Nghị định 109/1997/NĐ-CP của Chính phủ về Bưu chính và Viễn thông

Thuộc tính Nội dung VB gốc Tiếng Anh Hiệu lực VB liên quan Lược đồ Nội dung MIX Tải về
LuatVietnam.vn độc quyền cung cấp bản dịch chính thống Công báo tiếng Anh của Thông Tấn Xã Việt Nam
LuatVietnam.vn độc quyền cung cấp bản dịch chính thống Công báo tiếng Anh của Thông Tấn Xã Việt Nam
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng: Đã biết

NGHỊ ĐỊNH

CỦA CHÍNH PHỦ SỐ 109/1997/NĐ-CP NGÀY 12 THÁNG 11 NĂM 1997

VỀ BƯU CHÍNH VÀ VIỄN THÔNG

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 30 tháng 9 năm 1992;

Xét đề nghị của Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện,

NGHỊ ĐỊNH:

CHƯƠNG I
 NHỮNG QUI ĐỊNH CHUNG
Điều 1. 
1. Bưu chính, viễn thông là ngành kinh tế kỹ thuật thuộc kết cấu hạ tầng của nền kinh tế và là công cụ thông tin liên lạc cuả Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
2. Mạng lưới bưu chính, viễn thông công cộng là phương tiện thông tin liên lạc của quốc gia, phải được bảo vệ, không ai được xâm phạm.
Bảo vệ mạng lưới bưu chính, viễn thông là trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, các đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân. Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm bảo vệ hệ thống thông tin liên lạc trong địa phương mình.
Điều 2.  Nghị định này điều chỉnh các quan hệ về bưu chính, viễn thông nhằm nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, phát triển nhanh và khai thác có hiệu quả mạng lưới và dịch vụ bưu chính, viễn thông để thoả mãn nhu cầu thông tin liên lạc của toàn xã hội.
Mọi hoạt động về bưu chính, viễn thông và liên quan đến bưu chính, viễn thông của các tổ chức, cá nhân Việt Nam và tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam đều phải tuân theo Nghị định này.
Trong trường hợp các điều ước quốc tế về bưu chính, viễn thông mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác với Nghị định này thì áp dụng điều ước quốc tế.
Việc thiết lập và hoạt động của mạng lưới bưu chính, viễn thông chuyên dùng của Bộ Quốc phòng, Bộ Nội vụ và mối quan hệ giữa các mạng lưới này với mạng lưới bưu chính, viễn thông công cộng do Thủ tướng Chính phủ qui định.
Điều 3.
1. Bí mật và an toàn bưu chính, viễn thông được bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Nghiêm cấm các hành vi sau đây:
a) Phá hoại hoặc cản trở hoạt động của mạng lưới bưu chính, viễn thông công cộng và các mạng lưới bưu chính, viễn thông chuyên dùng;
b) Cung cấp và sử dụng dịch vụ bưu chính, viễn thông nhằm mục đích chống lại Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; gây rối loạn an ninh trật tự; vi phạm đạo đức, thuần phong mỹ tục; hoạt động buôn lậu và các hoạt động vi phạm pháp luật khác;
c) Chiếm đoạt, huỷ bỏ, bóc mở, tráo đổi, tiết lộ nội dung bưu phẩm, bưu kiện, điện văn của người khác;
d) Nghe trộm, thu trộm các tín hiệu viễn thông;
e) Tiết lộ tên, địa chỉ của các tổ chức, cá nhân sử dụng dịch vụ bưu chính, viễn thông trừ trường hợp bên thuê bao viễn thông thoả thuận cho đăng tên và địa chỉ trên các danh bạ viễn thông.
2. Việc kiểm soát hoạt động của mạng lưới và dịch vụ bưu chính, viễn thông, kiểm tra, kiểm soát, thu giữ bưu phẩm, bưu kiện, điện văn của tổ chức, cá nhân phải do cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành theo qui định của pháp luật.
3. Tổng cục Bưu điện phối hợp với Bộ Nội vụ và các cơ quan có liên quan hướng dẫn thực hiện các biện pháp bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội trong thông tin liên lạc, bảo đảm bí mật, an toàn mạng lưới và dịch vụ bưu chính, viễn thông.
Điều 4. Tổ chức và cá nhân Việt Nam, tổ chức và cá nhân nước ngoài được sử dụng các dịch vụ bưu chính, viễn thông.
Mọi tổ chức và cá nhân có nghĩa vụ tuân theo pháp luật khi sử dụng các dịch vụ bưu chính, viễn thông.
Không ai được ngăn cản quyền sử dụng hợp pháp các dịch vụ bưu chính, viễn thông.
Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính, viễn thông được quyền từ chối phục vụ nếu người sử dụng vi phạm pháp luật về bưu chính, viễn thông.
Điều 5. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về bưu chính, viễn thông.
Tổng cục Bưu điện là cơ quan thuộc Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về bưu chính, viễn thông trong phạm vi cả nước.
Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Uỷ ban nhân dân các cấp  trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, phối hợp với Tổng cục Bưu điện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về bưu chính, viễn thông.
Điều 6. Chính phủ thống nhất quản lý giá, cước và phí bưu chính, viễn thông.
Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện công bố giá và cước bưu chính, viễn thông theo quy định của Chính phủ.
Điều 7. Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện quyết định và công bố việc đóng, mở các dịch vụ bưu chính, viễn thông trong nước và với nước ngoài bao gồm cả việc đóng, mở các dịch vụ thử nghiệm và việc thiết lập thông tin máy tính qua mạng lưới viễn thông công cộng; quyết định và công bố việc đóng, mở các bưu cục ngoại dịch, bưu cục kiểm quan, các đài duyên hải công cộng và chuyên dùng.
CHƯƠNG II
 BƯU CHÍNH
MỤC I.  MẠNG LƯỚI BƯU CHÍNH CÔNG CỘNG
Điều 8. Mạng lưới bưu chính công cộng bao gồm các trung tâm kỹ thuật, khai thác, vận chuyển và điều hành bưu chính, các tuyến đường thư, hệ thống bưu cục, điểm phục vụ, đại lý được tổ chức trong cả nước.
Mạng lưới bưu chính công cộng được tổ chức và phát triển theo qui hoạch, kế hoạch và theo các chỉ tiêu, tiêu chuẩn, qui phạm kỹ thuật, thể lệ khai thác thống nhất do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để cung cấp các dịch vụ bưu chính cho toàn xã hội.
Điều 9.
1. Mạng lưới bưu chính công cộng phải hoạt động liên tục, kể cả ngày lễ và chủ nhật.
Các ngành có liên quan phải phối hợp và tạo các điều kiện cần thiết để mạng lưới bưu chính công cộng hoạt động thông suốt, liên tục.
2. Tổng cục Bưu điện qui định giờ mở cửa phục vụ của các loại bưu cục. Các bưu cục phải niêm yết giờ mở cửa để phục vụ người sử dụng dịch vụ bưu chính.
MỤC II. DỊCH VỤ BƯU CHÍNH
I. CÁC LOẠI DỊCH VỤ
Điều 10.-  Dịch vụ bưu chính là dịch vụ nhận gửi, chuyển, phát thư, báo chí, ấn phẩm, tiền, vật phẩm, hàng hoá và các sản phẩm vật chất khác thông qua mạng lưới bưu chính công cộng do doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính cung cấp.
Điều 11. Dịch vụ bưu chính bao gồm:
1. Dịch vụ bưu phẩm;
2. Dịch vụ bưu kiện đến 31,5 kg;
3. Dịch vụ bưu kiện trên 31,5 kg ( Bưu kiện nặng );
4. Dịch vụ phát hành báo chí và ấn phẩm định kỳ;
5. Dịch vụ tài chính bưu chính.
Các dịch vụ bưu chính được cung cấp, sử dụng theo các thể lệ dịch vụ bưu chính.
Tổng cục Bưu điện ban hành các thể lệ dịch vụ bưu chính.
II. CÁC DỊCH VỤ BƯU PHẨM, BƯU KIỆN, PHÁT HÀNH BÁO CHÍ
Điều 12.  Bưu phẩm, bưu kiện thuộc quyền định đoạt của người gửi khi chưa phát được cho người nhận hoặc người được người nhận uỷ quyền, trừ trường hợp bị tịch thu hoặc tiêu huỷ theo qui định của pháp luật.
Người gửi chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung tin tức, vật phẩm, hàng hoá, ấn phẩm gửi trong bưu phẩm, bưu kiện.
Điều 13.
1. Bưu phẩm bao gồm: thư, bưu thiếp, ấn phẩm, học phẩm dùng cho người mù và gói nhỏ.
Bưu phẩm được nhận gửi, chuyển, phát theo thể lệ bưu phẩm.
2. Thư là bản chữ viết, sao hoặc in mang nội dung thông tin riêng giữa người gửi và người nhận.
Thư được bỏ trong phong bì, dán kín và được bảo đảm bí mật theo qui định của Hiến pháp.
Người gửi và người nhận có thể là tổ chức hoặc cá nhân.
3. Bưu kiện là kiện hàng hoá, vật phẩm.
Bưu kiện được nhận gửi, chuyển, phát theo thể lệ bưu kiện.
Điều 14.
1. Cấm gửi trong bưu phẩm, bưu kiện:
a) Trong nước: ấn phẩm, vật phẩm, hàng hoá mà Nhà nước cấm lưu thông, lưu hành; vật hoặc chất gây nổ, gây cháy, gây nguy hiểm hoặc làm mất vệ sinh, gây ô nhiễm môi trường;
b) Đi nước ngoài và từ nước ngoài đến Việt Nam: ấn phẩm, vật phẩm, hàng hoá mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam cấm xuất khẩu, nhập khẩu hoặc nước nhận cấm nhập khẩu; hàng hoá buôn lậu; vật hoặc chất gây nổ, gây cháy, gây nguy hiểm hoặc làm mất vệ sinh, gây ô nhiễm môi trường.
2. Các loại kim loại quý, đá quý hoặc sản phẩm chế tạo từ kim loại quý, đá quý chỉ được gửi trong bưu phẩm, bưu kiện khai giá.
Tiền và ngân phiếu có giá trị như tiền chỉ được gửi bằng dịch vụ chuyển tiền.
3. Hàng hoá chịu thuế phải có chứng từ đã nộp thuế theo quy định của pháp luật.
Điều 15. Bưu phẩm (trừ thư và bưu thiếp), bưu kiện gửi từ Việt Nam đi nước ngoài và từ nước ngoài đến Việt Nam phải qua kiểm tra của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
Các cơ quan nhà nước có liên quan có trách nhiệm tổ chức, làm thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu bưu phẩm, bưu kiện thuận tiện.
Điều 16.
1. Tổ chức, cá nhân làm dịch vụ vận tải bằng ô tô, tàu bay, tàu hoả, tàu thuỷ có trách nhiệm ưu tiên vận chuyển bưu phẩm, bưu kiện, báo chí trên tất cả các tuyến vận tải theo hợp đồng ký với doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính.
2. Chủ phương tiện và người điều khiển phương tiện vận tải có trách nhiệm bảo đảm an toàn bưu phẩm, bưu kiện, báo chí trong quá trình vận chuyển.
Trong trường hợp phương tiện vận tải có vận chuyển bưu phẩm, bưu kiện, báo chí bị tai nạn hoặc hư hỏng trên đường vận chuyển, chủ phương tiện và người điều khiển phương tiện vận tải phải tổ chức việc bảo vệ và lưu thoát nhanh các túi, gói bưu phẩm, bưu kiện, báo chí. Chính quyền sở tại phải tạo điều kiện để bảo vệ các túi, gói bưu phẩm, bưu kiện, báo chí đó.
3. Trên các phương tiện vận tải công cộng, các túi, gói bưu phẩm, bưu kiện, báo chí được để trong toa riêng, buồng riêng. Trong trường hợp chưa có toa riêng, buồng riêng, chủ phương tiện phải bố trí chỗ để túi, gói bưu phẩm, bưu kiện, báo chí an toàn, cách biệt với hành khách, hàng hoá.
4. Các chủ phương tiện vận tải hành khách hoặc hàng hoá xuất phát từ Việt Nam hoặc quá cảnh Việt Nam đến các nước có quan hệ bưu chính với nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải vận chuyển bưu phẩm, bưu kiện, báo chí của Việt Nam theo chỉ định của cơ quan quản lý vận tải.
5. Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính được tổ chức lực lượng vận tải chuyên ngành.
Phương tiện vận tải chuyên ngành phải sơn mầu thống nhất và in biểu tượng bưu chính.
6. Phương tiện vận tải chuyên ngành  phương tiện vận tải công cộng có vận chuyển bưu phẩm, bưu kiện, báo chí bằng đường bộ được ưu tiên:
a) Qua phà, cầu hoặc những đoạn đường có trở ngại về giao thông;
b) Kiểm soát trước, nếu cơ quan có thẩm quyền kiểm soát phương tiện vận tải trên đường;
c) Đi, đến, đỗ tại các bưu cục và các điểm giao nhận trong các đô thị để giao nhận túi, gói bưu phẩm, bưu kiện, báo chí.
Điều 17. Cấm mở để khám xét các túi, gói bưu phẩm, bưu kiện trên đường vận chuyển, trừ những trường hợp đặc biệt khẩn cấp về an ninh quốc gia do Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện quy định.
Điều 18. Việc vận chuyển túi thư ngoại giao được thực hiện theo các điều ước quốc tế mà  Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia.
Điều 19. Các tổ chức và cá nhân không được làm dịch vụ mang thư từ Việt Nam ra nước ngoài và từ nước ngoài vào Việt Nam, trừ doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính.
Điều 20. Trong trường hợp khẩn cấp về an ninh quốc gia và thiên tai, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được trưng dụng các phương tiện vận tải để vận chuyển công văn, mệnh lệnh và các văn bản khẩn cấp khác.
Điều 21.  Bưu phẩm, bưu kiện, báo chí được phát tại:
1. Địa chỉ người nhận;
2. Bưu cục;
3. Hộp thư thuê bao.
Tổng cục Bưu điện quy định việc phát bưu phẩm, bưu kiện, báo chí trong những trường hợp khác.
Điều 22.  Bưu phẩm, bưu kiện không phát được cho người nhận hoặc người được người nhận uỷ quyền và cũng không hoàn trả được cho người gửi hoặc người có quyền nhận, thì sau thời hạn 12 tháng, kể từ ngày gửi được coi là bưu phẩm, bưu kiện vô thừa nhận.
Điều 23. Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện và Bộ trưởng Bộ Tài chính qui định thể thức xử lý bưu phẩm, bưu kiện vô thừa nhận dựa trên những nguyên tắc sau đây:
1. ấn phẩm, giấy tờ hoặc vật phẩm cần để nghiên cứu hoặc lưu trữ được giao cho cơ quan hoặc tổ chức có liên quan. Giấy tờ, ấn phẩm khác được lưu giữ tại nơi xử lý 6 tháng, sau đó được tiêu huỷ;
2. Hàng hoá được định giá và bán. Tiền bán hàng hóa được gửi vào tài khoản tạm gửi tại ngân hàng. Trong thời hạn 6 tháng kể từ ngày gửi vào tài khoản, nếu có chứng cứ đầy đủ, người có quyền nhận được nhận lại số tiền đã bán hàng sau khi trừ đi những chi phí hợp lý. Quá thời hạn trên, tiền bán hàng hoá được nộp vào ngân sách Nhà nước.
Những vật phẩm, hàng hoá bị hư hỏng hoàn toàn được tiêu huỷ;
3. Việc xử lý bưu phẩm, bưu kiện vô thừa nhận phải do một hội đồng giải quyết và được lập thành biên bản.
III. CÁC DỊCH VỤ TÀI CHÍNH BƯU CHÍNH
Điều 24.  Các dịch vụ tài chính bưu chính bao gồm:
1. Chuyển tiền;
2. Séc bưu chính;
3. Thanh toán qua bưu chính;
4. Thu và trả tiền;
5. Các dịch vụ ngân vụ.
Điều 25. Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính được cung cấp các dịch vụ tài chính bưu chính theo các điều kiện do pháp luật quy định và phải có giấy phép hoạt động do cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành cấp.
Điều 26. Tiền gửi, tiền thanh toán qua các dịch vụ tài chính bưu chính thuộc quyền định đoạt của người gưỉ cho đến khi trả tiền hoặc thanh toán xong, trừ trường hợp bị tịch thu theo quy định của pháp luật.
Điều 27. Tiền gửi, tiền thanh toán qua các dịch vụ tài chính bưu chính không trả hoặc không thanh toán được với người nhận hoặc người được người nhận uỷ quyền và cũng không hoàn trả được người gửi hoặc người có quyền hưởng, thì sau 12 tháng kể từ ngày gửi được coi là tiền vô thừa nhận.
Điều 28. Tiền vô thừa nhận được gửi vào tài khoản tạm gửi tại ngân hàng. Trong thời hạn 6 tháng kể từ ngày gửi vào tài khoản, nếu có chứng cứ đầy đủ, người có quyền hưởng được nhận lại tiền.
Quá thời hạn trên, tiền vô thừa nhận được nộp vào ngân sách Nhà nước.
MỤC III:  TEM BƯU CHÍNH
Điều 29. Tem bưu chính là ấn phẩm đặc biệt dùng làm phương tiện thanh toán cước phí bưu phẩm, đồng thời được dùng làm tem chơi.
Tổng cục Bưu điện là cơ quan duy nhất phát hành tem bưu chính Việt Nam.
Điều 30. Việc phát hành tem bưu chính phải tuân theo các quy định sau đây:
1. Xây dựng chương trình đề tài tem bưu chính 5 năm và hàng năm.
Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện quyết định chương trình đề tài tem bưu chính.
Việc phát hành tem bưu chính để kỷ niệm những ngày lễ lớn, những sự kiện lớn trong nước và quốc tế phải được sự nhất trí của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
2. Duyệt mẫu tem: mẫu tem đã thiết kế phải được Hội đồng tư vấn do Tổng cục Bưu điện thành lập thẩm định.
Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện căn cứ vào ý kiến của Hội đồng để phê duyệt mẫu tem;
3. In tem: Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện quyết định việc in tem, kể cả số lượng in và nơi in.
Tem có thể được in ở trong nước hoặc ngoài nước, song phải bảo đảm an toàn và có hiệu quả kinh tế;
4. Phát hành tem: tem bưu chính chỉ có giá trị sử dụng sau khi đã có thông báo phát hành của Tổng cục Bưu điện.
Những tem bưu chính phát hành đặc biệt được khắc dấu kỷ niệm và có phong bì ngày phát hành đầu tiên.
Điều 31. Giá bán tem bưu chính để trả cước phí bưu phẩm là giá in trên con tem.
Trong trường hợp cần thu thêm tiền để ủng hộ quĩ xã hội vì lý do nhân đạo thì phải được phép của Thủ tướng Chính phủ và phải phát hành loại tem bưu chính có in thêm số tiền phụ thu.
Điều 32. Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện qui định việc kinh doanh tem chơi trong nước và kinh doanh tem chơi với nước ngoài, quy định việc xuất khẩu tem bưu chính Việt Nam và nhập khẩu tem bưu chính nước ngoài.
Điều 33. Tem bưu chính được bảo vệ và lưu trữ theo quy định của pháp luật.
CHƯƠNG III
VIỄN THÔNG
MỤC I. MẠNG LƯỚI VIỄN THÔNG CÔNG CỘNG
Điều 34.  Mạng lưới viễn thông công cộng bao gồm hệ thống đường trục viễn thông quốc gia (hệ thống chuyển mạch, truyền dẫn liên tỉnh và quốc tế), hệ thống nội tỉnh, nội hạt, hệ thống các điểm phục vụ và các hệ thống thiết bị đầu cuối.
Mạng lưới viễn thông công cộng được tổ chức và phát triển theo qui hoạch, kế hoạch và được quản lý, khai thác theo các chỉ tiêu, tiêu chuẩn, quy phạm kỹ thuật, thể lệ khai thác thống nhất do các cơ quan nhà nước  có thẩm quyền ban hành hoặc cho phép áp dụng để cung cấp các dịch vụ viễn thông cho toàn xã hội.
Nhà nước thống nhất tổ chức và quản lý hệ thống đường trục viễn thông quốc gia.
Điều 35. Mạng lưới viễn thông công cộng phải được hoạt động liên tục suốt ngày đêm, trong mọi tình huống.
Điều 36. Hoạt động của mạng lưới viễn thông công cộng không được gây hại đến môi trường và các hoạt động kinh tế, xã hội. Các hoạt động kinh tế, xã hội  không được làm ảnh hưởng đến hoạt động của mạng lưới viễn thông công cộng, đặc biệt là không được gây nhiễu có hại, làm hỏng các đường dây, cáp, anten và hệ thống thiết bị viễn thông.
Mọi vi phạm phải bị xử lý theo pháp luật.
MỤC 2. DỊCH VỤ VIỄN THÔNG
Điều 37. Dịch vụ viễn thông là dịch vụ truyền đưa, lưu trữ và cung cấp thông tin bằng hình thức truyền dẫn, phát, thu những ký hiệu, tín hiệu, số liệu, chữ viết, âm thanh, hình ảnh thông qua mạng lưới viễn thông công cộng do doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông cung cấp.
Điều 38. Dịch vụ viễn thông bao gồm:
1. Dịch vụ điện thoại;
2. Dịch vụ điện báo;
3. Dịch vụ Telex;
4. Dịch vụ Facimile (Faximin);
5. Dịch vụ truyền số liệu;
6. Dịch vụ thuê kênh viễn thông;
7. Dịch vụ truyền hình, truyền ảnh;
8. Dịch vụ truyền báo điện tử;
9. Dịch vụ đa phương tiện (Multi Media);
10. Dịch vụ điện thoại di động;
11. Dịch vụ nhắn tin;
12. Các dịch vụ Internet;
13. Các dịch vụ lưu trữ và cung cấp thông tin.
Các dịch vụ viễn thông được cung cấp, sử dụng theo các thể lệ dịch vụ viễn thông.
Tổng cục Bưu điện ban hành các thể lệ dịch vụ viễn thông.
Điều 39. Tổ chức, cá nhân có quyền đăng ký thuê bao viễn thông tại địa chỉ  của mình hoặc sử dụng dịch vụ viễn thông tại các bưu cục và điểm phục vụ theo các thể lệ dịch vụ viễn thông.

