Quyết định 247/1999/QĐ-NHNN6 của Ngân hàng Nhà nước ban hành Chế độ giao nhận, bảo quản, vận chuyển tiền mặt, tài sản quý, giấy tờ có giá

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • Tiếng Anh
  • Hiệu lực
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Nội dung MIX

    - Tổng hợp lại tất cả các quy định pháp luật còn hiệu lực áp dụng từ văn bản gốc và các văn bản sửa đổi, bổ sung, đính chính…

    - Khách hàng chỉ cần xem Nội dung MIX, có thể nắm bắt toàn bộ quy định pháp luật hiện hành còn áp dụng, cho dù văn bản gốc đã qua nhiều lần chỉnh sửa, bổ sung.

  • Tải về
Mục lục
Mục lục
Tìm từ trong trang
Tải VB
Lưu
Theo dõi VB

Đây là tiện ích dành cho thành viên đăng ký phần mềm.

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản LuatVietnam và đăng ký sử dụng Phần mềm tra cứu văn bản.

Báo lỗi
In
  • Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17
Ghi chú

thuộc tính Quyết định 247/1999/QĐ-NHNN6

Quyết định 247/1999/QĐ-NHNN6 của Ngân hàng Nhà nước ban hành Chế độ giao nhận, bảo quản, vận chuyển tiền mặt, tài sản quý, giấy tờ có giá
Cơ quan ban hành: Ngân hàng Nhà nướcSố công báo:Đang cập nhật
Số hiệu:247/1999/QĐ-NHNN6Ngày đăng công báo:Đang cập nhật
Loại văn bản:Quyết địnhNgười ký:Đỗ Quế Lượng
Ngày ban hành:14/07/1999Ngày hết hiệu lực:
Đã biết

Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Ngày hết hiệu lực. Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!

Áp dụng:
Đã biết

Vui lòng đăng nhập tài khoản để xem Ngày áp dụng. Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!

Tình trạng hiệu lực:
Đã biết

Vui lòng đăng nhập tài khoản gói Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao để xem Tình trạng hiệu lực. Nếu chưa có tài khoản Quý khách đăng ký tại đây!

Lĩnh vực: Tài chính-Ngân hàng

TÓM TẮT VĂN BẢN

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

tải Quyết định 247/1999/QĐ-NHNN6

LuatVietnam.vn độc quyền cung cấp bản dịch chính thống Công báo tiếng Anh của Thông Tấn Xã Việt Nam.
Tình trạng hiệu lực: Đã biết
Ghi chú
Ghi chú: Thêm ghi chú cá nhân cho văn bản bạn đang xem.
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng: Đã biết

NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC
VIỆT NAM

________________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

______________________

Số: 247/1999/QĐ-NHNN6

Hà Nội, ngày 14 tháng 07 năm 1999

 

 

QUYẾT ĐỊNH

 

Ban hành Chế độ giao nhận, bảo quản, vận chuyển tiền mặt,

 tài sản quý, giấy tờ có giá

 

THỐNG ĐỐC NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC

 

- Căn cứ Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số 01/1997/QH10 ngày 12/12/1997, Luật Các tổ chức tín dụng số 02/1997/QH10 ngày 12/12/1997;

- Căn cứ Nghị định số 15/CP ngày 02/03/1993 của Chính phủ về Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm quản lý Nhà nước của Bộ, cơ quan ngang Bộ;

- Căn cứ Nghị định số 81/1998/NĐ-CP ngày 01/10/1998 của Chính phủ về In, đúc, bảo quản, vận chuyển và tiêu hủy tiền giấy, tiền kim loại; bảo quản vận chuyển tài sản quý, giấy tờ có giá trong hệ thống Ngân hàng;

- Căn cứ Nghị định số 87/1998/NĐ-CP ngày 31/10/1998 của Chính phủ về Phát hành, thu hồi và thay thế tiền giấy, tiền kim loại;

- Theo đề nghị của Vụ Nghiệp vụ phát hành và Kho quỹ,

 

QUYẾT ĐỊNH

 

Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này “Chế độ giao nhận, bảo quản, vận chuyển tiền mặt, tài sản quý, giấy tờ có giá”.

Điều 2. Quyết định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày ký và thay thế các Quyết định sau đây của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước: Quyết định số 113/NH-QĐ ngày 24/08/1991 ban hành Quy định về quản lý, bảo quản, điều chuyển và giao nhận các loại quỹ tiền trong ngành Ngân hàng; Quyết định số 184/NH-QĐ ngày 10/10/1991 về Chế độ quản lý kho, quỹ trong ngành Ngân hàng; Quyết định số 49/QĐ-NH6 ngày 12/03/1992 về Quy định thu nhận, tiền mặt bằng túi niêm phong của khách hàng nộp vào ngân hàng, Quyết định số 259/QĐ-NH6 ngày 22/10/1994 ban hành Quy chế về nhận bảo quản tài sản quý hiếm; Quyết định số 82/QĐ-Nh6 ngày 23/03/1995 ban hành Quy định vận chuyển hàng đặc biệt trong ngành Ngân hàng; Quyết định số 308/QĐ-NH ngày 31/10/1995 ban hành Quy định về quản lý nghiệp vụ kho quỹ và điều hòa tiền mặt thực hiện trên máy vi tính; Mục III Thông tư số 15/TT-NH2 ngày 12/11/1992 của Ngân hàng Nhà nước về thủ tục giao nhận, bảo quản ngân phiếu thanh toán; Quyết định số 93/NHQĐ ngày 20/07/1984 về Chế độ quản lý kho tiền của hệ thống Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Quyết định số 129/NH-QĐ ngày 21/09/1989 ban hành Quy định quản lý quỹ nghiệp vụ trong ngành Ngân hàng của Tổng Giám đốc Ngân hàng Nhà nước.

Điều 3. Chánh Văn phòng, Vụ trưởng Vụ Nghiệp vụ phát hành và kho quỹ, Thủ trưởng các đơn vị thuộc Ngân hàng Nhà nước Trung ương, Giám đốc Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố, Tổng Giám đốc (Giám đốc) tổ chức tín dụng, Tổng Giám đốc Tổng Công ty vàng bạc đá quý Việt Nam các đơn vị có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.

 

 

KT. THỐNG ĐỐC NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC
 PHÓ THỐNG ĐỐC




Đỗ Quế Lượng

 

 

 

CHẾ ĐỘ

GIAO NHẬN, BẢO QUẢN, VẬN CHUYỂN TIỀN MẶT, TÀI SẢN QUÝ, GIẤY TỜ CÓ GIÁ
(Ban hành theo Quyết định số 247 ngày 14 tháng 7 năm 1999 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước)

Chương I. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Chế độ này quy định việc giao nhận tiền mặt, tài sản quý, giấy tờ có giá giữa Ngân hàng Nhà nước, tổ chức tín dụng với khách hàng, giữa Ngân hàng Nhà nước với tổ chức tín dụng; giao nhận tiền mặt, giấy tờ có giá giữa Ngân hàng Nhà nước, tổ chức tín dụng (dưới đây gọi tắt là ngân hàng) với Kho bạc Nhà nước; giao nhận, bảo quản tài sản quý nhận gửi giữa tổ chức tín dụng với khách hàng; tổ chức quản lý, giao nhận, bảo quản, vận chuyển tiền mặt, tài sản quý, giấy tờ có giá trong hệ thống Ngân hàng Nhà nước, tổ chức tín dụng.

Điều 2. Các loại tiền mặt (tiền giấy và tiền kim loại); tài sản quý (kim khí quý, đá quý, ngoại tệ, các loại tài sản quý khác); giấy tờ có giá (ngân phiếu thanh toán, thương phiếu, tín phiếu, trái phiếu, kỳ phiếu, công trái, các loại giấy tờ có giá khác theo quy định của pháp luật) được bảo quản tại các kho tiền Ngân hàng Trung ương, kho tiền Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố, Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước (dưới đây gọi tắt là Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước) và kho tiền tổ chức tín dụng; ngoài ra kho tiền tổ chức tín dụng còn bảo quản giấy tờ, tài sản quý, giấy tờ có giá thế chấp, cầm cố các khoản vay (nếu có) và hiện vật quý của các tổ chức, cá nhân gửi.

Điều 3. Ngân hàng Nhà nước, tổ chức tín dụng phải bố trí, xây dựng kho tiền; nơi giao dịch tiền mặt, tài sản quý, giấy tờ có giá (gọi tắt là nơi giao dịch) và trang bị hệ thống thiết bị, phương tiện kỹ thuật tiêu chuẩn Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định để bảo quản an toàn tài sản của ngân hàng và khách hàng.

Điều 4. Vụ Nghiệp vụ phát hành và Kho quỹ, Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố có trách nhiệm tổ chức thực hiện giao nhận, bảo quản, vận chuyển tiền, tài sản quý, giấy tờ có giá đảm bảo an toàn, tiết kiệm chi phí, lao động và hướng dẫn, kiểm tra công tác ngân quỹ của các tổ chức tín dụng theo Chế độ này.

Điều 5. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quyết định thành lập hoặc giải thể Quỹ dự trữ phát hành, Quỹ nghiệp vụ phát hành và kho tiền thuộc hệ thống Ngân hàng Nhà nước.

Các tổ chức tín dụng được lập Quỹ nghiệp vụ để giao dịch tiền mặt với khách hàng Tổng Giám đốc (Giám đốc) tổ chức tín dụng quyết định thành lập hoặc giải thể Quỹ nghiệp vụ và kho tiền thuộc hệ thống tổ chức tín dụng.

