV và lưới điện hạ thế đã được đầu
tư tương đối hoàn chỉnh và đồng bộ, hiện nay hơn 99,7% hộ dân được sử dụng
điện lưới quốc gia trong sinh hoạt và sản xuất.
7.4. Cấp nước
Trên địa bàn toàn xã có 03 nhà máy cấp nước sạch tập trung với tổng công
suất lên tới 11.000m
3
/ngày đêm (bao gồm: Công ty cấp thoát nước Bình Phước
có nhà máy tại phường Bình Phước với công suất thiết kế 6.000m
3
/ngày đêm;
Công ty cấp nước DPD tại thị trấn Tân Phú với công suất 4000m
3
/ngày đêm;
Nhà máy nước Tân Lập với công suất thiết kế 1000m
3
/ngày đêm) với tổng chiều
dài các tuyến ống cấp nước trên địa bàn xã là 80 Km, trong đó Công ty cấp thoát
nước Bình Phước được phân vùng cấp cho các khu, cụm công nghiệp và Nhân
dân thôn Bàu Ké (thị trấn Tân Phú cũ); Công ty DPD được phân vùng cấp nước
trên địa bàn thị trấn Tân Phú và xã Tân Tiến, nhà máy nước Tân Lập được phân
vùng cấp nước trên địa bàn xã Tân Lập và xã Tân Tiến. Do việc phân vùng cấp
nước trước đây bị chồng chéo nên việc cấp nước sạch trên địa bàn xã còn gặp
nhiều khó khăn.
7.5. Thoát nước thải và vệ sinh môi trường
- Thoát nước mưa, nước thải sinh hoạt
Hiện nay trên địa bàn xã chưa có hệ thống thu gom, xử lý nước thải tập
trung. Riêng Chợ Tân Tiến có thiết kế hệ thống thu gom, xử lý nước thải nhưng
chưa đạt yêu cầu; chỉ có Nhà máy chế biến mủ cao su của Công ty Cổ phần cao
su Đồng Phú có đầu tư hệ thống thu gom, xử lý nước thải của nhà máy chế biến
và các nhà máy trong khu công nghiệp Nam Đồng Phú đảm bảo chất lượng trước
khi thải ra môi trường.
Khu Công nghiệp Bắc Đồng Phú đã đầu tư hạ tầng thu go, xử lý nước thải
công nghiệp theo đúng quy định.
- Xử lý chất thải rắn
Chất thải rắn sinh hoạt: Tổng khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh
trên địa bàn khoảng 4.500 tấn/ năm đã được thu gom và xử lý đạt trên 100%.
- Chất thải rắn công nghiệp thông thường: Tổng khối lượng chất thải rắn
công nghiệp thông thường phát sinh trên địa bàn 500 tấn/ năm, được thu gom,
xử lý theo quy định.
- Chất thải nguy hại: Các cơ sở/doanh nghiệp trên địa bàn xã đã thực hiện
hợp đồng với đơn vị có chức năng thu gom, xử lý theo đúng quy định; thu gom,
xử lý 100% chất thải nguy hại.
209
- Chất thải y tế phát sinh trên địa bàn xã đều được các cơ sở Y tế thu gom
và xử lý theo đúng quy định.
8. Quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội
8.1. Quốc phòng
Trong thời gian qua, cùng với quá trình phát triển kinh tế – xã hội, tình hình
quốc phòng – an ninh trên địa bàn cơ bản được giữ vững, tạo điều kiện thuận lợi
cho việc xây dựng đề án thành lập phường.
Hiện nay Ban Chỉ huy quân sự xã đã thực hiện việc sắp xếp lại bộ máy theo
đề án quân nhân chính quy, đảm bảo đi vào hoạt động ổn định; công tác kiện
toàn, xây dựng lực lượng được chú trọng, công tác động viên, tuyển quân đạt
100% chỉ tiêu trên giao, việc trực sẵn sàng chiến đầu được duy trì thường xuyên.
Lự tượng Dân quân thường trực được xây dựng đủ biên chế, trong đó có
03 Tiểu đội thường trực tại đơn vị và 01 tiểu đội Thường trực tại Khu công
nghiệp, ngoài ra còn có 01 Trung đội Dân quân cơ động thường xuyên phối hợp
tuần tra, kiểm soát, đảm bảo giữ gìn ANCT, TTANXH trên địa bàn.
8.2. An ninh và trật tự an toàn xã hội
Trong năm qua, tình hình an ninh chính trị trên địa bàn luôn giữ vững ổn
định, không xảy ra đột xuất, bất ngờ, các mục tiêu trọng điểm được đảm bảo an
toàn; tội phạm, TNXH, cháy nổ, tai nạn giao thông được kiềm chế và làm giảm
qua các năm… tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội
và đảm bảo, quốc phòng, an ninh trên địa bàn. Phong trào toàn dân bảo vệ
ANTQ tiếp tục có những chuyển biến tích cực, thu hút nhiều quần chúng nhân
dân tham gia; lực lượng bảo vệ an ninh trật tự ở cơ sở được củng cố, kiện toàn;
có một số mô hình phát huy được vai trò tự quản, tự phòng của nhân dân ngay
tại cộng đồng dân cư (tổ liên gia PCCC, tổ tự quản về ANTT, nhóm Zalo kết
nối bình yên…). Triển khai thực hiện tốt các kế hoạch chuyên đề đấu tranh tội
phạm có tổ chức, tội phạm ma túy và tệ nạn xã hội, kế hoạch chuyển hóa địa
bàn trọng điểm, phức tạp về trật tự, an toàn xã hội, xây dựng xã hội an toàn
giai đoạn 2017 - 2025 và tầm nhìn đến năm 2030; công tác tiếp nhận tin báo,
tố giác tội phạm, điều tra, xử lý tội phạm đã đạt được kết quả cao, không để xảy
ra oan sai, bức cung, nhục hình; việc thực hiện cải cách hành chính, chuyển đổi
số trong công tác đảm bảo an ninh trật tự được thực hiện mạnh mẽ, đáp ứng
tốt hơn nhu cầu của người dân.
Tổng biên chế của Lực lượng Công an xã là 38 đồng chí, trong đó có 01
Trưởng, 05 cấp phó; bên cạnh đó xã còn có 22 Tổ An ninh cơ sở với 67 đồng
chí, thường xuyên tuần tra, kiểm soát, đảm bảo ANCT, TTANXH tại địa
phương.
9. Tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ công chức
9.1. Đảng ủy
Đảng bộ xã Đồng Phú được thành lập theo Quyết định số 2329-QĐ/TU
ngày 16/6/2025 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, trên cơ sở sáp nhập 03 đơn vị
hành chính cũ gồm: thị trấn Tân Phú, xã Tân Tiến và xã Tân Lập.
210
Toàn Đảng bộ có 41 tổ chức đảng gồm: 03 đảng bộ cơ sở và 38 chi bộ cơ
sở (trong đó có 20 Chi bộ thôn) với 1.120 đảng viên.
Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ xã hiện có 30/33 đồng chí (khuyết 03
đồng chí: 01 Trưởng Trạm Y tế; 02 Bí thư Chi bộ thôn); Ủy viên Ban Thường
vụ Đảng ủy xã có 11/11 đồng chí; Thường trực Đảng ủy xã có 03/03 đồng chí
(bao gồm: Bí thư Đảng ủy – Chủ tịch Hội Đồng nhân dân xã, Phó Bí thư Thường
trực Đảng ủy xã, Phó Bí thư Đảng ủy – Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã); Ủy viên
Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy xã có 04/5 đồng chí (khuyết 01 đồng chí do nghỉ chế
độ).
Đảng ủy xã có 03 cơ quan tham mưu, giúp việc (gồm: Văn phòng Đảng
ủy xã, Ban Xây dựng Đảng Đảng ủy xã, Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy xã) và 01
đơn vị sự nghiệp trực thuộc Đảng ủy xã (Trung tâm chính trị).
