Luật Kinh doanh bảo hiểm của Quốc hội, số 08/2022/QH15

  • Tóm tắt
  • Nội dung
  • VB gốc
  • Tiếng Anh
  • Hiệu lực
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Nội dung MIX

    - Tổng hợp lại tất cả các quy định pháp luật còn hiệu lực áp dụng từ văn bản gốc và các văn bản sửa đổi, bổ sung, đính chính…

    - Khách hàng chỉ cần xem Nội dung MIX, có thể nắm bắt toàn bộ quy định pháp luật hiện hành còn áp dụng, cho dù văn bản gốc đã qua nhiều lần chỉnh sửa, bổ sung.

  • Tải về
Mục lục
Mục lục
Tìm từ trong trang
So sánh văn bản cũ/mới

Đây là tiện ích dành cho thành viên đăng ký phần mềm.

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản LuatVietnam và đăng ký sử dụng Phần mềm tra cứu văn bản.

Tải văn bản
Lưu
Theo dõi hiệu lực VB

Đây là tiện ích dành cho thành viên đăng ký phần mềm.

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản LuatVietnam và đăng ký sử dụng Phần mềm tra cứu văn bản.

Báo lỗi
Tình trạng hiệu lực: Đã biết
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng: Đã biết

QUỐC HỘI
--------

Luật số: 08/2022/QH15

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

LUẬT

KINH DOANH BẢO HIỂM

Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

Quốc hội ban hành Luật Kinh doanh bảo hiểm.