Điều 6. Không được bố trí vợ, chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột của Giám đốc, Phó Giám đốc ngân hàng làm thủ kho; thủ quỹ; Trưởng, Phó phòng kho, phòng Tiến tệ - Kho quỹ, phòng Ngân quỹ và cũng không được bố trí những người có quan hệ trên đây cùng giữa chìa khóa cửa kho tiền, cùng công tác trên một xe hay đoàn xe vận chuyển hàng đặc biệt hoặc cùng công tác ở bộ phận tiền tệ, ngân quỹ của một đơn vị ngân hàng.

Người đã và đang chịu các hình thức kỷ luật (từ mức khiển trách trở lên) về những khuyết điểm có liên quan đến việc thất thoát tài sản trong kho quỹ ngân hàng và trên đường vận chuyển, không được bố trí làm kiểm ngân, thủ quỹ, thủ kho tiền, phụ kho, tham gia vận chuyển hàng đặc biệt.

Chương II. KIỂM ĐẾM, ĐÓNG GÓI VÀ GIAO NHẬN TIỀN MẶT, TÀI SẢN QUÝ, GIẤY TỜ CÓ GIÁ

Mục I. QUY ĐỊNH VỀ ĐÓNG GÓI, NIÊM PHONG TIỀN MẶT, TÀI SẢN QUÝ, GIẤY TỜ CÓ GIÁ

Điều 7. Quy cách đóng bó tiền mặt:

1. Đối với tiền giấy:

a. Cứ 100 (một trăm) tờ cùng mệnh giá sắp thành một thếp, dùng một đoạn dây đay, gai, cói nhỏ buộc (hoặc dùng băng giấy) ở vị trí 1/3 chiều dài của thếp tiền.

b. Cứ 10 (mười) thếp tiền cùng mệnh giá đóng thành một bó, dùng dây xe (sợi, đay, gai) nguyên sợi (không có nút nối) đóng bó tiền chặt chẽ. Các loại tiền nhỏ từ 500 đồng trở xuống buộc 2 vòng ngang song song, cách đều và một vòng chạy giữa chiều dọc bó tiền (gọi là 2 ngang, 1 dọc). Các loại tiền có mệnh giá từ 1.000 đồng trở lên, giấy tờ có giá, ngoại tệ buộc 3 ngang 1 dọc. Tại các điểm giao nhau giữa các dây ngang và dây dọc phải quấn vòng qua nhau để giữ cho bó tiền chắc chắn, mối buộc thắt nút hai đầu dây đặt trên bề mặt tờ lót niêm phong bó tiền.

2. Đối với tiền kim loại:

a. Cứ 100 (một trăm) miếng cùng mệnh giá sắp thành một thỏi, dùng giấy quấn lại, dấu kín hai đầu giấy vào mép dọc thỏi.

b. Cứ 10 (mười) thỏi đóng thành một túi, dùng dây xe (sợi, đay, gai) buộc thắt miệng túi tiền.

Điều 8. Niêm phong bó, bao tiền và các phương tiện bảo quản tài sản trong kho quỹ ngân hàng:

1. Dùng loại giấy mỏng để in niêm phong bó, bao tiền, in sẵn (đầy đủ, rõ ràng) các yếu tố, kích thước niêm phong bó tiền phù hợp với kích thước của từng loại tiền. Niêm phong của loại tiền nào thì dùng cho loại tiền đó. Mỗi tổ chức tín dụng được quy định mẫu giấy riêng để in niêm phong các loại tiền và sử dụng thống nhất trong toàn bộ hệ thống. Giấy niêm phong bao tiền đã qua lưu thông được bảo quản trong túi nilon mỏng (không ép plastic).

2. Các yếu tố trên giấy niêm phong:

a. Đối với niêm phong bó (tiền giấy), túi (tiền kim loại):

- Tên ngân hàng cấp trên trực tiếp (nếu có)

- Tên ngân hàng niêm phong bó tiền

- Loại tiền

- Số lượng tờ (tiền giấy) hoặc số lượng đơn vị (tiền kim loại)

- Số lượng tờ (tiền giấy) hoặc số lượng đơn vị (tiền kim loại)

- Số tiền trong bó

- Họ tên, chữ ký của người đếm, đóng bó, niêm phong

- Ngày, tháng, năm đóng bó và niêm phong

(Niêm phong này chỉ có giá trị trong nội bộ ngân hàng

Khách hàng nhận tiền phải đếm ngay trước mặt người phát tiền)

b. Đối với bao tiền:

Đối với bao tiền đã qua lưu thông:

- Tên ngân hàng cấp trên trực tiếp (nếu có)

- Tên Ngân hàng niêm phong bao tiền

- Loại tiền

- Số lượng bó tiền trong bao ... (mỗi bó đủ 10 thếp, nguyên niêm phong, niêm phong đầy đủ các yếu tố).

- Số tiền trong bao

- Người đóng bao niêm phong, kẹp chì:

+ Họ và tên, chữ ký

+ Họ và tên, chữ ký

- Ngày, tháng, năm đóng bao, niêm phong, kẹp chì

Đối với tiền mặt mới in: mỗi gói tiền (10 bó) trong bao tiền có giấy niêm phong ghi các yếu tố (nhà máy in, loại tiền, số sêri, người đóng gói, đóng bao, năm sản xuất). Ngoài vỏ bao ghi ký hiệu loại tiền, năm sản xuất, số sêri

c. Cách ghi các yếu tố của niêm phong: trên giấy niêm phong bó, bao tiền phải ghi đầy đủ, rõ ràng các yếu tố (số tiền, họ và tên, chữ ký của người kiểm đếm, đóng gói niêm phong; ngày, tháng, năm đếm kiểm, đóng gói niêm phong) bằng bút bi mực tốt, không dùng bút bi và mực dễ phai, phải ghi bằng tay, không đánh máy, không photocopy.

3. Trên niêm phong bó, bao tiền phải đóng dấu của ngân hàng, Kho tiền Trung ương có bó hay bao tiền (dấu đóng ở góc trên bên phải, chờm lên một phần tên của ngân hàng có bó, bao tiền); có thể sử dụng dấu chuyên dùng cho bộ phận kho quỹ, mẫu dấu này do ngân hàng có con dấu thông báo cho các ngân hàng trên địa bàn tỉnh, thành phố; đơn vị có con dấu thông báo trong hệ thống Ngân hàng Nhà nước.

4. Niêm phong bó tiền: giấy niêm phong phải được dán trên tờ giấy lót và mối dây buộc thắt nút bó tiền.

5. Niêm phong bao tiền và tài sản khác: dùng dây nguyên sợi (dây thép nhỏ, dây đay, gai, sợi tốt; không nối, không thắt nút) buộc thắt chặt miệng bao (hoặc gấp miệng, khâu kín 2 lần qua lại, mũi khâu dầy, cách nhau 2-3 cm), dán tờ niêm phong lên điểm buộc và hai đầu dây, khi dán niêm phong phải tách riêng cho 2 đầu cách nhau, hoặc dùng phương pháp niêm phong kẹp chì.

Niêm phong bằng kẹp chì: mỗi kho tiền Trung ương, từng chi nhánh ngân hàng dùng một kẹp chì có dấu hiệu riêng biệt, phải đảm bảo bí mật của mẫu kẹp chì và có nội dung bảo quản, sử dụng. Khi niêm phong, phải xuyên 2 đầu dây buộc qua giấy niêm phong rồi mới kẹp chì, dấu hiệu phải nổi rõ giữa mặt viên chì.

6. Niêm phong cửa kho tiền, tủ, hòm, két sắt, phải dùng giấy mỏng, có đủ chữ ký của các thành viên tham gia giữ chìa khóa, niêm phong cửa kho tiền phải đóng dấu ngân hàng.

7. Những người có họ và tên, chữ ký trên tờ giấy niêm phong phải chịu trách nhiệm tài sản về bó, túi hay bao tiền đã niêm phong.

Điều 9.

1. Quy cách đóng gói bao tiền:

Cứ 20 bó tiền cùng mệnh giá tiền được đóng thành một bao;

Đối với tiền mới in: cứ 10 bó đóng thành 1 gói, 2 gói đóng thành 1 bao;

b. Các bó tiền trong bao phải đủ các tiêu chuẩn đã nêu ở Điều 7 và Điều 8 Chế độ này;

c. Bao tiền đóng thành hình khối vuông vức, miệng bao buộc thắt nút chặt (hoặc gấp miệng và khâu kín) bằng dây nguyên sợi theo quy định ở Khoản 5 Điều 8 Chế độ này;

d. Hai người cùng đóng bao (kiểm tra từng bó tiền và xếp vào bao, niêm phong, kẹp chì bao tiền) và cùng chịu trách nhiệm tài sản trong bao tiền.

2. Bao để đóng gói tiền mặt, tài sản trong kho tiền, vận chuyển trên đường, phải dùng vải sợi bông loại tốt, may bằng loại chỉ chắc, bền; không dùng bao nylon, đay, gai. Mỗi loại tiền được dùng một loại bao riêng để dễ phân biệt (về màu sắc vải hoặc đường sọc).

Điều 10. Việc đóng gói, kiểm đếm, giao nhận các loại vàng bạc, đá quý, kim loại quý khác, ngọc trai, kim cương được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định tại một văn bản riêng.

Điều 11. Đóng bó, niêm phong ngoại tệ thực hiện như đóng bó, niêm phong tiền mặt; đóng gói và niêm phong giấy tờ có giá cũng thực hiện như đóng bó, đóng bao và niêm phong tiền mặt theo quy định tại Mục I Chương II Chế độ này.

