Thông tư 30/2003/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện một số điểm của Nghị định số 28/2003/NĐ-Cp ngày 31/3/2003 của Chính phủ quy định việc phát hành Công trái xây dựng tổ quốc năm 2003 - Công trái giáo dục

Tóm tắt Nội dung VB gốc Tiếng Anh Hiệu lực VB liên quan Lược đồ Nội dung MIX Tải về
LuatVietnam.vn độc quyền cung cấp bản dịch chính thống Công báo tiếng Anh của Thông Tấn Xã Việt Nam
LuatVietnam.vn độc quyền cung cấp bản dịch chính thống Công báo tiếng Anh của Thông Tấn Xã Việt Nam
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng:Đã biết

THÔNG TƯ

CỦA BỘ TÀI CHÍNH SỐ 30/2003/TT-BTC NGÀY 15 THÁNG 4 NĂM 2003 HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN MỘT SỐ ĐIỂM CỦA NGHỊ ĐỊNH
SỐ 28/2003/NĐ-CP NGÀY 31 THÁNG 3 NĂM 2003 CỦA CHÍNH PHỦ
QUY ĐỊNH VIỆC PHÁT HÀNH CÔNG TRÁI XÂY DỰNG TỔ QUỐC
NĂM 2003 - CÔNG TRÁI GIÁO DỤC

 

Thi hành Nghị định số 28/2003/NĐ-CP ngày 31 tháng 3 năm 2003 của Chính phủ quy định việc phát hành Công trái xây dựng Tổ quốc năm 2003 - Công trái giáo dục, Bộ Tài chính hướng dẫn chi tiết một số điểm như sau:

 

I- NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

 

1- Công trái được phát hành và thanh toán tại hệ thống Kho bạc Nhà nước trên phạm vi cả nước.

2- Việc mua công trái được thực hiện theo nguyên tắc tự nguyện, tuỳ theo khả năng tài chính của tổ chức, cá nhân. Nhà nước động viên các tổ chức, cá nhân tích cực tham gia mua công trái thông qua công tác tuyên truyền và giao chỉ tiêu vận động mua công trái.

3- Trên cơ sở chỉ tiêu vận động mua công trái, các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổ chức triển khai việc vận động có trọng tâm, trọng điểm đến từng tổ chức, cá nhân nhằm bảo đảm mức huy động vốn được giao.

 

II- NHỮNG QUY ĐỊNH CỤ THỂ

 

1. Các quy định về công trái:

1.1- Phiếu công trái

Phiếu công trái phát hành theo 2 hình thức:

a- Phiếu công trái không ghi tên, in trước mệnh giá (sau đây gọi là công trái không ghi tên) gồm 11 loại mệnh giá: 50.000 đồng, 100.000 đồng, 200.000 đồng, 500.000 đồng, 1.000.000 đồng, 2.000.000 đồng, 5.000.000 đồng, 10.000.000 đồng, 20.000.000 đồng, 50.000.000 đồng, 100.000.000 đồng.

b- Phiếu công trái có ghi tên, không in trước mệnh giá (sau đây gọi là công trái có ghi tên): Hình thức công trái này chỉ sử dụng đối với các trường hợp cá nhân, tổ chức mua công trái có giá trị từ 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng) trở lên. Mệnh giá tối đa được phép ghi trên các phiếu công trái là 10.000.000.000 đồng (mười tỷ đồng).

1.2- Phiếu công trái có kích thước 270 mm x 100 mm, bao gồm 2 phần: phần thân giao cho người mua công trái có kích thước 180 mm x 100 mm; phần cuống lưu giữ tại cơ quan Kho bạc Nhà nước nơi phát hành có kích thước 90 mm x 100 mm.

1.3- Đặc điểm màu sắc và tiêu chuẩn kỹ thuật phiếu công trái:

a. Phiếu công trái không ghi tên:

- Mặt trước:

+ Nền màu hồng 2 bên, cách sắc ở giữa bởi màu vàng nền và hoa văn màu vàng đậm. Tất các các màu vàng đều phát quang dưới ánh đèn cực tím.

+ Cụm hoa văn ở hai bên và chữ lồng CT phát quang dưới ánh đèn cực tím.

+ Số sê ri: Phần thân phiếu công trái có 2 dãy sê ri (góc trên bên phải và góc dưới bên trái), mỗi dãy bắt đầu bằng 2 chữ cái và 7 chữ số. Sê ri công trái có màu đỏ cánh sen, phát quang dưới ánh đèn cực tím.

- Mặt sau:

Có nền màu đỏ, khung và chữ màu đỏ đậm.

- Giấy in: Phiếu công trái được in bằng giấy đặc chủng, có khả năng chống làm giả.