Chương I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
1. Luật này quy định về tổ chức và hoạt động kinh doanh bảo hiểm; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm; quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh bảo hiểm.
2. Luật này không áp dụng đối với bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm tiền gửi và các loại bảo hiểm khác do Nhà nước thực hiện không mang tính kinh doanh.
Điều 2. Đối tượng áp dụng
1. Doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, đại lý bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm, tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô.
2. Chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, chi nhánh doanh nghiệp tái bảo hiểm nước ngoài (sau đây gọi là chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam).
3. Văn phòng đại diện của doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài, doanh nghiệp tái bảo hiểm nước ngoài, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm nước ngoài, tập đoàn tài chính, bảo hiểm nước ngoài tại Việt Nam (sau đây gọi là văn phòng đại diện nước ngoài tại Việt Nam).
4. Bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm, người thụ hưởng.
5. Cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh bảo hiểm.
6. Tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động kinh doanh bảo hiểm.
Điều 3. Áp dụng Luật Kinh doanh bảo hiểm, luật khác có liên quan và tập quán quốc tế
1. Trường hợp luật khác ban hành sau ngày Luật này có hiệu lực thi hành cần quy định khác với quy định của Luật này về hợp đồng bảo hiểm, thành lập, tổ chức hoạt động, hoạt động nghiệp vụ, tài chính, hạch toán kế toán và báo cáo tài chính, khả năng thanh toán và biện pháp can thiệp đối với doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm thì phải xác định cụ thể nội dung thực hiện hoặc không thực hiện theo quy định của Luật này.
2. Các bên tham gia hợp đồng bảo hiểm, tái bảo hiểm, môi giới bảo hiểm có thể thỏa thuận áp dụng tập quán quốc tế trong trường hợp có ít nhất một trong các bên tham gia là tổ chức, cá nhân nước ngoài hoặc các bên tham gia là tổ chức Việt Nam, công dân Việt Nam nhưng đối tượng bảo hiểm hoặc việc thực hiện hợp đồng ở nước ngoài. Nếu hậu quả của việc áp dụng tập quán quốc tế trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam thì pháp luật Việt Nam được áp dụng.
Điều 4. Giải thích từ ngữ
Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. Hoạt động kinh doanh bảo hiểm bao gồm kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh tái bảo hiểm, nhượng tái bảo hiểm và các hoạt động có liên quan đến hoạt động kinh doanh bảo hiểm bao gồm đại lý bảo hiểm, môi giới bảo hiểm, dịch vụ phụ trợ bảo hiểm.
2. Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô bồi thường, trả tiền bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm.
3. Kinh doanh tái bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam nhận một khoản phí tái bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam khác, doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài, doanh nghiệp tái bảo hiểm nước ngoài, tổ chức bảo hiểm nước ngoài để cam kết bồi thường cho các trách nhiệm đã nhận bảo hiểm.
4. Nhượng tái bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam chuyển giao một phần trách nhiệm đã nhận tái bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam khác, doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài, doanh nghiệp tái bảo hiểm nước ngoài, tổ chức bảo hiểm nước ngoài trên cơ sở thanh toán phí nhượng tái bảo hiểm.
5. Hoạt động đại lý bảo hiểm là một hoặc một số hoạt động theo ủy quyền của doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô, bao gồm: tư vấn sản phẩm bảo hiểm; giới thiệu sản phẩm bảo hiểm; chào bán sản phẩm bảo hiểm; thu xếp việc giao kết hợp đồng bảo hiểm; thu phí bảo hiểm; thu thập hồ sơ để phục vụ việc giải quyết bồi thường, trả tiền bảo hiểm.
6. Hoạt động môi giới bảo hiểm là hoạt động cung cấp thông tin, tư vấn cho bên mua bảo hiểm về loại hình bảo hiểm, sản phẩm bảo hiểm, chương trình bảo hiểm, điều kiện, điều khoản, phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam; các hoạt động liên quan đến việc đàm phán, thu xếp giao kết và thực hiện hợp đồng bảo hiểm, tái bảo hiểm.
7. Dịch vụ phụ trợ bảo hiểm bao gồm tư vấn, đánh giá rủi ro bảo hiểm, tính toán bảo hiểm, giám định tổn thất bảo hiểm, hỗ trợ giải quyết bồi thường bảo hiểm. Dịch vụ phụ trợ bảo hiểm không bao gồm việc doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô tự thực hiện để triển khai hoạt động kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh tái bảo hiểm của chính tổ chức đó.
8. Tư vấn là hoạt động cung cấp dịch vụ tư vấn về chương trình bảo hiểm, sản phẩm bảo hiểm, quản trị rủi ro bảo hiểm, đề phòng, hạn chế tổn thất bảo hiểm.
9. Đánh giá rủi ro bảo hiểm là hoạt động nhận diện, phân loại, đánh giá tính chất và mức độ rủi ro, đánh giá việc quản trị rủi ro về con người, tài sản, trách nhiệm dân sự làm cơ sở tham gia bảo hiểm, tái bảo hiểm.
10. Tính toán bảo hiểm là hoạt động thu thập, phân tích số liệu thống kê, tính phí bảo hiểm, dự phòng nghiệp vụ, vốn, khả năng thanh toán, đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh, xác định giá trị doanh nghiệp để bảo đảm an toàn tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô.
11. Giám định tổn thất bảo hiểm là hoạt động xác định hiện trạng, nguyên nhân, mức độ tổn thất và tính toán phân bổ trách nhiệm bồi thường tổn thất làm cơ sở giải quyết bồi thường bảo hiểm.
12. Hỗ trợ giải quyết bồi thường bảo hiểm là hoạt động hỗ trợ bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm, người thụ hưởng hoặc doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô thực hiện các thủ tục giải quyết bồi thường, trả tiền bảo hiểm.
13. Bảo hiểm nhân thọ là loại hình bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm sống hoặc chết.
14. Bảo hiểm phi nhân thọ là loại hình bảo hiểm cho những thiệt hại về tài sản và những tổn thất khác hoặc trách nhiệm dân sự đối với người thứ ba.
15. Bảo hiểm sức khỏe là loại hình bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm bị thương tật, tai nạn, ốm đau, bệnh tật hoặc chăm sóc sức khỏe.
16. Hợp đồng bảo hiểm là sự thoả thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô phải bồi thường, trả tiền bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng.
17. Doanh nghiệp bảo hiểm là doanh nghiệp được thành lập, tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật này và luật khác có liên quan để kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh tái bảo hiểm, nhượng tái bảo hiểm. Doanh nghiệp bảo hiểm bao gồm doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ, doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, doanh nghiệp bảo hiểm sức khỏe.
18. Doanh nghiệp tái bảo hiểm là doanh nghiệp được thành lập, tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật này và luật khác có liên quan để kinh doanh tái bảo hiểm, nhượng tái bảo hiểm.
19.  Chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài là đơn vị phụ thuộc của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, không có tư cách pháp nhân, được doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài bảo đảm và chịu trách nhiệm về mọi nghĩa vụ, cam kết trong thời gian hoạt động tại Việt Nam.
20. Chi nhánh doanh nghiệp tái bảo hiểm nước ngoài là đơn vị phụ thuộc của doanh nghiệp tái bảo hiểm nước ngoài, không có tư cách pháp nhân, được doanh nghiệp tái bảo hiểm nước ngoài bảo đảm và chịu trách nhiệm về mọi nghĩa vụ, cam kết trong thời gian hoạt động tại Việt Nam.
21. Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm là doanh nghiệp được thành lập, tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật này và luật khác có liên quan để thực hiện các hoạt động môi giới bảo hiểm.
22. Bảo hiểm vi mô là bảo hiểm hướng tới các cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp nhằm bảo vệ họ trước những rủi ro về tính mạng, sức khỏe và tài sản.
23. Tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô là tổ chức có tư cách pháp nhân, hạch toán độc lập, do các thành viên hoặc tổ chức đại diện thành viên thành lập để triển khai bảo hiểm vi mô không vì mục đích lợi nhuận nhằm tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các thành viên tham gia bảo hiểm trên nguyên tắc tự nguyện, tự chủ tài chính và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật trong phạm vi tài sản hình thành từ hoạt động bảo hiểm vi mô.
24. Bên mua bảo hiểm là tổ chức, cá nhân giao kết hợp đồng bảo hiểm với doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô và đóng phí bảo hiểm.
25. Người được bảo hiểm là tổ chức, cá nhân có tài sản, trách nhiệm dân sự, sức khỏe, tính mạng, nghĩa vụ hoặc lợi ích kinh tế được bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm.
26. Người thụ hưởng là tổ chức, cá nhân được bên mua bảo hiểm hoặc người được bảo hiểm chỉ định để nhận tiền bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm.
27. Sự kiện bảo hiểm là sự kiện khách quan do các bên thỏa thuận hoặc pháp luật quy định mà khi sự kiện đó xảy ra thì doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô phải bồi thường, trả tiền bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm.
28. Phí bảo hiểm là khoản tiền mà bên mua bảo hiểm phải đóng cho doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô theo quy định của pháp luật hoặc do các bên thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm.
29. Đồng bảo hiểm là trường hợp các doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài cùng thống nhất giao kết với bên mua bảo hiểm trên một hợp đồng bảo hiểm, trong đó các doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài nhận phí bảo hiểm và bồi thường, trả tiền bảo hiểm theo tỷ lệ đã thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm.
Điều 5. Chính sách phát triển hoạt động kinh doanh bảo hiểm
1. Nhà nước bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm và các tổ chức hoạt động kinh doanh bảo hiểm.
2. Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện để doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô nghiên cứu, phát triển sản phẩm, dịch vụ, ứng dụng công nghệ tiên tiến trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm.
3. Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô đầu tư trở lại nền kinh tế, tái đầu tư, xây dựng thị trường bảo hiểm.
4. Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện đối với việc triển khai và tham gia các sản phẩm bảo hiểm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, các sản phẩm bảo hiểm vi mô và các sản phẩm bảo hiểm vì mục tiêu an sinh, xã hội.
Điều 6. Nguyên tắc cung cấp và sử dụng dịch vụ bảo hiểm
1. Tổ chức, cá nhân tại Việt Nam có nhu cầu tham gia bảo hiểm chỉ được tham gia bảo hiểm tại doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô được cấp giấy phép thành lập và hoạt động tại Việt Nam, trừ trường hợp sử dụng dịch vụ bảo hiểm qua biên giới theo điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
2. Chính phủ quy định chi tiết việc cung cấp và sử dụng dịch vụ bảo hiểm qua biên giới, dịch vụ môi giới bảo hiểm qua biên giới, dịch vụ phụ trợ bảo hiểm qua biên giới phù hợp với các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
Điều 7. Các loại hình bảo hiểm
1. Các loại hình bảo hiểm bao gồm:
a) Bảo hiểm nhân thọ;
b) Bảo hiểm sức khỏe;
c) Bảo hiểm phi nhân thọ.
2. Chính phủ quy định chi tiết các nghiệp vụ bảo hiểm tương ứng với các loại hình bảo hiểm quy định tại khoản 1 Điều này.
Điều 8. Bảo hiểm bắt buộc
1. Bảo hiểm bắt buộc là sản phẩm bảo hiểm nhằm mục đích bảo vệ lợi ích công cộng, môi trường và an toàn xã hội.
2. Bảo hiểm bắt buộc bao gồm:
a) Bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới;
b) Bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc;
c) Bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động đầu tư xây dựng;
d) Bảo hiểm bắt buộc quy định tại luật khác đáp ứng quy định tại khoản 1 Điều này.
3. Tổ chức, cá nhân thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm bắt buộc có nghĩa vụ mua bảo hiểm bắt buộc và được lựa chọn tham gia bảo hiểm bắt buộc tại doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài được phép triển khai.
4. Doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài được phép triển khai bảo hiểm bắt buộc không được từ chối bán khi tổ chức, cá nhân đáp ứng đủ điều kiện mua bảo hiểm bắt buộc theo quy định của pháp luật.
5. Chính phủ quy định chi tiết về điều kiện bảo hiểm, mức phí bảo hiểm, số tiền bảo hiểm tối thiểu đối với bảo hiểm bắt buộc quy định tại khoản 2 Điều này.
Điều 9. Các hành vi bị nghiêm cấm
1. Hoạt động kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh tái bảo hiểm, nhượng tái bảo hiểm, môi giới bảo hiểm khi không có giấy phép thành lập và hoạt động.
2. Hoạt động kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh tái bảo hiểm, nhượng tái bảo hiểm, môi giới bảo hiểm không đúng phạm vi được cấp phép.
3. Hoạt động đại lý bảo hiểm, hoạt động dịch vụ phụ trợ bảo hiểm khi không đáp ứng điều kiện hoạt động theo quy định của pháp luật.
4. Thực hiện các hành vi gian lận bao gồm:
a) Thông đồng với người thụ hưởng để giải quyết bồi thường, trả tiền bảo hiểm trái pháp luật;
b) Giả mạo tài liệu, cố ý làm sai lệch thông tin trong hồ sơ yêu cầu bồi thường, trả tiền bảo hiểm;
c) Giả mạo tài liệu, cố ý làm sai lệch thông tin để từ chối bồi thường, trả tiền bảo hiểm khi sự kiện bảo hiểm đã xảy ra;
d) Tự gây thiệt hại về tài sản, sức khỏe của mình để hưởng quyền lợi bảo hiểm.
5. Đe dọa, cưỡng ép giao kết hợp đồng bảo hiểm.
Điều 10. Tổ chức xã hội - nghề nghiệp trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm
1. Tổ chức xã hội - nghề nghiệp trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm được thành lập, hoạt động theo quy định của pháp luật về hội, có trách nhiệm tuân thủ quy định của pháp luật về hoạt động kinh doanh bảo hiểm và chịu sự giám sát của Bộ Tài chính.
2. Tổ chức xã hội - nghề nghiệp trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm có trách nhiệm ban hành bộ quy tắc đạo đức nghề nghiệp, các quy tắc, chuẩn mực để áp dụng chung cho các thành viên của tổ chức; phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh bảo hiểm trong việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật về kinh doanh bảo hiểm.
Điều 11. Cơ sở dữ liệu về hoạt động kinh doanh bảo hiểm
1. Nhà nước đầu tư xây dựng cơ sở dữ liệu về hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Bộ Tài chính chịu trách nhiệm xây dựng, quản lý và vận hành cơ sở dữ liệu về hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhằm phục vụ hoạt động quản lý nhà nước, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm.
2. Doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm, tổ chức cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô có trách nhiệm cung cấp thông tin về bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm, đối tượng bảo hiểm, đại lý bảo hiểm và thông tin khác có liên quan để xây dựng cơ sở dữ liệu về hoạt động kinh doanh bảo hiểm.
3. Việc thu thập, sử dụng, lưu giữ và cung cấp thông tin cơ sở dữ liệu về hoạt động kinh doanh bảo hiểm phải bảo đảm bảo mật, an toàn thông tin, tuân thủ các quy định của pháp luật về bảo vệ đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, bí mật kinh doanh.
Cơ quan nhà nước, tổ chức khác, cá nhân phải sử dụng thông tin được cung cấp đúng mục đích và không được cung cấp cho bên thứ ba mà không có sự chấp thuận của bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm, trừ trường hợp cung cấp theo quy định của pháp luật.
4. Cơ sở dữ liệu về hoạt động kinh doanh bảo hiểm được kết nối với các cơ sở dữ liệu quốc gia và cơ sở dữ liệu chuyên ngành khác.
5. Chính phủ quy định chi tiết về xây dựng, thu thập, sử dụng, lưu giữ, quản lý và cung cấp thông tin cơ sở dữ liệu về hoạt động kinh doanh bảo hiểm, việc kết nối giữa cơ sở dữ liệu về hoạt động kinh doanh bảo hiểm với các cơ sở dữ liệu quốc gia và cơ sở dữ liệu chuyên ngành khác.
Điều 12. Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm
1. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhằm mục đích sau đây:
a) Nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh bảo hiểm, bao gồm: xây dựng, thiết kế sản phẩm bảo hiểm, đánh giá rủi ro, thẩm định, giao kết hợp đồng, quản lý hợp đồng, giám định tổn thất, giải quyết bồi thường, trả tiền bảo hiểm; quản trị doanh nghiệp và phương thức cung cấp dịch vụ, sản phẩm bảo hiểm;
b) Hiện đại hóa công tác thống kê, báo cáo; cắt giảm thủ tục hành chính; xây dựng hệ thống công nghệ thông tin và cơ sở dữ liệu về hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhằm phục vụ công tác quản lý, giám sát, phân tích, dự báo về thị trường bảo hiểm và phòng, chống gian lận bảo hiểm.
2. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm phải tuân thủ quy định của Luật này, pháp luật về giao dịch điện tử, công nghệ thông tin, an ninh mạng, phòng, chống rửa tiền và quy định khác của pháp luật có liên quan.
3. Chính phủ quy định những vấn đề mới phát sinh liên quan đến ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm.
Điều 13. Yêu cầu về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm
Doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm chủ động thiết lập, duy trì và vận hành hệ thống công nghệ thông tin phù hợp với quy mô hoạt động và đáp ứng yêu cầu tối thiểu sau đây:
1. Có hệ thống máy chủ, hệ thống phần mềm và các giải pháp kỹ thuật để cập nhật, thống kê, xử lý, lưu trữ thông tin đáp ứng yêu cầu quản lý hoạt động kinh doanh bảo hiểm, đáp ứng yêu cầu an ninh mạng, an toàn thông tin mạng;
2. Có hệ thống công nghệ thông tin tạo thuận lợi cho việc điều hành, kiểm soát rủi ro của doanh nghiệp và công tác kiểm tra, giám sát của cơ quan quản lý;
3. Có giải pháp về công nghệ thông tin để dự phòng thảm họa và bảo đảm không bị gián đoạn hoạt động kinh doanh.
Điều 14. Cung cấp dịch vụ, sản phẩm bảo hiểm trên môi trường mạng
1. Tổ chức, cá nhân được phép cung cấp dịch vụ, sản phẩm bảo hiểm trên môi trường mạng bao gồm:
a) Doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô;
b) Đại lý bảo hiểm;
c) Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm.
2. Tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ, sản phẩm bảo hiểm trên môi trường mạng thực hiện các quy định sau đây:
a) Doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô được chủ động lựa chọn các hình thức cung cấp dịch vụ, sản phẩm bảo hiểm trên môi trường mạng;
b) Đại lý bảo hiểm chỉ được cung cấp dịch vụ, sản phẩm bảo hiểm trên môi trường mạng trong phạm vi hợp đồng đại lý bảo hiểm;
c) Doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, đại lý bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm và tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô thực hiện cung cấp dịch vụ, sản phẩm bảo hiểm trên môi trường mạng phải chịu trách nhiệm với bên mua bảo hiểm nếu hoạt động cung cấp dịch vụ, sản phẩm bảo hiểm đó làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của bên mua bảo hiểm;
d) Tổ chức, cá nhân giao kết hợp đồng bảo hiểm trên môi trường mạng có trách nhiệm cung cấp trung thực, chính xác các thông tin theo quy định tại Điều 22 của Luật này.
3. Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định chi tiết Điều này.
Chương II
HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM
Mục 1. QUY ĐỊNH CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM
Điều 15. Hợp đồng bảo hiểm
1. Các loại hợp đồng bảo hiểm bao gồm:
a) Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ;
b) Hợp đồng bảo hiểm sức khỏe;
c) Hợp đồng bảo hiểm tài sản;
d) Hợp đồng bảo hiểm thiệt hại;
đ) Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm.
Hợp đồng bảo hiểm quy định tại các điểm c, d và đ khoản này thuộc loại hình bảo hiểm phi nhân thọ.
2. Doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài và bên mua bảo hiểm có thể thỏa thuận giao kết một loại hợp đồng bảo hiểm hoặc kết hợp nhiều loại hợp đồng bảo hiểm quy định tại khoản 1 Điều này và bảo đảm phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 63 của Luật này.
3. Hợp đồng bảo hiểm hàng hải được thực hiện theo quy định của Bộ luật Hàng hải; nội dung không quy định tại Bộ luật Hàng hải thì thực hiện theo quy định của Luật này.
4. Nội dung liên quan đến hợp đồng bảo hiểm không được quy định trong Luật này thì thực hiện theo quy định của Bộ luật Dân sự.
Điều 16. Nguyên tắc giao kết và thực hiện hợp đồng bảo hiểm
Việc giao kết và thực hiện hợp đồng bảo hiểm phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự và các nguyên tắc sau đây:
1. Nguyên tắc trung thực tuyệt đối: các bên tham gia hợp đồng bảo hiểm phải cung cấp thông tin, thực hiện các quyền và nghĩa vụ một cách trung thực nhất, trên cơ sở tin tưởng tuyệt đối lẫn nhau trong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng bảo hiểm;
2. Nguyên tắc quyền lợi có thể được bảo hiểm: bên mua bảo hiểm phải có quyền lợi có thể được bảo hiểm phù hợp với từng loại hợp đồng bảo hiểm theo quy định của Luật này;
3. Nguyên tắc bồi thường: số tiền bồi thường mà người được bảo hiểm nhận được không vượt quá thiệt hại thực tế trong sự kiện bảo hiểm, trừ trường hợp có thỏa thuận khác trong hợp đồng bảo hiểm;
4. Nguyên tắc thế quyền: người được bảo hiểm có trách nhiệm chuyển giao cho doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài quyền yêu cầu người thứ ba có hành vi gây thiệt hại chịu trách nhiệm bồi hoàn trong phạm vi số tiền bồi thường bảo hiểm. Nguyên tắc này không áp dụng đối với hợp đồng bảo hiểm nhân thọ và hợp đồng bảo hiểm sức khỏe;
5. Nguyên tắc rủi ro ngẫu nhiên: rủi ro được bảo hiểm phải là những rủi ro bất ngờ, không lường trước được.
Điều 17. Nội dung của hợp đồng bảo hiểm
1. Hợp đồng bảo hiểm phải có những nội dung chủ yếu sau đây:
a) Bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm, người thụ hưởng (nếu có), doanh nghiệp bảo hiểm hoặc chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài;
b) Đối tượng bảo hiểm;
c) Số tiền bảo hiểm hoặc giá trị tài sản được bảo hiểm hoặc giới hạn trách nhiệm bảo hiểm;
d) Phạm vi hoặc quyền lợi bảo hiểm; quy tắc, điều kiện, điều khoản bảo hiểm;
đ) Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài và bên mua bảo hiểm;
e) Thời hạn bảo hiểm, thời điểm có hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm;
g) Mức phí bảo hiểm, phương thức đóng phí bảo hiểm;
h) Phương thức bồi thường, trả tiền bảo hiểm;
i) Phương thức giải quyết tranh chấp.
2. Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định chi tiết khoản 1 Điều này đối với hợp đồng bảo hiểm nhân thọ và hợp đồng bảo hiểm sức khỏe.
Điều 18. Hình thức, bằng chứng giao kết hợp đồng bảo hiểm
Hợp đồng bảo hiểm phải được lập thành văn bản. Bằng chứng giao kết hợp đồng bảo hiểm là hợp đồng, giấy chứng nhận bảo hiểm, đơn bảo hiểm hoặc hình thức khác theo quy định của pháp luật.
Điều 19. Điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm
1. Điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm quy định các trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài không phải bồi thường, trả tiền bảo hiểm.
2. Trường hợp có điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài phải quy định rõ trong hợp đồng bảo hiểm, phải giải thích rõ ràng, đầy đủ và có bằng chứng xác nhận việc bên mua bảo hiểm đã được doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài giải thích đầy đủ và hiểu rõ nội dung này khi giao kết hợp đồng bảo hiểm.
3. Trường hợp có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan dẫn đến bên mua bảo hiểm chậm thông báo sự kiện bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài không được áp dụng điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm về việc chậm thông báo.
Điều 20. Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài
1. Doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài có các quyền sau đây:
a) Thu phí bảo hiểm theo thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm;
b) Yêu cầu bên mua bảo hiểm cung cấp đầy đủ, trung thực mọi thông tin có liên quan đến việc giao kết và thực hiện hợp đồng bảo hiểm;
c) Hủy bỏ hợp đồng bảo hiểm quy định tại khoản 2 Điều 22 hoặc đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bảo hiểm quy định tại Điều 26 của Luật này;
d) Từ chối bồi thường, trả tiền bảo hiểm trong trường hợp không thuộc phạm vi trách nhiệm bảo hiểm hoặc trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm theo thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm;
đ) Yêu cầu bên mua bảo hiểm áp dụng các biện pháp đề phòng, hạn chế tổn thất theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan;
e) Yêu cầu người thứ ba bồi hoàn số tiền mà doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài đã bồi thường cho người được bảo hiểm đối với thiệt hại về tài sản; lợi ích kinh tế hoặc nghĩa vụ thực hiện hợp đồng hoặc nghĩa vụ theo pháp luật; trách nhiệm dân sự do người thứ ba gây ra;
g) Quyền khác theo quy định của pháp luật.
2. Doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài có các nghĩa vụ sau đây:
a) Cung cấp cho bên mua bảo hiểm bản yêu cầu bảo hiểm, bảng câu hỏi liên quan đến rủi ro được bảo hiểm, đối tượng bảo hiểm, quy tắc, điều kiện, điều khoản bảo hiểm;
b) Giải thích rõ ràng, đầy đủ cho bên mua bảo hiểm về quyền lợi bảo hiểm, điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm, quyền và nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm khi giao kết hợp đồng bảo hiểm;
c) Cung cấp cho bên mua bảo hiểm bằng chứng giao kết hợp đồng bảo hiểm quy định tại Điều 18 của Luật này;
d) Cấp hóa đơn thu phí bảo hiểm cho bên mua bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm và quy định của pháp luật có liên quan;
đ) Bồi thường, trả tiền bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm;
e) Giải thích bằng văn bản lý do từ chối bồi thường, trả tiền bảo hiểm;
g) Phối hợp với bên mua bảo hiểm để giải quyết yêu cầu của người thứ ba đòi bồi thường về những thiệt hại thuộc trách nhiệm bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm;
h) Lưu trữ hồ sơ hợp đồng bảo hiểm theo quy định của pháp luật;
i) Bảo mật thông tin do bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm cung cấp, trừ trường hợp theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc được sự đồng ý của bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm;
k) Nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.
Điều 21. Quyền và nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm
1. Bên mua bảo hiểm có các quyền sau đây:
a) Lựa chọn doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài để giao kết hợp đồng bảo hiểm;
b) Yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài cung cấp bản yêu cầu bảo hiểm, bảng câu hỏi liên quan đến rủi ro được bảo hiểm, đối tượng bảo hiểm, quy tắc, điều kiện, điều khoản bảo hiểm và giải thích các điều kiện, điều khoản bảo hiểm;
c) Yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài cung cấp bằng chứng giao kết hợp đồng bảo hiểm quy định tại Điều 18 của Luật này;
d) Yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài cấp hóa đơn thu phí bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm và quy định của pháp luật có liên quan;
đ) Hủy bỏ hợp đồng bảo hiểm quy định tại khoản 3 Điều 22 và Điều 35 hoặc đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bảo hiểm quy định tại Điều 26 của Luật này;
e) Yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài bồi thường, trả tiền bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm;
g) Chuyển giao hợp đồng bảo hiểm theo thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm hoặc theo quy định của pháp luật;
h) Quyền khác theo quy định của pháp luật.
2. Bên mua bảo hiểm có các nghĩa vụ sau đây:
a) Kê khai đầy đủ, trung thực mọi thông tin có liên quan đến hợp đồng bảo hiểm theo yêu cầu của doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài;
b) Đọc và hiểu rõ điều kiện, điều khoản bảo hiểm, quyền, nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm khi giao kết hợp đồng bảo hiểm và nội dung khác của hợp đồng bảo hiểm;
c) Đóng phí bảo hiểm đầy đủ, đúng hạn theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm;
d) Thông báo cho doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài những trường hợp có thể làm tăng rủi ro hoặc giảm rủi ro hoặc làm phát sinh thêm trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài trong quá trình thực hiện hợp đồng bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm;
đ) Thông báo cho doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài về việc xảy ra sự kiện bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm; phối hợp với doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài trong giám định tổn thất;
e) Áp dụng các biện pháp đề phòng, hạn chế tổn thất theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan;
g) Nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.
Điều 22. Trách nhiệm và hậu quả pháp lý do vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin
1. Khi giao kết hợp đồng bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài có trách nhiệm cung cấp đầy đủ, chính xác thông tin liên quan đến hợp đồng bảo hiểm, giải thích các điều kiện, điều khoản bảo hiểm cho bên mua bảo hiểm; bên mua bảo hiểm có trách nhiệm cung cấp đầy đủ, trung thực thông tin liên quan đến đối tượng bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài.
2. Trường hợp bên mua bảo hiểm cố ý cung cấp không đầy đủ thông tin hoặc cung cấp thông tin sai sự thật nhằm giao kết hợp đồng bảo hiểm để được bồi thường, trả tiền bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài có quyền hủy bỏ hợp đồng bảo hiểm. Doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài không phải bồi thường, trả tiền bảo hiểm và phải hoàn lại phí bảo hiểm cho bên mua bảo hiểm sau khi trừ đi các chi phí hợp lý (nếu có) theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm. Bên mua bảo hiểm phải bồi thường thiệt hại phát sinh cho doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài (nếu có).
3. Trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài cố ý không thực hiện nghĩa vụ cung cấp thông tin hoặc cung cấp thông tin sai sự thật nhằm giao kết hợp đồng bảo hiểm thì bên mua bảo hiểm có quyền hủy bỏ hợp đồng bảo hiểm, được hoàn lại phí bảo hiểm đã đóng. Doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài phải bồi thường thiệt hại phát sinh cho bên mua bảo hiểm (nếu có).
Điều 23. Thay đổi mức độ rủi ro được bảo hiểm
1. Khi có sự thay đổi những yếu tố làm cơ sở để tính phí bảo hiểm dẫn đến giảm các rủi ro được bảo hiểm, căn cứ thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm, bên mua bảo hiểm có quyền yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài thực hiện một trong các nội dung sau đây:
a) Giảm phí bảo hiểm cho thời gian còn lại của hợp đồng bảo hiểm;
b) Tăng số tiền bảo hiểm cho thời gian còn lại của hợp đồng bảo hiểm;
c) Kéo dài thời hạn bảo hiểm;
d) Mở rộng phạm vi bảo hiểm cho thời gian còn lại của hợp đồng bảo hiểm.
2. Trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài không chấp nhận yêu cầu tại khoản 1 Điều này, bên mua bảo hiểm có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bảo hiểm nhưng phải thông báo ngay bằng văn bản cho doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài.
3. Khi có sự thay đổi những yếu tố làm cơ sở để tính phí bảo hiểm dẫn đến tăng các rủi ro được bảo hiểm, căn cứ thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài có quyền thực hiện một trong các nội dung sau đây:
a) Tính lại phí bảo hiểm cho thời gian còn lại của hợp đồng bảo hiểm;
b) Giảm số tiền bảo hiểm cho thời gian còn lại của hợp đồng bảo hiểm;
c) Rút ngắn thời hạn bảo hiểm;
d) Thu hẹp phạm vi bảo hiểm cho thời gian còn lại của hợp đồng bảo hiểm.
4. Trường hợp bên mua bảo hiểm không chấp nhận yêu cầu tại khoản 3 Điều này, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bảo hiểm nhưng phải thông báo ngay bằng văn bản cho bên mua bảo hiểm.
Điều 24. Giải thích hợp đồng bảo hiểm
Trường hợp hợp đồng bảo hiểm có điều khoản không rõ ràng dẫn đến có cách hiểu khác nhau thì điều khoản đó được giải thích theo hướng có lợi cho bên mua bảo hiểm.
Điều 25. Hợp đồng bảo hiểm vô hiệu
1. Hợp đồng bảo hiểm vô hiệu trong trường hợp sau đây:
a) Bên mua bảo hiểm không có quyền lợi có thể được bảo hiểm tại thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm;
b) Không có đối tượng bảo hiểm tại thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm;
c) Tại thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm, bên mua bảo hiểm biết sự kiện bảo hiểm đã xảy ra;
d) Mục đích, nội dung hợp đồng bảo hiểm vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội;
đ) Doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài và bên mua bảo hiểm giao kết hợp đồng bảo hiểm giả tạo;
e) Bên mua bảo hiểm là người chưa thành niên; người mất năng lực hành vi dân sự; người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự;
g) Hợp đồng bảo hiểm được giao kết có sự nhầm lẫn làm cho một bên hoặc các bên không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng, trừ trường hợp mục đích giao kết hợp đồng của các bên đã đạt được hoặc các bên có thể khắc phục ngay được sự nhầm lẫn làm cho mục đích của việc giao kết hợp đồng vẫn đạt được;
h) Hợp đồng bảo hiểm được giao kết do bị lừa dối, trừ trường hợp quy định tại Điều 22 của Luật này;
i) Hợp đồng bảo hiểm được giao kết do bị đe dọa, cưỡng ép;
k) Bên mua bảo hiểm không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình khi giao kết hợp đồng bảo hiểm;
l) Hợp đồng bảo hiểm không tuân thủ quy định về hình thức quy định tại Điều 18 của Luật này.
2. Khi hợp đồng bảo hiểm vô hiệu thì hợp đồng không có hiệu lực từ thời điểm giao kết. Doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài và bên mua bảo hiểm hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường.
Điều 26. Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bảo hiểm
Doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài hoặc bên mua bảo hiểm có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bảo hiểm trong trường hợp sau đây:
1. Bên mua bảo hiểm không đóng phí bảo hiểm hoặc không đóng đủ phí bảo hiểm theo thời hạn thỏa thuận hoặc sau thời gian gia hạn đóng phí;
2. Doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, bên mua bảo hiểm không chấp nhận yêu cầu về thay đổi mức độ rủi ro được bảo hiểm quy định tại Điều 23 của Luật này;
3. Người được bảo hiểm không thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn cho đối tượng bảo hiểm quy định tại khoản 3 Điều 55 của Luật này;
4. Bên mua bảo hiểm không đồng ý chuyển giao danh mục hợp đồng bảo hiểm quy định tại khoản 4 Điều 92 của Luật này.
Điều 27. Hậu quả pháp lý của việc đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bảo hiểm
1. Trường hợp đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bảo hiểm quy định tại khoản 1 Điều 26 của Luật này thì thực hiện như sau:
a) Bên mua bảo hiểm vẫn phải đóng đủ phí bảo hiểm đến thời điểm đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bảo hiểm. Quy định này không áp dụng đối với hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, hợp đồng bảo hiểm sức khỏe, trừ hợp đồng bảo hiểm nhóm;
b) Đối với hợp đồng bảo hiểm nhân thọ và hợp đồng bảo hiểm sức khỏe, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài có trách nhiệm trả tiền bảo hiểm cho người được bảo hiểm khi sự kiện bảo hiểm xảy ra trước thời điểm đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bảo hiểm và có quyền khấu trừ phí bảo hiểm đến thời điểm đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bảo hiểm;
c) Đối với hợp đồng bảo hiểm tài sản, hợp đồng bảo hiểm thiệt hại và hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài có trách nhiệm bồi thường cho người được bảo hiểm khi sự kiện bảo hiểm xảy ra trước thời điểm đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bảo hiểm và có quyền khấu trừ phí bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm.
2. Trường hợp đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bảo hiểm quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 26 của Luật này, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài có trách nhiệm hoàn phí bảo hiểm đã đóng cho thời gian còn lại của hợp đồng bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm. Doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài có trách nhiệm bồi thường, trả tiền bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm khi sự kiện bảo hiểm xảy ra trước thời điểm đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bảo hiểm.
3. Trường hợp đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bảo hiểm quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 26 của Luật này, đối với hợp đồng bảo hiểm nhân thọ có giá trị hoàn lại, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả cho bên mua bảo hiểm giá trị hoàn lại của hợp đồng bảo hiểm, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác.
4. Trường hợp đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bảo hiểm quy định tại khoản 4 Điều 26 của Luật này, bên mua bảo hiểm được nhận lại giá trị hoàn lại hoặc phí bảo hiểm đã đóng tương ứng với thời gian còn lại của hợp đồng bảo hiểm phù hợp với từng sản phẩm bảo hiểm. Trường hợp giá trị tài sản thấp hơn so với dự phòng nghiệp vụ của danh mục hợp đồng bảo hiểm được chuyển giao, số tiền bên mua bảo hiểm nhận lại được tính toán trên cơ sở tỷ lệ giữa giá trị tài sản và dự phòng nghiệp vụ của danh mục hợp đồng bảo hiểm được chuyển giao.
Điều 28. Chuyển giao hợp đồng bảo hiểm
1. Bên mua bảo hiểm có quyền chuyển giao hợp đồng bảo hiểm. Đối với hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, việc chuyển giao phải được sự đồng ý bằng văn bản của người được bảo hiểm hoặc người đại diện theo pháp luật của người được bảo hiểm.
2. Bên nhận chuyển giao hợp đồng bảo hiểm phải có quyền lợi có thể được bảo hiểm, được kế thừa quyền và nghĩa vụ của bên chuyển giao.
3. Việc chuyển giao hợp đồng bảo hiểm chỉ có hiệu lực khi bên mua bảo hiểm thông báo bằng văn bản và được doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài đồng ý bằng văn bản, trừ trường hợp việc chuyển giao được thực hiện theo tập quán quốc tế hoặc theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm.
Điều 29. Trách nhiệm trong trường hợp tái bảo hiểm
1. Doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài chịu trách nhiệm duy nhất đối với bên mua bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm, kể cả trong trường hợp tái bảo hiểm những trách nhiệm đã nhận bảo hiểm. Doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài không được từ chối hoặc trì hoãn thực hiện trách nhiệm của mình đối với bên mua bảo hiểm kể cả trường hợp doanh nghiệp, tổ chức nhận tái bảo hiểm không thực hiện nghĩa vụ thanh toán tái bảo hiểm những trách nhiệm đã nhận.
2. Doanh nghiệp, tổ chức nhận tái bảo hiểm không được yêu cầu bên mua bảo hiểm trực tiếp đóng phí bảo hiểm cho mình, trừ trường hợp có thoả thuận khác trong hợp đồng bảo hiểm.
3. Bên mua bảo hiểm không được yêu cầu doanh nghiệp, tổ chức nhận tái bảo hiểm bồi thường, trả tiền bảo hiểm cho mình, trừ trường hợp có thoả thuận khác trong hợp đồng bảo hiểm.
Điều 30. Thời hạn nộp hồ sơ yêu cầu bồi thường, trả tiền bảo hiểm
1. Thời hạn nộp hồ sơ yêu cầu bồi thường, trả tiền bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm là 01 năm kể từ ngày xảy ra sự kiện bảo hiểm. Thời gian xảy ra sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan không tính vào thời hạn nộp hồ sơ yêu cầu bồi thường, trả tiền bảo hiểm.
2. Trường hợp người được bảo hiểm hoặc người thụ hưởng chứng minh được rằng không biết thời điểm xảy ra sự kiện bảo hiểm thì thời hạn quy định tại khoản 1 Điều này được tính từ ngày người được bảo hiểm hoặc người thụ hưởng biết việc xảy ra sự kiện bảo hiểm đó.
3. Trường hợp người thứ ba yêu cầu bên mua bảo hiểm bồi thường về những thiệt hại thuộc trách nhiệm bảo hiểm theo thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm thì thời hạn quy định tại khoản 1 Điều này được tính từ ngày người thứ ba yêu cầu.
Điều 31. Thời hạn bồi thường, trả tiền bảo hiểm
1. Khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài phải bồi thường, trả tiền bảo hiểm theo thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm. Trường hợp không có thỏa thuận về thời hạn thì doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài phải bồi thường, trả tiền bảo hiểm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ hợp lệ về yêu cầu bồi thường, trả tiền bảo hiểm.
2. Trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài chậm bồi thường, trả tiền bảo hiểm theo quy định tại khoản 1 Điều này thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất đối với số tiền chậm trả được xác định theo thỏa thuận của các bên theo quy định của Bộ luật Dân sự.
Điều 32. Phương thức giải quyết tranh chấp
Tranh chấp về hợp đồng bảo hiểm được giải quyết thông qua thương lượng giữa các bên. Trường hợp không thương lượng được thì tranh chấp được giải quyết thông qua hòa giải hoặc Trọng tài hoặc Tòa án theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm và quy định của pháp luật.
Mục 2. HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM NHÂN THỌ, HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM SỨC KHỎE
Điều 33. Đối tượng bảo hiểm của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, hợp đồng bảo hiểm sức khỏe
1. Đối tượng bảo hiểm của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ là tuổi thọ, tính mạng con người.
2. Đối tượng bảo hiểm của hợp đồng bảo hiểm sức khỏe là sức khoẻ con người.
Điều 34. Quyền lợi có thể được bảo hiểm của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, hợp đồng bảo hiểm sức khỏe
1. Bên mua bảo hiểm có quyền lợi có thể được bảo hiểm đối với những người sau đây:
a) Bản thân bên mua bảo hiểm;
b) Vợ, chồng, cha, mẹ, con của bên mua bảo hiểm;
c) Anh ruột, chị ruột, em ruột hoặc người khác có quan hệ nuôi dưỡng, cấp dưỡng với bên mua bảo hiểm;
d) Người có quyền lợi về tài chính hoặc quan hệ lao động với bên mua bảo hiểm;
đ) Người được bảo hiểm đồng ý bằng văn bản cho bên mua bảo hiểm mua bảo hiểm sức khỏe cho mình.
2. Tại thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm, bên mua bảo hiểm phải có quyền lợi có thể được bảo hiểm.
Điều 35. Thời gian cân nhắc tham gia bảo hiểm
Đối với các hợp đồng bảo hiểm có thời hạn trên 01 năm, trong thời hạn 21 ngày kể từ ngày nhận được hợp đồng bảo hiểm, bên mua bảo hiểm có quyền từ chối tiếp tục tham gia bảo hiểm. Trường hợp bên mua bảo hiểm từ chối tiếp tục tham gia bảo hiểm thì hợp đồng bảo hiểm sẽ bị hủy bỏ, bên mua bảo hiểm được hoàn lại phí bảo hiểm đã đóng sau khi trừ đi chi phí hợp lý (nếu có) theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm; doanh nghiệp bảo hiểm không phải bồi thường, trả tiền bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.
Điều 36. Bảo hiểm tạm thời trong bảo hiểm nhân thọ
Doanh nghiệp bảo hiểm cấp bảo hiểm tạm thời cho bên mua bảo hiểm kể từ thời điểm nhận được yêu cầu bảo hiểm và phí bảo hiểm tạm tính của bên mua bảo hiểm. Thời hạn bảo hiểm, số tiền bảo hiểm, điều kiện bảo hiểm tạm thời do doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm thỏa thuận. Bảo hiểm tạm thời kết thúc sau khi doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận hoặc từ chối bảo hiểm hoặc trường hợp khác theo thỏa thuận.
Điều 37. Đóng phí bảo hiểm nhân thọ
1. Bên mua bảo hiểm có thể đóng phí bảo hiểm một lần hoặc nhiều lần theo thời hạn, phương thức thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm.
2. Trường hợp phí bảo hiểm được đóng nhiều lần và bên mua bảo hiểm đã đóng một hoặc một số kỳ phí bảo hiểm nhưng không thể đóng được các khoản phí bảo hiểm tiếp theo thì thời gian gia hạn đóng phí là 60 ngày.
3. Các bên có thể thỏa thuận khôi phục hiệu lực hợp đồng bảo hiểm đã bị đơn phương chấm dứt thực hiện quy định tại khoản 1 Điều 26 của Luật này trong thời hạn 02 năm kể từ ngày bị chấm dứt và bên mua bảo hiểm đã đóng số phí bảo hiểm còn thiếu.
4. Trường hợp bên mua bảo hiểm không đóng hoặc không đóng đủ phí bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm không được tự ý khấu trừ phí bảo hiểm từ giá trị hoàn lại của hợp đồng bảo hiểm khi chưa có sự đồng ý của bên mua bảo hiểm và không được khởi kiện đòi bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm. Quy định này không áp dụng đối với bảo hiểm nhóm.
Điều 38. Không được yêu cầu người thứ ba bồi hoàn
Trường hợp người được bảo hiểm chết, bị thương tật hoặc đau ốm do hành vi trực tiếp hoặc gián tiếp của người thứ ba gây ra, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài vẫn có nghĩa vụ bồi thường, trả tiền bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm mà không có quyền yêu cầu người thứ ba bồi hoàn khoản tiền mà doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài đã trả cho người thụ hưởng. Người thứ ba vẫn phải chịu trách nhiệm bồi thường cho người được bảo hiểm theo quy định của pháp luật.
Điều 39. Giao kết hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, hợp đồng bảo hiểm sức khỏe cho trường hợp chết của người khác
1. Khi bên mua bảo hiểm giao kết hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, hợp đồng bảo hiểm sức khỏe cho trường hợp chết của người khác thì phải được người đó đồng ý bằng văn bản, trong đó ghi rõ số tiền bảo hiểm và người thụ hưởng.
2. Không được giao kết hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, hợp đồng bảo hiểm sức khỏe cho trường hợp chết của những người sau đây:
a) Người chưa thành niên, trừ trường hợp cha, mẹ hoặc người giám hộ của người đó đồng ý bằng văn bản;
b) Người mất năng lực hành vi dân sự;
c) Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi;
d) Người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.
Điều 40. Các trường hợp không phải bồi thường, trả tiền bảo hiểm
1. Doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài không phải bồi thường, trả tiền bảo hiểm trong trường hợp sau đây:
a) Người được bảo hiểm chết do tự tử trong thời hạn 02 năm kể từ ngày nộp khoản phí bảo hiểm đầu tiên hoặc kể từ ngày hợp đồng bảo hiểm khôi phục hiệu lực;
b) Người được bảo hiểm chết do lỗi cố ý của bên mua bảo hiểm hoặc lỗi cố ý của người thụ hưởng, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này;
c) Người được bảo hiểm bị thương tật vĩnh viễn do lỗi cố ý của chính bản thân người được bảo hiểm hoặc bên mua bảo hiểm hoặc người thụ hưởng, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này;
d) Người được bảo hiểm chết do bị thi hành án tử hình;
đ) Trường hợp khác theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm.
2. Trường hợp có nhiều người thụ hưởng, nếu một hoặc một số người thụ hưởng cố ý gây ra cái chết hay thương tật vĩnh viễn cho người được bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài vẫn phải bồi thường, trả tiền bảo hiểm cho những người thụ hưởng khác theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm.
3. Trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài phải trả cho bên mua bảo hiểm giá trị hoàn lại của hợp đồng bảo hiểm hoặc toàn bộ số phí bảo hiểm đã đóng sau khi trừ các chi phí hợp lý (nếu có) theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này. Nếu bên mua bảo hiểm chết thì số tiền trả lại được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.
Điều 41. Chỉ định, thay đổi người thụ hưởng
1. Bên mua bảo hiểm có quyền chỉ định người thụ hưởng, trừ hợp đồng bảo hiểm nhóm. Trường hợp bên mua bảo hiểm không đồng thời là người được bảo hiểm, bên mua bảo hiểm phải có sự đồng ý bằng văn bản của người được bảo hiểm khi chỉ định người thụ hưởng; trường hợp người được bảo hiểm chưa thành niên hoặc mất năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì việc chỉ định người thụ hưởng phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý.
2. Trường hợp có nhiều người thụ hưởng, những người được quyền chỉ định người thụ hưởng theo quy định của Luật này có thể xác định thứ tự hoặc tỷ lệ thụ hưởng của những người thụ hưởng. Trường hợp thứ tự hoặc tỷ lệ thụ hưởng không được xác định thì tất cả những người thụ hưởng được hưởng quyền lợi thụ hưởng theo tỷ lệ như nhau.
3. Bên mua bảo hiểm có thể thay đổi người thụ hưởng nhưng phải được sự đồng ý bằng văn bản của người được bảo hiểm và phải thông báo bằng văn bản cho doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài. Trường hợp người được bảo hiểm chưa thành niên hoặc mất năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì việc thay đổi người thụ hưởng phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý. Doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài phải xác nhận tại hợp đồng bảo hiểm hoặc văn bản khác đính kèm hợp đồng bảo hiểm sau khi nhận được thông báo của bên mua bảo hiểm.
Điều 42. Hợp đồng bảo hiểm nhóm
1. Hợp đồng bảo hiểm nhóm là sự thỏa thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài để bảo hiểm cho những người được bảo hiểm thuộc nhóm tham gia bảo hiểm trong cùng một hợp đồng bảo hiểm.
2. Nhóm tham gia hợp đồng bảo hiểm phải là nhóm đã được hình thành không phải vì mục đích tham gia bảo hiểm.
3. Bên mua bảo hiểm và người được bảo hiểm có thể thỏa thuận cùng đóng phí bảo hiểm.
4. Người được bảo hiểm có quyền chỉ định người thụ hưởng cho trường hợp chết của người được bảo hiểm.
5. Bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài có quyền sửa đổi, bổ sung hợp đồng bảo hiểm nhóm trong trường hợp sau đây:
a) Khi có ít nhất một người được bảo hiểm không còn là thành viên của nhóm;
b) Phí bảo hiểm tính cho từng người được bảo hiểm không được đóng theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm;
c) Trường hợp khác theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm.
6. Ngoài những nội dung quy định tại Điều 17 của Luật này, hợp đồng bảo hiểm nhóm phải có các nội dung sau đây:
a) Điều kiện tham gia bảo hiểm đối với người được bảo hiểm;
b) Điều kiện, thủ tục chuyển đổi thành hợp đồng bảo hiểm cá nhân.
Mục 3. HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM TÀI SẢN, HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM THIỆT HẠI
Điều 43. Đối tượng bảo hiểm của hợp đồng bảo hiểm tài sản, hợp đồng bảo hiểm thiệt hại
1. Đối tượng bảo hiểm của hợp đồng bảo hiểm tài sản là tài sản theo quy định của Bộ luật Dân sự.
2. Đối tượng bảo hiểm của hợp đồng bảo hiểm thiệt hại là bất kỳ lợi ích kinh tế hoặc nghĩa vụ thực hiện hợp đồng hoặc nghĩa vụ theo pháp luật mà người được bảo hiểm phải gánh chịu khi xảy ra tổn thất.
Điều 44. Quyền lợi có thể được bảo hiểm của hợp đồng bảo hiểm tài sản, hợp đồng bảo hiểm thiệt hại
1. Đối với hợp đồng bảo hiểm tài sản, bên mua bảo hiểm có quyền lợi có thể được bảo hiểm khi có quyền sở hữu; quyền khác đối với tài sản; quyền chiếm hữu, quyền sử dụng của người không phải là chủ sở hữu.
2. Đối với hợp đồng bảo hiểm thiệt hại, bên mua bảo hiểm có quyền lợi có thể được bảo hiểm khi có quyền lợi về tài chính; nghĩa vụ, trách nhiệm về tài chính; thiệt hại kinh tế đối với đối tượng bảo hiểm.
3. Tại thời điểm xảy ra tổn thất, bên mua bảo hiểm hoặc người được bảo hiểm phải có quyền lợi có thể được bảo hiểm.
Điều 45. Số tiền bảo hiểm
Số tiền bảo hiểm là số tiền mà bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm để bảo hiểm cho tài sản và thiệt hại trên cơ sở yêu cầu của bên mua bảo hiểm theo quy định của Luật này.
Điều 46. Thông báo khi sự kiện bảo hiểm xảy ra
1. Bên mua bảo hiểm phải thông báo cho doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài khi biết sự kiện bảo hiểm xảy ra theo thời hạn thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm. Trường hợp bên mua bảo hiểm không thực hiện hoặc chậm thực hiện nghĩa vụ này, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài có quyền giảm trừ số tiền phải bồi thường bảo hiểm tương ứng với thiệt hại mà doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài phải chịu, trừ trường hợp có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan.
2. Doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài không được áp dụng quy định tại khoản 1 Điều này nếu hợp đồng bảo hiểm không có thỏa thuận về trách nhiệm của bên mua bảo hiểm, các biện pháp chế tài trong việc không thực hiện hoặc chậm thực hiện nghĩa vụ thông báo về sự kiện bảo hiểm.
Điều 47. Hợp đồng bảo hiểm tài sản trên giá trị
1. Hợp đồng bảo hiểm tài sản trên giá trị là hợp đồng trong đó số tiền bảo hiểm cao hơn giá thị trường của tài sản được bảo hiểm tại thời điểm giao kết hợp đồng. Doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài và bên mua bảo hiểm không được cố ý giao kết hợp đồng bảo hiểm tài sản trên giá trị.
2. Trường hợp hợp đồng bảo hiểm tài sản trên giá trị được giao kết do lỗi vô ý của bên mua bảo hiểm thì thực hiện như sau:
a) Nếu chưa xảy ra sự kiện bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài phải hoàn lại cho bên mua bảo hiểm số phí bảo hiểm đã đóng tương ứng với số tiền bảo hiểm vượt quá giá thị trường của tài sản được bảo hiểm tại thời điểm giao kết hợp đồng sau khi trừ các chi phí hợp lý (nếu có) theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm;
b) Nếu xảy ra sự kiện bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài chỉ chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại tương ứng với giá thị trường của tài sản được bảo hiểm tại thời điểm xảy ra thiệt hại và phải hoàn lại cho bên mua bảo hiểm số phí bảo hiểm đã đóng tương ứng với số tiền bảo hiểm vượt quá giá thị trường của tài sản được bảo hiểm tại thời điểm giao kết hợp đồng sau khi trừ các chi phí hợp lý (nếu có) theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm.
Điều 48. Hợp đồng bảo hiểm tài sản dưới giá trị
1. Hợp đồng bảo hiểm tài sản dưới giá trị là hợp đồng trong đó số tiền bảo hiểm thấp hơn giá thị trường của tài sản được bảo hiểm tại thời điểm giao kết hợp đồng.
2. Trường hợp hợp đồng bảo hiểm tài sản dưới giá trị được giao kết, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài chỉ chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo tỷ lệ tương ứng với số tiền bảo hiểm và giá thị trường của tài sản được bảo hiểm tại thời điểm giao kết hoặc thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm.
Điều 49. Hợp đồng bảo hiểm trùng
1. Hợp đồng bảo hiểm trùng là trường hợp có từ hai hợp đồng bảo hiểm trở lên để bảo hiểm cho cùng phạm vi, đối tượng, thời hạn và sự kiện bảo hiểm mà tổng số tiền bảo hiểm vượt quá giá thị trường của tài sản được bảo hiểm tại thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm.
2. Trường hợp các bên giao kết hợp đồng bảo hiểm trùng, khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, số tiền bồi thường của mỗi hợp đồng bảo hiểm được tính tương ứng theo tỷ lệ giữa số tiền bảo hiểm đã thoả thuận trên tổng số tiền bảo hiểm của tất cả các hợp đồng mà bên mua bảo hiểm đã giao kết. Tổng số tiền bồi thường của các hợp đồng bảo hiểm không vượt quá giá trị thiệt hại thực tế của tài sản.
Điều 50. Tổn thất do hao mòn tự nhiên hoặc do bản chất vốn có của tài sản
Doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài không chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp tài sản được bảo hiểm bị tổn thất do hao mòn tự nhiên hoặc do bản chất vốn có của tài sản, trừ trường hợp có thoả thuận khác trong hợp đồng bảo hiểm.
Điều 51. Căn cứ bồi thường
1. Số tiền bồi thường mà doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài phải trả cho người được bảo hiểm được xác định trên cơ sở giá thị trường của tài sản được bảo hiểm tại thời điểm, nơi xảy ra tổn thất và mức độ thiệt hại thực tế, trừ trường hợp có thoả thuận khác trong hợp đồng bảo hiểm. Chi phí để xác định giá thị trường và mức độ thiệt hại do doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài chi trả.
2. Số tiền bồi thường mà doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài trả cho người được bảo hiểm không vượt quá số tiền bảo hiểm, trừ trường hợp có thỏa thuận khác trong hợp đồng bảo hiểm.
3. Ngoài số tiền bồi thường, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài còn phải trả cho người được bảo hiểm những chi phí cần thiết, hợp lý theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm để đề phòng, hạn chế tổn thất và những chi phí phát sinh mà bên mua bảo hiểm hoặc người được bảo hiểm phải chịu để thực hiện theo hướng dẫn của doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài.
Điều 52. Hình thức bồi thường
1. Bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài có thể thoả thuận một trong các hình thức bồi thường sau đây:
a) Sửa chữa tài sản bị thiệt hại;
b) Thay thế tài sản bị thiệt hại bằng tài sản khác;
c) Trả tiền bồi thường.
2. Trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài và bên mua bảo hiểm không thoả thuận được về hình thức bồi thường thì việc bồi thường được thực hiện bằng tiền.
3. Trường hợp bồi thường quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài có quyền thu hồi tài sản bị thiệt hại sau khi đã thay thế hoặc bồi thường toàn bộ theo giá thị trường của tài sản.
Điều 53. Giám định tổn thất
1. Khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài hoặc người được doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài ủy quyền thực hiện việc giám định tổn thất để xác định nguyên nhân và mức độ tổn thất. Chi phí giám định tổn thất do doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài chi trả.
2. Trường hợp các bên không thống nhất về nguyên nhân và mức độ tổn thất thì có thể thỏa thuận thuê giám định viên độc lập, trừ trường hợp có thoả thuận khác trong hợp đồng bảo hiểm. Trường hợp các bên không thoả thuận được việc thuê giám định viên độc lập thì một trong các bên có quyền yêu cầu Toà án có thẩm quyền hoặc Trọng tài trưng cầu giám định viên độc lập. Kết luận của giám định viên độc lập có giá trị bắt buộc đối với các bên.
Điều 54. Chuyển quyền yêu cầu bồi hoàn
1. Khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, trường hợp người thứ ba có trách nhiệm bồi thường do hành vi gây thiệt hại cho người được bảo hiểm thì thực hiện như sau:
a) Sau khi doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài trả tiền bồi thường, người được bảo hiểm có trách nhiệm chuyển cho doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài quyền yêu cầu người thứ ba bồi hoàn số tiền mà doanh nghiệp đã bồi thường;
b) Doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài có quyền khấu trừ số tiền bồi thường tùy theo mức độ lỗi của người được bảo hiểm nếu người được bảo hiểm từ chối chuyển quyền yêu cầu người thứ ba bồi hoàn.
2. Khi doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài thực hiện quyền yêu cầu bồi hoàn đối với người thứ ba, người được bảo hiểm có trách nhiệm cung cấp cho doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài các tài liệu cần thiết và thông tin liên quan theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm.
3. Doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài không được yêu cầu cha, mẹ, vợ, chồng, con của người được bảo hiểm bồi hoàn khoản tiền mà doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài đã trả cho người được bảo hiểm, trừ trường hợp những người này cố ý gây ra tổn thất.
Điều 55. Các quy định về an toàn
1. Người được bảo hiểm phải thực hiện các quy định về phòng cháy, chữa cháy, an toàn lao động, vệ sinh lao động và những quy định khác của pháp luật có liên quan nhằm bảo đảm an toàn cho đối tượng bảo hiểm.
2. Doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài có quyền kiểm tra các điều kiện bảo đảm an toàn cho đối tượng bảo hiểm hoặc khuyến nghị, yêu cầu người được bảo hiểm áp dụng các biện pháp đề phòng, hạn chế rủi ro.
3. Trường hợp người được bảo hiểm không thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn cho đối tượng bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài có quyền ấn định một thời hạn để người được bảo hiểm thực hiện các biện pháp đó. Nếu hết thời hạn này mà các biện pháp bảo đảm an toàn vẫn không được thực hiện thì doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài có quyền tăng phí bảo hiểm hoặc đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bảo hiểm.
Điều 56. Không được từ bỏ tài sản được bảo hiểm
Trường hợp xảy ra tổn thất, người được bảo hiểm không được từ bỏ tài sản được bảo hiểm và phải áp dụng các biện pháp cần thiết mà khả năng cho phép để ngăn chặn hoặc giảm thiểu tổn thất, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác hoặc các bên có thỏa thuận khác.
Mục 4. HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM TRÁCH NHIỆM
Điều 57. Đối tượng bảo hiểm của hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm
Đối tượng bảo hiểm của hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm là trách nhiệm dân sự của người được bảo hiểm đối với người thứ ba theo quy định của pháp luật.
Điều 58. Trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài
1. Trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài chỉ phát sinh nếu người thứ ba yêu cầu người được bảo hiểm bồi thường do có hành vi gây thiệt hại cho người thứ ba trong thời hạn bảo hiểm.
2. Người thứ ba không có quyền trực tiếp yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài bồi thường, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Điều 59. Giới hạn trách nhiệm bảo hiểm
1. Giới hạn trách nhiệm bảo hiểm là số tiền mà doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài phải trả cho người được bảo hiểm theo thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm.
2. Trong phạm vi giới hạn trách nhiệm bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài phải trả cho người được bảo hiểm những khoản tiền mà theo quy định của pháp luật người được bảo hiểm có trách nhiệm bồi thường cho người thứ ba.
3. Ngoài việc trả tiền bồi thường quy định tại khoản 2 Điều này, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài còn phải trả các chi phí liên quan đến việc giải quyết tranh chấp về trách nhiệm đối với người thứ ba và lãi phải trả cho người thứ ba do người được bảo hiểm chậm trả tiền bồi thường theo chỉ dẫn của doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài.
4. Tổng số tiền bồi thường của doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này không vượt quá giới hạn trách nhiệm bảo hiểm, trừ trường hợp có thỏa thuận khác trong hợp đồng bảo hiểm.
5. Trường hợp người được bảo hiểm phải đóng tiền bảo lãnh hoặc ký quỹ để bảo đảm cho tài sản không bị lưu giữ hoặc để tránh việc khởi kiện tại tòa án thì theo yêu cầu của người được bảo hiểm và thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài phải thực hiện việc bảo lãnh hoặc ký quỹ trong phạm vi giới hạn trách nhiệm bảo hiểm.
Điều 60. Quyền đại diện cho người được bảo hiểm
Doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài có quyền thay mặt người được bảo hiểm để thương lượng với người thứ ba về mức độ bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác trong hợp đồng bảo hiểm.
Điều 61. Phương thức bồi thường
Theo yêu cầu của người được bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài có thể bồi thường trực tiếp cho người được bảo hiểm hoặc cho người thứ ba bị thiệt hại.
Chương III
DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM, DOANH NGHIỆP TÁI BẢO HIỂM, CHI NHÁNH NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM
Mục 1. GIẤY PHÉP THÀNH LẬP VÀ HOẠT ĐỘNG
Điều 62. Các hình thức tổ chức hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm
1. Công ty cổ phần.
2. Công ty trách nhiệm hữu hạn.
Điều 63. Nội dung hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam
1. Nội dung hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài bao gồm:
a) Kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh tái bảo hiểm, nhượng tái bảo hiểm;
b) Quản lý các quỹ và đầu tư vốn từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm;
c) Cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm;
d) Hoạt động khác liên quan trực tiếp đến hoạt động kinh doanh bảo hiểm.
2. Nội dung hoạt động của doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp tái bảo hiểm nước ngoài bao gồm:
a) Kinh doanh tái bảo hiểm; nhượng tái bảo hiểm;
b) Quản lý các quỹ và đầu tư vốn từ hoạt động kinh doanh tái bảo hiểm;
c) Hoạt động khác liên quan trực tiếp đến hoạt động kinh doanh tái bảo hiểm.
3. Doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài chỉ được phép kinh doanh một loại hình bảo hiểm quy định tại khoản 1 Điều 7 của Luật này, trừ các trường hợp sau đây:
a) Doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ kinh doanh bảo hiểm sức khỏe;
b) Doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài kinh doanh các sản phẩm thuộc loại hình bảo hiểm sức khỏe có thời hạn từ 01 năm trở xuống và các sản phẩm bảo hiểm cho rủi ro tử vong có thời hạn từ 01 năm trở xuống;
c) Doanh nghiệp bảo hiểm sức khỏe kinh doanh các sản phẩm bảo hiểm cho rủi ro tử vong có thời hạn từ 01 năm trở xuống.
Điều 64. Điều kiện chung cấp giấy phép thành lập và hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm
1. Điều kiện về cổ đông, thành viên góp vốn thành lập:
a) Tổ chức, cá nhân có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam theo quy định của Luật Doanh nghiệp;
b) Tổ chức có tư cách pháp nhân, đang hoạt động hợp pháp; trường hợp tham gia góp từ 10% vốn điều lệ trở lên thì phải kinh doanh có lãi trong 03 năm tài chính liên tục gần nhất tính đến thời điểm nộp hồ sơ đề nghị cấp giấy phép và đáp ứng các điều kiện về tài chính theo quy định của Chính phủ;
c) Doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm đã được cấp giấy phép thành lập và hoạt động tại Việt Nam góp vốn thành lập doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm mới phải kinh doanh có lãi trong 03 năm tài chính liên tục gần nhất tính đến thời điểm nộp hồ sơ đề nghị cấp giấy phép và đáp ứng tỷ lệ an toàn vốn theo quy định của Luật này.
2. Điều kiện về vốn:
a) Vốn điều lệ được góp bằng Đồng Việt Nam và không thấp hơn mức tối thiểu theo quy định của Chính phủ;
b) Cổ đông, thành viên góp vốn thành lập không được sử dụng vốn vay, nguồn vốn ủy thác đầu tư của tổ chức, cá nhân khác để tham gia góp vốn.
3. Điều kiện về nhân sự: có Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, người đại diện theo pháp luật, Chuyên gia tính toán dự kiến đáp ứng điều kiện, tiêu chuẩn về năng lực quản lý, kinh nghiệm và chuyên môn nghiệp vụ quy định tại Điều 81 của Luật này.
4. Có hình thức tổ chức hoạt động theo quy định của Luật này và có dự thảo điều lệ phù hợp với quy định của Luật Doanh nghiệp.
Điều 65. Điều kiện của thành viên góp vốn thành lập của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn
Thành viên góp vốn thành lập doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn phải là tổ chức, đáp ứng điều kiện chung quy định tại Điều 64 của Luật này và các điều kiện sau đây:
1. Điều kiện đối với tổ chức thành lập theo quy định của pháp luật nước ngoài:
a) Là doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, tập đoàn tài chính, bảo hiểm nước ngoài;
b) Được cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài xác nhận doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, tập đoàn tài chính, bảo hiểm nước ngoài không vi phạm nghiêm trọng các quy định của pháp luật về kinh doanh bảo hiểm của nước nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính trong thời hạn 03 năm liên tục gần nhất tính đến thời điểm nộp hồ sơ đề nghị cấp giấy phép;
c) Lĩnh vực dự kiến đề nghị cấp giấy phép thực hiện tại Việt Nam là lĩnh vực mà doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, tập đoàn tài chính, bảo hiểm nước ngoài đang trực tiếp thực hiện hoặc có công ty con thực hiện tối thiểu trong 07 năm liên tục gần nhất;
d) Có tổng tài sản không thấp hơn 02 tỷ Đô la Mỹ vào năm liền kề trước năm nộp hồ sơ đề nghị cấp giấy phép thành lập và hoạt động;
đ) Cam kết hỗ trợ về tài chính, công nghệ, quản trị doanh nghiệp, quản trị rủi ro, điều hành, hoạt động cho doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm dự kiến thành lập tại Việt Nam; bảo đảm doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm này thực hiện các quy định về bảo đảm an toàn tài chính, quản trị rủi ro theo quy định của Luật này;
e) Doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, tập đoàn tài chính, bảo hiểm nước ngoài đáp ứng điều kiện quy định tại các điểm b, c, d và đ khoản này có thể ủy quyền cho công ty con chuyên thực hiện chức năng đầu tư ra nước ngoài để thành lập doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm tại Việt Nam. Công ty con chuyên thực hiện chức năng đầu tư ra nước ngoài phải đáp ứng điều kiện quy định tại điểm d khoản này;
2. Điều kiện đối với tổ chức kinh tế thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam: có tổng tài sản không thấp hơn 2.000 tỷ Đồng Việt Nam vào năm liền kề trước năm nộp hồ sơ đề nghị cấp giấy phép;
3. Căn cứ quy định tại điểm d khoản 1 và khoản 2 Điều này, Chính phủ quy định cụ thể mức tổng tài sản tối thiểu phù hợp với từng thời kỳ.
Điều 66. Điều kiện về cơ cấu cổ đông góp vốn thành lập doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm dưới hình thức công ty cổ phần
Việc thành lập doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm dưới hình thức công ty cổ phần phải đáp ứng điều kiện chung quy định tại Điều 64 của Luật này và các điều kiện sau đây:
1. Có tối thiểu 02 cổ đông là tổ chức và mỗi cổ đông đó đáp ứng điều kiện sau đây:
a) Phải góp từ 10% vốn điều lệ trở lên của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm;
b) Điều kiện quy định tại Điều 65 của Luật này;
2. Một cổ đông cá nhân không được góp vượt quá 10% vốn điều lệ của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm.
Điều 67. Điều kiện cấp giấy phép thành lập và hoạt động chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam
1. Doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, doanh nghiệp tái bảo hiểm nước ngoài khi thành lập chi nhánh tại Việt Nam phải đáp ứng các điều kiện sau đây:
a) Có trụ sở chính tại quốc gia mà Việt Nam và quốc gia đó đã ký kết các điều ước quốc tế, trong đó có thỏa thuận về thành lập chi nhánh tại Việt Nam; cơ quan quản lý nhà nước về bảo hiểm nước ngoài nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính đã ký kết thỏa thuận quốc tế với Bộ Tài chính Việt Nam về quản lý, giám sát hoạt động của chi nhánh;
b) Được cơ quan quản lý nhà nước về bảo hiểm nước ngoài nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính cho phép thành lập chi nhánh tại Việt Nam để hoạt động trong phạm vi các nghiệp vụ bảo hiểm mà doanh nghiệp được phép kinh doanh;
c) Có ít nhất 07 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực dự kiến đề nghị cấp giấy phép thực hiện tại Việt Nam;
d) Có tổng tài sản tối thiểu đáp ứng điều kiện quy định tại điểm d khoản 1 và khoản 3 Điều 65 của Luật này;
đ) Hoạt động kinh doanh có lãi trong 03 năm tài chính liên tục gần nhất tính đến thời điểm nộp hồ sơ và đáp ứng các điều kiện về tài chính theo quy định của Chính phủ;
e) Cam kết bảo đảm và chịu trách nhiệm về mọi nghĩa vụ, cam kết của chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam.
2. Chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, chi nhánh doanh nghiệp tái bảo hiểm nước ngoài dự kiến thành lập và hoạt động tại Việt Nam phải đáp ứng các điều kiện sau đây:
a) Có vốn được cấp bằng Đồng Việt Nam và không thấp hơn mức tối thiểu theo quy định của Chính phủ;
b) Nguồn vốn thành lập chi nhánh là nguồn hợp pháp, không sử dụng vốn vay hoặc nguồn vốn ủy thác đầu tư dưới bất kỳ hình thức nào;
c) Có Giám đốc chi nhánh, Chuyên gia tính toán dự kiến đáp ứng điều kiện, tiêu chuẩn về năng lực quản lý, kinh nghiệm và chuyên môn nghiệp vụ quy định tại Điều 81 của Luật này.
3. Chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam sau khi được cấp giấy phép thành lập và hoạt động được phép hoạt động như doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm được thành lập và hoạt động tại Việt Nam theo quy định của Luật này.
Điều 68. Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài
Nhà đầu tư nước ngoài được sở hữu cổ phần, phần vốn góp đến 100% vốn điều lệ của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm.
Điều 69. Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép thành lập và hoạt động
Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép thành lập và hoạt động bao gồm:
1. Văn bản đề nghị cấp giấy phép thành lập và hoạt động;
2. Dự thảo điều lệ đối với doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm; dự thảo quy chế tổ chức và hoạt động đối với chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam;
3. Phương án hoạt động 05 năm đầu, trong đó nêu rõ các nghiệp vụ bảo hiểm dự kiến triển khai, mô hình quản trị rủi ro, phương thức trích lập dự phòng nghiệp vụ, chương trình tái bảo hiểm, đầu tư vốn, khả năng thanh toán của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam;
4. Sơ yếu lý lịch, Phiếu lý lịch tư pháp, bản sao các văn bằng, chứng chỉ chứng minh năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của người dự kiến được bổ nhiệm là Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, người đại diện theo pháp luật, Chuyên gia tính toán;
5. Mức vốn góp và phương thức góp vốn, danh sách những tổ chức, cá nhân sáng lập hoặc thành viên, cổ đông dự kiến góp từ 10% số vốn điều lệ trở lên và các tài liệu chứng minh việc đáp ứng điều kiện tương ứng với từng loại hình doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam quy định tại các điều 64, 65, 66 và 67 của Luật này của các tổ chức, cá nhân đó;
6. Danh sách các chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm. Chính phủ quy định tiêu chí xác định chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm.
Điều 70. Thời hạn cấp giấy phép thành lập và hoạt động
1. Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Bộ Tài chính cấp hoặc từ chối cấp giấy phép thành lập và hoạt động. Trường hợp từ chối cấp giấy phép thì phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do.
2. Trường hợp cấp giấy phép thành lập và hoạt động, Bộ Tài chính đồng thời có văn bản chấp thuận về nguyên tắc đối với người dự kiến được bổ nhiệm là Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Chuyên gia tính toán.
Điều 71. Thẩm quyền cấp, cấp lại, sửa đổi, bổ sung, thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động, đình chỉ nội dung hoạt động
1. Giấy phép thành lập và hoạt động đồng thời là Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.
2. Bộ Tài chính có thẩm quyền cấp, cấp lại, sửa đổi, bổ sung, thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động, đình chỉ một phần hoặc toàn bộ nội dung hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.
3. Sau khi cấp, sửa đổi, bổ sung hoặc thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động, Bộ Tài chính có trách nhiệm thông báo bằng văn bản cho cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh nơi doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam đặt trụ sở chính để cập nhật vào Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.
4. Chính phủ quy định chi tiết về hồ sơ, trình tự, thủ tục cấp, cấp lại, sửa đổi, bổ sung, thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động, đình chỉ một phần hoặc toàn bộ nội dung hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam.
Điều 72. Công bố nội dung giấy phép thành lập và hoạt động
1. Bộ Tài chính có trách nhiệm công bố các nội dung của giấy phép thành lập và hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Tài chính trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày cấp giấy phép.
2. Ít nhất 30 ngày trước ngày chính thức hoạt động, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam đã được cấp giấy phép thành lập và hoạt động phải công bố các nội dung của giấy phép và ngày dự kiến chính thức hoạt động trên 01 tờ báo in trong 03 số liên tiếp hoặc trên báo điện tử của Việt Nam.
Điều 73. Điều kiện trước khi chính thức hoạt động
1. Doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam phải chính thức hoạt động trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày được cấp giấy phép thành lập và hoạt động, trừ trường hợp có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Đối với trường hợp bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam phải báo cáo bằng văn bản và được Bộ Tài chính chấp thuận bằng văn bản về việc gia hạn thời gian chính thức hoạt động; thời gian gia hạn tối đa là 12 tháng.
2. Doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam phải đáp ứng các quy định sau đây để chính thức hoạt động:
a) Chuyển số vốn gửi tại tài khoản phong tỏa thành vốn điều lệ hoặc vốn được cấp;
b) Xây dựng cơ cấu tổ chức, bộ máy quản lý, kiểm soát nội bộ, kiểm toán nội bộ, hệ thống quản trị rủi ro phù hợp với hình thức hoạt động theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan; bầu, bổ nhiệm người đại diện theo pháp luật; bầu, bổ nhiệm các chức danh đã được Bộ Tài chính chấp thuận về nguyên tắc quy định tại khoản 2 Điều 70 của Luật này;
c) Ban hành các quy chế quản lý nội bộ về tổ chức hoạt động, quy chế nội bộ về quản trị rủi ro và các quy trình nghiệp vụ cơ bản theo quy định pháp luật;
d) Ký quỹ đầy đủ theo quy định của Luật này tại ngân hàng thương mại hoạt động tại Việt Nam;
đ) Có trụ sở, cơ sở vật chất, kỹ thuật, hệ thống công nghệ phù hợp với quy trình nghiệp vụ về kinh doanh bảo hiểm;
e) Thực hiện công bố nội dung giấy phép thành lập và hoạt động quy định tại khoản 2 Điều 72 của Luật này.
3. Doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam phải thông báo cho Bộ Tài chính về việc đáp ứng các quy định tại khoản 2 Điều này ít nhất 15 ngày trước ngày chính thức hoạt động. Bộ Tài chính có quyền đình chỉ việc chính thức hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam khi chưa đáp ứng các quy định tại khoản 2 Điều này.
4. Doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam không được tiến hành hoạt động kinh doanh bảo hiểm trước ngày chính thức hoạt động.
Điều 74. Những thay đổi phải được chấp thuận hoặc phải thông báo
1. Doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam phải được Bộ Tài chính chấp thuận bằng văn bản trước khi thay đổi một trong các nội dung sau đây:
a) Tên, địa điểm đặt trụ sở chính;
b) Mức vốn điều lệ; vốn được cấp;
c) Nội dung, phạm vi và thời hạn hoạt động;
d) Chuyển nhượng cổ phần, phần vốn góp dẫn đến có cổ đông, thành viên góp vốn sở hữu từ 10% vốn điều lệ trở lên hoặc giảm xuống dưới 10% vốn điều lệ;
đ) Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Chuyên gia tính toán;
e) Chia, tách, sáp nhập, hợp nhất, giải thể, chuyển đổi hình thức doanh nghiệp;
g) Đầu tư ra nước ngoài, bao gồm việc mở chi nhánh, văn phòng đại diện và các hình thức hiện diện thương mại khác tại nước ngoài.
2. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Bộ Tài chính chấp thuận việc thay đổi theo quy định tại khoản 1 Điều này, Bộ Tài chính có trách nhiệm công bố các nội dung thay đổi trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Tài chính.
3. Doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam phải thông báo cho Bộ Tài chính bằng văn bản trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày có những thay đổi sau đây:
a) Thay đổi điều lệ hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, quy chế tổ chức và hoạt động của chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam;
b) Mở, chấm dứt, thay đổi địa điểm chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm;
c) Mở, chấm dứt, thay đổi địa điểm kinh doanh;
d) Thay đổi các chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm.
4. Chính phủ quy định chi tiết điều kiện, hồ sơ, trình tự, thủ tục chấp thuận các thay đổi quy định tại khoản 1 và hồ sơ, trình tự, thủ tục ghi nhận các thay đổi quy định tại điểm b khoản 3 Điều này.
Điều 75. Thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động
1. Doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam bị thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động khi xảy ra một trong các trường hợp sau đây:
a) Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép thành lập và hoạt động có thông tin gian lận để có đủ điều kiện được cấp giấy phép;
b) Quá thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 73 của Luật này mà không bắt đầu chính thức hoạt động;
c) Bị chia, sáp nhập, hợp nhất, giải thể, chấm dứt hoạt động;
d) Hoạt động không đúng với nội dung tại giấy phép thành lập và hoạt động;
đ) Sau khi Tòa án quyết định tuyên bố doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm phá sản;
e) Doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, doanh nghiệp tái bảo hiểm nước ngoài của chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam bị phá sản hoặc bị thu hồi giấy phép.
2. Đối với các trường hợp bị thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động quy định tại các điểm a, c, d và e khoản 1 Điều này, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam phải dừng ngay việc giao kết hợp đồng bảo hiểm, hợp đồng tái bảo hiểm mới; doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài phải thực hiện chuyển giao danh mục hợp đồng bảo hiểm; việc chuyển giao danh mục hợp đồng bảo hiểm không áp dụng đối với các hợp đồng bảo hiểm vô hiệu theo quy định của Luật này.
3. Quyết định thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam được Bộ Tài chính công bố trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Tài chính.
Điều 76. Văn phòng đại diện nước ngoài tại Việt Nam
1. Doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài, doanh nghiệp tái bảo hiểm nước ngoài, tập đoàn tài chính, bảo hiểm nước ngoài, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm nước ngoài được đặt văn phòng đại diện tại Việt Nam. Văn phòng đại diện nước ngoài tại Việt Nam là đơn vị phụ thuộc của doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài, doanh nghiệp tái bảo hiểm nước ngoài, tập đoàn tài chính, bảo hiểm nước ngoài, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm nước ngoài và không được thực hiện hoạt động kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam.
2. Văn phòng đại diện nước ngoài tại Việt Nam được thực hiện các hoạt động sau đây:
a) Làm chức năng văn phòng liên lạc;
b) Nghiên cứu thị trường;
c) Xúc tiến xây dựng các dự án đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài, doanh nghiệp tái bảo hiểm nước ngoài, tập đoàn tài chính, bảo hiểm nước ngoài, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm nước ngoài tại Việt Nam;
d) Thúc đẩy và theo dõi việc thực hiện các dự án do doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài, doanh nghiệp tái bảo hiểm nước ngoài, tập đoàn tài chính, bảo hiểm nước ngoài, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm nước ngoài tài trợ tại Việt Nam;
đ) Hoạt động khác phù hợp với pháp luật Việt Nam.
3. Thời hạn hoạt động của văn phòng đại diện nước ngoài tại Việt Nam không quá 05 năm và có thể được gia hạn.
4. Báo cáo hoạt động, thông báo thay đổi và công bố thông tin của văn phòng đại diện nước ngoài tại Việt Nam thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính.
Điều 77. Cấp, cấp lại, sửa đổi, bổ sung, gia hạn, chấm dứt, thu hồi giấy phép đặt văn phòng đại diện nước ngoài tại Việt Nam
1. Doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài, doanh nghiệp tái bảo hiểm nước ngoài, tập đoàn tài chính, bảo hiểm nước ngoài, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm nước ngoài khi đặt văn phòng đại diện nước ngoài tại Việt Nam phải đáp ứng các điều kiện sau đây:
a) Hoạt động tối thiểu trong 05 năm gần nhất;
b) Được cơ quan quản lý nhà nước về bảo hiểm nước ngoài nơi đặt trụ sở chính cho phép đặt văn phòng đại diện tại Việt Nam.
2. Chính phủ quy định chi tiết điều kiện, hồ sơ, trình tự, thủ tục cấp, cấp lại, sửa đổi, bổ sung, gia hạn, chấm dứt, thu hồi giấy phép đặt văn phòng đại diện nước ngoài tại Việt Nam.
3. Bộ Tài chính có thẩm quyền cấp, cấp lại, sửa đổi, bổ sung, gia hạn, thu hồi giấy phép đặt văn phòng đại diện nước ngoài tại Việt Nam, chấm dứt hoạt động của văn phòng đại diện nước ngoài tại Việt Nam.
Mục 2. TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG
Điều 78. Tổ chức hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam
1. Tổ chức hoạt động ở trong nước của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm bao gồm trụ sở chính, chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh.
2. Tổ chức hoạt động ở nước ngoài của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm bao gồm chi nhánh, văn phòng đại diện hoặc các hình thức hiện diện thương mại khác theo quy định của pháp luật.
3. Tổ chức hoạt động của chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam bao gồm trụ sở chính, địa điểm kinh doanh.
Điều 79. Cơ cấu tổ chức quản lý của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm
1. Doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm được thành lập dưới hình thức công ty cổ phần có quyền lựa chọn cơ cấu tổ chức quản lý theo một trong hai mô hình sau đây:
a) Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc. Ban kiểm soát có từ 03 đến 05 Kiểm soát viên theo quy định tại Điều lệ công ty;
b) Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, trong đó ít nhất 20% số thành viên Hội đồng quản trị phải là thành viên độc lập và có Ủy ban kiểm toán trực thuộc Hội đồng quản trị. Cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của Ủy ban kiểm toán quy định tại Điều lệ công ty hoặc quy chế hoạt động của Ủy ban kiểm toán do Hội đồng quản trị ban hành.
2. Doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm được thành lập dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn có cơ cấu tổ chức quản lý bao gồm Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc. Doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm có thể quyết định thành lập Ban kiểm soát bảo đảm phù hợp với quy định của pháp luật.
Điều 80. Người quản lý, người kiểm soát của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam
1. Người quản lý của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm bao gồm các chức danh sau đây:
a) Chủ tịch Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng quản trị hoặc Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng thành viên;
b) Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Phó giám đốc hoặc Phó Tổng giám đốc, người đại diện theo pháp luật;
c) Kế toán trưởng, Giám đốc chi nhánh, Trưởng văn phòng đại diện, các trưởng bộ phận nghiệp vụ và các chức danh tương đương theo quy định tại Điều lệ công ty.
2. Người quản lý của chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam bao gồm các chức danh sau đây:
a) Giám đốc, Phó giám đốc;
b) Kế toán trưởng, các trưởng bộ phận nghiệp vụ và các chức danh tương đương theo quy định tại quy chế tổ chức và hoạt động của chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam.
3. Người kiểm soát tại doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam có quyền độc lập về chuyên môn nghiệp vụ, bao gồm các chức danh sau đây:
a) Trưởng Ban kiểm soát, Kiểm soát viên;
b) Trưởng bộ phận quản trị rủi ro, Trưởng bộ phận kiểm soát tuân thủ, Trưởng bộ phận kiểm toán nội bộ;
c) Chuyên gia tính toán.
4. Doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam phải bảo đảm duy trì Giám đốc và Chuyên gia tính toán hoặc Tổng giám đốc và Chuyên gia tính toán. Trường hợp có thay đổi, trong thời hạn 75 ngày kể từ ngày Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Chuyên gia tính toán thôi giữ chức vụ, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam phải nộp hồ sơ hợp lệ đề nghị Bộ Tài chính chấp thuận Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Chuyên gia tính toán mới.
Điều 81. Điều kiện, tiêu chuẩn đối với người quản lý, người kiểm soát của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam
1. Điều kiện, tiêu chuẩn chung:
a) Có quyền quản lý doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp;
b) Không bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, không bị xử lý kỷ luật dưới hình thức sa thải do vi phạm quy trình nội bộ trong 03 năm liên tục trước thời điểm được bổ nhiệm; không bị cơ quan có thẩm quyền khởi tố theo quy định của pháp luật tại thời điểm được bầu, bổ nhiệm.
2. Điều kiện, tiêu chuẩn đối với Chủ tịch Hội đồng quản trị, Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng thành viên:
a) Các điều kiện, tiêu chuẩn chung quy định tại khoản 1 Điều này;
b) Có bằng đại học trở lên;
c) Chủ tịch Hội đồng quản trị, Chủ tịch Hội đồng thành viên có ít nhất 05 năm trực tiếp làm việc trong lĩnh vực bảo hiểm, tài chính, ngân hàng hoặc có ít nhất 03 năm giữ vị trí là người quản lý, điều hành, kiểm soát tại doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm, tài chính, ngân hàng; thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng thành viên có ít nhất 03 năm trực tiếp làm việc trong lĩnh vực bảo hiểm, tài chính, ngân hàng hoặc có ít nhất 03 năm giữ vị trí là người quản lý, điều hành, kiểm soát tại doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm, tài chính, ngân hàng.
3. Điều kiện, tiêu chuẩn đối với Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, người đại diện theo pháp luật:
a) Các điều kiện, tiêu chuẩn chung quy định tại khoản 1 Điều này;
b) Có bằng đại học trở lên về chuyên ngành bảo hiểm. Trường hợp không có bằng đại học trở lên về chuyên ngành bảo hiểm thì phải có bằng đại học trở lên về chuyên ngành khác và có chứng chỉ bảo hiểm do các cơ sở đào tạo về bảo hiểm được thành lập và hoạt động hợp pháp trong nước hoặc ngoài nước cấp;
c) Có ít nhất 05 năm kinh nghiệm làm việc trong lĩnh vực bảo hiểm, tài chính, ngân hàng, trong đó có ít nhất 03 năm giữ vị trí là người quản lý, người kiểm soát của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài;
d) Cư trú tại Việt Nam trong thời gian đương nhiệm.
4. Điều kiện, tiêu chuẩn đối với người quản lý khác không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam:
a) Các điều kiện, tiêu chuẩn chung quy định tại khoản 1 Điều này;
b) Có bằng đại học trở lên về chuyên ngành bảo hiểm. Trường hợp không có bằng đại học trở lên về chuyên ngành bảo hiểm thì phải có bằng đại học trở lên về chuyên ngành khác và có chứng chỉ bảo hiểm phù hợp với loại hình bảo hiểm mà doanh nghiệp được phép triển khai do các cơ sở đào tạo về bảo hiểm được thành lập và hoạt động hợp pháp trong nước hoặc ngoài nước cấp;
c) Có ít nhất 03 năm kinh nghiệm làm việc trong lĩnh vực bảo hiểm, tài chính, ngân hàng hoặc lĩnh vực chuyên môn dự kiến đảm nhiệm. Riêng đối với các trưởng bộ phận nghiệp vụ, có ít nhất 03 năm kinh nghiệm làm việc trong lĩnh vực bảo hiểm hoặc lĩnh vực chuyên môn dự kiến đảm nhiệm;
d) Cư trú tại Việt Nam trong thời gian đương nhiệm.
5. Người kiểm soát của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam phải đáp ứng điều kiện, tiêu chuẩn chung quy định tại khoản 1 Điều này và điều kiện, tiêu chuẩn khác theo quy định của Chính phủ.
6. Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định chi tiết điểm b khoản 3 và điểm b khoản 4 Điều này, nội dung đào tạo, hồ sơ, trình tự, thủ tục thi, cấp, thu hồi, cấp đổi chứng chỉ bảo hiểm do cơ sở đào tạo về bảo hiểm được thành lập và hoạt động hợp pháp trong nước cấp.
Điều 82. Nguyên tắc đảm nhiệm chức vụ
1. Chủ tịch Hội đồng quản trị, Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng thành viên của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm không được đồng thời làm thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng thành viên của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm khác hoạt động trong cùng lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm phi nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe hoặc tái bảo hiểm tại Việt Nam.
2. Giám đốc hoặc Tổng giám đốc của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam không được đồng thời làm việc cho doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài khác hoạt động trong cùng lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm phi nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe hoặc tái bảo hiểm tại Việt Nam.
3. Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Giám đốc chi nhánh, Trưởng Văn phòng đại diện của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm chỉ được kiêm nhiệm tối đa Giám đốc của 01 chi nhánh hoặc Trưởng 01 văn phòng đại diện hoặc Trưởng 01 bộ phận nghiệp vụ của cùng một doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm. Giám đốc của chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam là người đại diện theo pháp luật và chỉ được kiêm nhiệm tối đa Trưởng 01 bộ phận nghiệp vụ của chi nhánh đó.
4. Các chức danh Chuyên gia tính toán, Trưởng bộ phận quản trị rủi ro, Trưởng bộ phận kiểm soát tuân thủ của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam không được kiêm nhiệm bất kỳ chức danh quản lý nào tại cùng tổ chức; không được đồng thời làm việc tại doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài khác hoạt động tại Việt Nam. Chuyên gia tính toán thực hiện nhiệm vụ theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính.
5. Trưởng ban kiểm soát, Kiểm soát viên không được kiêm nhiệm bất kỳ chức danh quản lý nào tại cùng tổ chức. Trưởng Ban kiểm soát không được đồng thời là Kiểm soát viên, người quản lý của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm khác hoạt động tại Việt Nam.
6. Kế toán trưởng, Trưởng bộ phận kiểm toán nội bộ của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam không được kiêm nhiệm bất kỳ chức danh nào tại cùng tổ chức; không được đồng thời làm việc tại doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài khác hoạt động tại Việt Nam.
Điều 83. Đình chỉ, tạm đình chỉ việc thực thi quyền, nghĩa vụ của Chủ tịch Hội đồng quản trị, Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Chuyên gia tính toán
1. Bộ Tài chính có quyền đình chỉ, tạm đình chỉ việc thực thi quyền, nghĩa vụ của Chủ tịch Hội đồng quản trị, Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Chuyên gia tính toán của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam vi phạm nguyên tắc đảm nhiệm chức vụ quy định tại Điều 82 của Luật này hoặc không còn đáp ứng điều kiện, tiêu chuẩn quy định tại Điều 81 của Luật này.
2. Trong thời hạn 75 ngày kể từ ngày Bộ Tài chính ban hành văn bản đình chỉ, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam phải nộp hồ sơ hợp lệ đề nghị Bộ Tài chính chấp thuận Chủ tịch Hội đồng quản trị, Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Chuyên gia tính toán mới.
3. Người bị đình chỉ, tạm đình chỉ quy định tại khoản 1 Điều này có trách nhiệm tham gia xử lý các tồn tại và vi phạm có liên quan đến trách nhiệm cá nhân khi có yêu cầu của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam.
4. Chính phủ quy định chi tiết việc đình chỉ, tạm đình chỉ việc thực thi quyền, nghĩa vụ của Chủ tịch Hội đồng quản trị, Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Chuyên gia tính toán quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.
Mục 3. KIỂM SOÁT NỘI BỘ, KIỂM TOÁN NỘI BỘ, QUẢN TRỊ RỦI RO
Điều 84. Kiểm soát nội bộ
1. Doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam phải thực hiện kiểm soát nội bộ để bảo đảm các yêu cầu sau đây:
a) Hiệu quả, an toàn trong hoạt động và trong bảo vệ, quản lý, sử dụng tài sản, các nguồn lực;
b) Trung thực, hợp lý, đầy đủ, kịp thời trong hệ thống thông tin tài chính và thông tin quản lý;
c) Tuân thủ pháp luật, các quy chế, quy trình, quy định nội bộ.
2. Doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam phải thiết lập các tiêu chuẩn, quy trình, thủ tục kiểm soát nội bộ; bảo đảm người quản lý, người kiểm soát, người lao động hiểu rõ và nghiêm túc thực hiện.
3. Hoạt động kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam phải được kiểm toán nội bộ đánh giá định kỳ hằng năm.
4. Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định chi tiết Điều này.
Điều 85. Kiểm toán nội bộ
1. Doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm phải thành lập bộ phận kiểm toán nội bộ. Chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam có thể thành lập bộ phận kiểm toán nội bộ hoặc sử dụng bộ phận kiểm toán nội bộ của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, doanh nghiệp tái bảo hiểm nước ngoài.
2. Định kỳ hằng năm, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam phải thực hiện kiểm toán nội bộ theo các nội dung sau đây:
a) Rà soát, đánh giá độc lập, khách quan đối với hoạt động kiểm soát nội bộ, quản trị rủi ro;
b) Đánh giá độc lập về tính thích hợp và sự tuân thủ quy định, chính sách nội bộ, thủ tục, quy trình đã được thiết lập trong doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam;
c) Đưa ra kiến nghị sửa chữa, khắc phục sai sót, đề xuất biện pháp nhằm hoàn thiện, nâng cao hiệu quả của các hệ thống, quy trình, quy định, góp phần bảo đảm doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam hoạt động an toàn, hiệu quả, đúng pháp luật.
3. Kết quả kiểm toán nội bộ của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm phải được báo cáo kịp thời cho Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên và gửi Giám đốc hoặc Tổng giám đốc của doanh nghiệp.
Kết quả kiểm toán nội bộ của chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam phải được báo cáo kịp thời cho doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, doanh nghiệp tái bảo hiểm nước ngoài và gửi Giám đốc của chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam.
4. Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định chi tiết Điều này.
Điều 86. Quản trị rủi ro
1. Doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam có trách nhiệm thiết lập hệ thống quản trị rủi ro nhằm xác định, đo lường, đánh giá, báo cáo và kiểm soát một cách hiệu quả các rủi ro phát sinh từ hoạt động kinh doanh.
2. Quản trị rủi ro của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam phải đáp ứng các yêu cầu sau đây:
a) Có khả năng xác định và lượng hóa rủi ro phù hợp với tính chất, phạm vi và mức độ phức tạp của các rủi ro phát sinh từ hoạt động kinh doanh, các tác động đến vốn, an toàn hoạt động và an toàn tài chính;
b) Quy định rõ ràng vai trò, trách nhiệm của từng bộ phận, cá nhân trong hoạt động quản trị rủi ro và cơ cấu quản trị rủi ro;
c) Có chính sách quản trị rủi ro rõ ràng, minh bạch, trong đó xác định rõ các loại rủi ro trọng yếu và các rủi ro có liên quan phát sinh từ hoạt động kinh doanh, khẩu vị rủi ro và cách thức quản lý đối với từng loại rủi ro. Chính sách quản trị rủi ro phải được Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm hoặc được doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, doanh nghiệp tái bảo hiểm nước ngoài của chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam thông qua;
d) Thiết lập đầy đủ các giới hạn chấp nhận rủi ro đối với từng loại rủi ro trọng yếu và các rủi ro có liên quan, mối tương quan giữa các rủi ro đó. Các giới hạn chấp nhận rủi ro phải phù hợp với chính sách quản trị rủi ro, chiến lược kinh doanh, nguồn nhân lực, điều kiện công nghệ thông tin;
đ) Thiết lập đầy đủ các quy trình quản trị rủi ro, trong đó có quy trình giám sát, tiếp nhận và phản hồi kịp thời bất kỳ thay đổi rủi ro nào.
3. Định kỳ hằng năm, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam có trách nhiệm lập báo cáo đánh giá khả năng thanh toán và quản trị rủi ro, trong đó đánh giá mức độ đầy đủ của quản trị rủi ro, khả năng thanh toán hiện tại và dự kiến trong tương lai với khung thời gian thống nhất với kế hoạch kinh doanh; xác định tổng thể các nguồn lực tài chính cần có để quản lý hoạt động kinh doanh trong khả năng chấp nhận rủi ro và các kế hoạch kinh doanh; kiểm tra sức chịu đựng và phân tích khả năng tiếp tục hoạt động.
4. Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định chi tiết Điều này.
Mục 4. HOẠT ĐỘNG NGHIỆP VỤ
Điều 87. Xây dựng, thiết kế, phát triển và cung cấp sản phẩm bảo hiểm
1. Doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài được chủ động, tự chịu trách nhiệm trong xây dựng, thiết kế và phát triển sản phẩm bảo hiểm.
2. Quy tắc, điều khoản, biểu phí do doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài xây dựng phải bảo đảm các yêu cầu sau đây:
a) Tuân thủ pháp luật, phù hợp với thông lệ, chuẩn mực đạo đức, văn hóa và phong tục, tập quán của Việt Nam;
b) Ngôn ngữ sử dụng trong quy tắc, điều khoản bảo hiểm phải chính xác, cách diễn đạt đơn giản, dễ hiểu, các thuật ngữ chuyên môn cần được định nghĩa rõ trong quy tắc, điều khoản bảo hiểm;
c) Thể hiện rõ ràng, minh bạch quyền lợi được bảo hiểm, đối tượng bảo hiểm, phạm vi và các rủi ro được bảo hiểm, quyền lợi và nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm và người được bảo hiểm, trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm, phương thức trả tiền bảo hiểm, các quy định giải quyết tranh chấp;
d) Phí bảo hiểm phải được xây dựng dựa trên số liệu thống kê, tương ứng với điều kiện, trách nhiệm bảo hiểm và bảo đảm khả năng thanh toán của doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài.
3. Doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài phải đăng ký và được Bộ Tài chính chấp thuận phương pháp, cơ sở tính phí bảo hiểm của các sản phẩm bảo hiểm thuộc nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe, bảo hiểm xe cơ giới, trừ bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới.
4. Doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài được chủ động cung cấp sản phẩm bảo hiểm dưới các hình thức sau đây:
a) Trực tiếp;
b) Thông qua đại lý bảo hiểm hoặc môi giới bảo hiểm;
c) Thông qua đấu thầu;
d) Thông qua giao dịch điện tử;
đ) Các hình thức khác phù hợp với quy định của pháp luật.
5. Chính phủ quy định chi tiết về hồ sơ, trình tự, thủ tục đăng ký phương pháp, cơ sở tính phí bảo hiểm quy định tại khoản 3 Điều này.
6. Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định chi tiết phương pháp, cơ sở tính phí bảo hiểm quy định tại khoản 3 Điều này và việc cung cấp sản phẩm bảo hiểm quy định tại khoản 4 Điều này.
Điều 88. Sản phẩm bảo hiểm có sự hỗ trợ của Nhà nước
1. Việc triển khai và tham gia các sản phẩm bảo hiểm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và các sản phẩm bảo hiểm vì mục tiêu an sinh, xã hội được Nhà nước khuyến khích, hỗ trợ, tạo điều kiện thông qua một hoặc một số biện pháp sau đây:
a) Đơn giản hoá thủ tục hành chính;
b) Tuyên truyền các chính sách bảo hiểm;
c) Thiết lập các quỹ rủi ro bảo hiểm;
d) Xây dựng cơ sở dữ liệu, hỗ trợ ứng dụng công nghệ trong thiết kế, xây dựng sản phẩm bảo hiểm, giám định tổn thất, bồi thường bảo hiểm;
đ) Thiết lập các kênh phân phối theo chuỗi giá trị sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp;
e) Hỗ trợ một phần phí bảo hiểm, kinh phí hỗ trợ được bảo đảm từ nguồn ngân sách trung ương, ngân sách địa phương và được bố trí trong dự toán ngân sách nhà nước hằng năm hoặc các nguồn tài chính hợp pháp khác theo quy định của pháp luật;
g) Xây dựng cơ chế liên kết hợp tác, chia sẻ thông tin quản lý, giám sát giữa các Bộ, ngành có liên quan để triển khai liên kết, hợp tác về hoạt động kinh doanh bảo hiểm.
2. Chính phủ quy định chi tiết các biện pháp quy định tại khoản 1 Điều này phù hợp với định hướng phát triển và điều kiện kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ.
Điều 89. Tái bảo hiểm, nhượng tái bảo hiểm, đồng bảo hiểm, Quỹ bảo hiểm xe cơ giới, quỹ rủi ro bảo hiểm
1. Doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam có thể chia sẻ rủi ro với các doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam, doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài, doanh nghiệp tái bảo hiểm nước ngoài, tổ chức bảo hiểm nước ngoài dưới hình thức tái bảo hiểm, nhượng tái bảo hiểm.
Doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài, doanh nghiệp tái bảo hiểm nước ngoài, tổ chức bảo hiểm nước ngoài nhận tái bảo hiểm phải đạt kết quả xếp hạng của các tổ chức đánh giá tín nhiệm quốc tế và các điều kiện khác theo quy định của Chính phủ.
2. Doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài có thể đồng bảo hiểm trên cơ sở cùng thống nhất giao kết với bên mua bảo hiểm trên một hợp đồng bảo hiểm, trong đó các doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài nhận phí bảo hiểm và bồi thường, trả tiền bảo hiểm theo tỷ lệ đã thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm.
Doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài tham gia đồng bảo hiểm phải là doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài đã được cấp giấy phép thành lập và hoạt động theo quy định của Luật này.
3. Quỹ bảo hiểm xe cơ giới được hình thành từ nguồn đóng góp của các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài triển khai bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới và các nguồn hợp pháp khác để thực hiện chi hỗ trợ nhân đạo và các hoạt động khác nhằm tăng cường thực hiện bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới. Quỹ bảo hiểm xe cơ giới được quản lý tập trung; cơ chế quản lý, sử dụng Quỹ bảo hiểm xe cơ giới thực hiện theo quy định của Chính phủ.
4. Doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam có thể thỏa thuận thành lập quỹ rủi ro bảo hiểm để phân tán, chia sẻ bảo hiểm cho những rủi ro lớn, rủi ro mang tính thảm họa hoặc rủi ro mới phát sinh chưa được hoặc ít được bảo hiểm trên thị trường. Các thỏa thuận thành lập quỹ rủi ro bảo hiểm có sự tham gia, hỗ trợ của Nhà nước thực hiện theo quy định của Chính phủ; trường hợp có sự hỗ trợ của ngân sách nhà nước thì phải thực hiện theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước.
5. Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định chi tiết về tái bảo hiểm, nhượng tái bảo hiểm, đồng bảo hiểm.
Điều 90. Hoạt động thuê ngoài
1. Hoạt động thuê ngoài là việc doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam thỏa thuận giao kết hợp đồng thuê ngoài với tổ chức, cá nhân khác để thực hiện một phần quy trình, hoạt động, trừ các hoạt động sau đây:
a) Kiểm soát nội bộ;
b) Kiểm toán nội bộ;
c) Quản trị rủi ro;
d) Tư vấn, giới thiệu, chào bán sản phẩm bảo hiểm, thu xếp việc giao kết hợp đồng bảo hiểm.
2. Trường hợp thực hiện thuê ngoài đối với một phần quy trình, hoạt động liên quan trực tiếp đến hoạt động kinh doanh bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam vẫn phải chịu trách nhiệm cuối cùng và duy nhất đối với bên mua bảo hiểm và có các nghĩa vụ sau đây:
a) Xây dựng quy chế quản lý hoạt động thuê ngoài, trong đó có các quy định về phạm vi các hoạt động có thể thuê ngoài, khung đánh giá rủi ro liên quan, tiêu chí phê duyệt các hợp đồng thuê ngoài và điều kiện đối với bên cung cấp dịch vụ thuê ngoài bảo đảm tuân thủ quy định của pháp luật. Quy chế quản lý hoạt động thuê ngoài phải được Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm hoặc cấp có thẩm quyền của của chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam phê duyệt;
b) Thiết lập quy trình thuê ngoài, quy trình quản trị rủi ro, kiểm soát nội bộ đối với hoạt động thuê ngoài và thực hiện các biện pháp nhằm bảo đảm phòng ngừa, giảm thiểu và xử lý kịp thời rủi ro phát sinh từ việc thuê ngoài, đặc biệt là rủi ro liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm;
c) Tạm dừng thực hiện, điều chỉnh hoặc chấm dứt hoạt động thuê ngoài trong trường hợp phát hiện hoạt động thuê ngoài có ảnh hưởng bất lợi đến quyền và lợi ích hợp pháp của bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm;
d) Có phương án dự phòng bảo đảm hoạt động kinh doanh không bị gián đoạn trong trường hợp bên cung cấp dịch vụ thuê ngoài không thể thực hiện hoặc không thực hiện đúng trách nhiệm đối với hoạt động thuê ngoài theo quy định tại hợp đồng thuê ngoài;
đ) Thường xuyên kiểm tra, giám sát bên cung cấp dịch vụ thuê ngoài trong quá trình thực hiện thỏa thuận thuê ngoài nhằm bảo đảm chất lượng, tiến độ thực hiện theo quy định tại hợp đồng thuê ngoài. Bên cung cấp dịch vụ thuê ngoài phải bảo đảm tự thực hiện tối thiểu 75% giá trị công việc nhận thuê ngoài; trường hợp thuê nhà thầu phụ thực hiện một phần công việc thì phải được sự đồng ý trước bằng văn bản của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam và phải bảo đảm không làm thay đổi các trách nhiệm, nghĩa vụ của bên cung cấp dịch vụ thuê ngoài;
e) Bảo mật dữ liệu và thông tin của khách hàng theo quy định của pháp luật;
g) Theo dõi, hạch toán tách biệt đối với hoạt động thuê ngoài.
3. Hợp đồng thuê ngoài phải được lập thành văn bản và bao gồm các nội dung chủ yếu sau đây:
a) Phạm vi, nội dung của hoạt động thuê ngoài;
b) Thời gian, địa điểm thực hiện hoạt động thuê ngoài;
c) Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam và bên cung cấp dịch vụ thuê ngoài;
d) Tiêu chuẩn, yêu cầu về chất lượng kết quả thực hiện hoạt động thuê ngoài;
đ) Cơ chế, trách nhiệm cung cấp thông tin, báo cáo của bên cung cấp dịch vụ thuê ngoài đối với doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam trong quá trình thực hiện hoạt động thuê ngoài;
e) Phương án dự phòng, khắc phục thiệt hại, bồi thường của bên cung cấp dịch vụ thuê ngoài trong trường hợp bên cung cấp dịch vụ thuê ngoài không thể thực hiện hoặc thực hiện không đúng thỏa thuận trong hợp đồng thuê ngoài;
g) Cơ chế giám sát, kiểm soát và kiểm toán việc thực hiện hoạt động thuê ngoài của bên cung cấp dịch vụ thuê ngoài; yêu cầu bên cung cấp dịch vụ thuê ngoài theo dõi, hạch toán tách biệt giữa hoạt động nhận thuê ngoài từ lĩnh vực bảo hiểm với các hoạt động khác, giữa các hoạt động nhận thuê ngoài từ các doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam khác nhau;
h) Quy định về việc hạn chế ký hợp đồng thầu phụ;
i) Cơ chế bảo mật dữ liệu và thông tin khách hàng;
k) Phương thức giải quyết tranh chấp.
Mục 5. CHUYỂN GIAO DANH MỤC HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM
Điều 91. Các trường hợp chuyển giao danh mục hợp đồng bảo hiểm
Việc chuyển giao toàn bộ danh mục hợp đồng bảo hiểm của một hoặc một số nghiệp vụ bảo hiểm, tài sản và trách nhiệm tương ứng giữa các doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài được thực hiện trong trường hợp sau đây:
1. Theo yêu cầu của Bộ Tài chính quy định tại điểm c và điểm d khoản 8 Điều 113 của Luật này;
2. Thu hẹp nội dung, phạm vi hoạt động;
3. Chia, tách, sáp nhập, hợp nhất, giải thể, chấm dứt hoạt động;
4. Các trường hợp quy định tại các điểm a, d và e khoản 1 Điều 75 của Luật này.
Điều 92. Điều kiện chuyển giao danh mục hợp đồng bảo hiểm
1. Doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài được nhận chuyển giao danh mục hợp đồng bảo hiểm khi đáp ứng các điều kiện sau đây:
a) Đang kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm nhận chuyển giao;
b) Bảo đảm tỷ lệ an toàn vốn, khả năng thanh toán theo quy định của Luật này;
c) Bảo đảm điều kiện triển khai nghiệp vụ bảo hiểm sau khi nhận chuyển giao.
2. Việc chuyển giao danh mục hợp đồng bảo hiểm phải kèm theo việc chuyển giao các tài sản tương ứng với dự phòng nghiệp vụ của toàn bộ danh mục hợp đồng bảo hiểm được chuyển giao.
3. Các quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng bảo hiểm được chuyển giao không thay đổi cho đến khi hết thời hạn hợp đồng bảo hiểm. Trường hợp chuyển giao danh mục hợp đồng bảo hiểm quy định tại khoản 1 Điều 91 của Luật này, nếu giá trị tài sản thấp hơn so với dự phòng nghiệp vụ của danh mục hợp đồng bảo hiểm được chuyển giao, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài nhận chuyển giao phải thỏa thuận với bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm về việc giảm số tiền bảo hiểm hoặc quyền lợi bảo hiểm và các nghĩa vụ khác theo hợp đồng bảo hiểm.
4. Trường hợp không đồng ý với việc chuyển giao, bên mua bảo hiểm có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bảo hiểm.
Điều 93. Thủ tục chuyển giao danh mục hợp đồng bảo hiểm
1. Doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài chuyển giao danh mục hợp đồng bảo hiểm phải có văn bản đề nghị chuyển giao danh mục hợp đồng bảo hiểm gửi đến Bộ Tài chính, trong đó nêu rõ lý do chuyển giao, kèm theo kế hoạch và hợp đồng chuyển giao. Việc chuyển giao danh mục hợp đồng bảo hiểm chỉ được tiến hành sau khi được Bộ Tài chính chấp thuận bằng văn bản.
2. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày Bộ Tài chính chấp thuận việc chuyển giao danh mục hợp đồng bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài chuyển giao danh mục hợp đồng bảo hiểm phải công bố trên trang thông tin điện tử của doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài đó về việc chuyển giao và thông báo cho bên mua bảo hiểm bằng văn bản.
3. Chính phủ quy định chi tiết hồ sơ, trình tự, thủ tục chuyển giao danh mục hợp đồng bảo hiểm.
Mục 6. TÀI CHÍNH, HẠCH TOÁN KẾ TOÁN VÀ BÁO CÁO TÀI CHÍNH
Điều 94. Vốn
1. Vốn điều lệ là tổng số tiền do thành viên đã góp hoặc cam kết góp khi thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn, là tổng giá trị mệnh giá cổ phần đã bán hoặc được đăng ký mua khi thành lập công ty cổ phần và được ghi vào điều lệ của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm.
2. Vốn được cấp của chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam là số vốn do doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, doanh nghiệp tái bảo hiểm nước ngoài cấp cho chi nhánh tại Việt Nam.
3. Vốn chủ sở hữu bao gồm vốn điều lệ đã góp, vốn được cấp của chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam, các quỹ dự trữ, lợi nhuận sau thuế chưa phân phối, các quỹ thuộc chủ sở hữu được trích lập từ lợi nhuận sau thuế theo quy định.
4. Vốn thực có bao gồm vốn chủ sở hữu và các nguồn khác được phép ghi nhận hoặc giảm trừ theo quy định của Bộ Tài chính.
5. Vốn trên cơ sở rủi ro được xác định dựa trên quy mô và lượng hóa tác động của các nhóm rủi ro đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam, bao gồm:
a) Rủi ro bảo hiểm bao gồm các rủi ro phát sinh do biến động các yếu tố kỹ thuật tương ứng với loại hình bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm phi nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe;
b) Rủi ro thị trường bao gồm các rủi ro phát sinh từ thị trường đối với hoạt động đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam;
c) Rủi ro hoạt động bao gồm các rủi ro phát sinh từ quy trình hoạt động, hệ thống, quản lý của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam;
d) Rủi ro khác bao gồm các rủi ro phát sinh từ các đối tác khác hoặc các yếu tố khác chưa được tính toán trong rủi ro bảo hiểm, rủi ro thị trường, rủi ro hoạt động.
6. Chính phủ quy định chi tiết mức vốn điều lệ tối thiểu, vốn được cấp tối thiểu đối với từng loại hình doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam.
Điều 95. Tỷ lệ an toàn vốn
1. Tỷ lệ an toàn vốn là tỷ lệ giữa vốn thực có và vốn trên cơ sở rủi ro.
2. Doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam phải luôn duy trì tỷ lệ an toàn vốn không thấp hơn quy định.
3. Khi xác định tỷ lệ an toàn vốn, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam không được tính vào vốn thực có số tiền đầu tư dưới hình thức góp vốn, mua cổ phần vào doanh nghiệp bảo hiểm khác, doanh nghiệp tái bảo hiểm khác, công ty con của doanh nghiệp bảo hiểm, công ty con của doanh nghiệp tái bảo hiểm.
4. Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định chi tiết về tỷ lệ an toàn vốn, vốn trên cơ sở rủi ro, vốn thực có.
Điều 96. Ký quỹ
1. Doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam phải sử dụng một phần vốn điều lệ, vốn được cấp để ký quỹ tại một ngân hàng thương mại hoạt động tại Việt Nam.
2. Mức tiền ký quỹ bằng 02% vốn điều lệ tối thiểu, vốn được cấp tối thiểu tại thời điểm thành lập doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam.
3. Doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam chỉ được sử dụng tiền ký quỹ để đáp ứng các cam kết đối với bên mua bảo hiểm khi khả năng thanh toán bị thiếu hụt và phải được Bộ Tài chính chấp thuận bằng văn bản. Trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày sử dụng tiền ký quỹ, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam có trách nhiệm bổ sung tiền ký quỹ đã sử dụng.
4. Doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam chỉ được rút toàn bộ tiền ký quỹ khi chấm dứt hoạt động.
Điều 97. Dự phòng nghiệp vụ
1. Dự phòng nghiệp vụ là khoản tiền mà doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam phải trích lập nhằm mục đích thanh toán cho những trách nhiệm bảo hiểm có thể phát sinh từ các hợp đồng bảo hiểm đã giao kết.
2. Việc trích lập dự phòng nghiệp vụ phải bảo đảm các yêu cầu sau đây:
a) Trích lập riêng cho từng nghiệp vụ bảo hiểm;
b) Tương ứng với phần trách nhiệm đã cam kết theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm;
c) Tách biệt giữa các hợp đồng bảo hiểm của đối tượng bảo hiểm trong và ngoài phạm vi lãnh thổ Việt Nam, kể cả trong cùng một nghiệp vụ bảo hiểm, sản phẩm bảo hiểm, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;
d) Luôn có tài sản tương ứng với dự phòng nghiệp vụ đã trích lập, đồng thời tách biệt tài sản tương ứng với dự phòng quy định tại điểm c khoản này;
đ) Sử dụng Chuyên gia tính toán để tính toán, trích lập dự phòng nghiệp vụ;
e) Thường xuyên rà soát, đánh giá việc trích lập dự phòng nghiệp vụ; kịp thời có các biện pháp nhằm bảo đảm trích lập đầy đủ dự phòng để chi trả cho các trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam.
3. Doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam phải đăng ký và được Bộ Tài chính chấp thuận phương pháp trích lập dự phòng nghiệp vụ.
4. Chính phủ quy định chi tiết về việc trích lập dự phòng nghiệp vụ và hồ sơ, trình tự, thủ tục đăng ký phương pháp trích lập dự phòng nghiệp vụ.
Điều 98. Quỹ dự trữ
1. Doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam phải trích lập quỹ dự trữ bắt buộc để bổ sung vốn chủ sở hữu và bảo đảm khả năng thanh toán.
2. Quỹ dự trữ bắt buộc được trích hằng năm theo tỷ lệ 05% lợi nhuận sau thuế cho đến khi bằng mức tối đa theo quy định của Chính phủ.
3. Ngoài quỹ dự trữ bắt buộc, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam có thể lập các quỹ dự trữ khác từ lợi nhuận sau thuế của năm tài chính theo quy định tại điều lệ của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, quy chế tổ chức và hoạt động của chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam.
Điều 99. Quy định chung về đầu tư
1. Các nguồn đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam bao gồm:
a) Vốn chủ sở hữu;
b) Phần vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ theo quy định của Chính phủ;
c) Các nguồn hợp pháp khác theo quy định của pháp luật.
2. Việc đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam phải tuân thủ các nguyên tắc sau đây:
a) Bảo đảm an toàn, thanh khoản, hiệu quả; tuân thủ quy định pháp luật, tự chịu trách nhiệm về hoạt động đầu tư;
b) Dự phòng nghiệp vụ chỉ được đầu tư tại Việt Nam, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 100 của Luật này;
c) Không được vay để đầu tư, ủy thác đầu tư vào chứng khoán, kinh doanh bất động sản hoặc góp vốn vào doanh nghiệp khác;
d) Không được đầu tư quá 30% nguồn vốn đầu tư vào các công ty trong cùng một nhóm công ty có quan hệ sở hữu lẫn nhau. Quy định này không áp dụng với việc gửi tiền vào các tổ chức tín dụng và nguồn vốn đầu tư ra nước ngoài dưới hình thức thành lập doanh nghiệp hoặc thành lập chi nhánh tại nước ngoài;
đ) Không được đầu tư trở lại dưới mọi hình thức cho các cổ đông, thành viên góp vốn hoặc người có liên quan với cổ đông, thành viên góp vốn theo quy định của Luật Doanh nghiệp, trừ tiền gửi tại các cổ đông, thành viên là tổ chức tín dụng;
e) Không được mua trái phiếu doanh nghiệp phát hành trong đó có mục đích để cơ cấu lại các khoản nợ của chính doanh nghiệp phát hành;
g) Trường hợp ủy thác đầu tư, tổ chức nhận ủy thác phải được cấp phép thực hiện hoạt động nhận ủy thác đầu tư phù hợp với nội dung nhận ủy thác đầu tư.
3. Doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam không được phép thực hiện các hoạt động đầu tư sau đây:
a) Kinh doanh bất động sản, trừ các trường hợp: mua cổ phiếu của doanh nghiệp kinh doanh bất động sản niêm yết trên thị trường chứng khoán, chứng chỉ quỹ của quỹ đại chúng; mua, đầu tư, sở hữu bất động sản để sử dụng làm trụ sở kinh doanh, địa điểm làm việc hoặc cơ sở kho tàng phục vụ trực tiếp cho các hoạt động nghiệp vụ; cho thuê trụ sở kinh doanh chưa sử dụng hết thuộc quyền sở hữu hoặc sử dụng; nắm giữ bất động sản do xử lý trái phiếu có bảo đảm bằng bất động sản, do đối trừ công nợ phải thu bằng bất động sản trong thời hạn 03 năm kể từ ngày nắm giữ;
b) Đầu tư kim khí quý, đá quý;
c) Đầu tư tài sản cố định vô hình, trừ trường hợp phục vụ cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm của doanh nghiệp, chi nhánh;
d) Đầu tư chứng khoán phái sinh hoặc hợp đồng phái sinh, trừ trường hợp chứng khoán phái sinh niêm yết nhằm mục đích phòng ngừa rủi ro phát sinh từ hợp đồng bảo hiểm, tái bảo hiểm và từ danh mục đầu tư chứng khoán doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam đang nắm giữ.
4. Doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam thực hiện xác định giá trị tài sản đầu tư theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính.
5. Chính phủ quy định chi tiết về hạn mức đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam.
Điều 100. Đầu tư ra nước ngoài
1. Doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm chỉ được đầu tư ra nước ngoài dưới các hình thức sau đây:
a) Thành lập hoặc góp vốn thành lập, góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm ở nước ngoài; thành lập chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp tái bảo hiểm ở nước ngoài; mở văn phòng đại diện và hình thức hiện diện thương mại khác tại nước ngoài;
b) Mua, bán chứng khoán, các giấy tờ có giá khác hoặc đầu tư thông qua các quỹ đầu tư chứng khoán, các định chế tài chính trung gian khác ở nước ngoài theo quy định của Chính phủ.
2. Doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm được đầu tư ra nước ngoài từ các nguồn sau đây:
a) Phần vốn chủ sở hữu còn lại sau khi trừ đi phần vốn đáp ứng yêu cầu tỷ lệ an toàn vốn và khả năng thanh toán theo quy định của Luật này;
b) Phần vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ của các hợp đồng bảo hiểm có quyền lợi liên kết với các chỉ số đầu tư của nước ngoài và phần vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ của các hợp đồng bảo hiểm được giao kết với các tổ chức, cá nhân tại nước ngoài.
3. Việc đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm phải bảo đảm tuân thủ các quy định chung về đầu tư quy định tại Điều 99 của Luật này và các quy định sau đây:
a) Bảo đảm tỷ lệ an toàn vốn và khả năng thanh toán của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm;
b) Tuân thủ quy định pháp luật về kinh doanh bảo hiểm, pháp luật về đầu tư, pháp luật về quản lý ngoại hối;
c) Thực hiện dưới tên của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm đó;
d) Thực hiện quản lý và theo dõi tách biệt nguồn vốn đầu tư, tài sản đầu tư, doanh thu, chi phí của hoạt động đầu tư ra nước ngoài;
đ) Không được sử dụng tiền, tài sản của bên mua bảo hiểm trong nước để bù đắp lỗ, thiếu hụt tiền của hoạt động đầu tư ra nước ngoài, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;
e) Được Bộ Tài chính chấp thuận bằng văn bản trước khi thực hiện đầu tư ra nước ngoài.
4. Chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam không được đầu tư ra nước ngoài.
5. Chính phủ quy định chi tiết về điều kiện, hạn mức, hồ sơ, trình tự, thủ tục chấp thuận việc đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm.
Điều 101. Tách nguồn vốn chủ sở hữu và nguồn phí bảo hiểm, phân chia thặng dư
1. Doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam phải đăng ký nguyên tắc với Bộ Tài chính và thực hiện việc tách, ghi nhận và theo dõi riêng đối với:
a) Nguồn vốn chủ sở hữu, nguồn phí bảo hiểm và tài sản tương ứng của từng nguồn vốn;
b) Doanh thu, chi phí, kết quả từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm, hoạt động đầu tư của nguồn vốn chủ sở hữu và nguồn phí bảo hiểm;
c) Nguồn phí bảo hiểm từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm trong và ngoài phạm vi lãnh thổ Việt Nam; doanh thu, chi phí, dự phòng nghiệp vụ, các khoản chi phí tương ứng từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm trong và ngoài phạm vi lãnh thổ Việt Nam.
2. Doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ phải tách, ghi nhận và theo dõi riêng tài sản, nguồn vốn, doanh thu, chi phí, kết quả hoạt động của các hợp đồng bảo hiểm nhân thọ có chia lãi theo phương pháp được Bộ Tài chính chấp thuận.
3. Chính phủ quy định chi tiết về hồ sơ, trình tự, thủ tục đăng ký, chấp thuận quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.
4. Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định chi tiết việc tách nguồn vốn chủ sở hữu và nguồn phí bảo hiểm, nguyên tắc phân chia thặng dư đối với các hợp đồng bảo hiểm nhân thọ có chia lãi.
Điều 102. Chế độ tài chính
1. Chế độ tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam được thực hiện theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.
2. Chính phủ quy định chi tiết về chế độ tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam.
Điều 103. Năm tài chính
1. Năm tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam bắt đầu từ ngày 01 tháng 01 và kết thúc vào ngày 31 tháng 12 cùng năm dương lịch.
2. Năm tài chính đầu tiên của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam bắt đầu từ ngày được cấp giấy phép thành lập và hoạt động và kết thúc vào ngày cuối cùng của năm đó.
Điều 104. Chế độ kế toán
Chế độ kế toán áp dụng đối với doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam phải thực hiện theo quy định của pháp luật về kế toán.
Điều 105. Kiểm toán độc lập
1. Doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam phải thực hiện kiểm toán độc lập hằng năm đối với báo cáo tài chính năm.
2. Doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam phải có ý kiến xác nhận của tổ chức kiểm toán độc lập đối với báo cáo đánh giá khả năng thanh toán và quản trị rủi ro; báo cáo tách nguồn vốn chủ sở hữu, nguồn phí bảo hiểm; báo cáo hoạt động của quỹ liên kết chung, quỹ liên kết đơn vị, quỹ hưu trí.
3. Tổ chức kiểm toán độc lập khi thực hiện kiểm toán, xác nhận đối với báo cáo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này có trách nhiệm sau đây:
a) Tuân thủ quy định của pháp luật về kiểm toán độc lập;
b) Sử dụng Chuyên gia tính toán khi kiểm toán tỷ lệ an toàn vốn, dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm; chuyên gia về quản trị rủi ro khi kiểm toán quản trị rủi ro và các chuyên gia khác tương ứng với nội dung kiểm toán độc lập;
c) Giải trình, cung cấp thông tin, số liệu liên quan đến hoạt động kiểm toán doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam trong trường hợp có yêu cầu của Bộ Tài chính;
d) Thông báo bằng văn bản cho Bộ Tài chính khi phát hiện doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam có sai phạm trọng yếu trong các báo cáo được kiểm toán, xác nhận do không tuân thủ pháp luật, có gian lận bảo hiểm, có giao dịch bất thường có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến an toàn tài chính hoặc quyền lợi của người tham gia bảo hiểm;
đ) Bảo mật thông tin theo quy định của pháp luật.
4. Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định chi tiết khoản 2 Điều này.
Điều 106. Báo cáo và cung cấp thông tin
1. Doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam phải gửi Bộ Tài chính các báo cáo sau đây:
a) Báo cáo tài chính; trường hợp có ý kiến hoặc kết luận không phải là chấp nhận toàn phần của tổ chức kiểm toán độc lập đối với bất kỳ báo cáo, hoạt động nào được kiểm toán, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam phải báo cáo Bộ Tài chính nguyên nhân, thực trạng;
b) Báo cáo hoạt động nghiệp vụ;
c) Báo cáo tách nguồn vốn chủ sở hữu, nguồn phí bảo hiểm;
d) Báo cáo đánh giá khả năng thanh toán và quản trị rủi ro;
đ) Báo cáo thay đổi về vốn liên quan đến từng loại rủi ro.
2. Ngoài báo cáo quy định tại khoản 1 Điều này, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam phải báo cáo Bộ Tài chính trong trường hợp sau đây:
a) Khi xảy ra những diễn biến bất thường có ảnh hưởng đến khả năng thanh toán, uy tín của doanh nghiệp, chi nhánh trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm;
b) Khi không đáp ứng yêu cầu về tài chính và các yêu cầu khác theo quy định.
3. Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định chi tiết về báo cáo và cung cấp thông tin quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.
Điều 107. Chuyển lợi nhuận, tài sản ra nước ngoài
1. Doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam được chuyển lợi nhuận, tài sản ra nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam và quy định sau đây:
a) Chuyển số lợi nhuận còn lại thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài sau khi đã trích lập các quỹ, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ tài chính và bảo đảm tỷ lệ an toàn vốn, khả năng thanh toán theo quy định của Luật này;
b) Chuyển số tài sản còn lại thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài sau khi kết thúc hoạt động tại Việt Nam.
2. Việc chuyển tiền, tài sản khác ra nước ngoài được thực hiện theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Điều 108. Quản trị tài chính
1. Doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam tự chủ về tài chính, tự chịu trách nhiệm về việc quản lý, giám sát hiệu quả hoạt động; thực hiện các nghĩa vụ, cam kết với bên mua bảo hiểm, các tổ chức, cá nhân có liên quan và Nhà nước theo quy định của pháp luật.
2. Doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam phải xây dựng chiến lược, quy trình, quy chế, thủ tục, cơ cấu tổ chức để thực hiện việc quản lý, giám sát hoạt động tài chính, bảo đảm an toàn, hiệu quả, đúng pháp luật; chủ động phòng, ngừa và giảm thiểu rủi ro.
Mục 7. KHẢ NĂNG THANH TOÁN VÀ BIỆN PHÁP CAN THIỆP
Điều 109. An toàn tài chính
1. Doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam được coi là bảo đảm an toàn tài chính khi đáp ứng các quy định về vốn, khả năng thanh toán và đầu tư.
2. Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam phải chủ động rà soát các quy trình, quy chế, hệ thống quản trị rủi ro, kế hoạch kinh doanh, đánh giá hoạt động kinh doanh bảo hiểm, tái bảo hiểm, hoạt động tài chính, bảo đảm an toàn hiệu quả và tuân thủ pháp luật nhằm đáp ứng an toàn tài chính theo quy định của Luật này.
3. Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định các trường hợp áp dụng biện pháp cải thiện, biện pháp can thiệp sớm, biện pháp kiểm soát quy định tại các điều 111, 112 và 113 của Luật này để bảo đảm an toàn tài chính.
Điều 110. Khả năng thanh toán
1. Doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam phải duy trì khả năng thanh toán trong suốt quá trình hoạt động.
2. Doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam được coi là có đủ khả năng thanh toán khi đáp ứng đồng thời các điều kiện sau đây:
a) Trích lập dự phòng nghiệp vụ đầy đủ;
b) Bảo đảm tỷ lệ an toàn vốn.
Điều 111. Biện pháp cải thiện
1. Trường hợp phải áp dụng biện pháp cải thiện, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam chủ động lựa chọn, tổ chức triển khai thực hiện một hoặc một số biện pháp cải thiện quy định tại khoản 2 Điều này và thông báo bằng văn bản cho Bộ Tài chính về thực trạng, nguyên nhân, biện pháp cải thiện được áp dụng.
2. Biện pháp cải thiện bao gồm:
a) Tăng vốn điều lệ, vốn được cấp;
b) Tăng cường hiệu quả hoạt động kinh doanh bao gồm tập trung khai thác các sản phẩm bảo hiểm có hiệu quả; rà soát phí bảo hiểm tương ứng với điều kiện và trách nhiệm bảo hiểm; cơ cấu lại chương trình tái bảo hiểm; giảm chi phí hoạt động, chi phí quản lý, chi phí bán hàng; hạn chế chi trả thù lao, lương, thưởng đối với người quản lý;
c) Cơ cấu lại danh mục đầu tư bao gồm tăng cường nắm giữ các tài sản có tính thanh khoản cao; bán, chuyển nhượng tài sản không hiệu quả hoặc có mức độ rủi ro cao;
d) Tăng cường quản trị rủi ro; tổ chức lại bộ máy quản lý, nhân sự; hạn chế mua tài sản cố định; hạn chế trích lập và sử dụng các quỹ;
đ) Biện pháp khác phù hợp với quy định của pháp luật.
3. Trong quá trình thực hiện biện pháp cải thiện, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam không được thực hiện các hoạt động sau đây:
a) Chuyển lợi nhuận ra nước ngoài, phân phối lợi nhuận, chi trả cổ tức;
b) Tăng nhận tái bảo hiểm.
Điều 112. Biện pháp can thiệp sớm
1. Trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam có tỷ lệ an toàn vốn ở mức phải áp dụng biện pháp can thiệp sớm hoặc đã áp dụng biện pháp cải thiện quy định tại Điều 111 của Luật này trong thời gian 12 tháng liên tục mà vẫn không khắc phục được tỷ lệ an toàn vốn, Bộ Tài chính ban hành văn bản áp dụng biện pháp can thiệp sớm.
2. Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày Bộ Tài chính ban hành văn bản áp dụng biện pháp can thiệp sớm, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam có trách nhiệm xây dựng phương án khắc phục tỷ lệ an toàn vốn theo quy định tại khoản 4 Điều này và tổ chức triển khai thực hiện, đồng thời báo cáo Bộ Tài chính về thực trạng, nguyên nhân, phương án khắc phục tỷ lệ an toàn vốn. Bộ Tài chính ban hành văn bản yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam điều chỉnh phương án khắc phục nếu xét thấy cần thiết.
3. Thời hạn thực hiện phương án khắc phục tối đa là 12 tháng kể từ ngày Bộ Tài chính ban hành văn bản áp dụng biện pháp can thiệp sớm.
4. Phương án khắc phục bao gồm một hoặc một số biện pháp sau đây:
a) Biện pháp quy định tại khoản 2 Điều 111 của Luật này;
b) Bãi nhiệm, miễn nhiệm người quản lý;
c) Thu hẹp nội dung, phạm vi hoạt động không hiệu quả; tạm dừng khai thác mới sản phẩm bảo hiểm hoặc nghiệp vụ bảo hiểm không hiệu quả.
5. Trong quá trình thực hiện biện pháp can thiệp sớm, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam không được thực hiện các hoạt động sau đây:
a) Các hoạt động quy định tại khoản 3 Điều 111 của Luật này;
b) Mua cổ phiếu quỹ;
c) Mở rộng nội dung, phạm vi và thời hạn hoạt động.
6. Trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này mà doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam không xây dựng được phương án khắc phục tỷ lệ an toàn vốn hoặc hết thời hạn quy định tại khoản 3 Điều này mà không khắc phục được tỷ lệ an toàn vốn thì tùy theo tính chất, mức độ rủi ro, Bộ Tài chính yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam thực hiện một hoặc một số biện pháp quy định tại khoản 4 Điều này.
7. Bộ Tài chính công khai danh sách doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam phải áp dụng biện pháp can thiệp sớm trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Tài chính.
8. Bộ Tài chính xem xét, quyết định ban hành văn bản chấm dứt áp dụng biện pháp can thiệp sớm đối với doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Được tổ chức kiểm toán độc lập xác nhận khắc phục được tỷ lệ an toàn vốn;
b) Bị áp dụng biện pháp kiểm soát quy định tại Điều 113 của Luật này.
Điều 113. Biện pháp kiểm soát
1. Trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam có tỷ lệ an toàn vốn ở mức phải áp dụng biện pháp kiểm soát, Bộ Tài chính xem xét, quyết định ban hành văn bản áp dụng biện pháp kiểm soát và gửi văn bản áp dụng biện pháp kiểm soát đến doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam.
2. Bộ Tài chính thông báo về việc áp dụng biện pháp kiểm soát đến các chủ thể sau đây:
a) Chủ sở hữu, thành viên góp vốn, cổ đông góp vốn từ 10% vốn điều lệ trở lên của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm; doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, doanh nghiệp tái bảo hiểm nước ngoài có chi nhánh tại Việt Nam;
b) Cơ quan quản lý nhà nước về bảo hiểm nước ngoài có thẩm quyền quản lý công ty sở hữu 100% vốn điều lệ, vốn được cấp của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm nước ngoài, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam.
3. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày Bộ Tài chính ban hành văn bản áp dụng biện pháp kiểm soát, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam phải thuê tổ chức kiểm toán độc lập rà soát, đánh giá thực trạng tài chính, xác định giá trị thực của vốn điều lệ, vốn được cấp và khả năng thanh toán. Trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam không hoàn thành việc thuê tổ chức kiểm toán độc lập trong thời hạn quy định, Bộ Tài chính chỉ định tổ chức kiểm toán độc lập. Chi phí kiểm toán do doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam chi trả.
4. Trong thời hạn 120 ngày kể từ ngày Bộ Tài chính ban hành văn bản áp dụng biện pháp kiểm soát, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam có trách nhiệm xây dựng phương án khắc phục tỷ lệ an toàn vốn và tổ chức triển khai thực hiện, đồng thời báo cáo Bộ Tài chính về thực trạng, nguyên nhân, phương án khắc phục tỷ lệ an toàn vốn. Bộ Tài chính ban hành văn bản yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam điều chỉnh phương án khắc phục nếu xét thấy cần thiết.
5. Thời hạn thực hiện phương án khắc phục tối đa là 18 tháng kể từ ngày Bộ Tài chính ban hành văn bản áp dụng biện pháp kiểm soát.
6. Phương án khắc phục bao gồm một hoặc một số biện pháp sau đây:
a) Biện pháp quy định tại khoản 4 Điều 112 của Luật này;
b) Dừng hoạt động có thể dẫn đến không bảo đảm tỷ lệ an toàn vốn.
7. Trong quá trình thực hiện biện pháp kiểm soát, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam không được thực hiện các hoạt động sau đây:
a) Các hoạt động quy định tại khoản 5 Điều 112 của Luật này;
b) Tham gia góp vốn thành lập doanh nghiệp; mua bất động sản để sử dụng làm trụ sở kinh doanh, địa điểm làm việc hoặc cơ sở kho tàng phục vụ trực tiếp cho các hoạt động nghiệp vụ;
c) Đầu tư vào các tài sản có mức độ rủi ro cao hoặc thực hiện các hoạt động kinh doanh làm giảm tỷ lệ an toàn vốn.
8. Trong thời hạn quy định tại khoản 4 Điều này mà doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam không xây dựng được phương án khắc phục hoặc hết thời hạn quy định tại khoản 5 Điều này mà không khắc phục được tỷ lệ an toàn vốn thì tùy theo tính chất, mức độ, rủi ro, Bộ Tài chính thực hiện một hoặc một số biện pháp sau đây:
a) Đình chỉ một phần hoặc toàn bộ nội dung hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam;
b) Yêu cầu chia, tách, sáp nhập, hợp nhất doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm;
c) Yêu cầu chuyển giao danh mục hợp đồng bảo hiểm;
d) Chỉ định doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài khác góp vốn, mua cổ phần, nhận chuyển giao danh mục hợp đồng bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài bị kiểm soát.
9. Trong thời gian bị đình chỉ quy định tại điểm a khoản 8 Điều này, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam vẫn phải thực hiện trích lập đầy đủ dự phòng nghiệp vụ theo quy định của pháp luật; theo dõi chặt chẽ các hợp đồng bảo hiểm còn hiệu lực; bảo đảm chi trả bồi thường, trả tiền bảo hiểm kịp thời, đầy đủ theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm và quy định của pháp luật; thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ thuế; tiếp tục thanh toán các khoản nợ, hoàn thành việc thực hiện hợp đồng đã ký với bên mua bảo hiểm và người lao động theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
10. Bộ Tài chính công khai danh sách doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam phải áp dụng biện pháp kiểm soát trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Tài chính.
11. Bộ Tài chính xem xét, quyết định ban hành văn bản chấm dứt áp dụng biện pháp kiểm soát đối với doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam bị kiểm soát được tổ chức kiểm toán độc lập xác nhận khắc phục được tỷ lệ an toàn vốn;
b) Doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm được hợp nhất, sáp nhập hoặc giải thể;
c) Doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam không khắc phục được tình trạng bị áp dụng biện pháp kiểm soát.
Điều 114. Trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam trong trường hợp bị áp dụng biện pháp cải thiện, can thiệp sớm, kiểm soát
Ngoài các trách nhiệm quy định tại các điều 111, 112 và 113 của Luật này, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam bị áp dụng biện pháp cải thiện, can thiệp sớm, kiểm soát còn có trách nhiệm sau đây:
1. Thực hiện quản trị, kiểm soát, điều hành hoạt động kinh doanh và bảo đảm an toàn tài sản;
2. Chịu trách nhiệm về tính chính xác của các thông tin, tài liệu, hồ sơ, các vấn đề về tổ chức, hoạt động và các vấn đề liên quan;
3. Báo cáo Bộ Tài chính kết quả thực hiện và mức độ cải thiện theo định kỳ hằng tháng hoặc theo yêu cầu của Bộ Tài chính;
4. Trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật.
Điều 115. Giải thể doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chấm dứt hoạt động chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam
1. Doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm giải thể; chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam chấm dứt hoạt động trong trường hợp sau đây:
a) Tự nguyện đề nghị giải thể, chấm dứt hoạt động;
b) Khi hết thời hạn hoạt động quy định trong giấy phép thành lập và hoạt động;
c) Bị thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động quy định tại các điểm a, b, d và e khoản 1 Điều 75 của Luật này;
d) Chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam không khắc phục được tỷ lệ an toàn vốn sau thời gian áp dụng biện pháp kiểm soát;
đ) Trường hợp khác theo quy định của pháp luật.
2. Việc giải thể doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chấm dứt hoạt động chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam phải được Bộ Tài chính chấp thuận bằng văn bản.
3. Chính phủ quy định chi tiết điều kiện, hồ sơ, trình tự, thủ tục giải thể doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chấm dứt hoạt động chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam.
Điều 116. Phá sản doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm
1. Sau khi Bộ Tài chính ban hành văn bản chấm dứt áp dụng biện pháp kiểm soát quy định tại điểm c khoản 11 Điều 113 của Luật này, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu Tòa án mở thủ tục phá sản theo quy định của Luật Phá sản; trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm không nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thì Bộ Tài chính nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản.
2. Khi nhận được yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm quy định tại khoản 1 Điều này, Tòa án mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản, tuyên bố doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm phá sản và áp dụng ngay thủ tục thanh lý tài sản của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm mà không tổ chức hội nghị chủ nợ và thực hiện thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh.
3. Việc phân chia tài sản của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm trong trường hợp phá sản được thực hiện theo thứ tự ưu tiên sau đây:
a) Chi phí phá sản;
b) Khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đối với người lao động;
c) Khoản trả tiền bồi thường, trả tiền bảo hiểm đối với các yêu cầu đòi bồi thường, trả tiền bảo hiểm đã được doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm chấp thuận chi trả giá trị hoàn lại, giá trị tài khoản hợp đồng bảo hiểm hoặc hoàn phí bảo hiểm;
d) Nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước; khoản nợ không có bảo đảm phải trả cho chủ nợ trong danh sách chủ nợ; khoản nợ có bảo đảm chưa được thanh toán do giá trị tài sản bảo đảm không đủ thanh toán nợ;
đ) Chủ sở hữu, thành viên góp vốn, cổ đông của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm.
4. Trường hợp giá trị tài sản không đủ để thanh toán quy định tại khoản 3 Điều này thì các đối tượng thuộc cùng một thứ tự ưu tiên được thanh toán theo tỷ lệ phần trăm tương ứng với số nợ.
5. Nội dung về phá sản doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm không được quy định tại Điều này thì thực hiện theo quy định của Luật Phá sản.
Mục 8. CÔNG KHAI THÔNG TIN
Điều 117. Trách nhiệm công khai thông tin
1. Doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam phải công khai các thông tin quy định tại các điều 118, 119 và 120 của Luật này và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung thông tin công khai. Việc công khai thông tin phải chính xác, kịp thời, đầy đủ, dễ theo dõi và tuân thủ quy định của pháp luật.
Trường hợp có thay đổi nội dung thông tin đã công khai, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam phải cập nhật kịp thời, đầy đủ nội dung thay đổi và lý do thay đổi so với thông tin đã công khai trước đó.
2. Doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam phải đăng tải thông tin cần công khai trên trang thông tin điện tử của doanh nghiệp, chi nhánh đó. Việc đăng tải thông tin thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính. Thời hạn công khai thông tin thực hiện theo quy định sau đây:
a) Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày kết thúc thời hạn gửi báo cáo quy định tại Điều 118 của Luật này hoặc kể từ khi xảy ra một trong các sự kiện liên quan tới các thông tin cần công khai quy định tại Điều 119 của Luật này;
b) Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ khi xảy ra một trong các sự kiện liên quan tới các thông tin cần công khai quy định tại Điều 120 của Luật này.
3. Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày công khai thông tin, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam có trách nhiệm thông báo cho Bộ Tài chính về nội dung thông tin công khai.
4. Doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm là công ty đại chúng thực hiện công khai thông tin theo quy định của Luật này và quy định của Luật Chứng khoán.
Điều 118. Thông tin công khai định kỳ
1. Báo cáo tài chính năm đã được kiểm toán, báo cáo tài chính bán niên.
2. Báo cáo đánh giá khả năng thanh toán và quản trị rủi ro.
3. Vốn thực có và tỷ lệ an toàn vốn.
Điều 119. Thông tin công khai thường xuyên
1. Thông tin về hồ sơ doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam bao gồm:
a) Thông tin trong giấy phép thành lập và hoạt động;
b) Thông tin về Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, người đại diện theo pháp luật và Chuyên gia tính toán;
c) Địa chỉ trụ sở chính, chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh;
d) Đường dây nóng.
2. Thông tin về hoạt động nghiệp vụ bao gồm:
a) Quy tắc, điều khoản, biểu phí của từng sản phẩm bảo hiểm đang cung cấp, nội dung khách hàng cần lưu ý đối với từng sản phẩm bảo hiểm;
b) Quy trình, hồ sơ yêu cầu và thời hạn giải quyết bồi thường, trả tiền bảo hiểm;
c) Các mục tiêu, chính sách quản lý đầu tư;
d) Các mục tiêu, chính sách đánh giá tỷ lệ an toàn vốn.
Điều 120. Thông tin công khai bất thường
1. Thông tin công khai bất thường bao gồm:
a) Việc tạm ngừng kinh doanh hoặc bị đình chỉ nội dung hoạt động, thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động;
b) Việc chia, tách, sáp nhập, hợp nhất, giải thể, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp, đầu tư ra nước ngoài, thành lập, đóng cửa chi nhánh, văn phòng đại diện;
c) Chấm dứt hoạt động của chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam;
d) Việc thay đổi chính sách kế toán áp dụng; kết quả điều chỉnh hồi tố báo cáo tài chính; ý kiến không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần của tổ chức kiểm toán độc lập đối với báo cáo tài chính; việc lựa chọn hoặc thay đổi tổ chức kiểm toán độc lập;
đ) Việc chuyển nhượng cổ phần, phần vốn góp dẫn đến có cổ đông, thành viên góp vốn sở hữu từ 10% vốn điều lệ trở lên hoặc giảm xuống dưới 10% vốn điều lệ;
e) Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hoạt động kinh doanh bảo hiểm;
g) Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam;
h) Quyết định của Tòa án về mở thủ tục phá sản doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm;
i) Quyết định khởi tố đối với doanh nghiệp, người quản lý, người kiểm soát liên quan đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam;
k) Sự kiện ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người tham gia bảo hiểm;
l) Thông tin liên quan đến doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam gây ảnh hưởng trọng yếu đến vốn, khả năng thanh toán, quản trị rủi ro và quản trị doanh nghiệp;
m) Tổn thất tài sản có giá trị từ 10% vốn chủ sở hữu trở lên;
n) Chuyển giao danh mục hợp đồng bảo hiểm;
o) Thông tin khác theo quy định của pháp luật.
2. Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định chi tiết nội dung thông tin công khai bất thường tại điểm k và điểm l khoản 1 Điều này.
Mục 9. ĐỀ PHÒNG, HẠN CHẾ TỔN THẤT, PHÒNG, CHỐNG GIAN LẬN BẢO HIỂM
Điều 121. Trách nhiệm trong việc đề phòng, hạn chế tổn thất và phòng, chống gian lận bảo hiểm
Doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm và các bên có liên quan có trách nhiệm trong việc đề phòng, hạn chế tổn thất và phòng, chống gian lận bảo hiểm.
Điều 122. Đề phòng, hạn chế tổn thất
1. Đề phòng, hạn chế tổn thất trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm là việc thực hiện các biện pháp để phòng ngừa, giảm thiểu những tổn thất có thể xảy ra đối với đối tượng bảo hiểm.
2. Bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm có trách nhiệm chủ động thực hiện các biện pháp đề phòng, hạn chế tổn thất; thông báo ngay cho doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài về việc xảy ra sự kiện bảo hiểm; thực hiện các biện pháp đề phòng, hạn chế tổn thất theo hướng dẫn của doanh nghiệp bảo hiểm (nếu có).
3. Doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài có trách nhiệm thực hiện các biện pháp đề phòng, hạn chế tổn thất sau đây:
a) Tổ chức tập huấn, tuyên truyền, đào tạo; hỗ trợ công tác tổ chức tập huấn, tuyên truyền chính sách về kinh doanh bảo hiểm;
b) Tài trợ, hỗ trợ các phương tiện, vật chất để đề phòng, hạn chế rủi ro;
c) Hỗ trợ xây dựng các công trình nhằm mục đích đề phòng, giảm nhẹ mức độ rủi ro cho các đối tượng bảo hiểm;
d) Thuê các tổ chức, cá nhân khác giám sát, đề phòng, hạn chế tổn thất.
4. Cơ quan, tổ chức có liên quan hướng dẫn, tổ chức tuyên truyền về việc thực hiện các biện pháp đề phòng, hạn chế tổn thất.
Điều 123. Phòng, chống gian lận bảo hiểm
1. Phòng, chống gian lận bảo hiểm trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm là việc thực hiện các biện pháp nhằm ngăn ngừa, hạn chế các hành vi gian lận trong quá trình giao kết, thực hiện hợp đồng bảo hiểm nhằm chiếm đoạt tiền, tài sản từ doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, bên mua bảo hiểm.
2. Doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài có trách nhiệm chủ động xây dựng và tổ chức thực hiện các biện pháp nhằm phòng ngừa, phát hiện, giảm thiểu các hành vi gian lận bảo hiểm; tổ chức tuyên truyền về phòng, chống gian lận bảo hiểm.
3. Bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm chủ động tham gia vào công tác phòng, chống gian lận bảo hiểm; trường hợp phát hiện các hành vi gian lận bảo hiểm thì kịp thời thông báo cho doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài và các cơ quan có thẩm quyền.
4. Cơ quan, tổ chức có liên quan phối hợp với doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm tổ chức công tác phòng, chống gian lận bảo hiểm.
Chương IV
ĐẠI LÝ BẢO HIỂM, DOANH NGHIỆP MÔI GIỚI BẢO HIỂM, TỔ CHỨC, CÁ NHÂN CUNG CẤP DỊCH VỤ PHỤ TRỢ BẢO HIỂM
Mục 1. ĐẠI LÝ BẢO HIỂM
Điều 124. Đại lý bảo hiểm
Đại lý bảo hiểm là tổ chức, cá nhân được doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô ủy quyền trên cơ sở hợp đồng đại lý bảo hiểm để thực hiện hoạt động đại lý bảo hiểm.
Điều 125. Điều kiện hoạt động đại lý bảo hiểm
1. Cá nhân hoạt động đại lý bảo hiểm phải đáp ứng các điều kiện sau đây:
a) Là công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam;
b) Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;
c) Có chứng chỉ đại lý bảo hiểm phù hợp theo quy định tại Điều 130 của Luật này.
2. Tổ chức hoạt động đại lý bảo hiểm phải đáp ứng các điều kiện sau đây:
a) Được thành lập và hoạt động hợp pháp tại Việt Nam;
b) Đã đăng ký ngành, nghề kinh doanh hoạt động đại lý bảo hiểm theo quy định của Luật Doanh nghiệp. Đối với các tổ chức hoạt động trong ngành, nghề kinh doanh có điều kiện thì giấy phép, giấy chứng nhận, chứng chỉ hoặc văn bản xác nhận, chấp thuận khác (nếu có) của cơ quan có thẩm quyền có nội dung hoạt động đại lý bảo hiểm;
c) Có nhân viên trực tiếp thực hiện hoạt động đại lý bảo hiểm đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này;
d) Điều kiện về nhân sự và điều kiện khác theo quy định của Chính phủ.
3. Tổ chức, cá nhân không được giao kết, thực hiện hợp đồng đại lý bảo hiểm trong các trường hợp sau đây:
a) Tổ chức là pháp nhân thương mại đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, tổ chức đang bị đình chỉ hoạt động có thời hạn, đang bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn hoặc đang bị cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong lĩnh vực liên quan đến bảo hiểm;
b) Cá nhân đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, đang chấp hành hình phạt tù, đang chấp hành hình phạt cấm hành nghề liên quan đến lĩnh vực bảo hiểm.
Điều 126. Nội dung hợp đồng đại lý bảo hiểm
Hợp đồng đại lý bảo hiểm phải có các nội dung chủ yếu sau đây:
1. Tên, địa chỉ của đại lý bảo hiểm;
2. Tên, địa chỉ trụ sở chính của doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô;
3. Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô, đại lý bảo hiểm;
4. Nội dung và phạm vi hoạt động đại lý bảo hiểm;
5. Hoa hồng đại lý bảo hiểm, thưởng, hỗ trợ đại lý bảo hiểm và các quyền lợi khác (nếu có);
6. Thời hạn hợp đồng;
7. Phương thức giải quyết tranh chấp.
Điều 127. Nguyên tắc hoạt động của đại lý bảo hiểm
1. Cá nhân không được đồng thời làm đại lý bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài khác hoạt động trong cùng loại hình bảo hiểm với doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài mà cá nhân đó đang làm đại lý. Cá nhân đang làm đại lý bảo hiểm cho một tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô không được đồng thời làm đại lý bảo hiểm cho tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô khác.
2. Tổ chức không được đồng thời làm đại lý bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô khác nếu không được chấp thuận bằng văn bản của doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô mà tổ chức đó đang làm đại lý.
3. Cá nhân hoạt động đại lý bảo hiểm, nhân viên trong tổ chức hoạt động đại lý bảo hiểm chỉ được thực hiện hoạt động đại lý bảo hiểm đối với những sản phẩm bảo hiểm đã được đào tạo.
4. Thông tin của cá nhân hoạt động đại lý bảo hiểm và nhân viên trong tổ chức hoạt động đại lý bảo hiểm trực tiếp thực hiện hoạt động đại lý bảo hiểm phải được đăng ký và cập nhật tại cơ sở dữ liệu về hoạt động kinh doanh bảo hiểm quy định tại Điều 11 của Luật này.
5. Cá nhân đã được cấp chứng chỉ đại lý bảo hiểm nhưng không hoạt động đại lý bảo hiểm trong thời hạn 03 năm liên tục phải thực hiện thi lấy chứng chỉ đại lý bảo hiểm mới trước khi hoạt động đại lý.
Điều 128. Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô trong hoạt động đại lý bảo hiểm
1. Doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô có các quyền sau đây:
a) Tổ chức hệ thống đại lý bảo hiểm phù hợp với chiến lược kinh doanh;
b) Tuyển dụng đại lý bảo hiểm và giao kết hợp đồng đại lý bảo hiểm;
c) Quyết định mức chi trả hoa hồng đại lý bảo hiểm, thưởng, hỗ trợ đại lý bảo hiểm và quyền lợi khác trong hợp đồng đại lý bảo hiểm không vượt quá mức tối đa theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính;
d) Nhận và quản lý tiền ký quỹ hoặc tài sản thế chấp của đại lý bảo hiểm nếu có thỏa thuận trong hợp đồng đại lý bảo hiểm;
đ) Yêu cầu đại lý bảo hiểm thanh toán phí bảo hiểm thu được theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm;
e) Kiểm tra, giám sát việc thực hiện hợp đồng đại lý bảo hiểm, đánh giá chất lượng tư vấn, giới thiệu sản phẩm bảo hiểm của đại lý bảo hiểm và nhân viên trong tổ chức hoạt động đại lý bảo hiểm;
g) Được hưởng quyền, lợi ích hợp pháp khác từ hoạt động đại lý bảo hiểm;
h) Quyền khác theo quy định của pháp luật.
2. Doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô có các nghĩa vụ sau đây:
a) Chịu trách nhiệm về việc tổ chức, quản lý, sử dụng đại lý bảo hiểm;
b) Tổ chức đào tạo và cập nhật kiến thức cho đại lý bảo hiểm theo quy định của pháp luật;
c) Hướng dẫn và cung cấp đầy đủ, chính xác các thông tin, tài liệu cần thiết liên quan đến hoạt động đại lý bảo hiểm;
d) Thực hiện các trách nhiệm phát sinh theo hợp đồng đại lý bảo hiểm đã giao kết;
đ) Thanh toán, chi trả hoa hồng đại lý bảo hiểm, thưởng, hỗ trợ đại lý bảo hiểm và quyền lợi khác theo thỏa thuận trong hợp đồng đại lý bảo hiểm không vượt quá mức tối đa theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính;
e) Hoàn trả cho đại lý bảo hiểm tiền ký quỹ hoặc tài sản thế chấp theo thỏa thuận;
g) Chịu trách nhiệm thực hiện các nghĩa vụ theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm do đại lý bảo hiểm, nhân viên trong tổ chức hoạt động đại lý bảo hiểm thu xếp giao kết. Trường hợp đại lý bảo hiểm, nhân viên trong tổ chức hoạt động đại lý bảo hiểm vi phạm hợp đồng đại lý bảo hiểm gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người được bảo hiểm, bên mua bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô vẫn phải chịu trách nhiệm thực hiện các nghĩa vụ theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm do đại lý bảo hiểm thu xếp giao kết;
h) Chịu sự kiểm tra, giám sát của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với hoạt động đại lý bảo hiểm;
i) Bảo đảm và không được cản trở các quyền, lợi ích hợp pháp của đại lý bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng đại lý bảo hiểm và quy định của pháp luật;
k) Báo cáo về việc đào tạo và sử dụng đại lý bảo hiểm theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính;
l) Đăng ký và cập nhật thông tin của cá nhân hoạt động đại lý bảo hiểm và nhân viên trong tổ chức hoạt động đại lý bảo hiểm trực tiếp thực hiện hoạt động đại lý bảo hiểm tại cơ sở dữ liệu về hoạt động kinh doanh bảo hiểm quy định tại Điều 11 của Luật này;
m) Nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.
Điều 129. Quyền và nghĩa vụ của đại lý bảo hiểm
1. Đại lý bảo hiểm có các quyền sau đây:
a) Lựa chọn và giao kết hợp đồng đại lý bảo hiểm đối với doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô theo quy định của pháp luật;
b) Được cung cấp thông tin và điều kiện cần thiết để thực hiện hợp đồng đại lý bảo hiểm;
c) Hưởng hoa hồng đại lý bảo hiểm, thưởng, hỗ trợ đại lý bảo hiểm và các quyền lợi khác từ hoạt động đại lý bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng đại lý bảo hiểm;
d) Yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô hoàn trả tiền ký quỹ hoặc tài sản thế chấp theo thỏa thuận trong hợp đồng đại lý bảo hiểm;
đ) Quyền khác theo quy định của pháp luật.
2. Đại lý bảo hiểm có các nghĩa vụ sau đây:
a) Thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng đại lý bảo hiểm;
b) Ký quỹ hoặc thế chấp tài sản cho doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô nếu có thỏa thuận trong hợp đồng đại lý bảo hiểm;
c) Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật;
d) Tư vấn, giới thiệu, chào bán sản phẩm bảo hiểm; cung cấp các thông tin về sản phẩm bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô đầy đủ, chính xác cho bên mua bảo hiểm và giải thích rõ ràng, đầy đủ về quyền lợi bảo hiểm, điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm, quyền và nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm; không được tự ý kê khai thông tin cho bên mua bảo hiểm khi chưa có sự đồng ý của bên mua bảo hiểm; thực hiện các nghĩa vụ khác theo phạm vi được ủy quyền trong hợp đồng đại lý bảo hiểm;
đ) Tham dự các khóa đào tạo, cập nhật kiến thức do doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô tổ chức;
e) Chịu sự kiểm tra, giám sát của doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô;
g) Bồi hoàn cho doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô các khoản tiền mà doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô đã bồi thường cho người được bảo hiểm, bên mua bảo hiểm trong trường hợp đại lý bảo hiểm, nhân viên trong tổ chức hoạt động đại lý bảo hiểm vi phạm hợp đồng đại lý bảo hiểm gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người được bảo hiểm, bên mua bảo hiểm;
h) Thực hiện đúng tiêu chuẩn hoạt động đại lý bảo hiểm do doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô quy định;
i) Giữ bí mật thông tin khách hàng, sử dụng thông tin khách hàng đúng mục đích và không được cung cấp cho bên thứ ba mà không có sự chấp thuận của khách hàng, trừ trường hợp cung cấp theo quy định của pháp luật;
k) Nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.
3. Đại lý bảo hiểm không được thực hiện các hành vi sau đây:
a) Thông tin, quảng cáo sai sự thật về nội dung, phạm vi hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô, điều kiện và điều khoản bảo hiểm làm tổn hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của bên mua bảo hiểm;
b) Ngăn cản bên mua bảo hiểm cung cấp các thông tin liên quan đến hợp đồng bảo hiểm hoặc xúi giục bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm không kê khai các thông tin liên quan đến hợp đồng bảo hiểm;
c) Tranh giành khách hàng dưới các hình thức ngăn cản, lôi kéo, mua chuộc, đe dọa nhân viên hoặc khách hàng của doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô, đại lý bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm khác;
d) Xúi giục khách hàng hủy bỏ hợp đồng bảo hiểm đang có hiệu lực dưới mọi hình thức.
4. Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định chi tiết điểm d khoản 2 Điều này.
Điều 130. Chứng chỉ đại lý bảo hiểm
1. Chứng chỉ đại lý bảo hiểm bao gồm:
a) Chứng chỉ đại lý bảo hiểm nhân thọ;
b) Chứng chỉ đại lý bảo hiểm phi nhân thọ;
c) Chứng chỉ đại lý bảo hiểm sức khỏe.
2. Nội dung chủ yếu đào tạo chứng chỉ đại lý bảo hiểm bao gồm:
a) Kiến thức chung về bảo hiểm; các nguyên lý về nghiệp vụ bảo hiểm phù hợp với từng loại chứng chỉ đại lý bảo hiểm;
b) Quy tắc đạo đức, ứng xử nghề nghiệp đại lý bảo hiểm;
c) Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô, đại lý bảo hiểm trong hoạt động đại lý bảo hiểm;
d) Pháp luật Việt Nam về hoạt động kinh doanh bảo hiểm;
đ) Kỹ năng và thực hành hành nghề đại lý bảo hiểm.
3. Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định chi tiết về các loại chứng chỉ đại lý bảo hiểm; nội dung đào tạo, hồ sơ, trình tự, thủ tục thi, cấp, thu hồi, cấp đổi chứng chỉ đại lý bảo hiểm.
Mục 2. DOANH NGHIỆP MÔI GIỚI BẢO HIỂM
Điều 131. Nội dung hoạt động của doanh nghiệp môi giới bảo hiểm
1. Hoạt động môi giới bảo hiểm gốc, hoạt động môi giới tái bảo hiểm.
2. Cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm.
3. Hoạt động khác liên quan đến hợp đồng bảo hiểm theo yêu cầu của bên mua bảo hiểm.
Điều 132. Nguyên tắc hoạt động môi giới bảo hiểm
1. Trung thực, khách quan, minh bạch; bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các bên liên quan.
2. Tuân theo quy tắc đạo đức nghề nghiệp do tổ chức xã hội - nghề nghiệp ban hành.
3. Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm phải thỏa thuận bằng văn bản với khách hàng khi thực hiện cung cấp dịch vụ môi giới bảo hiểm.
Điều 133. Điều kiện cấp giấy phép thành lập và hoạt động của doanh nghiệp môi giới bảo hiểm
1. Điều kiện về cổ đông, thành viên góp vốn thành lập bao gồm:
a) Tổ chức, cá nhân có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam theo quy định của Luật Doanh nghiệp;
b) Tổ chức có tư cách pháp nhân, đang hoạt động hợp pháp và đáp ứng các điều kiện về tài chính theo quy định của Chính phủ.
2. Điều kiện về vốn bao gồm:
a) Vốn điều lệ được góp bằng Đồng Việt Nam và không thấp hơn mức tối thiểu theo quy định của Chính phủ;
b) Cổ đông, thành viên góp vốn không được sử dụng vốn vay, nguồn vốn ủy thác đầu tư của tổ chức, cá nhân khác để tham gia góp vốn.
3. Điều kiện về nhân sự: có Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, người đại diện theo pháp luật dự kiến đáp ứng các điều kiện, tiêu chuẩn về năng lực quản lý, kinh nghiệm và chuyên môn nghiệp vụ theo quy định tại Điều 138 của Luật này.
4. Có hình thức tổ chức hoạt động theo quy định của Luật này và có dự thảo điều lệ phù hợp với quy định của Luật Doanh nghiệp.
5. Tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài tham gia góp vốn thành lập, mua cổ phần, phần vốn góp từ 10% vốn điều lệ trở lên của doanh nghiệp môi giới bảo hiểm phải đáp ứng các điều kiện sau đây:
a) Là tổ chức được thành lập theo pháp luật nước ngoài đang trực tiếp thực hiện hoặc có công ty con thực hiện hoạt động môi giới bảo hiểm trong 05 năm liên tục gần nhất tính đến thời điểm nộp hồ sơ đề nghị cấp giấy phép thành lập và hoạt động;
b) Được cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cho phép thành lập doanh nghiệp môi giới bảo hiểm tại Việt Nam và xác nhận không vi phạm nghiêm trọng các quy định của pháp luật về môi giới bảo hiểm của nước nơi tổ chức đặt trụ sở chính trong 03 năm liên tục gần nhất tính đến thời điểm nộp hồ sơ đề nghị cấp giấy phép thành lập và hoạt động.
Điều 134. Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép thành lập và hoạt động doanh nghiệp môi giới bảo hiểm
1. Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép thành lập và hoạt động bao gồm:
a) Văn bản đề nghị cấp giấy phép thành lập và hoạt động;
b) Dự thảo điều lệ công ty;
c) Phương án hoạt động 05 năm đầu, trong đó nêu rõ các nội dung hoạt động dự kiến triển khai;
d) Sơ yếu lý lịch, Phiếu lý lịch tư pháp, bản sao các văn bằng, chứng chỉ chứng minh năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của người dự kiến được bổ nhiệm là Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, người đại diện theo pháp luật;
đ) Mức vốn góp và phương thức góp vốn, danh sách những tổ chức, cá nhân sáng lập hoặc thành viên, cổ đông dự kiến góp từ 10% vốn điều lệ trở lên và các tài liệu chứng minh việc đáp ứng điều kiện quy định tại Điều 133 của Luật này.
2. Chính phủ quy định chi tiết điều kiện, hồ sơ, trình tự, thủ tục cấp giấy phép thành lập và hoạt động doanh nghiệp môi giới bảo hiểm.
Điều 135. Tổ chức và hoạt động
Các quy định về tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp môi giới bảo hiểm bao gồm: hình thức tổ chức hoạt động; tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài; thời hạn cấp giấy phép thành lập và hoạt động; thẩm quyền cấp, cấp lại, sửa đổi, bổ sung, thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động, đình chỉ nội dung hoạt động; công bố nội dung giấy phép thành lập và hoạt động; thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động được thực hiện theo quy định tại các điều 62, 68, 70, 71, 72 và khoản 1, khoản 3 Điều 75 của Luật này.
Điều 136. Những thay đổi phải được chấp thuận hoặc phải thông báo
1. Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm phải được Bộ Tài chính chấp thuận bằng văn bản trước khi thay đổi một trong các nội dung sau đây:
a) Tên, địa điểm đặt trụ sở chính;
b) Mức vốn điều lệ;
c) Nội dung, phạm vi và thời hạn hoạt động;
d) Chuyển nhượng cổ phần, phần vốn góp dẫn đến có cổ đông, thành viên góp vốn sở hữu từ 10% vốn điều lệ trở lên hoặc giảm xuống dưới 10% vốn điều lệ;
đ) Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc;
e) Chia, tách, sáp nhập, hợp nhất, giải thể, chuyển đổi hình thức doanh nghiệp; mở chi nhánh, văn phòng đại diện và các hình thức hiện diện thương mại khác tại nước ngoài.
2. Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm phải thông báo cho Bộ Tài chính bằng văn bản trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày có những thay đổi sau đây:
a) Thay đổi điều lệ hoạt động;
b) Mở, chấm dứt, thay đổi địa điểm chi nhánh, văn phòng đại diện.
3. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Bộ Tài chính chấp thuận việc thay đổi quy định tại khoản 1 Điều này, Bộ Tài chính có trách nhiệm công bố các nội dung thay đổi trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Tài chính.
4. Chính phủ quy định chi tiết điều kiện, hồ sơ, trình tự, thủ tục chấp thuận các thay đổi quy định tại khoản 1 Điều này và hồ sơ, trình tự, thủ tục ghi nhận quy định tại điểm b khoản 2 Điều này.
Điều 137. Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp môi giới bảo hiểm
1. Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm có các quyền sau đây:
a) Hưởng hoa hồng môi giới bảo hiểm gốc, hoa hồng môi giới tái bảo hiểm theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính;
b) Thu từ cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm;
c) Thu từ thực hiện các công việc khác liên quan đến hợp đồng bảo hiểm theo yêu cầu của bên mua bảo hiểm;
d) Quyền khác theo quy định của pháp luật.
2. Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm có các nghĩa vụ sau đây:
a) Bảo mật thông tin do khách hàng, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam cung cấp, trừ trường hợp theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc được sự đồng ý của khách hàng, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam;
b) Bồi thường thiệt hại cho khách hàng do hoạt động môi giới bảo hiểm gây ra;
c) Công khai thông tin cho khách hàng các nội dung theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính;
d) Hạch toán và theo dõi tách biệt các khoản thu hộ, chi hộ doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam;
đ) Mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp phù hợp với hoạt động môi giới bảo hiểm;
e) Nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.
3. Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm không được thực hiện các hành vi sau đây:
a) Ngăn cản bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm cung cấp các thông tin liên quan đến hợp đồng bảo hiểm hoặc xúi giục bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm không kê khai các chi tiết liên quan đến hợp đồng bảo hiểm;
b) Khuyến mại dưới hình thức hứa hẹn cung cấp các quyền lợi bất hợp pháp để xúi giục khách hàng giao kết hợp đồng bảo hiểm;
c) Xúi giục bên mua bảo hiểm hủy bỏ hợp đồng bảo hiểm đang có hiệu lực để mua hợp đồng bảo hiểm mới;
d) Tư vấn cho khách hàng mua bảo hiểm tại một doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài với các điều kiện, điều khoản kém cạnh tranh hơn so với doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài khác nhằm thu được hoa hồng môi giới cao hơn;
đ) Cung cấp cho khách hàng thông tin sai lệch, không phù hợp nội dung điều kiện, điều khoản bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài.
Điều 138. Nhân sự, vốn, tài chính, chế độ kế toán và báo cáo tài chính của doanh nghiệp môi giới bảo hiểm
1. Chủ tịch Hội đồng quản trị, Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, người đại diện theo pháp luật, Phó Giám đốc hoặc Phó Tổng giám đốc, Kế toán trưởng, trưởng bộ phận nghiệp vụ của doanh nghiệp môi giới bảo hiểm phải đáp ứng điều kiện, tiêu chuẩn về văn bằng, chứng chỉ, kinh nghiệm và các điều kiện khác theo quy định của Chính phủ.
2. Người trực tiếp thực hiện hoạt động môi giới bảo hiểm phải có bằng đại học trở lên về chuyên ngành bảo hiểm hoặc có chứng chỉ bảo hiểm phù hợp với loại hình bảo hiểm hoặc chứng chỉ môi giới bảo hiểm do các cơ sở đào tạo được thành lập và hoạt động hợp pháp trong nước hoặc ngoài nước cấp theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính.
3. Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm phải duy trì vốn điều lệ và vốn chủ sở hữu không thấp hơn mức vốn điều lệ tối thiểu và thực hiện chế độ tài chính theo quy định của Chính phủ.
4. Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm thực hiện năm tài chính, chế độ kế toán quy định tại Điều 103 và Điều 104 của Luật này và thực hiện kiểm toán độc lập hằng năm đối với báo cáo tài chính.
5. Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm phải thực hiện chế độ báo cáo theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính đối với các báo cáo sau đây:
a) Báo cáo tài chính;
b) Báo cáo hoạt động nghiệp vụ định kỳ, báo cáo đột xuất, cung cấp thông tin, số liệu khác.
6. Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài được phép chuyển lợi nhuận, chuyển tài sản ra nước ngoài quy định tại Điều 107 của Luật này.
7. Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm thực hiện quản trị tài chính quy định tại Điều 108 của Luật này.
8. Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm thực hiện công khai trên trang thông tin điện tử của doanh nghiệp các thông tin về báo cáo tài chính năm đã được kiểm toán và những thay đổi phải được Bộ Tài chính chấp thuận quy định tại khoản 1 Điều 136 của Luật này và thông tin quy định tại các điểm a, b và e khoản 1 Điều 120 của Luật này. Trách nhiệm công khai thông tin thực hiện theo quy định tại Điều 117 của Luật này.
Điều 139. Chứng chỉ môi giới bảo hiểm
1. Nội dung đào tạo môi giới bảo hiểm chủ yếu bao gồm:
a) Kiến thức chung về bảo hiểm và nghiệp vụ bảo hiểm;
b) Nguyên tắc, trách nhiệm, đạo đức hành nghề môi giới bảo hiểm;
c) Pháp luật Việt Nam về hoạt động kinh doanh bảo hiểm;
d) Kỹ năng và thực hành hành nghề môi giới bảo hiểm.
2. Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định chi tiết nội dung đào tạo, hồ sơ, trình tự, thủ tục thi, cấp, thu hồi, cấp đổi chứng chỉ môi giới bảo hiểm do cơ sở đào tạo về bảo hiểm được thành lập và hoạt động hợp pháp trong nước cấp.
Mục 3. TỔ CHỨC, CÁ NHÂN CUNG CẤP DỊCH VỤ PHỤ TRỢ BẢO HIỂM
Điều 140. Tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm
1. Doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài được cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô.
2. Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm được cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô và các tổ chức, cá nhân khác.
3. Tổ chức khác có tư cách pháp nhân được cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô.
4. Cá nhân được cung cấp dịch vụ tư vấn cho doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô.
Điều 141. Nguyên tắc cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm
1. Trung thực, khách quan, minh bạch; bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các bên liên quan.
2. Tuân theo tiêu chuẩn trong lĩnh vực phụ trợ bảo hiểm.
3. Tuân theo quy tắc đạo đức nghề nghiệp do tổ chức xã hội - nghề nghiệp ban hành.
4. Hợp đồng cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm phải được lập thành văn bản.
Điều 142. Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm
1. Giữ bí mật thông tin khách hàng, sử dụng thông tin khách hàng đúng mục đích và không được cung cấp cho người thứ ba mà không có sự chấp thuận của khách hàng, trừ trường hợp cung cấp theo quy định của pháp luật.
2. Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm không được cung cấp dịch vụ giám định tổn thất bảo hiểm cho hợp đồng bảo hiểm mà doanh nghiệp đó thực hiện thu xếp giao kết hợp đồng bảo hiểm.
3. Tổ chức cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm không được cung cấp dịch vụ giám định tổn thất bảo hiểm và hỗ trợ giải quyết bồi thường bảo hiểm cho hợp đồng bảo hiểm mà tổ chức đó đồng thời là bên mua bảo hiểm hoặc người được bảo hiểm hoặc người thụ hưởng.
4. Cá nhân cung cấp dịch vụ tư vấn phải mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho việc cung cấp dịch vụ tư vấn; tổ chức cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm phải mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp phù hợp với từng loại hình dịch vụ phụ trợ bảo hiểm.
Điều 143. Điều kiện cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm
1. Cá nhân cung cấp dịch vụ tư vấn phải đáp ứng các điều kiện sau đây:
a) Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;
b) Có bằng đại học trở lên về chuyên ngành bảo hiểm. Trường hợp không có bằng đại học trở lên về chuyên ngành bảo hiểm thì phải có bằng đại học trở lên về chuyên ngành khác và có chứng chỉ phụ trợ bảo hiểm về tư vấn do các cơ sở đào tạo được thành lập và hoạt động hợp pháp trong nước hoặc ngoài nước cấp.
2. Tổ chức cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm phải đáp ứng các điều kiện sau đây:
a) Có tư cách pháp nhân, được thành lập và hoạt động hợp pháp;
b) Cá nhân trực tiếp thực hiện hoạt động phụ trợ bảo hiểm trong tổ chức cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; có văn bằng, chứng chỉ về phụ trợ bảo hiểm phù hợp với loại hình dịch vụ phụ trợ bảo hiểm do các cơ sở đào tạo được thành lập và hoạt động hợp pháp trong nước hoặc ngoài nước cấp;
c) Cá nhân trực tiếp thực hiện hoạt động giám định tổn thất bảo hiểm trong tổ chức cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm phải đáp ứng điều kiện quy định tại điểm b khoản này và các tiêu chuẩn của giám định viên theo quy định của pháp luật về thương mại;
d) Cá nhân trực tiếp thực hiện hoạt động tính toán bảo hiểm trong tổ chức cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm phải đáp ứng điều kiện quy định tại điểm b khoản này và điều kiện, tiêu chuẩn đối với Chuyên gia tính toán.
3. Chính phủ quy định chi tiết các điểm b, c và d khoản 2 Điều này.
4. Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định chi tiết các loại chứng chỉ về phụ trợ bảo hiểm, nội dung đào tạo, hồ sơ, trình tự, thủ tục thi, cấp, cấp đổi, thu hồi chứng chỉ về phụ trợ bảo hiểm.
Chương V
BẢO HIỂM VI MÔ
Điều 144. Đặc điểm của sản phẩm bảo hiểm vi mô
Sản phẩm bảo hiểm vi mô có các đặc điểm cơ bản sau đây:
1. Được thiết kế ngắn gọn, dễ hiểu, có thủ tục thẩm định bảo hiểm đơn giản hoặc không cần thẩm định bảo hiểm;
2. Chỉ bao gồm các quyền lợi nhằm đáp ứng nhu cầu bảo vệ cơ bản trước các rủi ro về tính mạng, sức khỏe và tài sản của người tham gia bảo hiểm với thời hạn bảo hiểm không quá 05 năm;
3. Số tiền bảo hiểm trên từng hợp đồng và phí bảo hiểm hằng năm cho từng người được bảo hiểm của một hợp đồng không vượt quá mức tối đa theo quy định của Chính phủ.
Điều 145. Xây dựng, thiết kế, phát triển sản phẩm bảo hiểm vi mô
1. Việc triển khai và tham gia các sản phẩm bảo hiểm vi mô được Nhà nước khuyến khích, hỗ trợ, tạo điều kiện thông qua một hoặc một số biện pháp quy định tại các điểm a, b, d và e khoản 1 Điều 88 của Luật này.
2. Tổ chức cung cấp bảo hiểm vi mô phải đăng ký và được Bộ Tài chính chấp thuận phương pháp, cơ sở tính phí bảo hiểm của các sản phẩm bảo hiểm vi mô.
3. Chính phủ quy định chi tiết các biện pháp quy định tại khoản 1 Điều này phù hợp với định hướng phát triển và điều kiện kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ; hồ sơ, trình tự, thủ tục đăng ký phương pháp, cơ sở tính phí của các sản phẩm bảo hiểm vi mô.
4. Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định chi tiết phương pháp, cơ sở tính phí của các sản phẩm bảo hiểm vi mô.
Điều 146. Tổ chức cung cấp bảo hiểm vi mô
1. Tổ chức cung cấp bảo hiểm vi mô bao gồm:
a) Doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài thành lập và hoạt động tại Việt Nam;
b) Tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô thành lập và hoạt động tại Việt Nam.
2. Chính phủ quy định về hồ sơ, trình tự, thủ tục cấp, cấp lại, sửa đổi, bổ sung, thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động, đình chỉ nội dung hoạt động của tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô.
3. Bộ Tài chính có thẩm quyền cấp, cấp lại, sửa đổi, bổ sung và thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động, đình chỉ nội dung hoạt động của tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô.
Điều 147. Doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài cung cấp bảo hiểm vi mô
1. Doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài được quyền chủ động cung cấp bảo hiểm vi mô phù hợp với nghiệp vụ bảo hiểm được phép triển khai dưới các hình thức sau đây:
a) Trực tiếp;
b) Thông qua đại lý bảo hiểm;
c) Thông qua cá nhân là nhân viên hoặc thành viên của tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, hợp tác xã được doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài ủy quyền để tư vấn, thu xếp việc giao kết hợp đồng bảo hiểm vi mô cho chính các thành viên của tổ chức đó;
d) Hình thức khác theo quy định của pháp luật.
2. Doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài phải theo dõi, tách và hạch toán riêng doanh thu, chi phí của hoạt động cung cấp bảo hiểm vi mô với các hoạt động khác của doanh nghiệp.
Điều 148. Tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô
1. Tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô chỉ được cung cấp bảo hiểm vi mô cho chính các thành viên của mình. Thành viên tham gia bảo hiểm vừa là chủ sở hữu của tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô, vừa là bên mua bảo hiểm.
2. Hợp đồng bảo hiểm giữa tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô và các thành viên tham gia bảo hiểm tuân thủ các quy định chung về hợp đồng bảo hiểm, hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, hợp đồng bảo hiểm sức khỏe và hợp đồng bảo hiểm tài sản quy định tại Chương II của Luật này.
3. Chính phủ quy định chi tiết việc cung cấp bảo hiểm vi mô của tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô.
Điều 149. Điều kiện cấp giấy phép thành lập và hoạt động của tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô
1. Điều kiện về thành viên sáng lập bao gồm:
a) Cá nhân là công dân Việt Nam có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và là thành viên của tổ chức dự kiến thành lập tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô;
b) Là tổ chức đại diện thành viên theo quy định của pháp luật.
2. Vốn thành lập được góp bằng Đồng Việt Nam và không thấp hơn mức tối thiểu theo quy định của Chính phủ.
3. Có nhân sự dự kiến làm Chủ tịch Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, người đại diện theo pháp luật, Chuyên gia tính toán bảo hiểm vi mô đáp ứng các điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định của Chính phủ.
4. Có kế hoạch triển khai bảo hiểm vi mô phù hợp với số lượng thành viên, mạng lưới của tổ chức.
5. Có dự thảo điều lệ phù hợp với mục tiêu hoạt động của tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô và quy định của Chính phủ.
6. Có hệ thống công nghệ thông tin phù hợp, bảo đảm hỗ trợ, theo dõi đến từng hợp đồng bảo hiểm vi mô, theo dõi tài chính, kế toán của hoạt động bảo hiểm vi mô.
Điều 150. Nguyên tắc hoạt động của tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô
1. Tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô tự chủ về tài chính, tự chịu trách nhiệm trước pháp luật trong phạm vi tài sản hình thành từ hoạt động cung cấp bảo hiểm vi mô.
2. Tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô có trách nhiệm quản lý, giám sát hiệu quả hoạt động, tuân thủ các quy định về chế độ tài chính nhằm bảo đảm an toàn tài chính, bảo đảm thực hiện các nghĩa vụ, cam kết với các thành viên tham gia bảo hiểm, các tổ chức, cá nhân có liên quan theo quy định của pháp luật.
3. Tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô có trách nhiệm thực hiện quản trị rủi ro nhằm kiểm soát một cách hiệu quả các rủi ro phát sinh từ hoạt động cung cấp bảo hiểm vi mô.
4. Toàn bộ lợi nhuận thu được từ hoạt động cung cấp bảo hiểm vi mô của tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô được sử dụng để phục vụ lợi ích cho các thành viên tham gia bảo hiểm thông qua việc giảm trừ phí bảo hiểm, gia tăng quyền lợi bảo hiểm của người được bảo hiểm, hỗ trợ cho các thành viên và các mục tiêu khác theo điều lệ của tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô.
5. Chính phủ quy định chi tiết về tổ chức hoạt động, quản trị rủi ro, hoạt động nghiệp vụ, công khai thông tin, chế độ tài chính, hạch toán kế toán và báo cáo tài chính của tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô.
Chương VI
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH BẢO HIỂM
Điều 151. Quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh bảo hiểm
1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh bảo hiểm.
2. Bộ Tài chính chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh bảo hiểm và có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Ban hành, trình cơ quan có thẩm quyền ban hành và hướng dẫn thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về hoạt động kinh doanh bảo hiểm, xây dựng chiến lược, đề án và chính sách phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam;
b) Thực hiện thống kê, dự báo về thị trường bảo hiểm;
c) Giám sát doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm thông qua hoạt động nghiệp vụ, tình hình tài chính, quản trị doanh nghiệp, quản trị rủi ro và việc chấp hành pháp luật về hoạt động kinh doanh bảo hiểm; giám sát hoạt động của văn phòng đại diện nước ngoài tại Việt Nam;
d) Giám sát hoạt động đại lý bảo hiểm, dịch vụ phụ trợ bảo hiểm thông qua doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam;
đ) Thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm; kiểm tra hoạt động của văn phòng đại diện nước ngoài tại Việt Nam;
e) Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo hiểm;
g) Giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm hành chính về hoạt động kinh doanh bảo hiểm.
Điều 152. Cơ chế phối hợp trong quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh bảo hiểm
1. Bộ Tài chính phối hợp với các cơ quan quản lý nhà nước về bảo hiểm nước ngoài trong việc quản lý, giám sát, thanh tra, kiểm tra đối với chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam theo quy định của Chính phủ.
2. Bộ Tài chính thiết lập cơ chế chia sẻ thông tin quản lý, giám sát với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, các Bộ, ngành khác và tổ chức xã hội - nghề nghiệp trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm.
3. Bộ Tài chính phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan để triển khai liên kết, hợp tác giữa hoạt động kinh doanh bảo hiểm và bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế do Nhà nước thực hiện.
4. Cơ quan đăng ký kinh doanh không được chấp thuận trong tên doanh nghiệp có sử dụng cụm từ hoặc thuật ngữ “bảo hiểm”, “tái bảo hiểm” hoặc các cụm từ, thuật ngữ khác nếu việc sử dụng cụm từ, thuật ngữ này có thể gây nhầm lẫn đó là doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam.
5. Cơ quan đăng ký kinh doanh không được chấp thuận trong tên doanh nghiệp có sử dụng cụm từ hoặc thuật ngữ “môi giới bảo hiểm”, “môi giới tái bảo hiểm” hoặc các cụm từ, thuật ngữ khác nếu việc sử dụng cụm từ, thuật ngữ này có thể gây nhầm lẫn đó là doanh nghiệp môi giới bảo hiểm.
Điều 153. Quyền yêu cầu cung cấp thông tin của Bộ Tài chính trong thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm hành chính về hoạt động kinh doanh bảo hiểm
1. Trong quá trình thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm hành chính về hoạt động kinh doanh bảo hiểm, ngoài các nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật về thanh tra, pháp luật về xử lý vi phạm hành chính và quy định khác của pháp luật có liên quan, Bộ Tài chính còn có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Yêu cầu các cổ đông, thành viên góp vốn, người quản lý, người kiểm soát, nhân viên của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm giải thích và cung cấp thông tin, tài liệu, dữ liệu có liên quan đến nội dung thanh tra, kiểm tra;
b) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thông tin, tài liệu, dữ liệu có liên quan đến nội dung thanh tra, kiểm tra hoạt động kinh doanh bảo hiểm cung cấp thông tin, tài liệu, dữ liệu đó hoặc yêu cầu tổ chức, cá nhân giải trình, đến làm việc liên quan đến nội dung thanh tra, kiểm tra;
c) Yêu cầu tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cung cấp thông tin liên quan đến tài khoản của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam, đại lý bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm, tổ chức cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm, công ty quản lý quỹ của doanh nghiệp bảo hiểm, văn phòng đại diện nước ngoài tại Việt Nam và các tổ chức, cá nhân có dấu hiệu thực hiện các hành vi bị nghiêm cấm quy định tại Điều 9 của Luật này hoặc vi phạm các quy định về tỷ lệ an toàn vốn, hoạt động đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam, an toàn tài chính, khả năng thanh toán quy định tại các điều 95, 99, 100, 109 và 110 của Luật này. Trình tự, thủ tục yêu cầu và cung cấp thông tin thực hiện theo quy định của pháp luật về ngân hàng.
2. Việc yêu cầu tổ chức, cá nhân phối hợp, cung cấp thông tin, tài liệu, dữ liệu, giải trình, đến làm việc theo quy định tại Điều này phải được thực hiện bằng văn bản, nêu rõ mục đích, căn cứ, nội dung, phạm vi yêu cầu.
3. Các thông tin do tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức, cá nhân cung cấp theo quy định tại Điều này phải được bảo mật theo quy định của pháp luật và chỉ được sử dụng cho mục đích thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm hành chính của tổ chức, cá nhân có liên quan.
Điều 154. Thanh tra hoạt động kinh doanh bảo hiểm
1. Cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh bảo hiểm thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành kinh doanh bảo hiểm.
2. Khi xét thấy cần thiết, để thực hiện thanh tra chuyên ngành kinh doanh bảo hiểm, cơ quan quy định tại khoản 1 Điều này có quyền thuê tổ chức kiểm toán độc lập, công ty tư vấn hoặc chuyên gia đánh giá, có ý kiến về chuyên môn đối với một số nội dung có dấu hiệu ảnh hưởng tới sự an toàn, lành mạnh của đối tượng thanh tra khi xét thấy cần thiết bao gồm:
a) Dự phòng nghiệp vụ;
b) Khả năng thanh toán;
c) Tái bảo hiểm;
d) Đầu tư;
đ) Tách nguồn vốn chủ sở hữu và nguồn phí bảo hiểm, phân chia thặng dư;
e) Quy tắc, điều khoản, biểu phí bảo hiểm.
3. Tổ chức kiểm toán độc lập, công ty tư vấn hoặc chuyên gia được thuê chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực, khách quan của số liệu, tài liệu đánh giá, ý kiến về các nội dung đưa ra.
4. Tổ chức và hoạt động của thanh tra chuyên ngành kinh doanh bảo hiểm theo quy định của Luật này và pháp luật về thanh tra.
Chương VII
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Điều 155. Sửa đổi, bổ sung Phụ lục IV của Luật Đầu tư số 61/2020/QH14 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 03/2022/QH15
Sửa đổi, bổ sung ngành, nghề số thứ tự 29 và bổ sung ngành, nghề số thứ tự 29a vào sau số thứ tự 29 của Phụ lục IV về Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện như sau:
“29. Môi giới bảo hiểm
29a. Dịch vụ phụ trợ bảo hiểm”
Điều 156. Hiệu lực thi hành
1. Luật này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2023, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
2. Khoản 3 Điều 86, khoản 4 và khoản 5 Điều 94, Điều 95, khoản 3 và khoản 4 Điều 99, các điều 109, 110, 111, 112, 113, 114 và 116 của Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2028.
3. Luật Kinh doanh bảo hiểm số 24/2000/QH10 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 61/2010/QH12 và Luật số 42/2019/QH14 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành, trừ trường hợp sau đây:
a) Khoản 1 Điều 157 của Luật này;
b) Các điều 77, 78, 79, 80, 81, 83, 94 và 98 của Luật Kinh doanh bảo hiểm số 24/2000/QH10 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 61/2010/QH12 và Luật số 42/2019/QH14 có hiệu lực đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2027.
Điều 157. Điều khoản chuyển tiếp
1. Các hợp đồng bảo hiểm đã giao kết trước ngày Luật này có hiệu lực và còn thời hạn hợp đồng thì tiếp tục thực hiện theo quy định của pháp luật tại thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm, trừ trường hợp các bên tham gia hợp đồng bảo hiểm có thỏa thuận về việc sửa đổi, bổ sung hợp đồng để phù hợp với Luật này và để áp dụng quy định của Luật này.
2. Chứng chỉ đại lý bảo hiểm được cấp trước ngày Luật này có hiệu lực được tiếp tục sử dụng đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2025. Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định chi tiết việc chuyển đổi chứng chỉ đại lý bảo hiểm được cấp trước ngày Luật này có hiệu lực sang chứng chỉ đại lý bảo hiểm theo quy định của Luật này.
3. Chứng chỉ bảo hiểm, chứng chỉ môi giới bảo hiểm, chứng chỉ về phụ trợ bảo hiểm được cấp trước ngày Luật này có hiệu lực được tiếp tục sử dụng.
4. Kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2023, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài dừng trích nộp Quỹ bảo vệ người được bảo hiểm.
5. Việc xử lý số dư Quỹ bảo vệ người được bảo hiểm quy định tại Điều 97 của Luật Kinh doanh bảo hiểm số 24/2000/QH10 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 61/2010/QH12 và Luật số 42/2019/QH14 được thực hiện như sau:
a) Toàn bộ số dư của Quỹ bảo vệ người được bảo hiểm được Bộ Tài chính quản lý để sử dụng cho mục đích bảo vệ quyền lợi của người được bảo hiểm trong trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm mất khả năng thanh toán hoặc phá sản;
b) Chính phủ quy định chi tiết về quản lý và sử dụng số dư của Quỹ bảo vệ người được bảo hiểm.