Người sử dụng dịch vụ viễn thông được phục vụ suốt ngày đêm, kể cả ngày lễ và chủ nhật. Trường hợp doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông không phục vụ được theo yêu cầu của người sử dụng, phải báo cho người sử dụng biết rõ lý do.
Người sử dụng dịch vụ viễn thông chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung thông tin khi sử dụng dịch vụ viễn thông.
Người thuê bao viễn thông không được sử dụng thiết bị thuê bao để kinh doanh các dịch vụ viễn thông.
Điều 40. Việc thiết kế, lắp đặt thiết bị hoặc mạng lưới thuê bao viễn thông có thể do người thuê bao tự đảm nhiệm hoặc thuê tổ chức, cá nhân khác đảm nhiệm, song phải tuân thủ các qui trình, qui phạm kỹ thuật của Nhà nước.
Việc đấu nối từ địa chỉ thuê bao vào mạng lưới viễn thông công cộng do doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông thực hiện.
Điều 41.
1. Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện quyết định việc đóng, mở các đường liên lạc viễn thông liên tỉnh trong nước và ra nước ngoài thuộc hệ thống đường trục viễn thông quốc gia; qui định việc thuê và cho thuê kênh viễn thông thuộc hệ thống trên.
2. Các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông được sử dụng kênh của hệ thống đường trục viễn thông quốc gia để cung cấp các dịch vụ viễn thông theo qui định của Tổng cục Bưu điện.
3. Các cơ quan, tổ chức có mạng viễn thông chuyên dùng được thuê kênh để liên lạc nội bộ.
Điều 42. Việc quản lý, thiết lập, cung cấp và sử dụng mạng lưới, dịch vụ Internet tại Việt Nam được thực hiện theo Quy chế tạm thời về quản lý, thiết lập, sử dụng mạng Internet ở Việt Nam, ban hành kèm  theo Nghị định  số 21/CP ngày 5 tháng 3 năm 1997 của Chính phủ và Quyết định số 136/TTg ngày 5 năm 3 năm 1997 của Thủ tướng Chính phủ. Về việc thành lập Ban điều phối quốc gia mạng Internet ở Việt Nam.
Điều 43. Dịch vụ viễn thông được chia thành các mức độ ưu tiên phục vụ khác nhau theo chỉ tiêu thời gian để mọi tổ chức, cá nhân sử dụng.
Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện quy định các mức độ ưu tiên.
Điều 44. Các loại thông tin sau đây được ưu tiên phục vụ ngay:
1. Phòng chống bão lụt, hoả hoạn, thiên tai khác;
2. Cấp cứu và phòng chống dịch bệnh cho người;
3. Thông tin khẩn cấp về quốc phòng, an ninh;
4. Thông tin cứu nạn, cứu hộ khi tàu bay, tàu thuỷ lâm nguy, lâm nạn;
5. Thông tin công ích khẩn cấp khác.
Trong những trường hợp khẩn cấp kể trên, Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện quyết định huy động một phần hay toàn bộ mạng lưới viễn thông, kể cả công cộng và chuyên dùng, vào việc phục vụ các nhu cầu khẩn cấp này.
Điều 45. Các đối tượng sau đây được ưu tiên phục vụ khi sử dụng các dịch vụ viễn thông:
1. Lãnh đạo Đảng và Nhà nước, Bộ trưởng, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh hoặc tương đương;
2. Nguyên thủ quốc gia, trưởng đoàn đại biểu Chính phủ nước ngoài đến Việt Nam, người đứng đầu cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan đại diện tổ chức quốc tế liên Chính phủ tại Việt Nam.
Điều 46. Điện báo, telex, fax hoặc các văn bản khác được truyền đưa bằng dịch vụ viễn thông gọi chung là điện văn.
Cơ quan Đảng, Nhà nước các cấp, các đơn vị lực lượng vũ trang, cơ quan đại diện ngoại giao nước ngoài, cơ quan đại diện tổ chức quốc tế được hưởng quy chế ngoại giao được dùng tiếng mật trong các điện văn.
Các đối tượng khác muốn dùng tiếng mật trong điện văn phải đăng ký và được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cho phép.
Điều 47.  Điện văn được phát tại:
1. Địa chỉ người nhận;
2. Bưu cục;
3. Qua thuê bao viễn thông.
Tổng cục Bưu điện quy định việc phát điện văn trong những trường hợp khác.
Điều 48. Điện văn không phát được phải báo cho người gửi biết và được lưu giữ trong thời hạn 6 tháng kể từ ngày gửi. Qúa thời hạn này, điện văn đó được huỷ bỏ.
MỤC 3. MẠNG LƯỚI VIỄN THÔNG CHUYÊN DÙNG
Điều 49. Mạng lưới viễn thông chuyên dùng do một cơ quan, một tổ chức, một doanh nghiệp thiết lập để sử dụng làm phương tiện liên lạc bằng các phương thức thoại hoặc phi thoại trong nội bộ cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp đó.
Việc thiết lập mạng lưới viễn thông chuyên dùng trong lãnh thổ Việt Nam theo quy định của Nghị định này.
Bộ Ngoại giao được thiết lập mạng lưới viễn thông chuyên dùng để liên lạc với các cơ quan đại diện ngoại giao của Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài.
Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện quy định việc thiết lập và hoạt động của các đài thông tin vô tuyến điện của các cơ quan, tổ chức nước ngoài tại Việt Nam.
Điều 50. Cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp muốn thiết lập mạng lưới viễn thông chuyên dùng phải bảo đảm các điều kiện sau đây:
1. Có mục đích sử dụng rõ ràng;
2. Có cấu trúc và thiết kế mạng lưới, phương thức và phạm vi hoạt động, có các chỉ tiêu, tiêu chuẩn kỹ thuật của mạng lưới, của thiết bị.
Tổng cục Bưu điện qui định việc tiếp nhận yêu cầu, thẩm tra hồ sơ và cấp giấy phép thiết lập mạng lưới.
Mạng lưới viễn thông chuyên dùng chỉ được hoạt động sau khi có giấy phép của Tổng cục Bưu điện. 
Điều 51. Cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp được phép thiết lập mạng lưới viễn thông chuyên dùng phải bảo đảm các yêu cầu sau đây:
1. Hoạt động đúng pháp luật và quy định của giấy phép;
2. Không được sử dụng mạng lưới viễn thông chuyên dùng để kinh doanh các dịch vụ viễn thông công cộng;
3. Không gây nhiễu có hại hoặc làm ảnh hưởng đến hoạt động của mạng lưới viễn thông công cộng và các mạng chuyên dùng khác;
4. Không được đấu nối trực tiếp vào mạng lứơi viễn thông chuyên dùng khác.
Điều 52. Việc đấu nối mạng lưới viễn thông chuyên dùng vào mạng lưới viễn thông công cộng phải bảo đảm các điều kiện sau đây:
1. Có các tiêu chuẩn kỹ thuật của mạng lưới và thiết bị phù hợp với mạng lưới viễn thông công cộng;
2. Thực hiện đúng quy định đấu nối, hoà mạng và khai thác.
Điều 53. Mạng lưới viễn thông chuyên dùng phải hoạt động theo đúng quy định của Nghị định này và các quy định khác của pháp luật; chịu sự kiểm tra, kiểm soát của Tổng cục Bưu điện và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
CHƯƠNG IV
PHỔ TẦN SỐ VÔ TUYẾN ĐIỆN VÀ  THIẾT BỊ PHÁT SÓNG VÔ TUYẾN ĐIỆN
MỤC I
QUẢN LÝ TẦN SỐ VÀ THIẾT BỊ PHÁT SÓNG VÔ TUYẾN ĐIỆN
Điều 54.  Phổ tần số vô tuyến điện, quỹ đạo vệ tinh địa tĩnh thuộc chủ quyền Vịêt Nam là tài nguyên của quốc gia, phải được khai thác, sử dụng đúng pháp luật và có hiệu quả.
Các thiết bị phát sóng ở giải tần từ 9KHz đến 400GHz phải sử dụng tần số đúng nghiệp vụ đã được phân bổ hoặc ấn định theo qui hoạch tần số quốc gia.
Quy hoạch tần số quốc gia do Tổng cục Bưu điện xây dựng trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
Điều 55. Các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài tại Việt Nam (trừ Bộ Quốc phòng và Bộ Nội vụ có qui định riêng) muốn lắp đặt, sử dụng, dự trữ thiết bị phát sóng vô tuyến điện trên lãnh thổ Việt Nam (kể cả trên các phương tiện vận tải) và sử dụng tần số vô tuyến điện thuộc các nghiệp vụ cố định, lưu động, phát thanh, truyền hình, hàng không, hàng hải, đạo hàng, định vị, vệ tinh, phát chuẩn và các nghiệp vụ khác phải xin phép Tổng cục Bưu điện và chỉ được lắp đặt, sử dụng, dự trữ khi có giấy phép.

Khi thay đổi tần số, băng tần số, công suất phát, di chuyển các thiết bị phát sóng vô tuyến điện kể trên phải được phép của Tổng cục Bưu điện.
Điều kiện để được cấp giấy phép lắp đặt, sử dụng, dự trữ thiết bị phát sóng vô tuyến điện:
1. Có mục đích sử dụng rõ ràng; 
2. Thiết bị bảo đảm các chỉ tiêu, tiêu chuẩn kỹ thuật do Nhà nước quy định;
3. Người khai thác thiết bị có chứng chỉ chuyên môn do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp.
Điều 56.  Nghiêm cấm:
1. Lắp đặt, sử dụng, dự trữ thiết bị phát sóng vô tuyến điện và sử dụng tần số vô tuyến điện không có giấy phép;
2. Xuất khẩu, nhập khẩu trái phép các thiết bị phát sóng vô tuyến điện;
3.Gây nhiễu có hại;
4. Sử dụng sai mục đích các tần số cấp cứu, an toàn quốc tế và quốc gia.
Điều 57.  Các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài muốn xuất khẩu, nhập khẩu thiết bị phát sóng vô tuyến điện phải được Tổng cục Bưu điện chấp thuận.
Điều 58. Các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài tại Việt Nam đã được cấp giấy phép sử dụng thiết bị phát sóng và tần số vô tuyến điện, khi giấy phép hết hạn hoặc ngừng hoạt động phải báo cáo bằng văn bản cho Tổng cục Bưu điện. Nếu muốn sử dụng tiếp thì xin phép gia hạn theo quy định của Tổng cục Bưu điện.
Điều 59. Các thiết bị thông tin liên lạc đặt trên tàu biển, tàu bay nước ngoài phải ngừng hoạt động khi tàu biển vào vùng nội thuỷ, tàu bay đậu xuống sân bay của Việt Nam. Mọi liên lạc viễn thông với bất cứ nơi nào thực hiện theo pháp luật Việt Nam.
Các tàu biển, tàu bay của Việt Nam và nước ngoài ra, vào, trú đậu tại các cảng, sân bay của Việt Nam phải tuân thủ pháp luật Việt Nam và chịu sự kiểm tra của các cơ quan quản lý có thẩm quyền của Nhà nước Việt Nam về các loại giấy phép và chứng chỉ có liên quan đến việc sử dụng thiết bị phát sóng vô tuyến điện.
Tàu biển, tàu bay đi qua lãnh thổ Việt Nam chịu sự giám sát của Tổng cục Bưu điện về việc sử dụng tần số vô tuyến điện.
Điều 60. Các tổ chức, cá nhân đã được phép sử dụng thiết bị phát sóng và tần số vô tuyến điện phải áp dụng các biện pháp sau đây để chống gây nhiễu có hại:
1. Giữ đúng tần số phát trong phạm vi sai lệch tần số cho phép;
2. Giảm mức bức xạ sóng hài, bức xạ ký sinh ở trị số thấp nhất;
3. Sử dụng phương thức phát sóng có độ rộng băng tần chiếm dụng hẹp nhất;
4. Hạn chế phát sóng ở những hướng không cần thiết;
5. Sử dụng mức công suất nhỏ nhất đủ để bảo đảm chất lượng thông tin.
MỤC II. ĐĂNG KÝ QUỐC TẾ TẦN SỐ VÔ TUYẾN ĐIỆN
VÀ QUỸ ĐẠO VỆ TINH  
Điều 61.  Tổng cục Bưu điện có trách nhiệm đăng ký quốc tế tần số vô tuyến điện cho các nghiệp vụ thông tin vô tuyến điện trong cả nước và đăng ký quỹ đạo vệ tinh địa tĩnh.
Điều 62. Tổng cục Bưu điện quản lý việc sử dụng quỹ đạo vệ tinh địa tĩnh thuộc chủ quyền Việt Nam, quản lý việc thuê và cho thuê kênh vệ tinh.
Điều 63. Tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài tại Việt Nam muốn thiết lập trạm mặt đất hoặc sử dụng hệ thống thiết bị thông tin qua vệ tinh phải xin phép Tổng cục Bưu điện.
MỤC III
 QUẢN LÝ TẦN SỐ VÔ TUYẾN ĐIỆN NGHIỆP DƯ
Điều 64.  Tổ chức, cá nhân Việt Nam và nước ngoài muốn lắp đặt và sử dụng thiết bị vô tuyến điện nghiệp dư trong lãnh thổ Việt Nam phải xin phép Tổng cục Bưu điện.
Người sử dụng thiết bị vô tuyến điện nghiệp dư phải có chứng chỉ vô tuyến điện nghiệp dư hợp pháp; có nghĩa vụ tuân thủ các quy định của Nghị định này và thể lệ vô tuyến điện nghiệp dư.
Tổng cục Bưu điện ban hành thể lệ vô tuyến điện nghiệp dư.
MỤC IV
 KIỂM SOÁT VÀ XỬ LÝ NHIỄU CÓ HẠI
Điều 65. Tổng cục Bưu điện có trách nhiệm:
1. Tổ chức và quản lý hệ thống kiểm tra, kiểm soát việc sử dụng thiết bị phát sóng và tần số vô tuyến điện trong cả nước;
2. Quy định những biện pháp chống nhiễu có hại đến các mạng lưới viễn thông, các cơ sở truyền dẫn tín hiệu và phát sóng phát thanh, truyền hình, các cơ sở thu, phát sóng vô tuyến điện khác theo pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế về thông tin vô tuyến điện mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia.
Điều 66.  Người sử dụng thiết bị phát  sóng vô tuyến điện, thiết bị sinh ra tia lửa điện, thiết bị điện, điện tử dân dụng, hồ quang điện dùng trong các lĩnh vực công nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải, y tế, nghiên cứu khoa học và các lĩnh vực khác phải thực hiện các biện pháp để hạn chế nhiễu theo quy định của Tổng cục Bưu điện.
Điều 67. Các tổ chức, cá nhân khi khiếu nại về nhiễu có hại phải có văn bản gửi Tổng cục Bưu điện, trong đó nêu rõ thời gian, địa điểm xảy ra nhiễu và hiện tượng nhiễu của đài bị nhiễu. Tổng cục Bưu điện xử lý nhiễu có hại theo pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế về thông tin vô tuyến điện mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia.
MỤC V
UỶ BAN TẦN SỐ VÔ TUYẾN ĐIỆN
Điều 68.  Uỷ ban Tần số vô tuyến điện là tổ chức liên ngành giúp Thủ tướng Chính phủ:
1. Thẩm tra các dự án chiến lược, quy hoạch tần số vô tuyến điện trước khi trình Thủ tướng Chính phủ;
2. Kiến nghị các biện pháp chống nhiễu có hại và các giải pháp bảo đảm an toàn các giải tần số vô tuyến điện giữa mạng lưới viễn thông chuyên dùng của Bộ Quốc phòng, Bộ Nội vụ với mạng lưới viễn thông công cộng và các mạng lưới viễn thông khác, các cơ sở truyền dẫn tín hiệu và phát sóng phát thanh, truyền hình;
3. Theo dõi, đôn đốc và giám sát việc phối hợp giữa Bộ Quốc phòng, Bộ Nội vụ và Tổng cục Bưu điện trong việc kiểm soát sử dụng tần số, xử lý nhiễu có hại, bảo đảm an ninh quốc gia và an toàn thông tin liên lạc.
Điều 69. Uỷ ban Tần số vô tuyến điện do Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện làm Chủ tịch, một Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, một Thứ trưởng Bộ Nội vụ làm Phó chủ tịch và có các đại diện của một số Bộ, ngành do Thủ tướng Chính phủ quyết định.
Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức và hoạt động của Uỷ ban Tần số vô tuyến điện do Thủ tướng Chính phủ quy định.
CHƯƠNG V
GIÁ, CƯỚC VÀ PHÍ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG
Điều 70.  Giá, cước bưu chính, viễn thông bao gồm giá, cước bưu chính, viễn thông trong nước và giá, cước bưu chính, viễn thông quốc tế.
Mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân sử dụng dịch vụ bưu chính, viễn thông đều phải trả cước theo quy định hiện hành.
Phí và lệ phí bưu chính, viễn thông và tần số vô tuyến điện được ban hành và thực hiện theo quy định của pháp luật.
Điều 71.
1. Chính phủ qui định khung giá, cước chuẩn một số sản phẩm và dịch vụ bưu chính, viễn thông mang tính xã hội, công ích cao.
2. Tổng cục Bưu điện qui định khung giá, cước chuẩn các sản phẩm và dịch vụ bưu chính, viễn thông mang tính xã hội, công ích cao ngoài danh mục do Chính phủ quy định.
3. Doanh nghiệp bưu chính, viễn thông quyết định mức giá, cước các sản phẩm, dịch vụ trong khung giá, cước do Nhà nước qui định; quyết định mức giá, cước các sản phẩm, dịch vụ mà Nhà nước không quy định.
4. Giá, cước bưu chính, viễn thông phải được niêm yết công khai tại những nơi giao dịch.
Điều 72.  Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính, viễn thông phải hoàn trả tiền cước đã thu trong những trường hợp sau đây:
1. Tính sai giá cước theo qui định hiện hành;
2. Làm mất mát, hư hỏng, nhầm lẫn bưu phẩm, bưu kiện, tiền gửi do lỗi của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ;
3. Không bảo đảm chất lượng dịch vụ theo hợp đồng đã ký kết;
4. Chậm chỉ tiêu thời gian đối với những dịch vụ chất lượng cao có qui định chỉ tiêu thời gian;
Ngoài ra doanh nghiệp cung cấp dịch vụ phải bồi thường thiệt hại theo qui định tại Nghị định này.
Điều 73. Bộ Tài chính và Tổng cục Bưu điện qui định các loại phí, lệ phí bưu chính, viễn thông và tần số vô tuyến điện, mức thu và tổ chức thu.
Điều 74. Tổng cục Bưu điện quy định giá hoặc khung giá thanh toán giữa các doanh nghiệp cùng tham gia cung cấp dịch vụ bưu chính, viễn thông.
Việc thanh toán được thông qua hợp đồng hoặc thoả thuận khác bằng văn bản giữa các doanh nghiệp.
CHƯƠNG VI
KHIẾU NẠI VÀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI VỀ DỊCH VỤ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG
MỤC I. KHIẾU NẠI.
Điều 75.  Người sử dụng dịch vụ bưu chính, viễn thông có quyền khiếu nại về những sai sót của doanh nghiệp trong việc cung cấp các dịch vụ bưu chính, viễn thông.
Khi khiếu nại, phải cung cấp những giấy tờ, chứng cứ liên quan đến việc khiếu nại và chịu trách nhiệm về nội dung khiếu nại của mình.
Điều 76. Thời hiệu khiếu nại như sau:
1. Đối với các dịch vụ bưu chính trong nước: không quá 12 tháng kể từ ngày sử dụng dịch vụ;
2. Đối với các dịch vụ viễn thông trong nước: không quá 3 tháng kể từ ngày sử dụng dịch vụ;
3. Đối với cước phí: không quá 01 tháng kể từ ngày thanh toán cước phí;
4. Đối với các dịch vụ bưu chính, viễn thông quốc tế: thực hiện theo các điều ước quốc tế về bưu chính, viễn thông mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia.
Trừ những trường hợp đặc biệt do Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện quy định, các khiếu nại không được giải quyết sau khi hết thời hiệu.
Điều 77.
1. Cơ sở nhận khiếu nại phải báo nhận bằng văn bản tới người khiếu nại trong thời hạn 48 giờ kể từ khi nhận khiếu nại.
2. Các khiếu nại của người sử dụng dịch vụ bưu chính, viễn thông phải được điều tra, kết luận và giải quyết xong, chậm nhất không quá 02 tháng kể từ ngày nhận khiếu nại đối với các dịch vụ bưu chính, viễn thông trong nước và 03 tháng đối với các dịch vụ bưu chính, viễn thông quốc tế.
3. Mọi khiếu nại phải được giải quyết theo đúng pháp luật và các quy định tại Nghị định này. Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính, viễn thông phải thông báo kết quả giải quyết cho người khiếu nại.
Điều 78. Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính, viễn thông có quyền khiếu nại về các vi phạm của người sử dụng dịch vụ bưu chính, viễn thông hoặc các vi phạm khác làm ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp hoặc gây thiệt hại cho doanh nghiệp.
Việc khiếu nại và giải quyết khiếu nại được thực hiện theo quy định của pháp luật.
MỤC II. BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI
Điều 79.  Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ của mình trong việc cung cấp dịch vụ bưu chính thì phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại Nghị định này.
Điều 80.  Việc bồi thường thiệt hại được qui định như sau:
1. Đối với bưu phẩm ghi số, bưu phẩm chuyển phát nhanh: bồi thường theo loại bưu phẩm và nấc khối lượng;
2. Đối với bưu kiện từ  31,5 kg trở xuống: bồi thường theo nấc khối lượng;
3. Đối với bưu phẩm, bưu kiện khai giá: bồi thường theo giá mà người gửi đã khai khi gửi bưu phẩm, bưu kiện.
4. Đối với bưu kiện trên 31,5 kg (bưu kiện nặng): bồi thường theo quy định của pháp luật về vận chuyển hàng hoá;
5. Đối với tiền trong các dịch vụ tài chính bưu chính: hoàn lại tiền gửi và trả lãi theo quy định tại Khoản 2, Điều 313, Bộ Luật Dân sự;
6. Đối với bưu phẩm, bưu kiện, phiếu chuyển tiền quốc tế: bồi thường theo quy định của Điều ước quốc tế về bưu chính.
Ngoài ra, doanh nghiệp phải hoàn lại cước phí đã thu và bồi thường tiền thuế đã nộp tại Việt Nam (nếu có).
Điều 81. Trong các trường hợp bồi thường thiệt hại về bưu phẩm, bưu kiện, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính chỉ bồi thường bằng tiền Việt Nam.
Điều 82. Số tiền bồi thường được trả cho người gửi, nhưng nếu người gửi yêu cầu thì được trả cho người nhận.
Riêng bưu phẩm, bưu kiện bị hư hỏng hoặc mất một phần, nếu được người nhận thoả thuận thì vẫn phát phần còn lại và bồi thường thiệt hại phần mất mát, hư hỏng cho người nhận.
Sau khi đã bồi thường, nếu doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính xác minh bưu phẩm, bưu kiện, tiền đã phát hợp lệ hoặc bị hư hỏng, chậm trễ, phát nhầm do thiếu sót của người gửi thì người đã được nhận bồi thường phải hoàn trả lại số tiền bồi thường đã nhận.
Điều 83.  Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính được miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong những trường hợp sau đây:
1. Những trường hợp bất khả kháng;
2. Do lỗi của người gửi;
3. Vật gửi bị huỷ hoại do đặc tính tự nhiên;
4. Bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền tịch thu bưu phẩm, bưu kiện, tiền  theo quy định của pháp luật;
5. Bưu phẩm gửi thường.
Điều 84. Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện quy định chi tiết việc bồi thường thiệt hại và các mức tiền bồi thường.
Điều 85.  Nếu doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông không  bảo đảm chất lượng hoặc chỉ tiêu thời gian dịch vụ đã công bố hoặc đã thỏa thuận trong hợp đồng thì doanh nghiệp phải hoàn lại một phần hay toàn bộ cước đã thu.
CHƯƠNG VII.
 SẢN XUẤT, LẮP RÁP VÀ NHẬP KHẨU THIẾT BỊ, VẬT LIỆU BƯU CHÍNH, VIỄN THÔNG
Điều 86.  Thiết bị, vật liệu bưu chính, viễn thông bao gồm các loại thiết bị, vật liệu chuyên dùng trên mạng lưới bưu chính, viễn thông công cộng và các mạng lưới viễn thông chuyên dùng.
Tổng cục Bưu điện qui định danh mục thiết bị, vật liệu bưu chính, viễn thông bao gồm cả thiết bị lẻ và thiết bị toàn bộ.
Điều 87. Việc sản xuất, lắp ráp thiết bị, vật liệu bưu chính, viễn thông tại Việt Nam để thay thế hàng nhập khẩu được thực hiện theo pháp luật và theo quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành bưu điện.
Tổng cục Bưu điện đề xuất với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định những biện pháp khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài đầu tư vào lĩnh vực này.
Điều 88. Thiết bị, vật liệu bưu chính, viễn thông sản xuất trong nước hoặc nhập khẩu để sử dụng trong nước phải phù hợp với công nghệ, mạng lưới bưu chính, viễn thông Việt Nam và bảo đảm các chỉ tiêu, tiêu chuẩn kỹ thuật do Nhà nước ban hành hoặc cho phép áp dụng.

