• Tổng quan
  • Nội dung
  • Tiêu chuẩn liên quan
  • Lược đồ
  • Tải về
Lưu
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao Vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem chi tiết.
Theo dõi VB
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao Vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem chi tiết.
Ghi chú
Báo lỗi
In

Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 10687-13:2025 IEC 61400-13:2015 with amendment 1:2021 Hệ thống phát điện gió - Phần 13: Đo tải trọng cơ học

Ngày cập nhật: Thứ Sáu, 21/11/2025 10:52 (GMT+7)
Số hiệu: TCVN 10687-13:2025 Loại văn bản: Tiêu chuẩn Việt Nam
Cơ quan ban hành: Bộ Khoa học và Công nghệ Lĩnh vực: Công nghiệp , Điện lực
Trích yếu: IEC 61400-13:2015 with amendment 1:2021 Hệ thống phát điện gió - Phần 13: Đo tải trọng cơ học
Ngày ban hành:
Ngày ban hành là ngày, tháng, năm văn bản được thông qua hoặc ký ban hành.
01/10/2025
Hiệu lực:
Đã biết
Tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao. Vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem chi tiết.
Người ký: Đang cập nhật
Tình trạng hiệu lực:
Cho biết trạng thái hiệu lực của văn bản đang tra cứu: Chưa áp dụng, Còn hiệu lực, Hết hiệu lực, Hết hiệu lực 1 phần; Đã sửa đổi, Đính chính hay Không còn phù hợp,...
Đã biết
Tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao. Vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem chi tiết.

TÓM TẮT TIÊU CHUẨN VIỆT NAM TCVN 10687-13:2025

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 10687-13:2025

Tải văn bản tiếng Việt (.pdf) Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 10687-13:2025 PDF (Bản có dấu đỏ)

Đây là tiện ích dành cho tài khoản thành viên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Tải văn bản tiếng Việt (.doc) Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 10687-13:2025 DOC (Bản Word)

Đây là tiện ích dành cho tài khoản thành viên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Tình trạng hiệu lực: Đã biết
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng hiệu lực: Đã biết

TIÊU CHUẨN QUỐC GIA

TCVN 10687-13:2025

IEC 61400-13:2015

WITH AMENDMENT 1:2021

HỆ THỐNG PHÁT ĐIỆN GIÓ - PHẦN 13: ĐO TẢI TRỌNG CƠ HỌC

Wind turbines -

Part 13: Measurement of mechanical loads

Lời nói đầu

TCVN 10687-13:2025 hoàn toàn tương đương với IEC 61400-13:2015 và sửa đổi 1:2021;

TCVN 10687-13:2025 do do Ban kỹ thuật tiêu chuẩn quốc gia TCVN/TC/E13 Năng lượng tái tạo biên soạn, Viện Tiêu chuẩn Chất lượng Việt Nam đề nghị, Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia thẩm định, Bộ Khoa học và Công nghệ công bố.

Bộ TCVN 10687 (IEC 61400), Hệ thống phát điện gió gồm các phần sau:

- TCVN 10687-1:2025 (IEC 61400-1:2019), Phần 1: Yêu cầu thiết kế

- TCVN 10687-3-1:2025 (IEC 61400-3-1:2019), Phần 3-1: Yêu cầu thiết kế đối với tuabin gió cố định ngoài khơi

- TCVN 10687-3-2:2025 (IEC 61400-3-2:2025), Phần 3-2: Yêu cầu thiết kế đối với tuabin gió nổi ngoài khơi

- TCVN 10687-4:2025 (IEC 61400-4:2025), Phần 4: Yêu cầu thiết kế hộp số tuabin gió

- TCVN 10687-5:2025 (IEC 61400-5:2020), Phần 5: Cánh tuabin gió

- TCVN 10687-6:2025 (IEC 61400-6:2020), Phần 6: Yêu cầu thiết kế tháp và móng

- TCVN 10687-11:2025 (IEC 61400-11:2012+AMD1:2018), Phần 11: Yêu cầu thiết kế tháp và móng

- TCVN 10687-12:2025 (IEC 61400-12:2022), Phần 12: Đo đặc tính công suất của tuabin gió phát điện - Tổng quan

- TCVN 10687-12-1:2023 (IEC 61400-12-1:2022), Phần 12-1: Đo hiệu suất năng lượng của tuabin gió phát điện

- TCVN 10687-12-2:2023 (IEC 61400-12-2:2022), Phần 12-2: Hiệu suất năng lượng của tuabin gió phát điện dựa trên phép đo gió trên vỏ tuabin

- TCVN 10687-12-3:2025 (IEC 61400-12-3:2022), Phần 12-3: Đặc tính công suất - Hiệu chuẩn theo vị trí dựa trên phép đo

- TCVN 10687-12-4:2023 (IEC TR 61400-12-4:2020), Phần 12-4: Hiệu chuẩn vị trí bằng số đối với thử nghiệm hiệu suất năng lượng của tuabin gió

- TCVN 10687-12-5:2025 (IEC 61400-12-5:2022), Phần 12-5: Đặc tính công suất - Đánh giá chướng ngại vật và địa hình

- TCVN 10687-12-6:2025 (IEC 61400-12-6:2022), Phần 12-6: Hàm truyền vỏ tuabin dựa trên phép đo của tuabin gió phát điện

- TCVN 10687-13:2025 (IEC 61400-13:2015+AMD1:2021), Phần 13: Đo tải cơ học

- TCVN 10687-14:2025 (IEC/TS 61400-14:2005), Phần 14: Công bố mức công suất âm biểu kiến và giá trị tính âm sắc

- TCVN 10687-21:2018 (IEC 61400-21:2008), Phần 21: Đo và đánh giá đặc tính chất lượng điện năng của tuabin gió nối lưới

- TCVN 10687-22:2018, Phần 22: Hướng dẫn thử nghiệm và chứng nhận sự phù hợp

- TCVN 10687-23:2025 (IEC 61400-23:2014), Phần 23: Thử nghiệm kết cấu đầy đủ của cánh rôto

- TCVN 10687-24:2025 (IEC 61400-24:2024), Phần 24: Bảo vệ chống sét

- TCVN 10687-25-1:2025 (IEC 61400-25-1:2017), Phần 25-1: Truyền thông để giám sát và điều khiển các nhà máy điện gió - Mô tả tổng thể các nguyên lý và mô hình

- TCVN 10687-25-2:2025 (IEC 61400-25-2:2015), Phần 25-2: Truyền thông để giám sát và điều khiển nhà máy điện gió - Mô hình thông tin

- TCVN 10687-25-3:2025 (IEC 61400-25-3:2015), Phần 25-3: Truyền thông để giám sát và điều khiển nhà máy điện gió - Mô hình dữ liệu

- TCVN 10687-25-4:2025 (IEC 61400-25-4:2016), Phần 25-4: Truyền thông để giám sát và điều khiển nhà máy điện gió - Ánh xạ hồ sơ truyền thông

- TCVN 10687-25-5:2025 (IEC 61400-25-5:2017), Phần 25-5: Truyền thông để giám sát và điều khiển nhà máy điện gió - Thử nghiệm sự phù hợp

- TCVN 10687-25-6:2025 (IEC 61400-25-6:2016), Phần 25-6: Truyền thông để giám sát và điều khiển nhà máy điện gió - Các lớp nút logic và các lớp dữ liệu để giám sát tình trạng

- TCVN 10687-25-71:2025 (IECTS 61400-25-71:2019), Phần 25-71: Truyền thông để giám sát và điều khiển nhà máy điện gió - Ngôn ngữ mô tả cấu hình

- TCVN 10687-26-1:2025 (IEC 61400-26-1:2019), Phần 26-1: Tính khả dụng của hệ thống phát điện gió

- TCVN 10687-27-1:2025 (IEC 61400-27-1:2020), Phần 27-1: Mô hình mô phỏng điện - Mô hình chung

- TCVN 10687-27-2:2025 (IEC 61400-27-2:2020), Phần 27-2: Mô hình mô phỏng điện - Xác nhận mô hình

- TCVN 10687-50:2025 (IEC 61400-50:2022), Phần 50: Đo gió - Tổng quan

- TCVN 10687-50-1:2025 (IEC 61400-50-1:2022), Phần 50-1: Đo gió - ứng dụng các thiết bị đo lắp trên cột khí tượng, vỏ tuabin và mũ hub

- TCVN 10687-50-2:2025 (IEC 61400-50-2:2022), Phần 50-2: Đo gió - ứng dụng công nghệ cảm biến từ xa lắp trên mặt đất

- TCVN 10687-50-3:2025 (IEC 61400-50-3:2022), Phần 50-3: Sử dụng lidar lắp trên vỏ tuabin để đo gió

 

HỆ THỐNG PHÁT ĐIỆN GIÓ - PHẦN 13: ĐO TẢI TRỌNG CƠ HỌC

Wind turbines -
Part 13: Measurement of mechanical loads

1 Phạm vi áp dụng

Tiêu chuẩn này mô tả việc đo tải trọng cấu trúc cơ bản trên tuabin gió cho mục đích xác nhận mô hình mô phỏng tải trọng. Tiêu chuẩn quy định các yêu cầu và khuyến nghị để lựa chọn địa điểm, lựa chọn tín hiệu, thu thập dữ liệu, hiệu chuẩn, kiểm tra xác nhận dữ liệu, trường hợp tải đo, ma trận thu thập, xử lý sau đo, độ không đảm bảo và báo cáo. Các phụ lục tham khảo cũng được cung cấp để hiểu thêm về các phương pháp thử nghiệm.

Các phương pháp được mô tả trong tiêu chuẩn này cũng có thể được sử dụng để đo tải trọng cơ học cho các mục đích khác như đạt được đại diện thống kê đo được về tải trọng, đo trực tiếp tải trọng thiết kế, thử nghiệm an toàn và chức năng hoặc đo tải trọng các bộ phận. Nếu các phương pháp này được sử dụng cho một mục tiêu khác hoặc cho một thiết kế tuabin gió không theo quy ước, các tín hiệu cần thiết, trường hợp tải đo, ma trận thu thập và phương pháp xử lý sau đó phải được đánh giá và nếu cần điều chỉnh để phù hợp với mục tiêu.

Các phương pháp này dành cho các tuabin gió phát điện trên bờ (HAWT) tạo ra điện trên bờ với diện tích quét rôto lớn hơn 200 m 2 . Tuy nhiên, các phương pháp được mô tả có thể áp dụng cho các tuabin gió khác (ví dụ: tuabin gió nhỏ, tuabin gió có ống gió, tuabin gió trục đứng).

2 Tài liệu viện dẫn

Các tài liệu viện dẫn sau đây rất cần thiết cho việc áp dụng tiêu chuẩn này. Đối với các tài liệu viện dẫn ghi năm công bố thì áp dụng phiên bản được nêu. Đối với các tài liệu viện dẫn không ghi năm công bố thì áp dụng phiên bản mới nhất, bao gồm cả các sửa đổi, bổ sung (nếu có).

TCVN 9595-3 (ISO/IEC Guide 98-3), Độ không đảm bảo đo - Phần 3: Hướng dẫn trình bày độ không đảm bảo đo (GUM:1995)

TCVN 10687-1:2015 (IEC 61400-1:2005) [1] ), Tuabin gió - Phần 1: Yêu cầu thiết kế

TCVN 10687-12-1 (IEC 61400-12-1), Hệ thống phát điện gió - Phần 12-1: Đo hiệu suất năng lượng của tuabin gió phát điện

IEC 60050 (tất cả các phần), International Electrotechnical Vocabulary (Từ vựng kỹ thuật điện quốc tế)

3 Thuật ngữ và định nghĩa

Tiêu chuẩn này sử dụng các thuật ngữ và định nghĩa được nêu tại IEC 60050-415, phần liên quan đến hệ thống tuabin gió hoặc năng lượng gió nói chung và các thuật ngữ và định nghĩa dưới đây:

3.1

Cánh (blade)

Bộ phận quay và hoạt động khí động học của rôto

3.2

Gốc cánh (blade root)

Phần của cánh được nối với hub của rôto.

3.3

Tình trạng phanh (brake status)

Trạng thái cho biết phanh có được kích hoạt hay không.

3.4

Hiệu chuẩn (calibration)

Xác định hàm truyền và các hệ số của nó từ tín hiệu đầu ra cảm biến đến giá trị vật lý.

3.5

Ma trận thu thập (capture matrix)

Việc tổ chức chuỗi thời gian đo được theo tốc độ gió trung bình và cường độ nhiễu động của chúng.

3.6

Đường dây cung (chord line)

Đường thẳng tưởng tượng nối mép trước và mép sau của mặt cắt cánh khí động.

3.7

Tốc độ gió đóng mạch (cut-in wind speed)

Tốc độ gió thấp nhất ở độ cao hub mà tại đó tuabin gió bắt đầu phát điện trong trường hợp gió ổn định không có nhiễu động.

3.8

Tốc độ gió ngắt mạch (cut-out wind speed)

Tốc độ gió cao nhất ở độ cao hub mà tại đó tuabin gió được thiết kế để phát điện trong trường hợp gió ổn định mà không bị nhiễu động.

3.9

Tải trọng thiết kế (design loads)

Tải trọng mà tuabin được thiết kế để chịu được.

Chú thích 1: Các tải trọng này được xác định bằng cách áp dụng các hệ số tải trọng từng phần thích hợp vào các giá trị đặc trưng.

3.10

Hướng cạnh cánh (edgewise)

Hướng song song với dây cung cánh cục bộ.

Chú thích 1: Ngược lại, tiến-lùi là hướng song song với mặt phẳng của bề mặt quét và vuông góc với trục dọc của cánh rôto không bị biến dạng.

3.11

Hướng bản cánh (flatwise)

Hướng vuông góc với dây cung cánh và trục dọc cánh.

Chú thích 1: Ngược lại, hướng vẫy cánh là hướng vuông góc với bề mặt được quét bởi trục cánh không biến dạng.

3.12

Hub (Hub)

Cấu kiện để gắn các cánh hoặc cụm cánh vào trục chính.

3.13

Vỏ tuabin (nacelle)

Vỏ chứa hệ thống truyền động và các thiết bị khác trên đỉnh tháp tuabin gió trục ngang (HAWT).

3.14

Tần số riêng (natural frequency/eigenfrequency)

Tần số tại đó kết cấu sẽ dao động khi bị nhiễu loạn và được phép dao động tự do.

3.15

Phía ngoài (outboard)

Hướng về phía đầu cánh.

3.16

Tuabin gió dừng (parked wind turbine)

Tuabin gió đang ở trạng thái đứng yên hoặc trạng thái không tải, tùy thuộc vào thiết kế của tuabin gió.

3.17

Công suất danh định (rated power)

Giá trị công suất được ấn định, thường bởi nhà sản xuất, cho một điều kiện hoạt động cụ thể của một thành phần, thiết bị hoặc máy móc.

Chú thích 1: Đối với một tuabin gió, đó là công suất điện liên tục tối đa mà một tuabin gió được thiết kế để đạt được dưới các điều kiện vận hành và môi trường bình thường.

Chú thích 2: Công suất danh định còn được gọi là công suất danh định.

3.18

Tốc độ gió danh định (rated wind speed)

Tốc độ gió tối thiểu tại độ cao hub mà công suất danh định của tuabin gió đạt được trong trường hợp gió ổn định không có nhiễu động.

3.19

Tốc độ gió tham chiếu (reference wind speed)

Thông số cơ bản cho tốc độ gió được sử dụng để xác định các cấp tuabin gió.

Chú thích 1: Các thông số khí hậu liên quan đến thiết kế khác được lấy từ tốc độ gió tham chiếu và các thông số cơ bản của loại tuabin gió khác.

Chú thích 2: Một tuabin được thiết kế cho một loại tuabin gió với tốc độ gió tham chiếu V ref được thiết kế để chịu được các điều kiện khí hậu mà tốc độ gió trung bình 10 min cực trị với chu kỳ lặp lại 50 năm tại độ cao hub tuabin thấp hơn hoặc bằng V ref .

3.20

Tâm rôto (rotor centre)

Điểm trên trục chính trong mặt phẳng vuông góc với trục chính có chứa gốc tọa độ cánh của cánh tham chiếu.

3.21

Mặt phẳng rôto (rotor plane)

Mặt phẳng vuông góc với trục chính và bao gồm tâm rôto.

3.22

Trạng thái vận hành ổn định (steady-state operation)

Trạng thái vận hành của tuabin được duy trì ở trạng thái ổn định như trong quá trình sản xuất điện, sản xuất điện + điều kiện sự cố và khi dừng và các điều kiện bên ngoài về cơ bản vẫn ổn định.

3.23

Sự kiện quá độ (transient event)

Sự kiện trong đó trạng thái vận hành của tuabin gió thay đổi, ví dụ như trong khi dừng.

3.24

Cường độ nhiễu động (turbulence intensity)

Tỷ lệ độ lệch chuẩn của tốc độ gió trong một khoảng thời gian mười phút nhất định với tốc độ gió trung bình trong cùng một khoảng thời gian mười phút

Chú thích 1: Đối với mục đích của ma trận thu thập, TI cần phải tương đương với TI sẽ được báo cáo bằng thiết bị đo gió dạng cốc trong trường hợp sử dụng kỹ thuật cảm biến khác.

3.25

Trượt gió (wind shear)

Sự biến đổi của tốc độ gió ngang ở độ cao trên mặt đất.

Chú thích 1: Biên dạng thường được sử dụng là biên dạng theo quy luật số mũ.

trong đó

V(z) là tốc độ gió tại độ cao z;

z là độ cao trên mặt đất;

z r là độ cao tham chiếu trên mặt đất, thường là độ cao hub;

α là hệ số trượt gió (hoặc số mũ)

3.26

Đổi hướng gió (wind veer)

Thay đổi hướng gió theo độ cao;

φ - φ(z r )

(2)

trong đó

φ là hướng gió;

z là độ cao trên mặt đất;

z r là độ cao tham chiếu trên mặt đất, thường là độ cao hub;

3.27

Độ lệch hướng xoay (yaw misalignment)

Góc ngang giữa hướng gió và trục chính.

3.28

Vị trí hướng xoay tuabin (yaw position)

Góc giữa hình chiếu đứng của đường tâm của trục chính trên đế tháp và hướng tham chiếu (ví dụ: hướng cực bắc thật, cực bắc từ, v.v.)

Chú thích 1: Chiều dương của vị trí hướng xoay tuabin theo chiều kim đồng hồ (nhìn từ trên xuống).