- Mực in: Phiếu công trái được in bằng loại mực không tẩy xoá được, có sử dụng loại mực phát quang để chống làm giả.

b. Phiếu công trái có ghi tên:

- Mặt trước:

Nền màu xanh 2 bên, cách sắc ở giữa bởi màu vàng nền và hoa văn màu vàng đậm.

- Mặt sau: Nền màu xanh, khung và chữ màu xanh đậm.

Giấy in, mực in và các yếu tố khác như quy định tại điểm "a" trên đây.

1.4- Phiếu công trái do Bộ Tài chính quy định mẫu và giao cho Kho bạc Nhà nước TW tổ chức in và quản lý thống nhất trong phạm vi cả nước.

mặt trước, phía dưới, bên phải của tờ phiếu công trái là chữ ký của Bộ trưởng Bộ Tài chính.

1.5- Kho bạc Nhà nước Trung ương tổ chức in ấn, bảo quản và cung cấp ấn chỉ công trái cho các Kho bạc Nhà nước tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Việc giao nhận, vận chuyển, bảo quản và quản lý ấn chỉ công trái được thực hiện như đối với tiền mặt và các ấn chỉ có giá trị.

1.6- Kho bạc Nhà nước được sử dụng số ấn chỉ công trái đã in năm 1999 chưa phát hành hết (trừ loại mệnh giá 20.000 đồng), đồng thời được in bổ sung theo nhu cầu sử dụng.

1.7- Do đặc điểm của đợt phát hành công trái XDTQ năm 2003 là công trái giáo dục, vì vậy mặt trước của thân phiếu công trái được đóng dấu mộc có dòng chữ "Công trái giáo dục". Kho bạc Nhà nước chịu trách nhiệm tổ chức khắc dấu và hướng dẫn thực hiện

2 - Phát hành công trái

2.1- Công trái được phát hành và thanh toán bằng đồng Việt Nam, có thời hạn 5 năm, phát hành từ ngày 5/5/2003 trong phạm vi cả nước.

2.2- Tổng mức huy động là 2.000 tỷ đồng (hai nghìn tỷ đồng). Tuỳ kết quả huy động thực tế, Bộ Tài chính sẽ thông báo dừng phát hành công trái vào thời điểm thích hợp.

2.3- Đối tượng mua công trái bao gồm:

a- Công dân Việt Nam ở trong nước và ngoài nước.

b- Người Việt Nam định cư ở nước ngoài.

c- Người nước ngoài làm việc, cư trú ở Việt Nam.

d- Cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp.

đ- Tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp.

e- Doanh nghiệp Nhà nước.

f- Doanh nghiệp khác thuộc mọi thành phần kinh tế.

g- Tổ chức nước ngoài hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam.

- Các đối tượng quy định tại điểm d, đ, e, f không được sử dụng kinh phí của Ngân sách Nhà nước cấp để mua công trái.

- Đối tượng là người Việt Nam ở nước ngoài có nguyện vọng mua công trái có thể thông qua tổ chức hoặc cá nhân đại diện cho mình tại Việt Nam để mua công trái.

- Các tổ chức, cá nhân có thể mua công trái bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản với số lượng không hạn chế.

2.4- Căn cứ vào mức thu nhập của dân cư và khả năng tài chính của các doanh nghiệp, các cơ quan, tổ chức; Bộ Tài chính giao chỉ tiêu vận động mua công trái cho các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các tổ chức. Đối với các tổ chức có khó khăn về tài chính, các xã nghèo đặc biệt khó khăn, các đối tượng dân cư có thu nhập thấp không giao chỉ tiêu vận động mua công trái.

2.5- Kho bạc Nhà nước trực tiếp tổ chức phát hành công trái, có trách nhiệm: Tính toán lập kế hoạch in phiếu công trái theo cơ cấu mệnh giá hợp lý, cung cấp đầy đủ cho các đơn vị Kho bạc Nhà nước phát hành; tổ chức các bàn bán công trái cố định và lưu động; đơn giản hoá thủ tục hành chính nhằm tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các đối tượng mua công trái; tổ chức hạch toán kế toán các khoản thu công trái theo quy định của pháp luật; theo dõi và báo cáo Bộ Tài chính kết quả thực hiện chỉ tiêu vận động mua công trái của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các tổ chức, đề xuất việc khen thưởng đối với tập thể, cá nhân có mức mua công trái cao.

2.6- Việc sử dụng vốn và hạch toán tiền mua và lãi công trái đối với các doanh nghiệp thực hiện theo văn bản hướng dẫn riêng của Bộ Tài chính.

3- Thanh toán công trái:

3.1- Tiền gốc và lãi công trái được thanh toán theo nguyên tắc sau:

a- Tiền gốc:

- Tiền gốc công trái được thanh toán một lần khi đến hạn (đủ 60 tháng).