Tổng cục Bưu điện quy định danh mục thiết bị, vật liệu bưu chính, viễn thông sản xuất trong nước, nhập khẩu phải qua giám định chất lượng và tổ chức việc giám định các thiết bị, vật liệu đó trước khi được phép lưu thông trên thị trường Việt Nam hoặc lắp đặt trên các mạng lưới bưu chính, viễn thông.
CHƯƠNG VIII
 XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG
Điều 89. Khi xây dựng các công trình bưu chính, viễn thông (bao gồm các công trình thuộc mạng lưới bưu chính, viễn thông công cộng và các mạng lưới viễn thông chuyên dùng), chủ công trình phải bảo đảm:
1. Đầu tư, xây dựng công trình đúng qui hoạch, kế hoạch phát triển mạng lưới đã được duyệt; đúng quy trình, quy phạm, định mức kinh tế kỹ thuật chuyên ngành bưu chính, viễn thông;
2. Đúng quy định của Nhà nước về xây dựng công trình kết cấu hạ tầng;
3. Chịu sự kiểm tra chuyên ngành bưu chính, viễn thông của Tổng cục Bưu điện;
Tổng cục Bưu điện được quyền đình chỉ hoặc đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền đình chỉ việc xây dựng, lắp đặt nếu phát hiện các vi phạm.
Điều 90.
1.Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính, viễn thông được ưu tiên:
a) Sử dụng không gian, mặt đất, lòng đất, đáy sông, đáy biển để xây dựng công trình bưu chính,viễn thông;
b) Xây dựng đường dây, cáp nổi hoặc chìm đặt trong nhà và ngoài đường, trên các tuyến giao thông; xây dựng hệ thống anten và các công trình liên quan khác ở những nơi cần thiết phù hợp với yêu câù kỹ thuật;
c) Xây dựng các  trung tâm kỹ thuật, khai thác và điều hành bưu chính, viễn thông, các bưu cục, các buồng điện thoại công cộng, hòm thư bưu chính ở các địa điểm phù hợp với yêu cầu kỹ thuật, khai thác và thuận tiện cho người sử dụng tại các đô thị, khu dân cư, khu công nghiệp, khu chế xuất và ở tại những nơi cần thiết khác;
d)  Đặt các cơ sở giao dịch và khai thác tại các nhà ga, bến xe, cảng hàng không, cảng biển và các đầu mối giao thông khác để phục vụ nhu cầu của người sử dụng và giao nhận túi, gói bưu phẩm, bưu kiện trong nước và với nước ngoài.
Việc thiết kế và xây dựng các cơ sở bưu chính, viễn thông tại các đầu mối giao thông nói trên do chủ công trình nơi đó phụ trách có sự tham gia của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính, viễn thông.
2. Việc xây dựng các công trình bưu chính, viễn thông nói trên được thực hiện theo pháp luật và phải được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Điều 91.  Các tổ chức, cá nhân khi xây dựng hoặc sửa chữa công trình của mình phải thực hiện các quy định kỹ thuật về bảo đảm an toàn công trình bưu chính, viễn thông; không được làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của các công trình bưu chính, viễn thông đã xây dựng; không được gây nhiễu đến các thiết bị và mạng lưới viễn thông.
Điều 92.  Các công trình thuộc mạng lưới viễn thông công cộng chỉ đưa vào vận hành, khai thác khi đáp ứng đầy đủ các chỉ tiêu, tiêu chuẩn kỹ thuật  về đấu nối, hoà mạng.
Các công trình thuộc mạng lưới viễn thông chuyên dùng chỉ được đưa vào vận hành, khai thác khi đáp ứng đầy đủ các chỉ tiêu, tiêu chuẩn kỹ thuật trong thiết kế đã được Tổng cục Bưu điện duyệt.
Điều 93. Tổ chức, cá nhân nước ngoài muốn lắp đặt các tuyến cáp viễn thông trong vùng đặc quyền kinh tế hoặc trong thềm lục địa của Việt Nam phải được Thủ tướng Chính phủ Việt Nam chấp thuận.

Tổng cục Bưu điện tiếp nhận yêu cầu, thẩm tra và trình Thủ tướng Chính phủ xem xét quyết định.
CHƯƠNG IX
DOANH NGHIỆP BƯU CHÍNH VÀ VIỄN THÔNG
Điều 94. Doanh nghiệp bưu chính và viễn thông là doanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo qui định của pháp luật trong các lĩnh vực sau đây:
1. Cung cấp các dịch vụ bưu chính, viễn thông;
2. Sản xuất thiết bị, vật liệu bưu chính, viễn thông;
3. Xuất khẩu, nhập khẩu, cung ứng thiết bị, vật liệu bưu chính, viễn thông;
4. Tư vấn, khảo sát, thiết kế và xây dựng công trình bưu chính, viễn thông.
Các doanh nghiệp khác muốn xin phép kinh doanh bổ sung một hoặc nhiều ngành nghề thuộc các lĩnh vực trên cũng phải tuân theo các quy định tại Nghị định này.
Điều 95. Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính, viễn thông là doanh nghiệp nhà nước hoặc công ty cổ phần mà Nhà nước chiếm cổ phần chi phối hoặc cổ phần đặc biệt, được Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập hoặc cho phép thành lập để cung cấp các dịch vụ bưu chính, viễn thông trong nước và quốc tế theo quy định tại Nghị định này.
Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính, viễn thông phải có hệ thống mạng lưới và thiết bị phù hợp với qui hoạch phát triển mạng lưới bưu chính, viễn thông công cộng, có đội ngũ cán bộ, công nhân kỹ thuật và khai thác phù hợp với trình độ công nghệ và quy mô hoạt động.
Điều 96.  Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính, viễn thông có các quyền, nghĩa vụ theo quy định chung của pháp luật và các quyền, nghĩa vụ sau đây:
1. Được sử dụng bình đẳng hệ thống đường trục viễn thông quốc gia theo qui định của Tổng cục Bưu điện để cung cấp các dịch vụ bưu chính, viễn thông;
2. Được phân bổ, ấn định tần số phù hợp với qui hoạch tần số vô tuyến điện; được ấn định mã số mạng theo kế hoạch đánh số các mạng lưới viễn thông của Tổng cục Bưu điện;
3. Được hợp tác với nước ngoài theo những nội dung và hình thức do Thủ tướng Chính phủ quyết định để phát triển mạng lưới và dịch vụ;
4. Được huy động vốn theo quy định của pháp luật;
5. Được hưởng các chế độ trợ cấp, trợ giá và điều tiết của Nhà nước khi thực hiện nhiệm vụ sản xuất, cung ứng sản phẩm, cung cấp dịch vụ bưu chính, viễn thông phục vụ phòng chống thiên tai, vùng nông thôn, miền núi,  biên giới, hải đảo và các hoạt động công ích khác hoặc cung cấp sản phẩm, dịch vụ bưu chính, viễn thông theo chính sách giá của nhà nước;
6. Có nghĩa vụ bảo đảm cho mạng lưới hoạt động liên tục, bảo đảm các chỉ tiêu chất lượng mạng lưới và dịch vụ;
7. Có nghĩa vụ ưu tiên phục vụ các nhu cầu thông tin liên lạc của các cơ quan Đảng và Nhà nước, an ninh, quốc phòng, phòng chống thiên tai và hoạt động công ích khác;
8. Có nghĩa vụ thực hiện khung giá, cước do Nhà nước quy định; hướng dẫn và tạo điều kiện thuận lợi cho người sử dụng dịch vụ;
9. Có nghĩa vụ thực hiện các quy định và chịu sự kiểm soát của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, bí mật và an toàn thông tin;
10. Chịu sự điều tiết của Nhà nước đối với các hoạt động kinh doanh dịch vụ bưu chính, viễn thông trong các vùng đô thị, vùng đông dân cư và đối với các dịch vụ bưu chính, viễn thông có lợi nhuận cao để đầu tư phát triển bưu chính, viễn thông ở các vùng nông thôn, miền núi, biên giới, hải đảo.
Điều 97. Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính, viễn thông Việt Nam muốn làm đại lý cho tổ chức nước ngoài để cung cấp dịch vụ bưu chính, viễn thông tại Việt Nam phải xin phép Tổng cục Bưu điện.

Tổng cục Bưu điện ban hành Quy chế đại lý cung cấp dịch vụ bưu chính, viễn thông.
Điều 98. Các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính, viễn thông chịu sự quản lý, cấp phép và quy định của Tổng cục Bưu điện về thiết lập mạng lưới và cung cấp dịch vụ bưu chính, viễn thông.
Điều 99.
1. Doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, cung ứng thiết bị, vật liệu, xây dựng công trình bưu chính, viễn thông và các doanh nghiệp khác xin bổ sung sản xuất kinh doanh các ngành nghề trên thì tuỳ theo loại hình doanh nghiệp, được thành lập hoặc bổ sung ngành nghề theo quy định của pháp luật, được hợp tác với nước ngoài theo quy định của Luật  Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
2. Ngoài điều kiện chung theo qui định của pháp luật, doanh nghiệp sản xuất thiết bị, vật liệu bưu chính, viễn thông phải có thêm các điều kiện sau đây:
a) Có công nghệ tiên tiến, phù hợp với qui hoạch phát triển ngành bưu điện;
b) Sản phẩm phải đáp ứng đủ các tiêu chuẩn kỹ thuật do nhà nước qui định;
c) Sản xuất, lắp ráp thiết bị phát sóng thông tin vô tuyến điện phải được phép của Thủ tướng Chính phủ.
CHƯƠNG X.
 THANH TRA VÀ XỬ LÝ VI PHẠM
Điều 100. Thanh tra chuyên ngành Bưu điện có nhiệm vụ và quyền hạn thanh tra tổ chức, cá nhân trong nước và tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam về việc chấp hành pháp luật bưu chính, viễn thông.
Chính phủ quy định tổ chức và hoạt động của thanh tra chuyên ngành Bưu điện.
Điều 101.  Khi tiến hành thanh tra, đoàn thanh tra hoặc thanh tra viên có quyền:
1. Kiểm tra tại chỗ các phương tiện, thiết bị bưu chính, viễn thông, thiết bị thu phát sóng vô tuyến điện, các nguồn gây nhiễu có hại;
2. Kiểm tra các tài liệu, giấy phép, chứng chỉ liên quan đến hoạt động bưu chính, viễn thông; sử dụng thiết bị phát sóng và tần số vô tuyến điện;
3.  Đình chỉ, tạm đình chỉ theo thẩm quyền hoặc kiến nghị với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đình chỉ các hoạt động vi phạm  pháp luật về bưu chính, viễn thông;
4. Xử phạt hành chính theo thẩm quyền hoặc kiến nghị với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý các vi phạm;
5. Kiến nghị biện pháp xử lý, khắc phục hậu quả do vi phạm pháp luật gây ra.
Điều 102. Tổ chức, cá nhân phải tạo điều kiện cho đoàn thanh tra hoặc thanh tra viên thi hành nhiệm vụ; phải chấp hành các quyết định của đoàn thanh tra hoặc thanh tra viên.
Điều 103. Thanh tra chuyên ngành Bưu điện phải tuân thủ pháp luật và chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động của mình.
Điều 104.
1. Tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền những hành vi vi phạm pháp luật bưu chính, viễn thông và tần số vô tuyến điện.
Cơ quan nhận được khiếu nại, tố cáo có trách nhiệm xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.
2. Tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại với Thủ trưởng cơ quan ra quyết định thanh tra về kết lụân và biện pháp xử lý của đoàn thanh tra hoặc thanh tra viên; tố cáo những hành vi vi phạm pháp luật của đoàn thanh tra hoặc thanh tra viên trong quá trình thanh tra.
Điều 105. Tổ chức, cá nhân vi phạm Nghị định này thì bị xử lý theo quy định của pháp luật.
CHƯƠNG XI
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Điều 106. Nghị định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày ký để thay thế Điều lệ Bưu chính và Viễn thông đã ban hành kèm theo Nghị định số 121/HĐBT ngày 15 tháng 8 năm 1987 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ).
Những quy định trước đây trái với Nghị định này đều bãi bỏ.
Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện chịu trách nhiệm hướng dẫn và kiểm tra việc thi hành Nghị định này.
Điều 107. Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện, các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.
Thuộc tính văn bản
Nghị định 109/1997/NĐ-CP của Chính phủ về Bưu chính và Viễn thông
Cơ quan ban hành: Chính phủ Số công báo: Đang cập nhật
Số hiệu: 109/1997/NĐ-CP Ngày đăng công báo: Đang cập nhật
Loại văn bản: Nghị định Người ký: Phan Văn Khải
Ngày ban hành: 12/11/1997 Ngày hết hiệu lực: Đã biết
Áp dụng: Đã biết Tình trạng hiệu lực: Đã biết
Lĩnh vực: Thông tin-Truyền thông
Tóm tắt văn bản
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
LuatVietnam.vn độc quyền cung cấp bản dịch chính thống Công báo tiếng Anh của Thông Tấn Xã Việt Nam
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng: Đã biết

NGHỊ ĐỊNH

CỦA CHÍNH PHỦ SỐ 109/1997/NĐ-CP NGÀY 12 THÁNG 11 NĂM 1997
VỀ BƯU CHÍNH VÀ VIỄN THÔNG

 

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 30 tháng 9 năm 1992;

Xét đề nghị của Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện,

NGHỊ ĐỊNH:

CHƯƠNG I
NHỮNG QUI ĐỊNH CHUNG

 

Điều 1.

1. Bưu chính, viễn thông là ngành kinh tế kỹ thuật thuộc kết cấu hạ tầng của nền kinh tế và là công cụ thông tin liên lạc cuả Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

2. Mạng lưới bưu chính, viễn thông công cộng là phương tiện thông tin liên lạc của quốc gia, phải được bảo vệ, không ai được xâm phạm.

Bảo vệ mạng lưới bưu chính, viễn thông là trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, các đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân. Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm bảo vệ hệ thống thông tin liên lạc trong địa phương mình.