4 Ký hiệu, đơn vị và chữ viết tắt

σ Độ lệch chuẩn

σ xi Độ lệch chuẩn của giá trị trung bình trong tốc độ gió bin i

Ø F Góc xoay tuabin [°]

ƞ

Hiệu suất của các thành phần giữa điểm đo mômen xoắn trục chính và điểm đo công suất

[%]

φ

Hướng gió

[°]

Ω

Tốc độ rôto

[rad / s]

Π

Làm tròn lên đến giá trị số nguyên gần nhất

 

B

Số lượng cánh

 

C

Hằng số được sử dụng trong công thức đường cong S-N

 

C p

Hệ số công suất

 

C t

Hệ số lực đẩy

 

F

Tần số

[Hz]

F c

Tần số cắt của bộ lọc

[Hz]

F d

Băng thông hợp lệ

[Hz]

F s

Tần số lấy mẫu

[Hz]

I

Chỉ số cho tốc độ gió bin

 

j

Chỉ số cho mục số lượng tập dữ liệu trong bin tốc độ gió thứ i

 

L

Số lượng cánh được gắn thiết bị đo mômen xoắn gốc cánh

 

M bi

Mômen xoắn trong mặt phẳng gốc cánh

[Nm]

M be

Mômen xoắn theo hướng cạnh tại gốc cánh

[Nm]

M bf

Mômen xoắn theo hướng mặt tại gốc cánh

[Nm]

M tl

Mômen xoắn theo hướng ngang tại chân tháp

[Nm]

M tn

Cơ sở tháp thời điểm uốn bình thường

[Nm]

M tilt

Mômen nghiêng cánh

[Nm]

M ttl

Mômen theo hướng ngang tại đỉnh tháp

[Nm]

M ttn

Mômen xoắn theo hướng bình thường tại chân tháp

[Nm]

M ttt

Mômen xoắn đỉnh tháp

[Nm]

M x

Mômen xoắn trục chính

[Nm]

M yaw

Mômen xoay hướng rôto

[Nm]

M

Độ dốc của đường cong S-N

 

n i

Số chu kỳ trong cấp thứ i của phổ tải trọng mỏi

 

N

Số chu kỳ đến khi hỏng

 

N i

Số lượng tập dữ liệu 10 min trong bin thứ i

 

P

Công suất đầu ra của tuabin

[W]

P r

Công suất danh định

[W]

R eq

Tải trọng tương đương 1 Hz trong mười phút

[Nm]

R i

Tải trọng của dải Bin thứ i trong phổ tải trọng mỏi

[Nm]

S

Phạm vi tải trọng

[Nm, N]

TI

Cường độ nhiễu động

[%]

V hub

Tốc độ gió ở độ cao hub

[m/s]

v i

Tốc độ gió trung bình của bin tại bin tốc độ gió thứ i

[m/s]

v i,j

Tốc độ gió trung bình mười phút của tập dữ liệu j trong bin tốc độ gió thứ i

[m/s]

v in

Tốc độ gió đóng mạch

[m/s]

v out

Tốc độ gió ngắt mạch

[m/sj

v r

Tốc độ gió danh định

[m/s]

v ref

Tốc độ gió tham chiếu

[m/s]

V FSR

Phạm vi đầy đủ của hệ thống thu thập dữ liệu

[V]

x b , y b , z b

hệ trục tọa độ cánh (xem Hình A.1)

 

x h , y h , z h

Hệ trục tọa độ hub (xem Hình A.2)

 

x l

Số lượng đầu vào

 

x n , y n , z n

hệ trục tọa độ Vỏ tuabin (xem Hình A.3)

 

x t , y t , z t

Hệ trục tọa độ tháp (xem Hình A.4)

 

x i

Biến số trung bình của Bin đang đề cập trong bin tốc độ gió thứ i

 

x i,j

Biến số trung bình trong 10 min của tập dữ liệu j trong bin tốc độ gió thứ i

 

z

Chiều cao so với mặt đất

[m]

z r

Chiều cao tham chiếu so với mặt đất, độ cao hub thông thường

[m]

DAS

Hệ thống thu thập dữ liệu

 

DEL

Tải trọng phá hủy tương đương

 

DLC

Trường hợp tải trọng thiết kế

 

HAWT

Tuabin gió trục ngang

 

MLC

Trường hợp tải đo

 

PSD

Mật độ phổ công suất

 

TI

Cường độ nhiễu động

 

VAWT

Tuabin gió trục đứng

 

5 Quy định chung

5.1 Kết cấu của tiêu chuẩn

Tiêu chuẩn này được kết cấu để tuân theo quy trình chung cần có trong khi tiến hành thử nghiệm tải trọng cơ học:

• Điều 6 bao gồm các yêu cầu đối với vị trí thử nghiệm, trường hợp tải trọng đo và các đại lượng cần đo,

• Điều 7 bao gồm các yêu cầu về thiết bị được sử dụng,

• Điều 8 bao gồm các yêu cầu đối với hiệu chuẩn,

• Điều 9 bao gồm các khuyến nghị cho việc kiểm tra xác nhận dữ liệu (bao gồm cả việc kiểm tra xác nhận các hiệu chuẩn và các kiểm tra xác nhận cần được thực hiện trong suốt quá trình thu thập dữ liệu),

• Điều 10 bao gồm các yêu cầu cho việc xử lý sau,

• Điều 11 bao gồm các yêu cầu về ước lượng độ không đảm bảo, và

• Điều 12 bao gồm các yêu cầu đối với việc báo cáo kết quả.

Ngoài các phần quy định ở trên, tiêu chuẩn này còn có các phụ lục tham khảo bổ sung thông tin cho các phần quy định:

• Ví dụ về hệ tọa độ

• Phương pháp ước tính độ không đảm bảo

• Ví dụ về báo cáo kết quả

• Khuyến nghị thử nghiệm ngoài khơi

• Xác nhận mô hình tải trọng

• Phương pháp xác định xu hướng tốc độ gió

• Xem xét thiết kế thu thập dữ liệu

• Hiệu chuẩn các kênh tải trọng

• Trôi nhiệt độ

• Đo tải trọng trên tuabin gió trục đứng

5.2 An toàn trong quá trình thử nghiệm

Một số trường hợp tải đo (MLCs) bao gồm việc vận hành có chủ ý tuabin trong các điều kiện sự cố khắc nghiệt và/hoặc khẩn cấp (ví dụ: mất điện lưới). Vì mục đích của các thử nghiệm và đo trong hầu hết các trường hợp là để kiểm tra xác nhận tải trọng trên tuabin nguyên mẫu, nên không được giả định rằng tuabin sẽ hoạt động và đáp ứng như dự định. Do đó, các thử nghiệm như vậy phải luôn được coi là nguy hiểm và phải được quan tâm đúng mức vì sự an toàn của nhân viên. Trên cơ sở này, các thử nghiệm như vậy phải được bắt đầu và quan sát từ một vị trí an toàn, thường là ở một khoảng cách nhất định ngược gió của mặt phẳng rôto và chúng không nên được thực hiện với nhân viên bên trong hoặc trên vỏ hoặc trên tháp hoặc trong mặt phẳng rôto. Tất cả các thử nghiệm và quy trình thử nghiệm phải được thỏa thuận với nhà sản xuất tuabin trước khi thực hiện để đảm bảo rằng tính toàn vẹn của tuabin, và do đó an toàn của nhân viên, không bị tổn hại. Các yêu cầu từ các tiêu chuẩn an toàn hiện hành phải được tuân theo.

6 Yêu cầu thử nghiệm

6.1 Quy định chung

Trong điều 6, các yêu cầu cho thử nghiệm được mô tả, bao gồm các yêu cầu đối với:

• vị trí thử nghiệm,

• MLC và lượng dữ liệu cần thiết cho mỗi MLC,

• các đại lượng cần đo, và

• thay đổi cấu hình tuabin.

6.2 Yêu cầu về vị trí thử nghiệm

Điều kiện địa hình và gió phải có khả năng đáp ứng các yêu cầu của ma trận thu thập. Điều này đặc biệt đúng đối với các cấu hình tuabin sử dụng ma trận thu thập trong Bảng 4. Đánh giá chướng ngại vật và đánh giá địa hình phải được thực hiện theo TCVN 10687-12-1 (IEC 61400-12-1). Khu vực đo có thể được mở rộng ra ngoài khu vực được tìm thấy bằng cách sử dụng các phương pháp trong TCVN 10687-12-1 (IEC 61400-12-1) nếu có thể chỉ ra rằng tốc độ gió và TI đo được tại cột khí tượng là đại diện mà tuabin gió phải trải qua (ví dụ: tuabin và cột khí tượng trên sườn núi). Nếu vị trí thử nghiệm không đáp ứng các yêu cầu của TCVN 10687-12-1 (IEC 61400-12-1), cần thực hiện hiệu chuẩn theo vị trí. Cần lưu ý rằng địa hình bằng phẳng với nhiễu động thấp không phải là lý tưởng cho thử nghiệm tải trọng cơ học do thiếu khả năng kích thích động lực học tuabin gió.

Nói chung, yêu cầu độ chính xác đối với độ cao hub, tốc độ gió để kiểm tra tải trọng cơ học không nghiêm ngặt như đối với thử nghiệm đặc tính công suất. Tuy nhiên, nếu không có hiệu chuẩn địa điểm nào được thực hiện ở địa hình phức tạp, nơi có thể dự kiến các hệ số hiệu chỉnh lưu lượng lớn, có nguy cơ cao là dữ liệu thử nghiệm có thể không phù hợp để xác nhận mô hình.

CHÚ THÍCH: Khi chọn vị trí thử nghiệm, cần xem xét sự hiện diện của các điều kiện bên ngoài có thể ảnh hưởng đến khả năng xác nhận mô hình (ví dụ: thang độ dài, gió tầng thấp, trượt gió âm, v.v.).

6.3 Các trường hợp đo tải trọng

6.3.1 Quy định chung

Điy định chungtiy định chung ty định chMLC cịnh chung nh cịnh chungđúng. Trong trưhunghTrong trưhungtưrong trưhung MLC đưtrưhungđMLC theo DLC, đư, đưngtDLC TCVN 10687-1 (IEC 61400-1).

Các MLC xác định các điều kiện bên ngoài chính và các điều kiện vận hành của tuabin trong quá trình đo.

Các điều kiện bên ngoài bao gồm các đại lượng khí tượng như tốc độ gió, cường độ nhiễu động và khối lượng riêng của không khí.

Các điều kiện vận hành bao gồm các đại lượng vận hành như tốc độ quay, độ lệch hướng gió, công suất điện và góc nghiêng cánh. Các điều kiện vận hành phụ thuộc vào cấu hình của tuabin gió và phải được quy định cho từng trường hợp cụ thể.

Do đặc tính ngẫu nhiên của các điều kiện bên ngoài, các phép đo của một số MLC sẽ được lặp lại để giảm độ lệch thống kê. Số phép đo tối thiểu tại mỗi MLC được quy định trong điều này.

Các chuỗi thời gian đo được phân loại theo hai cách: một cách xem xét theo điều kiện vận hành ổn định và một cách xem xét theo điều kiện các trạng thái quá độ. Tất cả các chuỗi thời gian vận hành ổn định mặc định là mười phút.

Bảng 1, Bảng 2 và Bảng 3 cho thấy các MLC tối thiểu sẽ được ghi lại. Các MLC được xác định trong các bảng có thể không đầy đủ. MLC bổ sung có thể cần thiết tùy thuộc vào cấu tạo tuabin gió, chiến lược điều khiển và chiến lược an toàn.

6.3.2 MLC trong quá trình vận hành ở trạng thái ổn định

6.3.2.1 Sản xuất điện

Trong quá trình sản xuất điện, các phép đo phải được thực hiện giữa đóng mạch và ngắt mạch hoặc v r + 4 m/s (tùy thuộc vào cấu hình tuabin) (xem Bảng 4 và Bảng 5).

6.3.2.2 Dừng

Tải trọng trên tuabin gió đang dừng phải được đo. Các phép đo nên được thực hiện ở tốc độ gió càng cao càng tốt.

Bảng 1 - MLC trong quá trình vận hành ở trạng thái ổn định liên quan đến DLC được xác định trong TCVN 10687-1 (IEC 61400-1)

Số MLC

MLC

Số DLC

(TCVN 10687-1 (IEC 61400-1))

Nhận xét

1.1

Sản xuất điện

1.2

Trong chế độ vận hành này, tuabin gió đang chạy và kết nối với lưới điện

1.2

Dừng

6.4

Khi tuabin gió dừng, rôto có thể đứng yên hoặc chạy không tải

6.3.3 MLC trong các sự kiện quá độ

6.3.3.1 Khởi động

MLC này bao gồm tất cả các sự kiện dẫn đến tải trọng trên tuabin gió trong các quá trình quá độ từ đứng yên hoặc chạy không tải đến sản xuất điện. Việc khởi động tuabin bình thường phải được thực hiện ở tốc độ gió đóng mạch và ở tốc độ gió lớn hơn 2 m/s so với tốc độ gió danh định. Nếu tuabin hoạt động ở nhiều hơn một tốc độ cố định, việc đóng mạch ở các tốc độ quay khác nhau cũng phải được đánh giá.

6.3.3.2 Dừng bình thường

Tình huống thiết kế này bao gồm tất cả các sự kiện dẫn đến tải trọng trên tuabin gió trong thời gian quá độ bình thường do đi từ tình huống sản xuất điện sang điều kiện dừng. Việc dừng máy bình thường phải được thực hiện ở tốc độ gió đóng mạch, ở tốc độ gió danh định và trên tốc độ gió danh định.

6.3.3.3 Dừng khẩn cấp

Các tải trong thời gian dừng khẩn cấp sẽ được xem xét. Việc tắt máy này phải được thực hiện ở mức công suất danh định hoặc cao hơn.

6.3.3.4 Sự cố lưới điện

Các phụ tải trong sự cố lưới điện sẽ được xem xét. MLC này phải được thực hiện trong khi tuabin đang sản xuất công suất danh định, bằng cách sa thải nguồn điện bên ngoài cho tuabin gió dẫn đến tuabin gió dừng.

Bảng 2 - Đo các trường hợp tải quá độ liên quan đến DLC được xác định trong TCVN 10687-1 (IEC 61400-1)

Số MLC

MLC

DLC

Điều kiện mục tiêu

2.1

Khởi động

3.1

v in và > v r + 2 m/s

2.2

Dừng bình thường

4.1

v in , v r và > v r + 2 m/s

2.3

Dừng khẩn cấp (bằng nút nhấn)

5.1

P r

2.4

Sự cố lưới điện

2.4

P r

6.3.4 MLC cho đặc tính động

Bảng 3 cung cấp các trường hợp đo tải được khuyến nghị cho đặc tính động. Bảng này cũng cung cấp tần số mục tiêu cho mỗi MLC.

Bảng 3 - MLC cho đặc tính động

Số MLC

Trường hợp tải trọng đo

Điều kiện gió tại MLC

Tần số mục tiêu

Bình luận

3.1

Sản xuất điện

v in < v hub < v out a

Tần số cánh, tháp và hệ thống truyền động

Vận hành bình thường dưới tốc độ gió danh định và trên tốc độ gió danh định với tốc độ quay tương đối ổn định

3.2

Dừng

Tốc độ gió lớn a

Tần số cánh và tháp

Tuabin đang dừng (đứng yên hoặc chạy không tải)

3.3

Dừng khẩn cấp

v hub > v r

Tháp cánh và hệ thống truyền động

Tần số

Tần số của cánh, tháp và hệ thống truyền động

3.4

Bắt đầu/dừng xoay tuabin

Tốc độ gió thấp b

Tần số của cánh

Với cánh được gắn thiết bị đo ở vị trí nằm ngang, cánh bị kích thích bởi việc khởi động và dừng quay vỏ tuabin. Thử nghiệm phải được tiến hành với các cánh ở vị trí vận hành bình thường (nhắm tới tần số theo hướng mặt cánh) và với các cánh tuabin tới vị trí không tải (nhắm tới tần số hướng cạnh)

3.5

Kích thích bằng tay

Tốc độ gió thấp b

Tần số của cánh

 

a Đủ lớn để có được kích thích đầy đủ, điều này sẽ tùy thuộc vào từng loại tuabin gió cụ thể.

b Tốc độ gió đủ thấp để không bị kích thích bởi các tải trọng khí động học khác.

6.3.5 Ma trận thu thập

6.3.5.1 Quy định chung

Các ma trận thu thập được sử dụng để sắp xếp các chuỗi thời gian đo được. Ma trận thu thập có hai mục tiêu: được sử dụng để quy định dữ liệu yêu cầu tối thiểu cho từng trường hợp tải đo và có thể được sử dụng để báo cáo cơ sở dữ liệu thử nghiệm để chứng minh các yêu cầu dữ liệu tối thiểu đã được đáp ứng.

Số lượng bin trong ma trận phải được điều chỉnh cho từng quá trình đo cụ thể dựa trên các thông số kỹ thuật của tuabin (ví dụ: v inv r ).

6.3.5.2 Sản xuất điện

6.3.5.2.1 Quy định chung

Trong quá trình đo, dữ liệu nên được phân loại theo tốc độ gió và cường độ nhiễu động. Mặc dù không có yêu cầu về cường độ nhiễu động ở tốc độ gió cao, dữ liệu được ghi lại phải được phân loại theo các bin nhiễu động.

Đối với sản xuất điện, hai ma trận thu thập được cung cấp trong Bảng 4 và Bảng 5. Cả hai ma trận thu thập này đều sử dụng bin tốc độ gió rộng 1 m/s và bin cường độ nhiễu động rộng 2 %. Ranh giới của các bin được xác định bởi các thông số kỹ thuật của tuabin (v in , v r , v out ). Đối với mục đích xác định ranh giới bin v in , v R v out phải được làm tròn lên gần nhất tốc độ gió số nguyên (được biểu thị bằng II)

Để chuỗi thời gian được tính vào các yêu cầu dữ liệu tối thiểu:

• Hướng gió trung bình mười phút nằm trong khu vực đo (xem 6.2).

• Tất cả các tín hiệu bắt buộc trong Bảng 9, Bảng 11 và Bảng 12 phải có hiệu lực.

• Dữ liệu không được ghi lại trong các điều kiện bất thường (tuabin hoặc môi trường, chẳng hạn như băng trên cánh hoặc thay đổi hướng cực trị trong gió).

• Tuabin phải sản xuất điện trong thời gian mười phút.

6.3.5.2.2 Sản xuất điện - tuabin điều khiển stall [2]

Bảng 4 sẽ được sử dụng cho các tuabin gió được điều khiển bằng stall (cả thụ động và chủ động). Bản chất vốn có của các tuabin gió được điều chỉnh bằng stall, là thực tế là các cánh tiếp tục nhìn thấy góc tấn cao hơn với tốc độ gió tăng lên trên các điều kiện danh định. Vì lý do này cộng với tầm quan trọng ngày càng tăng của khí động lực học không ổn định (stall động, wake động, động lực học xoay), việc thu thập dữ liệu trong toàn bộ vùng hoạt động của tuabin là rất quan trọng, với sự chú trọng nhiều nhất có thể vào các mức gió cao hơn.

Lưu ý rằng ranh giới của các bin không phụ thuộc vào tốc độ gió danh định của tuabin gió:

• Đối với mỗi bin tốc độ gió trên v in và nhỏ hơn hoặc bằng 12 m/s, phải thu thập hoặc 20 chuỗi thời gian 10 min hoặc ít nhất một bin TI có 6 chuỗi thời gian 10 min trong đó. Chỉ các chuỗi thời gian có giá trị TI lớn hơn 5 % mới được tính để đáp ứng yêu cầu này.

• Đối với mỗi bin tốc độ gió trên 12 m/s và nhỏ hơn hoặc bằng 16 m/s, tối thiểu 20 chuỗi thời gian phải được thu thập hoặc ít nhất một bin TI phải có 6 chuỗi thời gian 10 min trong đó.

• Đối với mỗi bin tốc độ gió trên 16 m/s và nhỏ hơn hoặc bằng 20 m/s, phải thu tối thiểu 8 chuỗi thời gian.

• Đối với phạm vi tốc độ gió trên 20 m/s và nhỏ hơn hoặc bằng v out phải thu thập tối thiểu 8 chuỗi thời gian.

Bảng 4 - Ma trận thu thập cho tuabin gió không điều khiển stall để sản xuất điện bình thường

 

Sản xuất điện bình thường

Cỡ bin tốc độ gió: 1 m/s

Cỡ bin cường độ nhiễu động: 2 %

Độ dài chuỗi thời gian

10 min

Phạm vi tốc độ gió b m/s

v in đến 12

12 đến 16

16 đến 20

20 đến v out

Gió b (m/s)

=>

Tl b (%)

...

4-5

...

11-

12

12-

13

13-

14

14-

15

15-

16

16-

17

...

19-

20

>29

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

8 chuỗi thời gian (tổng cộng, không phải cho mỗi 1 m/s bin)

27-29

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

....

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

5-7

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

<5...

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Yêu cầu giữ liệu tối thiểu

20 chuỗi thời gian cho mỗi 1 m/s bin a

Hoặc

một bin TI với 6 chuỗi thời gian cho 1 m/s bin a

20 chuỗi thời gian cho mỗi 1 m/s bin

Hoặc một bin TI với 6 chuỗi thời gian cho 1 m/s bin

8 chuỗi thời gian cho mỗi 1 m/s bin

a Chuỗi thời gian được tính vào cả hai tiêu chí trên sẽ có TI > 5%

b Đối với tất cả các khoảng tốc độ gió và cường độ nhiễu động trong bảng này, giới hạn trên của mỗi khoảng được bao gồm (ví dụ: 4-5 bao gồm 4 < v ≤ 5 m/s)

c Nếu v out nhỏ hơn hoặc bằng 20 m/s thì chỉ yêu cầu các phép đo đến v out .

6.3.5.2.3 Sản xuất điện - tuabin không điều khiển bằng stall

Bảng 5 phải được sử dụng cho tất cả các tuabin không điều khiển stall (như là góc nghiêng cánh tới không tải).

• Đối với mỗi bin tốc độ gió trên v in và nhỏ hơn hoặc bằng v r - 2, phải thu thập 20 chuỗi thời gian 10 min hoặc ít nhất một bin TI có giá trị lớn hơn 5 % sẽ có 6 chuỗi thời gian 10 min trong đó.

