Thông tư 86/2000/TT-BTC của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn thực hiện chính sách hỗ trợ về tài chính và ưu đãi về thuế để phát triển các sản phẩm công nghiệp trọng điểm theo quy định của Quyết định số 37/2000/QĐ-TTg ngày 24/3/2000 của Thủ tướng Chính phủ

Thuộc tính Nội dung VB gốc Tiếng Anh Hiệu lực VB liên quan Lược đồ Nội dung MIX Tải về
LuatVietnam.vn độc quyền cung cấp bản dịch chính thống Công báo tiếng Anh của Thông Tấn Xã Việt Nam
LuatVietnam.vn độc quyền cung cấp bản dịch chính thống Công báo tiếng Anh của Thông Tấn Xã Việt Nam
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng: Đã biết
nhayCác quy định vế thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu tại Thông tư số 86/2000/TT-BTC bị bãi bỏ theo quy định tại Khoản 3 Phần M Thông tư số 113/2005/TT-BTC.nhay

- Căn cứ Luật thuế thu nhập doanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn về thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành;

- Căn cứ Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và các văn bản hướng dẫn về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu hiện hành;

- Căn cứ Quyết định số 37/2000/QĐ-TTg ngày 24/3/2000 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chính sách hỗ trợ phát triển các sản phẩm công nghiệp trọng điểm( áp dụng cho tàu biển 11.500 tấn, động cơ đốt trong cỡ nhỏ dưới 30 mã lực, máy thu hình màu),

Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện chính sách hỗ trợ về tài chính và ưu đãi về thuế để phát triển các sản phẩm công nghiệp trọng điểm  như sau:

I- PHẠM VI ÁP DỤNG
1- Sản phẩm công nghiệp trọng điểm được hưởng chính sách hỗ trợ về tài chính theo quy định của Quyết định số 37/2000/QĐ-TTg ngày 24/3/2000 của Thủ tướng Chính phủ bao gồm: tàu biển 11.500 tấn, động cơ đốt trong cỡ nhỏ  dưới 30 mã lực, máy thu hình màu. Các sản phẩm này phải  mang thương hiệu Việt nam và được sản xuất tại Việt nam.
2- Đối tượng được hưởng các chính sách hỗ trợ về tài chính và ưu đãi về thuế theo quy định của Quyết định số 37/2000/QĐ-TTg ngày 24/3/2000 của Thủ tướng Chính phủ và hướng dẫn tại Thông tư này, bao gồm:
a) Các doanh nghiệp được giao nhiệm vụ chủ trì triển khai thực hiện dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp trọng điểm bao gồm:
- Tổng công ty công nghiệp tàu thuỷ Việt nam - Chủ  trì triển khai thực hiện dự án sản xuất sản phẩm tàu biển 11.500 tấn.
- Tổng công ty Máy động lực và Máy nông nghiệp - Chủ  trì triển khai thực hiện dự án sản xuất sản phẩm động cơ đốt trong cỡ nhỏ dưới 30 mã lực.
- Công ty điện tử Hà Nội - Chủ  trì triển khai thực hiện dự án sản xuất sản phẩm Máy thu hình màu.
b) Các doanh nghiệp được phân công phối hợp để tham gia sản xuất các sản phẩm công nghiệp trọng điểm là các doanh nghiệp (không phân biệt doanh nghiệp trong nước hay doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) tham gia cung cấp vật tư, nguyên liệu, bán thành phẩm, chi tiết, phụ tùng...( kể cả cung cấp cho các nhà sản xuất bán thành phẩm, chi tiết, phụ tùng...) dùng cho sản xuất các sản phẩm công nghiệp trọng điểm và được Bộ Công nghiệp xác nhận.
Các doanh nghiệp nêu tại Điểm 2 Mục I này chỉ được hưởng các chế độ ưu đãi về thuế và tiền thuê đất theo hướng dẫn tại Thông tư này khi đang trong thời hạn được ưu đãi và sản phẩm sản xuất  ra đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn theo đúng hướng dẫn tại Thông tư số 03/2000/TT-BCN ngày 31/5/2000 của Bộ Công  nghiệp.
II- NHỮNG NỘI DUNG ƯU ĐÃI CỤ THỂ
A - CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ VỀ THUẾ:
1- Về thuế thu nhập doanh nghiệp
a)  Mức ưu đãi về  thuế thu nhập doanh nghiệp đối với hoạt động sản xuất các sản phẩm tàu biển 11.500 tấn, động cơ đốt trong cỡ nhỏ dưới 30 mã lực và máy thu hình màu quy định tại phụ lục số 1,2 và 3 của Quyết định số 37/2000/QĐ-TTg ngày 24/3/2000 của Thủ tướng Chính phủ thực hiện như sau:
Thu nhập từ hoạt động sản xuất các sản phẩm công nghiệp trọng điểm nêu trên (kể cả hoạt động sản xuất các vật tư, nguyên liệu, bán thành phẩm, chi tiết phụ tùng để cung ứng cho doanh nghiệp chủ trì dự án sản xuất các sản phẩm công nghiệp trọng điểm) được áp dụng mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp là 25%, được miễn thuế 2 năm đầu kể từ khi có thu nhập chịu thuế và được giảm 50% số thuế thu nhập phải nộp trong thời gian 2 năm tiếp theo.
b) Các doanh nghiệp nêu tại điểm 2 mục I Thông tư này chỉ được hưởng các mức ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp theo hướng dẫn tại Thông tư này khi thực hiện đúng chế độ kế toán thống kê và hạch toán riêng được kết quả kinh doanh của hoạt động sản xuất sản phẩm công nghiệp trọng điểm (hoặc hoạt động sản xuất các vật tư, nguyên liệu, bán thành phẩm, chi tiết phụ tùng để cung ứng cho doanh nghiệp chủ trì dự án sản xuất các sản phẩm công nghiệp trọng điểm).
Mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp 25% được áp dụng trong thời gian được hưởng ưu đãi theo hướng dẫn tại Thông tư số 03/2000/TT-BCN ngày 31/5/2000 của Bộ Công  nghiệp. Hết thời hạn ưu đãi trên, doanh nghiệp phải kê khai nộp thuế theo đúng mức thuế suất quy định tại Luật thuế thu nhập doanh nghiệp . Ngoài hoạt động sản xuất các sản phẩm công nghiệp trọng điểm (hoặc hoạt động sản xuất các vật tư, nguyên liệu, bán thành phẩm, chi tiết phụ tùng để cung ứng cho doanh nghiệp chủ trì dự án sản xuất các sản phẩm công nghiệp trọng điểm) được áp dụng thuế suất 25%,  nếu doanh nghiệp có các hoạt động sản xuất, kinh doanh khác thì vẫn áp dụng kê khai nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo  các  mức thuế suất quy định tại Luật thuế thu nhập doanh nghiệp.
Để có căn cứ xác định số thuế thu nhập doanh nghiệp được miễn, giảm theo chế độ, doanh nghiệp phải gửi hồ sơ đề nghị miễn thuế, giảm thuế đến cơ quan thuế trực tiếp quản lý cùng với việc nộp tờ khai thuế thu nhập doanh nghiệp tạm nộp cả năm. Hồ sơ gồm có:
- Công văn đề nghị miễn thuế, giảm thuế trong đó nêu rõ lý do đề nghị miễn thuế, giảm thuế và mức thuế  thu nhập doanh nghiệp đề nghị miễn, giảm  (theo số dự toán năm xin giảm thuế).
- Dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp trọng điểm đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt hoặc văn bản xác nhận của Bộ Công nghiệp (đối với doanh nghiệp tham gia phối hợp sản xuất  các sản phẩm công nghiệp trọng điểm).
Căn cứ hồ sơ đề nghị của doanh nghiệp cơ quan thuế kiểm tra xác định số thuế thu nhập doanh nghiệp được tạm miễn, giảm cả năm và chia ra từng quý. Hàng quý, Cơ quan thuế trực tiếp quản lý doanh nghiệp thực hiện tạm miễn, giảm bằng 70% mức thuế doanh nghiệp phải tạm nộp của từng quý đối với phần thu nhập từ hoạt động sản xuất sản phẩm công nghiệp trọng điểm (hoặc hoạt động sản xuất các vật tư, nguyên liệu, bán thành phẩm, chi tiết phụ tùng để cung ứng cho doanh nghiệp chủ trì dự án sản xuất các sản phẩm công nghiệp trọng điểm). Việc tạm miễn, giảm thuế nêu trên phải được ghi rõ trong thông báo nộp thuế thu nhập doanh nghiệp .
Cuối năm, căn cứ vào báo cáo quyết toán tài chính và quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp, doanh nghiệp phải xác định số thuế thu nhập doanh nghiệp được miễn, giảm chính thức và  có số liệu giải trình chi tiết về kết quả kinh doanh của hoạt động sản xuất các sản phẩm công nghiệp trọng điểm (hoặc hoạt động sản xuất các vật tư, nguyên liệu, bán thành phẩm, chi tiết phụ tùng để cung ứng cho doanh nghiệp chủ trì dự án sản xuất các sản phẩm công nghiệp trọng điểm) gửi cơ quan thuế làm cơ sở quyết định số được giảm của năm. Cơ quan thuế kiểm tra báo cáo của doanh nghiệp và ra quyết định chính thức về số thuế thu nhập được miễn, giảm đối với phần thu nhập từ hoạt động sản xuất các sản phẩm công nghiệp trọng điểm để làm căn cứ quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp cả năm của doanh nghiệp.
Trong cùng một thời gian  nếu  doanh nghiệp thuộc diện được hưởng ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp theo nhiều chế độ quy định khác nhau (Luật thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật khuyến khích đầu tư trong nước và Quyết định số 37/2000/QĐ-TTg ngày 24/3/2000 của Thủ tướng Chính phủ) thì doanh nghiệp chỉ được lựa chọn một trong các chế độ ưu đãi quy định trong các văn bản nêu trên và phải ghi rõ trong công văn đề nghị miễn thuế, giảm thuế.
2- Về thuế nhập khẩu
a) Miễn thuế nhập khẩu đến hết ngày 31/12/2003 đối với thiết bị, máy móc, phương tiện vận tải chuyên dùng nằm trong dây chuyền công nghệ để tạo tài sản cố định của doanh nghiệp mà trong nước chưa sản xuất được để sản xuất các sản phẩm tàu biển 11.500 tấn, động cơ đốt trong cỡ nhỏ dưới 30 mã lực, máy thu hình màu (quy định tại phụ lục số 1, 2 và 3 của Quyết định số 37/2000/QĐ-TTg ngày 24/3/2000 của Thủ tướng Chính phủ).
Việc ưu đãi miễn thuế đối với thiết bị, máy móc, phương tiện vận tải chuyên dùng nằm trong dây chuyền công nghệ để tạo tài sản cố định của doanh nghiệp loại trong nước chưa sản xuất được chỉ áp dụng  đối với các doanh nghiệp chủ trì triển khai thực hiện dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp trọng điểm, không áp dụng đối với doanh nghiệp phối hợp tham gia sản xuất các sản phẩm trên. Trường hợp đặc biệt, doanh nghiệp phối hợp tham gia sản xuất sản phẩm công nghiệp trọng điểm được miễn thuế nhập khẩu đối với thiết bị, máy móc nhập khẩu chỉ dùng cho mục đích sản xuất vật tư, nguyên liệu, bán thành phẩm, chi tiết, phụ tùng cung cấp cho doanh nghiệp chủ trì thực hiện dự án và được Bộ Công nghiệp xác nhận.
Danh mục thiết bị, máy móc, phương tiện vận tải chuyên dùng nằm trong dây chuyền công nghệ để tạo tài sản cố định của doanh nghiệp mà trong nước chưa sản xuất được, để sản xuất ra các sản phẩm công nghiệp trọng điểm, được xây dựng trên cơ sở phân biệt với danh mục thiết bị, máy móc, phương tiện vận tải chuyên dùng loại trong nước đã sản xuất được do Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành.