- Trường hợp chủ sở hữu có khó khăn đặc biệt hoặc rủi ro bất khả kháng (như bị thiên tai, hoả hoạn) được cấp chủ quản, cơ quan quản lý trực tiếp hoặc chính quyền địa phương xác nhận, Kho bạc Nhà nước sẽ xem xét, giải quyết thanh toán công trái trước thời hạn.

- Trường hợp đến hạn mà chủ sở hữu công trái chưa đến thanh toán, Kho bạc Nhà nước bảo lưu cả gốc và lãi công trái trên một tài khoản riêng và không tính lãi trong thời gian quá hạn thanh toán.

b- Tiền lãi:

- Tiền lãi công trái được thanh toán một lần khi đến hạn cùng với tiền gốc.

- Lãi suất ghi trên phiếu công trái phát hành năm 2003 là 8%/năm (bao gồm cả mức trượt giá và tỷ lệ lãi suất 1,5%/năm) và lãi suất tính cho 5 năm là 40%.

- Trường hợp mức trượt giá thực tế trong 5 năm cộng với lãi suất 5 năm (7,5%) lớn hơn 40% thì người sở hữu công trái sẽ được Nhà nước bù chênh lệch.

- Trường hợp mức trượt giá thực tế trong 5 năm cộng với lãi suất 5 năm (7,5%)thấp hơn hoặc bằng 40% thì người sở hữu công trái vẫn được hưởng lãi suất 40% như ghi trên phiếu công trái đã phát hành.

- Trường hợp thanh toán trước hạn, lãi suất được tính như sau:

+ Nếu thời gian mua công trái chưa đủ 12 tháng thì không được hưởng lãi.

+ Nếu thời gian mua công trái từ đủ 12 tháng đến dưới 24 tháng thì được hưởng lãi là 8%.

+ Nếu thời gian mua công trái từ đủ 24 tháng đến dưới 36 tháng thì được hưởng lãi là 16%.

+ Nếu thời gian mua công trái từ đủ 36 tháng đến dưới 48 tháng thì được hưởng lãi là 24%.

+ Nếu thời gian mua công trái từ đủ 48 tháng đến dưới 60 tháng thì được hưởng lãi là 32%.

Lãi suất thanh toán trước hạn là cố định, không phụ thuộc vào sự biến động của mức trượt giá.

3.2- Hệ thống Kho bạc Nhà nước có trách nhiệm tổ chức việc thanh toán gốc, lãi công trái; hướng dẫn chủ sở hữu công trái thực hiện các thủ tục cần thiết bảo đảm thuận lợi và an toàn; tổ chức hạch toán kế toán các khoản thanh toán gốc, lãi công trái theo quy định hiện hành.

3.3- Địa điểm thanh toán công trái:

- Trường hợp thanh toán công trái đến hạn và quá hạn:

+ Đối với công trái không ghi tên: Chủ sở hữu công trái có thể thanh toán tại bất kỳ đơn vị Kho bạc Nhà nước nào.

+ Đối với công trái có ghi tên: Chỉ thực hiện thanh toán tại trụ sở Kho bạc Nhà nước nơi phát hành phiếu công trái.

- Trường hợp thanh toán trước hạn (đối với cả công trái không ghi tên và công trái có ghi tên): Chủ sở hữu công trái đến trụ sở Kho bạc Nhà nước nơi phát hành để làm thủ tục thanh toán.

3.4- Chủ sở hữu công trái có thể gửi đơn đề nghị thanh toán kèm theo phiếu công trái cho Kho bạc Nhà nước để chuyển toàn bộ số tiền gốc, lãi công trái vào tài khoản do chủ sở hữu công trái yêu cầu và phải nộp một khoản phí chuyển tiền theo quy định tại điểm 2.2 mục 2 phần III Thông tư này. Phí chuyển tiền được tính trừ vào số tiền công trái được nhận.

3.5- Công trái mất, hư hỏng:

- Trường hợp phiếu công trái loại không ghi tên bị mất hoặc bị tẩy xoá, sửa chữa, rách nát, hư hỏng không còn giữ được hình dạng, nội dung ban đầu thì không được thanh toán.

- Trường hợp phiếu công trái loại có ghi tên bị mất hoặc bị rách nát, hư hỏng phải báo ngay bằng văn bản cho Kho bạc Nhà nước nơi phát hành. Thủ trưởng đơn vị Kho bạc Nhà nước kiểm tra, nếu phiếu công trái đó chưa bị lợi dụng để rút tiền thì xác nhận và sẽ giải quyết thanh toán khi đến hạn. Trường hợp phiếu công trái đã bị lợi dụng để rút tiền thì thủ trưởng đơn vị Kho bạc Nhà nước nơi phát hành và thanh toán công trái phải có trách nhiệm kiểm tra kịp thời, xác định nguyên nhân và có biện pháp xử lý theo quy định của pháp luật.

4- Quyền lợi và trách nhiệm của chủ sở hữu công trái:

4.1- Chủ sở hữu công trái được quyền bán, tặng, cho, để lại thừa kế hoặc sử dụng để cầm cố.