• Đối với mỗi bin tốc độ gió trên v r - 2 và nhỏ hơn hoặc bằng to v r + 2, tối thiểu 20 chuỗi thời gian phải được thu thập.

• Đối với mỗi bin tốc độ gió trên to v r + 2 và nhỏ hơn hoặc bằng v r + 4, tối thiểu 10 chuỗi thời gian phải được thu thập.

Bảng 5 - Ma trận thu thập để sản xuất điện bình thường cho các tuabin gió không điều khiển bằng stall

 

Sản xuất điện bình thường

Cỡ bin tốc độ gió: 1 m/s

Cỡ bin cường độ nhiễu động: 2 %

Độ dài chuỗi thời gian

10 min

Phạm vi tốc độ gió b m/s

đến -2

- 2 đến +2

+2 đến -4

Gió b (m/s) =>

Tlb(%)

...

4-5

...

 

 

 

 

 

 

>29

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

27-29

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

...

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

5-7

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

<5...

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Yêu cầu giữ liệu tối thiểu

20 chuỗi thời gian cho mỗi 1 m/s bin a Hoặc

một bin TI với 6 chuỗi thời gian cho 1 m/s bin a

20 chuỗi thời gian cho mỗi 1 m/s bin

Hoặc

một bin TI với 6 chuỗi thời gian cho 1 m/s bin

8 chuỗi thời gian cho mỗi

1 m/s bin

a Chuỗi thời gian được tính cho cả hai tiêu chí trên sẽ có TI > 5 %

b Đối với tất cả các khoảng tốc độ gió và cường độ nhiễu động trong bảng này, giới hạn trên của mỗi bin được bao gồm (ví dụ: 4-5 bao gồm 4 < v ≤ 5 m/s).

6.3.5.3 Dừng

Trường hợp đo tải trọng dừng có tuabin ở trạng thái dừng bình thường nó sẽ ở tốc độ gió trên v out (đứng yên hoặc chạy không tải). Một chuỗi thời gian sẽ được thu thập với các giá trị mục tiêu là độ lệch hướng xoay 30°, một với độ lệch hướng xoay 0° và một với độ lệch hướng xoay -30° (xem Bảng 6).

Khi nhiều bộ dữ liệu được thu thập hơn mức tối thiểu được liệt kê trong ma trận thu thập, chỉ cần báo cáo yêu cầu tối thiểu.

Bảng 6 - Ma trận thu thập cho điều kiện dừng

Dừng

Độ dài bàn ghi chuỗi thời gian

10 min

Chế độ dừng

trạng thái dừng bình thường của tuabin sẽ ở trên tốc độ gió ngắt mạch (ví dụ: chạy không tải, đứng yên)

Độ lệch hướng xoay mục tiêu

-30

0

30

Tốc độ gió trung bình

> v r m/s

> v r m/s

> v r m/s

Yêu cầu dữ liệu tối thiểu

1

1

1

6.3.5.4 Sự kiện quá độ

Ma trận thu thập dữ liệu cho các sự kiện quá độ được cho trong Bảng 7 và Bảng 8. Bảng 7 chỉ ra số lần lặp tối thiểu và phạm vi tốc độ gió cần thiết. Tốc độ gió này được đo tại thời điểm bắt đầu của sự kiện quá độ. Dừng khẩn cấp và sự cố lưới điện phải được tiến hành ở công suất danh định.

Bảng 7 - Ma trận thu thập cho các sự kiện quá độ bình thường

Các sự kiện khởi động và dừng bình thường

Sự kiện

Tốc độ gió a,b

(v in đến v r - 2)

(v r - 2 đến v r + 2)

> v r + 2

Khởi động

Số lần lặp lại yêu cầu tối thiểu

3

-

3

Dừng bình thường

Số lần lặp lại yêu cầu tối thiểu

3

3

3

a Tốc độ gió là tốc độ gió khi sự kiện quá độ được kích hoạt

b Phạm vi tốc độ gió bao gồm cả giới hạn trên (ví dụ: v in < v ≤ v r - 2).

Bảng 8 - Ma trận thu thập cho các sự kiện quá độ không phải là các sự kiện quá độ bình thường

Các sự kiện quá độ khác

Sự kiện

Điều kiện mục tiêu

Số lần lặp lại yêu cầu tối thiểu

Dừng khẩn cấp

P r

3

Sự cố lưới điện

P r

3

6.4 Các đại lượng cần đo

6.4.1 Quy định chung

Mục tiêu chính của đo tải cơ học là kiểm tra xác nhận mô hình tải trọng thiết kế của loại tuabin gió được thử nghiệm. Điều này được thực hiện bằng cách lặp lại phân tích khí động học đàn hồi với các tham số mô hình được điều chỉnh để phù hợp với điều kiện vị trí đo. Do đó, điều cần thiết là phải có một đại diện tốt về các các đại lượng khí tượng cũng như các đại lượng vận hành để có khả năng so sánh các đại lượng tải trọng đo được và mô phỏng.

Các đại lượng vật lý liên quan được xác định để mô tả tải trọng của tuabin gió có thể được phân loại thành:

• đại lượng tải trọng (ví dụ: tải trọng cánh, tải trọng rôto và tải trọng tháp);

• đại lượng khí tượng (ví dụ, tốc độ và hướng gió, khối lượng riêng của không khí);

• đại lượng vận hành (ví dụ, công suất, tốc độ quay, các góc nghiêng, độ lệch hướng xoay tuabin, góc phương vị rôto)

Trong 6.4.2, thông số kỹ thuật chi tiết hơn được đưa ra cho các loại đại lượng đo khác nhau.

Các phép đo bắt buộc và được khuyến nghị như được liệt kê trong Bảng 9, Bảng 10, Bảng 11 và Bảng 12 là cần thiết để xác nhận mô hình. Có nguy cơ bỏ qua các kênh được đề xuất. Các kênh được đề xuất có thể hữu ích khi giải thích sự khác biệt giữa dữ liệu mô phỏng và dữ liệu đo được.

Bảng 9, Bảng 11 và Bảng 12 nêu rõ các yêu cầu tối thiểu đối với quá trình đo. Những yêu cầu này áp dụng cho tuabin có điều khiển góc cánh, sử dụng tháp thép dạng ống và cánh thiết kế đơn giản. Đối với các thiết kế đặc biệt, chẳng hạn như tháp hybrid, cánh nối hybrid hoặc cánh nối hai bộ phận, điều khiển khí động học chủ động trên cánh, hoặc hub bập bênh, có thể cần bổ sung các phép đo (ví dụ: trạng thái mở cánh phụ, góc lắc) để xác nhận mô hình.

6.4.2 Đại lượng tải trọng

Các tải trọng cơ bản cần được đo được liệt kê tại Bảng 9. Đây là những tải trọng chính tác động lên các vị trí quan trọng trong kết cấu của tuabin gió, từ đó có thể tính toán tải trọng tác động lên các thành phần kết cấu liên quan của tuabin. Các thành phần tải trọng cơ bản cũng được minh họa trong Hình 1.

Bảng 9 - Các đại lượng tải trọng cơ bản của tuabin gió

Đại lượng tải trọng

Mức độ quan trọng

Mômen xoắn theo hướng bản cánh tại gốc cánh (M bf )

Bắt buộc 1 cánh, khuyến nghị thêm cánh bổ sung

Mômen xoắn theo hướng cạnh cánh tại gốc cánh (M be )

Bắt buộc 1 cánh, khuyến nghị thêm cánh bổ sung

Mômen lật rôto (M tilt )

Bắt buộc

Mômen xoay rôto (M yaw )

Bắt buộc

Mômen xoắn rôto (M x )

Bắt buộc

Mômen xoắn theo hướng bình thường tại chân tháp (M tl )

Bắt buộc

Mômen xoắn theo hướng ngang tại chân tháp (M tl )

Bắt buộc

Hình 1 - Các tải trọng cơ bản của tuabin gió: tải trọng tháp, rôto và cánh

Đối với tuabin có công suất danh định lớn hơn 1 500 kW và đường kính rôto lớn hơn 75 m, cần có thêm đại lượng như trong Bảng 10. Các tín hiệu để đo các đại lượng trong Bảng 10 phải được lắp đặt và trong trường hợp tín hiệu bị lỗi phải được sửa chữa nếu có thể.

Phép đo trên cánh thứ hai được yêu cầu để kiểm tra xác nhận đáp ứng tương tự của cánh và việc hiệu chuẩn đúng. Phép đo của cánh thứ hai có thể không cần phải bao trùm toàn bộ ma trận thu thập nếu điều này có thể được chứng minh.

Bảng 10 - Các đại lượng tải trọng bổ sung cho tuabin có công suất danh định lớn hơn 1 500 kW và đường kính rôto lớn hơn 75 m

Đại lượng tải trọng

Mức độ quan trọng

Phân bố mômen xoắn theo hướng bản cánh

Hai cánh bắt buộc,

khuyến nghị thêm cánh bổ sung

Phân bố mômen xoắn theo hướng cạnh cánh

Hai cánh bắt buộc,

khuyến nghị thêm cánh bổ sung

Mômen xoắn theo hướng bản cánh tại gốc cánh

Hai cánh bắt buộc,

khuyến nghị thêm cánh bổ sung

Mômen xoắn theo hướng cạnh cạnh tại gốc cánh

Hai cánh bắt buộc,

khuyến nghị thêm cánh bổ sung

Tần số xoắn của cánh và độ giảm chấn

Khuyến nghị

Các tải trọng dẫn động góc nghiêng

Một cánh bắt buộc

Gia tốc đỉnh tháp theo hướng pháp tuyến

Bắt buộc khi sử dụng để phản hồi bộ điều khiển

Gia tốc trên đỉnh tháp theo hướng ngang

Bắt buộc khi sử dụng để phản hồi bộ điều khiển

Mômen theo hướng pháp tuyến giữa tháp

Khuyến nghị

Mômen ngang giữa tháp

Khuyến nghị

Mômen theo hướng pháp tuyến tại đỉnh tháp

Bắt buộc

Mômen theo hướng ngang tại đỉnh tháp

Bắt buộc

Mômen xoắn của tháp

Bắt buộc

6.4.3 Đại lượng khí tượng

Bảng 11 liệt kê các đại lượng khí tượng cần đo trong các chương trình đo tải.

Bảng 11 - Các đại lượng đo khí tượng

Đại lượng

Mức độ quan trọng

Tốc độ gió ở độ cao hub

Bắt buộc

Trượt gió theo phương đứng (dưới độ cao hub)

Bắt buộc

Trượt gió theo phương đứng (trên độ cao hub)

Khuyến nghị

Độ thay đổi hướng gió theo phương thẳng đứng

Khuyến nghị

Góc hướng lên của dòng khí/góc nghiêng dòng khí gần độ cao hub

Khuyến nghị

Cường độ nhiễu động (theo phương ngang) tại độ cao hub

Bắt buộc

Hướng gió tại độ cao hub

Bắt buộc

Khối lượng riêng của không khí

Bắt buộc

Cường độ nhiễu động (3D) ở độ cao hub

Khuyến nghị

Khả năng đóng băng

Khuyến nghị

Ổn định khí quyển

Khuyến nghị

6.4.4 Đại lượng vận hành của tuabin gió

Bảng 12 liệt kê các đại lượng vận hành cần đo.

Bảng 12 - Các đại lượng vận hành của tuabin gió

Đại lượng

Mức độ quan trọng

Công suất điện

Bắt buộc

Tốc độ rôto hoặc tốc độ máy phát

Bắt buộc

Độ lệch hướng xoay tuabin

Bắt buộc

Góc phương vị cánh

Bắt buộc

Vị trí nghiêng của tất cả các cánh có gắn thiết bị đo, tín hiệu ra của bộ điều khiển tuabin

Bắt buộc cho tất cả các cánh có gắn thiết bị đo

Khuyến nghị cho tất cả các cánh

Tốc độ nghiêng

Bắt buộc

Tình trạng phanh

Bắt buộc

Mômen phanh (nếu không đo được, sử dụng áp suất phanh) a

Khuyến nghị

Tình trạng tuabin gió

Bắt buộc

CHÚ THÍCH: Tốc độ nghiêng có thể suy ra từ vị trí nghiêng

a Nếu thiết bị phanh cơ học là một phần của hệ thống phành chính (ví dụ: trong các tuabin điều khiển stall), việc đo mômen phanh là bắt buộc.

Thông tin về tình trạng tuabin (ví dụ: nối lưới điện, dừng khẩn cấp, kích hoạt hệ thống bảo vệ, v.v.) là cần thiết để phân loại đúng dữ liệu đã ghi.

Tín hiệu tình trạng tuabin phải cho biết các điều kiện trực tuyến/ngoại tuyến và bị sự cố/không bị sự cố. Trong những trường hợp một số chế độ vận hành (ví dụ: chế độ giảm tiếng ồn, kiểm soát tải) được triển khai trong đợt đo tải, khuyến nghị cũng nên thu thập thêm tín hiệu để cho phép tự động phát hiện các chế độ khác nhau đó.

6.5 Thay đổi cấu hình tuabin

Không được thực hiện bất kỳ thay đổi nào có thể ảnh hưởng đến kết quả thử nghiệm được thực hiện đối với tuabin thử nghiệm trong quá trình thử nghiệm. Bất kỳ thay đổi nào đã được thực hiện đối với tuabin phải được nhà sản xuất báo cáo và phải được đưa vào báo cáo thử nghiệm.

Nhà sản xuất sẽ phân loại các thay đổi thành các loại sau:

1) Thay đổi mà không có bất kỳ tác động đáng kể nào đến tải

Dữ liệu từ trước và sau khi thay đổi có thể được sử dụng trong cùng một cơ sở dữ liệu.

2) Những thay đổi có tác động đáng kể đến tải

a) Thay đổi tạm thời: dữ liệu này sẽ được loại trừ khỏi cơ sở dữ liệu.

b) Các thay đổi kéo dài, mặc dù chúng có thể được mô phỏng chéo với cùng một mô hình mô phỏng sau khi thực hiện cùng một thay đổi trong mô hình. Những khoảng thời gian này phải được tách ra vào một cơ sở dữ liệu riêng biệt.

c) Những thay đổi nhằm khắc phục sự cố và đưa tuabin trở về trạng thái hoạt động đúng như thiết kế ban đầu. Trong trường hợp này, đợt đo sẽ phải được khởi động lại.

Các yêu cầu ma trận thu thập (xem 6.3.5) phải được đáp ứng với ít nhất một cấu hình trong đó không có thay đổi nào được thực hiện với tác động đáng kể đến tải.

7 Thiết bị đo

7.1 Đại lượng tải trọng

7.1.1 Các loại cảm biến

Cảm biến tải là một thiết bị đo trực tiếp hoặc gián tiếp tải trọng tác động lên hệ thống hoặc bộ phận. Các thiết bị điển hình bao gồm, nhưng không giới hạn ở:

• cầu đo biến dạng;

• cảm biến tải trọng/ống mômen xoắn (bao gồm cả cảm biến áp điện).

Đối với tuabin gió, hiếm khi có thể đặt cảm biến tải trọng trong đường dẫn tải chính. Vì lý do này cảm biến đo biến dạng được áp dụng cho cấu trúc được chọn làm loại cảm biến được khuyến nghị và do đó các điều khoản phụ sau đây tập trung vào việc sử dụng cảm biến đo biến dạng điện. Nếu sử dụng cảm biến tải trọng thay thế, các yêu cầu phải được điều chỉnh cho phù hợp. Cảm biến tải được hiệu chuẩn bằng cách áp dụng tải gần như tĩnh. Điều quan trọng là nhận thấy rằng đáp ứng động lực học của cấu trúc hoặc bộ phận có thể làm thay đổi mối quan hệ này, dẫn đến việc cảm biến biến dạng hiển thị tải trọng bên trong tổng cộng thay vì các tải trọng tác động bên ngoài. Trong ứng dụng cảm biến đo biến dạng, điều quan trọng là tránh các hiệu ứng nhiệt độ của dây và độ nhạy chéo, đồng thời đảm bảo bù nhiệt độ thích hợp. Độ nhạy chéo là đặc tính không mong muốn của hệ thống đo là nhạy cảm với các nguồn tải khác nhau, khiến hệ thống khó hoặc không thể phân biệt giữa chúng. Các thiết kế cầu đo biến dạng toàn phần cung cấp khả năng giảm độ nhạy chéo và ảnh hưởng nhiệt độ tốt, và thường được ưu tiên cho hầu hết các ứng dụng tuabin gió. Để cho phép đánh giá và hiệu chỉnh các hiệu ứng nhiệt độ, nên đo nhiệt độ bề mặt gần các vị trí đo biến dạng (xem Phụ lục I).

7.1.2 Lựa chọn vị trí cảm biến

Trong quá trình lựa chọn vị trí cảm biến để đo tải trọng kết cấu tổng thể, nên chọn một vị trí mà:

• có độ biến dạng cao trên mỗi đơn vị mức tải;

• cung cấp một mối quan hệ tuyến tính giữa ứng suất và tải;

• nằm trong vùng ứng suất đồng đều (tức là không chịu độ dốc ứng suất / biến dạng cao, tránh gia tăng hoặc tập trung ứng suất cục bộ);

• có không gian để lắp đặt cảm biến;

• cho phép bù nhiệt độ;

• được làm bằng vật liệu đẳng hướng (ví dụ, thép thích hợp hơn vật liệu composite);

• được làm bằng vật liệu mà các thiết bị đo có thể dễ dàng cố định hoặc liên kết.

7.1.3 Đo mômen uốn tại gốc cánh

Cần tiến hành đo moment uốn theo hướng mặt và hướng cạnh.

Để dễ dàng trong việc xử lý, chống sét và bảo vệ môi trường, nên lắp đặt cảm biến bên trong cánh thay vì trên bề mặt ngoài nếu có thể.

Cầu đo biến dạng nên được lắp vuông góc với phần gốc cánh gần như hình trụ để giảm thiểu độ nhạy chéo. Bất kể vị trí lắp đặt ở đâu, độ nhạy chéo cần được đo và xử lý (Ví dụ thông qua việc hiệu chỉnh hoặc tăng độ không đảm bảo). Để dễ dàng cho việc phân tích, bộ cảm biến cần được định hướng theo hệ tọa độ của cánh.

7.1.4 Phân bổ mômen xoắn của cánh

Phân bố mômen xoắn của cánh có thể được đo thông qua việc sử dụng thêm các bộ cảm biến biến dạng, đặt tại mặt cắt ngang ở khoảng 30% bán kính rôto hoặc xa nhất có thể lên đến 50%. Các yêu cầu khác từ 7.1.2 và 7.1.3 cũng cần tuân theo. Đối với việc xác định phân bố mômen xoắn, cần làm rõ hệ tọa độ được sử dụng.

7.1.5 Tần số xoắn/sự giảm chấn của cánh

Tần số xoắn thứ nhất và độ giảm chấn của cánh có thể được tính toán bằng cách đo độ biến dạng với cầu đo biến dạng xoắn bán phần hoặc toàn phần, thông qua phân tích mô hình vận hành. Vì cả tần số và sự giảm chấn đều không yêu cầu phụ thuộc vào độ lớn tuyệt đối của phép đo, nên không cần hiệu chuẩn tín hiệu này.

7.1.6 Mômen xoay và mômen nghiêng rôto

Tải không đối xứng trên rôto cần được đo dọc theo đường tải chính, càng gần rôto càng tốt.

Phương pháp đo mômen xoay và mômen nghiêng được thông qua hai cầu đo biến dạng uốn theo phương vuông góc với nhau trên trục chính cùng với việc đo vị trí phương vị của hub. Khuyến nghị lắp đặt cảm biến biến dạng trên trục chính sao cho thẳng hàng với cánh được trang bị cảm biến.

Trong trường hợp không thể gắn cảm biến biến dạng trên trục, cần lắp đặt cảm biến đo mômen uốn trong hệ thống không quay, trên giá đỡ trục hoặc đỉnh tháp.

7.1.7 Đo mômen xoắn của rôto

Các cảm biến biến dạng để đo mômen xoắn của trục chính bao gồm một cầu đo toàn phần với các cặp cảm biến ở hai bên đối diện của trục. Việc sử dụng cầu đo chỉ ở một điểm trên bề mặt trục sẽ khiến lực cắt do uốn và tải trọng ngang được diễn giải là mômen xoắn. Nếu không thể đo mômen xoắn trực tiếp trên trục, có thể sử dụng cảm biến uốn tại đỉnh tháp và vỏ tuabin của khoang động cơ. Công suất và tốc độ rôto không thể thay thế cho việc đo mômen xoắn.