9.2. Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân
Căn cứ Nghị quyết của Thường trực HĐND tỉnh về việc chỉ định đại biểu
HĐND huyện Đồng Phú nhiệm kỳ 2021 - 2026 làm đại biểu HĐND xã Đồng
Phú khóa I, nhiệm kỳ 2021 – 2026; Nghị quyết của Thường trực HĐND tỉnh về
việc chỉ định Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND, Trưởng các Ban của HĐND xã
Đồng Phú khóa I, nhiệm kỳ 2021– 2026, trên cơ sở đó HĐND xã Đồng Phú có
96 đại biểu trong đó: Chủ tịch HĐND xã là Bí thư Đảng ủy xã, 1 Phó Chủ tịch
là Ủy viên BTV Đảng ủy xã, 1 Trưởng Ban Văn hóa - Xã hội là Trưởng Ban
Xây dựng Đảng, 01 Trưởng ban Kinh tế - Ngân sách là Chủ nhiệm Ủy ban kiểm
tra Đảng ủy và 02 phó Ban là đảng ủy viên.
Ủy ban nhân dân xã gồm 01 Chủ tịch, 02 Phó Chủ tịch và các Ủy viên Ủy
ban nhân dân. Hiện UBND xã có 03 cơ quan chuyên môn, 01 tổ chức hành chính
và 11 đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc.
Vị trí việc làm: Hiện nay, 19 cơ quan, đơn vị đã hoàn thành việc xây dựng
Đề án vị trí việc làm và được cấp có thẩm quyền phê duyệt làm căn cứ tổ chức
thực hiện. Việc xây dựng Đề án vị trí việc làm được triển khai trên cơ sở bám
sát các quy định của cấp trên, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và
cơ cấu tổ chức của từng cơ quan, đơn vị; qua đó làm cơ sở quan trọng cho công
tác quản lý, sử dụng và bố trí đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Sau khi
được phê duyệt, các cơ quan, đơn vị đã tổ chức triển khai thực hiện nghiêm túc;
bước đầu phát huy hiệu quả trong việc phân công nhiệm vụ, nâng cao trách
nhiệm của từng cá nhân, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động
của cơ quan, đơn vị.
9.3. Mặt trận Tổ quốc và các Đoàn thể: gồm cơ quan Ủy ban Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam xã và 05 tổ chức chính trị - xã hội (Hội Nông dân, Hội Liên hiệp
Phụ nữ, Hội Cựu Chiến binh, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và Công đoàn).
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã gồm 1 Chủ tịch và 5 phó Chủ tịch
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đồng thời là Chủ tịch phụ nữ, hội nông dân,
cựu chiến binh và đoàn Thanh niên, Chủ tịch Công đoàn.
9.4. Cán bộ, công chức cấp xã
211
- Tổng số cán bộ, công chức của xã Đồng Phú là 115 người, hiện tại có 106
người; trong đó: khối Đảng, MTTQ và các đoàn thể có 41/48 người; khối chính
quyền có 65/67 người.
Đội ngũ cán bộ, công chức hiện nay cơ bản bảo đảm theo quy định, đáp
ứng yêu cầu nhiệm vụ quản lý nhà nước tại địa phương, có trình độ chuyên môn,
nghiệp vụ phù hợp với vị trí việc làm.
B. ĐNH GI CHI TIẾT MỨC ĐỘ ĐP ỨNG CC TIÊU CHUẨN
ĐỂ THÀNH LẬP CC PHƯỜNG: LONG THÀNH, NHƠN TRẠCH,
TRẢNG BOM, XUÂN LỘC, DẦU GIÂY, TÂN PHÚ, TRỊ AN, ĐỒNG
PHÚ, TÂN KHAI, LỘC NINH THUỘC TỈNH ĐỒNG NAI
(Kèm theo Phụ lục đánh giá tiêu chuẩn thành lập 10 phường theo Điều 5
Nghị quyết 112/2025/UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội)
Phần thứ ba
PHƯƠNG N THÀNH LẬP CC PHƯỜNG
I. PHƯƠNG N THÀNH LẬP
1. Phương án thành lập phường Trảng Bom
Thành lập phường Trảng Bom thuộc tỉnh Đồng Nai trên cơ sở nguyên trạng
toàn bộ diện tích tự nhiên 68,77 km² và quy mô dân số 95.502 người của xã
Trảng Bom.
Tên gọi đơn vị hành chính sau thành lập: Phường Trảng Bom.
Địa giới hành chính: Giữ nguyên theo địa giới hành chính hiện hữu của xã
Trảng Bom.
Việc thành lập phường Trảng Bom trên cơ sở nguyên trạng xã Trảng Bom
bảo đảm ổn định địa giới hành chính, tạo thuận lợi cho tổ chức bộ máy, quản lý
dân cư, quản lý đất đai, đầu tư phát triển hạ tầng và cung ứng dịch vụ công; đồng
thời phù hợp với định hướng phát triển đô thị của địa phương và của tỉnh Đồng
Nai.
2. Phương án thành lập phường Long Thành
Thành lập phường Long Thành thuộc tỉnh Đồng Nai trên cơ sở nguyên
trạng toàn bộ diện tích tự nhiên 130,12 km² và quy mô dân số 95.992 người của
xã Long Thành.
Tên gọi đơn vị hành chính sau thành lập: Phường Long Thành.
212
Địa giới hành chính: Giữ nguyên theo địa giới hành chính hiện hữu của xã
Long Thành.
Việc thành lập phường Long Thành trên cơ sở nguyên trạng xã Long Thành
bảo đảm ổn định địa giới hành chính, tạo thuận lợi cho tổ chức bộ máy, quản lý
dân cư, quản lý đất đai, đầu tư phát triển hạ tầng và cung ứng dịch vụ công; đồng
thời phù hợp với định hướng phát triển đô thị của địa phương và của tỉnh Đồng
Nai.
3. Phương án thành lập phường Trị An
Thành lập phường Trị An thuộc tỉnh Đồng Nai trên cơ sở nguyên trạng
toàn bộ diện tích tự nhiên 660,47 km² và quy mô dân số 51.757 người của xã
Trị An.
Tên gọi đơn vị hành chính sau thành lập: Phường Trị An.
Địa giới hành chính: Giữ nguyên theo địa giới hành chính hiện hữu của xã
Trị An.
Việc thành lập phường Trị An trên cơ sở nguyên trạng xã Trị An bảo đảm
ổn định địa giới hành chính, tạo thuận lợi cho tổ chức bộ máy, quản lý dân cư,
quản lý đất đai, đầu tư phát triển hạ tầng và cung ứng dịch vụ công; đồng thời
phù hợp với định hướng phát triển đô thị của địa phương và của tỉnh Đồng Nai.
4. Phương án thành lập phường Nhơn Trạch
Thành lập phường Nhơn Trạch thuộc tỉnh Đồng Nai trên cơ sở nguyên
trạng toàn bộ diện tích tự nhiên 108.04 km² và quy mô dân số 156.798 người
của xã Nhơn Trạch.
Tên gọi đơn vị hành chính sau thành lập: Phường Nhơn Trạch.
Địa giới hành chính: Giữ nguyên theo địa giới hành chính hiện hữu của xã
Nhơn Trạch.
Việc thành lập phường Nhơn Trạch trên cơ sở nguyên trạng xã Nhơn Trạch
bảo đảm ổn định địa giới hành chính, tạo thuận lợi cho tổ chức bộ máy, quản lý
dân cư, quản lý đất đai, đầu tư phát triển hạ tầng và cung ứng dịch vụ công; đồng
thời phù hợp với định hướng phát triển đô thị của địa phương và của tỉnh Đồng
Nai.
5. Phương án thành lập phường Tân Khai
Thành lập phường Tân Khai thuộc tỉnh Đồng Nai trên cơ sở nguyên trạng
toàn bộ diện tích tự nhiên 161,79 km² và quy mô dân số 39.147 người của xã
Tân Khai.
213
Tên gọi đơn vị hành chính sau thành lập: Phường Tân Khai.
Địa giới hành chính: Giữ nguyên theo địa giới hành chính hiện hữu của xã
Tân Khai.
Việc thành lập phường Tân Khai trên cơ sở nguyên trạng xã Tân Khai bảo
đảm ổn định địa giới hành chính, tạo thuận lợi cho tổ chức bộ máy, quản lý dân
cư, quản lý đất đai, đầu tư phát triển hạ tầng và cung ứng dịch vụ công; đồng
thời phù hợp với định hướng phát triển đô thị của địa phương và của tỉnh Đồng
Nai.