 

Điều 2. Nghị định này điều chỉnh các quan hệ về bưu chính, viễn thông nhằm nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, phát triển nhanh và khai thác có hiệu quả mạng lưới và dịch vụ bưu chính, viễn thông để thoả mãn nhu cầu thông tin liên lạc của toàn xã hội.

Mọi hoạt động về bưu chính, viễn thông và liên quan đến bưu chính, viễn thông của các tổ chức, cá nhân Việt Nam và tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam đều phải tuân theo Nghị định này.

Trong trường hợp các điều ước quốc tế về bưu chính, viễn thông mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác với Nghị định này thì áp dụng điều ước quốc tế.

Việc thiết lập và hoạt động của mạng lưới bưu chính, viễn thông chuyên dùng của Bộ Quốc phòng, Bộ Nội vụ và mối quan hệ giữa các mạng lưới này với mạng lưới bưu chính, viễn thông công cộng do Thủ tướng Chính phủ qui định.

 

 

Điều 3.

1. Bí mật và an toàn bưu chính, viễn thông được bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Nghiêm cấm các hành vi sau đây:

a) Phá hoại hoặc cản trở hoạt động của mạng lưới bưu chính, viễn thông công cộng và các mạng lưới bưu chính, viễn thông chuyên dùng;

b) Cung cấp và sử dụng dịch vụ bưu chính, viễn thông nhằm mục đích chống lại Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; gây rối loạn an ninh trật tự; vi phạm đạo đức, thuần phong mỹ tục; hoạt động buôn lậu và các hoạt động vi phạm pháp luật khác;

c) Chiếm đoạt, huỷ bỏ, bóc mở, tráo đổi, tiết lộ nội dung bưu phẩm, bưu kiện, điện văn của người khác;

d) Nghe trộm, thu trộm các tín hiệu viễn thông;

e) Tiết lộ tên, địa chỉ của các tổ chức, cá nhân sử dụng dịch vụ bưu chính, viễn thông trừ trường hợp bên thuê bao viễn thông thoả thuận cho đăng tên và địa chỉ trên các danh bạ viễn thông.

2. Việc kiểm soát hoạt động của mạng lưới và dịch vụ bưu chính, viễn thông, kiểm tra, kiểm soát, thu giữ bưu phẩm, bưu kiện, điện văn của tổ chức, cá nhân phải do cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành theo qui định của pháp luật.

3. Tổng cục Bưu điện phối hợp với Bộ Nội vụ và các cơ quan có liên quan hướng dẫn thực hiện các biện pháp bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội trong thông tin liên lạc, bảo đảm bí mật, an toàn mạng lưới và dịch vụ bưu chính, viễn thông.

 

Điều 4. Tổ chức và cá nhân Việt Nam, tổ chức và cá nhân nước ngoài được sử dụng các dịch vụ bưu chính, viễn thông.

Mọi tổ chức và cá nhân có nghĩa vụ tuân theo pháp luật khi sử dụng các dịch vụ bưu chính, viễn thông.

Không ai được ngăn cản quyền sử dụng hợp pháp các dịch vụ bưu chính, viễn thông.

Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính, viễn thông được quyền từ chối phục vụ nếu người sử dụng vi phạm pháp luật về bưu chính, viễn thông.

 

Điều 5. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về bưu chính, viễn thông.

Tổng cục Bưu điện là cơ quan thuộc Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về bưu chính, viễn thông trong phạm vi cả nước.

Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Uỷ ban nhân dân các cấp trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, phối hợp với Tổng cục Bưu điện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về bưu chính, viễn thông.

 

Điều 6. Chính phủ thống nhất quản lý giá, cước và phí bưu chính, viễn thông.

Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện công bố giá và cước bưu chính, viễn thông theo quy định của Chính phủ.

 

Điều 7. Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện quyết định và công bố việc đóng, mở các dịch vụ bưu chính, viễn thông trong nước và với nước ngoài bao gồm cả việc đóng, mở các dịch vụ thử nghiệm và việc thiết lập thông tin máy tính qua mạng lưới viễn thông công cộng; quyết định và công bố việc đóng, mở các bưu cục ngoại dịch, bưu cục kiểm quan, các đài duyên hải công cộng và chuyên dùng.

 

CHƯƠNG II
BƯU CHÍNH

 

MỤC I. MẠNG LƯỚI BƯU CHÍNH CÔNG CỘNG

 

Điều 8. Mạng lưới bưu chính công cộng bao gồm các trung tâm kỹ thuật, khai thác, vận chuyển và điều hành bưu chính, các tuyến đường thư, hệ thống bưu cục, điểm phục vụ, đại lý được tổ chức trong cả nước.

Mạng lưới bưu chính công cộng được tổ chức và phát triển theo qui hoạch, kế hoạch và theo các chỉ tiêu, tiêu chuẩn, qui phạm kỹ thuật, thể lệ khai thác thống nhất do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để cung cấp các dịch vụ bưu chính cho toàn xã hội.

 

Điều 9.

1. Mạng lưới bưu chính công cộng phải hoạt động liên tục, kể cả ngày lễ và chủ nhật.

Các ngành có liên quan phải phối hợp và tạo các điều kiện cần thiết để mạng lưới bưu chính công cộng hoạt động thông suốt, liên tục.

2. Tổng cục Bưu điện qui định giờ mở cửa phục vụ của các loại bưu cục. Các bưu cục phải niêm yết giờ mở cửa để phục vụ người sử dụng dịch vụ bưu chính.

 

MỤC II. DỊCH VỤ BƯU CHÍNH

I. CÁC LOẠI DỊCH VỤ

 

Điều 10.- Dịch vụ bưu chính là dịch vụ nhận gửi, chuyển, phát thư, báo chí, ấn phẩm, tiền, vật phẩm, hàng hoá và các sản phẩm vật chất khác thông qua mạng lưới bưu chính công cộng do doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính cung cấp.

 

Điều 11. Dịch vụ bưu chính bao gồm:

1. Dịch vụ bưu phẩm;

2. Dịch vụ bưu kiện đến 31,5 kg;

3. Dịch vụ bưu kiện trên 31,5 kg ( Bưu kiện nặng );

4. Dịch vụ phát hành báo chí và ấn phẩm định kỳ;

5. Dịch vụ tài chính bưu chính.

Các dịch vụ bưu chính được cung cấp, sử dụng theo các thể lệ dịch vụ bưu chính.

Tổng cục Bưu điện ban hành các thể lệ dịch vụ bưu chính.

 

II. CÁC DỊCH VỤ BƯU PHẨM, BƯU KIỆN,
PHÁT HÀNH BÁO CHÍ

 

Điều 12. Bưu phẩm, bưu kiện thuộc quyền định đoạt của người gửi khi chưa phát được cho người nhận hoặc người được người nhận uỷ quyền, trừ trường hợp bị tịch thu hoặc tiêu huỷ theo qui định của pháp luật.

Người gửi chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung tin tức, vật phẩm, hàng hoá, ấn phẩm gửi trong bưu phẩm, bưu kiện.

 

Điều 13.

1. Bưu phẩm bao gồm: thư, bưu thiếp, ấn phẩm, học phẩm dùng cho người mù và gói nhỏ.

Bưu phẩm được nhận gửi, chuyển, phát theo thể lệ bưu phẩm.

2. Thư là bản chữ viết, sao hoặc in mang nội dung thông tin riêng giữa người gửi và người nhận.

Thư được bỏ trong phong bì, dán kín và được bảo đảm bí mật theo qui định của Hiến pháp.

Người gửi và người nhận có thể là tổ chức hoặc cá nhân.

3. Bưu kiện là kiện hàng hoá, vật phẩm.

Bưu kiện được nhận gửi, chuyển, phát theo thể lệ bưu kiện.

 

Điều 14.

1. Cấm gửi trong bưu phẩm, bưu kiện:

a) Trong nước: ấn phẩm, vật phẩm, hàng hoá mà Nhà nước cấm lưu thông, lưu hành; vật hoặc chất gây nổ, gây cháy, gây nguy hiểm hoặc làm mất vệ sinh, gây ô nhiễm môi trường;

b) Đi nước ngoài và từ nước ngoài đến Việt Nam: ấn phẩm, vật phẩm, hàng hoá mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam cấm xuất khẩu, nhập khẩu hoặc nước nhận cấm nhập khẩu; hàng hoá buôn lậu; vật hoặc chất gây nổ, gây cháy, gây nguy hiểm hoặc làm mất vệ sinh, gây ô nhiễm môi trường.

2. Các loại kim loại quý, đá quý hoặc sản phẩm chế tạo từ kim loại quý, đá quý chỉ được gửi trong bưu phẩm, bưu kiện khai giá.

Tiền và ngân phiếu có giá trị như tiền chỉ được gửi bằng dịch vụ chuyển tiền.

3. Hàng hoá chịu thuế phải có chứng từ đã nộp thuế theo quy định của pháp luật.

 

Điều 15. Bưu phẩm (trừ thư và bưu thiếp), bưu kiện gửi từ Việt Nam đi nước ngoài và từ nước ngoài đến Việt Nam phải qua kiểm tra của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

Các cơ quan nhà nước có liên quan có trách nhiệm tổ chức, làm thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu bưu phẩm, bưu kiện thuận tiện.

 

Điều 16.

1. Tổ chức, cá nhân làm dịch vụ vận tải bằng ô tô, tàu bay, tàu hoả, tàu thuỷ có trách nhiệm ưu tiên vận chuyển bưu phẩm, bưu kiện, báo chí trên tất cả các tuyến vận tải theo hợp đồng ký với doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính.

2. Chủ phương tiện và người điều khiển phương tiện vận tải có trách nhiệm bảo đảm an toàn bưu phẩm, bưu kiện, báo chí trong quá trình vận chuyển.

Trong trường hợp phương tiện vận tải có vận chuyển bưu phẩm, bưu kiện, báo chí bị tai nạn hoặc hư hỏng trên đường vận chuyển, chủ phương tiện và người điều khiển phương tiện vận tải phải tổ chức việc bảo vệ và lưu thoát nhanh các túi, gói bưu phẩm, bưu kiện, báo chí. Chính quyền sở tại phải tạo điều kiện để bảo vệ các túi, gói bưu phẩm, bưu kiện, báo chí đó.

3. Trên các phương tiện vận tải công cộng, các túi, gói bưu phẩm, bưu kiện, báo chí được để trong toa riêng, buồng riêng. Trong trường hợp chưa có toa riêng, buồng riêng, chủ phương tiện phải bố trí chỗ để túi, gói bưu phẩm, bưu kiện, báo chí an toàn, cách biệt với hành khách, hàng hoá.

4. Các chủ phương tiện vận tải hành khách hoặc hàng hoá xuất phát từ Việt Nam hoặc quá cảnh Việt Nam đến các nước có quan hệ bưu chính với nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải vận chuyển bưu phẩm, bưu kiện, báo chí của Việt Nam theo chỉ định của cơ quan quản lý vận tải.

5. Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính được tổ chức lực lượng vận tải chuyên ngành.

Phương tiện vận tải chuyên ngành phải sơn mầu thống nhất và in biểu tượng bưu chính.

6. Phương tiện vận tải chuyên ngành phương tiện vận tải công cộng có vận chuyển bưu phẩm, bưu kiện, báo chí bằng đường bộ được ưu tiên:

a) Qua phà, cầu hoặc những đoạn đường có trở ngại về giao thông;

b) Kiểm soát trước, nếu cơ quan có thẩm quyền kiểm soát phương tiện vận tải trên đường;

c) Đi, đến, đỗ tại các bưu cục và các điểm giao nhận trong các đô thị để giao nhận túi, gói bưu phẩm, bưu kiện, báo chí.

 

Điều 17. Cấm mở để khám xét các túi, gói bưu phẩm, bưu kiện trên đường vận chuyển, trừ những trường hợp đặc biệt khẩn cấp về an ninh quốc gia do Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện quy định.

 

Điều 18. Việc vận chuyển túi thư ngoại giao được thực hiện theo các điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia.

 

Điều 19. Các tổ chức và cá nhân không được làm dịch vụ mang thư từ Việt Nam ra nước ngoài và từ nước ngoài vào Việt Nam, trừ doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính.

 

Điều 20. Trong trường hợp khẩn cấp về an ninh quốc gia và thiên tai, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được trưng dụng các phương tiện vận tải để vận chuyển công văn, mệnh lệnh và các văn bản khẩn cấp khác.

 

Điều 21. Bưu phẩm, bưu kiện, báo chí được phát tại:

1. Địa chỉ người nhận;

2. Bưu cục;

3. Hộp thư thuê bao.

Tổng cục Bưu điện quy định việc phát bưu phẩm, bưu kiện, báo chí trong những trường hợp khác.

 

Điều 22. Bưu phẩm, bưu kiện không phát được cho người nhận hoặc người được người nhận uỷ quyền và cũng không hoàn trả được cho người gửi hoặc người có quyền nhận, thì sau thời hạn 12 tháng, kể từ ngày gửi được coi là bưu phẩm, bưu kiện vô thừa nhận.

 

Điều 23. Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện và Bộ trưởng Bộ Tài chính qui định thể thức xử lý bưu phẩm, bưu kiện vô thừa nhận dựa trên những nguyên tắc sau đây:

1. ấn phẩm, giấy tờ hoặc vật phẩm cần để nghiên cứu hoặc lưu trữ được giao cho cơ quan hoặc tổ chức có liên quan. Giấy tờ, ấn phẩm khác được lưu giữ tại nơi xử lý 6 tháng, sau đó được tiêu huỷ;

2. Hàng hoá được định giá và bán. Tiền bán hàng hóa được gửi vào tài khoản tạm gửi tại ngân hàng. Trong thời hạn 6 tháng kể từ ngày gửi vào tài khoản, nếu có chứng cứ đầy đủ, người có quyền nhận được nhận lại số tiền đã bán hàng sau khi trừ đi những chi phí hợp lý. Quá thời hạn trên, tiền bán hàng hoá được nộp vào ngân sách Nhà nước.

Những vật phẩm, hàng hoá bị hư hỏng hoàn toàn được tiêu huỷ;

3. Việc xử lý bưu phẩm, bưu kiện vô thừa nhận phải do một hội đồng giải quyết và được lập thành biên bản.

 

III. CÁC DỊCH VỤ TÀI CHÍNH BƯU CHÍNH

 

Điều 24. Các dịch vụ tài chính bưu chính bao gồm:

1. Chuyển tiền;

2. Séc bưu chính;

3. Thanh toán qua bưu chính;

4. Thu và trả tiền;

5. Các dịch vụ ngân vụ.

 

Điều 25. Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính được cung cấp các dịch vụ tài chính bưu chính theo các điều kiện do pháp luật quy định và phải có giấy phép hoạt động do cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành cấp.

 

Điều 26. Tiền gửi, tiền thanh toán qua các dịch vụ tài chính bưu chính thuộc quyền định đoạt của người gưỉ cho đến khi trả tiền hoặc thanh toán xong, trừ trường hợp bị tịch thu theo quy định của pháp luật.

 

Điều 27. Tiền gửi, tiền thanh toán qua các dịch vụ tài chính bưu chính không trả hoặc không thanh toán được với người nhận hoặc người được người nhận uỷ quyền và cũng không hoàn trả được người gửi hoặc người có quyền hưởng, thì sau 12 tháng kể từ ngày gửi được coi là tiền vô thừa nhận.

 

Điều 28. Tiền vô thừa nhận được gửi vào tài khoản tạm gửi tại ngân hàng. Trong thời hạn 6 tháng kể từ ngày gửi vào tài khoản, nếu có chứng cứ đầy đủ, người có quyền hưởng được nhận lại tiền.

Quá thời hạn trên, tiền vô thừa nhận được nộp vào ngân sách Nhà nước.

 

MỤC III: TEM BƯU CHÍNH

 

Điều 29. Tem bưu chính là ấn phẩm đặc biệt dùng làm phương tiện thanh toán cước phí bưu phẩm, đồng thời được dùng làm tem chơi.

Tổng cục Bưu điện là cơ quan duy nhất phát hành tem bưu chính Việt Nam.

 

Điều 30. Việc phát hành tem bưu chính phải tuân theo các quy định sau đây:

1. Xây dựng chương trình đề tài tem bưu chính 5 năm và hàng năm.

Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện quyết định chương trình đề tài tem bưu chính.

 

Việc phát hành tem bưu chính để kỷ niệm những ngày lễ lớn, những sự kiện lớn trong nước và quốc tế phải được sự nhất trí của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

2. Duyệt mẫu tem: mẫu tem đã thiết kế phải được Hội đồng tư vấn do Tổng cục Bưu điện thành lập thẩm định.

Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện căn cứ vào ý kiến của Hội đồng để phê duyệt mẫu tem;

3. In tem: Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện quyết định việc in tem, kể cả số lượng in và nơi in.

Tem có thể được in ở trong nước hoặc ngoài nước, song phải bảo đảm an toàn và có hiệu quả kinh tế;

4. Phát hành tem: tem bưu chính chỉ có giá trị sử dụng sau khi đã có thông báo phát hành của Tổng cục Bưu điện.

Những tem bưu chính phát hành đặc biệt được khắc dấu kỷ niệm và có phong bì ngày phát hành đầu tiên.

 

Điều 31. Giá bán tem bưu chính để trả cước phí bưu phẩm là giá in trên con tem.

Trong trường hợp cần thu thêm tiền để ủng hộ quĩ xã hội vì lý do nhân đạo thì phải được phép của Thủ tướng Chính phủ và phải phát hành loại tem bưu chính có in thêm số tiền phụ thu.

 

Điều 32. Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện qui định việc kinh doanh tem chơi trong nước và kinh doanh tem chơi với nước ngoài, quy định việc xuất khẩu tem bưu chính Việt Nam và nhập khẩu tem bưu chính nước ngoài.

 

Điều 33. Tem bưu chính được bảo vệ và lưu trữ theo quy định của pháp luật.

 

CHƯƠNG III
VIỄN THÔNG

 

MỤC I. MẠNG LƯỚI VIỄN THÔNG CÔNG CỘNG

 

Điều 34. Mạng lưới viễn thông công cộng bao gồm hệ thống đường trục viễn thông quốc gia (hệ thống chuyển mạch, truyền dẫn liên tỉnh và quốc tế), hệ thống nội tỉnh, nội hạt, hệ thống các điểm phục vụ và các hệ thống thiết bị đầu cuối.

Mạng lưới viễn thông công cộng được tổ chức và phát triển theo qui hoạch, kế hoạch và được quản lý, khai thác theo các chỉ tiêu, tiêu chuẩn, quy phạm kỹ thuật, thể lệ khai thác thống nhất do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc cho phép áp dụng để cung cấp các dịch vụ viễn thông cho toàn xã hội.

 

Nhà nước thống nhất tổ chức và quản lý hệ thống đường trục viễn thông quốc gia.

 

Điều 35. Mạng lưới viễn thông công cộng phải được hoạt động liên tục suốt ngày đêm, trong mọi tình huống.

 

Điều 36. Hoạt động của mạng lưới viễn thông công cộng không được gây hại đến môi trường và các hoạt động kinh tế, xã hội. Các hoạt động kinh tế, xã hội không được làm ảnh hưởng đến hoạt động của mạng lưới viễn thông công cộng, đặc biệt là không được gây nhiễu có hại, làm hỏng các đường dây, cáp, anten và hệ thống thiết bị viễn thông.

Mọi vi phạm phải bị xử lý theo pháp luật.

 

MỤC 2. DỊCH VỤ VIỄN THÔNG

 

Điều 37. Dịch vụ viễn thông là dịch vụ truyền đưa, lưu trữ và cung cấp thông tin bằng hình thức truyền dẫn, phát, thu những ký hiệu, tín hiệu, số liệu, chữ viết, âm thanh, hình ảnh thông qua mạng lưới viễn thông công cộng do doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông cung cấp.

 

Điều 38. Dịch vụ viễn thông bao gồm:

1. Dịch vụ điện thoại;

2. Dịch vụ điện báo;

3. Dịch vụ Telex;

4. Dịch vụ Facimile (Faximin);

5. Dịch vụ truyền số liệu;

6. Dịch vụ thuê kênh viễn thông;

7. Dịch vụ truyền hình, truyền ảnh;

8. Dịch vụ truyền báo điện tử;

9. Dịch vụ đa phương tiện (Multi Media);

10. Dịch vụ điện thoại di động;

11. Dịch vụ nhắn tin;

12. Các dịch vụ Internet;

13. Các dịch vụ lưu trữ và cung cấp thông tin.

Các dịch vụ viễn thông được cung cấp, sử dụng theo các thể lệ dịch vụ viễn thông.