- Đối với loại công trái không ghi tên:

+ Việc chuyển nhượng quyền sở hữu công trái (do mua, bán, tặng, cho, để lại thừa kế) không phải đăng ký với Kho bạc Nhà nước.

+ Kho bạc Nhà nước không xác nhận quyền sở hữu đối với công trái không ghi tên trong mọi trường hợp.

- Đối với công trái có ghi tên: Việc chuyển nhượng quyền sở hữu công trái hoặc xác nhận quyền sở hữu công trái thực hiện tại trụ sở Kho bạc Nhà nước nơi phát hành.

Kho bạc Nhà nước có trách nhiệm hướng dẫn quy trình, thủ tục chuyển quyền sở hữu hoặc xác nhận quyền sở hữu công trái đảm bảo thuận tiện, an toàn.

4.2- Các khoản thu nhập từ lãi công trái đối với mọi đối tượng đều được miễn thuế thu nhập.

4.3- Chủ sở hữu công trái có thể gửi phiếu công trái tại Kho bạc Nhà nước để bảo quản. Trước mắt, đối với Công trái giáo dục Kho bạc Nhà nước chưa thu phí bảo quản.

4.4- Không được dùng công trái để thay thế tiền trong lưu thông, nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính với Nhà nước.

4.5- Công trái đã mua (bao gồm cả mua lại) của tổ chức được quản lý như các tài sản khác của đơn vị. Trường hợp tổ chức mua công trái giải thể, phá sản, sáp nhập, hợp nhất, chia tách hoặc chấm dứt hoạt động thì tài sản là công trái được giải quyết theo quy định của pháp luật.

4.6- Việc mua bán công trái giữa các tổ chức được phép kinh doanh công trái với các tổ chức, cá nhân thực hiện theo văn bản hướng dẫn riêng của Bộ Tài chính.

 

III- QUẢN LÝ NGUỒN THU, THANH TOÁN VÀ
CHI PHÍ PHÁT HÀNH, THANH TOÁN CÔNG TRÁI XDTQ

 

1- Quản lý nguồn thu, nguồn chi trả công trái:

1.1- Toàn bộ số tiền thu về công trái được ghi thu ngân sách Trung ương tại Kho bạc Nhà nước nơi phát hành theo Chương 160A, Loại 10, Khoản 05, Mục 086, Tiểu mục 03

1.2- Nguồn thu từ phát hành công trái giáo dục năm 2003 chỉ được sử dụng cho mục tiêu không còn phòng học 3 ca, không còn phòng học tranh tre, nứa lá, kiên cố hoá trường học quy định tại Nghị quyết số 09/2002/QH11 ngày 28/11/2002 của Quốc hội.

1.3- Nguồn vốn để thanh toán gốc, lãi công trái và cấp bù chênh lệch trượt giá (nếu có) do ngân sách Trung ương bảo đảm.

Kho bạc Nhà nước ứng tồn ngân Kho bạc Nhà nước để thanh toán (trước hạn, đến hạn, quá hạn) cho chủ sở hữu công trái. Định kỳ hàng tháng, Kho bạc Nhà nước tổng hợp số đã thanh toán để đề nghị Bộ Tài chính kịp thời hoàn trả số đã tạm ứng.

2- Các khoản chi phí:

2.1- Chi phí in ấn, phát hành và thanh toán công trái do Ngân sách Trung ương đảm bảo trên nguyên tắc triệt để tiết kiệm, theo dự toán được duyệt. Tổng mức chi cụ thể do Bộ trưởng Bộ Tài chính quyết định.

2.2- Chi phí chuyển tiền gốc, lãi công trái vào tài khoản theo yêu cầu của chủ sở hữu công trái, do chủ sở hữu trả bằng mức phí thanh toán qua Ngân hàng.

 

IV- KHEN THƯỞNG VÀ XỬ LÝ VI PHẠM

 

1- Việc khen thưởng các tổ chức, cá nhân có thành tích và xử lý các hành vi vi phạm được thực hiện theo Điều 16 Nghị định số 28/2003/NĐ-CP ngày 31 tháng 3 năm 2003 của Chính phủ.

2- Kinh phí để khen thưởng, mức tiền thưởng thực hiện theo quy định tại Thông tư số 25/2001/TT-BTC ngày 16/4/2001 của Bộ Tài chính về hướng dẫn công tác quản lý tài chính thực hiện chế độ khen thưởng thành tích xuất sắc thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc.

 

V- TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC CƠ QUAN CÓ LIÊN QUAN TRONG VIỆC PHÁT HÀNH, THANH TOÁN CÔNG TRÁI XDTQ

 

1- Tổng cục Thống kê có trách nhiệm tính toán và công bố mức trượt giá để làm căn cứ phục vụ việc thanh toán công trái khi đến hạn.

2- Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có trách nhiệm vận động các tổ chức tín dụng bố trí nguồn vốn, sử dụng vốn một cách hợp lý để tham gia mua công trái giáo dục theo đúng chỉ tiêu vận động được giao.

3- Bộ Văn hoá Thông tin phối hợp chặt chẽ với Bộ Tài chính, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc, Uỷ ban Nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổ chức tốt công tác tuyên truyền, vận động nhân dân mua công trái; Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam, các cơ quan thông tấn, báo chí xây dựng kế hoạch, bố trí thời lượng phát sóng, đưa tin thường xuyên, kịp thời về mục đích, ý nghĩa, nội dung, các gương tốt trong đợt phát hành Công trái giáo dục năm 2003, giúp nhân dân hiểu rõ nhiệm vụ, quyền lợi của công dân đối với đất nước, đồng thời động viên, khuyến khích mọi tổ chức, cá nhân tham gia mua Công trái xây dựng Tổ quốc.

4- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có trách nhiệm vận động, đôn đốc và kiểm tra tình hình mua công trái theo chỉ tiêu vận động đã thông báo cho các đơn vị, tổ chức thuộc Trung ương quản lý.

5- Uỷ ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc, các cơ quan thông tin đại chúng thực hiện tốt công tác tuyên truyền, vận động, đôn đốc và kiểm tra các doanh nghiệp, cơ quan, hội đoàn thể, các tầng lớp nhân dân trên địa bàn hoàn thành chỉ têu vận động mua Công trái xây dựng Tổ quốc.

6- Sở Tài chính - Vật giá có trách nhiệm giúp Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương triển khai thực hiện công tác tuyên truyền vận động phát hành công trái tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

 

VI - TỔ CHỨC THỰC HIỆN

 

1- Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày có hiệu lực của Nghị định số 28/2003/NĐ-CP ngày 31 tháng 3 năm 2003 của Chính phủ Quy định việc phát hành công trái xây dựng Tổ quốc năm 2003 - Công trái giáo dục.

2- Tổng Giám đốc Kho bạc Nhà nước, Thủ trưởng các đơn vị có liên quan thuộc và trực thuộc Bộ Tài chính, Giám đốc Kho bạc Nhà nước các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có nhiệm vụ hướng dẫn và tổ chức thực hiện các quy định tại Thông tư này.

3- Bộ trưởng các Bộ, Thủ trưởng các cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm thi hành Thông tư này.

Thuộc tính văn bản
Thông tư 30/2003/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện một số điểm của Nghị định số 28/2003/NĐ-Cp ngày 31/3/2003 của Chính phủ quy định việc phát hành Công trái xây dựng tổ quốc năm 2003 - Công trái giáo dục
Cơ quan ban hành: Bộ Tài chính Số công báo: Đã biết
Số hiệu: 30/2003/TT-BTC Ngày đăng công báo: Đã biết
Loại văn bản: Thông tư Người ký: Trần Văn Tá
Ngày ban hành: 15/04/2003 Ngày hết hiệu lực: Đang cập nhật
Áp dụng: Đã biết Tình trạng hiệu lực: Đã biết
Lĩnh vực: Tài chính-Ngân hàng , Giáo dục-Đào tạo-Dạy nghề
Tóm tắt văn bản
Nội dung văn bản đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem VB liên quan.
Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!
Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Hiệu lực.
Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!

THE MINISTRY OF FINANCE
-------

SOCIALIST REPUBLIC OF VIET NAM
Independence - Freedom - Happiness
------------

No: 30/2003/TT-BTC

Hanoi, April 15, 2003

 

CIRCULAR

GUIDING THE IMPLEMENTATION OF A NUMBER OF POINTS IN THE GOVERNMENT'S DECREE NO. 28/2003/ND-CP OF MARCH 31, 2003 PROVIDING FOR THE 2003 ISSUANCE OF NATIONAL CONSTRUCTION BONDS - EDUCATION BONDS

In furtherance of the Government's Decree No. 28/2003/ND-CP of March 31, 2003 providing for the 2003 issuance of National Construction Bonds- Education Bonds, the Ministry of Finance hereby guides a number of points as follows:

I. GENERAL PROVISIONS

1. The bonds are issued and settled at the State Treasury system nationwide.

2. The bond purchase complies with the principle of voluntariness, depending on the financial capabilities of organizations and individuals. The State encourages organizations and individuals to actively participate in bond purchase through the propagation work and assignment of bond purchase mobilization norms.

3. On the basis of the bond purchase mobilization norms, the provinces and centrally-run cities shall organize the mobilization of organizations and individuals in order to ensure the assigned mobilized capital amounts.