Luật này được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 16 tháng 6 năm 2022.

 

CHỦ TỊCH QUỐC HỘI




Vương Đình Huệ

thuộc tính Luật 08/2022/QH15

Luật Kinh doanh bảo hiểm của Quốc hội, số 08/2022/QH15
Cơ quan ban hành: Quốc hội Số công báo:
Đã biết

Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Số công báo. Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!

Số hiệu: 08/2022/QH15 Ngày đăng công báo:
Đã biết

Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Ngày đăng công báo. Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!

Loại văn bản: Luật Người ký: Vương Đình Huệ
Ngày ban hành: 16/06/2022 Ngày hết hiệu lực: Đang cập nhật
Áp dụng:
Đã biết

Vui lòng đăng nhập tài khoản để xem Ngày áp dụng. Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!

Tình trạng hiệu lực:
Đã biết

Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Tình trạng hiệu lực. Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!

Lĩnh vực: Bảo hiểm
TÓM TẮT VĂN BẢN

Từ 01/01/2023, doanh nghiệp bảo hiểm không được đầu tư kinh doanh bất động sản

Ngày 16/6/2022, Quốc hội đã thông qua Luật Kinh doanh bảo hiểm số 08/2022/QH15.

Theo đó, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam không được đầu tư kinh doanh bất động sản, trừ trường hợp mua cổ phiếu của doanh nghiệp kinh doanh bất động sản niêm yết trên thị trường chứng khoán, chứng chỉ quỹ của quỹ đại chúng.

Ngoài ra, doanh nghiệp bảo hiểm cũng không được kinh doanh bất động sản trực tiếp, nhưng được phép mua, đầu tư, sở hữu bất động sản để sử dụng làm trụ sở kinh doanh, địa điểm làm việc hoặc cơ sở kho tàng phục vụ trực tiếp cho các hoạt động nghiệp vụ; cho thuê trụ sở kinh doanh chưa sử dụng hết thuộc quyền sở hữu hoặc sử dụng. Đồng thời, doanh nghiệp được nắm giữ bất động sản do xử lý trái phiếu có bảo đảm bằng bất động sản, do đối trừ công nợ phải thu bằng bất động sản trong thời hạn 03 năm kể từ ngày nắm giữ.

Bên cạnh đó, kể từ ngày 01/01/2023, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài dừng trích nộp Quỹ bảo vệ người được bảo hiểm. Toàn bộ số dư của Quỹ Bảo vệ người được bảo hiểm được Bộ Tài chính quản lý để sử dụng cho mục đích bảo vệ quyền lợi của người được bảo hiểm trong trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm mất khả năng thanh toán hoặc phá sản. Chính phủ quy định chi tiết về quản lý và sử dụng số dư của Quỹ Bảo vệ người được bảo hiểm.

Luật này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2023.

Xem chi tiết Luật 08/2022/QH15 tại đây

Tình trạng hiệu lực: Đã biết
Hiển thị:
download Văn bản gốc có dấu (PDF)
download Văn bản gốc (Word)
Tình trạng hiệu lực: Đã biết

THE NATIONAL ASSEMBLY
___________

Law No. 08/2022/QH15

THE SOCIALIST REPUBLIC OF VIETNAM
Independence - Freedom - Happiness
_________

LAW

On insurance business

 

Pursuant to the Constitution of the Socialist Republic of Vietnam;

The National Assembly promulgates the Law on Insurance Business.

 

Chapter I

GENERAL PROVISIONS

 

Article 1. Scope of regulation

1. This Law prescribes the organization and operation of insurance business and define the rights and obligations of organizations as well as individuals participating in insurance; and State management over insurance business.

2. This Law does not apply to social insurance, health insurance, deposit insurance and other types of insurance, which are provided by the State and do not bear the commercial nature.

Article 2. Subjects of application

1. Insurance enterprises, reinsurance enterprises, insurance agents, insurance brokerage enterprises, organizations and individuals providing insurance auxiliary services, mutual support organizations providing microinsurance.

2. Branches of foreign non-life insurance enterprises and branches of foreign reinsurance enterprises (hereinafter referred to as Vietnam-based foreign branches).

3. Representative offices of foreign insurance enterprises, foreign reinsurance enterprises, foreign insurance brokerage enterprises, foreign finance and insurance groups in Vietnam (hereinafter referred to as Vietnam-based foreign representative offices).

4. Insurance buyers, the insured and beneficiaries.

5. State management agencies in charge of insurance business

6. Organizations and individuals involved in the insurance business.

Article 3. Application of the Law on Insurance Business, relevant laws and international practices

1. In case it is necessary to regulate provisions, on insurance contracts, establishment, organization of operations, professional operations, finance, accounting and financial reporting, solvency and interventions for insurance enterprises, reinsurance enterprises, foreign branches in Vietnam, mutual support organizations providing microinsurance, insurance brokerage enterprises in other laws promulgated after the effective date of this Law, different from those of this Law, the implementation or non-implementation contents shall be specified in accordance with this Law.

2. The parties to an insurance, reinsurance, or insurance brokerage contract may reach an agreement on applying international practices in case at least one of the parties is a foreign organization or individual, or both parties are Vietnamese organizations or Vietnamese citizens, but the object of insurance is placed in another country or the performance of the contract is carried out abroad. If the consequences of the application of international practices are contrary to the basic principles of Vietnamese laws, Vietnamese laws shall prevail.

Article 4. Interpretation of terms

For the purpose of this Law, the terms below are construed as follows:

1. Insurance business activities include insurance business, reinsurance business, reinsurance transfer and activities related to insurance business, including insurance agents, insurance brokerage and insurance auxiliary services.

2. Insurance business means the operation carried out by insurance enterprises, branches of foreign non-life insurance enterprises, mutual support organizations providing microinsurance, whereby the enterprises accept risks incurred by the insured on the basis of insurance premium payment by the insurance buyers so that the insurance enterprises, branches of foreign non-life insurance enterprises, mutual support organizations providing microinsurance shall indemnify and pay insurance money upon occurrence of insured events as agreed upon in insurance contracts.

3. Reinsurance business means the operation carried out by insurance enterprises, reinsurance enterprises and Vietnam-based foreign branches, whereby the enterprises receive an amount of reinsurance premium paid by other insurance enterprises, reinsurance enterprises or Vietnam-based foreign branches, foreign insurance enterprises, foreign reinsurance enterprises, foreign insurance organizations for the commitment to pay compensation for the liabilities which the former have accepted for insurance.

4. Reinsurance transfer means the operation carried out by insurance enterprises, reinsurance enterprise, or Vietnam-based foreign branch, whereby the enterprises transfer part of the liability received for reinsurance to other insurance enterprises, reinsurance enterprises or Vietnam-based foreign branches, foreign insurance enterprises, foreign reinsurance enterprises, foreign insurance organizations on the basis of on the basis of payment of reinsurance transfer premiums.

5. Insurance agency activity means one or several activities authorized by insurance enterprises, branches of foreign non-life insurance enterprises or mutual support organizations providing microinsurance, including consulting insurance products; introducing insurance products; offering and selling insurance products; arranging the conclusion of insurance contracts; collecting insurance premiums; collecting records to serve the settlement of compensation, insurance payment.

6. Insurance brokerage activities mean the provision of information and consultancy to the insurance buyers on types of insurance, insurance products, insurance programs, insurance conditions, insurance terms, premium rates, insurance enterprises, reinsurance enterprises, Vietnam-based foreign branches; and activities relating to the negotiation, arrangement, conclusion and performance of insurance and reinsurance contracts.

7. Insurance auxiliary services include insurance consultancy, insurance risk assessment, insurance actuary, insurance loss assessment, and insurance claim settlement support. Insurance auxiliary services do not include the self-implementation by insurance enterprises, reinsurance enterprises, Vietnam-based foreign branches and mutual support organizations providing microinsurance in order to carry out their own insurance and reinsurance business activities.

8. Consultancy means the provision of consultancy services on insurance programs, insurance products, insurance risk administration, and loss prevention and restriction.

9. Insurance risk assessment means the identification, classification, and assessment of the nature and level of risks and assessment of the administration of human, property and civil liability risks to obtain grounds for insurance or reinsurance participation.

10. Insurance actuary means the collection and analysis of statistical figures, calculation of insurance premiums, technical reserves, capital and solvency, assessment of business operation performance, and enterprise valuation so as to ensure financial safety of insurance enterprises, reinsurance enterprises, Vietnam-based foreign branches or mutual support organizations providing microinsurance.

11. Insurance loss assessment means the determination of the current situation, causes, and levels of loss, and allocation of responsibilities for compensation to serve as a basis for insurance claim settlement.

12. Insurance claim settlement support means the provision of support to insurance buyers, the insured, beneficiaries, or insurance enterprises, reinsurance enterprises, Vietnam-based foreign branches, mutual support organizations providing microinsurance in carrying out procedures for settlement of insurance claim and insurance payment.

13. Life insurance means a type of insurance provided to cases where the insured is alive or dead.

14. Non-life insurance means a type of insurance for property damages and other losses or civil liabilities to a third person.

15. Health insurance means a type of insurance provided to cases where the insured suffers an injury, accident, illness, disease or needs health care.

16. An insurance contract is the agreement reached between insurance buyers and insurance enterprises, Vietnam-based branches of foreign non-life insurance enterprises, mutual support organizations providing microinsurance, whereby insurance buyers shall have to pay insurance premiums while the insurance enterprises, Vietnam-based branches of foreign non-life insurance enterprises, mutual support organizations providing microinsurance shall have to indemnify and pay insurance sum as agreed in the contract.

17. Insurance enterprises are those which are established, organized and operate under the provisions of this Law and relevant laws, for insurance business, reinsurance business, or reinsurance transfer. Insurance enterprises include life insurance enterprises, non-life insurance enterprises, and health insurance enterprises.

18. Reinsurance enterprises are those which are established, organized and operate under the provisions of this Law and relevant laws, for reinsurance business, or reinsurance transfer.

19. Branches of foreign non-life insurance enterprises are dependent units of foreign non-life insurance enterprises, that have no legal status, are guaranteed by foreign non-life insurance enterprises and take responsibility for all obligations and commitments during their operations in Vietnam.

20. Branches of foreign reinsurance enterprises are dependent units of foreign reinsurance enterprises, that have no legal status, are guaranteed by foreign reinsurance enterprises and take responsibility for all obligations and commitments during their operations in Vietnam.

21. Insurance brokerage enterprises are those which are established, organized and operate under the provisions of this Law and relevant laws for insurance brokerage activities.

22. Microinsurance is insurance aimed at low-income individuals and households to protect them against risks to life, health and property.

23. Mutual support organizations providing microinsurance are organizations with legal status, independent accounting, established by members or member representative organizations to deploy non-profit microinsurance in order to support and help each other among insurance members on the principle of voluntariness, financial autonomy and legal responsibility within the scope of assets formed from microinsurance activities.

24. Insurance buyers means are organizations or individuals that enter into insurance contracts with insurance enterprises, branches of foreign non-life insurance enterprises or mutual support organizations providing microinsurance, and pay premium.

25. The insured means organizations or individuals that have property, civil liabilities, health, life, obligations or economic interests are insured under insurance contracts.

26. The beneficiaries mean organizations or individuals designated by the insurance buyers or the insured to receive insurance money as agreed in insurance contracts.

27. Insured events mean objective events mutually agreed upon by the parties or prescribed by law upon the occurrence of which the insurance enterprises, branches of foreign non-life insurance enterprises, or mutual support organizations providing microinsurance shall have to pay the insurance money or pay indemnities as agreed in the insurance contracts.

28. Premium means a sum of money to be paid by the insurance buyers to insurance enterprises, branches of foreign non-life insurance enterprises or mutual support organizations providing microinsurance in accordance with law provisions or as agreed upon by the parties in the insurance contracts.

29. Co-insurance means a case where insurance enterprises and branches of foreign non-life insurance enterprises conclude an insurance contract with the insurance buyers, in which the insurance enterprises and branches of foreign non-life insurance enterprises shall receive premium and pay the insurance money or indemnities at the rate as agreed in the insurance contract.

Article 5. Policies on insurance business development

1. The State shall protect the legitimate rights and interests of organizations and individuals participating in insurance and organizations engaged in insurance business.

2. The State shall encourage and create favorable conditions for insurance enterprises, reinsurance enterprises, Vietnam-based foreign branches and mutual support organizations providing microinsurance to research and develop products and services, and to apply advanced technologies in insurance business activities.

3. The State shall encourage and create favorable conditions for insurance enterprises, reinsurance enterprises, Vietnam-based foreign branches and mutual support organizations providing microinsurance to invest in the economy, re-invest, and develop the insurance market.

4. The State shall encourage and create favorable conditions for the deployment of, and participation in, agricultural, forestry and fishery insurance products, microinsurance products and insurance products for social and security purposes.

Article 6. Principles of provision and use of insurance services

1. Organizations and individuals in Vietnam who have demands for insurance may only participate in insurance at insurance enterprises, branches of foreign non-life insurance enterprises, and mutual support organizations providing microinsurance licensed to establish and operate in Vietnam, except for the case of using cross-border insurance services under treaties to which the Socialist Republic of Vietnam is a contracting party.

2. The Government shall detail the provision and use of cross-border insurance services, cross-border insurance brokerage services, and cross-border insurance auxiliary services in accordance with treaties to which the Socialist Republic of Vietnam is a contracting party.

Article 7. Types of insurance

1. Types of insurance shall include:

a) Life insurance;

b) Health insurance;

c) Non-life insurance.

2. The Government shall detail insurance operations corresponding to the types of insurance specified in Clause 1 of this Article.

Article 8. Compulsory insurance

1. The compulsory insurance means a type of insurance for the purpose of protecting the public interests, the environment and social safety.

2. The compulsory insurance shall include:

a) Compulsory insurance for motor vehicle owner’s civil liability;

b) Compulsory fire and explosion insurance;

c) Compulsory insurance in construction investment activities;

d) Compulsory insurance prescribed in other laws that meets the conditions provided in Clause 1 of this Article.

3. Organizations and individuals subject to compulsory insurance shall be obliged to buy compulsory insurance and be selected to participate in compulsory insurance at insurance enterprises and branches of foreign non-life insurance enterprises that are permitted to deploy compulsory insurance.

4. Insurance enterprises and branches of foreign non-life insurance enterprises that are permitted to deploy compulsory insurance may not refuse to sell when organizations and individuals fully satisfy the conditions for purchasing compulsory insurance as prescribed by law.

5. The Government shall detail insurance conditions, premium rates and minimum insurance amounts for compulsory insurance specified in Clause 2 of this Article.

Article 9. Prohibited acts

1. Conducting insurance business, reinsurance business, reinsurance transfer, insurance brokerage activities without establishment and operation license.

2. Conducting insurance business, reinsurance business, reinsurance transfer, insurance brokerage activities not in accordance with the licensed scope.

3. Acting as an insurance agent or providing insurance auxiliary services when the operating conditions are not satisfied as prescribed by law.

4. Committing fraudulent acts including:

a) Colluding with beneficiaries to settle indemnity and pay insurance money in contravention of law;

b) Forging documents, intentionally falsifying information in dossiers of request for indemnity and insurance payment;

c) Forging documents, intentionally falsifying information to refuse indemnity or insurance payment when the insured event has occurred;

d) A person causes damage to his/her own property or health in order to enjoy insurance benefits.

5. Threatening or forcing the conclusion of insurance contracts.

Article 10. Socio-professional insurance business organizations

1. Socio-professional insurance business organizations shall be established and operate in accordance with the law on associations and be responsible for complying with the law on insurance business and subject to supervision by the Ministry of Finance.

2. Socio-professional insurance business organizations shall be responsible for promulgating a code of professional ethics, rules and standards for general application to their members; coordinate with State management agencies in charge of insurance business activities in propagating and disseminating the law on insurance business.

Article 11. Database on insurance business activities

1. The State shall invest in developing the database on insurance business activities. The Ministry of Finance shall be responsible for building, managing and operating the database on insurance business activities in order to serve State management activities, protect the legitimate rights and interests of the parties in insurance business activities.

2. Insurance enterprises, reinsurance enterprises, Vietnam-based foreign branches, insurance brokerage enterprises, organizations providing insurance auxiliary services, mutual support organizations providing microinsurance shall be responsible for providing information on the insurance buyers, the insured, objects of insurance, insurance agents and other relevant information to build the database on insurance business activities.

3. The collection, use, storage and provision of information about the database on insurance business activities must ensure confidentiality and information security, and comply with the law on protection of private life, personal secrets, family secrets and business secrets.

State agencies, other organizations and individuals must use the provided information for the proper purposes and are not allowed to provide it to a third party without the consent of the insurance buyers or the insured, except for the case of providing in accordance with the law.

4. The database on insurance business activities shall be connected to other national and specialized databases.

5. The Government shall detail the development, collection, use, storage, management and provision of information about the database on insurance business activities, the connection between the database on insurance business activities with other national and specialized databases.

Article 12. Application of information technology in insurance business activities

1. Information technology shall be applied in insurance business activities for the following purposes:

a) To improve the efficiency of insurance business activities, including insurance product development and design, risk assessment, appraisal, contract conclusion, contract management, loss assessment, settlement of indemnity and payment of insurance; corporate governance and methods of providing insurance products and services;

b) To modernize statistics and reporting; reduce administrative procedures; build information technology system and database on insurance business activities to serve the management, supervision, analysis and forecast of the insurance market and prevention and control off insurance fraud.

2. The application of information technology in insurance business activities shall comply with this Law, the law on e-transactions, information technology, cybersecurity, anti-money laundering and other relevant laws.

3. The Government shall stipulate new problems related to the application of information technology in insurance business activities.

Article 13. Requirements for application of information technology in insurance business activities

Insurance enterprises, reinsurance enterprises, Vietnam-based foreign branches, and insurance brokerage enterprises shall actively establish, maintain and operate an information technology system suitable to the scale of operation and satisfy the following minimum requirements:

1. Having a server system, software system and technical solutions to update, statistic, process and archive information to meet the requirements for management of insurance business activities and the requirements for cybersecurity and cyberinformation security;

2. Having an information technology system to facilitate the operation and control of risks of enterprises and the inspection and supervision by management agencies;

3. Having information technology solutions to prevent disasters and ensure uninterrupted business operations.

Article 14. Provision of insurance products and services on the network environment

1. Organizations and individuals permitted to provide insurance services and products on the network environment include:

a) Insurance enterprises, branches of foreign non-life insurance enterprises and mutual support organizations providing microinsurance;

b) Insurance agents;

c) Insurance brokerage enterprises.

2. Organizations and individuals providing insurance services and products on the network environment shall comply with the following regulations:

a) Insurance enterprises, branches of foreign non-life insurance enterprises, insurance brokerage enterprises and mutual support organizations providing microinsurance may choose types of providing insurance services and products on the network environment;

b) Insurance agents may only provide insurance products and services on the network environment within the scope of the insurance agency contracts;

c) Insurance enterprises, branches of foreign non-life insurance enterprises, insurance agents, insurance brokerage enterprises and mutual support organizations providing microinsurance that provide insurance services and products on the network environment shall be responsible to the insurance buyers if the provision of such insurance products or services affects the legitimate rights and interests of the insurance buyers;

d) Organizations and individuals entering into insurance contracts on the network environment shall be responsible for truthfully and accurately providing information as prescribed in Article 22 of this Law.

3. The Minister of Finance shall detail this Article.

 

Chapter II

INSURANCE CONTRACTS

 

Section 1. GENERAL PROVISIONS ON INSURANCE CONTRACTS

 

Article 15. Insurance contracts

1. Types of insurance contract shall include:

a) Life insurance contracts;

b) Health insurance contracts;

c) Property insurance contracts;

d) Damage insurance contracts;

dd) Liability insurance contracts.

Insurance contracts specified at Points c, d and dd of this Clause belong to the type of non-life insurance.

2. Insurance enterprises, branches of foreign non-life insurance enterprises and insurance buyers may reach an agreement on conclusion of a type of contract or a combination of several types of insurance contracts specified in Clause 1 of this Article and ensure compliance with Clause 3 Article 63 of this Law.

3. Maritime insurance contracts shall comply with the Maritime Code; for contents not prescribed by the Maritime Code, the provisions of this Law shall apply.

4. Contents related to insurance contracts not specified in this Law shall comply with the provisions of the Civil Code.

Article 16. Principles of conclusion and performance of insurance contracts

The conclusion and performance of insurance contracts shall comply with the basic principles of civil law and the following principles:

1. Principle of absolute honesty: the parties to insurance contracts must provide information and perform the rights and obligations in the most honest manner, on the basis of absolute trust in each other in the process of concluding and performing insurance contracts;

2. Principle of insurable interests: Insurance buyers shall have insurable interests in accordance with each type of insurance contract according to this Law;

3. Principles of indemnity: The amount of indemnity received by the insured must not exceed the actual damage in the insured event, unless otherwise agreed in the insurance contract;

4. Principle of subrogation: The insured shall be responsible for transferring to the insurance enterprise or branch of the foreign non-life insurance enterprise the right to request the third party who has caused damage to be liable for reimbursement within the insurance indemnity amounts. This principle does not apply to life insurance contracts and health insurance contracts;

5. Principle of random risk: Insurable risks must be unexpected, unforeseeable risks.

Article 17. Contents of insurance contracts

1. An insurance contract must contain the following major details:

a) Insurance buyers, the insured, the beneficiaries (if any), insurance enterprises or the branches of foreign non-life insurance enterprises;

b) The objects of insurance;

c) The sum insured or property value insured or limit of liability insured;

d) Insurance scope or benefits; insurance rules, conditions and terms;

dd) Rights and obligations of insurance enterprises, branches of foreign non-life insurance enterprises and insurance buyers;

e) The insurance duration, the effective time of insurance contracts;

g) Premium rate, mode of premium payment;

h) Mode of indemnification and insurance payment;

i) Method of dispute settlement.

2. The Minister of Finance shall detail Clause 1 of this Article for life insurance contracts and health insurance contracts.

Article 18. Form and evidence of the conclusion of insurance contracts

The insurance contracts must be made in writing. The evidence of conclusion of insurance contracts shall be the contracts, insurance certificates, insurance applications and other forms as prescribed by law.

Article 19. Provisions on exclusion of insurance liability

1. The provisions on exclusion of insurance liability shall stipulate cases where insurance enterprises and branches of foreign non-life insurance enterprises shall not have to pay indemnities or insurance money.

2. In case there are the provisions on exclusion of insurance liability, insurance enterprises and branches of foreign non-life insurance enterprises must clearly specify the provisions in insurance contracts. The insurance enterprises and branches of foreign non-life insurance enterprises must clearly and fully explain the provisions and have evidence to confirm that insurance buyers have been fully explained and understood when the contracts are made.

3. In case there is a force majeure event or an objective obstacle that leads to the insurance buyers’ delay in notifying the insured event, insurance enterprises and branches of foreign non-life insurance enterprises are not allowed to apply the provisions on exclusion of insurance liability for the late notification.

Article 20. Rights and obligations of insurance enterprises and branches of foreign non-life insurance enterprises

1. Insurance enterprises and branches of foreign non-life insurance enterprises shall have the following rights:

a) To collect premiums as agreed upon in the insurance contract;

b) To request the insurance buyer to fully and honestly supply information relating to the conclusion and performance of the insurance contract;

c) To cancel the insurance contracts according to the provisions in Clause 2 Article 22 or unilaterally suspend the performance of the insurance contracts according to the provisions in Article 26 of this Law;

d) To decline to pay the insurance money or to pay indemnity for cases outside the scope of insurance liability or cases of exclusion of insurance liability as agreed upon in the insurance contract;

dd) To request the insurance buyer to take measures to prevent or limit losses according to the provisions of this Law and other relevant law provisions;

e) To request the third party to refund the insurance money which the insurance enterprise or branch of the foreign non-life insurance enterprise has indemnified the insured for the losses caused by the third party to the property, economic interests or obligations to perform a contract or obligations under the law and civil liability;

g) Other rights prescribed by law.

2. Insurance enterprises and branches of foreign non-life insurance enterprises shall have the following obligations:

a) To provide insurance buyers with an insurance request, a questionnaire related to the insured risk, the insured object, the insurance rules, conditions and terms;

b) To explain clearly and fully to insurance buyers about the insurance benefits, the provisions of exclusion of insurance liability, the rights and obligations of insurance buyers when entering into insurance contracts;

c) To provide insurance buyers with evidence of the conclusion of insurance contracts specified in Article 18 of this Law;

d) To issue insurance premium receipts to insurance buyers as agreed in insurance contracts and relevant laws;

dd) To indemnify and pay insurance money when insured events occur;

e) To explain in writing the reasons for declining to pay the insurance money or the indemnity;

g) To coordinate with the insurance buyer in settling the third party's claim for compensation for the losses which fall under the insured liability when the insured event occurs;

h) To archive insurance contract dossiers in accordance with the law;

i) To maintain confidentiality of information provided by insurance buyers or the insured, except at the request of competent state agencies or with the consent of insurance buyers or the insured;

k) Other obligations prescribed by law.

Article 21. Rights and obligations of the insurance buyers

1. Insurance buyers shall have the following rights:

a) To choose insurance enterprises or branches of foreign non-life insurance enterprises for the conclusion of insurance contracts;

b) To request insurance enterprises or branches of foreign non-life insurance enterprises to provide an insurance request, a questionnaire related to the insured risk, the insured object, the insurance rules, conditions and term, and the explanation of the insurance conditions and terms;

c) To request insurance enterprises and branches of foreign non-life insurance enterprises to provide evidence of the conclusion of insurance contracts specified in Article 18 of this Law;

d) To request insurance enterprises and branches of foreign non-life insurance enterprises to issue insurance premium receipts as agreed in insurance contracts and relevant laws;

dd) To cancel insurance contracts specified in Clause 3 Article 22 and Article 35 or unilaterally suspend the performance of insurance contracts according to the provisions in Article 26 of this Law;

e) To request insurance enterprises and branches of foreign non-life insurance enterprises to pay the insurance money or the indemnity when the insured event occurs;

g) To transfer the insurance contract as agreed upon in the insurance contract or under the provisions of law;

h) Other rights prescribed by law.

2. Insurance buyers shall have the following obligations:

a) To declare fully and honestly all information related to insurance contracts at the request of insurance enterprises or branches of foreign non-life insurance enterprises;

b) To clearly understand the insurance conditions and terms, the rights and obligations of insurance buyers when entering into insurance contracts and other contents of the insurance contracts;

c) To pay premiums fully, according to time limits as agreed upon in the insurance contract;

d) To notify cases to insurance enterprises or branches of foreign non-life insurance enterprises where risks may increase or decrease, or additional liability of insurance enterprises or branches of foreign non-life insurance enterprises may arise in the course of performing the insurance contract as agreed upon in the insurance contract;

dd) To notify insurance enterprises or branches of foreign non-life insurance enterprises of the occurrence of the insured event as agreed upon in the insurance contract; to coordinate with insurance enterprises and branches of foreign non-life insurance enterprises in loss assessment;

e) To apply measures to prevent or limit losses according to the provisions of this Law and other relevant law provisions;

g) Other obligations prescribed by law.

Article 22. Liability and legal consequences of breaching the obligation to provide information

1. When entering into insurance contracts, the insurance enterprises and branches of foreign non-life insurance enterprises shall be responsible for fully and accurately providing information on the insurance contracts, explaining insurance conditions and terms to the insurance buyers; the insurance buyers shall be responsible for fully and honestly providing information related to the objects of insurance to the insurance enterprises and branches of foreign non-life insurance enterprises.

2. In case insurance buyers intentionally provide incomplete information or provide untruthful information in order to enter into insurance contracts to receive indemnity and insurance money, insurance enterprises or branches of insurance enterprises shall have the right to cancel insurance contracts. Insurance enterprises or branches of insurance enterprises shall not be required to indemnify or pay insurance money and must return the premium to the insurance buyers after deducting reasonable expenses (if any) as agreed in the insurance contract. The insurance buyers must indemnity for the damage incurred to the insurance enterprises or branches of foreign non-life insurance enterprises (if any).

3. Where insurance enterprises or branches of foreign non-life insurance enterprises intentionally fail to fulfill obligation to provide information or provide untruthful information with a view to entering into insurance contracts, the insurance buyers may cancel the insurance contracts and get refunds of premiums paid. The insurance enterprises and branches of foreign non-life insurance enterprises shall have to pay compensation for the damage caused to the insurance buyers (if any).

Article 23. Changes in degrees of insured risks

1. When there appear changes in the factors used as a basis for premium calculation, thus leading to the reduction in the insured risks, based on the agreement in the insurance contract, the insurance buyers may request the insurance enterprises or branches of foreign non-life insurance enterprises to perform one of the following:

a) To reduce the premiums for the remaining periods of the insurance contracts;

b) To increase the insured sum for the remaining periods of the insurance contracts;

c) To extend the insurance duration;

d) To extend the insurance scope for the remaining periods of the insurance contracts.

2. In case where the insurance enterprises or branches of foreign non-life insurance enterprises refuse to accept the request in Clause 1 of this Article, the insurance buyers may unilaterally terminate the performance of the insurance contracts, but have to immediately notify such in writing to the insurance enterprises or branches of foreign non-life insurance enterprises.

3. When there appear changes in the factors used as a basis for premium calculation, thus leading to the increase in the insured risks, based on the agreement in the insurance contract, the insurance enterprises and branches of foreign non-life insurance enterprises may perform one of the following:

a) To recalculate the premium for the remaining periods of the insurance contracts;

b) To reduce the insured sum for the remaining periods of the insurance contracts;

c) To shorten the insurance duration;

d) To narrow the insurance scope for the remaining periods of the insurance contracts.

4. Where the insurance buyers refuse to accept the request in Clause 3 of this Article, the insurance enterprises or branches of foreign non-life insurance enterprises may unilaterally terminate the performance of the insurance contracts, but shall have to immediately notify such in writing to the insurance buyers.

Article 24. Interpretation of insurance contracts

In case where an insurance contract contains ambiguous clauses, thus leading to different interpretations, such clauses shall be interpreted in favor of the insurance buyer.

Article 25. Null and void insurance contracts

1. An insurance contract shall become null and void in the following cases:

a) The insurance buyer has no interests which can be insured at the time of entering into the insurance contract;

b) The object of insurance no longer exists at the time of entering into the insurance contract;

c) The insurance buyer, at the time of entering into the insurance contract, knows the insured event has already occurred;

d) The purpose and content of the insurance contract violate the prohibition of the law and are contrary to social ethics;

dd) Insurance enterprises, branches of foreign non-life insurance enterprises and insurance buyers enter into fake insurance contracts;

e) The insurance buyers are minors; persons who lose their civil act capacity; persons who have difficulty in perceiving and controlling their acts; or persons who have limited civil act capacity;

g) An insurance contract is entered into with a mistake that causes one or the parties to fail to achieve the purpose of entering into the contract, except where the purpose of entering into the contract of the parties has been achieved or the parties can immediately remedy the confusion so that the purpose of entering into the contract is still achieved;

h) An insurance contract is entered into due to deception, except for the case specified in Article 22 of this Law;

i) An insurance contract is entered into due to intimidation or coercion;

k) The insurance buyer is not aware of, or controls his/her behavior when entering into an insurance contract;

l) An insurance contract fails to comply with the regulations on form specified in Article 18 of this Law.