b) Miễn thuế nhập khẩu đến hết ngày 31/12/2003 đối với vật tư cần nhập khẩu mà trong nước chưa sản xuất được để sản xuất ra các sản phẩm tàu biển 11.500 tấn, động cơ đốt trong cỡ nhỏ dưới 30 mã lực (quy định tại phụ lục số 1 và 2 của Quyết định số 37/2000/QĐ-TTg ngày 24/3/2000 của Thủ tướng Chính phủ).
Danh mục vật tư cần nhập khẩu mà trong nước chưa sản xuất được để sản xuất ra các sản phẩm tàu biển 11.500 tấn, động cơ đốt trong cỡ nhỏ dưới 30 mã lực do Bộ Công nghiệp ban hành cụ thể cho từng sản phẩm. Trường hợp  các dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp trọng điểm đã triển khai, mà Bộ Công nghiệp chưa ban hành danh mục vật tư cần nhập khẩu mà trong nước chưa sản xuất được để sản xuất ra các sản phẩm công nghiệp trọng điểm thì Bộ Công nghiệp xác định danh mục vật tư được miễn thuế cho từng dự án cụ thể.
c) Riêng đối với vật tư, linh kiện, chi tiết phụ tùng nhập khẩu để sản xuất, lắp ráp máy thu hình màu, nếu thực hiện tính thuế nhập khẩu theo tỷ lệ nội địa hoá thì được hưởng chỉ số ưu tiên với hệ số điều chỉnh bằng 0,5 để tính thuế nhập khẩu theo tỷ lệ nội địa hoá quy định tại Thông tư liên tịch số 176/1998/TTLT ngày 25/12/1998 của Bộ Tài chính - Bộ Công nghiệp - Tổng cục Hải quan và chỉ áp dụng cho phần giá trị nhập khẩu CIP vật tư, linh kiện, chi tiết phụ tùng để sản xuất sản phẩm và phụ tùng của máy thu hình màu.
d) Sau khi được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp trọng điểm, hàng năm hoặc định kỳ (quý, 6 tháng, năm), doanh nghiệp chủ trì triển khai thực hiện dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp trọng điểm phải có phương án sản xuất, lập danh mục và kế hoạch nhập khẩu thiết bị, máy móc, phương tiện vận tải chuyên dùng nằm trong dây chuyền công nghệ để tạo tài sản cố định của doanh nghiệp và vật tư cần nhập khẩu mà trong nước chưa sản xuất được dùng để sản xuất các sản phẩm công nghiệp trọng điểm gửi cơ quan Hải quan để đăng ký việc thực hiện miễn thuế nhập khẩu (riêng đối với doanh nghiệp phối hợp tham gia sản xuất sản phẩm công nghiệp trọng điểm hồ sơ gửi Hải quan phải kèm theo hợp đồng nhận sản xuất, gia công vật tư với doanh nghiệp chủ trì dự án và văn bản xác nhận của Bộ Công nghiệp về việc phối hợp tham gia trên).
Trên cơ sở đối chiếu các danh mục do Bộ Kế hoach và Đầu tư và Bộ Công nghiệp ban hành (hoặc xác nhận của Bộ Công nhiệp về danh mục vật tư được miễn thuế cho từng dự án) và danh mục của doanh nghiệp đã đăng ký, cơ quan Hải quan thực hiện tạm thời không thu thuế nhập khẩu theo từng lần doanh nghiệp thực tế nhập khẩu. Doanh nghiệp nhập khẩu phải thực hiện thanh, quyết toán số thuế nhập khẩu thực tế được miễn nộp NSNN với cơ quan Hải quan.
Cơ quan thuế trực tiếp quản lý doanh nghiệp có trách nhiệm giám sát việc nhập khẩu thiết bị, máy móc, phương tiện vận tải chuyên dùng và vật tư nhập khẩu miễn thuế trong các trường hợp nêu trên trên, nếu phát hiện việc sử dụng hàng nhập khẩu sai mục đích phải xử lý truy thu thuế và xử phạt theo quy định của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.
B- CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ VỀ TIỀN THUÊ ĐẤT:
Các doanh nghiệp nêu tại điểm 2 mục I Thông tư này được giảm 50% tiền thuê đất phải nộp Ngân sách nhà nước  đối với phần diện tích đất sử dụng để sản xuất sản phẩm công nghiệp trọng điểm  (hoặc sản xuất vật tư, bán thành phẩm, chi tiết, phụ tùng... dùng cho sản xuất các sản phẩm công nghiệp trọng điểm) trong thời hạn triển khai thực hiện dự án đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt hoặc trong thời gian phối hợp tham gia sản xuất sản phẩm công nghiệp trọng điểm  (đối với doanh nghiệp sản xuất vật tư, bán thành phẩm, chi tiết, phụ tùng... dùng cho sản xuất các sản phẩm công nghiệp trọng điểm).
Trường hợp doanh nghiệp không thể phân định được diện tích đất dùng vào sản xuất sản phẩm công nghiệp trọng điểm (hoặc hoạt động sản xuất vật tư, bán thành phẩm, chi tiết, phụ tùng... dùng cho sản xuất các sản phẩm công nghiệp trọng điểm) với diện tích đất sử dụng vào các mục đích kinh doanh khác của doanh nghiệp thì việc xác định tiền thuê đất để xét giảm được xác định theo tỷ trọng của doanh thu từ hoạt động sản xuất sản phẩm công nghiệp trọng điểm (hoặc hoạt động sản xuất vật tư, bán thành phẩm, chi tiết, phụ tùng... dùng cho sản xuất các sản phẩm công nghiệp trọng điểm) trên tổng doanh thu của doanh nghiệp. Nếu tỷ trọng trên thấp hơn 30% thì áp dụng mức 30% làm căn cứ để xác định tiền thuê đất được xét giảm.
Ví dụ 1: Năm 2000, Doanh nghiệp A có tổng diện tích đất thuê của nhà nước là 100.000 m2 trong đó doanh nghiệp sử dụng 70.000m2  đất để làm nhà kho và phân xưởng sản xuất máy thu hình màu, phần diện tích còn lại doanh nghiệp sử dụng vào các mục đích kinh doanh khác; Căn cứ Quyết định số 37/2000/QĐ-TTg ngày 24/3/2000 của Thủ tướng Chính phủ và hướng dẫn tại Thông tư này thì doanh nghiệp A  được giảm 50% tiền thuê đất phải nộp đối với 70.000 m2 đất sử dụng cho mục đích sản xuất máy thu hình màu. Phần diện tích đất 30.000m2 đất còn lại doanh nghiệp phải nộp tiền thuê đất theo đúng chế độ quy định.
Ví dụ 2: Cũng doanh nghiệp A nêu trên, nhưng doanh nghiệp không thể xác định được diện tích đất sử dụng vào mục đích sản xuất máy thu hình màu với diện tích đất sử dụng vào các hoạt động kinh doanh khác. Theo báo cáo quyết toán tài chính và quyết toán thuế năm 2000 xác định được tổng doanh thu kinh doanh của doanh nghiệp là 100 tỷ đồng, doanh thu từ hoạt động sản xuất máy thu hình màu là 40 tỷ đồng (tỷ trọng 40% trên tổng doanh thu) và tổng số tiền thuê đất phải nộp theo chế độ là 50 triệu đồng thì số tiền thuê đất được  giảm theo Quyết định số 37/2000/QĐ-TTg xác định như sau:
Tiền thuê đất được giảm = 50.000.000 đồng x 40%  x 50%= 10.000.000 đồng.
Ví dụ 3: Cũng ví dụ 2 nêu trên, nếu doanh thu từ hoạt động sản xuất máy thu hình màu là 25 tỷ đồng (tỷ trọng 25% trên tổng doanh thu) thì số tiền thuê đất được giảm theo Quyết định số 37/2000/QĐ-TTg xác định như sau:
Tiền thuê đất được giảm = 50.000.000 đồng x 30% x 50%  =7.500.000 đồng.
Trường hợp doanh nghiệp vừa thuộc diện được giảm tiền thuê đất theo Quyết định số 37/2000/QĐ-TTg ngày 24/3/2000 của Thủ tướng Chính phủ, vừa thuộc diện được miễn giảm tiền thuê đất theo các chế độ quy định khác thì doanh nghiệp chỉ được miễn, giảm tiền thuê đất theo một trong các quy định trên, tuỳ theo doanh nghiệp lựa chọn.
Thời gian xác định giảm tiền thuê đất được tính theo năm. Riêng năm bắt đầu triển khai dự án nếu bắt đầu thực hiện dự án vào sáu tháng đầu năm thì thời gian được xét giảm là cả năm, nếu bắt đầu thực hiện vào 6 tháng cuối năm thì thời gian được xét giảm là 6 tháng.
Trình tự, thủ tục xét giảm tiền thuê đất thực hiện theo quy định hiện hành
C- CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ VỀ VỐN:
Thực hiện theo các mức ưu đãi cụ thể cho từng sản phẩm công nghiệp trọng điểm theo quy định tại các Phụ lục 1,2 và 3 ban hành kèm theo Quyết định số 37/2000/QĐ-TTg ngày 24/3/2000 của Thủ tướng Chính phủ. Thủ tục cấp vốn hỗ trợ từ ngân sách và thủ tục vay vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước từ Quỹ hỗ trợ phát triển thực hiện theo chế độ hiện hành.
III- TỔ CHỨC THỰC HIỆN.
Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.
Trong quá trình thực hiện nếu có vấn đề gì vướng mắc, đề nghị các đơn vị báo cáo về Bộ Tài chính để hướng dẫn giải quyết.
Thuộc tính văn bản
Thông tư 86/2000/TT-BTC của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn thực hiện chính sách hỗ trợ về tài chính và ưu đãi về thuế để phát triển các sản phẩm công nghiệp trọng điểm theo quy định của Quyết định số 37/2000/QĐ-TTg ngày 24/3/2000 của Thủ tướng Chính phủ
Cơ quan ban hành: Bộ Tài chính Số công báo: Đã biết
Số hiệu: 86/2000/TT-BTC Ngày đăng công báo: Đang cập nhật
Loại văn bản: Thông tư Người ký: Vũ Văn Ninh
Ngày ban hành: 16/08/2000 Ngày hết hiệu lực: Đang cập nhật
Áp dụng: Đã biết Tình trạng hiệu lực: Đã biết
Lĩnh vực: Thuế-Phí-Lệ phí , Công nghiệp , Chính sách
Tóm tắt văn bản
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
LuatVietnam.vn độc quyền cung cấp bản dịch chính thống Công báo tiếng Anh của Thông Tấn Xã Việt Nam
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng: Đã biết