Mục II. KIỂM ĐẾM VÀ GIAO NHẬN TIỀN MẶT, NGOẠI TỆ, GIẤY TỜ CÓ GIÁ

Điều 12. Kiểm đếm, giao nhận tiền mặt giữa ngân hàng với khách hàng (cá nhân, đơn vị, tổ chức kinh tế có giao dịch tiền mặt với ngân hàng):

1. Các khoản thu, chi tiền mặt của Quỹ nghiệp vụ tổ chức tín dụng, Quỹ nghiệp vụ phát hành Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước (dưới đây gọi tắt là Quỹ nghiệp vụ) với khách hàng, phải thực hiện kiểm đếm từng tờ (tiền giấy) hoặc từng đơn vị (tiền kim loại).

Nghiêm cấm việc chi theo bó tiền nguyên niêm phong của ngân hàng cho khách hàng.

Khi thu, chi tiền mặt đối với khách hàng phải thực hiện đúng quy trình nghiệp vụ (Phụ lục số 1 của Chế độ này).

Thủ quỹ hoặc kiểm ngân phải hướng dẫn khách hàng sắp xếp tiền mặt theo từng loại, mỗi loại theo bó, thếp; sắp xếp riêng tiền lành, tiền rách để chuẩn bị nộp vào ngân hàng.

Chọn lọc và kiểm đếm tờ đối với tiền mặt do khách hàng nộp vào ngân hàng thực hiện theo trình tự sau:

a. Kiểm đếm tổng số: toàn bộ số tiền khách hàng nộp theo bảng kê, phải nhận cùng một lúc, kiểm đếm đúng tổng số bó (mỗi bó đủ 10 thếp) và số tờ lẻ;

b. Kiểm đếm tờ: mở từng bó tiền ra đếm kiểm từng tờ; vừa kiểm đếm, vừa chọn lọc, sắp xếp tiền lành riêng, tiền rách riêng; chú ý phát hiện tiền lẫn loại, tiền bị phá hoại, tiền giả, tiền mẫu... Nếu phát hiện tiền bị phá hoại, tiền giả hay nghi giả, tiền mẫu, thì lập biên bản kèm theo tang vật để các bộ phận chức năng xử lý theo chế độ hiện hành. Không để lẫn lộn tiền đã đếm kiểm với tiền chưa đếm kiểm.

2. Để tạo điều kiện thu nhận hết tiền mặt cho khách hàng trong ngày, các ngân hàng có thể tổ chức phương thức thu nhận theo túi niêm phong như sau:

a. Phạm vi áp dụng: Được ngân hàng thu nhận tiền theo túi niêm phong:

+ Có tài khoản tiền gửi (tài khoản đang hoạt động) tại ngân hàng;

+ Có tín nhiệm với ngân hàng trong việc nộp tiền mặt;

+ Thường xuyên nộp tiền mặt vào ngân hàng;

+ Có ký hợp đồng về thu nhận tiền mặt bằng túi niêm phong, hợp đồng đang còn hiệu lực pháp lý.

- Chỉ áp dụng đối với các loại tiền có mệnh giá vừa và nhỏ (quy định tại Phụ lục số 4 của Chế độ này).

b. Khi giao nhận tiền mặt theo túi niêm phong phải thực hiện đúng quy trình nghiệp vụ (Phụ lục số 4) của Chế độ này.

c. Số tiền mặt ngân hàng thu nhận qua túi niêm phong của khách hàng, được ngân hàng hạch toán (ghi Có) ngay trong ngày vào tài khoản tiền gửi hoặc tài khoản cho vay, tài khoản chuyển tiền đi cho khách hàng;

Ngày làm việc tiếp theo ngân hàng phải tổ chức đếm kiểm tờ số tiền đã thu theo túi niêm phong của khách hàng hôm trước, có sự chứng kiến của khách hàng hoặc có giấy ủy quyền của khách hàng cho ngân hàng thành lập Hội đồng tổ chức đếm kiểm tờ (nếu khách hàng tín nhiệm);

Điều 13. Giao nhận tiền mặt giữa Ngân hàng Nhà nước với tổ chức tín dụng; giữa các tổ chức tín dụng; giữa ngân hàng với Kho bạc Nhà nước:

1. Giao nhận theo bó tiền đủ 10 thiếp, nguyên niêm phong, trên giấy niêm phong ghi đầy đủ các yếu tố trong các trường hợp:

a. Giao nhận trong nội bộ một ngân hàng, tổ chức tín dụng;

b. Giao nhận tiền mặt trên cùng địa bàn tỉnh, thành phố: giữa Ngân hàng Nhà nước với tổ chức tín dụng Nhà nước; Giữa Ngân hàng Nhà nước, tổ chức tín dụng Nhà nước với Kho bạc Nhà nước, Công ty vàng bạc - đá quý và giữa các tổ chức tín dụng Nhà nước với nhau;

Những bó tiền của tổ chức tín dụng, Kho bạc Nhà nước giao nộp cho Ngân hàng Nhà nước được quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều này phải là những bó tiền của chính đơn vị hoặc của các chi nhánh cùng hệ thống tổ chức tín dụng, Kho bạc Nhà nước trên địa bàn tỉnh, thành phố.

2. Có thể giao nhận theo bao tiền nguyên niêm phong kẹp chì trong các trường hợp:

a. Đối với các loại tiền mới in, thực hiện giao nhận theo nguyên bao niêm phong kẹp chì của Nhà máy in Ngân hàng trong các trường hợp nêu ở Khoản 1 Điều này;

b. Xuất, nhập giữa Quỹ dự trữ phát hành với Quỹ nghiệp vụ phát hành trong nội bộ Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước (trừ các loại tiền đình chỉ lưu hành nếu không đủ chẵn bao).

Điều 14. Giao nhận tiền mặt giữa Ngân hàng Nhà nước, tổ chức tín dụng Nhà nước với các tổ chức tín dụng ngoài tổ chức tín dụng Nhà nước trên cùng địa bàn tỉnh, thành phố được thực hiện như sau:

1. Đối với đơn vị đủ các điều kiện đảm bảo an toàn tài sản trong kho quỹ theo quy định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (chủ yếu về kho tiền, nơi giao dịch, tổ chức chấp hành chế độ quản lý kho quỹ ngân hàng, chất lượng đội ngũ cán bộ kho quỹ) thì thực hiện như đối với tổ chức tín dụng Nhà nước tại Điều 13 Chế độ này.

2. Đối với tổ chức tín dụng ngoài tổ chức tín dụng Nhà nước chưa có đủ các điều kiện theo quy định hiện hành, thì Ngân hàng Nhà nước chỉ tổ chức thu nhận tiền mặt theo bó đủ 10 thếp nguyên niêm phong, nhưng phải ký hợp đồng cam kết chịu trách nhiệm tài sản về tiền mặt thừa thiếu trong các bó tiền đã giao theo Chế độ này.

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước giao Vụ trưởng Vụ Nghiệp vụ phát hành và Kho quỹ và Giám đốc Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước kết hợp kiểm tra, hướng dẫn các tổ chức tín dụng ngoài tổ chức tín dụng Nhà nước để đủ điều kiện cho áp dụng chế độ giao nhận tiền mặt trong nội bộ ngành Ngân hàng như đối với tổ chức tín dụng Nhà nước.

Điều 15. Kiểm đếm trong giao nhận tiền mặt theo bao hay theo bó tiền nguyên niêm phong (ghi rõ trong biên bản giao nhận tiền) được thực hiện theo trình tự:

1. Trường hợp giao nhận theo bao:

a. Đếm đủ tổng số bao;

b. Kiểm tra từng bao tiền về tình trạng bên ngoài, đảm bảo bao còn nguyên vẹn không chắp vá, không có hiện tượng nghi vấn về các đường chỉ may, bao tiền được đóng chặt chẽ vuông vức, còn nguyên niêm phong (dây buộc nút hay khâu bao còn nguyên sợi và xuyên qua giấy niêm phong), trên giấy niêm phong ghi đầy đủ các yếu tố, có đầy đủ họ, tên, chữ ký của 2 người cùng đóng bao tiền; kẹp chì chặt chẽ, ký hiệu của ngân hàng phải nổi rõ giữa viên chì theo đúng quy định. Đối với bao tiền mới phải kiểm tra kẹp chì của Nhà in ngân hàng, ký hiệu loại tiền, năm sản xuất, số sêri ghi trên bao tiền.

2. Trường hợp giao nhận theo bó:

a. Đếm đủ tổng số bó;

b. Kiểm tra từng bó (bó tiền đủ 10 thếp), việc đóng bó chặt chẽ, còn nguyên niêm phong (dây buộc bó tiền còn nguyên sợi, giấy niêm phong còn lành và ghi đầy đủ các yếu tố);

c. Hai bên giao, nhận tiền phải ký xác nhận việc giao nhận bó tiền trên niêm phong từng bó (chữ ký của người giao nhận này được đăng ký tại Ngân hàng Nhà nước để đối chiếu, xác định rõ trách nhiệm khi xảy ra thừa thiếu).