2. When an insurance contract becomes null and void, the contract is invalid from the time of entering into the insurance contract. Insurance enterprises, branches of foreign non-life insurance enterprises and insurance buyers shall return to each other what they have received. The party at fault causing damage must indemnity.

Article 26. Unilateral termination of the performance of insurance contracts

Insurance enterprises, branches of foreign non-life insurance enterprises or insurance buyers may unilaterally terminate the performance of insurance contracts in the following cases:

1. Insurance buyers fail to pay the premium or fail to fully pay the premium within the time limit as agreed upon in the insurance contract or after the extended time limit for premium payment;

2. Insurance enterprises, branches of foreign non-life insurance enterprises, and insurance buyers refuse to accept the requests for changes in degrees of insured risks specified in Article 23 of this Law;

3. The insured fails to take measures to ensure the safety of the object of insurance specified in Clause 3 Article 55 of this Law;

4. Insurance buyers refuse to transfer the list of insurance contracts specified in Clause 4 Article 92 of this Law.

Article 27. Legal consequences of the unilateral termination of the performance of insurance contracts

1. In case of unilaterally terminating the performance of insurance contracts specified in Clause 1 Article 26 of this Law, the following procedures shall be followed:

a) The insurance buyer shall still have to fully pay the premium to the time of unilaterally terminating the performance of an insurance contract. This provision shall not apply to life insurance contracts, health insurance contracts, except for group insurance contracts;

b) For life insurance contracts and health insurance contracts, insurance enterprises or branches of foreign non-life insurance enterprise shall be responsible for paying insurance premiums to the insured when the insured event occurs before the time of unilaterally terminating the performance of insurance contracts and may deduct the premium to the time of unilaterally terminating the performance of insurance contracts;

c) For property insurance contracts, damage insurance contracts and liability insurance contracts, insurance enterprises or branches of foreign non-life insurance enterprise shall be responsible for indemnifying the insured when the insured event occurs before the time of unilaterally terminating the performance of the insurance contract and may deduct premiums as agreed in the insurance contract.

2. In case of unilaterally terminating the performance of insurance contracts specified in Clauses 2 and 3 Article 26 of this Law, insurance enterprises or branches of foreign non-life insurance enterprises shall be responsible for refunding the premium paid for the remaining period of the insurance contracts as agreed in the insurance contracts. Insurance enterprises or branches of foreign non-life insurance enterprises shall be responsible for indemnifying and paying insurance money amounts as agreed in insurance contracts when the insured event occurs before the time of unilaterally terminating the performance of insurance contracts.

3. In case of unilaterally terminating the performance of insurance contracts specified in Clauses 1 and 2 Article 26 of this Law, for a life insurance contract with a refundable value, insurance enterprises shall pay insurance buyers the refundable value of insurance contracts, unless otherwise agreed by the parties.

4. In case of unilaterally terminating the performance of insurance contracts specified in Clause 4 Article 26 of this Article, insurance buyers shall be entitled to receive the refundable value or premium paid in proportion to the remaining period of insurance contracts in accordance with each insurance product. Where the property value is lower than the professional reserves of the transferred insurance contract list, the amount of money the insurance buyers receive back shall be calculated on the basis of the ratio between the property value and the professional reserves of the transferred insurance contract list.

Article 28. Transfer of insurance contracts

1. The insurance buyer may transfer the insurance contract. For life insurance contracts, the transfer must be agreed in writing by the insured or the insured's legal representative.

2. The transferee of an insurance contract must have insurable interests and inherit the rights and obligations of the transferor.

3. The transfer of an insurance contract shall be only effective when the insurance buyer gives a written notice and is agreed in writing by the insurance enterprise or branch of foreign non-life insurance enterprise, unless the transfer is made according to international practice or as agreed in the insurance contract.

Article 29. Liability in case of reinsurance

1. The insurance enterprises and branches of foreign non-life insurance enterprises shall be responsible only to the insurance buyers under the insurance contracts, including cases of reinsurance of the insured liabilities. Insurance enterprises and branches of foreign non-life insurance enterprises are not allowed to refuse or delay in performing their responsibilities towards the insurance buyers, even if the reinsurance enterprises or organizations fail to fulfill the obligation to pay reinsurance for the received liabilities.

2. The reinsurance enterprises or organizations must not demand the insurance buyers pay the premiums directly to them, except otherwise agreed upon in the insurance contracts.

3. The insurance buyers must not demand the reinsurance enterprises or organizations pay the insurance money or indemnities to them, except otherwise agreed upon in the insurance contracts.

Article 30. Time limit for submission of dossiers claiming insurance money or indemnities

1. The time limit for submission of dossiers claiming insurance money or indemnities under insurance contracts shall be one year from the date the insured event occurs. The time of occurrence of force majeure events or objective obstacles shall be not included in the time limit for submission of dossiers claiming insurance money or indemnities.

2. Where the insured or the beneficiary can prove that he/she does not know the time when the insured events occur, the time limit prescribed in Clause 1 of this Article shall be counted from the date the insurance buyer or beneficiary knows the occurrence of such insured events.

3. Where the third party demands the insurance buyer compensate for damage covered by the insurance as agreed upon in the insurance contract, the time limit prescribed in Clause 1 of this Article shall be counted from the date the third party so demands.

Article 31. Time limit for payment of indemnities or insurance money

1. Upon the occurrence of insured events, insurance enterprises or branches of foreign non-life insurance enterprises shall have to pay the insurance money or indemnities within the time limit already agreed upon in the insurance contracts. In case of the absence of the agreement on such time limit, the insurance enterprises or branches of foreign non-life insurance enterprises shall have to pay the insurance money or indemnities within 15 days from the date of receiving complete and valid dossiers claiming insurance money or indemnities.

2. In case of delay in indemnities and insurance payment as prescribed in Clause 1 of this Article, insurance enterprises or branches of foreign non-life insurance enterprises shall pay interest on the late payment amount corresponding to the late payment period. The interest rate for the late payment amount shall be determined according to the agreement between the parties in accordance with the provisions of the Civil Code.

Article 32. Method of dispute settlement

Disputes over insurance contracts shall be settled through negotiation between the parties. In case of failure to negotiate, the disputes shall be resolved through conciliation or an arbitration or court as agreed in insurance contracts and provisions of law.

 

Section 2. LIFE INSURANCE CONTRACTS AND HEALTH INSURANCE CONTRACTS

 

Article 33. Objects of life insurance contracts and health insurance contracts

1. The objects of life insurance contracts shall be the human age and life.

2. The objects of health insurance contracts shall be the human health.

Article 34. Insurable interests of life insurance contracts and health insurance contracts

1. The insurance buyers shall have interests that can be insured for the following persons:

a) The insurance buyers themselves;

b) Their spouses, children and/or parents;

c) Their blood brothers and sisters; person with ties of fostering and financial support;

d) Persons having financial interests or labor relations with the insurance buyers;

dd) The insured agrees in writing for the insurance buyer to buy health insurance.

2. At the time of entering into an insurance contract, the insurance buyer shall have insurable interests.

Article 35. Duration to consider participating in insurance

For insurance contracts with a term of more than 1 year, within 21 days from the date of receiving the insurance contract, the insurance buyer may refuse to continue participating in insurance. In case the insurance buyer refuses to continue participating in insurance, the insurance contract shall be canceled and the insurance buyer shall be refunded the premium paid after deducting reasonable expenses (if any) as agreed in the insurance contract. Insurance enterprises shall not be required to indemnify or pay insurance premiums when the insured event occurs.

Article 36. Temporary insurance in life insurance

Insurance enterprises shall issue temporary insurance to insurance buyers from the time of receiving the insurance claim and the provisional premium of the insurance buyers. The time limit, insured sum, and temporary insurance conditions shall be agreed upon by insurance enterprises and insurance buyers. Temporary insurance shall end after insurance enterprises accept or refuse insurance or other cases as agreed.

Article 37. Payment of life insurance premiums

1. The insurance buyers may pay the insurance premiums in lump sum or in installments according to the time limit and mode agreed upon in the insurance contracts.

2. Where the insurance premiums are paid in installments and the insurance buyers have already paid the premiums in one or several installments but cannot further pay the insurance premiums in subsequent installments, the time limit for premium payment may be extended for a duration of 60 days.

3. The parties may agree to restore the effect of insurance contracts already unilaterally terminated from their performance as provided for in Clause 1 Article 26 of this Law within two years from the date the contracts are terminated and the insurance buyers have already paid the outstanding insurance premium amounts.

4. Where the insurance buyer fails to pay or fails to fully pay the premium, the insurance enterprise may not arbitrarily deduct the premium from the refundable value of the insurance contract without the consent of the insurance buyer and may not sue the insurance buyer to pay the insurance premium. This provision shall not be applicable to group insurance.

Article 38. Not entitled to demand refund by the third party

Where the insured dies, gets disable or sick as a direct or indirect result of the third party's acts, the insurance enterprises and branches of foreign non-life insurance enterprises shall still be obliged to indemnify or repay the insurance money amount but have no right to demand the third party refund the money amount already paid to the beneficiary. The third party shall have to indemnify the insured according to the provisions of law.

Article 39. Entering into life insurance contracts or health insurance contracts for the case of other persons’ death

1. When the insurance buyers enter into life insurance or health insurance contracts for case of other persons' death, they must get the latter's written consents clearly inscribing the insured sum and the beneficiary thereof.

2. Life insurance contracts and health insurance contracts for the death of the following persons are not allowed to be entered into:

a) Minors, except where it is agreed in writing by the fathers, mothers or guardians of such persons;

b) Persons who have lost their civil act capacity;

c) Persons who have difficulty in perceiving and controlling their acts;

d) Persons who have a limited civil act capacity.

Article 40. Cases of non-indemnity or non-payment of insurance money

1. Insurance enterprises or branches of foreign non-life insurance enterprises shall not have to indemnify or pay the insurance money in the following cases:

a) The insured dies of suicide within two years counting from the date the first sum of insurance premium is paid or from the date the insurance contract restores the effect;

b) The insured dies due to the intentional fault of the insurance buyer or the intentional fault of the beneficiary, except for the cases specified in Clause 2 of this Article;

c) The insured suffers from infirmity due to the intentional fault of the insured or the insurance buyer, or the intentional fault of the beneficiary, except for the cases specified in Clause 2 of this Article;

d) The insured dies due to the execution of death sentence;

dd) Other cases as agreed in the insurance contract.

2. Where there are multiple beneficiaries, if one or several beneficiaries intentionally cause death or infirmity to the insured, the insurance enterprise or branches of foreign non-life insurance enterprises shall still have to indemnify, pay the insurance money to other beneficiaries as agreed upon in the insurance contract.

3. For cases prescribed in Clause 1 of this Article, the insurance enterprises or branches of non-life insurance enterprises shall have to return to the insurance buyers the value of the insurance contracts or the entire paid premium amounts after subtracting the reasonable expenses (if any) as agreed in the insurance contract, except for the cases specified in Clause 2 of this Article. If the insurance buyer dies, the returned amount shall be handled according to the law on inheritance.

Article 41. Designation and change of beneficiaries

1. The insurance buyers may designate beneficiaries, except for group insurance contracts. Where the insurance buyer is not the insured, the insurance buyer must obtain the written consent of the insured when designating the beneficiary; where the insured is underage or has lost his/her civil act capacity or has difficulties in cognition and behavior control or has limited civil act capacity, the designation of the beneficiary must be approved by the legal representative.

2. Where there are multiple beneficiaries, the persons entitled to designate beneficiaries under this Law may determine the order or proportion of the beneficiaries. Where the order or proportion of benefits are not determined, all the beneficiaries shall be entitled to benefit in the same proportion.

3. The insurance buyer may change the beneficiary but must obtain the written consent of the insured and notify in writing the insurance enterprise or branch of the foreign non-life insurance enterprise. In case the insured is underage or has lost his/her civil act capacity or has difficulties in cognition and behavior control or has limited civil act capacity, the change of beneficiary shall be approved by the legal representative. Insurance enterprises and branches of foreign non-life insurance enterprises shall certify in insurance contracts or other documents attached to insurance contracts after receiving the notification of the insurance buyers.

Article 42. Group insurance contracts

1. A group insurance contract means an agreement between the insurance buyer and insurance enterprise or branch of foreign non-life insurance enterprise to insure the insured in the group participating in insurance in the same insurance contract.

2. A group participating in insurance contracts must be a group that has been formed not for the purpose of participating in insurance.

3. The insurance buyer and the insured may agree to jointly pay the premium.

4. The insured may designate beneficiaries for the case of the insured's death.

5. The insurance buyers and insurance enterprises or branches of foreign non-life insurance enterprises may amend and supplement group insurance contracts in the following cases:

a) When at least an insured is no longer a member of the group;

b) The premium for each insured person is not paid as agreed in insurance contracts;

c) Other cases as agreed in insurance contracts.

6. Apart from the contents specified in Article 17 of this Law, a group insurance contract must contain the following contents:

a) Conditions for participation in insurance for the insured;

b) Conditions and procedures for change to an individual insurance contract.

 

Section 3. PROPERTY INSURANCE CONTRACTS AND DAMAGE INSURANCE CONTRACTS

 

Article 43. Objects of property insurance contracts and damage insurance contracts

1. Objects of property insurance contracts are property according to the provisions of the Civil Code.

2. Objects of damage insurance contracts are any economic benefits or performance obligations or legal obligations incurred by the insured when the loss occurs.

Article 44. Insurable interests of property insurance contracts and damage insurance contracts

1. For a property insurance contract, the insurance shall be considered having insurable interests when he/she owns or has other rights over such property; or has ownership and use rights other than those belong to the property owner.

2. For a damage insurance contract, the insurance shall be considered having insurable interests when he/she has financial benefits; financial obligations and responsibilities; economic damages toward the objects of insurance.

3. When the loss occurs, the insurance buyer or the insured must have insurable interests.

Article 45. Insured sum

The insured sum shall be agreed upon by the insurance buyers and the insurance enterprises or branches of foreign non-life insurance enterprises in the insurance contracts to insure property and damage at the request of the insurance buyers in accordance with this Law.

Article 46. Notification of the occurrence of the insured events

1. The insurance buyers shall notify the insurance enterprises or branches of foreign non-life insurance enterprises when knowing that the insured event occurs within the time limit agreed upon in the insurance contracts. In case the insurance buyer fails to perform or delays to perform this obligation, the insurance enterprises or branches of foreign non-life insurance enterprises may deduct the indemnity amount corresponding to the damage suffered by the insurance enterprises or branches of foreign non-life insurance enterprises, except for the force majeure events or objective obstacles.

2. The insurance enterprises or branches of foreign non-life insurance enterprises may not apply the provisions of Clause 1 of this Article if the insurance contracts do not have an agreement on the insurance buyer's liability, sanctions for failure to perform or the late notification of the occurrence of the insured events.

Article 47. Over-value property insurance contracts

1. Over-value property insurance contracts mean contracts in which the insured sums are higher than the market prices of the insured property at the time of entering into contracts. The insurance enterprises, branches of foreign non-life insurance enterprises and insurance buyers are not allowed to intentionally enter into over-value property insurance contracts.

2. In case the over-value property insurance contracts are concluded due to unintentional faults of the insurance buyer, the following procedures shall be followed:

a) If the insured event has not occurred, insurance enterprises or branches of foreign non-life insurance enterprises must return to the insurance buyer the already paid insurance premium amount corresponding to the insured sum in excess of the market price of the insured property at the time of entering into the contracts, after subtracting relevant reasonable expenses (if any) as agreed in the insurance contracts;

In cases where the insured event occurs, insurance enterprises or branches of foreign non-life insurance enterprises shall only have to pay indemnities for the damage corresponding to the market price of the insured property at the time the damage occurs, and return to the insurance buyer the already paid insurance premium amount corresponding to the insured sum in excess of the market price of the insured property at the time of entering into the contracts, after subtracting relevant reasonable expenses (if any) as agreed in the insurance contracts.

Article 48. Under-value property insurance contracts

1. The under-value property insurance contracts mean contracts in which the insured sums are lower than the market prices of the insured property at the time of concluding the contracts.

2. Where an under-value property insurance contract is concluded, the insurance enterprises or branches of foreign non-life insurance enterprises shall have to pay the indemnities according to the proportion between the insured sum and the market price of the insured property at the time of conclusion or agreement in the insurance contract.

Article 49. Coincident insurance contracts

1. A coincident insurance contract is the case where there are two or more insurance contracts to insure the same scope, objects, with the same duration and insured event in which the total insured sum exceeds the market price of the insured property at the time of entering into the insurance contract.

2. In case where parties enter into a coincident insurance contract, when the insured event occurs, the indemnity amounts of each insurance contract shall be calculated according to the proportion of the insured sum agreed upon against the total insured sums of all contracts concluded by the insurance buyer. The total sum of indemnities of the insurance contracts shall not exceed the value of actual damage caused to the property.

Article 50. Damage due to natural tear and wear or inherent nature of the property

Insurance enterprises or branches of foreign non-life insurance enterprises shall not bear responsibility for indemnity in cases where the insured property is damaged due to natural tear and wear or their inherent nature, unless otherwise agreed upon in the insurance contracts.

Article 51. Bases for indemnity

1. The indemnity amounts which the insurance enterprises or branches of foreign non-life insurance enterprises have to pay to the insured shall be determined on the basis of the market prices of the insured property at the time when and the place where the damage is caused and the actual damage extent, unless otherwise agreed upon in the insurance contracts. The expenses for determining the market prices and damage extent shall be borne by the insurance enterprises or branches of foreign non-life insurance enterprises.

2. The indemnity amounts to be paid by the insurance enterprises or branches of foreign non-life insurance enterprises to the insured shall not exceed the insured sums, unless otherwise agreed upon in the insurance contracts.

3. Apart from the indemnity amounts, the insurance enterprises and branches of foreign non-life insurance enterprises shall also have to pay to the insured necessary and reasonable expenses as agreed in the insurance contracts for the loss prevention and limitation as well as arising expenses incurred by the insurance buyer or the insured to follow the instructions of the insurance enterprises and branches of foreign non-life insurance enterprises.

Article 52. Forms of indemnity

1. The insurance buyers and the insurance enterprises, branches of foreign non-life insurance enterprises may agree on one of the following indemnity forms:

a) Repairing the damaged property;

b) Replacing the damaged property with other property;

c) Paying indemnity money.

2. Where the insurance enterprises, branches of foreign non-life insurance enterprises and the insurance buyers cannot reach an agreement on indemnity forms, the compensation shall be made in money.

3. Where the indemnity is made according to the provisions at Points b and c, Clause 1 of this Article, the insurance enterprises, branches of foreign non-life insurance enterprises may recover the damaged property after they are replaced or fully compensated at the market prices.

Article 53. Expertise of damage

1. Upon the occurrence of the insured events, the insurance enterprises, branches of foreign non-life insurance enterprises or persons authorized by the insurance enterprises, branches of foreign non-life insurance enterprises shall carry out the expertise in order to determine the cause and extent of the damage. The expenses for expertise of damage shall be borne by the insurance enterprises or branches of foreign non-life insurance enterprises.

2. Where the parties cannot reach agreement on the cause and extent of the damage, they can hire independent experts, except otherwise agreed upon in the insurance contracts. Where the parties cannot reach an agreement on hiring independent experts, one of the parties may request a competent court or arbitrator to invite for independent experts. The conclusions made by the independent experts shall be binding on all parties.

Article 54. Transfer of the right to request refunds

1. When the insured event occurs, in case the third party is responsible for indemnification due to the act of causing damage to the insured, the following actions shall be taken:

a) After the insurance enterprises or branches of foreign non-life insurance enterprises pay the indemnity, the insured shall be responsible for transferring to the insurance enterprises, branches of foreign non-life insurance enterprises the right to request the third party to to indemnify the money amount that the enterprises have indemnified;

b) The insurance enterprises or branches of foreign non-life insurance enterprises may deduct the indemnity sum depending on the degree of fault committed by the insured, if the insured refuses to transfer such right to the third party to indemnify.

2. When the insurance enterprises, branches of foreign non-life insurance enterprises exercise the right to request refunds to a third party, the insured shall be responsible for providing the insurance enterprises or branches of foreign non-life insurance enterprises with necessary documents and relevant information as agreed in the insurance contracts.

3. The insurance enterprises and branches of foreign non-life insurance enterprises are not allowed to request fathers, mothers, spouses, offspring, siblings of the insured to refund the sums they have paid to the insured, except for the cases where these persons intentionally cause the damage.

Article 55. Regulations on safety

1. The insured must abide by the regulations on fire prevention and fighting, on labor safety, labor hygiene and other relevant law provisions in order to ensure safety for the insurance objects.

2. The insurance enterprises and branches of foreign non-life insurance enterprises may inspect the conditions to ensure safety for insurance objects or propose, request the insured to apply measures to prevent and limit risks.

3. Where the insured fails to take measures to ensure safety for the insurance objects, the insurance enterprises and branches of foreign non-life insurance enterprises may set a time limit for the insured to apply such measures. If past such time limit, the safety measures have not yet been applied, the insurance enterprises and branches of foreign non-life insurance enterprises may raise the insurance premiums or unilaterally suspend the performance of the insurance contracts.

Article 56. Not to abandon insured property

In cases where damage is caused, the insured are not allowed to abandon the insured property and must take all necessary measures to prevent or minimize the damage, unless otherwise provided for by law or agreed upon by the parties.

 

Section 4. LIABILITY INSURANCE CONTRACTS

 

Article 57. Objects of liability insurance contracts

Subject of liability insurance contracts shall be the insured's civil liability toward the third party as prescribed by law.

Article 58. Responsibility of insurance enterprises and branches of foreign non-life insurance enterprises

1. Responsibility of insurance enterprises and branches of foreign non-life insurance enterprises shall arise only if the third party requests the insured to pay compensations for damage caused due to the insured’s fault to the third party during the insurance duration.

2. The third party shall not be entitled to directly request the insurance enterprises and branches of foreign non-life insurance enterprises to pay the indemnities, unless otherwise provided for by law.

Article 59. Limits of insured liability

1. Limits of insured liability mean the amounts the insurance enterprises and branches of foreign non-life insurance enterprises have to pay to the insured as agreed in insurance contracts.

2. Within the limits of the insurance liability, the insurance enterprises and branches of foreign non-life insurance enterprises shall have to pay the insured the amounts which, under the provisions of law, the insured has to indemnify the third party.

3. Apart from paying the indemnities as provided for in Clause 2 of this Article, the insurance enterprises and branches of foreign non-life insurance enterprises shall also have to pay for expenses related to the settlement of disputes over the liability for the third party and the interests to be paid to the third party as the insured defer the payment of compensation under the instructions of the insurance enterprises and branches of foreign non-life insurance enterprises.

4. The total indemnities of the insurance enterprises and branches of foreign non-life insurance enterprises as prescribed in Clauses 2 and 3 of this Article shall not exceed the limits of insured liability, except otherwise agreed upon in the insurance contracts.

5. Where the insured have to pay deposits or collateral in order to have the property not kept in custody or to avoid lawsuits at courts, the insurance enterprises and branches of foreign non-life insurance enterprises, at the request of the insured and according to the agreement in the insurance contracts, shall have to provide guarantee or collateral within the limits of the insured liability.

Article 60. Right to represent the insured

The insurance enterprises and branches of foreign non-life insurance enterprises may represent the insured in negotiations with the third party on the levels of compensation for damage, except otherwise agreed upon in the insurance contracts.

Article 61. Mode of indemnification

At the insured's request, the insurance enterprises and branches of foreign non-life insurance enterprises may pay indemnities directly to the insured or the victims being the third party.

 

Chapter III.

INSURANCE ENTERPRISES, REINSURANCE ENTERPRISES AND VIETNAM-BASED FOREIGN BRANCHES

 

Section 1. ESTABLISHMENT AND OPERATION LICENSES

 

Article 62. Operational forms of insurance enterprises and reinsurance enterprises

1. Joint-stock company.

2. Limited liability company.

Article 63. Operation contents of insurance enterprises, reinsurance enterprises and Vietnam-based foreign branches

1. Operation contents of insurance enterprises and branches of foreign non-life insurance enterprises include:

a) Insurance business, reinsurance business and reinsurance transfer;

b) Fund management and capital investment from insurance business activities;

c) Provision of insurance auxiliary services;

d) Other activities directly related to insurance business activities.

2. Contents of operation of reinsurance enterprises and branches of foreign reinsurance enterprises include:

a) Reinsurance business and reinsurance transfer;

b) Fund management and capital investment from reinsurance business activities;

c) Other activities directly related to reinsurance business activities.

3. Insurance enterprises and branches of foreign non-life insurance enterprises shall be only permitted to conduct business in a type of insurance specified in Clause 1 Article 7 of this Law, except for the following cases:

a) Life insurance enterprises conduct health insurance business;

b) Non-life insurance enterprises and branches of foreign non-life insurance enterprises engaged in the business of health insurance products with a term of 1 year or less and death risk insurance products with a term of 1 year or less;

c) Health insurance enterprises engaged in the business of death risk insurance products with a term of 1 year or less.

Article 64. General conditions for grant of establishment and operation licenses for insurance enterprises and reinsurance enterprises

1. Conditions on founding shareholders and capital-contributing members:

a) Organizations and individuals have the right to establish and manage enterprises in Vietnam in accordance with the Law on Enterprises;

b) Organizations which have legal status and are operating lawfully must operate profitably in the latest 3 consecutive financial years up to the time of submitting the application dossiers for grant of licenses and satisfy the financial conditions prescribed by the Government, in case of contributing 10% or more of the charter capital;

c) Insurance enterprises and reinsurance enterprises that have been granted establishment and operation licenses in Vietnam and contribute capital to establish new insurance enterprises, reinsurance enterprises must operate profitably in the latest 3 consecutive financial years up to the time of submitting the application dossiers for grant of licenses and satisfy the capital adequacy ratio as prescribed by this Law.

2. Condition on capital:

a) The charter capital shall be contributed in Vietnamese dong and not less than the minimum amount prescribed by the Government;

b) Founding shareholders and capital-contributing members may not use borrowed capital or investment trust capital of other organizations or individuals to contribute capital.

3. Condition on human resources: Having the Chairperson of the Board of Directors or the Chairperson of the Member’s Council, the Director or General Director, the legal representative, an actuary who is expected to meet the conditions and standards on management capacity, experience and professional expertise specified in Article 81 of this Law.

4. Having operational forms in accordance with this Law and having a draft charter in accordance with the Law on Enterprises.

Article 65. Conditions for founding capital-contributing members of insurance enterprises and reinsurance enterprises in the form of limited liability companies

Founding capital-contributing members of insurance enterprises and reinsurance enterprises in the form of limited liability companies must be organizations satisfying the general conditions specified in Article 64 of this Law and the following conditions:

1. Conditions for organizations established under foreign laws:

a) Being insurance enterprises, reinsurance enterprises, foreign financial or insurance groups;

b) Being certified by foreign competent authorities that the insurance enterprises, reinsurance enterprises, foreign financial or insurance groups have not seriously violated the provisions of the law on insurance business of the countries where the enterprises are headquartered within 3 consecutive years up to the time of submitting application dossiers for grant of licenses;

c) The proposed field of application for grant of permit to perform in Vietnam is the field in which insurance enterprises, reinsurance enterprises, foreign financial or insurance groups are directly engaged or have subsidiaries to perform for at least the last 7 consecutive years;

d) Having total property of not less than USD 2 billion in the year immediately preceding the year in which application dossiers for grant of establishment and operation licenses are submitted;

dd) Committing to support in finance, technology, corporate governance, risk management, executive and operations for insurance enterprises and reinsurance enterprises to be established in Vietnam; ensuring that the insurance enterprises and reinsurance enterprises shall comply with regulations on financial safety and risk management in accordance with this Law;

d) Insurance enterprises, reinsurance enterprises, foreign financial or insurance groups meeting the conditions specified at Points b, c, d and dd of this Clause may authorize subsidiaries specializing in offshore investment to establish insurance enterprises or reinsurance enterprises in Vietnam. Subsidiaries specializing in offshore investment must satisfy the conditions specified at Point d of this Clause;

2. Conditions for economic organizations established under Vietnamese laws: Having total property not less than VND 2,000 billion in the year immediately preceding the year in which application dossiers for permits are submitted;

3. Pursuant to the provisions of Point d Clause 1 and Clause 2 of this Article, the Government shall specify the minimum total property level applicable to each period.

Article 66. Conditions on structure of founding capital-contributing members of insurance enterprises and reinsurance enterprises in the form of joint-stock companies

The establishment of insurance enterprises or reinsurance enterprises in the form of joint-stock companies must satisfy the general conditions specified in Article 64 of this Law and the following conditions:

1. There are at least 2 institutional shareholders and each shareholder meets the following conditions:

a) Contributing 10% or more of the charter capital of the insurance enterprise or reinsurance enterprise;

b) The conditions specified in Article 65 of this Law;

2. An individual shareholder may not contribute more than 10% of the charter capital of the insurance enterprise or reinsurance enterprise.

Article 67. Conditions for being granted of establishment and operation licenses for Vietnam-based foreign branches

1. When establishing a branch in Vietnam, foreign non-life insurance enterprises and foreign reinsurance enterprises must satisfy the following conditions:

a) Having head-office in the country that has signed treaties with Vietnam, including an agreement on the establishment of Vietnam-based foreign branches; the State management agency in charge of foreign insurance of the country where the enterprise's head office is located has signed an international agreement with the Ministry of Finance of Vietnam on management and supervision of operations of the branches;

b) Being licensed to establish a branch in Vietnam to operate within the approved scope of insurance operations by the State management agency in charge foreign insurance of the country where the enterprise's head office is located;

c) Having at least 7 years of experience in the field expected to request for grant of licenses in Vietnam;

d) Having the total property at least satisfying the conditions specified at Point d Clause 1 and Clause 3 Article 65 of this Law;

dd) The enterprises must operate profitably in the latest 3 consecutive financial years up to the time of submitting the application dossiers and meeting financial conditions as prescribed by the Government;

e) Committing to guarantee and take responsibility for all obligations and commitments of the Vietnam-based foreign branches.

2. Branches of foreign non-life insurance enterprises and branches of foreign reinsurance enterprises that are expected to be established and operate in Vietnam must satisfy the following conditions:

a) Having capital allocated in Vietnamese dong which is not less than the minimum amount prescribed by the Government;

b) Using the legal capital source, not using loan capital or investment trust capital in any form;

c) Having a Director of the branch, an actuary who is expected to meet the conditions, standards on management capacity, professional experience and expertise specified in Article 81 of this Law.

3. After being granted establishment and operation licenses, Vietnam-based foreign branches are allowed to operate as insurance enterprises or reinsurance enterprises which are established and operate in Vietnam in accordance with this Law.

Article 68. Holding rate of foreign investors

Foreign investors shall be entitled to own shares or contributed capital up to 100% of charter capital of insurance enterprises and reinsurance enterprises.

Article 69. Dossiers of application for establishment and operation licenses

A dossier of application for an establishment and operation license shall include:

1. A written request for establishment and operation licenses;

2. Draft charter for insurance enterprises and reinsurance enterprises; draft regulations on organization and operation of Vietnam-based foreign branches;

3. The plan for operation in the first five years, clearly stating the insurance operations to be implemented, risk management model, modes of deduction for setting up professional reserves, reinsurance program, capital investment and solvency of insurance enterprises, reinsurance enterprises and Vietnam-based foreign branches;

4. Curriculum vitae, Judicial record card, copies of diplomas and certificates proving the capacity, professional qualifications of the persons to be appointed as Chairpersons of the Boards of Directors or Chairpersons of the Member's Councils, Directors or General Directors, legal representatives, actuaries;

5. The contributed capital level and mode of capital contribution, the list of founding organizations and individuals or members and shareholders expected to contribute 10% or more of the charter capital; and documents proving the satisfaction of conditions corresponding to each type of insurance enterprise, reinsurance enterprise or Vietnam-based foreign branch as prescribed in Articles 64, 65, 66 and 67 of this Law of the such organizations and individuals;

6. List of beneficial owners of insurance enterprises and reinsurance enterprises. The Government shall prescribe criteria for determining beneficial owners of insurance enterprises and reinsurance enterprises.

Article 70. Time limit for being granted establishment and operation licenses

1. Within 60 days after receiving complete and valid dossiers, the Ministry of Finance shall grant or refuse to grant establishment and operation licenses. In case of refusal to grant licenses, it shall reply in writing, clearly stating the reason.

2. In case of granting the establishment and operation licenses, the Ministry of Finance shall issue a written approval on the principle to the persons to be appointed as Chairperson of the Board of Directors or Chairperson of the Member's Council, Director or General Director, legal representative, actuaries.

Article 71. Competence to grant, re-grant, amend, supplement and revoke establishment and operation licenses, suspension of operation contents

1. The establishment and operation licenses shall also be valid as the enterprise registration certificates.

2. The Ministry of Finance shall have competence to grant, re-grant, amend, supplement and revoke the establishment and operation licenses, suspend a part or entire operation contents of insurance enterprises, reinsurance enterprises and Vietnam-based foreign branches in accordance with this Law and relevant laws.

3. After granting, amending, supplementing or revoking the establishment and operation licenses, the Ministry of Finance shall be responsible for notifying in writing to the business registration agency of province where an insurance enterprise, reinsurance enterprise or Vietnam-based foreign branch is headquartered to update in the national information system on enterprise registration.

4. The Government shall detail dossiers, order and procedures for grant, re-grant, amendment, supplementation and revocation of establishment and operation licenses; partial or wholly suspension of operation contents of insurance enterprises, reinsurance enterprises and Vietnam-based foreign branches.

Article 72. Announcement of contents of establishment and operation licenses

1. The Ministry of Finance shall be responsible for announcing contents of establishment and operation licenses of insurance enterprises, reinsurance enterprises and Vietnam-based foreign branches on its e-portal within 30 days from the date of issuance.

2. At least 30 days before officially operating, insurance enterprises, reinsurance enterprises and Vietnam-based foreign branches that have been granted establishment and operation licenses must announce contents of such licenses and the date of official commencement of operation on one print newspaper in 3 consecutive issues or on Vietnam's newswires.

Article 73. Conditions for official commencement of operation

1. Insurance enterprises, reinsurance enterprises and Vietnam-based foreign branches must officially operate within 12 months from the date of issuance of the establishment and operation license, unless there is a force majeure event or objective obstacle. In force majeure case or in case of objective obstacles, insurance enterprises, reinsurance enterprises and Vietnam-based foreign branches must report in writing and obtain written approval from the Ministry of Finance of the extension of the time limit for official commencement of operation; the maximum extended duration is 12 months.

2. Insurance enterprises, reinsurance enterprises and Vietnam-based foreign branches must meet the following regulations for official commencement of operation:

a) Transferring the capitals at the frozen account to charter capital or allocated capital;

b) Building the organizational structure, apparatus for internal control and management, internal audit, risk management system conformable with the operation forms specified in this Law and relevant laws; appointing or voting the at-law representatives; voting or appointing titles already approved by the Ministry of Finance on the principles specified in Clause 2 Article 70 of this Law;

c) Formulating internal management regulations on operation and organization, internal regulations on risk management and basic professional processes in accordance with law provisions;

d) Paying sufficient deposit as prescribed by this Law at commercial banks operating in Vietnam;

dd) Having headquarters, physical and technical foundations, technology systems conformable with the professional process on insurance business;

e) Announcing contents of establishment and operation licenses as prescribed in Clause 2 Article 72 of this Law.

3. Insurance enterprises, reinsurance enterprises and Vietnam-based foreign branches must notify the Ministry of Finance the satisfaction of provisions of Clause 2 of this Article at least 15 days before of official commencement of operation. The Ministry of Finance may suspend the official operation of insurance enterprises, reinsurance enterprises and Vietnam-based foreign branches if they fail to satisfy provisions of Clause 2 of this Article.

4. Insurance enterprises, reinsurance enterprises and Vietnam-based foreign branches are not allowed to conduct business activities before the date of official commencement of operation.

Article 74. Changes subject to approval or announcement

1. Insurance enterprises, reinsurance enterprises and Vietnam-based foreign branches must obtain the Ministry of Finance's written approval when changing one of the following:

a) Name and address of headquarter;

b) Charter capital and allocated capital;

c) Operation contents, scope and duration;

d) Transfer of shares, capital contribution portions resulting in shareholders or capital-contributing members owning 10% or more of the charter capital or reducing it to less than 10% of the charter capital;

dd) Chairperson of the Board of Directors, or Chairperson of the Member's Council, Director or General Director, actuary;

e) Division, separation, merger, consolidation, dissolution, transformation of enterprise;

g) Conducting offshore investment, including opening branches, representative offices and other commercial presence forms in other countries.

2. Within 10 days from the date the Finance Ministry approves the changes prescribed in Clause 1 of this Article, the Ministry of Finance shall be responsible for making public the approved changes on its e-portal.

3. Insurance enterprises, reinsurance enterprises and Vietnam-based foreign branches must notify the Ministry of Finance in writing within 15 days after changing one of the following:

a) Changing the operating charter of insurance enterprises and reinsurance enterprises; regulations on organization and operation of Vietnam-based foreign branches;

b) Opening, terminating or relocating branches, representative offices of insurance enterprises or reinsurance enterprises;

c) Opening, terminating or relocating business location;

d) Changing beneficial owners of insurance enterprises and reinsurance enterprises.

4. The Government shall detail conditions, dossiers, order and procedures for approval of changes specified in Clause 1 and dossiers, order and procedures for recording changes specified at Point b Clause 3 of this Article.

Article 75. Revocation of establishment and operation licenses

1. An insurance enterprise, reinsurance enterprise or Vietnam-based foreign branch shall have its establishment and operation license revoked in one of the following:

a) Its dossier of application for grant of an establishment and operation license contains fraudulent information to qualify for a license;

b) Past time limit specified in Clause 1 Article 73 of this Law but it fails to commence its operation;

c) It is divided, separated, merged, consolidated, dissolved or has its operation terminated;

d) It operates in contravention of the contents prescribed in its establishment and operation license;

dd) After the court announces an insurance enterprise or reinsurance enterprise bankruptcy;

e) A foreign non-life insurance enterprise or foreign reinsurance enterprise of a Vietnam-based foreign branch becomes bankrupt or has its license revoked.

2. Insurance enterprises, reinsurance enterprises or Vietnam-based foreign branches that have their establishment and operation licenses revoked under Point a, c, d and e Clause 1 of this Article must immediately stop entering into new insurance contracts or reinsurance contracts. Insurance enterprises and branches of foreign non-life insurance enterprises that have their establishment and operation licenses revoked must transfer the list of insurance contracts; such transfer shall not apply to null and void insurance contracts as prescribed in this Law.

3. Decisions on revocation of establishment and operation licenses of insurance enterprises, reinsurance enterprises and Vietnam-based foreign branches shall be publicized by the Ministry of Finance on its e-portal.

Article 76. Vietnam-based foreign representative offices

1. Foreign insurance enterprises, foreign reinsurance enterprises, foreign finance and insurance groups, foreign insurance brokerage enterprises may locate their representative offices in Vietnam. Vietnam-based foreign representative offices are affiliated units of foreign insurance enterprises, foreign reinsurance enterprises, foreign finance and insurance groups, foreign insurance brokerage enterprises and are not allowed to conduct insurance businesses activities in Vietnam.

2. Vietnam-based foreign representative offices may carry out the following activities:

a) Acting as a liaison office;

b) Studying the market;

c) Promoting the construction of investment projects of foreign insurance enterprises, foreign reinsurance enterprises, foreign finance and insurance groups, foreign insurance brokerage enterprises in Vietnam;

d) Promoting and monitoring the implementation of projects sponsored by foreign insurance enterprises, foreign reinsurance enterprises, foreign finance and insurance groups, foreign insurance brokerage enterprises in Vietnam;

dd) Other activities as prescribed by Vietnamese laws.

3. The operation duration of a Vietnam-based foreign representative office is 5 years maximum, and this duration may be extended.

4. Operation reports, notification of changes and information disclosure of Vietnam-based foreign representative offices shall comply with the Minister of Finance's regulations.

Article 77. Grant, re-grant, amendment, supplementation, extension, cancellation and revocation of permits for locating foreign representative offices in Vietnam

1. Foreign insurance enterprises, foreign reinsurance enterprises, foreign finance and insurance groups, foreign insurance brokerage enterprises locating their foreign representative offices in Vietnam must satisfy the following conditions:

a) Operating for at least the last 5 years;

b) Obtaining permits for locating a representative office in Vietnam from the State management agency in charge of foreign insurance where the headquarter is located.

2. The Government shall detail conditions, dossiers, order and procedures for grant, re-grant, amendment, supplementation, extension, cancellation and revocation of permits for locating foreign representative offices in Vietnam.

3. The Ministry of Finance shall have the competence to grant, re-grant, amend, supplement, extend and revoke the permits for locating foreign representative offices in Vietnam, or terminate operations of foreign representative offices in Vietnam.

 

Section 2. ORGANIZATION OF OPERATIONS

 

Article 78. Organization of operations of insurance enterprises, reinsurance enterprises and Vietnam-based foreign branches

1. The forms of operation organization in Vietnam of an insurance enterprise or reinsurance enterprise include the headquarters, branch, representative office and business location.

2. The forms of operation organization in foreign countries of an insurance enterprise or reinsurance enterprise include branch, representative office or other forms of commercial presence in accordance with law regulations.

3. The forms of operation organization of a Vietnam-based foreign branch in Vietnam include headquarters and business location.

Article 79. Management organization structure of insurance enterprises and reinsurance enterprises

1. An insurance enterprise or reinsurance enterprise established in the form of joint stock company may choose the management organization structure according to one of the following two models:

a) General Meeting of Shareholders, Board of Directors, Supervisory Board, Director or General Director. The Supervisory Board shall have between 3 and 5 supervisors according to the company charter.

b) General Meeting of Shareholders, Board of Directors, Director or General Director, in which at least 20% of the members of the Board of Directors must be independent members and an Audit Committee shall be required in the Board of Directors. The organizational structure, functions and tasks of the Audit Committee shall be specified in the company charter or operation regulation of the Audit Committee issued by the Board of Directors.

2. The management organization structure of an insurance enterprise or reinsurance enterprise established in the form of limited liability company includes Members’ Council, Director or General Director. The insurance enterprise or reinsurance enterprise may decide to establish a Supervisory Board in accordance with law regulations.

Article 80. Managers and controllers of insurance enterprises, reinsurance enterprises and Vietnam-based foreign branches

1. Managers of an insurance enterprise or reinsurance enterprise include the following titles:

a) The chairperson of Board of Directors, member of Board of Directors or the chairperson of Members’ Council, member of Members’ Council;

b) Director or General Director, Deputy Director or Deputy General Director, at-law representative;

c) Chief Accountant, Director of branch, head of representative office, heads of professional divisions and equivalent titles as prescribed in the company charter.

2. Managers of a Vietnam-based foreign branch include the following titles:

a) Director, Deputy Director;

b) Chief Accountant, heads of professional divisions and equivalent titles according to regulations on organization and operation of the Vietnam-based foreign branch.

3. Controllers of insurance enterprises, reinsurance enterprises and Vietnam-based foreign branches are entitled to professional independence, including the following titles:

a) Head of the Supervisory Board and supervisor;

b) Head of risk administration department, head of compliance control department, head of internal audit department;

c) Actuary.

4. Insurance enterprises, reinsurance enterprises and Vietnam-based foreign branches must maintain the titles of Directors and actuaries or General Directors and actuaries. In case of any change, within 75 days from the date on which their Directors or General Directors, actuaries cease to hold their positions, the insurance enterprises, reinsurance enterprises or Vietnam-based foreign branches must submit valid dossiers to request the Ministry of Finance to approve the new Directors or General Directors, actuaries.

Article 81. Conditions and criteria for managers and controllers of insurance enterprises, reinsurance enterprises and Vietnam-based foreign branches

1. General conditions and criteria:

a) Have the right to manage enterprises in accordance with the Law on Enterprises;

b) Have not been administratively sanctioned in the field of insurance business, have not been disciplined in the form of dismissal due to a violation of internal procedures for 03 consecutive years before the time of appointment; have not been prosecuted by a competent agency as prescribed by law at the time of election or appointment.

2. Conditions and criteria for Chairpersons of Boards of Directors, Chairpersons of Members’ Councils, members of Boards of Directors, members of Members’ Councils:

a) General conditions and criteria specified in Clause 1 of this Article;

b) Possess a university or higher degree;

c) Chairpersons of Boards of Directors, Chairpersons of Members’ Councils have directly worked in the field of insurance, finance or banking for at least 5 years or are persons in charge of management, execution, control in an enterprise operating in the field of insurance, finance or banking for at least 3 years; members of Boards of Directors, members of Members’ Councils have directly worked in the field of insurance, finance or banking for at least 3 years or are persons in charge of management, execution, control in an enterprise operating in the field of insurance, finance or banking for at least 3 years.

3. Conditions and criteria for Director or General Director and at-law representatives:

a) General conditions and criteria specified in Clause 1 of this Article;

b) Possess a university or higher degree in insurance business. Those who do not possess such a degree must possess a university or higher degree in another discipline and an insurance certificate granted by an insurance training institution lawfully established and operating in Vietnam or abroad;

c) Have at least 5 years of working experience in the field of insurance, finance or banking, including at least 3 years of acting as a manager or controller of an insurance enterprise, reinsurance enterprise or foreign branch.

d) Reside in Vietnam during their term of office.