7.1.8 Đo mômen uốn tại chân tháp

Việc đo mômen uốn tại chân tháp cần được thực hiện theo hai hướng vuông góc đối với tháp hình ống. Các mômen xoắn tại chân tháp sẽ được đo bằng cầu đo biến dạng toàn phần, được lắp đặt ở phần dưới 20 % chiều cao tháp, càng gần mặt bích chân tháp càng tốt, đồng thời tránh các nhiễu động do ảnh hưởng của tải trọng lên mặt bích chân tháp, cửa, v.v. Theo nguyên tắc chung, các cảm biến tại chân tháp nên được đặt cách ít nhất một đường kính của tháp so với bất kỳ mặt bích nào.

Đối với tháp có dây chằng, phép đo tại chân tháp có thể được thay thế bằng việc đo trên điểm gắn dây chằng. Nếu các dây chằng đóng vai trò là yếu tố kết cấu chính, cần phải giám sát lực trong từng dây.

Tháp dạng giàn sẽ yêu cầu đo ứng suất trên tất cả các chân đỡ để tính toán tải trọng tổng hợp tại chân tháp cho tất cả các hướng gió. cần thực hiện một đánh giá chuyên sâu về dạng ứng suất trong tháp giàn và tác động của nó đối với các phép đo.

7.1.9 Mômen xoắn tại đỉnh tháp

Các mômen xoắn tại đỉnh tháp sẽ được đo bằng cầu đo biến dạng toàn phần, được lắp đặt ở phần trên 20 % chiều cao tháp, càng gần mặt bích đỉnh tháp càng tốt, đồng thời tránh các nhiễu động do ảnh hưởng của tải trọng. Một quy tắc chung là cảm biến tại đỉnh tháp nên được lắp đặt cách ít nhất một đường kính đỉnh tháp so với mặt bích đỉnh tháp. Nếu mômen xoắn ở đỉnh tháp được sử dụng để xác định mômen xoắn rôto và mômen tilt rôto, mômen xoắn sẽ được đo ở vị trí cao nhất mà có thể thực hiện được các phép đo đáng tin cậy.

7.1.10 Mômen xoắn tại giữa tháp

Các mômen xoắn tại giữa tháp nên được đo bằng cầu đo biến dạng toàn phần, được lắp đặt ở trong khoảng 30 % đến 70 % chiều cao tháp. Lưu ý rằng các phép đo nên được thực hiện cách bất kỳ mặt bích nào của tháp ít nhất một đường kính tháp, hoặc cần xem xét các ảnh hưởng từ mặt bích đối với các phép đo, như sự tập trung ứng suất hoặc việc hạn chế giãn nở nhiệt của vật liệu thành tháp.

7.1.11 Mômen xoắn của tháp

Các mômen xoắn tại đỉnh tháp phải được đo bằng cầu đo biến dạng toàn phần, được lắp đặt ở phần trên 20 % chiều cao tháp, càng gần mặt bích đỉnh tháp càng tốt, đồng thời tránh các nhiễu động do ảnh hưởng của tải trọng. Theo nguyên tắc chung, các cảm biến tại đỉnh tháp nên được đặt cách ít nhất một đường kính đỉnh tháp so với mặt bích tại đỉnh tháp.

7.1.12 Gia tốc tại đỉnh tháp

Gia tốc tại đỉnh tháp nên được đo bằng cảm biến gia tốc. Các cảm biến gia tốc cần được lắp đặt ở phần của vỏ tuabin mà xoay cùng với rôto. Khi chọn cảm biến gia tốc, cần chú ý đến độ trễ pha tần số thấp và các đặc điểm biên độ của chúng.

7.1.13 Các tải dẫn động góc nghiêng (ở phía hub của ổ trục nghiêng cánh)

Tải trọng (mômen xoắn hoặc lực) dùng để dẫn động góc pitch phải được đo ở phía hub của ổ trục nghiêng cánh. Tải trọng có thể được đo trực tiếp (ví dụ cảm biến đo biến dạng hoặc cảm biến tải trọng) hoặc gián tiếp (Ví dụ, công suất điện và tốc độ vòng quay hoặc áp suất dầu thủy lực của bộ dẫn động).

7.2 Các đại lượng khí tượng

7.2.1 Yêu cầu đo và lắp đặt

Cần tuân thủ các yêu cầu trong tiêu chuẩn TCVN 10687-12-1 (IEC 61400-12-1) đối với việc đo và lắp đặt tất cả các đại lượng khí tượng. Cường độ nhiễu động được xác định như thể đo bằng cảm biến đo gió ở độ cao hub (siêu âm hoặc cốc). Nếu sử dụng các kỹ thuật cảm biến tốc độ gió khác, cường độ nhiễu động thu được phải tương đương với kết quả đo được bằng cảm biến đo gió siêu âm hoặc cốc.

7.2.2 Nguy cơ đóng băng

Nguy cơ đóng băng có thể được đo bằng cách đo nhiệt độ không khí riêng lẻ hoặc kết hợp với đo độ ẩm tương đối.

7.2.3 Ổn định khí quyển

Ổn định khí quyển có thể được đo bằng cách so sánh sự khác biệt giữa hai phép đo nhiệt độ theo phương thẳng đứng cộng với đo trượt gió theo phương thẳng đứng. Do sự khác biệt nhiệt độ là nhỏ, nên ưu tiên đo trực tiếp sự khác biệt nhiệt độ thay vì đo hai nhiệt độ một cách độc lập.

7.3 Các đại lượng vận hành của tuabin gió

7.3.1 Công suất điện

Công suất điện của tuabin có thể được đo ở bất kỳ điểm nào miễn là cách đo được mô tả rõ ràng; tuy nhiên, nên thực hiện đo theo tiêu chuẩn TCVN 10687-12-1 (IEC 61400-12-1). Tín hiệu ra từ bộ điều khiển tuabin gió được chấp nhận

7.3.2 Tốc độ cánh hoặc tốc độ máy phát

Tốc độ rôto có thể được đo trên trục tốc độ thấp hoặc trục tốc độ cao. Nếu đo trên trục tốc độ thấp, cần đảm bảo đạt được độ phân giải tốc độ cao. Nếu đo trên trục tốc độ cao, cần chú ý đảm bảo tỷ lệ mẫu đủ cao để thu tín hiệu. Tín hiệu ra từ bộ điều khiển tuabin gió được chấp nhận.

7.3.3 Độ lệch hướng xoay tuabin

Độ lệch hướng xoay phải được tính toán từ hướng gió và vị trí hướng xoay. Vị trí hướng xoay có thể được lấy từ bộ điều khiển chỉ khi nếu việc kiểm tra xác nhận hiệu chuẩn được thực hiện thường xuyên. Cần lưu ý khi chuyển tiếp từ 360° - 0° và vị trí của dải chết, nếu có. Có thể sử dụng các kỹ thuật đo khác, khi có tài liệu chứng minh rằng độ chính xác và độ không đảm bảo của kỹ thuật đo tương đương hoặc tốt hơn so với kết quả đo được từ hướng gió và vị trí hướng xoay.

7.3.4 Góc phương vị rôto

Góc phương vị của rôto phải được đo trên trục tốc độ thấp, trục tốc độ cao (với việc đặt lại tín hiệu trên trục tốc độ thấp) hoặc được cung cấp bởi bộ điều khiển tuabin gió. Nếu sử dụng tín hiệu từ bộ điều khiển, cần đánh giá và xử lý độ trễ của tín hiệu. Đặc biệt chú ý đến sự chuyển tiếp từ 360° đến 0°.

7.3.5 Vị trí góc nghiêng

Góc nghiêng cánh phải được đo trực tiếp bằng bộ mã hóa hoặc có thể được cung cấp bởi bộ điều khiển tuabin gió. Nếu sử dụng tín hiệu từ bộ điều khiển, cần đánh giá và xử lý độ trễ của tín hiệu.

7.3.6 Tốc độ nghiêng

Tốc độ nghiêng phải được đo trực tiếp hoặc suy ra từ vị trí nghiêng trong quá trình xử lý dữ liệu sau đó.

7.3.7 Mômen phanh

Cách đo mômen phanh phụ thuộc vào cấu hình của tuabin. Các phương pháp đo bao gồm: kiểm tra xác nhận áp suất phanh (áp suất thủy lực hoặc lò xo) với hệ số ma sát giả định, đo trên cánh tay đòn ngẫu lực mômen, đo mômen trục ở cả hai bên của phanh, hoặc phân tích thời gian giảm tốc.

7.3.8 Tình trạng tuabin gió

Tình trạng vận hành của tuabin gió có thể được đo qua các tín hiệu từ bộ điều khiển, (ví dụ như kết nối lưới điện, dừng khẩn cấp, tác động của hệ thống bảo vệ).

7.3.9 Tình trạng phanh

Tình trạng của hệ thống phanh cần được đo, có thể thực hiện trực tiếp bằng cảm biến trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua đo áp suất phanh hoặc tín hiệu từ bộ điều khiển tuabin. Trong trường hợp sử dụng tín hiệu từ bộ điều khiển, cần phải đánh giá và xử lý độ trễ của tín hiệu.

7.4 Hệ thống thu thập dữ liệu

7.4.1 Quy định chung

Hệ thống thu thập dữ liệu (DAS) được thiết kế để thu thập các các tín hiệu tương tự từ một hoặc nhiều nguồn và chuyển đổi chúng thành dạng số để phân tích hoặc truyền tải qua các thiết bị đầu cuối như máy tính số, máy ghi dữ liệu hoặc mạng lưới truyền thông. Đánh giá chất lượng của DAS chủ yếu dựa trên khả năng duy trì độ chính xác và tính toàn vẹn của tín hiệu. Thông tin chi tiết về cách thiết lập DAS có thể có trong Phụ lục G.

7.4.2 Độ phân giải

Độ phân giải của bộ chuyển đổi A/D là yếu tố chính để đánh giá độ chính xác của hệ thống DAS. Độ phân giải của hệ thống được xác định bởi số lượng bít trong bộ chuyển đổi A/D. Đối với việc đo tải cơ học trên các tuabin gió, hệ thống DAS cần có độ phân giải tối thiểu là 12 bit.

7.4.3 Bảo vệ chống chồng phổ

Hệ thống DAS cần có cơ chế bảo vệ chống chồng phổ cho tất cả các kênh tải. Mục tiêu của bảo vệ này là ngăn ngừa việc tạo ra các thành phần tần số bị chồng phổ trong dải tần số xác định và đảm bảo việc lấy mẫu các dạng sóng đầu vào đạt độ chính xác cao để đáp ứng các yêu cầu thử nghiệm. Thông tin chi tiết về các phương pháp chống chồng phổ analog được nêu trong Phụ lục G.

Đối với từng kênh ương tự trong quá trình đo, các hạng mục sau đây cần được báo cáo:

• độ phân giải của bộ chuyển đổi A/D;

• tần số lấy mẫu, F s ;

• loại bộ lọc chống chồng phổ hoặc chiến lược chống chồng phổ (nếu áp dụng kỹ thuật số);

• chế độ đặt tần số cắt của bộ lọc, F c .

8 Xác định các hệ số hiệu chuẩn

8.1 Quy định chung

Nói chung:

• Tiêu chuẩn này giả định rằng việc hiệu chuẩn là tuyến tính, điều này áp dụng cho hầu hết các trường hợp. Những hành vi phi tuyến có thể được xử lý bằng cách áp dụng các hệ số hiệu chuẩn phi tuyến hoặc bằng cách bổ sung độ không đảm bảo đo.

• Tất cả các thành phần của chuỗi đo cần được hiệu chuẩn.

• Việc hiệu chuẩn nên được thực hiện với cùng thiết bị đo đã sử dụng để ghi dữ liệu thử nghiệm.

Đối với một số cảm biến, các phương pháp khác nhau được áp dụng để xác định độ lệch và độ nhạy.

Quá trình hiệu chuẩn là việc xác định các đặc tính của chuỗi đo (cảm biến, cáp, điện tử, v.v.) so với một chuẩn bên ngoài đã biết. Lựa chọn phương pháp hiệu chuẩn chủ yếu được xác định bởi lựa chọn chuẩn bên ngoài và phải xem xét các yếu tố sau. Phương pháp hiệu chuẩn phải:

• bao trùm càng nhiều phạm vi đo càng tốt;

• giảm thiểu nhiễu;

• có khả năng lặp lại;

• đủ để xác định cả độ dốc, độ lệch và, nếu cần, độ nhiễu xuyên âm của tín hiệu.

Cách tốt nhất để đảm bảo độ chính xác của phép đo là đo trực tiếp phản hồi toàn bộ kênh bằng cách sử dụng bằng một tham chiếu bên ngoài với kết quả đã biết. Với kỹ thuật này, tất cả các thành phần dọc theo đường truyền dữ liệu được hiệu chuẩn cùng nhau và độ chính xác của toàn bộ đường truyền dữ liệu có thể được xác định. Đối với nhiều loại phép đo, không thể hiệu chuẩn đồng thời toàn bộ đường truyền đo một cách trực tiếp. Phương án thay thế yêu cầu các thành phần của hệ thống được hiệu chuẩn riêng lẻ.

Phần tiếp theo của điều này mô tả các yêu cầu về hiệu chuẩn đặc thù cho việc thử nghiệm tải cơ học.

8.2 Hiệu chuẩn các kênh tải trọng

8.2.1 Quy định chung

Điều 8.2 trình bày các phương pháp hiệu chuẩn dành cho cảm biến tải trọng trong Bảng 13. Thông tin chi tiết hơn về việc hiệu chuẩn các kênh tải trọng được cung cấp trong Phụ lục H.

Có nhiều phương pháp hiệu chuẩn khác nhau cho cảm biến tải trọng và việc sử dụng nhiều hơn một phương pháp là điều khuyến nghị để đảm bảo độ chính xác của kết quả. Các phương pháp hiệu chuẩn phổ biến bao gồm:

• sử dụng tải trọng trọng lực;

• hiệu chuẩn phân tích;

• đặt tải trọng bên ngoài.

Phương pháp hiệu chuẩn được ưu tiên là phương pháp có thể giảm thiểu độ không đảm bảo tổng thể, bao gồm các yếu tố như:

• độ chính xác của thông tin được sử dụng;

• phạm vi tải trọng được bao trùm bởi việc hiệu chuẩn.

Ngoài ra, tính khả thi và chi phí cũng là những yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn phương pháp hiệu chuẩn.

Tất cả các lần hiệu chuẩn cần được tiến hành trong tốc độ gió thấp để giảm thiểu tác động tải khí động học lên tuabin, ở tốc độ quay thấp và ổn định để giảm thiểu các ảnh hưởng của quán tính và các lực khí động học.

Nếu sử dụng tải trọng trọng lực để hiệu chuẩn cảm biến, nhà sản xuất cần cung cấp thông tin liên quan để xác định chính xác tải trọng áp dụng.

Bảng 13 - Tóm tắt các phương pháp hiệu chuẩn thích hợp

Đại lượng đo

Phân tích

Tải trọng bên ngoài

Trọng lực

Mômen uốn của cánh

 

S

S, O

Mômen xoắn trục chính a

S

S

 

Mômen uốn trục chính

S

S

S, O

Mômen uốn tháp

S

S

S, O

Mômen xoắn tháp a

S

S

 

S = phù hợp cho hệ số dốc

O = phù hợp cho độ lệch

a Để biết các phương pháp phù hợp cho việc xác định độ lệch, xem 8.2.3.4 và 8.2.5.

8.2.2 Mômen uốn của cánh

8.2.2.1 Phân tích

Nói chung, việc hiệu chuẩn phân tích là không khả thi đối với việc hiệu chuẩn mômen uốn của cánh vì các đặc tính vật liệu thường chưa biết rõ.

8.2.2.2 Tải trọng trọng lực

Việc hiệu chuẩn trọng lực của các cảm biến uốn cánh cần hiểu biết về mômen khối lượng của cánh tại mặt cắt có gắn thiết bị đo. Điều này được thực hiện bằng cách tác động lên cảm biến một mômen do trọng lực gây ra đã được xác định rõ. Việc này có thể thực hiện bằng cách để rôto không tải ở các góc nghiêng cánh khác nhau, hoặc bằng cách cố định cánh ở vị trí nằm ngang và thay đổi góc nghiêng cánh của cánh. Có thể thực hiện quá trình này bằng cách giữ rôto ở trạng thái không tải với các góc nghiêng khác nhau, hoặc cố định cánh ở vị trí nằm ngang và điều chỉnh góc nghiêng của cánh theo nhiều mức độ khác nhau.

8.2.2.3 Tải trọng bên ngoài

Trong quá trình hiệu chuẩn cảm biến mômen uốn của cánh bằng tải trọng bên ngoài, một tải trọng đã biết được áp dụng tại một vị trí cụ thể dọc theo chiều dài của cánh và theo một hướng xác định trước.

8.2.3 Mômen trục chính

8.2.3.1 Hiệu chuẩn phân tích

Hiệu chuẩn phân tích được thực hiện bằng cách quy đổi tín hiệu ra của cảm biến thành biến dạng vật liệu dựa trên hệ số đo, cấu hình cầu đo và chuỗi đo, sau đó chuyển đổi các biến dạng đo được thành mômen bằng cách sử dụng các đặc tính hình học của mặt cắt ngang và của vật liệu.

Phương pháp này chỉ áp dụng cho các trục có tính chất mặt cắt gần như đồng đều, và thích hợp với những khu vực có hệ số tập trung ứng suất thấp.

8.2.3.2 Tải trọng trọng lực (Chỉ uốn)

Trên các trục quay, các hệ số tỷ lệ có thể được xác định từ mômen phần nhô ra do rôto gây ra tại mặt cắt của cảm biến trong quá trình rô to quay chậm. Độ nhạy của tín hiệu có thể được xác định từ dải đo của tín hiệu. Độ lệch của tín hiệu có thể được xác định từ giá trị tín hiệu trung bình của các tín hiệu theo góc phương vị trong quá trình rô to quay chậm. Như đã nêu trong mục 8.2, dải mômen dự kiến tại vị trí đo trong quá trình rô to quay chậm sẽ được cung cấp bởi nhà sản xuất tuabin.

8.2.3.3 Tải trọng bên ngoài

Khi hiệu chuẩn cảm biến thông qua tải trọng bên ngoài, các hệ số tỷ lệ được xác định bằng cách áp dụng mômen đã biết lên trục chính, ví dụ như kéo cánh bằng cảm biến lực đã được hiệu chuẩn và ghi lại đáp ứng của cảm biến với mômen áp dụng.

Nếu tải trọng bên ngoài chỉ có thể được áp dụng theo một hướng và cấu trúc có tính đối xứng hình học, các hệ số tỷ lệ thu được cũng có thể được sử dụng cho các hướng khác (ví dụ: sử dụng mômen tilt trên một trục không quay để hiệu chỉnh mômen xoay trên cùng một trục đó).

8.2.3.4 Hiệu chuẩn mômen xoắn thông qua công suất và tốc độ rôto

Bên cạnh các phương pháp áp dụng tải trọng bên ngoài hoặc thực hiện hiệu chuẩn phân tích đã đề cập trước đó, mômen xoắn của rôto cũng có thể được hiệu chuẩn bằng cách đo công suất đầu ra và tốc độ rôto, đồng thời tính đến hiệu suất của hệ thống truyền động và mức tiêu thụ công suất của tuabin.

Độ lệch của tín hiệu mômen xoắn trên trục có thể được xác định bằng cách quay chậm ở tốc độ gió thấp dưới v in .

8.2.4 Mômen uốn tháp

8.2.4.1 Tải trọng trọng lực

Thông thường, vỏ tuabin và rôto có trọng tâm không nằm ngay trên trục trung hòa của tháp. Sự lệch tâm này tạo ra một mômen nhô ra, có thể sử dụng để hiệu chuẩn các cảm biến uốn của tháp.

Việc hiệu chuẩn trọng lực của các cảm biến uốn tháp yêu cầu phải nhận biết mômen khối lượng của đầu máy (vỏ tuabin và rôto) liên quan đến trục tháp với hướng vỏ tuabin xoay 360 độ làm cho mỗi cảm biến phải chịu đầy đủ các mômen trọng lực âm và dương trong một vòng xoay.