Điều 16. Ngân hàng, Kho bạc Nhà nước thành lập Hội đồng kiểm đếm tờ số tiền đã nhận theo phương thức giao nhận theo bó đủ 10 thếp nguyên niêm phong có sự chứng kiến của người đại diện đơn vị giao (hoặc được đơn vị giao ủy quyền) và phải kiểm đếm xong trong thời gian quy định sau:

1. Thời gian đếm kiểm:

a. Trong thời gian 1 tháng kể từ khi nhận tiền điều chuyển từ Kho tiền Trung ương, Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước, chi nhánh tổ chức tín dụng tỉnh, thành phố khác đến;

b. Trong thời gian 15 ngày kể từ khi Kho bạc Nhà nước nhận tiền từ các ngân hàng trên địa bàn tỉnh, thành phố;

c. Trong thời gian 15 ngày kể từ khi tổ chức tín dụng nhận tiền từ Ngân hàng Nhà nước, tổ chức tín dụng khác trên địa bàn tỉnh, thành phố (nếu đơn vị nhận cần phải kiểm đếm tờ do không tín nhiệm số tiền đã giao nhận theo bó nguyên niêm phong).

2. Trình tự kiểm đếm tờ của bó tiền:

a. Trước khi mở một bó tiền để kiểm đếm, người kiểm soát kỹ bó tiền đó theo đúng nguyên tắc quy định.

b. Phải dùng dao hoặc cắt dây buộc của bó tiền để không làm rách giấy niêm phong và phải giữ giấy niêm phong cho đến khi đếm xong bó bạc, không được để lẫn lộn giấy niêm phong bó tiền này với niêm phong bó tiền khác.

c. Thực hiện kiểm đếm từng tờ và xử lý khi kiểm đếm tờ theo Điều 17 Chế độ này.

Điều 17. Xử lý khi kiểm đếm tờ của từng bó tiền:

1. Nếu bó tiền không thừa, thiếu, lẫn loại, người kiểm đếm thứ hai hủy ngay niêm phong của bó tiền đó và đóng gói, niêm phong tiền mới.

2. Nếu phát hiện có các trường hợp như: thừa (thiếu) tờ, lẫn loại, có tiền màu, tiền giả, tiền bị phá hoại; lẫn tiền rách nát (đối với bó tiền lành), lẫn những tờ tiền lành, mới (đối với các bó tiền rách nát) thì xử lý như sau:

a. Đối với các bó tiền có tiền giả, tiền bị phá hoại, tiền mẫu... thì rút các tờ đó ra giữ lại kèm với tờ niêm phong của bó tiền và báo cáo với Hội đồng kiểm đếm và người chứng kiến (nếu có), để kiểm tra lại, lập biên bản và xử lý theo chế độ hiện hành;

b. Sau khi đã loại trừ các tờ tiền giả, tiền bị phá hoại, tiền mẫu, nếu tổng số còn lại đủ 100 tờ cùng mệnh giá, được xác định là bó tiền đủ, thì đóng gói và niêm phong đúng quy định.

c. Bó tiền được xác định là thừa hoặc thiếu thì báo cáo Hội đồng kiểm đếm và người chứng kiến (nếu có) để kiểm tra lại và xử lý bằng cách: nếu thừa tờ thì rút ra các tờ thừa, nếu thiếu tờ thì bù vào cho đủ để đóng gói; giữ giấy niêm phong của bó tiền thừa (thiếu), ghi ở mặt sau của tờ niêm phong về các yếu tố: ngày tháng năm đếm kiểm, kết quả đếm kiểm, xác định bó tiền thừa hay thiếu (số tờ, thành tiền), kể cả trường hợp lẫn loại dẫn đến thiếu hoặc thừa tiền và ký tên xác nhận, đồng thời yêu cầu người chứng kiến (nếu có) ký tên, sau đó nộp cho Hội đồng kiểm đếm để làm căn cứ lập biên bản;

d. Đối với các bó tiền đủ số tiền (về giá trị) nhưng có lẫn loại tiền, phải đổi những tờ lẫn loại để đóng thếp, bó cho đủ số tờ cùng mệnh giá tiền. Nếu có lẫn tiền rách nát vào bó tiền lành và ngược lại cũng phải đổi để lấy tiền lành hoặc rách nát để đóng bó riêng theo đúng quy định.

Điều 18. Trường hợp đã nhận theo bao tiền nguyên niêm phong kẹp chì mà phải tổ chức kiểm đếm tờ: Hội đồng kiểm đếm tổ chức kiểm đếm các bó, thếp tiền trong bao, cuối cùng là kiểm đếm tờ trong các bó tiền. Trình tự kiểm đếm:

1. Trước hết phải kiểm tra tình trạng thực tế từ bên ngoài của bao tiền;

2. Mở bao tiền, kiểm tra, đếm đủ số lượng bó tiền so với số lượng ghi trên niêm phong bao tiền;

3. Kiểm tra từng bó tiền.

Nếu các nội dung cần kiểm soát đều khớp đúng với các yếu tố ghi trên niêm phong thì hủy giấy niêm phong của bao tiền đó. Trường hợp bao tiền có thừa, thiếu, lẫn loại các bó tiền; các bó tiền có thừa, thiếu thếp; trên niêm phong không có đủ các yếu tố, thì lập biên bản ghi rõ thực trạng kèm theo giấy niêm phong của bao tiền để xử lý. Sau đó kiểm đếm từng tờ và xử lý theo trình tự quy định tại Điều 16 và Điều 17 Chế độ này.

Điều 19. Người chứng kiến là người đại diện cho ngân hàng bên giao đến chứng kiến việc tổ chức kiểm đếm của Hội đồng kiểm đếm ngân hàng bên nhận. Người chứng kiến phải là người có nghiệp vụ kho - quỹ và có tinh thần trách nhiệm cao, có tín nhiệm trong công tác;

Ngân hàng có tiền giao, trực tiếp cử người đến ngân hàng, Kho bạc Nhà nước nơi nhận chứng kiến. Giám đốc ngân hàng phải có ủy quyền bằng văn bản và xác nhận chữ ký của người chứng kiến gửi tới ngân hàng nhận tiền;

Trường hợp tiền mặt của các tổ chức tín dụng, Kho bạc Nhà nước nộp vào Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước trên địa bàn tỉnh, thành phố, sau đó điều chuyển di tỉnh, thành phố khác thì Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước nơi xuất cử người hoặc điều động người từ các tổ chức tín dụng đi chứng kiến; nếu chi cho tổ chức tín dụng trên địa bàn mà đơn vị nhận cần lập Hội đồng đếm kiểm tờ hoặc chi cho Kho bạc Nhà nước thì việc cử người đi chứng kiến theo quy định này.

Tiền mặt đã lưu thông được nhập về Kho tiền Trung ương, sau đó điều chuyển đi chi nhánh Ngân hàng Nhà nước các địa phương khác thì khi tiền Trung ương trực tiếp xuất giao tiền cử cán bộ đi chứng kiến.

Điều 20. Người chứng kiến phải trực tiếp xem xét, chứng kiến việc đếm kiểm. Nếu Hội đồng xác định về các trường hợp sai sót (không còn nguyên niêm phong của bao tiền, bó tiền; phát hiện các trường hợp thừa thiếu, lẫn loại, trên giấy niêm phong ghi không đủ, đúng các yếu tố) trong các bao tiền, bó tiền đếm kiểm, phải trực tiếp xem xét, xác định đúng thực trạng ký tên xác nhận vào mặt sau của tờ giấy niêm phong bao hay bó tiền có sai sót đó.

Điều 21. Trường hợp các ngân hàng tín nhiệm lẫn nhau, Kho bạc Nhà nước tín nhiệm tiền của ngân hàng không cần phải chứng kiến trực tiếp thì Giám đốc ngân hàng, Giám đốc kho tiền Trung ương xuất giao tiền có ủy quyền bằng văn bản cho ngân hàng, Kho bạc Nhà nước nhận tiền lập Hội đồng kiểm đếm.

Điều 22. Kiểm đếm, giao nhận ngoại tệ, giấy tờ có giá:

1. Chỉ thu nhận những loại ngoại tệ ngân hàng đang mua vào. Kiểm đếm, giao nhận ngoại tệ giữa ngân hàng với khách hàng; giữa Kho tiền Trung ương với Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước; giữa các chi nhánh Ngân hàng Nhà nước; giữa Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước với tổ chức tín dụng; giữa các tổ chức tín dụng phải thực hiện kiểm, đếm từng tờ và thực hiện theo quy trình quy định tại Phụ lục số 2 của Chế độ này).

2. Kiểm đếm, chọn lọc, xử lý khi kiểm đếm tờ giấy tờ có giá thực hiện như đối với tiền mặt.

3. Giao nhận giấy tờ có giá trị thực hiện như sau:

a. Giao nhận giữa ngân hàng với khách hàng; giữa Ngân hàng Nhà nước với tổ chức tín dụng, Kho bạc Nhà nước; giữa tổ chức tín dụng với Kho bạc Nhà nước; giữa các tổ chức tín dụng phải kiểm, đếm từng tờ và thực hiện theo quy trình thu chi tiền mặt quy định tại Phụ lục số 1 của Chế độ này.

b. Giao nhận giữa Nhà in ngân hàng với Kho tiền Trung ương, giữa Kho tiền Trung ương với Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước; giữa các Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước; giữa các Kho tiền Trung ương:

- Giấy tờ có giá mới in giao nhận theo bao nguyên niêm phong như đối với tiền mặt hoặc bó nguyên niêm phong (nếu không chẵn bao); giấy tờ có giá đã qua lưu thông thì giao nhận theo bó nguyên niêm phong của Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước. Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước nhận phải thành lập Hội đồng kiểm đếm tờ trước khi chi cho tổ chức tín dụng, Kho bạc Nhà nước hay khách hàng;

- Giấy tờ có giá hết thời hạn lưu hành: giao nhận theo bó nguyên niêm phong của Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước.