4. Conditions and criteria for managers other than cases specified in Clauses 2 and 3 of this Article of insurance enterprises, reinsurance enterprises and Vietnam-based foreign branches:

a) General conditions and criteria specified in Clause 1 of this Article;

b) Possess a university or higher degree in insurance business. Those who do not possess such a degree must possess a university or higher degree in another discipline and an insurance certificate suitable for the enterprise’s type of insurance permitted to be provided that is granted by an insurance training institution lawfully established and operating in Vietnam or abroad;

c) Have at least 3 years of working experience in the field of insurance, finance, banking or in the professional field where they are expected to work. Particularly for heads of professional divisions, at least 3 years of working experience in the field of insurance or professional field where they are expected to work is required;

d) Reside in Vietnam during their term of office.

5. Controllers of insurance enterprises, reinsurance enterprises and Vietnam-based foreign branches must satisfy the general conditions and criteria specified in Clause 1 of this Article and other conditions and criteria as prescribed by the Government.

6. The Minister of Finance shall detail Point b Clause 3 and Point b Clause 4 of this Article, training contents, dossiers, order and procedures for testing, grant, revocation and renewal of insurance certificates granted by insurance training institutions lawfully established and operating in Vietnam.

Article 82. Principles of holding positions

1. A chairperson of the Board of Directors, chairperson of the Members’ Council, member of the Board of Directors or member of the Members’ Council of an insurance enterprise or reinsurance enterprise may not concurrently act as a member of the Board of Directors or a member of the Members’ Council of another insurance enterprise or reinsurance enterprise operating in the same field of life insurance, non-life insurance, health insurance or reinsurance in Vietnam.

2. The Director or General Director of an insurance enterprise, reinsurance enterprise or Vietnam-based foreign branch may not concurrently work for another insurance enterprise, reinsurance enterprise or foreign branch operating in the same field of life insurance, non-life insurance, health insurance or reinsurance in Vietnam.

3. The Director or General Director, director of branch, head of representative office of an insurance enterprise or reinsurance enterprise may concurrently act as the director of only one branch or head of only one representative office or professional division of such insurance enterprise or reinsurance enterprise. The director of a Vietnam-based foreign branch shall be the at-law representative and may concurrently act as the head of only one professional division of such branch.

4. The titles of actuary, head of risk administration department, and head of compliance control department of insurance enterprises, reinsurance enterprises, Vietnam-based foreign branches may not concurrently hold any managerial title at the same organization; may not concurrently work at another insurance enterprise, reinsurance enterprise or foreign branch operating in Vietnam. Actuaries shall perform their tasks in accordance with the Minister of Finance’s regulations.

5. The head of Supervisory Board and supervisors may not concurrently hold any managerial title at the same organization. The head of Supervisory Board may not be concurrently a supervisor or manager of another insurance enterprise or reinsurance enterprise operating in Vietnam.

6. Chief Accountants, heads of internal audit departments of insurance enterprises, reinsurance enterprises, Vietnam-based foreign branches may not concurrently hold any title at the same organization; may not concurrently work at another insurance enterprise, reinsurance enterprise or foreign branch operating in Vietnam.

Article 83. Termination, suspension of the exercise of rights and obligations of Chairpersons of the Boards of Directors, Chairpersons of the Members' Councils, Directors or General Directors, actuaries

1. The Ministry of Finance has the right to terminate or suspend the exercise of rights and obligations of Chairperson of the Board of Directors, Chairperson of the Members' Council, Director or General Director, actuary of an insurance enterprise, reinsurance enterprise or Vietnam-based foreign branch that violates the principles of holding positions specified in Article 82 of this Law or no longer satisfies the conditions and criteria specified in Article 81 of this Law.

2. Within 75 days from the date the Ministry of Finance issues a document on suspension, the insurance enterprise, reinsurance enterprise or Vietnam-based foreign branch must submit a valid dossier of application to the Ministry of Finance for approval of the new Chairperson of the Board of Directors, Chairperson of the Members' Council, Director or General Director, actuary.

3. The persons whose exercise of rights and obligations is terminated or suspended prescribed in Clause 1 of this Article shall be responsible for taking part in dealing with problems and violations related to their personal liability at the request of the insurance enterprises, reinsurance enterprises or Vietnam-based foreign branches.

4. The Government shall detail the termination, suspension of the exercise of rights and obligations of Chairpersons of the Boards of Directors, Chairpersons of the Members' Councils, Directors or General Directors, actuaries as specified in Clauses 1 and 2 of this Article.

 

Section 3. INTERNAL CONTROL, INTERNAL AUDIT AND RISK MANAGEMENT

 

Article 84. Internal control

1. Insurance enterprises, reinsurance enterprises and Vietnam-based foreign branches must carry out the internal control to meet the following requirements:

a) Efficiency and safety in operations and protection, management and use of assets and force sources;

b) Honesty, reasonability, timeliness and sufficiency in the financial information and management information systems;

c) Compliance with laws, regulations, procedures and internal regulations.

2. Insurance enterprises, reinsurance enterprises and Vietnam-based foreign branches must establish standards, process and procedures for internal control; ensuring that the managers, controllers and employees clearly understand and strictly implement them.

3. The internal control activities of insurance enterprises, reinsurance enterprises and Vietnam-based foreign branches must be annually assessed by internal audit department.

4. The Minister of Finance shall detail this Article.

Article 85. Internal audit

1. Insurance enterprises and reinsurance enterprises must establish internal audit departments. Vietnam-based foreign branches may establish internal audit departments or use internal audit units of foreign non-life insurance enterprises or foreign reinsurance enterprises.

2. On an annual basis, insurance enterprises, reinsurance enterprises and Vietnam-based foreign branches must carry out the internal audit according to the following contents:

a) Reviewing and assessing the risk management and internal control activities in an independent and objective manner;

b) Carrying out an independent assessment of the conformity and compliance with regulations, internal policies, procedures and processes formulated within the insurance enterprises, reinsurance enterprises and Vietnam-based foreign branches;

c) Recommending to amend and remedy errors, proposing measures to perfect and raise the efficiency of systems, processes and regulations, contributing to ensure that insurance enterprises, reinsurance enterprises and Vietnam-based foreign branches operate safely and effectively in accordance with law provisions.

3. Internal audit results of insurance enterprises or reinsurance enterprises must be promptly reported to the Boards of Directors, Members’ Councils and sent to the Directors or General Directors of the enterprises.

Internal audit results of Vietnam-based foreign branches must be promptly reported to foreign non-life insurance enterprises, foreign reinsurance enterprises and sent to the Directors of Vietnam-based foreign branches.

4. The Minister of Finance shall detail this Article.

Article 86. Risk management

1. Insurance enterprises, reinsurance enterprises and Vietnam-based foreign branches shall be responsible for establishing risk management systems in order to identify, measure, evaluate, report and control effectively risks arising from business activities.

2. The risk management of insurance enterprises, reinsurance enterprises and Vietnam-based foreign branches must meet the following requirements:

a) Being able to identify and quantify in accordance with the nature, scope and complex extent of risks arising from business activities, impacts on capital, operational and financial safety;

b) Specifying the role and responsibility of each department and individual in risk management activities and risk management structure;

c) Adopting a clear and transparent risk management policy, specifying types of material risks and relevant risks arising from business activities, risk appetite and methods of management over each type of risk. Risk management policies must be adopted by the Boards of Directors, Members’ Councils of insurance enterprises, reinsurance enterprises or foreign non-life insurance enterprises, foreign reinsurance enterprises of Vietnam-based foreign branches;

d) Fully establishing limits for assumption of each type of material risks and relevant risks, correlation between such risks. Limits for assumption of risks must conform to the risk management policies, business strategies, human resources and information technology conditions;

dd) Fully establishing risk management procedures, including procedures for monitoring, receiving and feed backing any risk changes in a timely manner.

3. On an annual basis, insurance enterprises, reinsurance enterprises and Vietnam-based foreign branches shall be responsible for making reports on assessment of solvency and risk management, assessing the sufficient level of the risk management and solvency at that time and in future with the time frame consistent with the business plan; determining finance sources required for the management of business activities within the capacity of assumption of risks and business plans; inspecting the endurance and analyzing the ability to further operation.

4. The Minister of Finance shall detail this Article.

 

Section 4. PROFESSIONAL ACTIVITIES

 

Article 87. Building, designing, developing and providing insurance products

1. Insurance enterprises and branches of foreign non-life insurance enterprises may actively build, design and develop insurance products and take self-responsibility thereof.

2. Principles, terms and tariffs formulated by insurance enterprises and branches of foreign non-life insurance enterprises must meet the following requirements:

a) Compliance with the law and conformity with Vietnamese common practices, ethical standards, cultures and customary practices;

b) Languages used in insurance principles and terms must be accurate, simple and easy to understand. Specialized terminologies must be defined clearly in the insurance principles and terms;

c) Insurance interests, objects of insurance, insurance scope and risks, rights and obligations of the insurance buyers and the insured, responsibility of insurance enterprises and branches of foreign non-life insurance enterprises, terms on exclusion of insurance liability, payment methods and provisions on dispute settlement;

d) Premiums must be calculated based on the statistical data corresponding to the insurance conditions and liability, ensuring the solvency of insurance enterprises and branches of foreign non-life insurance enterprises.

3. Insurance enterprises and branches of foreign non-life insurance enterprises must register and obtain an approval from the Ministry of Finance of methods and basis for calculation of premiums of insurance products belonging to life insurance, health insurance, and motor vehicle insurance operations, except for insurance for motor vehicle owner’s civil liability.

4. Insurance enterprises and branches of foreign non-life insurance enterprises may actively supply insurance products in the following forms:

a) Supplying directly;

b) Supplying through insurance agents or insurance brokers;

c) Supplying through bidding;

d) Supplying through e-transactions;

dd) Other forms in accordance with law provisions.

5. The Government shall detail the dossiers, order and procedures for registering methods and basis for premium calculation prescribed in Clause 3 of this Article.

6. The Minister of Finance shall detail the methods and basis for premium calculation prescribed in Clause 3 of this Article and the supply of insurance products prescribed in Clause 4 of this Article.

Article 88. State-sponsored insurance products

1. The deployment and participation in agricultural, forestry and fishery insurance products and insurance products for social and security purposes shall be encouraged, sponsored and facilitated by the State through one or several measures as follows:

a) Simplifying administrative procedures;

b) Propagandizing insurance policies;

c) Establishing risk insurance funds;

d) Developing database, supporting the application of technologies in designing, developing insurance products, insurance loss assessment and compensation;

dd) Forming channels for distributing by agricultural, forestry and fishery production value chains;

e) Partially sponsoring insurance expenses, sponsored expenses shall be guaranteed from the central and local budgets, and be allocated in the annual state budget estimate or other lawful financial sources in accordance with law provisions;

g) Formulating the mechanisms of coordinating and sharing management and supervision information among relevant ministries and sectors in order to connect and coordinate in insurance business activities.

2. The Government shall detail measures specified in Clause 1 of this Article according to the development orientations and socio-economic development conditions in each period.

Article 89. Reinsurance, reinsurance transfer, co-insurance, motor vehicle insurance fund and risk insurance fund

1. Insurance enterprises, reinsurance enterprises and Vietnam-based foreign branches may share risks with other insurance enterprises, reinsurance enterprises, Vietnam-based foreign branches, foreign insurance enterprises, foreign reinsurance enterprises and foreign insurance organizations in the forms of reinsurance and reinsurance transfer.

Foreign insurance enterprises, foreign reinsurance enterprises and foreign insurance organizations that receive the reinsurance must be ranked by international credit rating agencies and meet other conditions as prescribed by the Government.

2. Insurance enterprises and branches of foreign non-life insurance enterprises may provide the co-insurance on the basis of consistently entering into an insurance contract with the insurance buyers, in which the insurance enterprises and branches of foreign non-life insurance enterprises shall receive premium and pay the insurance money or indemnities at the rate as agreed in the insurance contract.

Insurance enterprises and branches of foreign non-life insurance enterprises participating in co-insurance must be those who have been granted with establishment and operation licenses in accordance with this Law.

3. The motor vehicle insurance fund is formed from the contributions of non-life insurance enterprises and branches of foreign non-life insurance enterprises that are currently deploying compulsory insurance for motor vehicle owner’s civil liability, and other lawful sources for humanitarian purposes and other activities in order to strengthen the implementation of compulsory insurance for motor vehicle owner’s civil liability. The motor vehicle insurance fund shall be concentratedly managed. The mechanism for management and use of the motor vehicle insurance fund shall comply with the Government’s regulations.

4. Insurance enterprises, reinsurance enterprises and Vietnam-based foreign branches may reach an agreement on establish a risk insurance fund in order to distribute and share insurance for major risks and risks with disaster nature or newly-arising risks not yet been insured or rarely insured on the market. Agreements on establishing risk insurance fund with the State participation or sponsorship shall comply with the Government's regulations. In case of being sponsored by the State budget, the provisions of the Law on the State Budget shall be complied with.

5. The Minister of Finance shall detail the reinsurance, reinsurance transfer and co-insurance.

Article 90. Outsourcing

1. Outsourcing means an insurance enterprise, reinsurance enterprise or a Vietnam-based foreign branch agrees to conclude an outsourcing contract with other organizations or individuals to perform a part of processes or activities, except for the following activities:

a) Internal control;

b) Internal audit;

c) Risk management;

d) Consulting, introducing and selling insurance products, arranging the conclusion of insurance contracts.

2. In case of outsourcing a part of processes or activities directly involved in the insurance business, an insurance enterprise, reinsurance enterprise or a Vietnam-based foreign branch shall still bear the only and the last liability towards the insurance buyer and have the following obligations:

a) Formulating the regulations on outsourcing management, including provisions on the scope of activities eligible for outsourcing, relevant risk assessment frame, criteria for approving outsourcing contracts and conditions applicable to outsourcers in accordance with law provisions. The outsourcing management regulation must be approved by the Board of Directors, Members’ Council of an insurance enterprise, reinsurance enterprise or competent authority of a Vietnam-based foreign branch;

b) Developing the outsourcing procedures, and procedures for risk management and internal control applicable for outsourcing activities and taking measures to prevent, minimize and handle timely risks arising from the outsourcing, especially those related to legitimate rights and interests of the insured and insurance buyers;

c) Suspending, adjusting or terminating the outsourcing in case of detecting it cause adverse effects to the legitimate rights and interests of the insured and insurance buyers;

d) Developing a backup plan to ensure the un-interrupted business operation in case the outsourcer cannot or fails to properly follow its liability towards outsourcing activities as prescribed in the outsourcing contract;

dd) Regularly inspecting and supervising the outsourcers during the performance of the outsourcing agreement to ensure the quality and schedule as specified in the outsourcing contract. The outsourcer must ensure to self-implement at least 75% of the value of the outsourced task. In case of hiring a subcontractor to partially perform such task, the prior consent in writing from the insurance enterprise, reinsurance enterprise or Vietnam-based foreign branch is required, and the outsourcer liabilities and obligations shall not change;

e) Keeping clients’ data and information confidential as prescribed by law;

g) Monitoring and accounting separately the outsourcing activities.

3. The outsourcing contract must be made in writing and include the following key contents:

a) The outsourcing scope and contents;

b) Time and location of the outsourcing implementation;

c) Rights and obligations of insurance enterprises, reinsurance enterprises, Vietnam-based foreign branches and outsourcers;

d) Criteria and requirements for the outsourcing implementation quality;

dd) Mechanisms and responsibility for providing information and reporting of the outsourcers towards the insurance enterprises, reinsurance enterprises and Vietnam-based foreign branches during the outsourcing;

e) Backup plans, plans for damage remediation and compensation of the outsourcers in case they cannot or fail to properly implement agreements in the outsourcing contracts;

g) Mechanisms for monitoring, controlling and auditing the outsourcing implementation of the outsourcers; requiring the outsourcers to monitor and account outsourcing activities in the field of insurance separately from other outsourcing activities, and separately account outsourcing activities from different insurance enterprises, reinsurance enterprises and Vietnam-based foreign branches;

h) Regulations on limiting the conclusion of subcontracts;

i) Clients’ data and information confidentiality mechanisms;

k) Methods of dispute settlement.

 

Section 5. TRANSFER OF INSURANCE CONTRACT LISTS

 

Article 91. Cases where the list of insurance contracts is transferred

The wholly or partially transfer of the list of insurance contracts of one or a number of insurance operations, corresponding assets and responsibilities among branches of foreign non-life insurance enterprises and insurance enterprises shall be carried out in the following cases:

1. Upon the Ministry of Finance's requests as prescribed at Points c and d Clause 8 Article 113 of this Law;

2. Narrowing operation scope and contents;

3. Division, separation, merger, consolidation, dissolution and termination of operations;

4. The cases specified at Points a, dd and e Clause 1 Article 75 of this Law.

Article 92. Conditions for transfer of the list of insurance contracts

1. Insurance enterprises and branches of foreign non-life insurance enterprises may be transferred the list of insurance contracts if meeting the following conditions:

a) Currently conducting business in the transferred insurance operations;

b) Ensuring the capital adequacy ratio and solvency in accordance with this Law;

c) Ensuring to meet the conditions for carrying out insurance operations after the transfer.

2. The transfer of the list of insurance contracts must be made together with the transfer of assets corresponding to professional reserves of the entire insurance contract list to be transferred.

3. The rights and obligations under the to-be-transferred insurance contracts shall not alter till the expiry of the insurance contracts. In case of transferring the list of insurance contracts specified in Clause 1 Article 91 of this Law, if the asset value is lower than the professional reserve value of the to-be-transferred insurance contract list, the transferee insurance enterprise or transferee branch of a foreign non-life insurance enterprise must reach an agreement with the insurance buyers and the insured on the reduction of the insurance sums or insurance interests and other obligations as provided in the insurance contracts.

4. In case of disapproval of the transfer, the insurance buyer may unilaterally terminate the performance of the insurance contract.

Article 93. Procedures for transfer of the list of insurance contracts

1. An insurance enterprise or branch of a foreign non-life insurance enterprise that transfers the list of insurance contracts must send a written request for transferring the insurance contract list to the Ministry of Finance, specifying the reasons for transfer; the transfer plan and contract shall be sent together with such written request. The transfer of insurance contract lists shall be carried out only after it is approved in writing by the Finance Ministry.

2. Within 30 days after the Ministry of Finance approves the transfer of the insurance contract list, an insurance enterprise or branch of a foreign non-life insurance enterprise that transfers the insurance contract list must announce such transfer on its website and notify the insurance buyers in writing.

3. The Government shall detail dossiers, order and procedures for transfer of the list of insurance contracts.

 

Section 6. FINANCE, COST ACCOUNTING AND FINANCIAL REPORT

 

Article 94. Capital

1. Charter capital is the total amount contributed or committed to contribute when establishing a limited liability company by the members, which is the total of par value of the shares already sold or permitted to register when establishing a joint-stock company. Such charter capital shall be recorded in the charter of an insurance enterprise or reinsurance enterprise.

2. Allocated capital of a Vietnam-based foreign branch is the capital the foreign non-life insurance enterprise or foreign reinsurance enterprise allocates to its Vietnam-based branch.

3. Owner’s equity includes contributed charter capital, allocated capital of a Vietnam-based foreign branch, reserve funds, undistributed after-tax profits, owner's funds are set aside from profit after tax in accordance with regulations.

4. Real capital includes owner’s equity and other sources permitted to record, exempt or reduce in accordance with the Ministry of Finance's regulations.

5. Risk-based capital is determined based on the size and quantification of the impact of risk groups on the business activities of an insurance enterprise, reinsurance enterprise or a Vietnam-based foreign branch, including:

a) Insurance risks, including risks arising due to the fluctuation of technical factors corresponding to the types of life insurance, non-life insurance and health insurance;

b) Market risks including risks arising from the market, for investment activities of an insurance enterprise, reinsurance enterprise or a Vietnam-based foreign branch;

c) Operation risks including risks arising from the process of operations, systems, management of an insurance enterprise, reinsurance enterprise or a Vietnam-based foreign branch;

d) Other risks, including risks arising from other counterparties or factors not yet calculated in insurance risks, market risks and operation risks.

6. The Government shall detail the minimum levels of charter capital and allocated capital for each type of insurance enterprise, reinsurance enterprise and Vietnam-based foreign branch.

Article 95. Capital adequacy ratio

1. The capital adequacy ratio means the ratio between the real capital and risk-based capital.

2. Insurance enterprises, reinsurance enterprises and Vietnam-based foreign branches must always maintain their capital adequacy ratios not lower than the prescribed ratio.

3. When determining the capital adequacy ratio, an insurance enterprise, reinsurance enterprise or a Vietnam-based foreign branch shall not include in the actual capital the investment amount in the form of capital contribution to, or purchase of shares from other insurance enterprises, other reinsurance enterprises, or subsidiaries of insurance enterprises or reinsurance enterprises.

4. The Minister of Finance shall detail the capital adequacy ratio, risk-based capital and actual capital.

Article 96. Escrow account

1. Insurance enterprises, reinsurance enterprises and Vietnam-based foreign branches shall have to use part of their charter capital and allocated capital for escrow account at commercial banks operating in Vietnam.

2. The escrow account amount shall be equal to 2% of the minimum charter capital and minimum allocated capital at the time of establishing an insurance enterprise, reinsurance enterprise or a Vietnam-based foreign branch.

3. An insurance enterprise, reinsurance enterprise or a Vietnam-based foreign branch may only use the escrow account amount to meet commitments with the insurance buyers when the solvency is shortage and such use must be approved in writing by the Ministry of Finance. Within 90 days from the date of using the escrow account money, an insurance enterprise, reinsurance enterprise or a Vietnam-based foreign branch shall be responsible for offsetting the escrow account amount already used.

4. Insurance enterprises, reinsurance enterprises and Vietnam-based foreign branches may only wholly withdraw the escrow account money upon terminating their operations.

Article 97. Professional reserves

1. Professional reserves are the money amounts which must be set up with deductions by the insurance enterprises, reinsurance enterprises or Vietnam-based foreign branches for the purpose of paying for insured liabilities, which may arise from the concluded insurance contracts.

2. The setting up with deductions of professional reserves must meet the following requirements:

a) Setting aside for each insurance operation;

b) The setting aside must correspond to the proportion of the committed responsibility as agreed in the insurance contracts;

c) Separating between insurance contracts of objects of insurance inside and outside the territory of Vietnam, including within the same insurance operation or insurance product, unless otherwise provided by law;

d) There always be assets corresponding to the professional reserves already set aside, at the same time, separating them from the assets corresponding to the reserves specified at Point c of this Clause;

dd) Using calculation experts to calculate and set up with deductions of professional reserves;

e) Regularly reviewing and evaluating the setting up with deductions of professional reserves; timely take measures to ensure to fully set aside reserves in order to pay for responsibility of an insurance enterprise, reinsurance enterprise or a Vietnam-based foreign branch.

3. Insurance enterprises, reinsurance enterprises and Vietnam-based foreign branches must register and obtain approval from the Ministry of Finance for their methods of deduction for establishment of professional reserves.

4. The Government shall detail the setting up with deductions of professional reserves, dossiers, order and procedures for registering the methods of deduction for establishment of professional reserves.

Article 98. Reserve funds

1. The insurance enterprises, reinsurance enterprises and Vietnam-based foreign branches and the insurance brokerage enterprises must set up compulsory reserve funds in order to supplement owner’s equity and ensure their solvency.

2. The level of 05% of the after-tax profits shall be deducted annually for the compulsory reserve funds until reaching the maximum level as prescribed by the Government.

3. Apart from the compulsory reserve fund, the insurance enterprises, reinsurance enterprises and Vietnam-based foreign branches may set up other reserve funds from after-tax profits of the fiscal year as provided for in the charters of the insurance enterprises or reinsurance enterprises, operation and organization rules of Vietnam-based foreign branches.

Article 99. General provisions on investment

1. Investment sources of an insurance enterprise, reinsurance enterprise or a Vietnam-based foreign branch includes:

a) Owner’s equity;

b) Idle capital portion from professional reserves in accordance with the Government’s regulations;

c) Other lawful sources as prescribed by law.

2. The investment of an insurance enterprise, reinsurance enterprise or a Vietnam-based foreign branch must comply with the following principles:

a) Ensuring safety, liquidity and efficiency; complying with the law, taking self-responsibility for investment activities;

b) Professional reserves shall be used only for investment in Vietnam, except for the cases specified at Point b Clause 2 Article 100 of this Law;

c) Loans are not allowed for use to invest, entrust to invest in securities, real estate business or capital contribution to other enterprises;

d) It is not allowed to invest more than 30% of the investment capital in companies in the same group of companies with mutual ownership relationship. This provision does not apply to the making of deposits to credit institutions, and offshore investment capital in the form of establishing enterprises or branches in other countries;

dd) It is not allowed to re-invest in shareholders, capital-contributing members or affiliated persons of such shareholders or capital-contributing members in any forms in accordance with the Law on Enterprises, except for deposits at shareholders and members being credit institutions.

e) It is not allowed to purchase corporate bonds issued to restructure debts of the bond-issuing enterprise;

g) In case of investment entrustment, entrusted organizations must be licensed to carry out the activities of receiving investment entrustment in accordance with the investment entrustment content.

3. Insurance enterprises, reinsurance enterprises and Vietnam-based foreign branches are not allowed to carry out the following investment activities:

a) Conducting real estate business, except for the case of purchasing stocks of a real estate enterprises listed on the securities market, fund certificates of public funds; purchasing, investing or owning real estates for use as business headquarters, workplace or warehouses directly serving professional operations; leasing unused business headquarters under the ownership or use right; holding real estate due to the handling of bonds secured by real estate, due to the clearing of debts with real estate within 3 years from the date of holding;

b) Investing in precious metals and gems;

c) Investing in intangible fixed assets, except for the case of serving the insurance business activities of an enterprise or a branch;

d) Investing in derivatives or derivative contracts, except for the cases where derivatives are listed in order to prevent risks arising from insurance or reinsurance contracts and from securities investment portfolio held by insurance enterprises, reinsurance enterprises and Vietnam-based foreign branches.

4. Insurance enterprises, reinsurance enterprises and Vietnam-based foreign branches shall evaluate invested asset value in accordance with the Minister of Finance’s regulations.

5. The Government shall detail invest limits applicable to insurance enterprises, reinsurance enterprises and Vietnam-based foreign branches.

Article 100. Offshore investment

1. Insurance enterprises and reinsurance enterprises may only conduct offshore investment activities in the following forms:

a) Establishing or contributing capital to establish, contributing capital, purchasing shares, purchasing capital contribution portions of an overseas insurance enterprise, reinsurance enterprise; establishing branches of an overseas insurance enterprise, reinsurance enterprise; opening representative offices and other types of commercial presences overseas;

b) Purchasing and selling securities, other valuable papers or investing through other overseas financial intermediaries, securities investment funds in accordance with the Government’s regulations.

2. Insurance enterprises and reinsurance enterprises may carry out offshore investment from the following sources:

a) The remaining owner’s equity after deducting the capital portion meeting the capital adequacy ratio and solvency as prescribed by this Law;

b) The idle capital portion from professional reserves of insurance contracts having interests and rights connected with foreign investment indicators and the idle capital portion from professional reserves of insurance contracts signed with overseas organizations and individuals.

3. The offshore investment of insurance enterprises and reinsurance enterprises must comply with general provisions on investment specified in Article 99 of this Law and the following regulations:

a) Ensuring the capital adequacy ratio and solvency of insurance enterprises and reinsurance enterprises;

b) Complying with the law on insurance business, investment and foreign exchange control;

c) Performing in the name of such insurance enterprise or reinsurance enterprise;

d) Managing and monitoring separately the investment sources, invested assets, turnover, and expenses for offshore investment activities;

dd) It is not allowed to use cashes and assets of the domestic insurance buyers to offset the cash shortage of the offshore investment activities, unless otherwise prescribed by law;

e) Obtaining the Ministry of Finance's approval in writing before carrying out offshore investment activities.

4. Vietnam-based foreign branches are not allowed to carry out offshore investment activities.

5. The Government shall detail conditions, limits, dossiers, order and procedures for approving the offshore investment of insurance enterprises and reinsurance enterprises.

Article 101. Separation of owner’s equity and premium sources, division of surplus

1. Insurance enterprises, reinsurance enterprises and Vietnam-based foreign branches must register their principles with the Ministry of Finance and separate, record and monitor separately:

a) The owner’s equity, premium sources and equivalent assets of each capital source;

b) Turnover, expenses, and results of the insurance business and investment activities of the owner’s equity and premium sources;

c) Premium sources from insurance business activities inside and outside the territory of Vietnam; turnover, expenses, professional reserves and equivalent expenses from insurance business activities inside and outside the territory of Vietnam.

2. Life insurance enterprises must separate, record and monitor separately assets, capital sources, turnover, expenses and results of the implementation of life insurance contracts with profit shared according to the methods approved by the Ministry of Finance.

3. The Government shall detail the dossiers, order and procedures for registration and approval mentioned in Clauses 1 and 2 of this Article.

4. the Minister of Finance shall detail the separation of the owner’s equity and premium sources, principles for division of surplus for life insurance contracts with profit sharing.

Article 102. Financial regimes

1. The financial regimes of the insurance enterprises, reinsurance enterprises and Vietnam-based foreign branches shall be implemented in accordance with this Law and other relevant laws.

2. The Government shall detail the financial regimes applicable to insurance enterprises, reinsurance enterprises and Vietnam-based foreign branches.

Article 103. Fiscal year

1. The fiscal year of the insurance enterprises, reinsurance enterprises and Vietnam-based foreign branches commences on January 01 and ends on December 31 of the same calendar year.

2. The first fiscal years of the insurance enterprises, reinsurance enterprises and Vietnam-based foreign branches shall start from the dates they are granted the establishment and operation licenses and end on the last day of the same year.

Article 104. The accounting regime

The accounting regime applicable to insurance enterprises, reinsurance enterprises and Vietnam-based foreign branches shall follow the accounting law.

Article 105. Independent auditing

1. Insurance enterprises, reinsurance enterprises, and Vietnam-based foreign branches must carry out annually independent auditing for annually financial statements.

2. Insurance enterprises, reinsurance enterprises, and Vietnam-based foreign branches must obtain a certification from an independent audit firm for their risk management and solvency assessment reports; reports on separation of the owner’s equity and premium sources; reports on the implementation of universal life funds, unit linked funds and pension funds.

3. An independent audit firm, when auditing and certifying reports mentioned in Clauses 1 and 2 of this Article shall be responsible for:

a) Complying with the law on independent auditing;

b) Employing calculation experts when auditing the capital adequacy ratio and professional reserves; risk management experts when auditing the risk management and other experts related to the independent auditing contents;

c) Explaining, providing information and data related to the audit of insurance enterprises, reinsurance enterprises and Vietnam-based foreign branches upon request of the Ministry of Finance;

d) Notifying in writing to the Ministry of Finance upon detecting any insurance enterprise, reinsurance enterprise or Vietnam-based foreign branch that has material misstatements in audited and certified reports due to failure to comply with laws, has insurance fraudulent, or abnormal transactions which may cause serious impacts on the financial safety or rights and interests of the insurance participants;

dd) Keeping information confidential as prescribed by law.

4. The Minister of Finance shall detail Clause 2 of this Article.

Article 106. Reporting and providing information

1. Insurance enterprises, reinsurance enterprises and Vietnam-based foreign branches must submit the following reports:

a) Financial statements. In case of having an opinion or conclusion other than unqualified conclusion of an independent audit firm toward any audited report or activity, an insurance enterprise, reinsurance enterprise or a Vietnam-based foreign branch must report the causes and situation to the Ministry of Finance;

b) Reports on professional activities;

c) Reports on separation of owner’s equity and premium sources;

d) Reports on risk management and solvency assessment;

dd) Reports on changes to capital related to each type of risks.

2. In addition to reports specified in Clause 1 of this Article, insurance enterprises, reinsurance enterprises and Vietnam-based foreign branches must report the Ministry of Finance when:

a) Occurring any abnormal development affecting the solvency and prestige of an enterprise or a branch in insurance business;

b) Failing to meet financial requirements and other requirements as prescribed.

3. The Minister of Finance shall detail provisions on reporting and providing information provided in Clauses 1 and 2 of this Article.

Article 107. Transfer of profits and property abroad

1. Insurance enterprises, reinsurance enterprises and Vietnam-based foreign branches may transfer profits and property abroad in accordance with Vietnamese laws and the following regulations:

a) Transferring the remaining profits under the foreign investors’ ownership after making deductions for establishment of funds and fulfilling all financial obligations as well as ensuring the capital adequacy ratio and solvency as prescribed by this Law;

b) Transferring the remaining profits under the foreign investors’ ownership after termination of their operation in Vietnam.

2. The transfer abroad of money and other assets shall comply with the provisions of Vietnamese laws.

Article 108. Financial management

1. Insurance enterprises, reinsurance enterprises and Vietnam-based foreign branches shall have financial autonomy, and be liable for managing and supervising their operation efficiency; fulfill obligations and commitments with the insurance buyers, relevant organizations and individuals, and the State in accordance with law provisions.

2. Insurance enterprises, reinsurance enterprises and Vietnam-based foreign branches must formulate strategies, processes, procedures, regulations and organizational structure for the management and supervision of their financial activities, ensuring safety and efficiency in accordance with law provisions; actively prevent and minimize risks.

 

Section 7. SOLVENCY AND INTERVENTION MEASURES

 

Article 109. Financial safety

1. Insurance enterprises, reinsurance enterprises and Vietnam-based foreign branches shall be considered financial safety when satisfying provisions on capital, solvency and investment.

2. Insurance enterprises, reinsurance enterprises and Vietnam-based foreign branches must, during their operations, actively review processes, regulations, risk management systems, business plans, and evaluate their insurance and reinsurance business, financial operations, while ensuring safety, efficiency and complying with the law provisions for financial safety in accordance with this Law.

3. The Minister of Finance shall prescribe cases of applying improvement, early intervention and control measures specified in Articles 111, 112 and 113 of this Law for financial safety.

Article 110. Solvency

1. Insurance enterprises, reinsurance enterprises and Vietnam-based foreign branches must maintain their solvency throughout their operations.

2. Insurance enterprises, reinsurance enterprises and Vietnam-based foreign branches shall be considered solvent when they concurrently satisfy the following conditions:

a) Fully setting up through deductions the professional reserves;

b) Ensuring the capital adequacy ratio.

Article 111. Improvement measures

1. In case where improvement measures are required, insurance enterprises, reinsurance enterprises and Vietnam-based foreign branches shall actively select and organize to take one or several improvement measure(s) specified in Clause 2 of this Article, and notify in writing the Finance Ministry of the situation, causes and applied measures.

2. Improvement measures include:

a) Increasing charter capital, allocated capital;

b) Increasing the efficiency of business activities, including concentrating in exploiting effective insurance products; reviewing insurance premiums corresponding to the insurance conditions and liabilities; restructuring reinsurance programs; reducing operation, management and selling expenses; limiting remuneration, salary and bonus payment for managers;

c) Restructuring the investment portfolio, including increasing to hold highly liquid assets; selling, transferring inefficient assets or high-risk assets;

d) Strengthening the risk management; re-organizing the management apparatus and human resources; limiting the purchase of fixed assets; minimizing the setting aside and use of funds;

dd) Other measures in accordance with law.

3. In the course of applying the improvement measures, insurance enterprises, reinsurance enterprises and Vietnam-based foreign branches are not allowed to carry out the following activities:

a) Transferring profits abroad, distributing profits, paying dividends;

b) Increasing reinsurance.

Article 112. Early intervention measures

1. In case where the insurance enterprises’, reinsurance enterprises’ or Vietnam-based foreign branches’ capital adequacy ratio remains at a level requiring early intervention measure application, or the improvement measures prescribed in Article 111 of this Law have been taken for 12 consecutive months but the capital adequacy ratios cannot be remedied, the Ministry of Finance shall issue a document on applying early intervention measures.

2. Within 60 days after the Ministry of Finance issues a document on applying early intervention measures, insurance enterprises, reinsurance enterprises or Vietnam-based foreign branches shall formulate plans to remedy the capital adequacy ratio under Clause 4 of this Article, and organize the implementation, at the same time, report the Ministry of Finance the situation, reasons and measures to remedy the capital adequacy ratio. The Ministry of Finance shall issue a document requesting insurance enterprises, reinsurance enterprises or Vietnam-based foreign branches to adjust the remedy plan in case of necessity.

3. The maximum period for taking the remedy plan is 12 months, from the date the Ministry of Finance issues a document on taking early intervention measures.

4. A remedy plan must contain one or several measure(s) as follows:

a) Measures specified in Clause 2 Article 111 of this Law;

b) Removal from office or relief of duty of managers;

c) Narrowing inefficient operation contents or scope; suspending new exploitation of ineffective insurance products or operations.

5. In the course of applying the early intervention measures, insurance enterprises, reinsurance enterprises and Vietnam-based foreign branches are not allowed to carry out the following activities:

a) Activities specified in Clause 3 Article 111 of this Law;

b) Purchase of treasury stocks;

c) Expansion of operation contents, scope and duration.

6. In case insurance enterprises, reinsurance enterprises and Vietnam-based foreign branches fail to develop the plan to remedy the capital adequacy ratio within the period prescribed in Clause 2 of this Article, or if past the period prescribed in Clause 3 of this Article, they fail to remedy the capital adequacy ratio, depending on the risk nature and level, the Ministry of Finance shall request them to take one or several measure(s) provided in Clause 4 of this Article.

7. The Ministry of Finance shall publicize the list of insurance enterprises, reinsurance enterprises and Vietnam-based foreign branches that have to take early intervention measures on its e-portal.

8. The Ministry of Finance shall consider and decide on issuing a document on terminating the application of early intervention measures for an insurance enterprise, reinsurance enterprise, or a Vietnam-based foreign branch falling in one of the following cases:

a) Being certified the remedy of capital adequacy ratio by an independent audit firm;

b) Being taken control measures as prescribed in Article 113 of this Law.

Article 113. Control measures

1. In case insurance enterprises, reinsurance enterprises or Vietnam-based foreign branches have a capital adequacy ratio at a level requiring the application of control measures, the Ministry of Finance shall consider and decide on issuing a document on applying control measures and send such document to the insurance enterprises, reinsurance enterprises or Vietnam-based foreign branches.

2. The Ministry of Finance shall notify the application of control measures on the following subjects:

a) Owners, capital-contributing members, shareholders contributing 10% of charter capital or more of an insurance enterprise, reinsurance enterprise, or a foreign non-life insurance enterprise or foreign reinsurance enterprise whose branches are located in Vietnam;

b) State management agencies in charge of foreign insurance that are competent to manage companies holding 100% of charter capital or allocated capital of an insurance enterprise, foreign reinsurance enterprise or Vietnam-based foreign branch.

3. Within 30 days from the date on which the Ministry of Finance issues a document on applying control measures, an insurance enterprise, reinsurance enterprise or Vietnam-based foreign branch must hire an independent audit firm to review and assess the financial situation, evaluate the real value of charter capital, allocated capital and solvency. In case an insurance enterprise, reinsurance enterprise or Vietnam-based foreign branch fails to hire an independent audit firm within the prescribed period, the Ministry of Finance shall designate an independent audit firm. Audit costs shall be paid by such insurance enterprise, reinsurance enterprise or Vietnam-based foreign branch.

4. Within 120 days after the Ministry of Finance issues a document on applying control measures, insurance enterprises, reinsurance enterprises or Vietnam-based foreign branches shall formulate plans to remedy the capital adequacy ratio, and organize the implementation, at the same time, report the Ministry of Finance the situation, reasons and measures to remedy the capital adequacy ratio. The Ministry of Finance shall issue a document requesting insurance enterprises, reinsurance enterprises or Vietnam-based foreign branches to adjust the remedy plan in case of necessity.

5. The maximum period for taking the remedy plan is 18 months, from the date the Ministry of Finance issues a document on taking control measures.

6. A remedy plan must contain one or several measure(s) as follows:

a) Measures specified in Clause 4 Article 112 of this Law;

b) The suspension of operations may lead to the non-assurance of capital adequacy ratio.

7. In the course of applying the control measures, insurance enterprises, reinsurance enterprises and Vietnam-based foreign branches are not allowed to carry out the following activities:

a) Activities specified in Clause 5 Article 112 of this Law;

b) Participating in contributing capital to establish an enterprise; purchasing real estates for use as the business headquarters, workplace or warehouses directly serving professional operations;

c) Investing in high-risk assets or performing business activities, resulting in the reduction of capital adequacy ratio.

8. In case insurance enterprises, reinsurance enterprises and Vietnam-based foreign branches fail to develop the remedy plan within the period prescribed in Clause 4 of this Article, or if past the period prescribed in Clause 5 of this Article, they fail to remedy the capital adequacy ratio, depending on the risk nature and level, the Ministry of Finance shall request them to take one or several measure(s) as follows:

a) Partially or wholly suspending operations operation of insurance enterprises, reinsurance enterprises and Vietnam-based foreign branches;

b) Requesting the division, splitting or merger of insurance enterprises or reinsurance enterprises;

c) Requesting transfer of the list of insurance contracts;

d) Designating other insurance enterprises or branches of foreign non-life insurance enterprises to make capital contribution, purchase shares, or receive the transfer of the list of insurance contracts of the insurance enterprise or branch of foreign non-life insurance enterprise put under control.

9. During the suspended duration specified at Point a Clause 8 of this Article, insurance enterprises, reinsurance enterprises or Vietnam-based foreign branches still have to fully set up professional reserves in accordance with law provisions; strictly follow effective insurance contracts; ensure to timely and sufficiently pay compensation, insurance payment as agreed in the insurance contracts according to the law; fulfill tax obligations; continue to pay loans, complete the performance of contracts signed with insurance buyers and workers in accordance with law provisions, unless otherwise agreed by both parties.

10. The Ministry of Finance shall publicize the list of insurance enterprises, reinsurance enterprises and Vietnam-based foreign branches that have to take control measures on its e-portal.

11. The Ministry of Finance shall consider and decide on issuing a document on terminating the application of control measures for an insurance enterprise, reinsurance enterprise, or a Vietnam-based foreign branch falling in one of the following cases:

a) An insurance enterprise, reinsurance enterprise or Vietnam-based foreign branch put under control that is certified the remedy of capital adequacy ratio by an independent audit firm;

b) An insurance enterprise or reinsurance enterprise that is consolidated, merged or dissolved;

c) An insurance enterprise, reinsurance enterprise or Vietnam-based foreign branch that fails to remedy the situation of being taken control measures.

Article 114. Responsibility of insurance enterprises, reinsurance enterprises and Vietnam-based foreign branches in case of being taken improvement measures, early intervention measures or control measures

Apart from responsibility specified in Articles 111, 112 and 113 of this Law, insurance enterprises, reinsurance enterprises or Vietnam-based foreign branches being taken improvement measures, early intervention measures or control measures shall have the following responsibility:

1. Conducting administration and control of business operations and ensuring property safety;

2. Taking responsibility for the accuracy of information, data, dossiers and issues related to the organization, operation and relevant matters;

3. Reporting the Ministry of Finance the performance and improvement level on a monthly basis or at request of the Ministry of Finance;

4. Other responsibilities as prescribed by law.

Article 115. Dissolution of insurance enterprises, reinsurance enterprises, termination of operations of Vietnam-based foreign branches

1. An insurance enterprise or reinsurance enterprise shall dissolve; or Vietnam-based foreign branch shall have its operations terminated in the following cases:

a) It voluntarily requests for dissolution or termination of its operation;

b) Its operation duration prescribed in the establishment and operation license has expired;

c) Its establishment and operation license has been revoked under the provisions at Points a, b, d and e Clause 1 Article 75 of this Law;

d) The Vietnam-based foreign branch fails to remedy the capital adequacy ratio after the period of taking the control measures;

dd) Other cases as prescribed by law.

2. The dissolution of insurance enterprises, reinsurance enterprises, termination of operations of Vietnam-based foreign branches must the obtain written approval from the Ministry of Finance.

3. The Government shall detail the conditions, dossiers, order and procedures for dissolution of insurance enterprises, reinsurance enterprises, termination of operations of Vietnam-based foreign branches.

Article 116. Bankruptcy of insurance enterprises and reinsurance enterprises

1. After the Ministry of Finance issues a document on terminating control measures specified at Point c Clause 11 Article 113 of this Law, insurance enterprises and reinsurance enterprises are obligated to submit a written request to the court to open the procedures for bankruptcy in accordance with the Law on Bankruptcy. In case insurance enterprises and reinsurance enterprises fail to submit the written requests for opening bankruptcy procedures, the Ministry of Finance shall submit such written requests.

2. Upon receiving the request for opening bankruptcy procedures for an insurance enterprise or reinsurance enterprise as prescribed in Clause 1 of this Article, the court shall open the procedures for settlement of the request for bankruptcy announcement and immediately apply procedures for liquidating such insurance enterprise's or reinsurance enterprise's assets without holding a creditors’ meeting or carrying out procedures for recovery of business operations.