Phương pháp này đặc biệt hữu ích cho các cảm biến lắp đặt tại đỉnh tháp. Tại chân tháp, mômen trọng lực thường quá nhỏ so với các tải trọng vận hành để có thể sử dụng cho việc hiệu chuẩn. Trong trường hợp đó, phương pháp này chỉ có thể được sử dụng để xác nhận việc hiệu chuẩn.

8.2.4.2 Hiệu chuẩn phân tích

Việc hiệu chuẩn phân tích được thực hiện bằng cách quy đổi tín hiệu ra của cảm biến sang biến dạng của vật liệu thông qua hệ số đo và cấu hình cầu đo biến dạng, sau đó quy đổi các biến dạng đã đo được thành mômen bằng cách sử dụng các đặc tính hình học của mặt cắt ngang và của vật liệu.

8.2.4.3 Tải trọng bên ngoài

Thay vào đó, tháp có thể chịu một tải trọng bên ngoài đã được xác định tại một vị trí và hướng nhất định để hiệu chuẩn cảm biến.

8.2.4.4 Độ lệch

Độ lệch của các cảm biến uốn tháp sẽ được xác định bằng cách quay đầu máy theo hướng 360° trong điều kiện tốc độ gió rất thấp. Giá trị trung bình của tín hiệu cảm biến trong quá trình quay là giá trị độ lệch.

8.2.5 Mômen xoắn tháp

8.2.5.1 Hiệu chuẩn phân tích

Việc hiệu chuẩn phân tích được thực hiện bằng cách quy đổi tín hiệu ra của cảm biến sang biến dạng của vật liệu thông qua hệ số đo và cấu hình cầu đo biến dạng và chuỗi đo, sau đó quy đổi các biến dạng đã đo được thành mômen bằng cách sử dụng các đặc tính hình học của mặt cắt ngang và của vật liệu. Việc hiệu chuẩn phân tích chỉ có thể thực hiện được cho các khu vực có hệ số tập trung ứng suất nhỏ.

8.2.5.2 Tải trọng bên ngoài

Trong quá trình hiệu chuẩn bằng tải trọng bên ngoài, tháp sẽ được tải bằng cách kéo cánh với một lực đã biết, tại một vị trí và hướng xác định, từ đó thu thập dữ liệu cho quá trình hiệu chuẩn.

8.2.5.3 Độ lệch

Độ lệch của cảm biến mômen xoắn tháp có thể được xác định từ dữ liệu thu thập trong điều kiện gió nhẹ khi tuabin đang ở trạng thái dừng, hoặc cũng có thể được xác định bằng cách xoay rôto 360 độ trong điều kiện tốc độ gió thấp.

8.3 Hiệu chuẩn các kênh không tải

8.3.1 Góc pitch cánh

Việc hiệu chỉnh góc pitch được thực hiện so với một dấu tham chiếu ở gốc cánh (thông thường là 0°), dấu này cũng có thể được sử dụng làm tham chiếu để lắp đặt cảm biến uốn của cánh. Tất cả các cánh tuabin có gắn thiết bị đo phải được điều chỉnh góc pitch về ít nhất 2 vị trí rõ ràng, tại đó tín hiệu đầu ra và góc thực có thể đối chiếu với nhau. Hai vị trí này nên cách nhau ít nhất 80°. Việc hiệu chuẩn dấu tham chiếu với một gốc vật lý cần được thực hiện, hoặc thay vào đó, việc này phải có thể truy vết thông qua tài liệu. Nếu góc nghiêng được đo bằng bộ điều khiển tuabin, cần kiểm tra định kỳ để xác nhận độ dốc và giá trị độ lệch.

8.3.2 Góc phương vị của rôto

Độ dốc của tín hiệu thường được xác định bằng cách thực hiện vài vòng quay chậm của trục và điều chỉnh phạm vi tín hiệu hình răng cưa hoặc số xung sao cho phù hợp với phạm vi quay 360 độ, hoặc đếm số xung trong một vòng quay của rôto.

Để xác định độ lệch, có thể sử dụng các phương pháp sau:

• Dùng mức trên một bề mặt xác định trên trục hoặc hub,

• Sử dụng máy đo độ nghiêng trên một bề mặt xác định trên trục hoặc trung tâm,

• Vị trí phương vị của cánh được xác định bằng cách áp dụng khóa rôto,

• Tín hiệu mômen xoắn của cánh và xác định vị trí của các cực đại và cực tiểu trong quá trình quay chậm của rôto.

8.3.3 Góc xoay hướng

Vị trí hướng xoay tuabin vỏ tuabin có thể được hiệu chuẩn bằng cách định hướng trục chính (thường thẳng hàng với vỏ tuabin) đến các mốc định vị phía xa, sau đó sử dụng tọa độ của mốc định vị và tuabin gió để tính toán góc phương vị của rôto, cần chú ý khi sử dụng la bàn từ. Cùng một tham chiếu và phương pháp bên ngoài (ví dụ: các mốc địa lý sử dụng bản đồ, hệ thống định vị vệ tinh toàn cầu, hướng bắc từ) và cùng một hệ thống tọa độ sẽ được sử dụng cho việc hiệu chuẩn hướng gió và góc quay hướng.

8.3.4 Hướng gió

Hướng gió có thể được hiệu chuẩn bằng cách hướng cánh đo hướng gió về phía các mốc địa lý xa và sử dụng tọa độ của mốc địa lý và cánh đo hướng gió để tính toán góc phương vị của cánh, hoặc bằng cách điều chỉnh cánh theo cần quay và xác định hướng của cần quay sau khi lắp đặt cuối cùng, cần chú ý khi sử dụng la bàn từ. Cùng một tham chiếu và phương pháp bên ngoài (ví dụ: các mốc địa lý sử dụng bản đồ, hệ thống định vị vệ tinh toàn cầu, hướng bắc từ) và cùng một hệ thống tọa độ sẽ được sử dụng để hiệu chuẩn hướng gió và góc quay hướng.

8.3.5 Các tải dẫn động nghiêng cánh

Phương pháp hiệu chuẩn các tải dẫn động nghiêng cánh được thực hiện tùy thuộc vào phương pháp đo. Nếu tải được đo bằng:

• Cảm biến biến dạng, cần áp dụng hiệu chuẩn phân tích để xác định độ nhạy. Việc xác định giá trị độ lệch sẽ được tiến hành trong điều kiện gió nhẹ, khi tuabin dừng hoạt động và cánh hướng thẳng xuống dưới;

• Dòng điện, các thiết bị hiệu chuẩn sẽ được sử dụng để đo độ nhạy và giá trị độ lệch;

• Áp suất, càn sử dụng các thiết bị hiệu chuẩn kết hợp với hình học của bộ kích hoạt để xác định độ nhạy và giá trị độ lệch;

• Tín hiệu từ bộ điều khiển, độ nhạy được sử dụng bởi bộ điều khiển phải được sử dụng. Giá trị bù phải được rút ra từ điều kiện gió nhẹ, với tuabin đứng yên và cánh hướng thẳng xuống dưới.

8.3.6 Mômen phanh

Phương pháp hiệu chuẩn cho mômen phanh phụ thuộc vào phương pháp được sử dụng để đo nó. Nếu tải trọng được đo thông qua:

• Cảm biến biến dạng, hiệu chuẩn phân tích sẽ được thực hiện để xác định độ nhạy. Giá trị độ lệch sẽ được xác định khi phanh chưa được kích hoạt;

• Áp suất, các thiết bị hiệu chuẩn sẽ được sử dụng cùng với hệ số ma sát giả định để tính toán độ nhạy và độ lệch.

9 Kiểm tra xác nhận dữ liệu

9.1 Quy định chung

Kiểm tra xác nhận dữ liệu có hai mục tiêu chính:

• Đảm bảo các tín hiệu được đo chính xác (chẳng hạn như áp dụng đúng hệ số hiệu chuẩn). Kết quả của việc kiểm tra xác nhận này phải được ghi lại trong báo cáo thử nghiệm.

• Đảm bảo rằng dữ liệu thu thập được vẫn hợp lệ và các vấn đề được phát hiện nhanh chóng. Chỉ cần báo cáo các kiểm tra việc kiểm tra xác nhận đã thực hiện (không phải kết quả cụ thể của chúng) và tần suất kiểm tra trong báo cáo thử nghiệm.

Cần kiểm tra tính hợp lệ của các đại lượng đo cũng như các đại lượng tính toán, chẳng hạn như tải cánh dựa trên các phép đo mômen uốn trục, để loại trừ bất kỳ ghi nhận sai nào. Chỉ dữ liệu hợp lệ mới được sử dụng cho các phân tích tiếp theo.

Dữ liệu sẽ bị loại bỏ nếu không đáp ứng các tiêu chí liên quan đến hiệu chuẩn cảm biến, dải hoạt động của cảm biến hoặc bị nhiễu.

Việc kiểm tra xác nhận ban đầu các chuỗi thời gian đo nên được thực hiện trong quá trình khởi động chương trình đo và dựa trên các ghi nhận ở tốc độ lấy mẫu quy định hoặc cao hơn. Được khuyến nghị thực hiện đối chiếu với kết quả mô phỏng tại giai đoạn này.

Nếu dữ liệu hợp lệ được ghi nhận trong các điều kiện bất thường (như tình trạng của tuabin hoặc môi trường, ví dụ như băng trên cánh hoặc thay đổi đột ngột trong hướng gió), dữ liệu này cần được phân loại vào một nhóm đặc biệt để phân tích thêm và không được đưa vào ma trận thu thập cho điều kiện vận hành bình thường.

Mọi tiêu chí lọc hoặc loại bỏ dữ liệu phải được ghi rõ trong báo cáo đo tải.

Trong suốt thời gian đo, dữ liệu cần được kiểm tra định kỳ để đảm bảo chất lượng và tính lặp lại cao của kết quả thử nghiệm.

9.2 Kiểm tra việc kiểm tra xác nhận

9.2.1 Quy định chung

Điều 9.2 đưa ra các yêu cầu và khuyến nghị về các kiểm tra việc kiểm tra xác nhận có thể được sử dụng để đáp ứng các yêu cầu về kiểm tra xác nhận dữ liệu.

Các kiểm tra sau đây áp dụng cho tất cả các đại lượng đo:

• Các giá trị đo nằm ngoài giới hạn hoạt động của cảm biến, hệ thống truyền dữ liệu và hệ thống thu thập dữ liệu cần bị loại bỏ.

• Cần đặc biệt chú ý trong các điều kiện thời tiết hoặc hoạt động cực đoan.

• Dữ liệu hợp lệ cần dựa trên các hiệu chuẩn phù hợp như được mô tả trong Điều 8. Phần đầu tiên của kiểm tra xác nhận dữ liệu là kiểm tra chính thức rằng các hiệu chuẩn đã được thực hiện đúng cách.

• Sự trôi cảm biến có thể được phát hiện thông qua các thống kê dữ liệu đo. Nếu độ lệch của cảm biến bị trôi, dữ liệu đo trong điều kiện bình thường có thể trở nên phân tán hoặc xuất hiện nhiều đường xu hướng khác nhau khi vẽ giá trị trung bình mười phút theo tốc độ gió. Điểm không, ghi nhận và xử lý sự trôi không điểm do nhiệt độ. Nếu có điều chỉnh dữ liệu, nó cần được báo cáo và tính vào trong ước lượng độ không đảm bảo. Sự trôi thường được phát hiện tốt nhất bằng cách giám sát mức tín hiệu trong điều kiện gió thấp (xem Phụ lục I).

• Sử dụng sai hệ số hiệu chuẩn cảm biến: cần chú ý nếu có thay đổi về cảm biến, khuếch đại hoặc cài đặt thu thập trong thời gian đo.

• Thành phần tần số của các tín hiệu cần được kiểm tra để đảm bảo các tần số thích hợp xuất hiện (như tần số riêng, tần số liên quan đến tốc độ quay) và để có cái nhìn về tỷ lệ tín hiệu/nhiễu, cũng như nguồn nhiễu nếu có.

• Sự hiện diện của nhiễu: dữ liệu hợp lệ không nên bị nhiễu đến mức không đạt được tỷ lệ tín hiệu/nhiễu mong muốn cho bất kỳ tần số quan trọng nào. Các biện pháp khắc phục có thể cần thiết để bù đắp sự hiện diện của nhiễu.

• Dữ liệu cần được kiểm tra sự hiện diện của các xung nhiễu. Với mỗi kênh đo, cần xác định một ngưỡng để phân loại các xung nhiễu do nhiễu. Các xung nhiễu tách ra có thể được phục hồi bằng cách sử dụng hai giá trị đo hợp lệ liền kề và công thức nội suy. Các bản ghi bao gồm nhiều xung đơn lẻ hoặc các xung liền kề không thể phục hồi nên bị loại bỏ. Nếu các xung bị loại khỏi chuỗi dữ liệu, quy trình loại bỏ cần được ghi lại. Các tập dữ liệu có xung nhiễu phát hiện không nên được sử dụng trong thống kê tổng hợp của kênh đó, trừ khi các xung đã được sửa chữa.

• Dữ liệu cần được kiểm tra sự hiện diện của các điểm phẳng hoặc mất tín hiệu tạm thời. Các tiêu chí loại bỏ sẽ khác nhau cho từng tín hiệu.

• Các khác biệt không thực tế giữa các đại lượng so sánh: trong nhiều trường hợp, cần so sánh các ghi nhận từ hai bộ cảm biến độc lập. Nếu quan sát được sự khác biệt không thể giải thích, cần kiểm tra lại hệ thống đo và loại bỏ dữ liệu nghi ngờ.

• Chuỗi thời gian dữ liệu có thể được chấp nhận là hợp lệ ngay cả khi một số kênh không hợp lệ, miễn là các kênh khác không được liệt kê là đại lượng bắt buộc trong Bảng 9, Bảng 11 và Bảng 12. Những tập dữ liệu này vẫn có thể được sử dụng để đáp ứng các yêu cầu của ma trận thu thập.

9.2.2 Mômen của cánh

Dưới đây là các ví dụ về các kiểm tra việc kiểm tra xác nhận đối với mômen của cánh:

• Khi tuabin gió đứng yên ở tốc độ gió thấp, mômen xoắn của các cánh phải khớp với mômen trọng lực.

• Nếu đo mômen xoắn của nhiều cánh, các giá trị mômen xoắn của các cánh tại cùng một bán kính từ tâm trục phải có giá trị trung bình mười phút và độ lệch chuẩn tương đương.

• Dưới tốc độ gió danh định, tổng giá trị trung bình mười phút của các mômen xoắn trong mặt phẳng tại gốc cánh, nhân với một hệ số phụ thuộc vào đường kính rôto và vị trí cảm biến biến dạng, nên gần bằng mômen xoắn trục chính. Công thức tính là:

trong đó

M x là mômen xoắn trục chính trung bình trong mười phút (Nm);

M bi,l là mômen xoắn trong mặt phẳng trung bình mười phút tại gốc cánh của cánh i (Nm);

B là số lượng cánh của tuabin gió;

L là số lượng cánh được trang bị cảm biến biến dạng tại gốc cánh;

R là bán kính rôto (m);

R g là bán kính vị trí cảm biến đo biến dạng (m).

Công thức này giả định rằng trung tâm của lực khí động học hoạt động tại 2/3R.

• Trong khi quay rôto chậm, pha của tín hiệu từ các cánh phải đồng nhất với chuỗi các cánh.

• Khi thực hiện quét góc nghiêng, pha của các tín hiệu từ cánh cần khớp với vị trí xung quanh của các cảm biến được sử dụng để đo.

9.2.3 Trục chính

Dưới đây là các ví dụ về các kiểm tra việc kiểm tra xác nhận đối với tín hiệu của trục chính:

• Công suất đầu ra có thể được kiểm tra so với tín hiệu mômen xoắn trục chính tại công suất danh định bằng cách sử dụng công thức sau:

P = M x · Ω · ƞ

(4)

trong đó:

M x là mômen xoắn trục chính (Nm);

Ω là tốc độ rôto (rad/s);

ƞ là hiệu suất của các thành phần giữa điểm đo mômen xoắn trục chính và điểm đo công suất.

• Hai mômen xoắn trên trục chính, cách nhau 90° về pha phương vị, phải có giá trị trung bình và biên độ giống nhau khi tuabin gió đứng yên ở tốc độ gió thấp. Giá trị trung bình của hai mômen xoắn trên trục chính nên gần bằng “không” khi tuabin gió đứng yên ở tốc độ gió thấp. Sự khác biệt pha giữa các tín hiệu trong khung quay cần tương ứng với góc giữa hai cầu đo biến dạng.

• Mômen xoay rô to xoắn tại đỉnh tháp cần gần bằng nhau. Đồng thời, mômen nghiêng tại trục chính và mômen nghiêng tương đương tại đỉnh tháp cần theo cùng một xu hướng, trong khi mômen ngang tại đỉnh tháp cần gần cần tín hiệu mômen xoắn của trục chính.

9.2.4 Tháp

Dưới đây là các ví dụ về các kiểm tra việc kiểm tra xác nhận cho tín hiệu của tháp:

• Sự xoay hướng ở tốc độ gió thấp (<4 m/s) cần được thực hiện theo các khoảng thời gian. Hai mômen xoắn trong tháp ở cùng một cao độ cần có dạng gần như hàm sin (bị lệch một góc nào đó) và nên có giá trị trung bình và biên độ giống nhau khi tuabin gió quay nghiêng 360° ở tốc độ gió thấp. Biên độ cần phải thể hiện mômen phần nhô ra của rôto thiết bị. Các giá trị trung bình của hai mômen xoắn trong tháp nên gần bằng không khi tuabin gió đang xoay nghiêng 360° ở tốc độ gió thấp. Vị trí hướng xoay tuabin tuabin tại đó xuất hiện giá trị cực đại và cực tiểu của mỗi tín hiệu mômen xoắn phải tương ứng với vị trí theo chu vi của các cảm biến đo biến dạng.

Chuỗi thời gian bao gồm việc xoay hướng có thể được dùng để kiểm tra xác nhận tính chính xác của việc chuyển đổi tọa độ các mômen xoắn trong tháp. Tất cả các mômen xoắn trong hệ tọa độ của vỏ tuabin cần phải giữ ổn định tương đối, một tín hiệu chuyển đổi phải gần bằng “không” và tín hiệu còn lại phải tương đương với mômen phần nhô ra của rôto thiết bị.

• Đồ thị C t theo tốc độ gió nên được kiểm tra để đảm bảo rằng các giá trị là hợp lý.

10 Xử lý dữ liệu đo được

10.1 Quy định chung

Điều 10 mô tả các yêu cầu về xử lý sau đo được sử dụng để suy ra các kết quả cần báo cáo. Cụ thể, các vấn đề được thảo luận bao gồm: phân tích chuỗi thời gian, thống kê tải tổng hợp, phổ tải dựa trên phương pháp đếm mưa và ước lượng tải tương đương.

Một trong những bước đầu tiên trong xử lý dữ liệu có thể là tính toán các đại lượng đo cần thiết từ các tín hiệu đo được (ví dụ: khối lượng riêng của không khí từ nhiệt độ và áp suất hoặc tải rôto không quay từ các tín hiệu quay). Xử lý sau đo được mô tả dưới đây sẽ được thực hiện trên các đại lượng đo cần thiết và không nhất thiết phải trên các tín hiệu đo được.

10.2 Các đại lượng tải trọng cơ bản

Sản phẩm chính của quá trình đo tải trọng là dữ liệu chuỗi thời gian đã được hiệu chuẩn và xác nhận. Tuy nhiên, các chuỗi thời gian này cần được xử lý sau để cung cấp thống kê tổng hợp, tải trọng phá hủy tương đương mỏi và phổ dòng mưa tích lũy, nhằm cung cấp chỉ số cho các bộ dữ liệu thực.

Đối với các đại lượng tải trọng cơ bản (Bảng 9), các đại lượng sau cần được tính toán cho tất cả các tập dữ liệu vận hành bình thường:

• Thống kê tập tin 10 min (giá trị tối thiểu, tối đa, trung bình và độ lệch chuẩn);

• Thống kê 10 min phân loại cho từng phạm vi tốc độ bin trong ma trận thu thập dữ liệu;

• Tải trọng tương đương gây hư hỏng 10 min cho một chỉ số mỏi đơn;

• Phổ dòng mưa tích lũy cho tất cả các tập dữ liệu vận hành hành bình thường.

10.3 Các đại lượng tải cho tuabin lớn

Đối với các tuabin có công suất danh định lớn hơn 1 500 kW và đường kính rôto lớn hơn 75 m, các đại lượng đo bổ sung trong Bảng 10 cũng cần được xử lý sau. Đối với các đại lượng tải bổ sung, cần áp dụng phân tích theo yêu cầu từ 10.2.