II. SPECIFIC PROVISIONS

1. Regulations on bonds:

1.1. Bond tickets

The bond tickets are issued in two forms:

a/ Bearer bond tickets preprinted with par values (hereinafter called the bearer bonds) with 11 different par values: 50,000 VNdong, 100,000 dong, 200,000 dong, 500,000 dong, 1,000,000 dong, 2,000,000 dong, 5,000,000 dong, 10,000,000 dong, 20,000,000 dong, 50,000,000 dong and 100,000,000 dong.

b/ Registered bond tickets, not preprinted with par values (hereinafter called registered bonds): This form of bond shall be used only to cases where individuals and organizations buy bonds with value of 50,000,000 dong (fifty million dong) or higher. The maximum par value allowed to be inscribed in these bond tickets shall be 10,000,000,000 dong (ten billion dong).

1.2. The bond tickets have the 270 mm x 100 mm size, including two parts: the bodies handed to bond buyers are of the 180 mm x 100 mm size; the counterfoils kept at the State Treasury offices where bonds are issued are of the 90 mm x 100 mm size.

1.3. Color characteristics and technical standards of the bond tickets:

a/ Bearer bond tickets:

- The front side:

+ Pink background on both sides, with different colors in the middle by yellow background and dark yellow patterns. All yellows illuminate under ultraviolet light.

+ Patterns on both sides and overlapped letters CT illuminate under ultraviolet light.

+ The serial numbers: The bond ticket body contains two rows of serial numbers (on the upper right corner and the bottom left corner), each row begins with 2 letters and 7 numerals. Bond serial numbers are in lotus red, illuminating under ultraviolet light.

- The back side:

With red background, dark red frame and letters.

- Printing paper: The bond tickets are printed with special- type paper being capable of countering forgery.

- Printing inks: The bond tickets are printed in non-erasable inks with the use of illuminating inks to counter forgery.

b/ Registered bond tickets:

- The front side:

Green background on both sides, different colors in the middle, with yellow in the background and dark yellow in patterns.

- The back side: Green background, dark green frame and letters.

The printing paper, printing inks and other elements are the same as those prescribed at Point "a" above.

1.4. The bond ticket forms are set by the Ministry of Finance and assigned to the Central State Treasury for organization of the printing and uniform management throughout the country.

On the front side, in the bottom right corner of the bond tickets lies the signature of the Finance Minister.

1.5. The Central State Treasury organizes the printing, preservation and supply of bond prints to the provincial/municipal State Treasuries. The hand-over, receipt, transportation, preservation and management of bond prints shall comply with the provisions applicable to cash and valuable prints.

1.6. The State Treasuries may use the bonds printed in 1999 but not issued up (except for those with par value of 20,000 dong) and is entitled to additionally print them according to the use demands.

1.7. Due to the characteristic that the National Construction bonds issued in 2003 are education bonds, the front side of the bond bodies is stamped with the plain inscription "Education Bond." The State Treasuries shall have to organize the carving of this stamp and guide the implementation.

2. Bond issuance

2.2. Bonds are issued and paid in Vietnam dong, with a term of 5 years, issued as from May 5, 2003 nationwide.

2.2. The total mobilization level is 2,000 billion dong (two thousand billion dong). Depending on the practical mobilization results, the Ministry of Finance shall announce the stoppage of bond issuance at the appropriate time.

2.3. Bond-buying subjects include:

a/ Vietnamese citizens inside and outside the country.

b/ Overseas Vietnamese.

c/ Foreigners working, residing in Vietnam.

d/ Administrative agencies, non-business units.

e/ Political organizations, socio-political organizations, socio-political and professional organizations, social organizations, socio-professional organizations.

f/ State enterprises.

g/ Other enterprises of all economic sectors.

h/ Foreign organizations operating on the Vietnamese territory.

- The subjects defined at Points d, e, f and g must not use the State budget funding to buy bonds.

- Subjects being overseas Vietnamese who wish to buy bonds may do so through organizations or individuals representing them in Vietnam.

- Organizations and individuals may buy bonds in cash or account transfer with unlimited volume.

2.4. Basing itself on the income level of people and the financial capabilities of enterprises, agencies and organizations, the Ministry of Finance assigns bond purchase mobilization norms to provinces, centrally-run cities and organizations. For organizations meeting with financial difficulties, poor communes meeting with exceptional difficulties and low-income earners, the bond purchase mobilization norms shall not be assigned to them.

2.5. The State Treasury shall directly organize the bond issuance, having the responsibility to calculate and work out the plan for printing bond tickets according to a rational par value structure and adequately supply them to the State Treasury units for issuance; to organize fixed and mobile bond sale counters; to simplify administrative procedures in order to create favorable conditions for assorted subjects to buy bonds; to organize accounting of bond revenues according to law provisions; to monitor and report to the Ministry of Finance on the results of bond purchase mobilization according to norms assigned to the provinces, centrally-run cities and organizations, propose commendation and/or rewards for collectives and individuals that have bought bonds at high levels.