6. Phương án thành lập phường Xuân Lộc
Thành lập phường Xuân Lộc thuộc tỉnh Đồng Nai trên cơ sở nguyên trạng
toàn bộ diện tích tự nhiên 140,5 km² và quy mô dân số 101.485 người của xã
Xuân Lộc.
Tên gọi đơn vị hành chính sau thành lập: Phường Xuân Lộc.
Địa giới hành chính: Giữ nguyên theo địa giới hành chính hiện hữu của xã
Xuân Lộc.
Việc thành lập phường Xuân Lộc trên cơ sở nguyên trạng xã Xuân Lộc bảo
đảm ổn định địa giới hành chính, tạo thuận lợi cho tổ chức bộ máy, quản lý dân
cư, quản lý đất đai, đầu tư phát triển hạ tầng và cung ứng dịch vụ công; đồng
thời phù hợp với định hướng phát triển đô thị của địa phương và của tỉnh Đồng
Nai.
7. Phương án thành lập phường Tân Phú
Thành lập phường Tân Phú thuộc tỉnh Đồng Nai trên cơ sở nguyên trạng
toàn bộ diện tích tự nhiên 105,8 km² và quy mô dân số 77.025 người của xã Tân
Phú.
Tên gọi đơn vị hành chính sau thành lập: Phường Tân Phú.
Địa giới hành chính: Giữ nguyên theo địa giới hành chính hiện hữu của xã
Tân Phú.
Việc thành lập phường Tân Phú trên cơ sở nguyên trạng xã Tân Phú bảo
đảm ổn định địa giới hành chính, tạo thuận lợi cho tổ chức bộ máy, quản lý dân
cư, quản lý đất đai, đầu tư phát triển hạ tầng và cung ứng dịch vụ công; đồng
thời phù hợp với định hướng phát triển đô thị của địa phương và của tỉnh Đồng
Nai.
214
8. Phương án thành lập phường Lộc Ninh
Thành lập phường Lộc Ninh thuộc tỉnh Đồng Nai trên cơ sở nguyên trạng
toàn bộ diện tích tự nhiên 67,51 km² và quy mô dân số 31.484 người của xã Lộc
Ninh.
Tên gọi đơn vị hành chính sau thành lập: Phường Lộc Ninh.
Địa giới hành chính: Giữ nguyên theo địa giới hành chính hiện hữu của xã
Lộc Ninh.
Việc thành lập phường Lộc Ninh trên cơ sở nguyên trạng xã Lộc Ninh bảo
đảm ổn định địa giới hành chính, tạo thuận lợi cho tổ chức bộ máy, quản lý dân
cư, quản lý đất đai, đầu tư phát triển hạ tầng và cung ứng dịch vụ công; đồng
thời phù hợp với định hướng phát triển đô thị của địa phương và của tỉnh Đồng
Nai.
9. Phương án thành lập phường Dầu Giây
Thành lập phường Dầu Giây thuộc tỉnh Đồng Nai trên cơ sở nguyên trạng
toàn bộ diện tích tự nhiên 98,86 km² và quy mô dân số 72.004 người của xã Dầu
Giây.
Tên gọi đơn vị hành chính sau thành lập: Phường Dầu Giây.
Địa giới hành chính: Giữ nguyên theo địa giới hành chính hiện hữu của xã
Dầu Giây.
Việc thành lập phường Dầu Giây trên cơ sở nguyên trạng xã Dầu Giây bảo
đảm ổn định địa giới hành chính, tạo thuận lợi cho tổ chức bộ máy, quản lý dân
cư, quản lý đất đai, đầu tư phát triển hạ tầng và cung ứng dịch vụ công; đồng
thời phù hợp với định hướng phát triển đô thị của địa phương và của tỉnh Đồng
Nai.
10. Phương án thành lập phường Đồng Phú
Thành lập phường Đồng Phú thuộc tỉnh Đồng Nai trên cơ sở nguyên trạng
toàn bộ diện tích tự nhiên 138,66 km² và quy mô dân số 39.213 người của xã
Đồng Phú.
Tên gọi đơn vị hành chính sau thành lập: Phường Đồng Phú.
Địa giới hành chính: Giữ nguyên theo địa giới hành chính hiện hữu của xã
Đồng Phú.
Việc thành lập phường Đồng Phú trên cơ sở nguyên trạng xã Đồng Phú bảo
đảm ổn định địa giới hành chính, tạo thuận lợi cho tổ chức bộ máy, quản lý dân
cư, quản lý đất đai, đầu tư phát triển hạ tầng và cung ứng dịch vụ công; đồng
215
thời phù hợp với định hướng phát triển đô thị của địa phương và của tỉnh Đồng
Nai.
II. KẾT QUẢ SAU THÀNH LẬP
Như vậy, sau khi thành lập 10 phường, tỉnh Đồng Nai không thay đổi về
diện tích tự nhiên, dân số và số lượng đơn vị hành chính cấp xã; chỉ thay đổi cơ
cấu loại hình đơn vị hành chính, giảm 10 xã và tăng 10 phường. Cụ thể, tỉnh
Đồng Nai có 95 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 62 xã và 33 phường.
Phần thứ tư
ĐNH GI TC ĐỘNG VÀ PHƯƠNG HƯỚNG PHT TRIỂN CỦA
CC ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH SAU KHI ĐƯỢC THÀNH LẬP
A. ĐNH GI TC ĐỘNG
I. KINH TẾ - XÃ HỘI
1. Tích cực
Thành lập các phường sẽ góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, chuyển
dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp,
thương mại và nhất là dịch vụ; tạo thêm việc làm, nâng cao thu nhập cho người
lao động, phát huy hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực, thúc đẩy phát triển kết cấu
hạ tầng kỹ thuật hiện đại, mở rộng khả năng tiêu thụ hàng hóa và tăng cường
thu hút đầu tư trong nước, nước ngoài.
Việc thành lập phường cũng sẽ tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu
kinh tế của từng địa phương và của toàn tỉnh. Quá trình hình thành, phát triển
đô thị không chỉ gắn với phát triển công nghiệp mà còn gắn chặt với phát triển
hạ tầng giao thông, thương mại, dịch vụ; thúc đẩy đầu tư xây dựng các tuyến
đường nội thị, tăng cường kết nối với khu vực ngoại thị, tạo điều kiện thuận lợi
cho sản xuất, lưu thông hàng hóa và nâng cao mức sống của Nhân dân.
Sau khi thành lập phường, hệ thống hạ tầng kinh tế - xã hội sẽ tiếp tục được
quan tâm đầu tư đồng bộ, nhất là các công trình hạ tầng đô thị, giao thông, y tế,
giáo dục và thiết chế văn hóa. Qua đó, Nhân dân sẽ được tiếp cận, thụ hưởng
các dịch vụ văn hóa, giáo dục, chăm sóc sức khỏe với điều kiện thuận lợi hơn,
chất lượng tốt hơn. Đồng thời, quá trình phát triển đô thị cũng tạo điều kiện cho
giao lưu, tiếp biến văn hóa, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa xã hội
của địa phương.
216
2. Hạn chế
Bên cạnh những tác động tích cực, việc thành lập phường cũng đặt ra một
số khó khăn, thách thức. Lực lượng lao động nhập cư chủ yếu là lao động giản
đơn, chưa qua đào tạo, trong khi môi trường kinh tế đô thị đòi hỏi kỹ năng nghề
nghiệp và tính kỷ luật lao động cao hơn. Gia tăng dân số cơ học tạo sức ép lên
việc làm, giáo dục, y tế, nhà ở, hạ tầng kỹ thuật, xử lý chất thải và môi trường
sống. Một số khu dân cư phát triển nhanh trong khi hạ tầng chưa theo kịp cũng
có thể làm gia tăng nguy cơ ùn tắc, tai nạn giao thông và quá tải dịch vụ xã hội.
Ngoài ra, doanh nghiệp và người dân trên địa bàn sẽ phải thực hiện việc điều
chỉnh thông tin địa chỉ cho phù hợp sau khi đơn vị hành chính được thành lập.
II. QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH
1. Tích cực
Thành lập các phường trên cơ sở nguyên trạng diện tích tự nhiên và quy
mô dân số là yêu cầu của quá trình đô thị hóa trên địa bàn; về cơ bản không tác
động bất lợi đến phát triển kinh tế - xã hội, đời sống Nhân dân, công tác bảo
đảm vệ sinh môi trường, quản lý đất đai; đồng thời không làm phát sinh tăng
biên chế. Tổ chức chính quyền đô thị ở phường sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn
cho công tác quản lý nhà nước về xây dựng, đô thị và quản lý quy hoạch thống
nhất.
2. Hạn chế
Việc chuyển từ mô hình chính quyền nông thôn sang mô hình chính quyền
đô thị có thể khiến đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã bước đầu gặp khó khăn
trong tiếp cận chức năng, nhiệm vụ mới. Vì vậy, cần chú trọng đào tạo, bồi
dưỡng, chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, công chức nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý đô
thị, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở.
III. TC ĐỘNG VỀ ĐẤT ĐAI VÀ MÔI TRƯỜNG
Quá trình xây dựng và phát triển các phường mới sau khi thành lập sẽ tạo
diện mạo mới cho các địa phương, gắn với công nghiệp hóa, gia tăng quy mô,
mật độ dân số và tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, quá trình này cũng tạo áp lực
nhất định lên môi trường đô thị. Mức độ tác động phụ thuộc vào tốc độ phát
triển kinh tế và hiệu quả thực hiện các giải pháp bảo vệ môi trường của từng
phường sau khi được thành lập.
Sự phát triển nhanh của các ngành công nghiệp có thể làm gia tăng khí thải,
bụi, rác thải, nước thải, qua đó tác động đến chất lượng môi trường không khí,
đất và nước. Cùng với quá trình đô thị hóa, phát triển kinh tế, tăng quy mô dân
số, tăng thu nhập, khối lượng chất thải rắn từ công nghiệp, xây dựng, thương
217
mại, cơ sở y tế và hộ gia đình cũng tăng theo. Nếu không được kiểm soát chặt
chẽ, nguy cơ ô nhiễm môi trường sẽ gia tăng.
Dân số tăng nhanh do gia tăng cơ học từ hoạt động công nghiệp, dịch vụ
trên địa bàn sẽ kéo theo nhiều vấn đề cần giải quyết như nhà ở, dịch vụ, thông
tin, giáo dục, y tế, hạ tầng kỹ thuật, việc làm và môi trường. Đồng thời, số lượng
phương tiện giao thông cá nhân tăng nhanh cũng có thể làm gia tăng khói bụi,
áp lực lên hạ tầng và ô nhiễm môi trường không khí.
Ô nhiễm nguồn nước mặt và nước ngầm có thể phát sinh từ nhiều nguồn
khác nhau như nước thải công nghiệp, nước thải sinh hoạt; cùng với đó, một số
ao, hồ chứa có nguy cơ bị san lấp để phục vụ xây dựng công trình hạ tầng. Vì
vậy, sau khi thành lập phường, cần định hướng phát triển đô thị theo hướng bền
vững, giải quyết đồng bộ các vấn đề về môi trường, tài nguyên, kinh tế - xã hội.
Bên cạnh đó, tốc độ đô thị hóa nhanh và nhu cầu sử dụng đất cho công
nghiệp, giao thông và các lĩnh vực phi nông nghiệp tăng lên sẽ làm diện tích đất
nông nghiệp giảm dần, tác động đến sinh kế của một bộ phận người dân. Do đó,
cần xây dựng phương án tổ chức lại sản xuất nông nghiệp; đẩy mạnh các chương
trình hỗ trợ tạo việc làm tại chỗ; chuyển dịch cơ cấu sản xuất theo hướng hàng
hóa, sinh thái, bền vững; đồng thời khuyến khích phát triển ngành nghề phi nông
nghiệp để giải quyết việc làm hiệu quả cho khu vực nông thôn và nông dân trên
địa bàn.
IV. TC ĐỘNG ĐẾN KIẾN TRÚC ĐÔ THỊ, CẢNH QUAN
Việc thành lập các phường trên cơ sở nguyên trạng các xã hiện hữu sẽ tạo
điều kiện để tổ chức không gian kiến trúc, cảnh quan đô thị theo hướng đồng
bộ, văn minh, hiện đại và có bản sắc; khắc phục dần tình trạng phát triển phân
tán, thiếu thống nhất trong quản lý không gian xây dựng ở một số khu vực. Khi
mô hình quản lý đô thị được xác lập rõ hơn, công tác quản lý quy hoạch, quản
lý trật tự xây dựng, quản lý hạ tầng kỹ thuật, chỉnh trang các trục đường chính,
trung tâm hành chính, khu dân cư, không gian công cộng và hệ thống cây xanh
sẽ có điều kiện triển khai chặt chẽ, hiệu quả hơn.
Việc chuyển đổi từ xã sang phường cũng tạo cơ sở pháp lý và thực tiễn để
từng bước đầu tư, hoàn thiện các yếu tố nhận diện đô thị như quảng trường, công
viên, vườn hoa, tuyến phố văn minh, hệ thống chiếu sáng, biển hiệu, kiến trúc
công trình công cộng, các điểm nhấn không gian và cảnh quan dọc các trục giao
thông, sông, suối, hồ, khu trung tâm. Qua đó, diện mạo các địa phương sẽ có
chuyển biến rõ nét, góp phần nâng cao chất lượng môi trường sống, nâng tầm
hình ảnh đô thị và tăng sức hấp dẫn đối với nhà đầu tư, người dân và du khách.
218
Tuy nhiên, quá trình phát triển đô thị sau khi thành lập phường cũng đặt ra
yêu cầu phải kiểm soát chặt chẽ kiến trúc, cảnh quan để tránh phát sinh tình
trạng xây dựng thiếu đồng bộ, lấn chiếm hành lang an toàn giao thông, thu hẹp
không gian công cộng, suy giảm diện tích cây xanh hoặc hình thành các khu dân
cư tự phát làm ảnh hưởng đến mỹ quan đô thị. Vì vậy, sau khi thành lập phường,
cần tăng cường quản lý quy hoạch, quản lý cấp phép xây dựng, tổ chức chỉnh
trang đô thị theo quy hoạch được duyệt; đồng thời ưu tiên đầu tư các không gian
xanh, công trình công cộng, hệ thống hạ tầng kỹ thuật và thiết chế văn hóa nhằm
bảo đảm phát triển kiến trúc đô thị hài hòa, bền vững, phù hợp với định hướng
phát triển chung của tỉnh Đồng Nai.
V. TC ĐỘNG VỀ QUỐC PHÒNG, AN NINH, TRẬT TỰ AN TOÀN
XÃ HỘI
1. Tích cực
Việc sắp xếp, điều chỉnh bộ máy nhà nước từ xã thành phường sẽ góp phần
nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước nói chung, trong đó có quản lý nhà nước về
quốc phòng - an ninh. Cùng với yêu cầu quản lý đô thị chặt chẽ hơn, công tác
giữ gìn an ninh, trật tự an toàn xã hội sẽ được tăng cường; kinh tế - xã hội phát
triển, đời sống vật chất, tinh thần và ý thức chấp hành pháp luật của Nhân dân
được nâng lên, qua đó góp phần củng cố nền quốc phòng toàn dân gắn với thế
trận an ninh nhân dân vững chắc. Hạ tầng giao thông được đầu tư, nâng cấp cũng
tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quốc phòng - an ninh và giảm thiểu tai nạn
giao thông.
2. Hạn chế
Sau khi phường được thành lập, lưu lượng người nước ngoài và người từ
địa phương khác đến hợp tác, làm ăn, sinh sống, làm việc trên địa bàn có thể
tăng cao, đòi hỏi lực lượng chức năng phải tăng cường quản lý cư trú, lưu trú,
bảo đảm an ninh kinh tế, an ninh thông tin và an toàn cho doanh nghiệp đầu tư
trên địa bàn. Bên cạnh đó, quá trình thu hút đầu tư, triển khai dự án, thu hồi đất,
bồi thường, giải phóng mặt bằng có thể tác động đến một bộ phận Nhân dân; do
đó cần chủ động nắm chắc tình hình, kịp thời xử lý những vấn đề phát sinh liên
quan đến an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội.