Tổng cục Bưu điện ban hành các thể lệ dịch vụ viễn thông.

 

Điều 39. Tổ chức, cá nhân có quyền đăng ký thuê bao viễn thông tại địa chỉ của mình hoặc sử dụng dịch vụ viễn thông tại các bưu cục và điểm phục vụ theo các thể lệ dịch vụ viễn thông.

Người sử dụng dịch vụ viễn thông được phục vụ suốt ngày đêm, kể cả ngày lễ và chủ nhật. Trường hợp doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông không phục vụ được theo yêu cầu của người sử dụng, phải báo cho người sử dụng biết rõ lý do.

Người sử dụng dịch vụ viễn thông chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung thông tin khi sử dụng dịch vụ viễn thông.

Người thuê bao viễn thông không được sử dụng thiết bị thuê bao để kinh doanh các dịch vụ viễn thông.

 

Điều 40. Việc thiết kế, lắp đặt thiết bị hoặc mạng lưới thuê bao viễn thông có thể do người thuê bao tự đảm nhiệm hoặc thuê tổ chức, cá nhân khác đảm nhiệm, song phải tuân thủ các qui trình, qui phạm kỹ thuật của Nhà nước.

Việc đấu nối từ địa chỉ thuê bao vào mạng lưới viễn thông công cộng do doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông thực hiện.

 

Điều 41.

1. Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện quyết định việc đóng, mở các đường liên lạc viễn thông liên tỉnh trong nước và ra nước ngoài thuộc hệ thống đường trục viễn thông quốc gia; qui định việc thuê và cho thuê kênh viễn thông thuộc hệ thống trên.

2. Các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông được sử dụng kênh của hệ thống đường trục viễn thông quốc gia để cung cấp các dịch vụ viễn thông theo qui định của Tổng cục Bưu điện.

3. Các cơ quan, tổ chức có mạng viễn thông chuyên dùng được thuê kênh để liên lạc nội bộ.

 

Điều 42. Việc quản lý, thiết lập, cung cấp và sử dụng mạng lưới, dịch vụ Internet tại Việt Nam được thực hiện theo Quy chế tạm thời về quản lý, thiết lập, sử dụng mạng Internet ở Việt Nam, ban hành kèm theo Nghị định số 21/CP ngày 5 tháng 3 năm 1997 của Chính phủ và Quyết định số 136/TTg ngày 5 năm 3 năm 1997 của Thủ tướng Chính phủ. Về việc thành lập Ban điều phối quốc gia mạng Internet ở Việt Nam.

 

Điều 43. Dịch vụ viễn thông được chia thành các mức độ ưu tiên phục vụ khác nhau theo chỉ tiêu thời gian để mọi tổ chức, cá nhân sử dụng.

Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện quy định các mức độ ưu tiên.

 

Điều 44. Các loại thông tin sau đây được ưu tiên phục vụ ngay:

1. Phòng chống bão lụt, hoả hoạn, thiên tai khác;

2. Cấp cứu và phòng chống dịch bệnh cho người;

 

3. Thông tin khẩn cấp về quốc phòng, an ninh;

4. Thông tin cứu nạn, cứu hộ khi tàu bay, tàu thuỷ lâm nguy, lâm nạn;

5. Thông tin công ích khẩn cấp khác.

Trong những trường hợp khẩn cấp kể trên, Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện quyết định huy động một phần hay toàn bộ mạng lưới viễn thông, kể cả công cộng và chuyên dùng, vào việc phục vụ các nhu cầu khẩn cấp này.

 

Điều 45. Các đối tượng sau đây được ưu tiên phục vụ khi sử dụng các dịch vụ viễn thông:

1. Lãnh đạo Đảng và Nhà nước, Bộ trưởng, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh hoặc tương đương;

2. Nguyên thủ quốc gia, trưởng đoàn đại biểu Chính phủ nước ngoài đến Việt Nam, người đứng đầu cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan đại diện tổ chức quốc tế liên Chính phủ tại Việt Nam.

 

Điều 46. Điện báo, telex, fax hoặc các văn bản khác được truyền đưa bằng dịch vụ viễn thông gọi chung là điện văn.

Cơ quan Đảng, Nhà nước các cấp, các đơn vị lực lượng vũ trang, cơ quan đại diện ngoại giao nước ngoài, cơ quan đại diện tổ chức quốc tế được hưởng quy chế ngoại giao được dùng tiếng mật trong các điện văn.

Các đối tượng khác muốn dùng tiếng mật trong điện văn phải đăng ký và được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cho phép.

 

Điều 47. Điện văn được phát tại:

1. Địa chỉ người nhận;

2. Bưu cục;

3. Qua thuê bao viễn thông.

Tổng cục Bưu điện quy định việc phát điện văn trong những trường hợp khác.

 

Điều 48. Điện văn không phát được phải báo cho người gửi biết và được lưu giữ trong thời hạn 6 tháng kể từ ngày gửi. Qúa thời hạn này, điện văn đó được huỷ bỏ.

 

MỤC 3. MẠNG LƯỚI VIỄN THÔNG CHUYÊN DÙNG

 

Điều 49. Mạng lưới viễn thông chuyên dùng do một cơ quan, một tổ chức, một doanh nghiệp thiết lập để sử dụng làm phương tiện liên lạc bằng các phương thức thoại hoặc phi thoại trong nội bộ cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp đó.

 

Việc thiết lập mạng lưới viễn thông chuyên dùng trong lãnh thổ Việt Nam theo quy định của Nghị định này.

Bộ Ngoại giao được thiết lập mạng lưới viễn thông chuyên dùng để liên lạc với các cơ quan đại diện ngoại giao của Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài.

Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện quy định việc thiết lập và hoạt động của các đài thông tin vô tuyến điện của các cơ quan, tổ chức nước ngoài tại Việt Nam.

 

Điều 50. Cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp muốn thiết lập mạng lưới viễn thông chuyên dùng phải bảo đảm các điều kiện sau đây:

1. Có mục đích sử dụng rõ ràng;

2. Có cấu trúc và thiết kế mạng lưới, phương thức và phạm vi hoạt động, có các chỉ tiêu, tiêu chuẩn kỹ thuật của mạng lưới, của thiết bị.

Tổng cục Bưu điện qui định việc tiếp nhận yêu cầu, thẩm tra hồ sơ và cấp giấy phép thiết lập mạng lưới.

Mạng lưới viễn thông chuyên dùng chỉ được hoạt động sau khi có giấy phép của Tổng cục Bưu điện.

 

Điều 51. Cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp được phép thiết lập mạng lưới viễn thông chuyên dùng phải bảo đảm các yêu cầu sau đây:

1. Hoạt động đúng pháp luật và quy định của giấy phép;

2. Không được sử dụng mạng lưới viễn thông chuyên dùng để kinh doanh các dịch vụ viễn thông công cộng;

3. Không gây nhiễu có hại hoặc làm ảnh hưởng đến hoạt động của mạng lưới viễn thông công cộng và các mạng chuyên dùng khác;

4. Không được đấu nối trực tiếp vào mạng lứơi viễn thông chuyên dùng khác.

 

Điều 52. Việc đấu nối mạng lưới viễn thông chuyên dùng vào mạng lưới viễn thông công cộng phải bảo đảm các điều kiện sau đây:

1. Có các tiêu chuẩn kỹ thuật của mạng lưới và thiết bị phù hợp với mạng lưới viễn thông công cộng;

2. Thực hiện đúng quy định đấu nối, hoà mạng và khai thác.

 

Điều 53. Mạng lưới viễn thông chuyên dùng phải hoạt động theo đúng quy định của Nghị định này và các quy định khác của pháp luật; chịu sự kiểm tra, kiểm soát của Tổng cục Bưu điện và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

 

CHƯƠNG IV
PHỔ TẦN SỐ VÔ TUYẾN ĐIỆN VÀ THIẾT BỊ PHÁT SÓNG VÔ TUYẾN ĐIỆN

MỤC I
QUẢN LÝ TẦN SỐ VÀ THIẾT BỊ PHÁT SÓNG VÔ TUYẾN ĐIỆN

 

Điều 54. Phổ tần số vô tuyến điện, quỹ đạo vệ tinh địa tĩnh thuộc chủ quyền Vịêt Nam là tài nguyên của quốc gia, phải được khai thác, sử dụng đúng pháp luật và có hiệu quả.

Các thiết bị phát sóng ở giải tần từ 9KHz đến 400GHz phải sử dụng tần số đúng nghiệp vụ đã được phân bổ hoặc ấn định theo qui hoạch tần số quốc gia.

Quy hoạch tần số quốc gia do Tổng cục Bưu điện xây dựng trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

 

Điều 55. Các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài tại Việt Nam (trừ Bộ Quốc phòng và Bộ Nội vụ có qui định riêng) muốn lắp đặt, sử dụng, dự trữ thiết bị phát sóng vô tuyến điện trên lãnh thổ Việt Nam (kể cả trên các phương tiện vận tải) và sử dụng tần số vô tuyến điện thuộc các nghiệp vụ cố định, lưu động, phát thanh, truyền hình, hàng không, hàng hải, đạo hàng, định vị, vệ tinh, phát chuẩn và các nghiệp vụ khác phải xin phép Tổng cục Bưu điện và chỉ được lắp đặt, sử dụng, dự trữ khi có giấy phép.

Khi thay đổi tần số, băng tần số, công suất phát, di chuyển các thiết bị phát sóng vô tuyến điện kể trên phải được phép của Tổng cục Bưu điện.

Điều kiện để được cấp giấy phép lắp đặt, sử dụng, dự trữ thiết bị phát sóng vô tuyến điện:

1. Có mục đích sử dụng rõ ràng;

2. Thiết bị bảo đảm các chỉ tiêu, tiêu chuẩn kỹ thuật do Nhà nước quy định;

3. Người khai thác thiết bị có chứng chỉ chuyên môn do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp.

 

Điều 56. Nghiêm cấm:

1. Lắp đặt, sử dụng, dự trữ thiết bị phát sóng vô tuyến điện và sử dụng tần số vô tuyến điện không có giấy phép;

2. Xuất khẩu, nhập khẩu trái phép các thiết bị phát sóng vô tuyến điện;

3.Gây nhiễu có hại;

4. Sử dụng sai mục đích các tần số cấp cứu, an toàn quốc tế và quốc gia.

 

Điều 57. Các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài muốn xuất khẩu, nhập khẩu thiết bị phát sóng vô tuyến điện phải được Tổng cục Bưu điện chấp thuận.

 

Điều 58. Các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài tại Việt Nam đã được cấp giấy phép sử dụng thiết bị phát sóng và tần số vô tuyến điện, khi giấy phép hết hạn hoặc ngừng hoạt động phải báo cáo bằng văn bản cho Tổng cục Bưu điện. Nếu muốn sử dụng tiếp thì xin phép gia hạn theo quy định của Tổng cục Bưu điện.

 

Điều 59. Các thiết bị thông tin liên lạc đặt trên tàu biển, tàu bay nước ngoài phải ngừng hoạt động khi tàu biển vào vùng nội thuỷ, tàu bay đậu xuống sân bay của Việt Nam. Mọi liên lạc viễn thông với bất cứ nơi nào thực hiện theo pháp luật Việt Nam.

Các tàu biển, tàu bay của Việt Nam và nước ngoài ra, vào, trú đậu tại các cảng, sân bay của Việt Nam phải tuân thủ pháp luật Việt Nam và chịu sự kiểm tra của các cơ quan quản lý có thẩm quyền của Nhà nước Việt Nam về các loại giấy phép và chứng chỉ có liên quan đến việc sử dụng thiết bị phát sóng vô tuyến điện.

Tàu biển, tàu bay đi qua lãnh thổ Việt Nam chịu sự giám sát của Tổng cục Bưu điện về việc sử dụng tần số vô tuyến điện.

 

Điều 60. Các tổ chức, cá nhân đã được phép sử dụng thiết bị phát sóng và tần số vô tuyến điện phải áp dụng các biện pháp sau đây để chống gây nhiễu có hại:

1. Giữ đúng tần số phát trong phạm vi sai lệch tần số cho phép;

2. Giảm mức bức xạ sóng hài, bức xạ ký sinh ở trị số thấp nhất;

3. Sử dụng phương thức phát sóng có độ rộng băng tần chiếm dụng hẹp nhất;

4. Hạn chế phát sóng ở những hướng không cần thiết;

5. Sử dụng mức công suất nhỏ nhất đủ để bảo đảm chất lượng thông tin.

 

MỤC II. ĐĂNG KÝ QUỐC TẾ TẦN SỐ VÔ TUYẾN ĐIỆN
VÀ QUỸ ĐẠO VỆ TINH

 

Điều 61. Tổng cục Bưu điện có trách nhiệm đăng ký quốc tế tần số vô tuyến điện cho các nghiệp vụ thông tin vô tuyến điện trong cả nước và đăng ký quỹ đạo vệ tinh địa tĩnh.

 

Điều 62. Tổng cục Bưu điện quản lý việc sử dụng quỹ đạo vệ tinh địa tĩnh thuộc chủ quyền Việt Nam, quản lý việc thuê và cho thuê kênh vệ tinh.

 

Điều 63. Tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài tại Việt Nam muốn thiết lập trạm mặt đất hoặc sử dụng hệ thống thiết bị thông tin qua vệ tinh phải xin phép Tổng cục Bưu điện.

 

 

MỤC III
QUẢN LÝ TẦN SỐ VÔ TUYẾN ĐIỆN NGHIỆP DƯ

 

Điều 64. Tổ chức, cá nhân Việt Nam và nước ngoài muốn lắp đặt và sử dụng thiết bị vô tuyến điện nghiệp dư trong lãnh thổ Việt Nam phải xin phép Tổng cục Bưu điện.

Người sử dụng thiết bị vô tuyến điện nghiệp dư phải có chứng chỉ vô tuyến điện nghiệp dư hợp pháp; có nghĩa vụ tuân thủ các quy định của Nghị định này và thể lệ vô tuyến điện nghiệp dư.

Tổng cục Bưu điện ban hành thể lệ vô tuyến điện nghiệp dư.

 

MỤC IV
KIỂM SOÁT VÀ XỬ LÝ NHIỄU CÓ HẠI

 

Điều 65. Tổng cục Bưu điện có trách nhiệm:

1. Tổ chức và quản lý hệ thống kiểm tra, kiểm soát việc sử dụng thiết bị phát sóng và tần số vô tuyến điện trong cả nước;

2. Quy định những biện pháp chống nhiễu có hại đến các mạng lưới viễn thông, các cơ sở truyền dẫn tín hiệu và phát sóng phát thanh, truyền hình, các cơ sở thu, phát sóng vô tuyến điện khác theo pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế về thông tin vô tuyến điện mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia.

 

Điều 66. Người sử dụng thiết bị phát sóng vô tuyến điện, thiết bị sinh ra tia lửa điện, thiết bị điện, điện tử dân dụng, hồ quang điện dùng trong các lĩnh vực công nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải, y tế, nghiên cứu khoa học và các lĩnh vực khác phải thực hiện các biện pháp để hạn chế nhiễu theo quy định của Tổng cục Bưu điện.

 

Điều 67. Các tổ chức, cá nhân khi khiếu nại về nhiễu có hại phải có văn bản gửi Tổng cục Bưu điện, trong đó nêu rõ thời gian, địa điểm xảy ra nhiễu và hiện tượng nhiễu của đài bị nhiễu. Tổng cục Bưu điện xử lý nhiễu có hại theo pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế về thông tin vô tuyến điện mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia.

 

MỤC V
UỶ BAN TẦN SỐ VÔ TUYẾN ĐIỆN

 

Điều 68. Uỷ ban Tần số vô tuyến điện là tổ chức liên ngành giúp Thủ tướng Chính phủ:

1. Thẩm tra các dự án chiến lược, quy hoạch tần số vô tuyến điện trước khi trình Thủ tướng Chính phủ;

2. Kiến nghị các biện pháp chống nhiễu có hại và các giải pháp bảo đảm an toàn các giải tần số vô tuyến điện giữa mạng lưới viễn thông chuyên dùng của Bộ Quốc phòng, Bộ Nội vụ với mạng lưới viễn thông công cộng và các mạng lưới viễn thông khác, các cơ sở truyền dẫn tín hiệu và phát sóng phát thanh, truyền hình;

3. Theo dõi, đôn đốc và giám sát việc phối hợp giữa Bộ Quốc phòng, Bộ Nội vụ và Tổng cục Bưu điện trong việc kiểm soát sử dụng tần số, xử lý nhiễu có hại, bảo đảm an ninh quốc gia và an toàn thông tin liên lạc.

 

Điều 69. Uỷ ban Tần số vô tuyến điện do Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện làm Chủ tịch, một Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, một Thứ trưởng Bộ Nội vụ làm Phó chủ tịch và có các đại diện của một số Bộ, ngành do Thủ tướng Chính phủ quyết định.

Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức và hoạt động của Uỷ ban Tần số vô tuyến điện do Thủ tướng Chính phủ quy định.

 

CHƯƠNG V
GIÁ, CƯỚC VÀ PHÍ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG

 

Điều 70. Giá, cước bưu chính, viễn thông bao gồm giá, cước bưu chính, viễn thông trong nước và giá, cước bưu chính, viễn thông quốc tế.

Mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân sử dụng dịch vụ bưu chính, viễn thông đều phải trả cước theo quy định hiện hành.

Phí và lệ phí bưu chính, viễn thông và tần số vô tuyến điện được ban hành và thực hiện theo quy định của pháp luật.

 

Điều 71.

1. Chính phủ qui định khung giá, cước chuẩn một số sản phẩm và dịch vụ bưu chính, viễn thông mang tính xã hội, công ích cao.

2. Tổng cục Bưu điện qui định khung giá, cước chuẩn các sản phẩm và dịch vụ bưu chính, viễn thông mang tính xã hội, công ích cao ngoài danh mục do Chính phủ quy định.

3. Doanh nghiệp bưu chính, viễn thông quyết định mức giá, cước các sản phẩm, dịch vụ trong khung giá, cước do Nhà nước qui định; quyết định mức giá, cước các sản phẩm, dịch vụ mà Nhà nước không quy định.

4. Giá, cước bưu chính, viễn thông phải được niêm yết công khai tại những nơi giao dịch.

 

Điều 72. Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính, viễn thông phải hoàn trả tiền cước đã thu trong những trường hợp sau đây:

1. Tính sai giá cước theo qui định hiện hành;

2. Làm mất mát, hư hỏng, nhầm lẫn bưu phẩm, bưu kiện, tiền gửi do lỗi của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ;

3. Không bảo đảm chất lượng dịch vụ theo hợp đồng đã ký kết;

4. Chậm chỉ tiêu thời gian đối với những dịch vụ chất lượng cao có qui định chỉ tiêu thời gian;

Ngoài ra doanh nghiệp cung cấp dịch vụ phải bồi thường thiệt hại theo qui định tại Nghị định này.

 

Điều 73. Bộ Tài chính và Tổng cục Bưu điện qui định các loại phí, lệ phí bưu chính, viễn thông và tần số vô tuyến điện, mức thu và tổ chức thu.

 

Điều 74. Tổng cục Bưu điện quy định giá hoặc khung giá thanh toán giữa các doanh nghiệp cùng tham gia cung cấp dịch vụ bưu chính, viễn thông.

Việc thanh toán được thông qua hợp đồng hoặc thoả thuận khác bằng văn bản giữa các doanh nghiệp.

 

CHƯƠNG VI
KHIẾU NẠI VÀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI VỀ DỊCH VỤ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG

 

MỤC I. KHIẾU NẠI.

 

Điều 75. Người sử dụng dịch vụ bưu chính, viễn thông có quyền khiếu nại về những sai sót của doanh nghiệp trong việc cung cấp các dịch vụ bưu chính, viễn thông.

Khi khiếu nại, phải cung cấp những giấy tờ, chứng cứ liên quan đến việc khiếu nại và chịu trách nhiệm về nội dung khiếu nại của mình.

 

Điều 76. Thời hiệu khiếu nại như sau:

1. Đối với các dịch vụ bưu chính trong nước: không quá 12 tháng kể từ ngày sử dụng dịch vụ;

2. Đối với các dịch vụ viễn thông trong nước: không quá 3 tháng kể từ ngày sử dụng dịch vụ;

3. Đối với cước phí: không quá 01 tháng kể từ ngày thanh toán cước phí;

4. Đối với các dịch vụ bưu chính, viễn thông quốc tế: thực hiện theo các điều ước quốc tế về bưu chính, viễn thông mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia.