Chương III. QUẢN LÝ TIỀN MẶT, TÀI SẢN QUÝ, GIẤY TỜ CÓ GIÁ TRONG KHO QUỹ NGÂN HÀNG

Mục I. TRÁCH NHIỆM QUẢN LÝ KHO QUỹ NGÂN HÀNG

Điều 23. Vụ trưởng Vụ Nghiệp vụ phát hành và Kho quỹ, Giám đốc Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước là người thay mặt Thống đốc Ngân hàng Nhà nước; Giám đốc chi nhánh tổ chức tín dụng là người thay mặt Tổng Giám đốc tổ chức tín dụng phải chịu trách nhiệm về công tác quản lý, đảm bảo an toàn tuyệt đối, bí mật toàn bộ tiền mặt, tài sản quý, giấy tờ có giá và kho tiền tại đơn vị mình, phải trang bị những phương tiện, thiết bị đảm bảo an toàn; áp dụng các biện pháp cần thiết nhằm chống mất mát, nhầm lẫn, đề phòng trộm cướp, hỏa hoạn, ngập lụt, chống ẩm ướt, mối mọt và các nguyên nhân khác đảm bảo chất lượng các loại tiền, tài sản.

Giám đốc phải quản lý và giữ chìa khóa một ổ khóa cánh cửa ngoài của cửa kho tiền; trực tiếp mở, khóa cửa; cùng vào, ra kho tiền với các thành viên giữ chìa khóa kho tiền để giám sát việc xuất, nhập, bảo quản tài sản trong kho tiền.

Điều 24. Trưởng phòng Kế toán chịu trách nhiệm quản lý, giám sát đảm bảo an toàn tuyệt đối tài sản trong kho quỹ và có nhiệm vụ chủ yếu:

1. Tổ chức hạch toán tiền mặt, tài sản quý, giấy tờ có giá theo chế độ kế toán - thống kê; hướng dẫn, kiểm tra việc mở và ghi chép sổ sách của thủ quỹ, thủ kho tiền;

2. Quản lý và giữ chìa khóa một ổ khóa cách cửa ngoài cửa kho tiền; trực tiếp mở, khóa cửa; cùng vào, ra kho tiền với các thành viên giữ chìa khóa cửa kho tiền để giám sát việc xuất, nhập, bảo quản tài sản trong kho tiền;

3. Thường xuyên kiểm tra, đối chiếu số liệu giữa sổ sách kế toán và sổ sách của thủ quỹ, thủ kho tiền đảm bảo tính chất hợp lệ, hợp pháp và sự khớp đúng;

4. Trực tiếp kiểm kê tài sản định kỳ hoặc đột xuất đảm bảo sự khớp đúng giữa tồn quỹ thực tế với tồn quỹ trên sổ sách kế toán và số sách của thủ quỹ, thủ kho tiền, ký xác nhận tồn quỹ thực tế trên sổ quỹ, số theo dõi từng loại tài sản, sổ kiểm kê, thẻ kho.

Điều 25. Thủ kho tiền hoặc thủ quỹ ngân hàng là người chịu trách nhiệm chính đảm bảo an toàn tuyệt đối các loại tài sản bảo quản trong kho tiền; thực hiện xuất nhập kho hoặc thu chi tiền mặt, tài sản quý, giấy tờ có giá tại nơi giao dịch chính xác, kịp thời, đầy đủ.

1. Nhiệm vụ cụ thể:

- Thực hiện việc xuất - nhập kho hay thu - chi tiền mặt, tài sản quý, giấy tờ có giá, giấy tờ in quan trọng từng lần theo đúng lệnh, đúng chứng từ kế toán, bảng kê hay biên bản giao nhận tiền mặt, tài sản hợp lệ, hợp pháp;

- Mở các sổ quỹ, sổ chi tiết theo dõi từng loại tiền, tài sản, thẻ kho, các sổ sách cần thiết khác; ghi chép và bảo quản các sổ sách, giấy tờ đầy đủ, rõ ràng, chính xác;

-Tổ chức sắp xếp tiền, tài sản trong kho tiền và nơi giao dịch gọn gàng kho học theo đúng quy định, áp dụng các biện pháp chống ẩm mốc, mối xông, chuột cắn, đảm bảo vệ sinh kho tiền và quầy giao dịch;

- Quản lý và giữ chìa khóa 1 ổ khóa thuộc cánh cửa trong cửa kho tiền bảo quản tài sản được giao.

Thủ quỹ, thủ kho có quyền:

- Từ chối xuất nhập, thu chi bất kỳ tài sản nào nếu không có lệnh, chứng từ kế toán hợp pháp;

- Không cho nhập vào kho tiền những tài sản, giấy tờ không được quy định bảo quản trong kho tiền;

- Không cho những người không có trách nhiệm, không được lệnh vào nơi giao dịch và kho tiền do mình quản lý.

2. ở Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước, thủ kho tiền bảo quản Quỹ dự trữ phát hành và các tài sản khác trong kho tiền. Nếu kho tiền chỉ có một cửa kho thì thủ kho tiền giữ chìa khóa cửa kho tiền theo quy định, cuối ngày tài sản Quỹ nghiệp vụ phát hành phải đóng gói niêm phong trong các bao, hòm và gửi vào kho tiền bảo quản, có biên bản giao nhận và ghi sổ gửi sổ tài sản đúng quy định.

3. ở các Kho tiền Trung ương, có thể bố trí một số thủ kho tiền: thủ kho Quỹ dự trữ phát hành; thủ kho tài sản quý, tài sản nhận gửi, các giấy tờ tin quan trọng; thủ kho giấy tờ có giá.

4. Giúp cho thủ quỹ, thủ kho tiền trong việc kiểm đếm, vận chuyển, đóng gói tiền mặt, tài sản có một số kiểm ngân, nhân viên kỹ thuật vàng bạc, đá quý và một số nhân viên bốc xếp vận chuyển. ở các kho tiền Trung ương có một tổ kiểm ngân và một tổ vận chuyển bốc xếp làm công việc đếm kiểm và vận chuyển, bốc xếp tài sản.

Điều 26. Trưởng phòng Tiền tệ - kho quỹ hoặc Trưởng phòng Ngân quỹ; có nhiệm vụ như sau:

1. Trực tiếp tổ chức thực hiện nghiệp vụ quản lý kho quỹ, điều hành, phối hợp hoạt động của các tổ công tác (tổ thu, tổ chi, tổ kiểm ngân, tổ bốc xếp, vận chuyển);

2. Hướng dẫn nghiệp vụ quản lý kho quỹ, an toàn kho quỹ;

3. Tổ chức việc đếm kiểm, đóng gói, giao nhận, sắp xếp, bảo quản tài sản; bảo vệ kho tiền; vận chuyển hàng đặc biệt;

4. Tổ chức chuẩn bị tốt các điều kiện cho việc kiểm kê tài sản và tham gia kiểm tra, kiểm kê, bàn giao tài sản kho quỹ.

Điều 27. Tùy theo yêu cầu, quy mô hoạt động quản lý hay kinh doanh của các cấp ngân hàng mà tổ chức mô hình bộ phận nghiệp vụ kho quỹ theo quy định sau:

1.Đối với ngân hàng có địa bàn hoạt động rộng (có nhiều cửa hàng, bàn tiết kiệm, bàn đổi tiền, phòng giao dịch) hoặc có số lượt khách giao dịch nhiều, phải tổ chức riêng tổ thu, tổ chi hoặc có thu, chi nhiều loại tiền mặt, tài sản quý, giấy tờ có giá phải có tổ chức bộ phận quỹ hoàn chỉnh, gồm có:

a. Trưởng quỹ.

b. Thủ quỹ tiền mặt, giấy tờ có giá; thủ quỹ ngoại tệ; thủ quỹ các chứng từ có giá trị ngoại tệ; thủ quỹ vàng bạc. Từng thủ quỹ phải chịu trách nhiệm tài sản trong phạm vi được giao.

c. Tổ thu, tổ chi, tổ kiểm ngân (mỗi tổ có Tổ trưởng và một số kiểm ngân). ở những nơi có điều kiện tổ chức một số tổ thu, mỗi tổ thu đảm nhận kiểm đếm tờ toàn bộ số tiền nhận của khách hàng, thì không cần tổ chức tổ kiểm ngân.

d. Tổ chức tín dụng có thể bố trí 1 thủ kho tiền: thủ kho không trực tiếp giao dịch với khách hàng mà chỉ được giao nhiệm vụ bảo quản tài sản trong kho tiền. Cuối ngày làm việc, tiền mặt, tài sản sau khi đã kiểm kê, Trưởng quỹ hoặc thủ quỹ giao sang cho thủ kho bảo quản trong kho tiền; đầu ngày hôm sau thủ kho giao tiền mặt, tài sản cho thủ quỹ hoặc Trưởng quỹ. Ngoài ra thủ kho còn được giao nhiệm vụ bảo quản tài sản quý thế chấp, cầm đồ; hiện vật quý nhận gửi (nếu có). Nếu không bố trí thủ kho tiền thì có thể Trưởng quỹ kiêm nhiệm thủ kho tiền hay chỉ định một thủ quỹ kiêm thủ kho tiền.

2. Đối với ngân hàng không cần tổ chức nhiều tổ thu, chi riêng, không cần bố trí Trưởng quỹ, thì bộ phận quỹ chỉ cần một thủ quỹ và một, hai kiểm ngân; thủ quỹ phải trực tiếp đảm nhận các nhiệm vụ tương ứng của Trưởng quỹ và các Tổ trưởng trên đây.