Hệ thống giao thông được mở rộng, lưu lượng phương tiện tăng, các khu
công cộng và cơ sở kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự phát triển nhiều
hơn; vì vậy, lực lượng chức năng phải tăng cường công tác bảo đảm an toàn giao
thông, trật tự công cộng, quản lý hành chính đối với các ngành, nghề đầu tư kinh
doanh có điều kiện về an ninh, trật tự như cầm đồ, nhà nghỉ, nhà hàng, khách
sạn, massage, karaoke, ...
219
VI. TC ĐỘNG VỀ KINH PHÍ
Với vị trí và tiềm năng kinh tế của mình, khi trở thành phường, các địa
phương sẽ có điều kiện thuận lợi hơn để thu hút các nguồn lực cho đầu tư phát
triển kinh tế - xã hội, bao gồm nguồn lực nhà nước, doanh nghiệp trong nước và
nước ngoài. Sau khi thành lập, cần tiếp tục đầu tư xây dựng, nâng cấp, mở rộng
hệ thống giao thông, cải tạo, chỉnh trang khu dân cư theo quy hoạch, từng bước
hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng và huy động hiệu quả các nguồn lực sẵn có
của địa phương. Đồng thời, việc thành lập phường cũng phát sinh nhu cầu kinh
phí để mua sắm trang thiết bị, đáp ứng yêu cầu của mô hình chính quyền đô thị.
B. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN VÀ CC ĐƠN VỊ PHƯỜNG SAU
KHI THÀNH LẬP
I. MỤC TIÊU TỔNG QUT
Giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; chủ động phòng ngừa,
đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm; xây dựng nền quốc phòng toàn dân
gắn với thế trận an ninh nhân dân vững mạnh, rộng khắp.
Bảo đảm thu ngân sách đạt dự toán được giao và sử dụng ngân sách đúng
mục đích, hiệu quả.
Tiếp tục chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp,
thương mại - dịch vụ; nâng cao năng lực cạnh tranh và hiệu quả hoạt động sản
xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã; gắn tăng trưởng kinh tế với bảo
vệ môi trường.
Tạo chuyển biến rõ nét trong công tác quản lý trật tự xây dựng, quản lý đất
đai và quản lý đô thị.
Tập trung đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, sửa chữa, nâng cấp các tuyến
giao thông; đồng thời nâng cao hiệu quả thực hiện kỷ cương, trật tự trong xây
dựng và quản lý đô thị.
Tập trung giải quyết tốt các vấn đề an sinh xã hội như đào tạo nghề cho lao
động, tạo việc làm, giảm nghèo, giảm tỷ lệ thất nghiệp; chăm lo đối tượng chính
sách, người có công, trẻ em nghèo, mồ côi, khuyết tật; nâng cao chất lượng
khám, chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe Nhân dân và chủ động phòng, chống dịch
bệnh.
Đầu tư phát triển các dịch vụ văn hóa lành mạnh, các hoạt động thể dục,
thể thao, nhất là theo hình thức xã hội hóa, đáp ứng nhu cầu thụ hưởng đời sống
tinh thần của Nhân dân; phòng, chống hiệu quả các tệ nạn xã hội và hoạt động
ảnh hưởng xấu đến môi trường văn hóa; đưa phong trào “Toàn dân đoàn kết xây
dựng đời sống văn hóa” đi vào chiều sâu, thường xuyên và rộng khắp.
220
Phát huy dân chủ ở cơ sở, đẩy mạnh cải cách hành chính, tiếp tục nâng cao
chất lượng hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước; tăng cường công tác thanh
tra, kiểm tra, nhất là trong lĩnh vực thu, chi ngân sách; kịp thời giải quyết các
vấn đề bức xúc của xã hội.
II. MỘT SỐ MỤC TIÊU CỤ THỂ
Huy động mọi nguồn lực, khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế; đẩy mạnh
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng bền vững; nâng cao chất lượng các lĩnh
vực văn hóa - xã hội; giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm trật tự an toàn xã hội;
nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân; giải quyết việc làm; phát
triển giáo dục - đào tạo; tăng cường quốc phòng - an ninh; phấn đấu hoàn thành
các chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu trong thời gian tới.
1. Kinh tế
Đẩy mạnh đổi mới mô hình tăng trưởng, chuyển từ tăng trưởng theo chiều
rộng sang chiều sâu; tiếp tục thu hút đầu tư có chọn lọc vào các dự án công nghệ
cao, công nghiệp sạch, công nghệ xanh, thân thiện với môi trường, các ngành
có giá trị gia tăng cao, có lợi thế cạnh tranh và công nghiệp hỗ trợ nhằm tăng tỷ
lệ nội địa hóa. Phát triển sản xuất vật liệu xây dựng mới thay thế dần vật liệu
truyền thống, phục vụ nhu cầu của ngành xây dựng.
Đẩy mạnh xây dựng và triển khai các chương trình ứng dụng khoa học,
công nghệ, chuyển đổi số vào phát triển kinh tế - xã hội; đa dạng hóa các loại
hình kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân ở các ngành, lĩnh vực; phát triển đội ngũ
doanh nghiệp có tiềm lực, có khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và
quốc tế.
Phát triển các hoạt động thương mại, đặc biệt là mạng lưới phân phối bán
lẻ nội địa theo hướng hiện đại, văn minh; phát triển dịch vụ vận tải công cộng,
văn hóa, giáo dục - đào tạo, y tế, tín dụng, logistics và các dịch vụ hỗ trợ công
nghiệp; phát triển thị trường bất động sản, nhất là nhà ở và văn phòng cho thuê
phù hợp với yêu cầu phát triển đô thị.
Phát triển nông nghiệp theo hướng ứng dụng công nghệ cao, an toàn, hiện
đại; tạo ra sản phẩm có giá trị gia tăng cao, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của
thị trường.
2. Công tác địa chính - nhà đất, xây dựng cơ bản công trình công cộng
- Tăng cường hoạt động của Tổ quản lý trật tự đô thị trong công tác kiểm
tra, xử lý vi phạm về xây dựng, san lấp mặt bằng, quản lý đất công theo đúng
quy định.
221
- Tập trung giải quyết các hồ sơ khiếu nại, tranh chấp trong lĩnh vực đất
đai; xử lý dứt điểm hồ sơ đăng ký còn tồn đọng; đồng thời rà soát, xét duyệt hồ
sơ đăng ký bổ sung và hoàn thiện hồ sơ thuộc diện tranh chấp để chuyển cấp có
thẩm quyền xem xét, giải quyết.
- Trong lĩnh vực xây dựng cơ bản, tiếp tục phối hợp với các ngành cấp trên
triển khai các dự án chuyển tiếp từ năm 2026.
3. Y tế - dân số kế hoạch hóa gia đình
Tiếp tục thực hiện các chương trình y tế quốc gia; tuyên truyền, vận động
Nhân dân phòng, chống dịch bệnh; chăm sóc sức khỏe ban đầu; thực hiện vệ
sinh môi trường, xử lý rác thải; tăng cường kiểm tra an toàn thực phẩm tại các
cơ sở kinh doanh, trường học nhằm bảo đảm sức khỏe cho Nhân dân.
Tăng cường công tác truyền thông dân số, thực hiện kế hoạch hóa gia đình,
bảo đảm chỉ tiêu tăng dân số tự nhiên hằng năm; quan tâm thực hiện các biện
pháp bảo vệ quyền trẻ em, vận động xây dựng quỹ bảo vệ, chăm sóc trẻ em, nhất
là trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, khuyết tật.
4. Về giáo dục đào tạo
Nâng cao tỷ lệ huy động học sinh ra lớp, giảm tỷ lệ học sinh bỏ học, duy
trì và nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.
Tiếp tục quan tâm phát triển sự nghiệp giáo dục; duy trì công tác phổ cập
giáo dục trung học cơ sở và trung học phổ thông; bảo đảm đội ngũ giáo viên đạt
chuẩn; chú trọng giáo dục đạo đức học sinh, chủ động phòng ngừa, ngăn chặn
các tệ nạn xã hội xâm nhập học đường.