THÔNG TƯ

CỦA BỘ TÀI CHÍNH SỐ 86/2000/TT-BTC NGÀY 16 THÁNG 8 NĂM 2000
HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ VỀ TÀI CHÍNH
VÀ ƯU ĐàI VỀ THUẾ ĐỂ PHÁT TRIỂN CÁC SẢN PHẨM
CÔNG NGHIỆP TRỌNG ĐIỂM THEO QUY ĐỊNH CỦA QUYẾT ĐỊNH
SỐ 37/2000/QĐ-TTG NGÀY 24/3/2000 CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

 

- Căn cứ Luật thuế thu nhập doanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn về thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành;

- Căn cứ Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và các văn bản hướng dẫn về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu hiện hành;

- Căn cứ Quyết định số 37/2000/QĐ-TTg ngày 24/3/2000 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chính sách hỗ trợ phát triển các sản phẩm công nghiệp trọng điểm( áp dụng cho tàu biển 11.500 tấn, động cơ đốt trong cỡ nhỏ dưới 30 mã lực, máy thu hình màu),

Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện chính sách hỗ trợ về tài chính và ưu đãi về thuế để phát triển các sản phẩm công nghiệp trọng điểm như sau:

I- PHẠM VI ÁP DỤNG

1- Sản phẩm công nghiệp trọng điểm được hưởng chính sách hỗ trợ về tài chính theo quy định của Quyết định số 37/2000/QĐ-TTg ngày 24/3/2000 của Thủ tướng Chính phủ bao gồm: tàu biển 11.500 tấn, động cơ đốt trong cỡ nhỏ dưới 30 mã lực, máy thu hình màu. Các sản phẩm này phải mang thương hiệu Việt nam và được sản xuất tại Việt nam.

2- Đối tượng được hưởng các chính sách hỗ trợ về tài chính và ưu đãi về thuế theo quy định của Quyết định số 37/2000/QĐ-TTg ngày 24/3/2000 của Thủ tướng Chính phủ và hướng dẫn tại Thông tư này, bao gồm:

a) Các doanh nghiệp được giao nhiệm vụ chủ trì triển khai thực hiện dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp trọng điểm bao gồm:

- Tổng công ty công nghiệp tàu thuỷ Việt nam - Chủ trì triển khai thực hiện dự án sản xuất sản phẩm tàu biển 11.500 tấn.

- Tổng công ty Máy động lực và Máy nông nghiệp - Chủ trì triển khai thực hiện dự án sản xuất sản phẩm động cơ đốt trong cỡ nhỏ dưới 30 mã lực.

- Công ty điện tử Hà Nội - Chủ trì triển khai thực hiện dự án sản xuất sản phẩm Máy thu hình màu.

b) Các doanh nghiệp được phân công phối hợp để tham gia sản xuất các sản phẩm công nghiệp trọng điểm là các doanh nghiệp (không phân biệt doanh nghiệp trong nước hay doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) tham gia cung cấp vật tư, nguyên liệu, bán thành phẩm, chi tiết, phụ tùng...( kể cả cung cấp cho các nhà sản xuất bán thành phẩm, chi tiết, phụ tùng...) dùng cho sản xuất các sản phẩm công nghiệp trọng điểm và được Bộ Công nghiệp xác nhận.

Các doanh nghiệp nêu tại Điểm 2 Mục I này chỉ được hưởng các chế độ ưu đãi về thuế và tiền thuê đất theo hướng dẫn tại Thông tư này khi đang trong thời hạn được ưu đãi và sản phẩm sản xuất ra đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn theo đúng hướng dẫn tại Thông tư số 03/2000/TT-BCN ngày 31/5/2000 của Bộ Công nghiệp.

 

II- NHỮNG NỘI DUNG ƯU ĐàI CỤ THỂ

 

A - CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ VỀ THUẾ:

 

1- Về thuế thu nhập doanh nghiệp

a) Mức ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp đối với hoạt động sản xuất các sản phẩm tàu biển 11.500 tấn, động cơ đốt trong cỡ nhỏ dưới 30 mã lực và máy thu hình màu quy định tại phụ lục số 1,2 và 3 của Quyết định số 37/2000/QĐ-TTg ngày 24/3/2000 của Thủ tướng Chính phủ thực hiện như sau:

Thu nhập từ hoạt động sản xuất các sản phẩm công nghiệp trọng điểm nêu trên (kể cả hoạt động sản xuất các vật tư, nguyên liệu, bán thành phẩm, chi tiết phụ tùng để cung ứng cho doanh nghiệp chủ trì dự án sản xuất các sản phẩm công nghiệp trọng điểm) được áp dụng mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp là 25%, được miễn thuế 2 năm đầu kể từ khi có thu nhập chịu thuế và được giảm 50% số thuế thu nhập phải nộp trong thời gian 2 năm tiếp theo.

b) Các doanh nghiệp nêu tại điểm 2 mục I Thông tư này chỉ được hưởng các mức ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp theo hướng dẫn tại Thông tư này khi thực hiện đúng chế độ kế toán thống kê và hạch toán riêng được kết quả kinh doanh của hoạt động sản xuất sản phẩm công nghiệp trọng điểm (hoặc hoạt động sản xuất các vật tư, nguyên liệu, bán thành phẩm, chi tiết phụ tùng để cung ứng cho doanh nghiệp chủ trì dự án sản xuất các sản phẩm công nghiệp trọng điểm).

Mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp 25% được áp dụng trong thời gian được hưởng ưu đãi theo hướng dẫn tại Thông tư số 03/2000/TT-BCN ngày 31/5/2000 của Bộ Công nghiệp. Hết thời hạn ưu đãi trên, doanh nghiệp phải kê khai nộp thuế theo đúng mức thuế suất quy định tại Luật thuế thu nhập doanh nghiệp . Ngoài hoạt động sản xuất các sản phẩm công nghiệp trọng điểm (hoặc hoạt động sản xuất các vật tư, nguyên liệu, bán thành phẩm, chi tiết phụ tùng để cung ứng cho doanh nghiệp chủ trì dự án sản xuất các sản phẩm công nghiệp trọng điểm) được áp dụng thuế suất 25%, nếu doanh nghiệp có các hoạt động sản xuất, kinh doanh khác thì vẫn áp dụng kê khai nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo các mức thuế suất quy định tại Luật thuế thu nhập doanh nghiệp.

Để có căn cứ xác định số thuế thu nhập doanh nghiệp được miễn, giảm theo chế độ, doanh nghiệp phải gửi hồ sơ đề nghị miễn thuế, giảm thuế đến cơ quan thuế trực tiếp quản lý cùng với việc nộp tờ khai thuế thu nhập doanh nghiệp tạm nộp cả năm. Hồ sơ gồm có:

- Công văn đề nghị miễn thuế, giảm thuế trong đó nêu rõ lý do đề nghị miễn thuế, giảm thuế và mức thuế thu nhập doanh nghiệp đề nghị miễn, giảm (theo số dự toán năm xin giảm thuế).

- Dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp trọng điểm đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt hoặc văn bản xác nhận của Bộ Công nghiệp (đối với doanh nghiệp tham gia phối hợp sản xuất các sản phẩm công nghiệp trọng điểm).

Căn cứ hồ sơ đề nghị của doanh nghiệp cơ quan thuế kiểm tra xác định số thuế thu nhập doanh nghiệp được tạm miễn, giảm cả năm và chia ra từng quý. Hàng quý, Cơ quan thuế trực tiếp quản lý doanh nghiệp thực hiện tạm miễn, giảm bằng 70% mức thuế doanh nghiệp phải tạm nộp của từng quý đối với phần thu nhập từ hoạt động sản xuất sản phẩm công nghiệp trọng điểm (hoặc hoạt động sản xuất các vật tư, nguyên liệu, bán thành phẩm, chi tiết phụ tùng để cung ứng cho doanh nghiệp chủ trì dự án sản xuất các sản phẩm công nghiệp trọng điểm). Việc tạm miễn, giảm thuế nêu trên phải được ghi rõ trong thông báo nộp thuế thu nhập doanh nghiệp .

Cuối năm, căn cứ vào báo cáo quyết toán tài chính và quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp, doanh nghiệp phải xác định số thuế thu nhập doanh nghiệp được miễn, giảm chính thức và có số liệu giải trình chi tiết về kết quả kinh doanh của hoạt động sản xuất các sản phẩm công nghiệp trọng điểm (hoặc hoạt động sản xuất các vật tư, nguyên liệu, bán thành phẩm, chi tiết phụ tùng để cung ứng cho doanh nghiệp chủ trì dự án sản xuất các sản phẩm công nghiệp trọng điểm) gửi cơ quan thuế làm cơ sở quyết định số được giảm của năm. Cơ quan thuế kiểm tra báo cáo của doanh nghiệp và ra quyết định chính thức về số thuế thu nhập được miễn, giảm đối với phần thu nhập từ hoạt động sản xuất các sản phẩm công nghiệp trọng điểm để làm căn cứ quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp cả năm của doanh nghiệp.

Trong cùng một thời gian nếu doanh nghiệp thuộc diện được hưởng ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp theo nhiều chế độ quy định khác nhau (Luật thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật khuyến khích đầu tư trong nước và Quyết định số 37/2000/QĐ-TTg ngày 24/3/2000 của Thủ tướng Chính phủ) thì doanh nghiệp chỉ được lựa chọn một trong các chế độ ưu đãi quy định trong các văn bản nêu trên và phải ghi rõ trong công văn đề nghị miễn thuế, giảm thuế.

2- Về thuế nhập khẩu

a) Miễn thuế nhập khẩu đến hết ngày 31/12/2003 đối với thiết bị, máy móc, phương tiện vận tải chuyên dùng nằm trong dây chuyền công nghệ để tạo tài sản cố định của doanh nghiệp mà trong nước chưa sản xuất được để sản xuất các sản phẩm tàu biển 11.500 tấn, động cơ đốt trong cỡ nhỏ dưới 30 mã lực, máy thu hình màu (quy định tại phụ lục số 1, 2 và 3 của Quyết định số 37/2000/QĐ-TTg ngày 24/3/2000 của Thủ tướng Chính phủ).

Việc ưu đãi miễn thuế đối với thiết bị, máy móc, phương tiện vận tải chuyên dùng nằm trong dây chuyền công nghệ để tạo tài sản cố định của doanh nghiệp loại trong nước chưa sản xuất được chỉ áp dụng đối với các doanh nghiệp chủ trì triển khai thực hiện dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp trọng điểm, không áp dụng đối với doanh nghiệp phối hợp tham gia sản xuất các sản phẩm trên. Trường hợp đặc biệt, doanh nghiệp phối hợp tham gia sản xuất sản phẩm công nghiệp trọng điểm được miễn thuế nhập khẩu đối với thiết bị, máy móc nhập khẩu chỉ dùng cho mục đích sản xuất vật tư, nguyên liệu, bán thành phẩm, chi tiết, phụ tùng cung cấp cho doanh nghiệp chủ trì thực hiện dự án và được Bộ Công nghiệp xác nhận.

Danh mục thiết bị, máy móc, phương tiện vận tải chuyên dùng nằm trong dây chuyền công nghệ để tạo tài sản cố định của doanh nghiệp mà trong nước chưa sản xuất được, để sản xuất ra các sản phẩm công nghiệp trọng điểm, được xây dựng trên cơ sở phân biệt với danh mục thiết bị, máy móc, phương tiện vận tải chuyên dùng loại trong nước đã sản xuất được do Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành.

b) Miễn thuế nhập khẩu đến hết ngày 31/12/2003 đối với vật tư cần nhập khẩu mà trong nước chưa sản xuất được để sản xuất ra các sản phẩm tàu biển 11.500 tấn, động cơ đốt trong cỡ nhỏ dưới 30 mã lực (quy định tại phụ lục số 1 và 2 của Quyết định số 37/2000/QĐ-TTg ngày 24/3/2000 của Thủ tướng Chính phủ).

Danh mục vật tư cần nhập khẩu mà trong nước chưa sản xuất được để sản xuất ra các sản phẩm tàu biển 11.500 tấn, động cơ đốt trong cỡ nhỏ dưới 30 mã lực do Bộ Công nghiệp ban hành cụ thể cho từng sản phẩm. Trường hợp các dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp trọng điểm đã triển khai, mà Bộ Công nghiệp chưa ban hành danh mục vật tư cần nhập khẩu mà trong nước chưa sản xuất được để sản xuất ra các sản phẩm công nghiệp trọng điểm thì Bộ Công nghiệp xác định danh mục vật tư được miễn thuế cho từng dự án cụ thể.

c) Riêng đối với vật tư, linh kiện, chi tiết phụ tùng nhập khẩu để sản xuất, lắp ráp máy thu hình màu, nếu thực hiện tính thuế nhập khẩu theo tỷ lệ nội địa hoá thì được hưởng chỉ số ưu tiên với hệ số điều chỉnh bằng 0,5 để tính thuế nhập khẩu theo tỷ lệ nội địa hoá quy định tại Thông tư liên tịch số 176/1998/TTLT ngày 25/12/1998 của Bộ Tài chính - Bộ Công nghiệp - Tổng cục Hải quan và chỉ áp dụng cho phần giá trị nhập khẩu CIP vật tư, linh kiện, chi tiết phụ tùng để sản xuất sản phẩm và phụ tùng của máy thu hình màu.

d) Sau khi được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp trọng điểm, hàng năm hoặc định kỳ (quý, 6 tháng, năm), doanh nghiệp chủ trì triển khai thực hiện dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp trọng điểm phải có phương án sản xuất, lập danh mục và kế hoạch nhập khẩu thiết bị, máy móc, phương tiện vận tải chuyên dùng nằm trong dây chuyền công nghệ để tạo tài sản cố định của doanh nghiệp và vật tư cần nhập khẩu mà trong nước chưa sản xuất được dùng để sản xuất các sản phẩm công nghiệp trọng điểm gửi cơ quan Hải quan để đăng ký việc thực hiện miễn thuế nhập khẩu (riêng đối với doanh nghiệp phối hợp tham gia sản xuất sản phẩm công nghiệp trọng điểm hồ sơ gửi Hải quan phải kèm theo hợp đồng nhận sản xuất, gia công vật tư với doanh nghiệp chủ trì dự án và văn bản xác nhận của Bộ Công nghiệp về việc phối hợp tham gia trên).