2.6. The use of capital and the accounting of money for bond purchase and interests on bonds by enterprises shall comply with the separate guiding documents of the Ministry of Finance.

3. Bond payment:

3.1. Bond principals and interests shall be paid according to the following principles:

a/ The principals:

- The bond principals shall be repaid in lump sum upon maturity (full 60 months).

- Where bond owners meet with exceptional difficulties or force majeure risks (such as natural calamities, fires) as certified by their managing authorities, agencies or local administrations, the State Treasury shall consider and repay their bonds ahead of time.

- Where bond owners fail to come for bond repayment upon maturity, the State Treasury shall reserve both bond principals and interests on separate accounts and shall not calculate interests for the post-maturity duration.

b/ Interests:

- The bond interests shall be paid in lump sum together with the principals upon maturity.

- The interest rate inscribed on bond tickets issued in 2003 is 8%/year (including the inflation rate and the annual interest rate of 1.5%) and the interest rate calculated for 5 years is 40%.

- Where the actual inflation rate in 5 years plus the 5 years' interest rate (7.5%) is larger than 40%, the bond owners shall have the differences offset by the State.

- Where the actual inflation rate in 5 years plus the 5 years' interest rate (7.5%) is lower than or equal to 40%, the bond owners shall still enjoy the interest rate of 40% inscribed in the issued bond tickets.

- Where bonds are repaid prematurely, the interest rates shall be calculated as follows:

+ If the bond purchase duration is less than 12 months, the interest shall not be paid.

+ If the bond purchase duration is between full 12 months and under 24 months, the interest rate of 8% shall apply.

+ If the bond purchase duration is between full 24 months and under 36 months, the interest rate of 16% shall apply.

+ If the bond purchase duration is between full 36 months and under 48 months, the interest rate of 24% shall apply.

+ If the bond purchase duration is between full 48 months and under 60 months, the interest rate of 32% shall apply.

The interest rate paid prematurely is fixed, not depending on the inflation rates.

3.2. The State Treasury system shall have to organize the payment of bond principals and interests; guide bond owners to carry out necessary procedures, ensuring convenience and safety; organize the accounting of bond principal and interest payments according to current regulations.

3.3. Bond payment venues:

- Cases of payment due and overdue bonds:

+ For bearer bonds: The bond owners may get the payment at any State Treasury unit.

+ For registered bonds: The payment shall be made only at the State Treasury offices where bonds are issued.

- Cases of premature payment (for bearer bonds and registered bonds): The bond owners shall come to the State Treasury offices where the bonds are issued to carry out the payment procedures.

3.4. The bond owners may file their written payment requests together with their bond tickets to the State Treasury for the transfer of the entire bond principal and interest amounts into the accounts requested by the bond owners and have to pay a charge for money transfer as provided for at Point 2.2, Section 2, Part III of this Circular. The money transfer charges shall be subtracted from the received bond money amount.

3.5. Lost, damaged bonds:

- Where bearer bonds are lost, erased, modified, torn or damaged, failing to keep their original shapes and contents, they shall not be repaid.

- Where registered bonds are lost, torn or damaged, their owners must immediately report thereon in writing to the State Treasury offices where the bonds were issued. The heads of the State Treasury units conduct the inspection; if such bonds have not yet been abused for money withdrawal, they shall make certification and make the payment thereof when they are due. Where the bonds have been abused for money withdrawal, the heads of the State Treasury units where the bonds are issued and repaid shall have to conduct the timely inspection, certify the causes and work out handling measures according to law provisions.

4. Rights and responsibilities of bond owners:

4.1. The bond owners are entitled to sell, present, donate, bequeath or mortgage their bonds.

- For bearer bonds:

+ The transfer of bond ownership right (as the results of purchase, sale, presentation, donation, bequeathal) must not be registered with the State Treasury.

+ The State Treasury shall not certify the ownership over bearer bonds in all circumstances.

- For registered bonds: The transfer or certification of the bond ownership right shall be effected at the State Treasury offices where the bonds are issued.

The State Treasury shall have to guide the process and procedures for bond ownership right transfer or bond ownership right certification, ensuring convenience and safety.

4.2. All incomes from bond interests earned by all subjects shall be free from income tax.

4.3. The bond owners may deposit their bonds at the State Treasuries for preservation. For the immediate future, the State Treasuries shall not collect charges for Education Bond preservation.

4.4. Bonds must not be used as substitute for money in circulation, for tax payment and performance of financial obligations towards the State.

4.5. The purchased (repurchased) bonds of organizations shall be managed like other assets of the units. Where bond-buying units are dissolved, bankrupted, merged, consolidated, separated or operationally terminated, their assets being bonds shall be settled according to law provisions.

4.6. The bond trading between organizations licensed to deal in bonds and organizations or individuals shall comply with separate guiding documents of the Ministry of Finance.