5. Văn hóa xã hội - thông tin thể thao
- Tăng cường công tác tuyên truyền ý nghĩa lịch sử, giáo dục truyền thống
cách mạng ở địa phương, các chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của
Nhà nước.
- Thực hiện tốt việc bảo tồn các di tích văn hóa lịch sử, góp phần giữ gìn
truyền thống bản sắc văn hóa dân tộc. Duy trì và phát triển các phong trào thể
dục thể thao.
- Vận động toàn dân ngăn chặn, bài trừ các loại tệ nạn xã hội gắn với việc
phát động xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hóa và toàn dân đoàn kết
xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư.
- Tăng cường công tác kiểm tra, xử lý các cơ sở dịch vụ văn hóa không
lành mạnh và chấn chỉnh dịch vụ thông tin quảng cáo.
222
- Thường xuyên rà soát hệ thống loa của đài truyền thanh nhằm nâng cao
chất lượng hoạt động phát thanh.
6. Hoạt động nội chính
6.1. Tổ chức chính quyền
- Quan tâm công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức các phường
nhằm nâng cao trình độ chính trị, văn hóa, chuyên môn, nghiệp vụ, phát huy tinh
thần trách nhiệm trong thực thi công vụ; thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở.
- Tiếp tục đơn giản hóa thủ tục hành chính theo hướng công khai, minh
bạch, thuận tiện cho tổ chức, cá nhân; tăng cường năng lực bộ máy hành chính;
thực hiện hiệu quả cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông hiện đại”; từng bước
nâng cấp nơi làm việc, trang thiết bị cần thiết và đẩy mạnh ứng dụng khoa học,
công nghệ trong hoạt động công vụ nhằm nâng cao hiệu quả công việc.
6.2. Công tác giữ gìn an ninh trật tự
- Tiếp tục triển khai các phương án bảo đảm an ninh, trật tự; kịp thời phát
hiện, ngăn chặn, không để phát sinh các vấn đề phức tạp liên quan đến an ninh,
trật tự trên địa bàn.
- Tăng cường quản lý địa bàn dân cư, nhân khẩu, hộ khẩu, người Việt Nam
ở nước ngoài về cư trú; quản lý, giáo dục các loại đối tượng; quản lý chặt chẽ
các loại hình kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng, ngành, nghề đầu tư kinh
doanh có điều kiện về an ninh, trật tự và các điểm nhà trọ cho thuê; đẩy mạnh
phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, vận động Nhân dân sống và làm
việc theo Hiến pháp và pháp luật.
- Triển khai đồng bộ các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh với các loại tội
phạm; bảo đảm trật tự an toàn giao thông, trật tự đô thị trên địa bàn.
- Tiếp tục triển khai và tổ chức thực hiện Luật dân quân tự vệ, đồng thời
tập trung củng cố, xây dựng lực lượng dân quân và nâng cao hơn nữa về nhận
thức trách nhiệm và hiệu quả hoạt động.
6.3. Tư pháp
Tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật, nhất là trong lĩnh vực quản
lý, sử dụng đất đai, trật tự xã hội và xử lý vi phạm hành chính; tập trung giải
quyết đơn thư tranh chấp, khiếu nại của Nhân dân theo đúng quy định.
III. VỀ SẮP XẾP TỔ CHỨC BỘ MY, ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH CC
CẤP
Tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ, công chức của 10 phường sau khi thành
lập cơ bản được kế thừa từ bộ máy và đội ngũ cán bộ, công chức của các xã hiện
223
có; đồng thời được sắp xếp, bố trí lại một số chức danh cho phù hợp với tính
chất đơn vị hành chính đô thị. Trong quá trình kiện toàn tổ chức bộ máy, sẽ chú
trọng bố trí đội ngũ cán bộ, công chức có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, năng
lực, phẩm chất, bảo đảm tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả. Đối với đại biểu Hội đồng
nhân dân 10 phường, sẽ tổ chức bồi dưỡng kiến thức về chức năng, nhiệm vụ
của Hội đồng nhân dân phường và các chuyên đề liên quan đến quản lý đô thị,
xây dựng nhằm phát huy tốt hơn vai trò giám sát của Hội đồng nhân dân và đại
biểu Hội đồng nhân dân.
IV. LỘ TRÌNH, GIẢI PHP KHẮC PHỤC CC TIÊU CHUẨN ĐÔ
THỊ HIỆN CÒN CHƯA ĐẠT
Việc thành lập 10 phường trên cơ sở nguyên trạng các xã nêu trên là bước
đi cần thiết, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng phát
triển đô thị của tỉnh Đồng Nai. Tuy nhiên, đối với một số tiêu chuẩn đô thị hiện
còn chưa đạt hoặc đạt chưa bền vững, tỉnh sẽ tập trung triển khai lộ trình khắc
phục theo hướng rõ nhiệm vụ, rõ cơ quan chủ trì, rõ nguồn lực và rõ mốc thời
gian thực hiện, bảo đảm đồng bộ với quy hoạch tỉnh, quy hoạch đô thị và kế
hoạch đầu tư công trung hạn.
Trước hết, tiếp tục rà soát, cập nhật, điều chỉnh và tổ chức thực hiện hiệu
quả các quy hoạch có liên quan; xác định rõ các khu vực ưu tiên đầu tư, chỉnh
trang, phát triển mới; quản lý chặt chẽ không gian kiến trúc, cảnh quan, chỉ giới
xây dựng, tầng cao, mật độ xây dựng và hạ tầng kỹ thuật khung để bảo đảm phát
triển đô thị đúng định hướng, tránh đầu tư manh mún, chồng chéo.
Đồng thời, tập trung ưu tiên nguồn lực đầu tư hoàn thiện các tiêu chuẩn còn
thiếu, còn yếu, nhất là hệ thống giao thông đô thị, thoát nước, chiếu sáng, cây
xanh, công trình công cộng, cơ sở giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao, hạ tầng số
và các thiết chế phục vụ dân sinh. Quá trình đầu tư được thực hiện theo thứ tự
ưu tiên, phù hợp khả năng cân đối ngân sách địa phương và gắn với đẩy mạnh
xã hội hóa, thu hút các nguồn lực hợp pháp ngoài ngân sách.
Cùng với đó, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về đô thị; kiện
toàn bộ máy, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức; tăng cường công
tác kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm về đất đai, xây dựng, môi trường và trật tự
đô thị; phát huy vai trò giám sát của Hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc và sự
đồng thuận, tham gia của Nhân dân trong quá trình xây dựng, chỉnh trang và
phát triển đô thị.
Trên cơ sở kết quả rà soát, Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai sẽ tập trung chỉ
đạo các sở, ngành, địa phương xây dựng kế hoạch cụ thể để từng bước khắc
phục các tiêu chuẩn đô thị còn chưa đạt; định kỳ đánh giá tiến độ thực hiện, kịp
thời điều chỉnh giải pháp phù hợp với tình hình thực tế, phấn đấu hoàn thiện đầy
224
đủ các tiêu chuẩn theo quy định, tạo nền tảng vững chắc cho việc xây dựng và
phát triển Đồng Nai trở thành thành phố trực thuộc Trung ương trong giai đoạn
tới.
Phần thứ năm
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
I. Kết luận
Việc thành lập các phường: Long Thành, Nhơn Trạch, Trảng Bom, Xuân
Lộc, Dầu Giây, Tân Phú, Trị An, Đồng Phú, Tân Khai, Lộc Ninh là cần thiết,
phù hợp với chủ trương của Đảng, quy định của pháp luật và yêu cầu phát triển
của tỉnh Đồng Nai trong giai đoạn mới. Đây không chỉ là việc chuyển đổi loại
hình đơn vị hành chính, mà còn là bước sắp xếp lại không gian quản lý và tổ
chức mô hình quản trị phù hợp hơn với quá trình đô thị hóa đang diễn ra ngày
càng rõ trên các địa bàn nêu trên.