Trên cơ sở đối chiếu các danh mục do Bộ Kế hoach và Đầu tư và Bộ Công nghiệp ban hành (hoặc xác nhận của Bộ Công nhiệp về danh mục vật tư được miễn thuế cho từng dự án) và danh mục của doanh nghiệp đã đăng ký, cơ quan Hải quan thực hiện tạm thời không thu thuế nhập khẩu theo từng lần doanh nghiệp thực tế nhập khẩu. Doanh nghiệp nhập khẩu phải thực hiện thanh, quyết toán số thuế nhập khẩu thực tế được miễn nộp NSNN với cơ quan Hải quan.

Cơ quan thuế trực tiếp quản lý doanh nghiệp có trách nhiệm giám sát việc nhập khẩu thiết bị, máy móc, phương tiện vận tải chuyên dùng và vật tư nhập khẩu miễn thuế trong các trường hợp nêu trên trên, nếu phát hiện việc sử dụng hàng nhập khẩu sai mục đích phải xử lý truy thu thuế và xử phạt theo quy định của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.

 

B- CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ VỀ TIỀN THUÊ ĐẤT:

 

Các doanh nghiệp nêu tại điểm 2 mục I Thông tư này được giảm 50% tiền thuê đất phải nộp Ngân sách nhà nước đối với phần diện tích đất sử dụng để sản xuất sản phẩm công nghiệp trọng điểm (hoặc sản xuất vật tư, bán thành phẩm, chi tiết, phụ tùng... dùng cho sản xuất các sản phẩm công nghiệp trọng điểm) trong thời hạn triển khai thực hiện dự án đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt hoặc trong thời gian phối hợp tham gia sản xuất sản phẩm công nghiệp trọng điểm (đối với doanh nghiệp sản xuất vật tư, bán thành phẩm, chi tiết, phụ tùng... dùng cho sản xuất các sản phẩm công nghiệp trọng điểm).

 

Trường hợp doanh nghiệp không thể phân định được diện tích đất dùng vào sản xuất sản phẩm công nghiệp trọng điểm (hoặc hoạt động sản xuất vật tư, bán thành phẩm, chi tiết, phụ tùng... dùng cho sản xuất các sản phẩm công nghiệp trọng điểm) với diện tích đất sử dụng vào các mục đích kinh doanh khác của doanh nghiệp thì việc xác định tiền thuê đất để xét giảm được xác định theo tỷ trọng của doanh thu từ hoạt động sản xuất sản phẩm công nghiệp trọng điểm (hoặc hoạt động sản xuất vật tư, bán thành phẩm, chi tiết, phụ tùng... dùng cho sản xuất các sản phẩm công nghiệp trọng điểm) trên tổng doanh thu của doanh nghiệp. Nếu tỷ trọng trên thấp hơn 30% thì áp dụng mức 30% làm căn cứ để xác định tiền thuê đất được xét giảm.

Ví dụ 1: Năm 2000, Doanh nghiệp A có tổng diện tích đất thuê của nhà nước là 100.000 m2 trong đó doanh nghiệp sử dụng 70.000m2 đất để làm nhà kho và phân xưởng sản xuất máy thu hình màu, phần diện tích còn lại doanh nghiệp sử dụng vào các mục đích kinh doanh khác; Căn cứ Quyết định số 37/2000/QĐ-TTg ngày 24/3/2000 của Thủ tướng Chính phủ và hướng dẫn tại Thông tư này thì doanh nghiệp A được giảm 50% tiền thuê đất phải nộp đối với 70.000 m2 đất sử dụng cho mục đích sản xuất máy thu hình màu. Phần diện tích đất 30.000m2 đất còn lại doanh nghiệp phải nộp tiền thuê đất theo đúng chế độ quy định.

Ví dụ 2: Cũng doanh nghiệp A nêu trên, nhưng doanh nghiệp không thể xác định được diện tích đất sử dụng vào mục đích sản xuất máy thu hình màu với diện tích đất sử dụng vào các hoạt động kinh doanh khác. Theo báo cáo quyết toán tài chính và quyết toán thuế năm 2000 xác định được tổng doanh thu kinh doanh của doanh nghiệp là 100 tỷ đồng, doanh thu từ hoạt động sản xuất máy thu hình màu là 40 tỷ đồng (tỷ trọng 40% trên tổng doanh thu) và tổng số tiền thuê đất phải nộp theo chế độ là 50 triệu đồng thì số tiền thuê đất được giảm theo Quyết định số 37/2000/QĐ-TTg xác định như sau:

Tiền thuê đất được giảm = 50.000.000 đồng x 40% x 50%= 10.000.000 đồng.

Ví dụ 3: Cũng ví dụ 2 nêu trên, nếu doanh thu từ hoạt động sản xuất máy thu hình màu là 25 tỷ đồng (tỷ trọng 25% trên tổng doanh thu) thì số tiền thuê đất được giảm theo Quyết định số 37/2000/QĐ-TTg xác định như sau:

Tiền thuê đất được giảm = 50.000.000 đồng x 30% x 50% =7.500.000 đồng.

Trường hợp doanh nghiệp vừa thuộc diện được giảm tiền thuê đất theo Quyết định số 37/2000/QĐ-TTg ngày 24/3/2000 của Thủ tướng Chính phủ, vừa thuộc diện được miễn giảm tiền thuê đất theo các chế độ quy định khác thì doanh nghiệp chỉ được miễn, giảm tiền thuê đất theo một trong các quy định trên, tuỳ theo doanh nghiệp lựa chọn.

Thời gian xác định giảm tiền thuê đất được tính theo năm. Riêng năm bắt đầu triển khai dự án nếu bắt đầu thực hiện dự án vào sáu tháng đầu năm thì thời gian được xét giảm là cả năm, nếu bắt đầu thực hiện vào 6 tháng cuối năm thì thời gian được xét giảm là 6 tháng.

Trình tự, thủ tục xét giảm tiền thuê đất thực hiện theo quy định hiện hành

 

C- CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ VỀ VỐN:

 

Thực hiện theo các mức ưu đãi cụ thể cho từng sản phẩm công nghiệp trọng điểm theo quy định tại các Phụ lục 1,2 và 3 ban hành kèm theo Quyết định số 37/2000/QĐ-TTg ngày 24/3/2000 của Thủ tướng Chính phủ. Thủ tục cấp vốn hỗ trợ từ ngân sách và thủ tục vay vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước từ Quỹ hỗ trợ phát triển thực hiện theo chế độ hiện hành.

 

III- TỔ CHỨC THỰC HIỆN.

 

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.

Trong quá trình thực hiện nếu có vấn đề gì vướng mắc, đề nghị các đơn vị báo cáo về Bộ Tài chính để hướng dẫn giải quyết.

Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem VB liên quan.
Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!
Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Hiệu lực.
Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!

THE MINISTRY OF FINANCE
-------

SOCIALIST REPUBLIC OF VIET NAM
Independence - Freedom - Happiness
----------

No: 86/2000/TT-BTC

Hanoi, August 16, 2000

 

CIRCULAR

GUIDING THE IMPLEMENTATION OF THE FINANCIAL SUPPORT AND TAX PREFERENCE POLICIES FOR THE DEVELOPMENT OF KEY INDUSTRIAL PRODUCTS UNDER THE PRIME MINISTER’S DECISION No. 37/2000/QD-TTg OF MARCH 24, 2000.