Trừ những trường hợp đặc biệt do Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện quy định, các khiếu nại không được giải quyết sau khi hết thời hiệu.

 

 

Điều 77.

1. Cơ sở nhận khiếu nại phải báo nhận bằng văn bản tới người khiếu nại trong thời hạn 48 giờ kể từ khi nhận khiếu nại.

2. Các khiếu nại của người sử dụng dịch vụ bưu chính, viễn thông phải được điều tra, kết luận và giải quyết xong, chậm nhất không quá 02 tháng kể từ ngày nhận khiếu nại đối với các dịch vụ bưu chính, viễn thông trong nước và 03 tháng đối với các dịch vụ bưu chính, viễn thông quốc tế.

3. Mọi khiếu nại phải được giải quyết theo đúng pháp luật và các quy định tại Nghị định này. Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính, viễn thông phải thông báo kết quả giải quyết cho người khiếu nại.

 

Điều 78. Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính, viễn thông có quyền khiếu nại về các vi phạm của người sử dụng dịch vụ bưu chính, viễn thông hoặc các vi phạm khác làm ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp hoặc gây thiệt hại cho doanh nghiệp.

Việc khiếu nại và giải quyết khiếu nại được thực hiện theo quy định của pháp luật.

MỤC II. BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI

 

Điều 79. Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ của mình trong việc cung cấp dịch vụ bưu chính thì phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại Nghị định này.

 

Điều 80. Việc bồi thường thiệt hại được qui định như sau:

1. Đối với bưu phẩm ghi số, bưu phẩm chuyển phát nhanh: bồi thường theo loại bưu phẩm và nấc khối lượng;

2. Đối với bưu kiện từ 31,5 kg trở xuống: bồi thường theo nấc khối lượng;

3. Đối với bưu phẩm, bưu kiện khai giá: bồi thường theo giá mà người gửi đã khai khi gửi bưu phẩm, bưu kiện.

4. Đối với bưu kiện trên 31,5 kg (bưu kiện nặng): bồi thường theo quy định của pháp luật về vận chuyển hàng hoá;

5. Đối với tiền trong các dịch vụ tài chính bưu chính: hoàn lại tiền gửi và trả lãi theo quy định tại Khoản 2, Điều 313, Bộ Luật Dân sự;

6. Đối với bưu phẩm, bưu kiện, phiếu chuyển tiền quốc tế: bồi thường theo quy định của Điều ước quốc tế về bưu chính.

Ngoài ra, doanh nghiệp phải hoàn lại cước phí đã thu và bồi thường tiền thuế đã nộp tại Việt Nam (nếu có).

 

Điều 81. Trong các trường hợp bồi thường thiệt hại về bưu phẩm, bưu kiện, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính chỉ bồi thường bằng tiền Việt Nam.

 

Điều 82. Số tiền bồi thường được trả cho người gửi, nhưng nếu người gửi yêu cầu thì được trả cho người nhận.

Riêng bưu phẩm, bưu kiện bị hư hỏng hoặc mất một phần, nếu được người nhận thoả thuận thì vẫn phát phần còn lại và bồi thường thiệt hại phần mất mát, hư hỏng cho người nhận.

Sau khi đã bồi thường, nếu doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính xác minh bưu phẩm, bưu kiện, tiền đã phát hợp lệ hoặc bị hư hỏng, chậm trễ, phát nhầm do thiếu sót của người gửi thì người đã được nhận bồi thường phải hoàn trả lại số tiền bồi thường đã nhận.

 

Điều 83. Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính được miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong những trường hợp sau đây:

1. Những trường hợp bất khả kháng;

2. Do lỗi của người gửi;

3. Vật gửi bị huỷ hoại do đặc tính tự nhiên;

4. Bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền tịch thu bưu phẩm, bưu kiện, tiền theo quy định của pháp luật;

5. Bưu phẩm gửi thường.

 

Điều 84. Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện quy định chi tiết việc bồi thường thiệt hại và các mức tiền bồi thường.

 

Điều 85. Nếu doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông không bảo đảm chất lượng hoặc chỉ tiêu thời gian dịch vụ đã công bố hoặc đã thỏa thuận trong hợp đồng thì doanh nghiệp phải hoàn lại một phần hay toàn bộ cước đã thu.

 

CHƯƠNG VII.
SẢN XUẤT, LẮP RÁP VÀ NHẬP KHẨU THIẾT BỊ, VẬT LIỆU BƯU CHÍNH, VIỄN THÔNG

 

Điều 86. Thiết bị, vật liệu bưu chính, viễn thông bao gồm các loại thiết bị, vật liệu chuyên dùng trên mạng lưới bưu chính, viễn thông công cộng và các mạng lưới viễn thông chuyên dùng.

Tổng cục Bưu điện qui định danh mục thiết bị, vật liệu bưu chính, viễn thông bao gồm cả thiết bị lẻ và thiết bị toàn bộ.

 

Điều 87. Việc sản xuất, lắp ráp thiết bị, vật liệu bưu chính, viễn thông tại Việt Nam để thay thế hàng nhập khẩu được thực hiện theo pháp luật và theo quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành bưu điện.

 

Tổng cục Bưu điện đề xuất với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định những biện pháp khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài đầu tư vào lĩnh vực này.

 

Điều 88. Thiết bị, vật liệu bưu chính, viễn thông sản xuất trong nước hoặc nhập khẩu để sử dụng trong nước phải phù hợp với công nghệ, mạng lưới bưu chính, viễn thông Việt Nam và bảo đảm các chỉ tiêu, tiêu chuẩn kỹ thuật do Nhà nước ban hành hoặc cho phép áp dụng.

Tổng cục Bưu điện quy định danh mục thiết bị, vật liệu bưu chính, viễn thông sản xuất trong nước, nhập khẩu phải qua giám định chất lượng và tổ chức việc giám định các thiết bị, vật liệu đó trước khi được phép lưu thông trên thị trường Việt Nam hoặc lắp đặt trên các mạng lưới bưu chính, viễn thông.

 

CHƯƠNG VIII
XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG

 

Điều 89. Khi xây dựng các công trình bưu chính, viễn thông (bao gồm các công trình thuộc mạng lưới bưu chính, viễn thông công cộng và các mạng lưới viễn thông chuyên dùng), chủ công trình phải bảo đảm:

1. Đầu tư, xây dựng công trình đúng qui hoạch, kế hoạch phát triển mạng lưới đã được duyệt; đúng quy trình, quy phạm, định mức kinh tế kỹ thuật chuyên ngành bưu chính, viễn thông;

2. Đúng quy định của Nhà nước về xây dựng công trình kết cấu hạ tầng;

3. Chịu sự kiểm tra chuyên ngành bưu chính, viễn thông của Tổng cục Bưu điện;

Tổng cục Bưu điện được quyền đình chỉ hoặc đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền đình chỉ việc xây dựng, lắp đặt nếu phát hiện các vi phạm.

 

Điều 90.

1.Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính, viễn thông được ưu tiên:

a) Sử dụng không gian, mặt đất, lòng đất, đáy sông, đáy biển để xây dựng công trình bưu chính,viễn thông;

b) Xây dựng đường dây, cáp nổi hoặc chìm đặt trong nhà và ngoài đường, trên các tuyến giao thông; xây dựng hệ thống anten và các công trình liên quan khác ở những nơi cần thiết phù hợp với yêu câù kỹ thuật;

c) Xây dựng các trung tâm kỹ thuật, khai thác và điều hành bưu chính, viễn thông, các bưu cục, các buồng điện thoại công cộng, hòm thư bưu chính ở các địa điểm phù hợp với yêu cầu kỹ thuật, khai thác và thuận tiện cho người sử dụng tại các đô thị, khu dân cư, khu công nghiệp, khu chế xuất và ở tại những nơi cần thiết khác;

d) Đặt các cơ sở giao dịch và khai thác tại các nhà ga, bến xe, cảng hàng không, cảng biển và các đầu mối giao thông khác để phục vụ nhu cầu của người sử dụng và giao nhận túi, gói bưu phẩm, bưu kiện trong nước và với nước ngoài.

 

Việc thiết kế và xây dựng các cơ sở bưu chính, viễn thông tại các đầu mối giao thông nói trên do chủ công trình nơi đó phụ trách có sự tham gia của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính, viễn thông.

2. Việc xây dựng các công trình bưu chính, viễn thông nói trên được thực hiện theo pháp luật và phải được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

 

Điều 91. Các tổ chức, cá nhân khi xây dựng hoặc sửa chữa công trình của mình phải thực hiện các quy định kỹ thuật về bảo đảm an toàn công trình bưu chính, viễn thông; không được làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của các công trình bưu chính, viễn thông đã xây dựng; không được gây nhiễu đến các thiết bị và mạng lưới viễn thông.

 

Điều 92. Các công trình thuộc mạng lưới viễn thông công cộng chỉ đưa vào vận hành, khai thác khi đáp ứng đầy đủ các chỉ tiêu, tiêu chuẩn kỹ thuật về đấu nối, hoà mạng.

Các công trình thuộc mạng lưới viễn thông chuyên dùng chỉ được đưa vào vận hành, khai thác khi đáp ứng đầy đủ các chỉ tiêu, tiêu chuẩn kỹ thuật trong thiết kế đã được Tổng cục Bưu điện duyệt.

 

Điều 93. Tổ chức, cá nhân nước ngoài muốn lắp đặt các tuyến cáp viễn thông trong vùng đặc quyền kinh tế hoặc trong thềm lục địa của Việt Nam phải được Thủ tướng Chính phủ Việt Nam chấp thuận.

Tổng cục Bưu điện tiếp nhận yêu cầu, thẩm tra và trình Thủ tướng Chính phủ xem xét quyết định.

 

CHƯƠNG IX
DOANH NGHIỆP BƯU CHÍNH VÀ VIỄN THÔNG

 

Điều 94. Doanh nghiệp bưu chính và viễn thông là doanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo qui định của pháp luật trong các lĩnh vực sau đây:

1. Cung cấp các dịch vụ bưu chính, viễn thông;

2. Sản xuất thiết bị, vật liệu bưu chính, viễn thông;

3. Xuất khẩu, nhập khẩu, cung ứng thiết bị, vật liệu bưu chính, viễn thông;

4. Tư vấn, khảo sát, thiết kế và xây dựng công trình bưu chính, viễn thông.

Các doanh nghiệp khác muốn xin phép kinh doanh bổ sung một hoặc nhiều ngành nghề thuộc các lĩnh vực trên cũng phải tuân theo các quy định tại Nghị định này.

 

Điều 95. Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính, viễn thông là doanh nghiệp nhà nước hoặc công ty cổ phần mà Nhà nước chiếm cổ phần chi phối hoặc cổ phần đặc biệt, được Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập hoặc cho phép thành lập để cung cấp các dịch vụ bưu chính, viễn thông trong nước và quốc tế theo quy định tại Nghị định này.

Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính, viễn thông phải có hệ thống mạng lưới và thiết bị phù hợp với qui hoạch phát triển mạng lưới bưu chính, viễn thông công cộng, có đội ngũ cán bộ, công nhân kỹ thuật và khai thác phù hợp với trình độ công nghệ và quy mô hoạt động.

 

Điều 96. Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính, viễn thông có các quyền, nghĩa vụ theo quy định chung của pháp luật và các quyền, nghĩa vụ sau đây:

1. Được sử dụng bình đẳng hệ thống đường trục viễn thông quốc gia theo qui định của Tổng cục Bưu điện để cung cấp các dịch vụ bưu chính, viễn thông;

2. Được phân bổ, ấn định tần số phù hợp với qui hoạch tần số vô tuyến điện; được ấn định mã số mạng theo kế hoạch đánh số các mạng lưới viễn thông của Tổng cục Bưu điện;

3. Được hợp tác với nước ngoài theo những nội dung và hình thức do Thủ tướng Chính phủ quyết định để phát triển mạng lưới và dịch vụ;

4. Được huy động vốn theo quy định của pháp luật;

5. Được hưởng các chế độ trợ cấp, trợ giá và điều tiết của Nhà nước khi thực hiện nhiệm vụ sản xuất, cung ứng sản phẩm, cung cấp dịch vụ bưu chính, viễn thông phục vụ phòng chống thiên tai, vùng nông thôn, miền núi, biên giới, hải đảo và các hoạt động công ích khác hoặc cung cấp sản phẩm, dịch vụ bưu chính, viễn thông theo chính sách giá của nhà nước;

6. Có nghĩa vụ bảo đảm cho mạng lưới hoạt động liên tục, bảo đảm các chỉ tiêu chất lượng mạng lưới và dịch vụ;

7. Có nghĩa vụ ưu tiên phục vụ các nhu cầu thông tin liên lạc của các cơ quan Đảng và Nhà nước, an ninh, quốc phòng, phòng chống thiên tai và hoạt động công ích khác;

8. Có nghĩa vụ thực hiện khung giá, cước do Nhà nước quy định; hướng dẫn và tạo điều kiện thuận lợi cho người sử dụng dịch vụ;

9. Có nghĩa vụ thực hiện các quy định và chịu sự kiểm soát của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, bí mật và an toàn thông tin;

10. Chịu sự điều tiết của Nhà nước đối với các hoạt động kinh doanh dịch vụ bưu chính, viễn thông trong các vùng đô thị, vùng đông dân cư và đối với các dịch vụ bưu chính, viễn thông có lợi nhuận cao để đầu tư phát triển bưu chính, viễn thông ở các vùng nông thôn, miền núi, biên giới, hải đảo.

 

Điều 97. Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính, viễn thông Việt Nam muốn làm đại lý cho tổ chức nước ngoài để cung cấp dịch vụ bưu chính, viễn thông tại Việt Nam phải xin phép Tổng cục Bưu điện.

Tổng cục Bưu điện ban hành Quy chế đại lý cung cấp dịch vụ bưu chính, viễn thông.

 

Điều 98. Các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính, viễn thông chịu sự quản lý, cấp phép và quy định của Tổng cục Bưu điện về thiết lập mạng lưới và cung cấp dịch vụ bưu chính, viễn thông.

 

Điều 99.

1. Doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, cung ứng thiết bị, vật liệu, xây dựng công trình bưu chính, viễn thông và các doanh nghiệp khác xin bổ sung sản xuất kinh doanh các ngành nghề trên thì tuỳ theo loại hình doanh nghiệp, được thành lập hoặc bổ sung ngành nghề theo quy định của pháp luật, được hợp tác với nước ngoài theo quy định của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

2. Ngoài điều kiện chung theo qui định của pháp luật, doanh nghiệp sản xuất thiết bị, vật liệu bưu chính, viễn thông phải có thêm các điều kiện sau đây:

a) Có công nghệ tiên tiến, phù hợp với qui hoạch phát triển ngành bưu điện;

b) Sản phẩm phải đáp ứng đủ các tiêu chuẩn kỹ thuật do nhà nước qui định;

c) Sản xuất, lắp ráp thiết bị phát sóng thông tin vô tuyến điện phải được phép của Thủ tướng Chính phủ.

 

CHƯƠNG X.
THANH TRA VÀ XỬ LÝ VI PHẠM

 

Điều 100. Thanh tra chuyên ngành Bưu điện có nhiệm vụ và quyền hạn thanh tra tổ chức, cá nhân trong nước và tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam về việc chấp hành pháp luật bưu chính, viễn thông.

Chính phủ quy định tổ chức và hoạt động của thanh tra chuyên ngành Bưu điện.

 

Điều 101. Khi tiến hành thanh tra, đoàn thanh tra hoặc thanh tra viên có quyền:

1. Kiểm tra tại chỗ các phương tiện, thiết bị bưu chính, viễn thông, thiết bị thu phát sóng vô tuyến điện, các nguồn gây nhiễu có hại;

2. Kiểm tra các tài liệu, giấy phép, chứng chỉ liên quan đến hoạt động bưu chính, viễn thông; sử dụng thiết bị phát sóng và tần số vô tuyến điện;

3. Đình chỉ, tạm đình chỉ theo thẩm quyền hoặc kiến nghị với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đình chỉ các hoạt động vi phạm pháp luật về bưu chính, viễn thông;

4. Xử phạt hành chính theo thẩm quyền hoặc kiến nghị với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý các vi phạm;

5. Kiến nghị biện pháp xử lý, khắc phục hậu quả do vi phạm pháp luật gây ra.

 

Điều 102. Tổ chức, cá nhân phải tạo điều kiện cho đoàn thanh tra hoặc thanh tra viên thi hành nhiệm vụ; phải chấp hành các quyết định của đoàn thanh tra hoặc thanh tra viên.

 

Điều 103. Thanh tra chuyên ngành Bưu điện phải tuân thủ pháp luật và chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động của mình.

 

Điều 104.

1. Tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền những hành vi vi phạm pháp luật bưu chính, viễn thông và tần số vô tuyến điện.

Cơ quan nhận được khiếu nại, tố cáo có trách nhiệm xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.

2. Tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại với Thủ trưởng cơ quan ra quyết định thanh tra về kết lụân và biện pháp xử lý của đoàn thanh tra hoặc thanh tra viên; tố cáo những hành vi vi phạm pháp luật của đoàn thanh tra hoặc thanh tra viên trong quá trình thanh tra.

 

Điều 105. Tổ chức, cá nhân vi phạm Nghị định này thì bị xử lý theo quy định của pháp luật.

 

CHƯƠNG XI
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

 

Điều 106. Nghị định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày ký để thay thế Điều lệ Bưu chính và Viễn thông đã ban hành kèm theo Nghị định số 121/HĐBT ngày 15 tháng 8 năm 1987 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ).

Những quy định trước đây trái với Nghị định này đều bãi bỏ.

Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện chịu trách nhiệm hướng dẫn và kiểm tra việc thi hành Nghị định này.

 

Điều 107. Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện, các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.

Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem VB liên quan.
Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!
Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Hiệu lực.
Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!