Trên cơ sở rà soát, đánh giá toàn diện hiện trạng phát triển kinh tế - xã hội,
quy mô dân số, diện tích tự nhiên, mức độ đô thị hóa, điều kiện kết cấu hạ tầng,
định hướng quy hoạch và yêu cầu quản lý nhà nước, có đủ căn cứ để xác định
việc thành lập các phường nêu trên là có cơ sở chính trị, pháp lý và thực tiễn;
đáp ứng yêu cầu tổ chức quản lý phù hợp hơn, chặt chẽ hơn, hiệu quả hơn đối
với các địa bàn đã và đang hình thành ngày càng rõ đặc trưng đô thị.
Việc thành lập các phường sẽ tạo điều kiện nâng cao hiệu lực, hiệu quả
quản lý nhà nước trên các lĩnh vực; bảo đảm tốt hơn yêu cầu quản lý dân cư, đất
đai, xây dựng, trật tự đô thị, hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, bảo vệ môi trường,
quốc phòng, an ninh và trật tự, an toàn xã hội. Đồng thời, đây cũng là cơ sở để
tiếp tục huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực đầu tư; từng bước
hoàn thiện kết cấu hạ tầng, chỉnh trang không gian đô thị và nâng cao chất lượng
đời sống của Nhân dân.
Đối với những tiêu chuẩn đô thị hiện còn chưa đạt hoặc cần tiếp tục hoàn
thiện, Đề án đã nhận diện rõ nội dung, xác định lộ trình và đề ra giải pháp thực
hiện phù hợp với điều kiện thực tiễn của từng địa phương. Việc này vừa bảo
đảm tính khả thi của Đề án, vừa tạo cơ sở để tổ chức thực hiện đồng bộ, tránh
tư tưởng nóng vội, hình thức hoặc dàn trải nguồn lực.
Từ những căn cứ nêu trên, có thể khẳng định việc thành lập các phường:
Long Thành, Nhơn Trạch, Trảng Bom, Xuân Lộc, Dầu Giây, Tân Phú, Trị An,
Đồng Phú, Tân Khai, Lộc Ninh là phù hợp với yêu cầu thực tiễn, đáp ứng định
hướng phát triển của tỉnh và đủ cơ sở để trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết
định.
225
II. Kiến nghị
Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai kính đề nghị Chính phủ, Bộ Nội vụ xem
xét, chấp thuận Đề án thành lập các phường: Long Thành, Nhơn Trạch, Trảng
Bom, Xuân Lộc, Dầu Giây, Tân Phú, Trị An, Đồng Phú, Tân Khai, Lộc Ninh
thuộc tỉnh Đồng Nai để làm cơ sở tổ chức thực hiện thống nhất, đồng bộ, đúng
quy định; đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, yêu cầu phát triển đô thị và nguyện
vọng chính đáng của Nhân dân trên địa bàn.
Sau khi Đề án được cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định, Ủy ban nhân
dân tỉnh Đồng Nai sẽ tập trung chỉ đạo các cơ quan, đơn vị, địa phương có liên
quan tổ chức triển khai thực hiện chặt chẽ, bảo đảm ổn định tổ chức bộ máy,
không làm ảnh hưởng đến hoạt động quản lý nhà nước, sản xuất, kinh doanh và
đời sống của Nhân dân; đồng thời tiếp tục tập trung nguồn lực để hoàn thiện các
tiêu chuẩn đô thị còn chưa đạt, đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng
xã hội, chỉnh trang kiến trúc, cảnh quan đô thị và nâng cao chất lượng quản lý
trên địa bàn các phường mới.
Trên đây là Đề án thành lập các phường trên cơ sở nguyên trạng các xã:
Long Thành, Nhơn Trạch, Trảng Bom, Xuân Lộc, Dầu Giây, Tân Phú, Trị An,
Đồng Phú, Tân Khai, Lộc Ninh thuộc tỉnh Đồng Nai./.
Nơi nhận:
TM. ỦY BAN NHÂN DÂN
CHỦ TỊCH
Nguyễn Văn Út
ỦY BAN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG NAI
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Đồng Nai, ngày tháng 3 năm 2026
PHỤ LỤC
ĐNH GI TIÊU CHUẨN THÀNH LẬP 10 PHƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG NAI
(Kèm theo Đề án số: -ĐA/TU ngày tháng 3 năm 2026 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai)
I. CC ĐỊA PHƯƠNG: LONG THÀNH, NHƠN TRẠCH, TRẢNG BOM
TT
TIÊU CHÍ
Long Thành
Nhơn Trạch
Trảng Bom
Hiện trạng
Đánh
giá
Hiện trạng
Đánh
giá
Hiện trạng
Đánh
giá
1
Quy mô dân số (từ 21.000
người trở lên)
95.992 người
Đạt
156.839 người
Đạt
95.502 người
Đạt
2
Diện tích tự nhiên (từ 5,5
km
2
trở lên)
130,12 km
2
Đạt
108,046 km
2
Đạt
68,77 km
2
Đạt
3
Vị trí, chức năng được xác
định trong quy hoạch hoặc
định hướng đã được cấp có
thẩm quyền phê duyệt
Vị trí, chức năng
được xác định
trong quy hoạch
hoặc định hướng
đã được cấp có
thẩm quyền phê
duyệt là trung tâm
cấp tiểu vùng
trong tỉnh
Đạt
Vị trí, chức năng được xác
định trong quy hoạch hoặc
định hướng đã được cấp có
thẩm quyền phê duyệt là
trung tâm cấp tiểu vùng
trong tỉnh
Đạt
Vị trí, chức năng được
xác định trong quy
hoạch hoặc định hướng
đã được cấp có thẩm
quyền phê duyệt là
trung tâm cấp tiểu vùng
trong tỉnh
Đạt
227
TT
TIÊU CHÍ
Long Thành
Nhơn Trạch
Trảng Bom
Hiện trạng
Đánh
giá
Hiện trạng
Đánh
giá
Hiện trạng
Đánh
giá
4
Tỷ lệ quy mô dân số đô thị
trên quy mô dân số của đơn
vị hành chính (từ 50% trở
lên)
50,21%
Đạt
32%
Đạt
50,24%
Đạt
5
Cơ cấu và trình độ phát
triển kinh tế - xã hội
5.1
Tỷ lệ tổng thu ngân sách
địa phương với tổng chi
ngân sách địa phương (>=
100%)
100,85%
Đạt
176,43%
Đạt
102,42%
Đạt
5.2
Tỷ trọng công nghiệp - xây
dựng và dịch vụ trong
GRDP
(70%)
73,07%
Đạt
81%
Đạt
93,96%
Đạt
5.3
Tỷ lệ lao động phi nông
nghiệp (>=70%)
85%
Đạt
91%
Đạt
75%
Đạt
5.4
Thu nhập bình quân đầu
người trên năm cao hơn thu
nhập bình quân đầu người
trên năm của tỉnh trong 03
năm gần nhất
(86 triệu đồng/người)
93,05 triệu
đồng/người
Đạt
97,51 triệu đồng/người
Đạt
94 triệu đồng/người
Đạt
228
TT
TIÊU CHÍ
Long Thành
Nhơn Trạch
Trảng Bom
Hiện trạng
Đánh
giá
Hiện trạng
Đánh
giá
Hiện trạng
Đánh
giá
5.5
Tỷ lệ hộ nghèo (theo
chuẩn nghèo đa chiều)
thấp hơn tỷ lệ hộ nghèo
của tỉnh trong 03 năm gần
nhất (0,28%/năm)
0,19%