III. MANAGEMENT OF SOURCES OF REVENUES, PAYMENT AND ISSUANCE EXPENSES, REPAYMENT OF NATIONAL CONSTRUCTION BONDS

1. Management of bond revenue sources, repayment sources:

1.1. The entire bond revenue amounts shall be entered as Central Budget revenues at the State Treasury offices where the bonds are issued according to Chapter 160A, Category 10, Clause 05, Section 086, Sub-section 03.

1.2. The sources of revenue from the issuance of 2003 education bonds shall only be used for the target of non-existence of three-shift classrooms, non-existence of bamboo and thatch classrooms and solidification of schools as provided for in Resolution No.09/2002/QH11 of November 28, 2002 of the National Assembly.

1.3. The capital sources for payment of bond principals and interests and the offset of inflation differences (if any) shall be ensured by the Central Budget.

The State Treasury shall advance the its money for (premature, due and overdue) payment to the bond owners. Monthly, the State Treasury shall sum up the already paid amounts and request the Ministry of Finance to refund the already advanced amounts.

2. Expenses:

2.1. Expenses for bond printing, issuance and payment shall be covered by the Central Budget on the principle of absolute thrift, compliance with the approved estimates. The total specific expenditure amount shall be decided by the Finance Minister.

2.2. Expenses for transfer of bond principals and interests into accounts at bond owners' requests shall be paid by the owners at the level equal to the via-bank payment charge.

IV. COMMENDATION AND HANDLING OF VIOLATIONS

1. The commendation of organizations and individuals that record achievements and handling of violation acts shall comply with Article 16 of Decree No.28/2003/ND-CP of March 31, 2003 of the Government.

2. The funding for commendation and/or rewards, the reward levels shall comply with the provisions in Circular No.25/2001/TT-BTC of April 16, 2001 of the Ministry of Finance, guiding the management of finance for implementation of regime of rewarding outstanding achievements in the performance of socio-economic tasks and national defense.

V. RESPONSIBILITIES OF CONCERNED AGENCIES IN THE ISSUANCE AND PAYMENT OF NATIONAL CONSTRUCTION BONDS

1. The General Department of Statistics shall have to calculate and announce the inflation rate for use as basis in service of the payment of due bonds.

2. Vietnam State Bank shall have to mobilize credit institutions to arrange capital sources and use capital rationally for purchasing education bonds according to the assigned mobilization norms.

3. The Ministry of Culture and Information shall closely coordinate with the Ministry of Finance, the Fatherland Front Committees and the provincial/municipal People's Committees in organizing the propagation and mobilization of people to buy bonds; Vietnam Television Station and Radio Voice of Vietnam, Vietnam News Agency as well as information and press agencies in elaborating plans on regular broadcasts and timely report on the purposes, significance, contents and good examples in the drive of issuance of education bonds in 2003, helping people to clearly understand the tasks and interests of citizens towards the country, and at the same time mobilize and encourage all organizations and individuals to participate in the purchase of national construction bonds.

4. The ministries, ministerial-level agencies, the Government-attached agencies shall have to mobilize, urge and inspect the situation of bond purchase according to the mobilization norms notified to the units and organizations under the management of the central government.

5. The People's Committees at all levels shall, within the ambit of their tasks and powers, have to coordinate with the Fatherland Front Committees, the mass media agencies in well carrying out the work of propagation, mobilization, urging and inspection of enterprises, agencies, mass organizations, associations and people of all strata in their respective localities to fulfill the norms of mobilization for purchase of national construction bonds.

6. The provincial/municipal Finance-Pricing Services shall have to assist the provincial/municipal People's Committees in deploying the work of propagation and campaigning for issuance of bonds in the provinces and centrally-run cities.

VI. IMPLEMENTATION ORGANIZATION

1. This Circular takes implementation effect as from the effective date of the Government's Decree No.28/2003/ND-CP of March 31, 2003 providing for the issuance of 2003 National Construction Bonds- Education Bonds.

2. The general director of the State Treasury, the heads of the units under and attached to the Ministry of Finance, the directors of the provincial and municipal State Treasuries shall have to guide and organize the implementation of the provisions of this Circular.

3. The ministers, the heads of the ministerial-level agencies, the heads of the Government-attached agencies and the presidents of the provincial/municipal People's Committees shall have to implement this Circular.

 

 

FOR THE FINANCE MINISTER
VICE MINISTER




Tran Van Ta

 

 

* Lưu ý: Để đọc được văn bản tải trên Luatvietnam.vn, bạn cần cài phần mềm đọc file DOC, DOCX và phần mềm đọc file PDF.
Văn bản này chưa có chỉ dẫn thay đổi
Để được giải đáp thắc mắc, vui lòng gọi
1900.6192 hoặc gửi câu hỏi tại đây

Tải ứng dụng LuatVietnam Miễn phí trên

Văn bản cùng lĩnh vực
Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Lược đồ.
Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!