Các đại lượng không tải, chẳng hạn như tần số xoắn của cánh và độ giảm chấn, gia tốc theo phương bình thường tại đỉnh tháp (thường được gọi là gia tốc trước-sau hoặc theo chiều gió) và gia tốc theo phương ngang tại đỉnh tháp (thường được gọi là gia tốc bên-bên hoặc theo chiều ngang gió) chủ yếu liên quan đến động lực học, vì vậy việc xử lý sau có thể bị giới hạn ở:

• độ lệch chuẩn 10 min của tín hiệu,

• giá trị trung bình của độ lệch chuẩn theo bin 10 min cho mỗi bin tốc độ gió trong ma trận thu thập,

• việc nhận diện tần số tự nhiên của tuabin sử dụng PSD của các bộ dữ liệu mẫu trong quá trình vận hành/dừng/trạng thái quá độ.

10.4 Phát hiện xu hướng tốc độ gió

Sự biến đổi chậm của tốc độ gió, ví dụ như sự gia tăng đều đặn của tốc độ gió trong một bộ dữ liệu 10 min, không phải là đặc trưng của các mô hình trường gió mô phỏng phổ biến và dẫn đến cường độ nhiễu động cao không đại diện. Trong những trường hợp như vậy, mối liên hệ giữa tải và cường độ nhiễu động có thể bị sai lệch. Không nên loại bỏ các bộ dữ liệu có xu hướng, và cũng không nên làm mất xu hướng của tốc độ gió. Các tham số cho thấy mức độ xu hướng của tốc độ gió cần được báo cáo.

Các phương pháp phát hiện xu hướng nên sử dụng lọc thông cao để phát hiện ảnh hưởng của sự thay đổi tốc độ gió tần số thấp lên cường độ nhiễu động. Phương pháp phát hiện được sử dụng cần được mô tả chi tiết trong báo cáo.

Phụ lục F cung cấp ví dụ về các phương pháp phát hiện xu hướng khác nhau và các tham số có thể tính toán để chỉ ra nếu các tập dữ liệu chứa xu hướng tốc độ gió.

Các hiệu ứng tương tự cũng có thể xuất hiện đối với các đại lượng khí tượng khác như trượt gió và thay đổi hướng gió. Các dữ liệu không thể tái tạo trong mô phỏng, như hoạt động xoay tuabin, cần được xem xét. Nhà sản xuất phải đưa tất cả các hiệu ứng này vào để đảm bảo sự tương quan thích hợp xác giữa dữ liệu đo và dữ liệu mô phỏng trong quá trình xác nhận mô hình.

10.5 Thống kê

Đối với mỗi tệp dữ liệu 10 min, các thống kê 10 min (trung bình, giá trị lớn nhất, giá trị nhỏ nhất và độ lệch chuẩn) phải được tính toán cho tất cả các tín hiệu.

Đối với các tín hiệu đo góc có sự chuyển tiếp qua 360° - 0° (vị trí hướng xoay tuabin vỏ tuabin, vị trí phương vị của hub, hướng gió), hướng của vectơ đơn vị trung bình nên được sử dụng để tính giá trị trung bình của tín hiệu, và cần đặc biệt chú ý để đảm bảo không có điểm dữ liệu nào được lấy mẫu trong quá trình chuyển tiếp từ 360° sang 0°.

10.6 Đếm dòng mưa

Để xác định tải trọng phá hủy tương đương (DEL) và phổ dòng mưa tích lũy, chuỗi thời gian của đại lượng tải phải được đếm theo phương pháp dòng mưa. Theo tiêu chuẩn này, chỉ các phạm vi cần được sử dụng và các giá trị trung bình sẽ bị loại bỏ trong xử lý tiếp theo.

Phương pháp được sử dụng cần được báo cáo rõ ràng cùng với các tham số bao gồm:

• tham chiếu đến phương pháp đếm chu kỳ dòng mưa được áp dụng,

• số lượng dải bin sử dụng,

• sử dụng và giá trị của ngưỡng phạm vi tối thiểu.

Số lượng phân chia phạm vi tải cần ít nhất là 100 để đạt được độ phân giải đầy đủ. Các nửa chu kỳ còn lại sẽ được đếm là 0,5.

10.7 Phổ dòng mưa tích lũy

Việc đếm số chu kỳ dòng mưa của các bản ghi 10 min riêng lẻ cần được tập hợp để tạo thành một phổ dòng mưa tích lũy duy nhất cho sản xuất điện cho mỗi đại lượng tải. Phổ dòng mưa tích lũy được xác định bằng cách cộng tất cả số chu kỳ dòng mưa của từng tập tin trong ma trận thu thập dữ liệu sản xuất điện. Phổ này không nhằm ước tính tuổi thọ mỏi của tuabin, do đó không áp dụng trọng số tốc độ gió hay nhiễu động, cũng như không sử dụng tuổi thọ thiết kế của tuabin.

10.8 Tải trọng phá hủy tương đương

Tải tương đương là phạm vi dòng mưa trung bình có trọng số, với độ dốc đường cong S-N, m, của vật liệu liên quan là số mũ trọng số. Tính chất mỏi của vật liệu được giả định là được mô tả bằng công thức log-log như sau:

N = C · S -m

(5)

trong đó:

N là số chu kỳ đến khi hỏng tại mức tải S;

C m là các đặc tính của vật liệu.

Độ dốc đường cong S-N, m, cần đại diện cho các vật liệu liên quan, ví dụ, giá trị 3 hoặc 5 cho thép hàn, 6 hoặc 8 cho gang cầu, và 10 hoặc 12 cho nhựa gia cố bằng sợi thủy tinh. Tải tương đương mỏi 1 Hz cho chuỗi thời gian 10 min được định nghĩa bằng công thức sau:

trong đó:

R eq là tải tương đương mỏi 1 Hz cho 10 min;

R i là tải của phân loại phạm vi thứ i trong phổ tải mỏi;

n in là số chu kỳ trong phân loại phạm vi thứ I của phổ tải mỏi;

m là độ dốc đường cong S-N cho vật liệu liên quan.

10.9 Phân bin tốc độ gió

Dữ liệu thống kê có thể được xử lý thêm thông qua việc sử dụng "phương pháp bin", với các độ lệch cách nhau 1,0 m/s. Sau đó, các giá trị trung bình của tốc độ gió và các tham số liên quan trong mỗi phân bin tốc độ gió được tính theo công thức:

trong đó:

v i là tốc độ gió trung bình trong bin tốc độ gió thứ i

v i,j là tốc độ gió trung bình trong 10 min của tập dữ liệu i trong bin tốc độ gió thứ i;

x i là giá trị trung bình của biến liên quan trong bin tốc độ gió thứ i;

x i,j là giá trị trung bình trong 10 min của biến liên quan trong tập dữ liệu i trong bin tốc độ gió thứ i;

N i là số lượng tập dữ liệu 10 min trong bin tốc độ gió thứ i.

Độ lệch chuẩn của các giá trị trung bình được tính bằng công thức:

trong đó:

σ xi là độ lệch chuẩn của các giá trị trung bình trong bin tốc độ gió thứ i.

Giá trị nhỏ nhất của tất cả các giá trị tối thiểu trong bin tốc độ gió được tính bằng cách chọn giá trị nhỏ nhất của tất cả các giá trị nhỏ nhất 10 min trong các tập dữ liệu.

Tương tự, giá trị lớn nhất của các giá trị tối đã được tính bằng cách chọn giá trị lớn nhất của tất cả các giá trị tối đa 10 min trong các tập dữ liệu.

10.10 Mật độ phổ công suất (PSD)

Các phép tính mật độ phổ công suất (PSD) cần được thực hiện trên các đại lượng tải được liệt kê trong Bảng 9 cho các trường hợp đo tải động. Kết quả phân tích cần phải bao gồm các thông tin sau:

• tham chiếu đến thuật toán PSD được sử dụng;

• độ phân giải tần số;

• số lượng dòng trong phổ;

• loại khung;

• chiều dài của khung được áp dụng;

• lấy trung bình và/hoặc mức độ chồng chéo.

11 Ước lượng độ không đảm bảo

Độ không đảm bảo cho tất cả các đại lượng được báo cáo phải được đánh giá và ghi vào báo cáo. Việc đánh giá độ không đảm bảo gồm xem xét tất cả các nguồn gây sai số có thể xuất hiện trong kết quả đo.

Tùy vào tín hiệu được xem xét, độ không đảm bảo có thể phát sinh từ cảm biến, ảnh hưởng của việc lắp đặt, hiệu chuẩn, ổn định tín hiệu, hệ thống thu thập dữ liệu hoặc các nguồn khác.

Cần chú ý đến các kênh tính toán khi chúng kết hợp nhiều tín hiệu. Tất cả các tín hiệu liên quan phải được tính đến và độ không đảm bảo tổng hợp cần được xem xét.

Phụ lục B cung cấp hướng dẫn chi tiết và ví dụ minh họa về cách ước lượng độ không đảm bảo.

Độ không đảm bảo của các đại lượng khí tượng và năng lượng điện cần được đánh giá theo TCVN 10687-12-1 (IEC 61400-12-1).

12 Báo cáo

Kết quả của thử nghiệm tải cơ học phải được ghi trong báo cáo bao gồm những nội dung sau:

1) Phần giới thiệu, gồm:

a) mục đích thử nghiệm;

b) thời gian thử nghiệm.

2) Nhận dạng và mô tả cấu hình tuabin gió cụ thể cần thử nghiệm, bao gồm:

a) nhà sản xuất, loại, số sê-ri, năm sản xuất của tuabin;

b) đường kính cánh;

c) tốc độ quay hoặc phạm vi tốc độ quay của cánh;

d) thông tin về cánh: nhà sản xuất, loại, số sê-ri, số lượng cánh, độ nghiêng cố định hoặc biến thiên, các góc nghiêng, có bộ tạo dòng xoáy, dải stall, răng cưa cạnh sau, v.v.;

e) độ cao hub và loại tháp;

f) mô tả hệ thống điều khiển (thiết bị và phiên bản phần mềm);

g) ảnh chụp tuabin thử nghiệm;

h) bất kỳ thay đổi nào đã thực hiện trên tuabin trong thời gian thử nghiệm được phân loại theo 6.5.

3) Mô tả vị trí thử nghiệm, bao gồm:

a) ảnh chụp của tất cả các khu vực đo, chụp từ tuabin gió tại độ cao trục quay;

b) vị trí địa lý với thông tin đủ chi tiết để người đọc có thể xác định vị trí của tuabin thử nghiệm;

c) bản đồ địa điểm thử nghiệm hiển thị khu vực xung quanh với bán kính ít nhất gấp 20 lần đường kính cánh tuabin gió, chỉ ra địa hình, vị trí của tuabin, cột đo khí tượng, các chướng ngại vật đáng kể, các tuabin gió khác và khu vực đo;

d) nếu khu vực đo được mở rộng ngoài phương pháp trong TCVN 10687-12-1 (IEC 61400-12-1) theo phần 6.2, cung cấp bằng chứng cho thấy rằng tốc độ gió và TI đo tại cột khí tượng đại diện cho các giá trị mà tuabin gió trải qua;

e) nếu đã thực hiện hiệu chuẩn vị trí, cung cấp kết quả hiệu chuẩn, bao gồm giới hạn của khu vực đo cuối cùng và lý do cho bất kỳ thay đổi nào từ kết quả đánh giá địa điểm.

4) Danh sách các kênh đo.

5) Hệ tọa độ được sử dụng trong thử nghiệm.

6) Thiết bị đo, bao gồm:

a) mô tả hệ thống thu thập dữ liệu (tốc độ lấy mẫu, bộ lọc, đồng bộ hóa nếu có);

b) đối với mỗi kênh đo:

i) thông tin chi tiết về thiết bị đo (hãng sản xuất, kiểu mẫu, số sê-ri);

ii) thông tin chi tiết về ổn định tín hiệu;

iii) vị trí thực tế và hướng lắp đặt của thiết bị, thông tin chi tiết về việc lắp đặt;

iv) hệ số độ dốc, độ lệch, phương pháp tính toán và dẫn xuất;

v) dữ liệu hiệu chuẩn (dữ liệu đo thực tế hoặc trang bìa phiếu hiệu chuẩn, kiểm tra đầu cuối); đối với các kênh tải, bao gồm cả các đầu vào sử dụng cho hiệu chuẩn và nguồn của chúng (ví dụ: nhà sản xuất hoặc được đo);

vi) bất kỳ thay đổi nào đối với thiết bị hoặc quá trình hiệu chuẩn trong thời gian thử nghiệm được nêu trong báo cáo.

7) Kiểm tra việc kiểm tra xác nhận dữ liệu theo yêu cầu của 9.1.

8) Tiêu chí loại bỏ dữ liệu (khu vực đo, tín hiệu trạng thái của tuabin) và tiêu chí phân loại dữ liệu (các tiêu chí để đưa dữ liệu vào các ma trận thu thập khác nhau).

9) Phương pháp xử lý sau đo, bao gồm:

a) lọc trong quá trình xử lý sau đo;

b) loại bỏ đỉnh nhọn;

c) mô tả các kênh đã tính toán (ví dụ: trục trước-sau của tháp từ độ uốn của tháp và vị trí hướng xoay tuabin);

d) phương pháp đếm chu kỳ dòng mưa;

e) phương pháp phát hiện xu hướng tốc độ gió;

f) các xử lý bổ sung đối với dữ liệu.

10) Kết quả. Trong báo cáo thử nghiệm, tối thiểu cần bao gồm các kết quả sau (ngoại trừ những nội dung được ghi nhãn là tùy chọn):

a) đối với giai đoạn thử nghiệm:

i) đồ thị các điều kiện khí tượng theo thời gian (giá trị trung bình 10 min):

- tốc độ gió (ví dụ trong Hình C.1);

- hướng gió;

- TI;

- khối lượng riêng của không khí;

- độ trượt gió.

ii) TI là hàm của tốc độ gió (theo số liệu đo, ví dụ trong Hình C.2);

iii) TI đã hiệu chỉnh và theo số liệu đo dưới dạng hàm số của tốc độ gió (tỷ lệ, chênh lệch hoặc cả hai; ví dụ trong Hình C.3);

iv) đồ thị tán xạ của điều kiện khí tượng theo hướng gió (giá trị trung bình 10 min):

- tốc độ gió;

- TI;

- độ trượt gió.

b) đối với quá trình sản xuất điện bình thường:

i) ma trận thu thập dữ liệu theo 6.3.5 (ví dụ trong Hình C.4);

li) chuỗi thời gian dài 60 s của các đại lượng khí tượng (tín hiệu bắt buộc trong Bảng 11), các đại lượng vận hành của tuabin (tín hiệu bắt buộc trong Bảng 12) và bảy tải trọng chính được xác định trong Bảng 9 ở chế độ tải trọng từng phần, gần v r và lớn hơn v r (ví dụ xem Hình C.5 và Hình C.6);

iii) đồ thị tán xạ (các giá trị cực đại, cực tiểu, trung bình, độ lệch chuẩn và DEL (chỉ các tải trọng) là hàm của tốc độ gió trung bình tại độ cao hub) của các điều kiện khí tượng (tín hiệu bắt buộc trong Bảng 11), dữ liệu vận hành của tuabin (tín hiệu bắt buộc trong Bảng 12) và các tải trọng cơ bản (Bảng 9), với các giá trị phân bin trên đỉnh của đồ thị tán xạ (ví dụ cho trên Hình C.7);

iv) phổ tần số chỉ ra các giá trị tần số của các đỉnh được tìm thấy trong phổ (xem phần 10.10 và Hình C.8), với sự chỉ rõ tốc độ quay hoặc tốc độ quay của một cánh (1P);

v) phổ tích lũy theo chu kỳ dòng mưa cho các tải trọng cơ bản trong Bảng 9 (ví dụ trong Hình C.9);

vi) bảng với giá trị trung bình của các giá trị trung bình, giá trị tối đa của cực đại 10 min, giá trị tối thiểu của cực tiểu 10 min và tải trọng tương đương hư hỏng (DEL) trung bình theo tốc độ gió đã được bin trong các khoảng 1 m/s cho tất cả các tín hiệu khí tượng (tín hiệu bắt buộc trong Bảng 11), tất cả các chỉ số vận hành của tuabin (tín hiệu bắt buộc trong Bảng 12) và tất cả các tải trọng cơ bản (Bảng 9) (tùy chọn) (ví dụ cho trong Bảng C.1);

vii) đồ thị của C tC p được phân bin là hàm của tốc độ gió (tùy chọn);

viii) các hạng mục nêu trên cho bất kỳ tín hiệu bắt buộc nào khác trong Bảng 10.

c) đối với các sự kiện quá độ:

i) ma trận thu thập dữ liệu, bao gồm tham chiếu đến bộ nhận dạng tệp chứa sự kiện (ví dụ trong Bảng C.2);

ii) đối với một trong mỗi loại sự kiện: chuỗi thời gian của các đại lượng khí tượng, vận hành tuabin bắt buộc và các tải trọng cơ bản được xác định trong các Bảng 9, 11 và 12 (ví dụ trong Hình C.10 và C.11);

iii) bảng thống kê của từng kênh trong thời gian quá độ (được khuyến nghị) (ví dụ cho trong Bảng C.3).

d) điều kiện dừng:

i) ma trận thu thập dữ liệu liên kết với tên tệp;

ii) chuỗi thời gian (600 s thay vì 60 s) một ví dụ đối với từng độ lệch hướng xoay mục tiêu.

e) các trường hợp đo tải trọng động:

i) phổ tần số cho từng DLC đối với các đại lượng tải trọng mục tiêu.

f) đối với các tuabin có công suất danh định lớn hơn 1 500 kW và đường kính cánh lớn hơn 75 m, yêu cầu báo cáo đối với các đại lượng tải trọng bắt buộc bổ sung là giống như các đại lượng được xác định trên đối với các tín hiệu trong Bảng 9.

11) Đánh giá độ không đảm bảo theo yêu cầu của Điều 11:

a) đối với đại lượng đo được:

i) bảng các giá trị của các nguồn độ không đảm bảo được sử dụng để ước lượng độ không đảm bảo chuẩn tổng của đại lượng đo được (ví dụ trong Bảng B.1 của Phụ lục B);

ii) tuyên bố về độ không đảm bảo chuẩn tổng của đại lượng đo được (theo phần trăm và giá trị tuyệt đối).

b) đối với các kết quả đã được phân loại theo bin:

i) bảng có độ không đảm bảo chuẩn tổng cho giá trị trung bình bin của đại lượng đo được theo hàm của tốc độ gió trung bình bin;

ii) bảng có độ không đảm bảo chuẩn tổng cho giá trị trung bình bin của DEL của đại lượng đo được là hàm của tốc độ gió trung bình bin;

c) đối với tải trọng tương đương phá hủy (DEL) và phổ chu kỳ dòng mưa tích lũy:

i) tuyên bố về độ không đảm bảo chuẩn tổng của DEL trong 10 min đối với đại lượng đo được (chỉ tính phần trăm);

ii) độ không đảm bảo của phổ chu kỳ dòng mưa tích lũy (phần trăm trên các khoảng).

12) Các sai lệch so với tiêu chuẩn.

13) Tham khảo tài liệu.

Nên cung cấp thông tin từ các điểm 4) đến 6) trong suốt quá trình đo dưới dạng báo cáo về thiết bị và hiệu chuẩn.

 

Phụ lục A

(tham kh A)

Ví dụ về hệ toạ độ

A.1 Quy định chung

Tất cả các hệ tọa độ được sử dụng trong tiêu chuẩn này là hệ tọa độ Đề-các tay phải.

A.2 Hệ tọa độ cánh

Hệ tọa độ cánh là một hệ tọa độ gắn cố định vào cánh. Gốc của hệ tọa độ này thông thường được đặt tại tâm của mặt bích tại gốc cánh (xem Hình A.1).

Trục z b : Song song với trục pitch (trục dọc của cánh), hướng về phía đầu cánh.

Trục y b : Song song với đường tham chiếu với góc pitch (góc xoay của cánh quanh trục pitch) bằng “không” tại gốc cánh, do nhà sản xuất cánh cung cấp và hướng về phía mép sau. Nếu đường này không tồn tại, thì trục y b song song với đường dây cung tại 70 % hướng dọc cánh, hướng về mép sau.