Đạt
0,08%
Đạt
0,07%
Đạt
II. CC ĐỊA PHƯƠNG: DẦU GIÂY, XUÂN LỘC, TÂN PHÚ
TTT
TIÊU CHÍ
Dầu Giây
Xuân Lộc
Tân Phú
Hiện trạng
Đánh
giá
Hiện trạng
Đánh
giá
Hiện trạng
Đánh
giá
1
Quy mô dân số (từ 21.000
người trở lên)
72.004
Đạt
101.485 người
Đạt
77.025 người
Đạt
2
Diện tích tự nhiên (từ 5,5
km
2
trở lên)
98,86km
Đạt
140,5 km
2
Đạt
105,8 km
2
Đạt
3
Vị trí, chức năng được xác
định trong quy hoạch hoặc
định hướng đã được cấp
có thẩm quyền phê duyệt
Vị trí, chức năng
được xác định
trong quy hoạch
hoặc định hướng
đã được cấp có
thẩm quyền phê
duyệt là trung tâm
cấp tiểu vùng
trong tỉnh
Đạt
Vị trí, chức năng được xác
định trong quy hoạch hoặc
định hướng đã được cấp có
thẩm quyền phê duyệt là
trung tâm cấp tiểu vùng
trong tỉnh
Đạt
Là trung tâm, cấp tiểu
vùng trong tỉnh, có vai
trò thúc đẩy sự phát
triển kinh tế - xã hội
của tiểu Vùng Phía
Đông của tỉnh
Đạt
229
TTT
TIÊU CHÍ
Dầu Giây
Xuân Lộc
Tân Phú
Hiện trạng
Đánh
giá
Hiện trạng
Đánh
giá
Hiện trạng
Đánh
giá
4
Tỷ lệ quy mô dân số đô thị
trên quy mô dân số của
ĐVHC (từ 50% trở lên)
50,30%
Đạt
54,24
Đạt
50,13%
Đạt
5
Cơ cấu và trình độ phát
triển kinh tế - xã hội
5.1
Tỷ lệ tổng thu ngân sách
địa phương với tổng chi
ngân sách địa phương (>=
100%)
100%
Đạt
103,54%
Đạt
100%
Đạt
5.2
Tỷ trọng công nghiệp -
xây dựng và dịch vụ trong
GRDP
(70%)
83%
Đạt
91,82%
Đạt
72,51%
Đạt
5.3
Tỷ lệ lao động phi nông
nghiệp (>=70%)
75%
Đạt
78,64%
Đạt
71,27%
Đạt
5.4
Thu nhập bình quân đầu
người trên năm cao hơn
thu nhập bình quân đầu
người trên năm của tỉnh
trong 03 năm gần nhất
(86 triệu đồng/người)
92,4 triệu
đồng/người
Đạt
101,4 triệu đồng/người
Đạt
86 triệu đồng/người
Đạt
5.5
Tỷ lệ hộ nghèo (theo
chuẩn nghèo đa chiều)
thấp hơn tỷ lệ hộ nghèo
0,16%
Đạt
0,23%
Đạt
0,23%
Đạt
230
TTT
TIÊU CHÍ
Dầu Giây
Xuân Lộc
Tân Phú
Hiện trạng
Đánh
giá
Hiện trạng
Đánh
giá
Hiện trạng
Đánh
giá
của tỉnh trong 03 năm
gần nhất (0,28%/năm)
III. CC ĐỊA PHƯƠNG: TRỊ AN, ĐỒNG PHÚ, TÂN KHAI, LỘC NINH
TT
TIÊU CHÍ
Trị An
Đồng Phú
Tân Khai
Lộc Ninh
Hiện trạng
Đánh
giá
Hiện trạng
Đánh
giá
Hiện trạng
Đánh
giá
Hiện trạng
Đánh
giá
1
Quy mô dân số (từ
21.000 người trở
lên)
51.757 người
Đạt
39.216
Đạt
39.147 người
Đạt
32.291
Đạt
2
Diện tích tự nhiên
(từ 5,5 km
2
trở lên)
660,47 km
2
Đạt
138,66km2
Đạt
161,79 km
2
Đạt
67,51 km
2
Đạt
3
Vị trí, chức năng
được xác định trong
quy hoạch hoặc định
hướng đã được cấp
có thẩm quyền phê
duyệt
Vị trí, chức năng
được xác định
trong quy hoạch
hoặc định hướng
đã được cấp có
thẩm quyền phê
duyệt là trung
tâm cấp tiểu
vùng trong tỉnh
Đạt
Vị trí, chức năng
được xác định
trong quy hoạch
hoặc định hướng
đã được cấp có
thẩm quyền phê
duyệt là trung tâm
cấp tiểu vùng
trong tỉnh
Đạt
Vị trí, chức
năng được xác
định trong quy
hoạch hoặc định
hướng đã được
cấp có thẩm
quyền phê
duyệt là trung
tâm cấp tiểu
vùng trong tỉnh
Đạt
Vị trí, chức
năng được xác
định trong quy
hoạch hoặc
định hướng đã
được cấp có
thẩm quyền
phê duyệt là
trung tâm cấp
tiểu vùng trong
tỉnh
Đạt
231
TT
TIÊU CHÍ
Trị An
Đồng Phú
Tân Khai
Lộc Ninh
Hiện trạng
Đánh
giá
Hiện trạng
Đánh
giá
Hiện trạng
Đánh
giá
Hiện trạng
Đánh
giá
4
Tỷ lệ quy mô dân số
đô thị trên quy mô
dân số của ĐVHC
(từ 50% trở lên)
62,75%
Đạt
50,6%
Đạt
50,48%
Đạt
50,09%
Đạt
5
Cơ cấu và trình độ
phát triển kinh tế -
xã hội
5.1
Tỷ lệ tổng thu ngân
sách địa phương với
tổng chi ngân sách
địa phương
(>= 100%)
131%
Đạt
100%
Đạt
156%
Đạt
103,5%
Đạt
5.2
Tỷ trọng công
nghiệp - xây dựng và
dịch vụ trong GRDP
(>=70%)
71,79%
Đạt
93%
Đạt
71%
Đạt
70,14%
Đạt
5.3
Tỷ lệ lao động phi
nông nghiệp
(>=70%)
71%
Đạt
72,3%
Đạt
71,2%
Đạt
72%
Đạt
5.4
Thu nhập bình quân
đầu người trên năm
cao hơn thu nhập
bình quân đầu người
trên năm của tỉnh
87 triệu
đồng/người
Đạt
91,68 triệu
đồng/người
Đạt
86,45 triệu
đồng/người
Đạt
89,31 triệu
đồng/người
Đạt
232
TT
TIÊU CHÍ
Trị An
Đồng Phú
Tân Khai
Lộc Ninh
Hiện trạng
Đánh
giá
Hiện trạng
Đánh
giá
Hiện trạng
Đánh
giá
Hiện trạng
Đánh
giá
trong 03 năm gần
nhất
(86 triệu
đồng/người)
5.5
Tỷ lệ hộ nghèo (theo
chuẩn nghèo đa
chiều) thấp hơn tỷ lệ
hộ nghèo của tỉnh
trong 03 năm gần
nhất
(0,28%/năm)
0%
Đạt
0,01%
Đạt
0%
Đạt
0%
Đạt

Bạn chưa Đăng nhập thành viên.

Đây là tiện ích dành cho tài khoản thành viên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, vui lòng Đăng ký tại đây!

Công văn 4534/UBND-KGVX của Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai về việc tổ chức lấy ý kiến Nhân dân đối với Đề án thành lập các phường và thành lập thành phố Đồng Nai trực thuộc Trung ương

văn bản tiếng việt

downloadCông văn 4534/UBND-KGVX (Bản PDF)

Vui lòng Đăng nhập để tải văn bản. Nếu chưa có tài khoản, vui lòng Đăng ký tại đây!

văn bản TIẾNG ANH

* Lưu ý: Để đọc được văn bản tải trên Luatvietnam.vn, bạn cần cài phần mềm đọc file DOC, DOCX và phần mềm đọc file PDF.

Bạn chưa Đăng nhập thành viên.

Đây là tiện ích dành cho tài khoản thành viên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, vui lòng Đăng ký tại đây!

văn bản cùng lĩnh vực

văn bản mới nhất

CHÍNH SÁCH BẢO VỆ DỮ LIỆU CÁ NHÂN
Yêu cầu hỗ trợYêu cầu hỗ trợ
Chú thích màu chỉ dẫn
Chú thích màu chỉ dẫn:
Các nội dung của VB này được VB khác thay đổi, hướng dẫn sẽ được làm nổi bật bằng các màu sắc:
Sửa đổi, bổ sung, đính chính
Thay thế
Hướng dẫn
Bãi bỏ
Bãi bỏ cụm từ
Bình luận
Click vào nội dung được bôi màu để xem chi tiết.
×