Pursuant to the Enterprise Income Tax Law and the current guiding documents on enterprise income tax;
Pursuant to the Law on Import Tax and Export Tax and the current guiding documents on import and export taxes;
Pursuant to the Prime Minister’s Decision No. 37/2000/QD-TTg of March 24, 2000 promulgating the policy of support to the development of key industrial products (applicable to ocean-going ships of 11,500 tonnage, small-sized internal combustion engines of under 30 HP and color TV sets),
The Ministry of Finance hereby guides the realization of the financial support and tax preference policies for the development of key industrial products as follows:

I. SCOPE OF APPLICATION

1. Key industrial products eligible for the financial support policy under the Prime Minister’s Decision No. 37/2000/QD-TTg of March 24, 2000 include: ocean-going ships of 11,5000 tonnage, small-sized internal combustion engines of under 30 HP and color TV sets. These products must bear Vietnamese trademarks and be made in Vietnam.

2. Subjects entitled to the financial support and tax preference policies under the Prime Minister’s Decision No. 37/2000/QD-TTg of March 24, 2000 and the guidance of the Circular include:

a/ Enterprises assigned the prime responsibility for deploying the implementation of the projects on production of key industrial products, including:

- The Vietnam Shipbuilding Corporation - to assume the prime responsibility for deploying the implementation of the project on building of ocean-shipping ships of 11,500 tonnage.

- The Vietnam Motors and Farming Machines - to assume the prime responsibility for deploying the implementation of the project on production of small-sized internal combustion engines of under 30 HP.

- The Hanoi Electronics Company - to assume the prime responsibility for deploying the implementation of the project on production of color TV sets.

b/ Enterprises that are assigned to participate in the production of key industrial products are those (regardless of domestic or foreign-invested enterprises) involved in the provision of supplies, raw materials, semi-finished products, details, spare parts’ (even to manufacturers of semi-finished products, details, spare parts…) for use in the production of key industrial products, which is certified by the Ministry of Industry.

The enterprises mentioned at Point 2 of this Section shall be only entitled to the preferential tax and land rental regimes under the guidance of this Circular when they are in the preference period and their manufactured products fully meet the criteria guided in the Industry Ministry’s Circular No. 03/2000/TT-BCN of May 31, 2000.

II. SPECIFIC PREFERENCE CONTENTS

A. TAX SUPPORT POLICY

1. Regarding enterprise income tax

a/ The preferential enterprise income tax rates applicable to the production of ocean-going ships of 11,500 tonnage, small-sized internal combustion engines and color TV sets prescribed in Appendices 1, 2 and 3 to the Prime Minister’s Decision No. 37/2000/QD-TTg of March 24, 2000 shall be realized as follows:

The incomes from the production of the above-mentioned key industrial products (including the production of supplies, raw materials, semi-finished products, details and spare parts to be supplied to enterprises with the prime responsibility for the projects on production of key industrial products) shall be entitled to the enterprise income tax rate of 25%, to tax exemption for two years from the time taxable incomes are generated and to a 50% reduction of the payable income tax amounts for two subsequent years.

b/ The enterprises mentioned at Point 2, Section I of this Circular shall be entitled to the preferential enterprise income tax rates under the guidance in this Circular only when they strictly adhere to the accounting and statistical regimes and manage to separately account the business results of the production of key industrial products (or the production of supplies, raw materials, semi-finished products, details and spare parts to be supplied to the enterprises with the prime responsibility for the projects on production of key industrial products).

The enterprise income tax rate of 25% shall apply during the period the enterprises enjoy the preferences as guided in the Industry Ministry’s Circular No. 03/2000/TT-BCN of May 31, 2000. After this preference period expires, the enterprises must declare and pay income tax at the rates prescribed in the Enterprise Income Tax Law. Besides the production of key industrial products (or the production of supplies, raw materials, semi-finished products, details and spare parts to be supplied to enterprises with the prime responsibility for the projects on production of key industrial products), which enjoys the tax rate of 25%, if the enterprises conduct other production and business activities, they shall still have to declare and pay enterprise income tax for these activities at the rates prescribed in the Enterprise Income Tax Law.

To have grounds for determination of enterprise income tax exemption or reduction amounts according to the regimes, the enterprises must send dossiers of application for tax exemption and/or reduction to the tax agencies directly managing them together with the declarations on the enterprise income tax amounts to be temporarily paid for the whole year. Such a dossier consists of:

- An application for tax exemption and reduction, clearly stating the reasons therefor and the proposed enterprise income tax amounts to be exempt and/or reduced (according to the projected amounts of the year of application for tax reduction).

- The project on the production of key industrial products already approved by the competent State body or the written certification by the Ministry of Industry (for enterprises participating in the production of key industrial products).

Basing themselves on the enterprises’ dossiers of application, the tax agencies shall examine and determine the enterprise income tax amounts temporarily exempted and/or reduced for the whole year, which shall be apportioned for each quarter. Quarterly, the tax agencies directly managing the enterprises shall effect the temporary exemption and/or reduction equal to 70% of the tax amounts to be temporarily paid every quarter for the incomes from the production of key industrial products (or the production of supplies, raw materials, semi-finished products, details and spare parts to be supplied to enterprises with the prime responsibility for the projects on production of key industrial products). The above temporary tax exemption and/or reduction must be clearly stated in the notice on payment of enterprise income tax.

At the year end, basing themselves on the financial settlement and the enterprise income tax settlement reports, the enterprises shall have to determine the official tax amounts to be exempt and/or reduced and collect data to expound in detail the business results of the production of key industrial products (or the production of supplies, raw materials, semi-finished products, details and spare parts to be supplied to enterprises with the prime responsibility for the projects on production of key industrial products) then send them to the tax agencies for use as basis for deciding the tax reduction amount for the year. The tax agencies shall check the enterprises’ reports and issue official decisions on the tax exemption or reduction amounts for the incomes from the production of key industrial products, which shall serve as basis for settling the enterprises’ enterprise income tax of the whole year.

Over the same duration if an enterprise is entitled to enterprise income tax preferences according to different regimes (the Enterprise Income Tax Law, the Domestic Investment Promotion Law and the Prime Minister’s Decision No. 37/2000/QD-TTg of March 24, 2000), it may opt for only one of the preferential regimes prescribed in the above-mentioned documents, which must be clearly stated in the written application for tax exemption and/or reduction.

2. Regarding import duty

a/ Exemption of import duty up to the end of December 31, 2003 for special-use equipment, machinery and transport means in the technological lines imported to create the enterprises’ fixed assets, which cannot be produced in the country yet, for the production of ocean-going ships of 11,5000 tonnage, small-sized internal combustion engines of under 30 HP and color TV sets (prescribed in Appendices 1, 2 and 3 to the Prime Minister’s Decision No. 37/2000/QD-TTg of March 24, 2000).

The exemption of import duty up to the end of December 31, 2003 for special-use equipment, machinery and transport means in the technological lines imported to create the enterprises� fixed assets, which cannot be produced in the country yet shall apply only to enterprises with the prime responsibility for deploying the implementation of the projects on production of key industrial products but not to enterprises participating therein. In special cases, enterprises participating in the production of key industrial products may be exempt from import duty on equipment and machinery which are imported only for the production of supplies, raw materials, semi-finished products, details and spare parts to be supplied to enterprises with the prime responsibility for implementing the projects, which is certified by the Ministry of Industry.