Trục x b : Được xác định sao cho hệ x b y b z b là hệ trục theo quy tắc bàn tay phải.

Hình A.1 - Hệ tọa độ cánh

A.3 Hệ tọa độ của hub

Để chuyển đổi hệ tọa độ cánh sang hệ tọa độ hub, cần phải tính đến các góc chóp, góc pitch và khoảng cách giữa mặt bích cánh và tâm rôto. Nên chọn một cánh làm cánh tham chiếu.

Hệ tọa độ hub quay cùng với trục chính. Gốc tọa độ được đặt trên trục chính, nằm trong mặt phẳng vuông góc với trục chính và chứa gốc tọa độ của cánh tham chiếu (xem Hình A.2).

Trục x h : Song song với trục chính và có chiều dương theo hướng xuôi gió.

Trục z h : Song song với mặt phẳng đĩa rôto thông qua gốc tọa độ của cánh tham chiếu.

Trục y h : Được xác định sao cho hệ x b y b z b là hệ trục theo quy tắc bàn tay phải.

Hình A.2 - Hệ tọa độ hub

A.4 Hệ tọa độ vỏ tuabin

Khi chuyển đổi từ trục tọa độ bub sang hệ tọa độ vỏ tuabin, phải tính đến góc phương vị của rôto, góc nghiêng và vị trí tương đối của gốc hub và gốc vỏ tuabin.

Hệ tọa độ vỏ tuabin có gốc tọa độ tại trục xoay tuabin (yaw), ở điểm gần nhất với đường tâm của trục chính (xem Hình A.3).

Trục x n : Song song với hình chiếu ngang của trục rôto.

Trục y n : Nằm ngang, được xác định sao cho hệ x b y b z b là hệ trục theo quy tắc bàn tay phải.

Trục z n : Thẳng đứng, hướng lên trên.

Hệ tọa độ vỏ tuabin xoay theo vỏ tuabin.

Hình A.3 - Hệ tọa độ vỏ tuabin

A.5 Hệ tọa độ tháp

Để chuyển đổi từ hệ tọa độ vỏ tuabin sang hệ tọa độ tháp, phải tỉnh đến góc xoay (yaw), độ nghiêng, độ lệch trục và khoảng cách từ gốc tọa độ vỏ tuabin đến chân tháp.

Hệ tọa độ tháp được xác định với gốc tọa độ đặt tại tâm của chân tháp (xem Hình A.4).

Trục z t : Đồng trục với trục tháp.

Trục x t : Được xác định sao cho thuận tiện (tức là theo vị trí và hình dạng của mặt cắt ngang của tháp).

Trục y t : Được xác định sao cho hệ x b y b z b là hệ trục theo quy tắc bàn tay phải.

Hình A.4 - Hệ tọa độ tháp

A.6 Độ lệch hướng xoay

Độ lệch hướng xoay được xác định là góc giữa hình chiếu bằng của đường tâm trục chính và véctơ tốc độ gió. Góc này được tính bằng cách lấy vị trí hướng xoay tuabin trừ đi hướng của gió.

Trong Hình A.5, độ lệch hướng xoay được biểu diễn với giá trị dương.

Hình A.5 - Độ lệch hướng xoay

A.7 Góc chóp và góc nghiêng

Hình A.6 minh họa góc hình nón và góc nghiêng của hệ thống.

 

Hình A.6 - Góc chóp và góc nghiêng

A.8 Góc phương vị của rôto

Góc phương vị của rôto có thể thay đổi từ 0° đến 360°. Góc 0° được xác định khi cánh tham chiếu đang chỉ thẳng lên trên.

A.9 Góc pitch của cánh

Góc pitch của cánh là góc xoay tương đối của trục y b theo hệ tọa độ hub. Góc này được xác định là dương khi xoay về phía feather (phía giảm lực khí động) và âm khi xoay về phía stall (phía làm nghẽn luồng khí). Thông thường, góc pitch trong quá trình phát điện xấp xỉ bằng 0° và trong điều kiện dừng xấp xỉ bằng 90°.

 

Phụ lục B

(tham kh B)

Quy trình đánh giá độ không đảm bảo trong các phép đo tải trọng trên tuabin gió

B.1 Danh sách ký hiệu

10 min

giá trị trung bình mười phút

A

hệ số trong ma trận hiệu chuẩn

α

góc lệch

B

hệ số cầu đo

C

tổng hợp

cal

đo độ không đảm bảo hiệu chuẩn

D

hệ số trong ma trận hiệu chuẩn nghịch đảo

D i

đường kính trong tại mặt cắt

D o

đường kính ngoài tại mặt cắt

e

hướng cạnh cánh

ɛ

biến dạng

E

môđun đàn hồi

f

hướng bản cánh

F

lực hiệu chuẩn

F sens

hệ số độ nhạy

G

môđun trượt gió

i

chỉ số (chung)

j

chỉ số (chung)

k

hệ số k của cảm biến đo biến dạng

L

khoảng cách giữa tải trọng hiệu chuẩn và cảm biến đo biến dạng

M

mômen

n

số lần đo

N

số lượng đầu vào mỗi bin

Q

lượng tử hóa

r

hệ số tương quan

R

điện trở

s

độ không đảm bảo loại A

stdev

độ lệch chuẩn

sig

do độ không đảm bảo tín hiệu

S

tín hiệu

S V

tín hiệu với đơn vị điện áp

S M

tín hiệu với đơn vị mômen

scat

độ không đảm bảo do sự phân tán trong bin

SG

cảm biến đo biến dạng

SM

môđun mặt cắt

t

tổng

TW

độ dày thành tháp

u

độ không đảm bảo loại B

U o

đầu ra của cầu đo

U i

độ kích thích của cầu đo

U

độ không đảm bảo chuẩn trong kết quả cuối cùng

v

biến độc lập (chung)

x

hướng của tải trọng hiệu chuẩn so với trục cánh

x

hệ số poisson

X

đại lượng trục X

y

biến phụ thuộc (chung)

Y

đại lượng trục y

δ

đạo hàm riêng

θ

hướng của tải trọng hiệu chuẩn so với dây cung cánh

S shunt

độ thay đổi tín hiệu đo được gây ra bởi điện trở shunt

B.2 Quy trình chung

B.2.1 Độ không đảm bảo chuẩn

Độ không đảm bảo trong các phép đo tải trọng của tuabin gió được xác định theo TCVN 9595-3 (ISO/IEC Guide 98-3). Trong hướng dẫn này, độ không đảm bảo của một đại lượng đo được gọi là độ không đảm bảo chuẩn của đại lượng đó. Người ta giả định rằng đại lượng đo được đặc trưng bởi phân bố xác suất chuẩn (phân bố Gaussian) với giá trị đo được là giá trị trung bình và độ không đảm bảo chuẩn là độ lệch chuẩn. Hướng dẫn của ISO phân biệt giữa các độ không đảm bảo Loại A và Loại B.

Mỗi phép đo đều có một độ không đảm bảo liên quan. Độ không đảm bảo này có thể được mô tả là độ không đảm bảo Loại A, độ không đảm bảo Loại B, hoặc có thể là sự kết hợp của cả hai. Sự phân biệt loại liên quan đến cách xác định giá trị độ không đảm bảo. Độ không đảm bảo Loại A yêu cầu một lượng dữ liệu tĩnh độc lập đáng kể; khi dữ liệu như vậy không có sẵn, độ không đảm bảo sẽ được xác định thông qua các phương pháp phi thống kê như mô tả của độ không đảm bảo Loại B.

Độ không đảm bảo Loại A (si) có thể được xác định thông qua phân tích thống kê của chuỗi các phép đo lặp lại. Nếu một đại lượng tĩnh, xi, được đo n lần, độ không đảm bảo chuẩn Loại A có thể được tính toán bằng Công thức (B.1). Vì chúng ta đang tính toán độ không đảm bảo của bất kỳ một phép đo nào, ta nên giả định n = 1.

Độ không đảm bảo Loại B (ui) không được xác định thông qua các phương pháp thống kê, mà dựa vào dữ liệu hiệu chuẩn hoặc đánh giá kỹ thuật. Để xác định độ không đảm bảo Loại B, có thể sử dụng nhiều tài liệu tham khảo như đại lượng kỹ thuật từ nhà sản xuất, báo cáo hiệu chuẩn, các phân tích lý thuyết, hoặc kinh nghiệm thực tiễn với vật liệu hoặc thiết bị.

• Nếu nhà sản xuất thiết bị hoặc các nguồn đáng tin cậy khác đưa ra khoảng độ không đảm bảo kèm theo mức độ tin cậy, có thể giả định phân bố chuẩn để tính toán độ lệch chuẩn tương ứng.

• Trong trường hợp nguồn cung cấp một sai số lớn nhất, a, có thể giả định phân bố xác suất hình chữ nhật với độ rộng là 2a và xác định độ không đảm bảo chuẩn theo Công thức (B.2).

Ví dụ về độ không đảm bảo Loại B được đo là độ không đảm bảo hiệu chuẩn từ phiếu hiệu chuẩn của thiết bị đo tốc độ gió.

Vì không thể đo trực tiếp độ không đảm bảo Loại B bằng các phương pháp thực tiễn, chúng phải được ước tính. Ví dụ, độ không đảm bảo về phân bố khối lượng cánh thường là một độ không đảm bảo Loại B ước tính, do nó thường dựa trên các tham số thiết kế thay vì các phép đo thực tế.

B.2.2 Tổng hợp các độ không đảm bảo chuẩn theo phân tích

Khi các độ không đảm bảo Loại A và Loại B được xác định, độ không đảm bảo tổng hợp được xác định như trong công thức (B.3), trong đó 5C là độ không đảm bảo Loại A tổng hợp theo phân tích hoặc số, và u c là độ không đảm bảo Loại B tổng hợp theo cùng cách. Cần lưu ý rằng trong một số tình huống, độ không đảm bảo u có thể được giải thích đầy đủ chỉ bằng các độ không đảm bảo Loại A hoặc chỉ bằng Loại B (tức là, s c hoặc u c có thể bằng 0).

Việc tổng hợp các độ không đảm bảo chuẩn theo phân tích được thực hiện khi tất cả các phân phối xác suất của các tham gia đều là phân phối chuẩn Gaussian và hàm toán học mô tả mối quan hệ giữa biến quan tâm, y, và các biến phụ thuộc, x 1 , x 2 , .. x n , đã được biết. Việc tổng hợp này được tính toán dựa trên định luật lan truyền độ không đảm bảo, như thể hiện trong công thức (B.4).

y = f(x 1 ,x 2 ,....x n )

r(x i , x j ) = hệ số tương quan giữa các biến x ix j .

Hệ số tương quan giữa hai thông số cho biết mức độ phụ thuộc lẫn nhau của các độ không đảm bảo của chúng. Giá trị của hệ số tương quan nằm trong khoảng từ -1 (phụ thuộc âm hoàn toàn, ví dụ như sự xấp xỉ độ không đảm bảo của hệ số góc và độ dịch từ một đường thẳng) đến +1. Khi các tham số đầu vào không có sự phụ thuộc lẫn nhau, hệ số tương quan bằng 0. Trong nhiều trường hợp, hệ số tương quan có thể được coi như xấp xỉ bằng 0 hoặc +1, giúp đơn giản hóa Công thức (B.4) thành (B.5) hoặc (B.6).

hoặc

Các công thức từ (B.4) đến (B.6) có thể áp dụng cho cả các độ không đảm bảo Loại A và Loại B.

B.2.3 Độ không đảm bảo tổng

B.2.3.1 Độ không đảm bảo hiệu chuẩn

Mọi đại lượng vật lý được xác định bằng cách áp dụng một hàm truyền đã được biết đến với các tín hiệu thô đã đo dưới dạng số. Thông thường, hàm truyền được xác định bằng hệ số góc và độ lệch, nhưng trong một số trường hợp, có thể bao gồm các hàm bậc cao hơn.

Các hệ số của hàm truyền này được xác định thông qua các phương pháp hiệu chuẩn như:

• hiệu chuẩn toàn bộ hệ thống

- hiệu chuẩn tín hiệu vị trí vỏ tuabin bằng cách xoay vỏ tuabin về hướng các điểm mốc đã xác định

- hiệu chuẩn mômen uốn cánh rôto bằng tải trọng tĩnh

• hiệu chuẩn phân tích

- hiệu chuẩn shunt cho tín hiệu của cảm biến biến dạng

• tờ hiệu chuẩn

- thiết bị đo gió được hiệu chuẩn theo TCVN 10687-12-1 (IEC 61400-12-1)

- bộ biến đổi dòng điện và công suất

Mỗi phương pháp hiệu chuẩn đều bao gồm sự đóng góp khác nhau từ độ không đảm bảo Loại A và Loại B, cần được xem xét kỹ lưỡng.

B.2.3.2 Độ không đảm bảo của tín hiệu

Lý tưởng nhất, độ không đảm bảo của các đại lượng đánh giá sẽ chỉ bị chi phối bởi độ không đảm bảo từ quá trình hiệu chuẩn. Tuy nhiên, trong thực tế, còn có các yếu tố khác ảnh hưởng đến các đại lượng đã đo.

Các nguồn gây ra độ không đảm bảo của tín hiệu bổ sung có thể là những yếu tố nhỏ (nhiễu lượng tử), nhưng các yếu tố khác như:

• nhiễu bổ sung (nhiễu từ môi trường điện từ)

• ảnh hưởng của nhiệt độ (hiệu ứng trôi)

có thể góp phần tạo ra độ không đảm bảo đáng kể cho các đại lượng đã đo.

Một cách khả thi để định lượng độ không đảm bảo của tín hiệu là thực hiện phân tích thống kê tín hiệu ở các mức ổn định đã biết. Khi đó, độ không đảm bảo của tín hiệu sẽ được xem là độ không đảm bảo Loại A.

CHÚ THÍCH: Trong trường hợp hiệu chuẩn toàn bộ hệ thống đo (chẳng hạn như hiệu chuẩn từ đầu đến cuối), độ không đảm bảo này có thể đã được tính là một thành phần của độ không đảm bảo hiệu chuẩn.

Nếu phương pháp thống kê không khả dụng, các yếu tố đóng góp độ không đảm bảo bổ sung cần được ước lượng như là các độ không đảm bảo Loại B.

B.2.3.3 Độ không đảm bảo tổng

Tổng độ không đảm bảo chuẩn đối với một đại lượng chưa được kết hợp có thể được xác định bằng công thức (B.7).

B.3 Độ không đảm bảo của các giá trị trung bình bin

B.3.1 Quy định chung

Các giá trị trung bình của một đại lượng hoặc của DEL có thể được thể hiện là hàm của một đại lượng khác thông qua việc tính giá trị trung bình 10 min và bằng cánh lập bin hai đại lượng.

Độ không đảm bảo trong các đường cong phân theo bin bao gồm sự không đảm bảo ở mỗi giá trị trung bình của bin. Độ không đảm bảo này được gây ra bởi sự không đảm bảo trong hiệu chuẩn và tín hiệu, độ không đảm bảo do sự phân tán, và độ không đảm bảo của đại lượng trên trục X.

B.3.2 Độ không đảm bảo của hiệu chuẩn và tín hiệu

Đối với mỗi giá trị trung bình 10 min, độ không đảm bảo do quá trình hiệu chuẩn và đo tín hiệu được xác định tương tự như phương pháp trong B.2.2, nhưng dựa trên giá trị trung bình 10 min của S 10min thay vì từng nhãn thời gian.

B.3.3 Độ không đảm bảo của sự phân tán theo bin

Độ không đảm bảo trong bin liên quan, được cho bởi sự phân tán của các giá trị trung bình 10 min được giả định là không tương quan. Do đó, độ không đảm bảo trong giá trị trung bình bin được tính toán từ độ lệch chuẩn của các giá trị trung bình 10 min trong từng bin, cùng với số lần xuất hiện (N) trong từng bin theo công thức (B.8).

trong đó, N là số lần xuất hiện trong bin được xem xét.

B.3.4 Độ không đảm bảo của đại lượng trên trục X

Độ không đảm bảo của đại lượng trên trục x trong mỗi nhóm (u x,i ) được xác định bằng cách tính toán độ không đảm bảo của đại lượng đó, như mô tả trong B.2.3. Độ không đảm bảo này sau đó được chuyển thành độ không đảm bảo trong giá trị trung bình bin (u x ) bằng cách sử dụng hệ số góc của đoạn trước đó trong đường cong theo nhóm:

trong đó chỉ số i đại diện cho nhóm được xem xét, bắt đầu từ nhóm thứ hai (i = 2).

Giá trị của u x,1 được quy định bằng với u x,2

B.3.5 Độ không đảm bảo của các giá trị trung bình bin

Đinkhông đómđbảo thông ưg đómđbảo của bin cho to mômen umen ưg đómđbảo ceo bin bằng cách sử dụng công thức:

B.4 Độ không đảm bảo chuẩn của DEL và phổ tải trọng

Phổ tải trọng là kết quả của thuật toán đếm dòng mưa, để đếm các quá độ trong tín hiệu.

Do đó, độ không đảm bảo của DEL và phổ tải trọng có thể được giả định là ở trong cùng một phạm vi như độ không đảm bảo của đại lượng đo được.

B.5 Ví dụ về đánh giá độ không đảm bảo

B.5.1 Ví dụ về hiệu chuẩn điện trở shunt theo phân tích cho mômen xoắn của tháp

B.5.1.1 Các thành phần độ không đảm bảo

Trong Bảm bảoắnđộ n điện trở shunt g một phạm ưa, hứ hai (g cong rong giá trị trung bình bin (áp trongng như là các độ không đảm bảo Loại B.ừ m

Bảng B.1 - Các thành phần độ không đảm bảo

Đại lượng

Ký hiệu

Độ không đảm bảo

Đơn vị

Nguồn thông tin

Loại

Phân bố

Chú thích

Các tham số vật liệu, hình học mặt cắt ngang và hệ số cảm biến đo trong một hệ thống lắp đặt

Hệ số cảm biến đo

u k

1

%

Tờ dữ liệu

B

Gaussian

-

Độ lệch

3

o

Ước tính

B

Phân bổ hình chữ nhật

-

Đường kính trong tại mặt cắt ngang

2,5

mm

Ước tính

B

Gaussian

-

Độ dày thành tại mặt cắt ngang

0,1

mm

Ước tính

B

Gaussian

-

Mô đun đàn hồi

u E

5

%

Ước tính

B

Gaussian

-

Hệ số Poisson

u v

5

%

Ước tính

B

Gaussian

-

Hiệu chuẩn bộ khuếch đại

Độ không đảm bảo của bộ khuếch đại và phép đo liên quan đến hệ số khuếch đại

0,1

%

Datasheet / Chứng nhận hiệu chuẩn

B

Gaussian

Giá trị đo

Độ không đảm bảo của bộ khuếch đại và phép đo liên quan đến phần bù

0,1

%

Datasheet / Chứng nhận hiệu chuẩn

B

Phân bố hình chữ nhật

Giá trị trên của dải đo 10 V

Độ phân giải lượng từ hóa (phần bù)

u Q

≈ 0,3

mV

Datasheet

B

Phân bố hình chữ nhật

Bộ chuyển đổi A/D 16 bit

Dải đo ± 10 V

Thiết bị hiệu chuẩn

0,1

%

Datasheet / Chứng nhận hiệu chuẩn

B

Gaussian

Điện trở shunt

Điện trở của cảm biến đo

1

%

Tờ dữ liệu

B

Gaussian

 

Độ không đảm bảo tín hiệu

Độ không đảm bảo tín hiệu

s i

 

 

Thử nghiệm, thống kê, ước tính

A

Gaussian

Đánh giá theo B.2 3.2

B.5.1.2 Độ không đảm bảo hiệu chuẩn của việc hiệu chuẩn phân tích

Trong hiệu chuẩn phân tích, chỉ có thể đánh giá độ dốc. Phần bù của tín hiệu phải được đánh giá bằng các thử nghiệm khác, ví dụ như một số lần quay đầy đủ của vỏ tuabin.

Mômen có thể được suy ra từ sự biến dạng nói chung sử dụng công thức (B.11).

M = G × SM t × ɛ × 2

(B.11)

Độ biến dạng có thể được biểu diễn bằng kích thích của cầu đo, độ nhạy của các cảm biến đo biến dạng và cấu hình của cầu đo.

Trong ví dụ này, hai cảm biến đo biến dạng hoa thị hình V được chọn làm cấu hình của cầu đo, do đó hệ số của cầu đo là B = 4.