3. Đối với ngân hàng chỉ bố trí một thủ quỹ kiêm cả thu và chi tiền mặt, tài sản quý, giấy tờ có giá thì quỹ phải tự đảm nhận tất cả mọi công việc và tự chịu trách nhiệm tài sản. Giám đốc, Trưởng phòng Kế toán, Trưởng phòng Tiền tệ - kho quỹ (Ngân quỹ) phải kiểm tra, giám sát thường xuyên việc của thủ quỹ.

4. Các ngân hàng có tổ chức bộ phận quỹ theo Khoản 2, Khoản 3 Điều này, thủ quỹ trực tiếp chịu trách nhiệm quản lý, bảo quản tài sản trong kho tiền.

5. Các tổ chức công tác lưu động, bộ phận làm thêm ca, bàn thu đổi tiền tệ có thể phải bố trí một người kiêm một số hành nghiệp vụ (lập chứng từ, hạch toán, thu, phát tiền) thì Giám đốc ngân hàng phải có văn bản giao nhiệm vụ cụ thể và áp dụng phương thứ cho nhận tạm ứng tiền đầu ngày và thanh toán dứt điểm trong ngày số tiền đã tạm ứng.

Điều 28. Trưởng quỹ là người điều hành mọi công việc thu - chi tiền mặt, bảo quản an toàn tiền mặt, tài sản khác trong kho quỹ.

Nhiệm vụ chủ yếu của Trưởng quỹ:

1. Chỉ đạo, điều hành công việc hàng ngày của các tổ trưởng, thủ quỹ;

2. Hướng dẫn khách hàng về thủ tục giấy tờ và chuẩn bị tiền khi giao dịch với ngân hàng; xử lý các việc phát sinh hàng ngày trong quan hệ giao dịch tiền mặt giữa ngân hàng với khách hàng; nghiên cứu ý kiến của khách hàng để xây dựng phong cách, thái độ phục vụ văn minh lịch sự của anh chị em thủ quỹ, kiểm ngân;

3. Tổ chức và kiểm tra việc ghi chép sổ sách, giấy tờ về hoạt động của quỹ nghiệp vụ;

4. Hướng dẫn, đôn đốc và kiểm tra trong phạm vi được giao việc thực hiện chế độ quản lý kho quỹ và các văn bản khác có liên quan;

5. Chủ động giải quyết và tham mưu cho các bộ phận chức năng trong cơ quan, Giám đốc ngân hàng các ngành có liên quan trong việc kiểm tra, xác minh, xử lý các vụ thiếu, thừa nhầm lẫn, hư hỏng tiền bạc trong kho quỹ; các trường hợp tiền bị phá hoại; tiền giả phát hiện được khi thu tiền mặt của khách hàng;

6. Phó Trưởng quỹ làm các công việc do Trưởng quỹ phân công và thay Trưởng quỹ khi vắng mặt.

Điều 29. Đối với các ngân hàng có tổ chức nhiều tổ thu, tổ chi bố trí thủ quỹ làm Tổ trưởng tổ thu hay Tổ trưởng tổ chi.

1. Tổ trưởng có nhiệm vụ:

- Tổ chức thực hiện quy trình thu hoặc chi tiền mặt đối với khách hàng thuộc trách nhiệm tổ được phân công;

- Kiểm tra các kiểm ngân trong tổ về kiểm đếm, đóng gói niêm phong tiền mặt;

- Tổ trưởng tổ thu trực tiếp giao tiền thu được của tổ (đã được kiểm đếm, đóng gói, niêm phong) cho Trưởng quỹ từng lần trong ngày và cuối ngày;

- Tổ trưởng tổ chi trực tiếp nhận tiền từ Trưởng quỹ để chi trong ngày, kiểm tra toàn bộ chứng từ, giấy tờ cần thiết và số tiền của mỗi món chi, trước khi phát tiền cho từng khách hàng;

- Trực tiếp ghi chép sổ sách, xử lý chứng từ.

2. Trong một ngày giao dịch, trong bất kỳ trường hợp nào cũng không được bố trí Tổ trưởng tổ thu kiểm Tổ trưởng tổ chi và ngược lại.

3. Tổ chức tín dụng được phép kinh doanh ngoại tệ, có thu, chi ngoại tệ và các chứng từ có giá trị ngoại tệ cần tổ chức thu, chi ngoại tệ riêng.

Điều 30. Tổ kiểm ngân có nhiệm vụ tổ chức kiểm đếm tờ, chọn lọc số tiền đã nhận của khách hàng theo túi niêm phong hay những món tiền thu khối lượng lớn mà tổ thu đã nhận bó đếm thếp, chuyển sang cho tổ kiểm ngân đếm tờ, để thu ngay cho khách hàng trong ngày.

Tổ kiểm ngân của các kho tiền Trung ương giúp việc các Hội đồng kiểm đếm, chọn lọc các loại tiền đã nhận từ các chi nhánh Ngân hàng Nhà nước về.

1. Tổ trưởng tổ kiểm ngân nhận các bao, túi tiền nguyên phong của Trưởng quỹ hoặc thủ quỹ hay Tổ trưởng tổ thu giao để tổ chức đếm kiểm tờ.

2. Tổ trưởng giao tiền trực tiếp cho từng kiểm ngân hay nhóm kiểm ngân kiểm đếm, chọn lọc tiền theo từng đơn vị khách hàng nộp tiền.

3. Kiểm ngân phải làm đầy đủ đúng quy định khi mở bao nguyên niêm phong kiểm bó, thếp, khớp đúng với các yếu tố ghi trên niêm phong bao tiền; sau đó kiểm đếm tờ trước sự chứng kiến của khách hàng hay Hội đồng đếm kiểm. Mọi thừa thiếu bó, thếp trong bao tiền phải xử lý đúng quy định hiện hành.

4. Sau khi kiểm ngân đếm xong từng món tiền, hay cuối mỗi buổi, cuối mỗi ngày làm việc, Tổ trưởng kiểm ngân nhận lại số tiền đã đếm kiểm, kiểm tra lại các bó tiền đã niêm phong, giao toàn bộ cho Trưởng quỹ. Trường hợp có tiền chưa đếm hết cũng phải đóng gói niêm phong đúng quy định, giao cho Trưởng quỹ.

Tổ trưởng phải mở sổ sách theo dõi cụ thể số tiền nhận được và giao cho Trưởng quỹ, tổ thu theo từng đơn vị khách hàng, chi tiết theo từng loại tiền (số lượng bao, bó, tổng số tiền). Đồng thời lập sổ theo dõi số tiền giao nhận cụ thể với từng kiểm ngân, nhóm kiểm ngân khi giao nhận phải ký xác nhận rõ ràng.

Điều 31. Nhiệm vụ chủ yếu của kiểm ngân là kiểm đếm, đóng gói, sắp xếp tiền mặt, tài sản quý, giấy tờ có giá theo Chế độ này.

Điều 32. Nhân viên bốc xếp vận chuyển (còn gọi là phụ kho) trực tiếp giúp thủ quỹ, thủ kho tiền về các việc kiểm đếm, đóng gói, vận chuyển, bốc xếp tiền mặt, tài sản, vật tư chuyên dùng cho kho quỹ.

Thực hiện nhiệm vụ áp tải hàng đặc biệt (nếu có đủ điều kiện) theo quy định tại chương IV của Chế độ này; được thay thế thủ kho tiền khi vắng mặt nếu có văn bản chỉ định của Giám đốc ngân hàng.

ở các ngân hàng không cần bố trí nhân viên bốc xếp vận chuyển chuyên trách thi kiểm ngân, thủ quỹ, thủ kho tiền trực tiếp đảm nhận nhiệm vụ bốc xếp vận chuyển tiền mặt, tài sản kho quỹ.

Điều 33. Khi đã ứng dụng công nghệ thông tin, mô hình tổ chức nghiệp vụ ở Phòng Tiền tệ - kho quỹ ngân hàng, Kho tiền Trung ương hình thành 2 bộ phận riêng biệt:

1. Giao dịch với khách hàng, bảo quản tài sản kho quỹ do thủ quỹ, thủ kho tiền đảm nhận.

2. Trưởng (hoặc Phó) phòng Tiền tệ - kho quỹ. Giám đốc Kho tiền Trung ương (hoặc Phó Giám đốc) Thứ trưởng nhiệm vụ kiểm soát thông tin nhập vào máy, kiểm soát đảm bảo thực hiện quy trình nghiệp vụ thu chi tiền mặt, tài sản quý, giấy tờ có giá (đây là bộ phận kiểm soát nghiệp vụ nội bộ Phòng hoặc nội bộ Kho tiền Trung ương).

Điều 34. Thủ kho tiền ở Kho tiền Trung ương do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước bổ nhiệm, theo đề nghị của Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ - Đào tạo và Vụ trưởng Vụ Nghiệp vụ phát hành và Kho quỹ.

Các thủ quỹ, thủ kho tiền của Chi nhánh ngân hàng do Giám đốc chi nhánh ngân hàng bổ nhiệm.

Giám đốc ngân hàng có quyết định bổ nhiệm và bãi miễn cán bộ giữ các chức danh quản lý bộ phận kho quỹ quy định tại Điều 27 trên đây; quyết định biên chế, bố trí cán bộ, nhân viên theo đúng chức danh (hoặc kiêm nhiệm chức danh cấp dưới).