3. The division of assets of an insurance enterprise or reinsurance enterprise in case of bankruptcy shall be carried out according to the following order:

a) Bankruptcy costs;

b) Debts of salary, severance allowance, social insurance, health insurance for workers;

c) Compensation and insurance payments for claims for compensation and insurance payments approved by the insurance enterprise or reinsurance enterprise to pay the refund value, account value insurance contract or reimbursement of insurance premiums;

d) Financial obligations towards the State; unsecured debts payable to creditors in the list of creditors; secured debts that have not been paid because the value of the security assets is not enough to pay the debt;

dd) Owners, capital-contributing members, and shareholders of insurance enterprises and reinsurance enterprises.

4. In case the asset value is not enough for the payments specified in Clause 3 of this Article, subjects of the same order of priority shall be paid at the percentage corresponding to the debt.

5. Any content related to bankruptcy of insurance enterprises and reinsurance enterprises that is not mentioned in this Article shall comply with the Law on Bankruptcy.
 

Section 8. INFORMATION DISCLOSURE

 

Article 117. Responsibility of information disclosure

1. Insurance enterprises, reinsurance enterprises and Vietnam-based foreign branches must disclose the information specified in Articles 118, 119 and 120 of this Law and shall be responsible before law for the contents of information to be disclosed. The information disclosure must be accurate, prompt, sufficient, easy to monitor and comply with law regulations.

In case there is a change in contents of the disclosed information, the insurance enterprises, reinsurance enterprises, Vietnam-based foreign branches must promptly and fully update the changed content and the reason for the change.

2. Insurance enterprises, reinsurance enterprises and Vietnam-based foreign branches must post the information to be disclosed on their websites. The posting of information shall comply with regulations of the Minister of Finance. Time limit for information disclosure shall be as follows:

a) Within 07 working days from the end of the time limit for sending reports as specified in Article 118 of this Law or from the occurrence of one of the events related to the information to be disclosed as prescribed in Article 119 of this Law;

b) Within 03 working days after the occurrence of one of the events related to the information to be disclosed as prescribed in Article 120 of this Law.

3. Within 07 working days from the date of information disclosure, insurance enterprises, reinsurance enterprises and Vietnam-based foreign branches shall notify the Ministry of Finance of the contents of information to be disclosed.

4. Insurance enterprises, reinsurance enterprises being public companies shall disclose the information in accordance with this Law and the Law on Securities.

Article 118. Information to be periodically disclosed

1. Audited annual financial statements, semiannual financial statements.

2. Reports on risk administration and insolvency assessment.

3. Actual capital and capital adequacy ratio.

Article 119. Information to be regularly disclosed

1. Information about insurance enterprises, reinsurance enterprises and Vietnam-based foreign branches includes:

a) Information stated in establishment and operation licenses;

b) Information about the chairperson of Board of Directors or chairperson of Members’ Council, Directors or General Directors, at-law representatives and actuaries;

c) Names and addresses of the headquarter, branches representative offices and business locations;

d) Hotline.

2. Information about professional operations includes:

a) Rules, terms and charge rates of each provided insurance product, the content related each insurance product that customers need to pay attention to;

b) Process, dossiers of application and time limit for insurance claim settlement and insurance payment;

c) Objectives and policies of investment management;

d) Objectives and policies of capital adequacy ratio assessment.

Article 120. Information to be irregularly disclosed

1. Information to be irregularly disclosed includes:

a) The suspension of operation or forcible termination of operation contents, revocation of establishment and operation licenses;

b) The division, splitting, merger, consolidation, dissolution, transformation of enterprises, offshore investment, establishment or closure of branches and representative offices;

c) The termination of operation of Vietnam-based foreign branches;

d) The changes in applicable accounting policies; results of retrospective restatement of financial statements; opinions on the financial statements other than the opinion about the whole acceptance by an independent auditing organization; the selection or change of an independent audit organization;

dd) The transfer of shares or contributed capital that results in a shareholder or capital-contributing partner owning 10% or more of the charter capital or less than 10% of the charter capital;

e) Decisions on sanctioning administrative violations related to the insurance business activities;

g) The court’s judgments or decisions related to the operation of insurance enterprises, reinsurance enterprises, Vietnam-based foreign branches which have already taken effect;

h) The court’s decisions on initiation of bankruptcy procedures for insurance enterprises, reinsurance enterprises;

i) Decisions on initiation of a criminal case for enterprises, managers, controllers related to the business of insurance enterprises, reinsurance enterprises, Vietnam-based foreign branches;

k) The events that seriously affect the lawful rights and interests of persons participating insurance;

l) Information related to insurance enterprises, reinsurance enterprises, Vietnam-based foreign branches that materially affect the capital, solvency, risk administration and enterprise governance;

m) Asset loss valued at 10% or more of their owner’s equity;

n) Transfer of the list of insurance contracts;

o) Other information as prescribed by law.

2. The Minister of Finance shall detail the contents of information to be irregularly disclosed specified at Point k and l, Article 1 of this Article.

 

Section 9. LOSS PREVENTION AND LIMITATION, INSURANCE FRAUD PREVENTION AND COMBAT

 

Article 121. Responsibilities of loss prevention and limitation, insurance fraud prevention and combat

Insurance enterprises, branches of foreign non-life insurance enterprises, insurance buyers, the insured and related parties shall be responsible for loss prevention and limitation, insurance fraud prevention and combat.

Article 122. Loss prevention and limitation

1. Prevention and limitation of losses in the insurance business activities mean the implementation of measures to prevent and minimize losses that may occur to the object of insurance.

2. Insurance buyers and the insured shall be responsible for proactively implementing measures for loss prevention and limitation; immediately notify the occurrence of an insured event to insurance enterprises, branches of foreign non-life insurance enterprises; and apply measures to prevent and limit losses according to insurance enterprises’ guidance (if any).

3. Insurance enterprises, branches of foreign non-life insurance enterprises shall be responsible for implementing the following measures for loss prevention and limitation:

a) Organize training, propaganda and education; support the training in and propaganda on insurance business policy;

b) Finance and support means and materials to prevent and limit risks;

c) Assist in the construction of works for the purpose of preventing and mitigating the degree of risk to the objects of insurance;

d) Hire other organizations and individuals to supervise, prevent and limit losses.

4. Relevant agencies and organizations shall guide and organize propaganda on the implementation of measures for loss prevention and limitation.

Article 123. Insurance fraud prevention and combat

1. The prevention and combat of insurance frauds in the insurance business activities mean the implementation of measures to prevent and restrict fraudulent acts committed in the process of entering into and performing insurance contracts in order to appropriate money and property from insurance enterprises, branches of foreign non-life insurance enterprises and insurance buyers.

2. Insurance enterprises, branches of foreign non-life insurance enterprises shall be responsible for proactively formulating and organizing the implementation of measures to prevent, detect and minimize acts of insurance fraud; organizing propaganda on insurance fraud prevention and combat.

3. Insurance buyers and the insured shall proactively participate in the insurance fraud prevention and combat; if detecting acts of insurance fraud, they shall promptly notify them to the insurance enterprises, branches of foreign non-life insurance enterprises and competent agencies.

4. Relevant agencies and organizations shall coordinate with insurance enterprises, branches of foreign non-life insurance enterprises, insurance buyers and the insured in organizing the insurance fraud prevention and combat.

 

Chapter IV

INSURANCE AGENTS, INSURANCE BROKERAGE ENTERPRISES, ORGANIZATIONS AND INDIVIDUALS PROVIDING INSURANCE AUXILIARY SERVICES

 

Section 1. INSURANCE AGENTS

 

Article 124. Insurance agents

Insurance agents are organizations and individuals, that are authorized by insurance enterprises, branches of foreign non-life insurance enterprises or mutual support organizations providing microinsurance on the basis of insurance agency contracts to carry out the insurance agency activities.

Article 125. Conditions for insurance agency activities

1. Individuals who conduct insurance agency activities must meet the following conditions:

a) Being Vietnamese citizens permanently residing in Vietnam;

b) Having full civil act capacity;

c) Having suitable insurance agency certificates as specified in Article 130 of this Law.

2. Organizations which conduct insurance agency activities must meet the following conditions:

a) Being lawfully established and operating in Vietnam;

b) Having registered the business line of insurance agency activities in accordance with the Law on Enterprises. For organizations operating in conditional business lines, permits, certificates or other written certifications and approvals (if any) of competent agencies with contents of insurance agency activities are required;

c) Having personnel directly performing the insurance agency activities that satisfy conditions prescribed in Clause 1 of this Article;

d) Conditions on personnel and other conditions as prescribed by the Government.

3. Organizations or individuals must not enter into or perform insurance agency contracts in the following cases:

a) Organizations being commercial legal persons that are being examined for penal liability, organizations that are being subject to suspension from operation, termination of operation or banned from conducting business or operating in fields related to insurance;

b) Persons who are being examined for penal liability or serving their imprisonment penalty or serving the penalty of prohibition from practicing insurance professions.

Article 126. Contents of insurance agency contracts

An insurance agency contract must contain the following major details:

1. The name and address of the insurance agent;

2. The name and address of headquarters of the insurance enterprise, the branch of the foreign non-life insurance enterprise, the mutual support organization providing microinsurance;

3. The rights and obligations of the insurance enterprise, the branch of the foreign non-life insurance enterprise, the mutual support organization providing microinsurance, the insurance agent;

4. The contents and scope of operation of the insurance agent;

5. The insurance agency commission, insurance agency bonus, support and other benefits (if any);

6. The term of the contract;

7. Method of dispute settlement.

Article 127. Principles of operation of insurance agents

1. An individual shall not concurrently act as an insurance agent for another insurance enterprise or branch of a foreign non-life insurance enterprise operating in the same type of insurance as the insurance enterprise or the branch of foreign non-life insurance enterprise for which he/she is currently acting as an agent. An individual who is acting as an insurance agent for a mutual support organization providing microinsurance may not concurrently act as an insurance agent for another mutual support organization providing microinsurance.

2. An organization may not concurrently act as an insurance agent for another insurance enterprise, branch of a foreign non-life insurance enterprise or mutual support organization providing microinsurance if obtaining no written consent from the insurance enterprise, branch of a foreign non-life insurance enterprise or mutual support organization providing microinsurance for which it is currently acting as an agent.

3. Individuals conducting insurance agency activities and employees in organizations conducting insurance agency activities may only perform insurance agency activities for insurance products in which they have been trained.

4. Information of individuals conducting insurance agency activities and employees in organizations conducting insurance agency activities that directly conduct insurance agency activities must be registered and updated in the database of insurance business activities specified in Article 11 of this Law.

5. An individual that has been granted an insurance agency certificate but has not operated as an insurance agent for 3 consecutive years must take an exam to obtain a new insurance agency certificate before acting as an insurance agent.

Article 128. Rights and obligations of insurance enterprises, branches of foreign non-life insurance enterprises, mutual support organizations providing microinsurance in insurance agency activities

1. Insurance enterprises, branches of foreign non-life insurance enterprises, mutual support organizations providing microinsurance have the following rights:

a) Organize the system of insurance agents in line with the business strategy;

b) Recruit insurance agents and enter into insurance agency contracts;

c) Decide on the payment level of insurance agency commission, insurance agency bonus, support and other benefits in the insurance agency contracts, but not exceeding the maximum level prescribed by the Minister of Finance;

d) Receive and manage the insurance agents’ deposit or collateral, if so agreed in the insurance agency contracts;

dd) Request the insurance agents to pay the collected premium as agreed in the insurance agency contracts;

e) Inspect and supervise the performance of insurance agency contracts, evaluate the quality of consultancy and introduction of insurance products by insurance agents and employees in organizations conducting insurance agency activities;

g) Enjoy other lawful rights and interests from insurance agency activities;

h) Other rights as prescribed by law.

2. Insurance enterprises, branches of foreign non-life insurance enterprises, mutual support organizations providing microinsurance have the following obligations:

a) Take responsibility for the organization, management and use of insurance agents;

b) Organize the training and give updated knowledge to insurance agents in accordance with law regulations;

c) Guide and provide fully and accurately necessary information and documents related to insurance agency activities;

d) Perform the responsibilities arising under the signed insurance agency contracts;

dd) Pay the insurance agency commission, insurance agency bonus, support and other benefits as agreed in the insurance agency contracts, but not exceeding the maximum level prescribed by the Minister of Finance;

e) Return to the insurance agents the escrow account money or mortgaged property as agreed;

g) Be responsible for performing the obligations agreed in insurance contracts that are arranged for conclusion by insurance agents or employees in organizations conducting insurance agency activities. In cases the breach of insurance agency contracts by insurance agents, employees in organizations conducting insurance agency activities cause damage to the lawful rights and interests of the insured or the insurance buyers, insurance enterprises, branches of foreign non-life insurance enterprises or mutual support organizations providing microinsurance are still responsible for performing the obligations agreed in the insurance contracts that are arranged for conclusion by the insurance agents;

h) Submit to the inspection and supervision by competent state agencies of their insurance agency activities;

i) Ensure and do not obstruct the lawful rights and interests of the insurance agents as agreed in the insurance agency contracts and in accordance with law regulations;

k) Report on the training and use of insurance agents in accordance with regulations of the Minister of Finance;

l) Register and update information of individuals conducting insurance agency activities and employees in organizations conducting insurance agency activities that directly conduct insurance agency activities in the database of insurance business activities specified in Article 11 of this Law;

m) Other obligations as prescribed by law.

Article 129. Rights and obligations of insurance agents

1. An insurance agent has the following rights:

a) Select, and enter into an insurance agency contract with, an insurance enterprise, branch of a foreign non-life insurance enterprise, mutual support organization providing microinsurance in accordance with law regulations;

b) Be provided with information and conditions necessary for performance of its/his/her insurance agency contract;

c) Enjoy the insurance agency commission, insurance agency bonus, support and other benefits from insurance agency activities according to the agreement in the insurance agency contract;

d) Request the insurance enterprise, branch of a foreign non-life insurance enterprise or mutual support organization providing microinsurance to return its/his/her escrow account money or mortgaged property as agreed upon in the insurance agency contract;

dd) Other rights as prescribed by law.

2. An insurance agent has the following obligations:

a) Perform the obligations stated in the insurance agency contract;

b) Perform escrow or mortgage a property to the insurance enterprise, branch of foreign non-life insurance enterprise, mutual support organization providing microinsurance as agreed upon in the insurance agency contract;

c) Fulfill all the financial obligations as prescribed by law regulations;

d) Consult, introduce, offer and sell insurance products; provide adequate and accurate information about insurance products, the insurance enterprise, branch of foreign non-life insurance enterprise or mutual support organization providing microinsurance to insurance buyers and provide a clear and complete explanation of insurance benefits, terms on exclusion of insurance liability, rights and obligations of the insurance buyers; do not declare information for insurance buyers without obtaining their consent; perform other obligations within the scope of authorization stated in the insurance agency contract;

dd) Participate in courses of training, knowledge updates organized by the insurance enterprise, the branch of the foreign non-life insurance enterprise or the mutual support organization providing microinsurance;

e) Submit to the inspection and supervision of the insurance enterprise, the branch of the foreign non-life insurance enterprise or the mutual support organization providing microinsurance;

g) Refund to the insurance enterprise, branch of the foreign non-life insurance enterprise or mutual support organization providing microinsurance the amounts such insurance enterprise, branch of foreign non-life insurance enterprise or mutual support organization providing microinsurance has indemnified the insured, insurance buyers in cases the insurance agents, employees in organizations conducting insurance agency activities breach the insurance agency contracts, causing damage to lawful rights and interests of the insured, insurance buyers;

h) Comply with standards on insurance agency activities specified by the insurance enterprise, branch of foreign non-life insurance enterprise, mutual support organization providing microinsurance;

i) Keep customer information confidential, use customer information for the proper purposes and do not provide the information to any third party without customers’ consent, except the cases prescribed by law;

k) Other obligations as prescribed by laws.

3. An insurance agent may not carry out the following acts:

a) Provide untrue information or make untrue advertisements about the contents and scope of operation of its/his/her insurance enterprise, branch of foreign non-life insurance enterprise or mutual support organization providing microinsurance, or about insurance conditions and terms, thus infringing upon lawful rights and interests of insurance buyers;

b) Obstruct insurance buyers to provide information relating to insurance contracts or incite insurance buyers or the insured not to declare information relating to insurance contracts;

c) Vie for clients through obstructing, enticing, buying off or intimidating employees or clients of another insurance enterprise, branch of foreign non-life insurance enterprise, mutual support organization providing microinsurance, insurance agent or insurance brokerage enterprise;

d) Incite in any forms clients to cancel insurance contracts still in effect.

4. The Minister of Finance shall detail Point d, Clause 2 of this Article.

Article 130. Insurance agent certificates

1. Insurance agent certificates include:

a) Life insurance agent certificates;

b) Non-life insurance agent certificates;

c) Health insurance agent certificates.

2. The main contents of training for insurance agent certificates include:

a) General knowledge of insurance; principles of insurance operations suitable to each type of insurance agent certificate;

b) Codes of professional ethics and conduct for insurance agents;

c) Rights and obligations of insurance enterprises, branches of foreign non-life insurance enterprises, mutual support organizations providing microinsurance, insurance agents in insurance agency activities;

d) Vietnamese laws of insurance business activities;

dd) Skills and practice of insurance agent activities.

3. The Minister of Finance shall detail the types of insurance agent certificates; training contents, dossiers, order and procedures for testing, grant, revocation and renewal of insurance agent certificates.

 

Section 2. INSURANCE BROKERAGE ENTERPRISES

 

Article 131. Contents of insurance brokerage enterprises’ activities

1. Primary insurance brokerage activity, reinsurance brokerage activity.

2. Provision of insurance auxiliary services.

3. Other activities related to insurance contracts at the request of insurance buyers.

Article 132. Principles of insurance brokerage activities

1. Ensure honesty, objectivity, and transparency; guarantee lawful rights and interests of related parties.

2. Comply with the code of professional ethics promulgated by socio-professional organizations.

3. Insurance brokerage enterprises must make a written agreement with customers when providing insurance brokerage services.

Article 133. Conditions for grant of insurance brokerage enterprise establishment and operation licenses

1. Conditions for shareholders, capital-contributing partners include:

a) Organizations and individuals have the right to establish and manage enterprises in Vietnam in accordance with this Law on Enterprises;

b) Organizations have the legal person status, lawfully operate and satisfy the financial conditions specified by the Government.

2. Capital-related conditions include:

a) Contributions to charter capital shall be made in Vietnamese dong; the minimum charter capital must comply with the Government’s regulations;

b) Shareholders, capital-contributing partners’ contributed capital must not be a loan or investment capital entrusted by another organization or individual.

3. Personnel-related conditions: the tentative chairperson of the Board of Directors or chairperson of the Members’ Council, Director or General Director, at-law representative must satisfy the conditions and standards on management capacity, experience and professional expertise as prescribed in Article 138 of this Law.

4. Having a form of organization and operation in accordance with this Law and a draft charter in accordance with the Law on Enterprises.

5. An organization established under foreign law that make capital contribution, purchase shares or contributed capital amount of 10% of the charter capital or more of an insurance brokerage enterprise must satisfy the following conditions:

a) Being an organization established under foreign law that is directly carrying out or has a subsidiary performing insurance brokerage activities for the last 5 consecutive years up to the time of submitting the dossier of application for a establishment and operation license;

b) Having been permitted by a foreign competent agency to establish an insurance brokerage enterprise in Vietnam and certified that it does not seriously violate law regulations on insurance brokerage of the country where the organization’s headquarter is located for the last 3 consecutive years up to the time of submitting the dossier of application for a establishment and operation license.

Article 134. Dossier of application for grant of insurance brokerage enterprise establishment and operation licenses

1. A dossier of application for an establishment and operation license comprises:

a) A written request for an establishment and operation license;

b) The draft charter of the enterprise;

c) The plan for operation in the first five years, clearly stating contents of activities to be implemented;

d) Curricula vitae, criminal record certificates and copies of diplomas and certificates evidencing the capabilities as well as professional qualifications, of persons expected to be appointed to the Chairperson of the Board of Directors or the Chairperson of the Members’ Council, Director or General Director and at-law representatives;

dd) The contributed capital level and mode of capital contribution, the list of founding organizations and individuals or members, shareholders expected to contribute 10% or more of the charter capital and documents proving the satisfaction of conditions specified in Article 133 of this Law.

2. The Government shall detail the conditions, dossiers, order and procedures for granting licenses for establishment and operation of insurance brokerage enterprises.

Article 135. Organization and operation

Regulations on organization and operation of insurance brokerage enterprises shall be as follows: forms of organization and operation; holding rates of foreign investors; time limit for grant of establishment and operation licenses; competence to grant, re-grant, amend, supplement, revoke establishment and operation licenses, terminate operation contents; publish the contents of establishment and operation licenses; revocation of establishment and operation licenses shall comply with Articles 62, 68, 70, 71, 72 and Clauses 1 and 3, Article 75 of this Law.

Article 136. Changes requiring approval or notification

1. An insurance brokerage enterprise must get the Finance Ministry’s approval when changing one of the following contents:

a) Name and location of the head office;

b) The charter capital;

c) Operation contents, scope and duration;

d) The transfer of shares or contributed capital that results in a shareholder or capital-contributing partner owning 10% or more of the charter capital or less than 10% of the charter capital;

dd) Chairperson of the Board of Directors or chairperson of the Members’ Council, Director or General Director;

e) Division, splitting, merger, consolidation, dissolution, transformation of the enterprise; opening of branches, representative offices and other forms of commercial presence in foreign countries.

2. Insurance brokerage enterprises must notify the Ministry of Finance in writing within 15 days from the date of arising the following changes:

a) Change of the operation charter;

b) Opening, termination or change of locations of branches, representative offices.

3. Within 10 days from the date the Ministry of Finance approves the changes prescribed in Clause 1 of this Article, the Ministry of Finance shall announce the approved changes on its website.

4. The Government shall detail the conditions, dossiers, order and procedures for approving the changes as specified in Clause 1 of this Article and the dossiers, order and procedures for recording as defined at Point b, Clause 2 of this Article.

Article 137. Rights and obligations of insurance brokerage enterprises

1. Insurance brokerage enterprises have the following rights:

a) Enjoy original insurance brokerage commission, reinsurance brokerage commission in accordance with the Minister of Finance’s regulations;

b) Earn revenues from insurance auxiliary service provision;

c) Earn revenues from other activities related to insurance contracts at the request of insurance buyers;

d) Other rights as prescribed by law.

2. Insurance brokerage enterprises have the following obligations:

a) Keep the information provided by clients, insurance enterprises, reinsurance enterprises, Vietnam-based foreign branches confidential, except for cases of provision of information at the request of competent state agencies, or with consents of the clients, insurance enterprises, reinsurance enterprises, Vietnam-based foreign branches;

b) Indemnify clients for damage caused by insurance brokerage activities;

c) Disclose information to customers in accordance with regulations of the Minister of Finance;

d) Separately account and monitor the amounts of collection and payment support for insurance enterprises, reinsurance enterprises and Vietnam-based foreign branches;

dd) Buy professional liability insurance suitable for insurance brokerage activities;

e) Other obligations as prescribed by law.

3. Insurance brokerage enterprises shall not carry out the following acts:

a) Obstruct insurance buyers or the insured to provide information relating to insurance contracts, or incite insurance buyers or the insured not to declare details relating to insurance contracts;

b) Offer sales promotion to clients through promising to provide unlawful interests in order to incite them to sign insurance contracts;

c) Incite insurance buyers to cancel insurance contracts being still in effect to buy new ones;

d) Advise clients to buy insurance at an insurance enterprise or a branch of a foreign non-life insurance enterprise with conditions and terms that are less competitive than those of another insurance enterprise or branch of foreign non-life insurance enterprise in order to gain higher brokerage commissions;

dd) Provide clients with information that is false or incompliant with insurance conditions or terms of insurance insurance enterprises or branches of foreign non-life insurance enterprises.

Article 138. Human resources, capital, finance, accounting regime and financial statements of insurance brokerage enterprises

1. Chairpersons of the Boards of Directors, Chairpersons of the Members’ Councils, members of the Boards of Directors, members of the Members’ Councils, Directors or General Directors, at-law representatives, Deputy Directors or Deputy General Directors, Chief Accountants, heads of the professional divisions of the insurance brokerage enterprises must satisfy the conditions and standards for diplomas, certificates, experience and other conditions as prescribed by the Government.

2. Persons who directly carry out insurance brokerage activities must possess a university or higher degree on insurance or possess a insurance certificate in conformity with type of insurance or insurance brokerage certificate granted by a training institution lawfully established and operating in Vietnam or overseas in accordance with the Minister of Finance’ regulations.

3. Insurance brokerage enterprises must maintain their charter capital and owner's equity not lower than the minimum charter capital and perform the financial regime in accordance with the Government’s regulations.

4. For insurance brokerage enterprises, the fiscal year and the accounting regime shall comply with Articles 103 and 104 of this Law and annual independent audit of financial statements is required.

5. Insurance brokerage enterprises must perform the reporting regime in accordance with regulations of the Minister of Finance for the following reports:

a) Financial statements;

b) Regular reports on professional operations, ad hoc reports, provision of other information and data.

6. Foreign-invested insurance brokerage enterprises are allowed to transfer profits and property abroad in accordance with Article 107 of this Law.

7. Insurance brokerage enterprises shall perform financial management in accordance with Article 108 of this Law.

8. Insurance brokerage enterprises shall publish on their websites information about the audited annual financial statements and the changes that must be approved by the Ministry of Finance as prescribed in Clause 1, Article 136 of this Law and the information specified at Points a, b and e, Clause 1, Article 120 of this Law. The responsibility of information disclosure shall comply with Article 117 of this Law.

Article 139. Insurance brokerage certificates

1. Contents of insurance brokerage training include the following contents:

a) General knowledge of insurance and insurance operations;

b) Principles, duties and professional ethics of insurance brokerage;

c) Vietnamese laws of insurance business activities;

d) Skills and practice of insurance brokerage activities.

2. The Minister of Finance shall detail training contents, dossiers, order and procedures for testing, grant, revocation and renewal of insurance brokerage certificates granted by insurance training institutions lawfully established and operating in Vietnam.

 

Section 3. ORGANIZATIONS AND INDIVIDUALS PROVIDING INSURANCE AUXILIARY SERVICES

 

Article 140. Organizations and individuals providing insurance auxiliary services

1. Insurance enterprises and branches of foreign non-life insurance enterprises may provide insurance auxiliary services to insurance enterprises, reinsurance enterprises, Vietnam-based foreign branches, insurance brokerage enterprises and mutual support organizations providing microinsurance.

2. Insurance brokerage enterprises may provide insurance auxiliary services to insurance enterprises, reinsurance enterprises, Vietnam-based foreign branches, insurance brokerage enterprises, mutual support organizations providing microinsurance, and other organizations and individuals.

3. Other organizations having the legal person status may provide insurance auxiliary services to insurance enterprises, reinsurance enterprises, Vietnam-based foreign branches, insurance brokerage enterprises and mutual support organizations providing microinsurance.

4. Individuals may provide consultancy services to insurance enterprises, reinsurance enterprises, Vietnam-based foreign branches, insurance brokerage enterprises and mutual support organizations providing microinsurance.

Article 141. Principles of insurance auxiliary service provision

1. Ensuring honesty, objectivity, and transparency; guaranteeing lawful rights and interests of related parties.

2. Complying with standards in the insurance auxiliary field.

3. Complying with the code of professional ethics promulgated by socio-professional organizations.

4. Contracts on insurance auxiliary service provision must be made in writing.

Article 142. Responsibilities of organizations and individuals providing insurance auxiliary services

1. Keep customer information confidential, use customer information for the proper purposes and not provide the information to any third person without customers’ consent, except the cases prescribed by law.

2. Insurance brokerage enterprises may not provide the service of insurance loss assessment for insurance contracts for which they arrange the conclusion.

3. Organizations providing insurance auxiliary services may not provide the services of insurance loss assessment and insurance claim settlement support for insurance contracts in which they are insurance buyers, the insured or beneficiaries.

4. Individuals providing consultancy services must buy professional liability insurance for their provision of consultancy services; organizations providing insurance auxiliary services are required to buy professional liability insurance compatible to each type of insurance auxiliary services they provide.

Article 143. Conditions for insurance auxiliary service provision

1. An individual providing consultancy services must satisfy the following conditions:

a) Having full civil act capacity;

b) Possessing a university or higher degree in insurance business. Those who do not possess such a degree must possess a university or higher degree in another discipline and a consultant certificate for insurance auxiliary granted by a training institution lawfully established and operating in Vietnam or abroad.

2. An organization providing insurance auxiliary services must meet the following conditions:

a) Having the legal person status and being lawfully established and operating;

b) Its staff members who directly perform insurance auxiliary activities must have full civil act capacity; possess degrees and certificates on insurance auxiliary compatible to the type of insurance auxiliary services they perform, which are granted by training institutions lawfully established and operating in Vietnam or abroad;

c) Its staff members who directly perform insurance loss assessment must satisfy conditions specified at Point b of this Clause and the criteria on assessors in accordance with the commercial law;

d) Its staff members who directly perform insurance actuary must satisfy conditions specified at Point b of this Clause and the condition and criteria on actuaries.

3. The Government shall detail Points b, c and d, Clause 2 of this Article.

4. The Minister of Finance shall detail the types of insurance auxiliary certificates, training contents, dossiers, order and procedures for testing, grant, renewal and revocation of insurance auxiliary certificates.

 

Chapter V

MICROINSURANCE

 

Article 144. Features of microinsurance products

Microinsurance products have the following basic characteristics:

1. Be designed to be concise, easy to understand, with simple insurance appraisal procedures or without insurance appraisal;

2. Only include interests to meet the basic protection needs against risks of life, health and property of persons participating insurance with the insurance duration not exceeding 05 years;

3. The sums of insurance money on each contract and the annual premium for each insured of a contract must not exceed the maximum amount prescribed by the Government.

Article 145. Design and development of microinsurance products

1. The deployment and participation in microinsurance products is encouraged, supported and facilitated by the State through one or several measures specified at Points a, b, d and e, Clause 1, Article 88 of this Law.

2. Microinsurance-providing organizations must register and have the methods and basis of calculating insurance premiums of microinsurance products approved by the Ministry of Finance.

3. The Government shall detail the measures specified in Clause 1 of this Article in conformity with development orientations and socio-economic conditions in each period; dossiers, order and procedures for registration of methods and basis of calculating premiums of microinsurance products.

4. The Minister of Finance shall detail the methods and basis of calculating premiums of microinsurance products.

Article 146. Microinsurance-providing organizations

1. Microinsurance-providing organizations include:

a) Insurance enterprises, branches of foreign non-life insurance enterprises that are established and operating in Vietnam;

b) Mutual support organizations providing microinsurance that are established and operating in Vietnam.

2. The Government shall prescribe dossiers, order and procedures for granting, re-granting, amending, supplementing, revoking establishment and operation licenses, and terminating operation contents of mutual support organizations providing microinsurance.

3. The Ministry of Finance shall grant, re-grant, amend, supplement, revoke establishment and operation licenses, and terminate operation contents of mutual support organizations providing microinsurance.

Article 147. Insurance enterprises, branches of foreign non-life insurance enterprises providing microinsurance

1. Insurance enterprises, branches of foreign non-life insurance enterprises may proactively provide microinsurance in conformity insurance operation permitted to be deployed in the following forms:

a) Directly;

b) Via insurance agents;

c) Via individuals who are employees or members of socio-political organizations, socio-professional organizations, cooperatives authorized by insurance enterprises or branches of foreign non-life insurance enterprises to consult and arrange the conclusion of microinsurance contracts for their own members;

e) Other forms prescribed by law regulations.

2. Insurance enterprises, branches of foreign non-life insurance enterprises must monitor, separate and separately account revenue and expenses of microinsurance provision from other activities of the enterprises.

Article 148. Mutual support organizations providing microinsurance

1. A mutual support organization providing microinsurance may only provide microinsurance to its own members. A member participating in the insurance shall be both the owner of the mutual support organization providing microinsurance and the insurance buyer.

2. Insurance contracts signed between the mutual support organization providing microinsurance and its members participating in the insurance shall comply with general regulations on insurance contracts, life insurance contracts, health insurance contracts and property insurance contracts as defined in Chapter II of this Law.

3. The Government shall detail the microinsurance provision of mutual support organizations providing microinsurance.

Article 149. Conditions for grant of establishment and operation licenses of mutual support organizations providing microinsurance

1. Conditions for founding members include:

a) Individuals that must be Vietnamese citizens, have full civil act capacity and be members of the expected mutual support organization providing microinsurance;

b) Be a representative organization of members as prescribed by law regulations.

2. Contributions to capital for establishment shall be made in Vietnamese dong; the minimum amount must comply with the Government’s regulations.

3. Have the personnel expected to be the Chairpersons of the Boards of Directors, Directors or General Directors, at-law representatives, and microinsurance actuaries that meet the conditions and standards prescribed by the Government.

4. Have a plan to deploy microinsurance suitable for the number of members and network of the organizations.

5. Have a draft charter suitable for the operational objectives of the mutual support organizations providing microinsurance and the Government's regulations.

6. Have an appropriate information technology system, ensuring the support and monitoring of each microinsurance contract, financial and accounting monitoring of microinsurance activities.

Article 150. Principles of operation of mutual support organizations providing microinsurance

1. Mutual support organizations providing microinsurance operate on the principle of financial autonomy and are responsible before law within the limit of properties obtained from their provision of microinsurance.

2. Mutual support organizations providing microinsurance shall manage and supervise the effectiveness of operations, comply with regulations on financial regime in order to ensure financial safety, and ensure fulfillment of obligations and commitments to members participating in insurance, relevant organizations and individuals as prescribed by law regulations.

3. Mutual support organizations providing microinsurance shall be responsible for performing risk administration to effectively control risks arising from microinsurance provision.

4. The wholly profits earned from the microinsurance provision activity of mutual support organizations providing microinsurance shall be used for serving interests of the members participating insurance by reducing the premium, increase the the insurance benefit of the insured, supporting members and other objectives according to their charter.

5. The Government shall detail the operation organization, risk administration, professional activities, information disclosure, financial regime, accounting and financial statements of mutual support organizations providing microinsurance.

 

Chapter VI

STATE MANAGEMENT OF INSURANCE BUSINESS ACTIVITIES

 

Article 151. State management of insurance business activities

1. The Government shall perform the uniform state management of insurance business activities.

2. The Ministry of Finance shall take responsibility before the Government for performing the state management of the insurance business activities and have the tasks and powers as follows:

a) Promulgate and submit to competent agencies for promulgation and guide the implementation of legal documents on insurance business activities, formulate strategies, schemes and policies on development of the insurance market in Vietnam;

b) Make statistics and forecasts on the insurance market;

c) Supervise insurance enterprises, reinsurance enterprises, Vietnam-based foreign branches, mutual support organizations providing microinsurance, insurance brokerage enterprises via their professional activities, financial situation, enterprise governance, risk administration and observance of law regulations on insurance business activities; supervise activities of Vietnam-based foreign representative offices;

d) Supervise insurance agency activities, insurance auxiliary services via insurance enterprises, reinsurance enterprises and Vietnam-based foreign branches;

dd) Inspect and examine insurance enterprises, reinsurance enterprises and Vietnam-based foreign branches, mutual support organizations providing microinsurance, insurance brokerage enterprises; examine activities of Vietnam-based foreign representative offices;

e) Perform international cooperation in the field of insurance;

g) Settle complaints and denunciations, and handle administrative violations related to the insurance business activities.

Article 152. Coordination mechanism in state management of insurance business activities

1. The Ministry of Finance shall coordinate with foreign state management agencies in charge of insurance in managing, supervising, inspecting and examining Vietnam-based foreign branches in accordance with the Government's regulations.

2. The Ministry of Finance shall establish a mechanism for sharing the management and supervisory information with the State Bank of Vietnam, other ministries, branches and socio-professional organizations in insurance business activities.

3. The Ministry of Finance shall coordinate with relevant ministries and branches to implement association and cooperation between insurance business activities and social insurance and health insurance performed by the State.

4. The business registration agency shall not approve the use of the phrase or term “insurance”, “reinsurance” or other phrases or terms in the name of an enterprise if the use of such phrases or terms makes a confusion that the enterprise is an insurance enterprise, reinsurance enterprise or Vietnam-based foreign branch.

5. The business registration agency shall not approve the use of the phrase or term “insurance brokerage”, “reinsurance brokerage” or other phrases or terms in the name of an enterprise if the use of such phrases or terms makes a confusion that the enterprise is an insurance brokerage enterprise.

Article 153. Right to request information of the Ministry of Finance in the inspection, examination and handling of administrative violations related to insurance business activities

1. In the course of inspection, examination and handling of administrative violations related to insurance business activities, in addition to the tasks and powers prescribed by law regulations on inspection, handling of administrative violations and other relevant law regulations, the Ministry of Finance also has the following tasks and powers:

a) Request shareholders, capital-contributing partners, managers, controllers, employees of insurance enterprises, reinsurance enterprises, Vietnam-based foreign branches and insurance brokerage enterprises to provide an explanation and information, documents, data related to inspection and examination contents;

b) Request agencies, organizations and individuals having information, documents and data related to the contents of inspection and examination of insurance business activities to provide such information, documents or data or request organizations and individuals to explain and come to work on inspection and examination contents;

c) Request credit institutions, foreign bank branches to provide information related to the accounts of insurance enterprises, reinsurance enterprises, Vietnam-based foreign branches, insurance agents, insurance brokerage enterprises, organizations providing insurance auxiliary services, companies of fund management of insurance enterprises, Vietnam-based foreign representative offices, and organizations and individuals showing signs of committing the prohibited acts specified in Article 9 of this Law or violating regulations on capital adequacy ratio, investment activities of insurance enterprises, reinsurance enterprises, Vietnam-based foreign branches, financial safety, solvency specified in Articles 95, 99, 100, 109 and 110 of this Law. The order and procedures for requesting and providing information shall comply with the law regulations on banking.

2. The request for organizations and individuals’ coordination, provision of information, documents, data, explanation, their presence for working as prescribed in this Article must be made in writing, clearly stating the purposes, grounds, contents and scope of requests.

3. The information provided by credit institutions, foreign bank branches, organizations and individuals under this Article must be kept confidential in accordance with law regulations and used only for the purposes of inspection, examination and handling of administrative violations of relevant organizations and individuals.

Article 154. Inspection of the insurance business activities

1. The state management agency in charge of insurance business activities shall perform the function of specialized inspection of insurance business.

2. When deeming it necessary, in order to carry out specialized inspection of insurance business, the agency specified in Clause 1 of this Article has the right to hire an independent audit firm, a consulting company or an expert to assess and give professional opinions on a number of contents showing signs of affecting the safety and health of inspection subjects, including:

a) Professional reserves;

b) Insolvency;

c) Reinsurance;

d) Investment;

dd) Separation of owner’s equity from premiums, surplus sharing;

e) Rules, terms and premium rates.

3. The hired independent audit firm, consulting company or expert must be responsible before the law for the accuracy, honesty, objectivity of data and documents related to the explanation and provision of opinions on the required contents.

4. Organization and operation of the specialized insurance inspectorate shall comply with this Law and the law on inspection.

 

Chapter VII

IMPLEMENTATION PROVISIONS

 

Article 155. To amend and supplement Appendix IV of the Law No. 61/2020/QH14on Investment that is amended and supplemented by the Law No. 03/2022/QH15

To amend and supplement the sector, trade with ordinal 29 and add the sector, trade with ordinal 29a after the ordinal 29 of Appendix IV on the List of sectors and trades subject to conditional business investment as follows:

“29. Insurance brokerage

29a. Insurance auxiliary services”

Article 156. Effect

1. This Law takes effect on January 01, 2023, except for cases prescribed in Clause 2 of this Article.

2. Clause 3 Article 86, Clauses 4 and 5 Article 94, Article 95, Clauses 3 and 4 Article 99, and Articles 109, 110, 111, 112, 113, 114 and 116 of this Law take effect from January 01, 2028.

3. The Law No. 24/2000/QH10 on Insurance Business that is amended and supplemented by the Law No. 61/2010/QH12 and the Law No. 42/2019/QH14 shall cease to be effective from the effective date of this Law, except the following cases:

a) Clause 1 Article 157 of this Law;

b) Articles 77, 78, 79, 80, 81, 83, 94 and 98 of the Law No. 24/2000/QH10 on Insurance Business that is amended and supplemented by the Law No. 61/2010/QH12 and the Law No. 42/2019/QH14 shall continue to be effective until the end of December 31, 2027.

Article 157. Transitional provisions

1. Insurance contracts that have been entered into before the effective date of this Law and are still valid, shall continue to be performed in accordance with law regulations effective at the time of entering into such insurance contracts, except for cases in which the parties to the insurance contracts reach an agreement on amendment and supplement of the contracts to conform with this Law and to apply regulations of this Law.

2. Insurance agent certificates that were granted before the effective date of this Law may continue to be used until the end of December 31, 2025. The Minister of Finance shall detail the conversion from insurance agent certificates granted before the effective date of this Law to insurance agent certificates specified in this Law.

3. Insurance certificates, insurance brokerage certificates, insurance auxiliary certificates granted before the effective date of this Law may continue to be used.

4. From January 01, 2023, insurance enterprises and branches of foreign non-life insurance enterprises shall stop paying the fund for protection of the insured.

5. The handling of the balance of the fund for protection of the insured specified in Article 97 of the Law on Insurance Business No. 24/2000/QH10 that is amended and supplemented by the Law No. 61/2010/QH12 and Law No. 42/2019/QH14 shall be implemented as follows:

a) The entire balance of the fund for protection of the insured shall be managed by the Ministry of Finance to be used for the purpose of protecting the interests of the insured in cases an insurance enterprise becomes insolvent or goes bankrupt;

b) The Government shall detail the management and use of balance of the fund for the protection of the insured.

This Law was adopted on June 16, 2022, by the XVthNational Assembly of the Socialist Republic of Vietnam at its 3th session.

 

 

CHAIRMAN OF THE NATIONAL ASSEMBLY




Vuong Dinh Hue


 

Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Nâng cao để xem đầy đủ bản dịch.

Chưa có tài khoản? Đăng ký tại đây

Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Hiệu lực.

Chưa có tài khoản? Đăng ký tại đây

Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem VB liên quan.

Chưa có tài khoản? Đăng ký tại đây

Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Lược đồ.

Chưa có tài khoản? Đăng ký tại đây

Văn bản này chưa có chỉ dẫn thay đổi
văn bản TIẾNG ANH
Bản dịch LuatVietnam
download Law 08/2022/QH15 DOC (Word)
Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Tiếng Anh hoặc Nâng cao để tải file.

Chưa có tài khoản? Đăng ký tại đây

download Law 08/2022/QH15 PDF
Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Tiếng Anh hoặc Nâng cao để tải file.

Chưa có tài khoản? Đăng ký tại đây

* Lưu ý: Để đọc được văn bản tải trên Luatvietnam.vn, bạn cần cài phần mềm đọc file DOC, DOCX và phần mềm đọc file PDF.

Để được giải đáp thắc mắc, vui lòng gọi

19006192

Theo dõi LuatVietnam trên YouTube

TẠI ĐÂY

CÂU HỎI THƯỜNG GẶP?
Các hành vi nào bị nghiêm cấm trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm
Các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm bao gồm:
- Hoạt động kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh tái bảo hiểm, nhượng tái bảo hiểm, môi giới bảo hiểm khi không có giấy phép thành lập và hoạt động.
- Hoạt động kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh tái bảo hiểm, nhượng tái bảo hiểm, môi giới bảo hiểm không đúng phạm vi được cấp phép.
- Hoạt động đại lý bảo hiểm, hoạt động dịch vụ phụ trợ bảo hiểm khi không đáp ứng điều kiện hoạt động theo quy định của pháp luật.
- Thực hiện các hành vi gian lận bao gồm:
+ Thông đồng với người thụ hưởng để giải quyết bồi thường, trả tiền bảo hiểm trái pháp luật;
+ Giả mạo tài liệu, cố ý làm sai lệch thông tin trong hồ sơ yêu cầu bồi thường, trả tiền bảo hiểm;
+ Giả mạo tài liệu, cố ý làm sai lệch thông tin để từ chối bồi thường, trả tiền bảo hiểm khi sự kiện bảo hiểm đã xảy ra;
+ Tự gây thiệt hại về tài sản, sức khỏe của mình để hưởng quyền lợi bảo hiểm.
- Đe dọa, cưỡng ép giao kết hợp đồng bảo hiểm.
Luật Kinh doanh bảo hiểm có nội dung gì mới đáng chú ý?
Từ 01/01/2028, doanh nghiệp bảo hiểm không được đầu tư kinh doanh BĐS:

Cụ thể, khoản 4 Điều 99 Luật này quy định, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam không được vay để đầu tư, ủy thác đầu tư vào hoạt động kinh doanh bất động sản.

Đồng thời, không được kinh doanh bất động sản, trừ các trường hợp:

- Mua cổ phiếu của doanh nghiệp kinh doanh bất động sản, chứng chỉ quỹ của quỹ đại chúng;

- Mua, đầu tư, sở hữu bất động sản để làm trụ sở kinh doanh, địa điểm làm việc hoặc cơ sở phục vụ trực tiếp cho các hoạt động nghiệp vụ;

- Cho thuê trụ sở kinh doanh chưa sử dụng hết mà thuộc quyền sở hữu hoặc sử dụng;

- Nắm giữ bất động sản do xử lý trái phiếu có bảo đảm bằng bất động sản.

Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022 có hiệu lực từ ngày nào?

Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022 có hiệu lực từ ngày 01/01/2023.

 
tin liên quan

văn bản cùng lĩnh vực