THE GOVERNMENT
---------
SOCIALIST REPUBLIC OF VIET NAM
Independence - Freedom – Happiness
--------------
No. 109/1997/ND-CP
Hanoi, November 12, 1997

 
DECREE
ON POST AND TELECOMMUNICATIONS
THE GOVERNMENT
Pursuant to the Law on Organization of the Government of September 30, 1992;
At the proposal of the General Director of the General Department of Post and Telecommunications
DECREES:
Chapter I
GENERAL PROVISIONS
Article 1.-
1. Post and telecommunications is an economic-technical branch of the infrastructure of the national economy and, at the same time, a communication tool of the State of the Socialist Republic of Vietnam.
2. The public post and telecommunications network is the national information and communication means which must be protected and must not be infringed upon by anybody.
Protection of post and telecommunications network is the responsibility of all State agencies, economic organizations, social organizations and people�s armed forces units and all citizens. The People�s Committees of all levels shall have to protect the information and communication systems in their respective localities.
Article 2.- This Decree shall regulate post and telecommunications relations with a view to raising the State management efficiency, quickly developing and efficiently exploiting the post and telecommunications networks and services to meet the demand for information and communication of the entire society.
All post and telecommunications activities and activities related to post and telecommunications conducted by Vietnamese and foreign organizations and/or individuals in Vietnam shall have to comply with this Decree.
In cases where international treaties on post and telecommunications which the Socialist Republic of Vietnam has signed or acceded to provide for otherwise such international treaties shall apply.
The establishment and operation of the specialized post and telecommunications networks of the Ministry of Defense, the Ministry of the Interior and the link between such networks and the public post and telecommunications network shall be stipulated by the Prime Minister.
Article 3.-
1. Post and telecommunications confidentiality and safety shall be ensured in accordance with the Constitution and laws of the Socialist Republic of Vietnam.
The following acts are strictly forbidden:
a/ Destroying or obstructing the operation of the public post and telecommunications network as well as of the specialized post and telecommunications networks;
b/ Providing and using post and telecommunications services to oppose the State of the Socialist Republic of Vietnam; disturb social order and security; break ethical values and fine traditions and customs; undertake smuggling and illegal activities;
c/ Appropriating, canceling, opening, changing or disclosing the contents of others� mails, parcels or telegrams;
d/ Surreptitiously intercepting and/or monitoring telecommunications signals;
e/ Disclosing names and addresses of organizations and/or individuals using post and telecommunications services, unless post and telecommunications subscribers agree to have their names and addresses printed on telecommunications directories.
2. Control of the operation of post and telecommunications networks and services, the inspection, control and confiscation of mails, parcels or telegrams of organizations and/or individuals must be done by the competent State agencies in accordance with the provisions of law.
3. The General Department of Post and Telecommunications shall coordinate with the Ministry of the Interior and the relevant agencies in guiding the application of measures to ensure national security, social order and safety in communication as well as the confidentiality and safety of the post and telecommunication networks and services.
Article 4.- Vietnamese and foreign organizations and/or individuals shall be entitled to use post and telecommunications services.
All organizations and individuals shall have to abide by law when using post and telecommunications services.
No one is allowed to hinder the legitimate right to use post and telecommunications services.
Enterprises providing post and telecommunications services shall be entitled to refuse the provision of services if the service users violate the legislation on post and telecommunications.
Article 5.- The Government shall exercise uniform State management over post and telecommunications.
The General Department of Post and Telecommunications is an agency attached to the Government which shall perform the function of State management over post and telecommunications throughout the country.
The ministries, the ministerial-level agencies, the agencies attached to the Government and the People�s Committees of all levels shall, within their functions, tasks and powers, coordinate with the General Department of Post and Telecommunications in performing the function of State management over post and telecommunications.
Article 6.- The Government shall uniformly manage post and telecommunications prices, charges and fees.
The General Director of the General Department of Post and Telecommunications shall announce post and telecommunications prices, charges and fees in accordance with Government stipulations.
Article 7.- The General Director of the General Department of Post and Telecommunications shall decide and announce the closing or opening of domestic and international post and telecommunications services, including the closing or opening of experimental services and the provision of computerized information via the public telecommunications network; decide and announce the closing or opening of external post offices and customs control post stations, the public and specialized coastal stations.
Chapter II
THE POST
Section I. THE PUBLIC POST NETWORK
Article 8.- The public post network is composed of technical centers and centers for post exploitation, transportation and management, mailing routes, system of post offices, service places and agents installed throughout the country.
The public post network shall be organized and developed according to the overall plan and plans as well as the technical norms, criteria and standards, and regulations on uniform exploitation issued by the competent State management agencies so as to provide post services for the entire society.
Article 9.-
1. The public post network shall have to operate uninterruptedly, including holidays and sundays.
The concerned branches shall have to coordinate with one another and create necessary conditions for the smooth and continuous operation of the public post network.
2. The General Department of Post and Telecommunications shall stipulate the opening time of post offices. The post offices shall have to post their opening time in service of the users.
Section II. POST SERVICES
I. TYPES OF SERVICES
Article 10.- Post services are services of sending, forwarding and delivering letters, press, publications, money, objects, goods and other material products through the public post network provided by post service providing enterprises.
Article 11.- Post services include:
1. Mail services;
2. Delivery of parcels of up to 31.5 kg;
3. Delivery of parcels of more than 31.5 kg (heavy parcels);
4. Press and periodicals distribution services;
5. Post financial services.
Post services shall be provided and used in accordance with the relevant regulations.
The General Department of Post and Telecommunications shall issue regulations on post services.
II. MAIL, PARCEL AND PRESS DISTRIBUTION SERVICES
Article 12.- Mails and parcels shall come under the senders� right to disposal before delivery to the receivers or the authorized receivers, except when they are confiscated or destroyed in accordance with the provisions of law.
The sender is answerable before law for the contents of the information, objects, goods and publications in the postal mails and parcels.
Article 13.-
1. Mails include: letters, postcards, publications, teaching materials used for the blind and small packages.
Mails shall be sent, forwarded and delivered in accordance with the regulations on mails.
2. A letter is a written statement, a copy or print containing private information between the sender and the receiver.
A letter shall be put in an envelope, sealed and kept confidential in accordance with the provisions of the Constitution.
The sender and the receiver may be an organization or individual.
3. A parcel is a package of goods or objects.
Parcels shall be taken delivery, forwarded and delivered in accordance with the regulations on parcels.
Article 14.- It is strictly forbidden to put in mails or parcels the following:
a/ In the country: publications, objects and goods the circulation or possession of which is banned by the State; explosive, inflammable, dangerous or unhygienic objects or substances that may pollute the environment;
b/ To foreign countries and from overseas into Vietnam: publications, objects and goods that are banned from import or export by the State of the Socialist Republic of Vietnam or banned from import by the receiving country; smuggled goods; explosive, inflammable, dangerous or unhygienic objects or substances that may pollute the environment;
2. Precious metals, stones or products made therefrom may be sent in mails or parcels only with declared prices.
Money and cheques of monetary value are allowed to be sent only through the money transfer service.
3. Goods subject to taxes must be attached with tax payment vouchers as prescribed by law.
Article 15.- Mails (except letters and post cards) and parcels sent from Vietnam to foreign countries or from foreign countries into Vietnam must be checked by the competent State agencies in accordance with the provisions of law.
The relevant State agencies shall have to organize and facilitate the filling of procedures for the import and export of mails and parcels.
Article 16.-
1. Organizations and/or individuals providing automobile, air, train or maritime transport services shall have to give priority to the transportation of mails, parcels and press on all transportation lines under the contracts signed with the post service providing enterprises.
2. Owners and operators of transport means shall have to ensure safety for mails, parcels and press during the transportation.
In cases where a transport means carrying mails, parcels and press meets with accident or breaks down during transportation, the owner and operator of such transport means shall have to organize the protection and prompt release of postal bags, mails, parcels and press. The local authority shall have to create conditions for the protection of such bags, mails, parcels and press.
3. On public transport means, all bags, mails, parcels and press shall be placed in separate wagons or compartments. If such separate or wagons or compartments are not available, the owner of transport means shall have to put such bags, mails, parcels and press in a safe place separate from passengers and cargos.
4. Owners of passenger or cargo transport means departing from Vietnam or transiting through Vietnam to other countries that have postal relations with the Socialist Republic of Vietnam shall have to transport Vietnamese mails, parcels and press under the direction of the transport management agency.
5. Post service providing enterprises are allowed to organize their specialized transport forces.
The specialized transport means must be painted and printed with the same post logo.
6. The specialized and public transport means carrying mails, parcels and press by road shall be given priority in:
a/ Crossing ferries, bridges or roads where traffic is jammed;
b/ Subject to the first check if all transport means on road are checked by the competent agency;
c/ Going to, arriving or parking at post offices and places for receiving and delivering postal bags, mails, parcels and press in urban areas.
Article 17.- The opening of bags, mails and parcels being transported for inspection is strictly forbidden, except for cases of national security emergency which shall be determined by the Minister of the Interior and the General Director of the General Department of Post and Telecommunications.
Article 18.- The transportation of diplomatic bags shall be made in accordance with international treaties which the Socialist Republic of Vietnam has signed or acceded to.
Article 19.- Organizations and individuals outside the post service providing enterprises shall not be allowed to engage in services of bringing letters from Vietnam to foreign countries or from overseas into Vietnam.
Article 20.- In emergency cases related to national security and natural calamities, the presidents of the People�s Committees of the provinces and cities directly under the Central Government shall be entitled to mobilize transport means to carry official dispatches, orders and other urgent documents.
Article 21.- Mails, parcels and press shall be delivered at:
1. The receivers� addresses;
2. The post offices;
3. The subscribed post boxes.
The General Department of Post and Telecommunications shall decide on the delivery of mails, parcels and press in other cases.
Article 22.- Mails and parcels which cannot be delivered to their receivers or to the authorized receivers or which cannot be returned to the senders or the authorized senders shall, after 12 months from the date of sending, be considered unclaimed.
Article 23.- The General Director of the General Department of Post and Telecommunications and the Minister of Finance shall stipulate the procedures to deal with unclaimed mails and parcels on the following principles:
1. Publications, papers or objects necessary for study or archive shall be handed over to the relevant agency(ies) or organization(s). Other papers and publications shall be kept at the place of settlement for 6 months before they are destroyed.
2. Goods shall be priced and put on sale. The money gained from the sale of goods shall be put into the temporary deposit bank account. Within 6 months from the date of depositing money, the eligible person with full evidences shall be entitled to receive back the money gained from the sale of goods after the reasonable costs have been deducted. Upon the expiry of this time-limit, the money gained from the sale of goods shall be remitted to the State budget.
The completely damaged objects and goods shall be destroyed;
3. The handling of forsaken mails and parcels shall be conducted by a council and put on record.
III. POST FINANCIAL SERVICES
Article 24.- Post financial services include:
1. Money transfer;
2. Post cheques;
3. Payment through the post;
4. Money collection and payment;
5. Other monetary services.
Article 25.- Post service providing enterprises shall be entitled to provide post financial services under conditions prescribed by law and shall have to obtain operation permits from the specialized State management agency.
Article 26.- Money sent or paid through post financial services shall come under the sender�s right of disposal till it has been received or paid, except when such money is confiscated in accordance with the provisions of law.
Article 27.- Money sent or paid through post financial services, which cannot be delivered or paid to the receiver or the authorized receiver and cannot be returned to its sender or beneficiary, either, shall, after 12 months from the date of sending, be considered forsaken.
Article 28.- All unclaimed money shall be put into the temporary deposit bank account. Within 6 months from the date of its depositing, the eligible person with full evidences shall be entitled to take back such money.
Past this time-limit, the forsaken money shall be remitted to the State budget.
Section III. POSTAGE STAMPS
Article 29.- A postage stamp is a special print used for the payment of post charges and also for the purpose of philately.
The General Department of Post and Telecommunications is the only agency entitled to issue Vietnamese postage stamps.
Article 30.-
The issue of postage stamps shall have to comply with the following provisions:
1. A five-year plan and annual programs on topics of postage stamps.
The General Director of the General Department of Post and Telecommunications shall decide programs on topics of postage stamp.
The issue of postage stamps to mark big anniversaries and major national and international events must be approved by the competent State agency;
2. Approving stamp designs: the stamp designs must be evaluated by a consulting council set up by the General Department of Post and Telecommunications.
The General Director of the General Department of Post and Telecommunications shall base him/herself on the council�s opinions to approve the stamp designs;
3. Printing stamps: The General Director of the General Department of Post and Telecommunications shall decide the printing of stamps, including the quantity and place for printing.
Stamps may be printed inside or outside the country but must ensure both safety and economic efficiency;
4. Issuing stamps: Postage stamps shall be of use value only when their issuance has been announced by the General Department of Post and Telecommunications.
Postage stamps issued on special occasions shall be marked with celebration seals and have an envelope marking the first day of their issue.
Article 31.- The selling price of a postage stamp for the payment of the post charge is the price printed on the stamp.
If it is necessary to collect surcharges in support of social welfare funds for humanitarian reasons, the permission from the Prime Minister is required and the type(s) of postage stamps with surcharge(s) printed thereon shall be issued.
Article 32.- The General Director of the General Department of Post and Telecommunications shall stipulate the philatelic stamp business in the country and with foreign countries, stipulate the export of Vietnamese postage stamps and the import of foreign postage stamps.
Article 33.- Postage stamps shall be protected and kept in accordance with the provisions of law.
Chapter III
TELECOMMUNICATIONS
Section I. THE PUBLIC TELECOMMUNICATIONS NETWORK
Article 34.- The public telecommunications network includes the national telecommunications trunk system (the inter-provincial and international transmission and switchboard systems), intra-provincial and intra-district systems, system of service locations and data terminal equipment systems.
The public telecommunications network shall be organized and developed according to the overall plan and plans and be managed and exploited according to the technical norms, criteria, regulations and exploitation procedures issued in a unified manner by the competent State agencies or allowed to be applied for the provision of telecommunications services for the entire society.
The State shall effect unified organization and management of the national telecommunications trunk system.
Article 35.- The public telecommunications network must operate uninterruptedly day and night, in all circumstances.
Article 36.- Operation of the public telecommunications network must not harm the environment and economic and social activities. Economic and social activities must not affect the operation of the public telecommunications network, especially must not cause harmful interferences or damage wires, cables, antenna and telecommunications equipment systems.
All violations must be handled in accordance with the provisions of law.
Section II. TELECOMMUNICATIONS SERVICES
Article 37.- Telecommunications services are services of transmitting, archiving and providing information in the forms of transmitting, broadcasting and/or receiving symbols, signals, data, letters, sounds and images through the public telecommunications network supplied by the telecommunications service providing enterprises.
Article 38.- Telecommunications services include:
1. Telephone services
2. Telegraph services;
3. Telex services;
4. Facsimile services;
5. Data transmission services;
6. Telecommunications channel leasing services;
7. Television and photo transmission services;
8. Electronic press transmission services;
9. Multi media services
10. Mobile phone services;
11. Paging services;
12 Internet services;
13. Information archiving and providing services.
Telecommunications services shall be provided and used in accordance with the regulations on telecommunications services.
The General Department of Post and Telecommunications shall issue regulations on telecommunications services.
Article 39.- Organizations and/or individuals shall have the right to subscribe for telecommunications services at their own addresses or use telecommunications services at post offices and service locations in accordance with the regulations on telecommunications services.
Telecommunications service users shall be served all day and night, including holidays and sundays. If the telecommunications service providing enterprise cannot meet the users� demands, it must notify the users of the reason therefor.
Telecommunications service users are answerable before law for the contents of information when using telecommunications services.
Telecommunications subscribers are not allowed to use the subscribed equipment for telecommuni-cations service business.
Article 40.- The designing and installation of the subscribed telecommunications equipment or network may be carried out by the subscribers themselves or by other organizations and/or individuals but must abide by the technical norms and regulations of the State.
The hook-up of the subscribers� addresses to the public telecommunications network shall be conducted by the telecommunications service providing enterprises.
Article 41.-
1. The General Director of the General Department of Post and Telecommunications shall decide the closing and opening of inter-provincial and international telecommunications lines inside the country belonging to the national telecommunications trunk system; and stipulate the renting and leasing of telecommunications channels belonging to such system.
2. Telecommunications service providing enterprises are entitled to use channels of the national telecommunications trunk system for the provision of telecommunications services in accordance with the regulations of the General Department of Post and Telecommunications.
3. Organizations and/or individuals having specialized telecommunications networks are entitled to rent channels for internal communication.
Article 42.- The management, establishment, provision and use of Internet and Internet services in Vietnam shall comply with the provisional regulations on the management, establishment and use of Internet in Vietnam, issued together with Decree No.21-CP of March 5, 1997 of the Government and Decision No.136-TTg of March 5, 1997 of the Prime Minister on the establishment of the National Committee for Internet Coordination in Vietnam.
Article 43.- Telecommunications services shall be graded at different levels of priority according to the time norms so that all organizations and individuals can use such services.
The General Director of the General Department of Post and Telecommunications shall determine the priority levels.
Article 44.- Priority shall be given to the immediate transmission of the following types of information:
1. Prevention and combat against storms and floods, fires and other natural calamities;
2. First aid, prevention and fight against human epidemics;
3. Urgent information on defense and security;
4. Information on rescue and salvage of airplanes or ships which are in danger or distress.
5. Other urgent information related to public utility.
In the above-said emergency cases, the General Director of the General Department of Post and Telecommunications shall decide to mobilize part or all of the telecommunications networks, including the public and specialized networks, to meet such urgent demands.
Article 45.- The following subjects shall be given priority in using telecommunications services:
1. The Party and State leaders, the ministers and the presidents of the People�s Committees of the provincial and equivalent level.
2. Heads of the State, heads of foreign government delegations on visit in Vietnam, and heads of diplomatic missions or representative offices of international and non-governmental organizations in Vietnam.
Article 46.- Telegrams, telex, fax or other documents transmitted through telecommunications services are called collectively electronic messages.
Party and State agencies of different levels, people�s armed forces units, foreign diplomatic missions, representative offices of international organizations eligible for diplomatic immunity shall be allowed to use coded languages in electronic messages.
Other subjects who wish to use coded languages in electronic messages shall have to register with and get permission from the competent State management agency.
Article 47.- Electronic messages shall be delivered:
1. At the receivers� addresses;
2. At post offices;
3. Through telecommunication subscription.
The General Department of Post and Telecommunications shall provide for the delivery of electronic messages in other cases.
Article 48.- A sender shall be notified of his/her electronic message which cannot be delivered and such message shall be kept for 6 months from the date of its sending. Beyond this time-limit, the message shall be annulled.
Section III. THE SPECIALIZED TELECOMMUNICATIONS NETWORK
Article 49.- A specialized telecommunications network is established by an agency, an organization or an enterprise for using as voice or non-voice communication means within such agency, organization or enterprise.
The establishment of the specialized telecommunications networks within Vietnamese territory shall comply with the provisions of this Decree.
The Ministry for Foreign Affairs is allowed to establish a specialized telecommunications network for communication with overseas diplomatic missions of the Socialist Republic of Vietnam.
The General Director of the General Department of the Socialist Republic of Vietnam shall stipulate the establishment and operation of the wireless communications stations of foreign agencies and organizations in Vietnam.
Article 50.- Agencies, organizations and/or enterprises wishing to set up their own specialized telecommunications networks shall have to meet the following conditions:
1. Having obvious use purposes;
2. Having the network�s structure and design, mode and scope of operation as well as technical norms and criteria of the network and equipment thereof.
The General Department of Post and Telecommunications shall stipulate the receipt of applications, examine dossiers and issue permits for the establishment of networks.
A specialized telecommunications network shall be allowed to operate only after the permit therefor is obtained from the General Department of Post and Telecommunications.
Article 51.- Agencies, organizations and/or enterprises allowed to establish specialized telecommunications networks shall have to meet the following requirements:
1. To operate in accordance with the provisions of law and their permits;
2. Not to use the specialized telecommunications network for public telecommunications service business;
3. Not to cause harmful interferences or affect the operation of the public telecommunications network and other specialized networks;
4. Not allowed to connect its specialized network directly to other specialized telecommunications networks.
Article 52.- The connection of a specialized telecommunications network to the public telecommunications network shall have to meet the following conditions:
1. The specialized network has the technical standards and equipment suited to the public telecommunications network;
2. Complying with the provisions on hookup, network integration and exploitation.
Article 53.- The specialized telecommunications networks shall operate in accordance with the provisions of this Decree and other provisions of law; and subject to the inspection and control by the General Department of Post and Telecommunications and the competent State agencies.
Chapter IV
RADIO BAND AND TRANSMITTERS
Section I. MANAGEMENT OF RADIO FREQUENCIES AND TRANSMITTERS
Article 54.- Radio bands and VSAT (Very Small Aperture Terminal) orbit under Vietnamese sovereignty are national resources, which must be exploited and used lawfully and efficiently.
Transmitting equipment of frequency bands from 9KHz to 400 GHz shall have to use frequencies in compliance with the professional operations assigned or determined to them in accordance with the national frequency planning.
The national frequency planning shall be made by the General Department of Post and Telecommunic-ations and submitted to the Prime Minister for ratification.
Article 55.- Domestic and foreign organizations and/or individuals in Vietnam (except the Ministry of Defense and the Ministry of the Interior) that wish to install, use and reserve radio transmitters on Vietnamese territory (including on transport means) and use radio frequencies for fixed or mobile operations, radio and television broadcasting, aviation, navigation, positioning, satellites, standardized broadcasting and other professional operations shall have to obtain permission from the General Department of Post and Telecommunications and shall be allowed to install, use and reserve them only after getting permits.
Any change in frequencies, bands, transmission capacity or movement of the above-said radio transmitters must be permitted by the General Department of Post and Telecommunications.
Conditions for being granted permits for installation, use and reservation of radio transmitters:
1. Having obvious use purposes;
2. The equipment meets the technical norms and criteria prescribed by the State;
3. The equipment operator has a professional certificate granted by the competent State agency.
Article 56.- It is strictly forbidden to:
1. Install, use and/or reserve radio transmitters and use radio frequencies without permit;
2. Illegally export or import radio transmitters;
3. Cause harmful interferences;
4. Use the emergency, international and national safety frequencies for wrong purposes.
Article 57.- Domestic and foreign organizations and/or individuals wishing to import and/or export radio transmitters shall have to obtain consent from the General Department of Post and Telecommunications.
Article 58.- Domestic and foreign organizations and/or individuals in Vietnam that have been granted permits for using radio transmitters and radio frequencies, upon expiry of their permits or the suspension of operation, shall have to report in writing to the General Department of Post and Telecommunications. If they wish to continue the use of radio transmitters and frequencies, they must apply for extension of their permits as prescribed by the General Department of Post and Telecommunications.
Article 59.- Communications equipment placed on foreign vessels or airplanes shall have to stop their operation when the vessel moves into the inland waters or the airplane has landed on an airport of Vietnam. All telecommunications contacts with any places shall have to comply with Vietnamese law.
Vietnamese and foreign vessels and airplanes moving in or out or staying at Vietnam�s seaports and airports shall have to comply with Vietnamese law and submit to inspection by the competent management agency of the Vietnamese State of their permits and certificates related to the use of radio transmitters.
Vessels and airplanes transiting through Vietnamese territory shall be subject to supervision by the General Department of Post and Telecommunications regarding their use of radio frequencies.
Article 60.- Organizations and/or individuals that are allowed to use radio transmitters and radio frequencies shall have to apply the following measures to combat harmful interferences:
1. Maintaining their transmission frequencies within the permitted frequency variation;
2. Reducing vibrating radiation and parasitic radiation to the lowest level;
3. Using the transmission mode with the narrowest frequency band;
4. Restricting the transmission in unnecessary directions;
5. Using the lowest level of capacity just enough to ensure information quality.
Section II. INTERNATIONAL REGISTRATION OF RADIO FREQUENCIES AND SATELLITE ORBIT
Article 61.- The General Department of Post and Telecommunications shall have to make international registration of radio frequencies for radio professional information services throughout the country and registration of VSAT orbit.
Article 62.- The General Department of Post and Telecommunications shall manage the use of VSAT orbit under the sovereignty of Vietnam as well as the renting and leasing of satellite channels.
Article 63.- Domestic and foreign organizations and/or individuals in Vietnam wishing to set up ground stations or use the information equipment system via satellite shall have to apply for permission from the General Department of Post and Telecommunications.
Section III. MANAGEMENT OF NON-PROFESSIONAL RADIO FREQUENCIES
Article 64.- Vietnamese and foreign organizations and/or individuals wishing to install and use non-professional radio equipment within Vietnamese territory shall have to apply for permission from the General Department of Post and Telecommunications.
Users of non-professional radio equipment must obtain lawful amateur radio certificates and shall have to abide by the provisions of this Decree as well as the regulations on amateur radio.
The General Department of Post and Telecommunications shall issue regulations on amateur radio.
Section IV. CONTROLLING AND DEALING WITH HARMFUL INTERFERENCES
Article 65.- The General Department of Post and Telecommunications shall have to:
1. Organize and manage the system of inspection and control of the use of radio transmitters and radio frequencies throughout the country;
2. Stipulate measures to combat interferences harmful to telecommunications networks, radio and television signal transmitting and broadcasting establishments and other radio receiving and/or broadcasting establishments in accordance with Vietnamese law and the international treaties on radio information which the Socialist Republic of Vietnam has signed or acceded to.
Article 66.- Users of radio transmitters, equipment that may cause electric sparks, electric, civil electronic and arc equipment in the fields of industry, construction, communications and transport, health care, scientific research and other fields shall have to take measures to restrict interferences as provided for by the General Department of Post and Telecommunications.
Article 67.- Organizations and/or individuals that complain about harmful interferences shall have to send a relevant report to the General Department of Post and Telecommunications, which must state clearly the time and place the interferences occur as well as the interference phenomenon at the affected station. The General Department of Post and Telecommunications shall deal with harmful interferences in accordance with Vietnamese law and the international treaties on radio information which Vietnam has signed or acceded to.
Section V. RADIO FREQUENCY COMMITTEE
Article 68.- The Radio Frequency Committee is a multi-disciplinary organization which shall assist the Prime Minister in:
1. Examining strategic projects and radio frequency planning before submitting them to the Prime Minister;
2. Proposing measures to combat harmful interferences and solutions to ensure safety for radio frequency bands between the specialized telecommunications networks of the Ministry of Defense and the Ministry of the Interior and the public telecommunications network and other telecommunications networks, radio and television signal transmitting and broadcasting establishments;
3. Monitoring, assuring and supervising the coordination between the Ministry of Defense, the Ministry of the Interior and the General Department of Post and Telecommunications in controlling the use of radio frequencies, handling harmful interferences and ensuring national security and communication safety.
Article 69.- The Radio Frequency Committee shall be headed by the General Director of the General Department of Post and Telecommunications as its Chairman; a Vice Minister of Defense and a Vice Minister of the Interior shall be the Vice Chairmen; the other members of the Committee shall be representatives of a number of ministries and branches decided by the Prime Minister.
The functions, tasks, powers, organizational structure and operation of the Radio Frequency Committee shall be determined by the Prime Minister.
Chapter V
POST AND TELECOMMUNICATIONS PRICES, CHARGES AND FEES
Article 70.- Post and telecommunications prices, charges and fees include domestic and international post and telecommunications prices, charges and fees.
All agencies, organizations and individuals using post and telecommunications services shall have to pay charges and fees in accordance with the current regulations.
Charges and fees related to post and telecommunications and radio frequencies shall be announced and effected in accordance with the provisions of law.
Article 71.-
1. The Government shall specify the price frame and standard charges for a number of post and telecommunications products and services of high social and public utility character.
2. The General Department of Post and Telecommunications shall determine the price frame and standard charges for post and telecommunications products and services of high social and public utility character beyond the list announced by the Government.
3. Post and telecommunications enterprises shall, basing themselves on the price and charge frame provided for by the State, decide prices and charges for their products and services as well as for products and services the prices or charges of which have not been specified by the State.
4. Post and telecommunications prices and charges must be posted at transaction offices.
Article 72.- An enterprise providing post and telecommunications services shall have to repay the collected charges in one of the following cases where:
1. The charges have been wrongly compared to current regulations;
2. Any loss, damage or mistake caused to the postal mails, parcels and money due to the fault of the service providing enterprise;
3. The enterprise fails to ensure the quality of its services in accordance with the signed contract;
4. The enterprise fails to ensure time norms for high-quality services for which time norms have been determined.
The service providing enterprise shall also have to pay compensation as provided for in this Decree.
Article 73.- The Ministry of Finance and the General Department of Post and Telecommunications shall define the types of post, telecommunications and radio frequency charges and fees, their levels and organize their collection.
Article 74.- The General Department of Post and Telecommunications shall determine prices or price bracket for payment between enterprises involved in the provision of post and telecommunications services.
Payment shall be made through contracts or other written agreements between the enterprises.
Chapter VI
COMPLAINTS AND COMPENSATION FOR DAMAGE RELATED TO POST AND TELECOMMUNICATIONS SERVICES
Section I. COMPLAINTS
Article 75.- Users of post and telecommunications services shall have the right to complain about errors of an enterprise in the provision of post and telecommunications services.
A complainant shall have to supply all papers and evidences related to his/her complaint and shall take responsibility for the contents of his/her complaint.
Article 76.- The statute of limitations for making a complaint is determined as follows:
1. For domestic post services: not exceeding 12 months from the date of using the service;
2. For domestic telecommunications services: not exceeding 3 months from the date of using services;
3. For charges and fees: not exceeding 01 month from the date of paying charges and fees.
4. For international post and telecommunications services: the provisions of international treaties on post and telecommunications which the Socialist Republic of Vietnam has signed or acceded to shall apply.
Except for special cases defined by the General Director of the General Department of Post and Telecommunications, all complaints shall not be settled after expiry of the prescribed statute of limitations.
Article 77.-
1. The complaint-receiving unit shall have to notify in writing the complainant of the receipt of his/her complaint within 48 hours after receiving it.
2. All complaints from users of post and telecommunications services must be examined, concluded and settled within 2 months from the date of their receipt for domestic post and telecommunications services, and 3 months for international post and telecommunications services.
3. All complaints must be settled in accordance with the provisions of law and this Decree. Enterprises providing post and telecommunications services shall have to notify the settlement result to the complainant.
Article 78.- Enterprises providing post and telecommunications services shall have the right to complain about violations by post and telecommunications services users or other violations that affect the operations of the enterprises or cause losses to them.
The complaint and settlement of complaints shall have to comply with the provisions of law.
Section II. COMPENSATION FOR DAMAGE
Article 79.- Enterprises providing post and telecommunications services that fail to perform or do not fully perform their obligations in the provision of post and telecommunications services shall have to pay compensation for damage as prescribed in this Decree.
Article 80.- The compensation for damage is stipulated as follows:
1. For numbered and express mails: compensation shall be made according to the types of mail and their levels of volume;
2. For parcels of 31.5 kg or less: compensation shall be made according to the levels of volume.
3. For mails and parcels with declared prices: compensation shall be made according to prices declared by the sender when sending the mails or parcels.
4. For parcels of more than 31.5 kg (heavy parcels): compensation shall be made in accordance with the provisions of law on the transportation of goods;
5. For money transferred through post financial services: the money shall be refunded and the interests thereon shall be paid in accordance with the provisions of Item 2, Article 313 of the Civil Code;
6. For international mails, parcels and money orders: compensation shall be made in accordance with international treaties on post.
Additionally, the involved enterprises shall have to repay the collected charges and/or fees and make compensation for the tax amount already paid in Vietnam (if any).
Article 81.- Compensation for damage caused to postal mails and parcels shall be made by the involved post and telecommunication service providing enterprises in Vietnam Dong.
Article 82.- The compensation amount shall be paid to the sender or the receiver, if the sender so requests.
As for mails or parcels partially damaged or lost, if the receiver agrees to take it, the remaining parts of such mails or parcels shall still be delivered and compensation for the damaged or lost parts shall be paid to him/her.
After having paid compensation, if the enterprise providing post and telecommunications services finds out that the mail, parcel or money has been duly delivered or the damage, delay or wrong delivery thereof is due to the sender�s fault, the receiver who has been compensated shall have to refund the compensation amount.
Article 83.- The enterprises providing post and telecommunications services shall not have to pay compensation for damage in the following cases:
1. Force majeure;
2. Due to the sender�s fault;
3. The object being sent has been ruined due to its natural properties;
4. The mail, parcel or money has been confiscated by the competent State agency in accordance with the provisions of law;
5. Non-registered parcels.
Article 84.- The General Director of the General Department of Post and Telecommunications shall specify the compensation for damage and compensation levels.
Article 85.- If the enterprises providing post and telecommunications services fail to ensure their services� quality and time norms already promulgated or agreed upon in the contracts, they shall have to refund part or all of the collected charges and fees.
Chapter VII
PRODUCTION, ASSEMBLY AND IMPORT OF POST AND TELECOMMUNICATIONS EQUIPMENT AND MATERIALS
Article 86.- Post and telecommunications equipment and materials include assorted equipment and materials used exclusively for the public post and telecommunications network and specialized post and telecommunications networks.
The General Department of Post and Telecommunications shall announce the list of post and telecommunications equipment and materials, including spare parts and complete equipment.
Article 87.- The production and/or assembly of post and telecommunications equipment and materials in Vietnam for use as import substitutes shall be carried out according to law as well as to the overall plan and plans for the development of post and telecommunications branch.
The General Department of Post and Telecommunications shall propose to the competent State agencies to work out measures to encourage domestic and foreign organizations and individuals to invest in this field.
Article 88.- Post and telecommunications equipment and materials made in the country or imported for domestic consumption shall have to conform to the Vietnamese post and telecommunications technologies and network and ensure technical norms and criteria issued or allowed to be applied by the State.
The General Department of Post and Telecommunications shall determine the list of home-made and imported post and telecommunications equipment and materials which must go through quality evaluation and shall organize the expertise of such equipment and materials before they are allowed to be circulated on the Vietnamese market or installed in post and telecommunications networks.
Chapter VIII
CONSTRUCTION OF POST AND TELECOMMUNICATIONS PROJECTS
Article 89.- When building post and telecommunications works (including projects in the public and specialized post and telecommunications networks), the project owners shall have to:
1. Invest in and build the project(s) in strict compliance with the ratified overall plan and plans for the development of the network; and with the economic and technical procedures, regulations and norms set specifically for the post and telecommunications service;
2. Observe State regulations on the construction of infrastructure projects;
3. Submit to the specialized post and telecommunications inspection by the General Department of Post and Telecommunications;
The General Department of Post and Telecommunications is entitled to suspend or propose the competent State agency to suspend the construction or installation if it detects any violations.
Article 90.-
1. Enterprises providing post and telecommunications services shall be given priority in:
a/ Using the air space, land area, underground space, river bed and sea bed for the construction of post and telecommunications works;
b/ Building ground or underground wire cables inside buildings, on streets, along traffic lines; building the system of antennae and other related works in necessary places in conformity with technical requirements;
c/ Building technical centers for post and telecommunications exploitation and control, post offices, public telephone booths and post boxes in locations suited to technical and exploitation requirements and convenient for users in urban areas, population areas, industrial parks and export processing zones and other necessary places;
d/ Setting up transaction offices and exploitation establishments at railway stations, car terminals, airports, seaports and other traffic hubs to meet the users� demands and to receive and deliver bags, mails and parcels from inside and outside the country.
The designing and construction of post and telecommunications establishments at traffic hubs shall be managed by the project owners at the concerned places with the participation of the post and telecommunications service providing enterprises.
2. The construction of the post and telecommunications projects shall comply with the provisions of law and must be allowed by the competent State agency.
Article 91.- When building or repairing their own works, organizations and/or individuals shall have to comply with technical regulations on ensuring safety for post and telecommunications works; shall not affect the normal operation of the already built post and telecommunications works or cause interferences to the post and telecommunications equipment and networks.
Article 92.- Projects belonging to the public telecommunications network shall be put into operation and exploitation only when they meet all technical norms and criteria on network connection and integration.
Projects belonging to the specialized telecommunications networks shall be put into operation and exploitation only when they meet all technical norms and criteria specified in the designs already approved by the General Department of Post and Telecommunications.
Article 93.- Foreign organizations and/or individuals wishing to install telecommunications cables in exclusive economic zones or on the continental shelf of Vietnam must obtain permission from the Vietnamese Prime Minister.
The General Department of Post and Telecommunications shall receive their proposals, examine and submit them to the Prime Minister for consideration and decision.
Chapter IX
POST AND TELECOMMUNICATIONS ENTERPRISES
Article 94.- Post and telecommunications enterprises are enterprises set up and operating under the provisions of law in the following fields:
1. Providing post and telecommunications services;
2. Producing post and telecommunications equipment and materials;
3. Exporting, importing and supplying post and telecommunications equipment and materials;
4. Providing consultancy on, surveying, designing and building post and telecommunications projects.
Other enterprises that wish to apply for addition of one or a number of the above-mentioned fields to their business lines shall also have to comply with the provisions of this Decree.
Article 95.- Enterprises providing post and telecommunications services are State enterprises or stock companies where the State holds the dominating or special share, established by decision or with permission of the Prime Minister to provide domestic and international post and telecommunications services in accordance with the provisions of this Decree.
Enterprises providing post and telecommunications services must have their own networks and equipment suited to the plan for development of the public post and telecommunication network, and have a contingent of cadres, technicians and workers specialized in the exploitation of the networks suited to the enterprises� technological standard and scope of operation.
Article 96.- Enterprises providing post and telecommunications services shall have the rights and obligations defined by the common provisions of law as well as the following rights and obligations:
1. To use on an equal fooling the national telecommunications trunk system in accordance with the regulations of the General Department of Post and Telecommunications for the provision of post and telecommunications services;
2. To be allocated and entitled to determine frequencies in conformity with the radio frequency plan; to determine network codes according to the plans on numbering the post and telecommunications networks of the General Department of Post and Telecommunications;
3. To cooperate with foreign parties according to the contents and forms decided by the Prime Minister for the development of their networks and services;
4. To mobilize capital in accordance with the provisions of law;
5. To be entitled to the State�s allowances, price subsidy and adjustments when performing their tasks of producing and supplying products or providing post and telecommunications services for the prevention and combat against natural calamities in rural, mountainous areas and islands and other public utility activities or providing post and telecommunications products and services in accordance with the State�s price policy;
6. To ensure the non-stop operation of the networks as well as the norms on the quality of the networks and services;
7. To give priority to meeting information and communication demands of the Party and State agencies, meeting the information and communication requirements regarding security and defense, the prevention and combat against natural calamities and other public utility activities;
8. To comply with the price frame and standard charges set by the State; to provide guidance and create conditions for the service users;
9. To implement the regulations of and submit to the control by the competent State agency in ensuring national security, social order and safety, and information confidentiality and safety;
10. To be subject to the State�s regulation on their post and telecommunications business activities in urban areas and densely populated areas as well as the provision of post and telecommunications services of high profitability for investment in the development of post and telecommunications in rural, mountainous, border and island areas.
Article 97.- Vietnamese enterprises providing post and telecommunications services that wish to act as agents for foreign organizations for the provision of post and telecommunications services in Vietnam shall have to apply for permission from the General Department of Post and Telecommunications.
The General Department of Post and Telecommunications shall promulgate the regulation on post and telecommunications service agency.
Article 98.- Enterprises providing post and telecommunications services shall be managed, granted permits and regulated by the General Department of Post and Telecommunications regarding the establishment and provision of post and telecommunications services.
Article 99.-
1. Enterprises involved in the production, import, export and supply of post and telecommunications equipment and materials as well as in the construction of post and telecommunications projects and other enterprises which apply for the addition of any of the above-mentioned production and business lines shall, depending on their types, be entitled to establish new business lines or add their business lines in accordance with the provisions of law, and to cooperate with foreign parties under the Law on Foreign Investment in Vietnam.
2. Apart from the general conditions prescribed by law, enterprises producing post and telecommunications equipment and materials shall have to meet the following conditions:
a/ To have advanced technologies suited to the planning for the development of the post and telecommunications branch;
b/ Their products must meet all technical criteria prescribed by the State;
c/ To manufacture and assembly radio transmitters with permission of the Prime Minister.
Chapter X
INSPECTION AND HANDLING OF VIOLATIONS
Article 100.- The specialized post and telecommunications inspectorate shall have the tasks and powers to inspect domestic and foreign organizations and individuals in Vietnam in the latter�s observance of post and telecommunications legislation.
The Government shall determine the organizational structure and operation of the specialized post and telecommunications inspectorate.
Article 101.- When conducting an inspection, the inspection delegation or the inspector shall have the right:
1. To conduct on-the-spot examination of post and telecommunications means and equipment, radio transmitters and harmful sources of interference;
2. To examine documents, permits and certificates related to post and telecommunications activities; and the use of radio transmitters and radio frequencies;
3. To suspend or temporarily suspend within its competence, or propose to the competent State agencies to suspend acts of violating post and telecommunications legislation;
4. To impose administrative sanctions according to its competence or propose to the competent State agencies to handle violations;
5. To propose measures for handling and overcoming consequences of the violations of law.
Article 102.- The involved organizations and/or individuals shall have to create conditions for the inspection delegation or inspectors to perform its/their duty and shall have to abide by the decisions of the inspection delegation or the inspectors.
Article 103.- The specialized post and telecommunications inspectorate shall have to observe law and take responsibility before law for its activities.
Article 104.-
1. All organizations and/or individuals shall have the right to lodge their complaints or denunciations to the competent State agency(ies) about acts of violating the legislation on post, telecommunications and radio frequencies.
The agency receiving complaints or denunciations shall have to consider and settle them in accordance with the provisions of law.
2. All organizations and/or individuals shall have the right to lodge their complaints to the head(s) of the agency(ies) that issues inspection decisions on the conclusions and handling measures of the concerned inspection delegation or inspector; and denounce the law-breaking acts committed by the inspection delegation or inspector during the inspection.
Article 105.- Organizations and/or individuals violating this Decree shall be handled in accordance with the provisions of law.
Chapter XI
IMPLEMENTATION PROVISIONS
Article 106.- This Decree takes effect 15 days from the date of its signing and shall replace the Regulation on Post and Telecommunications issued together with Decree No.121/HDBT of August 15, 1987 of the Council of Ministers (now the Government).
The earlier provisions which are contrary to this Decree are now annulled.
The General Director of the General Department of Post and Telecommunications shall have to provide guidances and inspect the implementation of this Decree.
Article 107.- The General Director of the General Department of Post and Telecommunications, the ministers, the heads of the ministerial-level agencies, the heads of the agencies attached to the Government, the presidents of the People�s Committees of the provinces and cities directly under the Central Government shall have to implement this Decree.
 

 
ON BEHALF OF THE GOVERNMENT THE PRIME MINISTER




Phan Van Khai

 
Vui lòng Đăng nhập tài khoản gói Nâng cao để xem đầy đủ bản dịch. Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây.
Văn bản tiếng Anh
Bản dịch tham khảo
* Lưu ý: Để đọc được văn bản tải trên Luatvietnam.vn, bạn cần cài phần mềm đọc file DOC, DOCX và phần mềm đọc file PDF.
Văn bản đã hết hiệu lực. Quý khách vui lòng tham khảo Văn bản thay thế tại mục Hiệu lực và Lược đồ.
Để được giải đáp thắc mắc, vui lòng gọi
1900.6192 hoặc gửi câu hỏi tại đây

Tải ứng dụng LuatVietnam Miễn phí trên

Văn bản cùng lĩnh vực
Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Lược đồ.
Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!