The list of special-use equipment, machinery and transport means in the technological lines imported to create the enterprises’ fixed assets, which cannot be produced in the country yet, to produce key industrial products, shall be drawn up on the basis of distinction from the list of special-use equipment, machinery and transport means already made in the country, issued by the Ministry of Planning and Investment.

b/ The exemption of import duty up to December 31, 2003 for supplies that need to be imported but cannot be produced in the country yet to produce ocean-going ships of 11,5000 tonnage, small-sized internal combustion engines of under 30 HP (prescribed in Appendices 1 and 2 to the Prime Minister’s Decision No. 37/2000/QD-TTg of March 24, 2000).

The list of supplies that need to be imported but cannot be produced in the country yet to produce ocean-going ships of 11,5000 tonnage, small-sized internal combustion engines of under 30 HP, shall be issued by the Ministry of Industry for each kind of product. In cases where a project on production of key industrial products has been deployed but the Ministry of Industry still fails to issue the list of supplies that need to be imported but cannot be produced in the country yet to produce key industrial products, the Ministry of Industry shall determine the list of duty-free supplies for each specific project.

c/ Particularly for supplies, components, details and spare parts imported to produce and/or assemble color TV sets, if the import duty thereon is calculated according to the localization ratio, they shall enjoy a priority index with an adjustment co-efficient of 0.5 for calculation of the import duty according to the localization ratio prescribed in Joint Circular No. 176/1998/TTLT of December 25, 1998 of the Ministry of Finance, the Ministry of Industry and the General Department of Customs, which shall be applicable only to the CIF import value of supplies, components, details and spare parts to produce color TV sets and spare parts thereof.

d/ After the competent bodies approve the projects on production of key industrial products, annually or periodically (quarterly, biannual and annual), the enterprises with the prime responsibility for implementing the projects on production of key industrial products must make production plans, lists of and plans on the import of special-use equipment, machinery and transport means in the technological lines to create the enterprises’ fixed assets as well as supplies that need to be imported but cannot be produced in the country yet, to produce key industrial products, and send them to the customs offices for registration of import duty exemption (particularly for enterprises participating in the production of key industrial products, their dossiers addressed to the Customs must be enclosed with the contracts for production and/or processing of supplies signed with the enterprises with the prime responsibility for the projects and the written certifications of the Ministry of Industry of such participation).

Basing themselves on the comparison between the lists issued by the Ministry of Planning and Investment and the Ministry of Industry (or the Industry Ministry’s certification of the lists of duty-free supplies for each project) and the enterprises’ registered lists, the customs offices shall temporarily refrain from collecting the import duty on goods actually imported by the enterprises. The importing enterprises must pay and settle the tax amounts which are actually exempt from payment into the State budget with the customs offices.

The tax agencies directly managing the enterprises shall have to oversee the import of special-use equipment, machinery and transport means and supplies imported duty free in the above-mentioned cases; if detecting cases of using imported goods for wrong purposes, they must collect all tax arrears and handle them according to the Law on Import Tax and Export Tax.

B. POLICY ON LAND RENT SUPPORT

The enterprises mentioned at Point 2, Section I of this Circular shall be entitled to the 50% reduction of the land rent payable into the State budget on the land area used for the production of key industrial products (or the production of supplies, semi-finished products, details, spare parts� used for the production of key industrial products) during the project implementation period already approved by the competent bodies or during the time they participate in the production of key industrial products (for enterprises that produce supplies, semi-finished products, details, spare parts’ used for the production of key industrial products).

In cases where an enterprise is unable to distinguish the land area used for the production of key industrial products (or the production of supplies, semi-finished products, details, spare parts’ used for the production of key industrial products) from the land area used for other business purposes, the determination of the land rent to be considered for reduction shall be based on the proportion between turnover from the production of key industrial products (or the production of supplies, semi-finished products, details, spare parts’ used for the production of key industrial products) and total turnover of the enterprise. If this ratio is lower than 30%, the level of 30% shall be used as basis for determining the land rent to be considered for reduction.

Example 1: In 2000, Enterprise A has a total of 100,000 m2 of land area rent from the State, of which 70,000 m2 is used for building warehouses and workshops for the production of color TV sets, the remaining area is used for other business purposes. Under the Prime Minister’s Decision No. 37/2000/QD-TTg of March 24, 2000 and the guidance in this Circular, Enterprise A shall be eligible for a 50% reduction of the land rent payable for 70,000 m2 of land used for the production of color TV sets. For the remaining land area of 30,000 m2, the enterprise shall have to pay land rent according to the prescribed regime.

Example 2: For the same Enterprise A, but it cannot distinguish the land area used for the production of color TV sets from the land area used for other business purposes. According to the 2000 financial settlement and tax settlement reports, the enterprise has a total business turnover of VND 100 billion and turnover of VND 40 billion from the production of color TV sets (accounting for 40% of total turnover) and the total land rent payable according to the regime is VND 50 million, the amount of land rent reduction under Decision No. 37/2000/QD-TTg shall be determined as follows:

The land rent reduction amount = VND 50,000,000 x 40% x 50% = VND 10,000,000.

Example 3: Also like example 2 above, turnover from the production of color TV sets is VND 25 billion (accounting for 25% of total turnover), the amount of land rent reduction under Decision No. 37/2000/QD-TTg shall be determined as follows

The land rent reduction amount = VND 50,000,000 x 30% x 50% = VND 7,500,000.

In cases where an enterprise is eligible for land rent reduction under the Prime Minister’s Decision No. 37/2000/QD-TTg of May 24, 2000 and also other prescribed regimes, it shall be entitled to land rent reduction and/or exemption according to either of the above regulations as they may choose.

The time for determination of land rent reduction shall be calculated in year. Particularly for the first year of project implementation, if the project implementation starts in the year’s first half, the time to be considered for land rent reduction shall be the whole year, if in the year’s second half the time to be considered for land rent reduction shall be six months.

The order and procedures for consideration of land rent reduction shall comply with the current regulations.

C. POLICY ON CAPITAL SUPPORT

The specific preferential levels for each key industrial product prescribed in Appendices 1, 2 and 3 issued together with the Prime Minister’s Decision No. 37/2000/QD-TTg shall apply. The procedures for allocating support capital from the budget and the procedures for borrowing the State’s development investment credit loans from the Development Support Fund shall comply with the current regime.

III. ORGANIZATION OF IMPLEMENTATION

This Circular takes effect from the date of its signing.

Any problems arising in the course of implementation should be reported by the units to the Ministry of Finance for guidance on the settlement thereof.

 

 

 

FOR THE MINISTER OF FINANCE
VICE MINISTER




Vu Van Ninh

Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Nâng cao để xem bản dịch TTXVN. Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây.
Văn bản tiếng Anh
Công báo Tiếng Anh
* Lưu ý: Để đọc được văn bản tải trên Luatvietnam.vn, bạn cần cài phần mềm đọc file DOC, DOCX và phần mềm đọc file PDF.
Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Nâng cao để xem Nội dung MIX.
Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!
Để được giải đáp thắc mắc, vui lòng gọi
1900.6192 hoặc gửi câu hỏi tại đây

Tải ứng dụng LuatVietnam Miễn phí trên

Văn bản cùng lĩnh vực
Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Lược đồ.
Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!