Khi kết hợp các công thức đã đề cập, sự phụ thuộc của mômen vào kích thích cầu đo có thể được mô tả bằng công thức (B.13).

Tín hiệu đo dưới dạng mômen được tính từ tín hiệu điện áp đo bởi:

Để xem xét các độ không đảm bảo về định hướng của cảm biến đo biến dạng, một hệ số bổ sung sẽ được đưa vào để thể hiện khả năng mất độ nhạy.

F sens = 1 - cos α

(B.15)

Dưới đây là đạo hàm riêng liên quan các thành phần độ không đảm bảo.

Môđun trượt được tính từ môđun đàn hồi và hệ số Poisson bằng công thức (B.17).

Đạo hàm riêng liên quan đến môđun trượt được thể hiện như trong công thức (B.18).

Tương tự, đạo hàm riêng đối với hệ số Poisson cũng được mô tả trong công thức tương ứng.

Hệ số độ nhạy liên quan đến môđun tiết diện xoắn sẽ được tính theo cách như sau:

Môđun tiết diện xoắn của tháp có thể được tính từ đường kính trong và ngoài bằng công thức (B.21).

Đường kính trong, ngoài và độ dày thành có mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau. Trong phạm vi nhỏ của độ không đảm bảo, các hệ số độ nhạy liên quan đến đường kính trong và độ dày thành có thể được xem là tuyến tính. Việc này dẫn đến công thức (B.22) và công thức (B.23).

Đạo hàm riêng liên quan đến hệ số k là:

Điện trở của cảm biến biến dạng và điện trở shunt được giả định là tuyến tính trong phạm vi không đảm bảo, với điện trở cảm biến biến dạng có độ không đảm bảo là 1 % và điện trở shunt có độ không đảm bảo nhỏ hơn, khoảng 0,1 %.

Đạo hàm riêng liên quan đến hệ số độ nhạy của cầu đo biến dạng gây ra bởi độ lệch của cảm biến đo biến dạng được cho trong công thức (B.27).

Độ không đảm bảo của tín hiệu được ước tính bằng tổng hợp các độ không đảm bảo của bộ khuếch đại cầu đo, độ không đảm bảo của thiết bị đo và nhiễu lượng tử.

Sự đóng góp của độ không đảm bảo trong hệ số khuếch đại của tín hiệu đo được đánh giá dựa trên giá trị đo thực tế.

Độ không đảm bảo tổng hợp sẽ được tính theo công thức (B.30).

Đối với độ không đảm bảo của phần bù của thiết bị đo, cần tính đến tổng hợp giữa độ không đảm bảo của phần bù có phân phối hình chữ nhật và nhiễu lượng tử.

Độ không đảm bảo phần bù của các giá trị đo sẽ được ước tính có xem xét độ không đảm bảo phần bù của thiết bị đo, giá trị hiệu chuẩn độ dốc và giá trị trên của phạm vi đo. Cần lưu ý rằng độ không đảm bảo phần bù này chỉ thể hiện độ không đảm bảo được cho trong bản thân quá trình số hóa dữ liệu.

Bảng B.2 thể hiện các giá trị giả định và độ không đảm bảo tương ứng.

Bảng B.2 - Giá trị giả định và độ không đảm bảo để tính toán

Đại lượng

Ký hiệu đại lượng

Giá trị

Đơn vị

Ký hiệu độ không đảm bảo

Độ không đảm bảo

Đơn vị độ không đảm bảo

Chú thích

Các tham số vật liệu, hình học mặt cắt ngang và hệ số cảm biến đo trong một hệ thống lắp đặt

Hệ số cảm biến đo

k

2,1

-

u k

1

%

 

Độ lệch

α

-

-

3

o

Xem Hình B.1

Đường kính trong tại mặt cắt ngang

D i

4

m

0,002 5

m

Xem Hình B.1

Độ dày thành tại mặt cắt ngang

T w

0,03

m

0,000 1

m

Xem Hình B.1

Mô đun đàn hồi

E

210×10 9

N/m 2

u ɛ

5

%

 

Hệ số Poisson

v

0,27

-

u v

5

%

 

Hiệu chuẩn bộ khuếch đại

Độ không đảm bảo, của bộ khuếch đại và phép đọ liên quan đến hệ số khuếch đại

-

-

-

0,1

%

Giá trị đo

Độ không đảm bảo của bộ khuếch đại và phép đo liên quan đến phần bù

-

10

V

0,1

%

Giá trị trên của dải đo 10 V

Độ phân giải lượng tử hóa

-

± 10

V

u Q

≈ 0,3

mV

Bộ chuyển đổi A/D 16 bít, dải đo ± 10 V

Thiết bị hiệu chuẩn

R SH

1 00

kOhm

0,1

%

Điện trở shunt

Điện trở của cảm biến đo

R SG

350

Ohm

1

%

 

Hình B.1 - Giải thích các ký hiệu được sử dụng

Sử dụng các giá trị của các thành phần độ không đảm bảo được đề cập ở trên và giả sử tín hiệu đo được là 7 V, thu được các phép tính dưới đây.

Với độ dốc 7,46 × 10 6 Nm/V, giá trị độ không đảm bảo hiệu chuẩn được tính trong công thức (B.43) tương ứng với độ không đảm bảo là 5,32 %.

Để tính toán độ không đảm bảo của phần bù của các thiết bị đo, phép tính dưới đây cho ra kết quả về độ không đảm bảo phần bù.

Kết quả của công thức (B.45) cho thấy độ không đảm bảo phần bù từ thiết bị đo là u offset = 6,09 × 10 4 [Nm], tức là 0,82 % so với độ dốc.

B.6 Xác định và sử dụng ma trận hiệu chuẩn

B.6.1 Xác định ma trận hiệu chuẩn

Mômen uốn theo hướng bản cánh và theo hướng cạnh cánh được đo bằng cầu đo biến dạng theo hướng bản cánh và cầu đo biến dạng theo hướng cạnh cánh. Sự phụ thuộc của hai tín hiệu đo trên mômen uốn theo hướng bản cánh và theo hướng cạnh cánh được xác định thông qua quá trình hiệu chuẩn. Hiệu ứng xuyên âm của mômen uốn theo hướng cạnh trên tín hiệu bản cánh và ngược lại được xác định bằng hiệu chuẩn và được hiệu chỉnh trong quá trình đo tải trọng.

Việc hiệu chuẩn được thực hiện bằng cách áp dụng các mômen uốn đã biết rõ trong hướng bản cánh trước, sau đó là hướng cạnh cánh. Đồng thời, cả hai tín hiệu cầu đều được đo. Sự phụ thuộc của các tín hiệu vào mômen uốn được xác định bằng hồi quy tuyến tính giữa các tín hiệu và mômen. Các giá trị phần bù kết quả từ hồi quy tuyến tính không được sử dụng. Các giá trị của độ dốc tạo thành ma trận hiệu chuẩn:

Trong đó:

là tín hiệu của cầu đo biến dạng theo hướng bản cánh (đơn vị µV/V);

là tín hiệu của cầu đo biến dạng theo hướng cạnh cánh (đơn vị µV/V);

là mômen uốn theo hướng bản cánh (đơn vị Nm);

là mômen uốn theo hướng cạnh cánh (đơn vị Nm);

A i (i = 1 ... 4) là các hệ số hiệu chuẩn; các hệ số A 2A 3 do xuyên âm gây ra và bằng không trong trường hợp lý tưởng.

Giá trị của các hệ số hiệu chuẩn và độ không đảm bảo loại A liên quan của chúng (s Ai ) được xác định thông qua hồi quy tuyến tính của các điểm dữ liệu thu được từ quá trình hiệu chuẩn.

Độ không đảm bảo loại B của các hệ số hiệu chuẩn (u Ai ) do các độ không đảm bảo loại B trong:

- các tín hiệu đo ( )

- tải trọng đo được (uF tuF e ),

- khoảng cách đo giữa cảm biến biến dạng và tải trọng tác động (uL fuL e ),

- hướng của lực tác động so với trục cánh ( f e ), và

- hướng của lực tác động so với dây cánh ( f e ).

Các độ không đảm bảo này được ước tính bởi người thực hiện thí nghiệm đối với tải trọng hiệu chuẩn cao nhất. Độ không đảm bảo loại B của mỗi hệ số hiệu chuẩn được xác định theo cách sau:

Giả sử không có sự tương quan giữa các độ không đảm bảo loại B, công thức (B.51) sẽ được áp dụng:

và tương tự đối với , .

Các độ không đảm bảo tổng hợp loại A và loại B của các hệ số được tính bằng công thức sau:

B.6.2 Sử dụng ma trận hiệu chuẩn

e) Hiệu ứng xuyên âm không thể bỏ qua

Ma trận hiệu chuẩn được dùng để chuyển đổi các tín hiệu đo thành tín hiệu tải trọng bằng cách sử dụng nghịch đảo của ma trận hiệu chuẩn trong B.6.1.

Để đơn giản hóa, giả định rằng độ không đảm bảo trong các hệ số A 1 , A 2 , A 3 A 4 là không tương quan. Theo giả định này, độ không đảm bảo trong các hệ số D có thể tính toán dựa trên giá trị của Au cA thông qua công thức (B.54)

và tương tự áp dụng cho D2, D3 và D4 cùng với các đạo hàm riêng của chúng.

Các độ không đảm bảo trong hệ số D i được chuyển đổi thành độ không đảm bảo trong tải trọng đo được, do tác động từ độ không đảm bảo hiệu chuẩn (u cal, fu cal, e ), bằng cách sử dụng công thức (B.56).

Độ không đảm bảo này được coi là hoàn toàn tương quan đối với tất cả các mẫu thời gian trong chuỗi 10 min vì tất cả dữ liệu đo được xử lý từ một lần hiệu chuẩn duy nhất.

f) Hiệu ứng xuyên âm có thể bỏ qua

Khi hiệu ứng xuyên âm có thể bỏ qua, việc áp dụng ma trận hiệu chuẩn sẽ đơn giản hơn rất nhiều. Trong trường hợp này, độ không đảm bảo tương đối trong tải trọng đo được do độ không đảm bảo hiệu chuẩn bằng với độ không đảm bảo tương đối của hệ số hiệu chuẩn.

B.6.3 Chuỗi thời gian

Độ không đảm bảo trong giá trị của từng mẫu thời gian của mômen uốn theo phương ngang và phương dọc được cấu thành từ độ không đảm bảo do kết quả hiệu chuẩn áp dụng (u cal,fu cal,e ) và độ không đảm bảo trong các tín hiệu đo (u Sfu Se ).

a) Độ không đảm bảo hiệu chuẩn

Giá trị của u cal,fu cal,e được xác định trên mỗi mẫu thời gian theo quy trình đã nêu ở B.6.2.

b) Độ không đảm bảo của tín hiệu

Độ không đảm bảo trong các tín hiệu đo có nguồn gốc từ nhiễu tín hiệu (ví dụ, từ nhiễu điện từ) và từ hiện tượng trôi điểm không (ví dụ, do ảnh hưởng của nhiệt độ lên các cảm biến biến dạng), về mặt tổng quát, độ không đảm bảo của tín hiệu có thể biểu diễn dưới dạng u Sf = a × S t + b, trong đó S f là giá trị tín hiệu theo phương ngang, và a, b là các hệ số được tính toán dựa trên kiến thức của người thực nghiệm về hệ thống đo. Quy trình tương tự cũng áp dụng cho u Se . Độ không đảm bảo đo của từng mẫu thời gian sẽ được chuyển đổi thành độ không đảm bảo của mômen uốn thông qua các công thức tương ứng.

c) Độ không đảm bảo tổng

Độ không đảm bảo tổng, bao gồm độ không đảm bảo từ quá trình hiệu chuẩn và từ tín hiệu, tại mỗi dấu thời gian của các mômen uốn theo phương ngang và phương dọc được đo sẽ được tính thông qua các công thức dưới đây.

 

Phụ lục C

(tham khảo)

Trình bày mẫu về các phép đo và phân tích tải trọng cơ học

C.1 Quy định chung

Trong Phụ lục C, các ví dụ báo cáo về kết quả được cung cấp. Mỗi loại biểu đồ chỉ được cung cấp một ví dụ. Các yêu cầu về báo cáo kết quả được quy định tại Điều 12.

Hình C.1 - Tốc độ gió ở độ cao hub là hàm của thời gian

Hình C.2 - Cường độ nhiễu động ở độ cao hub là hàm của tốc độ gió ở độ cao hub

Hình C.3 - Xu hướng cường độ nhiễu động là hàm của tốc độ gió ở độ cao hub

Hình C.4 - Ma trận thu thập toàn bộ với tất cả các kênh tải trọng đang vận hành

Hình C.5 - Ví dụ tuabin tại 9,1 m/s - Các đại lượng vận hành và khí tượng của tuabin gió

Hình C.6 - Ví dụ tuabin IEC tại 9,1 m/s - Các thành phần tải trọng chính

Hình C.7 - Thống kê 10 min cho mômen uốn theo hướng cạnh cánh tại gốc cánh số 1

Hình C.8 - Mật độ phổ công suất của mômen uốn theo hướng cạnh cánh tại gốc cánh của cánh số 1

Bảng C.1 - Dữ liệu bin cho mômen uốn theo hướng cạnh cánh tại gốc cánh của cánh số 1

Bin số

Bin tốc độ gió thấp

Bin tốc độ gió cao

Tốc độ gió trung bình

Số lượng file

Giá trị nhỏ nhất của các giá trị tối thiểu

Giá trị trung bình của các giá trị trung bình

Giá trị lớn nhất của các giá trị tối đa

Giá trị trung bình của độ lệch chuẩn

Giá trị trung bình của DEL (m = 12)

1

3,0

4,0

3,7

17

-3,86e+03

5,65e+01

4,01e+03

2,53e+03

6,07e+03

2

4,0

5,0

4,6

68

-3,88e+03

9,21 e+01

4,36e+03

2,53e+03

6,09e+03

3

5,0

6,0

5,5

77

-3,88e+03

1,74e+02

4,68e+03

2,54e+03

6,15e+03

4

6,0

7,0

6,5

89

-3,95e+03

2,86e+02

5,06e+03

2,54e+03

6,26e+03

5

7,0

8,0

7,5

90

-3,92e+03

4,15e+02

5,36e+03

2,55e+03

6,39e+03

6

8,0

9,0

8,5

95

-4,00e+03

5,49e+02

5,61 e+03

2,57e+03

6,53e+03

7

9,0

10,0

9,5

96

-3,97e+03

7,32e+02

6,09e+03

2,58e+03

6,66e+03

8

10,0

11,0

10,5

107

-4,11e+03

8,63e+02

6,31 e+03

2,60e+03

6,76e+03

9

11,0

12,0

11,5

88

-4,01 e+03

9,40e+02

6,21 e+03

2,61 e+03

6,88e+03

10

12,0

13,0

12,4

70

-3,99e+03

8,83e+02

6,31 e+03

2,62e+03

6,96e+03

11

13,0

14,0

13,5

83

-4,29e+03

7,22e+02

6,39e+03

2,62e+03

6,94e+03

12

14,0

15,0

14,4

66

-4,39e+03

5,76e+02

6,38e+03

2,60e+03

6,90e+03

13

15,0

16,0

15,5

58

-4,34e+03

3,97e+02

6,33e+03

2,58e+03

6,83e+03

14

16,0

17,0

16,4

45

-4,56e+03

3,00e+02

6,02e+03

2,56e+03

6,79e+03

15

17,0

18,0

17,5

35

-4,50e+03

2,34e+02

6,17e+03

2,54e+03

6,79e+03

16

18,0

19,0

18,5

33

-4,64e+03

1,78e+02

5,87e+03

2,52e+03

6,77e+03

17

19,0

20,0

19,5

37

-4,68e+03

1,43e+02

5,67e+03

2,50e+03

6,81e+03

18

20,0

21,0

20,5

15

-4,97e+03

1,16e+02

5,55e+03

2,49e+03

6,88e+03

19

21,0

22,0

21,5

11

-4,80e+03

1,02e+02

4,95e+03

2,47e+03

6,90e+03

20

22,0

23,0

22,4

16

-5,09e+03

9,29e+01

5,14e+03

2,46e+03

6,94e+03

21

23,0

24,0

23,6

11

-5,13e+03

8,87e+01

5,40e+03

2,44e+03

7,04e+03

22

24,0

25,0

24,5

5

-4,98e+03

8,80e+01

5,29e+03

2,41 e+03

7,05e+03

Phổ tải mỏi tích lũy đối với mômen uốn theo hướng cạnh cánh tại gốc cánh của cánh số 1 trong thời gian thử nghiệm

Các chu kỳ dòng mưa tích lũy

Hình C.9 - Phổ dòng mưa tích lũy đối với mômen uốn theo hướng cạnh cánh tại gốc cánh của cánh số 1 trong thời gian thử nghiệm

Bảng C.2 - Ma trận thu thập quá độ cho khởi động và dừng bình thường

Các sự kiện khởi động bình thường và dừng bình thường

Sự kiện

 

(v in đến v r - 2)

trên v r + 2

Khởi động

Số lần lặp lại tối thiểu yêu cầu

3

3

Filename1

TurbX_2013_06_02_14_10_30_WS_05.dat

TurbX_2013_06_16_05_20_30_WS_15.dat

Filename2

TurbX_2013_06_02_14_20_30_WS_06.dat

TurbX_2013_06_14_07_10_30_WS_18.dat

Filename3

TurbX_2013_06_02_14_30_30_WS_08.dat

TurbX_2013_06_10_11_40_30_WS_21.dat

Dừng bình thường

Số lần lặp lại tối thiểu yêu cầu

3

3

Filename1

TurbX_2013_06_02_14_10_30_WS_05.dat

TurbX_2013_06_02_07_30_30_WS_17.dat

Filename2

TurbX_2013_06_02_14_20_30_WS_06.dat

TurbX_2013_06_14_21_20_30_WS_15.dat

Filename3

TurbX_2013_06_02_14_30_30_WS_08.dat

TurbX_2013_06_12_13_10_30_WS_21.dat

Bảng C.3 - Mô tả thống kê tóm tắt cho việc dừng tuabin bình thường của ví dụ cho tuabin tại 9,5 m/s

Mô tả sự kiện:

Dừng tuabin bình thường của ví dụ cho tuabin tại 9,5 m/s

Tên file:

lEC_tuabin_Dừng bình thường_WS_9.5_YAW_275.tdms

Thời gian:

2012:06:12 10:50:21

Đại lượng đo được

trung bình

độ lệch chuẩn

nhỏ nhất

lớn nhất

Tốc độ gió ở độ cao hub (m/s)

9,5

1,4

5,9

13,3

Hướng gió ở độ cao hub (độ)

276,6

9,6

259,5

299,5

Nhiệt độ không khí ở độ cao hub (°C)

4,6

0,1

4,4

4,7

Áp suất không khí (kPa)

80,5

0,0

80,5

80,5

Công suất (kW)

606,2

1 155,1

-61,2

4 020,1

Tốc độ rôto (rpm)

7,6

5,3

1,8

18,2

Góc pitch (độ)

38,4

24,1

-2,0

67,8

Vị trí xoay (độ)

275,1

10,8

267,0

300,0

Momen uốn hướng bản cánh 1 (kNm)

-2,68e+02

1,80e+03

-3,07e+03

5,51e+03

Mômen uốn hướng cạnh cánh 1 (kNm)

2,97e+02

1,28e+03

-1,99e+03

3,88e+03

Mômen uốn hướng bàn cánh 2 (kNm)

-1,31e+02

1,78e+03

-3,01e+03

5,07e+03

Mômen uốn hướng cạnh cánh 2 (kNm)

4,76e+02

1,32e+03

-1,83e+03

3,88e+03

Mômen xoắn rôto (kNm)

-2,38e+02

5,63e+02

-7,54e+02

1,36e+03

Mômen nghiêng rôto (kNm)

-2,51e+03

6,89e+02

-3,83e+03

4,07e+02

Mômen xoay hướng rôto (kNm)

3,16e+02

2,30e+02

-5,04e+02

1,29e+03

Mômen ngang chân tháp (kNm)

-6,74e+01

2,15e+03

-5,01e+03

6,06e+03

Mômen dọc chân tháp (kNm)

2,23e+03

1,12e+04

-9,66e+03

4,29e+04

Mômen xoắn đỉnh tháp (kNm)

3,47e+02

2,53e+02

-5,54e+02

1,42e+03