Đối với chi nhánh trực thuộc tổ chức tín dụng cấp trên, nếu được tổ chức Quỹ nghiệp vụ thì Giám đốc tổ chức tín dụng cấp trên trực tiếp quyết định bổ nhiệm, bãi miễn cán bộ quản lý bộ phận nghiệp vụ kho quỹ theo đề nghị của Giám đốc tổ chức tín dụng trực thuộc.

Điều 35. Việc lựa chọn thủ quỹ, thủ kho tiền, kiểm ngân, phụ kho của các ngân hàng và Kho tiền Trung ương phải đảm bảo đúng các quy định của Nhà nước và của ngành. Trong công tác tổ chức cán bộ, phải chú trọng giáo dục phẩm chất đạo đức, quan tâm thường xuyên đến hoàn cảnh gia đình, quan hệ xã hội, quan hệ kinh tế của những cán bộ trực tiếp làm công tác kho quỹ. Soát xét thường xuyên đội ngũ cán bộ kho quỹ, kịp thời đưa ra khỏi công tác kho quỹ những cán bộ kém mất phẩm chất; có liên quan đến các hoạt động hụi, họ, đề, cờ bạc, buôn lậu, kinh doanh bất hợp pháp.

Cán bộ trực tiếp làm công tác kho quỹ như: Thủ quỹ, thủ kho tiền, kiểm ngân, phụ kho phải thuộc biên chế chính thức hoặc hợp đồng dài hạn của ngân hàng.

Điều 36. Quy định ủy quyền của các thành viên tham gia quản lý kho quỹ:

1. Giám đốc ngân hàng được ủy quyền bằng văn bản cho các Phó Giám đốc thay mình quản lý kho quỹ trong một thời gian nhất định, người được ủy quyền phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước Giám đốc về việc quản lý kho quỹ theo Chế độ này.

2. Trưởng phòng Kế toán được ủy quyền bằng văn bản cho Phó trưởng phòng thay mình quản lý kho quỹ trong một thời gian nhất định, phải được Giám đốc ngân hàng chấp nhận bằng văn bản. Người được ủy quyền phải chịu trách nhiệm trước Trưởng phòng và Giám đốc ngân hàng về quản lý kho quỹ theo Chế độ này.

3. Thủ quỹ, thủ kho tiền chỉ được đề nghị Giám đốc ngân hàng cử người thay mình trong các trường hợp nghỉ phép, nghỉ làm việc theo chế độ: ốm đau, đi công tác, đi họp, đi học. Mỗi lần thủ quỹ, thủ kho tiền cần nghỉ việc trong các trường hợp trên, phải có văn bản đề nghị và được Giám đốc chấp thuận. Giám đốc có văn bản cử người thay thế và phải tổ chức kiểm kê, bàn giao tài sản. Người được cử thay thế phải chịu trách nhiệm đảm bảo bí mật, an toàn tuyệt đối tài sản trong thời gian được giao nhiệm vụ.

4. Khi Giám đốc hay trưởng phòng Kế toán vắng mặt, Giám đốc ngân hàng quyết định tổ chức kiểm kê và bàn giao tài sản trong kho quỹ (có thể bàn giao một phần hay toàn bộ tài sản, nếu phần nào không phải bàn giao, cần niêm phong bảo quản riêng) để người nhận có trách nhiệm đầy đủ.

5. Khi bàn giao lại tài sản, người được ủy quyền phải báo cáo lại công việc đã làm về quản lý kho quỹ cho người ủy quyền và các thành viên tham gia quản lý kho quỹ biết.

Người được ủy quyền không được ủy quyền tiếp cho người khác thay thế mình.

Mục II. NGUYÊN TẮC THU - CHI TIỀN MẶT, GIẤY TỜ CÓ GIÁ VÀ TÀI SẢN QUÝ TRONG CÁC QUỹ NGÂN HÀNG

Điều 37. Mọi khoản thu, chi tiền mặt, mua bán tài sản quý, giấy tờ có giá (gọi tắt là tiền mặt, tài sản) của ngân hàng đều phải thực hiện thông qua quỹ ngân hàng. Nghiêm cấm thu chi tiền mặt tài sản để ngoài quỹ; giả thu, giả chi.

Thu, chi tiền mặt, tài sản phải căn cứ vào chứng từ kế toán hợp pháp theo quy định hiện hành của Nhà nước, của Ngân hàng Nhà nước và của từng hệ thống ngân hàng quy định. Trước khi thu, chi tiền mặt và tài sản, nhân viên thu hoặc chi phải kiểm soát tính chất hợp lệ, hợp pháp của chứng từ kế toán.

Thu, chi tiền mặt phải tuân thủ đúng quy trình nghiệp vụ (Phụ lục số 1) của Chế độ này).

Khi có thu, chi ngoại tệ ngoài việc tuân thủ quy trình nghiệp vụ đã quy định như đối với tiền mặt theo Phụ lục số 1, còn phải tuân thủ những quy định tại (Phụ lục số 2 của Chế độ này).

Trường hợp ứng dụng công nghệ thông tin vào nghiệp vụ thu, chi tiền mặt; xuất nhập tài sản phải tuân thủ quy trình nghiệp vụ tại (Phụ lục số 3 của Chế độ này).

Khi tổ chức thu tiền mặt của khách hàng theo túi niêm phong, ngoài tuân thủ các quy định chung còn phải tuân thủ quy trình nghiệp vụ tại (Phụ lục số 4 của chế độ này).

Điều 38. Mỗi chứng từ kế toán thu tiền mặt hoặc nhập kho tài sản phải kèm theo một Bảng kê phân loại tiền nộp do khách hàng lập (hoặc một Biên bản giao nhận tiền) theo mẫu in sẵn thống nhất.

Mỗi chứng từ kế toán chi tiền mặt thủ quỹ phải lập Bảng kê chi các loại tiền; mỗi chứng từ kế toán xuất kho tài sản, thủ kho tiền phải lập Biên bản giao nhận tiền mặt, tài sản. Căn cứ để lập Bảng kê các loại tiền chi hay Biên bản giao nhận là tổng số tiền ghi trên chứng từ kế toán và tính chất của khoản chi, cơ cấu tiền mặt theo quy định và thực tế các loại tiền mặt hiện có trong Quỹ ngân hàng để chi ra các loại tiền lưu thông đang cần thiết. Tổng số các loại tiền trên bảng kê hay biên bản giao nhận phải khớp đúng với số tiền ghi bằng số và bằng chữ trên chứng từ kế toán.

Điều 39. Tiền mặt thu vào hay chi ra (hoặc xuất nhập tài sản khác), phải đảm bảo đủ và đúng với tổng số tiền, tổng giá trị tài sản ghi bằng số và bằng chữ trên chứng từ kế toán; đủ và đúng về số lượng, giá trị từng loại tiền, tài sản và tổng số tiền ghi trên bảng kê hay biên bản giao nhận.

Thu chi tiền mặt, xuất nhập tài sản thực hiện vào ngày, tháng, năm nào thì trên chứng từ kế toán, bảng kê phân loại tiền hay biên bản giao nhận tài sản, sổ quỹ, sổ thu, sổ chi và sổ nhật ký quỹ của kế toán phải ghi đúng ngày, tháng, năm đó.

Trên chứng từ kế toán và bảng kê thu, chi các loại tiền hay biên bản giao nhận tiền, tài sản phải có chữ ký của khách hàng và thủ quỹ, thủ kho tiền ngân hàng theo mẫu mực và vị trí quy định.

Điều 40. Không thu vào các quy ngân hàng các loại tiền của khách hàng đem nộp không đủ tiêu chuẩn lưu thông do nguyên nhân có tính chất phá hoại, tiền giả, tiền mẫu... Khi phát hiện các loại tiền này, kiểm ngân phải báo cáo với Trưởng quỹ hoặc thủ quỹ để lập biên bản, giữ lại hiện vật và xử lý theo các quy định hiện hành.

Khi thu tiền phải chọn lọc riêng tiền lành đủ tiêu chuẩn lưu thông và tiền rách nát do quá trình lưu thông đúng theo tiêu chuẩn quy định hiện hành và đóng gói riêng từng loại.

Tất cả các đơn vị ngân hàng có giao dịch tiền mặt trực tiếp với khách hàng (cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp và cá nhân) có trách nhiệm phải thu nhận và đổi tiền rách nát thường xuyên, thuận tiện cho khách hàng mỗi khi họ có yêu cầu.

Tiền mặt chi ra cho khách hàng phải là tiền đủ tiêu chuẩn lưu thông.

Điều 41. Thu, chi tiền mặt, ngoại tệ, giấy tờ có giá qua quỹ ngân hàng đều phải đếm kiểm qua tay hai người, nếu có một người thì phải tự mình kiểm tra lại.

Khách hàng nộp tiền mặt, ngoại tệ, giấy tờ có giá phải chứng kiến khi ngân hàng kiểm đếm tài sản của mình nộp.

Khách hàng lĩnh tiền mặt, ngoại tệ, giấy tờ có giá phải kiểm đếm lại trước khi rời khỏi quầy chi của ngân hàng.

Ngân hàng phải tạo điều kiện để cho khách hàng chứng kiến việc ngân hàng kiểm đếm tiền khách hàng nộp và khách hàng kiểm đếm lại khi lĩnh tiền ngân hàng.

Điều 42. Việc ghi chép sổ sách và xử lý chứng từ của từng môn thu hay chi tiền mặt tài sản phải theo đúng quy trình nghiệp vụ. Sau khi hoàn thành mỗi món thu hay chi, thủ quỹ, thủ kho tiền trả một liên bảng kê hoặc biên bản giao nhận cho khách hàng và giao ngay các chứng từ thu - chi đó cho kế toán bằng đường dây nội bộ (các loại sổ sách được quy định tại Phụ lục số 5 của Chế độ này).

Hàng ngày, hàng tháng các bảng kê phân loại tiền và biên bản giao nhận tiền, tài sản được đóng thành tập gồm 2 phần thu và chi, phần thu xếp trên, phần chi ở dưới; trong từng phần sắp xếp theo thứ tự chứng từ kế toán từ đầu đến cuối ngày (tháng) giao dịch. Các bảng kê và biên bản giao nhận này được bảo quản trong thời hạn 2 năm.

Chương IV. BẢO QUẢN TIỀN MẶT, TÀI SẢN QUÝ, GIẤY TỜ CÓ GIÁ TRONG KHO QUỹ NGÂN HÀNG

Mục I. TIÊU CHUẨN KỸ THUẬT KHO TIỀN, NƠI GIAO DỊCH VÀ CÁC HỆ THỐNG THIẾT BỊ, PHƯƠNG TIỆN KỸ THUẬT, ĐẢM BẢO AN TOÀN KHO QUỸ

Điều 43. Kho tiền, nơi giao dịch, các hệ thống thiết bị, phương tiện kỹ thuật đảm bảo an toàn kho quỹ ngân hàng phải tuân thủ tiêu chuẩn do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định.

Mục II. BẢO QUẢN TIỀN MẶT VÀ TÀI SẢN QUÝ, GIẤY TỜ CÓ GIÁ KHI GIAO DỊCH

Điều 44.

1. Giám đốc ngân hàng, Trưởng phòng Kế toán, Trưởng phòng Tiền tệ, thủ quỹ, kiểm ngân và những người khác có nhiệm vụ vào nơi giao dịch phải mặc áo choàng ngoài (không có túi), không được mang túi xách, ví, cặp, tiền bạc, tài sản cá nhân khác; phải khóa cửa ra vào, khi ai cần ra ngoài ra phải báo cáo và được trưởng quỹ (thủ quỹ) đồng ý mở cửa cho ra. Trước khi ra khỏi nơi giao dịch phải cất hết tiền, vàng bạc, tài sản khác vào tủ, két sắt và đóng khóa cẩn thận.

2. Những người được làm việc trong nơi giao dịch không được làm việc riêng và tuyệt đối không được ở lại trong giờ nghỉ tại nơi giao dịch. Ngân hàng Nhà nước không được bố trí một mình thủ quỹ làm việc ở nơi giao dịch.

3. Người nào không có nhiệm vụ không được vào trong quầy giao dịch.

4. Cấm tuyệt đối người ngoài cơ quan ngân hàng vào bên trong nơi giao dịch, trường hợp cần thiết phải được Giám đốc ngân hàng chấp thuận.

5. Nơi giao dịch phải có nội quy cụ thể.

Điều 45. Trong giờ làm việc, tất cả tiền mặt, tài sản quý, giấy tờ có giá phải được xếp gọn gàng ngăn nắp trong các hòm, tủ, két sắt theo từng loại tiền, từng loại tài sản. Không được để tiền, tài sản đã giao nhận, kiểm đếm hoặc đã nhận xong của khách hàng trên mặt bàn làm việc, nhất là bàn gần khách hàng giao dịch.

Hết giờ làm việc buổi sáng, phải khóa và niêm phong các két sắt có bảo quản tiền, tài sản (niêm phong có chữ ký của người được giao quản lý phương tiện và Trưởng quỹ hay Tổ trưởng trưởng tổ thu, chi) hoặc đưa tài sản vào bảo quản trong kho tiền.

Hết giờ làm việc trong ngày, toàn bộ tiền mặt, tài sản quý, giấy tờ có giá được đưa vào bảo quản trong kho tiền.

Điều 46. Tổ thu không được giao tiền trực tiếp cho tổ chi (hoặc ngược lại) mà chỉ nhận hoặc giao trực tiếp với Trưởng quỹ hay thủ quỹ (giữa các tổ thu với Trưởng quỹ; giữa Trưởng quỹ với các tổ chi).

Trường hợp thu tiền theo túi niêm phong hoặc món tiền khối lượng lớn, tổ thu không thể trực tiếp đếm tờ được thì Tổ trưởng tổ thu hoặc Trưởng quỹ giao sang cho tổ kiểm ngân tổ chức đếm kiểm tờ.

Trong ngày, các tổ thu, tổ kiểm ngân có thể giao tiền nhiều lần theo yêu cầu của Trưởng quỹ hoặc thủ quỹ, nhưng chỉ giao bó nguyên niêm phong; các thếp và tờ lẻ để giao vào lần cuối cùng trong ngày.

Tổng số tiền của tổ thu giao các lần trong ngày cho Trưởng quỹ hay thủ quỹ hoặc Tổ trưởng tổ kiểm ngân phải bằng tổng số tiền thu ghi trên các chứng từ thu của kế toán và trên các bảng kê phân loại tiền thu trong ngày.

Trong ngày, các tổ chi có thể nhận tiền từ Trưởng quỹ vào đầu ngày và một số lần trong ngày để chi cho khách hàng, nhưng chỉ nhận chẵn bó, nguyên niêm phong.

Số tiền chưa chi hết của quỹ chưa chi hết của tổ chi cuối ngày, các bảng kê chi tiền trong ngày, được giao lại đầy đủ cho Trưởng quỹ.

Mỗi lần giao nhận giữa Trưởng quỹ hay thủ quỹ với các tổ thu, tổ chi, tổ kiểm ngân hoặc giữa tổ thu và tổ kiểm ngân phải ghi sổ theo dõi giao nhận hoặc lập biên bản giao nhận và ghi sổ theo dõi (ghi rõ từng loại tiền, số lượng bó, tổng số tiền) và chữ ký xác nhận của các bên giao nhận.

Điều 47. Các phương tiện bảo quản tiền mặt, tài sản tại nơi giao dịch như két, tủ sắt, xe lưới sắt, phải có ít nhất 2 ổ khóa do thủ quỹ được giao trực tiếp bảo quản tài sản và Trưởng quỹ (hoặc tổ trưởng tổ thu, tổ chi) hay Trưởng phòng, mỗi người quản lý một ổ khóa và giữa chìa khóa; phải có văn bản phân công và giao cho từng người có trách nhiệm sử dụng và bảo quản phương tiện. Có sổ sách theo dõi qúa trình thay đổi người sử dụng chìa khóa các phương tiện này. Chìa khóa đang dùng phải bảo quản ở két sắt ở nơi làm việc, không được mang ra khỏi cơ quan. Chìa khóa dự phòng được niêm phong và bảo quản như đối với chìa khóa dự phòng của phương tiện bảo quản trong kho tiền quy định tại Điều 58, khi mất mát, hư hỏng được xử lý theo như Điều 63 của Chế độ này.

Mục III. SẮP XẾP, BẢO QUẢN TIỀN MẶT, TÀI SẢN QUÝ, GIẤY TỜ CÓ GIÁ TRONG KHO TIỀN NGÂN HÀNG

Điều 48. Tiền mặt, tài sản quý, giấy tờ có giá, từng loại phải được bảo quản riêng biệt trong kho tiền ngân hàng:

1. Tiền mặt của mỗi quỹ (Quỹ dự trữ phát hành, Quỹ nghiệp vụ phát hành) được bảo quản riêng ở từng kho tiền hoặc từng gian kho.

2. Mỗi loại tài sản quý (ngoại tệ, vàng bạc, đá quý, kim loại quý khác) được bảo quản riêng theo tính chất hoặc quyền sở hữu: tài sản của Nhà nước, tài sản thuộc vốn kinh doanh của ngân hàng; hiện vật, tài sản quý nhận bảo quản, tài sản quý thế chấp, cầm đồ. Từng loại tài sản quý được bảo quản riêng ở két, tủ sắt, từng khu vực hay từng gian kho.

3. Các loại giấy tờ có giá, bảo quản riêng ở một gian kho, từng loại được bảo quản riêng trong các tủ, két sắt.

4. Đối với tổ chức tín dụng khi thực hiện dịch vụ cho thuê tủ, két sắt phải có 1 kho riêng đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật của kho tiền để bảo quản các tủ, két sắt cho thuê.

Điều 49. Các loại tiền mặt, tài sản khác bảo quản trong kho tiền ngân hàng phải được chọn lọc, đánh giá chất lượng, kiểm đếm số lượng, đóng gói niêm phong đúng quy cách, được xếp gọn gàng khoa học.

1. Tiền mặt bảo quản trong kho tiền phải được đóng bao, niêm phong theo quy định hoặc trong túi niêm phong (tiền nhận theo túi niêm phong của khách hàng) và được xếp trên giá, mỗi loại tiền được xếp theo từng khu vực, từng khối riêng, cách xa từng kho. Các khối tiền lớn phải chia ô, mỗi ô cách biệt nhau để tạo thông thoáng, thuận tiện cho việc xuất nhập và có thể đi lại kiểm tra kho tiền dễ dàng.

Sắp xếp để phân biệt rõ tiền lành, tiền rách, tiền không còn giá trị lưu hành.

2. Từng loại tài sản quý được bảo quản trong từng gói, bao có niêm phong để trong hộp tôn nhỏ, có số hiệu, có khóa. Tất cả các bao, gói, hộp tôn nhỏ có niêm phong đều được đưa vào bảo quản trong tủ, két sắt có khóa.